Page 21 of 68

Posted: Thu Sep 23, 2010 10:28 pm
by khieulong
CHUẨN TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG
Phạm Phong Dinh
Tình hình chiến sự trong lãnh thổ Quân Khu III từ cuối năm 1971 bước sang
đầu năm 1972 tương đối yên tĩnh. Nhưng cuộc hành quân lớn của Quân Ðội Việt
Nam Cộng Hòa trong năm 1970 đã đẩy lui 3 sư đoàn Bắc Việt 5, 7 và 9 về bên kia
biên giới Cambodia, đồng thời phá hủy những căn cứ tiếp vận hậu cần của địch như
713, 354, 353 và 708. Trong khoảng thời gian từ tháng giêng 1972 đến đầu tháng
3.1972, những Chiến Sĩ Viễn Thám của ta hoạt động phía sau hậu cứ địch đã báo
cáo sư đoàn 5 Bắc Việt đang tập trung quân trong Khu vực Thị Trấn Snoul, trên
Quốc Lộ 13 và cách Quận Lộc Ninh chừng 30 km về hướng Tây-Bắc. Hai sư đoàn 7
và 9 Bắc Việt điều quân tới tập trung ở Khu vực đồn điền cao su Chup và Dambe.
Trong cuối năm 1970, Cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí đã có kế hoạch tấn công tiêu diệt
hay đánh gục cho tan tành những sư đoàn này, với sự phụ tá của những vị Tư Lệnh
Sư Ðoàn năng nỗ nhất, như Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ
Binh, Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ, Tư Lệnh Sư Ðoàn18 Bộ Binh và Thiếu Tướng
Nguyễn Xuân Thịnh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Không may Cố Ðại Tướng Trí bị
Tử Nạn trực thăng trong đầu năm 1971. Vị kế nhiệm là Trung Tướng Nguyễn Văn
Minh thận trọng hơn, ông chủ trương rút dần Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa về bên
này biên giới. Các Lực Lượng Quân Ðoàn III rút tới đâu, quân cộng ngày càng tập
trung ngày càng đông đảo và áp sát biên giới. Các Chiến Sĩ Sư Ðoàn 25 Bộ Binh
của ta bắt được trên xác một cán binh Bắc Việt tài liệu tiết lộ sư đoàn 9 Bắc Việt phải
làm sao điều quân tới vùng Lưỡi Câu sát biên giới Việt-Miên trước ngày 24.3.1972
chuẩn bị phối hợp với sư đoàn 7 Bắc Việt. Chỉ trong vòng ba ngày sau đó, một cán
binh thuộc toán trinh sát của sư đoàn 7 Bắc Việt ra hồi chánh đã cung cấp tin tức
quan trọng. Rằng toán trinh sát của anh ta có nhiệm vụ phải dò và sửa soạn lộ trình
chuyển quân từ Tây Ninh sang Bình Long.
Mặc dù không cho là quân bắc cộng sẽ tấn chiếm Bình Long, nhưng Trung
Tướng Minh vẫn thận trọng cho thành lập Chiến Ðoàn 52, gồm hai Tiểu đoàn của
Trung Ðoàn 52 Bộ Binh thuộc Sư Ðoàn18 Bộ Binh, các pháo đội Pháo Binh 105 ly và
155 ly lên trấn đóng tại một Căn Cứ Hỏa Lực nằm trên Liên Tỉnh Lộ 17 cách Thị Xã
An Lộc 15 cây số về hướng Bắc. Ngày 2.4.1972, để mở màn cho chiến dịch tấn công
An Lộc, cộng quân đã tạo hỏa mù khi chúng điều động trung đoàn 24 độc lập đánh
dứt điểm Căn Cứ Hỏa Lực Lạc Long của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh trong Tỉnh Tây-Ninh
do một Tiểu Ðoàn thuộc Trung Ðoàn 49/Sư Ðoàn 25 Bộ Binh trấn giữ. Áp lực địch
ngày càng đè nặng lên vùng biên gìới, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III lệnh cho các Căn
Cứ Biệt Ðộng Quân Biên Phòng di chuyển về ngoại vi Tây Ninh, thiết lập vòng đai
bảo vệ. Chỉ trừ có mỗi Căn Cứ Hỏa Lực Tống Lê Chân do Tiểu Ðoàn 2 Biệt Ðộng
Quân của Ðại Úy Ngôn xin được tiếp tục Tử Thủ và được Tướng Minh chấp thuận.
Căn Cứ Tống Lê Chân được giữ vững cho đến tháng 4.1974, Ðại Úy Ngôn là một
trong những khuôn mặt trẻ đầy triển vọng. Chỉ trong một thời gian cực ngắn từ cấp
bậc Trung Úy, người Sĩ Quan trẻ ấy đã được vinh thăng lên đến Trung Tá trong năm
1974. Sự thất thủ kế tiếp của Căn Cứ Thiện Ngôn cũng nằm trong Tỉnh Tây Ninh, với
hiện tượng lạ lùng là địch quân không đếm xỉa gì đến những khẩu pháo nguyên vẹn
105 và 155 ly của ta. Khi Quân Sư Ðoàn 25 Bộ Binh đến giải vây thì quân địch đã di
chuyển biệt dạng, tạo một dấu hỏi lớn cho các giới chức Quân Ðoàn III Quân ta vẫn
không biết cộng quân muốn dở trò gì và mục tiêu chính nó nằm ở đâu.
Chỉ đến khi một Chiến Ðoàn quân Việt Nam Cộng Hòa gồm một Lực lượng
của một Thiết Ðoàn Kỵ Binh phối hợp Trung Ðoàn 9 của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh bị địch
phục kích thiệt hại nặng trên Quốc Lộ 13 cách Lộc Ninh chừng 5 km về hướng Bắc,
Quân Ta buộc phải rút về Lộc Ninh. Vài giờ sau, Lực lượng trú phòng Lộc Ninh đã có
1
Muốn chiếm Lộc Ninh, phải đánh gục Chiến Ðoàn 52 của Sư Ðoàn18 Bộ Binh,
pháo và tăng địch chuyển hướng hỏa lực dội lửa trên đầu Chiến Ðoàn 52. Lại có
lệnh cho Chiến Ðoàn 52 rút Quân về Tỉnh Lỵ An Lộc để bảo toàn Lực lượng và bỏ
ngõ Lộc Ninh. Các Chiến Sĩ Chiến Ðoàn 52 phải rút về bằng đường rừng. Các Chiến
Sĩ Trung Ðoàn 9 Bộ Binh và Chiến Ðoàn 52 lần lượt về được An Lộc và tham gia
tuyến phòng thủ mới. Ðến giờ phút ấy Trung Tướng Minh mới biết chắc mục tiêu
chính mà địch cần tiến chiếm đúng là An Lộc. Trung Tướng Minh đã phản ứng chính
xác và kịp lúc khi quyết định điều động Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh cùng Liên
Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân nhảy vào An Lộc thiết lập chiến tuyến phòng thủ trong ngày
5.4.1972. Ðến đây một người Hùng mới của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xuất
hiện cứu nguy cho Quân Khu III và tình trạng hiểm nghèo của Sài Gòn. Chuẩn
Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Sư Ðoàn Ngôi Sao Miền Ðông.
Trước đó một thời gian ngắn, trong dịp Kỷ Niệm ngày ăn mừng Chu Niên của
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ
Binh đã đến tham dự và gắn lon mới cho nhiều Sĩ Quan, Chiến Sĩ hữu công. Ðại Tá
Tư Lệnh Lê Văn Hưng, Trung Ðoàn Trưởng xuất sắc nhất của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh
được cân nhắc lên làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và vinh thăng Chuẩn Tướng.
Trung Tá Mạch Văn Trường, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh của Sư
Ðoàn 5 Bộ Binh được vinh thăng Ðại Tá nhiệm chức, sau chiến thắng An Lộc ông
được thăng Ðại Tá thực thụ, một thời gian sau Ðại Tá Trường lại được vinh thăng
Chuẩn Tướng và được đề bạt lên làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh cho đến ngày
30.4.1975.
Có thể đánh dấu ngày 7.4.1972 như là ngày địch xuất quân trong kế hoạch
tấn chiếm An Lộc khi pháo binh, chiến xa và bộ binh địch bất ngờ tiến công Phi
Trường Quản Lợi do hai Ðại Ðội của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh trấn giữ. Cộng quân quyết
tân chiếm cho bằng được Phi Trường Quản Lợi để làm bàn đạp tấn công An Lộc. Vì
Phi Trường Quản Lợi nằm trên một ngọn đồi cao về hướng Ðông Thành Phố, rất
thuận lợi thiết trí pháo uy hiếp và là địa điểm quan sát các mục tiêu trong An Lộc rất
lý tưởng. Chiến Sĩ ta buộc phải rút lui sau khi đã cố gắng phá hủy 2 khẩu 105 ly. Có
một hiện tượng lạ vài ngày trước đó là đột nhiên các đồ hộp bày bán trong Chợ An
Lộc thượng vàng hạ cám cái gì cũng biến mất sạch. Mãi sau Tình Báo của ta mới
khám phá ra là các bộ phận hậu cần địch đã trà trộn vào Thành Phố vét sạch sẽ
những gì có thể để dành lâu ăn dần được. Tuy nhiên trong cuộc đại tấn công mùa hè
2
Chiến được Phi Trường Quản Lợi rồi, lẽ ra địch phải thừa thắng tràn xuống
dứt điểm An Lộc, nhưng sư đoàn 9 bộ binh chủ lực địch bỗng nhiên khựng lại gần cả
tuần. Sự kiện đó đã khiến cho Chuẩn Tướng Hưng, Tư lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt
Nam Cộng Hòa nhiều cơ hội phối trí Lực lượng phòng thủ và Lữ Ðoàn 1 Dù đủ thời
gian thiết lập vị trí bảo vệ An Lộc từ hướng Tây-Nam trên các ngọn Ðồi 169 và Ðồi
Gió. Thì ra viên tư lệnh sư đoàn 9 Bắc Việt dự trù càng quét các Tiền Ðồn Biệt Ðộng
Quân Biên Phòng và Chiến Ðoàn 52 phải mất tuần lễ. Trên thực tế lệnh rút lui quân
quá nhanh của Tướng Minh hóa ra lại làm cho các đơn vị tiếp vận cộng quân không
theo kịp đà tiến của các sư đoàn bộ binh Bắc Việt. Sư đoàn 9 Bắc Việt buộc phải
dừng quân bổ xung quân số và tiếp liệu. Trong thời gian đó, vì địch đã chiếm mất Phi
Trường, Không Quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn có thể dùng vận tải cơ C-123 và
trực thăng Chinook CH-47 tiếp tế cho Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Tuy nhiên việc tiếp tế
ngày càng khó khăn và địch dùng súng phòng không bắn hạ được một chiếc CH-47.
Không Quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn có thể dùng vận tải cơ C-123 bay trên cao
thả dù xuống. Với độ cao nhiều cây số để tránh hỏa tiễn SA-7 và đạn phòng không
địch, mức độ chính xác của dù rơi xuống vị trí Quân Ta là một vẫn đề đau đầu. Phần
lớn những kiện hàng đều rơi ngoài vòng rào phòng thủ hoặc rơi vào vị trí quân cộng.
Trong thời gian địch sốt ruột chờ đợi tiếp liệu thì từ miền Tây, các Chiến Sĩ
thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh dưới quyền trực tiếp điều động của Thiếu Tướng Nguyễn
Vĩnh Nghi đã đổ quân xuống Khu vực Quận Chơn Thành về hướng Nam An Lộc
chừng 15 km. Trung Ðoàn 8 của Ðại Tá Mạch Văn Trường thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh
tại Căn Cứ Dầu Tiếng Bình Dương được cấp tốc trực thăng vận nhảy vào An Lộc
ngày 11.4.1972, nâng Tổng số quân phòng thủ lên đến 3000 Chiến Sĩ, một con số
hết sức là nhỏ bé so với 3 sư đoàn bộ binh chính quy Bắc Việt số 5, 7 và 9, nhiều
trung đoàn pháo, chiến xa và đặc công. Còn có thể kể thêm sư đoàn bình long, còn
gọi là công trường bình long, một sư đoàn hiệu năng chiến đấu tồi, hỗn hợp lực
lượng việt cộng và Khmer Ðỏ. Trong những ngày đại chiến kinh hồn giữa Chiến Sĩ
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đánh cho ‘’banh ta lông’’ rất sớm. Ðể đương đầu với áp lực quá
mạnh từ bốn hướng của địch, Chuẩn Tướng Hưng đã thiết trí các tuyến chiến đấu
như sau:
3
- Hướng chính Bắc và hướng Tây-Bắc: Trung đoàn 8 Bộ Binh. Trong lần tổng
tấn công đợt hai ngày 19.4.1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù được điều động lên
tăng viện cho Trung Ðoàn 8.
- Hướng chính Tây và Tây-Nam: Trung đoàn 7 Bộ Binh và Bộ Tư Lệnh Hành
Quân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.
- Hướng Nam: Ðịa Phương Quân-Nghĩa Quân Tiểu Khu Bình Long, do Ðại Tá
Trần Văn Nhựt Chỉ Huy.
- Hướng Tây-Nam: Trên các cao điểm Ðồi Gió và Ðồi 169:Lữ Ðoàn 1 Dù.
- Hướng Ðông: Tiếp giáp với Trung Ðoàn 8 ở hướng Bắc và Ðịa Phương
Quân ở Hướng Nam là khu vực trách nhiệm của các Chiến Sĩ Mũ Nâu Liên Ðoàn 3
Biệt Ðộng Quân.
- Chiến Ðoàn 52 của Sư Ðoàn18 Bộ Binh phụ trách phòng thủ Khu Vực Trung
Tâm Thành Phố An Lộc.
Tình hình ngày càng nghiêm trọng, dân chúng trong Thành Phố lục đục tìm
cách di tản ra khỏi An Lộc. Có hai nhóm lớn thoát ra khỏi Thành Phố hối hả chạy về
hướng Nam dọc theo Quốc Lộ 13, do một Linh Mục Công Giáo và một kia do một
Ðại Ðức Phật Giáo. Trong những ngày đầu phong tỏa An Lộc, cộng quân đã làm ngơ
mặc cho dân chúng muốn đi đâu thì đi. Nhưng đột nhiên địch thay đổi thái độ bắn hù
dân chúng chạy ngược trở vào. Sau này Quân Ta mới biết là địch đã nghĩ đến việc
lợi dụng 6.000 miệng ăn dân chúng để làm cho Quân Dân An Lộc cùng chết đói,
không còn sức kháng cự. Thâm độc và ác độc đến thế là cùng. Ðịch biết rõ là Quân
Ta thà chịu khổ chịu đói chứ không bao giờ để cho dân chết đói, họ sẽ chia xẻ phần
thực phẩm ít ỏi của họ cho dân. Ôi, đi giải phóng người ta mà tính toán chi ly và giết
dân bạo tàn như vậy đó. Riêng hai nhóm vượt thoát được khỏi An Lộc chỉ đi đến
được Xã Tân Khai, phía trên Chơn Thành thì bị giặc chận đường bắt hết. Sau mấy
phùa bắt dân ngồi chồm hổm nghe thuyết trình quán triệt chính sách, phương hướng
nhiệm vụ, mục đích và yêu cầu, tất cả những người trong hạn tuổi lao động đều bị
bắt buộc xin ‘’xung phong’’ vào đội dân công phục vụ chiến trường. Riêng người già
và trẻ con thì đảng chiếu cố cho muốn đi đâu thì đi sau khi đã ‘’phấn khởi’’ hiến tặng
những gói của cải lương thực nhỏ bé để gọi là ủng hộ công cuộc giải phóng miền
Nam. Trước đó, khi làn sóng đồng bào lũ lượt rời bỏ Thị Xã An Lộc thân yêu của một
đời người tìm về vùng yên bình, Ðại Tá Trần Văn Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long, đã
cho xuất kho thực phẩm phát những khẩu phần gạo xấy cho đồng bào. Chính ông
cũng rưng rưng đứng bên đường phát từng bao gạo xấy cho dân, chúc đồng bào lên
đường bình an và hẹn ngày trở lại. Nếu không có Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9
Bộ Binh của ta chiếm được Tân Khai thì có lẽ số trẻ con và người già ấy đã sớm lên
thiên đàng vì đói và bệnh tật rồi. Số người bị bắt đi lao dịch từ đó không còn ai nghe
biết tung tích nữa. Có những toán dân vài ngàn người chạy qua khỏi Khu vực Tàu Ô
về được Chơn Thành chỉ còn độ vài trăm người. Cuộc di tản lớn nhất của 12.000
đồng bào ra khỏi An Lộc ngày 12.6.1972 mà báo chí Thế Giới đã gọi là ‘’lá phiếu
bằng chân dành cho Việt Nam Cộng Hòa’’, đã bị cộng quân tàn sát man rợ bằng các
loại hỏa lực. Chúng dội những cơn bão lửa đạn và chết chóc lên trên đám thường
dân vô tội, tiếng kêu khóc thảm thiết vang dậy đến tận cõi trời cao, thịt xương, máu,
óc, tay chân người văng tung toé vương vãi dọc theo con Ðường 13. Mười ngàn
đồng bào chạy thoát qua khỏi, bỏ lại đàng sau lưng oan hồn của hai ngàn người
thân. Cùng với Quốc Lộ 1 từ Quảng Trị về Huế, Quốc Lộ 13 trở thành hai con đường
của chết chóc và kinh hoàng và là chứng tích rõ ràng, tính cầm thú khát máu của
cộng quân, mà ngay cả bọn báo chí thiên tả, thân cộng hay phản chiến khi đứng
ngập chân trong những vũng máu thịt đau thương ấy cũng phải ú ớ như sống cơn ác
mộng.
4
Cuối cùng thì sư đoàn 9 Bắc Việt địch cũng đã có thể mở một cuộc đại tấn
công An Lộc lần thứ nhất vào khuya rạng sáng ngày 13.4.1972 với màn pháo kích
phủ đầu lên khắp mọi nơi trong Thành Phố, chiến xa địch áp sát An Lộc. Pháo kích
kéo dài đến 6 giờ sáng thì địch xua quân tấn công tất cả vị trí của Sư Ðoàn 5 Bộ
Binh. Tại chiến tuyến của phía Tây của Trung Ðoàn 7 Bộ Binh, chiến xa T-54 khạc
đạn vào công sự phòng thủ của Quân Ta giữ dội, buộc quân Trung Ðoàn 7 Bộ Binh
lùi dần vào trong Thành Phố. Súng phóng hỏa tiễn M-72 của Quân Ta bắn ra rền
trời, nhiều chiếc tăng địch đứt xích hay nổ pháo tháp bị khựng lại ngoài rào An Lộc.
Nỗi ám ảnh cùng sợ hãi T-54 của Quân phòng thủ biến mất một cách thần kỳ.
Những Tổ M-72 được lệnh chờ chiến xa địch đến gần ít nhất là 50 thước trở xuống
mới khai hỏa. Trong thời điểm những năm đầu thập niên 70, phía Hoa Kỳ đã viện trợ
cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa loại M-72A1 loại cũ, sức công phá của hỏa tiễn
và nhiệt độ của nó không được mạnh và cực nóng như về sau này. Tác năng chủ
yếu ban đầu của M-72 chỉ dùng để bắn phá công sự hầm hố giặc. Vì vậy, thật hết
sức gian nan vất vả và vô cùng nguy hiểm cho những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa
khi dùng súng M-72 đương đầu với khối sắt thép dày trên dưới 30 cm của chiến xa
T-54 địch trong một khoảng cách tử thần từ 50 đến 20m. Ðiều đó cho thấy mức độ
thiện chiến của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, người Lính khổ ải của chúng ta phải
đem xương thịt chống ngăn với sắt thép của lũ cuồng nô như thế nào.
Tại chiến tuyến của Trung Ðoàn 8 Bộ Binh, là nơi chịu áp lực nặng nhất, vì sư
đoàn 9 Bắc Việt dốc toàn lực tung nhiều chiến xa T-54 của Nga sô và T-59 (T54 biến
cải) của Trung cộng làm thành một mũi đột phá rất mạnh. Trong vòng 48 tiếng đồng
hồ vừa đổ quân xuống, Ðại Tá Mạch Văn Trường Trung Ðoàn Trưởng cùng các Sĩ
Quan Tiểu Ðoàn Trưởng nhanh chóng thiết lập phòng tuyến chánh, đồng thời đảm
nhiệm luôn trọng trách làm ‘’Tổng tiền đồn’’ cho Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Lần đầu tiên
trong ngày 13.4.1972, các Chiến binh Trung Ðoàn 8 đương đầu với một lực lượng
hùng hậu chiến xa địch và một lực lượng binh đội vượt trội của địch ồ ạt tấn công
vào. Yểm trợ hỏa lực cho Trung Ðoàn 8 có Tiểu Ðoàn 52 Pháo Binh của Thiếu Tá
Hoàng Trung Liêm. Pháo Binh đã đóng một vai trò rất quan trọng, Thiếu Tá Liêm và
các Sĩ Quan Pháo Ðội Trưởng đã chấm các điểm hỏa tập tiên liệu trên đường tiến
của giặc. Cho đến khi tăng địch và bộ binh tùng thiết địch hùng hổ ào ạt tiến vào,
súng cối 81 rải đạn nổ đì đùng lên từng thước vuông một lên đội hình địch. Trong khi
đó Chiến Sĩ Trung Ðoàn 8 chận đánh quân bộ binh tùng thiết dữ dội. Pháo và đạn đủ
loại của Quân Ta bắn ra rền trời làm bộ binh địch bị thương vong rất nhiều, chúng
hoảng sợ bỏ chạy trở ra, bỏ mặc cho đoàn chiến xa ủi sâu vào. Các xe tăng địch
không có bộ binh bảo vệ, chúng vội vã đóng nắp pháo tháp lại rồi cứ húc bừa vào.
Hỏa tiễn M-72 từ chiến tuyến của Trung Ðoàn 8 tập trung bắn vào các xe tăng địch,
những mảng lửa màu da cam nổ bùng lên xuyên phá vào vỏ thép dày của chúng.
Cuốn sổ tay ghi công của Ðại Tá Trường đã đầy nghẹt tên các Chiến Sĩ diệt tăng
địch, ông định khi chiến cuộc tàn sẽ trình thượng cấp tưởng thưởng. Nhưng ngày
qua ngày, người Ðại Tá đau lòng gạch bỏ tên từng người một. Những người Anh
Hùng Vô Danh ấy chỉ với thịt xương và lòng yêu Ðồng Bào yêu Tổ Quốc đã lần lượt
Anh Dũng Hy Sinh trong cơn bão lửa tàn nhẫn của chiến tranh.
Trong ngày đầu tiên của cơn lửa đỏ An Lộc, Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của
ta được chứng kiến một tấm kịch kỳ cục nhất từ trước tới nay. Nhiều xe tăng T-54 đã
xông vào được bên trong Thành Phố, nhưng không thấy dáng bộ binh Bắc Việt nào
đi theo sau. Có một chiếc T-54 tà tà chạy từ đầu Bắc An Lộc cho tới tận đầu Nam
như là đi duyệt binh, rồi quay trở lại ngơ ngác đứng sựng giữa Ðường phố vắng tanh
không bóng người. Có một tiếng đùng ghê rợn của hỏa tiễn M-72 phóng đi từ nơi ẩn
nấp của quân phòng thủ bắn trúng pháo tháp làm chiếc tăng nổ tung lên. Bốn chiếc
5
Chuẩn Tướng Hưng mặc chiếc áo thun màu xanh ô liu, tay cầm cây M-16
nắm chặt tay người Chiến Hữu xúc động không nói lên lời. Một chiếc T-54 khác
ngừng lại, xa đoàn 4 người nhảy ra đưa tay xin hàng vì hết đạn dược. Một trong 4 tù
binh thành khẩn khai rằng anh thuộc trung đoàn 203 chiến xa vừa di chuyển từ Hạ
Lào vào tới mới có một ngày đã nhận được lệnh là cứ vào... tiếp thu Thành Phố,
địch đã chạy nhân dân sẽ đón chào mừng. Thì ra là thế. Ðến chiến hữu cùng chung
chiến tuyến mà còn bị lừa gạt một cách đau đớn như vậy.
Một hậu quả nghiêm trọng khác của sự non kém trong việc khai triển nhị thức
Bộ Binh-Thiết Giáp của viên tư lệnh sư đoàn 9 Bắc Việt là ông ta đã nướng tới 400
sinh mạng trong ngày đầu của chiến dịch An Lộc. Chiến sự tiếp tục diễn ra khốc liệt
thêm hai ngày nữa, tinh thần Quân Nam lên rất cao với khẩu hiệu quyết chiến ‘’Tử
thủ hay là chết’’. Trong ngày 15.4 Quân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh hạ thêm được 11 chiếc
T-54 nữa. Một chiếc T-54 chạy đến phía trước hầm Chuẩn Tướng Hưng liền khạc
đạn thẳng vào, làm bị thương một Sĩ Quan Ban 3 Hành Quân và vài Sĩ Quan Tham
Mưu khác. Chuẩn Tướng Hưng may mắn vô sự. Trong hầm Chuẩn Tướng Hưng
còn có Ðại Tá Trần Văn Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long, Chỉ Huy Lực Lượng Ðịa
Phương Quân. Ngoài ra còn có Ðại Tá Lê Quang Lưỡng, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn
1 Dù và Trung Tá Phan Văn Huấn, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù
cùng tham chiến. Thêm sự có mặt của Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ. Những con mãnh Hổ
Bình Long, Năm vị Chiến Tướng kiệt xuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ
một thời gian ngắn sau chiến thắng, Ðại Tá Trần Văn Nhựt cũng được vinh thăng
Chuẩn Tướng, và được điều về làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh ngoài Quân Khu I.
Ðại Tá Lê Quang Lưỡng được vinh thăng Chuẩn Tướng, đảm nhiệm Tư Lệnh Sư
Ðoàn Nhảy Dù. Trung Tá Phan Văn Huấn được vinh thăng Ðại Tá và vẫn tiếp tục Chỉ
Huy Liên Ðoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù cho đến ngày cuối cùng. Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ
được tín nhiệm trong Chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Ðại Tá Mạch Văn
Trường được đề bạt lên nắm Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 5 Bộ binh, rồi sau này trở thành
Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
Tổn thất nặng nề trong cuộc tấn công lần thứ nhất ngày 13.4.1972 kéo dài
qua ngày 16.4.1972, với 23 xe tăng bị bắn cháy, buộc quân bắc cộng phải ngưng
giao chiến trong những ngày kế tiếp. Trong khi chờ đợi sư đoàn 9 Bắc Việt tái tổ
chức đội hình, sư đoàn 7 Bắc Việt và sư đoàn 5 Bắc Việt được lệnh điều quân tấn
công Lữ Ðoàn 1 Dù tại Ðồi 169 và Ðồi Gió. Ðịch quân cần những điểm cao chiến
lược này để quan sát Thị Xã An Lộc và thiết trí đại pháo dội vào Thành Phố. Nhổ
được những Căn Cứ này, cộng quân sẽ kiểm soát được Khu Vực phía Nam Thị Xã,
yểm trợ cho các trung đoàn của sư đoàn 7 Bắc Việt chốt chặn trên Quốc Lộ 13
không cho các Ðơn Vị của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh và Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Việt Nam
Cộng Hòa lên giải cứu An Lộc. Ngày 18.4.1972, địch quân tung hai trung đoàn 275
và 141 với 6 chiếc T-54 yểm trợ tấn công Quân Mũ Ðỏ dữ dội. Tiểu đoàn 6 Dù trên
Ðồi 169 chiến đấu dũng mãnh, bắn cháy hết 6 chiếc T-54, nhưng vẫn buộc phải phá
hủy những khẩu 105 ly và triệt thoái. Hai Ðại Ðội Dù và Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 1 Dù rút
6
Ngày 22.4 địch toan chuyển quân vòng đánh thốc lên từ hướng Nam nhưng
đụng phải các công sự phòng thủ dày đặc của hai Tiểu Ðoàn Dù thuộc Lữ Ðoàn 1
Nhảy Dù thiết trí chằng chịt trong rừng cao su. Cộng quân lại... Rùng rùng kéo lên
hướng Bắc và hướng Tây. Ngày 25.4.1972 Bệnh Viện duy nhất của An Lộc bị trúng
đạn pháo và bị tê liệt hoàn toàn. Cuộc pháo kích lên Bịnh Viện nằm trong tính toán
độc ác của quân cộng. Chúng muốn giết càng nhiều Chiến Binh và thường dân bị kẹt
trong An Lộc để gây bầu không khí chết chóc và kinh hoàng, tác động lên tinh thần
chiến đấu của quân phòng thủ. Người dân An Lộc còn sống sót sau cơn lửa binh sẽ
nhớ mãi mối thương đau này. Có tổng cộng hơn 6.00 người vừa Chiến Thương vừa
thường dân nằm điều trị tại Bệnh Viện tử vong vì pháo dập xuống. Thường dân và
Chiến Thương của Quân Ta kể từ giây phút đó ai bị thương ở đâu đành cắn răng
nằm ở đó chờ Chiến Sĩ Quân Y của ta đến băng bó và chờ tản thương. Trong lịch
sử chiến tranh Thế Giới, chưa có một Ðội Quân nào nỡ nhẫn tâm bắn hạ phi cơ tải
thương. Nhưng tại nước Việt Nam này, có một đội quân cao rao công lý nhưng bắn
hạ tất cả những gì được coi là biểu trưng cho nhân đạo. Tất cả các máy bay mang
dấu hiệu tản thương hình thập tự đỏ của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ
đều bị cộng quân bắn hạ không thương tiếc. Thây người chết vì không được cho di
tản chữa trị đã chất chồng và sình thúi khủng khiếp. Dưới những cơn hỏa pháo kinh
hồn, Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh vẫn phải đau đớn đào cho những oan hồn ấy một
nấm mồ tập thể. Hết sức đau xót, giữa những khoảng khắc ngắn ngủi ngưng nghỉ
của pháo địch, Chiến Sĩ An Lộc hối hả đào hố chôn xác Ðồng Ðội, những nấm mồ
chưa kịp lấp đầy đất lại bị pháo giặc cày xới lên thảm thương. Pháo địch dứt, Quân
Ta lại xông ra khom lưng đào hố mai táng cho những người đã chết. Con suối ngoài
rìa Thành Phố là nguồn cung cấp nước cho Quân dân An Lộc đã chứng kiến nhiều
cái chết thê thảm của dân chúng và Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những
người tìm cách men đến suối đều bị quân cộng bắn chết. Có một Sĩ Quan trong Bộ
Tham Mưu của Chuẩn Tướng Hưng xuống suối tắm bị việt cộng bắn sẻ nằm chết
bên bờ suối. Nhận được tin, Chuẩn Tướng Hưng khiển trách các Sĩ Quan Tham
Mưu: ‘’Ai cho phép mấy ông ra đó tắm, mấy tháng nay tôi không tắm mà có sao
đâu’’.
Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một Sĩ
Quan chiến đấu trên chiến trường miền Tây, và được xưng tụng là một trong những
con mãnh hổ dũng cảm nhất. Từ chức vụ Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 31
Bộ Binh thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư
Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Bị quân giặc bao vây trùng điệp, ngày đêm bị hàng chục
ngàn quả đạn pháo giặc liên tục dội xuống, nhưng không biết nhờ phép nhiệm mầu
nào mà chiếc hầm chỉ huy không bị trúng một quả nào. Sự kỳ diệu này còn xảy ra
cho chiếc hầm của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại
chiến trường Kontum, giúp Chuẩn Tướng Bá đánh thắng quân số ba sư đoàn địch.
Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà Chiến Sĩ Tử Thủ An Lộc ngưỡng mộ người
Tư Lệnh của họ, là Chiến Sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính áo thun màu ô
liu, tay xách cây M16 như bất cứ người Lính Khinh Binh nào. Ông làm việc trung
bình 20/24 giờ một ngày bên chiếc đèn mù mờ ánh sáng, chỉ ngã lưng trên chiếc ghế
bố nhà binh chừng vài tiếng đồng hồ trong chiếc hầm khích thước 4mx10m chen
chúc hàng chục Sĩ Quan Tham Mưu và Chỉ Huy các cấp. Chuẩn Tướng Hưng là
người biết lo xa, ông đã cho mang vào hầm ba máy phát điện nhưng chỉ sử dụng
một máy, ưu tiên cho hệ thống truyền tin và chỉ huy siêu tần số, chỉ một bóng đèn
7
Phi Trường mất, Bệnh viện bị phá hủy, tiếp liệu cạn kiệt buộc Không Quân
Việt Nam Cộng Hòa và Không Lực Mỹ làm việc cật lực để giải cứu. Những chiếc dù
được khoét lỗ trên đỉnh được thả từ cao độ an toàn cho phi cơ sẽ rơi xuống với vận
tốc rất lớn, không bọc gió nhiều như dù thường và không bị gió đẩy bay tạt ra ngoài
Khu vực thả. Một số dù tiếp liệu đều rơi vào được trong Sân vận động. Tuy vậy,
muốn chạy ra kéo dù vào công sự lại là một vẫn đề... nhức nhối khác nữa. Ðịch đã
ăn không được thì phá cho... hôi, chúng cứ từng tưng pháo kích liên tục lên trên Sân
vận động ra rả cả ngày lẫn đêm. Rồi một khi có những Chiến Sĩ liều mạng nhào ra
lấy được tiếp liệu, việc phân phối thực phẩm, thuốc men, đạn dược cho gần 10.000
nhân khẩu Quân dân càng là một công tác điên đầu. Mãi sau Chuẩn Tướng Hưng
mới chỉ định Ðại Tá Lê Quang Lưỡng, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 Dù chịu trách
nhiệm chia chác ‘’chiến lợi phẩm’’. Từ đó bất cứ Quân hay dân đều được Quân Dù
chia cho số lượng đồng đều để cùng nhau tồn tại, chờ giờ phản công diệt địch.
Chính là trong lúc dầu sôi lửa bỏng như vậy, người dân An Lộc nói riêng và người
hậu phương nói chung mới thấm thía và nghiêng mình cảm xúc trước tấm lòng cao
cả của người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ có 3.000 Chiến binh, không được nghỉ
ngơi, không có lấy một khoảng khắc để chợp mắt, miệng khô cổ khát, người này đái
cho người kia uống, bụng đói, vết thương lở lói, vậy mà người Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5
Bộ Binh của chúng ta vẫn giữ vững tấm lòng son, quyết không buông súng đầu
hàng. Còn gì có thể kể ra thêm nữa để ca ngợi các anh? Chưa bao giờ tình Quân
dân được thể hiện rõ rệt và dạt dào ý nghiã như ở bên bờ Sông Mỹ Chánh, ở miền
Tây mù Kontum, và ngay ở đây, trong Thành Phố An Lộc. Ðể đền đáp tấm lòng của
người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhiều đồng bào An Lộc còn để dành một ít thực
phẩm tươi và rau cải, đều đem đến tặng lại cho Quân Ta. Trên khuôn mặt đen nhẻm
vì nắng gió, bụi đất của Chiến Sĩ, đồng bào đã nghẹn ngào nhìn thấy những giọt
nước mắt lăn tròn hay những nụ cười cảm kích phô hàm răng trắng nhỡn.
Kế hoạch mới tấn công An Lộc được một viên Trung Úy hồi chánh viên thuộc
sư đoàn 9 bộ binh tiết lộ. Theo lời kể của anh thì viên tư lệnh sư đoàn 9 Bắc Việt đã
bị Cục R khiển trách nặng nề vì gã chót lỡ dại hứa ẩu là sẽ chiếm An Lộc trong vòng
10 ngày, làm đài phát thanh Hà Nội bị hố to, khi loan tin chắc ăn như bắp là An Lộc
đã được giải phóng và là thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Càng ngỗ ngáo
hơn, đài việt cộng còn loan báo ngày 20.4.1972 là ngày ra mắt của cái gọi là ‘’Chánh
phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam’’. Trước đó, các Chiến Sĩ Biệt Ðộng Quân phục
kích địch tại Ðồn Tống Lê Chân đã lấy được trên xác chết một cán binh Bắc Việt
‘’bản tự tình khúc’’ của sư đoàn 9 bộ binh gởi về Cục R. Rằng sở dĩ ông ta không
hoàn thành sứ mạng vì pháo đài bay B-52 đánh bom dữ tợn quá, tiếp liệu không điều
đến kịp và Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hòa cứng đầu cứng cổ không
chịu hàng. Gã tư lệnh sư đoàn 5 Bắc Việt thấy đối phương bị thất sủng bèn gởi điện
văn về được thay thế sư đoàn 9 Bắc Việt và hứa là chắc chắn đánh chiếm An Lộc
trong vòng hai ngày. Nhờ vậy Phóng viên chiến trường trong và ngoài nước đã hồi
hộp theo dõi cuộc quyết chiến giữa hai Sư Ðoàn cùng mang tên số 5 của Quân Ðội
Việt Nam Cộng Hòa và quân bắc cộng. Mặt nam của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh của ta
đánh rất rát từ Chơn Thành lên để giải tỏa Quốc Lộ 13, buộc sư đoàn 7 Bắc Việt
phải tung ra hai trung đoàn đóng chốt tại Khu vực Tàu Ô mới cầm chân được. Nhờ
sự có mặt của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của ta nhẹ được gánh nặng
8
Ngày 11.5.1972 trận đại chiến giữa hai Sư Ðoàn 5 của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa và Bắc Việt khai diễn. Pháo địch cường kích lên tất cả mọi chiến tuyến
của Quân Ta, bộ binh địch điên cuồng vác AK-47 và B-40 xông lên như những cơn
sóng cuồn cuộn. Bọn tướng lãnh sư đoàn giặc đã học được một vài bài học vỡ lòng
về nhị thức Bộ Binh-Thiết giáp, nên lần này chúng điều động khá hơn trận thứ nhất
ngày 13.4.1972. Pháo Binh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, Dù của ta cũng bắn trả đì đùng như
trong ngày tận thế. Sư đoàn 5 Bắc Việt từ hướng chính Tây, sư đoàn 9 Bắc Việt từ
hướng Tây-Bắc với những chiếc T-54 ầm ầm cán lên vòng rào phòng thủ của Quân
Ta làm thành mũi nhọn đột phá cho bộ binh xông vào. Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh,
Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, Dù, Biệt Cách Dù, Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân đứng
sổng lưng bắn hỏa tiễn M-72 thẳng vào tăng địch. Nhiều chiếc nổ tung hay đứt xích
nằm gục ngay sát chu vi chiến hào phòng thủ. Một chiếc T-54 hoảng kinh quay tới
quay lui thế nào không biết làm chiếc tăng bị lật qua một bên, xa đoàn mở nắp pháo
tháp bỏ chạy về phía sau. Bức hình chiếc T-54 bị lật nghiêng được đăng tải trên báo
toàn Thế Giới, như là một biểu tượng thảm bại thê thảm của bắc quân. Tuy nhiên
viên tư lệnh sư đoàn 5 Bắc Việt lỡ đem cái đầu ra hứa với cấp trên, gã nhất quyết
xua tất cả bộ binh và chiến xa tấn công khắp chiến tuyến của ta. Cộng quân đánh dữ
quá, có nhiều vị trí của Quân Ta bị thủng, tăng địch biết rõ hầm chỉ huy của Tướng
Hưng và Ðại Tá Nhựt, chúng chạy ào vào và nả súng vào hầm. Nhưng những Chiến
Sĩ gan dạ nhất của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh với nhiều kinh nghiệm bắn M-72 trong vòng
một tháng qua, đã dũng cảm bắn cháy nhiều chiếc ngay trước cửa hầm Chuẩn
Tướng Hưng. Những chiếc xe cháy đen khét lẹt nằm câm nín nhục nhã khắp Phố xá
An Lộc. Mặt Ðông Nam của An Lộc có nguy cơ bị địch tràn ngập. Các Chiến Sĩ
Truyền Tin Sư Ðoàn 5 Bộ Binh vẫn bảo đảm rất tốt hệ thống liên lạc. Tướng Hưng
tức khắc điều động một Tiểu Ðoàn Dù ra tăng viện. Quân Mũ đỏ của ta xông lên
trám chỗ thủng và đánh hăng quá, tăng địch bị bắn cháy nhiều chiếc. Sư Ðoàn 5 Bộ
Binh nhất định không chịu lui xuống. Suốt ngày 11.5 sáng ngày 12.5, địch tổ chức 30
đợt tấn công dữ dội lên An Lộc. Quân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh cũng nhất định không chịu
nhường một tấc đất nào. Bom đạn, khói lửa, mùi diêm sinh khét lẹt, bụi bốc mù mịt,
thịt xương vung vãi, tiếng hò hét xung phong sát phạt của hai bên vang rền một thứ
âm thanh hỗn độn và rùng rợn. Tại địa điểm trấn thủ của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù,
bọn tướng tá quân bắc cộng đã nướng trọn một trung đoàn của sư đoàn 9 Bắc Việt,
đến người cuối cùng. Kể từ giây phút đó vị trí của Biệt Cách Dù hoàn toàn yên tĩnh.
Sang đến ngày 13 tháng 5 thì cộng quân đã bị Quân Ta đẩy lùi ra khỏi chiến tuyến.
Ðịch cố tổ chức tấn công một cách yếu ớt lần nữa trong ngày 14.5.1972, nhưng vẫn
bị đánh lui. Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa chỗi dậy từ chiến hào
xung phong lên mở cuộc phản công, cán binh sư đoàn 5 Bắc Việt địch ôm súng bỏ
chạy tán loạn ra khỏi những vị trí trong Thành Phố bị chúng chiếm trong một tháng
qua. Cuộc đại chiến cuối cùng này đã buộc địch quân trả giá quá đắt. Coi như trung
đoàn 203 chiến xa Bắc Việt bị xóa sổ, tăng địch nổ cháy đen nằm ngổn ngang khắp
Thành Phố, ngay trước hầm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh cũng có mấy chiếc. Ba
sư đoàn 5, 7 và 9 Bắc Việt cố gắng tập trung lực lượng, tái tổ chức vội vã, khuấy rỗi
và bao vây An Lộc sang đến tháng 6.1972, nhưng tình hình Thành Phố ngày càng
sáng sủa thêm lên, tinh thần Binh Sĩ lên rất cao. Quân Ta không những phòng thủ
9
Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III & Quân Khu III Nguyễn Văn Minh hân
hoan loan báo tin chiến thắng An Lộc. Ngày 18.6.1972 dân chúng miền Nam được
nghe Xướng Ngôn Viên Ðài Phát Thanh Sài Gòn và Ðài Phát Thanh Quân Ðội bằng
giọng nghẹt mũi cảm xúc thông báo Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và các Lực lượng thống
thuộc đã chiến thắng. An Lộc được giữ vững. An Lộc Anh Dũng. Lữ Ðoàn Biệt Cách
Nhảy Dù chưa kịp tận hưởng hương vị chiến thắng, chưa kịp nhìn thấy những đàn
em bé chạy tràn tung tăng ra ngoài Ðường phố reo hò nắm tay, ôm chân Chiến Sĩ ta,
đuổi bắt nhau ầm ĩ trên những chiếc chiến xa địch cháy đen nằm câm nín buồn
thảm, đã phải xốc ba lô lên vai chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Quảng Trị. Các Chiến
Sĩ Mũ Xanh Biệt Cách Nhảy Dù trong khoảng khắc đã biến đâu mất dạng trên những
chiếc trực thăng quạt cánh phành phạch, khuất dần sau những cụm mây trắng ở
cuối trời. Các anh đã trở về Ðơn vị và sẵn sàng lao mình vào những rừng xanh núi
thẳm, âm thầm từng Toán ba người một đi tạo mùa Xuân cho Dân Tộc. Người dân
An Lộc vinh danh các anh bằng hai câu thơ:
An Lộc Ðịa Sử Ghi Chiến Tích
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân
Hai câu thơ mà đã lưu truyền trong sử sách này do Cô Giáo Pha tặng cho người
Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cô bị thương vì đạn pháo giặc và được các anh
Biệt Cách Dù cứu đem vào Bệnh Viện. Mỗi chiều cô giáo trẻ cứ nhất định xin các
anh Mũ Xanh khiêng cô ra ngoài cho cô nhìn được Thành Phố An Lộc ngày càng đổ
nát thảm thê. Một cái Nghĩa Trang nhỏ với những mộ bia đơn sơ nhưng nồng nàn
tình Chiến Hữu do các Chiến Binh Biệt Cách Dù thiết lập gần kế bên để an táng
những Chiến Sĩ Vị Quốc Vong Thân đã làm cho Cô Giáo xúc động nghẹn ngào. Từ
trái tim vỡ nát ứa máu vì thương cảm những người Lính Vô Danh ấy, cô đã thốt lên
hai câu thơ bất diệt.
Ngày 7.7.1972 Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và Trung
Tướng Nguyễn Văn Minh bất ngờ hạ cánh trực thăng tại Sân Cờ Bộ Tư Lệnh Sư
Ðoàn 5 Bộ Binh. Các Chiến Binh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tung nón reo hò chào mừng vị
Cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của họ trong thập niên 60, lúc đó là Ðại Tá Nguyễn
Văn Thiệu. Tổng Thống Thiệu ứng khẩu một bài diễn văn ngắn khen ngợi tinh thần
chiến đấu của tất cả Quân Dân tại An Lộc. Ông trịnh trọng tuyên bố, để tưởng
thưởng công lao xương máu của Chiến Sĩ An Lộc, tất cả các Chiến Sĩ có mặt tại An
Lộc đều được vinh thăng một cấp, bất kể thuộc Binh Chủng Tiếp Vận Không Tác
Chiến hay Binh Chủng Tác Chiến. Lại một màn reo hò vang dậy trời đất của Chiến Sĩ
ta, trong khi Tổng Thống Thiệu trân trọng gắn lên ngực Chuẩn Tướng Hưng chiếc
huy chương cao quý Ðệ Tam Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương.
Năm 1974 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng từ giã các Chiến Binh Sư Ðoàn 5 Bộ
Binh đồng lao cộng khổ của An Lộc Anh Dũng về trình diện Thiếu Tướng Nguyễn
Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV & Quân Khu IV với Chức vụ quan trọng Tư Lệnh
Phó. Dưới sự chăm sóc của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng Quân Ðoàn
IV gồm các Sư Ðoàn 7, 9, 21 Bộ Binh. Lực Lượng Ðịa Phương Quân-Nghĩa Quân đã
đem lại những ngày an bình cho miền Tây. Hai vị Dũng Tướng đã là một cặp Chiến
binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái
10
11
Những người Anh Hùng của Dân Tộc Việt Nam, những Chiến Sĩ Dũng Mãnh
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa suốt đời tận tụy cho Nước non, đã hiến dâng cho
Tổ Quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình. Tên tuổi và tấm
gương chiến đấu của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng mãi mãi còn ghi trong Sử Sách và
được Dân Tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.

Posted: Sun Oct 03, 2010 5:43 pm
by khieulong
Image


Pleiku - Phố Núi
Trần Ngọc Nguyên Vũ

(Để gởi về Thiếu Tá Phong, Thiếu Tá Long, Đại Úy Bình, Đại Uý Chánh, Trung Uý Hậu, Thủy, Cầu, Trung Uý Quán
và những người của một thời ly-loạn, đã từng gắn bó đời mình với vùng trời Tây-Nguyên mịt mù khói lửa.)

***

PleiKu bây giờ trời nắng hay mưa
Cho tôi gởi lời thăm hỏi
Phố xá quanh co
Thương nhớ mấy cho vừa
Nhớ những tháng ngày cơn mưa phùn con đường lầy đất đỏ
Quán nhỏ thưa người
Dăm lon bia đắng giọt sầu dăng
Đêm Phượng-Hoàng ánh đèn khuya hiu-hắt
Điệu nhạc nào đưa nhau lạc bước tới cung Hằng.
***

Mai này ai lại ra biên-giới
Đạp sóng PoKor vượt núi rừng
Đường lên Lệ-Khánh xa thăm-thẳm
Có thấy thương thầm thị-trấn sau lưng

Có nghe gió thoảng lời em gởi
Khi nào về ghé lại PleiKu
Xin ngắt giùm em chùm phượng-vỹ
Hong khô môi má đẫm sương mù.
Chợt buổi chiều nao tung cát bụi
Gặp gỡ nhau đây lũ bạn giang-hồ
Lôi-Hổ Kontum
Biệt-Động-Quân biên-trấn
Mấy thằng lính Không-Quân
An-Ninh Khu-Trục Vận-Tải Trực-Thăng Quan-Sát
Cùng mấy thằng Biệt-Kích B50
Thêm toán Nhẩy-Dù vừa đổ tới
Nắm tay nhau cười nghiêng-ngả đất trời
Phố núi bừng lên đêm Cao-Nguyên mở hội
Tia nhìn bốc lửa dáng em chơi vơi…
Trượng-phu lòng cũng mềm tâm-sự
Dốc cạn men cay ngất-ngưởng quên đời
Ngày mai vào trận ai nào biết
Tráng sỹ quay cuồng bom đạn rơi
Xưa kia chỉ một lần sông Dịch
Mà cả triều Yên đưa tiếc thương
Ta sẽ qua sông bao lần nữa
Chỉ mắt em thôi khuất nẻo đường.
Ở đây gió núi mưa rừng đổ
Người đến rồi đi như bóng mây
Bỏ lại những chiều nơi phố thị
Thung lũng buồn thung lũng ngóng mưa bay.

Posted: Thu Oct 07, 2010 3:19 am
by thienthanh

Image

Ðại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ VNCH bế mạc

Bài và hình: Lưu Sơn/Việt Herald
WESTMINSTER, California: Ngày Chủ Nhật 3 tháng 10, Ðại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bế mạc sau phần bầu Hội Ðồng Ðiều Hành. Ðại Hội kỳ này đã giao trách nhiệm điều hành Hội Ðồng Ðiều Hành cho Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Trong ngày Thứ Bảy 2 tháng 10, Ðại Hội đã long trọng khai mạc tại hội trường thành phố Westminster với sự hiện diện của Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và một số các tướng lãnh cao cấp của VNCH như Ðô Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại cùng các hội đoàn.
Trong ngày khai mạc Ðại Hội đã bầu xong vị Chủ Tịch Hội Ðồng Ðại Diện Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại được tín nhiệm với đại đa số phiếu.
Image
Sáng ngày Chủ Nhật một buổi lễ chào Quốc Kỳ được long trọng cử hành ngay Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào lúc 10 giờ sáng, ông bà Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cùng với một số quan khách danh dự đã có mặt dưới chân Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, trên hàng ghế danh dự có Ðô Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, ông bà Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh.
Image
Các vị dân cử cũng góp mặt thật đầy đủ trong buổi sáng này như Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa, bà Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez, Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn, Nghị Viên Tạ Ðức Trí, Chủ Tịch Cộng Ðồng Việt Nam Tự Do Nam Cali Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove, các ứng cử viên Bruce Trần, Phú Nguyễn, Tony Lâm, Al Mahadi và hàng trăm quan khách, cựu chiến sĩ QLVNCH.
Image
Sau nghi thức chào quốc kỳ Việt Mỹ và phút mặc niệm, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã cùng một số quan khách danh dự tiến lên khán đài để đặt vòng hoa trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ.



Ðại Tướng đã phát biểu một bài diễn văn ngắn gọn: “Thưa các chiến hữu, trong các thập niên 50, 60 và 70 các anh đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam Tự Do, biết bao nhiêu xương máu đã hy sinh dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ này biểu hiệu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Tháng 4 năm 75 lợi dụng tình thế chính trị rối ren của Ðồng Minh với các phong trào phản chiến trong thập niên 60, 70 Cộng Sản Bắc Việt với sự giúp đỡ triệt để của khối Cộng Sản Quốc Tế đã dốc toàn lực xâm chiếm miền Nam Tự Do, xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa nhưng cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu đều sụp đổ, Liên Xô cộng sản đã không còn ở trên bản đồ thế giới nửa và Tự Do Dân Chủ đã trở lại. Ðài Tưởng Niệm này ghi lại sự hy sinh cao cả cảu các anh và các chiến sĩ Ðồng Minh Hoa Kỳ cùng với các nước bạn như Nam Hàn, Úc Châu, Tân Tây Lan và Thái Lan, những sự hy sinh này không phải là vô ích các anh đã để lại một di sản mà các thế hệ mai sau sẽ không bao giờ quên. Di sản đó là lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Hôm nay một lần nữa tôi vinh danh các anh những người còn sống cũng như những người đã ra đi là chiến sĩ anh hùng của lý tưởng Tự Do và Dân Chủ, nhân dịp này tôi xin gởi lời chào và thăm hỏi của tôi đến từng gia đình của các chiến hữu trong tập thể các chiến sĩ VNCH hải ngoại. Xin cám ơn tất cả.”
Image
Phu nhân Ðại Tướng đã lên đọc lại bài diễn văn bằng Anh ngữ cho các quan khách ngoại quốc, lễ chào cờ và đặt vòng hoa kết thúc vào lúc 11 giờ.
Trả lời phỏng vấn của nhật báo Việt Herald, Ông Phan Tấn Ngưu Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ cho biết; “Thật sự tôi cũng rất ngạc nhiên khi mà tôi biết được Ðại Tướng quyết định đến với Ðại Hội này, thật sự ra đại hội đây chỉ là một điều kiện để Ðại Tướng đến với anh em, chứ trong vấn đề của tập thể Ðại Tướng hoàn toàn không có tham dự gì, những vai trò hay chức vụ gì mà trước đây tôi đã trả lời rồi, tuy nhiên Ðại Tướng muốn sẵn dịp này để đến nói chuyện với anh em chiến sĩ của chúng tôi với những lời Ðại Tướng vừa phát biểu đã cám ơn các anh em chiến sĩ và gia đình các anh hùng đó, cảm nghĩ của tôi là thật sự hơi bất ngờ với tư cách trưởng ban tổ chức khi tôi biết Ðại Tướng đến.”
Từ thành phố Seattle tiểu bang Washington, cựu Ðại Úy phi công trực thăng Trần Phước Bền là người phi công lái chiếc trực thăng số 2 của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đến tham dự buổi chào cờ lịch sử này, anh cho biết: “Nhân dịp về Cali tôi rất hân hạnh tham dự ngày chào cờ này, có dịp gặp lại các niên trưởng và bạn bè, thấy anh em trong tập thể chiến sĩ tổ chức lễ này tại Tượng Ðài tôi rất xúc động và nghĩ đến cuộc chiến vừa qua mình bị bức tử và những anh em đồng đội đã hy sinh một cách tức tưởi, hy vọng ngày nào đó sẽ mang lại hòa bình tự do dân chủ cho đất nước.”

Buổi chiều cùng ngày, Ðại Hội lại tiếp tục và kết quả đã quyết định sửa đổi điều lệ hiện hành và bầu các chức vụ đang khiếm khuyết.
Một thông cáo báo chí được vị Chủ Tịch Hội Ðồng Ðại Diện phân phát đến giới truyền thông và báo chí có mặt, chiều ngày Chủ Nhật trong buổi dạ tiệc tại nhà hàng Mon Cheri sẽ có một tuyên cáo về đại cương và đường lối của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH. (L.S.)
Image

Thông Cáo Báo Chí
Tiếp theo Ðại Hội Toàn Quân năm 2003, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH được thành lập và hoạt động từ đó đến nay.
Từ quan niệm chỉ huy thống nhất để hợp sức mạnh lúc ban đầu. Cho đến hôm nay, sau 7 năm, vẫn còn cần có những thay đổi cần thiết từ tổ chức cho đến nhân sự, hầu thích hợp với từng giai đoạn trưởng thành của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, cũng như tình hình và diễn biến trong công cuộc đấu tranh vì Tự Do, Dân Chủ, của toàn dân quốc nội đã và đang xảy ra trên khắp mọi miền đất nước.

Ðó là một trong những lý do đưa đến đại hội trong 3 ngày, 1, 2 và 3 tháng 10 vừa qua tại thành phố Westminster, California.
Ðại hội này đã quy tụ được sự tham dự của các tổng hội, liên hội, hội đoàn… khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra còn có sự hiện diện của quý niên trưởng, tướng lãnh, quý sĩ quan cao cấp trong các quân binh chủng, các quân trường, lực lượng cảnh sát quốc gia, cũng như bán quân sự, là những thành phần đã đích thực đóng góp xương máu trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975. Ðặc biệt, đại hội này được sự tham dự của đại tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng và cựu tổng trưởng quốc phòng VNCH.

Sau ba ngày thảo luận, đại hội đã quyết định:

1) Sửa đổi điều lệ hiện hành, có thêm Hội Ðồng Ðiều Hành để liên lạc và kết hợp các đơn vị, từ tổng hội, liên hội, và hội đoàn… hầu thể hiện tính đồng nhất từ tổ chức cho đến hành động. Sự kết hợp không đồng nghĩa với sự thống nhất chỉ huy. Các đơn vị có quyền đóng góp ý kiến, thảo luận, và cuối cùng đạt được kết quả chung mà vị chủ tịch điều hành phải thi hành kết quả đó. Các đơn vị vẫn giữ tư cách độc lập của riêng mình mà không bị chi phối khi hoạt động chung trong tập thể chiến sĩ.
2) Bầu các chức vụ mới hoặc đang khiếm khuyết theo tổ chức sửa đổi:
2.1/ Chủ tịch Hội Ðồng Ðại Diện: NT. HỒ VĂN KỲ THOẠI
2.2/ Hội Ðồng Ðiều Hành: Sau khi thảo luận, đại hội đã quyết định giao việc điều hành Hội Ðồng cho một đơn vị như tổng hội, liên hội, hoặc một trung tâm điều hợp địa phương. Kết quả, đại hội đã bầu cho:
TỔNG HỘI CỰU SVSQ TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm điều hành Hội Ðồng Ðiều Hành Tập Thể Chiến Sĩ VNCH
Nhiệm kỳ hoạt động cho các tổ chức của tập thể là 3 năm, và được bắt đầu từ tháng 10 năm 2010, theo tinh thần điều hành của Bản Ðiều Lệ mới sửa đổi.


Làm tại Little Saigon ngày 3 tháng 10 năm 2010
TM. TẬP THỂ CHIẾN SĨ VNCH HẢI NGOẠI
CHỦ TỊCH HỘI ÐỒNG ÐẠI DIỆN


Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

Posted: Sat Oct 09, 2010 12:46 am
by vuphong
GIỮA HAI BỜ SINH TỬ

Nguyễn Trần Diệu Hương
Lâu lâu nhận được những cái E mail của Ông, nhìn giờ gởi là hai hay ba giờ sáng, không nói ra nhưng chúng tôi đều hiểu Ông vẫn còn giữ thói quen thức dậy mỗi hai tiếng mỗi đêm check up tình hình sức khỏe của Bà. Chỉ cần khoảng ba tháng liên tục làm một hoạt động nào đó, đúng giờ, đồng hồ sinh học trong cơ thể con người quen với một thời khóa biểu cố định, Trong trường hợp này, Ông đã chăm sóc Bà, triền miên trong bệnh Alzheimer từ cả thập niên thì chắc hẳn là giấc ngủ của ông tự động chỉ kéo dài mỗi hai tiếng, ông bật dậy, tỉnh táo đi quanh trong nhà, dù là không còn có Bà để được chăm sóc nhau ở đoạn cuối cuộc đời.

Ông đã dốc hết tâm trí vào việc chăm sóc Bà, từ việc đọc những tài liệu về bệnh Alzheimer (đến bây giờ Y học vẫn thua cuộc trước căn bệnh mất trí nhớ này) đến việc dành hết thì giờ ở cạnh Bà, lo từng muỗng cháo đến từng hớp nước. Mỗi năm vài lần, ghé qua thăm Ông, nhìn cảnh Ông vào ra trong căn nhà tĩnh lặng, không có tiếng nói, không có tiếng cười, dù vẫn thường xuyên có hai vợ chồng, nhìn Bà gầy như chiếc lá trên giường bệnh, rồi nhìn những hình ảnh của Ông trong quân phục thời còn nổi trôi trên các chiến trận từ Cà Mâu đến Bến Hải, tôi vẫn tự hỏi ông đã lo cho hàng ngàn binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến ngày trước và lo cho Bà bây giờ, nỗi lo nào lấy đi nhiều tâm lực của ông hơn?

Chỉ ở cách nhà ông khoảng 30 miles nhưng tôi được tin Bà vào bệnh viện (và mãi mãi không bao giờ về) qua đường dây điện thoại viễn liên từ Đông sang Tây của nước Mỹ từ một đồng đội của Ông ngày xưa (và là một người bạn tù của Ba từ thời gian khổ ở trại tù Nam Hà ngoài Bắc cuối thập niên 70).

Chúng tôi vào bệnh viện thăm Bà và để hỗ trợ tinh thần cho Ông trong những ngày Bà đứng giữa hai bờ sinh tử. Tôi vốn sợ không khí thoang thoảng mùi Ethanol của bệnh viện, sợ nhìn nỗi đau đớn thể xác của giai đoạn thứ ba trong chu kỳ “sinh lão bệnh tử” của loài người, nên bao giờ vào bệnh viện, dù là đi thăm ai, tôi cũng thường nhờ người “escort” để hỗ trợ tinh thần. Lần vào bệnh viện thăm Bà mùa Đông 2007, có hai người bạn đi cùng đều quý Ông như tôi, và đều là “chuyên gia bệnh viện” nên tôi thấy “ấm lòng chiến sĩ’ hơn, mùi Ethanol dường như bớt nồng nặc hơn. Còn hơn thế, tôi không phải đi lòng vòng tìm chỗ đậu xe như những lần đi thăm người bệnh khác vì một trong hai người bạn có thời làm ở bệnh viện nơi Bà đang điều trị, biết rất rõ “sweet spot”, để đậu xe, và đi tắt vào bệnh viện qua cửa phòng cấp cứu để tôi đỡ bị thấy những nơi đau đớn thể xác rất thật của con người.

Vì vậy, nên đến lúc đứng cạnh giường bệnh của Bà, tôi vẫn còn “bình tĩnh”, đầy đủ tinh thần để quan sát và thấy rõ tình nghĩa phu thê của Ông đối với Bà cảm động, và sâu xa hơn tình nghĩa “một duyên hai nợ âu đành phận” nhiều. Ở cái bảng nhỏ cuối giường có tên người bệnh, có tên Bác Sĩ, Y tá trực trong ngày, Ông viết thêm tên của Ông và số điện thoại liên lạc trong trường hợp khẩn cấp. Ở tuổi ngoài 70, Ông vẫn túc trực ở Bệnh viện bên cạnh Bà từ sáng đến tối, thường là chỉ được ngồi nghỉ chân trên cái ghế nhỏ ở cuối phòng. Ông chỉ chạy về nhà để ăn uống qua loa và làm vệ sinh cá nhân, chợp mắt vài tiếng rồi, lại chạy vào bệnh viện, dù là chỉ để được nhìn bà đã chìm vào hôn mê, mắt luôn nhắm nghiền, đang mỏi mòn thoi thóp giửa hai bờ sinh tử Cô Y tá trực người Phi Luật Tân vào check up Bà vài lần trong ca trực, luôn thấy Ông quẩn quanh bên giường bệnh, chốc chốc lại nhìn cái máy chuyển chất dinh dưỡng lỏng vào cơ thể Bà ở đầu giường, cũng cảm kích trước tinh nghĩa vợ chồng của Ông đối với người bệnh nên chăm sóc Bà chu đáo hơn bệnh nhân ở giường bên kia, cùng phòng với Bà. Người y tá cũng để cho Bà mặc quần áo như ở nhà ( bộ đồ lụa mầu hồng) thay vì yêu cầu Ông đổi quần áo bệnh viện cho Bà. Nguyên tắc của Bệnh viện sau chín giờ tối, thân nhân phải ra về, cần gì thì người bệnh bấm chuông gọi y tá, nhưng vì bà là bệnh nhân Alzheimer nên y tá trực cho các cô con gái của Ông Bà thay phiên nhau ở lại bệnh viện với Mẹ. Ban ngày khi các chị đi làm thì Ông và cô điều dưỡng, người vẫn đến giúp Ông chăm lo cho Bà từ nhiều năm nay ở nhà, vẫn túc trực bên Bà.

Chúng tôi đến thăm Ông Bà, lần này ở Bệnh viện thay vì ở nhà như lần trước, vừa quý Ông về những đóng góp của Ông cho cuộc chiến tranh bảo vệ tự do mà cuối cùng “kẻ xấu đã thắng” như ý kiến của Thượng nghị sĩ John McCain, vừa cảm kích tình nghĩa vợ chồng của Ông Bà, nên đã mang vài thứ thức ăn nhẹ cho Ông, nhưng xem chừng trên giường, người bệnh không ăn uống được vì yếu sức, ở góc chân giường, người trông bệnh cũng chẳng nuốt trôi được thức ăn nào vì lo lắng.

Trong lúc chúng tôi nghe ông kể lại thời khóa biểu thường nhật của ông đảo lộn kể từ ngày Bà vào Bệnh viện, người bạn là Bác sĩ lặng lẽ đến đầu giường, cạnh bên những dây nhỏ chằng chịt, và những biểu đồ bệnh lý để đọc những con số chi chít trên đó, thỉnh thoảng lại nâng tấm mền mỏng của Bệnh viện quan sát những mạch máu trên tay Bà. Anh không nói gi, nhưng chúng tôi có linh cảm những ngày cuối đời của Bà đang được đếm từng ngày.

Còn nhớ hôm đó, giữa mùa Đông, trời mưa tầm tã, tôi phải tập trung tinh thần lái xe, không dám nói chuyện, không dám nghe soft-rock music trên băng tần FM96.5 quen thuộc. Lúc rời bệnh viện, trời đã sụp tối, mặc dù chỉ mới gần sáu giờ chiều. Không phải là dân địa phương, vừa không quen đường, trời vừa tối, lại mưa như trút nước, trời xui đất khiến làm sao thay vì quẹo vào freeway, xe của tôi lại chạy vào ……. một cái nghĩa trang ở ven xa lộ 101, mà tôi cũng không biết cho đến lúc thấy cái bệ nổi, nơi người ta vẫn để quan tài làm lễ trước khi đưa người quá cố về với lòng đất. Cả ba chúng tôi đều thấy đó là “điềm gở” nhưng không dám kể lại cho Ông.

Y như rằng sau đó vài ngày, chúng tôi được tin Bà không còn bị dăng co giữa hai bờ sinh tử mà về hẳn với cõi vĩnh hằng. Tối hôm đó, có dịp nói chuyện với một người bạn rất thân của Ba từ Dallas, cũng là một cựu Sĩ Quan QLVNCH cùng thời với ông, tôi kể cho Bác nghe về chuyện chăm sóc Bà rất tình nghĩa, rất thủy chung của Ông từ cả thập niên qua. Mặc dù không quen Ông, Bác cũng xin số điện thoại của Ông để gọi là chia xe nỗi mất mát không cùng với một người cùng thời, cùng mặc áo lính, cùng một bên chiến tuyến ngày xưa. Mới thấy tình “huynh đệ chi binh” vẫn còn mặc dù hàng ngũ oai hùng của QLVNCH ngày xưa đã bị "xẩy đàn tan nghé" từ một ngày cuối tháng Tư rất buồn của đất nước.

Chúng tôi đặt một vòng hoa gởi đến phúng điếu, mong mầu sắc tươi thắm của những bông hoa sẽ giúp Ông và con cháu thấy cuộc đời đỡ ảm đạm trước đại tang trong đời. Lúc đến viếng Bà lần cuối ờ nhà quàn, chúng tôi mới thấy cả một rừng hoa đến từ những đồng đội ngày xưa, nhất là những người cùng sát cánh bên ông giữa bom đạn năm nào. Có cả những người đích thân bay đến thăm ông từ rất nhiều tiểu bang khác nhau của nước Mỹ rộng lớn. Họ là bạn vong niên, là đồng đội, cùng đơn vị với ông. Có những người không biết nhiều về Ông, nhưng biết đến tiếng tăm của Ông qua chiến thắng hào hùng của QLVNCH nói chung và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến nói riêng ở Cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị năm xưa, cũng đến thăm Ông và tiễn Bà lần cuối đúng với câu “nghĩa tử là nghĩa tận”. Dĩ nhiên, cũng như Ông, đa số họ đều đã bước vào hoàng hôn của đời người, nhưng vẫn không quản ngại thời tiết mùa Đông đang làm băng giá hơn một nửa nước Mỹ, không ngần ngại bỏ ra một số tiền không nhỏ, đối với thu nhập của một “senior citizen”, cho một cái vé máy bay round trip chỉ mua trước giờ bay không đến một ngày. Tất cả những điều đó hẳn đã an ủi Ông rất nhiều, đã đền bù cho Ông về những gian khổ, những hiểm nguy ông đã chịu đựng ở chiến trường năm xưa.


Giữa những tràng hoa phúng điếu tươi thắm, Bà nằm an nghỉ trong chiếc áo dài Nhung mầu tím đỏ, mà Bà rất thích thuở còn khỏe mạnh, mặt cũng tươi thắm hồng hào như vẫn nằm thiêm thiếp ở nhà từ bao năm qua.

Ngày đưa Bà về lòng đất, chúng tôi phải đậu xe rất xa, và đi bộ giữa trời lấm tấm mưa phùn mùa đông vì đồng đội Ông, những cựu chiến sĩ TQLC mắt sáng, môi tươi ngày xưa, bây giờ gối đã mỏi, chân đã mòn, tóc đã điểm mầu sương khói, vẫn tụ tập về rất đông đủ, như họ vẫn sát cánh bên Ông giữa bom đạn năm xưa. Tôi tự nghĩ nếu tất cả họ đều mặc quân phục, chắc là rất giống cảnh đám tang ở Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa thời trước tháng 4 năm 1975. Nhưng điều làm chúng tôi cảm động nhất là Ông, người Sĩ quan QLVNCH năm xưa trong mầu áo hoa rừng, bây giờ trong mầu áo đen của tang phục, đã nghẹn ngào nấc lên nhiều lần khi đọc điếu văn tiễn người bạn đời về bên kia thế giới.

Chúng tôi vẫn tự hỏi, phải chăng ngoài nước mắt khóc thương Bà vĩnh viễn ra đi, còn có nước mắt Ông đã nén vào lòng năm xưa khi thấy đồng đội của mình bị dằng co giữa hai bờ sinh tử, giữa súng đạn vô tình ở chiến trường dạo trước? Dù là nước mắt nào đi nữa, bên cạnh mất mát không thể nào bù đắp được của ông, tình đồng đội là một niềm an ủi rất lớn giúp Ông đứng vững được trong quảng đời còn lại một mình, vĩnh viễn không còn có Bà bên cạnh…..
Nguyễn Trần Diệu Hương

Santa Clara, tháng 3/09

Posted: Sun Oct 10, 2010 5:28 am
by KýCóp
Image

Paris _Ngày hội lớn
Trời Paris tháng mười

Tôi đến Gare Du Nord theo chuyến xe lửa Thalys vào lúc 14giờ 37 phút , thở phào khi vừa ra khỏi khung cảnh ồn ào của nhà ga với kẻ đến người đi lúc nào cũng tất bật nơi đây .

Buổi chiều Paris lành lạnh nhiều gió , đứng chờ người đến đón mà như muốn chao đảo bời những cơn gió thổi mạnh lất phất giọt mưa quất ngược làm rát cả mặt . Hết nhin ngang rồi dọc để cố tìm bóng dáng chiếc xe quen thuộc nhưng chao ôi sao cứ y như là bóng chim tăm cá . Chiếc máy phone cầm tay lúc này như muốn trêu ngươi vì có sử dụng được nữa đâu , khi vừa qua khỏi Antwerpen thành phố gần biên giới Bỉ đường dây gọi đã tắt tị mất rồi . Nhìn quanh quẩn tìm người thân , lại nhìn lên chiếc đồng hồ treo trên cửa nhà ga , lúc này đã quay hơn 45 phút, tự dưng tôi đâm ra bực mình rồi ngay ngáy sợ không người đến đón trong lúc đó môt người sắc da đen nào đâu cứ đến hỏi tôi bằng tràng tiếng Pháp chẳng hiểu mô tê chi cả , mà đối đáp tiếng Anh lại với hắn thì hắn cũng cóc biết . Tôi chạy đến bọn trẻ đang châu đầu đứng nói chuyện vì nghĩ bọn trẻ thể nào cũng hiểu tiếng anh, thế là tôi mượn được phone cầm tay để gọi và nhắn tin dễ dàng tuy đầu giây lúc đó không người nhận . Định gọi lại lần nữa thì bỗng có tiếng gọi giựt ngược sau lưng :

_Miên Thụy ...M ..T . trời ơi ! khổ wá xe đậu đằng kia kìa , làm ngồi ngoài xe chờ nãy giờ sốt cả ruột , người ta đã nói rồi hễ ra khỏi nhà ga là đi thẳng ra đó mà .

Thế mới biết là tôi nhát cáy không dám xê dịch chỗ đứng vì cứ sợ bỏ đi làm người tìm đến không thấy thì khổ .

Xe chạy vòng vòng Paris tìm chỗ đậu xe rât khó , phần thì kẹt xe cứ phải nhích từng đoạn một . Sau đó chúng tôi phải dùng metro để đến đại lộ CHAMPS ELYSEES nơi đoàn người tập trung diễn hành . Theo chân người dẫn đường rõ khổ, vì tôi phải vừa đi vừa chạy mới đuổi kịp bước chân của họ , thấp thoáng xa xa bóng dáng một vài người trong bộ đồng phục áo xanh quần xám nhạt , đầu đội chiếc nón dù màu đỏ in hình cánh đại bàng . Phố xá dọc theo đại lộ hôm nay thêm phần nhộn nhịp hẳn lên với rừng người đổ xô về hướng công trường ARC DE TRIOMPHE .

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đã tìm đến nơi để sát nhập vào đoàn người đang chuẩn bị hành lễ ; có ngươì đã đến sớm tập trung nơi này từ 16 giờ chiều , chờ đến 18 giờ phái đoàn diễn hành bắt đầu .

Tiếng trống kèn của nhóm hoà nhạc dẫn đầu tiến ra giữa đại lộ để thẳng tới công trường , đoàn người thật nhịp nhàng theo tiếng trống để giữ nhịp bưóc đều .

Đi đầu là toán thủ quân kỳ của các nước tham dự buổi diễn hành, lướt qua tôi nhận thấy có sự hiện diện của Anh, Úc, Viêt Nam, v.v...Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới dưới cơn gió mùa thu cùng với những lá cờ của các quốc gia bạn, hướng dẫn đoàn anh hùng mủ đỏ bước thẳng đều trên đại lộ Champs Elysées, đại lộ đẹp nhất thế giới để tiến đến Khải Hoàn Môn. Theo sau là khối cựu quân nhân nhảy dù trong đồng phục blazer màu xanh dương đậm, quần xám tro, cravate đỏ, berét đỏ. Được biết binh chủng nhảy dù VN đã được binh chủng nhảy dù Pháp đặc biệt mời tham dự trong tình hữu nghị.

Đây chưa phải là ngày diễn binh lớn tại nuớc Pháp mà đa số là những anh hùng mủ đỏ đã từng có mặt tham dự qua các chiến trường lửa đạn trong thời kỳ Đại Chiến thế giới thứ II bùng nỗ và những người trẻ cùng những anh em sĩ quan QLVNCH trong thời kỳ VN khói lửa của những năm trước 75 . Lần này có sự tham dự của . Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân , Thiêu tá Lâm Văn Rớt, Y sĩ Đại Úy Tôn Thất Sơn đến từ Nauy , Đại Úy Trần Hoàng Lộc và người trẻ tuổi nhất là anh Trần Đức Phong đã gia nhập quân đội Pháp trong đội biệt kích nhảy dù .

Đoàn người diễn hành dọc theo đại lộ tiến về Khải Hoàn Môn và tập trung dưới ngọn lửa thiêng của các chiến sĩ vô danh , vòng hoa tưởng niệm được đặt tại mộ Chiến Sĩ Vô Danh dưới sự chủ toạ của tướng "Gouverneur Militairẻ" thủ đô Paris . Ông thật niềm nở xuống xe rồi đi một vòng bắt tay chào từng người một trước và sau khi hành lễ .

Buổi lễ chấm dứt vào lúc gần 20 giờ tối trong ngày; trở về lại con đường dọc theo đại lô Champs Elysées , cảm giác của tôi lúc ấy tuởng chừng như mình đang dạo qua góc phố Sài Gòn thưở nào giữa lòng phố thênh thang trong niềm vui của phố phường ngày hội lớn

Miên Thụy (Hòa Lan)
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Posted: Mon Oct 11, 2010 4:16 pm
by thienthanh
Cánh chim Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy

Toàn Như

Nhân Ðại Hội Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, chúng tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc trang CCB một gương mặt phụ nữ trong những người lính QLVNCH. Ðó là cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, nguyên biệt đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga của lực lượng Cảnh Sát Quốc gia (CSQG) VNCH trước năm 1975.

Người viết từng có dịp hân hạnh gặp chị trong một buổi họp mặt mừng Xuân của một hội đoàn ái hữu CSQG tại vùng Little Saigon, Nam California. Trong buổi họp mặt hôm ấy, lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Xuân của hội, khuôn mặt chị trông vẻ ngoài cũng bình thường như bao người phụ nữ khác, nhưng đến khi chị được Ban Tổ Chức giới thiệu và mời lên phát biểu thì mọi người mới biết rằng chị đã một thời từng chỉ huy một Biệt Ðội Tình Báo nổi tiếng của ngành CSQG, từng làm cho kẻ thù phải căm tức và kiêng nể vì những công lao mà chị đã đóng góp cho cuộc chiến vì tự do trước đây.

Qua tiếp xúc với chị, chúng tôi được biết chị là nữ Thiếu Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Thanh Thủy, người từng chỉ huy một Biệt Ðội Tình Báo toàn là nữ của ngành CSQG/VNCH là Biệt Ðội Thiên Nga. Khi được hỏi về lý do đã đưa đẩy chị trở thành một sĩ quan của ngành Cảnh Sát Quốc Gia, chị chỉ mỉm cười nói có lẽ là định mệnh. Ðịnh mệnh đã đưa đẩy cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu/Mỹ Tho trở thành sinh viên Dược Khoa/Saigon rồi Chính Trị Kinh Doanh/Ðà Lạt và sau cùng là một nữ sĩ quan cảnh sát. Năm 1966, chị đã rời bỏ mái trường Ðại Học Ðà Lạt để trở thành một sinh viên sĩ quan của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, một ngôi trường đào tạo sĩ quan cho lực lượng CSQG/VNCH vừa mới được thành lập. Vốn là một con người năng động, ham muốn phục vụ tha nhân và xã hội, chị không muốn phải miệt mài nhiều năm trên ghế nhà trường trước khi được phục vụ tha nhân.

Ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trước khi thành lập Học Viện CSQG hầu như không có nữ sĩ quan ngoại trừ những nữ nhân viên hành chánh biệt phái. Khi Học Viện CSQG được thành lập vào năm 1966, chị đã nộp đơn xin dự thi và đã trúng tuyển vào Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát (còn gọi là Biên Tập Viên CSQG vào thời gian đó). Khóa I Học Viện CSQG, ngoài việc đào tạo các nam sĩ quan, còn có khoảng 50 nữ sĩ quan theo học. Ðây cũng là khóa đầu tiên và duy nhất đào tạo nữ sĩ quan cho ngành cảnh sát. Mặc dù sau này do nhu cầu phát triển, ngành cảnh sát có tuyển dụng thêm một số nữ sĩ quan đồng hóa nhưng họ chỉ phải trải qua một thời gian huấn luyện ngắn hạn chứ không phải chịu một thời gian huấn luyện (và huấn nhục) dài 9 tháng (cho cả nam lẫn nữ) như Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát.

Sau khi được tin trúng tuyển, cô nữ sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, người con gái Mỹ Tho, đã cùng gần 50 bạn nữ khác tình nguyện xếp bút nghiên vào học nội trú trong Học Viện CSQG mà không hề có một khái niệm gì về những hoạt động của ngành này. Sau khi tốt nghiệp vào cuối năm 1966, hầu hết số nữ sĩ quan này được phân công về phục vụ tại Khối Ðặc Biệt, một bộ phận chuyên trách về tình báo và phản tình báo của lực lượng CSQG/VNCH.

Từ trước đến nay, công tác tình báo trong ngành cảnh sát vẫn thường do các bạn nam phụ trách, phái nữ chỉ trợ giúp khi có sự yêu cầu và thường do các bạn nam điều động. Nhưng kể từ sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân năm 1968, vai trò an ninh và tình báo đã được chú trọng hơn và nhu cầu cần có một mạng lưới an ninh tình báo phái nữ đã được đặt ra. Trước nhu cầu đó, vào tháng 8 năm 1968, Bộ Tư Lệnh CSQG đã quyết định thành lập một đơn vị tình báo toàn là nữ nhân viên có tên gọi là “Biệt Ðội Thiên Nga,” tên của một loài chim “quý phái,” trực thuộc Khối Ðặc Biệt, hoạt động độc lập, song song với các cơ cấu đã có từ trước. Biệt Ðội này đã được giao cho chị Nguyễn Thanh Thủy đảm trách, năm đó chị mới chưa đầy ba mươi tuổi.

Nhiệm vụ của Biệt Ðội Thiên Nga là sưu tầm và phân tích các tin tức tình báo, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức ngoại vi của Cộng Sản và các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, chính yếu là của phái nữ, tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh trên toàn quốc.

Vạn sự khởi đầu nan. Chị Thủy cho biết, công việc khởi đầu bao giờ cũng khó khăn. Từ việc tổ chức cho đến nhân sự, tất cả đều mới mẻ, nhưng nhờ những năm phục vụ tại Khối Ðặc Biệt trước đó đã cho chị Nguyễn Thanh Thủy nhiều kinh nghiệm trong việc hình thành một mạng lưới tình báo nữ xuất sắc cho ngành CSQG.

Về tổ chức, Biệt Ðội Thiên Nga có văn phòng trung ương đặt tại Khối Ðặc Biệt/Bộ Tư Lệnh CSQG; ngoài ra, Biệt Ðội còn có văn phòng tại các Bộ Chỉ Huy CSQG Thủ Ðô Sài Gòn và tại các Vùng I, II, III, và IV, cũng như tại các tỉnh, quận,... Về nhân sự, các nữ nhân viên được tuyển mộ cho Biệt Ðội Thiên Nga đều là những người có trình độ văn hóa tối thiểu là văn bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp (tốt nghiệp cấp 2 Trung Học) hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ cảnh sát được ưu tiên nâng đỡ chỉ cần có văn bằng tiểu học. Họ được tuyển lựa từ đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi trong xã hội: từ những cô bán hàng ở chợ, những người bán hàng rong, cho đến các sinh viên, học sinh, cô giáo, thư ký văn phòng, nhân viên nhà hàng, khách sạn, bưu điện, vũ nữ, v.v... Họ sẽ lần lượt được học qua các lớp Tình Báo Căn Bản, Theo Dõi, Cán Bộ Ðiều Khiển, Tác Xạ, v.v... trước khi được chính thức giao công tác.


Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy


Dưới sự chỉ huy của chị Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Ðội Thiên Nga đã tổ chức xâm nhập, len lỏi vào các tổ chức phụ nữ của Cộng Sản, những tổ chức thiên tả thân Cộng như các Hội Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống, Hội Các Bạn Hàng tại các chợ, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các tổ chức tôn giáo khuynh tả, các tổ chức thanh niên sinh viên học sinh để kịp thời ngăn chặn và triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia.

Ngoài ra, Biệt Ðội còn bí mật tổ chức xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập những tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản. Mỗi kế hoạch công tác của biệt đội Thiên Nga vì toàn là nữ nên cũng lãng mạn mang một ám danh bằng tên của một loài chim như Sơn Ca, Họa Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến, v.v... Nhưng nếu công tác có tính phối hợp với các cơ quan bạn thì lại mang ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn, v.v...

Vào năm 1972, cùng với sự cải tổ của ngành CSQG trong đó có Khối Ðặc Biệt, Biệt Ðội Thiên Nga đã được cải danh trở thành Ðội Ðặc Nhiệm G4231g. Tuy nhiên, mặc dù được đổi tên, người ta vẫn quen gọi bằng cái danh xưng cũ là Biệt Ðội Thiên Nga mỗi khi nhắc tới đơn vị đặc biệt này.

Mặc dù chỉ mới được thành lập không bao lâu trước ngày 30 tháng 4, 1975, nhưng Biệt Ðội Thiên Nga đã tạo được nhiều chiến công đáng kể mà ngay chính kẻ thù cũng phải kiêng nể. Vì là một đơn vị hoạt động tình báo nên việc ngụy thức và bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác này các nữ Thiên Nga đã rất thành công, hầu như không một Thiên Nga nào để lộ tung tích khiến cho kẻ địch phải ngờ vực.

Chị Thủy kể lại, thậm chí đã có trường hợp chúng còn tin tưởng đề cử người của Biệt Ðội Thiên Nga vào những chức vụ chủ chốt. Chị nói, có lần một cán bộ của Biệt Ðội đã được tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành (đã về chầu bác Vẹm cách nay mấy năm, năm 2004), một tổ chức ngoại vi nằm vùng của Cộng Sản, đề cử vào chức vụ Phụ Tá Phong Trào - tuy nhiên sau khi cân nhắc lợi hại Biệt Ðội đã chỉ đạo người nữ nhân viên ấy phải từ chối khéo để tránh bị lộ. Một trường hợp khác, chị kể về công tác “Họa Mi” trong đó một nữ Thiên Nga đã xâm nhập len lỏi vào hoạt động trong vai trò thư ký của Ban Xã Hội trong phong trào Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống bên cạnh một nữ cán bộ nằm vùng trong phong trào. Sau năm 1975, cả hai đã gặp lại nhau trong một hoàn cảnh hết sức trớ trêu. Người nữ Thiên Nga nay là một nữ tù nhân “cải tạo,” còn tên nữ cán bộ nằm vùng khi xưa nay là một đại úy công an quản giáo. Tức tối vì bị người nữ Thiên Nga này qua mặt trước đây, tên nữ cán bộ quản giáo này đã có dịp trả thù bằng cách đề nghị gia tăng thời hạn tù thêm 6 tháng cho người nữ Thiên Nga dù chị này đã có giấy ra trại.

Một công tác khác mang ám danh Hoàng Oanh là sự móc nối với một nữ huyện ủy viên của Việt Cộng hợp tác với Biệt Ðội Thiên Nga trong hơn 5 năm. Sau 30 tháng 4, 1975, người nữ huyện ủy này vẫn còn giữ chức huyện ủy một huyện gần Sài Gòn cho đến 6 tháng sau đó, VC mới truy ra được từ hồ sơ còn sót lại ở địa phương. Và cũng thật tình cờ, cả hai - chị Thủy và người nữ huyện ủy này - đã gặp lại nhau trong trại tù Z-30D Hàm Tân.

Một trong những chiến công mà chị Nguyễn Thanh Thủy cho là lý thú nhất là chị đã tổ chức được một đội tình báo nằm ngay trong lòng bộ chỉ huy của phái đoàn quân sự bốn bên. Theo Hiệp Ðịnh Paris về Việt Nam được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, phái đoàn quân sự bốn bên này gồm có: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Ðội tình báo này chính là nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Bắc Việt và MTDTGPMN ở trong trại David tại Tân Sơn Nhất.

Ðầu tiên, những nhà thầu cung cấp thực phẩm chỉ là những cảm tình viên do chúng ta giới thiệu nhưng đã bị Việt Cộng nghi ngờ không chấp nhận. Chúng yêu sách đòi hỏi phải đăng báo đấu thầu để chúng tìm nhà thầu khác ngoài công chúng do chúng tự chọn. Nhưng thật là khôi hài, chị Thủy cho biết, chúng chọn ai không chọn, lại chọn đúng ngay đội tình báo của Biệt Ðội Thiên Nga trá hình làm nhà thầu cung cấp thực phẩm cho chúng. Công tác này được mang ám danh là Trùng Dương, đã hoạt động mãi cho đến ngày cuối cùng là 28 tháng 4, 1975 mới chấm dứt.

Tâm sự về những năm hoạt động trong lãnh vực tình báo, chị Nguyễn Thanh Thủy cho biết, đối với người phụ nữ Việt Nam, công việc hoạt động tình báo quả là một thử thách khó khăn vì người phụ nữ dù làm việc trong lãnh vực nào cũng vẫn không thể quên cái thiên chức làm vợ, làm mẹ đè nặng trên vai. Hơn nữa người tình báo lại là người muôn mặt. Riêng đối với phái nữ thì, có khi là một nữ sinh viên ngây thơ nhí nhảnh, lúc lại là một chị bán hàng rong tất bật lam lũ. Hôm nay là một mệnh phụ đài các, ngày mai có thể là một chị nông dân chất phác quê mùa, v.v... Người cán bộ tình báo nói chung và người nữ Thiên Nga nói riêng hoạt động chẳng khác gì một kịch sĩ. Cái khó khăn là phải biết nhập vai sao cho chính xác mà vẫn không bị lộ. Cho nên để bảo toàn bí mật và để hoàn thành những nhiệm vụ được trao, người nữ cán bộ tình báo nhiều khi đã bị mang tiếng là bỏ bê gia đình bởi do nhu cầu công tác có những lúc họ phải đi sớm về khuya, bỏ mặc con ngóng, chồng trông mà không sao giải thích được. Ðó cũng là nỗi khổ tâm của người nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga.

Ngoài những khó khăn trong tình cảm gia đình, người nữ Thiên Nga nhiều khi còn phải đương đầu với lắm gian nan khi nhập vai. Nhiều nữ Thiên Nga xâm nhập vào các tổ chức đối lập khuynh tả nhiều khi cũng phải tham dự vào những cuộc biểu tình, tuyệt thực, chống đối chính quyền nên lắm khi cũng phải hứng chịu hơi lựu đạn cay, dùi cui của chính các đồng nghiệp cảnh sát. Nhưng vượt qua được những khó khăn trở ngại đó, các nữ chiến sĩ Thiên Nga đã nhiều phen tạo được những chiến công to lớn nhưng trong thầm lặng, mấy ai đã biết được những đóng góp của họ cho những chiến công đó. Họ đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam.

Cộng sản cũng rất lưu ý đến những hoạt động của Biệt Ðội Thiên Nga. Những thành quả hoạt động của các Thiên Nga đã làm cho bọn chúng vô cùng tức tối. Vì vậy, sau ngày 30 tháng 4, 1975, hầu hết những cán bộ điều khiển của biệt đội đều phải trải qua nhiều năm trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản. Mặc dù vậy họ vẫn giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những gian lao của bao năm tháng tù đày. Trong những ngày cuối cùng khi biết miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, với tinh thần trách nhiệm cao độ, chị Nguyễn Thanh Thủy đã kịp thời tiêu hủy tất cả các hồ sơ nhân viên, kể cả danh sách các cảm tình viên và những người phía bên kia hoạt động nhị trùng cho biệt đội. Chị cũng thiêu hủy tất cả các kế hoạch công tác đã hoặc chưa thi hành để kẻ thù không thể khai thác khi chúng tiếp quản miền Nam.

Chị Nguyễn Thanh Thủy đã bị chúng giam cầm đến gần 13 năm, trong đó có 4 tháng bị biệt giam. Khi sức khỏe của chị đã quá suy sụp tưởng chừng không gượng dậy nổi, chúng mới thả cho chị về để chúng khỏi mang tiếng nếu chị chết trong tù. Nhưng như một phép lạ chị đã lần lần phục hồi sau một thời gian được trở về với gia đình. Trong thời gian bị giam, chị đã bị kẻ thù hành xác và khủng bố tinh thần qua các thủ đoạn biệt giam, hăm dọa, bỏ đói,... để moi cung nhưng chúng vẫn không khai thác được gì nơi chị ngoài những điều chúng đã biết.

Ðịnh cư tại quận Cam, Hoa Kỳ, theo diện H.O. từ năm 1992 đến nay, tuy đã lớn tuổi và sức khỏe có phần nào bị hạn chế bởi những năm tháng trong ngục tù cộng sản, chị Nguyễn Thanh Thủy vẫn tỏ ra hăng say và luôn tích cực trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Ngoài việc tham gia trong ban chấp hành Hội CSQG Nam California, khi tổ chức Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại được thành lập, chị đã được cựu Tướng Lê Minh Ðảo, trung tâm trưởng Trung Tâm Ðiều Hợp TTCS/VNCH/HN đề cử vào chức vụ Trưởng Khối Xã Hội của tổ chức này. Chị nói, đã là người Việt thì ai là người không nặng tình với đất Việt, dân Việt, cho nên được dịp phục vụ Tổ Quốc là một điều hãnh diện và danh dự thì làm sao chị có thể chối từ, hơn nữa khi “giặc đến nhà, thì đàn bà cũng phải đánh,” đó là lời tâm sự của chị.

Là cựu biệt đội trưởng Thiên Nga, một cựu cấp chỉ huy về tình báo, chị cảm nhận được rằng đang có những sự xâm nhập của tình báo cộng sản tại hải ngoại và đặc biệt là tại quận Cam, Nam California. Chị Thủy nói, VC đã và đang len lỏi trong cộng đồng bằng những thủ đoạn gây chia rẽ và phá rối dưới nhiều hình thức. Những xáo trộn trong cộng đồng trong thời gian qua không loại trừ khả năng có bàn tay của bọn “đặc tình” (chữ của Việt Cộng để chỉ những tên đặc vụ tình báo) cộng sản nhúng vào.

Kẻ thù đang giấu mặt, chị Thủy nói, chúng ta cần cảnh giác với chúng, bởi vì cộng sản rất tinh vi và quỷ quyệt, chúng lại sẵn có phương tiện tài chánh dồi dào trong tay, nên nếu chúng ta không tỉnh táo sẽ rơi vào bẫy sập của chúng.

Posted: Tue Oct 12, 2010 2:02 am
by caolynh

Image

Trận giải tỏa ĐềGi và trận đánh phản công tấn chiếm phi trường Phù Cát
qua tài đánh giặc của “Mãnh Sư” Nguyễn Mạnh Tường.
Trích đọan truyện ngắn “Chiến trường Bình Định với Mãnh sư Nguyễn Mạnh tường trong tuyển tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử” – do Lê Khắc Anh Hào biên soạn.…

Chiến trường Bình Định – không phải mãi sau này – mà ngay từ thờ kháng chiến chống Pháp, đã luôn luôn là một chiến trường sôi động. Những địa danh An Khê, Hoài Ân, An Lão . . . mãi mãi là dấu ấn kinh hoàng cho những binh đoàn viễn chinh Pháp, một phần vì địa thế chiến lược của vùng đất này, một phần khác là lòng người. Thời kháng Pháp, quân đội viễn chinh Pháp, dù đã nhiều phen dồn mọi nỗ lực, vẫn không chế ngự và kiểm soát được, và cũng chính vì thế, một số không nhỏ những người yêu nước đã bị cộng sản Hà Nội lừa gạt bởi chiêu bài Dân Tộc trá hình, đã chiến đấu dũng mãnh trong hàng ngũ của họ.
Sau Hiệp định Genève, một số tập kết ra Bắc, một số lớn ở lại âm thầm tạo dựng cơ sở. Dân chúng Bình Định, với truyền thống yêu nước của vùng đất Quang – Trung, đã bị tuyên truyền bịp bợm về ngọn cờ Dân Tộc trá hình, nên một số lớn dân chúng Bình Định hướng về Hà Nội. Thế nhưng, nét đăc thù của người dân Bình Định là phân minh, Quốc, Cộng rạch ròi, chính sự phân định ấy đã đưa đến thảm trạng tương tranh khốc liệt. Biết rõ điều này, Quân khu 5 của Cộng quân luôn coi chiến trường Bình Định là chiến trường chủ yếu mang tính quyết định, nên họ dồn mọi nỗ lực, tuyên truyền, vận động để đẩy rộng thêm sự chém giết tương tàn, gây hận thù chồng chất.
Chiến trường Bình Định luôn có mặt những đơn vị cộng sản thiện chiến nhất của Quân khu 5. Khi Chu Huy Mân nắm quyền Tư Lệnh, y điều động Sư đoàn 3 Sao vàng “anh hùng”, với những Tiểu đoàn quyết tử, Tiểu đoàn 405 trinh sát đặc công được trao tặng cờ đỏ, với Trung đoàn Địa phương và các huyện đội tinh nhuệ được đặt dưới quyền điều động của những cán bộ cuồng tín và tàn bạo bậc nhất, chưa kể đến vào những năm 1965, được tăng cường thêm Trung đoàn Địa phương Phú Yên dưới sự chỉ huy của ‘Tướng độc nhủ Nguyễn thị Lành, được mệnh danh là Nữ hung thần bất tử.”
Chiến trường Bình Định bùng lên mãnh liệt vào những tháng đầu năm 1965, giữa lúc mà cuộc diện chính trị VNCH đang nổi trôi trong sự bất ổn, những trận đánh ác liệt diễn ra khắp nơi trải dài từ Phù Ly đến tận Bồng sơn với các mặt trận Phù Ly, Đại Thuận, Phù Mỹ, Đèo Nhông, Diêm Tiêu, Vạn Bảo, Phù Cũ . . . đã mở màn dường như cùng một lúc. Chẳng phải bỗng dưng mà tháng 9/1965 sư đoàn Anh Cả Đỏ (SĐ1 Không kỵ ), rồi lần lượt sư đoàn 101, lữ đoàn 173rd Dù đều là những đơn vị thiện chiến nhất của Hoa Kỳ đã phải thay nhau có mặt tại Bình Định , chế ngự An Khê và mật khu Kon Hanùng. Chẳng phải khi không mà sư đoàn Mãnh Hổ bậc nhất của quân đội Đại Hàn được giao sứ mạng trải dài bảo vệ quốc lộ 19, nhưng vẫn không chu toàn việc bảo vệ trọn vẹn sinh lộ này….
…Sau những nỗ lực giải tỏa áp lực địch tại các quần phía Nam, tháng 7/1972, cuộc hàng quân tái chiến Bắc Bình Định với Sư Đoàn 22/BB làm nỗ lực chính đã đánh bật Cộng quân ra khỏi 3 quận phía Bắc, cùng lúc Sư Đoàn 2/BB thuộc quân khu với sự tham chiến của Biệt Động quân đã đánh bật Cộng Quân ra khỏi cửa khẩu Sa Huỳnh, tình hình chiến sự đã tương đối lắng dịu. Thế nhưng, với cái nhìn của những nhà quân sự, thì đây là giai đoạn tĩnh lặng trược giông tố, địch đang phối trí và sửa soạn cho một chiến trường khốc liệt khác. Chính vì dự đoán như thế, Trung tướng TL/QĐ 2 Nguyễn Văn Toàn đã đặc biệt triệu tập Đại Tá Hoàng Đình Thọ Tỉnh trưởng kiêm TKT và Trung tá Nguyễn Mạnh Tường tiểu khu phó tại biệt thự Hương Cầm tại Qui Nhơn.
Ghi chú: Tr/tá Tường được bổ nhiệm về làm TMT trường Đại học CCCT, nhưng ông đã xin được ở lại với chiến trường Bình Định đang cực kỳ sôi động. Đại tá Hoàng Đình Thọ đương kim Tỉnh trưởng Quảng Tín, được thuyên chuyển về nhận chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định. Đại tá Thọ là một sĩ quan kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, từ đó, bộ mặt của Tiểu Khu đổi thay hẳn với thành phần dưới ông: – Tiểu Khu Phó : Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường….
Sau những quan ngại về những mưu đồ của địch trong tương lai, ông nói (Theo lời Trung tá Tường thuật lại sau này):
- “Quân Đoàn 2 với một vùng trách nhiệm quá rộng lớn, lại là một vùng với áp lực địch luôn luôn rất nặng, vậy mà dưới tay tôi, chỉ có 2 Sư Đoàn 22 và 23, gần 8 Trung Đoàn BB, riêng Bình Định đã cầm chân thường xuyên 2 Trung Đoàn, với 6 trung đoàn còn lại, phải đảm trách một lãnh thổ quá rộng, với áp lực địch càng lúc càng gia tăng, tôi xin hai anh giúp tôi, bằng mọi cách cố gắng dùng lực lượng ĐPQ và NQ thay thế phần trách nhiệm của hai “thằng” 40 và 41 { Trung đoàn 40 & 41) để tôi có thêm khả năng đối phó với tình hình sắp tới, mà tôi tiên đoán rằng, mỗi lúc một ác liệt. Tôi đề nghị anh Thọ giao trách nhiệm quân sự cho anh Tường, tôi đặt hết niềm tin vào các anh!”

Những tháng ngày kế tiếp sau đó, tôi chưa hề thấy Trung tá Tường có lấy một phút nghỉ ngơi, ngay cả khi phu nhân và các con của Trung tá từ Sài gòn ra Qui Nhơn thăm chồng, bà đã phải chờ đợi suốt cả tuần lễ vẫn chưa được gặp mặt chồng. Người chiến binh tận tụy ấy đã quên cả hạnh phúc cá nhân, quên cả chính thân mình. Ông ăn uống kham khổ cùng với binh sĩ của ông. Ông có mặt khắp nơi, từng đơn vị nhỏ nhất, săn sóc, an ủi, giải quyết những ưu tư của binh sĩ. Ông theo dõi, kiểm tra, lựa chọn, tổ chức, huấn luyện những binh sĩ ĐPQ &NQ, lựa chọn trong số các đơn vị thuộc quyền các chiến binh mà kinh nghiệm cũng như lòng can trường cùng khả năng chiến đấu để thành lập những đơn vị xung kích và trinh sát bằng những khóa huấn luyện đặc biệt. Binh sĩ, qua lớp huấn luyện có thể đảm đương mọi nhiệm vụ đặc biệt được giao phó, kể cả các chiến thuật Diều hâu bằng Trực thăng vận. Liên đội Trinh sát Tiểu khu với hai Đại đội bao gồm các chiến binh can trường và thiện chiến được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung úy Khuynh, một trong những sĩ quan ưu tú của quân lực. Liên đội trinh sát ấy đã làm nên những chiến công hiển hách, không phụ tấm lòng kỳ vọng của ông.
Nhờ thế, sau một thời gian ngắn, khí thế của lực lượng ĐPQ & NQ Bình Định đã vươn lên, không hề thua sút bất cứ đơn vị thiện chiến nào. Họ không những bảo vệ an toàn các trục lộ huyết mạch, ngăn chặn một cách hữu hiệu mọi ý đồ của địch, mà còn mỗi lúc mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối năm 1972, tình hình an ninh mỗi lúc một khả quan và tinh thần binh sĩ đã lên cao trông thấy, địch cùng lúc càng bị dồn vào thế co cụm.

Trận đánh giải tỏa Đề Gi

Cứ điểm Đề Gi là một mõm đất, là một cửa biển giáp ranh giữa hai Quận Phù Mỹ và Phù Cát. Nơi này là căn cứ Hải quân quan trọng đặt dưới quyền chỉ huy của Hải quân Thiếu tá Cát. Về phía bắc, qua một lạch nước rộng, thông từ biển vào Đầm Nước Ngọt là Đài Kiểm báo được xây dựng trên một đỉnh núi lẻ. Phía tây của căn cứ là Quốc lộ 1, nối liền với căn cứ từ cầu Phù Ly là tỉnh lộ dài 21km chạy song song với một dòng sông nhỏ, đổ vào Đầm Nước Ngọt, kẹp giữa sườn phía Bắc dẫy núi Bà (còn gọi là Hòn chung). Đề Gi là một cửa khẩu chiến lược với Đài Kiểm báo được trang bị tối tân, có thể kiểm soát cả một vùng biển Đông bao la. Từ cửa khẩu này tiếp nối với căn cứ địa 226 nằm giữa vùng núi non, tiếp giáp 3 Quận Phù Mỹ, Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, mở xuống một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam thuộc các quận Bình Khê, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước.
Từ khi cửa khẩu Sa Huỳnh bị Sư đoàn 2 tái chiếm, cắt đứt mọi khả năng vận chuyển lương thực và vũ khí của địch từ biển đông tiếp vận cho nội địa, Sư đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng vì lệnh từ Hà Nội và Quân khu 5 CS, bằng mọi cách phải chiếm được ít nhất một cửa khẩu để dùng làm địa bàn sau khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Trong khi mọi nỗ lực của Sư đoàn 3 Sao vàng và lực lượng địa phương của chúng hoàn toàn bất lực trong nhiệm vụ nống lấn mở rộng vùng kiểm soát, không những thế, cón bị các lực lượng ĐPQ&NQ đẩy vào thế bị động, luôn luôn bị săn đuổi. Cuối cùng Chu Huy Mân phải chấp nhận kế hoạch Tổng lực do viên Thiếu tá CS là Võ văn Ứng đệ trình. Chu Huy Mân bổ nhiệm Ứng làm Lữ đoàn trưởng thực hiện kế hoạch (mà Ứng đã đệ trình với sự cam kết chiến thắng), Lữ đoàn bao gồm 7 Tiểu đoàn thiện chiến của Sư đoàn 3 Sao vàng gồm: 5 Tiểu đoàn Bộ chiến,1 Tiểu đoàn Đặc công,1 Tiểu đoàn Pháo và Lực lượng tổng lực của Huyện đội Phù Cát.

Với một nghiêm lệnh là bằng mọi giá phải chiếm cho bằng được căn cứ Đề Gi, bất kể Hiệp định đình chiến đã có hiệu lực. Cuộc chiến bùng nổ vào rạng sáng ngày 27/1/1973. Đài Kiểm báo do lực lượng của Duyên đoàn 21 Hải quân trấn giữ, bất thần bị Tiểu đoàn Đặc công địch tràn ngập. Núi Gềnh là một mõm núi thuộc dãy Núi Bà nhìn xuống căn cứ Hải quân, trước đây do một đơn vị của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, đã âm thầm rút đi, không thông báo, bỏ trống, không bàn giao lại cho lực lượng Việt Nam, bị Huyện đội cộng sản Phù Cát chiếm giữ.



Lúc 8 giờ sáng ngày 27/1/73, phút đầu tiên của Hiệp định đình chiến có hiệu lực, căn cứ Đề Gi bị tấn công bằng tất cả sức mạnh của Lữ đoàn cộng sản. Hỏa lực địch từ Núi Gềnh, từ Đài Kiểm báo với hàng ngàn trái đạn rót vào căn cứ. Căn cứ được phòng thủ bởi lực lượng Hải quân đồn trú, quân số chỉ bằng 1/10 lực lượng địch, anh dũng đánh trả và đẩy lui nhiều đợt xung kích, gây nhiều tổn thất về nhân mạng cho địch. Gặp sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng phòng thủ, chúng bắc loa kêu gọi đầu hàng. Qua máy, Thiếu tá Cát lên án hành vi vi phạm Hiệp định đình chiến của chúng, Tên Lữ-đoàn trưởng, Thiếu-tá CS Võ văn Ứng lý luận là theo giờ Hà Nội, lúc này chưa phải đúng giờ đình chiến. Đồng thời y chặt đầu một Nghĩa quân mà chúng bắt được, bỏ cái xác không đầu của người lính tội nghiệp lên xe lam, chở xác người Nghĩa quân đến cổng căn cứ Hải quân, với những lời đe dọa ” Hàng thì sống, chống chặt đầu, quyết không bỏ sót!”

Hành động bạo tàn này đã không làm cho những chiến sỹ trú phòng sợ hãi, ngược lại, càng khiến tăng thêm ý chí quyết chiến đấu trở thành sắt thép hơn, càng quật nát từng đợt tấn công liều chết của địch. Đạn pháo của địch từ hai cao điểm dội xuống như mưa, trực thăng không thể đáp xuống được, cùng lúc, hỏa lực địch từ núi Gềnh và Đài Kiểm báo khống chế toàn vùng biển.

Cuộc tấn công vi phạm Hiệp Định đình chiến của Việt cộng được thông báo cho UB/QT Kiểm soát Đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù-cát, và yêu cầu UB/KS/ĐC ký vào biên bản. Trước hành vi bạo ngược của những người Cộng sản anh em, viên trưởng đoàn Ba Lan không thể chối cãi, đành phải ký tên vào biên bản (sau này viên trưởng đoàn Ba Lan bị cách chức!!).
Giữa lúc cộng sản dồn mọi nỗ lực nống lấn, chiếm đất, giành dân trước và cả sau giờ đình chiến, các đơn vị diện địa, lực lượng trú phòng tỉnh Bình Địng nói riêng và trên toàn quốc nói chung, đã phải dàn trải khắp nơi, ngăn chặn không cho Cộng quân thực hiện mưu đồ của chúng. Chúng đã gặp phải sức chiến đấu quyết liệt của các chiến sỹ ĐPQ &NQ, không những đã không thực hiện được ý định, mà còn bị thiệt hại nặng nề trên khắp các mặt trận. Ngay cả những trục lộ giao thông quan trọng : Quốc-lộ 1, từ đèo Cù Mông đến Bình Đê, Quốc lộ 19 từ Bà Di lên đến đèo Măng Giang, các chiến sỹ ĐPQ&NQ diện địa đã bảo vệ an ninh lưu thông một cách tuyệt đối không ngờ .

Đứng trước tình hình ấy, Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH đã khẩn cấp không vận Liên đoàn 7/BĐQ của Trung tá Bùi văn Huấn từ Quân khu 1 vào tăng cường, với chỉ thị xử dụng như một lực lượng trừ bị, không được xử dụng làm nỗ lực tham chiến tiên phong. Quân đoàn 2 đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp tại Phi trường Phù Cát để đối phó với tình hình, gồm có Tư lệnh Quân đoàn, Trung tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB với Thiếu tướng Phan Đình Niệm, Tiểu khu trưởng TK/BĐ, Đại tá Hoàng Đình Thọ, TK phó Tiểu khu Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, LĐT/BĐQ Trung tá Bùi văn Huấn, Phụ tá Quân trấn trưởng Qui Nhơn, Trung tá Nguyễn văn Thanh, Quận trưởng Phù Cát Trung tá Đoàn văn Bái, Trung tá Khổng Trọng Huy. . . Cuộc họp để hoạch định kế hoạch hành quân giải tỏa và lựa chọn người chỉ huy cho cuộc hành quân. Giữa lúc ấy, công điện hỏa tốc từ Phủ Tổng thống gởi đến. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã chỉ thị trao quyền chỉ huy tuyệt đối cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường và đòi hỏi phải tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng trong vùng hành quân.
(Sau này được biết là Nhân dân Quận Phù Mỹ và Phù Cát qua đại diện dân cử, đã đệ đơn yêu cầu xin Tổng thống Thiệu trao trách nhiệm hành quân cho Tr/tá Tường vì lý do: Cuộc hành quân Đại Bàng 800, dân chúng bị tổn thất nặng nề, và sau này lực lượng Đại Hàn hành quân khu vực này, sự tổn thất của dân chúng còn bị nặng nề hơn nữa. Riêng Tr/tá Tường, từ khi về Bình Định, với rất nhiều cuộc hành quân, với nhiều cuộc đụng độ với Cộng sản, nhân dân chưa hề bị tổn hại về sinh mạng lẫn của cải…)

Chính vì sự tin tưởng của dân chúng Bình Định, các cuộc hành quân trước đây đều lấy danh hiệu Toàn Thắng. Danh hiệu các cuộc hành quân giải tỏa Đề Gi của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là An Dân. Với tư cách Tư lệnh hành quân, Trung tá Tường xin phép Trung tướng Tư lệnh QĐ2 được bảo vệ tuyệt mật mọi kế hoạch. (Mãi sau này, mọi ý niệm điều quân, Tr/tá Tường luôn luôn bảo vệ một cách tuyệt mật, ngay cả Trung tâm HQ cũng phải giữ im lặng vô tuyến đến tận lúc chiến thắng.)
Việc bảo mật ấy đã thành công trong một chiến thắng lớn khác: Hạ sát tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công 405 Anh hùng, bắt toàn bộ cấp chỉ huy của Tiểu đoàn này, tịch thu rất nhiều vũ khí trong trận đột kích vào sào huyệt của chúng tại ranh giới Bình Định và Phú Yên, bẻ gẫy mũi dùi chúng đang tiến hành tấn công kho xăng và kho đạn của quân khu II tại Đèo Son Bình Định.
Cuộc hành quân này, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đặc biệt giữ kín, ngay cả Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) cũng không hề biết, không một ai hay, thậm chí lực lượng tham dự là các Nghĩa Quân viên được lựa chọn cho cuộc đột kích cũng chỉ được biết vào phút chót. Cho đến khi đích thân Trung Tá Tường lên máy vào lúc 3 giờ sáng, lệnh cho TTHQ gọi ANQD và Quân Cảnh ra phi trường tiếp nhận tù binh và các chiến lợi phẩm.
Ngay cả đến trận phản công giải tỏa Phi trường Phù Cát vào tháng 5/1974 với mưu toan của cộng quân tiêu diệt căn cứ 60 Không quân, cũng bị Trung Tá Tường dùng kỳ binh bất ngờ đánh cho “Sấm sét không kịp bưng tai” khiến Trung Đoàn 2 của sư Đoàn 3 Sao Vàng tan tác.)


Lời yêu cầu được hoàn toàn chấp thuận, và lực lượng được đặt dưới quyền của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường gồm: LĐ/7BDQ. QKI làm lực lượng trừ bị : 2 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 4 1/SĐ 22/BB, 1 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 421/SĐ 22/BB, 1 Chi Đoàn thiết quận vận M.113, 1 Tiểu Đoàn pháo binh, 1 Đại Đội Tr/sát, 1 Pháo Đội 115 ly và 1 Tiểu Đoàn/ ĐPQ/ Tuyên Đức.

So sánh Tương quan, giữa ta và địch, ta 3, địch 5, tức 3/5. Một cuộc hành quân tấn công giải tỏa với quân số tham chiến yếu hẳn hơn địch, trong lúc địch đã sẵn sàng chờ đợi một mặt trận đã được họ bố trí và lựa chọn trước, quả là điều không mấy sáng sủa. Mà thời gian lệnh ấn định là trong 7 ngày phải thanh toán xong chiến trường.
Trong lúc mọi người đều cho rằng cuộc hành quân khó lòng đạt được thành quả tốt đẹp thì Tr/tá Tường lại tin tưởng sẽ chiến thắng. Với lối đánh bất ngờ, yếu tố bảo mật phải được áp dụng triệt để. Ông xin với Th/tướng Phan Đình Niệm, Tư lệmh SĐ22BB để xin được xử dụng Đại đội trinh sát thuộc SĐ để tốc chiếm Núi Gềnh, và một đại đội thuộc LĐ/7BĐQ chiếm lại Đài Kiểm báo là hai cao điểm do 1 Huyện đội Phù Cát và 1 đơn vị đặc công của SĐ 3 Sao vàng quyết tử chiếm giữ. Th/tướng Niệm đã thoái thác cho rằng Đại đội Trinh sát đang trong thời gian dưỡng quân, khó lòng có thể đảm nhận tốt được trách nhiệm. Thấy vị T/lệnh Sư Đoàn lo ngại sự tổn thất, Tr/tá Tường vui vẻ, nói rằng ông sẽ dùng 1 Đại-đội ĐPQ thay thế Đại đội trinh sát của sư đoàn để thi hành nhiệm vụ vinh dự này.
Không một ai, hay ít ra, trừ viên Tư lệnh Quân đoàn, Tr/tướng Nguyễn văn Toàn, vốn đã biết rõ khã năng điều quân và tài năng của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường, nguyên là Giám đốc Trung tâm Hành Quân/QĐ 2. Th/tướng Niệm tỏ rõ nghi ngờ về khả năng của ĐPQ. Tr/tá Tường khẳng định rằng, một đoàn quân thiện chiến không nhất thiết phải là danh hiệu, mà do được huấn luyện như thế nào, tinh thần binh sỹ ra sao, và cũng còn tùy thuộc vào chính cấp chỉ huy của đơn vị ấy nữa. Ông chỉ xin riêng với Tr/tướng tư lệnh Quân đoàn cặp lon Đại úy để thăng cấp tại chỗ cho viên Trung úy Đại đội trưởng Đại đội Địa phương quân này, và Trung tướng Toàn chấp nhận yêu cầu ấy, nếu đạt được chiến thắng.

Ngay sau khi rời khỏi phòng họp, Tr/tá Tường đã đến Tiểu đoàn 209/ĐPQ do Đ/úy Nguyễn Bá Gạt làm Tiểu đoàn trưởng. Ông gặp riêng Tr/úy Phước, Đại đội trưởng Đ/đội 1/209 và ngỏ ý muốn xử dụng Đại đội này đánh chiếm Núi Gềnh bằng chiến thuật tốc chiến, chỉ xử dụng lựu đạn trong trận đánh, và ông hứa, nếu chiến thắng, ông sẽ tức khắc gắn lon Đại úy ngay tại mặt trận. Tr/úy Phước cũng hứa rằng ông sẽ chiếm Núi Gềnh một cách dễ dàng, không quá 30 phút.
(Tr/úy Phước kể rằng, từ thuở nhỏ, ông thường chăn trâu trong khu vực này nên mọi địa thế của Núi Gềnh ông biết rõ hơn ai hết, và lối tấn công bằng lựu đạn là hiệu quả nhất) Tr/tá Tường bàn thảo việc tiến công với người Sĩ Quan mà ôâng đã hiểu rõ và đã lựa chọn, duy nhất ông đòi hỏi Tr/úy Phước không được tiết lộ bí mật hành quân với bất cứ ai, ngay cả với những người thân cận nhất.
Ngày N1, trước nửa đêm, 1 Đại đội BĐQ được đổ xuống tấn công sấm sét vào Đài Kiểm báo, chưa đầy nửa tiếng, Đại đội Biệt Động Quân đã làm chủ tình hình, đánh bật lực lượng đặc công của SĐ 3 Sao Vàng ra khỏi mục tiêu, địch để lại nhiều vũ khí cá nhân và xác chết.
Ngày N lúc 5 giờ sáng, ĐĐ1/209 của trung úy Phước đã tiếp cận mặt trận, bất thần tung hàng trăm trái lựu đạn, chỉ 15 phút sau, Huyện đội Phù Cát lớp chết, lớp bị thương, lớp quăng vũ khí tháo chạy, cuộc chiến thắng của ĐĐ 1/209 trọn vẹn và chớp nhoáng đến nỗi không một ai có thể tin được. Về phía bạn, ĐĐ 1/209 chỉ duy nhất 1 binh sĩ bị thương nhẹ vì chính mảnh lựu đạn của mình. Cùng thời gian ấy, Tiểu đoàn của Trung đoàn 42 do đại úy Trí (Năm 1975 là Tr/ Tá) làm tiểu đoàn trưởng, đã từ chân phía Nam Núi Bà, vượt đỉnh núi, tràn xuống đánh như bão táp vào sau lưng địch. Cuộc tấn công bất ngờ đến nỗi trên tư lệnh Lữ Đoàn địch quẳng cả “Xắc-cốt” với toàn bộ tài liệu tháo chạy, 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cũng đồng loạt tràn ngập, địch không kịp phản ứng, bỏ chạy tháo thân.
Cũng ngày N, Chi đoàn M.113 thiết quân vận cũng đổ bộ lên bãi biển cách phía Nam căn cứ vài Km, nhất loạt tấn công hoàn toàn lực lượng địch đang vây hãm căn cứ Đề Gi, gần như toàn bộ pháo binh của địch quẳng lại, chúng đạp lên xác đồng đội mà tháo thân.
Cuộc hành quân truy kích bắt đầu và chỉ đúng 5 ngày sau ngày N, cuộc hành quân đã hoàn toàn chiến thắng, không một tổn thiết về phía bạn. Cuộc hành quân An Dân 1/73 hoàn tất bao gồm cả nhiêm vụ và công tác An Dân, công tác An Dân 1 ĐĐ SVSQ/CTCT Đà Lạt đảm trách trong giai đoạn thực tập công tác Dân Sự Vụ trước khi mãn khóa khóa 3/SQ/CTCT với 5 ngày vừa chiến thắng, vừa ổn định cuộc sống của nhân dân vùng Phù Mỹ và Phù Cát, không một người dân nào bị thiệt hại về sinh mạng và tài sản, bảo đảm 100% toàn vẹn mệnh lệnh do Phủ Tổng Thống trao phó, xứng đáng với tấm lòng tin tưởng và ưu ái của nhân dân Bình Định ủy thác.

Và ngay hôm sau, Tổng Thống Thiệu mời tất cả các Đại Sứ của các nước đến thăm viếng Đề Gi mới được giải tỏa, với tất cả mọi chứng tích về cuộc vi phạm Hiệp Định Đình Chiến của Cộng Sản VN, và Tổng Thống đãi các đại sứ một bữa gỏi cá cơm nổi tiếng ở Đề Gi, miền đất nổi danh của các chiến sĩ âm thầm, các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa quân Bình Định…
(Khoảng tháng 6 năm 1973, viên Thiếu tá Võ văn Ứng bất chợt về hồi chánh. Theo lời khai của y, với trận Đề Gi thất bại, 3/4 lực lượng tham chiến thuộc Lữ đoàn CS bị loại khỏi vòng chiến, một số lớn tử thương, không kể bị thương và bị bắt. Sư đoàn 3 Sao vàng rúng động, Quân khu 5 CS ngẩn ngơ, Hà Nội tím ruột. Ứng bị giáng cách tuột xuống chuẩn úy. Khi về hồi chánh, y tha thiết xin được gặp người đã làm cho y thân bại danh liệt: Trung tá Nguyễn Mạnh Tường.
Võ văn Ứng quê ở Hoài Nhơn, Bình Định, một sỹ quan nổi danh của SĐ3 Sao vàng, xuất thân từ hàng ngũ binh sỹ đi lên, chiến trận dạn dày. Trung tá Tường tiếp y với nụ cười ân cần, hiền hòa và bình dị. Y thật lòng thú nhận là y không thể ngờ được có ngày y bị bại trận một cách nhục nhã đến như thế. Tuy nhiên y rất khâm phục về phương cách điều quân lạ lùng và chớp nhoáng mà y không hề nghĩ tới, duy có một điều y bất phục:
- “Thưa ông, nếu tôi là ông, thì hai Tiểu-đoàn còn lại của tôi sẽ không thể nào chạy thoát, sẽ không còn một người nào sống sót, bằng cách xử dụng phi pháo và chặn đánh.”
Trung tá Tường vẫn nụ cười hiền hậu, đưa phóng đồ hành quân ra và nói:
- “Ông hãy xem đây, tôi đã dự tính hơn những điều ông nói, tuy nhiên, nếu tôi thực hiện điều đó, người dân vô tội sẽ tổn thất không nhỏ về nhân mạng và tài sản. Với tôi, dù nếu để tiêu diệt trọn hai tiểu đoàn tẩu thoát của các ông, đổi lại, chỉ một người dân phải chết oan uổng, tôi nhất quyết không làm!”
Ứng không ngờ là trong đời y, y đã gặp được một danh tài quân sự, mà lại càng không ngờ trong đời chiến trận sinh tử lại có một tấm lòng nhân ái đến như thế…

Trận đánh giải tỏa phi trường Phù Cát…

Sau trận Đề Gi, tiềm năng quân sự của Sư đoàn 3 Sao vàng bị hao hụt trầm trọng, các hoạt động quân sự của địch hầu như suy giảm hẳn. Hai Liên đoàn 4 và 6 Biệt Động tăng cường chế ngự địch tại hai Quận Hoài Nhơn và Tam Quan. Hoài Ân và một phần quận Phù Mỹ do trung đoàn 41 đảm trách. Tình hình an ninh tương đối ổn định. Quốc lộ 1 và 19 thông suốt, do các lực lượng ĐPQ và Nghĩa quân đảm trách. Bọn Cộng sản gửi văn thư tố giác đích danh Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là luôn luôn nống lấn, vi phạm Hiệp định đình chiến. Nực cười là lời tố giác nầy lại đứng trước một thực tế mà viên Trưởng đoàn Kiểm soát đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù Cát đã phải thừa nhận là chính cộng sản đã vi phạm . Thêm vào đó, các vị đại sứ của các quốc gia đã đích thân đến thăm căn cứ Đề Gi ngay sau khi quân lực ta tái chiếm, đã là những nhân chứng đáng tin cậy nhất. Do đó, văn thư tố giác Trung tá Nguyễn Mạnh Tường rơi vào khoảng không.

Trong suốt thời gian từ tháng 1/1973 cho đến tháng 4/1974 các ấp an ninh từ loại “V” được dần dần nâng lên loại A càng lúc càng nhiều, khu vực vùng đai an ninh thị xã Qui Nhơn mỗi lúc một mở rộng thêm, dù rằng địch cố gắng giành giật nhưng hầu như hoàn toàn thất bại.
Cũng thời gian này, tuy rằng tình hình quân sự tương đối lắng dịu, lại chính là giai đoạn vất vả nhất đối với Trung tá Tường. Ông thường xuyên có mặt ở khắp nơi, vừa luyện quân, vừa tổ chức, phối trí lại tất cả lực lượng dưới quyền. Một trong những đơn vị mà ông đã bỏ công sức để thành lập, huấn luyện đó là Liên đội Trinh sát của Tiểu khu. Ông đi đến từng các Trung đội ĐPQ và Nghĩa quân, tìm hiểu và lựa chọn đến từng binh sỹ. Ông tìm hiểu hoàn cảnh, đời sống, tâm tư và tình cảm của tất cả các chiến binh, lựa chọn các cấp chỉ huy dũng lược để bổ nhiệm vào các chức chỉ huy từ Tiểu đội trưởng trở lên. Trung úy Khuynh được bổ nhiệm làm Liên đội trung Liên đội Trinh sát Tiểu khu, với quân số khoảng 2 đại đội. Sự lao tâm khổ trí của ông đã được đền bù trong trận đánh giải vây căn cứ 60 KQ/Chiến thuật của Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, trú đóng tại Phi trường Phù Cát.
Phi trường Phù Cát là một phi trường quân sự lớn, do Không lực Hoa kỳ xây dựng vào những năm 1966-1967. Căn cứ nằm giữa ranh ba quận An Nhơn – Bình Khê và Phù Cát, kéo dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, chạy dài từ núi Vân Sơn, cạnh dòng sông Côn, lên đến tận Núi Một, kế cận cầu Phù Ly thuộc quận Phù Cát. Phi trường Phù Cát rộng lớn, hơn cả phi trường Phú Hiệp (Phú Yên). Tất cả các loại phi cơ phản lực có thể lên xuống một cách dễ dàng. Khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam, Đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyền tiếp nhận phi trường và trở thành chỉ huy trưởng căn cứ 60/KQ/CT. Từ căn cứ này xuất phát tất cả mọi loại phi vụ yểm trợ đắc lực nhu cầu chiến trường trong một vùng hoạt động rộng lớn.

Vào một buổi sáng ngày Chủ nhật, tháng 5 năm 1974, Đại tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh trưởng kiêm TKT/TKBĐ đi họp tại SaiGòn, Tr/Tá Tường xử lý thường vụ chức vụ tiểu khu trưởng trong lúc Đại tá Thọ vắng mặt. Trời còn rất sớm, Thượng Sĩ Nguyễn Đình Đốc, một hạ sỹ quan đầy tài năng và kinh nghiệm (hiện Th/Sĩ Đốc đang cư ngụ tại Canoga Park, Nam California) của phòng 2/Tiểu khu trình cho Tr/tá Tường một bản điện văn của địch đã được giải mã, nội dung vỏn vẹn gồm 10 chữ “Quân Át Chủ Bài đã vào vị trí tập kết”. Nội dung ấy nói lên rằng SĐ 3 Sao Vàng của quân khu 5 sắp khai diễn một cuộc tấn công có tầm mức rất quan trọng, tuy nhiên không rõ được mục tiêu mà chúng đã lựa chọn.
Là người chỉ huy luôn luôn nắm vững mọi tình hình lực lượng bạn, với một hệ thống tình báo riêng, ông còn biết rõ địch tình, lực lượng và những thói quen, cùng tích nết của các cấp chỉ huy của Sư đoàn 3 Sao Vàng. Ông theo dõi những chuyển dịch của lực lượng địch một cách cập nhật, với sự thận trọng và khách quan, đồng thời loại bỏ từng mục tiêu cùng khả năng chuyển quân của chúng.

Cuối cùng ông đã khẳng quyết rằng: Mục tiêu của con ” Át chủ bài” này chính là căn cứ 60 Không Quân chiến thuật. Lập tức ông điện thoại cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, chỉ huy trưởng căn cứ, cũng may Đại tá Tuyền còn tại nhà (căn cứ 60), và ông cho biết là có một chuyện cực kỳ quan trọng cần thảo luận với Đại tá Tuyền và yêu cầu Đại tá Tuyền ở nhà chờ ông, mà vì tính chất quan trọng của vấn đề ông không thể nói trên điện thoại được. Đại tá Tuyền đã khẩn cấp đưa trực thăng đón Trung tá Tường ngay tức khắc….

Để giữ bí mật, chỉ có hai người chỉ duy nhất trong cuộc họp mật này. Trung tá Tường cho Đại tá Tuyền biết chỉ trong đêm nay Cộng quân sẽ tấn công căn cứ 60/KQ CT. Lực lượng địch “Con át chủ bài” chắc chắn phải là một lực lượng cực kỳ hùng hậu.
Phòng ngự căn cứ gồm các lực lượng yểm cứ và quân nhân cơ hữu của không quân, ngoài ra từ trước, căn cứ được tăng cường tiểu đoàn 263 ĐPQ do Thiếu tá Phạm Hữu Kỳ làm Tiểu đoàn trưởng với quân số chừng 600 binh sĩ. Tuy nhiên, căn cứ quá rộng, lực lượng phòng thủ phải phân tán quá mỏng. Đường phi đạo nằm dọc theo chiều Bắc Đông Bắc và Nam Tây Nam, do đó căn cứ cũng phải trải dài theo chiều dài phi đạo.
Sườn phía đông của căn cứ là khu dân cư dầy đặc của 3 quận An Nhơn, Phù Cát và Tuy Phước, địch không có khả năng che dấu và di chuyển vũ khí nặng, do đó chắc chắn mũi tiến công của cộng sản từ sườn phía Tây của căn cứ, khu vực thưa thốt dân cư, xa xa ở phía Tây là dẫy Núi Vĩnh Thạnh, trùng điệp tiếp giáp với các mật khu của địch, cánh đồng phía Bắc quận Bình Khê, từ Gò Đề trở lên là khu đất cằn cỗi, do nước lũ từ triền dẫy Vĩnh Thạnh đổ xuống, năm từng năm xoi mòn làm thành những con lươn sỏi đá khô cằn, những con lươn này, là một địa thế lý tưởng cho cuộc chuyển quân, ém kín và tiếp cận mục tiêu của địch từ dẫy núi Vĩnh Thạnh chạy sang phía Đông, tiếp giáng Phi Trường Phù Cát.
Sườn phía Tây có hai ngọn đồi cao, một ở phía Bắc Tây Bắc nằm bên trong vòng đai phòng thủ là ngọn đồi 69, do một trung đội thuộc Tiểu đoàn 263 ĐPQ trấn ngự. Một ngọn đồi khác nằm hướng chính Tây mang tên Đồi 151 nằm cách căn cứ chừng 1 km do 1 Trung đội Nghĩa Quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng.

Muốn tấn công một mục tiêu rộng lớn và quan trọng như căn cứ 60/KQ/CT Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ứớc tính lực lượng địch phải từ cấp trung đoàn trở lên, được tăng cường lực lượng phòng không, pháo binh, hỏa tiễn nhằm khống chế các phi cơ của căn cứ, không cho cất cánh, đồng thời phá hủy tất cả những kho lẫm và những mục tiêu trọng yếu, mà chắc chắn chúng đã có được sơ đồ chi tiết do bọn nội tuyến cung cấp. Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ ra lệnh cắm trại 100% đồng thời mọi kế hoạch phòng thủ được âm thầm tiến hành sẵn sàng chờ địch. Đứng trước tình hình nghiêm trọng ấy, trong tay Trung tá Tường không còn bất cứ một lực lượng trừ bị nào ngoài Liên đội Trinh sát Tiểu khu của Trung úy Khuynh với quân số khoảng 250 binh sĩ. Phòng ngự không để cho địch tràn ngập căn cứ là thiết yếu, nhưng phản công tiêu diệt địch lại là một vấn đề quan trọng hơn.
Giữa lúc ấy, một đoàn xe chở một Tiểu đoàn Biệt động quân về thụ huấn tại TTHL/Lam Sơn, đang di chuyển ngang qua Tỉnh Bình Định,Trung tá Tường, sau rất nhiều khó khăn trong buổi sáng Chủ nhật ấy, mới xin phép được Thiếu tướng Phan Trọng Chinh, để được sử dụng Tiểu đoàn BĐQ này để tăng cường phòng thủ cho phi trường, tuy nhiên không được sử dụng Tiểu đoàn làm lực lượng tấn công, giải tỏa. Biết chắc chắn là với lực lượng còn lại, không đủ khả năng tấn công trực diện địch mà phải sử dụng kỳ binh tốc chiến, tốc thắng, âm thầm đánh vào sườn địch vào giữa lúc bất ngờ nhất, Trung tá Tường đã xin lệnh Quân đoàn được phép xử dụng Chi đoàn Thiết giáp đang trú đóng tại An Khê để bảo vệ trục lộ cho các đoàn xe tiếp tế từ Qui Nhơn lên Pleiku. Tuy nhiên Trung tướng Toàn, Tư lệnh QĐ2 đã đi họp tại Sàigòn, Ch/tướng Cẩm, Tư lệnh phó không có mặt, Sĩ Quan trực TTHQ cho biết không biết Ch/tướng Cẩm ở đâu trong ngày chủ nhật hôm ấy.

Trước tình trạng cấp bách, Trung tá Tường xử dụng trực thăng do Đại tá Tuyền biệt phái, đáp xuống An Khê, gặp Trung úy Mỹ, Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp, giả lệnh của Quân đoàn, đặt chi đoàn dưới quyền điều động của ông, đồng thời ông cũng ra lệnh đình hoãn tạm thời các đoàn công voa tiếp tế lên Cao nguyên cho đến khi có lệnh mới. Chi đoàn thiết giáp được lệnh đổ đèo An Khê xuống Bình Khê chờ lệnh.
Ông trình bày kế hoạch tấn công, nhiệm vụ của Chi đoàn và Liên đội thám sát Tiểu khu, có trách nhiệm tấn công sườn phía Nam của địch, tuyến xuất phát từ phía Bắc bờ sông Côn khi có lệnh. Kế hoạch của ông là, Liên đội Thám sát tùng thiết đánh thốc từ phía Nam lên với sức mạnh hỏa lực tối đa, với vận tốc tối đa, không được dừng lại để thu nhặt chiến lợi phẩm mà phải chia cắt nát mặt trận của địch. Trong khi ấy, ông sẽ dùng Tiểu đoàn BĐQ giả làm lực lượng tấn công trực diện, với tất cả hỏa lực và những vũ khí cộng đồng để thu hút địch.

Trung tá Tường đáp xuống bờ bắc sông Côn, cách Đền thờ Đức Quang Trung khoảng 50m, dẫn Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh cùng ông vào điện thờ làm lễ dâng hương, xin anh linh thần dũng của người Anh hùng năm xưa, đã chớp nhoáng đánh tan 20 vạn quân Thanh vào đầu Xuân năm Kỷ-dậu 1789, phù trợ cho các chiến binh hậu duệ của Ngài. Sau đó ông cùng Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh lên trực thăng đi thám sát địa thế, bởi vì địa hình khu vực Bắc Bình Khê, Tây Phù Cát, An Nhơn có nhiều bất lợi cho cuộc tấn công chớp nhoáng bằng thiết giáp, do đó người chỉ huy phải nắm vững địa hình một cách chặt chẽ.

Sử dụng 1 Chi đoàn Thiết giáp với một Liên đội làm mũi nhọn, làm chủ lực tấn công một địch thủ mà quân số và hỏa lực gấp 10 lần là một điều ít ai dám làm, thậm chí không dám nghĩ tới. Thế nhưng trong chiến sử cổ kim và đông tây đã từng xảy ra với các danh tướng đã từng chiến thắng trong mỗi hoàn cảnh với những yếu tố bất ngờ, thần tốc …
Đêm chủ nhật hôm ấy, các chiến binh căn cứ Không Quân/Chiến Thuật trong tư thế sẵn sàng chờ địch. Và quả nhiên, cộng quân mở đầu cuộc tấn công bằng hàng ngàn trái đạn đủ loại. Tiểu đoàn Trinh sát Sao vàng ồ ạt tấn công cao điểm 151 do Trung đội Nghĩa quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng. Đồi 151 bị địch tràn ngập và chiếm ngự, chúng dùng điểm cao nầy để chế ngự phi trường. Riêng ngọn đồi 69 nằm trong vòng đai phòng thủ Bắc Tây Bắc phi trường do một trung đội của Tiểu đoàn 263 tử thủ, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Trung đoàn 2 Sao Vàng, Trung đoàn được gọi là “con át chủ bài” nghĩ rằng với yếu tố bất ngờ và với hỏa lực ưu thế, chúng sẽ dễ dàng chọc thủng tuyến phòng ngự và tràn ngập căn cứ một cách dễ dàng. Nhưng chúng không thể ngờ, các chiến sĩ của căn cứ đã chờ đợi chúng và bằng tất cả sức chiến đấu mãnh liệt, từng đợt tấn công của cộng quân đã bị đẫy lui.

Trong lúc ấy, tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn BĐQ được trang bị bằng những vũ khí hạng nặng, khai hỏa ào ạt, được ngụy trang như những chiến xa, lôi kéo hỏa lực địch, chúng nghĩ rằng những chiến xa của ta bắt đầu xung kích… Giữa lúc địch tấn công vào căn cứ, cũng là lúc Chi đoàn thiết giáp chuyển các chiến binh của Liên đội Thám sát Tiểu khu bắt đầu vượt tuyến xuất phát, âm thầm xuất kích đánh vào sườn trái của địch. Trong bóng đêm mịt mùng, mãi mê vì bị lôi kéo, hòng ngăn chặn thiết giáp đánh ra từ căn cứ (do BĐQ ngụy trang), cả Trung đoàn 2 Sao Vàng và các đơn vị tăng cường dồn hết mọi hỏa lực về phia trước. Chúng không ngờ bên sườn trái, tử thần đang từng phút kề cận. Cho đến khi toàn bộ hỏa lực của Chi đội thiết giáp và Liên đội Trinh sát tấn công ào ào như sấm dậy, như sét đánh không kịp bưng tai, nổi kinh hoàng tràn ngập trận tuyến địch, địch không kịp quay súng, từng lớp bị đốn ngã…

Giữa đêm đen, khi đã phát hiện ra lực lượng tập kích sườn trái, từng lưới đạn vẫn ào ào đổ xuống, lớp chết , lớp bị thương, địch bỏ súng tháo chạy, lớp này cuốn theo lớp khác bị bắn hạ. Toàn thể Trung đoàn 2 Sao Vàng “anh hùng” thoắt chốc tan tác, cuống cuồng tháo thân… Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn trên đồi 151 không hề hay biết, cho đến lúc một đại đội của liên đội Trinh sát tiểu khu do Tr/úy Khuynh chỉ huy, đánh thốc lên từ sau lưng bằng lựu đạn, tên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sao Vàng bị đốn ngã ngay từ phút đầu tiên, cả tiểu đoàn buông súng lao xuống sườn đồi tháo chạy, bất kể phương hướng, chúng kinh hoàng bởi sự đột kích hết sức bất ngờ, tử thần đã từ phía sau ập đến… Xác địch ngỗn ngang trên đồi cao, cùng một số thi thể của các chiến sĩ nghĩa quân đã hy sinh lúc khởi đầu chiến trận. Cuộc tháo chạy kinh hoàng, bỏ lại đủ loại vũ khí trên đường tiến quân của ta. Ngược lại, như một sự linh thiêng mầu nhiệm, lực lượng tấn công của ta hoàn toàn vô sự.
Trung úy Khuynh gỡ chiếc “xà cột”trên vai xác tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng. Mọi ý đồ của địch được ghi chép trong tài liệu bắt được cho thấy trận đánh này chỉ là bước khởi đầu cho một trận tấn công toàn lãnh thổ tỉnh Bình Định. Ý đồ của chúng bị bẻ gẫy, bị đập tan ngay từ bước khởi đầu. Cùng lúc, những tên còn sống sót của Trung đoàn 2 Sư Đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng tháo chạy, Chi khu Phù Cát tổ chức cuộc hành quân trực thăng vận khẩn cấp với 2 Trung đội Nghĩa Quân đổ xuống mục tiêu đã được dự trù, tịch thu được 1 khẩu súng “bắn hỏa tiển” loại mới với những trái đạn khổng lồ còn lăn lóc (đây là một loại vũ khí mới nhất của Trung Cộng, súng dùng để bắn hỏa tiễn với máy nhắm hiện đại. Máy nhắm này phía Hoa Kỳ đã xin mượn để nghiên cứu, vì đây là loại súng bắn hỏa tiễn tối tân nhất của Trung cộng, bị tịch thu ở chiến trường miền Nam, với mức độ chính xác gấp nhiều lần so với dàn phóng hỏa tiễn có từ trước). Ngoài ra còn tịch thu được: 1 súng cối 120 ly, 4 đại bác 82 ly và 1 đại bác 122 ly

Số lượng vũ khí cộng đồng, cá nhân và xác địch quân bỏ lại trên chiến địa không đếm xuể, hầu như toàn bộ lực lượng địch tham chiến bị tiêu diệt gần hết. Một điều kỳ diệu là thiệt hại của lực lượng bạn không đáng kể, ngoại trừ trung đội Nghĩa quân của chi khu Bình Khê trú đóng trên đồi 151 đã hy sinh lúc khởi đầu trận đánh.
Sau chiến thắng, Chuẩn tướng Cẩm, Tư lệnh phó Quân đoàn 2, đề nghị Tướng Toàn phạt Trung tá Nguyễn Mạnh Tường 30 ngày trọng cấm với lý do đã điều động và xử dụng chi đoàn Thiết giáp khi chưa được “ông-tướng-rong-chơi” này cho phép(!!!), trong khi 2 Trung tá Không quân thuộc căn cứ 60/KQ/CT được vinh thăng Đại tá tại mặt trận, một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ được thăng cấp rất hạn chế… Điều bất công ấy đã khiến cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền và toàn thể Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ tham chiến kinh ngạc và phẫn nộ. Ngay cả đến Trung tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn văn Minh cũng tức giận. Trung tướng Minh ra thăm căn cứ K/Q Chiến thuật, cho tổ chức tiệc ăn mừng chiến thắng. Tướng Minh đã ca ngợi và giới thiệu Trung tá Tường với thuộc cấp như vị “ân nhân” của binh chủng Không quân, lệnh cho binh chủng luôn ghi nhớ công sức của người đã cứu nguy và mang lại chiến thắng cho binh chủng, và sẽ luôn phải ưu tiên thỏa mãn cho Tr/tá Tường những nhu cầu công cũng như tư. Đại tá Tuyền từ đó đã dồn mọi ưu tiên không yểm cho Trung tá Tường trong các yêu cầu tại chiến trường. Cũng vì thế, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB đã kiện về Bộ Tổng tham mưu về sự ưu tiên nầy. Bộ Tổng tham mưu đã phái một Đại tá ra điều tra sự kiện thưa gởi ấy. Đại tá Tuyền đã trả lời một cách minh bạch:
- “Điều ấy dễ hiểu, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đã giúp chúng tôi một cách tận lực trong lúc nguy nan, cấp cứu và giải thoát cho những phi đoàn của chúng tôi lúc bị bắn hạ một cách mau chóng. Trong khi ấy, Sư đoàn đã không làm gì trước những yêu cầu như thế. Do đó, chúng tôi phải tận lực yểm trợ cho Trung tá Tường là điều đương nhiên!”
Người chỉ huy và mang lại chiến thắng trong trận Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, bị đối xử như thế, đã khiến Trung tướng Minh bất bình và không thể im lặng, do đó, trong một cuộc họp các tướng lãnh tại Sài gòn, có mặt Đại tướng Trần thiện Khiêm, đương kim Thủ tướng Chính phủ, Trung tướng Minh đã nêu lên thắc mắc này. Đại tướmg Khiêm đã hỏi Đại tướng Cao văn Viên về sự kiện ấy, ông Viên trình bày là “đã hết cấp số!”. Đại tướng Khiêm lệnh mang hồ sơ của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường cho ông đích thân cứu xét, và ngay tức khắc Thủ tướng Đại tướng Trần Thiện Khiêm đã ký nghị định thăng cấp Đại tá thực thụ cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ngay sau cuộc họp. Đó là vào khoảng tháng 8/1974.
Sau khi được thăng Đại tá, một tưởng thưởng muộn màng, Đại tá Tường được thuyên chuyển về làm Phụ tá Hành quân cho tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5BB. Kể từ ngày ấy, tôi không gặp lại Đại tá Tường, mãi cho đến cuối năm 1977 mới gặp lại ông tại Hoàng Liên Sơn trong một lần đi vác nứa. Tôi đã đứng nghiêm kính cẩn chào ông bằng lễ nghi quân cách với những dòng nước mắt nghẹn ngào. Ông vẫn bình thản như ngày xưa, vẫn đôi mắt và nụ cười thuở trước. Dường như sự đày đọa trong tù ngục không ảnh hưởng gì đến ông. Người chiến binh già ấy đã từng làm cho tôi kính trọng thuở nào, càng làm cho tôi kính yêu hơn nữa trong cung cách thản nhiên chịu đựng sự nhục mạ, sự đọa đày hèn hạ trong chốn lao tù.

Bẳng đi bảy năm sau đó, 1984, tôi được gặp lại ông tại Z30A Xuân Lộc, ông sống âm thầm trong cuộc sống đày ải như một bậc chân tu. Ông dạy tôi về Thiền, về khí công, về cách điều tức “sâu-dài-êm-đềm-chậm”. Thì ra chính Thiền công đã khiến ông vượt qua được tất cả, kể cả mọi bệnh tật cũng không xâm nhập được vào cơ thể người chiến binh năm xưa. Thỉnh thoảng ông mới được thăm nuôi, cuộc sống cực kỳ đạm bạc, thế mà ông vẫn chia xẻ những món quà khiêm tốn, ít ỏi cho những anh em đồng tù bất hạnh, không kể thân sơ, chỉ giữ lại cho mình những hủ tương mặn chát. Trong tù, tôi được nghe nhiều người nhắc đến ông trong thời gian ông về làm Phụ tá hành quân Sư đoàn 5, kể lại cuộc rút quân thần kỳ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, cùng những đức tính cao quý, không chỉ những sỹ quan thuộc Sư đoàn 5 mà còn rất nhiều người đã sống bên ông trong quãng đời tù đày.

Mãi đến năm 1992, tôi mới gặp lại ông tại Sài gòn. Ông sống một mình trong một con hẻm đường Công Lý. Ngày từng ngày, ông đi chữa bệnh cho những ai cần đến ông. Ông không nhận bất cứ thù lao nào từ những bệnh nhân được ông chữa khỏi. Những lúc rảnh rỗi, ông lên gác chuông chùa Vĩnh nghiêm đọc kinh Phật.
Năm 1993, tôi bị CSVN bắt lại với án tù 12 năm về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, may mắn được Quốc tế can thiệp và được ra khỏi tù cuối năm 1998.

Đầu năm 1999, tôi sang Mỹ theo diện H.O được chiếu cố vì quá muộn màng. Và vui mừng xiết bao vì lại được gặp lại ông. Nhân lời yêu cầu của nhóm nhà văn quân đội chủ trương thực hiện tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử”, tôi xin phép ông cho phép tôi được viết lại một cách khiêm tốn quãng thời gian ông đã tham dự và chỉ huy các trận đánh ở chiến trường gian khổ Bình Định, cùng những chiến thắng lẫy lừng của các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa Quân âm thầm mà ông chính là người đã, với tài trí và đức độ của mình, đưa đến những chiến thắng thần kỳ trong sự hạn chế và gìn giữ tối đa sinh mạng và tài sản của dân lành vô tội. Ông đã từ chối rất nhiều lần với ý muốn thành khẩn của tôi, khi tôi muốn đưa một tài năng chỉ huy của quân lực vào Quân sử, với lý do là ông đã quên hết trong thế giới của Thiền đạo. Và cũng bởi vì, với kết cuộc thảm khốc của sinh mạng QLVNCH trong tháng Tư đen tối 1975, thì mọi chiến công đã trở thành tận cùng đau đớn, có nhắc lại chỉ thêm đắng cay, mà mỗi người trong chúng ta chỉ nên âm thầm trong sám hối bỡi những hành vi đã có, đóng góp một phần trong cuộc bại trận này.

Theo ông, có 3 đại họa trong thiện hạ là:
1/ Công ít mà bỗng lộc nhiều
2/ Tài mọn mà địa vị cao
3/ Chí nhỏ mà mưu việc lớn.


Tôi hoàn toàn thẩm thấu được nổi đau lòng ấy, nhưng tôi thưa với ông là “VNCH của chúng ta bị bức tử vì nhiều mặt. Tuy nhiên, các chiến-sỹ QLVNCH đã chiến đấu vô cùng anh dũng, biết bao người đã nằm xuống, đã đổ máu xương cho một Việt Nam Tự do, và giờ nầy các chiến binh vô danh cả triệu người đang sống trong tối tăm, trong đọa đày tủi nhục, trong đau đớn ê chề… Vậy thì hãy cất tiếng nói, HÃY TRẢ LẠI DANH DỰ CHO CÁC CHIẾN BINH ÂM THẦM kia, trả lại cho lịch sử mai hậu về một VNCH và một QLVNCH đã có những đứa con xứng đáng trong bất khuất, anh dũng trong hy sinh, vinh hiển trong máu xương oan khuất. Việc nhắc đến, vinh danh những chiến binh đã chiến đấu, đã nằm xuống như dòng nước mát, như nén hương thơm cho Quê Hương Việt Nam thống khổ. Và sau cùng, vì những điều tôi vừa trình bày. Cuối cùng, ông đã đồng ý cho tôi viết những dòng trả lại vinh quang cho những người lính miền Nam.

Trần Thúc Vũ
(Bài đọc được trích từ Việt Luận, xin theo dõi toàn bài trong link ở cuối)
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Posted: Thu Oct 14, 2010 6:12 pm
by khieulong

Image

Vài cảm nghĩ
về Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư ĐoànTQLCVN


MX Mai văn Tấn.

Trong cuối cuộc đời :

Chấp nhận lưu vong làm người bại tẩu,
Lang thang xứ người hưởng chút lòng nhân.
thơ Phan văn Thuận
Cuộc đời buông trôi với nổi ưu tư và mối hờn vong quốc, nhìn xem diễn tiến tình hình VN không khỏi bùi ngùi đất nước càng ngày đi dến chổ tuyệt vọng,nhân dân lầm than, xã hội bất công, tệ nạn không còn cách giải quyết. Nếu Cộng SảnVN còn cai trị đất nước, không biết tương lai đi về đâu….

Qua 35 năm, nghĩ lại một thời quá khứ gian khổ và nguy hiểm, nhưng cũng không thiếu nét hào hùng trong cuộc chiến xa xưa. Biết bao chiến sĩ đã đổ xương máu, trong cuộc chiến cho tự do,chống lại làn sóng Đỏ. Bao người đã hy sinh một phần thân thể, hiện sống lê lếch ngoài xã hội ở VN. Mặc dầu thất bại trong cuộc chiến chống Cộng, nhưng công lao của các chiến sĩ QLVNCH không phai mờ trong lòng nhân dân VN. Dành một phút suy tư để tưởng nhớ đến những anh hùng vị quốc vong thân. Nhắc đến công lao của Sư Đoàn/TQLC, nhiều bài viết đã nói lên những hào hùng và sự hy sinh của các chiến sĩ TQLC. Nhưng chưa bài viết nào nói đến vị Tư Lệnh,Thiếu Tướng Búi thế Lân.Nhân đọc bài "Ký ức tháng 4, liên quan đến TQLC của Tiến Sĩ Nguyễn tiến Hưng" tôi muốn nhân cơ hội nói lên cảm nghĩ về Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn/TQLCVN.
Image

Image
Ông nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn sau cùng cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bắt đầu hành quân Lam sơn 719, ông làm Tư Lệnh phó nhưng thường xuyên tại vùng hành quân, trong khi Trung Tướng Lê nguyên Khang đương kiêm Tư Lệnh nhưng ở tại hậu cứ Saigon.Từ dây tôi muốn xác nhận Sư Đoàn/TQLC bắt đầu hành quân cả Sư Đoàn không còn tăng phái từng Tiểu Đoàn hoặc Lữ Đoàn cho các đơn vị Bộ Binh.Trong trận tái chiến chiếm cổ thành Quảng Trị ông chính thức Tư Lệnh Sư Đoàn/TQLC.

Trận tái chiếm Cổ thành Quảng Trị, phải nói cuộc hành quân tấn công quy mô cấp Quân đoàn. Cuộc hành quân nầy là cuộc hành quân quan trọng về chính trị lẫn chiến lược trong quân sử VNCH, vĩ đại nhất và cũng thành công nhất trong hơn hai mươi năm chinh chiến chống Cộng Sản. Gồm các đơn vị thiện chiến nhất như Nhảy Dù, Biệt Động Quân,TQLC,Thiết giáp, trong đó Sư ĐoànTQLC là nổ lực chính tấn công vào Cổ thành .Ngoài ra các phi tuần yểm trợ Chiến lược lẩn Chiến thuật của Không Quân Việt Nam và Hoa Kỳ,Hải Pháo,Pháo Binh….51 ngày đêm thường trực. Các chiến sĩ ngày đêm đối đầu với Địch, tinh thần luôn căng thẳng, gian lao, nguy hiểm giành từng tất đất với Cộng Sản. Bộ tham mưu từ cấp Quân Đoàn, Sư Đoàn, Lữ Đoàn ngày đêm thường trực theo dỏi, phối họp hoả lực yểm trợ…Cuộc chiến với sự hy sinh vô bờ bến để quyết chiến thắng chứ không may mắn, hoặc phép lạ nào. Ngày 15 tháng 9 năm 1972 lá cờ Quốc Gia bay phất phới trên Cổ Thành là ngày đáng vinh danh cho cho tất cả các chiến sĩ QLVNCH, không quên bao chiến sĩ đã hy sinh và đã bị loại ra ngoài vòng chiến.Trong trận chiến gay go, ta không thể phủ nhận công lao của Thiếu Tướng Tư Lệnh, người đã sát cánh với tất cả chiến sĩ Mũ Xanh trong những lúc hiểm nguy cũng như có những quyết định chính xác để có sự chiến thắng vẻ vang.
Image
Ghi lại chiến tích, xin kèm hai công điện :

Tổng thốngVNCH :

« Tôi trân trọng yêu cầu Đại Tướng chuyển đến Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I, Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC cùng toàn thể đơn vị và chiến sĩ TQLC đã đánh tan Cộng sản xâm lược ra khỏi Thị xã và Cổ Thành Quảng Trị, lời ngợi khen nồng nhiệt nhất, đồng thời lời khâm phục vô biên của Tôi và toàn thể Chính Phủ họp tại dinh Độc Lập sáng hôm nay 16 tháng 9 năm 1972. Bốn ngày trước khi đúc kết chiến dịch ba tháng thừa thắng xông lên tái chiếm lãnh thổ và sau những tuần lể đầy hy sinh gian khổ, toàn thể các đơn vị thuộc mọi Quân Binh Chủng địa đầu giới tuyến đã ghi thêm những nét vàng son sáng chói vào Quân Sử hào hùng của Dân tộc.

Mưu đồ của bọn Cộng Sản xâm lược muốn biến Quảng Trị thành một Bình Long anh dũng, một Kontum kiêu hủng của chúng, đồng thời bám lấy một địa danh tâm lý và chánh trị để lừa bịp dư luận đã bị toàn thể anh em đánh tan ra mây khói.

Một lần nửa Tôi nhiệt liệt khen ngợi toàn thể anh em đã chiến thắng. Tôi nghiêng mình trước trước những chiến sĩ hy sinh cho đại nghĩa Dân tộc.Tôi sẽ đến thăm anh em

Ký Tên
Tổng Thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu.



Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I & Quân Khu I :

Gởi Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC

Tôi đã nhìn thấy Quốc kỳ tung bay trên nền trời Quảng trị chỉ ít lâu sau khi những bàn tay kiêu dũng của anh em kéo lên từ trong Cổ Thành hôm 16 tháng 9 năm 1972.Tôi muốn thấy tại chổ chiến thắng của anh em để ngay tại chiến trường, tự cảm thấy hảnh diện được chỉ huy Sư Đoàn TQLC trong một chiến dịch quy mô nhất của Quân Đội.

Từ Bến Hải đến Cà Mau,gót chân người chiến sĩ TQLC đã trải qua bao nhiêu thử thách và chiến thắng.Nhưng phải nói đây là lần đầu tiên Sư Đoàn phải chiến đấu trong hoàn cảnh đặc biệt, đối đầu với nhiều khó khăn nhất, với kẻ thù đông gấp bội. Vì thế chiến thắng Quảng Trị, đánh tan Địch quân, giải phóng thị xã, là chiến thắng lớn nhất, lẩy lừng nhất.

Đấu tháng 5 năm 1972, khi Quảng Trị mất vào tay Địch, Sư Đoàn đã trấn giử được tuyến Mỹ Chánh và đã góp công đầu, cùng với các đơn vị của Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn I BB trong nhiệm vụ giữ Huế. Hàng trăm ngàn dân Trị Thiên đã phải di tản về Nam trước áp lực của Địch, nhưng tại tuyến Mỹ Chánh anh em đã ngăn được sức tiến của quân thù.

Những cuộc tấn kích hạn chế, sau đó đã được tổ chức trong vùng Hải lăng để dành lại thế chủ động và lủng đoạn các kế hoạch tiếp tục tấn công của giặc. Hành Quân Sóng Thần 5 ngày 13 tháng 5 tại Hải Lăng và Đa Nghi. Hành Quân Sóng Thần 6 ngày 24 tháng 5 tại Mỹ Thủy, Hành Quân Sóng thấn 8 vượt tuyến Mỹ Chánh ngày 8 tháng 6 đã đánh vào địch những đòn nặng và đã chuẩn bị cho cuộc phản công của quân ta ngày 28 tháng 6 năm 1972 là ngày chiến dịch Lam Sơn 72 bắt đầu.TQLC và Nhảy Dù đã gây được bất ngờ kỳ thú ngay cho cả Địch cùng với các Quân Binh Chủng khác và với một quân số bạn địch 1/4, anh em đã đẩy lui được Địch, tiêu diệt một phần lớn tiềm năng của chúng,và trận chiến gay go nhất đã khởi diển từ ngày 27 tháng 7 năm 1972 khi Sư Đoàn tiếp nhận thị xã Quảng Trị từ Sư Đoàn Nhảy Dù. Chiến sĩ TQLC sau 51 ngày tiến chiếm từng tất đất, từng ngôi nhà, đã dành lại toàn bộ thị xã Quảng Trị, diệt được trên14.000 tên Địch, thu 4350 vủ khí, huỷ hay thu 71 khẩu pháo, 73 chiến xa tính từ đầu tháng 5/72.

Giặc đã dùng lực lượng của 4 Sư Đoàn chủ lực để giử thị xã Quảng Trị, những Sư Đoàn lừng danh với nhửng chiến thắng ở Bắc,Trung Việt và nhất là ở Điện Biên Phủ 304, 312, 325. Sư Đoàn TQLC đã đương đầu với chúng và nhẩn nại hơn chúng, dũng cảm hơn chúng,và đã chiến thắng chúng « ,những anh hùng Điện Biên một thời »

Chiến thắng đã được xây dựng với nhiều xương máu của các chiến sĩ, với sức chịu đựng vượt mức của anh em. Nhờ sự khéo léo và tài ba của Chuẩn Tướng và các SQ.

Tôi muốn qua thư nầy tỏ lòng khâm phục của Tôi đối với Sư Đoàn/TQLC, với những hy sinh vô bờ bến của các anh em, và lập lại sự hảnh diện chỉ huy các anh em trong cuộc thử thách lớn nhất, trong chiến dịch quy mô nhất của Quân Đội.

Tôi yêu cầu Chuẩn Tướng chuyển lới ngợi khen của tôi đến tất cả SQ, HSQ và BS của Sư Đoàn.

Trung Tướng Ngô quang Trưởng
Tư Lệnh Quân Đoàn I & Quân Khu I


Một cách khách quan nhìn nhận, lúc phải quyết chiến tấn công dành lại thị xã Quảng Trị, ngoài Sư Đoàn/TQLC không còn đơn vị nào quân số đây đủ, tinh thần sẵn sàng hơn TQLC.Vì chỉ có đơn vị TQLC , đơn vị duy nhất bổ sung quân số nhanh nhất và sẵn sàng nhất. Ngay ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân số khối bổ sung sẵn sàng còn hơn 1000 người để bổ sung khi cần thiết. Điều nầy cũng khó chối bỏ công lao sắp xếp của Tư Lệnh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi xin ghi lại biến chuyển ngày cuối cùng:

Vũng Tàu giúp tránh đại họa:

Một điểm lịch sử quan trọng khác là việc Đại Sứ Martin cực lực phản đối việc Washington có kế hoạch đưa TQLC Mỹ vào Saigon để di tản người Hoa Kỳ. Kế hoạch nầy hết sức nguy hiểm vì Binh Sĩ Mỹ phải đánh nhau với QLVNCH dể tìm lối thoát, dân chúng sẽ bị tai họa không tránh khỏi. Đại Sứ Martin đã vận động với Nhảy Dù và TQLCVN để bảo đảm cửa biển, một lối thoát cho người Mỹ. Ông đã trình bày với Washington ngăn cản một cách quyết liệt, đã có quân thiện chiến của VNCH bảo đảm an ninh cho cuộc di tản người Mỹ từ Saigon, những đơn vị đồn trú tại Vũng tàu và những điểm cần thiết để tàu cập bến

Một bức điện văn gởi cho Tướng Scowcroft đề ngày 16 tháng 4 như sau:

Nếu tôi phải mang những người lính Dù và TQLC nầy cùng gia đình họ đi,tôi sẽ làm như vậy và trả lời sau về việc nầy.Tôi chẳng xin phép ông đâu dể khỏi làm phiền đến toà Bạch ốc quá sớm.Và ông cũng không cần nói tới chuyện nầy khi trả lời tôi.Tuy nhiên tôi muốn ông Henry Kissinger và Tổng Thống biết chuyện nầy.Nếu có gì trục trặc thì ông cứ tách rời khỏi tôi và đổ trút cho tôi hành động không có phép nếu ông muốn.Nhưng đây là cách tốt nhất để rút ra khỏi đây mà không phải dùng quân đội Mỹ đánh nhau với quân đội Đồng minh trước đây của chúng ta và sát hại nhân dân VN vô tội.

Vì Đại Sứ Martin liên lạc với Thiếu Tướng Tư Lệnh không qua Tổng Tham Mưu và Quân Đoàn 3 nên mới có nhiều thị phi là Thiếu Tướng ở Vủng Tàu không về Long Bình với TQLC mọi việc để Tư Lệnh phó, sẻ bị phạt hoặc bị đưa toà án Quân Sự ….Bây giờ thấy điều đó oan cho ông, nhưng có điều ông giử im lặng cho đến giờ, không tranh cải hay nói cho ai biết để biện minh hành động của mình. Bởi thế ngày ông rời đảo Guam để đi đến trại tỵ nạn US Marine camp Pendleton đã được Đại Tá Mc Cain Tư Lệnh TQLC Mỹ ở Guam đến trại Navy camp Cunningham và một toán dàn chào đưa tiển riêng ông mặc dầu trên trại có cả Thủ Tướng Nguyễn lưu Viên và một số Tướng Lãnh khác. Ngày ông rời camp Pendleton để đi định cư, Tướng Tư Lệnh Mỹ ở tại căn cứ US Marine camp Pendleton ở San Diego và một trung đội dàn chào tiển đưa cũng chỉ độc nhất Tướng Lân có một số người VN tỵ nạn tham dự. Khi tôi nghe tin nầy thú thật không hiểu vì sao và tại sao vì có nhiểu vị Tướng hơn thâm niên lẫn cấp bậc đối với Tướng Lân, sao không ai đưa tiển. Bây giờ tôi hiểu đấy là sự danh dự trả lại công đạo cho Tư Lệnh TQLCVN. Hơn nửa cuộc chiến dũng cảm ở Xuân Lộc cho thời gian di tản được thêm 10 ngày quý giá. Cái nghịch lý là QLVNCH không những đã không bắt con tin mà lại giúp những người Đồng Minh của VNCH di tản an toàn (theo lời Đại sứ Martin). Điều nầy làm tôi liên tưởng đến chương trình ra đi của nhửng tù nhân cải tạo được thông qua bởi những công lao nầy một phần

Những cảm nghĩ của tôi, chắc Thiếu Tướng Tư Lệnh không bằng lòng,nhưng xin phép Thiếu Tướng đó là những gì chân thật của một thuộc cấp suy nghĩ sau khi đọc được ký ức tháng tư của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng.Nhưng chắc chắn tôi không biết nhiều, chỉ kể những điều mình hiểu trong khả năng giới hạn vì tôi không làm việc kề cận bên cạnh Thiếu Tướng, nhưng tôi nghĩ cũng nói lên được suy nghĩ dành cho một cấp chỉ huy có nhiều hàm oan và những tiếng thị phi không đích xác và hy vọng nhỏ nhoi những lời nầy sẽ là một chút gì đó an ủi chuổi ngày còn lại của Tư Lệnh..

Ngày hôm nay ngồi viết lại những dữ kiện nầy để vinh danh tất cả quân nhân các cấp trong Sư ĐoànTQLC những người đã hy sinh cũng như những người còn sống rải rác mọi nơi cùng những người đã hy sinh một phấn thân thể cho cuộc chiến vừa qua. Riêng Thiếu Tướng Tư Lệnh cả đời đã đem tất cả tâm tư và công sức cho sự lớn mạnh của Sư đoànTQLC. Chúng ta đương nhiên chấp nhận không bàn cải. Mặc dầu trong lúc thi hành nhiệm vụ, không khỏi có những lỗi lầm làm phật lòng một số chiến hữu, nhưng nhân vô thập toàn không ai không có lỗi lầm.

Đến bây giờ mỗi khi hội ngộ của Sư Đoàn TQLC Ông cũng đến chung vui với anh em trong tình huynh đệ chi binh nếu sức khoẻ cho phép. Mọi gian khổ đã qua.mọi người bây giờ thanh thản, nhớ những nổi khổ cực, nguy hiểm đã qua như một niềm hảnh diện trong đời của một biến cố lịch sử chưa bao giờ xảy ra cho dân tộc VN. Chúng ta tỵ hiềm để làm gì trong những ngày cuối cuộc đời, ai ai cũng phải ra đi vĩnh viễn. Chi bằng gặp nhau vui vẻ, hỏi thăm sức khoẻ nhau, búi ngùi cho những người ra đi sớm, nói những lời đẹp đẻ cho nhau.Thật ra chúng ta cứ cố chấp người đau khổ chính là chúng ta.

Mây trắng vẫn là mây trắng củ,
Trời xanh đâu khác trời xưa.
Giếng sâu ấp ủ lòng thương nhớ.
Đôi cánh chim bằng tạt dậu thưa
thơ Nguyễn sỹ Tế


MX Mai Văn Tấn
Indiana cuối xuân 2010.

Posted: Sat Oct 16, 2010 7:09 pm
by hoanghoa
NHÂN CHUYỆN ÔNG TƯỚNG NĂM XƯA

Sơn Tùng
Mấy tuần nay, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đã bị chửi rủa thậm tệ kể từ khi ông xuất đầu lộ diện sau hơn 35 năm sống ẩn dật và im lặng.

Không rõ Ông Trần Thiện Khiêm nghĩ gì, riêng người (cựu) công dân Việt Nam Cộng Hoà này cảm thấy đau xót và muốn nhân dịp này nói lên vài điều.

Kể từ trưa ngày 30.4.1975, cũng như tuyệt đại đa số người dân miền Nam Việt Nam, tôi đã trải qua nhiều cực khổ về vật chất, nhưng thật không đáng kể so với những đau đớn về tinh thần của người dân trong một nước bại trận mà phẩm giá, danh dự, nhân quyền, tình cảm đã bị dày xéo, chà đạp cả trong những giấc ngủ.

Đó là lý do đã khiến tôi quyết định bước lên con tàu gỗ nhỏ ra khơi trong một đêm tối và đã may mắn không bỏ thây dưới biển sâu. Gần ba mươi năm nay, tôi đã sống một cuộc đời khác trên quê hương thứ hai nhưng đồng thời vẫn tự coi mình như một người tị nạn, và có những sinh hoạt với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Những sinh hoạt này là sợi dây liên lạc với quê cũ, và cũng làm cho sự ra đi của mình có ý nghĩa khác với một di dân kinh tế. Trong cộng đồng người Việt tị nạn, tôi đã tìm lại được những gì đã bị tước đoạt trên quê hương cũ, nhưng đã phải mang trong lòng một đau xót mới, mà tôi tin rằng cũng là một bóng đen ám ảnh tâm hồn nhiều người khác.

Nhiều người đã than phiền về hiện tượng kém văn hoá trong đối thoại và phát biểu chính kiến được một số người thường xuyên sử dụng và ngày càng phổ biến trong cộng đồng với phương tiện truyền thông điện tử ngày nay. Không kể những bài viết nặc danh hay bệnh hoạn, một số người tự nhận là nhà văn, nhà báo, trí thức cũng dùng hình thức lăng mạ thậm từ khi công kích người không đồng quan điểm với mình, thay vì đưa ra những dữ kiện để nói lên lập trường của mình. Những người này đã nhân danh “chống cộng” để mạt sát những người quốc gia nặng nề hơn cả những ngôn từ mà Việt Cộng đã dùng để chửi người quốc gia.

Đối phương gọi những cấp lãnh đạo miền Nam là “thằng” làm người ta bất bình nhưng không đau xót như khi những người ấy bị vài kẻ tự nhận là “người quốc gia” nguyền rủa bằng những tĩnh từ xấu xa, dơ bẩn. Những người này đang làm giùm kẻ thù công việc dành cho những tay sai thấp hèn của chúng với hiệu quả gấp đôi, vì dưới mắt công luận, “chính người quốc gia đã chửi rủa người quốc gia”.

Sau khi chiếm được miền Nam năm 1975 bằng võ lực, kẻ chiến thắng biết không chiếm được lòng dân nên đã áp dụng chính sách khuyến khích người miền Nam viết bài, viết sách phơi bày những xấu xa (bất kẻ sự thật hay bịa đặt) của các tướng tá và những người lãnh đạo của chế độ cũ, nhưng cũng không mấy ai hưởng ứng. Ngày nay, những điều ấy đầy dẫy trên các mạng điện tử và sách báo ở hải ngoại.

Riêng trường hợp cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, ông còn mang thêm cấp bực đại tướng và đã từng nắm nhiều chức vụ quan trọng trong Quân đội VNCH và đã đóng những vai trò then chốt trong các biến cố chính trị tại miền Nam Việt Nam từ cuộc chính biến ngày 11.11.1960 đến cuộc đảo chính ngày 01.11.1963 và về sau. Ông là một trong những người bị gọi là “tẩu tướng” vì đã bỏ hàng ngũ và chạy thoát khỏi Việt Nam trước khi Sài-Gòn thất thủ năm 1975. Sau 35 im lặng, gần đây không rõ do động cơ nào ông đã ra khỏi bóng tối và phát biểu những lời khiến nhiều người bất bình.

Sự tan rã của Quân đội VNCH năm 1975 đã để lại biết bao thảm kịch - của đất nước và của từng con người – mà hiển nhiên những người nắm vai trò lãnh đạo không thể chối bỏ trách nhiệm. Phải chi trong lúc tổ quốc lâm nguy, Đại tướng Trần Thiện Khiêm ở lại với quân đội, với thuộc cấp, với đồng bào để chiến đấu cho đến phút cuối cùng, và nếu lại tự bắn một viên đạn vào đầu hơn là để rơi vào tay địch quân thì đẹp biết bao, và sẽ lưu danh muôn thuở, như các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai,…

Quân đội VNCH không thiếu những chiến sĩ can trường, vì vậy quân đội ấy đã chiến đấu hữu hiệu và bảo vệ tự do cho miền Nam trong hai mươi năm. Trong thời gian dài hai thập niên ấy, bao nhiêu cuộc đời đã được tạo lập, bao nhiêu sự nghiệp đã được làm nên, bao nhiêu hạnh phúc đã được đắp xây, bao nhiêu công danh đã đạt thành, nhờ sự hy sinh của những người lính – trong đó gồm cả những người binh nhì đến những người lính mang sao trên cổ áo trận.

Lịch sử của Quân đội VNCH là một lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bất hạnh. Ra đời giữa hai gọng kềm của thực dân và cộng sản, quân đội ấy đã trưởng thành trong khói lửa với những cấp chỉ huy đầu tiên xuất thân từ Quân đội Pháp, sau đó lớn mạnh dần với những người lính được đào tạo từ các quân trường của chính quyền Quốc gia. Những người lính ấy được xem như những quân nhân chuyên nghiệp, cũng như ở mọi quốc gia theo cơ chế dân chủ khác, mà nhiệm vụ là bảo vệ đất nước, và đứng ngoài những hoạt động chính trị. Nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt do cuộc chiến tranh quốc/ cộng ngày một quyết liệt phải lệ thuộc sâu xa vào viện trợ của Hoa Kỳ, quân đội ấy đã bị lôi kéo vào đấu trường chính trị, và đã đem bạo lực vào chính trường qua những cuộc đảo chính do một số tướng tá cầm đầu.

Nhưng đảo chính quân sự không phải là hiếm tại những nước thuộc Thế giới Thứ Ba lúc ấy, từ Nam Hàn tới Indonesia, Thái Lan, Lào, Cam-bốt, Pakistan, nhất là tại các nước Phi Châu và Nam Mỹ. Những quân nhân làm đảo chính nếu thất bại sẽ trở thành kẻ phản loạn và phải ra Tòa án Quân sự, nếu thành công thì lên nắm quyền và tìm cách chính thống hoá sự cầm quyền bằng những cuộc bầu cử và tái lập chế độ dân chủ. Tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 tới 1966 đã xảy ra nhiều cuộc đảo chính hay âm mưu đảo chính, trong đó, cuộc đảo chính ngày 01.11.1963 đã đưa một số quân nhân lên nắm quyền cho đến ngày VNCH sụp đổ năm 1975.

Sự thất bại của cuộc chiến đấu ngăn chặn làn sóng đỏ tại Việt Nam có nhiều nguyên nhân mà trong những năm gần đây sự thật đã dần dần được nhìn nhận. Cuộc chiến đấu ấy có thể thắng, nhưng đã thua vì sự suy sụp của mặt trận hậu phương tại Mỹ, vì sự phản bội của truyền thông báo chí Mỹ và phương Tây, nhất là vì những quyết định sai lầm của chính quyền Hoa Kỳ, đồng minh sinh tử của Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy.

Vì những nguyên nhân ấy, quân dân miền Nam Việt Nam đã trở thành nạn nhân. Quân lực VNCH hùng mạnh đã tan rã trong 55 ngày, mà số phận của những người lính thật bi đát. Trong những ngày cuối cùng hỗn loạn và cực kỳ căng thẳng, quyết định của mỗi cá nhân có lẽ phần nhiều là do những yếu tố ngoại cảnh đưa đẩy, ngày nay rất khó cho những ai muốn đóng vai trò một pháp quan để phán xét trong tháp ngà bình yên. Tuy nhiên, sự đào thoát sớm sủa của những viên tướng thâm niên ở Sài-Gòn là hành động khó biện minh. Danh từ “tẩu tướng” được gán cho họ là một bản án danh dự chung thân không có toà nào để kháng cáo.

Trở lại với trường hợp của (cựu) Tướng Trần Thiện Khiêm. Sự tái xuất hiện của ông đã làm nhiều người ngạc nhiên, trong đó có kẻ viết bài này, và làm tôi nhớ lại một việc xảy ra đã lâu, nhân dịp này, tưởng nên được ghi lại ở đây. Một ngày (không thể nhớ rõ) không lâu sau khi (cựu) Trung tướng Thái Quang Hoàng qua đời, tôi đang ngồi nói chuyện với (cựu) Tướng Phạm Văn Đổng tại phòng khách nhà ông (đường Hillsman, Falls Church, Virginia) thì có chuông điện thoại reo. Ông xin lỗi để trả lời điện thoại và đã nói chuyện khá lâu. Khi trở lại, ông cho biết Bà Trần Thiện Khiêm gọi về việc đăng báo chia buồn với gia đình Tướng Thái Quang Hoàng, và yêu cầu Ông Đổng bỏ cấp bậc “đại tướng” trước tên Trần Thiện Khiêm trên bản phân ưu (với lý do “ra ngoài này mà còn xưng tướng tá làm chi cho chúng chửi”). Ông Đổng cố thuyết phục Bà Khiêm và nói rằng “cấp tướng là do quốc hội quyết định vinh thăng, ai là tướng thì vẫn là tướng vì chỉ quốc hội mới có quyền lột lon họ”, và nếu bỏ cấp bậc trước tên Trần Thiện Khiêm trong khi những người khác có cấp bậc thì coi rất kỳ cục. Bà Khiêm nhất định không thay đổi lập trường và cuối cùng nói “vậy thì bỏ tên Trần Thiện Khiêm ra khỏi bản phân ưu”. Sau đó, tôi không được đọc bản phân ưu đăng trên báo nên không biết có tên Trần Thiện Khiêm hay không, và nếu có thì có kèm cấp bậc không. Ông Phạm Văn Đổng đã qua đời, bà vợ Ông Trần Thiện Khiêm cũng đã mất, nhưng tôi nghĩ vài người trong giới cựu tướng, tá đã nghe về giai thoại này.

Nay, Ông Trần Thiện Khiêm, trông hom hem với số tuổi ngoài 80, xuất hiện trước đám đông với bà vợ khác tươi cười bên cạnh trong bức ảnh được phổ biến trên các mạng điện tử cùng với những lời đả kích, lăng mạ ông. Tôi nghe một cảm giác xót xa trong lòng, và ngậm ngùi nghĩ đến những người lính (trong đó có những người mang sao trên cổ áo trận) đã tự sát trong bi kịch 30.4.1975.

Nhưng lịch sử không ngừng lại ở ngày 30.4.1975. Cuộc chiến đấu của quân dân VNCH vì chính nghiã Tư Do đang được những người khác tiếp tục trên một mặt trận khác – mặt trận không tiếng súng, và sớm hay muộn, chính nghiã ấy sẽ thắng. Khi ấy lịch sử sẽ công bằng hơn và khách quan hơn với những người đã giữ các vai trò quan trọng, ở bên này hay bên kia, trong cuộc tranh chấp ý thức hệ kéo dài qua hai thế kỷ trên mảnh đất bất hạnh Việt Nam.

Xin hãy dành mọi năng lực, tâm trí cho cuộc chiến đấu ấy hơn là mạt sát, xâu xé lẫn nhau vì những chuyện chỉ gây chia rẽ thuộc về một trang sử đã được lật qua.

Sơn Tùng15.10.2010

Posted: Sat Oct 16, 2010 8:28 pm
by vuphong
Image

TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM
TẬP THỂ CHIẾN SĨ VNCH HẢI NGOẠI

VP : 469 Ezie St. San Jose CA 95111
Tel: ( 408)578-2938 Email: rvnvets@gmail.com


Thư ngỏ của cựu chiến sĩ Hồ văn Kỳ Thoại.

Kính gửi:
Quý niên trưởng, quý chiến hữu trong Tập Thể CSVNCH HN và toàn thể quý vị Quân Dân Chánh Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi là Hồ văn Kỳ Thoại, quê nội ở Gò Công.Trước 1975 tôi là Phó đề đốc Hải Quân Việt Nam, chức vụ cuối cùng là Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải. Từ 1976 đến năm 2006 tơi làm việc liên tục cho các hội đoàn bất vụ lợi của Hoa Kỳ trong các lãnh vực tài chánh, nhân viên, điện tóan và quản trị..
Trong đại hội của Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại Westminster, California, ngày 1 tháng 10,2010, tôi được mời tham dự với tư cách một thành viên của Hội Đồng Tư Vấn, và sau đó tôi được các chiến hữu đề cử vào chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện.
Qua thư ngỏ này, tôi xin được phép gửi đến quý niên trưởng và quý vị với tư cách cá nhân, trong tình chiến hữu, dù quý vị đã tham dự hoặc chưa có dịp tham dự trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH.
Với tư cách cá nhân , và với lời chân thành mộc mạc từ nơi tôi sinh trưởng ở miền Nam của quê hương chúng ta tôi xin được giải bày như sau.

1-Nhận trách nhiệm.

Dù các chiến hữu trong hay ngoài tổ chức, tất cả đều là anh chị em của tôi. Kỳ đại hội vừa qua cũng là lần đầu tôi đến họp với anh chị em. Tôi không hề có tham vọng sẽ nhận bất cứ chức vụ gì. Ðược đề cử với đa số tín nhiệm, việc tôi nhận lời xẩy ra trong khoảnh khắc bất ngờ đối với chính tôi. Suy nghĩ lại, yếu tố quan trọng nhất là sự nhiệt thành tin tưởng của anh chị em và riêng lòng tôi, tôi nhận lời ngồi lại với anh chị em chỉ có mục đích duy nhất là để chúng ta tiếp tục ngồi lại với nhau.Dù khác quân binh chủng tất cả chúng ta đều có một lần qùy xuống dơ tay tuyên thệ trung thanh và bảo vệ một Tổ Quốc và một lá Quốc Kỳ duy nhất

2-Chương trình làm việc.

Vì nhận trách nhiệm bất ngờ và không chuẩn bị sẵn một chương trình làm việc nên tôi chưa thể có ngay được những ý định rõ ràng trong công tác. Tôi chưa có cơ hội nghiên cứu thật kỹ về việc tu chỉnh nội quy, xây dựng lại tổ chức và hoạch định cho tương lai. Hy vọng rằng quý vị thông cảm cho hoàn cảnh của tôi.

3-Chân thành cảm tạ.

Dù bất ngờ nhận trọng trách lớn lao, nhưng tôi không quên công trình của quý niên trưởng và chiến hữu đã xây dựng nhiều năm qua, tạo nên nền móng căn bản cho tổ chức. Ðặc biệt cảm tạ quý chiến hữu đã bỏ phiếu bầu cho tôi với con số 60/62. Tôi sẽ cố làm việc trong phạm vi khả năng để đáp lại tấm lòng của các niên trưởng và quý vị. Tôi cũng luôn luôn nhớ rằng vẫn còn 2 phiếu không tín nhiệm, nếu nghĩ đến còn rất nhiều anh em không sinh hoạt với Tập Thể, quý vị không cô đơn đâu. Ðến lượt tôi thông cảm với quý vị.

4-Búa rìu dư luận.

Sau khi tham dự đại hội trở về, tôi có cơ hội đọc được tất cả các thư từ, báo chí khích lệ và khen ngợi. Trong đó có nhiều lời khen đầy tình nghĩa chân thành và cả những lời ca ngợi quá đáng. Tôi cũng đọc qua tất cả các tài liệu phê bình với lời lẽ xây dựng và đồng thời có những lời lẽ chỉ trích hết sức thậm tệ. Chỉ trích cá nhân và chỉ trích tập thể. Phê bình chuyện quá khứ trước 1975 và những chuyện trong 35 năm vừa qua.
Cũng như các bạn, tôi đọc hết và cũng có những vui buồn, lúc hoan hỷ, lúc giận dữ . Khi bình tĩnh nghĩ lại, tôi xin gửi lời cảm ơn toàn thể quý vị. Dù quý vị khen ngợi tán thưởng hay quý vị chê bai bằng những lời nặng nề thậm tệ nhưng chứng tỏ quý vị đã quan tâm. Mong rằng với thư ngỏ này, tôi xin thưa rằng, tôi đã ghi nhận tất cả. Tôi mong rằng những lời khen tặng xã giao sau này sẽ hướng vào những suy tư và đề nghị cụ thể cho chúng tôi hoàn tất nhiệm vụ. Tôi mong rằng những lời chửi bới tàn nhẫn sau này sẽ hướng về các đề nghị xây dựng để chúng tôi tránh khỏi các lỗi lầm trong quá khứ.

5-Nhận định hoàn cảnh.

Trong nhất thời, chúng tôi chưa có đủ dữ kiện để đưa ra bản nhận định về chuyện thế giới, chuyện Hoa kỳ, chuyện Việt Nam và những công tác thích ứng với hoàn cảnh. Nhưng xin đưa ra vài ý kiến cá nhân liên quan đến những vấn nạn mà quý anh em thường nhắc lại trong quá khứ đặc biệt là vấn đề lãnh đạo. Trong quân đội từ trung đội trưởng lên đến tổng tư lệnh đều là lãnh đạo. Dù chúng ta chiến đấu anh dũng bao lâu, nhưng sau cùng, vì bất cứ lý do gì thì ta cũng mất Miền Nam và đứng về phe chiến bại. Khi mất nước chúng ta đều cùng phải chia xẻ lỗi lầm. Có thể cùng nhau phân tích những sai lầm và cả những sự dốt nát của giai cấp lãnh đạo vì đó là phần quan trọng của lịch sử. Nhưng sự chửi bới không bao giờ biện minh cho hành động xây dựng. Tôi quan niệm một tinh thần can trường trong chiến bại và tôi ước mong đem tinh thần đó vào Tập Thể.

Cho đến nay dù Tập Thể chưa đáp được kỳ vọng của mọi người nhưng hiện vẫn là một tổ chức đã quy tụ được nhiều chiến hữu thuộc mọi quân binh chủng. Chúng ta đã mất nước, và không còn Miền Nam để chấn chỉnh, sửa chữa hay kiện toàn. Ngày nay nếu Tập Thể không còn nữa, dù muốn xây dựng, chấn chỉnh, sửa chữa chúng ta cũng không làm được.
Tập Thể hình thành nhờ các cơ cấu cựu chiến sĩ VNCH tại các địa phương và nhờ các Chi hội lên đến các Tổng hội đại diện các quân trường và quân binh chủng. Các anh em cựu chiến sĩ ở mọi nơi đều cao niên, đều thừa kinh nghiệm và đều có quyết tâm. Anh em sống trong lòng các cộng đồng, biết rõ nhu cầu, biết rõ khả năng và điều quan trọng hơn hết là chính anh em mới xây dựng được tình đoàn kết huynh đệ chi binh. Tương lai của Tập Thể trông cậy vào tương lai của các sinh hoạt địa phương.

Với khả năng hết sức giới hạn của thành phần lãnh đạo Tập Thể, quý anh chị em thừa biết chúng tôi không thể đáp được nguyện vọng lớn lao của mọi người. Giới hạn về khả năng, về tài chánh, về quyền hạn, về kinh nghiệm, về nhân viên, tương lai của tập thể sẽ chỉ còn trông cậy vào quý niên trưởng và anh chị em.

6-Kỳ vọng tương lai.

Từ tinh thần can trường trong chiến bại, tôi không hề chấp nhận tinh thần chủ bại. Con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, không những chỉ dành riêng là mục tiêu của Tập Thể, mà hiện nay là mục tiêu chung của mọi người. Xin quý niên trưởng, quý chiến hữu và quý anh chị em cùng nhau đi trên con đường đó. Nhưng chúng ta sẽ không đưa ra những chương trình hay những lời tuyên bố đao to búa lớn. Chúng ta sẽ hết sức thận trọng với các mục tiêu thực tế và xây dựng. Hàn gắn trong anh em, thắt chặt tình đoàn kết, mở rộng sinh hoạt trong cùng lý tưởng. Chúng ta có quyền kỳ vọng một tương lai tươi sáng cho Tập Thể, cho toàn thể đồng hương tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.
Kính chào quý niên trưởng, quý chiến hữu và toàn thể anh chị em.

Hồ Văn Kỳ Thoại.
16.Oct.2010

Posted: Sun Oct 17, 2010 3:10 am
by vuphong

Image

Những Cánh Én Giữa Mùa Đông

Phạm Tín An Ninh
Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.
Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:
- Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.
Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi.
Tôi cảm động, ôm lấy vai anh và mời anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Chỉ nói chuyện được một lúc, vì cả hội trường đang bừng lên với những bài hùng ca trên sân khấu. Anh cho tôi địa chỉ, số điện thoại và mong được gặp tôi tại nhà anh vào cuối tuần sau. Anh muốn biết tường tận hơn về cái chết của người bào huynh khả kính, cố Trung tá Phạm văn Thặng.
Qua tâm tình, tôi biết anh có một cái tên khá đẹp: Phạm Vương Thục. Trước 75 từng là phi công trực thăng võ trang của một Phi Đoàn kỳ cựu, tiếng tăm Vùng I: Song Chùy - 213. Đọc trên Cánh Thép, tôi còn biết anh từng là Lead Gun (trưởng toán trực thăng võ trang), tham gia trong suốt cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Một trận chiến mà địch quân tập trung hỏa lực phòng không mạnh mẽ nhất từ trước tới nay. Gây thiệt hại không nhỏ cho các đơn vị không quân Hoa Kỳ và Việt Nam tham chiên. Nhờ tài năng, phán đoán nhanh nhẹn cùng với sự bình tĩnh và can trường, anh đã vẫy vùng trên bầu trời trận mạc, bao lần vượt qua cái chết trong đường tơ kẻ tóc để yểm trợ hữu hiệu, cứu nguy cho các lực lượng chiến đấu cũng như cho chính những người bạn trong Phi Đoàn. Có lần phi cơ trúng đạn, anh đã phải đáp khẩn cấp xuống Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 30, trong khi Đồi 31 đã bị thất thủ.
Image
Phạm Vương Thục với Tướng STEVE RICHIE , người cựu phi công từng hạ 5 Mig 21 của CSBV
Cuối tuần, trước khi đến anh, tôi báo cho anh biết, là tôi vừa gặp người bạn cùng tù thân thiết, là một sĩ quan Lôi Hổ thuộc Nha Kỷ Thuật, vào năm 1972 đồn trú tại căn cứ B-15 ở Kontum. Và cũng là người trưởng toán, chỉ huy việc lấy di thể của anh Phạm văn Thặng từ chiếc oanh tạc cơ bị bốc cháy bên bờ sông Dakbla ngày ấy. Anh Thục rất vui mừng và mong được gặp người bạn Lôi Hổ này sẽ cùng đến với tôi.

Chúng tôi không mấy khó khăn khi tìm đến nhà anh, dù lúc trời đã tối và đang vần vũ một cơn mưa. Chưa kịp bấm chuông là anh đã mở cửa, vui mừng mời chúng tôi vào. Ngôi nhà khá đẹp, bày biện trang nhã. Điều làm chúng tôi bất ngờ cảm động là ở một góc của tầng trên là bàn thờ trang trọng với tấm ảnh chân dung lớn của cố Trung Tá Phạm văn Thặng, một số bạn bè không quân của anh đã hy sinh, năm vị tướng và một số sĩ quan khác đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 cuộc chiến. Chúng tôi đứng nghiêm trước các bức chân dung, lòng ngâm ngùi thương tiếc, cùng cảm kích tấm lòng của anh, người phi công dũng cảm hào hoa vẫn luôn giữ trọn tình với quê hương, chiến hữu.

Chị Thục từ dưới bếp chạy lên vui vẻ chào chúng tôi. Đúng là vợ phi công. Chị rất hiếu khách, bặt thiệp. Sau đó, khi nhìn trên bàn thờ gia đình, thấy tấm ảnh chân dung của Đại tá Trịnh Tiếu, tôi mới biết chị Thục là em gái của vị Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn mà tôi đã vài lần được gặp ở Kontum. Sau 75, Ông từng bị tù đày, tra tấn hành hạ nhiều năm, sức khỏe hao gầy, bệnh hoạn, nên vừa mới qua đời tại hải ngoại. Tấm ảnh của ông mới nhất trong số các bức ảnh chân dung khác trên bàn thờ. Anh Thục kể lại chuyện hai người tình cờ quen nhau, khi anh chỉ huy một phi đội vào Quảng Ngãi tham gia hành quân với Sư Đoàn 2BB. Buổi chiều, trước khi bay về Căn Cứ Phi Đoàn ở Đà Nẳng, anh được BTL/SĐ chuyển lại lời yêu cầu của Đại Tá Trịnh Tiếu (khi ấy là Trung Tá). Thục đã nhận lời chở quan tài của thân sinh đại tá Tiếu từ Quảng Ngãi ra Hội An an táng, và trong “phi vụ” đặc biệt này anh đã quen và làm xiêu lòng cô em gái xinh đẹp của ông, tháp tùng trên chuyến bay.

Trong bàn ăn, chúng tôi kể lại những chuyện vui buồn trong thời lính chiến ngày xưa. Anh Thục cho biết anh được tin máy bay anh Phạm văn Thặng lâm nạn tại Kontum vào lúc 5.30 giờ chiều ngày 26.5.72. Ngay sáng hôm sau Sư Đoàn 1 KQ cho một phi cơ A37 đưa anh từ Đà Nẵng vào phi trường Pleiku. Phi công của chiếc A37 này lại là người em cột chèo của anh, Thiếu Tá Trịnh Đức Tự (sau này đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Quế Sơn). Nhưng khi đến Pleiku, anh được cho biết tình hình ở Kontum rất nặng nề, chưa thể tìm được anh Thặng nhưng sự sống sót rất mong manh, không còn chút hy vọng nào. Thục đã bay trở lại Đà Nẵng trong ngày. Đến tối, anh được BTL/KQ cho biết là thi thể anh Thặng đã được đưa về Tử Sĩ Đường ở Tân Sơn Nhất. Khi anh cùng người anh cả vào nhận xác, thấy đầu anh Thặng không còn, nên quyết định cho tẩm liệm ngay, không muốn cho gia đình biết thêm điều đau đớn này Anh đã tột cùng xúc động khi quá thương tiếc người anh khả kính đã từng có với mình cả một trời kỷ niệm tuổi thơ, đặc biệt khi còn ở miền Bắc. Anh Thặng là người con thứ sáu và anh Thục là người con thứ tám của gia đình. Năm Thục vừa tròn 12 tuổi và anh Thặng 16, đã cùng gia đình di cư vào Nam, sống và lớn lên ở thành phố Huế. Không chỉ là anh em, hai người còn là đôi bạn thân thiết, cùng theo học trường Pellerin nổi tiếng do sự giúp đỡ tận tình của các Linh mục và Sư huynh, trước khi chia tay vào quân ngũ. Vài ngày trước khi hy sinh, như là điềm báo trước, anh Thặng gọi điện thoại về Đà Nẵng thăm anh và hỏi han khá nhiều về mọi người trong gia đình.

Tôi kể lại hành động can trường của anh Thặng mà tôi đã được chứng kiến từ khi anh lên vùng cho đến lúc hy sinh, và người bạn tù Lôi Hổ của tôi kể lại việc lấy xác của anh sau khi lâm nạn. Anh Thục ngồi nghe và khóc sụt sùi. Trước khi chia tay, anh xin địa chỉ e-mail của bạn tôi, bảo sẽ báo tin này cho cô con gái lớn của anh Thặng, hiện định cư ở Đức để cháu cám ơn người đã giúp lấy xác ba cháu. Hai ngày sau, người bạn chuyển cho tôi bức điện thư với lời lẽ rất lễ phép, cảm động dễ thương của cháu Phạm Hồng Phương, con gái lớn của anh Thặng.

Vào tối ngày 29.4, được thư mời của anh Thục, chúng tôi đến nhà hàng Paracell tham dự một Chương Trình Tưởng Niệm do cá nhân anh phối họp với người bạn thân, chiến hữu Đặng Thành Long, một cựu SQ Hải Quân, tổ chức. Anh đón chúng tôi trước cửa Nhà Hàng, nơi có bàn thờ nhiều vị Tướng Lãnh và Sĩ Quan VNCH đã hy sinh tại chiến trường hay tuẫn tiết trước giờ mất nước. Buổi Tưởng Niệm được tổ chức thật chu đáo, và nhiều ý nghĩa, trong không khí tôn nghiêm và cảm động. Tất cả tiền thu được dành hổ trợ những người đấu tranh trong nước đang bị tù đày khốn khổ. Cũng trong đêm nay, tôi được hân hạnh gặp bác sĩ Ngô Thế Khanh, một cựu y sĩ Không Quân tại Pleiku, một người lúc nào cũng trọn tấm lòng với anh em. Cái tình chiến hữu anh đã dành cho làm tôi cảm động. Tôi cũng được gặp một số các anh phi công khác. Tất cả đều có một thời oanh liệt, ngang dọc trên bầu trời quê hương và hào hùng trên đầu quân địch. Đêm nay cũng có người phi công mà tên anh có lẽ người cựu lính nào cũng biết. Bởi những bài ký sự chiến trường, mà ai đọc qua cũng phải ngưỡng mộ anh, không những cảm phục về tài bay bổng mà còn có một trí nhớ thật phi thường. Người hùng Vĩnh Hiếu, Lead gun của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Phi Đoàn mà đơn vị tôi có nhiều gắn bó nhất, lúc còn hoạt động ở khu vực Sông Mao, và khi ấy người anh cả cuối cùng của Phi Đoàn, Trung Tá Khưu văn Phát còn là Đại úy Trưởng Phòng Hành Quân. Đêm nay, đã trải qua 35 năm dâu bể, nhưng Vĩnh Hiếu vẫn rất trẻ trung, với đôi mắt sáng, hàm râu mép hào hoa, nụ cười rạng rỡ, với những cái bắt tay thật chặt ân tình và những chuyện chiến trường, chuyện đồng đội sôi nổi dường như không muốn dứt. Như vậy đó, mà anh đã từng là một phi công trực thăng võ trang gan dạ hào hùng trên khắp chiến trường Vùng 2 khói lửa năm nào. Ngồi nói chuyện với anh, tôi thầm nghĩ, nếu bây giờ trở lại chiến trường, Thần Tượng Vĩnh Hiếu này cũng vẫn là một Lead Gun hào hùng(và hào hoa) như thuở trước.

Qua anh Thục, hôm sau tôi liên lạc được một người bạn phi công anh hùng khác. Người mà tôi đã từng chứng kiến và ngưỡng mộ về tài năng và sự can đảm phi thường. Thiếu Tá Hàn văn Trung. Năm 1973, khi ấy Hàn văn Trung còn mang cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 235 Sơn Dương ở Pleiku.

Hôm ấy, tôi nhận lệnh Đại Tá Bùi Hữu Khiêm, TMT Sư Đoàn 23BB, cùng bay trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235, để bốc khẩn cấp số thương binh, trong đó có Thiếu Tá Cang, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/44 ra khỏi căn cứ Võ Định. Căn Cứ nằm phía Bắc Kontum khoảng 15 cây số, bên cạnh QL 14 trên đường đi Dakto, trên ngọn núi trọc, với một cao điểm có khả năng chế ngự các vùng chung quanh. Đặc biệt, ngay phía dưới là con sông Dak La. Bên kia sông trở về hướng Bắc là vùng địch chiếm từ cuối tháng 4/72, sau khi BTL/ SĐ 22BB tại Tân Cảnh bị tràn ngập và vị Tư Lệnh đã lẫm liệt hy sinh, vùi thân nơi chiến địa. Căn cứ này đã trải qua nhiều trận chiến, bao lần bỏ đi rồi chiếm lại, nên bây giờ chỉ còn là một ngọn đồi xám xịt, hoang tàn loang lổ dấu đạn bom.

Thiếu Tá Nguyễn Hữu Cang, tốt nghiệp khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, nguyên là Sĩ Quan Nhảy Dù. Trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại Đông Hà, anh bị thương nặng ở chân phải. Xụất viện, với một thanh sắt vĩnh viễn nằm trong cái chân khập khiễng, được lệnh thuyên chuyển ra khỏi Nhảy Dù về BTL/Quân Đoàn II, giữ một chức vụ tại Trung Tâm Hành Quân. Chỉ một thời gian ngắn, anh khẩn khoản xin ra đơn vị tác chiến, mặc dù Phòng Tổng Quản Trị từ chối vì tình trạng sức khỏe của anh. Anh tiếp tục xin vị Tư Lệnh, và cuối cùng được toại nguyện, bổ nhiệm về nắm Tiểu Đoàn 2/44, mà vị Trung Đoàn Trưởng trẻ tuổi thao lược, lại là người bạn cùng khóa: Trung Tá Ngô văn Xuân.

Đầu năm 1973, vài ngày trước khi có Hiệp Định Paris (Ngưng Bắn Da Beo), Tổng Thống Thiệu ra lệnh các đơn vị cố gắng mở rộng tối đa vùng kiểm soát, đặc biệt chiếm lấy những vị trí quan trọng để cấm ngọn cờ chủ quyền. Tiểu Đoàn 2/44 nhận lệnh phải chiếm bằng được căn cứ Võ Định, cao điểm trọng yếu tận cùng phía Bắc Kontum.

Với sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ, hữu hiệu của Không Quân và Pháo Binh, Tiểu Đoàn 2/44 của Thiếu Tá Cang được trực thăng vận bất ngờ xuống ngay vùng địch, đánh một trận khá đẹp, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng địch án ngữ phía dưới và dễ dàng chiếm lĩnh căn cứ trên ngọn đồi Võ Định. BCH Tiểu Đoàn, Đại Đội CHYT và một Đại Đại Đội tác chiến trách nhiệm phòng thủ căn cứ. Các Đại Đội còn lại bung ra hoạt động các vùng lân cận. Một toán Công Binh được thả xuống ngay sau đó để tu sửa lại hệ thống phòng thủ, nhất là vị trí dành cho một trung đội pháo binh 105 ly sẽ được thả xuống nay mai. Ngày N+1 tình hình hoàn toàn yên tĩnh, nhưng sáng sớm hôm sau, pháo địch từ bên kia sông thi nhau ập xuống. Địch đã có sẵn các yếu tố tác xạ và sử dụng tối đa các loại pháo, liên tục và chính xác. Những công sự phòng thủ chưa kịp tu bổ xong đã bị phá hủy. Thiếu tá Cang và một số sĩ quan và binh sĩ bị thương, kể cả anh Sĩ Quan trưởng toán Công Binh.

Ngày hôm sau, tình hình trở lại yên tĩnh trong không khí căn thẳng nặng nề. Sau khi Sao Mai 09, (phi cơ quan sát L-19) hướng dẫn hai phi tuần đánh bom vào các điểm nghi ngờ vị trí đặt pháo của địch, hai chiêc trực thăng tản thương, được yểm trợ bởi các gunships, đáp xuống căn cứ để bốc thương binh. Riêng Thiếu Tá Cang tình nguyện ở lại cùng đơn vị. Nhưng khi chiếc thứ nhất vừa đáp, hằng loạt pháo địch lại thi nhau rót xuống. May mắn chỉ có người co-pilot bị thương nhẹ, nhưng máy bay bị trúng đạn, không cất cánh được. Chiếc thứ nhì quyết không bỏ đồng đội, đáp xuống bốc phi hành đoàn trong tiếng nổ và khói lửa mù trời của pháo địch.

Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, BTL Sư Đoàn quyết định rời bỏ căn cứ Võ Định để tránh tổn thất do trận địa pháo của địch. Tiểu Đoàn 2/44 rút về Căn Cứ Eo Gió, nằm phía Nam Võ Định khoảng bốn cây số. Nhưng phải giải quyết số thương vong và anh Tiểu Đoàn Trưởng không thể di chuyển theo đoàn quân bộ chiến được. Tôi được vị Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn giao cho trách nhiệm tháp tùng trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235 thi hành nhiệm vụ khá gay go nhưng rất khẩn cấp này.

Đến bãi đáp B15, tôi gặp người chị huy hợp đoàn trực thăng hôm ấy. Rất vui mừng khi gặp lại Đại Úy Hàn văn Trung, Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 235. Tôi đã từng bay đổ quân với anh vài lần, thích bản tính vui vẻ và thầm thán phục về khả năng chỉ huy và bay bổng của anh. Sau khi nghe tôi trình bày tình hình và mục tiêu, cũng như lời dăn dò của vị TMT /SĐ, Đại Úy Trung gọi các phi công lại để bàn kế hoạch. Tôi lên chiêc C&C do Trung điều khiển, cất cánh trước cùng với hai trực thăng võ trang. Sau một vòng bay để quan sát kỹ lưỡng địa thế, anh Trung bay vòng lại và gọi tất cả phi cơ còn lại lên vùng. Tôi thấy anh cho một số phi cơ bay tản ra nhằm đánh lạc hướng địch, để hai trực thăng khác bất ngờ đáp xuống căn cứ. Nhưng không tránh được sự quan sát của địch. Chiếc trực thăng vừa can đảm xuống thấp và lấy hướng an toàn bay vào, thì pháo địch đã nổ ngay trên bãi đáp. Đại Úy Trung cùng hai trực thăng võ trang liền xuống thấp yểm trợ, và cùng lúc ra lệnh cho chiếc trực thăng này bay ra theo hướng an toàn nhất, chiếc thứ hai bay từ hướng khác tìm cách bất ngờ xuống bãi đáp. Nhưng pháo địch tiếp tục ập xuống. Nhìn chiếc trực thăng bay lên từ trong một vùng khói lửa, chúng tôi ai cũng căng thẳng, hồi họp lo âu. Đại úy Trung ra lệnh cho cả hợp đoàn bay về Kontum lấy xăng.

Sau gần một giờ nghỉ ngơi và nghiên cứu một kế hoạch khác, Đại úy Trung gọi các phi công lại, thảo luận kế hoạch và phân chia nhiệm vụ. Lần này anh sẽ đích thân lái chiếc C&C đáp xuống bốc thương binh. Dường như Trung vừa mới quyết định một điều bất thường, ngoại lệ, nên tất cả mọi người đều tròn mắt nhìn anh ái ngại. Anh nổ máy, đích thân điều khiển phi cơ. Anh bay thật thấp dọc theo con suối chảy dài phía bên trái quốc lộ 14, trong khi hai gunships bay hai bên và tác xạ trước vào các điểm nghi ngờ. Hơp đoàn còn lại bay theo phía sau xa. Anh bay thấp đến nỗi các hàng lau sậy nằm rạp xuống ngay dưới bụng máy bay, nước dưới suối bắn tung lên. Đã từng rất nhiều lần ngồi trên trực thăng, nhưng chưa bao giờ tôi bị “bay” rất nhanh với một độ thấp như thế. Mấy lần tôi suýt thét lên, khi chợt thấy phía trước là một cây cao hay một tảng đá, nhưng anh đã tài tình lách qua tránh khỏi. Tôi có cảm tưởng chiếc trực thăng như là một món đồ chơi nhỏ bé trong tay anh.

Con suối khá dài, dẫn tới triền đồi Võ Định. Anh Trung tiếp tục bay sát theo ngọn đồi. Tôi có cảm giác như chiếc trực thăng đang bò lên căn cứ. Địch quân không hề hay biết. Nhưng khi anh bất ngờ đáp xuống, bụi mù bốc lên, địch mới phát hiện và pháo bắt đầu nổ. Cát, sạn, và có thể có cả mảnh đạn nữa, bay rào rào vào thân và kiếng phi cơ. Nắm chặt khẩu M-18, tôi chưa biết xử trí thế nào, thì thấy anh Trung bảo người co-pilot giữ cần lái, rồi mở cửa máy bay nhảy xuống. Tôi nhảy theo anh, chạy về hướng hầm chỉ huy đốc thúc, phụ lực khiêng và dìu thương binh ra phi cơ. Thương binh khá đông, có tới trên 10 người. Thiếu Tá Cang nhìn chúng tôi lo lắng, nhưng đại úy Trung rất bình tĩnh ra dấu cho tất cả lên máy bay. Đạn pháo vẫn tiếp tục rót xuống, một vài thương binh lại bị thêm ít mảnh đạn. Trung là người cuối cùng bước lên tàu khi anh co-pilot điều khiển cho phi cơ quay đầu lại và bay nhanh xuống đồi.

Đáp xuống bãi đáp B-15. nhìn thấy trên thân và kiếng phi cơ lỗ chỗ nhiều vết đạn, Thiếu Tá Cang và tôi đã ôm chầm lấy Trung và người co-pilot. Giọt nước mắt biết ơn và cảm phục đã lăn xuống gò má của tất cả những người lính bộ binh vừa được Trung và phi hành đoàn bốc ra từ cõi chết.
Trở về Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn ở căn cứ B-12, tôi gặp hai ông Đại tá Tư Lệnh Phó và TMT Sư Đoàn. Kể lại phi vụ đặc biệt của Phi Đoàn 235, tôi hết lời ngợi ca và xin đề nghị tưởng thưởng cho đại úy Trung một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, và các anh còn lại của phi hành đoàn mỗi người một ngôi sao vàng. Hai ông đại tá hứa sẽ làm theo đề nghị của tôi( Nhưng không biết sau này kết quả ra sao). Một vị Trung tá KQ ngồi cạnh anh Sĩ Quan Không Trợ, mà khi vừa mới bước vào tôi không để ý, quay sang nhìn tôi cười:

- Tay Trung này thì có tài và liều lĩnh lắm, nhưng cũng là một tay coi trời bằng vung. Nó đùa giỡn với chiếc máy bay như là một món đồ chơi. Thích biểu diễn kiểu nào là nó làm ngay, và dù có bị “ký củ” hơi nhiều, vẫn cứ cười tỉnh bơ. Vì vậy nên có thừa tài năng và can đảm, nắm Trưởng Phòng Hành Quân mà vẫn chưa mang Thiếu tá được!

Tôi không còn nhớ rõ là đó là Trung Tá Quang hay Trung Tá Vĩnh Quốc. Nhưng tất cả mọi người trong TTHQ đều cười và thán phục. Sau này Thiếu Tá Cang nhận Trung là người anh em kết nghĩa. Sau một cuộc hành quân trở về, hai chàng lại gặp nhau, bù khú ngay trong căn cứ dã chiến của Tiểu Đoàn. Mùa hè 2010, gặp lại anh Cang trong Buổi Họp Mặt Khóa 17 VBĐL tôi báo cho anh biết là tôi vừa nói chuyện với Hàn Văn Trung trong điện thoại. Mắt anh Cang sáng lên. Mừng như sắp được gặp lại người tri kỹ.

Trong cuộc chiến Việt Nam, những chàng pilot nổi tiếng hào hoa ở thành phố. Là thần tượng của các cô con gái đẹp. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng, những chàng trai trẻ ấy lại là những chiến sĩ rất hào hùng trên khắp các chiến trường. Bao phen xem cái chết tựa lông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự của các chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ binh như chúng tôi, các Bạn luôn là những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăn trên con đường tiến quân vào vùng địch. Các Bạn cũng là ân nhân của bao nhiêu thương binh và gia đình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của các Bạn, có biết bao chiến binh đã phãi vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừng lạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên Cao Nguyên trong những đêm khuya gió mưa tầm tã. Có chiếc lạc vào những đám sương mù dày đặc, và rớt trên đỉnh núi cùng với số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi đã đứng nghiêm trong TTHQ để đưa tay chào vĩnh biệt!

Các Bạn đúng là những cánh én đã từng mang lại bao mùa Xuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải qua bao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luôn khát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ. Tiếc rằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽ nhất, khi các Bạn còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vui đùa trước lằn ranh sống-chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.
Mãi mãi các Bạn vẫn là những cánh én hào hùng. Cho dù những cánh én ấy đang phải ẩn mình để chờ đợi một mùa Xuân.

Posted: Sun Oct 17, 2010 4:46 pm
by khieulong
Image


Chuyện người lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải
Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh
Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là anh cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp Bác Hồ” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ Hoả lực ở vùng phía Nam phi quân sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên đoàn Tổng trừ bị được đưa ra và trong đó, Liên đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y sĩ trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên đoàn thì tôi biết, chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm tư lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu đoàn trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền tin LĐ, bác sĩ (tôi), đại đội trưởng trinh sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”
Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, thiết giáp, bộ binh, địa phương quân, nghĩa quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như chiêu hồi, xây dựng nông thôn ...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất!

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau 2 lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.
Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát Sương trắng miền quê ngoại có 2 câu thơ:

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.

Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

-Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?
Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:
-Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...

Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho 2 anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:

-Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ...
Một tên bộ đội thì nói:
-Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội...

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:

-Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu...
-Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.
Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:
-Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?
Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:
-Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!
Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức, hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết. Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.
Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ấn

Posted: Mon Oct 18, 2010 3:39 am
by quaichao

Image

Ngày Thương Binh
Huy Phương
“Bây giờ tướng, tá, úy, con lai, sở Mỹ, H.O., vượt biển, ‘cải tạo’ ai cũng ra đi nước ngoài. Chỉ còn lại những thương phế binh, cô nhi quả phụ và sau cùng là tử sĩ. Xin đừng quên chúng tôi, đã 25 năm rồi.” Ðây là những lời kêu gọi thống thiết trích trong bản báo cáo của Thương Phế Binh-Biệt Khu Thủ Ðô đưa ra năm 1999. Mười một năm sau, bây giờ đã là năm 2010, đã có biết bao nhiêu thương phế binh đã qua đời trong ngậm ngùi, xót xa, mang mặc cảm của những người hoàn toàn bị bỏ quên. Ðơn vị, chiến hữu, các chỉ huy bây giờ ở đâu? Huy chương, tưởng lục và những lời khen tặng, những lá thư hậu phương, tình nghĩa em gái thăm tiền đồn, những lời nhạc ve vuốt, những vòng hoa chiến thắng còn lại những gì cho hôm nay.

“Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè,” nhưng khi rút lui khỏi chiến trường, cấp chỉ huy rời bỏ đơn vị, chúng ta đã bỏ lại hàng chục nghìn thương binh trên quê hương, có khác chi bỏ anh em đang chảy máu lại giữa vùng đất địch. Khi kẻ thắng trận thu dọn chiến trường, những người thương binh này nếu không nhận được “phát súng ân huệ” để có được cái chết tức thì, khỏi chịu đựng những nỗi đau đớn thì cũng chịu mang vết thương tật, không hề được cứu chữa. Trong cuộc sống còn ngút lửa hận thù, đối xử phân biệt, sự sống của người thương binh cũng như là xác chết còn hơi thở, trong khi người lành lặn còn bị khinh miệt, cuộc sống vất vả thì người phế tật, đi đứng khó khăn chỉ còn là kiếp sống thừa mang gánh nặng cho những người thân thuộc trong gia đình.

Chúng ta đi gọi là “mang theo quê hương” nhưng bỏ lại biết bao anh em, bạn bè chiến hữu. Họ nhìn theo bước đi của chúng ta may mắn được ra khỏi nước và nhìn lại hoàn cảnh mình, chấp nhận với số phận ngặt nghèo nhưng vẫn còn đặt niềm tin vào những người một thời đã là chiến hữu, một thời sống chết có nhau. Việc ra đi của hằng triệu người vượt biển, bảo lãnh, bán chính thức, con lai, H.O. đã gây ra nhiều tâm lý thất vọng cho những người không đủ điều kiện, nhất là cho thành phần thương binh, giờ đây trọn đời đành sống trong hoàn cảnh tăm tối vô vọng. Nhiều người đã lập luận cho rằng một thương binh mù hai mắt, hay cụt hai chân chắc hẳn đáng thương và xứng đáng để được người Hoa Kỳ cưu mang hơn là một sĩ quan ở tù “cải tạo” ba hay bốn năm. Nhưng trong hoàn cảnh này, chúng ta làm gì hơn được.

Vài năm sau khi miền Nam mất, các chiến hữu, tù nhân “cải tạo” đang nằm trong nhà tù và nhân dân miền Nam mong chúng ta trở về quang phục lại quê hương, giải thoát cho họ khỏi cảnh nô lệ lầm than. Nhưng chuyện ấy không bao giờ thực hiện được. Các chiến hữu của chúng ta ở lại mong các đàn anh, các tướng lãnh, các vị chỉ huy cũ có cơ hội may mắn ra đi, sẽ nghĩ lại tình đồng đội, chiến hữu để tìm cách giúp đỡ cho họ, như là một niềm an ủi cuối đời cho những người thiếu may mắn. Nhưng chúng ta đã làm gì để đáp ứng với lòng mong đợi ấy? Từ năm 1975 đến nay, ở hải ngoại chúng ta chưa thấy một tướng lãnh hay một sĩ quan cao cấp nào có lời kêu gọi hay hành động cụ thể gọi là “không quên anh em, không bỏ bạn bè,” mà chỉ đóng vai dự khán bên lề, coi mình như người ngoại cuộc.

Trong một bức thư chân tình cách đây vài năm trong mục “Chuyện Trò Cùng Ðồng Ðội” trên báo Người Việt, một thương binh VNCH trong một bức thư gọi là gửi các niên trưởng đã than thở rằng các anh rất vui mừng khi thấy các niên trưởng ra khỏi nhà tù, lại vui hơn khi thấy các niên trưởng được xuất ngoại, hy vọng họ sẽ làm một điều gì đó cho đất nước và cho đồng đội, nhưng quả là đau lòng khi ngày nay, lại thấy các niên trưởng trở về ăn chơi, hưởng thụ bên cạnh những cảnh đời khổ đau đen tối của những đồng đội cũ. Trong hàng chục nghìn lượt về nơi chốn mà ngày trước các anh đã bươn bả ra đi, đã có mấy ai nghĩ chuyện viếng san sẻ chút vật chất hay cho một đồng đội thương binh ngày trước hoặc bỏ chút thì giờ thăm viếng, thắp nén nhang trước mồ tử sĩ tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Cùng là đồng đội, chúng ta là những kẻ may mắn đối với người bất hạnh, chúng ta là kẻ nhanh chân đối với người chậm chân ở lại, còn cư xử với nhau như thế, mong gì ở những kẻ chiến thắng lòng thương xót hay sự đối xử công bằng, không phân biệt đối với người chiến bại cụt què.

Những cố gắng của đồng bào hải ngoại ở khắp nơi cố gắng san sẻ cho thương binh ở quê nhà, từ một buổi cơm gây quỹ cho đến một buổi trình diễn văn nghệ, không hấp dẫn và kiếm tiền dễ dàng bằng một buổi gây quỹ của một người từ trong nước ra như trường hợp Tim-Aline Rebeaud hay các cuộc gây quỹ cho nạn nhân bão lụt. Những mùa từ thiện ở hải ngoại luôn luôn là nỗi vui mừng, không phải chỉ đối với các nạn nhân mà còn đối vối nhà cầm quyền Cộng Sản vì chúng ta chia công việc với họ, trong khi thương binh VNCH không bao giờ là mục tiêu cứu trợ của bất cứ một cơ quan nào dưới chế độ Cộng Sản.

Những buổi ca nhạc ngoài trời nhắm mục đích gây quỹ giúp thương binh trong mấy năm gần đây, tuy số tiền thu được mỗi năm khá cao, nhưng so với số tiền gởi về qua hàng trăm hội đoàn gọi là bác ái của người ngoài nước giúp người khó khăn trong nước, chỉ là con số nhỏ nhoi, khiêm nhường. Số tiền năm chục hay một trăm đô la đến với người thương binh bất hạnh chỉ là cơn gió “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.” Ba mươi lăm năm nay, người thương binh trẻ nhất cũng đã 55 tuổi, những người già đã qua đời hay bệnh hoạn, tất cả đều mang mặc cảm bị bỏ rơi sau cuộc chiến. Một người tàn tật què cụt đã đáng thương, một người lính hy sinh một phần thân thể trong lúc chiến đấu không những để cho chúng ta đem lòng thương hại mà còn cho chúng ta sự kính trọng và mang ơn.

Ba mươi lăm năm qua, người lính lành lặn đi ra nước ngoài đã có một đời sống no đủ ấm êm, con cái có cơ hội học hành, nhưng người ở lại, với tấm thân tàn phế, trong một chế độ thiết lập nên bởi những người thắng trận kiêu căng, vô cảm, cuộc sống họ sẽ ra sao? 400,000 anh em cựu tù nhân chính trị và gia đình thừa sức nuôi đủ 20,000 thương binh với chỉ $1.00 mỗi tháng. Chúng ta mất hết rồi, không còn chính phủ, không còn Bộ Cựu Chiến Binh, không còn đơn vị, chỉ còn chút tình với những người thua thiệt.

Ra hải ngoại chúng ta còn mang theo Ngày Giỗ Tổ, Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Hận, cả Lễ Trung Thu để tiêu thụ bánh nướng của Tàu, có thêm Ngày Mẹ, Ngày Cha và cả ngày Haloween quỷ quái, nhưng không có nỗi một Ngày Thương Binh cho xứng với truyền thống đạo nghĩa của người Việt Nam.

Huy Phương

Posted: Mon Oct 25, 2010 1:57 am
by KýCóp
Ai đã khai hỏa cuộc hải chiến tại Hoàng Sa năm 1974
giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Quốc


Image

Phạm Viết Ðào
Vua Trần Nhân Tông đã để lại di chúc như sau: “Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Họa muôn đời của ta là nước Tàu. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới.
Luôn luôn bày đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gặm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay kẻ thù. Ðây là di chúc cho con cháu muôn đời.” (Trần Nhân Tông 1279-1293)


Ðoàn Viết Ất quê Nam Ðịnh, di cư vào Nam 1954, người chỉ huy pháo HQ 16 đã khai hỏa bắn vào tàu Trung Quốc...

Lời nói đầu

Tuần vừa qua, hai chiến hữu già của tôi ghé thăm Viện Bảo Tàng. Các bác Lương Văn Ngọ và Võ Ðại. Quí vị hỏi thăm qua loa nhưng thực tình là yêu cầu yểm trợ để cùng đánh trận Trường Sa. Sẽ tổ chức gây quĩ, đăng báo Mỹ để tuyên ngôn cho thế giới biết là quần đảo và hải phận Ðông Hải muôn đời phải là của Việt Nam ta. Vâng, chúng tôi sẽ chuẩn bị tài liệu để triển lãm, duyệt lại cuốn phim đem chiếu và xin viết bài này để góp phần giới thiệu với độc giả. Lẽ dĩ nhiên cần sự giúp đỡ của các chiến hữu Hải Quân về các tài liệu. Chuyện Hoàng Sa và Trường Sa nếu không có anh em hội Bạch Ðằng là không xong. Trưa Thứ Bảy, cuối tuần, hội Hải Quân đến họp tại Viện Bảo Tàng để thảo luận về việc thiết lập một sa bàn Hoàng Sa. Các bạn trao tặng bộ quân phục thủy thủ cùng rất nhiều hình ảnh và tác phẩm liên quan đến trận hải chiến 34 nằm về trước. Những tác phẩm viết về Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và đặc biệt có trên mười tác giả viết về biến cố Hoàng Sa ngày 19 tháng 1, 1974. Hồi ký của tư lệnh Hải Quân vùng 1, của vị chỉ huy hải đội Hoàng Sa, của trung tâm trưởng hành quân biển tại Sài Gòn, các hạm trưởng, sĩ quan trên chiến hạm tham chiến số 4, 5, số 10 và 16, của biệt kích trên đảo, sĩ quan truyền tin trên soái hạm, của thủy thủ trôi dạt trên biển, của anh em đoàn viên và địa phương quân bị bắt tù binh đưa về TC. Khối tài liệu hết sức phong phú trên ngàn trang phải đọc suốt cả tuần lễ chưa hết. Ðặc biệt trong khi quí vị cấp trên viết còn dè dặt thì anh em cấp dưới viết ra tất cả mọi chi tiết hết sức chân thật và rõ ràng. Những anh em mang đến tài liệu cho chúng tôi, ngày xưa vốn là các thiếu tá và cấp úy trẻ trung của biển cả, ngày nay tuổi đã về chiều mà tấm lòng nặng trĩu tâm tư khi nghe tin các hải đảo xa xôi lại một lần nữa rơi vào tay địch. Trong số các chiến hữu có mặt tại San José, chúng tôi đã gặp được một người, hết sức tình cờ và hết sức đặc biệt.

Ðoàn Viết Ất, người chỉ huy pháo HQ 16 đã khai hỏa...

Ðó là Hải Quân Ðại Úy Ðoàn Viết Ất, nguyên sĩ quan pháo thủ của HQ 16 mang tên danh tướng Lý Thường Kiệt. Năm 1974, khi con tàu rẽ sóng đi Hoàng Sa, Trung Úy Ất tưởng chỉ làm một chuyến hải hành tiếp tế như thường lệ, nào ngờ ông đã tham dự vào trận đánh lịch sử. Chuyến về trên con tàu bị thương với cõi lòng tan nát vì đã bỏ lại đồng đội trên hải đảo và biển cả. Trung Úy Ất cùng một số hải quân được tuyên dương anh hùng, thăng cấp đặc cách tại mặt trận. Ngày nay, ông Ất đang đóng vai một người dân tỵ nạn hiền lành sống rất bình dị bên cạnh chúng ta. Ai biết đâu con người ấy, ngày xưa cũng đã từng là một chiến sĩ dũng cảm của Hải Quân. Trong chiến trường, binh thư viết rằng khi lâm trận, cấp úy ở ải địa đầu là những người quyết định thắng bại. Trên các chiến hạm vào ngày đầu năm 1974, sống chết của con tàu trông cậy vào các trung úy chỉ huy pháo thủ. Trên chiến hạm HQ 16 vào buổi sáng hôm đó, số mạng trong tay Trung Úy Ất, ngồi bên cây đại bác 125 ly, nạp đạn chạm nổ, hướng thẳng vào đài chỉ huy của con tàu địch trước mắt. Sẵn sàng chuẩn bị bắn trực xạ.

Cuộc đời Ðoàn Viết Ất

Sau trận Hoàng Sa, miền Nam ca ngợi chiến công của Hải Quân anh hùng. Trong số các sĩ quan con sống mà được vinh thăng có Trung Úy Ðoàn Viết Ất. Ất người Nam Ðịnh, 54 theo cha mẹ di cư vào Sài Gòn. Sinh viên Ðại Học Vạn Hạnh. Năm 20 tuổi vào Hải Quân. Học thêm Anh văn tại Sài Gòn rồi thụ huấn căn bản quân sự tại Quang Trung. Năm 70 được gửi đi học tại trường Hải Quân Hoa Kỳ khóa 4-OCS. Vào thời kỳ đó sinh viên sĩ quan Hải Quân Ðoàn Viết Ất đã có dịp học lái tàu Mỹ tại vùng Vịnh Cựu Kim Sơn. Khi về nước, Chuẩn Úy Ất nhờ có đệ tam đẳng Thái Cực Ðạo nên được làm huấn luyện viên võ thuật. Cuộc đời đưa đẩy, trải qua các đơn vị, lên thiếu úy rồi trung úy thì bắt đầu xuống HQ 16 làm sĩ quan trách nhiệm dàn pháo cho chiến hạm. Các vũ khí dưới tay gồm có cây 125 ly, lớn hơn cả đại bác 105 của Bộ Binh. Những cây 40 ly một nòng và cây 40 ly nòng ghép đôi. Các bách kích pháo. Súng cá nhân, áo giáp và nón sắt. Cùng với các đoàn viên xạ thủ đầy kinh nghiệm, Trung Úy Ất chỉ huy anh em vào nhiệm sở tác chiến với một tinh thần hăng hái rất hào hùng. Khi con tàu Lý Thường Kiệt phải đoạn chiến về đến bến bờ quê hương, nhớ lại cảnh chiến hữu bị bỏ lại, lòng dạ hết sức não nề. Một năm sau theo hạm đội hải hành chuyến cuối cùng anh bỏ lại vợ con, vì vậy Ðại Úy Ất quyết định từ giã Hải Quân tại Côn Sơn, xuống tàu trở lại Việt Nam. Ðây là một quyết định sai lầm phải trả giá 6 năm tù cải tạo trên miền biên giới Bắc Việt. Ngay sau khi được trả tự do, cựu Ðại Úy Hải Quân đã có nhiều nơi móc nối để lái tàu vượt biên. Năm 1983 cả gia đình đến Bidong và sau cùng về định cư tại San José. Hai mươi năm qua chỉ làm một việc, cho một hãng. Nghề sửa máy điện tử. Bây giờ ông già 60 tuổi theo phái tu thiền tại gia, tuyệt thực mỗi buổi chiều. Buổi tối ngày15 tháng 1 năm 2008 đúng 34 năm trước sắp đến giờ khai hỏa trận Hoàng Sa, công dân Mỹ gốc Việt tên Ất Ðoàn ngồi nhớ lại lúc con tàu lướt sóng vào vùng hải chiến giữa các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng.

Di chúc của tiền nhân

Với ngàn năm đô hộ giặc Tàu, Việt Nam trải qua bao phen chống xăm lăng. Từ nhà Hán, nhà Ngô cho đến giặc Mông Cổ. Rồi nhà Minh, nhà Thanh. Quân dân ta phải chống giặc Bắc phương suốt 4 ngàn năm lập quốc. Trận hải chiến cuối cùng vào đời nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Vua Trần Nhân Tông đã để lại di chúc như sau: “Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Họa muôn đời của ta là nước Tàu. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Luôn luôn bày đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được thì gặm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay kẻ thù. Ðây là di chúc cho con cháu muôn đời.” (Trần Nhân Tông 1279-1293)

Trận Hoàng Sa

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 19 tháng 1, 1974, trận hải chiến lịch sử giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân TC diễn ra tại Hoàng Sa. Nguyên do vì sao? Di chúc của vua Trần Nhân Tông để lại hơn 700 năm đúng từng chữ một. Vẫn là họa phương Bắc. Nước lớn không tôn trọng quy ước. Bày đặt chuyện gây hấn. Gặm nhấm đất của ta. Trận hải chiến hết sức anh hùng của lực lượng Hải Quân nhỏ bé VNCH đã khai diễn với anh khổng lồ TC. Trước khi nổ súng, chiến hạm 2 bên đã cài răng lược, vì vậy chỉ vài giây phút đầu tiên là quyết định trận đánh. Gần đến nỗi đại bác của ta bắn trượt tàu địch đã xéo qua tàu bạn. Trong vòng 30 phút đầu tiên, bên ta chiến hạm HQ 10 bị trúng đài chỉ huy và hoàn toàn bất khiển dụng. Hạm trưởng từ trần chết theo tàu, hạm phó ra lệnh đào thoát, sau đó ông chết trên xuồng cấp cứu vì vết thương quá nặng. HQ 16 sau khi hạ được một chiến hạm của địch cũng bị thương rất nặng. Hạm trưởng và thủy thủ đoàn cố cứu con tàu ra khỏi chiến trường. Bên địch có 2 chiến hạm bốc cháy và 2 tàu còn lại chịu thương vong nhưng vẫn còn chuyển vận. Những hình ảnh sau cùng ghi nhận được hết sức hào hùng nhưng đồng thời cũng hết sức thương cảm. Hải Quân đào thoát từ HQ 10 ngồi trên bè cấp cứu bị tàu địch bắn theo. Nhưng đặc biệt còn thấy chiến hữu từ chiến hạm không bỏ tàu vẫn tiếp tục tác xạ qua tàu địch. Bút ký của người còn sống có ghi rõ cả tên các thủy thủ Việt Nam đang bắn những viên đạn sau cùng. Nước biển trên đầu ngọn sóng làm nhạt nhòa nước mắt của những lính bỏ tàu. Truyện kể của những anh em từ hải đảo xuống bè di tản khi thấy bên ta bắn chiến hạm địch bốc cháy đã cùng nhau cất tiếng hát trên biển Hoàng Sa.

Bài ca bất hủ đó là bản Việt Nam, Việt Nam.

Hãy tưởng tượng giây phút lạ lùng giữa trùng khơi dậy sóng với lửa đạn vang trời, ai cất được tiếng hát... Việt Nam nghe tự vào đời... Việt Nam nước tôi...

Năm 1974, dầu sôi lửa bỏng

Tháng 1 năm 1974 không phải là lúc miền Nam thái bình thịnh trị. Hiệp Ước Ba Lê đã ký xong nhưng hai bên vẫn còn chiến đấu trong trận giành dân lấn đất. Với chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, Hoa kỳ đã rút hết quân về. Xa hơn nữa, ngay từ năm 1970, Mỹ đã tuyên bố dứt khoát không tham dự vào cuộc tranh chấp các hải đảo ở biển Ðông. Trong khi quân Mỹ rút thì Việt Nam Cộng Hòa bùng lên tia hy vọng mới. Tin biển Ðông có dầu làm Tổng Thống Thiệu nói với nội các là dường như Trời ngó lại. Một thùng dầu thô được lệnh đem lên đốt tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa trong buổi lễ tưởng niệm để linh hồn 16 ngàn tử sĩ phù hộ cho đất nước một tương lai tốt đẹp. Nhưng chính niềm vui ngắn ngủi đã nằm trong thiên tai. Trường Sa là nơi có nhiều triển vọng của kho tàng đáy biển. Muốn lấy Trường Sa thì TC phải thôn tính Hoàng Sa. Trong lúc VNCH còn phải lo trong nội địa thì TC cho Hải Quân đóng vai ngư phủ xâm nhập phía đông của quần đảo. Ðúng như vua Trần đã nói, chúng cứ gặm nhấm dần dần. Căn cứ vào địa lý nhân văn, căn cứ vào di tích lịch sử, căn cứ vào hiện trạng thềm lục địa, dứt khoát toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Nhưng đất nước đang chiến tranh, sức đâu mà có đủ phương tiện trấn giữ cả trăm hải đảo cô quạnh giữa trùng khơi. Vì vậy, thừa nước đục thả câu, các quốc gia lân bang xâu xé. Từ Tàu đỏ của Bắc Kinh cho đến Tàu vàng của Ðài Bắc. Rồi Mã Lai, Indo và Phi Luật Tân đều nhào vô giành hải đảo. Nhưng có kế hoạch và tham lam nhất vẫn là người Tàu. Từ Tàu ngày xưa cho đến TC ngày nay, mộng bá quyền của người phương Bắc luôn luôn là cơn ác mộng của phương Nam.

Ðô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đang kể lại trận hải chiến Hoàng Sa
Châu chấu đá voi


Ngày 15 tháng 1, 1974 chiến hạm HQ 16 lên đường ra Hoàng Sa đưa địa phương quân Quảng Nam ra thay phiên trấn thủ lưu đồn. Ngày 17 tháng 1 khi đổ bộ lên đảo đã gặp Hồng quân. Từ trước đến nay vẫn gặp dân đánh cá xua đuổi là chúng bỏ đi, những lần này lại là Hải Quân TC. Ðô Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Hải Quân vùng I, cảm thấy chuyện bất thường. Nhân lúc Tổng Thống Thiệu ra kinh lý, nội vụ được trình trực tiếp. Sau phần trình bày của vị tướng Hải Quân, ông Thiệu ngồi xuống lấy giấy bút viết tay trong 15 phút một bản văn lịch sử. Ðây là chỉ thị căn bản của trận hải chiến duy nhất đã xảy ra giữa Việt Nam và nước Tàu trong thế kỷ thứ 20. Tướng Thoại đã ghi lại trong tác phẩm “Can Trường Trong Chiến Bại” chương 16 đại ý như sau. Lệnh viết tay của Trung Tướng Thiệu chỉ thị áp dụng các biện pháp xua đuổi ôn hòa, bắn dọa cảnh cáo và sau cùng thì dùng vũ khí để bảo vệ lãnh thổ. Quyết không để mất một tấc đất nào. Tất cả mọi người hiện diện đều không có ý kiến. Các tướng lãnh và phái đoàn chính phủ tháp tùng không ai lên tiếng. Không có bàn thảo gì hết. Xem ra ông Thiệu hết sức cô đơn và cương quyết trong quyết định lịch sử rất có thể bùng nổ lớn mà không ai tiên đoán được. Vẫn theo bản tính của ông, không ra lệnh chi tiết về việc khai hỏa. Không cần thảo luận về việc khả năng hùng mạnh của toàn thể Hải Quân TC. Chỉ riêng hạm đội Hải Nam cũng có thể tung ra 10 chiến hạm phục kích vây chung quanh hạm đội Việt Nam và diệt gọn. Rõ ràng là một quyết định châu chấu đá voi, dựa trên tình tự dân tộc với mối thù từ ngàn năm trước. Sau cùng châu chấu cũng đành phải đá voi.

Hạm Ðội Hà Văn Ngạc

Từ Sài Gòn, Ðại Tá Hà Văn Ngạc bay ra Ðà Nẵng nhận lãnh chức vụ chỉ huy cuộc chiến lấy lại Hoàng Sa. Ðô Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại tiễn ông đại tá Sài Gòn lên HQ 5, mang hiệu kỳ soái hạm lên đường. Chia tay trên cầu tàu căn cứ Ðà Nẵng, ông Thoại viết lại rằng đôi mắt chiến hữu nhìn nhau, cùng cảm thấy sắp có biến cố lịch sử. Lệnh phải bảo vệ đất nước được ghi rõ ràng từ tổng tư lệnh. Quân xâm lăng lần này đâu có dễ thuyết phục. Hoàng Sa là con đường đi xuống Trường Sa, mỏ dầu tương lai của cả Ðông Nam Á. Hoa Kỳ lại xác nhận là không can thiệp. Giặc Tàu chắc chắn sẽ không bỏ đi. Lính thủy Việt Nam với 4 con tàu cũ sẽ lâm chiến trong hoàn cảnh hết sức cô đơn trên biển cả mênh mông. Từ tướng cho đến quân, ai nấy đều biết rằng phải khai hỏa trước. Không thể bắn cảnh cáo doạ dẫm gì hết. Tiên hạ thủ vi cường. Ðiều quan trọng là khai hỏa vào lúc nào và ai sẽ là người ra lệnh khai hỏa. Ðại Tá Hà Văn Ngạc xuống con tàu mang tên danh tướng Trần Bình Trọng, phen này nếu chẳng may sa vào tay địch chắc lại phải làm quỉ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc.

Khói lửa biển san hô

Buổi sáng hôm đó trời trong sáng, vào lúc 10 giờ thì tàu hai bên đã gần nhau. Bên địch bên ta kèm nhau từng chiếc một. Ngẫu nhiên mỗi bên đều có 4 chiến hạm. HQ 16 có HQ 10 bên tay mặt làm thành phân đội số 2. Soái hạm HQ 5 đi với HQ 4 là phân đội 1 vòng xuống phía đông nam đánh vào đảo Quang Hòa. Lập tức 2 tàu địch tách ra ứng chiến. Hỏa lực của hai bên tương đương, nhưng tàu địch tối tân hơn, chạy nhanh hơn, thân nhỏ sàn tàu thấp tạo thành mục tiêu di động và nhỏ bé hơn chiến hạm của Việt Nam. Các vị chỉ huy của bên ta đều dự trù sẽ nổ súng trước khai thác yếu tố bất ngờ. Vả lại, địch là kẻ xâm lăng, chiếm đất ta, ta có quyền nổ súng.

Lúc đó Trung Úy Ất 24 tuổi, ngồi trấn thủ cạnh cây đại bác quyết định chiến trường 125 ly nòng dài. Phía trước mặt là 2 tàu chiến của TC chế ngự trước đảo Duy Mộng. Trung Tá Lê Văn Thự với con tàu Lý Thường Kiệt đã xoay trở mấy ngày qua nên quen thuộc với khu vực đầy bãi đá ngầm với san hô. Pháo đội trưởng rất tin tưởng vào dàn xạ thủ nhiều kinh nghiệm với những năm yểm trợ hải pháo cho bộ binh vùng duyên hải Trung phần. Các hạ sĩ quan đều vững tay nghề và tinh thần hết sức cao. Cũng có thể chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Thực sự thì cả hai bên đều chưa hề có kinh nghiệm hải chiến trên biển cả. Sách vở và chỉ thị dùng đạn xuyên phá nhưng Trung Úy Ất cho nạp toàn đạn chạm nổ. Gần thế này mà xuyên phá thì hỏng hết. Phải chạm nổ mới có kết quả. Lại có lệnh bắn yểm trợ cho bộ binh trên đảo trước. Mấy bác hạ sĩ quan thâm niên đến bên cạnh thì thào vào tai anh trung úy trẻ. Ta cứ nhằm vào đài chỉ huy mà ra tay trước. Nếu cứ phơi mình ra mà bắn yểm trợ lên đảo thì chết hết còn đâu mà yểm trợ bộ binh.

Nhớ lại chuyện 34 năm trước, ông Ất kể rằng, chúng tôi cứ hướng vào đài chỉ huy của tàu địch. Ðịch di chuyển là các nòng súng 125 và 40 ly theo sát. Phía bên địch cũng quay súng hướng về chúng tôi như vậy. Giây phút nghẹt thở kéo dài. Lệnh từ soái hạm cho HQ 10 bắn trước. Nghe tiếng nổ là các tàu khai hỏa đồng loạt. HQ 16 hạ được một tàu địch và phía bên phân đội 2 của HQ4 và 5 bắn cháy một tàu. Ngay sau đó thì HQ 10 bị địch bắn sập đài chỉ huy. Trong hải chiến, mục tiêu chính là đài chỉ huy, nơi tập trung bộ phận lái tàu, hệ thống điện, truyền tin. Kế tiếp là dàn pháo của tàu địch. Phần còn lại nằm dưới mặt nước, phải tấn công bằng thủy lôi nhưng chiến hạm không được trang bị. Súng bắn qua lại như mưa. Trung Úy Ất thấy rõ hai chiến hạm địch bốc cháy.

Bên HQ 10 có lệnh bỏ tàu, tình thế rất bi thảm. Cùng lúc đó HQ 16 bị trúng thương nặng, lệnh bỏ tàu đã ban hành những sau đã kịp thu hồi và cố gắng xoay trở để rời khỏi chiến trường. Hai chiến hạm của phân đội 1 cũng đã trên đường triệt thoải khỏi vùng hải chiến. Hai chiến hạm địch còn lại cũng bị thương nặng nên không đủ sức truy kích. Nếu không chắc chắn HQ 16 không thể tiếp tục chiến đấu để tồn tại. Con tàu chỉ còn một máy, không có điện phải vận chuyển bằng tay, cố lết ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Rời khỏi trận địa khoảng 11 giờ sáng, Ðại Úy Ất còn nhớ lúc 3 giờ chiều chưa ra khỏi chiến trường. Nhìn về phía sau thật xa vẫn còn thấy chiến hữu trên đảo vẫy tay gọi tàu vào đón. Con tàu không còn khả năng tự xoay trở nên đã đành đoạn bỏ lại đoàn viên tuyệt vọng mỗi lúc một xa dần. Sang ngày hôm sau toàn thể hạm đội Hải Nam của TC mới ào ạt tiến đến và bắt tất cả các quân nhân của ta đem về lục địa. Sau đó trao trả tại Hồng Kông. Còn các chiến binh thả trôi trên bè cấp cứu đã nhờ ngọn gió Ðông thổi vào đất liền, trôi giạt cho đến khi tàu buôn và ghe chài vớt được trả về cho đơn vị.

Giấc mơ của Ðại Úy Ất

Trung Úy Ðoàn Viết Ất với chiến công trên HQ 16 trong trận Hoàng Sa đã được đặc cách lên đại úy. Chính vì cấp bậc này, cộng thêm khả năng lái tàu Mỹ, ông được cộng sản gia tăng thêm 3 năm thành 6 năm cải tạo. Khi ra tù, lại nhờ khả năng lái chiến hạm nên bà con móc nối cho lái ghe vượt biên mới có cơ hội trở lại vịnh Cựu Kim Sơn quen biết từ năm 70.

35 năm sau, bác Ất quê Nam Ðịnh ngồi nhớ lại hình ảnh con tàu HQ 10 nằm trên biển san hô. Biết rằng bây giờ ta đánh thì không lại quân Tàu, những vật đổi sao rời, cũng có ngày nước Tàu chia năm xẻ bảy. Việt Nam hậu sinh lấy lại được Hoàng Sa sẽ trục con tàu anh hùng lên làm thành một đài kỷ niệm như người Mỹ đã làm ở Trần Châu Cảng xứ Hạ Uy Di. Ai mà biết giấc mộng đó sẽ không phải là thực. Trong khi chờ đợi, Ðại Úy Ðoàn Viết Ất sẽ cùng Ðại Úy Hải Quân Phạm Bách Phi làm một sa bàn Hoàng Sa cho viện bảo tàng để con cháu thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đến xem ông cha ta ngày xưa châu chấu đá voi ra làm sao.

Lệnh Khai Hỏa

Khi đặt bút viết bài này có tựa đề là Lệnh Khai Hỏa. Tác giả là một chiến binh lục quân chân đất, hoàn toàn không có kiến thức Hải Quân nên chỉ xin lạm bàn chút đỉnh. Lệnh khai hỏa thực sự bắt đầu từ đâu và vào lúc nào? Ðô Ðốc Kỳ Thoại viết trong chương sách về trận Hoàng Sa có ghi rằng Ðại Tá Ngạc chỉ huy hạm đội xin ông lệnh khai hỏa. Qua máy truyền tin tiếng súng bắn tại Hoàng Sa, Ðại Tá Ngạc mở lớn cho ông Thoại nghe thấy. Bút ký của sĩ quan truyền tin trên HQ 5 cũng ghi rõ đoạn này. Tài liệu bằng Anh ngữ của Ðại Tá Ðỗ Kiểm thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân Sài Gòn lại ghi rằng Ðại Tá Ngạc điện thoại về xin lệnh khai hỏa của đề đốc tư lệnh Hải Quân. Lúc đó tư lệnh đang trên đường bay ra Vùng I. Vì chuyện khẩn cấp nên Ðại Tá Kiểm xin lệnh của Ðô Ðốc Diệp Quang Thủy có mặt tại Bộ Tư Lệnh Sài Gòn. Nhân lúc họp bạn với anh em Hải Quân để viết lại câu chuyện làm phim, chúng tôi có dịp nói chuyện thêm chi tiết với Ðô Ðốc Thủy. Bây giờ Ðại Tá Hà Văn Ngạc không còn nữa.

Người viết truyện tò mò muốn tìm hiểu đành phải suy nghĩ rằng trước khi nổ súng ông đã gọi Bộ Tư Lệnh Hải Quân để xin phép trước. Qua Ðô Ðốc Diệp Quang Thủy ông được lệnh Sài Gòn. Sau đó ông cẩn thận xin lệnh Ðà Nẵng qua Ðô Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, và lệnh khai hỏa bắt đầu. Tuy nhiên dù lệnh ra sao thì cũng chỉ qua giấy tờ và máy truyền tin. Lệnh khai hỏa đích thực sau cùng trên chiến hạm bằng khẩu lệnh là của cấp úy như ông Trung Úy Ðoàn Viết Ất. Lúc đó Trung Úy Ất mới 24 tuổi, dân Nam Ðịnh. Ông là người tin vào những chuyện số mệnh linh thiêng huyền bí. Dù rằng lệnh xuống theo hệ thống quân giai từ tổng thống, tư lệnh Hải Quân, tư lệnh vùng, chỉ huy hạm đội, hạm trưởng rồi mới đến tai ông. Nhưng theo tiếng gọi từ nơi xa thẳm thì cái lệnh khai hỏa đã bắt đầu từ vua nhà Trần. Bẩy trăm năm về trước Ðức Trần Nhân Tông đã ra lệnh bắn quân Tàu. Tư lệnh quân đội thời đó là Ðức Hưng Ðạo Ðại Vương, Trần Quốc Tuấn. Có phải ngẫu nhiên hay không, vua quan nhà Trần thời đó cũng là người quê ở Nam Ðịnh, chẳng khác gì ông tỵ nạn vô danh Ðoàn Viết Ất ngày nay đang lưu lạc ở San José. Mỗi sáng vào sửa vài cái máy điện toán, bữa ăn trưa là lần cuối trong ngày. Chiều chiều ghé vào nhà con trai kèm bài cho cháu nội. Ông pháo thủ Hải Quân bỏ lại dàn đại bác từ hơn 30 trước ở cuối chân trời. Từ ngày đó đến nay chẳng bao giờ còn nghe thấy lệnh khai hỏa của các cấp chỉ huy.

Posted: Mon Oct 25, 2010 2:27 pm
by hoanghoa
Chút cảm nghĩ Về Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ + Quân Kỳ
Monday, 25 October 2010


Vừa rồi, vào ngày 02.10.2010, cựu chiến binh Nhảy Dù VNCH , cũng như năm ngoái, tham dự chung với cựu chiến binh Nhảy Dù Pháp, Đức, Bỉ, Tây Ban Nha ... cuộc diễn hành trên đại lộ Champs Élysées đến làm lễ tại Khải Hoàn Môn nhân ngày giỗ thánh tổ nhảy dù Thánh Michel. Trong cuộc diễn hành này, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ sánh vai cùng quốc kỳ các quốc gia khác,
do thứ nam của Y sĩ Trung tá Trần Đức Tường, một cựu chiến binh ND quân lực Pháp mang. Một lá cờ, một mặt là quốc kỳ VNCH, một mặt là quân kỳ thuộc Bộ TTM/QLVNCH. Vì lẽ đó, một vài cựu quân nhân QLVNCH đã chỉ trích, thâm chí có vị còn diễn tả là '' kỳ quái ''.

Nhân đây, tôi xin ngắn gọn trình bày lịch sử Cờ Vàng để quý Vị có thêm dữ kiện.

Lịch sử Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ
Image
Quốc kỳ VN đã thay đổi nhiều lần qua nhiều thời kỳ. Tuy nhiên Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được dùng đầu tiên vào năm 1890, dưới trào vua Thành Thái và Duy Tân, rồi sau đó có thay đổi. Đến đời vua Bảo Đại, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được dùng trở lại, từ năm 1945, kéo dài qua các thời kỳ VNCH I , VNCH II, cho đến khi VC cưỡng chiếm Miền Nam ngày 30.04.1975 thì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã bị xóa đi trên bình diện công pháp quốc tế/ngoại giao.

Quốc kỳ và Quân kỳ:

Sau đây là '' hành trình '' của Quốc kỳ và Quân kỳ qua sự giải thích của một sĩ quan cao cấp từng sống qua '' Pháp-trào '' và '' Mỹ-trào '':
Image
'' Quân đội nào cũng có quốc kỳ (cờ của quốc gia) và quân kỳ (cờ của đơn vị). Quân đội Quốc Gia VN, lúc ban đầu, quốc và quân kỳ cùng chung một lá giống như Pháp, nhưng sau này quốc kỳ và quân kỳ phải bắt chước Mỹ, mới tách ra quốc kỳ và quân kỳ riêng.

Theo attach. kèm theo đây,trong 2 hình đầu mãn khoá sĩ quan trường Võ Bị QG Dalat (có quốc trưởng Bảo Đại chủ toa) quân kỳ của trường là cờ Vàng 3 sọc đỏ, trên đó có thêu ở 4 góc, mỗi góc một trụm nhành dương liễu. Khi ông Bảo Đại trao cờ cho khoá sinh, là trao quân kỳ của trường chứ không bao giờ trao quốc kỳ, mà quân kỳ đây là cờ Vàng 3 soc đỏ (hình bị mờ).Một hình nữa là toán hầu kỳ của SV trường Võ Bi : cờ bên trái là quóc kỳ, cờ bên phải là quân kỳ trên nền cờ Vàng 3 sọc đỏ. Trong hình thứ 4, Pháp trao trả dinh Độc Lập cho thủ tướng NĐDiệm, cũng chỉ có một quân kỳ của toán chào danh dự, mà quân kỳ đó là Cờ Vàng 3 sọc đỏ. Trong buổi đầu của nền Đệ nhất Cộng Hoà khi QLVNCH chưa hoàn toàn theo lễ nghi của Mỹ, thì Quân kỳ-Quốc kỳ cũng vẫn chung mộ lá. Hình ông đại tá chỉ huy trưởng Trường Võ Bị đặt cờ của trường trên giá súng, cờ Vàng trên đó có thêu những chữ Danh Dự Tổ Quốc.
Image
Than ôi, cờ miền Nam Tự Do đã bị xoá sổ trên lãnh vực Quốc Tế từ 30-4-1975, chúng ta bằng mọi cách cố giữ cho ngọn lửa đừng có tắt, nhưng luôn luôn bị đánh phá ''. Tôi sẽ chuyển tiếp 3 hình xưa cũ nữa sau khi bài này được gửi đi. Kèm theo bài này, quý Vị có hình cũ : Thủ tướng Ngô Đình Diệm chào Quốc-Quân kỳ của toán lính danh dự chỉ một lá cờ nhân dịp Pháp trao trả Dinh Độc Lập cho VNCH vào năm 1955.

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ: Biểu tượng của Tự Do và Di Sản của Người VN Tỵ Nạn

Hiện nay tại Hoa Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được công nhận là Lá Cờ Của Tự Do và là Di Sản của Người VN Tỵ Nạn. Như thế có nghĩa là không còn là quốc kỳ , vì VNCH tạm thời đã bị xóa khỏi bản đồ thế giới. Cho đến tháng 09-2009, tại Hoa Kỳ, đã có 14 tiểu bang, 7 quận hạt và 89 thành phố là đại diện cho các Cộng đồng Người VN Tỵ Nạn.

Lá Cờ Vàng trên đại Lộ Champs Élysées:

Để giữ lửa '' biểu tưởng Người VN Tự Do '' trong hàng ngũ các quốc gia khác đặc biệt là Pháp, y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân đã nói với Ban Tổ chức rằng đây là Lá Cờ của Nhảy Dù VN , nhờ thế mới được chấp nhận '' cho vô hàng ngũ diễn hành '', lý do là Binh chủng Nhảy Dù VNCH lúc khởi thủy do quân đội Pháp đào tạo và quân đội Nhảy Dù Pháp đã cùng với Nhảy Dù QLVNCH chiến đấu chống lại bộ đội của đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu nói rằng đó là quốc kỳ VNCH thì BTC sẽ gặp rắc rối ngoại giao với tòa đại sứ VC tại Paris. Như vậy BTC có cho phép cựu quân nhân ND/QLVNCH mang cờ Vàng đi diễn hành chăng ? Tôi xin quý '' chỉ-trích-ông '' hãy suy nghĩ lại trước khi phát biểu.

Hiện nay một số tiểu bang/quận hạt/thành phố ở HK là chấp nhận Cờ Vàng, chứ các quốc gia khác đâu có công nhận. Vậy thì:

-Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nằm chung với quân kỳ VNCH , đứng trên phương diện '' pháp-trào '' hoàn toàn đúng trên phần đất của quốc gia Pháp.

-VNCH bị VC xỏ lá cùng một số quốc gia trên thế giới '' xóa sổ '' , vậy thì hành động giữ lửa Cờ Vàng của Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân là một điều rất đáng ca ngợi, tại sao lại ác ý dè bĩu chê bai ! Liêm sĩ ở đâu ???

Vài lời nhắn gửi :

-Những phê bình về '' lá cờ quái dị '' đi từ suy nghĩ của một số cựu quân nhân QLVNCH trẻ, chỉ biết sự việc vào thời '' Mỹ-trào '' mà không có cái nhìn tổng quát và không biết gì về sự những giai đoạn hình thành của Quốc kỳ VN cũng như quân kỳ VNCH, nên người viết nghĩ rằng sự giải thích là cần thiết để học có người hỏi thêm .

-Tuy nhiên, người viết rất không tán thành thái độ thiếu '' lòng trung thành '' của cựu quân nhân ND/QL VNCH đã nghe theo người không hiểu biết thấu đáo sự việc mà chỉ trích lại việc làm đầy nghĩa cử của vị từng là cấp trên của mình. Người viết muốn nói đến thái độ thiếu tử tế của Đại úy Trần Hoàng Lộc, sĩ quan hành chánh Tiểu đoàn Quân Y Nhảy Dù/QLVNCH khi cho rằng lá cờ này là '' kỳ quái ''.

Nhân đây người viết nói lên lời mang ơn đối với nhà thơ Miên Thụy, đã từ Hòa Lan lặn lội sang Paris làm khán giả rồi viết bài về cuộc diễn hành 02.10.2010 nhân ngày giỗ thánh tổ nhảy dù Thánh Michel.

Cám ơn Y sĩ Trung tá Trần Đức Tường vì chân bị gãy không tham gia được, đã cử thứ nam thay thế để mang Cờ Vàng cùng với rừng cờ các quốc gia tham dự.

Lời chót, người viết xin có lời cám ơn chân thành đến Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, đã 78 tuổi đời không màng nhọc mệt đã nhắn gởi cá nhân tôi ,Thiếu tá Lâm văn Rớt, Đại Úy Trần Hoàng Lộc cùng tham dự cuộc diễn hành giữ lửa với lá Cờ biểu tượng Tự Do của Người VN Tỵ nạn.

Người viết tự hứa sẽ cố gắng tham dự cuộc diễn hành chung với Cựu Chiến Binh Nhảy Dù Âu châu nhân lễ thánh tổ Michel vào năm tới, để đi sau lá Cờ Vàng+Quân kỳ VNCH như năm nay.

Nauy, 18.10.2010.
Y sĩ Đại Úy ND Tôn-thất Sơn.