Thời Sự, Bình Luân

quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

"Lạy ông tôi ở bụi này!"

Ngô Nhân Dụng
Người Trung Hoa ở lục địa phiên âm tên Tổng Thống Obama sang tiếng nước họ, khi viết ra và đọc theo lối Hán Việt thì người mình đọc là “Áo Ba Mã.” Cũng giống như tên cựu Tổng Thống Bush đọc là “Bố Thập” - họ thêm chữ “tiểu” để khỏi lầm với cụ Bush già. Những chữ Áo Ba Mã chỉ dùng để phiên âm, không có ý nghĩa nào cả. Riêng chữ Áo ngụ ý là sâu xa, kín đáo, hơi khó hiểu. Chắc lời lẽ của Tổng Thống Obama có phần “áo nghĩa” hoặc “uyên áo” quá, nhà nước Cộng Sản Bắc Kinh sợ dân chúng không hiểu nổi, cho nên bữa rồi họ đã cắt bớt bài diễn văn của ông, cho dễ hiểu hơn.

Ðiều đáng khen ngợi là chính quyền Bắc Kinh đã cho phép dân được coi cả buổi lễ tuyên thệ của ông Obama trên đài truyền hình CCTV. Ít nhất, các thanh niên thiếu nữ Trung Hoa hiểu tiếng Anh sẽ được nghe những ý kiến ít khi họ được nghe trên ti vi của họ. Quan trọng hơn, họ được chứng kiến cảnh thay đổi chính quyền, thay đổi đảng cầm quyền, thay đổi người lãnh đạo, mọi chuyện diễn ra một cách hòa bình, hai trăm năm rồi vẫn diễn ra như vậy. Không ai phải ca tụng một chủ nghĩa, một lãnh tụ, một lý thuyết vẩn vơ nào cả, người dân một nước tự lo được việc nước của họ. Ðây là một bài học cụ thể về lối sống tự do dân chủ.

Nhưng khi ông Obama nhắc đến sự kiện chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại trước niềm tin vào tự do dân chủ của dân Mỹ thì ông bị kiểm duyệt ngay. Ðó là câu ông Obama nói, “Hãy nhớ rằng các thế hệ trước chúng ta đã đánh ngã chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Cộng Sản không phải bằng hỏa tiễn và xe tăng, mà bằng... niềm tin tưởng bền bỉ.” Ðài truyền hình mới phát câu ông Obama nói tên “Cộng Sản” thì âm thanh bị cúp ngay, người ta thấy miệng ông tổng thống Mỹ tiếp tục mấp máy nhưng không có tiếng nói. Một xướng ngôn viên ngồi cười rồi lúng túng mấy giây đồng hồ rồi quay ra phỏng vấn một phóng viên của đài về các vấn đề kinh tế của tân tổng thống Mỹ, khiến anh bạn phóng viên cũng không hiểu tại sao mình bị chặn lại giữa đường như thế. Ngay lập tức các báo đài, mạng lưới ở Trung Quốc cũng kiểm duyệt như đài truyền hình trung ương! Họ là như vậy là khôn hay dại!

Lễ tuyên thệ của ông Obama diễn ra vào lúc quá nửa đêm ở Trung Quốc, thành ra chắc chỉ có những bạn trẻ giỏi thức khuya hay các cụ già bị bệnh mất ngủ mới đón coi (mà các cụ thì không mấy người biết tiếng Anh). Nếu bộ máy kiểm duyệt của Cộng Sản Trung Quốc khôn hơn một tý thì họ cứ để yên cho ông Obama nói. Người nghe sẽ chẳng mấy ai nhớ hết các chi tiết; còn người nào nhớ thì cũng coi lời nói của ông tổng thống Mỹ là bình thường. Ðã là chuyện bình thường thì chẳng ai muốn đem ra kể cho người khác nghe. Có người dân Trung Quốc nào lại đi lén lút thì thào kể với bạn bè rằng: “Này, cái anh tổng thống mới bên Mỹ nó bảo nước Mỹ nó thắng Cộng Sản đấy nhé!” Nói một điều ai cũng biết rồi sẽ chỉ bị cười, chê là ngớ ngẩn! Ai chẳng biết nước Mỹ đã đứng đầu khối tư bản còn Nga đứng đầu khối Cộng Sản? Ai chẳng biết nước Mỹ không đánh đổ được chế độ Cộng Sản ở Nga bằng quân sự; mà dân Nga họ tự xóa bỏ chủ nghĩa Cộng Sản sau khi thấy nó tào lao quá.

Nếu đài CCTV không kiểm duyệt, chắc chắn mấy câu ông Obama nói sẽ ít người Trung Hoa chú ý. Nhưng sau khi nghe nói đài CCTV cắt xén bài diễn văn của ông Obama, tự dưng bản tin gây ồn ào trong giới vào Internet ở Trung Quốc. Người nọ kháo người kia, ai cũng tò mò muốn tìm đọc nguyên bản của bài diễn văn đó. Số người chú ý đến bài diễn văn của ông Obama cao hơn gấp bội. Rõ ràng là các đồng chí Cộng Sản đã quảng cáo cho ông tổng thống Mỹ. Mặc dù bản dịch bài diễn văn bị cắt xén khi đăng trên mạng lưới Sina.com, mạng tin tức lớn nhất ở Trung Quốc, rất nhiều người vẫn vào coi, và trong một cuộc thăm dò dư luận nhiều người khen là “tuyệt tác.” Người Trung Hoa tò mò vẫn có thể đọc bản dịch tiếng Hoa đầy đủ, không bị kiểm duyệt, trên các mạng lưới của Hồng Kông. Một độc giả của mạng lưới Netease đã đưa lên bản dịch đầy đủ bài diễn văn của ông Obama trước khi bị xóa.

Một đoạn khác cũng bị Cộng Sản Trung Quốc kiểm duyệt chỉ chứng tỏ họ “có tật giật mình.” Ông Obama nói: “Ðối với những kẻ bám lấy quyền lực bằng tham nhũng và dối trá và bịt miệng người đối lập, (chúng ta) nói cho họ biết rằng họ đi ngược dòng lịch sử...” Ðoạn văn này không hề nhắc đến tên quốc gia nào cả, nhưng nghe đến những chữ “tham nhũng, dối trá” rõ ràng là các đồng chí ở Bắc Kinh và Hà Nội đều giật mình! Nghe đến chữ “bịt miệng người đối lập” thì họ coi ông Obama rõ ràng đã nói đến đích danh cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh, dù không nêu rõ tên, cho nên phải phản ứng tức khắc! Vì họ đang đàn áp trong cùng lúc đó!

Trước khi ông Obama tuyên thệ, công an Trung Cộng đã bắt một nhà trí thức đối lập ở Vũ Hán. Ông Diêu Lập Pháp (Yao Lifa) là một trong số hàng ngàn nhà trí thức đã ký tên trong bản Hiến Chương 08 đòi các quyền tự do dân chủ cho dân Trung Quốc. Theo lời con trai ông kể, ông Diêu đã “biến mất” trong khi đi tới dự cuộc tiếp tân của tòa lãnh sự Mỹ tại Vũ Hán để coi truyền hình cảnh tân tổng thống Mỹ nhậm chức. Trong quá khứ đã nhiều lần ông biến mất như vậy!

Như quý vị đọc tin trên báo này, các tờ báo ở Việt Nam cũng được lệnh cắt bỏ những đoạn mà các đồng chí Bắc Kinh đã cắt. Có những mạng lưới sơ suất để lọt, nhất là để lọt hai chữ Khe Sanh, bèn bị cạo sửa ngay.

Tại sao Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam lo kiểm duyệt kỹ như vậy? Có thứ chúng ta hiểu được. Ông Obama nói nước Mỹ đánh bại chủ nghĩa Cộng Sản bằng niềm tin bất biến vào tự do dân chủ, điều này chạm nọc các đồng chí. Họ phải cắt vì nghe thấy ngượng ngùng. Cộng Sản Việt Nam có lý do để kiểm duyệt hai chữ Khe San. Vì ông Obama đã vinh danh các chiến binh Mỹ chiến đấu ở Khe Sanh. Trong khi đó thì nhiều gia đình cán binh Cộng Sản đến giờ cũng vẫn không biết cha, anh họ đã bỏ mình ở Khe Sanh hay ở nơi nào khác. Và nếu những anh bộ đội đó đã chết ở Khe Sanh thì những hy sinh của họ đưa đất nước về đâu? Họ chết để cho trẻ em ở nông thôn đi học tiểu học cũng phải đóng tiền? Ðể đảng và nhà nước được xuất cảng phụ nữ Việt Nam sang Ðài Loan hay Ðại Hàn? Hay để các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, và Nguyễn Việt Tiến nhiều cơ hội làm giầu hơn? Ðó là những câu hỏi nhức nhối.

Nhưng tại sao hai chính quyền Cộng Sản ở Á Châu lại kiểm duyệt khi ông Obama nói chung chung đến những chế độ “tham nhũng, lừa dối và đàn áp đối lập?” Người dân Việt Nam và Trung Hoa dù có nghe cũng có thể không để ý đến câu hỏi đó. Vì trên thế giới còn nhiều dân tộc khác cũng bị chính quyền tham nhũng bóc lột, bị lừa dối và bị đàn áp. Nhưng khi cả hai chế độ Cộng Sản còn lại trên trái đất “nhất trí” cắt bỏ lời ông Obama trong đoạn này thì dân chúng hai nước sẽ phản ứng cách khác. Họ sẽ nghĩ ra ngay là câu nói của ông tổng thống mới ở Mỹ nhắm đặc biệt vào chính bọn tham nhũng, dối trá và đàn áp đối lập đang ngồi ở Hà Nội và Bắc Kinh! Người dân bình thường suy nghĩ giản dị sẽ hỏi: Nếu không “có tật giật mình” thì tại sao các cụ ấy phải cắt bỏ? Người ta sẽ tìm đọc bài diễn văn của ông Obama để tìm thêm những dấu hiệu khác, những dấu hiệu của hy vọng! Hành động kiểm duyệt là một lối tự thú nhận chính họ là một bọn tham nhũng và dối trá! Ðúng là “lạy ông tôi ở bụi này!”

Cuối cùng, hành động kiểm duyệt của hai nhà nước Cộng Sản đều tạo ra tác dụng ngược lại với ý muốn của họ. Họ muốn bịt miệng ông tổng thống Mỹ nhưng lại khiến người ta tò mò muốn nghe ông ta hơn. Họ không muốn dân biết chính phủ mới ở Mỹ vẫn tiếp tục lên án các chế độ độc tài tham nhũng, nhưng bằng hành động kiểm duyệt họ lại tự thú nhận chính họ là những chế độ độc tài tham nhũng bị ông ta vạch mặt! Ngay trong việc kiểm duyệt lời nói của người ta, đó cũng là một hành động của những kẻ quen dối trá! Chính những anh gian dối, cứ gian dối mãi thế nào cũng có lúc tự lột mặt nạ của mình!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Đài Tử Sĩ

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua Nhật báo Người Việt đã đăng bức hình “Ðài Tử Sĩ,” ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trước kia, nay được thoát khỏi chế độ quân quản thành nghĩa trang thường dân thuộc xã Bình An.

Ký giả Trần Tiến Dũng đã kể những mẩu chuyện cảm động về những ngôi mồ tử sĩ. Có ngôi mồ được thân nhân chăm nom, xây lại, trông rất đẹp. Gặp một người em trai đi thăm mộ anh, một hạ sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh từ năm 1969, ông em nói, “Mỗi lần đến đây nặng nề u uất lắm ông ơi!” Trong nghĩa trang có những nấm đất không bia mộ, có những bia mộ đề chữ Vô Danh. Nhiều ngôi mộ do anh Út Ẩn trông nom. Người lính cũ của Sư Ðoàn 18 đã bị thương và giải ngũ từ năm 1971, đến năm 77 anh Út xin vào nghĩa trang làm công việc giữ mộ, chung quanh an là hơn 20 ngàn ngôi mộ tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Út nói với nhà báo: “Mấy ổng linh lắm, mấy chú còn trẻ không hiểu được hết đâu.” Câu chuyện của anh Bùi Văn Tư, một người dân gốc ấp Trung Thắng đang làm chủ quán ở gần nghĩa trang, cũng cho thấy: “mấy ổng linh dễ sợ.” Anh Tư sinh năm 1956, đáng lẽ bị bắt lính hồi chiến tranh bên Cam Pu Chia, anh “sợ đi Miên chết hơn sợ ma;” đã trốn trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, cầu “xin mấy ổng phù hộ che chở.” Và nhờ vậy công an không bắt được, anh được yên thân tới bây giờ. Mỗi năm trước Tết “mấy ổng khiến” anh lại được nghỉ việc để về giẫy mả cho mấy ổng.

Quý vị độc giả có thể tin hoặc không tin lời của anh Út và anh Tư, nhưng nhà báo đi thăm nghĩa trang có lẽ đã tin. Anh đến nghĩa trang dù không có ai là thân nhân trong đó. Anh và người bạn bảo nhau: Mình tìm ngôi mộ nào cúng đi. Và họ đã chọn một ngôi mồ với bia đề Vô Danh. Khi bước vào nghĩa trang, ký giả mô tả: “Trước mắt chúng tôi là đài tưởng niệm uy nghi và hoang phế.” Nhưng khi tiến đến tận nơi, ông lại thấy, “Ngọn đồi này dù không còn treo bảng là khu quân sự nhưng vẻ hoang tàn ở đây lạnh rợn người.” Ký giả vẫn nhìn thấy trong cảnh hương khói vắng tanh, bốn bề ngập xác lá vàng cùng cỏ dại, anh vẫn thấy nguyên ánh sáng, “ánh sáng từ những anh linh uy nghiêm.” Anh nghĩ, “Những người lính chôn ở đây cũng như tất cả những người lính tử trận khác, họ mãi mãi vẫn là những anh linh...”

Bài ký kể chuyện cuộc đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội cũ kết thúc với một mối lo: “Ðâu ai biết chắc là bao lâu nữa nơi đây sẽ bị những người đang phát cuồng vì lợi nhuận làm ô nhiễm tất cả.”

Ðây là một mối lo chung. Làm sao bảo vệ được vẻ tôn nghiêm cho nơi an nghỉ của hơn hai chục ngàn tử sĩ? Làm sao chống lại được lòng tham của những người có quyền muốn khai thác lợi nhuận trên khu đất nằm ở địa điểm tốt này?

Chính quyền trung ương cộng sản đã trút trách nhiệm cho chính quyền địa phương quản lý khu đất có Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Nhưng không có gì ngăn cấm được những người nắm quyền để họ bỏ qua những món lợi mà việc khai thác đất đai có thể mang lại cho họ. Họ không cho biết một quy chế nào, không ai biết giới hạn của quyền hành mà những quan chức địa phương được hưởng. Trong chế độ đó, thường những người làm quan có quyền hành vô hạn.

Cho nên những người còn thiết tha với lịch sử cần tự động cùng nhau đi thăm viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, để bầy tỏ ý chí của mình. Nhất là trong dịp Tết Nguyên Ðán năm nay. Càng đông người bầy tỏ ý nguyện bảo vệ và tôn kính nghĩa trang này, thì những kẻ có quyền càng phải e dè không dám lạm dụng.

Ðồng bào ở hải ngoại về quê ăn Tết hãy bỏ ra một ngày hay một buổi đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Cho nên bà con đang sống ở trong nước hãy cùng nhau đi thăm mộ các tử sĩ, kể từ ngày đầu năm Kỷ Sửu cho tới tháng Ba âm lịch, chấm dứt trong dịp Lễ Thanh Minh tảo mộ. Mỗi người về thăm mộ chỉ cần chọn một ngôi mồ, có tên trên bia mộ hay vô danh, không cần là thân nhân hay đồng hương với mình. Hãy quét dọn sạch sẽ, thắp một nén nhang hay đặt một bông hoa trên ngôi mồ đó. Và khấn anh linh người tử sĩ xin phù hộ cho đất nước được bình an, nhân dân được no ấm.

Cứ một người hay một gia đình về Việt Nam ăn Tết mà đi thăm một ngôi mộ thì tất cả các tử sĩ trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa sẽ có người thăm viếng.

Khi chứng kiến cảnh đó, những người dân ở chung quanh, những anh Tư, anh Út trong câu chuyện đăng trên Nhật báo Người Việt hôm qua, sẽ được khích lệ để chính họ sẽ chăm nom các ngôi mổ tử sĩ một cách bền bỉ và hăng hái hơn. Và chính những người dân ở địa phương sẽ là người sẽ bảo vệ tính cách tôn nghiêm, thiêng liêng của khu nghĩa trang này, mãi mãi.

Khi đó, chính những đồng bào địa phương sẽ lo trông nom ngôi đài tử sĩ trong nghĩa trang. Bức hình trên Nhật báo Người Việt cho thấy ngôi đài tử sĩ giống như một cửa tam quan, tuy bị bỏ thành hoang phế hơn 30 năm nhưng vẫn giữ nguyên vẻ uy nghi đáng kính. Ðây là nơi nhiều thế hệ đã tới cử hành lễ nghi tôn giáo, tuy đã bị bỏ hoang 33 năm nay nhưng sẽ còn giữ nguyên tính chất thiêng liêng. Chúng ta có bổn phận bảo vệ tính linh thiêng đáng kính đó.

Sau khi bài báo được phát hành ngày hôm qua, một số anh em cựu chiến sĩ thuộc Sư Ðoàn 18 đã bàn nhau liên lạc với anh Út Ẩn, để hỗ trợ anh trong việc trông nom những nấm mồ đồng đội. Chắc chắn sẽ còn nhiều anh em cựu quân nhân đích thân về tận nơi để góp công với những người như anh Út. Chúng ta phải đền ơn những người đã chết. Phải chứng tỏ lòng biết ơn của mình.

Tất cả mọi dân tộc đều phải bầy tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ đã bỏ mình khi làm bổn phận đối với quốc gia, dù quốc gia đó có lúc theo chính thể này hay chính thể khác, theo chủ nghĩa này hay lý thuyết khác. Những tử sĩ đó biết họ chiến đấu, hy sinh vì bổn phận đối với quốc gia, dân tộc. Cho nên dân tộc tri ân họ. Lòng biết ơn đó là một nền móng để xây dựng quốc gia lâu dài. Ðó là một bổn phận thiêng liêng, không một chế độ nào dám từ chối không cho người dân quyền thể hiện và thi hành bổn phận đó.

Cho nên người Việt ở nước ngoài cũng như ở trong nước, xin cùng nhau “tảo mộ” các tử sĩ trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa cũ trong dịp Tết Nguyên Ðán năm Kỷ Sửu này. Mỗi người, mỗi gia đình hãy âm thầm đi tảo một. Không cần phải tạo ra một tổ chức hoặc gây một phong trào. Không cần phải chính trị hóa một hành động hoàn toàn có tính cách tâm linh và lịch sử.

Tấm lòng thành kính của chúng ta chính là một đài tử sĩ để tưởng niệm các người anh, người em, người cha hay chú bác của chúng ta, những người công dân nước Việt Nam Cộng Hòa.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khi Dân Chủ Lên Ngôi
Giao Chỉ San Jose

Tôi vừa viết xong bài bình luận về việc ông Obama lên ngôi tổng thống thì anh bạn ký giả báo Mỹ đến liên lạc hỏi chuyện Tết Việt Nam, nhân tiện bàn qua thế sự. Hỏi rằng tôi nghĩ sao? Nghĩ gì? Chuyện Obama. Tôi trả lời ngay: Xuất sắc. Tổ chức xuất sắc, còn Obama thì mới trên trung bình. Tài tử chính Obama nhập vai vừa tròn nhưng chưa nổi bật. Đạo diễn tuyệt vời. Với dàn đạo diễn như thế có khi MCain vào vai chính với đào thương Alaska, sân khấu còn náo nhiệt hơn nhiều.

Tôi kết luận, họ tổ chức theo khuôn phép của giải Ocar chính trị. Quần là áo lượt. Như một cuốn phim dân chủ vĩ đại, hàng triệu vai phụ, hàng ngàn vai quan trọng, sau cùng nam nữ tài tử chính đã được lựa chọn để xuất hiện.
Đem nghệ thuật sân khấu vào thẳng cuộc đời. Ký giả Mỹ lại hỏi rằng, nói vậy là ông chê hay khen? Khen đấy, tôi trả lởi. Hơn một nửa nước Mỹ bầu cho tương lai, chọn Obama chiến thắng đã có cuộc trình diễn hết sức ngoạn mục. Non nửa nước Mỹ hoài niệm quá khứ với MCain nên thua cuộc, bèn dựa cột đứng xem. Hai ông bà tổng thống họ Bush chịu trận một ngày dài, chiều xuống lủi thủi ra về. Người lính già MCain, anh hùng của chinh chiến tù đầy, đã từng có trong tay hàng trăm triệu phiếu bầu, bây giờ không ai nhắc đến, dù là một vài hàng tin ngắn. Đó là điều đáng tiếc. Nhưng phải khen ngợi cho ý nghĩa của tinh thần dân chủ Hoa Kỳ. Cuộc thay đổi quyền lực không có gươm dao, súng đạn và bắt bớ giam cầm. Để chấm dứt cuộc mạn đàm bên lề thời sự, tôi dịch cho anh bạn sơ lược bài viết sau đây. Nhân chuyện ông Obama lên làm tổng thống, đã viết những điều suy ngẫm về dân chủ theo quan điểm hết sức bình dân.

Thế nào là Dân Chủ? Dân Chủ là sự chuyển giao quyền hành với tiếng nhạc và đại bác chào mừng.
Như vậy là cứ 4 năm một lần, nền Dân Chủ tại Hoa Kỳ lại có dịp đăng quang. Theo hiến pháp, người Mỹ trưởng thành, sinh quán tại Hiệp chủng Quốc là có thể được bầu vào chức vụ tổng thống tối đa hai lần. Vị tổng thống nào trải qua nhiệm kỳ đầu mà không được tái cử, có thể coi là sự nghiệp dở dang. Chỉ cầm quyền có 4 năm rồi phải bàn giao là một sự thất bại. Nếu trải qua hai nhiệm kỳ mà phải ra đi như ông tổng thống Bush con thì cũng không vui vẻ gì. Nhưng dù vui buồn ra sao, đủ bốn năm hay tám năm, dù đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa... đến ngày phải bàn giao là cứ bàn giao, dù cho xót xa như muối đổ trong lòng. Ngày xưa cuộc bàn giao không kèn không trống khi ông Johnson giơ tay thề trên máy bay 001 với sự hiện diện của bà quả phụ Kennedy là một bi kịch lịch sử, quốc gia vẫn không hề xáo trộn. Thời gian ông tổng thống Fort nhậm chức tiễn đưa ông Nixon từ nhiệm cũng là một cuộc bàn giao hết sức bẽ bàng. Nhưng đất nước cũng chẳng hề giao động. Khi ông tổng thống Carter thất bại tại Trung đông đành chấm dứt một nhiệm kỳ, phải bàn giao cho tổng thống Reagan thì buổi lễ khá long trọng, nhưng phần buồn tủi thì ông Jimmy Carter vẫn còn canh cánh bên lòng. Cho đến khi ông Reagan ra đi thì cả kẻ đi, người ở đều hết sức huy hoàng. Đây là lần bàn giao hiếm có mà vị tổng thống về hưu mang hào quang rực rỡ suốt lộ trình từ DC đến Cali. Tiếp theo, ông Bush cao niên đánh trận Iraq lần thứ nhất, thế mạnh như chẻ tre, nhưng chỉ vì khinh địch bỏ qua mặt trận quốc nội, về sau trở tay không kịp nên bị dứt điểm nhiệm kỳ thứ hai vào tay ông thống đốc từ Akansas, mang danh dòng họ Clinton, với khẩu hiệu "Change" chiếm tòa bạch ốc. Chàng tuổi trẻ Bill Cliton cũng đi hết hai nhiệm kỳ nhưng thời gian sau này mắc vòng hoa nguyệt nên phải vác chiếu ra tòa cho ủy ban tra vấn hết sức thảm thương. Vì vậy khi bàn giao xem ra cũng thiếu vẻ hào hùng. Trong khi đó, nội các mới của Cộng Hòa họ Bush kéo quân Texas về thủ đô lần thứ hai nghênh ngang như vào chỗ không người, làm cho cả vùng Virgina thơ mộng sặc mùi dầu hỏa. Vật đổi sao rời, bây giờ đến lượt nội các của họ Bush phải dọn dẹp nhà trắng sạch sẽ từ cuối tuần trước để dành cho tân chính phủ Obama từ Illinois đi xe lửa tiến quân vào thủ đô. Cờ đến tay ai người đó phất. Phe đi xuống dù cho có buồn trong bụng nhưng vẫn phải đóng vai ngoại giao lịch sự, tươi cười trước ống kính để dân trăm họ trông vào qua hàng nghìn ống kính của truyền thông toàn thế giới. Tuyệt đối không được phát ngôn bừa bãi, thậm chí cũng không được phép cáo ốm để vắng mặt. Đó là tinh hoa dân chủ và đó là thành quả đích thực cuộc bàn giao quyền hành của một quốc gia hùng cường nhất thế giới.
Ngày 20 tháng 1 vừa qua, khi cả nước lên cơn sốt với ông Obama thì thật là một ngày quá dài và não nề với hai ông tổng thống dòng họ Bush của tiểu bang cao bồi Texas. Cả ông Bush cha, cựu tổng thống thứ 41 và ông Bush con, tổng thống thứ 43 đều mang nặng mối sầu thiên cổ. Ông cựu tổng thống thứ 42 Bill Clinton hiện diện cũng không hào hứng lắm. Vui là vui gượng kẻo là... Nếu không vì có phu nhân ra làm ngoại trưởng thì có lẽ ông Clinton cũng ngồi nhà coi TV như vị tổng thống thứ 39 Jimmy Carter. Trên khán đài danh dự, trong khi chờ tân tổng thống Obama, hai ông thân mật bắt tay nhau hết sức thông cảm. - George, are you OK? Ông Clinton hỏi. - Yes, Bill, I am OK, and you? Ông Bush trả lời. - I am OK too. Ông Clinton đáp. Tuy nói vậy, nhưng cả hai đều không OK. Dù là tổng thống hay cựu tổng thống, họ cũng chỉ là con người như mọi người.

Sắc diện Dân Chủ.
Khi phe dân chủ lựa chọn Obama ai cũng nói rằng đây là một thiên tài xuất sắc của Hoa Kỳ. Rồi ngày một ngày hai, từ chiến thắng này đến chiến thắng khác, Obama vượt qua bà Clinton, tiếp theo là trận đánh bại người anh hùng huyền thoại MCain. Cả nước Mỹ và toàn thế giới lên cơn sốt. Biết bao nhiêu báo chí ồn ào tâng bốc, bao nhiêu chuyện thêu dệt gấm hoa cho con người tuổi trẻ tài cao da màu vĩ đại, Đi vào cụ thể, Obama chưa hề có được một tiểu sử xứng đáng để bước vào bạch cung với vòng hoa nguyệt quế huy hoàng tráng lệ như kỳ phe dân chủ tổ chức lễ nhậm chức vừa qua. Một chàng trai chưa hề một ngày khoác áo chinh y, chưa hề có thành quả trên trường ngoại giao quốc tế, chưa có kinh nghiệm quản trị thương trường, chưa viết được một học thuyết luật pháp và thậm chí chưa hề có thành tích chính trị trên diễn đàn dân cử. Tại sao một con người xuất thân tầm thường, mới vươn lên mức trung bình mà một sớm một chiều đã trở thành nhân vật phi thường như vậy. Phải chăng đây là một nhà thuyết giảng có tư duy mãnh liệt và khả năng thuyết phục hùng biện vô song. Phải chăng đây là con người có tham vọng, có khả năng lãnh đạo tiềm ẩn và biết lắng nghe. Biết dùng người và điều quan trọng nhất biết để người ta xử dụng mình. Thế lực nào đã đưa Obama lên và ai là người viết được kịch bản phi thường, ai là đạo diễn cho cuộn phim chính trị thành công hết sức ngoạn mục cho cả thế giới phải điên đảo. Ai có sáng kiến lựa chọn vị tổng thống thứ 44 của Hiệp chủng quốc là một người đã đến từ nguồn gốc xứ Kenya.

Từ một thanh niên da đen trẻ tuổi vô danh được lựa chọn đọc bài tham luận mở đường tại đại hội đảng dân chủ 8 năm về trước, Obama nhờ chút danh tiếng nên đủ phiếu trở thành thượng nghị sĩ đại diện đảng tại tiểu bang Illinois. Con đường chính trị từ đó thênh thang mở hội. Đảng dân chủ lựa chọn yểm trợ Obama. Đảng Cộng Hòa với những năm sui xẻo sai lầm đã giúp cho Obama cơ hội bằng vàng vươn lên làm lịch sử. Khẩu hiệu Change của Bill Clinton lại được đem ra dùng lại trong cơn tuyệt vọng của toàn quốc Hoa Kỳ. Dân Mỹ dồn phiếu cho Obama vì những hy vọng ở tương lai chứ không phải vì nhìn thấy thành tích trong quá khứ. Qua phương thức điều hành cuộc tranh cử của phe Dân Chủ, người ta hy vọng rằng sự quản lý đất nước trong tương lai cũng sẽ có những bước sáng tạo ngoạn mục như thế. Sau cùng đại diện của Dân chủ ngày nay phải là một viên ngọc đen, viên huyền châu thay mặt cho lịch sử trăm năm nô lệ. Để giấc mơ của ông mục sư King một thời đau thương thành sự thực. Để tháo gỡ hình ảnh ông Bush Texas sắt máu trên hai bán cầu. Nước Mỹ quyết định chọn một người tầm thường để đóng vai phi thường. Thể hiện được ý nghĩa rằng tổng thống cũng chỉ là con người thông thường như mọi người. Ai cũng có thể làm tổng thống nếu được lựa chọn. Chọn Obama, Hoa Kỳ trở thành một quốc gia phi thường. Chấp nhận Obama, dù thế giới có thể còn nhiều Obama, những nước Mỹ sẽ là nước duy nhất có được một nền dân chủ tuyệt đối.

Trình diễn Dân Chủ. Vì ý nghĩa như thế nên buổi lễ đăng quang của Dân chủ mới phải phô diễn tối đa, dù rằng Hoa Kỳ đang công nợ và túng thiếu nhất thế giới. Ban tổ chức vận dụng mọi phương cách qua sức mạnh truyền thông để đưa về thủ đô 2 triệu người trong một ngày lịch sử. Một triệu và 500 ngàn người đứng đầy con đường từ đài kỷ niệm Washington đến điện Capitol. Nửa triệu người tràn ngập các khu vực khác của thủ đô. Ban an ninh yêu cầu không người nào được mang theo cây dù. Vì họ không kiểm soát được tất cả mọi người từ trên cao. Hàng triệu người tham dự trang bị áo lạnh, không mang dù, ra đi từ sáng sớm. Họ sẽ phải đứng trên nửa ngày dài để chỉ nhìn thấy nhau và xem buổi lễ quá màn hình đặt ở bên đường. Và xúc động lan truyền cho những giọt nước mắt chảy xuống. Hình ảnh lễ tuyên thệ của Obama chỉ là duyên cớ tác động lòng yêu nước và tình tự dân tộc. Nhiều nhà phân tích cho rằng vai trò ông tổng thống thứ 44 của nước Mỹ diễn xuất vào ngày lịch sử vừa qua coi như không có lỗi lầm, nhưng chưa xuất sắc như sự mong chờ. Bài diễn văn chờ đợi từ nhiều ngày qua chưa phải là bài diễn văn hạng nhất so với những lần ông hùng biện trên đường tranh cử. Nhân dịp này, người ta có nhắc đến năm 1865 tổng thống thứ 16, ông Lincoln đã nói: Một chính phủ của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ sụp đổ. Tổng thống Kennedy năm 1961 đã nói : Bạn đừng hỏi đất nước làm gì cho bạn, hãy hỏi rằng bạn đã làm gì cho đất nước? Vào năm 1933 Hoa kỳ cũng ở trong thời kỳ suy thoái như hiện nay, tổng thống Roosevelt đã nói: Điều duy nhất chúng ta lo sợ chính là sự lo sợ.
Phần ông Obama, bài diễn văn mở đầu của chức vụ tổng thống đã có đề cập đến ba đoạn đáng lưu ý: Đoạn đầu ông nói rằng xin cảm ơn tổng thống Bush về những cống hiến cho đất nước. Nhưng tiếp theo, ông mô tả hoàn cảnh đất nước đau thương do hậu quả của thái độ tham lam vô trách nhiệm của một số người..Ông Obama nói tiếp : Mất nhà, thất nghiệp, kinh doanh ngưng trệ, y tế tốn kém, thất vọng về giáo dục....và cách chúng ta sử dụng năng lượng khiến cho kẻ thù ngày càng mạnh hơn...

Đoạn thứ hai ông đề cập và ca ngợi các binh sĩ chiến đấu và hy sinh tại Concord, Gettysburg, Normandy và Khe Sanh.
Tại sao những nhà cố vấn lịch sử viết diễn văn cho tổng thống đã chọn các địa danh kể trên. Trận Concord năm 1775 dân quân kháng chiến Hoa Kỳ chiến thắng quân đội Anh Quốc. Trận Gettysburg năm 1863 là chiến địa nổi danh của cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Trong đệ nhị thế chiến, năm 1944 Hoa Kỳ lãnh đạo đồng minh đổ bộ trên bờ biển Normandi, giải phóng nước Pháp. Sau cùng là trận Khe Sanh tại miền rừng núi quân khu I, Việt Nam, đường vào Hạ Lào. Tại đây đầu năm 1968, cộng sản Hà Nội tập trung 40 ngàn quân bao vây để tiêu diệt căn cứ Khe Sanh của 10 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và một tiểu đoàn Biệt động Quân VNCH. Cộng sản hy vọng dựng lại chiến thắng Điện biên Phủ, nhưng sau cùng thất bại với con số tổn thất 15 ngàn tử trận nên phải rút lui.

Ở một đoạn khác ông lên án chủ nghĩa phát xít và cộng sản. Những nhà bình luận có thể chú ý đến điểm này vì không những các quốc gia Trung quốc, Việt Nam quản ngại mà ngay cả nước Nga cũng có phần lạnh nhạt. Phần lớn các hãng thông tấn của cộng sản đã cắt bỏ và kiểm duyệt.
Phân tích bài diễn văn này, chúng ta có thể hiểu được tâm tư của nhóm người lãnh đạo triều đại mới tại Hoa Kỳ trong những năm sắp tới.

Dù sao thì từ nay cũng có rất nhiều người cầu nguyện cho ông Obama, vì cũng là cầu nguyện cho chính nước Mỹ. Riêng phần chúng tôi, có đôi chút ngậm ngùi cho ông G.W.Bush. Nhưng ông may mắn có bà vợ vốn là cô giáo quê mùa sẽ vui vẻ ngồi đấm lưng cho ông trong lúc tuổi già. Riêng phần ông bạn HO. Hoa Kỳ MCain của chúng ta tuy lỡ dịp lịch sử huy hoàng nhưng thực sự hạnh phúc cuối đời chẳng ai bằng ông. Sau khi đã trải qua bao nhiêu gian khổ, hình ảnh đẹp đẽ của đời chàng là đứng giữa hai người đẹp đi khắp bốn vùng chiến thuật. Một bên là phu nhân phú quí lịch sự và một bên là bà thống đốc trẻ đẹp duyên dáng. Nợ tang bồng như thế là quá đủ. Bây giờ ông có quyền ngồi xem đám trẻ giải quyết chuyện đất nước . Như vậy chẳng phải là tuyệt đỉnh hạnh phúc hay sao!

Giao Chỉ San Jose
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Mất Biển Ðông là mất nước đó!
Tác giả: Vũ Hữu San


Xin có được ít phút nói chuyện với các bạn trẻ hôm nay may mắn được gặp gỡ. Trước hết chúng tôi xin nói một vài điều đặc biệt: Nếu ta mất Biển Ðông là ta mất nước đó!


- Trong thời gian gần đây, Khối 8406 ngoài mục đích tranh đấu cho dân chủ, họ cũng tranh đấu cho chủ quyền. Cha Lợi Cha Lý thường nhắc đến những chuyện là chúng ta phải cảnh giác trước tham vọng đất đai của Trung Cộng.


- Hòa Thượng Quảng Ðộ đã kêu gọi, và ông đã phải nói rằng chúng ta phải đoàn kết lại. Phải làm thế nào biểu tỏ sức mạnh của toàn dân, chứ không chỉ là năm ba trăm anh em sinh viên đi biểu tình. Tất cả mọi người có kiến thức, người Việt Nam chúng ta đều yêu nước cả.


- Chúng tôi ở nước ngoài nên nhìn thật rõ vấn đề, cái viễn ảnh đen tối mà thế giới bên ngoài đặc biệt là giới học giả về chiến lược cho rằng Ðại Chiến Thế Giới Thứ 3 sẽ xảy ra ở Biển Ðông. Và trước sau gì Trung Cộng cũng sẽ đánh Việt Nam.


- Có thể một vài nhận xét hơi quá đáng, nhưng mà đối với chúng tôi thì chúng tôi xin tóm lược lại một vài điều, mà đối với người Việt Nam chúng ta thấy có tính cách hết sức chính xác như sau:
- Biển Ðông là nơi khai sinh nuôi dưỡng nền văn hóa nhuốm màu hàng hải của giống nòi Việt Tộc. Có thể nói Hoàng Sa Trường Sa là vùng mà người Việt mình ở đó sinh sống mấy chục ngàn năm trước. Rồi nước nó lên thì Tổ Tiên chúng ta mới đi vào đất liền sinh sôi nẩy nở ở đó cũng là mấy chục ngàn năm.
- Chúng ta biết là Biển Ðông là nguồn năng lượng khổng lồ. Tài nguyên dưới biển lớn lắm! Người Tàu rất ham muốn! Vì vậy, chúng ta hiểu là họ cứ lần lần lấn. Họ lấn dần dần từ ở phía đông của Hoàng Sa rồi họ chiếm hết quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Rồi họ tiếp tục họ Nam xâm, chiếm luôn Trường Sa.
- Chúng tôi thấy rằng Trung Cộng họ không tôn trọng luật lệ quốc tế, mặc dù họ có ký. Những lần mà chúng ta nhìn thấy đó, là những ai bị tấn công, thì thấy rõ rằng người Tàu tấn công Việt Nam 2 lần. 2 lần này lớn, không kể những lần nhỏ hơn. Họ vô họ chiếm vùng đông của Hoàng Sa. Máu đổ năm 1974, máu đổ năm 1988. Và rất nhiều lần họ xâm nhập bằng những toán nhỏ, xong rồi ăn lần ăn lần xuống.
- Hiện bây giờ, tình trạng Biển Ðông rất là nguy ngập. Mỗi lần họ ra tay là họ tàn sát người Việt trên Biển Ðông. Mỗi lần thấy tàu bè của họ xuống Việt Nam là có mưu mô xâm lược. Hải quân Trung Cộng giết dân vô tội của ta nhiều lần. Người Trung Hoa chưa bao giờ quá tay trên biển như vậy với một nước lân bang. Mà chỉ với người Việt của chúng ta!
- Trong tương lai, chúng tôi thấy cần phải cảnh báo với mọi người là Kinh đào Kra là eo biển phía nam của Thái Lan sẽ được đào, và chắc chắn là Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng để kiểm soát Eo Kra. Và khi eo Kra đã xong rồi, thì đường đi sẽ đi ngang qua Cà Mau, đi qua Vũng Tầu. Với tình trạng hiện thời, thì nhiều học giả cũng rất là sợ cái việc đó. Không phải biên giới người Tàu tới Móng Cái mà sẽ tới tận Cà Mau.
- Chúng tôi nhận xét: nếu mà Trung Quốc dị ứng với Tòa Án luật Biển, vậy thì Việt Nam phải đưa họ ra trước Tòa án, để xem họ sẽ cãi lý ra làm sao. Chúng tôi kêu gọi mọi người trau dồi kiến thức, hiểu biết về Biển Ðông, sẽ yêu Biển Ðông hơn, biết rằng chúng ta phải bảo vệ Biển Ðông!
- Chúng tôi đặc biệt đề nghị một bản đồ. Bản đồ đó giản dị, chúng ta vẽ làm sao cho mọi người hiểu bao ngoài Hoàng Sa, bao ngoài Trường Sa. Và khác với mọi người, khi chúng ta nghiên cứu luật Biển, Phương Bắc sẽ thấy hải phận của chúng ta nó lớn lắm. Có nhiều người tưởng là 200 hải lý là lớn, 250 rồi đến 350 hải lý. Nhưng Việt Nam mình có Hoàng Sa Trường Sa kéo dài ra ngoài tới 400, 450 hải lý. Tôi có vẽ một cái bản đồ. Mong tất cả mọi người tham dự.
- Và để có thể cảnh báo cho mọi người, tôi xin đọc một câu của Hòa Thượng Quảng Ðộ đã nói trong thời gian qua: Không thể nào chúng ta để như thế này, nhục nhã quá, im lặng mãi! Mà nếu cứ để bị đàn áp, cứ cúi đầu mà chịu, thì rồi sẽ mất nước đấy! Mất hoàn toàn rồi! Sẽ mất không phải là năm ba chục năm. Có thể là chúng ta sẽ bị kéo dài cái gương 1000 năm ngày xưa đấy!
- Tôi xin chấm dứt tại đây, những lời thành thật của một người đã đứng tuổi. Tôi đã 70 tuổi và cũng đã nghiên cứu việc này từ hồi còn là một sĩ quan trẻ. Với 40 năm nghiên cứu, tôi thấy cần phải nói rõ cho mọi người, cho giới trẻ biết, để chúng ta đoàn kết lại mà giữ vững quê hương.
Nếu mất Biển Ðông là chúng ta mất nước đó!
Xin kính chào quý vị

Vũ Hữu San


vuhuusan@yahoo.com
(Trích đăng lại từ bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận, số 52)

Học giả Vũ Hữu San (Hải Quân Trung Tá) cựu Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ4, người đã từng chỉ huy một phân đoàn Khu Trục Hạm đánh đuổi hải quân Trung Cộng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

101 đoàn thể trong và ngoài nước chống nhượng đất, biển cho Trung Quốc
Tuesday, January 27, 2009

WASHINGTON DC (NV) - Nhiều đoàn thể, tổ chức của người Việt Nam cả trong nước lẫn khắp nơi trên thế giới vừa cùng nhau lên tiếng chống lại hành động bán nước của đảng và nhà nước CSVN.

Trong một bức thư phản kháng phổ biến trên Internet, nhân dịp tưởng niệm các anh hùng hải quân VNCH đã bỏ mình vì tổ quốc trong trận hải chiến ở Hoàng Sa (19/1/1974), 101 tổ chức và đoàn thể của người Việt đã lên án đảng nhà nhà nứơc CSVN nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc qua hai bản hiệp định biên giới trên bộ (ký năm 1999) và bản hiệp định lãnh hải (ký năm 2000).

“Ba mươi lăm năm trước đây, vào ngày 19-01-1974, qua trận hải chiến Hoàng Sa, Trung Cộng đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trong lúc quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ đã anh dũng chống trả và cực lực lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng, thì nhà cầm quyền CS Bắc Việt đã hoàn toàn im lặng. Thái độ này xác nhận chủ trương của đảng CSVN chấp nhận dâng hiến lãnh thổ cho Trung Cộng để đổi lấy sự ủng hộ của Bắc Kinh trong việc thôn tính miền Nam.” Bức thư phản kháng của 101 tổ chức, đoàn thể người Việt kể trên nhận định như thế.

Bức thư tố cáo rằng “Chủ trương này đã thể hiện rõ ràng qua công hàm thủ tướng CSVN Phạm Văn Ðồng ký ngày 14-9-1958 gửi cho Chu Ân Lai, chỉ 10 ngày sau khi Trung Cộng đưa ra một bản đồ vẽ lưỡi rồng đòi hết cả các quần đảo trong Biển Ðông/Biển Nam Hải là thuộc về chủ quyền Bắc Kinh. Mặc dù công hàm này không có căn bản pháp lý, Trung Cộng vẫn dùng làm lý cớ để chiếm Hoàng Sa ngày 19-01-1974 và lấn chiếm thêm một số đảo thuộc về Việt Nam trong quần đảo Trường Sa vào tháng 3-1988. Và cũng chính vì chủ trương này mà nhà cầm quyền CSVN đã không những chỉ phản đối lấy lệ mà còn ngăn chận dân chúng Việt Nam biểu tình lên án Trung Quốc chính thức lập huyện Tam Sa để cai quản cả Tây Sa (tức Hoàng Sa của VN), Trung Sa và Nam Sa (tức Trường Sa của VN)”.

Theo các đoàn thể: “Về mặt lãnh thổ, ngày 22-12-2008 vừa qua, hai thứ trưởng ngoại giao của Cộng Hòa XHCN Việt Nam, ông Vũ Dũng và của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, ông Vũ Ðại Vỹ, đã gặp nhau ở phía Nam Hữu Nghị Quan (tức Ải Nam Quan cũ) để làm lễ cắm cột mốc số 1117 đánh dấu sự hoàn thành trong căn bản việc cắm gần 2000 cột mốc giữa hai nước (gồm 1533 cột mốc chính và gần 400 cột mốc phụ) dọc theo 7 tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Ðiện Biên qua Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Ninh, trải dài trên 1400 km biên giới”.

Thư tố cáo sự bưng bít sự thật của chính quyền CSVN để che giấu hành động bán đứng một phần lãnh thổ cho Trung Quốc: “Lẽ ra ‘rào giậu tốt phải đem lại những quan hệ láng giềng tốt,’ nhưng sự sắp xếp này giữa hai nhà cầm quyền Việt Trung, vì được thỏa thuận trong bóng tối, công chúng không có tiếng nói nên đã mang lại nhiều câu hỏi hơn là thực sự giải quyết các tranh chấp biên giới giữa đôi bên. Bằng chứng là qua 35 năm đàm phán (lần đầu ở Bắc Kinh vào ngày 15-08-1974 nhưng được tăng cường tốc độ bắt đầu từ năm 1992) và hơn hai năm cật lực làm việc phân giới cắm mốc (PGCM), đến cuối năm 2007 vẫn còn 15% các khu vực ‘hai bên có nhận thức khác nhau’ và, theo ông Vũ Dũng, đến bây giờ ‘tỉnh Cao Bằng vẫn còn một số mốc chưa cắm.’ Trong khi đó, những mất mát nổi bật đã được ghi nhận ở thác Bản Giốc (Bạch thư năm 1979 của chính Hà Nội còn nói ‘thác Bản Giốc từ lâu là của VN’ thì bây giờ 2/3 thác đã thuộc về Trung Quốc, đặc biệt những khu vực thuận tiện nhất cho việc khai thác du lịch), Ải Nam Quan (bây giờ đứng từ cột kilômét 0, chỗ phân ranh mới giữa hai nước, ta không còn trông thấy Hữu Nghị Quan nữa, bởi giờ này nó đã nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc), và nhiều nơi khác (như ở Cao Bằng và khu vực Bãi Tục Lãm, ở cửa sông Bắc Luân). Trong Vịnh Bắc Việt (riêng tên của Vịnh cũng đã đủ để nói lên chủ quyền truyền thống của nước ta), CSVN cũng đã để mất cho Trung Quốc 11.000 kilômét vuông qua hiệp định phân ranh giới trong Vịnh Bắc bộ ký kết ngày 25-12-2000”.

Trước hành động bán nước của Ðảng và nhà nước CSVN, các tổ chức và đoàn thể nói trên khẳng định: “Hết lòng ủng hộ phong trào thanh niên, sinh viên và tuổi trẻ Việt Nam đứng lên nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử bằng cách tìm mọi phương cách, nhất là bất bạo động, phản đối Trung Cộng lấn chiếm dần VN qua bao nhiêu năm qua, đi ngược lại chính sách hữu nghị mà Bắc Kinh thường rêu rao”.

Họ kêu gọi sĩ quan, binh sĩ “thuộc mọi quân binh chủng Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam hãy làm tròn nhiệm vụ của mình là bảo vệ người dân, đặc biệt các ngư phủ VN, trước họa bá quyền và ngoại xâm từ phương Bắc, dù dưới hình thức xâm lược ồ ạt hay bằng cách nguy hiểm hơn là kiểu tằm ăn lá”.

Ðồng thời “Kêu gọi toàn dân hãy đứng lên đòi hỏi phải được tự do chọn lựa thành phần lãnh đạo đất nước. Có vậy, thành phần lãnh đạo này mới có khả năng tạo được sự đoàn kết dân tộc thực sự và rộng lớn, khơi dậy được truyền thống hào hùng của Dân tộc ta là siết chặt hàng ngũ mỗi khi Tổ Quốc lâm nguy để bảo đảm là một nước với bốn nghìn năm văn hiến phải được trường tồn, vững mạnh qua sự hy sinh, sáng tạo của 88 triệu dân VN, ở trong cũng như ngoài nước”.

Các đoàn thể cũng kêu gọi quốc tế, “vì quyền lợi thông thương hải hành trong Biển Ðông, ủng hộ nhân dân Việt Nam để đòi lại những đảo và vùng quần đảo mà trong lịch sử cũng như truyền thống thuộc về Việt Nam, ngõ hầu tránh được sự độc quyền khống chế vùng biển rộng lớn này bởi một bá quyền mà bấy lâu nay có hành động và tham vọng xâm lược nhắm vào toàn vùng”.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Hận Nam Quan

Ngô Nhân Dụng

Tờ báo Xuân Kỷ Sửu của Tổng Cục Du Lịch trong chính quyền cộng sản trong nước đã đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.

Trong số báo Xuân trên cũng đăng bài của thi sĩ Bùi Minh Quốc, một người mà mục này đã nhắc tới khi ông viết bài tố cáo “Âm mưu diễn biến hòa bình” của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhà thơ thấy Cộng Sản Trung Hoa đã tìm cách chiếm đoạt chủ quyền của Việt Nam bằng cách chiếm dần dần quyền lãnh đạo trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Âm mưu đó đã thành công một phần, như chúng ta thấy trong thái độ nhu nhược của giới lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước chính quyền Bắc Kinh trong vụ Hoàng Sa.

Bài viết của Bùi Minh Quốc nhắc tới “hồi ký” của Hoàng Tùng, một cựu cán bộ cao cấp và một đảng viên lâu năm đã từng theo sát các lãnh tụ cộng sản. Thực ra ông Hoàng Tùng không viết hồi ký, tài liệu được truyền bá trên Internet chỉ là những “lời tự thuật” của ông, được ghi lại và hiệu đính. Nội dung nhắm nhiều nhất vào những điều ông biết về Hồ Chí Minh, ông kể lại với chủ ý bênh vực cho ông Hồ. Riêng trong phạm vi này, ông Hoàng Tùng đã vô tình cho thấy “công cuộc diễn biến hòa bình” của Trung Cộng đã thành công từ thời 1950, khi các cố vấn đầu tiên của Trung Cộng sang chỉ huy quân đội cộng sản Việt Nam.

Trong một bài trước, mục này đã nhắc tới ý kiến của các cố vấn Trung Cộng là khai trừ các thành phần “không phải vô sản và bần cố nông” trong quân đội Việt Nam. Một người phụ tá của Văn Tiến Dũng đã lập một danh sách những sĩ quan nên khai trừ, nộp cho các cố vấn. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngăn việc thanh lọc này vì sợ thiếu người. Mà quả thực, trong quân đội Việt Nam lúc đó thành phần thực sự vô sản và bần cố nông không có ai đáng làm sĩ quan.

Nhưng bài tự thuật của Hoàng Tùng cũng cho thấy sự thật về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc, bao trùm lên cả quân sự lẫn chính trị từ năm 1950. Theo Hoàng Tùng thì Hồ không thích rất nhiều chính sách của Trung Cộng. Hoặc Hoàng Tùng nói ông Hồ không phục Stalin và Mao Trạch Ðông mà ông ta còn hận vì bị hai người đó ép buộc. Các đảng viên cộng sản bây giờ hay nêu ra những chi tiết đó để chữa tội cho ông Hồ, có vẻ như muốn chứng minh ông ta không phải là cộng sản thứ thật, chỉ là cộng sản bất đắc dĩ mà thôi!

Nhưng đối với tất cả mọi người Việt Nam khác thì vấn đề không phải là ông Hồ phục Stalin hay không, không phải là trong thâm tâm ông ta đồng ý hay không thích những chính sách nào của Mao Trạch Ðông. Câu hỏi chính là: Cuối cùng ông Hồ đã làm gì và hậu quả ra sao?

Chúng ta thấy ông Hồ cuối cùng vẫn phải cúi đầu chấp thuận ý kiến của các cố vấn Trung Cộng. Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6 và 7, suốt những năm từ sau năm 1950 ông Hồ mỗi lần viết đều nhất thiết suy tôn “Ðại Nguyên Soái Xtalin,” hoặc Chủ Tịch Mao Trạch Ðông vĩ đại.

Hoàng Tùng kể rằng trong thời gian đó cố vấn quân sự của Trung Cộng “Vi Quốc Thanh chuẩn bị (chiến dịch Biên Giới) mọi việc nhất nhất đều xin ý kiến của Mao.” Trước khi chiến dịch đó bắt đầu vào đầu năm 1950, Hoàng Tùng kể rằng Võ Nguyễn Giáp chủ trương đánh Cao Bằng nhưng Tướng cố vấn Trung Cộng Trần Canh bảo phải đánh vào Ðông Khê. Sau phải đánh Ðông Khê.

Hoàng Tùng kết luận, “Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên Giới.” Cái giá phải trả cho công “giúp” đó là, “Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.” Những chữ “chỉnh huấn, chỉnh quân” không phải là những khẩu hiệu suông mà là những cuộc tranh đấu nội bộ trong quân đội, theo mẫu đã thực hành ở Trung Quốc, với mục đích tiêu diệt những thành phần “chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp vô sản.” Cho nên Hoàng Tùng nói tiếp, “Thế là năm 1950-51, đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội.”

Trong bài tổng kết về chiến dịch này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, “Trung Quốc có câu Quân Lệnh Như Sơn,” tức là lệnh trong quân vững chắc như núi, không thể thay đổi được. Rõ ràng lối nói trên cũng nhắm để khi dịch bản tổng kết này ra tiếng Trung Hoa thì các cố vấn phải khen Hồ là một học trò giỏi của Mao Chủ Tịch.

Ðó là một bước đầu của “diễn biến hòa bình” mà Bùi Minh Quốc tố cáo. Từ đó, các cố vấn Trung Cộng còn tiến thêm nhiều bước nữa.

Trong thời gian đó Hồ Chí Minh chỉ đóng vai như một bù nhìn, bảo Võ Nguyên Giáp thi hành các lệnh hành quân của Tướng Trần Canh. Hồ Chí Minh cũng đóng vai cán bộ tuyên truyền, viết những lá thư gửi ra mặt trận hô hào các chiến sĩ Việt Nam hãy liều chết hy sinh. Trong lá thư đề ngày 8 tháng 10 năm 1950 Hồ còn hứa sẽ “khao các chiến sĩ một bữa thịt bò.” Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6, bản in năm 2000, in lá thư thịt bò này ở trang 103, nhưng trước đó 2 trang còn in một bài thơ của Hồ Chí Minh tặng Tướng Trần Canh, cố vấn mặt trận. Bài này bắt chước gần nguyên văn bài Lương Châu Từ đời Ðường, trong câu đầu Hồ Chí Minh chỉ thay tên rượu “Bồ Ðào mỹ tửu” bằng tên một thứ rượu mới: “Hương Tân mỹ tửu dạ quang bôi.” Theo chú thích của nhà xuất bản thì “Hương Tân” ở đây là rượu champagne. Thế mới biết, trong thời gian kháng chiến gian khổ của toàn dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc vẫn được trọng đãi!

Hoàng Tùng lại kể rằng tại đại hội đảng Lao Ðộng năm 1951, La Quý Ba là đại biểu ngoại quốc duy nhất (ngoài Lào và Cam Pu Chia) tới dự, ông cố vấn đã giảng về thuế nông nghiệp. Và, “Sau đó (Việt Minh) bắt đầu đánh thuế. Họ (Trung Cộng) đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất. Vì thế nên Mùa Hè năm 1952 Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất.”

Vâng lệnh đó, năm 1953 Hồ Chí Minh phát động chính sách cải cách ruộng đất trong Hội Nghị Trung Ương kỳ thứ tư, khóa 2. Bài diễn văn báo cáo của ông, đọc ngày 25 Tháng Giêng năm 1953, đăng trong Toàn Tập 7, đã ca ngợi công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Ông Hồ kể Trung Quốc đã “chia ruộng cho 500 triệu nông dân” thành công rộng và lớn! Con số 500 triệu này là do các cố vấn cung cấp, vì lúc đó Bắc Kinh khoe nước họ đã có 582 triệu dân. Ðó là bước nhẩy vọt trong cuộc đời lệ thuộc Trung Cộng của Hồ Chí Minh.

Cuộc cải cách ruộng đất làm chết hàng trăm ngàn người Việt Nam, trong đó có những người đã theo kháng chiến chống Pháp từ đầu. Nhưng vụ giết người thê thảm nhất là vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là bà Cát Thanh Long. Bà là người đã ủng hộ chính phủ kháng chiến hàng trăm lạng vàng, các con theo kháng chiến trong quân đội, các cán bộ cao cấp cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ đã được bà nuôi. Ðó là những chi tiết mà Hoàng Tùng kể lại, trước khi ông tiết lộ có người Việt Nam đã mách cho các cố vấn Trung Cộng biết về bà Nguyễn Thị Năm để họ chọn làm “thí điểm,” đấu tố trước hết để làm gương. Hồ Chí Minh chống lại, nhưng sau cùng lại phải gật đầu đồng ý.

Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì vụ “cải cách ruộng đất” chỉ là một cái cớ. Mục đích của các cố vấn Trung Cộng là thay đổi toàn thể cơ cấu đảng Cộng Sản Việt Nam. Hoàng Tùng viết về mưu đồ của Trung Cộng: “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta... họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể... họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta.”

Thế Hồ Chí Minh làm gì trong lúc đó? Ngoài việc vâng theo lệnh các cố vấn Trung Cộng ra, ông chỉ còn phải lo viết những bài ca tụng các chính sách mà các cố vấn chỉ bảo, ra lệnh các cán bộ, đảng viên thi hành tốt các chính sách đó. Ngoài ra, ông còn để thời giờ làm thơ nữa, nhất là thơ bằng chữ Hán mà các cố vấn có thể đọc được. Trong một bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17 Tháng Ba năm 1950, in trong Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản năm 2000, Hồ Chí Minh đã viết bốn câu ca ngợi hồng quân Trung Hoa. Ðây là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh viết trong chuyến đi Trung Quốc năm đó, ngẫu hứng viết về cảnh Bắc Kinh, Hồ Bắc, Trường Sa (ở Hồ Nam). Hai câu chót trong bài Ngọ Quá Thiên Giang ca ngợi chiến thắng của đạo quân Mao Trạch Ðông tại Thiên Giang, câu chót có khí thế rất hùng hồn, oanh liệt:

“Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!”

Phan Văn Các dịch là “Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”

Nếu các nhà báo trong Tổng cục Du lịch ở Việt Nam bây giờ mà đăng bài thơ Hận Nam Quan, họ nên nhớ, xin đừng quên, rằng trước đây 59 năm, hồi Tháng Ba năm 1950 Hồ Chí Minh đã hào hứng hoan nghênh đoàn quân của Mao “trực đáo Trấn Nam Quan” rồi!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Có nên né tránh cuộc chiến 30 năm trước?

Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu
Bài viết riêng cho BBCVietnamese.com

Image
Một cựu binh Trung Quốc thăm lại nghĩa trang tử sĩ trong chiến tranh biên giới 1979
Trong quá trình cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.
Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên bình dường như là khoảng thời gian đang bị quên lãng.

Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đã ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong vòng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố tình lãng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam

Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” thì các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.

Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức gì đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi vì đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.

Việt nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, vì vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh mình.

Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.

Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, thì vấn đề Trung Quốc có vai trò gì với trật tự quốc tế và có đe dọa gì với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đã to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, vì vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của mình.


Cuối năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố hoàn tất việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ

Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, vì vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ý nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ý định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.

Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, vì vậy càng có ý nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề phòng.

Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc phòng của Trung Quốc.

Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lý luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.

Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái Bình Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam tìm ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Chưa thỏa đáng

Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rõ là học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung.

Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, thì có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.


Học giả Việt Nam vẫn chưa tìm được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nhìn về chiến tranh biên giới Việt Trung



Nhìn về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nhìn chung. Cũng vì vậy trong quá trình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển hình cho điều này.

Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại ký ức không tốt đẹp cho hai bên, thì cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá trình lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.

Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.

Hồ chủ tịch đã từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm tình hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.

Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy trì độc lập tự chủ và phát triển đất nước của mình, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.

Vì vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lý giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lý hòa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.

Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gần đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) ('Dân chủ làm tại Đài Loan', Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.

Trong tháng Hai, BBC sẽ có loạt bài - trên cả phát thanh và trang mạng - đánh dấu 30 năm cuộc chiến biên giới Việt - Trung 1979, nhìn từ nhiều quan điểm khác nhau. Rất mong nhận được những bài bình luận, hồi ức của quý độc giả về sự kiện lịch sử này.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

TẾT: CS NỔ, PHÁO TỊT NGÒI
Vi Anh

Tin RFA mới nhứt, cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu đã tác động đến nhiều người Việt đang sinh sống ở nước ngoài kể cả những lao động xuất khẩu. Người về và tiền gởi về VN nhơn dịp Tết đều giảm. Thế nhưng Tết Kỹ sữu này, do bịnh thành tích và con số cố hữu, Đảng Nhà Nước CS Hà nội vẫn "nổ" như pháo -- nhưng pháo hơi tịt ngòi.

Đảng CS thì kẹt nội bộ vì tranh chấp quyền hành giữa chánh phủ và ban bí thư trung ương, cụ thể là giữa hai người Nam, Nguyễn tấn Dũng và Trương tấn Sang. Nước thì khó khăn vì kinh tế toàn cầu suy thoái, tài chánh khủng khoảng, nhiều nhà đầu tư rút chân. Dân nghèo lại nghèo thêm vì các công ty ngoại quốc lổ lã bỏ của chạy lấy người. Công nhân không được trả lương về quê với hai bàn tay trắng mang theo tức giận tràn hông. Nên để đánh lạc hướng dư luận trong ngoài nước, CS Hà nội mở hết công suất truyên truyền thổi phòng số người đi và số tiền "Việt Kiều" gởi về VN. Nhưng lạnh lùng phân tích cho thấy CS nói vậy nhưng không phải vậy mà tệ hơn vậy nhiều.

Một, quá bể về số "Việt Kiều" [từ sau dùng chữ VK cho gọn] đi về nước trong năm 2008. Trong năm CS Hà nội ra rả tuyên truyền đón hơn 4.5 triệu du khách trong đó có Việt kiều. Nào là Chủ Tịch Nhà Nước CS Hà nội Nguyễn minh Triết tuyên bố miển thị thực chiếu khán nhập cảnh, nào là Mặt Trận Tổ quốc, nào là Ủûy ban Người Việt Ở Nước Ngoài, nào là đài tuyền hình ruyền hình VTV4, chi nhánh tuyên truyền quốc ngoại của truyền hình CS thành phố CS gọi là Hồ chí Minh và của truyền hình trung ương của CS ở Hà nội dùng hết công suất để tuyên truyền chiêu dụ. Nhưng sự thật quá phũ phàng suốt năm 2008, chỉ có 400,000 người Việt đi về nước!

CS dùng kỹ thuật tuyên truyền quơ đũa cả nắm. Ngay những du khách ngoại quốc kia, theo sưu khảo độc lập cho biết, đến VN du lịch ít khi trở lại lần thứ hai, vì cảm thấy bất an cho cá nhân và ghét nhiều dòm hành của công an cảnh sát CS. Tin của truyền thông quốc tế độc lập cho biết số khách du lịch vào VN xuống nặng nên Tổng Cục Du Lịch hạ giá xuống tới 60%.

Con số 400,000 quá nhỏ đối với tổng số hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS định cư ở khắp các nước của ba châu, nhứt là Tâu Aâu, Bắc Mỹ, và Uùc Châu. Càng thấy nhỏ hơn khi thấy trong số 3 triệu người Việt tỵ nạn CS này đã có hơn 300,000 người tốt nghiệp đại học bốn năm trở lên. Số đậu bằng tiến sĩ, bác sĩ các ngành không ít -- mà theo lời Phó Chủ tịch Ủûy ban Người Việt Ở Nước Ngoài -- chỉ có 200 người "trí thức" về làm việc, thì quả là quá quá ít. Làm việc ở đây có thể hiểu là phù động, mùa màng, chớ không phải bán thì hay toàn thì vì cho đến bây giờ chưa thấy người trí thức nào về làm việc và ở luôn, hồi tịch VNCS cả.


Hơn nữa trong số 400 000 người đó chắc chắn có số người Việt đi "lao động xuất khẩu" (theo con số của CS Hà nội hiện có 500,000 người), cô dâu Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai, Tân gia ba là những người trong nước đi làm ở ngoại quốc. Khi gia tư hữu sự, hết hợp đồng, hay bị bạc đãi nên phải về nước - điều mà báo chí đăng tin hầu như hàng tuần. Những người sau này không phải là Việt Kiều theo thuật ngữ của CS và theo thực tế và pháp lý những người Việt nói trên không có định cư cố định, nhập quốc tịch các quốc gia định cư hay thường trú nhân hợp pháp ở các nước ngoài VN, đi VN bằng passport hay giấy tái nhập cảnh do quốc gia định cư cấp.

Hai, về số tiền 8 tỷ Việt Kiều gởi về cũng "bể". Trong khi đó, CS Hà nội đánh bóng tuyên truyền Việt Kiều gởi về 8 tỷ Mỹ kim, tăng 1 tỷ 300 triệu so với năm ngoái. Khoa trương là bịnh cố hữu của nhà cầm quyền chậm tiến. Thành tích con số là cái bịnh kinh niên của chế độ độc tài CS. Sẵn dịp Tết nên CS Hà Nội "nổ" hơn pháo nữa.Thử nghĩ xem làm ăn kiếm lời kia mà "Việt Kiều" đăng ký đầu tư ở VN chỉ cóù gần 2 tỷ Đô la. Đăng ký là con số trên giấy tờ, một chuyện còn xa với thực tế khi xuất chi thực hiện. Làm sao VK gởi cho bà con ở VN 8 tỷ nhiều hơn năm ngoái 1 tỷ 3 khi mà tình hình các nước mà người Việt định cư đang lâm vào suy thoái kinh tế và khủng khoảng tài chánh.

Phương chi, hiện nay CS Hà nội xuất khẩu lao động trên 500,000 người. Những người đó không phải là Việt Kiều theo thuật ngữ của CS Hà nội và theo qui chế nhập cư quốc tế. Đó là những người Việt đi lao động xuất khẩu, đang làm việc ở hơn 30 nước để mong kiếm tiền gởi về giúp gia đình. Số tiền của những đồng bào này gởi về chắc không nhỏ. Theo Uûy ban Người Việt ở Nước Ngoài của CS Hà nội nói trên cho biết số người này thường gởi gởi về từ 70 đến 80% số tiền kiếm được để nuôi gia đình. Trái lại Việt Kiều theo tiêu chí thông thường tiền tặng dữ thường chỉ chiếm 5% lợi tức kiếm được, là quá lắm rồi.

Trong số tiền gởi về VN, muốn hay muốn cũng phải kể hai số tiền các tổ chức đấu tranh gởi về giúp những người và các tổ chức tranh đấu trong nước để có phương tiện hành động. Và những tổ chức từ thiện giúp cho người nghèo và bịnh. Cái này thì khó mà biết vì gởi lòn qua đường chuyển tiền giúp gia đình, từ thiện,đầu tư, kinh doanh.

Ba và sau cùng, TT Nguyễn văn Thiệu rất có kinh nghiệm về CS đã nói, đừng nghe những gì CS nói, mà nhìn những gì CS làm. CS Hà nội đã làm cán cân chi phó ngoại thương của CS Hà nội niên khoá rồi khiếm hụt 14 tỷ Đô la.Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng ban đầu nói hạ quyết tâm tăng trưởng kinh tế tỷ lệ 9, rồi sụt 7, rồi 6,5, rồi 6,25%. Nhưng Ngân Hàng Thế giới cho biết có ráng lắm là 5%. Cán bộ đảng viên chỉ có "ăn" hối lộ, tham nhũng là giỏi. Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Ăn cả tiền viện trợ, tiền vay lãi suất ưu đãi, ăn đất, ăn nhà của Dân Oan và các tôn giáo, ăn của người lao động xuất khẩu, ăn cả tiền của trẻ em mồ côi đi làm con nuôi cho ngoại quốc. Những người như vậy thì cầm quyến đất nước và nhân dân làm sao khá được.

Còn VK càng gởi tiền nhiều về VN thì CS Hà nội càng nhiều ngoại tệ vì quyền phát hành tiền VN là quyền của Đảng Nhà Nước, muốn in bao nhiêu đề đổi ra tiền VK gởi về cũng được, vì dù nhận tiền gởi bằng ngoại tệ sau cùng người nhận cũng phải đổi ra tiền VNCS để xài. VK càng về kiếm cỏ non bò lạc ở VN thì CS Hà nội càng có lý do tuyên truyền hoà giải hoá hợp, gia đình ở ngoại quốc càng dễ mất hạnh phúc, và lớp thiếu nữ VN càng bị hư vì tiền. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại đang phát động phong trào kêu gọi hãy kế hoạch hoá việc gởi tiền và đi VN. Kêu gọi Tháng Tư Đen năm nay không gởi tiền về VN, không đi VN. Tháng Tư thành công, kế hoạch này có thể phát triễn theo vết dầu loang qua những khác khác trong năm.

VI ANH
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


TÀI LIỆU TÌNH BÁO VỀ VỤ CSVN BÁN NƯỚC
(Vài sự kiện dẫn đến bán nước của csvn)


Sau vụ CSVN bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết
thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy .
Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về cuộc BÁN NƯỚC NHƯ SAU:

Image
Các cung nữ thiên triều

1) Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.
Image

Image
Chư hầu và thiên tử

2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất .

3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang Trung Quốc, ông Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

Trung Quốc nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều Cung Tầng Mỹ Nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan .

4) Bộ Trưởng Trung Quốc Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bộ Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang ThaiLand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi VietNam cắt 24,000 sp Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc. Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26 tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen đảng CSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã đi đêm sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nồng Đức Mạnh phải được cử làm Tổng Bí Thư đảng CSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc 'đòi nợ cũ' . Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói: Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh ...nếu không nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị 'chích thuốc'. Khải cuối đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh
chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đải như một vị quốc khách vì tính tình bướng bỉnh vì không nghe lời đàn anh .........

6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến Trung Quốc gặp ông tình báo của Trung Quốc là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt, (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt 'Beibu Bay' đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam . Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt
và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung Quốc.

7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo Trung Quốc. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ US Dollar được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. Đảng CSTQ chỉ thị cho đảng CSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 3 năm 2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải
ở Thành Bắc QTNN.

8 ) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân (QTNN). Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn đảng CSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng.... Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

9) Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollar.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Báo Nhật nói về đường dây buôn lậu ở VNA
Tác giả: BBC
Danh Mục: • Tin Tức - Thời sự

Ngày đăng: 2/3/2009

Cựu phi công Vietnam Airlines Đặng Xuân Hợp trong khi bị bắt đã khai với cảnh sát Nhật Bản về vai trò của 'người thủ trưởng' (boss), giới thiệu cho ông việc làm ăn của đường dây phi pháp.

Báo Nhật tờ Yomiuri Shimbun công bố các chi tiết về đường dây buôn lậu của cựu phi công Hàng không Quốc gia Việt Nam, ông Đặng Xuân Hợp vào Nhật Bản.

Theo bài trên báo ngày 3/02/2009, đường dây chuyển lậu hàng từ Việt Nam vào Nhật là một phần của hệ thống mua hàng ăn cắp từ Nhật để đem ra khỏi nước này.

Bài báo nói điều tra từ 14 địa phương của Nhật cho thấy ít nhất 10 cửa tiệm tại Gunma và Hyogo mua hàng của đường dây mà ông Hợp chỉ là một mắt xích.

Cảnh sát Nhật từ năm 2006 đã điều tra những người Việt mua bán hàng ăn cắp từ các siêu thị và tiệm bán đồ của Nhật.

Nhưng nối hai đoạn của đường dây này là dịch vụ như báo Yomiuri Shimbun gọi là 'ngân hàng ngầm', để tạo điều kiện cho cả việc thu mua hàng nhập lậu và tiêu thụ hàng đánh cắp.

Bắt giữ

Nhà chức trách Nhật đã bắt 84 người liên quan.

Nhưng vụ nổi bật nhất là việc bắt phi công Vietnam Airlines Đặng Xuân Hợp, 33 tuổi và hai người khác ở Tokyo, một nam, một nữ.

Người thứ tư mà cảnh sát Nhật tin là trưởng nhóm là một phụ nữ 34 tuổi ở TP Hồ Chí Minh.

Bài báo nói Nhật Bản đã có được trát bắt người này.

Người ta cũng cho hay ông Hợp trong khi bị bắt đã khai với cảnh sát Nhật Bản về vai trò của 'người thủ trưởng' của ông ta.

Theo đó, chính người lãnh đạo ông Hợp (his boss) đã giới thiệu ông cho người phụ nữ nọ ở TPHCM.

Cựu phi công Hợp cũng khai rằng ông nhận lời chuyển hàng để 'nhận thưởng'.

Nhưng báo Nhật không nêu tên người chỉ đạo ông Hợp là ai và có phải là một quan chức của chính Vietnam Airlines hay không.

Chệnh lệch giá

Bài báo cũng giải mã việc làm ăn của đường dây phi pháp mà phi công Hợp chỉ đóng vai trò vận chuyển.

Nhờ chênh lệch giá cả hàng hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhóm làm ăn đã đưa vào Nhật các mặt hàng, như gia vị phở, thức ăn từ Việt Nam, và chuyển ngược lại mỹ phẩm, đồ video v.v.

Họ dùng phi công Vietnam Airlines vì không phải khai báo hải quan chặt chẽ mà nói là chuyển 'quà' cho ai đó.

Nhưng việc làm ăn lớn tới mức từ 2006 đã lên tới nhiều triệu yên Nhật tính theo trị giá hàng đánh cắp tại Nhật để mang về Việt Nam tiêu thụ.

Phi công Hợp đã bị bắt giữ vào tháng 12/2008 do bị nghi ngờ tiếp tay chuyển hàng ăn cắp của các nhóm tội phạm người Việt hoạt động tại Nhật Bản. Phi công này sau đó đã nhận được cáo buộc chính thức vì hành vi phạm pháp vào hôm 7/01/2009.

Theo cơ quan điều tra Nhật Bản, các phi công và các tiếp viên của Vietnam Airlines thường vận chuyển các khối lượng lớn bất thường hành lý mỗi khi tới Nhật Bản.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Obama và McCain

Ngô Nhân Dụng

Tháng 11 năm ngoái, khi Nghị Sĩ John McCain gọi điện thoại chúc mừng Nghị Sĩ Barack Obama trong đêm ông đắc cử tổng thống, Obama nói với McCain: “Tôi sẽ cần ông giúp tôi.” Và John MacCain trả lời: “Mặc dù khác nhau rất nhiều, chúng ta đều là người Mỹ cả.”

Ngay trong tuần này, Tổng thống Barack Obama có thể nhờ Nghị Sĩ John McCain giúp. Có những chuyện cần giúp gấp và những chuyện lâu dài, có chuyện lớn và chuyện nhỏ. Chuyện gấp bây giờ là làm sao quốc hội Mỹ thông qua nhanh chóng số tiền cho kế hoạch kích thích kinh tế. Hạ Viện đã thông qua dễ dàng vì đảng Dân Chủ chiếm đa số. Nhưng tại Thượng Viện thì đảng Dân Chủ còn thiếu một phiếu mới đủ 60 phiếu để vượt qua được rào cản filibuster. Hơn nữa, đảng Dân Chủ cũng không muốn một mình chịu trách nhiệm về kế hoạch kinh tế này.

Một tuần sau khi nhậm chức, Tổng Thống Obama đã đích thân sang trụ sở Quốc Hội gặp các nghị sĩ và dân biểu Cộng Hòa để xin họ giúp Hành Pháp sớm có tiền kích thích kinh tế. Nhưng khi Hạ Viện bỏ phiếu, tất cả các dân biểu Cộng Hòa đã chống, cho thấy cố gắng của ông Obama chưa thành công. Ngay sau đó, Nghị Sĩ John McCain đã đánh tiếng nói rằng ông Obama cần cố gắng hơn nữa. Cố hơn nữa có nghĩa là phía đảng Dân Chủ phải chịu chấp nhận một số sửa đổi mà bên Cộng Hòa đề nghị trong dự luật gần 900 tỷ này.

Nghị Sĩ McCain có thể giúp Tổng Thống Obama trong những cuộc mặc cả chính trị ở Thượng Viện, sao cho kế hoạch kích thích kinh tế được thông qua sớm với đa số lớn chứng tỏ tinh thần hai đảng hợp tác có thật, như ông Obama vẫn hô hào. Nhưng trên đường dài ông Obama có thể nhờ ông McCain những chuyện lớn hơn nữa.

Một chuyện lớn, đáng công nhờ nhỏi, là thực hiện khẩu hiệu mà ông Obama đã nhấn mạnh trong thời gian tranh cử: Thay đổi nước Mỹ.

Khi dân Mỹ bỏ phiếu giúp ông Obama đạt được số phiếu của dân và phiếu cử tri đoàn cao kỷ lục, họ nói lên niềm mong mỏi và hy vọng nước Mỹ sẽ có nhiều điều thay đổi. Ông Obama sẽ có ít nhất 4 năm để làm được một vài điều, đáp ứng niềm hy vọng đó. Ông sẽ phải chọn một vài vấn đề lớn để thực hiện lời hứa của mình. Mà ông sẽ chỉ thực hiện được nếu có sự hợp tác giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Nghị Sĩ John McCain có thể giúp Tổng Thống Obama trong cố gắng hợp tác đó.

Trước ngày Tổng Thống Obama nhậm chức, nhật báo New York Times và đài truyền hình CBS đã phỏng vấn 1,100 người Mỹ. Có gần 80% đặt nhiều hy vọng vào ông Obama, nhưng đa số dân Mỹ cho rằng trong hai năm đầu tiên của nhiệm kỳ, vị tổng thống thứ 44 của nước Mỹ sẽ không thể nào làm được hai điều ông đã hứa. Ðó là hứa chấm dứt xong cuộc chiến tranh ở Iraq, và lời hứa cải tổ hệ thống y tế. Hai phần ba dân Mỹ nghĩ rằng trong hai năm tới kinh tế Mỹ sẽ chưa thể phục hồi, dù ông Obama và quốc hội sẽ đưa ra những ngân sách chi tiêu hàng ngàn tỷ mỹ kim để kích thích các hoạt động tiêu thụ và sản xuất.

Nhưng sau này khi lịch sử xét đoán thành tích của Tổng Thống Obama, những vấn đề như chiến tranh Iraq hay kinh tế suy thoái sẽ chỉ là những vấn đề ngắn hạn thôi. Nếu ông Obama muốn được ghi trong sử sách là một vị tổng thống đã “thay đổi nước Mỹ,” ông sẽ phải tấn công vào những chuyện lớn. Ðó là các vấn đề tồn tại từ lâu mà nếu thay đổi sẽ để lại hậu quả lâu dài hơn. Nhưng đó cũng là những vấn đề khó thay đổi hơn. Muốn thay đổi được phải có sự hợp tác giữa hai đảng, cho nên ông Obama cần nhờ ông McCain giúp sức.

Nghị Sĩ John McCain sẽ chỉ là một trong số 100 nghị sĩ, lại ngồi trong đảng đối lập thiểu số trong Thượng Viện. Ông đã là một ứng cử viên tổng thống, nhưng như vậy cũng không đủ gây ảnh hưởng. Ðã có biết bao nhiêu nghị sĩ từng làm ứng cử viên tổng thống rồi sau đó vẫn đóng những vai trò mờ nhạt, như các cố Nghị Sĩ George McGovern, Bob Dole, hay đương kim Nghị Sĩ John Kerry.

Tuy vậy, Nghị Sĩ John McCain có thể vận động tinh thần hợp tác giữa hai đảng để làm nên lịch sử. Vì ông trong quốc hội ông được tiếng là một người “ôn hòa.” Chắc chắn ông không phải là một người có đầu óc “giáo điều,” cố chấp, cho nên dễ đối thoại. Và ông cũng được tiếng là người không chịu hùa theo áp lức của những quyền lợi riêng biệt, bè phái, cực đoan. Ông là người dám đi ngược dư luận để bảo vệ các nguyên tắc. Với uy tín đó ông có thể giúp ông Obama thuyết phục các nghĩ sĩ Cộng Hòa khác, với điều kiện ông Obama cũng tỏ ra ôn hòa và thực tế, không để cho khuynh hướng cực đoan trong đảng Dân Chủ làm áp lực.

Hệ thống quốc hội với hai viện tạo cơ hội cho hai ông Obama và McCain hợp tác thay đổi nước Mỹ. Thượng Viện là nơi quyết định nhiều chính sách quốc gia quan trọng. Trong quá khứ, những đạo luật thay đổi nước Mỹ quan trọng nhất, giải quyết những vấn đề nhức nhối lâu đời nhất, đều do sự hợp tác giữa các nghị sĩ thuộc hai đảng ở Thượng Viện. Thí dụ, những đạo luật về dân quyền, bảo vệ quyền bỏ phiếu của người da đen trong thời Tổng Thống Johnson; và các đạo luật cải tạo hệ thống an sinh xã hội để giảm bớt số người sống ỷ lại nhờ trợ cấp, trong thời Tổng Thống Clinton. Ðạo luật thứ nhất nằm trong chủ trương của đảng Dân Chủ, đạo luật thứ hai vẫn là điều đảng Cộng Hòa thúc đẩy nhiều năm. Cả hai điều đó chỉ được quốc hội thông qua khi hai đảng chính trị cộng tác với nhau.

Thượng Viện trong Quốc Hội Mỹ đóng vai trò đặc biệt. Ðó là nơi các nhà chính trị có nhiều thời giờ để suy nghĩ chín chắn hơn, cưỡng lại những áp lực của dư luận nhất thời. Các đại biểu Hạ Viện cứ 2 năm phải được bầu lại, cho nên họ dễ bỏ phiếu theo ý muốn nhất thời của các cử tri trong đơn vị của mình. Các nghị sĩ 6 năm mới phải ứng cử lại, họ có thể chờ cho dư luận nguội đi bớt trước khi bỏ phiếu. Nhiều dự luật được đa số các đại biểu thông qua rồi lên Thượng Viện bị ngâm lại, chính vì các nghị sĩ muốn suy nghĩ chín chắn coi đó có phải là một vấn đề thiết yếu đối với chính sách quốc gia hay không. Có những vấn đề quan trọng bị Thượng Viện ngâm lại không biểu quyết, cũng có lý do để các nghị sĩ lắng nghe thêm nhiều ý kiến đối lập. Thủ tục lập pháp sẽ mất nhiều thời giờ hơn, nhưng bù lại sẽ nhiều lúc tránh được những quyết định hấp tấp.

Thượng Viện Mỹ là nơi ngăn cản các vị tổng thống không cho họ thí nghiệm những đường lối cực đoan do nhu cầu nhất thời; do đó, cũng giúp họ giữ thái độ ôn hòa và trung dung hơn.

Sau khi Tổng Thống Gorges W. Bush đắc cử lần thứ hai, áp lực của các nhóm bảo thủ về xã hội muốn ông thi hành những lời hứa với họ. Thí dụ, tu chính hiến pháp để cấm hôn nhân đồng tính. Nhưng ông Bush biết rằng việc tu chính hiến pháp rất khó khăn, ý kiến đó thế nào cũng không qua được cửa Thượng Viện; cho nên ông có thể bỏ qua không làm, mà không bị coi là thất hứa. Ðối với Tổng Thống Obama, Thượng Viện Mỹ sẽ là nơi giúp ông tránh không phải làm theo áp lực của những áp lực phe phái do quyền lợi đặt biệt, thí dụ như áp lực của các công đoàn. Các công đoàn đã làm áp lực rất mạnh với quốc hội để thông qua dự luật buộc các xí nghiệp phải cho lập nghiệp đoàn mà chỉ cần đa số công nhân ký tên yêu cầu, mà không cần bỏ phiếu kín. Với một đạo luật như vậy, các công đoàn sẽ rất dễ bành trướng và lạm dụng uy thế. Nhưng nếu dự luật này được chuyển lên Thượng Viện, người ta biết rằng các nghị sĩ sẽ không thông qua; ít nhất các nghị sĩ Cộng Hòa sẽ đủ trên 40 phiếu để dùng thủ tục filibuster để ngăn lại, vì họ sẽ được nhiều nghĩ sĩ Dân Chủ hợp tác.

Nhưng trong số các nghị sĩ Cộng Hòa cũng có nhiều người “ôn hòa” như Nghị Sĩ John McCain. Nếu ông Obama có thể cưỡng lại sức ép phe phái trong đảng Dân Chủ, ông có thể nhờ ông McCain bắt tay với nhiều nghị sĩ Cộng Hòa như hai bà Olympia Snowe và Susan Collins ở tiểu bang Maine, để qua được cánh cửa filibster ở Thượng Viện trong một số dự luật gây tranh luận gay go.

Chính phủ Obama sẽ có cơ hội thực hiện nhiều thay đổi lớn: Cải tổ hệ thống y tế; lo cứu quỹ hưu bổng xã hội cho khỏi cạn tiền; tiến tới độc lập,tự chủ về năng lượng; và nhất là vẽ lại cả cơ cấu giám sát tài chánh của nước Mỹ, một nhu cầu vừa cấp thiết vừa có tính chất lâu dài.

Ông McCain có thể giúp ông Obama trong những nỗ lực này: Thể hiện sự hợp tác giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ để thay đổi một số vấn đề đè nặng trên xã hội Mỹ. Với những vấn đề quá lớn đó, một đảng chính trị, dù cầm quyền trong cả Tòa Bạch Ốc và quốc hội cũng không thể một mình thay đổi được. Hy vọng rằng những gì hai ông Obama và McCain nói với nhau trong đêm mùng 4 tháng 11 năm 2008, họ sẽ thực hiện được.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Phim “Việt Nam, Việt Nam” Được Công Bố Sau 27 Năm bị dấu kín
Tác giả: Blog Công Lý và Sự Thật

http://conglysuthat.blogspot.com/2009/0 ... an-on.html

Vietnam! Vietnam! from Eric Spiegelman on Video.
Phim đang phổ biến trên mạng tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973), ông đoạt tất thảy 4 giải Oscars vào năm 1973 ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon). Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 27 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.

Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng. Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.

Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam. Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.


Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.


Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?


Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẻ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh nạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản. và phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.


Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, và vì vậy đã bị bộ thông tin của MỸ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản bắc Việt, vì đã lở nói xa lầy rồi...


Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giồng như những phim của các chế độ cs.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nhóm Man Cộng HàNội Đang Thực Hiện
Tác giả: Lý Đại Nguyên



Trong thư đề ngày 14-01-08, cựu tướng Võ Nguyên Giáp gửi Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng để góp ý về dự án bauxite Tây Nguyên. Theo ông Giáp thì: “Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu , xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện. Tuy nhiên, các dự án này vẫn được triển khai, trong tháng 12-2008, đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên đã có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại dự án)… “Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta”. “Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ Chính Trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định”.


Đã quá muộn rồi cựu đại tướng Giáp ơi! Bức thư ông gửi ra đúng vào ngày Nguyễn Tấn Dũng họp chính phủ để đưa ra kết luận rằng: “Việc khai thác bauxite, sản xuất và luyện nhôm là phù hợp với chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam”. Đích ra, chỉ vì nhu cầu sản xuất kỹ nghệ máy bay và phi thuyền của Trungcộng rất cần tới nhôm khai thác tại Việtnam. Nên hồi cuối tháng 5/2008 Hồ Cẩm Đào chủ tịch Trungcộng đã triệu Tổng Bí Thư Man Cộng, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh để đưa ra quan hệ 2 đảng và 2 nước trở thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Rồi bắt chủ tịch Quốc Hội Việtcộng, Nguyễn Phú Trọng sang xác nhận điều hứa đó. Cuối cùng ngày 20 đến 23-10-08, nhân dịp dự hội nghị ASEM tại Bắc Kinh, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việtcộng phải gặp giới lãnh đạo Trungcộng để ký kết các văn kiện nhằm“cụ thể hoá mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” ấy. Qua đó, cuối năm 2008 phải hoàn tất cắm mốc biên giới Việt, Hoa. Hợp tác khai thác nguyên nhiên liệu dưới biển, trên đất và các quyền lợi kinh tế trọng yếu khác.




Tóm lại đây là văn tự bán nước Việtnam của bọn Man Cộng Hànội đã ký với Tầu Cộng Bắc Kinh. Những vùng đất biên giới mà Tầucộng lấn chiếm của Việtnam từ nay đã được hợp thức hoá. Các vùng hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà Tầucộng đánh chiếm của Việtnam thì bọn Mancộng Hànội mặc nhiên coi đó là của Trungcộng, nên chúng mới công khai kêu gọi các công ty khoan dầu ngoại quốc hợp tác khai thác, không thèm cho Việtnam dự phần. Trắng trợn nhất là việc khai thác các mỏ bauxite Tây Nguyên ở Bảo Lộc và Đắc Nông đã trao độc quyền cho Trungcộng đem người Tầu sang khai thác và đem quân đội Trungcộng sang đồn trú để canh giữ, không cho bất cứ người Việtnam nào được bén mảng tới, kể cả chính quyền, công an, quân đội Việtnam. Đây là một thứ “Tô Giới của Tầu trên đất Việt”. Giống như tô giới của người Tây trên đất Tầu ở Thượng Hải xưa. Trên danh nghĩa khu vực này bọn Mancộng Hànội trao cho ủy viên BCT, bộ trưởng CA là tướng Lê Hồng Anh phụ trách Trưởng Ban Chỉ Đạo phát triển Tây Nguyên. Nhưng dư luận trong nước ngờ rằng tay này là người Nam Bộ gốc Tầu Minh Hương, đã được Trungcộng cấy vào cộng đảng VN từ lâu, nên mới được trao cho việc chỉ đạo làm ăn sinh tử độc quyền này của họ, chứ không cho phép đảng và nhà nước Việtcộng trao cho phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, hay chính quyền địa phương, hoặc một vị tướng quân đội nào khác, đứng ra quản lý, để nắm vững kỹ thuật khai thác, tránh gây độc hại môi trường, và số lượng sản phẩm để định gía thương mại.




Chính vì đây là vấn đề “bán nước Việt cho kẻ thù truyền kiếp Tầu” nên bọn Mancộng Hànội rất sợ phản ứng của Thanh Niên, Sinh Viên và nhất là Quân Đội, vì đó thuộc về Tinh Thần Truyền Thống của Việt Tộc chống Đế Quốc Tầu. Đã là người Việtnam, còn có tâm thức Việtnam, trong người còn chút Di Thức Việt Tộc, thì ngay như người cộng sản gộc Võ Nguyên Giáp, cha, chú của bọn Mancộng Nông Đức Mạnh, Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng… khi nhìn thấy bọn con cháu Mancộng vong bản của mình, cam tâm thực hiện kế hoạch “tàm thực” Việtnam của Trungcộng, cũng phải đau lòng, lên tiếng can gián. Đừng nói gì đến những người trẻ tuổi còn đầy nhiệt huyết đã từng bất chấp đe dọa lao xuống đường lên án Trung cộng xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam hồi tháng 9-2008.




Để phòng ngừa biến cố loạn động lật đổ chính quyền, bọn Mancộng Hànội đã ra lệnh cho Ban Tuyên Giáo Trung Ương phải làm mọi cách để khống chế triệt để các cơ quan ngôn luận của Đảng, tìm cách bỏ tù những ký giả cứng đầu. Đồng thời thiết lập một bộ biên tập đặc biệt, viết ra những bài báo nhằm đánh phá các Tôn Giáo đấu tranh ở trong và ngoài nước, gây mâu thuẫn nghi kị giữa những người dám đấu tranh đòi Dân Chủ. Do đó mới có những bút hiệu như: Thích Viên Giáo. Thích Siêu Phương, Trần Đại Lĩnh, Như Thuyết, Tâm Nguyện, Trần Lý, Tâm Không, Thấu Tâm Can, Võ Văn Hàm … và nhiều nhóm xuất hiện trên mạng tự nhận là chống cộng cực đoan, nhưng trong đó chủ điểm là dùng ngôn ngữ độc địa chống phá các tôn giáo, chống hết người này tới người khác, rồi gây ra các cuộc binh, chống lẫn nhau trong giới chống cộng hải ngoại một cách hăng say cuồng nhiệt. Khiến cho dư luận trong và ngoài nước rơi vào trận hỏa mù, không còn kịp nhận ra những việc làm lén lút mờ ám của bọn Mancộng Hànội đang tiếp tay thực hiện kế hoạch từ từ xâm lăng của Tầucộng tại Việtnam.


Chính vì vậy mà Ban Tuyên Giáo Trung Ương mới được làm kẻ có công đầu trong chiến dịch thôn tính Việtnam của Trungcộng. Trưởng Ban Tuyên Giáo là Tô Huy Rứa đã được Hội Nghị Trung Ương khóa 9 nâng cấp thành ủy viên Bộ Chính Trị thứ 15. Trước Đại Hội X, vai trò của Ban Tư Tưởng Văn Hóa vẫn do một ủy viện Bộ Chính Trị đầy quyền lực đảm trách, nay coi như đã lỗi thời, hết xài. Nên cộng đảng đã hạ xuống thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương do một ủy viên Trung Ương điều khiển. Đến giờ, nhờ công tác khống chế dư luận hữu hiệu đã đưa Ban Tuyên Giáo trở lại Bộ Chính Trị. Xem vậy sự tồn tại của chế độ độc đảng, độc tài toàn trị Việtcộng có còn duy trì lâu nữa hay không, đều trông cậy vào Ban Tuyên Giáo Trung Ương có đủ mưu lược khống chế nổi dư luận trong, ngoài nước hay không? “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng”. Nay thì những người làm truyền thông và đấu tranh cho tự do dân chủ đã biết thật rõ, những sự đánh phá lẫn nhau giữa những người chống cộng ở trong và ngoài nước đều do Ban Tuyên Giáo Trung Ương sách hoạch, khiến chúng ta quên đi những việc buôn dân, bán nước của bọn Mancộng Hànội, giúp chúng dựa hẳn vào Bắc Kinh, và nương vào chính sách thuận thảo với Trungcộng của Mỹ mà tồn tại.


Little Saigon ngày 03-02-2009
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Việt Nam đang lâm nguy !

Vũ-Hoài-Nam.
Mới đây, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng họp báo nói việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Ðảng và Nhà nước”, phải tiến hành tới cùng, cho dù dự án này gặp phản đối từ nhiều phía.

Bauxite là gì ?

Bauxite là khoáng thạch quan trọng dùng để làm thành nhôm (aluminium) bao gồm 3 khoáng chất: Al(OH)3, boehmite γ-AlO(OH), and diaspore α-AlO(OH), gộp chung với chất sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Nhôm đầu tiên do công khám phá của nhà địa chất học người Pháp là ông Pierre Berthier năm 1821 tại một ngôi làng nhỏ có tên là Les Baux-de-Provence thuộc miền Nam nước Pháp.
Image
Suối Tịnh Tây ở Quảng Tây, sau khi khai thácBauxite, nước suối đỏ như máu

Trung quốc qua mặt VNCS với lý do là cần nhiều nhôm để làm máy bay và phi thuyền không gian.

Vì muốn xâm nhập và để thi hành kế hoạch cho dễ dàng nên Trung quốc giả vờ lấy tên những hãng dân sự khai thác nhôm xin với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận cho vào cao nguyên Trung bộ Việt Nam để khai thác Bauxite.

Thực dân mới Trung quốc đang giành quyền làm chủ vùng Cao nguyên Trung bộ Việt Nam.

Chúng tôi còn nhớ rõ trước đây, đại tướng Pháp Delattre de Tassigni khi được chính phủ Pháp phái sang Ðông Dương, ông ta đã đi quan sát nhiều nơi ở Bắc Việt, Trung Việt Và Nam Viêt cùng Cao Miên và Lào. Ông cũng đọc rất nhiều báo cáo về tình hình hoạt động của Việt Minh lúc bấy giờ. Sau 2 tháng nhận chức Toàn quyền ở Ðông Dương, ông đã trả lời câu hỏi của một nhà báo Pháp về quyền làm chủ Ðông-Dương: “Bên nào giành quyền làm chủ được giải Cao Nguyên Trung phần và Hạ Lào thì người đó làm chủ chiến trường Ðông Dương”;(Cao nguyên Trung phần Việt Nam gồm: Pleiku, Kontum và Bạn Mê Thuột); cao nguyên Hạ Lào là Boloven (gồm hai tỉnh Attopeu và Saravane). Hai giải cao nguyên nầy nôi tiếp với nhau làm thành một hành lang thiên tạo và một căn cứ địa vũng chắc ít nơi nào bằng.

Trong một số đặc san của Bộ Tham Mưu QÐNDVN phát hành năm 1949, tôi cũng được đọc một bài viết mà lâu ngày tôi quên mất tên tác giả. Bài viết có nhắc đến điểm chíến lược quân sự tối quan trọng là vùng Cao nguyên Trung bộ. Tác giả bài viết còn nhấn mạnh: “Nếu một mai đất nước thống nhất, độc lập thì thủ đô tương lai của Việt Nam sẽ phải là Cam-Ranh vì ở đây có địa hình và địa vật phải kể vào hàng độc nhất trên thế giới”.

Chúng tôi biết chắc rằng cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi còn trẻ ông rất ít khi đọc sách và cũng không được theo học lớp tham mưu cao cấp nào nên ông không biết cao nguyên Trung bộ là vùng chiến lược rất quan trọng của Việt Nam. Vì thế cho nên, đầu tháng 2 năm 1975, ông đã ra lệnh cho lực lượng quân sự (Quân Ðoàn 2) bỏ ngỏ và rút lui khỏi Cao Nguyên. Khi đó, các nhà nghiên cứu quốc tế về Ðông Dương tiên đoán thể nào miền Nam cũng rơi vào tay CS. Và quả nhiên như thế thật. Và vì thế, cho nên chúng ta mới phải bỏ nước ra đi.

Theo chúng tôi được biết, gần đây chính phủ CSVN đã ký giấy, cho phép một hãng Trung Quốc; điễn hình là hãng Xina Pu Diên, hãng này bề ngoài là một hãng khai thác quặng đá “Bauxite” để nấu thành nhôm của Trung quốc. Nhưng kỳ thật, bên trong gồm có bộ phận đầu não là những sĩ quan Tham Mưu cao cấp, Tình Báo, Nghiên Cứu Tác Chiến, Trinh Sát, Ðội Vẽ Bản Ðồ….

Theo nguồn tin riêng từ Hoa Lục cho biết là hiên tại, chung quanh vùng khai thác quặng đá Bauxite để nấu thành “nhôm” (aluminium) có chu vi 25km vuông tại vùng Tây nguyên đã có một đại đội đặc nhiệm của Quân Ðội Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa với đầy đủ vũ khí, máy truyền tin tối tân cùng những xe Jeep quân sự dựng tạm lều bạt dùng làm nơi đóng quân. Bề ngoài là lực lượng bảo vệ công trường. Nhưng bên trong không phải vậy. Ðại đội “đặc nhiệm” nầy gồm có một thiếu tướng và bốn đại tá cùng nhiều sĩ quan cấp úy chuyên ngành như: Tình báo, Trinh sát, Tác chiến, Dân Vận, Bản Ðồ, Công binh …. Ðể giữ bí mật, bọn họ không đeo phù hiệu và cấp bậc. Chúng đã cắm bảng cấm không cho một ai lai vãng đến gần căn cứ của chúng, kể cả nhân viên chính quyền Việt Nam. Hiện nay chúng tạm dựng lều để ở, nghe nói chúng đang cho chở gạch cát và xi-măng để xây căn cứ vững chắc.

Ngoài số Bộ Ðội, Trung Cộng mang cả non một vạn dân người gốc Hán đến vùng Tây Nguyên lập nghiệp và làm cơ sở ngoại vi.

Nhân dân ta phản đối việc chính quyền VNCS đồng ý cho Trung quốc khai thác mỏ Bauxite tại Tây nguyên.

Người đầu tiên phản đối lại là cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông đã vì quyền lợi của đất nước mà hạ mình viết thư đề, kính gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng vì đã nhận được chỉ thị của Bắc Kinh nên thủ tướng Dũng phải quyết tâm thi hành theo lệnh của những người ở Bắc-Kinh.

Bức thư của Tướng Giáp, đăng trên báo điện tử VietnamNet, nêu lý do là vì quan ngại về “nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội” của các dự án này.

Ðược biết, bức thư đề ngày 5/1 nhưng tới 14/1 mới được đăng trên duy nhất một tờ báo mạng của Việt Nam.

Thư đề kính gửi “đồng chí Nguyễn Tấn Dũng” viết cho dù đầu tháng 11/2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị để nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện, “ nhưng các dự án này vẫn đang được triển khai”.

Gây tranh cãi

Thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại thời kỳ đầu những năm 1980 khi Chính phủ VN đưa chương trình khảo sát khai thác bauxite Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó.

Bản thân Tướng Giáp được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này.

Khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite vì nguy cơ sinh thái.

“Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.

Bức thư nhấn mạnh: “Về quy mô, quy hoạch khai thác bauxite Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đôla Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta”.

Tướng Giáp cho rằng việc nghiên cứu thẩm định cần được tiến hành và báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội chứ “không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế”.

“Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.”.

Bản tính không tử tế của phần đông đảng viên, cán bộ CSVN.

Phần đông, những đảng viên CSVN, nhất là những cán bộ cao cấp thiếu nhân cách và không biết đạo đức là gì nên có bản tính xấu, hay tráo trở, lật lọng, vô thủy, vô chung…. Họ thường tự đề cao mình là giai cấp vô sản chuyên chính, là giai cấp công nông; tiền phong của giai cấp vô sản. Nhưng sự thật không phải vậy, một danh từ sau đây thích đáng với bản tính xấu xa của họ. Ðích thực họ là: “vô sản lưu manh”.

Ðiển hình họ đã lừa thầy, phản bạn, như ông Lê Duẫn đã phản bội cả chủ tịch yêu quý Hồ Chí Minh. Ra lệnh giết cả gia đình Lưu Quang Vũ bằng thủ đoạn ném đá giấu tay; cho xe tông chết Lưu Quang Vũ lúc đó đang đèo vợ con trên xe gắn máy cũng chỉ vì TW Ðảng muốn thần thánh hóa ông Hồ. (Các bạn có thể tìm đọc “Ðĩnh Cao Chói Lọi” của nhà văn nữ Dương Thu Hương thì biết lúc cuối đời ông Hồ bị bọn đàn em bỏ rơi và có đời sống ra sao?).

Nhiều người có nhận xét rằng cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vì sơn hà xã tắc mà dẹp tự ái, bỏ công viết thư can ngăn Nguyễn Tấn Dũng về việc khai thác Bauxite ở Tây Nguyên của Trung Cộng. Ðáng lý ra, ông Giáp không nên viết thư cho Nguyễn Tấn Dũng mà chỉ nên viết một bài gửi cho nhà báo phản đối về việc chính phủ đã cho khai thác Bauxite có hại cho môi sinh và nói thẳng là không nên cho người Trung Hoa đặt chân vào vùng đất chiến lược Tây Nguyên.

Vã chăng, Nguyễn Tấn Dũng là người bất tài, thuộc vào hàng con cháu. Nếu Nguyễn Tấn Dũng đi lính thì phúc đức lắm chỉ lên đến cấp bậc thiếu tá là tột cùng. Không xứng để một cựu đai tướng phải đề chữ “Kính gửi” trong thư. Và sự thật cho chúng ta thấy, thủ tướng Dũng không đếm xỉa gì đến thư đó. Hơn nữa, Nguyễn Tấn Dũng có biết “Kính lão đắc thọ” là gì đâu? Thật ra, Dũng bây giờ cũng xem thường đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Lê Duẫn ngày nào?

Kết luận.

Thực ra, không phải hoàn toàn vì nhu cầu nhôm để sản xuất máy bay và phi thuyền mà Trung Cộng đến khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Mục đích chính của Trung Cộng là rồi ra sẽ xâm chiếm Việt Nam. Biến Việt Nam thành một tỉnh của TC nên bây giờ phải tìm cách nắm giữ yết hầu Việt Nam là vùng “Chiến lược Tây Nguyên” nên Trung Cộng phải chuẩn bị và dự liệu cái gì phải làm trước.

1- Hiểu tường tận và nắm rõ địa hình, địa vật vùng chiến lược Tây Nguyên bằng cách cho sĩ quan đến quan sát trực tiếp tại chỗ.

2- Vẽ bản đồ Tây Nguyên theo ý muốn.

3- Tổ chức cơ sở tình báo.

4- Tổ chức cơ sở nhân dân nhắm vào đồng bào người thiểu số địa phương.

5- Rồi đây, Trung Cộng sẽ đề nghị làm đường giúp Việt Nam để có đường sẵn để dùng cho chiến tranh sau này như bọn chúng đã dùng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 ở các tỉnh biên giới Trung-Việt.

Hiện nay Trung Cộng đang âm mưu biến những vùng đất mầu mỡ ở Tây Nguyên thành những “Tô giới Trung Hoa”. Vì những vùng đất mà Trung Cộng lập thành căn cứ địa đã trở thành “bất khả xâm phạm”. Chúng cắm bảng cấm cả nhà cầm quyền VNCS và dân chúng Việt Nam không ai được lại gần. Như vậy thử hỏi còn gì là chủ quyền Việt Nam?

Ðó chỉ là bước đầu của âm mưu xâm lăng Việt Nam trong kế hoạch ”tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang” của bá quyền, thực dân mới Trung Quốc.

Trung Quốc đang muốn làm suy yếu Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, làm bất ổn xã hội, kích thích sự đấu tranh ly khai của các dân tộc thuộc khu vực Tây Nguyện Trung Phần Việt Nam, làm suy yếu Việt Nam, chia cắt Việt Nam để cưỡng chiếm khu vực Biển Ðông của Việt Nam.

Ðể chuẩn bị cho việc xâm lăng Việt Nam sau này, Bắc Kinh đã đề ra chiến lược hai nước Trung hoa và Việt Nam sẽ trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” nên năm vừa qua hết Nông Ðức Mạnh, Tổng Bí Thư Ðảng rồi đến Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và sau cùng là Nguyễn Tấn Dũng

thủ tướng chính phủ qua gặp giới lãnh đạo Bắc Kinh để nhận chỉ thị cũng như ký kết các văn kiện để hợp thức hóa âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh.

Rút cuộc, những văn kiện mà VNCS đã ký kết với TC là một hình thức công khai và là bằng chứng công nhận chủ quyền về đất đai trước kia của Việt Nam, nay thuộc về Trung Hoa như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa … Vẫn chưa hết, Trung Cộng còn buộc CSVN phải kỳ nhượng Biển Ðông để Trung Cộng công khai khai thác dầu hỏa.

Cũng vì đã có những văn kiện về chủ quyền đất và biển trong tay nên Bắc Kinh đã hứa hẹn bảo đảm việc ủng hộ chế độ hiện hữu của CSVN. Cũng vì muốn giữ địa vị để dễ bề áp bức, bóc lột dân nghèo, làm giàu bất chính nên TW Ðảng CSVN đã nhắm mắt tuân hành theo những áp đặt của Bắc Kinh. Cũng vì vậy mà chính quyền VNCS đã ra sức ngăn cản thanh niên, sinh viên Việt Nam biểu tình chống Trung Cộng. Bịt miệng báo chí không cho đả động gì đến việc làm của Bắc Kinh. Và cúi đầu chấp nhận để cho Trung Cộng được tự do vào Tây Nguyên với danh nghĩa là vào để khai thác Bauxite. Nhưng sự thật khác hẳn.

Ðiều đặc biệt chúng ta phải lưu ý đến vấn đề an ninh quốc gia như nhiều nhà quân sự và người dân đã bày tỏ quan ngại. Nguyên nhân 1000 năm Bắc thuôc trong lịch sử Việt Nam là do ông cha ta cả tin, vô tình rước giặc vào nhà mà mất nước vào tay ngọai bang. Hàng nghìn người Trung Quốc (công nhân hay quân nhân mặc thường phục??) theo dự án này vào làm việc và sinh sống lâu dài tại Tây Nguyên Việt Nam, một trong những vị trí chiến lược trọng yếu của quốc gia, sẽ là một hiểm họa khôn lường.

Chính quyền VNCS không thể nào che đậy được dã tâm phản bội Dân Tộc. Nhờ núp bóng bá quyền Trung quốc để sống vinh thân phì da. Dù cho thực dân mới Trung Hoa có lớn mạnh đến đâu thì với tinh thần tranh đấu anh dũng của người Việt Nam, không nhụt chí can cường trước sự đàn áp của bộ máy Công An CSVN.

Chúng tôi tin rằng rồi đây, đồng bào trong nước sẽ đứng lên ngăn chận âm mưu xâm lược của bá quyền Trung quốc. Những trang sử oai hùng đã viết lên chiến thắng vẽ vang chói lọi của Chi Lăng, Bạch Ðằng, Ðống Ða …. trong chiến tranh giữ nước, toát lên một tư tưởng hùng mạnh, một ý chí sắt đá như Nguyễn Trãi đã viết :

Ðem đại nghĩa thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo

Ðất nước ta và nhân dân ta có thể liên tục hiên ngang giữ vững độc lập mãi mãi không ? Cái đó tùy thuộc vào ý chí của nhân dân có lòng yêu nước như lịch sử đã viết: “Một dân tộc tuy không lớn, đất không rộng, người không đông, trình độ phát triển xã hội không cao, không đồng đều vẫn có thể đánh bại những đế quốc lớn nhất”. Tối hậu của việc đánh thắng là nhờ vào yếu tố dân Việt Nam có ý chí dũng cảm tột bậc; toàn dân đoàn kết, biết hy sinh tranh đấu, biết tự lực tự cường; và nhờ vào người lãnh đạo giỏi, mưu trí hơn người, biết lấy dân làm gốc.

Việt Nam tất thắng, quyết đánh tan âm mưu thôn tính Việt Nam của bá quyền Trung quốc, kẻ thù xâm lược.

Kính chào đoàn kết,

California, ngày 06 tháng 02 năm 2009.

Vũ Hoài Nam.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Đồng Minh lại tháo chạy?
Lữ Giang

Trong một bài dưới dầu đề “Dưới mặt trời này, không có cái gì cho không cả” (Nothing under the sun for free) được đăng trên tờ The Christian Science Monitor, ký giả Ron Scherer cho biết Mỹ sẽ tốn tới 2.000 tỷ USD trong cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan.

Báo cáo của Trung Tâm Thẩm Định Chiến Lược và Tài Chính (CSBA) của Mỹ cho biết, tính từ năm 2001 đến nay Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan tổng cộng 904 tỷ USD. Tính riêng chi phí bỏ ra cho cuộc chiến Iraq là 687 tỷ USD.

Báo cáo của Trung Tâm cũng nói rằng mặc dù đến năm 2011 Mỹ sẽ rút quân ra khỏi Iraq với số lượng lớn nhưng tính đến năm 2018, tổng số tiền mà Mỹ phải chi cho hai cuộc chiến này sẽ lên tới từ 1.300 đến 1.700 tỷ USD.

Một trong những yếu tố làm cho nền kinh tế Mỹ suy sụp hiện nay là sự sa lầy của hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan. Năm 2008, ngân sách quốc phòng Mỹ đã lên đến 620 tỷ USD. Do đó, muốn giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế, Tổng Thống Obama phải tìm giải pháp cho hai cuộc chiến này. Hiện nay Mỹ đang có kế hoạch Iraq hoá (Iraqization) cuộc chiến, tức giao cuộc chiến Iraq lại cho người Iraq, như đã Việt Nam hoá cuộc trước đây. Còn số phận của Afghanistan sẽ như thế nào?

Nhìn qua diễn biến của tình hình, chúng ta sẽ thấy lịch sử cũng đang tái diễn ở Afghanistan.

NHÌN LẠI LỊCH SỬ

Afghanistan có diện tích 647.500 cây số vuông, tức chỉ bằng tiểu bang Texas của Hoa Kỳ, nhưng rừng núi chiếm đa số. Dân số hiện nay khoảng 27.800.000 người, hầu hết theo Hồi Giáo: 84% theo giáo phái Sunni, 15% theo giáo phái Shiite, và 1% các tôn giáo khác. Chỉ có 29% dân số biết chữ, nhưng đến 88% chưa hề được đi học. Có đến 80% dân chúng làm nghề nông, nhưng đất đai khai thác chỉ mới 13%. Tỷ lệ lạm phát 240%. Trong tiến trình lịch sử, đất nước Afghanistan đã chịu nhiều biến động đau thương và nhiều đoàn quân ngoại quốc đã bị chôn vùi tại đó.

Vua Darius I và Alexander Đại Đế của Nga là người đầu tiên khai phá Afghanistan làm con đường đi qua Ấn Độ. Hồi Giáo được truyền vào Afghanistan vào thế kỷ thứ 7. Afghanistan bị Thành Cát Tư Hản và Mông Cổ chiếm vào thế kỷ 13. Đến thế kỷ 19, Afghanistan trở thành trận địa chiến giữa Anh và Nga Hoàng Czar để giành quyền kiểm soát Trung Á. Dân Afghanistan đã mở các cuộc chiến giàng độc lập từ 1838 đến 1842 và từ 1878 đến 1881 dưới sự lãnh đạo của Dost Mohammed và con của ông, nhưng đều bị thất bại. Hiệp ước Anh - Nga 1907 dành cho Afghanistan quyền tự trị và đến năm 1919, sau Đại Chiến thứ I, Anh và Nga trao trả độc lập cho Emir Amanulla. Chế độc quân chủ được thiết lập tại đây từ 1926. Năm 1978 Noor Taraki làm đảo chánh, lật đổ chế độ quân chủ và thành lập một chế độ thân Cộng Sản. Babrak Karmal kế vị Taraki ký hiệp ước liên minh phòng thủ với Liên Sô. Các tổ chức Hồi Giáo nổi lên chống lại. Các tổ chức này được Hoa Kỳ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo khác ủng hộ.

TRAO CUỘC CHIẾN VN CHO LIÊN SÔ!

Quân đoàn 40 Liên Sô bắt đầu triển khai tại Afghanistan ngày 25.12.1979, để bảo vệ chế độ Karmal.
Quân đoàn 40, dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Sergei Leonidovich Sokolov, gồm 3 sư đoàn pháo cơ giới, 1 sư đoàn không quân, 1 lữ đoàn tấn công, 2 lữ đoàn pháo độc lập và 5 trung đoàn pháo cơ giới riêng biệt. Tổng cộng, lực lượng Liên Sô gồm khoảng 1.800 chiếc xe tăng T-62, 2.000 thiết giáp chiến đấu (AFV) và 80.000 quân.
Ngày 27.12.1979, 700 lính Liên Sô trong trang phục lính Afghanistan, gồm cả các lực lượng đặc biệt OSNAZ của KGB và GRU SPETSNAZ từ Alpha Group và Zenit Group, đã chiếm các cơ sở chính phủ, quân đội và thông tin trọng yếu tại Kabul, kể cả dinh Tổng thống Tajbeg. Nhiệm vụ đầu tiên của quân đội Liên Sô là bảo vệ các thành phố và các cơ sở chiến lược, được mở rộng sang cả chiến đấu với các lực lượng Mujahideen. Tuy nhiên, quân đội Liên Sô không thể thành lập chính quyền bên ngoài Kabul. Tới 80% vùng nông thôn vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.
Zbigniew Brzezinski, Cố vấn của Tổng thống Hoa Kỳ Carter đã viết: "Theo lịch sử chính thức, CIA đã bắt đầu giúp Mujahadeen từ năm 1980, có nghĩa sau khi quân đội Liên Sô tiến vào Afghanistan ngày 24.12.1979.. . Hiện chúng ta đã có cơ hội để trao cho Liên Sô cuộc Chiến tranh Việt Nam của họ."

Tới giữa thập niên 1980, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Quốc, Saudi Arabia, Pakistan và nhiều nước khác, du kích quân Afghanistan được huấn luyện chủ yếu do Hoa Kỳ và Pakistan đã nổi lên khắp nơi khiến Liên Sô phải chịu nhiều tổn thất về quân sự cũng như bị đặt vào tình trạng căng thẳng trong quan hệ quốc tế.

Năm 1982, Osama bin Laden đã vào sâu trong lãnh thổ Afghanistan để thăm dò tình hình và có khi đã tham gia vào các trận đánh. Năm 1984, Osama bin Laden thành lập một trạm giao liên tại Peshawar để dưỡng quân. Thấy Bin Laden là người có khả năng và có quyết tâm, cơ quan CIA đã huấn luyện Bin Laden thành một người biết tổ chức tình báo và chiến đấu có kỷ thuật cao để chống lại Liên Sô. Năm 1986, với sự giúp đỡ của CIA, Bin Laden thành lập những trại huấn luyện riêng của mình và trong 2 năm đã xây dựng được 6 trại. Hoa Kỳ đã viện trợ vũ khí và phương tiện cho Bin Laden, nhờ vậy ông đã trực tiếp điều khiển các binh sĩ mở 5 trận đánh lớn với quân Liên Sô và hàng trăm trận giao tranh lẻ tẻ, làm quân Liên Sô điêu đứng.

Các lãnh đạo Mujahideen rất chú trọng tới các chiến dịch phá hoại. Hành động thường thấy nhất là tấn công các đường dẫn năng lượng, ống dẫn dầu, các đài phát thanh, các trụ sở cơ quan chính phủ, sân bay, khách sạn, rạp chiếu bóng, v.v. Từ năm 1985 tới năm 1987, hơn 1.800 hành động khủng bố đã được ghi nhận. Tại vùng biên giới với Pakistan, quân Mujahideen thường phóng 800 quả rocket mỗi ngày. Giữa tháng 4 năm 1985 và tháng 1 năm 1987, họ đã tiến hành hơn 23.500 lần bắn pháo vào các mục tiêu của chính phủ.

Những cuộc đàm phán không chính thức về việc rút quân đội Liên Sô ra khỏi Afghanistan đã được tiến hành từ năm 1982. Tháng 4 năm 1988, Liên Sô đã phải ký Hiệp định Genève với chính phủ Pakistan, Afghanistan và Hoa Kỳ, thoả thuận về các vấn đề chủ chốt, chấm dứt chiến tranh và quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Liên Hiệp Quốc thành lập một phái đoàn đặc biệt để giám sát quá trình rút quân của Liên Sô.
Tổng cộng số thiệt hại nhân mạng của các lực lượng vũ trang Liên Sô, quân biên phòng và các lực lượng bộ nội vụ là 14.453 người. Các đơn vị thuộc tổng hành dinh mất 13.833 người, Có 469.685 người bị thương và đau ốm, trong số đó có 53.753 người (11,44%) bị thương tật hay chấn động tâm lý và 415.932 người (88,56%) bị đau ốm.

NỒI DA XÁO THỊT

Sau khi Liên Sô rút khỏi Afghanistan, năm 1992 lực lượng kháng chiến đã kiểm soát gần hết toàn lãnh thổ Afghanistan. Các thành phần kháng chiến cố gắng lôi kéo các phe phái vào một chính phủ đoàn kết, nhưng vì có sự can thiệp của Pakistan và Iran nên không thành: Pakistan muốn Taliban nắm chủ quyền, nên các phe vũ trang lại bắn giết lẫn nhau. Thủ lãnh những lực lượng mạnh nhất chia nhau chiếm đóng các vùng trong nước. Tình trạng vô chính phủ và sứ quân lại tiếp diễn ở Afghanistan.

Tháng 4/1994 Tổng Thống cộng sản Najibullah bị lật đổ, phe kháng chiến Afghanistan vào thủ đô Kabul và tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Hồi Giáo. Rabbabi trở thành Tổng Thống. Nhưng liền sau đó cuộc nội chiến bắt đầu. Có khoảng 3 triệu người phải chạy qua Pakistan lánh nạn.

Năm 1995 phe Hồi Giáo Taliban chiếm được hầu hết lãnh thổ Afghanistan. Ngày 27.9.1996 Tổng Thống Rabbabi chạy về phí Bắc cùng với các binh sĩ của ông tiếp tục chiến đấu. Phe Taliban vào trụ sở quốc tế ở Kabul bắt anh em cựu Tổng Thống Najibullah đem treo cổ giữa chợ.

Đến năm 1998, phe Taliban dưới sự lãnh đạo của Giáo chủ Mullah Mohammad Omar, thường được gọi là Emir al-Momineen, đã kiểm soát được phần lớn lãnh thổ, cho áp dụng luật lệ Hồi Giáo một cách khắt khe, bao gồm các quy định giới hạn quyền lợi và sinh hoạt của phụ nữ trong xã hội.
Vì Hoa Kỳ chỉ giúp kháng chiến quân Afghanistan đánh Liên Sô, nhưng không giúp họ xây dựng lại đất nước, nên hậu quả rất nghiêm trọng.

HOA KỲ TRỞ THÀNH KẺ THÙ

Khi Liên Sô rút chạy khỏi Afghanistan vào năm 1989, Bin Laden trở về Saudi Arabia. Ngày 2.8.1990 Saddam Hussein đã đem quân xâm lược Kuwait. Bin Laden hô hào khối A-rập giúp Kuwait đẩy lui sự xâm lược của Iraq. Ông đề nghị đưa 4.000 quân Mujahedin của ông từ Afghanistan về bảo vệ Saudi Arabia, nhưng bị bác bỏ.

Chỉ vài tuần sau, Hoa Kỳ tiến vào Saudi Arabia để giải phóng Kuwait khiến Bin Laden bất mãn vô cùng. Ông cho rằng vấn đề của người A-rập phải để người A-rập giải quyết với nhau, Hoa Kỳ không được can thiệp vào. Từ đó, Bin Laden bắt đầu chống Mỹ. Ông xúi giục các giáo sĩ Hồi Giáo chống Mỹ và chính quyền Saudi Arabia. Ông thành lập trại huấn luyện để huấn luyện kháng chiến quân. Cảnh sát Saudi Arabia khám phá ra trại này và bắt ông phá hủy. Ông tức giận, đem khoảng 4000 người ông chiêu một được chạy qua Afghanistan vào tháng 4 năm 1991. Do sự thúc đẩy của Mỹ, tình báo Saudi Arabia và Pakistan đã nhiều lần tổ chức bắt cóc hay giết Bin Laden, nhưng không thành công.

Tháng 5 năm 1998 Bin Laden thành lập tổ chức “International Islamic Front for Jihad against America and Israel” (Mặt Trận Hồi Giáo Quốc Tế ủng hộ Jihad chống Mỹ và Israel) và hô hào chống người Mỹ bất cứ nơi đâu. Ông còn lập một tổ chức khác lấy tên là Al-Qaida có nhiệm vụ thực hiện các vụ khủng bố quốc tế.

TRẢ CUỘC CHIẾN VN LẠI CHO MỸ!
Khi quân khủng bố tấn công Trung Tâm Thương Mại Thế Giới tại New York ngày 11.9.2001, Bin Laden được coi như là nghi can đầu tiên trong biến cố này.
Ngày 7.10.2001, sau khi Taliban nhiều lần từ chối giao nộp Bin Laden cho Hoa Kỳ và lên tiếng thách thức, Hoa Kỳ và các đồng minh bắt đầu oanh kích các cơ sở quân sự và các doanh trại huấn luyện của quân Afghanistan, sau đó đổ quân vào.

Vì thiếu kinh nghiệm, thay vì lợi dụng những đồi núi và hang động hiểm trở của Afghanistan để dùng du kích chiến chống lại liên quân, Taliban và Al-Qaida lại thiết lập các căn cứ quân sự để chống đỡ. Chỉ 5 tuần sau, với sự yểm trợ của không quân Mỹ, liên quân đã chiếm thành phố nòng cốt Mazar-i-Sharif và thủ đô Kabul. Ngày 7.12.2001, chế độ Taliban sụp đổ hoàn toàn khi quân sĩ bỏ trốn khỏi pháo lũy phòng thủ cuối cùng.

Tháng 12/2001, Hamid Karzai, một người Pastun thuộc nhóm sắc tộc chiếm đa số ở Afghanistan, đã từng du học ở Mỹ, được Mỹ đưa ra lãnh đạo chính quyền lâm thời của Afghanistan. Sau một cuộc bầu cử, tháng 12/2002 ông chính thức trở thành Tổng thống Afghanistan.
Tháng 8/2003, theo nghị quyết của Hội Dồng Bảo An LHQ, khối NATO thành lập Lực Lượng Yểm Trợ An Ninh Quốc Tế (International Security Assistance Force - ISAF) để bảo vệ an ninh ở Afghanistan dưới sự ủy nhiệm của Liên Hiệp Quốc. Nhiệm vụ của ISAF lúc đầu là bảo vệ an ninh cho Kabul và vùng phụ cận.

Nhưng mọi sự đã không êm xuôi như vậy. Osama Bin Laden và lãnh tụ Taliban Mullah Muhammad Omar vẫn chưa bị bắt. Các thành viên Al-Qaida và Mujahideen từ các bộ phận khác nhau của thế giới Hồi Giáo, từng chiến đấu trong hàng ngũ Taliban còn sống sót, đã chỉnh đốn lại hàng ngũ và phản công bằng chiến thuật du kích chiến. Tháng 5/2005, kháng chiến quân bắt đầu mở những cuộc tấn công liên tục vào liên quân. Năm 2006 là năm cuộc chiến trở nên dữ dội nhất. Quận đội Hoa Kỳ từ 10.000 phải tăng lên 18.000. Kháng chiến quân đã xâm nhập vào Nam Afghanistan, khủng bố dân làng địa phương và tấn công cả quân Afghanistan lẫn Hoa Kỳ.
Tháng 8/2006, quân NATO phải tổ chức nhiều cuộc hành quân ở Nam Afghanistan với liên minh do Hoa Kỳ cầm đầu. Đây là những cuộc hành quân rất căm go, được coi là những cuộc hành quân nguy hiểm nhất mà NATO đã đảm nhận trong lịch sử 57 năm của tổ chức này.

Để đối phó với tình hình, Quân Đội Afghanistan (Afghan National Army - ANA) được thành lập. NATO hy vọng sẽ huấn luyện và trang bị cho khoảng 120.000 quân Afghanistan trong 5 năm với chi phí khoảng 17 tỷ USD để họ tự bảo vệ lấy xứ sở của họ. Một nguồn tin cho biết Mỹ và NATO đã huấn luyện được khoảng 80.000 quân Afghanistan. Nhưng khả năng và kinh nghiệm chiến đấu của quân đội Afghanistan hiện nay chỉ ngang với địa phương quân và nhân dân tự vệ của VNCH mà thôi.

NATO và liên quân đã cố gắng kết hợp giữa các chiến dịch quân sự và sự phát triển dân sự với hy vọng rằng trong một thời gia, chính phủ Afghanistan sẽ đủ mạnh để "tự lực cánh sinh". Nhưng thực tế lại không đúng như điều NATO mong muốn: Tình hình an ninh ở Afghanistan đang ngày càng xấu đi.

Hiện nay tại Pakistan có khoảng 7 triệu người thuộc sắc tộc Taliban, cộng thêm khoảng 3 triệu người Taliban tỵ nạn ở biên giới Pakistan và Afghanistan. Do đó, Taliban và Al-Qaida đã biến vùng biên giới đầy núi non hiểm trở này thành hậu cứ và khu an toàn của kháng chiến quân. Hoa Kỳ đã yiểm trợ Tướng Pervez Musharrat lên làm Tổng Thống Pakistan với hy vọng ông sẽ hợp tác với liên quân trong việc tảo thanh kháng chiến quân, nhưng Tướng Musharrat đã không thể thực hiện được điều Hoa Kỳ mong muốn vì ba lý do chính sau đây: (1) Các nhóm Hồi Giáo ủng hộ kháng chiến quân cương quyến phản đối sự xâm nhập của liên quân vào Pakistan. (2) Taliban và Al-Qaida dọa nếu chính quyền Pakistan để cho liên quân xâm nhập vào biên giới Pakistan, họ sẽ biến Pakistan thành biển máu như ở Iraq. (3) Pakistan không bao giờ muốn diệt Taliban vì Taliban vốn là cánh tay mặt của Pakistan. Nếu liên quân thất bại, Pakistan sẽ lại yểm trợ Taliban lãnh đạo đất nước Afghanistan.

Liên quân còn gặp một khó khăn khác là sự yểm trợ của Iran cho kháng chiến quân cả về vũ khí lẫn tiếp liệu. Tài liệu của Tây phương cho biết trong năm 2007, Iran đã gởi nhiều võ khí cho Taliban. Đại Tá Rahmatullah Safi, chỉ huy cảnh sát Afghanistan, cho biết đã bắt được nhiều võ khí từ Iran sang gồm có chất nổ C-4. mìn chống tăng, súng cối 107 ly, AK47, v.v.

Tại sao Taliban có thể phục hồi một cách nhanh chóng như vậy? Ông Christophe Jaffrelot, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quan Hệ Quốc Tế Pháp CERI đã đưa ra một số lý do như sau:
Trước tiên, không thể phủ nhận tài năng tổ chức của hai nhân vật lãnh đạo kháng chiến quân. Giáo sĩ Omar, thủ lãnh Taliban, và trùm khủng bố Ben Laden, thủ lãnh Al Qaida, có lẽ đang ẩn náu ở vùng biên giới Pakistan-Afghanista n và lãnh đạo cuộc kháng chiến. Omar thiết lập một mạng lưới cơ sở và thận trọng không để một cán bộ chỉ huy nào trụ lâu ở một chỗ để tạo uy tín cá nhân.

Về phần Ben Laden, một trong những cái hay của ông là trao bớt quyền cho những thuộc hạ có khả năng thích nghi với tình hình và điều kiện hoạt động tại địa phương. Điển hình là có khá nhiều người được gọi là “thủ lãnh số ba” bị bắt tại Pakistan.
Thứ hai là các cán bộ của kháng chiến quân được lệnh phải hết sức giúp đỡ dân chúng để được dân che chở. Hiện nay, chiến dịch trồng thuốc phiện đang giúp dân có cuộc sống khá hơn (sẽ nói sau)
Thứ ba, không phải tất cả các đồng minh trong NATO đều hào hứng chiến đấu. Các nhà lập kế hoạch của NATO giờ đây phải chấp nhận một thực tế là người Hà Lan và người Canada sẽ rút khỏi các hoạt động chiến đấu ở Afghanistan vào tháng 11/2010 và chỉ tập trung vào công tác đào tạo, huấn luyện quân đội nước chủ nhà. Điều này sẽ đẩy áp lực về phía Anh, buộc nước này phải xem xét lại mức độ tận tuỵ của mình.
Thứ tư, Giáo sĩ Omar đã khôn lanh từ bỏ chủ trương chống trồng cây á phiện do ônh đưa ra lúc còn nắm quyền.

Trong phúc trình hằng năm đưa ra ngày 5.3.2008, Ủy Ban Kiểm Soát Ma Túy của Liên Hiệp Quốc nói rằng trong năm 2007, việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan đã lên tới cao nhất từ trước tới nay mặc dầu có những nỗ lực của quốc tế để giúp dẹp bỏ tình trạng này.

Ủy Ban cho biết việc trồng cây thuốc phiện đã gia tăng 17% so với năm trước và việc sản xuất thuốc phiện đã đạt tới 8.200 tấn vào năm 2007. Afghanistan đã chiếm khoảng 93% số thuốc phiện trên thị trường thế giới. Trung tâm buôn bán thuốc phiện nhiều nhất là tỉnh Helmand ở miền Nam Afghanistan và việc buôn bán ma túy đã trở nên tinh vi hơn.
Việc trồng cây thuốc phiện dưới sự bảo trợ của kháng chiến quân có thể bảo đảm cuộc sống của người dân nên đã thu hút một số lớn dân chúng đi theo Taliban để có cuộc sống khá hơn. Buôn bán ma túy bất hợp pháp đã trở thành nguồn lợi chính của Taleban.

Ông Antonio Maria Costa, Giám đốc Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của LHQ, cho biết hiện nay các viên chức chính phủ Afghanistan, từ nghị sĩ cho đến cảnh sát, đều có liên quan đến hoạt động buôn bán ma túy.
Theo tướng David Richards, chỉ huy lực lượng NATO tại Afghanistan, cho rằng nước này hiện đang ở ngã rẽ quan trọng: phần lớn dân chúng tại Afghanistan sẽ ngả về phe Taliban nếu họ không thấy cải thiện về mức sống trong vòng 6 tháng tới.
Một nhà báo bị Taliban bắt giữ gần đây cho biết một thủ lĩnh cấp cao của phong trào này đã xác định rõ họ cần 20 năm để đánh đuổi binh sĩ ngoại quốc ra khỏi đất nước chứ không đơn giản chỉ trong vài tháng hay vài năm.

Bây giờ các phe đối ngịch của Hoa Kỳ có thể nói: “Trao lại cho Hoa Kỳ cuộc Chiến tranh Việt Nam của họ."

DECENT INTERVAL?

Nói chuyện với đài BBC, ông Jaap de Hoop Scheffer, Tổng Thư Ký NATO, nói Afghanistan là mặt trận hàng đầu trong cuộc chiến chống khủng bố, và nếu người ta không giải quyết khủng bố tại Afghanistan thì hậu quả sẽ lan tới các nước phương Tây, “tới London, Brussels, Amsterdam”. Ông xác định rằng sứ mạng của liên quân tại Afghanistan không hề thất bại, mặc dù còn nhiều thách thức lớn đặt ra, trong đó có vấn đề huấn luyện và cấp trang thiết bị cho quân đội quốc gia Afghanistan. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng sứ mạng của NATO tại Afghanistan là vấn đề cần thiết chứ không phải một sự lựa chọn.

Nhưng đó không phải là quan điểm của Chuẩn tướng Mark Carleton-Smith, người lãnh đạo Lữ đoàn không kích 16 của quân Anh ở Helmand. Tướng Carleton-Smith nói với tờ Sunday Times rằng không thể mong đợi "chiến thắng quân sự mang tính quyết định" ở Afghanistan. Mục tiêu của các chiến dịch chỉ nhằm bảo đảm quân đội Afghanistan có thể tự kiểm soát tình hình. Ông nói sẽ không thực tế khi mong đợi lực lượng đa quốc gia quét sạch tất cả các nhóm nổi dậy có vũ trang ra khỏi nước này. Theo ông, "Chúng ta sẽ không thắng cuộc chiến này".

Tướng Carleton-Smith nói tiếp: "Nếu Taleban sẵn sàng ngồi phía bên kia của bàn đàm phán và nói chuyện về việc ổn định chính trị, thì đó chính là cái tiến bộ sau những đợt càn quét như thế này.”
Phóng viên Martin Patience của BBC ở Kabul nói bình luận của tướng Carleton-Smith mang âm hưởng của những ý kiến thường gặp ở đây, dù hiếm khi lên báo, trong giới ngoại giao và quân sự Anh ở Afghanistan.
Năm 2006, NATO có 33.000 quân ở Afghanistan, trong đó có 13.250 quân Hoa Kỳ. Năm 2008, NATO có đến 42.000 quân, trong đó có 15.000 quân Hoa Kỳ và 7.800 quân Anh. Tính đến ngày 25.1.2009, cuộc chiến đã gây ra cho 19.529 người bị chết và 51.924 bị thương.

Tổng Thống Obama đã ra lệnh xem xét lại chiến lược của Mỹ ở Afghanistan. Ông muốn tăng quân số Mỹ ở Afghanistan lên khoảng 30.000 quân. Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates nói rằng kế hoạch chiến tranh mới sẽ tập trung vào "những việc rất cụ thể", chẳng hạn như thiết lập quyền kiểm soát tại nhiều vùng ở Afghanistan, truy quét al-Qaeda và cung cấp các dịch vụ, an ninh cho người dân Afghanistan.
Hôm 3.11.2007, Tổng Thống Karzai đã kêu gọi cộng đồng quốc tế Afghan hoá (Afghanization) cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng không ai tin rằng sau khi Quân Đội Quốc Gia Afghanistan được huấn luyện và cấp trang thiết bị, quân đội này có thể giữ được Afghanistan. Trên 50.000 quân NATO (và sắp tăng cao hơn) với võ khí tối tân nhất mà không bình định được, làm sao đoàn quân thô sơ này có thể bảo vệ được Afghanistan?

Tổng thống Karzai tỏ ý muốn thương thuyết với Taliban-Afghanistan và loại trừ các thành phần Ả rập và Pakistan. Nhưng đây không phải là chuyện dễ dàng, vì không ai biết được cơ cấu tổ chức của Taliban thực sự như thế nào và không chắc gì các thành phần Ả rập và Pakistan chịu đứng bên ngoài.
Qua kinh nghiệm “Đồng Minh tháo chạy” ở Nam Việt Nam, với các kế hoạch mà Tổng Thống Obama và Bộ Quốc Phòng Mỹ đưa ra, chúng ta thấy lịch sử đang tái diễn tại Afghanistan: Trước khi trao quyền lại cho chính quyền Afghanistan và bỏ chạy, Hoa Kỳ đã tăng thêm quân để gây thiệt hại nặng cho phe kháng chiến và đẩy phe này ra xa thủ đô Kabul, đồng thời cũng cố cho chế độ ở Kabul vững mạng hơn lên, để tạo ra một gian đoạn mà Kissinger gọi là “decent interval”, tức một “khoảng cách vừa phải”. Đây là khoảng cách được ước tính từ một đến hai năm, một khoảng cách mà phiếm quân có thể kiện toàn lại lực lượng và tiến chiếm Kabul. Lúc đó, Mỹ và liên quân đã bay xa rồi!

Lữ Giang
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests