Page 22 of 39

Posted: Thu May 09, 2013 3:24 am
by khieulong
Image

Hai "cô hàng" đầu tiên của làng Tân nhạc Việt Nam
Dưới ảnh hưởng của cơn bão “mưa Âu gió Á”, bên cạnh sự tồn tại ngàn năm rủ bóng của giá trị cũ thì đầu thế kỷ 20, “những cái Tôi” bắt đầu chộn rộn, đảo lộn. Các giai tầng mới ra đời, những hệ lụy văn hóa trộn lẫn. Khi Nguyễn Bính viết “Chân quê” thì cô gái mặc yếm lụa sồi, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ngày xa xưa ấy đã ít nhiều phấn hương thị thành, trở về soi bóng và khuấy động vẻ tĩnh lặng của giếng làng Khổng giáo. Và trong cuộc chuyển giao lịch sử ấy, tôi muốn kể lại chân dung hai "cô hàng" đầu tiên của làng Tân nhạc Việt Nam, một quen thuộc, một lạ lẫm của cái buổi ban đầu lưu luyến ấy, đó là “Cô hàng nước” của nhạc sĩ Vũ Huyến và “Cô hàng cà phê” của nhạc sĩ Canh Thân.

Vũ Huyến là con trai của Vũ Huân, hai cha con đều là những kịch sĩ có tiếng của đất Bắc thời đó. Theo nhiều người kể lại, Vũ Huyến rất sáng sân khấu, da trắng, mặt mũi thanh tú, dấp dáng thư sinh và đóng kịch rất có duyên..

Ngoài kịch sĩ, ông được biết đến với vai trò là một nhạc sỹ với khá nhiều ca khúc như “Lời cầu nguyện”, “Mây vẫn còn bay”, “Một mai ly biệt”, “Vào mộng”, “Trao nhau lời cuối”… nhưng nổi tiếng nhất là “Cô hàng nước” (1952), với bút hiệu là Vũ Minh. Đây là tên ghép của ông với người vợ đầu tiên tên Minh Hoan. Sau này, ông tái hôn với nghệ sỹ Linh Sơn nhưng cuộc hôn nhân không bền . Vũ Huyến mất năm 1995.
Image
Nhạc sĩ Vũ Huyến.
Khi nhắc “Cô hàng nước”, nhiều người thường nhớ tới Sỹ Phú bởi tông giọng nhẹ, nhung mềm, gần như thủ thỉ mà cũng hết sức hào hoa, lôi cuốn nhưng tôi vẫn thích chính Vũ Huyến thể hiện ca khúc này hơn. Lần đầu tiên nghe, có cảm giác như ông đang khề khà kể chuyện tình bằng hơi men, cứ gà gật, lắc lư theo dòng hoài niệm, mỗi câu phát ra tựa như động tác ngửa cổ dốc một ngụm rượu cay vào lòng; thậm chí, ngay cả đoạn “Tình tính tang, tang tính tình…” có vẻ rộn ràng, tươi vui thì vẫn là cái lắc lư của hơi men, của lòng người đang chao đảo nhung nhớ. Thỉnh thoảng, người hát ngồi đờ đẫn, ngây dại, vừa khít các đoạn lặng im lìm của ca khúc. Những lúc như thế, hơi phát ra từ giọng ông như đang bay theo hơi rượu phảng phất cay cay, nồng nồng như buồn buồn, nhớ nhớ.
Image
nhạc Vũ Huyến CD Cô Hàng Nước - Giáng Ngọc

Trên nền nhạc lắc lư đủ mọi cung bậc, chân dung cô hàng xuất hiện:

“Tôi kể rằng đầu làng Ngũ Xá có nàng
Một nàng bán nước chè xanh
Người đâu trông mà duyên dáng
Và cô em chừng đôi tám…

Miệng cô như là hoa
Đóa hoa thật tươi, trông càng say đắm.
Mắt cô đưa tình khiến bao chàng trai ngất ngây vì cô mỗi khi qua hàng...”.


"Cô hàng" đầu tiên của làng Tân nhạc làm nghề bán nước chè xanh ở đầu làng Ngũ Xá, tuổi chừng mười tám đôi mươi. Dưới đôi mắt của kẻ si tình, cô hàng nước vô danh bình dị hiện lên đầy duyên dáng, tình tứ, vốn là những nét đẹp đặc trưng của các cô gái Bắc xưa. Cô có đôi mắt nhung huyền, má lúm đồng tiền và “xinh quá xinh là xinh”. Cũng như bao chàng trai ghé qua hàng cô, chàng trai trong bài hát cũng đem lòng si mê. Nhưng chàng si mê trong nín thinh, si mê từ xa, lằng lặng mà ngắm nghía, nhớ nhung.

Bởi yêu đơn phương nên chàng cũng tưởng tượng ra viễn cảnh “khắp xóm làng cùng ra xem a, người ta cầu chúc chú rễ mới cùng cô dâu sống đến bạc đầu”. Ở đây, giọng điệu bài hát xôn xao lạ kỳ. Nhưng mà khi chàng về “thì em đã rời nơi ấy, để cho quán hàng lạnh lẽo”. Giọng chuyển sang màu buồn bã, nuối tiếc. Chàng trai chỉ còn ngậm ngùi lời tỏ tình muộn màng “Ơi hỡi nàng ơi, biết cho lòng anh, đã bao năm trước, anh đã yêu nàng”.

Chẳng biết cô hàng nước về nơi nào, trời có xanh trong mắt em cười? Cô có biết ở làng mình năm xưa, có anh chàng đã từng bộc bạch “Tôi còn có mỗi cây đàn, tôi đem bán nốt tôi theo cô hàng chè xanh” hay không. Chỉ biết người ở lại, nghiêng ngóng mãi một đời không thôi.

Như đã nói, cơn bão “mưa Âu gió Á” và văn hóa phương Tây dần dần xâm nhập vào Việt Nam bắt đầu lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghi theo văn minh Tây phương. Họ ở nhà lầu, dùng quạt điện, đi nghe hòa nhạc; chối bỏ áo dài khăn đóng, đi xe tay và uống trà mà thay vào đó là Âu phục, đi xe đạp và uống cà phê.

Nguyễn Trương Quý, tác giả của nhiều tập tản văn về Hà Nội, trong một bài viết của mình từng kể lại cà phê vốn là thức uống dễ thấy ở Sài Gòn, nhưng sự có mặt của nó trong đời sống Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung chỉ nổi lên khi đường sắt Đông Dương khánh thành năm 1936, đi mất 40 giờ, nhanh hơn so với đường tàu biển đi cả tháng trời; khi ấy cà phê mới có được giá rẻ hơn và bán rộng rãi hơn.

Cùng với sự tăng lên không ngừng của bộ phận công chức và trung lưu thành thị, không gian văn hóa cà phê dần trở thành một ý niệm quen thuộc; tuy nhiên nó vẫn còn mới mẻ, lạ lẫm với văn hóa làng xã tại các thôn quê. Từ cô hàng nước của Vũ Minh tới cô hàng cà phê của Canh Thân là cả một sự chuyển dịch văn hóa không ngừng mà ở đó mỗi đại diện được xem như một di chỉ văn hóa.

Cái tên Canh Thân cho ta thấy cách đặt tên rất Việt Nam, song buổi giao thời nhập nhằng đã làm nên một Canh Thân rất Tây. Ông là tác giả của các bản nhạc vui tươi, hài hước, nhộn nhịp như “Đi với tôi đến chốn trời xa”, “Túi đàn”, “Khúc ca mùa hè”…, “Cô hàng cà phê” là ca khúc nổi tiếng nhất của ông. Mặc dù sáng tác không nhiều nhưng cái tên Canh Thân vẫn được nhiều người yêu mến và nhớ đến. Ông là thành viên của nhóm Đồng Vọng cùng với Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Tô Vũ, Văn Cao (thành lập năm 1953), theo xu hướng nhạc hùng có nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng của dân tộc.
Image
Nhạc sĩ Canh Thân.
Theo nhiều người kể lại, "cô hàng" trong ca khúc là một người đẹp vừa qua một mối tình buồn, ngồi giữ két cho gia đình mở quán cà phê ở vùng chợ Đại (Cống Thần – Ninh Bình) thuộc vùng tản cư chiến khu III, khi cà phê đã trở thành một thứ đồ uống phổ biến giữa một không gian có phần tạm bợ của thời chiến. "Cô hàng" làm cho “lắm anh điên cuồng” ấy chính là nữ ca sỹ Thái Hằng (sau này là vợ của nhạc sỹ Phạm Duy).

“Ở chợ Dầu có hàng cà phê,
Có một cô nàng be bé xinh xinh.
Cô hay cười hồn xuân phơi phới,
Cứ xem dáng người mới chừng đôi mươi”


Cùng mô tuýp với “Cô hàng nước”, "cô hàng" thứ hai của làng Tân nhạc Việt Nam cũng là một "cô hàng" xinh xắn, trẻ trung, phơi phới. "Cô hàng" cà phê ngồi ở chợ Dầu (tên đã thay đổi so với thực tế) làm cho bao gã thiếu niên đa tình say mê, đến nỗi “đi đâu cũng ghé qua hàng, mong trông thấy bóng cô nàng, thì trong lòng chàng mới yên”. Và trong số các chàng nho nhỏ ấy, có anh chàng đã “rạt rào muốn xiêu”.

Không chỉ có thế, tác giả để cho một anh chàng nữa xuất hiện, cũng yêu quá hóa như điên rồ đến nỗi thất tình mắc phải căn bệnh tương tư “Chiếc thân bơ phờ dường như muốn chờ một kiếp ma”. Để rồi, khi "cô hàng" biết yêu thì anh chàng cũng sắp tới thiên đàng”. Chẳng biết sau đó cô hàng sống như thế nào nhưng riêng chút tình muộn kia cũng để lại bao nỗi xót xa cho lòng người.

Và anh chàng tự sự trong ca khúc vẫn mơ mãi "cô hàng" với bàn tay ngà năm xưa.

Với nhịp điệu khá lạ so với âm nhạc lúc đó, phảng phất chút dân ca, vừa ngẫu hứng, vừa duyên dáng, “Cô hàng cà phê” không chỉ được trình bày thường xuyên qua làn sóng điện thời bấy giờ mà còn là ca khúc yêu thích của nhiều thế hệ. Và nói đến ca khúc này, mặc dù có nhiều người thể hiện rất thành công như tài tử Ngọc Bảo, Vũ Khanh, Vũ Huyến… nhưng người ta vẫn nhắc nhiều tới Sỹ Phú và gần như đây là ca khúc ghi dấu ấn của nam ca sĩ này. Đây là ca khúc đáng kể nhất trong sự nghiệp của nhạc sĩ Canh Thân bởi sức nặng biểu tượng văn hóa mới mà nó mang lại– văn hóa đô thị, đi cùng đó là bao đổi thay như vũ bão về sau này.

Hai ca khúc ra đời vào những năm đầu tiên của nền Tân nhạc nước nhà , được viết theo dạng truyện ca và hai tác giả đều mượn lối kể tâm tình từ dân ca của nhân dân lao động để thể hiện tình cảm, cách tư duy trước cuộc đời. Nếu “Cô hàng nước” vay mượn điệu hò ơi để một mình tự sự, dàn trải, sâu lắng thì “Cô hàng cà phê” phảng phất, luyến láy chút ca dao và truyện Kiều. Hai ca khúc gắn liền với hai hình ảnh yêu kiều dù là cô hàng nước bình dị ta vẫn thấy đâu đó ở thôn quê hay cô hàng cà phê, sản phẩm của cuộc của cuộc khai thác thuộc địa từ văn minh phương Tây. Và từ cô hàng nước của Vũ Huyến tới cô hàng cà phê của Canh Thân, cả dân tộc đã đi một bước đi lớn về xã hội, văn hóa.

Hai ca khúc này cùng với “Cô lái đò” (Nhạc: Nguyễn Đình Phúc, Thơ: Nguyễn Bính) và “Cô láng giềng” (Hoàng Quý) đều “là những bài hát lãng mạn, những khúc tình ca mà hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam trong giai đoạn khai hoa nở nhụy đầu tiên của mình đều nói lên những cảm xúc nồng cháy, bộc lộ tâm tình sâu kín của mình đối với thiên nhiên, đối với quê hương, làng xóm, đối với những người thân yêu. Những nét nhạc, lời ca bật ra một lúc xuất thần nào đó đã để lại dấu ấn của tác giả và gieo vào lòng người nghe những ấn tượng khó phai mờ…”

(nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương).

Posted: Fri May 10, 2013 12:21 am
by khieulong

Image

Chè, thơ và nơi lưu giữ ký ức


Image
Linh hồn của thạch chè Hiển Khánh là nước đường cát có thả hoa lài
Có lẽ tên gọi "thạch chè Hiển Khánh" cũng thân thuộc với nhiều người như tên gọi của chợ Bàn Cờ vậy. Tiệm chè ra đời vào năm 1959 bởi hai đồng sở hữu là bà Trần Nghệ và ông Nguyễn Quý Quyền. Về sau, hai người giao tiệm lại cho chị Nguyễn Thị Nguyệt Minh (con ông Quyền) tiếp quản. Tên quán “Hiển Khánh” cũng là tên của một ngôi làng ở Hải Dương, quê của bà Trần Nghệ.

Ban đầu, tiệm chè Hiển Khánh mở ở Đa Kao, gần rạp Cầu Bông nhưng quá chật nên ông Quyền mở thêm một tiệm nữa ở đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) từ năm 1965 và duy trì đến bây giờ cho đến ngày nay. Tiệm Hiển Khánh ở Đa Kao thì không còn nữa.

“Tôi chứng kiến có những ông bố dẫn con mình đến ăn chè và nói với con ngày xưa ba má mới quen nhau thường ngồi ở đâu, rất thú vị. Tôi hiểu rằng, quán chè còn là nơi lưu giữ những kỷ niệm học sinh rất khó phai mờ, vì vậy, quán của tôi cố gắng giữ nguyên những hình ảnh câu thơ, nét chữ từ ngày xưa để có nơi đi về cho người ưa kỷ niệm”, chị Minh chia sẻ.

Chắc nhiều người rất tò mò, không biết quán chè Hiển Khánh có gì hay mà thu hút nhiều người đến như vậy. Thời của bà Nghệ những năm 70 thế kỷ trước, món thạch chè rất đơn giản và chỉ có đúng ba món: thạch trắng cắt sợi, chè đậu xanh và chè kho ướp lạnh. Hồi đó ở Sài Gòn, chỉ có một quán duy nhất là Hiển Khánh bán món chè này.
Image
Bánh lá gai

Image
Bánh phu thê


Linh hồn của món chè là nước đường cát có thả hoa lài, do vậy, khi ăn chè, hương hoa lài cứ phảng phất và có một mùi thơm rất khó quên. Chị Minh công nhận rằng, bây giờ hoa lài của quán không thơm bằng hoa lài trước đây, đó là do cách trồng hoa đã thay đổi, chị không có cách gì can thiệp được. Chứ ngày xưa, hương hoa lài thơm lắm, thơm đến nao lòng, chính mùi hương này đã để lại dấu ấn trong khách tới ăn chè.

Món thạch, chè đậu xanh từ lúc mới mở tới bây giờ vẫn y nguyên hương vị. Nếu muốn ăn kiểu xưa, khách đến quán có thể gọi thạch rưới nước đường ướp hoa lài, hoặc thạch cộng với đậu xanh cũng rưới nước đường ướp hoa lài. Sau khi Hiển Khánh xuất hiện khoảng 10 năm thì Sài Gòn mới có thêm những quán khác bán món thạch chè giống như vậy.

Những món bánh nhỏ xinh cũng lưu luyến thực khách qua bao năm nay. Là bánh lá gai, bánh phu thê, bánh đậu xanh… cùng những vần thơ không phai nhòa theo năm tháng được treo hai bên tường:

Bánh lá gai

Da đen có tấm lòng vàng
Dùng làm đám cưới biếu làng ngày xưa
Dù ai đi sớm về trưa
Ghé vào Hiển Khánh mà mua bánh này
Bánh này ý nghĩa hay hay
Trông thời đen mướt không thay lòng vàng

Bánh phu thê

Bánh ăn nên vợ nên chồng
Ăn vào con cháu Lạc Hồng mến nhau
Từ Nam Quan đến Cà Mau
Yêu nhau ta nhớ dặn nhau nên dùng
Tứ thân phụ mẫu kính chung
Mối tình khắn khít khắp vùng đều khen
Image
Nhãn nhục trong chè thạch nhãn là loại ngon nhất từ Hưng Yên
Thơ chè hoa quyện cùng nhau, chắc là chỉ có ở thạch chè Hiển Khánh. Có giai thoại kể lại rằng, khách của quán còn có thêm nhiều học sinh của trường Gia Long và Petrus Ký (trường Minh Khai và Lê Hồng Phong bây giờ) đến ăn chè, học sinh nào đối được câu đối chủ quán sáng tác treo trên tường thì được tặng bánh, tặng chè.

Chị Minh được má giao cửa hàng từ 20 năm nay, sau khi tiếp nhận quán, chị sáng tạo ra thêm nhiều món chè mới được khách rất ưa chuộng như thạch sen nhãn, sâm bổ lượng, thạch thốt nốt, tổng cộng khoảng 20 món chè…Điều tôi khâm phục nhất là quán vẫn giữ được phong cách dùng hoa lài tươi thả vào nước đường để tạo hương cho món chè chứ không dùng hương liệu. Chị Minh kể, mỗi tháng, chị mua khoảng 1 triệu tiền hoa lài. Khi cơn lốc trà trân châu, chè Thái Lan tràn về Sài Gòn, quán có vắng hơn, doanh thu có thấp đi nhưng nhìn chung, lượng khách quen tới quán vẫn ổn định vì họ ưa hương vị tự nhiên hơn là hương liệu, ưa vị đường không quá ngọt của chè ở đây.

Bí quyết những món chè ngon và quà vặt ngon ở quán còn nằm ở khâu chọn nguyên liệu. Nhãn nhục dùng nấu chè được chị Minh chọn loại ngon nhất từ Hưng Yên, đậu xanh chọn loại đắt tiền nhất, hạt sen và củ sen mua ở Đồng Tháp, hạt thốt nốt dùng loại của Thái Lan. Món bánh gai đặt người Bắc ở vùng Hố Nai Biên Hòa làm theo tiêu chuẩn chị Minh đặt ra, bánh xu xuê (phu thê), bánh đậu xanh nướng đặt người Huế làm.

Tôi kêu một ly chè thạch chan nước đường ướp hoa lài, như cách đây 54 năm. Thạch giòn giòn, nước đường nấu khéo thơm mát, thoảng mùi hoa lài. Lấy một bông hoa lài ngậm ở đầu môi, tôi thấy một mùi thơm thật quyến rũ, như đưa mình trở về những ngày xưa cũ... Cây hoa lài nằm đâu đó ở một góc vườn thơ, không phô trương mà lặng thầm tỏa hương thơm ngát cả đêm.

Giáng Hương

Posted: Sun May 12, 2013 5:56 am
by khieulong
Người con út của ‘gia đình Nguyễn Tường thế hệ Tự Lực Văn Ðoàn’ qua đời

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) - Cụ Nguyễn Tường Bách, người con út của gia đình Nguyễn Tường đầy tài năng về văn học
đã xuất bản hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay cùng thành lập Tự Lực Văn Ðoàn từ thập niên 1930 của thế kỷ trước,
vừa qua đời tại bệnh viện Fountain Valley, Nam California, vào lúc 2 giờ 15 phút chiều ngày 11 Tháng Năm, hưởng thọ 97 tuổi.
Tin từ gia đình cho hay cụ mất vì tuổi quá cao, thời gian gần đây ngày càng yếu dần, và đã thanh thản ra đi hôm nay.

Image
Cụ Nguyễn Tường Bách. (Hình: Gia đình cung cấp)


Cụ Nguyễn Tường Bách sinh năm 1916 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, từ một gia đình gốc làng Cẩm Phô, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam dời ra sinh sống tại miền Bắc từ hai đời trước. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy là công chức không dính líu đến văn nghệ và chính trị, các người em em còn lại: Nguyễn Tường Cẩm, Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly, Hoàng Ðạo - Nguyễn Tường Long, Nguyễn Thị Thế, Thạch Lam - Nguyễn Tường Lân, và người em út, Viễn Sơn - Nguyễn Tường Bách, đều là những người tham dự vào văn chương.

Từ thời trẻ, Nguyễn Tường Bách đã viết báo, làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay.
Từng theo học trường Bưởi, trường Albert Saurraut, đại học Y Khoa Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ năm 1944.

Năm 1939, cụ tham gia đảng Ðại Việt Dân Chính cùng Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Gia Trí, Khái Hưng, Nguyễn Tường Long, v.v... Năm 1942 Thạch Lam qua đời, Nguyễn Tường Bách phụ trách nhà xuất bản Ðời Nay.

Năm 1943 Ðại Việt Dân Chính hợp nhất với Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

Năm 1945 VNQDÐ kết hợp với Ðại Việt Quốc Dân Ðảng dưới danh nghĩa chung Quốc Dân Ðảng.

Tháng Ba năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, cụ làm giám đốc tờ Ngày Nay bộ mới với sự cộng tác của Khái Hưng, Hoàng Ðạo, hô hào độc lập, dân chủ.

Tháng Năm năm 1945 Việt Minh cướp chính quyền, cụ cùng với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Ðảng ra hoạt động công khai. Ông giữ chức ủy viên trung ương, phụ trách tờ Việt Nam chống đối chính sách của đảng Cộng Sản, rồi phụ trách công tác tuyên truyền, công tác tổ chức đảng.

Cụ sáng lập Quốc Gia Thanh Niên Ðoàn, giữ chức nhiệm đoàn trưởng.

Tháng Năm, 1946, tình thế cấp bách cụ lên Ðệ Tam Chiến Khu (gồm từ Vĩnh Yên tới Lao Kay), phụ trách chỉ huy bộ cùng với Vũ Hồng Khanh. Tháng Sáu, 1946, Việt Minh tăng cường vũ trang công kích, Tháng Bảy phải rút lên Yên Bái, Lao Kay. Tháng Tám, 1946 cụ sang Trung Quốc hoạt động ngoại viện và liên lạc với các tổ chức người Việt ở hải ngoại.
Cuối năm 1946 cụ lập gia đình với bà Hứa Bảo Liên tại Côn Minh.

Năm 1947, cụ từ Vân Nam sang Hồng Kông. Quốc Dân Ðảng không tán thành giải pháp Bảo Ðại với những điều kiện Pháp đưa ra và chủ trương tiếp tục hoạt động bí mật.

Tháng Tám, 1948, Hoàng Ðạo đột nhiên mất trên xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu.

Tình thế Trung Quốc biến chuyển. Một số anh em trở về quốc nội. Vì không muốn trở về khu Pháp, cụ cùng một số anh em ở lại Trung Quốc. Từ năm 1950 cụ hành nghề bác sĩ tại Phật Sơn, Quảng Ðông, cho tới khi về hưu.

Năm 1988 cụ di dân sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California.

Ở hải ngoại cụ tiếp tục hoạt động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, góp sức vào sự đoàn kết và tổ chức một số phong trào liên minh và mặt trận. Cụ là một trong những sáng lập viên, và sau giữ chức cố vấn của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam và là tác giả cuốn tiểu thuyết Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn và tập hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua phần I (1998) và phần II (2001). Cụ viết nhiều bài bình luận và bút ký cho một số báo hải ngoại, dưới bút hiệu Viễn Sơn.

Posted: Wed May 15, 2013 3:23 pm
by tiendung

Image

Bên đời hiu quạnh
Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ...ra ngoài.

Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.

Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.

Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ…. Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.

Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.

Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.

Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”…. Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.

Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.

10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Một Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.

Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.

Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.

Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.

Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ - ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.

Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở - có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.

Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.

Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.

Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay - giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.

Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.

Sau mùa Xuân năm 75, đồn rằng tất cả nhạc vàng đều bị thiêu huỷ, ai giữ trong nhà như giữ đồ quốc cấm. Sách, truyện cũng cùng chung số phận. Phim ảnh dù bị hủy hoại cũng còn những bản phụ ở nước ngoài. Mọi người bị lùa đi học tập cải tạo không hứa hẹn ngày trở về. Ca nhạc sĩ bắt buộc phải trình diện gọi là bồi dưỡng chính trị. Những tà áo xanh, đỏ rực rỡ bỗng nhiên biến mất, chỉ còn quần đen áo cánh trắng hoặc nâu cho đúng với tôn chỉ cách mạng. Bao nhiêu khuôn mặt xinh đẹp, nổi tiếng của Sài Gòn nay e dè nhìn nhau như thăm hỏi… Họ nói cái gì thế nhỉ… Người nói cứ nói, người ngồi nghe như vịt nghe sấm, lòng thì cứ như đi đẩu, đi đâu. Nghĩ đến bạn bè ai đi thoát, ai kẹt lại… cái gì đã xảy ra cho SàiGòn… cái người đang giảng giải cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội kia là ai, ở đâu ra thế… tất cả bàng hoàng hoặc lo âu. Lo cho mình thì ít, cho gia đình thì nhiều bởi đa số ca nhạc sĩ đều có con em cha chồng là quân nhân, là có… nợ máu với nhân dân. Đã gọi là nợ thì phải trả nhưng trả thế nào đây?

Thật ra thì các ca nhạc sĩ không bị đày ải quá lâu với những chương trình bồi dưỡng chính trị. Họ khổ vì bị cấm hát. Suốt mấy năm trời cả miền Nam đều phải nghe một loại nhạc, một kiểu hát cùng một giọng giống nhau.

Những bài hát của miền Bắc mà dân Sàigòn phải nghe đã được sáng tác lâu rồi, giờ mới có dịp tung ra. Chỉ một loạt bài đó thôi sau năm 75, hầu như nhạc sĩ miền Bắc không viết loại nhạc ấy nữa vì người Sàigòn không muốn nghe. Nghe không vô cũng như họ phải chịu đựng những bảng hiệu tên đường ngô nghê, buồn cười, chẳng ra làm sao…đường Nguyễn Văn Bánh, đường Võ Thị Sáu… những người là ai… Khai quốc công thần của nhà Nguyễn chăng… Những bài hát cứ ồm ồm tra tấn lỗ tai người Sàigòn. Những con đường cũ làm cho người ta… khi hẹn nhau, ta lạc lối tìm… chắc cũng họp hành dữ lắm. Nghị quyết này, nghị quyết kia… tôi thấy thế này, tôi thấy thế nọ vân vân. Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.

Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?

Sau khi đã giữ chân mấy trăm ngàn người trong trại cải tạo. Làm bà con ta điêu đứng sau mấy đợt đổi tiền. Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….

Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.

Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.

Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thầm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.

Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.

Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa... đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….
Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam - Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.

Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái <image0022.jpg>Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích.. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.

Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.

Các bạn của tôi giờ không ngại gì nữa. Nhạc Việt bây giờ là nhạc… lai căng (chính báo của Đảng CSVN đã than vãn việc này).

Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.

Khánh Ly

Posted: Mon May 20, 2013 4:18 pm
by thienthanh
Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười

Trong những ngày vô cùng khó khăn ở Sài Gòn cuối năm 1972, khi không còn nơi nào khác để trọ, tôi tìm đến một người bạn để nhờ cậu ấy giúp nghĩ ra một cách. Bạn tôi giới thiệu tôi dạy kèm ở nhà người bà cô của cậu. Người đàn bà có tâm hồn bao dung như dòng sông Hằng đó sau thời gian ngắn đã trở thành mẹ nuôi của tôi. Từ đó tôi không còn khó khăn về vật chất và cả tinh thần nữa. Mẹ người làng Kim Bồng, Quảng Nam nhưng trong các tác phẩm của mình tôi thường gọi mẹ là Mẹ Hòa Hưng để phân biệt với Mẹ Duy Xuyên đã qua đời khi tôi còn rất nhỏ.

Hơn mười năm sau khi rời Sài Gòn, tôi viết tặng mẹ bài thơ. Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại với mẹ. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình.

Bài thơ đơn giản và dể hiểu. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, hơn mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống hơn 8 năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
ÐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Trần Trung Ðạo

Image
(Hình: Mẹ Hòa Hưng, vài năm sau ngày tôi đi, cây đàn mẹ mua cho tôi vẫn còn treo trên vách)

Posted: Fri May 24, 2013 4:13 am
by khieulong
Ði thăm nhạc sĩ Lam Phương

Ðức Tuấn/Người Việt


FOUNTAIN VALLEY (NV) - “Chú bây giờ không biết ngày nào 'ra đi'” nhạc sĩ Lam Phương vừa nói vừa cười
với những người khách đến thăm ông buổi chiều Thứ Bảy vừa qua.

Nhìn bộ dáng ông gầy hơn trước rất nhiều, nước da trắng xanh, màu của sự ốm yếu mỏi mệt,
mái tóc đã ngả màu trắng bạch kim và cũng không còn nhiều tóc như lúc trước nữa...

Image
Nhạc sĩ Lam Phương. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)


Ngồi nói chuyện với ông chỉ gần nửa giờ đồng hồ thôi, mà thấy ông có vẻ khó nhọc, ông nói, “Mỗi lần giao tiếp với ai là phải ráng lắm mới có thể nói cho người ta hiểu mình.”

Ông kể về sự chán nản khi thấy sức khỏe mỗi lúc, mỗi suy giảm rõ rệt.

Anh Lâm, người em rể của ông cũng là người luôn kề cận với ông, chăm sóc cẩn thận để tránh quỵ ngã xảy ra lần nữa...

Anh kể về lần cuối cùng khi ông bị té nặng, phải vào bệnh viện nằm hết 10 ngày, “Sáng hôm đó tôi loay hoay ngoài vườn lo mấy cây ăn trái, trước khi bước ra ngoài đã có dặn anh kỹ lắm, là có gì thì gọi tôi hay muốn gì thì cho biết trước để tôi định liệu, vậy mà ngồi trong nhà một mình rồi ảnh đứng dậy, chống gậy đi lấy gì đó, và té ngã lăn ra đất, đầu đập vào cái bàn kiếng,” anh kể tiếp sau đó phải đưa ông vào ngay nhà thương Fountain Valley, bệnh viện giữ ông lại, nằm điều trị hết 10 ngày, anh Lâm nói năm rồi ông té 3 lần, vậy mà chỉ bị nhiều nhất là xương bả vai trục trặc, khó chịu thôi.

“Tưởng đâu là ‘đi’ rồi chứ!,” nhạc sĩ Lam Phương vẫn còn “tiếu lâm” với khách, khi nói về tai nạn xảy ra hồi Tháng Mười Một năm 2012.

Anh Lâm nói tiếp, “Trước khi bị tai nạn anh ấy vẫn còn đi đứng, chống gậy đi chậm chậm thôi...” Còn sau khi bị té, từ bệnh viện về nhà đến bây giờ nhạc sĩ Lam Phương không còn khả năng tự đứng dậy, mặc dù phải nhờ vào chiếc gậy, bởi thế ông chỉ có thể ngồi xe lăn. “Khó khăn lắm cháu ơi! Nhất là mỗi lần định đi ra ngoài là phiền phức vô cùng vì cần phải có người giúp thay quần áo,” nhạc sĩ Lam Phương tâm tình.

Vậy đó mà ông kể những chuyến đi show xa như thế nào? Như ông vừa đi diễn ở bên Pháp về, rồi lại bay đi Canada và thêm một số các tiểu bang xa đang được các ông bà bầu show mời ông sang dự những chương trình nhạc Lam Phương mà họ tổ chức.

Câu chuyện ông diễn ở sòng bài Pechanga, lúc ông tâm tình trên sân khấu mà phía dưới khán giả sụt sịt khóc vì cảm động...

Sau buổi diễn hôm đó có rất nhiều khách nán lại phía sau sân khấu để chờ vào gặp riêng nhạc sĩ Lam Phương và chụp hình với người nhạc sĩ mà họ yêu mến.

Còn anh Lâm thuật lại lần đi sang Úc diễn, buổi sáng ban tổ chức chở xe ra chợ chơi vòng vòng, “Có mấy bà tội lắm, trái cây mắc như vàng vậy mà khi thấy nhạc sĩ Lam Phương, họ bu quanh xin chụp hình, chữ ký và hỏi thăm đủ điều... Sau đó thì tất cả trái cây, đồ ăn, thức uống họ gom lại biếu nhạc sĩ Lam Phương, nhưng mà ảnh đâu có ăn được nhiều như vậy, mang về chia cho ca sĩ ăn uống với nhau, ca sĩ bữa đó thích lắm!”

Khi tôi nói với chú ý định cho “lên trang” bài viết về tin sức khỏe chú yếu nhiều... Chú nói, “Cháu nói sao cho khéo, chứ để người ta tưởng mình than vãn hay nhạc sĩ Lam Phương chắc sắp chết thì khổ đó nha!”

Bao nhiêu lần tôi đề nghị làm một chương trình nho nhỏ cho độc giả có cơ hội đến thăm hỏi ông tại tòa soạn nhật báo Người Việt, nhưng ông đều từ chối vì “Thôi chú nói không ra hơi, đi đứng khó khăn, mà ra ngoài cần phải thay quần áo nên phiền lắm!” bởi vậy ông từ chối lời đề nghị đó của tôi.

“Lúc này cực chẳng đã chú mới ra ngoài, chú chỉ muốn nằm nhà cho khỏe.”

Ông kể có cuốn DVD số tám mươi mấy hay bao nhiêu đó không nhớ rõ mà phần tâm tình của ông với MC Nguyễn Ngọc Ngạn, bị Trung Tâm Thúy Nga cắt hẳn “Chắc là tại mình nói chuyện không nghe rõ nên họ edit mất!”

Ông tâm tình vẫn còn ăn được nhưng ít thôi, cái chính là thiếu ngủ... “Có những đêm không ngủ được, chẳng hiểu tại sao, cứ trằn trọc thức cả đêm!”

Ông lại kể tiếp về những show mời ông từ đây đến cuối năm, ít nhất cũng phải thêm vài ba tiểu bang xa nữa phải đi, “Mà lúc đó dù mệt cũng phải ráng để khỏi phụ lòng khán giả, những người hâm mộ!”

Nhạc sĩ Lam Phương có khoảng 200 bài hát do ông sáng tác từ mấy chục năm nay, và trong đó có rất nhiều bài đã từng là “top hit” như Cho Em Quên Tuổi Ngọc, Một Mình, Tôi Ðã Lầm Ðưa Em Sang Ðây...

“Ai nói nhạc của Lam Phương là nhạc ‘sến’? cũng có nhạc sang đấy chứ!” tôi hỏi ông bài nào là nhạc sang? Ông nói, “Thì đó Một Mình, hay Cho Em Quên Tuổi Ngọc... Chẳng là nhạc sang chứ là nhạc gì?”

“Chú bây giờ không biết ngày nào ‘ra đi’!” Ông nói câu đó mà miệng vẫn còn cười, nụ cười không biết chua xót cho số phận hay phó mặc cho số Trời?

Posted: Wed Jun 05, 2013 6:03 am
by khieulong
Image

Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn hóa tiền phong

Hoàng Yên Lưu

Dân Bách Việt vốn có một nền văn hóa đặc biệt, từng rực sáng mỗi khi giành được độc lập nhưng trong mấy ngàn năm lệ thuộc phương Bắc, bản sắc phương Nam bị văn hóa nòi Hán tràn sang, xâm lăng, đẩy ra khỏi nơi cung đình và tâm trí giới quan liêu và Nho sĩ nên tản mác ở chốn dân gian và nhiều khi có nguy cơ bị tiêu diệt.

Sang thế kỷ XIX, cuộc tiếp xúc giữa Đông Tây trên bán đảo Đông Dương, nếu mang theo họa ngoại-xâm-mới thì nó cũng đưa lại cơ hội để dân tộc ta trở mình thoát dần khỏi ảnh hưởng Bắc đình.

Lịch sử còn ghi lại sau thỏa ước Fournier hay Thiên tân, ký kết giữa Lý Hồng Chương và Trung tá hải quân Pháp là Ernest Francois Fournier ngày 11-05-1884, thì Trung hoa trong lúc suy yếu đành nhìn nhận vĩnh viễn nhường quyền bảo hộ Việt Nam cho Pháp.

Ngày 6 tháng 6, 1884 triều đình Huế đã bị buộc đem ấn bạc của vua Thanh cấp cho Nam triều, một biểu tượng của sự lệ thuộc vào Bắc đình, đến sứ quán Pháp ở Huế để phá ra, đúc thành khối bạc trước mặt đại diện của Pháp. Biến cố này có thể làm cho đám Nho sĩ thủ cựu đau lòng thì lại dấy lên tinh thần độc lập và hy vọng của phần lớn quần chúng. Kể từ đó đất nước ta chấm dứt sự lệ thuộc vào Trung hoa về thể chế chính trị và văn hóa.

Thực ra, Thực dân Pháp không hề có hảo tâm “Pháp-Việt đề huề” mang văn minh Tây phương sang khai thông dân trí cho dân Việt mà chỉ muốn liên hệ giữa ta và Tàu chính thức chấm dứt để cột chặt ta về mọi mặt vào Pháp. Tuy nhiên, các nhà văn hóa tiến bộ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và Nguyễn Văn Vĩnh đã nhân cơ hội có văn tự mới, có nhà in, có tài trợ, có báo chí trong tay đã lèo lái ý đồ của thực dân sang mục tiêu cải cách văn hóa để xây dựng nền tảng cho một quốc gia độc lập. Muốn làm việc này, các kẻ sĩ ưu thời mẫn thế đương thời chỉ có thể âm thầm thực hiện từng bước.

Bước quan trọng nhất là xây dựng cho dân Việt một thứ văn tự độc lập với Tàu và với Tây. Đó chính là chữ Quốc ngữ từng được hình thành khi các giáo sĩ Thiên chúa giáo dùng nó để truyền đạo ở Việt Nam từ thế kỷ XVII. Nhờ đó, ta có phương tiện gây dựng tinh thần tự chủ, phục hồi được truyền thống dân tộc và đồng thời truyền bá được tư tưởng tiến bộ cần thiết cho một dân tộc trong nhiều nghìn năm bị giam hãm trong lạc hậu và hủ tục.

Có công đầu và mạnh dạn nhất trong việc xây dựng văn hóa mới hồi đầu thế kỷ XX phải kể Phan Chu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh. Phan Chu Trinh từng cổ súy phong trào Duy Tân, đã hô hào thay Khổng học bằng văn mình Tây phương: “Đem văn minh Tây phương về là đem Khổng học về”.

Còn Nguyễn Văn Vĩnh là lớp đàn em, nhưng cùng nuôi mộng cải cách văn hóa và có nhiều cơ hội để làm việc này hơn chí sĩ học Phan. Nhờ có báo chí trong tay và có kiến thức sâu rộng về cả hai nền văn minh Âu Á, đồng thời là nhà báo tài ba và nhiệt tâm nhất trong việc xây dựng tiền đồ văn hóa dân tộc, nên ông đã đóng góp được nhiều ý kiến quý báu, nhiều hoạt động thiết thực cho mục tiêu của mình.

Trên Đông Dương tạp chí trong 50 số đầu tiên, Nguyễn Văn Vĩnh đã kín đáo nêu lập trường cải cách của mình qua những bài đề cập tới chữ Quốc ngữ.

Trước hết, ông cho rằng chữ Nho chỉ nên giảng dạy ở bậc giáo dục cao chứ không nên buộc học sinh nhỏ tuổi, thuộc thành phần bình dân, phải dùi mài thứ văn tự khó học và vô ích với chúng. Ông cũng cho rằng đối với tiếng Pháp cũng thế, dù có một lớp người cần học để thích ứng với hoàn cảnh mới nhưng không cần thiết cho việc khai thông dân trí nói chung ở tầng lớp bình dân. Từ đó ông hô hào học chữ Quốc ngữ:

“Lối thứ hai là lối học riêng của dân An-nam đặt ra cho phần nhiều, cho trẻ con các nhà-quê, thực là một lối mới, xưa nay không có, vì lối học Nho ngày xưa, không phải là một lối học phổ-thông, thực là một lối học đi làm quan Tàu, với cũng như lối Pháp-Việt học bây giờ là lối học đi làm việc với nhà-nước Đại Pháp. Nhưng ai cũng muốn làm quan cả, cho nên ngày xưa đua nhau học Nho thế nào, từ nay giở đi đua nhau học vào lối Pháp-Việt cũng thế!

Còn lối học riêng mới, cũng đặt ra tiểu-học, trung-học, lấy quốc-ngữ làm gốc, mà học cách-trí, vệ-sinh, địa-dư, phong-tục, mỗi thứ một đôi chút, để gây cho lấy nhân-cách của phần nhiều người trong dân An-nam.

Tổng kết lại, thì chữ Nho chỉ còn nên giữ lại để mà dạy ở khoa trung-đẳng nam-học mà thôi, đợi mai sau khi nào có cả khoa cao-đẳng nam-học, hoặc khoa ngôn-ngữ văn-chương ở cao-đẳng, bấy giờ mới lại có nơi khác phải dùng đến chữ Nho.

Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ Nho nữa, mà các trường Pháp-Việt cũng xin bỏ lối dạy chữ Nho đi.”

Bỏ chữ Nho thì phải có phương tiện thay thế nên Nguyễn Văn Vĩnh lại viết một bài đề cao tiếng ta giàu và đẹp. Ông hô hào luyện văn Việt cho chính xác hơn và sáng tác bằng chữ Quốc ngữ:

“Thế mà tiếng nói nước ta, là một tiếng nói hay, đủ tiếng mà diễn ra được hết ý-tình, đủ dùng cho một dân có cương-thường đạo-lý, có cách đàm-luận, có cách lịch-sự, có cách giao-thiệp với nhau cũng tao nhã, chớ có phải là một thứ tiếng hèn mọn như tiếng nói của mấy giống dã man ở châu Phi đâu.

Cho nên người Âu-châu đến đây, cũng muốn học lấy tiếng nói ấy, để giao thiệp với ta, cho mỗi ngày thêm thân-ái, thêm biết ý tình nhau ra, tiện cách dạy bảo ta. Mà muốn học được tiếng nói một nước, cần nhất là có sách vở hay, làm bằng tiếng nói nước ấy, để làm điển cho chỗ xuất-xứ.

Thế mà sách ta không có, thành ra học tiếng chỉ có cách liệu người nghe ta nói truyện với nhau làm mực, lấy phương-ngôn, tục-ngữ làm điển. Mà cách nói chuyện, phương-ngôn, tục-ngữ của nước ta, chẳng qua cũng cứ truyền khẩu đi, không có gì làm bằng cứ, mỗi nơi nói một khác, đọc một khác; mỗi người nói một cách, đọc một cách. Thành ra tiếng An-nam ta, tuy là một tiếng rất hay, rất nhiều tiếng, mà văn-tự hóa ra chưa có, ngày nay mới bắt đầu làm ra cho thành văn-tự.

Việc làm văn-tự ấy chẳng những cần cho người ngoại-quốc học tiếng ta; lại cần cả cho ta học lấy mẹo-mực tiếng ta, để mai sau này có một tiếng nói nhất định rõ ràng mà nói với nhau, mà học-hành các thuật hay, các ý-tưởng mới, nhờ phong-trào mới mà sinh ra.

Nay muốn gây cho văn-tự nước Nam có kinh có điển, thì bao nhiêu những bậc tài-hoa, những người có học-thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn quốc-ngữ. Các bậc danh nho thì nên bỏ quách cái tài ngâm hộ cho người đi, chỉ học cho biết để mà nhân cái hay người làm lấy cái hay của mình mà thôi. Các bậc có Pháp học, thì tuy rằng cái ngoại tài ấy phải chuyên làm cách chen cạnh, làm mối kiếm ăn, nhưng hễ muốn nhân việc lập thân mà lại có ích cả cho đồng-bào mình, thì phàm luyện được một chút tài nào của người, cũng nên dùng quốc-văn mà phát-đạt nó ra cho cả người đồng bang được hưởng.

Nào báo quốc-ngữ, nào sách học quốc-ngữ, nào thơ quốc-ngữ, nào văn-chương quốc-ngữ, ấn-ký, hành-trình, tiểu-thuyết, nghị-luận, tờ bồi việc quan, đơn từ kiện tụng, nên làm toàn bằng chữ quốc-ngữ hết cả. Từ đến những cách cao-hứng, vịnh-đề, tình hay, cảnh đẹp, từ câu-đối dán nhà, tứ bình treo vách, câu phúng bà con, nhời mừng bạn-hữu, đều nên dùng quốc-văn hết thảy. Mà cốt nhất là, phải tập lấy lối văn xuôi, diễn dịch như in nhời nói, cho rõ ràng, cho nhất định, phải khiến cho nhời văn-chương theo nhời mẹ ru con, vú ấp trẻ, nhời anh nói với em, vợ nói với chồng; chứ đừng có để cho văn-chương thành một cách nói lối, mà tiếng nói vẫn cho là nôm tục. Văn-chương phải như ảnh tiếng nói, và tiếng nói phải nhờ văn-chương hay mà rõ thêm, mà đủ thêm ra.

Lại còn một điều khẩn-yếu, là muốn cho văn quốc-ngữ thành văn-chương hay, khỏi mang tiếng nôm na mách qué, cách đặt câu, cách viết, phép chấm câu, phải dần dần đặt cho thành có lệ có phép; mà lệ phép thì phải theo ý nhiều người đã thuận, chớ đừng ai tự đắc lối của mình là phải, đem ý riêng ra sửa đổi thói quen.

Phải nhớ câu: phàm ngôn-ngữ nước nào cũng vậy, dầu tài thánh trạng một người cũng chẳng làm ra được.”

Nguyễn Văn Vĩnh đã nối chí giới kẻ sĩ tiến bộ trong Đông Kinh Nghĩa thục không ngừng hô hào sử dụng chữ Quốc ngữ vì nó là phương tiện truyền thông tiện lợi hơn cả chữ Nho và chữ Nôm:

“Chữ quốc-ngữ tuy rằng có mấy nơi khuyết-điểm, có mấy chỗ không-tiện, song tỉ với chữ-nôm ta, và chữ-nho thì thực là một lối tiện quá rồi, cho nên ai cũng đành rằng cứ nên để y như vậy mà dùng.”

Ý kiến của Nguyễn Văn Vĩnh về cải cách văn tự và xây dựng văn học xuất hiện cách đây gần trăm năm, khi phần đông kẻ đi học còn đắm chìm trong cái học nhà Nho hoặc cái học Âu Tây nên phải kể là tiến bộ. Hồi chuông ông gióng lên với giới trí thức ngày ấy đã có tiếng vang và một lớp tân học đông đảo đã theo gót chân ông tiếp tục xây dựng thành công nền văn học chữ Quốc ngữ thời kỳ thịnh vượng 32-45.

Hoàng Yên

Posted: Fri Jun 21, 2013 3:58 pm
by khieulong

Image

Những Giai Điệu Vàng

Ðỗ Bình
Từ thuở hồng hoang xa xưa khi con người chưa xuất hiện trên trái đất thì gió vẫn vi vu trên đồi, biển vẫn rì rào tiếng sóng, và rừng vẫn xao xác lá. Những tiếng động va chạm phát ra trong thiên nhiên thoảng nghe chỉ là những tạp âm, nhưng nếu tất cả những âm thanh đó cùng hòa nhịp, quyện với nhau thì biết đâu chẳng phải là bản giao hưởng tuyệt vời mà tạo hóa đã ban cho con người ? Trái đất có ý nghĩa hơn từ khi con người xuất hiện làm cho cuộc sống vui lên, nhờ trí khôn của con người và sự đa cảm của những tâm hồn nghệ sĩ biết rung động trước cái hay cái đẹp của thiên nhiên. Nhạc sĩ nhờ có thính giác thẩm âm phân biệt được các âm sắc, biết vận dụng kỹ thuật chắt lọc các âm thanh phối hợp thành một thứ nghệ thuật gọi là âm nhạc làm ngôn ngữ; để diễn đạt tư tưởng và tình cảm của con người. Ngày nay người ta còn dùng âm nhạc để trị liệu bệnh tâm thần (musicothérapie). Âm nhạc gồm những đặc tính như cao độ, trường độ, âm sắc v.v... những ký hiệu hình nốt diễn tả những cảm xúc của nhạc sĩ qua những giai điệu dìu dặt khoan thai như thả hồn vào một cõi mộng.Từ những cánh bưồm xa khơi thấp thoáng dần khuất trong bóng hoàng hôn, đến cơn mưa chiều rả rich trên phố…Chỉ những hình ảnh ấy cũng đủ gợi nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ vút hồn tận chốn ngàn khơi để nghe trùng dương thì thầm lời biển cả, hay nghe tiếng mưa buồn tí tách như lời thở than. Tâm hồn nghệ sĩ thật nhạy bén, dù sự rung động của con tim mỗi người có khác nhau nhưng tính đam mê vẫn chót vót, hòa điệu chung cuộc sống như giọt nước long lanh trong nắng tỏa sắc muôn màu.

Trong dòng lịch sử tân nhạc Việt Nam đã gần thế kỷ khởi từ những nhạc sĩ đầu tiên như Nguyễn Văn Tuyên (Kiếp Hoa, Bông Cúc Vàng), Nguyễn Xuân Khoát (Bình Minh, phổ thơ Thế Lữ), Lê Yên (Bẽ Bàng,Nghệ Sĩ Hành Khúc, Ngựa Phi Đường Xa), Thẩm Oánh (Khúc Yêu Đương, Đôi Oanh Vàng, Xuân Về), Nguyễn Thiện Tơ (Giáo Đường In Bóng, Trên ường Về, Nhắn Gió Chiều), Dương Thiệu Tước (Vầng Trăng Sáng, Áng Mây Chiều, Ngọc Lan, Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự …), Lê Thương (Bản Đàn Xuân, Hòn Vọng Phu 1,2,3, Tiếng Thu, phổ thơ Lưu Trọng Lư), Văn Chung (Bóng Ai Qua Thềm), Doãn Mẫn (Biệt Ly, Gío Xa Khơi, Hương Cố Nhân), Đan Trường (Trách Người Đi),Văn Cao (Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối Mơ), Hoàng Qúy (Cô Láng Giềng, Chiều Quê), Nguyễn Đình Phúc (Lời Người Lãng Tử, Cô Lái Đò, phổ thơ Nguyễn Bính), Tử Phác (Tiếng Hát Quay Tơ), Lương Ngọc Châu &Tử Phác (Tiếng Hát Lênh Đênh), Phan Huỳnh Điểu (Tràu Cau), Đặng Thế Phong (Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu), Nguyễn Văn Thương (Đêm Đông, Bướm Hoa), Hoàng Giác (Lỡ Cung Đàn, Khúc Hát Thương Binh), Trần Hoàn (Sơn Nữ Ca), Tô Hải (Nụ Cười Sơn Cước), Việt Lang (Tình quê hương), Nguyễn Mỹ Ca (Dạ Khúc), Phạm Duy (Cô Hái Mơ, phổ thơ Nguyễn Bính, Cây Đàn Bỏ Quên, Chinh Phụ Ca),Tô Vũ (Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa, Tạ Từ), Nguyễn Văn Tý (Dư Âm), Nguyễn Văn Khánh (Nỗi Lòng), Hoàng Trọng (Đêm Trăng, Một Thuở Yêu Đàn, Chiều Tha Hương, Dừng Bước Giang Hồ), Nguyễn Hiền (Người Em Nhỏ, phổ thơ Thiệu Giang, Anh Cho Em Mùa Xuân, phổ thơ Kim Tuấn, Ngàn năm mây bay), Hoàng Dương (Hướng V ềHà Nội),Thông Đạt (Ai Về Sông Tương), Tu My (Tan Tác), Anh Việt ( Bến Cũ), Lê Mông Nguyên (Trăng Mờ Bên Suối, Quê Tôi, Bài Thơ Huế), Lê Trạch Lựu (Em Tôi), Đoàn Chuẩn &Từ Linh (Ánh Trăng Mùa Thu, Lá Thư, Tà Áo Tím, Thu Quyến Rũ, Chuyển Bến, Lá Đổ Muôn Chiều),...vv…Dòng nhạc tiền chiến với những giai điệu mang tính lãng mạn trữ tình ảnh hưởng của dòng nhạc bán cổ điển Tây Phương, nhất là nhạc Pháp do các danh ca, trong đó có danh ca: Josephine Becker, Tino Rossi với những giai điệu trữ tình Foxtrott, Valse,Tango:C’est À Capri (1934), Il Pleut Sur La Route (1935), Marinella (1936) thể điệu rộn rã vui tươi, J’ attendrai(1937), Ave Maria (1938) giai điệu dìu dặt khoan thai, Ecis Moi (1945), J’ai deux Amours, Mon Pays et Paris …Thời đó có một số ít nhạc sĩ đã từng học nhạc Tây Phương nên đã đem những dòng nhạc ấy vào hòa với dòng Dân Nhạc của Việt Nam thành cổ kim hòa điệu. Tính chất nhạc Việt Nam dựa trên nền âm giai ngũ cung chỉ có 5 nốt, lấy chất liệu từ các thể điệu dân ca như Ca Dao, Hát Nói, Hát Quan Họ… trong khi nhạc Tây Phương âm giai 7 nốt lại giàu giai điệu, do đó càng về sau, hướng sáng tác ca khúc càng chịu nhiều ảnh hưởng dòng nhạc Tây Phương. Nhạc sĩ không chỉ đơn thuần viết cho ca khúc mà có người còn viết cho những dòng nhạc giao hưởng đại hòa tấu có cấu trúc nhạc rất phức tạp, đòi hỏi phần hòa thanh, âm sắc phong phú. Hơn nữa ngôn ngữ của Việt Nam có nhiều thay đổi đã xuất hiện nhiều cụm từ và chữ mới, do đó cấu trúc âm nhạc từ giai điệu, tiết tấu, hòa âm có thêm chất liệu giúp cho việc sáng tác những ca khúc thêm màu sắc, giai điệu đẹp. Những ca khúc có từ thời tiền chiến được phổ biến ở Hà Nội, Hài Phòng và một số thành phố lớn miền Bắc trải dài cho đến năm 1954 thì chịu chung số phận đau thương chia cắt của đất nước. Nền văn nghệ của miền bắc bị cưỡng bách o ép một chiều, điển hình là vụ án «Nhân Văn Giai Phẩm », giới văn nghệ sĩ không những bị cấm sáng tác mà còn bị cầm tù, có người bị nhốt nhiều năm dài !

Văn học nghệ thuật cũng có lúc hưng thịnh, lúc suy vi, âm nhạc nhạc cũng thế, gặp lúc trái thời dù cho dòng nhạc đậm tình quê hương đang được công chúng say đắm, tính nghệ thuật đã lôi cuốn lòng người bởi những ca khúc trữ tình lãng mạng, giai điệu mượt mà ca từ như một bài thơ, thế mà nhạc sĩ và tác phẩm bỗng nhiên tắt nghẹn, đành phải lẫn khuất trong xó tối sống hẩm hiu, nhưng vẫn bị chính quyền Cộng Sản lôi ra kết tội là “phản động”vì nhạc Vàng mang tính bi lụy, giai điệu ẻo lả, ca từ ủy mị chỉ biết than thở không mang tính đấu tranh theo tinh thần“cách mạng”! Người ta đã mang chính trị vào nghệ thuật, biến nó thành một thứ công cụ tuyên truyền cho quyền lực, nghĩa là phải viết những ca khúc đầy tính chiến đấu sát máu, nghệ sĩ phải đoạn lìa thứ chủ nghĩa cá nhân, nghệ thuật vị nghệ thuật, mà phải hướng về tình yêu Nước, yêu Đảng nên các văn nghệ sĩ bị dày vò tả tơi ! Vì sự hệ lụy đó dòng Nhạc Tiền Chiến đã biến mất một thời gian khá dài ở miền Bắc , và sau 1975 trên toàn quê hương, nhưng qua thế kỷ mới vì nhu cầu mở của để đón nhận những luồn gió mới trên thế giới du nhập vào Việt Nam, văn nghệ cởi trói, dòng nhạc Vàng từ cõi chết sống dậy, được khôi phục giá trị. Những ai đã từng là nạn nhân của văn hóa Vàng này, hôm nay đọc lại những cuốn sách cũ , hát lại dòng nhạc xưa chắc lòng không khỏi ngao ngán buông tiếng thở dài ? Năm xưa có một nhạc sĩ ở Sài Gòn chỉ vì cất giữ ít nhạc lưu niệm của các bạn, trong đó có một số nhạc phẩm của ông sáng tác thế mà bị kết tội 8 năm tù ! Thảm hơn nữa, ở Hà Nội có người chỉ vì hát nhạc Đoàn Chuẩn Từ Linh, vì những bài tình ca ấy mà bị tù 14 năm hết cả đời thanh xuân ! Cũng từ đó dòng nhạc Vàng gắn liền tên người nghệ sĩ. Chân giá trị của Nghệ Thuật đòi hỏi từ sự rung cảm chân thật để diễn tả tiếng nói của con tim trước những biến đổi của ngoại cảnh, dù có những điều khác ý một số người chỉ vì người nghệ sĩ luôn đi trước thời đại, nên dễ bị ngộ nhận biến thành vật hy sinh, bị dập vùi trước bạo lực hay phe nhóm tranh giành quyền lực ! Sau năm 1954 nhạc Vàng bị kết tội là văn hóa đồi trụy ! Phải chăng vì sợ hãi mà chẳng còn ai dám nghe, hay sáng tác những ca khúc vàng đầy chất nghệ thuật thắm tình người nữa ? Nếu có, thì họ cũng cất dấu chẳng dám khoe ra là đi tù ngay ! Một dân tộc tự hào về một nền văn hóa lâu đời, thấm nhuần lẽ đạo, lại có một nguồn Ca Dao vô tận, thì con người phải thắm tính Thơ và chan chứa Tình Người ? Than ôi, lòng đố kỵ và bạo lực đã tước đoạt ý nghĩa cao đẹp đó ! Tình yêu và Quê hương là nhũng đề tài muôn thuở trong văn học nghệ thuật, đó là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ; nhất là đối với những ai đã từng trải qua chiến tranh và ngục tù, hay chứng kiến sự thăng trầm của đất nước, khó mà quên được những mất mát, chia ly, đổ vỡ…Từ trong sâu thẳm của nỗi buồn đó vết hằn quê hương đã bật lên cung bậc chất chứa những đau thương minh họa bằng hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu mang chung giai điệu :Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn ! Trong suốt thời gian đất nước chia đôi vì chiến tranh Quốc Cộng, cả hai miền đều có biết bao cuộc chia ly mất mát, biết bao cuộc tình dang dở. Bao nỗi lòng của người mẹ tiễn con lên đường ra trận. Cuộc chiến đã làm vợ chồng, cha con, anh chị em xa nhau ! Những tình cảnh đó ở hai miền Bắc Nam tuy giống nhau ở truyền thống dân tộc, nhưng lại hoàn toàn khác về cách diễn đạt tình cảm qua văn học và nghệ thuật. Trong thời kháng chiến chống Pháp vào thập niên 40 của thế kỷ trước, những văn nghệ sĩ ở mọi miền đất nước trước khi lên đường vào chiến khu kháng Pháp họ là những thành phần trí thức tiểu tư sản, ngoài tình yêu nước, tâm hồn họ còn mang chất nghệ sĩ. Họ yêu nghệ thuật và sáng tác những bài tình quê, hay những bài ca chiến đấu đều mang tính nghệ thuật đượm đầy tình cảm của con người. Những hình ảnh nhớ nhung, chia lìa và đợi mong đều được thể hiện trong văn thơ, trên nét nhạc, ca từ. Do đó những ca khúc hay mang tính xuất sắc thường ca ngợi tình quê hương, tình người, lẽ đạo dựa trên nghệ thuật vì thế, dù thời gian đã qua lâu nhưng giá trị tác phẩm vẫn còn và được lưu truyền mãi đến hôm nay. Những hnhạc sĩ tài danh : Văn Cao, Phạm Duy(Tình ca, Bà Mẹ Gio Linh, Nương Chiều, Ngày Trở Về, Chiến Sĩ Vô Danh, Về Miền Trung, Tình Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Em Bé Quê…) Nhi Hà ( Mẹ Tội, Trở Về Thôn Cũ), Việt Lang (Tình Quê Hương), Lưu Hữu Phước(Tiếng Gọi Thanh Niên), Nguyễn Văn Thương, Văn Chung (Đợi Anh Về), Tô Hải, Tô Vũ, Phan Hùynh Điểu, Huy Du, Huy Thục (Đợi),….Trong thời ly loạn không một ai là không bị ảnh hưởng, thân phận người đàn bà có lẽ còn chịu nhiều thiệt thòi đắng cay nghiệt ngã hơn ! Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lên ca khúc Bà Mẹ Gio Linh, bài ca mang tính biểu tượng bà mẹ Việt Nam chống ngoại xâm :
«Mẹ gìa cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày. Dù cho áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy.».
Hình ảnh quê hương được nhân cách hóa với người mẹ. Sự gian khổ, nhẫn nại và đức tính hy sinh của người mẹ được gắn liền với sự thăng trầm của đất nước. Nhạc sĩ Nhị Hà đã viết lên ca khúc Mẹ Tôi để diễn tả tâm tình của người mẹ có con ở ngoài chiến trận,giai điệu buồn xa xót, ca từ có lẫn những giọt nước mắt thấm vào hồn người nghe như tiếng chuông vọng buồn từ cõi xa. Thuở ấy người nghệ sĩ chưa bị uốn bút nên đã dám bộc bạch cõi lòng :
«Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày. Mẹ tôi đau buồn nặng chĩu đôi vai, bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai. Mẹ tôi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn, Mẹ tôi mỉm cười nhìn bóng con ngoan. Không than không phiền dù lâm hoạn nạn. Lòng mong con mình xứng thành người dân…Nhưng nay con nên người, thì nay còn đâu bà mẹ hiền xưa ! Chiều nay đốt hương tưởng niệm trước mồ, Nhìn khói đau lòng tưởng nhớ năm xưa. Công ơn sinh thành ngày nao đền trả. Mẹ ơi con mẹ nhớ lời mẹ khuyên. »

Trở Về Thôn Cũ của Nhị Hà và TÌNH QUÊ HƯƠNG của Việt Lang là những bức tranh quê mang những gam màu buồn. Ca từ là một bài thơ hòa quyện dòng nhạc Tây phương với âm giai ngũ cung thành giai điệu đẹp làm xao xuyến lòng người. Những Ca khúc tiền chiến đã gợi trong lòng người nghe thoáng hiện những hình ảnh đặc sắc như bức tranh ấn tượng. Nghe xong bản nhạc mà giai điệu và hình ảnh vẫn còn đọng trong hồn :

«Làng tôi nghiêng mình soi bóng Hương Giang
Những đêm trăng sáng long lanh giòng sông
Dáng ai giặt yếm bên bờ dịu dàng
Thả tiếng "khoan hò" theo nhịp chèo vọng xa
Làng tôi những chiều khi gió lên khơi
Nắng hanh phơn phớt pha hồng gò má
Những cô thôn nữ trên đường về chợ
Và tiếng sáo diều diu dặt buông lời thơ
Nhưng sao hôm nay ta trở lại quê hương
Tuy con sông xưa vẫn êm đềm uốn quanh
Còn đâu đồng xanh? Còn đâu gia đình?
Còn đâu bóng hình mẹ già mến yêu?
Nơi đây điêu linh
Nơi đây quạnh quẽ
Nơi đây chẳng còn bóng người ngày trước
Nơi đây tang thương buông bức màn thê lương
Quê hương còn đó nhưng người về đâu?
Vì đâu thôn làng thành chốn nương hoang?
Cớ sao bao cánh chim xa tổ ấm?
Biết bao giờ gió tha hương trở về
Cùng tiếng sáo diều dìu dặt lời nhạc xưa?»
(Nhị Hà)

TÌNH QUÊ HƯƠNG

«Ngàn dâu xanh ngát mấy nếp tranh xa mờ
Tiếng sáo bay dập dìu đường về thôn xưa
Tình quê lai láng dưới trời thu
Khói xây thành chập chùng mây đưa
Cành tơ liễu thấp thoáng bên hồ
Mùa nhớ nhung dòng nước lững lờ.
Ta ra đi một chiều thắm
Vang lời ca buồn trong khóm lá
Nỗi u hoài ngày tháng khôn nguôi.
Miền xa thương nhớ
Tình quê hương thiết tha buồn lắng
Nhắn theo lời gió.
Mùa trăng êm tiếng tơ một trời còn vương
Ôi buồn nhớ quê hương!»
(Việt Lang)

Nhạc sĩ Văn Chung trong chiến khu đã không dấu lòng viết lên ca khúc : Đợi Anh Về, diễn tả nỗi nhớ nhung người thương :

«Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
thì em ơi em cứ đợi ...»

Chất lãng mạn theo nghệ sĩ bàng bạc trong không gian, lan tỏa núi rừng làm tâm hồn nghệ sĩ dào dạt nguồn cảm hứng sáng tác nên đã có những tác phẩm hay. Nhưng chỉ vài năm sau, sự sáng tác được chỉ đạo, những mộng mơ, nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ người yêu…đều ngủ kỹ trong đáy hồn ! Sau năm 1954 nền văn nghệ miền Bắc chỉ còn là chiếc loa phóng thanh hò hét thúc giục thanh niên lên đường và ca ngợi Đảng, mặc dù những văn nghệ sĩ còn ở lại trên đất Bắc đa số đều có tài, bạo lực đã làm trầy trụa tâm hồn họ ! Trong vòm trời khép kín, vườn văn nghệ chỉ có một loài hoa đỏ được phép nở, cho dù màu hoa có rực rỡ vì đậm sắc thì cũng không thể thay thế được tất cả những màu sắc khác ?! Bỗng vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, có một số thơ nhạc trữ tình được rộ ra do một số văn nghệ sĩ có từ thời kháng chiến, những bài thơ phổ nhạc đó đã đi lệch hướng chỉ đạo, dám ca ngợi tình lứa đôi, một tình cảm thiêng liêng của con người. Bản nhạc được công chúng đón nhận vì dân miền Bắc đã lâu bỗng được nghe lại những giai điệu trữ tình, những vần thơ lãng mạn thắm tình người mà không hò hét thi đua ccách mạng. Người nghệ sĩ chỉ cần một lần trong đời dám làm theo con tim dù phải chết, hay bị tù đày thì cũng mãn nguyện. Nhạc sĩ Huy Du phổ bài Tình Em của nhà thơ Ngọc Sơn :

«Khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh. Mà sao em xa anh ; đời vẫn xanh vời vợi. Có gì đâu em ơi ! Tình yêu là sự sống ; nên nắng ửng trong lòng. Tình yêu như khe suối, lưu luyến và nhớ thương, chảy theo anh khắp rừng….» Nhạc sĩ Huy Thục phổ bài thơ Đợi của nhà thơ Vũ Quần Phương :

«Em đứng trên cầu đợi anh
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm.
Ngày xưa đã chảy sau còn chảy
Nước chảy bên lòng em đợi anh»

Ở miền Nam nam trước 75 nền văn nghệ được tự do, trăm hoa đua nở, mặc dù chính quyền cũng cổ võ văn nghệ hướng ra tuyền tuyến, nha tâm lý chiến khuyến khích các nhạc sĩ sáng tác các nhạc phẩm ca ngợi lòng dũng cảm của người lính, nhất là những bài chiến đấu ca. Giới văn nghệ sĩ được tự do sáng tác dù hòa vào chiến tranh nhưng những giai điệu quê hương hoặc tình đôi lứa vẫn dựa trên nghệ thuật, mang tính lãng mạn trữ tình của dòng nhạc Vàng, mà ca từ phải đẹp như lời thơ, hoạc lời bài hát là bài thơ được phổ, hòa quyện với giai điệu đẹp đẽ của nhạc diễn tả những cảm xúc của tuyệt vời của tâm hồn. Những bài thơ được các nhạc sĩ cảm được hồn thơ nên đã hòa thêm âm thanh vào biến những bài thơ và nhạc cùng bất tử : Thuyền Viễn Xứ, thơ Huyền Chi, Phạm Duy phổ nhạc. Mộng Dưới Hoa, thơ Ðinh Hùng, phạm Ðình Chương phổ nhạc. Nguyệt Cầm, thơ Xuân Diệu, Cung Tiến phổ nhạc. Tình Khúc Thứ Nhất, thơ Nguyễn Ðình Toàn, Vũ Thành An phổ nhạc. Màu Tím Hoa Sum, thơ Hữu Loan, Dzũng Chinh phổ nhạc. Mái Tóc Dạ Hương, thơ Ðinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc. Chiều Tím, thơ Ðinh Hùng, Ðan Thọ phổ nhạc. Áo Lụa Hà Ðông, thơ Nguyên Sa, Ngô Thụy Miên phổ nhạc..vv…Trong khi đó dòng nhạc tiền chiến dần dần bị chìm vào không khí chiến tranh, những ca khúc vàng êm dịu lắng sâu vào hồn khách mộ đìệu nhường chỗ cho một thể loại khác được gọi là nhạc Thời trang trong đó có dòng nhạc viết về Lính, dòng nhạcTrẻ cho những thanh niêm nam nữ đang còn ngồi ghế nhà trường, nhạc mang lời Việt hoặc lời ngoại quốc mà thể điệu đang thịnh hành ở các nước Âu Mỹ. Nhạc Thời trang nhằm diễn tả cái thực trạng của xã hội đang bị cuốn hút bởi những quyến rũ vật chất, đang vội vã hưởng thụ hầu quên đi thực tại của vòng khói lửa chiến tranh vây hãm ! Chính ở thời đìểm khốc liệt này, làng tân nhạc miền nam xuất hiện nhiều ca khúc quê hương trữ tình đượm chất lãng mạn trữ tình pha chút chiến chinh. Những thể điệu rất thịnh hành trong giai đoạn đó: Valse, Slow, Boston nhẹ nhàng phảng phất chút âm hưởng bán cổ điển tây phương, đìệu Blues Jazz lãng mạn, buồn tê tái như lời than chứa đầy những giọt nước mắt của những người da đen nô lệ xa xưa. Làn điệu Boléro mềm mại, ai oán diễn tả nỗi u uất thân phận người Gitan hát rong Tây Ban Nha, hay những thể điệu Tango, Habanera, Rumba…dịu dàng tha thiết vọng theo nhịp sóng vỗ từ những hải đảo xa xăm bên kia bờ đại dương kết thành cung bậc gần gũi với dân ca Việt Nam để diễn tả về thân phận con người trong chiến tranh qua giai đìệu trầm bổng ngũ cung. Lời ca tiếng nhạc đã đi vào lòng người, bàng bạc kắp mọi nơi, từ hang cùng ngõ hẻm nơi phố thị đến những thôn làng hẻo lánh nơi rừng sâu núi thẳm. Ở thời đìểm chiến tranh hừng hực lửa ấy, nếu chỉ cần rời xa thành phố cư ngụ ít ngày hay thoáng nghe lại những giọng ca truyền cảm quen thuộc phát ra từ một máy thu thanh chắc hẳn ta không khỏi xao xuyến về một khung trời kỷ nìệm mà chính ca khúc và nghệ sĩ đã làm sống lại. Ca sĩ tuy có khác nhau về các chất giọng và cách trình diễn, nhưng lại có chung sự quyến rũ làm say đắm khách mộ điệu. Giới thưởng thức, mỗi người một sở thích, tùy tâm trạng của người nghe chọn lựa bài hát và ca sĩ được ưa thích, nếu chất giọng nào mà mang nhiều ấn tượng của kỷ niệm, làm lòng họ xao xuyến thì họ sẽ yêu thích. Do đó có những ca sĩ chất giọng rất hay, kỹ thuật thanh nhạc cao, trình bày đẹp mắt nhưng chưa chắc bài nào cũng được mọi người thích ? Ở Sài gòn năm xưa, nếu ai đó tình cờ đi ngang qua một quán bên đường sẽ nghe từ trong quán vẳng ra tiếng kèn đồng nức nở giai điệu trầm bổng trong điệu blues hòa với chất giọng khàn của ca sĩ nghe não nuột, u uất ! Lời ca điệu nhạc diễn tả tâm trạng lớp người của chốn phồn hoa đô thị đầy ánh đèn màu, men rượu, khói thuốc, vũ trường, những thứ đó đã làm chóa mắt họ, mà quên, hay không biết hiện trạng của đất nước đang mịt mù khói lửa, phần đất tự do đang bấp bênh giữa cái mất còn ! Sự rung động của tâm hồn nhạc sĩ tuy có khác nhau về cảm nhận và cách diễn đạt nhưng những ca khúc thời chiến lại gần gũi, quyện vào nhau về cấu trúc lẫn giai đìệu, phải chăng sự đồng đìệu này đã biến những cảm âm thành những dòng nhạc liên khúc sau này? Nhưng có một đìều chắc chắn chẳng có một nghệ sĩ nào dửng dưng sống bên lề chiến cuộc. Chiến tranh đã ảnh hưởng đến tâm hồn họ, nhưng trong sáng tác những ca từ trong loại nhạc phổ thông ở giai đoạn đó lại thật hiền hòa, nhân bản. Nhạc sĩ Lam Phương đã xúc cảm nỗi lòng của người Mẹ, ông viết lên ca khúc Tình Mẹ như tiếng ru buồn diễn tả nỗi lòng cô quạnh của thiếu phụ chờ chồng và tấm lòng của người mẹ trong thời chiến, và thực trạng đó là nỗi buồn quê hương :

«Đêm khuya rồi à ơi..con yên ngủ. Trăng xa vời đèn gầy nào soi kiếp người. Mái tranh nghèo lạnh lùng hắt gío sương rơi, được nhìn con thân mẹ dường ấm cuộc đời. Hận loạn thù tình cha dứt bước ra đi, tháng năm qua thôn nghèo chờ mối duyên quê. Rồi một ngày người người lừng chiến công về, mừng thầm mẹ hỏi tin cha, ngờ đâu bóng đã khuất xa !»

Hình ảnh những người lính trận được dệt trong ca khúc mang vóc dáng hào hùng và rất đa cảm, lãng mạn mà ghệ sĩ đã phản ánh mô tả bộ mặt nhân bản của xã hội đương thời. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết ca khúc Anh Về Với Em diễn tả tâm trạng người lính trận xa nhà mong ước về thămm vợ, sự nhớ nhung da diết đó nói lên tình yêu chân thật của con tim. Nếu ở vào tâm trạng người lính miền Bắc sẽ không dám nói những lời ủy mị đó, vì sẽ bị khép tội mất cảnh giác chiến đấu ! :

Anh về với em, như chim liền cánh như cây liền cành.
Như đò với sông, như nước xuôi giòng vào lòng biển xanh.
Em ơi trăng còn sáng nên tình yêu vẫn còn mang,
Em ơi sương còn xuống nên tim côi mong sưởi ấm.
Ta xa nhau lâu rồi, ta mong nhau lâu rồi, gần nhau đêm nay thôi...
Anh về với em, mai ta lại cách xa nhau muôn trùng.
Bao ngày nhớ nhung, vơi hết tâm sự vừa cạn một đêm.
Sao em anh lại khóc khi anh ra đi vì em? Hay chăng ân tình lớn hơn không gian đôi mình cách? Mai nay anh đi rồi, mai nay anh đi rồi, mai nay anh lại đi...»

Cùng sống giai đoạn đó, nhạc sĩ Hàn Châu đã viết ca khúc Những Đóm Mắt Hỏa Châu diễn tả một ước mơ hòa bình của những người sắp bước vào cuộc chiến nhưng tâm thức đã không thích chiến tranh, điều đó đã thể hiện qua nét nhạc viết lên nỗi lòng mình. Những trái hỏa châu làm sáng rực đêm tối, lộ những hình ảnh quê hương, nơi đó đầy những hiểm nguy và nỗi sợ ! Chỉ cần một tia sáng trong đêm đen cũng là chút hy vọng, dù đó là những vũ khí dành cho chiến tranh để soi rọi vào nỗi chết ! Nhạc sĩ Hàn Châu hình tượng hóa nhnững hỏa châu trong đêm sẽ là hoa đăng nếu quê hương thanh bình. Ca từ như thế lại hòa trong thể điệu Boléro buồn bã, bài hát da diết thấm vào lòng người mà chẳng làm giao động những người trai tiền tuyến ; vì hòa bình là ước nguyện chung của con người.

« Có những đêm dài, anh ngồi nhìn hỏa châu rơi, n ghe vùng tâm tư cháy đỏ xoay ngang lưng trời. Những đóm mắt hỏa châu bừng lên trong màn tối, như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối, những đêm không ngủ anh ngồi tâm sự cùng hỏa châu rơi. Ôi đẹp làm sao, màu hỏa châu đêm đêm tô son, tô phấn những con đường, Ôi những con đường mang nặng đau thương ! Cho anh nhận diện quê hương giữa đêm đen buồn, bằng những dòng sông chảy xuôi đêm trường, Ôi những dòng sông nhẫn nhục đau thương... Dưới ánh châu hồng, anh ngồi gọi thầm tên em, mơ một ngày mai pháo nổ vang trên lối về .Những đóm mắt hỏa châu là hoa đăng ngày cưới, khi chiến chinh hết rồi, tương lai ta tìm tới, có nhau trong đời đêm trường không sợ lạc loài yêu thương.. ».

Đầu thập niên 70, nhà thơ Lê Thị Ý sống ở thành phố Pleiku cao nguyên sương mù, hàng ngày nghe toàn tiếng bom đạn và chứng kiến những thảm cảnh chiến tranh nên cảm xúc viết bài thơ :“Tưởng Như Còn Người Yêu”được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Thơ nhạc hòa quyện nhau như tiếng đau thương của sự chia lìa đã gây xúc động trong công chúng, vì đó là nỗi lòng , tâm trạng của những người thiếu nữ trong thời chiến, nhất là ở thời điểm chiến tranh khốc liệt. :

«Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu… »

Cùng thời gian đó nhà thơ Vũ Hũu Định đang nhập cuộc chiến, nhìn phố núi qua lăng kính thi vị, nhà thơ đã gởi tâm sự trong bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ, viết về một thành phố bụi đỏ và bom đạn được nhạc sĩ Phạm Duy đồng cảm phổ nhạc:

« Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn.
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương.
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông !
Nên tóc em ướt và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều trong.
Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân.
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng vẫn bâng khuâng !
Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.
( Còn Một Chút Gì Nhớ)

Trong khi đó ở Miền Bắc cũng có biết bao người trai lên đường và không bao giờ trở lại, biết bao bà mẹ mất con, vợ mất chồng thế mà chẳng có nhiều giọt nước mắt ghi lại trong âm nhạc, thực tế thì chắc có nhiều nước mắt vì có mẹ nào mà không thương nhớ và muốn xa con ?! Nhưng những hình ảnh nhớ nhung xa cách, và đợi mong đều bị «đóng khung» trong văn thơ âm nhạc ! Vì sợ bị kết tội ủy mị nên nghệ sĩ ít dám biểu lộ « nỗi buồn» trong tác phẩm mà đã dấu những giọt nước mắt ấy. Nay chiến tranh đã lui vào dĩ vãng thì những gì của thời đó nếu còn đọng lại, cõ lẽ chỉ còn là kỷ niệm trong thơ văn âm nhạc, mãi sau này trong văn có những tácphẩm Bến Không Chồng của Nhà văn Dương Hướng, Nỗi Buồn Chiến Tranh của Nhà văn Bảo Ninh, Phố của Nhà văn Chu Lai,…tâm hồn của người lính, dù là miền Bắc hay miền Nam thì cũng rung động trước những nỗi buồn vui xa cách. Nhưng tâm tình người lính miền Bắc được dấu kỹ, do đó ít thấy những giọt nước mắt của sự chia lìa đổ vỡ trong những ca khúc ! Những nhạc sĩ đã tự kiểm và tự diệt tính lãng mạn để trở thành bộ máy sáng tác rập khuôn nhau ca ngợi Đảng và chiến công ! Thỉnh thoảng có vài văn nghệ sĩ dám phá lệ viết những đề tài của tình yêu đôi lứa đượn triết lý làm tâm hồn người đọc xao xuyến dạt dào. Làm sao cấm được những gì chất chứa trong sâu thẳm tâm hồn con người ? Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc bài thơ Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ của Nhà thơ Trần Hoài Thu :

«Có một không gian nào đó chiều dài nỗi nhớ.
Có khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn tình thương,
Ở đầu này nỗi nhớ anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp cho ta gần nhau thêm.
Đêm nghe tiếng mưa rơi đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ.
Ở hai đầu nỗi nhớ yêu và thương sâu hơn…»

Ông cũng phổ nhạc bài thơ Thuyền Và Biển của Nhà tho Xuân Quỳnh :

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển
"Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
……..Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mang nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc dầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió"
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố »

Hai bài thơ : Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ, Thuyền Và Biển là những áng thơ hay lại được chắp cánh bởi nhạc vì những văn nghệ sĩ đó đã dám bày tỏ cảm xúc chân thật của mình cho nghệ thuật, biến những sự vật quen thuộc trở thành nhưng ngôn ngữ thơ đặc sắc, đầy lãng mạn mang tính triết lý mà không sợ lệch đường «Nhà nước». Viết ra những thứ trái cấm lại còn phổ biến cho những tâm hồn đồng điệu quả là can đảm, và hiếm hoi dưới chế độ kiểm duyệt ấy ! Tác giả đã không sợ lòng đố kỵ hẹp hòi của những «thợ hót» dèm pha phê phán là nhạc Vàng nên hôm nay đời có thêm tác phẩm hay. Sự sợ hãi làm vây kín tâm hồn người nên các nhạc sĩ phải chừng mực khi diễn tả ; Họ chỉ vút nguồn cảm hứng qua những bài dân ca và những bài ca chiến đấu qua lối viết điêu luyện, những cấu trúc cầu kỳ. Làm sao diễn tả hết những gì xảy ra trong giai đoạn chiến tranh ấy ? Người nghệ sĩ không thể đem tâm tình hôm nay để viết về tâm cảnh năm xưa, nếu có viết thì cảm xúc cũng không thật ! Cảm xúc của nghệ sĩ chợt đến như sương khói, mây bay rồi tan biến trong bầu trời, nhưng sẽ để lại cho đời tác phẩm. Âm nhạc miền Bắc đã thiếu vắng những bài ca diễn tả tình cảm chân thật của con người, thay vào đó là những bài thúc quân tô điểm cho Đường Trường Sơn, để hôm nay chỉ còn những ca khúc miền Nam nói về tâm tình những người lính trẻ, những hạnh phúc và sự đổ vỡ, những mất mát và sự hy sinh. Một lần nữa chính trị lại xen vào tình cảm thiêng liêng của con người, đó là được nghe những giai điệu dìu dặt để sống lại với những kỷ niệm một thời. Vì những người «quản văn nghệ » đã cấm nên không có dòng nhạc Vàng trong thời kỳ chiến tranh , nay họ muốn xóa bỏ thực thể đó nên kết tội nhạc Vàng đồng nghĩa với Nhạc Sến ! Thuở ấy ở miền Nam có một dòng nhạc hòa trong thể loại thời trang nhưng nét nhạc mang dấu ấn riêng vì giai điệu êm dịu làm thổn thức lòng người qua những ca khúc trữ tình tuyệt vời mà ca từ là những ngôn ngữ thơ đầy chất hình tượng nhạc tính. Đang vút hồn vào cõi tình lãng mạn, người nhạc sĩ đó bỗng chuyển hướng sáng tác dấn sâu vào thế sự. Dòng cảm xúc ngùn ngụt lửa chiến tranh, rồi bật lên những ca khúc phẫn nộ như muốn nói lên hết nỗi niềm của thân phận làm người trong một đất nước chiến tranh. Lời ca có tính triết lý mang đầy màu sắc hình tượng, giai điệu là tiếng khóc tỉ tê, tiếng thì thầm từ một cõi âm nào đó vọng về buồn tê tái như quyện chất ma túy, làm xói mòn tâm thức lớp trai cùng thế hệ của miền nam! Trong khi đó ở miền bắc, đối với lớp trai cùng thế hệ chẳng một chút hay biết gì về những lời ca này nên chẳng ảnh hưởng đến cái tâm thức «phản chiến », vì đã bị đảng và nhà nước CS đã bưng bít cấm phổ biến! Quả thật chiến tranh đã gieo vào tâm hồn Trịnh Công Sơn một ấn tượng mạnh tạo dòng cảm xúc tột độ nên ông viết được những tác phẩm làm xao xuyến lòng người. Giai điệu và ca từ sâu lắng đó réo rắc, trầm bổng như tiếng kinh gọi hồn nghe ai oán bi thương đến rợn người, làm xói mòn tâm thức của những người trai cùng thế hệ đang cầm súng làm nhiệm vụ bảo vệ sự tự do quê hương! Người ta tự hỏi có nên trách người nghệ sĩ sáng tác về những nỗi buồn chiến tranh? Làm sao cấm được dòng cảm xúc của người nghệ sĩ ?Một tác phẩm ở bất cứ một thể loại nào dù là văn học hay nghệ thuật giá trị đích thực không hẳn ở lời khen tiếng chê mà tùy thuộc vào bản thể tác phẩm có thực đi vào lòng người hay không. Tuy nhiên người đời vẫn lầm lẫn gữa tác phẩm và nhân cách tác giả !Người nghệ sĩ và tác phẩm là hai thực thể tách rời nhau nhưng lại khắn khít, có chung một niềm bất hạnh chứa đầy rủi ro, đôi khi bị vùi dập vì ngộ nhận! Tâm hồn nghệ sĩ rất phóng khoáng, bao dung, yêu thiên nhiên, yêu tha nhân, yêu cuộc đời cho dù đời muôn cay đắng! Người nghệ sĩ chân chính yêu nghệ thuật và yêu tự do như hơi thở mạng sống. Những tinh hoa văn nghệ sáng rực giữa vòm trời của miền bắc một thời, không những họ được ca ngợi về tác phẩm mà còn ở phong cách nghệ sĩ như: Văn Cao, Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Dần, Lê Ðat, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Phùng Cung, Thụy An, Phan Khôi, …. Họ đã từng ấp ủ được tự do sáng tạo, nhưng mơ ước ấy chỉ là mây khói ! Niềm vui chẳng bao lâu đã bị bạo lực nhân danh chủ nghĩa và quyền lợi đảng bóp chết mầm sống của muôn đóa hoa văn nghệ xứ bắc…Và từ đấy những vì sao sáng kia đã tắt lịm trong tăm tối, buồn thảm ! Phải chăng ngay những lúc tác phẩm ở vị thế sáng chói nhất tác giả vẫn cảm thấy cô đơn và đã nghe từng con chữ nhòa theo bóng thời gian, trong lãng quên hững hờ của người đời ?! Số phận một tác phẩm chìm nổi tùy theo tác động của xã hội. Sau năm 1975 ngọn lửa bạo lực đã thiêu rụi mạch sống của vườn hoa văn nghệ miền nam. Biết bao văn nghệ sĩ tinh hoa của đất nước bị tước đoạt ngòi bút, không những thế còn bị đầy ải cầm tù trong chiến dịch mệnh danh «chiến dịch đánh văn nghệ sĩ phản động» như: Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ðồng,Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Hồ Nam, Họa sĩ Chóe, Họa sĩ Ðằng Giao, Sơn Ðìền Nguyễn Viết Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Minh Ðăng Khánh, Lê Văn Vũ Bác Tiến, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Như Phong Lê Văn Tiến, Mạc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Thái Dương, Trần Việt Sơn, Lý Ðại Nguyên, Trịnh Viết Thành, Cao Sơn, Trịnh Hưng, Nguyễn Khánh Giư, Ngô Công Minh, Ðậu Phi Lục, Võ Xuân Ðình, Anh Quân, Nguyễn Văn Minh ( Minh Vồ), Ninh Chữ, Uyên Thao ..vv..Những người đã chết trong tù : Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Hiếu Chân, Ngọc Thứ Lang, Dương Hùng Cường, Minh Vồ, Thục Vũ, Minh Kỳ, Hồ Ðình Phương, Minh Ðăng Khánh..Hoặc những người được thả ra về nhà chét:Vũ Hoàng Chương, TrịnhViết Thành, Anh Quân, Trần Việt Sơn…Bạo lực có thể cướp đi mạng sống của con người, nhưng vẫn không thể nào hủy diệt được tâm hồn nghệ sĩ chân chính và những người yêu tự do. Những hương thơm đó vẫn đọng với thời gian.

Ở thời kỳ cực thịnh của dòng nhạc Vàng, những tác phẩm thi nhau nở rộ, được phổ biến hàng ngày trên các băng đài, những ca khúc có nội dung:«Quê Hương Trong Ly Loạn, Tâm Sự Người Lính, Tình Yêu Lứa Ðôi…đượm màu sắc dang dở, biệt ly..vv..» Xin hãy bước vào vườn hoa nghệ thuật để thấy mùa xuân bất tận của những ca từ trong nhạc, nó đượm đầy chất thơ và chứa sãn tính nhạc. Ðìển hình những lời ca đã đi sâu vào lòng người, đó là những tài sản trong kho tàng của văn hóa dân tộc :

Phạm Ðình Chương :
« ..Người đi qua đời tôi
trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời...
Hồn lưng miền rét mướt
Vàng xưa đầy dấu chân
(Người Ði Qua Ðời Tôi)

Lam Phương:
“...Người đi hoa lá chết trong mùa nhớ
Ngfười về lạng lẽ, tình vẫn bơ vơ !
Thà rằng ôm kín mộng ước xa nhau
Quên đi cho hết một kiếp thương đau...”
(Thu Sầu)

Trịnh Công Sơn :
«Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi.. »
(Như Cánh Vạc Bay)

Ngô Thụy Miên:
“...Nhớ tới năm xưa bên nhau
Bước trong chiều mưa phiếm du nhẹ đưa
Bến cũ đam mê say xưa lá thu còn rơi...
Mắt biếc năm xưa nay đâu, cánh sao còn đây
Tóc mây nào bay...Tình đã xa rồi !”
(Mắt Biếc)

Y Vân :
« …Rồi đây mây trên đồi vắng
lang tìm kìm kiếm, đá xưa rêu mòn….
Biệt ly hôn nhau lần cuối…
Dư âm còn đây, lệ trong mắt ai… »
(Mắt Lệ Cho Người Tình)

Từ Công Phụng:
« …Thôi đừng tìm đến nhau làm gì !
Thôi, đừng tìm nhau nữa mà chi !
Ðường về nhà em xa lắm,
Tương lai chưa vừa tầm hái tay này.
Trời đọa đày cho cay đắng
Nên ta không còn nương cánh nhau mà đi.. »
(Lời Cuối)

Lê Uyên Phương :
« …Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mùa mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rời
Trên vai thanh xuân ướp hôn nồng trên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn..”
(Dạ khúc Cho Tình Nhân)

Vũ Thành An:
“...Một làn khói trắng
Ru đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau.
Ngày tàn im lắng
Yêu người làn tóc trắng
Tâm sự rồi đến đắng
Như lệ giờ biết nhau...“
( Bài Không Tên Số 7)

TRường Hải:
„..Những chiều không có em
Ngõ hồn sao hoang vắng.
Ôi! Dừng chân đây,
đường phố cũngùi nhớ tới người em thơ
cùng bước dưới trời mưa lòng trao chuyện lòng...”
(Những Chiều Không Có Em)

Trường Sa:
“...Tiếng hát bay trên thành phố bâng khuâng
Chiều đông đưa những bước chân đau mòn
Chợt nghe mùa thu bay trên trời không
Còn ai giữa mênh mông đời mình?
Cho nỗi đau mù lấp tuổi thơ!...”
(Xin Còn Gọi Tên Nhau)

Phạm Duy:
“...Nha Trang ngày về
ngồi đây tôi lắng nghe
đê mê lòng tôi khóc
như oan hồn trách móc
Ôi trăng vàng lẻ loi! Ôi đời!
Trời biển ôi! Không có nuôi tình tôi.
Nha Trang biển này tình yêu không có đây
Tôi như là con ốc chui sâu vào thân xác lưu đày
Dã tràng ơi sao lấp cho vơi sầu này!”
(Nha Trang Ngày Về)


Thanh Trang:
«Một vì sao sáng trong đêm lặng lẽ
nhạc buồn xa vắng mênh mông trần thế
ánh mắt sáng ngời lòng trời u tối
không gian xa vời...
Tìm đến với nhau cho quên hận sầu
ngày đó lứa đôi vui duyên tình đầu
mộng ước tan rồi để buồn mai sau
để buồn mai sau …»
(Duyên Thề)

Không thể trích hết lời ca đã từng vang bóng một thời của làng âm nhạc miền Nam. Những nhạc sĩ mang chút hồn thơ như:
Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Ưng Lang, Văn Phụng, Hoàng Trọng, Trọng Khương, Lâm Tuyền, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Cung Tiến, Trúc Phương, , Lê Trọng Nguyễn, , Hoàng Thi Thơ, Y Vân,Thu Hồ, Trịnh Hưng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Phạm Mạnh Cương, Khánh Băng, Huỳnh Anh, Châu Kỳ, , Tuấn Khanh, Lê Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương,Vũ Thành, Thanh Trang, Trầm Tử Thiêng, Anh Bằng, Lê Dinh, Trần Thiện Thanh, Vũ Ðức Sao Biển, Thanh Sơn, Hoàng Trang, Ðỗ Lễ, Lê Hoàng Long, Thanh Bình, Hiếu Nghĩa, Văn Giảng, Phó Quốc Thăng, Thúc Ðăng, Hoài An, Duy Khánh , Anh Việt Thu, Anh Việt Thanh, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Nguyễn Ánh 9, Y Vũ, Mai Châu, Nam Lộc ; Lê Hữu Hà , Nguyễn Trung Cang..vv….Ðó là chưa kể đến những nhạc sĩ thời tiền chiến, họ là những nhạc sĩ mang tâm hồn thơ, đã cống hiến cho đời những lời ca đượm đầy chất hương thơ hòa trong ý nhạc, dệt lên những giai điệu đặc sắc.

Trong vườn hoa âm nhạc miền Nam, dòng nhạc Vàng được mùa, đây là cơ hội cho những con buôn văn nghệ làm giàu, và cũng là cơ hội giúp cho nhạc sĩ có dịp trình làng tác phẩm. Phong trào nhạc thời trang tuy có rầm rộ khắp nơi, được công chúng ưa thích vì có nhiều nhạc phẩm hay, độc đáo, nhưng lẫn trong đó có những nhạc phẩm kém cỏi, thiếu phẩm chất nghệ thuật do những nhạc phẩm viết vội, cóp xén của nhau, xào xáo giai đìệu, ráp nối ca từ để tung ra thị trường bán, hoặc bản nhạc viết chưa ráo mực đã bán đứt bản quyền do người khác đứng tên, làng âm nhạc gọi là «bán cỏ non». Tình trạng khai thác bừa bãi, quá độ khiến cho người nghe cảm thấy nhàm chán nên xem nhẹ âm nhạc, thậm chí người khó tính còn gọi là nhạc «sến»! Dù chỉ là số ít nhưng cũng làm ảnh hưởng chung đến giới sáng tác và giới yêu nhạc. Dòng nhạc có tính chất thính phòng trở nên khan hiếm, thu hẹp lại chỉ xuất hiện ở những tụ điểm quán nhạc sinh viên hoặc những đêm nhạc chủ đề do văn nghệ sĩ thực hiện, mà cấu trúc lẫn ca từ có chọn lọc hơn.
Thời gian trôi nhanh như gió thoảng, nhiều lúc đọc lại quyển sách cổ, nghe lại bài hát xưa cả khung trời ngày cũ hiện về thật êm đềm,thơ mộng, dù trong đó có dấu tích chiến tranh lẫn những giọt nước mắt qưê hương ! Dù ở bất cứ phương trời nào những giai điệu Vàng vẫn làm thổn thức dòng kỷ niệm về qưê hương./.

Paris Ngày Quốc Tế Âm Nhạc 21 06 2013
Đỗ Bình

Posted: Thu Jun 27, 2013 5:44 am
by khieulong
Một giám khảo của giải Van Cliburn
Quỳnh Giao

Image
Cố nghệ sĩ Cliburn biểu diễn trong dịp tưởng nhớ các nạn nhân của vụ thảm sát trường học Beslan ở Moscow, 21/9/2004.
Mừng lễ “ngân khánh” của giải Dương Cầm Quốc Tế Van Cliburn, người ta ít chú ý đến khôi nguyên năm nay mà nhắc đến một tay diệu thủ trong ban giám khảo.

Ðược các danh thủ lập ra lần đầu từ năm 1962 tại Texas để vinh danh Van Cliburn, giải thưởng này mừng năm thứ 25 nên mới gọi là “ngân khánh.”

Sinh năm 1934 và vừa mất đầu năm nay, Van Cliburn nổi tiếng với giải Tchaikovsky về dương cầm tại Mạc Tư Khoa vào năm 1958. Tay dương cầm từ Texas lại chiếm ghế khôi nguyên của Liên Bang Nga khi giải thưởng này được tổ chức lần đầu tiên, giữa thời Chiến Tranh Lạnh, thì hẳn là Van Cliburn phải có tài.

Giai thoại đáng nhớ là khi vào chung kết với bản Concerto số Một của Tchaikovsky và Concerto số Ba của Rachmaninoff, dương cầm thủ Hoa Kỳ làm khán giả đứng bật dậy vỗ tay trong tám phút. Vì sợ hậu quả chính trị, ban giám khảo xin thỉnh ý chế độ và thấy nhẹ mình nhờ tiếng nói của lãnh tụ Nikita Kruschev: “Hắn giỏi nhất hay sao? Nếu đúng vậy thì cứ trao giải!”

Năm ấy, có hai thí sinh chia nhau giải nhì là Lev Vlassenko của Nga và Lưu Thi Côn của Tầu, về sau đều là giáo sư dương cầm nổi tiếng. Trải qua hơn nửa thế kỷ, mãi năm ngoái thì tay “phó bảng” người Tầu mới tái ngộ “trạng nguyên” người Mỹ khi Van Cliburn đã như ngọn đèn trước gió.

Sinh năm 1939 tại Thiên Tân, Lưu Thi Côn học nhạc bằng tai khi mới lên ba, qua chồng đĩa nhạc của thân phụ, một ca sĩ giọng baritone tốt nghiệp Nhạc Viện Thượng Hải. Lên bốn tuổi thì leo lên đùi cha để tập dương cầm. Âm nhạc đúng nhà “nghiệp nhà.” Cả ngàn đĩa nhạc cổ điển của thân phụ là kho tàng cho cậu bé có thể ngân nga trong đầu từng nhạc khúc khét tiếng của Tây phương.

Lưu Thi Côn trình tấu Mozart từ năm lên sáu, đoạt giải thưởng khi lên 10, vào Nhạc Viện Thiên Tân ở tuổi 12 và theo học các giáo sư dương cầm người Nga tại Thượng Hải và Bắc Kinh. Nhưng khi vào giải quốc tế, người nhạc sinh có tài thấy ra chính trị còn có sức nặng hơn nghệ thuật.

Năm 1956, Lưu Thi Côn dự giải dương cầm Franz Liszt tại Hung Gia Lợi và được sự tán thưởng của ban giám khảo gồm nhiều danh cầm quốc tế. Thời đó quê hương của Liszt nằm dưới ách cai trị của Liên Xô nên chính trị có chi phối nghệ thuật. Giải nhất và huy chương vàng được trao cho Lev Vlassenko người Nga, và giải nhì thì phải về tay một người Hung, vì thế, Lưu Thi Côn đành nhận giải ba. Khi dư luận phản ứng thì ông lãnh một lọn tóc của Liszt làm giải an ủi!

Năm sau Lưu Thi Côn được qua Mạc Tư Khoa thụ giáo một danh thủ Nga để chuẩn bị giải Tchaikovsky cho năm 1958. Ðấy là lúc tài nghệ Van Cliburn vượt qua lằn ranh chính trị, nhưng ở cấp dưới thì thể diện quốc gia vẫn đáng kể, hai danh thủ Nga và Tầu cùng chia nhau giải nhì.

Các cuộc tranh tài quốc tế có uy tín thường có sự tham dự của nhiều danh thủ, từ thành phần giám khảo đến thí sinh.
Việc trình tấu và tuyển lựa kéo dài nhiều năm. Trong thế giới ấy, y như thế vận hội hay truyện “Hoa Sơn luận kiếm,” những tay kiệt xuất đều biết nhau từ lâu. Lưu Thi Côn hay Vlassenko đều thuộc hàng danh thủ và hiểu rõ tài nghệ của Van Cliburn.

Nhưng thế giới bên ngoài lại ít biết về thân phận của Lưu Thi Côn khi ông trở về Trung Quốc.

Thời đó, Mao Trạch Ðông làm mưa làm gió ở nhà với chủ trương cải tạo qua lao động. Nghệ sĩ phải là người phục vụ cách mạng, phát huy nghệ thuật dân tộc qua quan điểm “hiện thức” chứ không thể ngao du trong thế giới cổ điển Tây phương. Vì thế, danh thủ dương cầm họ Lưu cũng đi lao động làm gương, sáng tác cầm tấu khúc ngợi ca thanh niên để thế giới biết tài Trung Quốc. Nhờ danh tiếng của giải thưởng và sự phấn đấu của bản thân, ông được đi Nga học thêm trong hai năm... Nhưng ở nhà, cuộc cách mạng vẫn ngùn ngụt lửa.

Dù trở thành giáo sư dương cầm và có vinh dự tấu nhạc cho các lãnh tụ, ông vẫn bị Mao và Chu Ân Lai phê phán là trình tấu loại nhạc không thích hợp cho nhân dân. Mâu thuẫn chính trị giữa Liên Xô và Trung Quốc khiến ông là phần tử đáng ngờ vì học đàn bên Nga. Việc ông ta lấy con gái một viên tướng trong phe Chu Ân Lai còn là thảm họa thời Cách Mạng Văn Hóa.

Lưu Thi Côn vào tù, đi dọn cầu tiêu, bàn tay bị đánh cho dập, và bị tra tấn vì từ chối vu cáo nhạc phụ theo lệnh của Giang Thanh. Trong cõi âm u của nhà giam, ông dạo nhạc bằng trí nhớ và chỉ được moi lên khi chế độ cần người tấu nhạc nhân chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Richard Nixon!

Cuộc sống thay đổi sau khi ông qua Hương Cảng từ năm 1990. Là thầy dạy đàn, ông mở thêm trường nhạc, đi trình tấu với các ban nhạc quốc tế, nhưng vẫn có vẻ “nghiêm và buồn” mỗi khi nói về cuộc cách mạng năm xưa.

Posted: Tue Jul 09, 2013 7:06 am
by khieulong
Image

Những bài thơ cuối cùng của Nguyên Sa

Nhà thơ Nguyên Sa đã yên nghỉ mười lăm năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm
phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta,
đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời.

Tuy Hòa -

Thi sĩ Nguyên Sa (tên thật Trần Bích Lan) sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998 tại Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, ông viết: "Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có. Những bài thơ khác biệt mang lại bản ngã khác biệt…". Vì vậy, để hiểu Nguyên Sa không có phương pháp nào đáng tin cậy bằng sự nghiêm túc đọc lại thơ Nguyên Sa.

Xuất thân từ một gia đình không liên quan gì đến văn chương nghệ thuật. Năm 17 tuổi, Nguyên Sa sang Pháp du học. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông ghi danh vào khoa Triết, ĐH Sorbonne. Và cuộc hạnh ngộ với bà Trịnh Thị Nga đã biến ông thành thi sĩ. Bài thơ nổi tiếng đầu tiên của Nguyên Sa cũng là bài thơ đính hôn. Bài thơ có tên Nga được in vào thiệp cưới của họ năm 1955: "Em đừng buồn như những chiếc lá tre khô. Em đừng buồn như những nóc nhà thờ không có tuổi". Năm 1956, ông bà đưa nhau về Sài Gòn sống bằng nghề dạy học. Không chỉ giảng dạy môn Triết cho các trường trung học, họ còn mở ra hai trường tư thục Văn Học và Văn Khôi. Với quan niệm bản thân "vốn dĩ chỉ là hạt cát", Trần Bích Lan lấy bút danh Nguyên Sa và ngay lập tức lừng lẫy trên thi đàn.

Phác họa về nhà thơ Nguyên Sa.

Có thể do sự tình cờ hữu duyên, những bài thơ phổ nhạc của Nguyên Sa lan tỏa rất nhanh vào đời sống, và cho đến tận hôm nay, nhắc Nguyên Sa là người ta nghe vang lên trên môi Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh (Áo lụa Hà Đông), hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Tuổi mười ba); hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen (Paris có gì lạ không em) và Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn. Nếu em sợ thời gian dài vô tận (Tháng sáu trời mưa).

Những bài thơ được phổ nhạc ấy cứ bồng bềnh từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến nhiều bài thơ khác của Nguyên Sa ít nhiều bị che khuất, kể cả những câu thơ độc đáo miêu tả chiếc áo dài dân tộc Có phải em mang trên áo bay. Hai phần gió thổi, một phần mây. Hay là em gói mây trong áo. Rồi thở cho làn áo trắng bay. Tuy nhiên, nếu đọc thơ Nguyên Sa viết sau năm 1975 ở hải ngoại, vẫn nhận ra nét hào hoa riêng biệt. Trong tập Hoa sen và hoa đào được sáng tác khoảng thời gian 1982-1988, có những câu thơ mang đậm phong cách Nguyên Sa như Anh nhớ em ngồi áo trắng thon. Ngàn năm còn mãi lúc gần quen. Em gầy như liễu trong thơ cổ. Anh bỏ trường thi lúc Thịnh Đường hay Phương Đông vào chỗ hồng lên má. Chiều xuống lưng chừng mái tóc thưa.

Nguyên Sa từng xuất bản cuốn sách biên khảo triết học Descartes nhìn từ phương Đông, nhưng trả lời phỏng vấn của nhà văn Vũ Bằng vào năm 1972, thì ông vẫn khẳng định: "Nói triết lý sa sả, e rằng sẽ là người tự kiêu. Nhất là trong thơ, càng nhiều triết lý càng mất tính cách của thơ. Theo tôi, thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng".

Suy nghiệm đó được Nguyên Sa thể hiện rất rõ trong những bài lục bát. Thơ Việt Nam đã từng tự hào về lục bát Nguyễn Du, lục bát Nguyễn Bính, lục bát Huy Cận thì có lẽ những ai yêu thể thơ truyền thống cũng cần lưu ý lục bát Nguyên Sa. Sáu chữ và tám chữ được Nguyên Sa vận hành khá tự nhiên và nhịp nhàng đến mức phẩm chất thi ca tuôn chảy vào lòng độc giả một cách bất ngờ. Khi gặp Mây hồng bâng khuâng

Những chiều sương kín đầu non.
Hỏi nhau nhè nhẹ sao buồn chi em,

khi muốn Tháo gỡ giăng mắc ngậm ngùi

Ta nằm tháo gỡ cơn mưa.
Cầu vồng tràn núi cũng vừa bắc ngang.
Trong thơ ta gọi là nàng.
Nói năng lẫm liệt, tình càng thâm sâu.
Trời cao có núi bắc cầu.
Trong ta vực thẳm cúi đầu nghe mưa,

hoặc khi đăm đắm Hiu quạnh thân phận

Bỏ tay vào túi buổi chiều.
Lấy ra hiu quạnh với nhiều bản thân.
Còn hiu quạnh chỗ mộ phần.
Tấm bia màu trắng mấy lần quạnh hiu,

và khi hân hoan Ngày khỏi bệnh nhận ra:

Thương ghê màu áo hoa cà.
Mộng mơ bật sáng trên da thịt người.

Những câu thơ mềm mại, linh hoạt và ấm áp theo suốt cả cuộc đời Nguyên Sa, và lúc đến chặng đường hoàng hôn số kiếp thi sĩ thì ông chợt ngộ Hiện tượng toàn diện để thả hồn tràn theo nghĩ suy không kịp kết nối vần điệu: Lau khô một bông hoa không phải chỉ là động tác của tay. Công việc đòi hỏi sự chú ý của thị giác, sự nhịp nhàng của hô hấp và cả sự di chuyển trong một không gian. Đối mặt với căn bệnh ung thư dạ dày hành hạ từng ngày, Nguyên Sa vẫn không rời bỏ thơ. Bài thơ Hóa học trị liệu có thể xem như một cột mốc để đánh dấu những sáng tác tạ từ nhân gian của ông.

"Tôi biết cây phong đứng ở trước cửa bệnh viện nghĩ gì
Khi những chiếc lá phong buông tay ra
Làm thành những vòng tròn nhỏ
Những chiếc lá phong màu rượu chát rơi xuống một vị trí tên là mặt đất
Gió đưa những chiếc lá phong sang một vị trí khác cũng tên là mặt đất
Như thể vật nào cuối cùng cũng chỉ có cùng một tên"

Không thể nói khác hơn rằng, 22 bài thơ viết từ đầu năm 1998 đến lúc chia tay vĩnh viễn với Nàng thơ, đã cho hậu thế thấy được một dòng chảy khác của thơ Nguyên Sa. Những câu thơ ngổn ngang và giàu chất trí tuệ, không phải đến thình lình, mà có mạch nguồn trong thao thức Nguyên Sa. Trên giường bệnh, có lẽ hơn một lần ông ưu tư về những bài thơ mình viết đã được phổ nhạc truyền tụng khắp nơi: "Tôi đã làm xong bài thơ để phổ nhạc. Nhưng bài nhạc chưa tới. Đến khi nó tới. Bài thơ nhất định bỏ đi". Thật vậy, những bài thơ sau chót của Nguyên Sa hầu như không dành cho âm nhạc, chỉ dành cho những chột dạ.
Nguyên Sa chột dạ về Mật khẩu đời mình:

"Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ"

Nhà thơ Nguyên Sa và vợ. Ảnh tư liệu.

Nguyên Sa chột dạ về Ký ức người vợ sắt son đi cùng ông suốt hành trình long đong duyên nợ:

"Em làm cho tà áo lượn bay màu trắng ở quê hương xưa
trở thành màu hồng
Em làm thắp lên ngọn bạch lạp vào buổi sáng
ở trong lớp học
trong những giờ khắc yêu đương"

Nguyên Sa chột dạ về những Mặt nạ chập chờn lẩn khuất

"Chiếc mặt nạ ngay sát lần da mặt, gắn vào hay tháo gỡ
đều đòi hỏi nhiều thời gian
Làn da mặt dính vào thịt xương gắn vào hay tháo gỡ càng lâu hơn
Không thể đo được thời gian tìm kiếm những chiếc mặt nạ
Ở dưới làn da mặt dính vào thịt xương"

Nguyên Sa chột dạ về Con sông ngược xuôi bất tận miền khát vọng

"Suối cạn là nghĩa trang biết thở dài của dòng sông
Sa mạc là nghĩa trang khác, nghĩa trang biết khóc của dòng sông
Vật nào cũng có hai nghĩa trang
Một vật bao giờ cũng có hai tên
Tên nó và tên ước mơ của nó
Nghĩa trang của nó và nghĩa trang của ước mơ
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên tôi
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên ước mơ của tôi
Đó là lý do tôi ký tên em khi làm thơ"

Thế nhưng, niềm riêng day dứt nhất, đau đáu nhất của Nguyên sa trong những bài thơ cuối cùng là nỗi mong ngóng thăm thẳm cố hương. Như "bài thơ" Nguyên Sa đón Tết ở Wichita Falls giữa cơ hồ run rủi: Nửa khuya nàng đánh thức tôi dậy, nói dậy đi, dậy đi, giao thừa rồi. Tôi ngồi dậy. Chúng tôi mặc quần áo mới. Chúng tôi thắp nhang. Chúng tôi ngồi uống trà với nhau, ngồi tựa lưng vào nhau, hát cho nhau nghe bằng ánh sáng của những ngày mới gặp nhau. Khi nàng quay đầu lại, tôi thấy mắt nàng đỏ hoe. Mắt nàng ngơ ngác giống như mắt con vành khuyên một mình, để định hướng, bay theo những màu vàng của một rừng mai. Dường như, Nguyên Sa không còn muốn ngắt dòng hay ngắt câu, ông cứ để cảm xúc lênh loang cho kịp nhịp điệu hối hả từ trái tim mình. Và ông nghĩ về một sự Thủy chung giản dị khi hóa thân vào tro bụi: anh chỉ xin em ném dùm anh xuống những mảnh đất đầu đời, chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều, con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học. Riêng với quê nhà thơ ấu, Nguyên Sa tỉ mỉ viết sáu câu chia biệt:

"Ngọn đèn chiếu xuống bức tranh
Cầm lên Hà Nội thấy đình miếu xưa
Tiễn nhau nhớ Tháng Giêng, mưa
Sông Hồng nước động bóng chưa nhập hình
Tiễn anh linh hiển u linh
Cấu vào da thịt thấy mình bỏ đi"

Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh "luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình".

Posted: Thu Jul 11, 2013 2:59 am
by thienthanh
Image

Sinh nhật cuối cùng
"Anh có yêu em không?" Cô liếc đôi mắt đẹp nhìn anh cười, hỏi một cách tinh nghịch. Anh đang lái xe, nghe vậy phì cười: "Cái gì cơ? A đầu ngốc! Định trêu anh trai phải không?"

***

Rồi anh lại tiếp tục lái xe như thể không có chuyện gì xảy ra. Cô lườm anh nguýt dài một tiếng: "Anh nhớ đấy nhé! Sau này em lấy Lưu Đức Hoa rồi anh đừng có mà khóc đấy!"

Anh bật cười ha hả: "Thôi cô nhóc, đừng có đùa nữa, để anh tập trung lái xe nào!".

Cô và anh không phải là anh em ruột, trước đây chỉ là qua bạn bè giới thiệu và đã chơi thân với nhau từ rất nhiều năm rồi. Chỉ có điều anh luôn coi cô như một đứa em gái bé nhỏ của mình, còn cô thì đã thực sự bị tiếng sét ái tình khi lần đầu tiên nhìn thấy anh.

Nhưng cô luôn giấu kín tình yêu của mình, không dám nói ra, cô vẫn hạnh phúc trong sự quan tâm, thương yêu của anh dành cho cô như một người em gái. Cho đến lúc anh tìm được người trong mộng của mình. Đó là một người con gái rất đẹp và kiêu hãnh. Anh say mê điên đảo vì cô ấy, và dần quên lãng cô...

Một hôm, cô bất chợt nhận được điện thoại của anh: "A đầu! Tối nay anh mời em đi ăn cơm! Anh trai muốn tặng cho em một bất ngờ lớn!". Anh định bụng sẽ giới thiệu người yêu của mình cho cô. "Bất ngờ gì vậy anh? Mà tại sao lâu lắm rồi anh chẳng gọi điện cho em, cũng chẳng buồn nhắn tin cho em nữa. Lần trước còn hứa đưa em đi ra biển, không biết anh còn nhớ không nữa!". Cô nói một hơi oán trách anh. Nhưng thực ra trong lòng cô lại đang rất vui, bởi vì anh đã không quên hôm nay là sinh nhật của cô.



"Em đến rồi sẽ biết ngay thôi! Nhớ là phải trang điểm cho thật xinh đấy nhé! Anh muốn dành cho em một bất ngờ mà. Không đến thì đừng có trách anh đấy!". "Được rồi em sẽ đến. Vẫn ở chỗ cũ chứ?". "Không, ở nhà hàng X.. Anh đã đặt chỗ rồi, hôm nay sẽ mời em ăn món ăn của Pháp!".

Cô khẽ reo lên sung sướng. Từ lúc này, trong đầu cô chỉ nghĩ đến cuộc hẹn buổi tối nay với anh. Tối nay cô nhất định phải thổ lộ với anh tình cảm thực sự trong lòng mình, sẽ nói cho anh biết thực ra cô đã yêu anh từ rất lâu rồi... Trái tim cô đập rộn ràng... Tối nay, cô nhất định phải trang điểm thật đẹp, cô cũng muốn dành cho anh một sự bất ngờ. Rốt cuộc thì cũng gần nửa năm anh đã không gặp cô rồi...

Đến nơi, vừa nhìn thấy anh, cô reo lên: "Anh trai!". Hai má cô thoáng ửng đỏ. Có lẽ đã rất lâu rồi không gặp anh nên trong lòng cô có một sự hồi hộp khó tả. Anh nhìn cô thoáng sững lại: "Ái chà, A đầu tối nay quả thật rất xinh đẹp. Nào, nhanh lại đây nào, ngồi bên cạnh anh trai!".

Cô ngoan ngoãn ngồi xuống, e thẹn nói với anh: "Hôm nay... Hôm nay em cũng có chuyện rất quan trọng muốn nói với anh. Em đã định nói với anh từ rất lâu rồi. Đó là em... em...".

Cô không dám ngẩng đầu lên nhìn anh, tim cô bỗng đập nhanh dữ dội, cô chưa biết nên bắt đầu thổ lộ với anh như thế nào. Anh bật cười: "Được rồi! Cứ từ từ nào, em ngồi nghỉ một lát đi, rồi chút nữa hẵng nói!".

Anh dịu dàng xoa đầu cô: "Hôm nay, anh trai sẽ giới thiệu một người cho em gái". Nói rồi, anh chỉ vào cô gái đang bước ra từ phòng vệ sinh. Giọng cô nghẹn lại: "Anh trai, hôm nay anh cũng hẹn người khác nữa à?". Rồi cô từ từ ngẩng đầu lên nhìn về phía tay anh chỉ. Đó là một cô gái vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Sự xuất hiện của cô gái đó dường như làm sáng bừng cả một góc phòng. Trong phút chốc, trong đầu cô bao trùm một đám mây đen u tối...

Anh vui vẻ giới thiệu: "Giới thiệu với em, đây là Giai Giai, bạn gái của anh. Còn đây là Mạc Mạc, đứa em gái anh yêu quý nhất mà anh vẫn hay kể với em đó! Hai người làm quen với nhau nhé!".



Cô gái tên Giai Giai đó mỉm cười nhìn cô một cách lịch sự: "Mạc Mạc, chị rất vui làm quen với em!" Hai tai Mạc Mạc ù đi, đầu óc cô thấy choáng váng. "Anh trai! Em cảm thấy dạ dày của em lại bị đau rồi. Có lẽ em phải về nhà trước thôi!" Anh lo lắng nhìn cô: "Sao vậy? Em lại bị đau dạ dày à? Có đau lắm không? Để anh đưa em tới bệnh viện nhé!" Cô vội vàng lắc đầu từ chối: "Không sao đâu anh trai. Em tự gọi xe về nhà được mà. Em chúc hai anh chị có một buổi tối vui vẻ! Tạm biệt!"

Nói rồi cô đứng dậy vội đi ra ngoài cửa. Tiếng nhạc buồn ngoài đường dội vào trái tim đang rỉ máu của cô. Cô vừa đi vừa khe khẽ hát, tự chúc mừng cho ngày sinh của mình, nước mắt chảy trên môi cô mặn chát...

Mười năm sau. Cô quay trở lại thành phố nơi cô chôn giấu mối tình đầu của mình. Giờ đây, cô đã kết hôn với một người đàn ông khác rất yêu cô, một người không bao giờ làm trái tim cô đau đớn, không bao giờ quên ngày sinh của cô...

Lần này trở về cũng là một phần vì công việc, nếu không, có lẽ cô đã không bao giờ muốn trở lại nơi này nữa. Bước vào công ty, trái tim cô bất chợt đập nhanh. Tại sao vậy nhỉ? Cô nhân viên dẫn cô vào văn phòng giám đốc. Cô cúi đầu chào người đàn ông đang ngồi quay lưng về phía mình: "Chào giám đốc, tôi là Mạc Mạc, nhân viên công ty Y." "Chào cô! Ồ, Mạc Mạc? Tôi là... anh trai đây!"

Mạc Mạc không thể tin cô lại có thể gặp anh sau mười năm xa cách. Trông anh có vẻ phong độ, chững chạc hơn trước đây rất nhiều. Mạc Mạc kinh ngạc đến độ không nói nên lời. Trái tim cô lại chợt thấy nhói đau...

Anh sốt sắng hỏi: "Mạc Mạc! Bao năm qua em đi đâu, tại sao không nói với anh một lời từ biệt. Từ sau buổi ăn cơm hôm đó, anh chẳng bao giờ nhìn thấy em nữa, điện thoại cũng không liên lạc được, trường học thì bảo em đã nghỉ học rồi. Có chuyện gì xảy ra vậy?"

Cô nhìn anh gượng cười: "Chỉ là em muốn thay đổi không khí một chút thôi. Vội quá nên không kịp báo cho anh..." "Vậy bao năm qua em đã làm gì? Em vẫn tốt chứ?"



Anh vẫn không thể hiểu được sự ra đi âm thầm của cô. Cô vẫn giữ vẻ trầm tĩnh, bình thản đến lạ lùng. "Em vẫn tốt! Thôi chúng ta bàn vào công việc đi anh. Về hạng mục này, công ty em..."

Cô tránh ánh mắt khó hiểu của anh, và bắt tay vào công việc. Cô cũng không ở lại thành phố này thêm một ngày nào nữa. Dù ngày mai là ngày sinh nhật của cô.

Anh tiễn cô ra sân bay. Trước khi lên máy bay, cô đưa cho anh một bức thư. Anh cũng kinh ngạc nói: "Anh cũng có một bức thư cho em!" Nói rồi anh lấy từ trong túi ra một phong bì đưa cho cô. Ánh mắt anh nhìn cô lưu luyến: "Em thật sự không thể ở lại chơi một vài ngày sao?" Cô mỉm cười lắc đầu: "Không được, công ty em yêu cầu em phải về gấp. Thôi em đi đây..." Nói rồi cô vội vã bước đi.

Lên xe, anh mở bức thư của cô: "Anh trai! Hai tiếng này sao có vẻ xa lạ quá anh nhỉ. Vậy là cũng đã 10 năm không gặp anh rồi. Có lẽ anh vẫn còn rất thắc mắc về sự ra đi của em phải không? Ngày em đi, em đã gửi cho anh một lá thư. Trong đó em đã ghi địa chỉ nơi em ở và số điện thoại của em, còn có những lời thổ lộ của em dành cho anh nữa. Em vẫn chờ đợi anh có thể đến bên em trong những lần sinh nhật sau... Nhưng... Em đã đợi anh, đợi tròn tám năm, đợi cho đến khi trái tim em cạn khô nước mắt, đợi cho đến khi em là vợ của người khác... Giờ có lẽ nói những điều này cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Có lẽ như bây giờ là tốt nhất với cả anh và em. Chúc anh luôn hạnh phúc. Mạc Mạc".

Anh vẫn ngồi chết lặng trên xe. Giờ đây anh bỗng hiểu ra tất cả... Bức thư cô viết cho anh, anh chưa bao giờ nhận được. Từ ngày cô ra đi, trong lòng anh cũng có một sự hụt hẫng rất lớn. Anh nhớ mọi thứ về cô, nhớ những lúc cô nhõng nhẽo anh, những lúc cô tức giận... Giờ đây, sau mười năm gặp lại, một lần nữa anh lại mất cô. Trái tim anh hụt hẫng vô bờ...

Trên máy bay, cô do dự mở phong bì của anh, một dòng chữ ngắn đập vào mắt cô: "Đừng đi được không? Anh muốn cả đời ở bên em, cùng em đón mọi lần sinh nhật..."

Máy bay vẫn lặng lẽ lao vút lên bầu trời xanh thẳm...

Posted: Sat Aug 03, 2013 5:14 pm
by khieulong
Image

Đến với Ngất Ngưởng Một Đời Mây của Phạm Hồng Ân

Từ khi đến với văn-chương, khác với các bộ môn lý luận, tiểu-thuyết, ... thơ với chúng tôi là cả một cuộc hành trình đi tìm hoặc dõi theo cái hồn khí của nhà thơ, của thi ca, nhưng cũng có khi rất đon sơ - chỉ là đi tìm lại cuộc đời, một sống lại, tìm lại, ... Một hành trình nhiều đứt đoạn nhưng vẫn liên tục, ... Tìm kiếm, vì cái thế giới đã hình thành xem ra khó thấy ở trần gian, nhất là đối với người Việt. Tìm kiếm ở đây thiển nghĩ cũng là để sống trọn vẹn hơn cái số phần làm người! Bởi, thơ là những biểu hiện bên ngoài, những nhu cầu bộc lộ của đời sống nội tâm, là nơi ẩn chứa những khoảnh khắc của tâm trạng, khởi từ dòng sinh động hoặc thầm lặng của đời sống, từ những liên hệ giữa con người với con người hoặc với ngoại cảnh biến hóa khôn cùng, ...

Mỗi tâm hồn nhà thơ là một không-gian tàng chứa những ẩn số nhiệm mầu, nơi đó có thể tìm thấy những ám ảnh cũng như những gì xa lạ, huyền bí nhất. Tất cả như một thế-giới tiềm ẩn nhưng có thể bền bĩ hoạt động mà ý thức không kiểm soát được. Một tình yêu chớm nở như một tiếng sét, một chạnh lòng chợt đến chợt đi,... Đưa đến sáng-tạo, đưa huyền mơ thành thực hữu. Qua câu thơ, qua điệu nhạc của con chữ! Người thưởng thức thi ca đến với thơ thường qua một mối giao cảm nào đó, mà đối tượng của sự nắm bắt là chính tác giả của những biểu hiện qua con chữ, những “chứng từ” văn-chương. Có thể nói rằng thế giới thi ca Phạm Hồng Ân đã đến với chúng tôi dưới dạng đồng cảm.

Thơ Phạm Hồng Ân là thi ca của tình yêu, và tình nước. Trước biến cố 30-4-1975, nhà thơ là sĩ quan Hải Quân, nên trong thơ ông, người đọc dễ tìm thấy biển và nước, ở miền Nam Cộng-hòa cũng như ở Hoa-kỳ bây giờ và riêng với ông, là biểu tượng của tình-yêu và tình nước. Chan chứa mà dũng cảm, những vần thơ của người chiến sĩ!

Ta về nằm giữa biển đông
Hai tay ôm lấy trăm sông nghìn rừng
Nghìn rừng đau nỗi sầu chung
Trăm sông sầu mối đau cùng nước non

Ta về ngồi dưới cội nguồn
Ngu ngơ theo tiếng chim muông lạc bầy
Ta về ngồi dưới chân mây
Xé câu thơ cổ quăng đầy thiên thu

Ta về thương kiếp phù du
Nghìn rừng giông bão ngục tù trăm sông


(Nghìn Rừng Giông Bão Ngục Tù Trăm Sông)

Thật vậy, phần lớn cảm hứng của nhà thơ khởi từ chuyện chiến-tranh, tình chiến hữu, chuyện trước sau, mất còn. Và còn tình nhà qua nhiều bài trong tập: tình nghĩa cha mẹ, vợ chồng, con cháu, ... mà có lẽ cảm động nhất là 'bức tranh' mái nhà xưa ngày ông trở về:

Con trở lại ngôi nhà xưa lạnh lẽo
Nhìn dòng sông in bóng nước phù vân
Ba thật sự trở thành người thiên cổ
Bình hương tro nằm đựng xác thân tan.

(...) Ba là sách gối đầu con vinh hiển
Là nước nguồn làm trong sạch đời con
Là ca dao đưa con về nguồn cội
Là quê hương vang dội tiếng hò khoan.

Con trở về ngôi nhà xưa dột nát
Bới tàn tro để tìm lại dư hương
Chỉ còn đây di ảnh ba nhòa nhạt
Ôi mất rồi một mái ấm yêu thương


(Trở về mái nhà xưa)

Lục bát là thể thơ mang hồn dân-tộc Việt, với mỗi nhà thơ còn là hồn thơ thiết tha, tình tự; vì thể loại này đầy nhạc tính và đủ uyển chuyển để diễn tả tâm tình dù uẩn khúc đến mấy. Phạm Hồng Ân đã đa dạng hóa 10 bài Lục Bát Tình và một số bài lục bát khác như Trần Truồng Kiếp Hoa :

Cởi tung dây trói vô thường
Trần truồng một kiếp phấn hương nhãn tiền
Nằm đây gió lộng chân hiên
Xé mây lót ổ mật thiền nhập tâm
Lắng lòng nghe sóng huyền âm
Từ trong thần thoại trầm luân trở về
Cõi em thục nữ u mê
Da sông thịt biển bề bề núi non
Quấn quanh ta một nỗi buồn
Ngàn năm mãi mãi trần truồng kiếp hoa.


Một nhà thơ đáng kể là người có nhiều phong cách, với giọng điệu riêng,... Với phương tiện của cấu trúc và hình-thức, Phạm Hồng Ân đã thành công chuyển tải được ý và hồn thơ vào thơ và đến được, đánh động được tâm hồn độc giả của mình. Đây là cảnh cho tình nhập hồn:

Chicago. Bão tuyết. Tan.
Rừng cung tay đứng bạt ngàn. Khẳng khiu.
Sông đong băng giá. Buồn thiu.
Phố nằm vùi dưới tịch liêu. Bạc đầu.

Sầu ta trắng xóa đỉnh cao
Ðời buông thạch nhũ lao đao cội nguồn.
Cuộn nhau trong đất trời buồn
Ðôi chân Bắc Mỹ. Linh hồn Cửu Long.


(Chicago)

Hay hình ảnh người tình nhập vào thơ thành bức tranh siêu thực:

Ướt đẫm đời ta cơn mưa Phan Thiết
Ba mươi năm còn rớt lại sợi thương
Dù em có theo sông đi biền biệt
Sợi thương kia vẫn thành sóng xuôi dòng.

Vạt tóc nghiêng em che đêm Phú Quý
Làm âm u một góc biển ta đi
Trăng Ngũ Phụng thua mắt em huyền bí
Trời đông phương chìm xuống cõi man di

Ðôi môi em ngọt mãng cầu Hàm Thuận
Và lao đao mùa gió bấc vườn ta

T(...) Ta muốn nằm trên ngọn sóng Cà Ty
Ðẩy mái chèo lướt trăng non về bến.


(Phan Thiết và Em)

Thơ là cảm xúc và rung động, qua những biểu hiện tinh vi, tế nhị của hồn người. Nhiều bài thơ của Phạm Hồng Ân khiến/giúp người đọc hướng tâm hồn về cánh cửa của thi ca, và một khi đã vào bên trong thơ ông, độc giả mới tìm thấy hoặc thấy lại hồn mình và cả những cái mà nhà thơ không nói ra. Thành công của nhà thơ là ở đó!

Có thể nói trong toàn tập thơ, Phạm Hồng Ân đã phác thảo lúc ẩn lúc rõ nét các vết thương của thời-gian, của cuộc nhân sinh, từ tác-giả ra đến đồng loại, bằng hữu, sống cũng như đã khuất,... Vì cuộc đời không trơn tru, vì Thiên đàng đã mất, vì ... và vì... Với tác-phẩm, ông đã thành công phát tiết ra vài âm thanh cuồng nộ của thân phận nhỏ nhoi con người Việt-Nam đứng trước những mưu toan của những thế lực người và những tập đoàn Việt cũng như không-Việt. Như những âm vang bi đát từ hư vô phát ra... Có thể nói thơ của Phạm Hồng Ân được nuôi dưỡng bằng những cái kinh-qua, những đau khổ và hạnh-phúc của đời người, đời ông cùng với đời người đồng thời!

Bài Ngất Ngưởng Một Đời Mây mở đầu tập thơ, nhà thơ vừa tâm sự vừa báo trước những mây trời trong cuộc đời ông:

Trộn mây vào chân tung bước giang hồ
Thời giọc biển khuấy sông chuyển đèo dời núi
Trộn mây xuống tim nghe tình diệu vợi
Thời em cổ tích tiếng sáo Trương Chi.

Ngất ngưởng ta, đời mây ảo giác
Trôi trôi trôi một giấc cuồng quay
Phóng lên cao là hư vô mù mịt
Té xuống đời là bão nhảy mưa bay.

Ngậm chút gió la đà kiêu hãnh
Phù thủy ta bẻ bút ném thơ
Nhật nguyệt khóc nỗi đau Thần Thánh
Chữ nghĩa treo vần điệu bơ vơ...


Phạm Hồng Ân Ngất Ngưởng Một Đời Mây có thể vì yêu mây trời mà cũng có thể vì đời thoáng qua... Nhà thơ dõi theo những áng mây trời, thích mây trôi ngang qua, hoặc ở cuối chân trời mây mới thật đẹp, mới tuyệt vời. Đam mê cái đẹp, nhà thơ đồng thời thích cái động của mây trời: cái động mới có thực, làm nên cái hiện sinh. Ở đây chúng tôi không so sánh, nhưng một J.M.G. Le Clézio cũng từng đam mê sống với thiên nhiên: núi, sông, biển, sao trời và nhất là mây cũng đã làm nên cái văn-chương của nhà văn giải Nobel văn-học này.

Những áng mây trời, mây hiền thục,
tĩnh lặng, lạ lẫm,
mây xám hình dạng dàn hồi
thân hình nữ nhân, ôi những mái tóc

khuôn mặt trẻ thơ, những rồng, những ngọn đảo.
Mây ơi, ta bước đến cùng đây
ta hợp làm một với các ngươi rồi ta biến nhanh,
ta cũng vậy, đổi thay liên tục
thân hình và khuôn mặt


(Nuages, nuages doux).

Ở Le Clézio không hề có sương khói chiến-tranh, cũng như không có tâm trạng “hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” như với người Việt. Với Phạm Hồng Ân, ông vừa hướng dẫn người đọc ngắm xem ... mây trời, vừa làm nhân chứng mà cũng là người qua đường hoặc người quen giữ kín cho riêng mình. Nhà thơ lảng vảng quanh đây, chịu đau khổ, để làm chứng, giải mã, ... những mẫu đời kỳ thú, lạ lẫm và cả bất thường, quái đản,... Thật vậy, trong thơ, Phạm Hồng Ân cho thấy có những mặt người tàn bạo, khủng khiếp, những khuôn mặt của địa ngục: những đám mây đen đưa giông bão, tai họa đến! Cuối bài thơ mở đầu, nhà thơ đã cho biết :

Cắn chút mưa sụt sùi cô độc
Mùi Satan theo máu chảy về da
Ném tới đầu cái-ta-sau dội ngược
Chạy cuối hàng cái-ta-trước quỉ ma.

Ngất ngưởng mây chỉ là sương với khói
Ngất ngưởng ta là cát bụi hóa thân
Sáng thức dậy nghe nghìn trùng tiếng gọi
Ta ngậm ngùi ôm hoài niệm ăn năn.


Thân phận người Việt từ giữa thế kỷ XX đã phải mang tính bi thảm dù sống ở phần đất nào của đất nước. Chiến-tranh và hậu quả của nó đã đeo đuổi cả đời người mỗi chúng ta. Muốn sống an bình trong một thế giới tưởng đã hình thành, đã là ảo vọng, đã là cái gì khó có được. Thơ khi thành con chữ trở thành chứng giám cho một thế gian không an bình, cho những giấc mơ dù nhỏ thế nào cũng khó đạt được. Chiến-tranh và con người hành xử cuộc chiến, từ người điều binh khiển tướng đến người lính vô danh, những tưởng đã tiêu diệt thi ca và văn-chương nói chung, lại khiến dựng nên một nền văn-học chiến-tranh độc đáo với sự tham gia của nhiều thế hệ thơ văn.

Yêu thích một hoặc nhiều bài thơ của một người thơ thiển nghĩ cũng chính là từng sống từng cảm nghiệm đâu đó cùng những phân ly, hạnh-phúc, những đam mê, những tình, những nỗi, những ... và những ... Người đến với thơ và nhà thơ như cùng đồng hành chung một hay nhiều đoạn đường! Con đường thể hiện qua bước chân thực hữu và qua những âm thanh vang vọng từ những bước đi!

Phạm Hồng Ân đến với thơ văn từ trước dù chính thức góp mặt với thế giới văn-chương hải-ngoại từ khi định cư ở Hoa-kỳ và trình làng các tuyển tập thơ văn, mới nhất là tập Ngất Ngưởng Một Đời Mây người thưởng ngoạn đang có trong tay, gồm “những bài thơ còn lại từ thời học trò, thời chiến tranh, thời ngục tù, thời trôi sông lạc chợ và ở hải ngoại” - như nhà thơ báo trước ở đầu tập. Thi ca vốn đơn sơ nhưng cũng là phức thể, có trên trần gian cũng được mà không có có khi lại rất thiếu thốn, cái thiếu khiến cuộc nhân sinh vô nghĩa, nhất là đối với người Việt vốn là dân-tộc có thể nói là sính thơ nhất! Cũng vì tính phổ cập và tự nhiên, mà thi ca hôm nay cần được làm mới để đi vào tâm hồn người đọc, mới ở hình-thức sử-dụng con chữ mà cũng có thể là ở phong cách. Cùng sống sót trở về từ các trại gọi là 'cải tạo', nhưng 'giọng thơ' Phạm Hồng Ân khác xa với những Nguyễn Sỹ Tế, Dương Tử, Trạch Gầm,... Thơ văn hải-ngoại tiếp nối truyền thống khai phóng, tự do, nhân bản của văn-học miền Nam, sau gần bốn thập niên, với nhiều thế hệ nhà văn thơ, từ nhiều năm qua đang lâm vào khủng hoảng. Trong cuộc sống-còn này, thơ là lãnh vực chịu nhiều thiệt thòi và mang nhiều vết thương nhất, nhà thơ của văn-học hải-ngoại đã và sẽ làm được gì? Người thưởng thức thơ lúc nào cũng hy vọng vì một ngôn-ngữ thiếu thi ca là một ngôn-ngữ chết!

Phạm Hồng Ân đã thử nghiệm một số cách tân cho thơ ông qua nhiều bài trong tuyển tập như Bốn, Năm, Sáu, Bảy, Tám làm mới thơ lục bát:

1. Sông. Ðêm. Xuồng. Nước khua dầm.
Trăng lên. Bãi cạn. Rượu cầm bạn xa.
Tiếng đàn kìm. Buốt tim ta.
Sáu câu vọng cổ la đà. Phù hư.
Em. Trong chén rượu. Ngục tù.
Ðáy kim cổ vẫn mịt mù sắc, không.

2. Trăng. Sông. Rượu. Nước phiêu bồng.
Hồn thơ Lý Bạch ngược dòng ra khơi.
Văn chương. Thế sự. Rối bời.
Cạn ly tuế nguyệt. Giận thời phù sinh.
Bạn. Ta. Lãng Ðãng. Khối tình.
Vuốt râu. Hào sảng. Cười khinh bạc đời.


(Năm)


Thơ Phạm Hồng Ân đến với chúng ta trong một hoàn cảnh sống đặc-biệt của kiếp nhân sinh người Việt lưu vong ở xứ người, khởi từ ý chí và tâm thức chúng-tôi-muốn-sống! Cảm ơn nhà thơ Phạm Hồng Ân đã cho người yêu thơ những phút giây trầm lắng và hạnh-phúc trong những miền quá vãng, như những lưu dân trở lại, trở về và đang sống, để chiêu niệm cũng như nhận chân để nhìn lại và nhìn rõ về phía trước! Bởi, hôm nay vẫn là hoài vọng, nói như nhà thơ:

Rồi có lúc chúng ta cũng trở về biển (...)
Rồi có lúc chúng ta cũng đi vào huyền thoại
Những thế hệ thủy triều xóa mất dấu vết
chiến tranh.

Chỉ còn lại mảnh trời xanh
Lặng lẽ bay ngang vòm nhà dưỡng lão.
Biển cũng thét gào áo não
Trăn trở bạc đầu thế hệ mai sau.

Rồi có lúc chúng ta cũng đi vào huyền sử
Những con dã tràng xe cát tạo hình
Như bầy hải âu năm xưa đi tìm hoa biển
Như con tàu mất phương hướng

Như Anh mất Em
Giữa giông bão đời người.
Rồi có lúc chúng ta cũng là thân tàu
Kẻ trước người sau

Tung tăng theo sóng.
Rồi...biển cũng muôn đời là biển
Chỉ có chúng ta
Tan tành như bọt nước...


(Về Biển)

Nguyễn Vy Khanh
Montreal, 22-4-2013

Posted: Thu Aug 08, 2013 5:21 am
by vuphong
TRẦN VẤN LỆ đọc “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của Huy Phương

TRAN VAN LE
Huy Phương, tôi giới thiệu với bạn, Huy Phương là Nhà Thơ. Nhà Thơ Huy Phương. Bạn có thể gọi anh ấy là Thi Sĩ, Thi Nhân, Thi Gia…gì, thì cũng được. Huy Phương là một người-làm-thơ và có hơn một tập thơ được xuất bản rồi…

Tôi thích hai chữ Nhà Thơ vì tôi liên tưởng đến Nhà Nông – người làm ra lúa gạo. Lúa gạo người này làm ra “ngon” hơn lúa gạo người khác, nhưng đều là lúa gạo để làm no con người. Huy Phương, nhà thơ, vì anh làm Thơ. Theo tôi, Thơ Huy Phương hay! Thơ Huy Phương làm tôi bâng khuâng, thao thức, trăn trở…và thấy mình khỏi cần phải tâm tình thêm với ai bằng những lời mình phải uốn lưỡi, qua thơ của Huy Phương…tôi thấy trái tim mình đang đập và tôi cảm thấy ấm áp.

Người ta biết Huy Phuơng nhiều ở tư cách Nhà Văn của anh ấy. Năm 1960, tại Sài Gòn, Huy Phương là nhà thơ với tác phẩm Mắt Đêm Dài. Có thể trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, chế độ Cộng Hòa chưa vững vàng, thơ văn chỉ là tiếng vọng trong sa mạc. Tập thơ Mắt Đêm Dài, tác phẩm thơ đầu tiên (chắc không phải đầu tay) không được “đắt hàng”, Huy Phương chưa là một tên tuổi. Cũng có thể hồi năm đó, tác giả còn quá trẻ và có một “đời sống” thầm lặng? Tôi nghĩ thế và biết có nhiều tác giả như anh – chưa được mặn mòi của dư luận.

Hồi đó, người làm văn học nghệ thuật tuy có nhiều nhưng bè phái cũng nhiều. Ai không có “băng, nhóm” thì không có tiếng vỗ tay…Hồi đó xuất hiện trên văn đàn, rải rác, là Hiện Tượng. Và những Hiện Tượng thì nổi ở Sài Gòn chớ không nổi ở các Tỉnh Lẻ. Nếu như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng không “bị” Bộ Quốc Gia Giáo Dục thuyên chuyển từ Đà Lạt về Sài Gòn dạy học và không được Tạp Chí Bách Khoa đăng tải nhiều kỳ tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò…thì không ai biết có một Nhà Văn Nữ…rất là Nữ! Năm 1960, tôi đã “lớn”, đã vào đời, đã mua nhiều sách báo đọc bằng tiền mình làm ra, Huy Phương tôi không thấy, hay có thấy thì không quan tâm đặc biệt.

Hồi đó rộn ràng, ồn ào các trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Văn Trung, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Kim Tuấn, Phan Bá Thụy Dương…

Huy Phương có sách xuất bản mà sao lại im lìm? Tôi, bây giờ, thấy mình có lỗi phần nào. Ờ nhỉ, tôi chỉ là người đọc sách báo thôi, tôi đâu phải nhà phê bình! Quá nhiều năm đã trôi qua…Khi đến Mỹ, kể từ sau năm 1989 nhiều năm, tôi mới đọc Huy Phương…mà không phải đọc Thơ, chỉ đọc Văn của anh! Trong lòng tôi, quá khứ kể từ cái mốc 30 – 4 – 1975 về trước, tôi không biết gì về Huy Phương! Cái lỗi của tôi là không biết Huy Phương trong một quãng thời gian dài. Chắc chuyện này không riêng mình tôi, ông Võ Phiến, Nguyễn Đình Tuyến, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thế Ngũ…những nhà bình phẩm văn chương, có sách “biên khảo”, cũng đâu có “đá động” gì tới tác giả Huy Phương!

Nhưng…

Tôi đang nói về Huy Phương đây! Trước mặt tôi là tập thơ mới toanh của ông: Thơ Huy Phương “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” do nhà Nam Việt ở Irvine California xuất bản năm 2013.

Tôi nâng niu cuốn sách. Cuốn sách không nặng tay lắm sao nặng quá cả lòng tôi! Cả tập thơ chỉ dày 120 trang, 36 bài thơ, đa số thì dài, nội dung có đầu có đuôi, không “cô đọng”, chẳng “triết lý”, bình thường như hơi thở ra rồi hít vào, rồi lại thở, đôi lúc cũng nghẹn ngào. Thơ Huy Phương là thơ Huế, cho người Huế ngậm ngùi, cho người Huế rưng rưng…Tôi không thấy anh “nổ” hay “trầm lặng” làm duyên làm dáng chút nào…

Thơ…thường là Thơ Tình. Tình, không tình nào thắm thiết và “nhiều chuyện” cho bằng Tình Trai Gái. Huy Phương có thể là nhà thơ không được quan tâm hay được nhớ đến vì anh làm Thơ Tình…không giống ai! Xin dẫn ra đây một bài, không đọc thì cũng chẳng sao mà ngó mắt tới, đố ai không…tư lự. Một mối tình rất hiếm để gọi là “điển hình”, để nhân nó lên hằng hà sa số. Cũng có thể vì đây là Tình Sửng Sốt trong một cảnh ngộ hơn là một cảnh tình. Tôi muốn nói về Tình Thầy Trò. Huy Phương một thời dạy học trong thời chiến, học trò của Huy Phương đương nhiên là nhỏ tuổi hơn Thầy. Một hôm nào đó, Thầy “bị động viên”, Thầy xa trường, xa lớp, xa học trò…Học trò rồi khôn lớn lần theo từng niên học, tới tuổi Lính chưa có việc làm để hoãn dịch thì phải nhập ngũ theo yêu cầu của quốc gia.

Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dai dẳng nhất thế giới. Cuộc chiến phân tranh ngày xưa giữa Trịnh Nguyễn kéo dài những sáu trăm năm… Cuộc chiến chống Pháp kéo dài gần hơn nửa Thế Kỷ. Cuộc chiến phân tranh Quốc Cộng gần nhất, 1954 – 1975 cũng kéo dài hai mươi năm! Quy định tại ngũ, chế độ quân dịch ban đầu thì mười hai tháng, lên mười tám tháng, lên ba mươi sáu tháng, lên hoài thôi, sau 30 tháng Tư bảy lăm cũng không cho giải ngũ. Nay ai tự nhận mình là Cựu Quân Nhân, nghĩ lại đi, kỳ cục vô cùng! Người Lính, căn bản / cơ bản là người Trẻ Tuổi. Chiến đấu và chết trận ở tuổi trẻ. Phải sống thì quá nhiệm kỳ là phải được Chính Phủ cho lệnh giải ngũ. Thế mà nào ai giải ngũ đâu! Tàn cuộc binh đao phải cam phận tù binh rồi ra khỏi trại tù…phải sống tiếp tục với cái danh là Lính Chế Độ Cũ, lúc nào cũng bị “dòm chừng”.. Và tuổi già, tất yếu là…Đương Nhiên, khỏi cãi cọ, thành Người Lính Già, tủi ơi là tủi! Không quốc gia nào sử dụng Lính Già! Chỉ có cái nước mình, gọi Cái-Nước-Mình muốn khóc, nó bắt mình làm Lính Già.

Thầy trò ở Lính gặp nhau, đã lạ. Rồi vào tù cũng gặp nhau. Rồi tha hương tránh mấy cũng chạm mặt! Tất cả đều tàn tạ, suýt soát nhau chẳng bao nhiêu. Ngay như tôi với Huy Phương, đi lính cách nhau tám khóa, năm năm mưa nắng hai mùa, vậy mà bây giờ…không ngờ ngó nhau buồn hiu! Cả hai đều còn Lính! Cả hai chưa có một ngày xếp áo quần thấy mình là người thong dong…

Bài thơ dưới đây, Huy Phương làm cho học trò của anh thưởng thức, tôi cũng có phần chia sẻ nỗi niềm, nghĩ chẳng sướng sao! Mời bạn đọc nhen:

“Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?”
Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến
Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường
Thầy từ đây đã rời xa bục giảng
Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!
Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận
Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!
Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”
Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt
Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng
Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt
“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”


*

Dẫn ra được bài thơ Thầy-Với-Trò trên đây của Huy Phương, tôi thật tình cám cảnh mình không ít. Tôi dạy học trò, năm cuối cùng 1974-1975 ở trường con gái, mười hai niên khóa trước có gái có trai. Ngày tôi vào “cải tạo” thì có nhiều em cũng ở chung với tôi, Thầy Trò một cấp bậc, một lán trại, một thèm thuồng trời xanh bao la…Học trò gái không bị tù nhưng gặp ở cổng trại thăm nuôi, các em đi thăm người thân, tôi cũng được tình cờ nghe tiếng “Ô Thầy!” Tôi ngoái nhìn, bàn tay dễ thương ai vẫy kia kìa. Cây rừng um tùm, gai góc lung tung, tóc học trò tôi bay vướng lá này cành nọ. Thương quá mấy em ơi! Phật nói rất đúng: “Thế Giới Chúng Sinh là Cõi Ta Bà!”

“Tóc bạc phơ, ngày tháng nặng lưng còng…”, nghe sao mà xót xa! Học trò và Thầy ba mươi tám năm rồi, đầu ai cũng bạc “Dạ thưa Thầy…”, như một giấc mơ, vậy mà Trời ơi lại rất hiện thực!

*

Ở phần trên tôi có nói Huy Phương là người Huế. Anh sinh trưởng ở Huế. Đầu đời Huy Phương dạy học ở Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, giáp ranh phía Bắc của Huế, đường đi lại cũng gần…Anh xa Huế khi anh vào lính rồi làm những công việc của người phóng viên tại Sài Gòn, nhưng lòng anh là lòng Huế, xa Huế là anh nhớ, xa Huế là anh thương. Những năm anh ở quê người, Huế như từng khúc ruột quặn trong lòng anh. Tôi không rõ gia cảnh anh ra sao, nhưng đọc thơ anh thấy anh nặng tình với Huế lắm, chắc chị cũng là người Huế…nên anh lãng mạn nhân đôi?

Đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm, ai đọc mà không nao nao lòng…thì “tui chết liền” à nha!:

Nhớ Huế

Mùa này nước Hương Giang có mặn
Muối đại dương có thấm vào sông?
Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế
Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!

Mùa này Huế còn mưa tầm tã
Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo
Anh ở nơi này vùng nắng ấm
Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.

Mùa này quê có còn bão lụt
Chén cơm em còn độn sắn khoai?
Trên tiệc rượu người con xa xứ
Men nồng nào lẫn nước mắt cay.

Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.

Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!

Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…

*

Hai câu cuối của bài thơ trên…tôi cứ chép sai hoài. Mắt tôi mờ. Mờ thiệt rồi sao? Một nước non cẩm tú thì dẫu tang thương vẫn cứ còn cẩm tú, nhìn theo kiểu mình, nhìn theo kiểu người, khó có cái nhìn chung…Mỗi người nhìn riêng với một tấm lòng riêng, biết sao bây giờ! Có thể khi thành một Trung Tâm Du Lịch, nhiều năm nay, Huế thay đổi bộ mặt âu sầu, nhưng trong gan ruột của Huế vẫn còn cái mầm bệnh ung thư lịch sử! Bề ngoài là son phấn. Bề ngoài là phồn vinh! Cái giả tạo chửi cha cái thật tình. Cái thật lòng thì câm nín thiên thu! Phương Xích Lô là một thi sĩ ở Huế, chuyên đạp xich lô kiếm sống, đã từng đạp xe ra Đồng Hà, phía Bắc Huế không xa, cảm ứng chứng minh cho chúng ta một thời đại rất ngộ nghĩnh: Cơ quan chức năng nào cũng treo câu biểu ngữ của “Bác Hồ” Không-Có-Gì-Quý-Hơn-Độc-Lập-Tự-Do mà đều mang cái bản mặt hướng ngoại. Độc Lập Tự Do chỉ là nụ cười méo mó. Một cái-gì-đó dị hợm, trêu ngươi, xứng đáng cho sự xấu hỗ!. Tất cả sự sống nằm trên sự lệ thuộc nước ngoài. Ngọn gió cũng từ Ai Lao thổi qua…

Thị trấn của tôi dùng toàn đồ ngoại
Đến gió kia cũng…vay của nước Lào!


Huy Phương mãi mãi nghĩ về Huế, hướng về Huế với tấm lòng chung thủy. Tôi lau mắt lần nữa chép lại hai câu cuối của bài thơ Nhớ Huế của anh: “Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế, Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ!”. Ôi, câu đó sao giống câu thơ mở đầu bài Tần Hoài Dạ Bạc quá chừng ri: “Yên Lung Hàn Thủy Nguyệt Lung Sa”, khói bay nước lạnh bóng trăng mờ…

*

Tôi suy nghĩ lung lắm: Mình viết một bài “luận” về tập thơ của Huy Phương CHÚC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ mà sao bài này, bài Chúc Thư in ở các trang 6,7 và 8, tôi không dẫn vào đây, coi như một điểm tựa cho những lời tôi bàn, tôi bình về thơ Huy Phương? Tôi suy nghĩ thế để thành câu hỏi cho việc tôi làm là tự thấy mình chỉ làm cái việc cỡi ngựa xem hoa không hơn không kém, phải không? Chắc chắn là tôi hết còn sức để nói về thơ Huy Phương. Chỉ cần hai bài, tôi quặn thắt lòng mình, thêm nữa thì chắc lòng tôi đau đớn vô cùng. Thơ Huy Phương hay kỳ lạ! Thơ Huy Phương vừa vuốt ve người đọc nó vừa nghiến răng cào xé người đọc. Vậy mới “đã đời” chớ nhỉ! Tôi cất dành đọc thơ Huy Phương từng ngày, từng ngày.

Và tôi xin dừng bút ở đây. Mong bạn đọc nào thương thơ, nghĩ tới người làm thơ, tìm mua tập thơ ấy mà đọc…

Trần Vấn Lệ
6/2013

Posted: Tue Aug 13, 2013 4:17 am
by vuphong
Mưa Sài Gòn trở về

Văn Quang
(viết từ Sài Gòn)

Ðêm giữa mùa mưa Sài Gòn, nằm nghe nhạc xưa chẳng còn gì thú vị hơn. Bỏ quên tất cả lại phía sau,
bỏ quên được cái thân phận của kẻ lưu lạc trên chính quê hương mình. Mọi thứ như đang trở về trước mặt.

Image
Tiếng Bích Huyền quen thuộc, dịu dàng, ve vuốt đưa dẫn lạc vào trong dòng văn chương của Nguyễn Thị Hàm Anh. Tôi ngỡ ngàng, không còn nhận ra đó là Hàm Anh tôi đã quen biết từ vài chục năm nay. Một cô giáo rất chừng mực từ lối sống, cách giao tiếp đến cách viết. Tôi đọc Hàm Anh không nhiều chỉ qua vài truyện ngắn, một số bài viết về thời sự gửi ra nước ngoài, dưới một bút hiệu khác. Ðọc “Trở về” của cô hôm nay, tôi không biết định nghĩa là gì. Tạp ghi, tùy bút, hồi ký hay chỉ là một đoản văn. Có lẽ điều đó không cần thiết. Cũng như một bài thơ hay, không cần phải là thơ Ðường, lục bát, tứ tuyệt hay thơ mới. Thể loại nào cũng được, miễn là một tác phẩm hay. Cô giáo Hàm Anh như từ trong Tự Lực Văn Ðoàn bước ra nhưng lại mặc chiếc áo rất mới. Có sự lãng mạn trẻ trung và cũng có sự chừng mực thường lệ. Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh nói hay viết về một chuyên tình của chính mình. Ngay cả ở Trở về cũng là chuyện của một “nàng ca sĩ” và một “anh chàng nhạc sĩ.” Cô viết cho một người nào đó quen hoặc không quen, và cũng có thể mượn một nhân vật nào đó để nói về tâm trạng của chính mình. Ðiều đó lại cũng không quan trọng. Ðiều đáng quý nhất là đoản văn trở về gợi cho tôi trở lại với những quá khứ rất xa xưa bỗng trở thành rất gần.

Lời dẫn của chị Bích Huyền với những bản nhạc chọn lọc rất “khôn ngoan” tinh tế càng khiến tôi trở nên mụ mẫm bởi hình bóng của ký ức tưởng đã xanh rêu. Nhạc phẩm bất hủ hay bất tử của những Phạm Duy, Phạm Ðình chương, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Hoàng Thi Thao... đan xen đưa đẩy làm ký ức nào cũng phải sống dậy cùng với mưa Sài Gòn. Một số lớn những người ấy là bạn tôi. Riêng với “Nửa hồn thương đau” nhạc phẩm chính của phim Chân Trời Tím của Phạm Ðình Chương; “Tiếng hát học trò” và “Ngàn năm mây bay” của Nguyễn Hiền cũng đều liên hệ tới 2 cuốn truyện dài của tôi đã chuyển thể thành phim. Tôi có nhiều kỷ niệm với những người bạn ấy. Hãy kể về “nhắm mắt chỉ thấy một khung trời tím ngắt” làm nhớ tới Phạm Ðình Chương nhắm mắt khi anh ngồi vào piano ở một phòng trà, khi anh ngồi với Mai Thảo, Thanh Nam ở một quán rượu vắng vào một đêm khuya. Và nhắc tới Chân Trời Tím, lại không thể quên Nhật Trường, sáng tác bản nhạc này khi vừa đọc xong cuốn truyện, khi than thở “mỗi lần đi chơi với người yêu, tôi phải bài binh bố trận khổ sở lắm mới đến được với người tình.” Rồi Nguyễn Hiền, rồi tiếng hát Họa Mi đưa ta trôi về chốn cũ tự bao giờ.

Rồi đọc Hàm Anh lạc lõng với “Những căn nhà từa tựa giống nhau, không có lầu, chỉ tầng trệt với mái ngói đỏ cũ kỹ, đa số đều đóng cửa như thiêm thiếp ngủ trong khoảnh vườn rộng với hàng rào vấn vít huỳnh anh hay bìm bìm. Màu vàng và tím của những bông hoa điểm chút khởi sắc cho con đường cô quạnh.”

Tôi tưởng đó là Pleiku của năm 1957, tôi từ Sài Gòn lên nhận nhiệm vụ thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ ở thành phố cao nguyên heo hút này. Những phố không ra phố, những nhà chẳng ra nhà. Nhưng ở đấy cũng có một nữ ca sĩ như Nguyệt Ánh, một nhạc sĩ như Anh Bằng gần giống trong câu chuyện “Trở về” của Hàm Anh.

Lạ lùng hơn khi tôi đọc: “Tôi yêu chàng và chàng yêu tôi, như là điều đương nhiên. Có thể nào tình yêu không nảy nở trong một thế giới tuyệt vời như vậy? Tôi ngất ngây trong hạnh phúc rung vang mang tới niềm xúc cảm diệu kỳ...”

Tôi chưa bao giờ nghe Hàm Anh kể bay viết về một điều rất lãng mạn, rất “ướt” như thế cả, dù cho vẫn ở trong chừng mực của cô giáo.

Bích Huyền và Hàm Anh cho những “anh già” như tôi được sống lại trọn vẹn trong cái thế giới tưởng chừng đã mất. Một đêm thôi, một đêm mưa Sài Gòn cũng là quá đủ, tôi có cần nói lời cảm không?

(08-8-2013)

Posted: Fri Aug 16, 2013 12:33 am
by quangminh
Ngày Bão Loạn - Văn Học và Chứng Liệu Lịch Sử

Song Nhị

Qua một trung gian, bản thảo “Ngày Bão Loạn” đến với Cội Nguồn như một gặp gỡ tình cờ và cũng là một tình cờ Cội Nguồn
đón nhận một tác phẩm đã ẩn mình ở một nơi nào đó từ rất lâu, áng chừng non phần tư thế kỷ. Tác giả, trong non phần tư thế kỷ ẩn danh
nấp mình bên dòng thời gian, men theo hình bóng và đường đi của những con người tuổi trẻ hiến thân đi làm lịch sử để hình thành tác phẩm này.

Image
Hình bìa hợp tuyển Ngày Bão Loạn của tác giả Hương Giang

“Ngày Bão Loạn” là một hợp tuyển thơ văn, trong đó nguồn cảm hứng của tác giả là những bài viết, những đoạn văn rải rác trên hành trình “kháng chiến” của những Kinh Kha thời đại.

Trong lời mở đầu tác giả đã khiêm tốn nói rằng cô “không phải là người thuộc giới văn chương, mà chỉ đem tấm lòng diễn đạt bằng thơ gởi lại trong tác phẩm đôi nét chấm phá đánh dấu sự có mặt của những con người đầy yêu thương và hào hùng ấy trong thời đại chúng ta”.

Qua nội dung thơ văn trong hơn hai trăm trang sách, tác giả đã trải tấm lòng dành trọn vẹn tâm cảm để biểu đạt nỗi thao thức gắn bó với đất nước, quê hương – ở một con người đã vượt ra ngoài định kiến nhi nữ thường tình xưa cũ – mạnh dạn đem vào trang sách bóng dáng thời đại của những chàng trai nước Việt mang dũng khí và lòng yêu nước vô bờ, hy sinh tình yêu và hạnh phúc riêng tư, kể cả mạng sống cho lý tưởng giải cứu đất nước, quê hương khỏi ách nạn cộng sản sau cơn bão loạn, đẩy cả dân tộc chìm ngập vào cơn hậu chấn kinh hoàng của thế kỷ hai mươi.

Mở đầu trang sách, trong Đôi Lời Cùng Bạn Đọc, tác giả “tâm tình với độc giả về hai thanh niên người Việt mà không ai được biết họ là ai, tên là gì, và sống chết ra sao...”. Hai thanh niên đó phải chăng cũng là Võ Hoàng và Trần Hướng Việt, biểu tượng của những chiến sĩ anh hùng trong các đền thờ Hy Lạp?

Ở một chỗ khác, tác giả bộc bạch: “Là một người Việt Nam, tôi biết đồng bào tôi muốn biết những ưu tư cùng những ước mơ của họ. Trong tâm tư đó tôi muốn sẻ chia điều mình biết về họ đến với mọi người” (tr 48). Một sự thôi thúc khác, theo chúng tôi, để hình thành quyển sách này chính là lòng yêu nước dạt dào của tác giả, được thể hiện trong từng đoạn văn, trong những bài thơ.

Đọc tác phẩm chúng tôi chú ý nhiều đến phần thơ của tác giả trong Ngày Bão Loạn. Trong lời ngỏ cùng bạn đọc, Hương Giang viết: “tác giả gởi lại ở đây… những cảm xúc thật của một người thích diễn đạt bằng thơ”.

Vâng, Thơ của Hương Giang chiếm một vị trí nổi trội so với phần văn trong tác phẩm. Hương Giang, một tên tuổi còn khá xa lạ trên thi đàn, nhưng tác phẩm của cô không thua kém, còn có thể vượt lên trên nhiều nhà thơ hải ngoại có đôi ba tác phẩm đã in.

Về hình thức tác giả sử dụng loại thơ phá thể kết hợp với thơ mới trong cách gieo vần, số chữ số câu không gò bó, hạn chế vào một khuôn khổ nào nhất định, do đó thơ Hương Giang không có sáo ngữ để tình tự được biểu đạt qua những từ ngữ chân chất hồn nhiên.

Xin trích dẫn một vài khổ thơ Hương Giang, có những câu thơ chúng tôi lấy làm tâm đắc:

Hãy thương anh, lưng anh còn chiếc bóng
Chiếc bóng quê nhà đè mãi thêm đau
Anh sẽ về dạy con và cắt cỏ vườn sau
Sẽ ở bên em hết tháng này... tháng nữa...
Hãy yêu anh như thuở ban đầu em trót hứa
Như ngày nào em cãi mẹ lấy anh.
(Bài Thơ Cho Những Người Yêu Nhau tr. 202)

**
Có ai nhặt được ước mơ mẹ đánh rớt tự ngàn xưa
Thuở cô gái làng Mai Sơn môi hồng má thắm
Ngày bước theo chồng rưng rưng cánh đồng
ngẩn ngơ hoa nắng
Cô Tấm đi rồi giếng lạnh trăng côi
(À Ơi Cánh Cò tr. 204)

**
Có bao giờ H nói H yêu anh không?
Yêu cái hạt gạo anh khắc tên mình một nửa
Thương điều chọn lựa - dù xót xa –
đang làm mình cách trở
Thương những tính toán cộng trừ
một nửa là ước mơ.
(Có Bao Giờ - Bài thơ nhờ toà Đại Sứ đọc
khi thăm anh Quân trong tù 03/2007, tr. 209)

Xin hẹn bạn đọc ở một bài viết “Bút Luận” về thơ Hương Giang một dịp khác.

Viết quyển sách về một đảng phái chính trị từng hứng chịu những mũi dùi công kích từ phía thù cũng như phía bạn trong dư luận nhiều năm qua, tác giả không những không giấu diếm mà còn công khai minh thị là một tân đảng viên với chân dung và đầy đủ các chi tiết cá nhân.

Mượn trang viết tác giả ngỏ lời cùng dư luận: “Những tỵ hiềm cá nhân, những kèn cựa lời ăn tiếng nói, những ứng xử vụng về của một số đoàn viên, những yếu kém của một tổ chức đấu tranh mới thành lập là điều tất yếu, nhưng đó là chuyện của những người ở hậu phương, đừng đổ mực lên những người chiến sĩ nơi tuyến đầu” (tr. 49).

Chúng tôi tin rằng tất cả mọi việc làm của bất cứ ai đều có nhân quả tất yếu và mọi tác nhân đều sẽ được vinh dự nhận vòng nguyệt quế hoặc lãnh chịu trách nhiệm trước sự phán xét công minh của dư luận hôm nay và lịch sử sau này.

Cội Nguồn khi nhận được tập bản thảo, để tìm một mẫu số chung, các anh chị trong ban điều hành và biên tập tạp chí Nguồn đã trao tay nhau đọc. Chúng tôi có chung một nhận định đây là một tác phẩm xét về mặt văn chương, nhất là bộ môn thơ là một tác phẩm văn học, lồng vào trong đó khung cảnh chính trị thời thế và một thời kỳ lịch sử của hơn nửa thế kỷ Việt Nam bão loạn.

Cội Nguồn trước sau vẫn khẳng định là một tổ chức sinh hoạt Văn Học, hoàn toàn đứng ngoài “vòng đai” chính trị. Cội Nguồn không gia nhập cũng không chống đối và cổ vũ bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào có tôn chỉ mục đích đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản, đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương dân tộc.

Khi nhận đứng tên xuất bản “Ngày Bão Loạn” chúng tôi muốn cùng tác giả gửi tới bạn đọc, tới các thế hệ hôm nay và mai sau một chứng liệu lịch sử trong cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc và một tác phẩm trong dòng văn học Việt Nam.

Song Nhị