Page 21 of 187

Posted: Fri Mar 06, 2009 5:58 pm
by tranphuongdong
Không Cho Phép Mình Quên


Tôi tên Nguyễn Khánh Vũ, kỹ sư điện toán cho một công ty bên Arizona.
Đã tham gia với bài 'Nuớc Mỹ và tôi' vào năm đầu tiên, và mới nhất là bài 'Nuớc Mỹ và vợ tôi'.
Nhiều nguời cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống?
Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.

Bài học số 1: Việt cộng giết nguời Quốc gia ngay trong thời kỳ phôi
thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt cộng muốn cuớp quyền lãnh đạo đất
nuớc, để có thể toàn quyền làm tay sai cho cộng sản quốc tế truớc kia,
và nay cho quan thầy Trung cộng.

Bài học số 2: Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt cộng đã giết
biết bao nguời dân vô tội, giết ngay cả những nguời mà có lẽ chẳng bao
lâu truớc đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc
quyên góp cho Việt cộng.

Bài học số 3: Ký kết ngưng bắn với Việt cộng chua ráo mực thì Hồ Chí
Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết
Mậu Thân.

Bài học số 4: Việt cộng xé ngay bản hòa đam Paris mà chúng chỉ vừa ký.

Bài học số 5: Truờng học Cai Lậy, nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang
sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt cộng? Sao Việt cộng lại
nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy 'giải phóng
quân' trên đại lộ kinh hoàng?

Bài học số 6: 'Nhà nuớc thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin
đồn thất thiệt. Nhà nuớc sẽ không đổi tiền'. Và việc đổi tiền, thực
chất là một cuộc ăn cuớp tài sản của nguời dân miền Nam, đuợc tiến
hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không
phải là một nhà nuớc pháp trị. 500 đồng tiền Việt Nam cộng hòa đổi lấy
1 đồng tiền Hồ. Việt cộng có cái gì để mà đổi?

Bài học số 7:

- 'Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh', Mẹ tôi bịn rịn chia
tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung 'cải tạo'.

- 'Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đem nay chắc chắn anh sẽ bị
dem đi noi khác.. Và em cung đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày', Ba tôi
căn dặn.

- 'Nhưng… cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà', Mẹ tôi trả lời.

Ôi thương thay cho nguời dân hiền lành, thật thà đất nuớc tôi. Và chắc
đâu đó ở Hà nội, đã có một nhóm nguời ngồi cuời khoái trá.

Trên đây là một ít trong số những bài học 'co bản' mà tôi luôn tự nhắc
mình và 'không bao giờ cho phép mình quên.'

Có nhiều nguời cho rằng Việt cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt cộng
chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để
tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và
đe hèn. Với những nguời cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa
một hành vi bẩn thỉu nào, nhung với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn
năm truớc cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi
đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đa Nẳng, rồi vào Saigon gặp mặt
hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà nội để gặp bọn đàn em ở Ba
Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục. Với cái thằng Tàu phù này,
Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám
du khách Trung cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đuờng phố Saigon
trong khi những nguời dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng
tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt
cộng dù đang đuợc che đậy duới một cái áo màu mè bên ngoài của một con
tắc kè. Việt cộng đã thay đổi?

Tôi may mắn có một nguời cha sáng suốt với những phân tích sắc bén,
thuyết phục. Ông luôn là nguời đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và
hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là
một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70,
ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nuớc. 'Muốn chống
cộng mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền', Ba tôi nói. Và trong
tình thế không có cả hai, ông vẫn chống cộng theo cách riêng. Ông hun
đúc tinh thần yêu nuớc cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện
kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo truớc
những muu chuớc của Việt cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian
thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, noi đai chiến si Việt-Mỹ nhân ngày
Chiến Si Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc
trong cộng đồng. 'Mình đến dù không làm đuợc gì nhung mình phải đến để
thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em', Ông thuờng
nói nhu vậy. Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch
sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi Ông
nhận đuợc hàng tháng. Tôi đuợc nghe rất nhiều lần từ những nguời bạn
của Ông, từ so giao đến thân tình, 'Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều
vấn đề quá'.

Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc
trong cộng đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy
vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đa và đang
cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chuong trình ca
nhạc của chúng. Tôi ‘tranh thủ’ giờ ăn trua trong công ty, để viết bài
và tham gia tranh luận trên các diễn đan với cố gắng 'giành dân, lấn
đất' với Việt cộng trên mạng điện toán. Tôi luôn mua băng gốc các
chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm,
các co sở có đuờng huớng chống Cộng rõ ràng. Tôi cố gắng giải thích
cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách
báo..

Bạn bè tôi, có nguời cho tôi chống cộng cực đoan. Là nguời Việt nên
tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy 'một câu nhịn, chín câu lành'. Tôi
cũng cho mình là một nguời Công giáo kiên định và vâng phục. Chúa tôi
có dạy rằng 'Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái
cho kẻ đó tát'. Kính thưa Ông Bà, Việt cộng ngày xua đay Ba con nói
rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một
bệnh án sống thêm đuợc vài tháng là hết. Mấy chị em con bị xếp vào
hàng cuối cùng trong xã hội vì 'trúng' đủ mọi 'tiêu chuẩn' của Việt
cộng, dân Bắc di cư-đạo Công giáo-con Ngụy quân Ngụy quyền. Ngày xưa
Việt cộng gọi chúng con là đi điếm bám chân đế quốc thì nay là 'khúc
ruột ngàn dặm', một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nuớc gần
10 tỉ tiền đế quốc. Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia
hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm tôi mọi khắp
noi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là
'khúc ruột'? Truớc, Việt cộng giết dân miền Bắc trong 'cải cách ruộng
đất', chôn sống dân miền Trung trong Mậu Thân, đày đọa, thủ tiêu quân
cán chính miền Nam sau ngày 'giải phóng', nay Việt cộng lại tiếp tục
cuớp đất của bao nguời dân thấp cổ, bé miệng, tiếp tục tàn phá quê
huong, phá bỏ đạo đức làm nguời. Nguời dân đã chẳng những 'một nhịn',
mà trăm ngàn 'nhịn', mà 'lành' vẫn không thấy. Ông Bà kính, làm sao có
'lành' với quỷ? Lạy Chúa, Việt cộng đánh đồng bào con thê thảm trong
'cải cách ruộng đất'. Việt cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu
Thân. Việt cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan
nát sau 'ngày giải phóng'. Việt cộng đẩy đồng bào con ra biển Đông và
hàng ngàn nguời đã bỏ mình, đa ô nhục, nho nhớp duới tay hải tặc. Nay
Việt cộng tiếp tục đánh phá các cộng đồng hải ngoại, noi chúng con
đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau. Lạy Chúa, chẳng
những cả hai má chúng con đã để cho Việt cộng tát, mà toàn thân, lục
phủ ngu tạng cung tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu 'có
lúc con phải hiền nhu con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con
rắn'. Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt cộng đã thay
đổi chăng?

Tôi sẽ còn chống cộng ngay cả khi Việt cộng không còn trên quê hương
tôi. Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho hiền
hòa, mở một ngôi truờng dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những
bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những
tội ác của Việt cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thuong đau của
cha ông, với một hy vọng là các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghiã quái
thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nuớc thân yêu duới bất kỳ hình
thức nào..

Tôi viết bài này trong niềm tuởng nhớ nguời Chú, nguời Cậu, những sĩ
quan, binh sĩ anh dũng của quân lực Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến,
những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tuởng tự do.

Nguyễn Khánh Vũ

Posted: Sat Mar 07, 2009 6:06 am
by TranAnhDung
Khi các “nạp thuế nhân” lên tiếng!

Ngô Nhân Dụng

Dân xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, thuộc thành phố Hà Nội dám chống lại công an đến cưỡng bách năm gia đình phải bán đất với giá mà họ không chấp nhận. Các chủ đất cương quyết không chịu bán. Ðây là một hiện tượng mới, vì không còn là cảnh người dân để cho chính quyền cướp đất rồi mới mang nhau đi khiếu nại, chẳng ai thèm nghe cả. Biến cố này có ý nghĩa quan trọng hơn những cuộc tụ họp làm nghẽn quốc lộ của người dân ở Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai tuần trước, sau khi có người đi xe bị công an gọi phạt rồi hành hung. Từ lâu, người dân Việt Nam đã đã chứng tỏ họ không sợ nữa. Họ dám cưỡng lại cường quyền. Nhưng người Việt cần hành động tích cự hơn nữa, như nhiều người dân Trung Quốc đang làm.

Trong tuần này, ông Nguyễn Tấn Dũng đã công bố một chương trình kích thích số cầu trong nền kinh tế, lớn tới 300 ngàn tỷ đồng, khoảng 17 tỷ đô la. Nhật báo Financial Times ngày hôm qua tính con số thực của kế hoạch này chỉ khoảng 6 tỷ đô la, bằng một phần trăm ngân sách kế hoạch kích thích kinh tế của Trung Quốc (584 tỷ đô la). Tờ báo chuyên về kinh tế tài chánh này đặt câu hỏi không biết chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ lấy tiền đâu ra để “kích cầu,” trong khi các ngân hàng thương mại, đại đa số do nhà nước làm chủ, đã cho vay nhiều lần hơn khả năng số tiền do các trương chủ ký thác.

Nhân dịp có chương trình kích thích kinh tế ở hai nước cộng sản cùng một lúc, người Việt nên bắt chước người Trung Quốc một điều, là yêu cầu nhà nước phải công khai hóa những món chi tiêu trong chương trình này. Ở Trung Quốc, một luật sư phát động phong trào này, không biết luật sư đoàn ở thành phố Sài Gòn có dám noi gương đó hay không?

Công khai, minh bạch là biểu hiện của tinh thần dân chủ. Chính phủ Obama ở Mỹ đã báo trước dân chúng có thể tìm đọc trong mạng lưới chính thức của Ủy Ban Ngân Sách số tiền chi ra mỗi tuần trong chương trình 878 tỷ kích thích kinh tế, bao nhiêu tiền đưa cho ai, dùng làm việc gì, ai cũng có thể biết được để theo dõi.

Ở Trung Quốc, Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh (Yan Yiming) ở Thượng Hải đã nẩy ra ý đòi chính phủ Bắc Kinh phải làm như vậy. Ông Nghiêm đã tới Bộ Tài Chánh đưa ra ý kiến này từ ngày 7 Tháng Giêng năm 2009, trước khi Tổng Thống Barack Obama nhậm chức. Ðiều đó cho thấy ông đã ý thức về tinh thần công khai, minh bạch từ lâu. Ông có thể chưa nghĩ ra phương pháp dùng mạng lưới điện toán để nhà nước báo cáo cho dân biết, nhưng bây giờ chắc nhiều người Trung Hoa sẽ nghĩ ra nên đòi hỏi như vậy. Nhưng đáng khen nhất là ông ta Nghiêm đã dám làm.

Văn phòng của Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh đã nổi tiếng từ lâu vì ông đứng ra biện hộ cho những người thấp cổ bé miệng trong những vụ kiện về thương mại, như bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ chống lại những lạm dụng do các cổ đông lớn và đại diện của nhà nước trong các công ty vi phạm. Ông cũng bảo vệ người dân trong các vụ kiện chống các xí nghiệp phá hoại môi trường sống. Ông đã yêu cầu chính quyền tỉnh An Huy công bố tên các xí nghiệp làm ô nhiễm. Ðây là lần đầu tiên ông nhân danh “những người đóng thuế” đứng lên yêu cầu chính quyền Bắc Kinh phải cho dân biết họ chi tiêu đồng tiền do dân đóng góp như thế nào.

Trong lá thư yêu cầu Bộ Tài Chánh công bố các khoản chi tiêu để kích thích kinh tế, ông Nghiêm viết: “Chúng tôi bây giờ tất cả là những người dân nạp thuế vì vậy chúng tôi có quyền được biết những đồng tiền của chúng tôi đem chi tiêu thế nào.”

Có lẽ đây là lần đầu tiên khái niệm “quyền của những người dân nạp thuế” được công khai phổ biến ở Trung Quốc trong một hoàn cảnh được mọi người chú ý như vậy. Từ xưa đến nay, khi nói đến người dân trong một nước, các chế độ cộng sản thường gọi họ bằng một danh từ trừu tượng, là “quần chúng” hoặc là “nhân dân.” Trong cuộc bàn luận ở Trung Quốc về khái niệm “xã hội công dân” trước đây 30 năm, nhiều nhà lý luận đã bác bỏ từ “xã hội quần chúng” vì nó biểu thị tinh thần nô lệ, như một đàn cừu, họ vạch ra trong khi viết chữ Quần thì người Hán đặt vào bộ Dương, là dê và cừu. Nhưng hai chữ “nhân dân” cũng là một từ trừu tượng bị lạm dụng quá nhiều, vì danh từ này không biểu thị được một quyền lợi nào của người dân cả. Khi đề xướng phát triển “xã hội công dân” (civil society), nhiều học giả Trung Quốc đã nhấn mạnh đến khái niệm “công dân” bao hàm những quyền dân sự và quyền chính trị, nói chung là dân quyền. Chữ “công dân” chỉ bắt đầu được sử dụng trong lịch sử từ khi người dân lật đổ chế độ quân chủ, những người Pháp cuối thế kỷ 18 hãnh diện gọi nhau là “công dân” thay vì gọi là “monsieur,” một từ có gốc gác quý tộc, phong kiến.

Nhưng người dân một nước tự gọi mình là “công dân” cũng chỉ nhấn mạnh đến các quyền chính trị; chỉ khi họ tự gọi mình là “người dân nạp thuế” thì mới đặt vấn đề trong lãnh vực kinh tế. Khi người Mỹ nói đến họ như là những “taxpayers” thì họ muốn nhắc nhở cho người cầm quyền nhớ rằng chính họ là chủ nhân của quốc gia, là những người trả lương cho tất cả guồng máy chính quyền. Bây giờ ông Nghiêm Nghĩa Minh dùng chữ Hán, tự giới thiệu mình và những người dân Trung Hoa khác là “nạp thuế nhân.” Ðây là một “bước nhảy vọt” trong đối thoại chính trị ở Trung Quốc.

Nhân danh những “nạp thuế nhân” như thế, Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh nói thẳng, “Chúng tôi không thỏa mãn với những con số ước tính mà chính phủ vẫn tung ra cho chúng tôi coi. Chúng tôi cần biết nhiều chi tiết hơn. Chúng tôi không muốn bị quý vị lừa nữa!” Khi viết thư yêu cầu, Nghiêm Nghĩa Minh còn dọa sẽ kiện các cơ quan nhà nước nếu không công bố các khoản chi tiêu kích thích kinh tế!

Tại sao người dân có quyền bắt buộc chính phủ phải công bố chi tiết việc chi tiêu của guồng máy nhà nước? Giản dị, vì đó là tiền của họ. Khi người dân là những “nạp thuế nhân” thì họ có quyền biết tiền của họ được chi tiêu ra sao! Quý vị có thể tìm trong hiến pháp các quốc gia để thấy những điều khoản xác nhận rằng dân chúng có quyền này quyền nọ. Nhưng các chế độ độc tài cộng sản lúc nào cũng sẵn sàng bất chấp các bản hiến pháp mà họ viết ra, bằng đủ thứ trò múa rối. Cộng Sản Trung Quốc cũng như Cộng Sản Việt Nam có bao giờ tôn trọng các quyền tự do bầu cử, tự do phát biểu, tự do lập hội, vân vân, được viết trong các bản hiến pháp của họ đâu? Cho nên, bây giờ Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh dùng một lối nói khác: “Chúng tôi, những người đóng thuế. Tức là những người góp tiền vào cái gọi là ngân sách quốc gia, đặc biệt là trong ngân sách kích thích kinh tế!”

Ai cũng hiểu tại sao người dân Trung Hoa cũng như người Việt Nam lại quan tâm đến các khoản chi tiêu kích thích kinh tế. Hãy nhớ lại chính quyền cộng sản Việt Nam chi tiêu quỹ viện trợ ODA của Nhật Bản như thế nào. Hãy nhớ lại những cột bê tông cốt tre trong các công trình xây dựng do nhà nước cộng sản thi hành. Mỗi khoản chi tiêu của nhà nước cộng sản, là một cơ hội cho các cán bộ “rút ruột.” Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh đã từng đứng ra kiện các công ty Trung Quốc ghi tên trên thị trường chứng khoán, yêu cầu Bộ Tài Chánh công bố chi tiết các món chi trong ngân sách năm 2008. Trong bản kiến nghị gần đây, ông viết, “Bí mật là nguyên nhân gây ra tham nhũng. Người dân có quyền biết tiền bạc của họ được chi tiêu ra sao.” Cho nên hành động đòi công khai minh bạch trong việc chi tiêu là một bước rất quan trọng trong việc đòi quyền dân ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam bây giờ.

Bên Trung Quốc người ta không chờ Luật Sư Nghiêm Nghĩa Minh mới bắt đầu phong trào đòi công khai minh bạch. Năm 2007, một nhà phân tích tài chánh, ông Ngô Tuấn Lương (Wu Giunliang) đã làm kiến nghị yêu cầu được coi các tài liệu về ngân sách của chính phủ Bắc Kinh và các tỉnh, các thành phố. Sau cùng, chỉ có chính quyền Thẩm Quyến mời ông tới coi bản ngân sách của thành phố dầy 300 trang. Mới đầu họ chỉ cho phép ông Ngô ghi chép, không cho chụp copy tài liệu này. Nhưng sau khi ông phản đối, họ cũng chịu cho chụp. Ông Ngô Tuấn Lương đã thiết lập một địa chỉ lưới (budgetofchina.com) để những “công dân mạng” (netizen) có thể vào đó tham khảo.

Cuộc vận động của Nghiêm Nghĩa Minh đã gây nên một phong trào trên mạng lưới, bao nhiêu thanh niên Trung Quốc cùng lên tiếng ủng hộ ông. Phong trào đòi minh bạch công khai đã lan rộng khiến đảng Cộng Sản Trung Quốc phải tìm kế xoa dịu. Cho nên đầu tuần này, ông Mục Hồng (Mu Hong), phó chủ nhiệm Ủy ban Phát triển và Cải tổ là cơ quan phụ trách thi hành kế hoạch kích thích kinh tế, đã tuyên bố rằng ủy ban này sẽ công bố những chi tiêu trong kế hoạch mới.

Ðây là một bước tiến trong cuộc vận động khai mở dân trí của các nhà trí thức Trung Hoa. Họ đang đánh thức đồng bào của họ. Phải tỉnh ngủ. Ðừng sợ chính quyền như những bầy tôi sợ vua chúa. Chính mình, những người đóng thuế nuôi nhà nước, là chủ nhân của quốc gia. Các chủ nhân có quyền biết tiền bạc của mình được chi tiêu ra sao.

Năm ngoái, tờ Thanh Niên nhật báo ở Trung Quốc đã nghiên cứu dư luận dân chúng sau khi chính quyền cộng sản làm ra luật về công khai hóa tin tức. Có 77% dân Trung Hoa coi tin tức về tài sản của các quan chức chính quyền là quan trọng muốn biết nhất. Kế đến, họ muốn biết rõ tin tức về những việc tịch thu đất, phá nhà dân, và phản ứng của chính quyền đối với các cuộc biểu tình. Và trong số 3,800 người được phỏng vấn, có 65% cho biết khi nào có luật buộc chính quyền phải công khai, minh bạch, họ sẽ làm đơn yêu cầu biết những tin tức như vậy. Nếu chính quyền không đáp ứng yêu cầu đó thì sao? Có 34% người trả lời nói rằng họ sẽ nhờ báo chí lên tiếng. Ðiều này cho thấy quyền tự do báo chí quan trọng như thế nào.

Ðó là những ước nguyện của người dân, dù ở Trung Quốc hay ở Việt Nam. Giới trí thức cần dẫn đầu phong trào đòi công khai minh bạch. Những hành động đó sẽ góp phần tranh đấu và xây dựng tinh thần dân chủ, không kém gì những cuộc biểu tình đòi quyền sống của người dân xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ. Và đây chính là công việc mở mang dân trí mà Phan Châu Trinh đã nêu ra trước đây một thế kỷ. Người dân Trung Quốc cũng như Việt Nam cần ý thức rằng họ là những người đóng thuế lấy tiền nuôi guồng máy cán bộ, công chức, mà bây giờ chỉ nuôi cả một đảng mafia tham nhũng!

Posted: Mon Mar 09, 2009 5:50 am
by caolynh
Harry Wu vạch trần tội ác diệt chủng của ĐCS Trung Quốc.
Tác giả: "Kẻ phá rối" (Troublemaker)/Harry Wu


WASHINGTON - "Chủ tịch cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông xứng đáng đứng ngang hàng với nhà độc tài Đức Quốc Xã Adolf Hitler vì cách hủy diệt toàn bộ con người Trung Quốc của Mao."

Đó là lời phát biểu của nhà bất đồng chính kiến Harry Wu. Ông là một tù nhân chính trị và cũng là một tù nhân khổ sai trong nhiều năm tại những nhà tù tại Trung Quốc. "Kẻ phá rối" (Troublemaker) cuốn sách mang đến cho người đọc cảm giác ớn lạnh nó phơi bầy cảnh giết chóc trong những trại tù và các phương pháp được sử dụng để che dấu sự tàn bạo của nó để tránh sự chú ý của thế giới ở phương Tây.

"Mao đã giết rất nhiều người như Hitler, thậm chí có thể nhiều hơn," Wu nói. "Mao còn cố tìm cách tiêu diệt truyền thống gia đình của người Trung Quốc vì nó hoàn toàn chống lại triết lý không tưởng cộng sản." Hơn nữa, Mao phải chịu trách nhiệm đối với hàng triệu người tử vong "như là một kết quả của chính sách nông nghiệp điên rồ."

Hitler cẩn thận sử dụng các cụm từ hoa mỹ như "giải pháp cuối cùng cho dân tộc Do Thái" (extermination of the Jews). Còn ngôn ngữ được Mao sử dụng "Tất cả cho cuộc cách mạng vô sản."

Harry Wu hiểu điều đó có nghĩa là. "một mệnh lệnh cho vệ binh đỏ vào đêm của ngày 18 tháng 8 năm1966 trong cơn thịnh nộ đi qua các thành phố, giết chết tất cả những ai không vừa lòng họ, 1741 nạn nhân," chỉ trong một ngày.

Chỉ với một lý do duy nhất : "người hàng xóm của tôi là một tư sản ? Tra tấn Hắn. Hãy giết hắn. "

Wu nói rằng ông "cảm nhận được mối liên kết giữa những sự khủng khiếp trong cuộc sống của người Do Thái trên đường đến Kristallnacht và trong tất cả các cuộc tàn sát."

"Những bức ảnh của Hitler, nụ cười chế ngạo trên mặt, với đôi mắt ốc nhồi, là một cảnh báo với thế giới rằng ông ta sẽ giết những ai cản bước chân ông."

Sự khác biệt giữa Hitler và Mao là:

Mao cười trong lúc hàng triệu người chết đói.

"Không bao giờ thấy Mao với nét mặt giận dữ." và bạn sẽ chỉ nhìn thấy, "Mao với một nụ cười nhân ái", nhưng con người ấy lại là tác giả của những thảm kịch trong đó có hàng triệu người tử vong vì đói khác [và] là hàng triệu bị đầy ải nơi lao tù, hàng triệu người bị hành xử ", Wu nói thế với chúng tôi

"nụ cười nhân ái " có làm cho bạn cảm thấy Mao nhân hậu hơn Hitler không?

Những người thuộc cánh tả tại Hoa Kỳ đã cố thuyết phục rằng ở một khiá cạnh nào đó Mao là biểu tượng của sự nhân ái, vì thế mà chúng ta có được những quyển sách bỏ túi sinh sắng "Lời hay ý đẹp của Chủ tịch Mao"

Harry Wu đã nghiên cứu nhiều về những cuộc thảm sát người Do Thái, và những trại hành quyết ở Buchenwald, Dachau và Sachenhausen.

Khi Harry Wu tham quan Dachau, ông thấy một khẩu hiệu trên vĩ sắt treo trước cửa: "ARBEIT MACHT FREI.", nó có nghĩa là "lao động biến [bạn] thành người Tự Do." thật là một sự mỉa mai! "Ở Trung Quốc, khẩu hiệu cho trại của chúng tôi là "lao động cho bạn cuộc đời mới ".

Nhà giam Dachau nơi mà các tù nhân cư ngụ, thường là từ 500 hoặc 600 người trong một phòng chật trội " họ chỉ được năm phút một ngày để sử dụng phòng tắm nơi đặt một chậu nước. Hàng trăm người tù phải chờ đợi chậu nước bẩn này.

"Những điều kiện sống ở Dachau không thể tệ hơn so với đời sống trong nhà tù CS mà tôi đã kinh qua," ông nghĩ.
Image
Nhà bất đồng chính kiến Harry Wu và vợ của ông, Ching-Lee, trong một khoảnh khắc hiếm hoi của thư giãn. (nguồn: Trouble Maker)
Sự hủy diệt?

Một đoạn qua trong "Troublemaker" Harry Wu viết: "Ở Trung Quốc, người ta không có cái gọi là phòng ngạt Hitler, nhưng họ có chính sách phân biệt đối xử với người Tây Tạng và các dân tộc thiểu số khác trong một thể loại đặc biệt. Và chúng tôi những người bất đồng chính kiến là kẻ thù của cuộc cách mạnh vô sản. Tôi không có nghi ngờ rằng nếu chiến tranh xẩy đến, Trung Quốc sẽ giết mọi người trong trại nếu họ không thể sử dụng được. Trung Quốc đã tạo ra một tầng lớp "kẻ thù", và tù nhân. "

Đức Quốc Xã đã sử dụng tù nhân cho các cuộc "thử nghiệm."

Các bác sĩ Quốc Xã không muốn thử nghiệm trên người của họ, do đó, họ chỉ cần nói với những cai tù rằng, "Hey, tôi có thể có một ai đó." Những tù nhân bị dùng cho các cuộc "thử nghiệm" thường dẫn đến tử vong.

Ở Trung Quốc họ rao bán những bộ phận con người. Trong một dịp tình cờ ông Wu biết được một bác sĩ người Trung Quốc đã tham gia vào ca giải phẩu lấy thận ra khỏi người một "tù nhân."

Ngưòi bác sĩ này đã khó chịu khi Wu gọi ông ta là một kẻ giết người. Không khác gì những bác sĩ thời Đức Quốc Xã, các bác sĩ Trung Quốc đã hủy diệt mạng sống của tù nhân như là một điều cần thiết để đạt được một đời sồng vật chất cao hơn.

Posted: Fri Mar 13, 2009 2:41 am
by khieulong
Trung Quốc muốn đồng hóa Tây Tạng

Ngô Nhân Dụng

Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã thành công nhiều lần trong những cuộc xâm lăng và đồng hóa các dân tộc chung quanh. Mãn Châu, Mông Cổ, Khiết Ðan, Thổ Phồn, những tên đó đã thành dĩ vãng! Nước Nam Chiếu vào thế kỷ thứ 8 chiếm lãnh một vùng ở tỉnh Vân Nam bây giờ và đã từng đem quân tấn công Giao Châu những năm 846, 862 và chiếm đóng cả 10 năm từ 863. Cũng trên miền đất này thời Ngũ Quý Ðoàn Tư Bình lập ra nước Ðại Lý. Cả hai quốc gia đó giờ chỉ còn những di tích chùa, tháp; các dân tộc từng xưng hùng một cõi bây giờ là những nhóm thiểu số an phận làm người Trung Hoa. Hiện nay dân Tây Tạng đang trải qua tình trạng giống như người Việt trong một ngàn năm Bắc Thuộc. Họ cũng tranh đấu để bảo vệ nòi giống và văn hóa của mình, không để cho người Trung Hoa đồng hóa. Cùng một hoàn cảnh như người Việt, và kiên cường không kém; chúng ta tin rằng người Tây Tạng sẽ thành công!

Ngày hôm qua kỷ niệm 50 năm ngày nhân dân Tây Tạng nổi dậy chống cuộc đô hộ của Trung Cộng, họ đã bị đàn áp và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 phải trốn qua Ấn Ðộ tị nạn, công an cảnh sát và quân đội Trung Quốc đã xuất hiện khắp nơi để kiểm soát 6 triệu người dân Tây Tạng sống ở nước họ cũng như những người Tây Tạng ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải và Vân Nam. Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh nhất quyết tiêu diệt nước Tây Tạng, đồng hóa để biến họ thành một phần của Trung Quốc.

Cuộc bành trướng của Hán Tộc bắt đầu từ hai ngàn năm trước, mục tiêu đồng hóa không phải chỉ gồm những người Tây Tạng. Những dân tộc như Việt Nam, Hàn Quốc, Miến Ðiện, Ai Lao vẫn tồn tại được vì người dân cương cường không chịu khuất phục. Nhưng yếu tố mạnh nhất giúp họ bảo vệ được nền độc lập của họ là bản sắc văn hóa. Mặc dù đã chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa hàng ngàn năm, các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ, hồn tính riêng của mình. Trong khi đó có nhiều sắc dân khác đã hoàn toàn bị đồng hóa.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng trong 50 năm qua cho thấy nền văn hóa của họ rất mạnh. Nhưng hiện nay chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đang tìm cách xâm lăng cả lãnh vực văn hóa nữa, như trong việc tấn phong các vị lạt ma được coi là tái sinh.

Trong Phật Giáo Tây Tạng vẫn nhiều vị lạt ma qua đời được tin tưởng là sẽ tái sanh dưới hình hài mới. Theo truyền thống, có những thủ tục và quy tắc cho việc đi tìm và nhận diện, tiến tới việc công nhận những vị tái sanh, gọi là tulku. Tiếng Trung Hoa gọi các tulku là những “hoạt Phật,” tức là Phật sống, vì giới hạnh nghiêm trì của họ, nhưng chính người Tây Tạng không dùng hình ảnh này. Hiện nay Cộng Sản Trung Quốc đang tìm cách chiếm lấy quyền công nhận các vị tulku, một hành động “xâm lăng” vượt trên phạm vi chính trị, tiến sâu vào cả lãnh vực tôn giáo.

Từ năm 1949 khi Cộng Sản chiếm chính quyền ở Trung Quốc, người Tây Tạng sống rải rác ở nước Trung Hoa, đặc biệt là ở các tỉnh phía Tây như Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam, không còn được thấy một vị tulku mới nào nữa. Từ năm 1959, quân Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng hoàn toàn thì họ cũng không cho phép Phật tử được công nhận các vị tulku mới. Ðến năm 1991 Trung Cộng mới tái lập việc tấn phong các vị lạt ma tái sanh, và cho tới nay đã công nhận thêm một ngàn vị tulku mới, nâng tổng số lên 2,000 vị trong xứ Tây Tạng. Trước khi Trung Cộng chiếm xứ này, cả nước có từ 3,000 đến 4,000 vị “hoạt Phật” như vậy.

Năm 1992, chính phủ lưu vong Tây Tạng và chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đã cùng suy tôn một vị lạt ma tái sanh là Karmapa đời thứ 17 thuộc truyền thống Dòng Kagyu. Nhưng tám năm sau Lạt Ma Karmapa đã trốn đi tị nạn, cho biết chính quyền Cộng Sản đã cản trở việc tu học của ngài. Chính quyền Cộng Sản vẫn tiếp tục đứng ra công nhận các vị lạt ma tái sanh, theo cách lựa chọn của họ.

Như vị lạt ma trụ trì Tu viện Shouguo ở thị xã Khang Phụ, tỉnh Vân Nam bên dòng sông Mekong sát biên giới Tây Tạng đã qua đời hơn 50 năm nay, mà chưa có người tái sanh để kế tục. Năm ngoái, chính quyền Cộng Sản đã công nhận một tu sĩ Tây Tạng trong vùng, Celeng Pengchi, 30 tuổi, và đã làm lễ tấn phong cho ông, coi đó là vị tulku hóa kiếp trở về. Từ đó tới nay ông đã sửa sang tu viện và nhiều Phật tử đã trở về, giúp cho đời sống tu viện sống động trở lại.

Tuy nhiên, viên chức Cộng Sản phụ trách việc phong nhậm Celeng Pengchi nói thẳng rằng muốn được coi là một tulku thì vị lạt ma được chọn phải có lý lịch tốt về chính trị!

Thủ tướng chính phủ lưu vong Tây Tạng Samdhong Rinpoche coi việc chính quyền Bắc Kinh bước vào lãnh vực tôn giáo truyền thống Tây Tạng mà một hành động can thiệp rất thô bạo. Năm 1995 Cộng Sản Trung Hoa đã từng làm như vậy, sau khi Ðức Ban Thiền Lạt Ma qua đời.

Sau khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đi tị nạn, Trung Cộng đã đưa Ðức Ban Thiền Lạt Ma là người thuộc dòng tu có uy tín bậc nhì ở Tây Tạng về Bắc Kinh, nơi cũng có những chùa Tây Tạng lớn. Ông qua đời năm 1989, đến năm 1995 thì Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã công nhận một thiếu niên người Tây Tạng là Ban Thiền Lạt Ma tái sanh. Thấy vậy, Cộng Sản Trung Quốc lập một thiếu niên Tây Tạng khác, Gyaincain Norbu, công nhận là vị Ban Thiền Lạt Ma tái sanh của họ. Nhưng cho tới giờ các Phật tử Tây Tạng chỉ tôn trọng người đã được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma công nhận.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng, ở trong nước và ở bên ngoài, trước hết là để bảo vệ nền văn hóa với truyền thống Phật Giáo. Trước ngày kỷ niệm 50 năm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã nhắc lại rằng mục đích những cuộc vận động của ngài là bảo vệ văn hóa dân Tây Tạng. Muốn bảo vệ bản sắc văn hóa đó thì chính quyền Bắc Kinh phải trả lại cho người Tây Tạng một số quyền tự trị mà hiện nay họ đã cướp mất. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma chấp nhận không đòi Tây Tạng phải độc lập, và chính ngài có được trở về Tây Tạng hay không cũng không quan trọng. Những ý kiến đó đã được vị lãnh đạo dân Tây Tạng nói đi nói lại từ 50 năm nay, nhưng Cộng Sản Trung Quốc vẫn tiếp tục vu cáo cho Ðức Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người chủ trương làm loạn, chia rẽ “quốc gia” của họ!

Người Tây Tạng có muốn được gia nhập “quốc gia” của người Trung Quốc hay không? Những cuộc nổi dậy từ 50 năm qua cho thấy là không. Dân Tây Tạng cũng hãnh diện về lịch sử, về văn minh của họ không khác gì dân Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 7, khi dân Việt Nam còn sống dưới ách đô hộ của người Trung Hoa thì Tây Tạng đã là một quốc gia độc lập. Cuộc kết hôn giữa một hoàng đế Tây Tạng với một vị công chúa nhà Ðường vào năm 641 được người Tây Tạng coi là một hành động giao hiếu giữa hai quốc gia ngang hàng; nhưng người Trung Hoa lại coi đó là “bước mở đầu” cho việc thống nhất hai dân tộc vào một “gia đình!” Năm 821, hai quốc gia đã ký kết một hòa ước, mà bản văn khắc trên bia đá còn giữ được đến ngày nay. Quân Mông Cổ đã xâm chiếm Tây Tạng, cũng như họ đã chiếm Ðại Lý, xâm lăng Việt Nam và Cao Ly. Nhưng tới đời nhà Minh, Tây Tạng vẫn giao thiệp với triều đình Trung Hoa như một nước độc lập, không khác gì vua nhà Lê ở Việt Nam. Ðời nhà Thanh, người Trung Hoa cai trị Tây Tạng như một nước bảo hộ, nhưng tới khi Trung Hoa Dân Quốc ra đời thì tuy chính quyền vẫn coi Tây Tạng là thuộc Trung Quốc nhưng không gây được ảnh hưởng nào. Cho đến khi Cộng Sản chiếm được nước Trung Hoa thì chính sách của họ là xâm lược, đồng hóa và bành trướng.

Người Việt Nam có thể tặng người Tây Tạng bài họ kinh nghiệm sống 1,000 năm dưới những triều đại Trung Hoa cũng theo đuổi một chính sách tương tự. Hiện nay một nửa dân số Tây Tạng còn sống trong nước, khoảng 6 triệu người; nửa khác sống rải rác ở các tỉnh miền Tây Trung Quốc. Chính tại các tỉnh này, người Tây Tạng vẫn bảo vệ bản sắc của họ. Tại tỉnh Tứ Xuyên, năm ngoái cũng vào dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1959, một em học sinh 15 tuổi người Tây Tạng cũng biết đem treo cờ quốc gia, vạch xóa trên những bức hình Mao Trạch Ðông, Ðặng Tiểu Bình, và viết lên tường khẩu hiệu “Ðức Ðạt Lai Lạt Ma Vạn Tuế.” Năm nay em học sinh này đã bị công an ra lệnh cha mẹ phải quản thúc. Nhưng phương pháp công an trị không thể nào tiêu diệt được tinh thần quật cường của một dân tộc có bản sắc và đầu óc độc lập.

Chúng ta có thể tin như vậy, vì người Việt Nam đã sống qua kinh nghiệm đó. Tuy người Tây Tạng đang phải đối phó với một chiến dịch xâm lăng mới trên mặt tôn giáo, văn hóa, nhưng truyền thống văn hóa của họ rất vững mạnh, được hun đúc hàng ngàn năm nay. Có thể nói nền tảng văn hóa của người Tây Tạng bây giờ vững chắc hơn người Việt hai ngàn năm trước, khi người Trung Hoa chiếm đóng nước ta vào đầu công nguyên rất nhiều.

Chính người Việt Nam bây giờ cũng vẫn phải tự vệ trước những cuộc xâm lăng khác của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc, trong đó có cả cảnh xâm lăng về văn hóa. Chủ nghĩa Cộng Sản được đem vào Việt Nam với quan điểm của người Trung Hoa, trong lý luận cũng như trong hành động. Hồ Chí Minh đã từng trả lời một kinh tế giả Pháp rằng ông không viết sách chỉ vì có điều gì cần viết thì Mao Trạch Ðông đã viết đầy đủ rồi. Có một thời ngôn ngữ Việt Nam tràn ngập các chữ quen dùng ở Trung Quốc. Các chiến dịch “chỉnh phong,” “cải cách ruộng đất,” “trăm hoa đua nở” cho tới các nhà tù gọi là “lao cải” đều bắt chước Trung Quốc cả ngôn ngữ, khẩu hiệu lẫn chế độ cư xử hà khắc. Sau khi Hồ Chí Minh chết, ảnh hưởng của Trung Quốc đã giảm dần, nhưng gần đây thì ảnh hưởng đó trở lại. Sau khi Nông Ðức Mạnh cùng Nguyễn Tấn Dũng lục tục sang Tàu năm ngoái thì ảnh hưởng Trung Quốc có vẻ “dũng mạnh” hơn thời Hồ Chí Minh nữa! Ðến lúc người Việt Nam cũng phải biết noi gương người Tây Tạng!

Posted: Sun Mar 15, 2009 12:57 am
by tankhoasinh
Hoàng Hôn Chụp Xuống Pleiku


Chiều qua, các phố xá đã đóng cửa không buôn bán cầm chừng như trước đây và đồng bào đã đổ xô hết ra đường, nhốn nháo ngược xuôi tìm lối chạy. Người ta thuê bao đủ mọi loại xe, chất hết đồ đạc quần áo để chuẩn bị chạy. Giá xe từ 200 ngàn, nửa triệu một chiếc đã tăng lên nhiều hơn nữa. Những người ít tiền cũng vét túi, chung nhau thuê xe, và các loại xe, từ xe lam, xe vận tải, xe lô, xa nhà, xe Honda, cho đến cả xe ủi đất, xe cứu hỏa, xe cần trục, máy cày v.v...

1. Bài phóng sự ngày 16 tháng 3-1975 trên Chính Luận Sài Gòn: Hoàng hôn chụp xuống Pleiku

Sau Khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II Di Tản Về Nha Trang, Hoàng hôn chụp xuống Pleiku, Phố Xá Tràn Ngập Người: Trẻ, Già, Lớn, Bé Không Biết Đi Đâu

Lời giới thiệu: Miền Nam Việt Nam thực sự đã không bị xụp đổ trên phương diện quân sự khi thị trấn Phước Long bị thất thủ. Cũng không do việc mất Ban Mê Thuột. Toàn bộ cuộc tái phối trí trở thành cuộc rút lui bi thảm đưa đến việc mất miền Nam thực sự bắt đầu từ lúc Pleiku ra đi.

Nhân dịp tháng 4-2004, 29 năm sau, Dân Sinh San Jose phổ biến 2 bài báo chụp lại trên vi phim về cuộc rút quân kể trên. Bài báo thứ nhất đăng trên Chính Luận số 3338 ngày thứ Ba 18 tháng 3-1975 với tựa đề: Hoàng hôn chụp xuống Pleiku. Bài báo này do phái viên Nguyễn Tú điện về trong lúc chính ông cũng đang tìm đường tháo chạy.

Bài báo thứ hai trên Chính Luận với tựa đề: 8 giờ đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku bi thảm ra đi, bỏ lại phía sau những cột khói, những vùng lửa. Bài này đăng ngày 19 tháng 3-1975 và được ghi là do Nguyễn Tú đọc về, xen lẫn tiếng khóc nức nở của chính ông.

Bài báo thứ hai này đăng trang nhất báo Chính Luận số 3339 được coi là tin tức duy nhất được loan báo về cuộc rút quân ở Cao Nguyên. Bài này đã được các báo ngoại quốc dịch lại và đăng tải trên các hệ thống tin tức quốc tế.

Hai bài báo kể trên trích trong tài liệu sưu tầm của IRCC dành cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Ký giả Nguyễn Tú sau thời gian kẹt lại Việt Nam hiện đã qua Mỹ định cư tại DC.

Giao Chỉ - San Jose

(Sài Gòn 17-3) Chiều tối Chủ Nhật ngày 16 tháng 3-1975, bạn Nguyễn Tú, đặc phái viên Chính Luận tại chiến trường Quân khu 2, đã từ Pleiku gọi điện thoại về cho biết tình hình Pleiku, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang.

Bạn Nguyễn Tú cho biết là trong hai ngày qua, đồng bào trong toàn tỉnh đã hoang mang tới cực độ khi nghe tin các bài phát thanh ngoại quốc loan báo Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang. Giới hữu trách không có lời giải thích nào để trấn an đồng bào mỗi phút lại càng mất thêm tinh thần, mạnh ai lo liệu phương tiện di tản ra khỏi vùng giao tranh và tránh mặt quân cộng sản.

Chiều qua, các phố xá đã đóng cửa không buôn bán cầm chừng như trước đây và đồng bào đã đổ xô hết ra đường, nhốn nháo ngược xuôi tìm lối chạy. Người ta thuê bao đủ mọi loại xe, chất hết đồ đạc quần áo để chuẩn bị chạy. Giá xe từ 200 ngàn, nửa triệu một chiếc đã tăng lên nhiều hơn nữa. Những người ít tiền cũng vét túi, chung nhau thuê xe, và các loại xe, từ xe lam, xe vận tải, xe lô, xa nhà, xe Honda, cho đến cả xe ủi đất, xe cứu hỏa, xe cần trục, máy cày v.v... đều chất đầy ắp đồ đạc, đầu nối đuôi dài dài trên các đường phố chính như Hoàng Diệu, Võ Tánh, Phan Bội Châu, Quang Trung, Hai Bà Trưng. Tất cả đều rộn ràng di chuyển, nhưng không biết di chuyển theo lối nào, vì con đường duy nhất có thể chạy về Quy Nhơn là quốc lộ 19 thì đã bị địch cắt. Áp lực của quân cộng sản vẫn nặng nề trên con đường băng rừng băng núi này, cái chết có thể đe dọa tập thể tỵ nạn bất cừ nơi nào và bất cứ giờ phút nào.

Những chuyến bay của Hàng Không Việt Nam đã ngưng từ mấy hôm nay nên phi trường chỉ còn là nơi hoạt động rộn rịp của các loại máy bay quân sự. Tin tức một số gia đình thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và các ngoại kiều được di tản ra khỏi Pleiku làm cho mọi người càng thêm hốt hoảng. Họ chỉ còn trông ngóng vào con đường sống duy nhất là quốc lộ 19. Họ cầu nguyện và mong ngóng cho quốc lộ này được giải tỏa mau lẹ để lánh xa nơi quân cộng sản kéo tới.

Cảnh hốt hoảng càng thêm mãnh liệt hơn khi một số đồng bào tỵ nạn ở Kontum, Thành An, Phú Nhơn v.v... kéo về Pleiku chờ mở đường chạy giặc. Ám ảnh... đại lộ kinh hoàng và chợ Đông Ba rực cháy ngày nào ở miền Trung là một ám ảnh khó xóa nhòa trong tâm tư mọi người.

Dắt dìu nhau ngược xuôi ngoài đường phố, và đồng bào ngơ ngác thầm hỏi nhau biết chạy đi đâu bây giờ? Từ cả tuần, báo chí không lên Pleiku nữa, do đó có muốn được đọc những lời tuyên bố rất bình tĩnh của các giới chức Sài Gòn cũng không được.

Qua điện thoại, bạn Nguyễn Tú báo tin cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận biết là bạn đang tìm cách thoát khỏi Pleiku cùng đồng bào và sau đây là bản tin cuối cùng của bạn từ Pleiku gửi về cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận.

Lại thêm một hoàng hôn:

Bạn Nguyễn Tú cho biết, qua điện thoại, nguyên văn như sau:

Lại thêm một hoàng hôn, có thể hơn thế nữa, bắt đầu. Trưa hôm nay từ 12 giờ, dân chúng Thanh An, Phú Nhơn và các vùng lân cận Pleiku đều đổ xô về thị xã Pleiku. Họ đang sống những giờ phút lo âu, kinh hoàng ngoài đường phố. Trên khắp ngả đường đều chật các xe đủ loại, xe quân sự, xe dân sự, xe chở hàng, xe ủi đất, xe chữa lửa, xe máy kéo có rờ moọc, bên trên chất đầy những “gia bảo” cuối cùng của dân chúng. Tất cả các gia đình, già trẻ lớn bé, dân sự cũng như quân sự, ngồi sẵn trên xe, để chờ di tản mà họ không biết là đi đường nào. Các lực lượng diện địa của ta và các lực lượng trong ngành an ninh, quân cảnh, cảnh sát đều không còn có thể kiểm soát được nữa. Vì tất cả các nhân viên đó đều lo lắng cho chính gia đình họ. Ngoài đường phố đầy rẫy những người đi bộ. Những quân nhân, và thường dân tay xách nách mang và bồng bế các trẻ thơ, xách những giỏ đồ đạc lang thang khắp phố, không biết đi đâu nữa. Pleiku đang sống trong một không khí kinh hoàng chưa từng thấy, hơn cả cố đô Huế năm 1972.

Kontum – Pleiku coi như bị bỏ ngỏ, vì các nhân viên có trong trách an ninh đã chỉ lo cho riêng gia đình họ và không còn ai còn có tinh thần đảm nhận trách vụ của mình... Sự kiểm soát đã lọt ra ngoài tay của các giới lãnh đạo chính quyền tỉnh. Riêng các lực lượng chính quy còn có kỷ luật và tinh thần chiến đấu. Nhưng tình trạng hỗn loạn xáo trộn của dân chúng Pleiku ra đầy ngoài đường, đã tạo nên một cảnh tượng thật không thể tưởng tượng nổi. Trên khuôn mặt mỗi người đều lộ vẻ lo âu, không tả hết. Chiến tranh thực sự chưa tới Pleiku. Chưa một đạn pháo kích nào của địch bắn vào thị xã Pleiku. Hoàng hôn của Pleiku có thể coi như đã bắt đầu, đồng thời có thể tiếp luôn những cảnh hoàng hôn khác.

Tình trạng Pleiku bi thảm quá!

+ + +
Bài phóng sự tiếp theo viết ngày 17 tháng 3-1975.

8 Giờ Đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku Bi Thảm Ra Đi Bỏ Lại Phía Sau Những Cột Khói, Những Vùng Lửa

Bản tin này được đọc giữa tiếng khóc nức nở của bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú

(Sài Gòn 18-3) Sáng nay bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú, tại một địa điểm dừng chân trên đường rút lui của quân dân hai tỉnh Kontum – Pleiku, báo tin qua điện thoại quang cảnh di tản bi thảm của đồng bào. Dưới đây là nguyên văn ghi lại lời bạn Nguyễn Tú đọc qua điện thoại.

Tất cả lên đường:

Tối nay, Pleiku đã thực sự hỗn loạn. Tất cả dân chúng Pleiku thêm vào đó dân chúng ven tỉnh, dân chúng thuộc vài quận gần thị xã Pleiku, và cả dân chúng Kontum đã đổ xô nhau chạy về Pleiku đều xuống đường và tổ chức một đêm không ngủ. Không phải để biểu tình chống ai, mà để vội vàng hốt hoảng tiếp tục chất các hàng hóa, bàn ghế, tủ giường, cùng những vật dụng riêng lên đủ thứ xe: Xe lam, 3 bánh, xe vận tải hạng nặng, xe Jeep, xe dốt rác, xe GMC nhà binh, xe Honda. Thậm chí xe be, xe cần trục, xe máy kéo, trác lơ, xe hốt rác. CẢ đến xe chữa lửa cũng được dùng để chất đồ và chở người. Xe nào chất xong đồ là người leo lên ngồi sẵn, xe nào đôi nhíp cũng gần như thăng bằng, vì chất quá nặng.

Từ trưa, các lực lượng an ninh trong thị xã Pleiku như Quân Cảnh, Cảnh Sát bỏ tất cả nhiệm sở không còn thấy bóng một ai, mặc dù hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3 còn canh phòng rất gay gắt các ngã ra vào tỉnh và thị xã Pleiku.

Mọi đường phố không còn một nhân viên công lực nào giữ trật tự nữa. Tất cả mọi người đều về nhà lo việc di tản cho gia đình. Liên lạc vô tuyến của hệ thống quân đội không còn được điều hòa và hữu hiệu như trước nữa tuy vẫn chưa hẳn gián đoạn. Các nhân viên truyền tin cũng thay phiên nhau về nhà để lo việc di tản gia đình. Sự kiểm soát an ninh trật tự có thể coi như đã tuột khỏi tầm tay chính quyền địa phương Pleiku. Tại tư dinh Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku, các nghị viên, các Trưởng Ty, Sở hấp tấp ra vào họp liên miên.

Chưa bao giờ các đại diện dân cử kể cả đối lập và chính quyền đã sát cánh với nhau như thế. Chưa bao giờ lập pháp, hành pháp, tư pháp đều đồng một lòng, một dạ như thế. Đồng một lòng một dạ trong một câu hỏi duy nhất: Bao giờ thì di tản? Mấy giờ thì di tản? Trên thực tế thì Pleiku đã sống giờ thứ 25 từ hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3. Hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3 lúc 19 giờ đã có điện trở lại trong toàn thị xã.

Đèn ngoài đường và trong các tư gia cũng được thắp sáng. Có lẽ là một hội hoa đăng cuối cùng. Khắp các đường phố, dân chúng đi lại hết sức nhộn nhịp, tất tưởi. Ngay từ xế trưa hôm nay 16 tháng 3, các xe nào đã chất xong đồ vật đều chuyển bánh trên Quốc Lộ 14 đi về Phú Bổn thành một đoàn dài. Nhưng phải kể từ 20 giờ ngày hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3, sự di chuyển toàn diện của dân chúng mới thực sự bắt đầu, đoàn xe ước chừng đến hàng ngàn chiếc, bật đèn pha nối đuôi nhau trên hàng chục cây số trông như một cuộc “trở về nhà sau cuộc nghỉ cuối tuần.” Nhưng đây đâu phải là “đoàn xe thanh bình.”

Sáng kiến vĩ đại:

Cuộc di tản đại quy mô của hai tỉnh gom lại là Kontum và Pleiku do sáng kiến tư nhân có thể coi như là “vĩ đại” ở chốn Tây Nguyên hẻo lánh này.

“Mục tiêu đầu tiên là Phú Bổn. Sau đó sẽ tính.” Đó là lời một đồng bào di tản nói với Chính Luận. Nhưng ra khỏi thị xã, được vài cây số thì đoàn xe bị kẹt vì những chiếc xe nhỏ hơn như xe lam, xe ô tô nhỏ, xe Honda muốn vượt trước. Phải một giờ sau vụ kẹt xe này mới được giải tỏa.

Dân chúng nghèo cũng ra đi bằng phương tiện thiên nhiên, trời đã phú cho họ là đôi chân của chính họ. Họ đây là gồm cả già, trẻ, lớn, bé, con nít còn bồng trên tay, đàn bà đang mang bầu, tay xách, nách mang một vài manh chiếu, một vài bọc quần áo, buồn tủi, lo âu, gia đình nọ nối tiếp gia đình kia đi hàng một sát bên lề đường để tránh đoàn xe. Đèn pha của đoàn xe lần lượt chiếu các bóng lưng còng xuống của người lớn, những bóng nhỏ hơn của các trẻ em tay níu vạt áo hoặc ống quần của người bố hay người mẹ. Họ lặng lẻ thất thểu bước nọ trước bước kia trong đêm tối của tâm hồn.

Cuộc di tản này chắc chắn sẽ kéo dài tới ngày hôm sau. Thế là Kontum và Pleiku đã bỏ ngỏ, chính thức và không chính thức. Không chính thức mà chính thức vào hồi 20 giờ đêm ngày Chủ Nhật 16 tháng 3-1975.

Pleiku không còn gì để cho tôi săn tin thêm nữa.

Ba lô vẫn cõng trên vai, hồi 22 giờ 30 tôi theo đoàn người di tản ra khỏi thị xã Pleiku. Bầu trời hôm nay đẹp quá, hàng ngàn vì sao lấp lánh như thiên thần nháy mắt với trần gian, hay đó là những ám hiệu dục dã: “Lẹ lên!”

Nếu tôi có một người bạn đường đi bên tôi, tôi sẽ bảo: “Bạn ơi, trên trời có bao nhiêu vì sao thì lòng tôi đau xót còn hơn thế nữa.”

Đốt, phá, bỏ rơi:

Các kho súng, kho đạn tại tỉnh Pleiku đã được lệnh thiêu hủy, tiếng nổ lớn nối liền tiếng nổ nhỏ. Từng cột khói đen bốc lên trong lửa đỏ từ các bồn nhiên liệu cũng được lệnh phá hủy. Tất cả đều bùng cháy. Nhiều khu phố trong thị xã Pleiku đã bị toán người đập phá nhà cửa của các chủ nhân đã di tản, và đã bị phóng hỏa, ít nhất tôi cũng đếm được 14 đám cháy trong những khu phố khác nhau.

Nhiều tiếng súng cũng đã nổ trong thị xã. Có tin Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku đã hạ lệnh cho đốt kho giấy bạc trong Ty Ngân Khố, ước lượng khoảng 300 triệu và trong khi tưới xăng để đốt, ông Trưởng Ty Ngân Khố đã bị phỏng. Không còn một bác sĩ tư nào trong thành phố. Quân cũng như dân y viện không còn hoạt động. Một số bệnh nhân tại dân y viện cũng như một số thương binh tại quân y viện Pleiku đã bị bỏ rơi lại vì không còn ai lo cho họ nữa. Chính họ trong tình trạng bệnh hoạn chẳng tự mình làm được. Ngoài sự chịu chết đói dần mòn ngay trên giường bệnh.

Một nguồn tin đáng tin cậy cho hay là Chuẩn tướng Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum – Pleiku đang chỉ huy cuộc triệt thoái lực lượng chính quy đi về hướng Nam trên quốc lộ 14.

Trên đường nóng bỏng:

(Pleiku 17-3) Sáng nay, cuộc di tản đang tiếp diễn dưới ánh mặt trời huy hoàng của một ngày đầu tuần. Hàng ngàn chiếc xe dân sự và quân sự vẫn nối tiếp nhau trên quốc lộ 19 đi về hướng Phú Bổn. Nhiều xe vì chở quá nặng không chạy nổi đã bỏ lại trên đường.

Các quân nhân được lệnh triệt thoái dưới quyền tư lệnh của Tướng Tất đã thi hành một cách rất trật tự và kỷ luật. Các đơn vị Biệt Động Quân đã được lệnh đi hai bên quốc lộ 14 ở những chỗ xung yếu để bảo vệ đoàn xe di tản dân sự và quân sự. Các đoàn người đi bộ thật là thảm thương, đàn bà, con trẻ đi bên lộ dưới ánh nắng nóng bỏng không giọt nước để uống.

Dọc quốc lộ từ Pleiku đến Hậu Bổn là tỉnh lỵ của Phú Bổn, đoàn xe cứ nối dài. Đoàn người đi bộ, bị bỏ lại sau, nhưng họ vẫn cứ cố gắng lết đi trên đường nóng bỏng dưới ánh nắng của Pleiku. Chưa biết đêm nay họ có thể tới được Phú Bổn bằng đôi chân của chính họ hay không. Sẽ có nhiều người sẽ bị chết đói, chết khát dọc đường. Dọc Quốc lộ 14 đi về phía Phú Bổn các làng, các ấp, các buôn đều trống trơn không còn một ai. Cảnh hoang tàn dọc quốc lộ 14 tôi không làm sao mà còn có trí óc để nghĩ ra những danh từ tường trình với độc giả.

Bi thảm quá đồng bào ơi!

Hôm nay thay vì lá thư hàng tuần sự tường trình của tôi có thể ngắn ngủi và không mạch lạc. Mong quý vị độc giả phương xa ở tại cái thủ đô đầy ánh sáng hiểu cho.

Cho tới nay vẫn không thể hiểu được lệnh bỏ ngỏ Kontum – Pleiku là ở đâu mà ra và tại sao lại có sự ra đi hấp tấp trong dân chúng trong khi các nhà cầm quyền quân sự đã trù liệu kế hoạch từ trước. Không có giải thích nào cho dân chúng. Không có tổ chức nào để di tản dân chúng trong trật tự và an ninh, không có một sự trợ giúp nào cho các dân nghèo không có phương tiện đi xe.

Từ năm 1954 cho tới nay, chính tôi đã chứng kiến bao cuộc di tản. Cuộc di tản Kontum – Pleiku dể lại cho tôi một mỗi chán chường. Sống với những hy vọng mong manh từ năm 1954 đến năm 1975 tới nay tôi cảm thấy không còn đủ sức, đủ ý chí để bấu víu lấy cái chút hy vọng mong manh ấy nữa. Ngoảnh về phía Pleiku khói vẫn ngùn ngụt bốc lên vì những đám cháy đêm qua.

Dọc lộ xe tăng, đại pháo dạt ra hai bên đường để bảo vệ những chỗ xung yếu để cho đoàn xe di tản dân sự và quân sự có thể đi chót lọt tới Hậu Bổn tức tỉnh lỵ Phú Bổn. Nhưng trên đoạn quốc lộ 14 từ Pleiku tới Hậu Bổn vẫn xảy ra nhiều đoạn đường kẹt xe, có thể kể hàng 5 đến 10 cây số chưa biết rằng đoàn xe có thể tới Hậu Bổn được không. Và từ Hậu Bổn sẽ đi đâu chưa ai rõ. Riêng cho tôi không còn có trí óc nào để nghĩ đến tương lai dù rằng tương lai chỉ là ở một giây, một phút sau đó.

Điện đàm dứt đoạn...

Nguyễn Tú, Chính Luận

Ghi chú: Trên đây phóng viên Nguyễn Tú mới chỉ tường thuật được đoạn mở đầu của chuyến rút quân bi thảm và sau đó thì hết phương tiện liên lạc. Thực sự đoàn quân dân rút từ Tây Nguyên về Duyên Hải đã hoàn toàn làm tan rã cả Quân Khu II với hàng ngàn người chết dọc đường và đưa đến cảnh toàn thể miền Nam vỡ ra thành từng mảnh vụn.

Giao Chỉ - San Jose

Posted: Mon Mar 16, 2009 2:53 am
by tankhoasinh
Thời sự kinh tế: Ông Ôn Gia Bảo lo lắng cho Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Nhiều vị độc giả Người Việt còn nhớ thuở nào Mao Trạch Ðông vẫn chửi đế quốc Mỹ là một “Con cọp bằng giấy,” hoặc “Con cọp có răng bằng giấy.” Ý Mao khuyên dân Trung Hoa đừng sợ nếu phải đánh nhau với Mỹ. Dân chúng Trung Hoa nghe sướng tai, hoan hô Mao Chủ Tịch rồi tiếp tục chịu cúi đầu cho ông Mao bảo sao nghe vậy. Mỗi chiến dịch “nhẩy vọt” hay “cách mạng văn hóa” của ông làm mươi triệu người chết, phần lớn vì đói.

Thời đó xa rồi. Bây giờ cuộc cạnh tranh giữa các nước trên thế giới tập trung trên mặt trận kinh tế. Mà kinh tế hai nước Mỹ và Trung Hoa hiện nay liên quan mật thiết theo đúng hình ảnh “môi và răng,” môi hở thì răng lạnh. Nếu kinh tế Mỹ cứ tiếp tục đi xuống thêm một năm nữa, thì kinh tế Trung Quốc sẽ gian nan. Chính phủ hai nước vẫn không ngại công khai bầy tỏ những bất đồng ý kiến, nhưng phần lớn cũng là để cho dân chúng trong nước họ nghe cho sướng tai. Chính phủ Mỹ thì thường than phiền Trung Quốc không chịu tăng giá đồng tiền của họ như Mỹ yêu cầu. Ngược lại, Bắc Kinh hay than phiền Mỹ không chịu bắt dân tiết kiệm, để ngân sách khiếm hụt nhiều quá. Nhưng chính sách của mỗi nước chỉ tuân theo các điều kiện kinh tế trong nước họ, chứ không phải vì họ cần nghe lời nước kia.

Ngày hôm qua, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo mới tuyên bố mối lo lắng của ông về tình trạng tài chánh nước Mỹ. Ông nói một cách gián tiếp: “Chúng tôi cho Mỹ vay tiền rất nhiều, tất nhiên chúng tôi phải quan tâm về sự an toàn của những món nợ đó. Nói thẳng thắn, chúng tôi có hơi lo ngại.”

Ông Ôn Gia Bảo không nói thẳng mối lo ngân sách chính phủ Mỹ khiếm hụt, mà chỉ nói về những món tiền chính phủ Bắc Kinh cho chính phủ Mỹ và các ngân hàng ở Mỹ vay. Nhưng ai biết làm tính cộng trừ cũng biết là hai vấn đề đó liên hệ chặt chẽ. Nếu chính phủ Mỹ vung tay quá trán, chi tiêu quá nhiều hơn số thu, thì họ sẽ phải in thêm tiền và đi vay nợ, sinh ra một hoặc hai hậu quả. In tiền thêm thì sinh lạm phát, giá trị đồng đô la Mỹ sẽ xuống so với đồng tiền các nước khác. Ði vay mãi thì Bộ Tài Chánh Mỹ phải phát hành thêm trái phiếu công, bán ra nhiều quá thì giá công trái Mỹ sẽ xuống.

Cả hai hậu quả trên đều làm cho Trung Quốc bị thiệt, vì họ đang giữ trong nhà những công trái Mỹ trị giá gần 700 tỷ đô la. Nếu giá công trái Mỹ xuống, tài sản đó sẽ bị giảm giá. Dù giá công trái Mỹ không xuống nhưng đồng đô la bị mất giá so với đồng Euro của Âu Châu hay đồng Yen của Nhật Bản, thì 700 tỷ đô la cũng kém giá trị. Tóm lại, nếu chính phủ Mỹ tiếp tục để cho ngân sách khiếm hụt thì Trung Quốc bị thiệt hại rất nhiều. Mà hiện nay, nước Mỹ đang ngồi trên 1.3 ngàn tỷ khiếm hụt do Tổng Thống Bush để lại, ông Obama lại đang tung thêm tiền ra kích thích kinh tế, số khiếm hụt sẽ tăng thêm hàng ngàn tỷ nữa. Ông Ôn Gia Bảo lo là phải.

Trung Quốc đang có gần 2,000 tỷ đô la dự trữ, nhờ bao nhiêu năm xuất cảng nhiều hơn nhập cảng. Khoảng 70% số tiền đó là đô la Mỹ, số còn lại là vàng hoặc các ngoại tệ mạnh khác. Ngoài số 700 tỷ đô la cho chính phủ Mỹ vay, Trung Quốc cũng cho các xí nghiệp và ngân hàng tư ở Mỹ vay một khoản tương tự. Nếu bạn đang sống ở một nước Á Châu, không ở Mỹ, và bạn có 1,400 đô la trong nhà, khi thấy giá đô la xuống 1% thì bạn biết mình vừa mới “mất” 14 đô la. Số tiền vẫn như cũ, nhưng giá trị, tức là “khả năng mua” mới giảm 1%. Nếu tài sản của bạn lại là 1,400 tỷ đô la, bạn chỉ việc nhân lên thành 14 tỷ. Mười bốn tỷ đô la, cũng khối tiền.

Sau khi nghe về mối quan ngại của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, nhiều người phát lo. Vì khi một nhà lãnh đạo Trung Hoa, mỗi năm mới họp báo một lần nhân dịp Quốc Hội họp xong; ông ta nói một lời trước công chúng, lời nói đó phải nhắm vào một hậu quả nào đó.

Ðây là câu hỏi làm mọi người suy nghĩ: Có phải ông Ôn Gia Bảo có ý báo động chính phủ Mỹ hay không? Nếu Mỹ không thay đổi chính sách thì Trung Quốc có rút bớt số đầu tư của họ vào các trái phiếu của ngân hàng và công trái của chính phủ Mỹ hay không? Nếu Trung Quốc làm thật, thì hậu quả trên đồng đô la, trên hệ thống tài chánh Mỹ và nền kinh tế Mỹ sẽ ra sao?

Ngày hôm qua, khi mới loan tin này hãng AP đã cho biết sau khi nghe lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, giá trị đồng đô la và giá công trái Mỹ đã xuống trong các thị trường ở Á Châu, như Tokyo, Hồng Kông, Hán Thành.

Nhưng khi các thị trường Tokyo, Hồng Kông và Thượng Hải đóng cửa thì mới là bảnh sáng ở London, và mặt trời chưa mọc ở New York. Cho nên mọi người phải chờ xem phản ứng tại các thị trường Âu Châu và Mỹ thì mới biết những lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo gây ra những cơn bão lớn thế nào.

Cuối ngày hôm qua, sau khi thị trường New York không thấy gì cả. Ðồng đô la Mỹ lên giá dưới một xu so với đồng Euro, và lên cao một chút so với đồng Yen của Nhật Bản. Còn ảnh hưởng trên thị trường các công trái Mỹ thì hầu như không có. Những công trái với thời hạn 10 năm giá không đổi, còn những tín phiếu 2 năm lại lên giá chứ không xuống. Thị trường có vẻ bình tĩnh. Tức là có những yếu tố khác ảnh hưởng trên giá đồng đô la Mỹ cũng như giá công trái chính phủ Mỹ, những lời cảnh báo của ông Ôn Gia Bảo coi như không gây ảnh hưởng nào. Có những tin kinh tế lạc quan trong ngày hôm qua. Một chỉ số tin tưởng của người tiêu thụ tăng lên chút đỉnh, một tin rất bất ngờ. Số khiếm hụt trong cán cân thương mại của Mỹ đã giảm liên tiếp trong 6 tháng, vào Tháng Giêng năm nay đã giảm 10%. Số hàng xuất cảng của Mỹ giảm bớt 5.7% nhưng số tiền nhập cảng còn giảm nhiều hơn, 6.7%. Mỹ vẫn nhập nhiều hơn xuất, cho nên số khiếm hụt trong cán cân mậu dịch càng giảm mạnh.

Thị trường có vẻ quan tâm đến những tin tức khác hơn là những lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo. Không phải vì người ta nghĩ ông cũng chỉ là một con cọp giấy; nhưng bởi vì ai cũng biết Mỹ và Trung Quốc đang dính dáng quá nhiều trong đời sống kinh tế, không dễ gì buông ra được.

Chính những người lãnh đạo Trung Quốc không muốn đồng đô la Mỹ xuống. Họ cũng không thể ngưng không cho chính phủ và các ngân hàng Mỹ vay tiền. Thị trường khắp thế giới hiểu như vậy, cho nên dù ông Ôn Gia Bảo nói gì thì nói, ông cũng không thay đổi được mối quan hệ kinh tế và tiền tệ giữa hai nước. Mối quan hệ đó đã được ông tổng thống Nga, Vladimir Putin, nói thẳng là, “Một bên cứ in tiền ra đi mua đồ, bên kia dùng nhân công rẻ sản xuất thật nhiều để bán.”

Trung Quốc không thể nào bán tống bán tháo các công trái chính phủ Mỹ, vì chỉ cần bán một lố chừng mươi tỷ Mỹ kim thôi thì giá công trái Mỹ xuống, chính họ đã bị thiệt hại rồi. Coi như Trung Quốc sẽ phải ôm lấy những giấy nợ bằng đô la đó. Nhưng khi giữ như vậy, thì họ có thể được lợi. Nếu đô la Mỹ lên giá, họ được lợi. Nếu lãi suất trên thị trường giảm, giá các công trái sẽ tăng lên, những người đang cầm các công trái Mỹ trong tay đều có lợi. Hiện nay các nước từ Âu sang Mỹ đều cắt lãi suất cơ bản xuống tới gần số không. Ðó chính là lúc chính phủ Trung Quốc đang thấy 700 tỷ công trái Mỹ, tài sản của họ lên giá!

Trung Quốc cũng sẽ không có nhiều cách đầu tư khác, ngoài việc mua công trái Mỹ. Những người nắm tiền của quốc gia trong tay thì không thể đem đầu tư nhiều rủi ro được. Phải chọn những món nào an toàn nhất. Trên thế giới, không ai lo rằng chính phủ Mỹ đi vay rồi sẽ không trả được nợ, rất an toàn. Một tiêu chuẩn khác là tiền tiết kiệm là tiền dự trữ để khi cần thì quốc gia có thể đem dùng ngay, cần đầu tư vào những món nào dễ bán, tiếng chuyên môn gọi là “có thị trường.” So với việc mua vàng thì mua công trái Mỹ dễ bán, có tính lưu hoạt cao hơn nhiều. Ðó là chưa kể giá vàng lên xuống thất thường, không thể mang tiền của quốc gia đánh liều được.

Còn những ngoại tệ mạnh khác như đồng Yen, đồng Euro thì sao? Trung Quốc có thể đem đổi tiền Mỹ lấy hai đồng tiền này, không nên giữ quá nhiều đô la Mỹ trong nhà. Nhưng phương pháp đó có một giới hạn, không thể làm mãi được. Nền kinh tế vùng Euro và của Nhật Bản không đủ sức hấp thụ một số tiền quá lớn đem vào, mà không gây các hậu quả tai hại.

Một hậu quả là khi nhiều đồng đô la Mỹ xin đổi lấy Yen hoặc Euro, giá trị hai đồng tiền này sẽ tăng lên. Các chính phủ ở Âu Châu và Nhật Bản sẽ không thể nào chấp nhận điều đó, vì hàng hóa họ xuất cảng sẽ tăng giá. Nếu các nước trên giảm bớt xuất cảng thì kinh tế của họ sẽ nguy. Mà chính người Trung Hoa cần bán hàng cho họ, chính phủ Trung Hoa cũng không muốn kinh tế các nước đó lâm nguy!

Tóm lại, kinh tế thế giới bây giờ liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi nước lớn không thể làm gì có thể thiệt hại cho nước khác mà không làm hại kinh tế cả thế giới, trong đó có chính mình. Hội nghị G-20 của bộ trưởng tài chánh 20 quốc gia đang họp ở London nhằm tìm các giải pháp cho cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Mỹ và Âu Châu đang bất đồng ý kiến về điểm ưu tiên mà hội nghị cần giải quyết. Mỹ muốn các nước trên thế giới phải dành 2% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa để kích thích kinh tế. Pháp và Ðức muốn phải bàn vấn đề cải tổ hệ thống tài chánh quốc tế trước. Họ sẽ phải cãi cọ và tìm cách thỏa hiệp với nhau. Trung Quốc sẽ ngả về phía Mỹ trong dự án tung tiền ra kích thích kinh tế, nhưng sẽ đứng về phía Âu Châu khi đòi bàn ngay vấn đề cải tổ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, cho các nước như Ấn Ðộ, Brazil và Trung Hoa có tiếng nói mạnh hơn! Các nước sẽ phải cộng tác với nhau. Nhưng không phải vì thế mà họ không tiếp tục tranh cãi, theo quyền lợi của quốc gia mình!

Posted: Wed Mar 18, 2009 4:15 am
by dailien
Nhận diện sự thật

(Lữ Giang)



Ngày 27.2.2009, bà Katia Bennett, Tham Tá Chính Trị tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đến vấn an và trao đổi về tình hình Việt Nam và Phật Giáo với Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống GHPGVNTN, tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon. Sau đó, bà Ỷ Lan, đại diện đài Á Châu Tự Do (RFA) đã phỏng vấn Hoà Thượng về cuộc gặp gỡ này. Cuộc phỏng vấn đã được đài RFA phát đi trong cùng ngày.

Hòa Thượng Quảng Độ cho biết ngài đã nói với bà Katia Bennett hai điều quan trọng: Điều thứ nhất là không hài lòng với lời tuyên bố vừa qua của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Bắc Kinh. Lời tuyên bố này đã xem nhẹ vấn đề nhân quyền trong quan hệ ngoại giao Trung - Mỹ. Điều thứ hai là quá trình thất bại của nhà cầm quyền Hà Nội trong 6 bước tấn công nhằm tiêu diệt GHPGVNTN qua các năm 1977, 2000, 2005, 2006, 2007 và 2008. Hoà Thượng nhấn mạnh rằng Hà Nội đã xử dụng lá bài Sư Ông Nhất Hạnh và hai năm qua dùng chiêu bài “Về Nguồn” của nhóm các Sư ở Úc Châu, Âu Châu, Canada và Hoa Kỳ nhưng tất cả đều that bại.

Điều đáng chú ý là qua cuộc nói chuyện với bà Katia Bennett, Hoà Thượng đã công khai nói lên mặt trái của lá bài dân chủ và nhân quyền mà Hoa Kỳ thường đưa cao. Hy vọng tiếng nói của Hoà Thượng sẽ làm cho nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại nhìn rõ vấn đề hơn.

Mặc dầu một số website đã đăng toàn văn bài phỏng vấn nói trên, trước khi góp một vài ý kiến vào những vấn đề mà Hoà Thượng Quảng Độ đã nêu ra, chúng tôi xin mời độc giả đọc kỹ lại một lần nữa phần Hoà Thượng Quảng Độ chỉ trích Hoa Kỳ về vấn đề dân chủ và nhân quyền.

TRÍCH BÀI PHỎNG VẤN

Ỷ Lan: Kính chào Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Được biết bà Katia Bennett, Tham tán Chính trị tại tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ vừa đến vấn an Hòa thượng tại Thanh Minh Thiền viện, Saigon. Kính xin Hòa thượng hoan hỉ cho thính giả được biết sự kiện này và Hòa thượng đã nói gì khi gặp gỡ?

HT Quảng Độ: Chào cô Ỷ Lan, lúc 9 giờ ngày hôm qua tức ngày 26.2.2009, bà Katia Bennett, Tham tán Chính trị tại tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ ở Saigon có đến thăm tôi ở Thanh Minh Thiền viện. Sau khi chào hỏi và trao đổi mấy câu có tính cách xã giao thường lệ, tôi bắt đầu ngay vào vấn đề chính mà tôi muốn trình bày trong cuộc gặp gỡ đúng lúc này.

Đó là vấn đề lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Bắc Kinh ngày 21.2.2009, rằng Hoa Kỳ sẽ không để vấn đề Dân chủ, Nhân quyền gây ảnh hưởng và cản trở bước phát triển trong mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tôi nói với bà Bennett rằng, khi tôi nghe lời tuyên bố ấy tôi có cảm tưởng như người Việt Nam thường nói, bị dội gáo nước lạnh lên đầu. Như vậy tôi hiểu từ nay Hoa Kỳ sẽ coi vấn đề Dân chủ, Nhân quyền là thứ yếu trong chính sách ngoại giao, và vấn đề kinh tế, thương mại tức vấn đề làm ăn được đặt lên hàng đầu. Điều chúng tôi quan ngại là lời tuyên bố trên đây của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton không những rất bất lợi đối với những nhà đang tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ ở Trung Quốc mà còn rất tai hại cho những người đang cố gắng hết sức mình bất chấp khó khăn, tù ngục, đọa đày, ngay cả mạng sống, đấu tranh để vứt bỏ gông cùm xiềng xích của các chế độ độc tài toàn trị, độc tài quân phiệt ở Việt Nam, Tây Tạng và Miến Điện. Bởi vì bản chất các chế độ độc tài ở đâu cũng giống nhau. Rồi đây các chính quyền phi pháp, tàn bạo ở các nước nói trên sẽ thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù những người đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người, tự do, dân chủ và công bằng xã hội. Vì chẳng còn chướng ngại nào trên con đường áp bức của họ.

Ỷ Lan: Bạch Hòa Thượng, bà Katia Benneth phản ứng ra sao trước lời phê bình của Hòa thượng?

HT Quảng Độ: Sau đó thì bà Bennet cũng có cố gắng biện minh. Bà nói rằng là ở Bắc Kinh bà ấy cũng có nói như thế, tuyên bố như thế. Nhưng mà trong các cuộc họp riêng tư, các cuộc phỏng vấn, bà vẫn cứ đặt vấn đề dân chủ, nhân quyền hàng đầu. Đó là chính sách của Hoa Kỳ, chính sách truyền thống của Hoa Kỳ. Và nhất là bà đưa bản Tường trình về Nhân quyền trên toàn thế giới trong ấy có Việt Nam của Bộ Ngoại giao mới phát hành hôm qua hôm kia gì đó. Bà có nói để chứng minh rằng trước sau như một, Hoa Kỳ vẫn lấy vấn đề dân chủ và nhân quyền làm căn bản. Trong chính sách ngoại giao thì tôi cũng hiểu bà cố nói để biện minh vậy thôi. Chứ còn không thể nào làm hơn.

Nhưng tôi có nói với bà, tôi thưa thật tôi thấy vấn đề ấy nó hơi quan trọng liên quan đến người Việt Nam chúng tôi, cho nên tôi nói thế thôi. Chứ thực ra tôi cũng ý thức rằng, vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự người Việt Nam chúng tôi phải lo lấy. Còn sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, của Liên Âu, bất cứ gì ở bên ngoài, đó chỉ là phụ thôi. Theo nhà Phật cái nhân là chính, cái duyên là phụ. Tuy nhiên cái phụ cần phải có thì cái chính, cái nhân mới phát triển được. Chẳng hạn hạt thóc mà vứt xuống ruộng thì cũng phải nhờ gió, nhờ nước, nhờ đất tốt thì nó phát triển. Thì chúng tôi cũng vậy, nhân quyền thì chúng tôi tranh đấu, đòi hỏi. Nhưng dưới chế độ độc tài toàn trị thế này rất là khó khăn. Nếu không có sự hỗ trợ truyền thông bên ngoài thì không ai biết đến. Do đó chúng tôi hy vọng ở Hoa Kỳ nói riêng, và các nước dân chủ tiên tiến nói chung trên thế giới, nhất là Liên Âu, hỗ trợ chúng tôi. Tôi có nói an ủi bà như thế, chứ bà cũng tỏ ra buồn, vì bà Ngoại Trưởng đã phát biểu rồi. Người Việt Nam thì nói sẩy chân còn đỡ được, sẩy miệng khó đỡ lắm! Cổ nhân Việt Nam hay là Trung Quốc ngày xưa cũng thế, trước khi nói phải uốn lưỡi ba lần mới nói là vì thế.

TUYÊN BỐ CỦA BÀ HILLARY CLINTON

Trước khi lên máy bay từ Seoul đi Bắc Kinh hôm 20.2.2009, Bà Hillary Clinton nói:

''Các chính quyền Mỹ liên tiếp cũng như các chính phủ Trung Quốc đều bị vấn đề nhân quyền khuấy động. Chúng ta cần phải tiếp tục gây áp lực. Thế nhưng không nên để điều này chi phối các cuộc thảo luận về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, về biến đổi khí hậu và về an ninh".

Đài RFI của Pháp ngày 23.2.2009 có phổ biến một bài dưới đầu đề “Ưu tiên cho kinh tế, ngoại trưởng Mỹ quên hồ sơ nhân quyền”, tường thuật lại một bài báo trên tờ Libération của Pháp dưới hàng tựa «Bà Clinton tán tỉnh Bắc Kinh», nhấn mạnh rằng Washington mải lo cho món nợ của mình đã «quên mất» hồ sơ nhân quyền. Tờ Le Figaro cũng nói đến một bà Hallary Clinton ra sức quyến rũ Trung Quốc và đã gạt qua một bên vấn đề nhân quyền để có thể đẩy mạnh, một cách hữu hiệu hơn, sự hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia.

Trong bài “Hoa Kỳ chỉ trích TQ về nhân quyền” phổ biến ngày 26.2.2009, đài BBC tường thuật rằng trong chuyến thăm của bà Clinton tới Trung Quốc, một số nhân vật hoạt động cho nhân quyền đã chỉ trích bà khi người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ không nêu “vấn đề nhân quyền” với giới chức Trung Quốc.

Tuy nhiên nữ Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ nói rằng bà có các buổi trao đổi ý kiến thẳng thắn với người đương nhiệm phía Trung Quốc. Báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói năm 2008 giới chức Trung Quốc đã thực hiện các vụ “giết người không nêu lý do, tra tấn, ép cung tù nhân, và dùng lao động cưỡng bức.” Đàn áp về văn hóa và tôn giáo trở nên tồi tệ hơn, xảy ra chủ yếu tại vùng Tân Cương có đông người Hồi giáo sinh sống. Và vùng Tây Tạng.

Bài tường thuật nói rằng Hoa Kỳ cần tiếp tục chính sách ngoại giao mạnh mẽ, vừa lên tiếng trước các vụ vi phạm nhân quyền, vừa yêu cầu hành động.

ĐỐI DIỆN VỚI SỰ THẬT
Vấn đề liên hệ giữa GHPGVNTN và Đảng CSVN và sau đó “cuộc chiến” kéo dài giữa hai bên, chúng tôi đã viết khá nhiều và đầy đủ. Hôm nay chúng tôi chỉ đề cập đến chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề dân chủ và nhân quyền.

Thật ra, việc tố cáo chính sách của Hoa Kỳ về dân chủ và nhân quyền không phải là một chuyện mới mẻ gì. Trong gần 20 năm qua, kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt và Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng chiến thuật “diễn biến hoà bình”, các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, các nhà phân tích, các dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ... đã nhiều lần nêu lên vấn đề mà Hoà Thượng Quảng Độ đã đề cập đến. Chúng tôi cũng đã nhiều lần nói rõ về vấn đề này, nhất là trong các bài “Đừng quên Anh Hai”, “Lại chuyện Anh Hai”, “Anh Hai Cán Bộ”, v.v. Nhưng đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại vẫn tưởng rằng Hoa Kỳ đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sẽ dùng dân chủ và nhân quyền để đánh sập chế độ cộng sản Việt Nam hiện tại, lời phê phán của Hoà Thượng Quảng Độ một lần nữa đòi hỏi chúng ta phải đối diện với sự thật. Đây là một vấn đề không đơn giản.

1.- Sự thật phủ phàng

Chúng ta nhớ lại, sau khi Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Eric G. John thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ tại Việt Nam hôm 12.4.2007, thông tín viên Matt Steinglass của đài VOA đã tường thuật lại lời tuyên bố của ông ta như sau:

“Tôi không bị hạn chế dưới bất cứ hình thức nào khi đi gặp ông Thích Quảng Độ. Cơ bản là chúng tôi đã lái xe thẳng vào khuôn viên thiền viện.”

“Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đồng ý rằng tự do tôn giáo ở Việt Nam không hoàn chỉnh. Theo luật, mọi tổ chức tôn giáo phải đăng ký với nhà nước. Nhưng đối với đa số người Việt, Việt Nam đang được tự do tôn giáo nhiều hơn...”

Ông nói tiếp: "Chúng ta đã thấy các biến chuyển đáng kể. Tôi nghĩ rằng là có tiến bộ về tự do tôn giáo ở Việt Nam".

Ông cho biết: “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục khuyến cáo Việt Nam cho phép có tự do tôn giáo nhiều hơn. Nhưng, Hoa Kỳ sẽ không quan tâm đến lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ đề nghị dùng thương mại như một cái cần để thúc đẩy Cộng sản Việt Nam cởi mở hơn về các vấn đề nhân quyền.”

Sau đó, thông tín viên Matt Steinglass còn đá giò lái GHPGVNTN: “Giáo hội được thành lập ở Nam Việt Nam vào năm 1964. Khi đó, giáo hội phản đối Hoa Kỳ can dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình lớn chống Mỹ.”

Tuy nhiên, bảo rằng Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề thương mại hơn vấn đề dân chủ và nhân quyền cũng không hoàn toàn đúng vì hai vấn đề thường đi song song với nhau. Thỉnh thoảng Hoa Kỳ đã dùng chiêu bài dân chủ và nhân quyền để làm áp lực về thương mại đối với nước đối tác, nhưng Hoa Kỳ cũng chủ trương xây dựng dần dần dân chủ và nhân quyền ở quốc gia đối tác để hổ trợ cho việc phát triển kinh doanh.

2.- Chấp nhận “mô thức xám xập”

Tưởng cần nhắc lại: Bà cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleeza Rice đã từng thúc giục cả Miền Điện lẫn Bắc Hàn noi gương Việt Nam (The American Secretary of State, Condoleezza Rice urged Burma and North Korea to follow the example set by Vietnam). Hôm 27.11.2007, ông Ibrahim Gambari, Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền của Liên Hiệp Quốc lại thúc giục Việt Nam tiếp tay trong các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị tại Miến Điện! Sau đó, trong cuộc viếng thăm Hà Nội ngày 3.3.2008, Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Christopher Hill lại tuyên bố Bắc Hàn và nhiều nước khác có thể học nhiều bài học quý giá từ Việt Nam. Ông nói:

"Tôi không rõ Bắc Triều Tiên có hỏi kinh nghiệm của Việt Nam hay không, nhất là kinh nghiệm phát triển kinh tế. Thế nhưng tôi rất mong họ hỏi câu hỏi đó vì trong 5 năm gần đây Việt Nam đã có những tiến triển thần kỳ."

Như chúng tôi đã nói, sở dĩ các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thúc giục Miến Điện và Bắc Hàn nói gương (example) của Việt Nam vì theo họ Việt Nam đã hội đủ ba yếu tố sau đây để có thể giao thương bền vững: (1) Đoạn tuyệt với quá khứ, (2) ổn định tình hình và (3) phát triển kinh tế.

Khi muốn lập quan hệ thương mại với bất cứ nước nào, Hoa Kỳ thường làm áp lực đòi nước đó phải nới rộng dân chủ và nhân quyền đến mức nào đó để việc giao thương có thể phát triển được.

Các nhà phân tích cho rằng trong một nước chậm tiến, trình độ dân trí còn thấp, một chế độ độc tài theo “mô thức xám xập”, tức 30% dân chủ và 70% độc tài, chế độ đó có thể tồn tại được. Trái lại, nếu tiến tới “mô thức ứng xập”, tức 50% độc tài và 50% dân chủ, tình trạng bất ồn rất dễ xẩy ra và chế độ đó sớm muộn gì rồi cũng sụp đổ. Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam biết rất rõ điều đó, nên để bảo vệ chế độ, họ không bao giờ cho phép vượt qua “mô thức xám xập”, dù bị áp lực.

Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhà cầm quyền CSVN tìm mọi cách để phân hoá hay ngăn chận không cho GHPGVNTH hoạt động ở trong nước vì sợ giáo hội này sẽ gây bất ổn cho chế độ như dưới thời VNCH.

Hôm 9.3.2009, trong bài diễn văn đọc tại phiên họp của Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc, ông Ngô Bang Quốc, Chủ Tịch Quốc Hội, tuyên bố:

"Chúng ta phải học hỏi từ thành công của tất cả các nền văn hóa. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ đơn giản chỉ đi sao chép hệ thống của các nước phương Tây hay đưa ra một hệ thống đa đảng luân phiên nắm quyền".

Chắc chắn các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đầu tư vào một quốc gia sáng đình công, chiều biểu tình, ngày hôm sau đảo chánh... như tình trạng của miền Nam Việt Nam sau năm 1963. Các nhà kinh tế nói rằng đầu tư vào một tình trạng như thế chẳng khác chi “chùm hai chân nhảy vào bóng tối”.

Trong thực tế rõ ràng là Hoa Kỳ đã đồng ý “mô thức xám xập” có thể giúp cho việc phát triển kinh doanh ổn định, nên đã biện hộ cho cả Đảng Cộng Sản Trung Quốc lẫn Việt Nam, và kêu gọi Bắc Hàn và Miến Điện noi gương Việt Nam.

Cũng vì chấp nhận “mô thức xám xập”, các cường quốc đang đổ khá nhiều tiền của vào Việt Nam với hy vọng biến Việt Nam thành một đầu cầu phát triển kinh doanh ở Đông Nam Á. Họ tiếp tục tăng viện trợ ODA (Official Development Assistance), tức viện trợ phát triển cho Việt Nam, và đẩy mạnh các chương trình xây dựng hạ tầng.

Vốn ODA dành cho Việt Nam liên tục tăng lên, từ 4,45 tỷ USD cam kết cho năm 2007 lên 5,426 tỷ USD cho 2008. Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) đứng đầu danh sách các tổ chức tài trợ cho Việt Nam, với 1,35 tỷ USD, chiếm 25% tổng số cam kết năm 2008. Chiều 5.12.2008 mức cam kết ODA được nhóm các nhà tài trợ quốc tế quyết định dành cho Việt Nam trong năm 2009 là 5,014 tỷ USD, thấp hơn mức cam kết năm 2008 là 8%, vì tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, nhưng như thế cũng là quá nhiều.

Với Nhật Bản, mặc đầu có vụ PCI, Nhật đã cam kết dành 83 tỷ 200 triệu Yen, tương đương với 900 USD, cho chương trình trợ giúp Việt Nam phát triển. Sự kiện này đã làm Nhật trở thành nước cấp viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam.

Hoa Kỳ và các cường quốc cũng đang thúc đẩy và giúp Việt Nam hoàn tất đường xe lửa cao tốc xuyên Việt và xuyên Á để có thể mở rộng kinh doanh. Chỉ riêng tuyến đường sắt cao tốc nối Hà Nội với Sài Gòn dài 1600km đã tốn đến 40 tỉ USD, tương đương GDP của Việt Nam trong một năm.

Phương án thiết kế đoạn đường sắt từ ga Sài Gòn đến Lộc Ninh, biên giới Cambodia, dài 140 km trong tuyến đường sắt xuyên Á với phí tổn được dự trù là 438 triệu USD. Tuyến đường sắt xuyên Á này dài 5.500km, bắt đầu từ Côn Minh, Trung Quốc, chạy qua Việt Nam, Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai Á và ga cuối cùng ở Singapore. Tuyến đường này do Mã Lai Á khởi xướng vào năm 1995 và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015.

Nhìn những công trình mà Hoa Kỳ và các cường quốc đang thực hiện ở Việt Nam, chúng ta có thể tin rằng họ đang tính chuyện làm ăn lâu dài với Việt Nam. Nhật Bổn đã viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất nhằm ưu tiên chiếm lãnh thị trường tại đây trong tương lai.

DÂN CHỦ PHỤC VỤ KINH DOANH

Khi tạm thời chấp nhận một “mô thức xám xập” như đã nói trên, không có nghĩa là Hoa Kỳ và các cường quốc muốn duy trì mãi tình trạng đó. Họ sẽ dùng “diễn biến hoà bình” để làm thăng tiến chế độ, giúp cho việc kinh doanh ngày càng mở rộng.

Muốn thăng tiến chế độ, công việc đầu tiên là nâng cao dần cuộc sống và dân trí của người dân trong nước lên. Nếu mức sống và dân trí như hiện nay còn được tiếp tục duy trì, rất khó thoát ra khỏi “mô thức xám xập”.

Trong vụ nhà cầm quyền Việt Nam định khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên, đài BBC đã phỏng vấn thầy giáo Y Long, một thầy giáo dạy cấp ba duy nhất người M'Nong ở tỉnh Đắk Nông, nơi dự án bauxite sẽ được thực hiện. Theo thầy Y Long người M'Nong chiếm gần 40% dân số Đắk Nông (tổng số dân trong tỉnh khoảng 500.000 người) và sống trên 90% diện tích đất đai của tỉnh. Người M'Nong không mặn mà lắm đối với những cái lợi do việc khai thác bauxite sẽ đem lại. Hiện nay việc đào tạo kỹ sư rồi đào tạo nhân lực chuẩn bị cho việc khai thác quặng bauxite thì người địa phương bản địa không hề biết gì hết. Người địa phương cũng khó có thể cạnh tranh trong việc kinh doanh thương mại phục vụ cho công trình khai thác vì họ quá nghèo và kinh tế thị trường vẫn còn là điều xa lạ đối với họ. Có hộ thu nhập hàng tháng chỉ tính bằng vài chục đô, có hộ không đủ gạo để ăn. Với họ, tốt nhất là không nên làm.

Tại Hà Nội, người ta mới khám phá ra xứ Quèn Gianh - Gò Mu thuộc huyện Mỹ Đức, cách trung tâm Hà Nội chỉ hơn 50 km về phía tây nam, chỉ có 2 học sinh lớp 6 là cao nhất, 3 học sinh lớp 5, 4 học sinh lớp 3 và lớp 1!

Với mức sống và trình độ dân trí như thế, dân chủ và nhân quyền đối với họ chẳng có một ý nghĩa gì cả.

Các cường quốc tin rằng khi cuộc sống và dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, nền dân chủ sẽ được phát triển từ từ trong ổn định, và sự kiện này sẽ giúp cho việc phát triển kinh doanh của họ ngày càng tốt đẹp hơn.

Liên Hiệp Quốc và các cường quốc đã thiết lập kế hoạch kiến tạo “xã hội dân sự” ở Việt Nam qua từng giai đoạn. Họ tính cả việc xử dụng các đoàn thể quần chúng do Đảng CSVN lập ra.

Biết được điều này, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhân dịp lễ Vesak Nhà Nước được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2008, ngày 28.5.2008, ông Judd Birdsall – Văn Phòng Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế - Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đã tới thăm và làm việc tại Văn Phòng I Trung Ương GHPGVN, tức Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước. Tại cuộc gặp gỡ, ông Judd Birdsall đã bày tỏ sự cảm kích và ngưỡng mộ đối với GHPGVN qua việc tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008 trong thời gian qua. Ông mong muốn GHPGVN ngày càng phát triển hưng thịnh, giúp xã hội được thịnh vượng và hạnh phúc.

Mới nhìn qua, chúng ta cho rằng Hoa Kỳ đang chơi trò bắt cá hai tay, nhưng nhìn vào chương trình phát triển “xã hội dân sự” ở Việt Nam, chúng ta thấy Hoa Kỳ và các cường quốc đang thực hiện chiến dịch “diễn biến hoà bình”.

Đại Sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã từng nói: “Hai mươi năm sau, chúng ta sẽ không nói Mỹ đã vào Việt Nam để kiếm tiền, mà chúng ta sẽ nói rằng hơn 75% thành phần Nội Các Việt Nam là những người đã du học Mỹ." Còn ông Aloisi, Phó Đại Sứ Hoa Kỳ tiên đoán: “Việt Nam có thể ở trong lộ trình của chế độ dân chủ đa đảng trong 15 hay 20 năm tới”!

Các nhà phân tích cho rằng sự ước tính của ông Aloisi hơi quá lạc quan.

Trước đây, Đại Hàn và Đài Loan là hai nước chống cộng hàng đầu ở Á Châu, luôn sát cánh với VNCH. Nhưng khi Hoa Kỳ từ bỏ chiến tranh lạnh và thay thế bằng chiến dịch “diễn biến hoà bình”, cả hai nước này đã đi theo, và có khi còn qua mặt Hoa Kỳ, nhờ vậy hai nước này đã biến thành hai con rồng Á Châu.

Các nhà phân tích lưu ý rằng cái gạnh nối giữa phát triển kinh tế và dân chủ không phải luôn luôn là điều tất yếu. Nhiều chế độ độc tài cho thấy rằng họ có thể làm cho đất nước phát triển kinh tế nhưng vẫn dìm được dân chủ. Trường hợp của Trung Quốc là một thí dụ điển hình. Nhưng các chuyên gia Mỹ tin tưởng rằng thế hệ tới do họ đào tạo sẽ làm thay đổi.

VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG

Trong bất cứ chế độ nào, kể cả tại Hoa Kỳ, lúc nào cũng cần có những ý kiến khác biệt được đưa ra để thúc đẩy chế độ phải xét lại các chủ trương và hành động của mình, nhận ra những sai lầm và sửa chữa. Khi tiếng nói ở trong nước bị giới hạn, tiếng nói từ bên ngoài rất cần thiết.

Nhưng điều quan trọng là phải nghiên cứu tường tận những vấn đề muốn chỉ trích hay góp ý để có thể điểm trúng “huyệt” mới có tác dụng. Nếu chỉ đánh khơi khơi, đánh dựa trên hư cấu, lập luận một chiều hay chỉ đánh để thỏa mãn lòng thù hận..., chắc chắn sẽ không có tác dụng gì.

Hiện nay có ba cơ quan truyền thông Việt ngữ quốc tế đã đóng góp rất nhiều vào việc làm thay đổi lối suy tư và hành động của người dân trong nước, kể cả các đảng viên và viên chức chính quyền, đó là đài BBC, đài RFI và đài RFA. Những cơ quan này đã dùng những tin tức chính xác và những quan điểm khác nhau của các chuyên gia để giúp người dân cũng như chính quyền trong nước suy nghĩ về những gì đã hay đang xẩy ra. Chúng tôi tin rằng đây là một phương cách tốt để nâng cao dân trí và đổi mới đất nước.

Lữ Giang

Posted: Sat Mar 21, 2009 3:41 am
by khieulong
Các sinh viên đã biểu tình
Thursday, March 19, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua có một tin nhỏ nhưng lạ: Các sinh viên Ðại học Hồng Bàng ở Tân Bình, Sài Gòn biểu tình phản đối việc tăng học phí, và họ đã thành công. Ðiều lạ không phải việc sinh viên biểu tình. Trước đây các sinh viên đại học Hà Nội đã từng biểu tình phản kháng ban giám đốc về những vấn đề chỗ ăn ở trong trường. Hiện tượng lạ là phản ứng của giới lãnh đạo trường. Ngay sau khi một trăm sinh viên họp nhau trương biểu ngữ và hô khẩu hiệu phản kháng việc tăng tiền học ngày 18 Tháng Ba thì ban giám đốc trường này chịu thua ngay. Họ rút lại quyết định tăng học phí và trả lại tiền số tiền dư cho những sinh viên đã đóng rồi. Hoan hô tinh thần tranh đấu của các bạn sinh viên. Ở đời, không tự mình đứng lên thì người ta cứ coi thường mình mãi!

Nhưng xưa nay những người nắm quyền hành ở Việt Nam chưa bao giờ lại nhượng bộ lẹ như thế! Tại sao ông hiệu trưởng đại học này nhanh chóng nhượng bộ các sinh viên biểu tình, những sinh viên mà chính ông chủ tịch trung tâm hỗ trợ sinh viên của nhà trường công khai bêu xấu! Cái ông trùm “hỗ trợ sinh viên” đã tố các người biểu tình chỉ là những sinh viên “học yếu kém” và “chỉ ham tụ tập và đi chơi,” “điểm chỉ có 4 phẩy” (gọi là “dưới trung bình”). Tóm lại, theo ông ta đó là những sinh viên vừa dốt vừa lười, mà những đại học đứng đắn thường không ai thèm thu nhận, trừ khi chỉ nhận vào để thu tiền học phí!

Nhưng tại sao ông hiệu trưởng lại chịu lùi bước “một cách khẩn trương” trước những sinh viên vừa dốt vừa lười mà lại thiếu tiền đóng học phí như vậy? Bình thường, giới lãnh đạo ở Việt Nam sẽ tìm cách xoa vuốt những người biểu tình, tìm cách cho họ thỏa mãn một phần nào, vừa nhu cầu thực tế, vừa tự ái của họ. Rồi sau đó công an sẽ “làm việc” tiếp với những người khởi xướng. Nhưng lần này, ông hiệu trưởng đã chịu thua tức khắc!

Cho nên đây là một dấu hiệu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đang run. Họ rất lo sợ trước cảnh các bạn trẻ biểu tình phản kháng, dù phản kháng về bất cứ vấn đề lớn hay nhỏ nào, có lý do đúng hay không. Vì Ðảng Cộng Sản chỉ muốn các thanh niên này chấm dứt ngay, không kéo dài việc biểu tình. Cứ biểu tình mãi, sẽ tập thành thói quen nguy hiểm.

Cuối năm 2007 có những cuộc biểu tình “chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa,” công an đã phải dùng đủ mọi thủ đoạn từ mềm đến cứng mới tạm yên được. Hiện giờ giới trẻ trong nước lại đang sôi máu lên vì những biến động mới ngoài biển Ðông. Ðảng Cộng Sản phải ngăn ngừa trước không cho ngọn lửa yêu nước đó bùng lên trở lại.

Ðảng có thể ra lệnh cho đại học này hay không? Ðại học Hồng Bàng tuy được lập nên với tính cách một trường tư, nhưng đã được biến thành một trường của đảng. Cho nên, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, trường đại học này đã khoe thành tích tổ chức thi hoa hậu sinh viên vào năm ngoái. Trong mạng lưới của trường còn có cả mục “Tìm hiểu tử vi” quan trọng không kém gì các phân khoa; quý vị cứ gửi ngày sinh tháng đẻ vô đó, có các vị “giáo sư tiến sĩ” xem bói cho. Cũng trong mạng lưới đó có phần khoa học huyền bí, mở ra thấy chuyện một vị đi tìm mộ người em đã chết nhờ khoa học huyền bí. Ngoài ra, trường cũng quảng cáo cả chương trình MBA, cộng tác với các đại học Mỹ và Âu Châu nữa.

Nhưng nếu quý vị nhìn vào cơ cấu tổ chức trong địa chỉ mạng lưới của trường này thì thấy Ðảng Bộ nhà trường ngồi trên đầu tất cả các bộ phận, các chức trưởng. Dưới đó, hai cơ quan của đảng đứng ngang hàng hiệu trưởng, là công đoàn trưởng và đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Tất cả các hiệu phó, các trưởng phòng, các khoa nằm bên dưới. Trong các phân khoa một đầu thấy Khoa Tin học, đầu kia thấy Khoa Mác Lênin. Ở giữa có một khoa tên là Nhật-Trung-Hàn. Không có khoa nào học về Việt Nam. Nhưng rõ ràng là tất cả phải răm rắp nghe lệnh đảng. Cho nên, nếu đảng cảm thấy “bức xúc” trước vấn đề sinh viên biểu tình, nhà trường phải chịu thua ngay. Tức là chuyển cuộc tranh đấu của sinh viên sang bên công an giải quyết theo phương pháp của công an!

Tuy nhiên, cuộc biểu tình của sinh viên thành công nhanh chóng cũng là một hiện tượng tốt. Nó khuyến khích những người khác, trẻ cũng như già, nhìn thấy rằng khi muốn những kẻ cầm quyền phải lắng nghe nguyện vọng của mình thì chính mình phải đứng dậy và lên tiếng. Những người bị ép bán nhà, bán đất, những người phải đút lót quan chức để chạy chọt giấy tờ, những người bị đuổi đường, đuổi chợ, tất cả, ai có nỗi oan khuất nào, thì phải lên tiếng tập thể. Các sinh viên đã mở đầu một cuộc phản kháng, họ không hát nhưng ai cũng nghe thấy: Dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi!

Trong một nước Việt Nam có hàng triệu người bị oan khuất, hàng ngàn vấn đề dân đang tranh đấu với nhà nước. Trong số đó chỉ có một số người, một số vấn đề đủ nóng để gây nên những cuộc biểu tình. Ðảng Cộng Sản có thể theo lối cũ, làm thỏa mãn hoặc mua chuộc từng nhóm một, có khi từng người một, để dẹp yên, rồi đâu lại vào đó, kéo dài năm này sang năm khác.

Nếu người dân một nước muốn cải thiện đời sống chung, của tất cả mọi người, về lâu về dài, thì không thể chỉ theo phương pháp “van xin” như vậy. Dù cứ biểu tình và “làm đơn khiếu nại” mãi, rồi mai mốt lại tiếp tục khiếu nại và biểu tình, cũng không bao giờ thay đổi được quy chế “xin, cho” mà người Việt Nam đã chán ngán. Làm như vậy là theo lối sống thời quân chủ, phong kiến. Vào thế kỷ 19 ở nước ta, một người dân thường như bà Bùi Hữu Nghĩa dám đi từ Nam ra Huế, tới tận cửa triều đình gõ trống khiếu nại, vì chồng bà bị kết tội oan. Bà đã thành công, nhưng không vì thế mà giảm được những cảnh oan khuất cho những người dân khác; mà không phải ai cũng can đảm như bà.

Ðiều phân biệt giữa lối sống văn minh trên thế giới bây giờ, khác với chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa cũng như chế độ độc đảng chuyên chế ở Việt Nam, là các công dân một nước tự do dân chủ có quyền tham dự vào việc nước, trước khi nhà nước quyết định, chứ không phải chờ các vua quan quyết định rồi bị oan thì khiếu nại!

Cho nên người Việt chúng ta cần làm thế nào để mọi người dân Việt được “tham dự” vào những quyết định chung, trước khi những người cầm quyền quyết định. Một phương pháp tham dự giản dị là chính người dân được tự do chọn những người quyết định việc chung. Phải có bầu cử tự do. Việc góp ý kiến phải diễn ra một cách tự nhiên, giống như một công việc bình thường ai cũng phải làm, chứ không cần phải tổ chức biểu tình hoặc vác đơn đi khiếu oan. Muốn vậy thì phải có tự do phát biểu, tự do báo chí. Và việc tham dự phải thực hiện từ dưới lên trên, một cách cụ thể. Dân một xã phải được góp ý kiến về công việc xây dựng đường sá trong xã mình. Dân một nước phải được góp ý kiến vào việc quản trị tài nguyên nước mình, co nên cho người ngoài vào khai thác khoáng sản như bô xít hay không. Phải có những “kênh” cho các ý kiến khác nhau được cơ hội bầy tỏ. Ðó là những hội đoàn tự do và tự nguyện, các sinh hoạt của xã hội công dân, những mạng lưới và báo chí, truyền thanh truyền hình độc lập. Tất cả tạo ra lối sống tự do dân chủ.

Cho nên sau khi đã thành công trong việc đòi ngưng tăng học phí, các bạn sinh viên Ðại học Hồng Bàng có cơ hội nhìn xa hơn các quyền lợi thiết thực của mình, nhìn tới những nhu cầu của cả dân tộc. Các sinh viên học là để đi làm. Tại sao nước Việt Nam chậm tiến so với các nước Á Ðông khác? Quốc nạn tham nhũng vì chế độ độc tài là một chướng ngại ngăn cản phát triển kinh tế, có ai không biết? Tại sao những năm thời 1970 sinh viên Hàn Quốc và Ðài Loan phải biểu tình liên tiếp năm này sang năm khác để đòi tự do dân chủ? Cơ cấu chính trị độc đảng ở Việt Nam hiện nay có giải phóng cho các lực lượng sản xuất trong nước được tự do phát triển để tạo thêm công việc làm hay không?

Chúng ta cần đào tạo những chuyên viên giỏi để xây dựng nước Việt Nam. Ðây là một vấn đề các sinh viên phải quan tâm. Cơ cấu giáo dục do một đảng độc quyền cai trị hiện nay có nâng cao được trình độ học vấn của các thanh thiếu niên theo nhu cầu phát triển kinh tế hay không? Ông Barck Obama ở Mỹ đang tìm cách buộc những người giầu nhất nước Mỹ phải đóng thêm thuế để cải tổ y tế và nâng cao giáo dục. Nước Mỹ mà nó còn lo cải tổ như vậy. Còn ở nước ta, các đại gia giầu nhất nước có biết nhiều người Việt không bao giờ biết đến nhà thương bao giờ hay không? Một đại gia ở Việt Nam mới cho nhật báo Wall Street biết mỗi năm ông ta tiêu tốn 400,000 đô la Mỹ riêng trong việc sử dụng chiếc máy bay của ông ta mà thôi. Số tiền 400 ngàn Mỹ kim sẽ nuôi, dạy và chích ngừa bệnh được bao nhiêu học sinh tiểu học ở thôn quê? Người có tiền thì được phép tự do tiêu tiền, không ai cấm. Nhưng ông ta hiện đóng bao nhiêu thuế cho công quỹ, và phải góp bao nhiêu tiền hối lộ bỏ vào túi riêng của các quan chức? Nếu những người Việt khá giả như ông muốn làm việc thiện như ông Bill Gates ở Mỹ thì họ có quyền tự do lập hội thiện độc lập với đảng Cộng Sản hay không?

Cuối cùng, các bạn sinh viên nên nhớ: Nhu cầu chung lớn nhất của nước ta là thay đổi cơ cấu tổ chức cả xã hội cho hợp lý và công bằng. Trước hết là phân bố lại quyền chính trị. Không thể tập trung quyền hành vào tay một nhóm người, nhất là những người đã nổi tiếng là bất lực và tham nhũng!

Posted: Mon Mar 23, 2009 6:04 am
by tankhoasinh
Thời sự kinh tế: Cải tổ kinh tế tư bản
Friday, March 20, 2009

Ngô Nhân Dụng
Trước vụ tiền thưởng 165 triệu ở công ty AIG, dư luận dân Mỹ và các nhà báo đều coi đó là một bọn tham lam vô độ, họ đang nhận tiền chính phủ giúp đỡ mà lại đem tưởng thưởng cho nhau, thưởng cho cả những người ở trong phân bộ gây ra tai họa cho công ty này, bắt người dân đóng thuế tốn tiền trợ giúp. Các đại biểu quốc hội phản ảnh dư luận dân, cho nên tranh nhau đòi trừng phạt những con người tham lam đó. Có ông còn nói đáng lẽ những kẻ làm nên tội ác này nên “tự sử” theo lối các võ sĩ Nhật Bản; nói xong rồi vội vàng cải chính.

Ngày Thứ Năm, Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu làm luật đánh thuế tới 90% những người lãnh tiền thưởng tại các ngân hàng và công ty đang được chính phủ Mỹ trợ giúp. Một nửa các dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu thuận theo các đồng viện Dân Chủ, và chỉ có 6 dân biểu Dân Chủ bỏ phiếu chống.

Ngày hôm qua, đã có nhiều nghị sĩ tỏ ý dè dặt, đặc biệt là các nghị sĩ Cộng Hòa. Ai cũng biết các ông bà Cộng Hòa nghe nói đánh thuế nặng là dị ứng rồi. Nhưng dự luật của Hạ Viện còn đánh thuế với tính cách hồi tố, tức là những người đã lãnh tiền từ trước khi đạo luật ra đời cũng phải đóng thuế mới. Hơn nữa, quốc hội không có quyền làm luật đánh thuế nhắm vào một số người nhất định; điều này có thể bị kiện vì trái với hiến pháp Mỹ. Cho nên, dự luật mà Thượng Viện sẽ bàn sẽ nhẹ hơn dự luật mà Hạ Viện đã thông qua. Chưa chắc hai bên sẽ bàn với nhau trước ngày các đại biểu quốc hội đi nghỉ. Khi họ trở lại họp, thì dư luận dân Mỹ có thể cũng chẳng thèm chú ý tới vụ 165 triệu ở AIG nữa. Vì nước Mỹ còn nhiều vấn đề quan trọng hơn, sẽ còn nhiều biến cố tài chánh lớn hơn nữa.

Nhưng có dân biểu và nghị sĩ còn báo trước là khi nào quốc hội bàn tới công việc cải tổ cả hệ thống tài chánh (một việc ai cũng đồng ý phải làm), thì họ sẽ đưa ra luật để quy định cả chính sách trả tiền thưởng trong các ngân hàng và công ty nữa. Làm như vậy thì nước Mỹ còn theo “kinh tế tư bản” nữa hay không?

Lo lắng như vậy, không phải vì chính sách trả lương và tiền thưởng trong giới kinh doanh, ngân hàng ở Mỹ đang hoàn hảo. Chúng ta sẽ bàn tới những nhược điểm trong hệ thống tưởng thưởng mà nhiều ngân hàng và xí nghiệp ở Mỹ vẫn mắc phải, một phần là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.

Mục đích của lương bổng và tiền thưởng cho nhân viên, từ cao xuống thấp, là để khích lệ người ta cố gắng làm việc, tạo thêm lợi ích cho xí nghiệp. Khi các xí nghiệp, các ngân hàng đều cố đạt được hiệu quả cao nhất, thì kinh tế chung cả xã hội cùng tiến.

Khi kinh tế các nước cộng sản suy yếu đưa tới sự sụp đổ cả khối xô viết, mọi người giải thích một cách dễ dàng tại sao nó hỏng. Vì căn bệnh cha chung không ai khóc. Nói theo ngôn ngữ kinh tế học là “cơ cấu tưởng lệ không thích hợp.” Chế độ cộng sản không khích lệ người ta làm việc hết sức vì kinh tế bị chính trị can thiệp. Những người đáng lẽ đáng tưởng thưởng vì làm việc với hiệu quả cao thì họ không được thưởng; những người khéo luồn cúi các cấp ủy thì được hưởng nhiều hơn.

Phân tích như vậy rồi, nhìn lại nền kinh tế tư bản, thì mọi người thấy rằng cơ cấu tưởng lệ (incentive) trong kinh tế tư bản có vẻ thích hợp. Quyền tư hữu được pháp luật bảo đảm, ai làm người đó hưởng. Các xí nghiệp tuyển người làm do khả năng chứ không do thành phần, lý lịch hoặc đảng phái. Trong các xí nghiệp giới quản đốc được trả thù lao cao hay thấp tùy theo thành quả của công việc tốt hay xấu, các hợp đồng về thù lao được đại diện các cổ đông ký với người quản đốc. Mà kết quả công việc họ làm thì được đo lường một cách khách quan, là giá cổ phiếu của công ty trao đổi trên thị trường. Giá cổ phần lên, tức là cả thị trường tán thưởng công việc của công ty, giá xuống là họ trừng phạt. Cơ cấu tưởng lệ này được coi là hay, vì nó khiến cho “quyền lợi của cá nhân những người quyết định cho một công ty cũng phù hợp với quyền lợi của công ty,” tức là quyền lợi của các cổ đông.

Nhưng niềm tin vào cơ cấu tưởng lệ của kinh tế tư bản đang bị nghi ngờ, vì cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu từ năm 2007 đến nay. Trong thực tế, có những hợp đồng tưởng thưởng không đúng cách, tức là không khích lệ những người quyết định cho công ty chọn những dự án, những kế hoạch tốt nhất cho công ty.

Thí dụ, một công ty có thể phát cổ phần cho ban giám đốc làm tiền thưởng, hoặc những hứa phiếu (call option) cho phép người quản đốc được mua cổ phiếu với giá cố định, nếu giá cổ phiếu lên thì người đó đem thi hành sẽ được lợi. Nhìn qua thì thấy đây là một phương pháp tưởng lệ khiến quyền lợi của người quản lý phù hợp với quyền lợi các cổ đông, vì các cổ đông cũng chỉ mong giá cổ phiếu tăng lên.

Nhưng ngay trong phương pháp tưởng lệ này cũng lộ rõ khuyết điểm. Các vị quản đốc ở Mỹ thường thay đổi nơi làm việc rất nhiều, chỉ những người cũng làm chủ xí nghiệp mới ở lại lâu. Những người điều khiển công ty có thể quyết định những kế hoạch mang lại lợi ích nhất thời, thí dụ làm tăng giá cổ phiếu trong vòng 6 tháng hoặc một, hai năm; nhưng trong tương lai dài, 5 năm, 10 năm, có thể nhiều rủi ro, nguy hiểm. Người quản đốc đó sẽ được tưởng tưởng ngay vào lúc cuối năm, rồi nhờ thành tích tốt có thể được một xí nghiệp khác tuyển mộ, sẽ ra đi. Sau đó 5 năm, những quyết định cũ đưa tới những rủi ro làm công ty thua lỗ, nhưng người quản đốc đã bỏ tiền vào túi và đi xa rồi.

Trong thời gian xẩy ra cuộc khủng hoảng tài chánh này, người ta nhìn vào những vị quản đốc như ông Maurice “Hank” Greenberg đã điều khiển công ty AIG suốt bốn thập niên, bị ép buộc phải từ chức năm 2005. Ông nắm vận mệnh công ty này trong thời gian lập ra phân bộ chuyên về các hợp đồng bảo hiểm trái khoán, mà nay là nơi làm cho công ty lỗ hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nhưng chính ông Greenberg đang kiện công ty AIG vì đã làm cho giá cổ phần xuống khiến ông và bà vợ mất hàng tỷ Mỹ kim. Trong số các ngân hàng gặp nạn hiện nay chỉ có ngân hàng UBS của Thụy Sĩ đang đòi lại những tiền thưởng phát cho các vị cựu quản đốc, vì coi là những quyết định trong quá khứ của họ gây ra tai họa cho ngân hàng.

Làm cách nào để tránh mối tai hại vì quyền lợi nhất thời của các quản đốc không phù hợp với quyền lợi lâu dài của xí nghiệp? Nhiều người đã nhìn thấy vấn đề này, và đề nghị các xí nghiệp hãy vẽ ra những quy tắc tưởng lệ khiến người quản đốc phải quan tâm tới “quyền lợi lâu dài” của công ty, chứ không phải chỉ trong ngắn hạn. Một phương cách là các xí nghiệp tặng thưởng cổ phần cho các vị quản đốc nhưng họ chỉ được bán các cổ phần đó dần dần, trong một thời hạn, thí dụ 5 năm. Những hứa phiếu cho quyền mua cổ phần cũng chỉ được thi hành dần dần, mua từng đợt một trong thời hạn lâu dài. Một hợp đồng như vậy sẽ buộc người điều khiển công ty phải nghĩ đến lợi nhuận của công ty trong nhiều năm chứ không tập trung vào những thành quả ngắn hạn.

Nhưng trên đây chỉ là một thí dụ nhỏ về sự xung khắc giữa quyền lợi người quản đốc và quyền lợi công ty. Trong hệ thống tưởng lệ hiện nay còn có một lỗ hổng rất thông thường, là nhiều ngân hàng và xí nghiệp bị phá sản chỉ vì các vị quản đốc “làm liều” nhưng chính họ không bị mất gì hết khi xẩy ra tai họa đó.

Thí dụ, một vị quản đốc đứng trước một lựa chọn. Nếu theo kế hoạch A thì trong 10 năm ngân hàng (hoặc công ty) có thể sinh lợi lớn, hoặc có thể phá sản. Nếu theo kế hoạch B thì công ty sẽ đạt được lợi nhuận bình thường, thấp hơn, nhưng chắc chắn hơn, khó lòng bị phá sản. Người quản đốc có thể chọn kế hoạch A, tức là đánh cá trên thời vận của công ty. Nếu 10 năm sau mà công ty gặp may mắn, thì chính người quản đốc sẽ được tưởng thưởng hậu hĩ. Còn nếu thời vận xấu tới, công ty bị phá sản, thì người quản đốc cùng lắm chỉ nghỉ việc mà không bị mất thêm gì cả. Ðây giống như một vụ đánh cá bằng tiền của người khác. Các ngân hàng và xí nghiệp Mỹ biết cơ cấu tưởng lệ có thứ lỗ hổng này, nhưng lâu nay người ta không tìm cách ngăn chặn, vì chuyện phá sản là chuyện rất xa vời, không nghĩ sẽ xẩy ra. Cho tới khi cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay, cả hệ thống kinh tế tư bản ở Mỹ sẽ phải suy tính lại, chữa trị căn bệnh này.

Nhưng điều quan trọng đối với mọi người là khi một ngân hàng lớn bị cháy, cả xã hội chung quanh phải cứu, nếu không cơn cháy sẽ lan ra khắp làng khắp xóm! Ông Robert Rubin, cựu bộ trưởng tài chánh trong chính phủ Clinton sau khi về hưu làm việc trong hội đồng quản trị ngân hàng Citigroup. Năm nay ông đã nghỉ và được tưởng thưởng 115 triệu Mỹ kim. Nhưng ngân hàng Citi gặp nạn, và chính phủ cùng ngân hàng trung ương Mỹ phải cứu giúp. Ông Rubin chỉ là một trong nhiều vị quản đốc Citi, và không ai có thể buộc họ phải trả lại tiền cho các cổ đông, hay cho người dân đóng thuế đang bỏ tiền cứu ngân hàng này!

Cho nên, hệ thống kinh tế gọi là tư bản được coi là có hiệu quả hơn các hệ thống kinh tế quốc doanh trên mọi mặt, chính nó cũng còn đầy lỗ hổng. Trên đây chỉ là vài thí dụ trong phạm vi cơ cấu tưởng thưởng những người làm việc. Hiện các nước Âu Châu thiết tha hơn nước Mỹ về việc cải tổ hệ thống tài chánh, vì khi Mỹ ngã bệnh thì Âu Châu cũng bị đau! Trong những tháng tới, chính phủ và quốc hội Mỹ sẽ phải cải tổ cả hệ thống. Phải làm sao cơ cấu tưởng thưởng khích lệ người ta cố gắng làm việc nhưng không làm liều để cho người khác chịu hậu quả.

Posted: Tue Mar 24, 2009 5:18 am
by vuphong

Image

Thư Gởi Ca Sĩ Phương Dung
Nguyễn văn Hoàng

cc: anh chị em nghệ sĩ
Thưa cô Phương Dung,

Bức thư này cháu xin gởi cho cô, nhưng đồng thời cũng mong được các anh chị em nghệ sĩ trong và ngoài nước đọc chung, để chia sẻ tấm lòng của một người xa xứ.

Cháu là Hoàng, hiện ở Úc, đang sống chung với gia đình một anh bạn mà anh ta là người cô nuôi dưỡng trong nhà trước năm 1975. Thân phụ của cháu cũng là người đồng hương (Gò Công) của cô và biết phu quân của cô. Với quan hệ này, cháu thuộc hàng con cháu của cô, nên xin đuợc xưng là cháu.

Đọc được cuộc phỏng vấn của Nhiêu Huy thực hiện với cô, cháu có nhiều cảm xúc. Cháu đã chảy nước mắt.

Cũng như nhiều nghệ sĩ Việt Nam từng vượt biên ra hải ngoại, cô đã về nước và đã hát. Lòng hoài cựu, nhớ cố hương thì ai mà chẳng có, nên cháu không ngạc nhiên khi thấy cô về VN biểu diễn, nhưng cháu tự hỏi tại sao ngày trước nhà nước CSVN mắng chúng ta, trong đó có cô, là ma cô, đỉ điếm, bây giờ thì họ lại hoan nghênh cô về nước, còn tạo cơ hội cho cô hát trước đồng hương. Họ đã thay đổi chăng?

Thưa cô, thật vậy, sự thay đổi của nhà nước CSVN hẳn là có, thay đổi từ chủ trương kinh tế, đến thái độ đối với những người mà họ từng nguyền rủa. Không có gì là bất biến, thưa cô, trừ một điều, đó là lòng tham của những kẻ ích kỷ. CSVN một thời cầm súng, lấy của của người miền Bắc rồi miền Nam, bây giờ họ giàu nức tường đổ vách. Cầm súng để đoạt của cải người ta là ăn cướp. Ăn cướp cũng có thể hoàn lương, nhưng cô nhìn xem, các ông bà tư bản đỏ vẫn ngày càng giàu sụ, còn người dân thì đói. Lòng tham của họ bất biến. Chính vì có những người dân nghèo nên cô móc tiền túi ra làm từ thiện, nhưng các ông bà CSVN thì không, tiền họ vẫn đút túi. Có thể cô là người có cái tâm tốt, nhưng họ, CSVN, là người có cái trí khôn. Họ, trước thì dùng bạo lực lấy của, giờ thì dùng mưu mẹo, ra nghị quyết 36, dụ dỗ những người có cái tâm tốt mà kém trí như cô về làm thay công tác xã hội cho họ.

Số tiền tham nhũng, ăn trên xương máu của đồng bào của một tên trong đám tư bản đỏ đủ để xây hàng chục ngôi trường, hàng chục nhà thương. Nhưng họ nào có bỏ ra. Cái họ bỏ ra là một chút mẹo vặt và cô cùng những đồng hương nhẹ dạ nhào ra vốc túi. Chính trị là như vậy.

Trong khi đó, thưa cô, có những người thấy được sự nghèo khó của dân mình là do sự tham nhũng, tham quyền, ích kỷ và vô trách nhiệm của nhà nước CS. Họ muốn giải quyết tận gốc, họ lên tiếng đấu tranh và bị tù đày.

Những dòng nước mắt của cháu chảy ra khi đọc bài phỏng vấn của cô là cho những chiến sĩ này. Trong khi họ chiến đấu cho cái lớn lao, bị đày ải, thì cô vui vẻ hợp tác với cái chính quyền mưu mẹo, tham lam ấy. Cháu khóc cho dân tộc mình, sao lại có những người ngu muội như cô. Cháu hiểu được tại sao nước mình vẫn bị đám CSVN đểu cáng tham lam đè đầu, lý do đơn giản là vì có nhiều người như cô.

Tại sao họ lại phỏng vấn cô, hoan nghênh cô lên sân khấu? Có phải vì giọng ca của cô hay chăng? Thưa cô, năm nay cô đã đáng tuổi bà nội, bà ngoại rồi, tiếng hát "Yamaham" của cô làm sao mà so sánh với những giọng ca trẻ trong nước. Nhưng cô vẫn rất có giá, bởi vì cô là một nhân vật của quần chúng hải ngoại. Cô làm thì người ta bắt chước. Vì vậy mà Việt Cộng dụ cô, cũng như dụ những nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại khác.

Có thể cô không ngu muội như cháu tưởng, cô thấy được chiều sâu của nghị quyết 36, nhưng cô vẫn về, vẫn hát, vì một niềm vui riêng, hay một ít bả vinh hoa cuối đời.

Cô ơi, sao bỗng trong lòng cháu dâng lên một niềm khinh miệt. CSVN như những con cọp, chè chén trên thịt của những con nai. Cô thì trồng cỏ nuôi nai, để thỉnh thoảng được VC pha một ngọn đèn sân khấu.

Trong giấc mơ, cháu mộng tưởng cô lên tiếng một lần cho những người trong lao tù đang đấu tranh chống tập đoàn hổ báo CS, đấu tranh cho tự do và dân chủ cho dân tộc. Giật mình tỉnh dậy, ôi thôi, thấy cô đang nhoẻn cười chải lông cho hổ báo. Dù con Nhạn Trắng Gò Công mặc bao nhiêu lớp áo dài mượt mà, dù cô có đứng dưới bao nhiêu ngọn đèn sân khấu lấp lánh, cháu e rằng cái khối bầy nhầy nho nhỏ trong đầu của cô cũng không sáng bao nhiêu.

Kính chào cô,

Nguyễn văn Hoàng
(Úc châu)

Posted: Wed Mar 25, 2009 4:56 am
by thienthanh
Thời sự kinh tế: Trung Quốc đả Ðô La
Tuesday, March 24, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày 13 Tháng Ba vừa qua, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nói trước Quốc Hội Trung Quốc rằng ông muốn nước Mỹ phải bảo đảm giá trị của những món nợ mà Trung Quốc cho chính phủ và các ngân hàng Mỹ vay, ông nói thẳng là “Chúng tôi rất lo ngại.” Không nói rõ, ai cũng hiểu, mối lo đó có hai phần. Một là lo các con nợ không trả được đầy đủ vốn và lãi. Hai là khi nợ được trả lại bằng đô la Mỹ, đồng tiền đó sẽ mất giá, chủ nợ sẽ bị thiệt.

Ngày Thứ Hai vừa qua, trang nhà trên mạng lưới của Trung Quốc Nhân Dân Ngân hàng đăng một bài tham luận của ông Chu Tiểu Xuyên trong đó nhà lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương của Trung Hoa đề nghị thế giới phải bớt lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Muốn vậy, phải tạo ra một thứ tiền tệ chung để thay thế đô la Mỹ trong việc giao thương cũng như dự trữ ngoại tệ. Hiện nay Trung Quốc có một quỹ dự trữ ngoại tệ vĩ đại, trong đó 2 phần 3 là đô la Mỹ, và tổng số trị giá 1,950 tỷ đô la. Công bố bài của ông Chu Tiểu Xuyên, bằng chữ Hoa và chữ Anh, là một bước mới trong chiến dịch của giới lãnh đạo Trung Quốc tấn công vị trí của đồng tiền Mỹ, phê bình hệ thống tài chánh Mỹ nói chung và gán trách nhiệm cho nước Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay, làm cho kinh tế thế giới đồng loạt lâm nguy. Trong một tuần nữa các nhà lãnh đạo 20 nước sẽ gặp nhau trong hội nghị thượng đỉnh ở London, Anh Quốc. Giới lãnh đạo Trung Quốc lên tiếng trước để có thể ảnh hưởng trên cuộc hội nghị này.

Khi nhà lãnh đạo một nước lớn trực tiếp kêu gọi thay thế đồng đô la trong quỹ dự trữ các quốc gia, nhiều người cho rằng lời nói đó sẽ gây hậu quả tức thời là giá trị đồng đô la phải tụt xuống. Nếu chính phủ Trung Quốc bán bớt một số trái phiếu mà họ đã mua của nước Mỹ, hoặc họ ngưng mua các trái phiếu mới khi vài chục tỷ giấy nợ cũ đáo hạn, thì do luật cung cầu giá những trái phiếu của Mỹ sẽ giảm và giá trị đô la Mỹ cũng giảm theo. Cho nên họ chỉ cần nêu lên ý kiến đó thôi cũng đủ gây xáo trộn cho đồng tiền của Mỹ rồi.

Nhưng trong ngày hôm qua thị trường tiền tệ quốc tế không nao núng về giá trị đồng đô la. Ngược lại, cho đến cuối ngày, giá đô la Mỹ đã tăng lên so với đồng Euro của nhiều nước Âu Châu, và đồng Yen Nhật Bản. Hiện tượng trên xác nhận một lần nữa rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không thể ngưng việc tích trữ những giấy nợ tính bằng đô la Mỹ ở trong nhà được. Và địa vị đồng đô la trên thế giới vẫn chưa bị nao núng, mặc dù kinh tế và tài chánh Mỹ đang bị trì trệ, khủng hoảng, và trên thế giới đang có những ngoại tệ mạnh khác có thể thay thế đô la.

Trong lịch sử gần đây có một lần thế giới đã thay thế đồng tiền thông dụng nhất, đó là khi đô la Mỹ chiếm địa vị của đồng “Bảng” (pound) của Anh Quốc, để trở thành đồng tiền chung, siêu quốc gia. Một đồng tiền chung như vậy đóng hai vai trò, thứ nhất là để dùng trong mọi giao dịch thương mại. Các nhà sản xuất ở Brazil bán cho những nhà nhập cảng ở Phi Luật Tân, hay một công ty ở Ý vay nợ một ngân hàng ở Nam Phi. Các giao dịch đó dùng một đồng tiền làm đơn vị, thay vì phải đổi từ tiền nước này sang tiền nước khác, thì sẽ tránh được nhiều phí tổn và nhiều thứ rủi ro. Vai trò thứ hai của mọi đồng tiền là để dành, dự trữ tài sản một cách giản dị và ít tốn kém.

Muốn thay đổi đồng tiền thông dụng cho nhiều quốc gia, phải mất một thời gian chuyển tiếp rất lâu dài. Từ năm 1979 các nước Âu Châu đã đặt ra một đơn vị tiền tệ chung gọi là ECU, nhưng không trở thành thông dụng được. Hai chục năm sau với quyết tâm chính trị của nhiều quốc gia, đồng Euro mới ra đời thay thế cho sáng kiến trên khi mươi nước đồng lòng chịu chi các phí tổn để đạt được kết quả này. Giữa thế kỷ trước, đô la Mỹ lên ngôi thay thế đồng pound Anh Quốc là do địa vị của nền kinh tế Anh đã suy sụp sau hàng trăm năm giữ vai trò thống ngự tài chánh quốc tế. Ðồng đô la lên ngôi sau khi đã được nhiều người chấp nhận, và năm 1945 đã được một hội nghị tài chánh quốc tế đồng ý dùng làm đồng tiền tiêu chuẩn. Năm 1969, các quốc gia đã thỏa thuận đặt ra một “đồng tiền” chung, gọi là SDR (Special Drawing Rights) do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế phát hành, để tính sổ sách nợ nần với Quỹ IMF, nhưng chưa bao giờ được sử dụng như một đồng tiền thật trong dân gian. Khi ông Chu Tiểu Xuyên đề nghị tạo một đồng tiền chung cho thế giới, có lẽ ông nhắm đến việc làm cho đơn vị giao hoán SDR này trở thành thông dụng, dù mang một tên khác - cũng như đồng Euro là hậu thân của ECU vậy.

Nhưng để cho đồng Euro ra đời, các nước tham dự phải trả một cái giá là từ bỏ bớt chủ quyền, ít nhất trong lãnh vực chính sách tiền tệ. Chính phủ các nước này không còn khả năng thay đổi lãi suất, thay đổi khối lượng tiền lư hành, do đó cũng không nắm chắc được các chính sách về tiết kiệm, đầu tư ở trong nước mình. Họ nhường cho một định chế chung, là Ngân Hàng Âu Châu ấn định những chính sách đó. Ðến bao giờ các nước trên thế giới chấp nhận sự hy sinh đó? Bao giờ những quốc gia lớn như Nhật Bản, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nam Hàn, Brazil, Nam Phi, và Nga, vân vân, sẽ thỏa thuận được với nhau về vấn đề này? Trong thời gian chuyển tiếp từ đồng đô la Mỹ sang đồng tiền quốc tế mới, có những phí tổn thì các quốc gia chia nhau chịu đựng ra sao? Ðó là những trở ngại, về chính trị và về kỹ thuật, khiến cho việc thay thế đồng đô la Mỹ còn phải chờ nhiều thập niên nữa mới thành tự được.

Hiện nay khi thế giới sử dụng đô la Mỹ để giao dịch và dự trữ ngoại tệ thì nhiều quốc gia cũng chịu thiệt thòi để nước Mỹ được lợi. Chúng ta có thể tưởng tượng một người có quyền in tiền ra để tiêu dùng thì giầu có biết bao nhiêu! Nước Mỹ đang đóng vai trò như vậy. Người có quyền in tiền đó chỉ bị giới hạn là phải giữ tín nhiệm, làm sao cho đồng tiền của mình luôn luôn có giá trị thật, là do vì quyền lợi của chính mình mà thôi. Nhưng các nước khác đã quen hưởng những ích lợi của việc dùng đồng tiền chung, và cũng quen chịu đựng những thiệt thòi, cho nên muốn thay đổi sẽ khó khăn.

Chúng ta biết rằng mỗi đồng bạc là một thứ giấy nợ. Trên mỗi đồng đô la Mỹ có ghi: Federal Reserve Note, nghĩa là “giấy nợ của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang.” Một nước phát hành thêm tiền nghĩa là phát thêm giấy nợ cho thiên hạ cất vào túi; nói cách khác là đi vay của thiên hạ về mà sử dụng! Chính sách tiền tệ của Mỹ ảnh hưởng tới tất cả các nước dùng đô la Mỹ để quy định hối suất đồng tiền của mình. Kể từ Tháng Tám năm 2008 đến Tháng Ba năm 2009, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã phát hành thêm hơn 770 tỷ đô la để cho nhiều ngân hàng và công ty tài chánh vay, kể cả nhiều ngân hàng trung ương các nước; và trong tuần trước ông chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang mới cho biết sẽ phát hành thêm hơn một ngàn tỷ đô la nữa để mua các công trái và trái khoán nhiễm dựa trên địa ốc. Trong khi đó, các nước Á rập bán dầu lửa và Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục làm chủ nợ của nước Mỹ. Ông Ôn Gia Bảo rất có lý khi tỏ ý lo lắng về giá trị đồng đô la xuống, do đó, giá trị những công trái của chính phủ Mỹ và các trái khoán tư ở Mỹ mà Trung Quốc đã mua (mỗi thứ trên 700 tỷ Mỹ kim) sẽ lên xuống mà chính phủ Bắc Kinh không có chút quyền kiểm soát nào trên đó.

Có một chuyện chắc không thể nào xẩy ra trong thời buổi này, nhưng cũng nên nhắc lại. Thời Tổng Thống Franklin Roosevelt, ông đã bãi bỏ không dùng vàng làm bản vị cho đồng đô la nữa. Với một chữ ký của ông tổng thống, đồng tiền xuống giá khiến tất cả các món nợ tính bằng đô la Mỹ bị mất 75%! Hôm trước, cho vay một đô la là một đô la; hôm sau con nợ trả lại một đô la thì giá trị chỉ còn 25 xu thôi! Hiện nay đồng đô la không dựa trên vàng hay một thứ gì khác, ngoài giá trị của nó khi trao đổi. Giá trị đó hoàn toàn do chính phủ Mỹ bảo đảm, nếu kinh tế Mỹ còn giữ được tiềm năng mạnh nhất thế giới. Người ta tin ở đồng đô la vì biết có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ ở nước Mỹ. Chính khả năng sản xuất, làm việc, cải tiến, phát minh, khi cung cấp hàng hóa và dịch vụ của dân Mỹ, là thứ bảo đảm cho đồng đô la.

Ngày hôm qua, Thứ Ba, Tổng Thống Mỹ Barack Obama đã họp báo để trấn an dân Mỹ cũng như thế giới về các chương trình cứu nguy hệ thống tài chánh Mỹ. Những điều ông Obama nói không có gì mới hơn những tin tức đã được loan báo trong một tuần. Ngày Thứ Hai, ông bộ trưởng tài chánh đã công bố chương trình giải tỏa những chứng khoán nhiễm độc hiện đang “nằm chết cứng” trong các ngân hàng. Ðặc điểm của kế hoạch này là chính phủ Mỹ đã kêu gọi giới đầu tư tư nhân tham dự việc mua các chứng khoán này, thay vì chỉ có chính phủ đúng ra mua như đã có người đề nghị. Có thể nói là chính phủ Mỹ đang tìm cách “dụ dỗ,” đã “hối lộ,” mua chuộc các ngân hàng và quỹ đầu tư để họ cùng giải tỏa cái nút kẹt làm tắc nghẽn cả hệ thống kể từ giữa năm ngoái tới giờ. Khi thị trường chứng khoán tăng thêm 500 điểm trong ngày Thứ Hai, người ta thấy là phản ứng có vẻ thuận lợi. Ngày Thứ Năm, ông Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner lại ra trước Quốc Hội điều trần về kế hoạch cải tổ toàn diện hệ thống kiểm tra ngân hàng và các công ty tài chánh, đầu tư ở Mỹ. Ngày Thứ Sáu, ông Obama sẽ gặp các người lãnh đạo hàng chục ngân hàng lớn nhất nước Mỹ để nghe phản ứng của họ trước những kế hoạch trên, cũng như nghe ý kiến họ phê bình ngân sách mà chính phủ đang muốn xin Quốc Hội phê chuẩn. Ít khi một ông tổng thống Mỹ đích thân gặp riêng các “chủ ngân hàng” như vậy. Ngày Thứ Tư chính ông sẽ đi gặp các đại biểu Quốc Hội đảng Dân Chủ để “lóp bi” cho ngân sách này. Trong ngày Thứ Ba, ông Obama đã đăng một bài ý kiến trên 31 tờ báo khắp thế giới, để chuẩn bị dư luận trước ngày ông sang London họp với các nước G-20. Thị trường sẽ đáng giá tất cả những hành động đó để cho thấy người ta tiên đoán kinh tế nước Mỹ ra sao.

Dù chính phủ Bắc Kinh có nói Ðông nói Tây, cuối cùng giá trị của đồng đô la Mỹ sẽ tùy thuộc vào sức mạnh kinh tế lâu dài của nước Mỹ. Nhưng chúng ta có thể tin khi nào các điều kiện đã chín mùi, vai trò của đồng đô la sẽ bị thay thế mà không gây xáo trộn nào cho kinh tế thế giới cũng như cho nước Mỹ. Chuyện đó có thể xẩy ra trong vòng 30 hay 50 năm nữa, hay lâu hơn?

Posted: Sun Mar 29, 2009 3:16 am
by dailien
LÊ TRẦN LUẬT VÀ TRẬN ĐỒ CỦA MA QUỶ

Đỗ Thái Nhiên

Image
Luật sư Lê Trần Luật và vợ con.
Như mọi người đã biết: Lê Trần Luật là một luật sư xuất thân từ trường lớp giáo dục Marx Hồ của chế độ Hà Nội nhưng lại rất kiên trì và can đảm đeo đuổi con đường đấu tranh đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao đa số thân chủ luật sư Lê Trần Luật là dân oan, những người yêu chuộng tự do dân chủ, những người Việt Nam quyết tâm chống xâm lược Bắc Kinh, các tôn giáo bị tước quyền hành đạo, những công dân chống tham ô nhũng lạm…

Từ đó, luật sư Lê Trần Luật là cái gai cực kỳ nhức nhối trên trán của chế độ Hà Nội. Thời gian gần đây, luật sư Lê Trần Luật nhân lời biện hộ cho tám giáo dân Thái Hà trong vụ án chống lại hai cơ quan truyền thông quốc doanh về tội đã vu khống và bôi nhọ người dân. Nhân vụ này luật sư Luật đã dồn CSVN vào tận góc tường. Tại góc tường, chế độ Hà Nội đã hiện nguyên hình: Họ là một chế độ chuyên ăn gian, nói dối, chuyên bảo vệ quyền thống trị độc tài và tham ô bằng những thủ đoạn vu oan, giá họa cho người dân. Vu kiện của tám giáo dân Thái Hà là giọt nước sau cùng của ly nước đã đầy. Với bản chất hiểm ác, CSVN đã và đang thực hiện một số âm mưu độc hại nhằm vào cá nhân luật sư Luật. Những âm mưu đó như sau:

Nghề luật sư là nghề cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ pháp lý cần thiết. Quan hệ giữa luật sư và thân chủ là một khế ước dân sự. Nếu xảy ra tranh chấp giữa luật sư và thân chủ về khế ước kia thì tòa án xét xử là tòa dân sự. Án văn của tòa dân sự là án đòi hỏi bị đơn phải bồi hoàn thiệt hại cho nguyên đơn. Không có án tù trước tòa dân sự. Thủ tục tranh tụng vừa kể là một thủ tục do luật tố tụng dân sư chi phối.

Không có luật sư nào trong quá trinh hành nghề lại không gặp “một vài thân chủ khó tính”. Một trong những thân chủ khó tính của luật sư Luật là công ty Huy Hồng. Chúng ta tạm gác qua một bên vấn đề Huy Hồng có là một công ty quốc doanh hay thân cận với quốc doanh hay không. Chỉ biết rằng trước tòa án dân sự đôi bên đã thỏa thuận với nhau hai điều.

1) Một là v/p LS Luật hoàn lại cho Huy Hồng một nửa tiền sở phí. Trước phiên tòa Luật sư Luật đã giao trả cho Huy Hồng 42 triệu đồng Việt Nam. Số còn lại sẽ giao trả tiếp theo lệnh của cơ quan thi hành án.

2) Hai là khế ước giữa V/p LS Luật và Huy Hồng hoàn toàn chấm dứt. Đôi bên không còn điều gì để khiếu nại lẩn nhau.

Nhìn vào bản án kia mọi người đều hiểu đó là một án văn dân luật. Nó mạnh mẽ xác nhận vụ việc LS Lê Trần Luật và công ty Huy Hồng tuyệt đối không dính dáng tới tội lường gạt của luật hình.

Thế nhưng khi tiến hành thủ tục tiếp tục thanh toán tiền bồi hoàn cho công ty Huy Hồng theo đúng phán quyết của tòa dân sự, LS luật đã gặp trở ngại. Cơ quan thi hành án rất nhiều lần từ chối nhận tiền của LS Luật. Tại sao CSVN lại cố tình kéo dài thời gian thi hành án? Thưa rằng: Đùng một cái ngày 24/02/2009 v/p LS Luật nhân được lệnh cưởng chế thi hành án. Thế rồi ngay ngày hôm sau 25/02/2009 nhân viên công an tới tận văn phòng LS luật để thi hành lệnh cưởng chế. Sự việc vừa kể có các điều mờ ám sau đây:

1) Luật dân sự tố tụng đòi hỏi: trước khi ban bố lệnh cưởng chế, cơ quan thi hành án phải gửi cho đương sự tờ đốc thúc trả tiền. Báo cho đương sự biết nếu không trả tiền thì thủ tục cưởng chế sẽ thực hiện. Văn phòng Ls Luật vừa bị cơ quan thi hành án tránh né nhận tiền, vừa không hề nhận được tờ đốc thúc trả tiền.

2) Vẫn theo dân sự tố tụng: từ ngày tống đạt lệnh cửơng chế cho đến ngày thực hành lệnh cưởng chế phải là bảy ngày. CSVN thi hành lệnh cưởng chế chỉ một ngày sau khi tống đạt lệnh. Lệnh cưởng chế được thi hành đúng lúc Ls Luật vắng mặt tại văn phòng. Mặt khác trọng tâm của lệnh cưởng chế là việc thâu hồi tiền nợ. Thế nhưng, khi thi hành lệnh cưởng chế tại văn phòng ls Luật, công an lại từ chối nhận tiền, họ chỉ lấy đi tất cả máy điện toán của ls Luật.

Ghi nhận và suy nghĩ về diễn tiến của sự kiện v/p ls Luật bị cưởng chế dư luận hiểu ngay: Nay mai công an sẽ loan truyền tin tức rằng các dàn máy điện toán của ls Luật có chứa đựng vô số tài liệu chứng minh ls Luật: âm mưu lật đỗ chế độ Hà Nội, âm mưu làm gián diệp cho ngoại bang, âm mưu liên kết với thế lực thù địch hải ngoại…

Chưa hết, những ngày gần đây, CSVN mạnh mẽ và liên tục tấn công ls Lê Trần Luật bằng hai quỷ kế. Một mặt báo Công An không ngừng vu khống và bôi nhọ ls Luật bằng những bài báo mô tả vị luật sư trẻ tuổi này như là một kẻ chuyên nghề lừa đảo và “ăn quịt tiền” của thân chủ. Mặt khác công an tìm đến tận nhà giới thân chủ của ls Luật để vừa đe dọa vừa thuyết phục những người này hãy kiện ls Luật để hủy bỏ hợp đồng với v/p ls Luật và đòi lại tiền. Thế nhưng, những cuộc phỏng vấn của thông tín viên Hiền Vy, đài Á Châu Tự Do ngày 14/03/2009 dành cho các thân chủ của ls Lê Trần Luật cho thấy những thân chủ này đều xác nhận ls Luật là một luật sư lương hảo và họ từ chối hành động theo sự xúi dục của công an.

Nói tóm lại, chế độ Hà Nội đã và đang thực hiện bốn quỷ kế:

(1) Hình sự hóa quan hệ giữa ls Lê Trần Luật với thân chủ.

(2) Cưởng chiếm máy vi tính của ls Luật để từ đó vu khống rằng trong các máy vi tính kia chất chứa vô số bằng chứng của những tội phạm hình sự mà công an sẽ tùy nghi gán ghép cho ls Luật.

(3) Hủy diệt mọi liên hệ giữa luật sư và thân chủ. Chấm dứt vĩnh viễn công việc kinh doanh của luật sư Lê Trần Luật.

(4) Sau cùng tòa án CSVN sẽ áp dụng luật rừng xanh để đưa luật sư Lê Trần Luật vào nhà tù.

Hẳn nhiên, Hà Nội thừa biết bốn quỷ kế nêu trên không thể che mắt công luận. Thế nhưng Hà Nội vẫn quyết tâm đẩy quỷ kế đi tới với hai chủ đích:

1) Tính chất lộ liểu của quỷ kế không làm cho quỷ kế thất bại, nếu con người biết khai thác hiệu ứng Tăng Sâm. Tăng Sâm vốn là người đôn hậu. Mẹ của Tăng Sâm tuyệt đối tin vào bản tính yêu người của Tăng Sâm. Một hôm có người bảo với bà Mẹ: “Tăng Sâm giết người”, Bà Mẹ không tin. Người thứ hai nhắc lại, Mẹ vẫn không tin. Đến người thứ ba mạnh mẽ xác nhận: “Tăng Sâm giết người”, bà Mẹ điên loạn chạy trốn. Thế mới biết tác dụng kinh hồn của phương pháp tuyên truyền lặp đi, lặp lại nhiều lần. Bốn quỷ kế của Hà Nội nếu đi kèm với “phép tuyên truyền Tăng Sâm” sẽ có lúc làm cho dư luận thành thật tin là luật sư Lê Trần Luật quả thực đã phạm pháp.

2) Bốn quỷ kế kể trên kết hợp với hiệu ứng Tăng Sâm hiển nhiên là một đe dọa lớn đối với những chiến sĩ tự do dân chủ đang sống dưới quyền thống trị của CSVN. Hà Nội tin là đe dọa kia sẽ dập tắp mọi nhiệt tình đấu tranh chống độc tài tham ô.

Đối diện với một loạt mưu mô ma quỹ vừa trình bày, cuối tháng 02/2009, luật sư Lê Trần Luật nói với thông tín viên Hoàng Hà của Radio Chân Trời Mới rằng:
“Cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra, tôi cũng như quí vị, đừng bao giờ sợ hãi. Phải vượt qua sự sợ hãi. Có như vậy chúng ta mới có thể đấu tranh cho đất nước Việt Nam trở nên tốt dẹp hơn”.

Luật sư Lê Trần Luật là một thanh niên yêu nước nồng nhiệt. Chúng ta phải làm gì để chia xẻ với ls Luật gánh nặng mà Lê Trần Luật đang gánh chịu? Trong hoàn cảnh hiện nay của xã hội quốc tế, pháp luật quốc tế không có bất kỳ thủ tục pháp lý nào có thể giải cứu cho ls Luật một cách kip thời và hữu hiệu.

Giải pháp còn lại chỉ là hành động tuyên truyền kiểu Tăng Sâm nhưng ngược chiều với CSVN. Nếu Hà Nội biến không (Không phạm pháp) thành có thì chúng ta, những người Việt yêu tự do dân chủ, chỉ làm một công việc: vận dụng khoa tuyên truyền lặp đi lặp lại nhiều lần của Tăng Sâm chỉ để phổ biến cái có là có thật. Điều này có nghĩa là chúng ta mỗi người hãy viết thật nhiều về ls Lê Trần Luật trong nhiều vụ việc khác nhau, bằng nhiều kiểu diễn tả khác nhau. Nhưng tất cả đều tập trung vào chủ đề: Lê Trần Luật vô tội, Lê Trần Luật yêu nước, CSVN đã ám hại người yêu nước bằng thủ đoạn yêu ma. Sau đó chuyển tải những bài viết kia đi khắp thế giới, quay ngược vào Việt Nam. Viết và phổ biến, cứ như vậy mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Xin nhớ cho rằng tại Việt Nam ngày nay có rất nhiều vụ Lê Trần Luật.Vì vậy chúng ta có rất nhiều cơ hội tuyên truyền lăp đi lặp lại kỳ cho đến lúc toàn thể Việt Nam cũng như toàn thể thế giới hiểu thật sâu sắc, thấy thật rõ bản chất cực kỳ gian ác và tham ô của CSVNi. Khi những thấy và những hiểu biết kia lên tới tuyệt đỉnh chính là thời điểm cáo chung của chế độ Hà Nội, một chế độ độc ác có một không hai trong lịch sử Việt Nam.

Đỗ Thái Nhiên

Posted: Tue Mar 31, 2009 2:42 am
by thienthanh
Trung Quốc ngày càng bộc lộ dã tâm Nam tiến Biển Đông

Tác giả: Thanh Quang, phóng viên đài RFA

Giữa lúc VN và Trung Quốc thường nhắc tới mối quan hệ hợp tác nồng thắm và giải quyết các tranh chấp trong tinh thần hòa bình, hữu nghị thì Bắc Kinh trong thời gian gần đây xem chừng như ngày càng có hành động hoành hành, lấn lướt ở Biển Đông.

Điều này trở nên rõ hơn khi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vừa công bố một bản phúc trình, cảnh báo về sự bành trướng quân sự ráo riết của Hoa Lục. Tổng hợp thông tin liên hệ, Thanh Quang trình bày tình hình như sau:

Lãnh đạo VN: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt

Hồi tháng rồi, Phó Thủ tướng VN, ông Phạm Gia Khiêm, đã thực hiện quyết định của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bằng cách ban thưởng Huân chương Lao động hạng nhì cho ông Vũ Dũng lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao, vì điều gọi là “thành tích xuất sắc trong công tác biên giới, lãnh thổ”.

Báo điện tử Pháp Luật trích dẫn lời Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cho biết ông Vũ Dũng, hiện là Đại sứ VN tại LHQ, đã “có nhiều sáng kiến, tìm tòi giải pháp, đi tới kết thúc đàm phán và hoàn thành việc phân giới cắm mốc, giữ vững chủ quyền lãnh thổ” của VN.

Trong cuộc gặp gỡ mới đây ở Hà Nội giữa Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Ủy viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc của TQ, hai bên đánh giá cao việc hoàn thành công tác phân giới Việt-Trung, cho rằng điều này tạo tiền đề xây dựng đường biên giới chung hòa bình, hữu nghị, ổn định dài lâu.

Thứ Ba vừa rồi, khi long trọng tiếp đón Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân TQ là Thượng tướng Trần Bỉnh Đức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh rằng “VN trước sau như một không ngừng vun đắp mối quan hệ hữu nghị VN và TQ, góp phần đưa 2 nước trở thành láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, và ông Dũng cũng không quên nhắc lại rằng “Đảng, Nhà nước và nhân dân VN luôn ghi nhớ sự giúp đỡ quý báu của TQ đã dành cho VN”.

Bành trướng quân sự, quốc phòng

Đó là một vài nỗi niềm điển hình mà giới lãnh đạo VN bày tỏ với đàn anh Phương Bắc diễn ra giữa lúc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, hôm thứ Năm tuần này, công bố một bản phúc trình báo động việc Bắc Kinh gia tăng ngân sách quốc phòng hơn hẳn các nước trong khu vực, cũng như ra sức phát triển phi đạn đạo, tàu ngầm tấn công cùng nhiều loại võ khí, chiến cụ hiện đại khác, đang đe dọa tới thế tương quan lực lượng không những trong mà còn ngoài phạm vi Á Châu. Vẫn theo bản phúc trình, ưu thế như vậy của Hoa Lục có thể nhằm mục đích thực hiện lời tuyên bố về chủ quyền của họ ở vùng biển Đông.

Bản phúc trình của Bộ Ngoại giao Mỹ lần đầu tiên xác nhận rằng TQ đã xây một căn cứ hải quân mới ở đảo Hải Nam, có thể nhằm phục vụ cho đội tàu ngầm ngày càng tăng vốn được trang bị hỏa tiễn đạn đạo, mở đường cho hải quân TQ án ngữ và khống chế các thủy lộ quốc tế chủ chốt.

Gây hấn với Mỹ

Dấu hiệu TQ khống chế vùng Biển Đông ngày càng rõ nét khi gần đây nhất, hải quân TQ có hành động gây hấn nguy hiểm đối với tàu không võ trang Impeccable của Hoa Kỳ, và ngay sau đó đưa tàu ngư chính 311 tới hoạt động ở vùng biển này, thực hiện điều mà TQ nói là tuần tra khu đặc quyền kinh tế của họ.

Áp lực BP và Exxon Mobil

Trong vòng chưa đầy 3 năm qua, TQ xem chừng như thể hiện quyết tâm đạt đến mục tiêu “ranh giới lưỡi bò” hình chữ U vốn chiếm 75% diện tích Biển Đông mà họ công bố cách nay 60 năm, bằng cách áp lực tập đoàn dầu khí BP của Anh ngưng hợp tác khai thác dầu khí với VN hồi năm 2007, áp lực tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ phải ngưng hợp tác với VN hồi năm 2008, công bố dự án vốn 29 tỷ đô-la của Công ty Dầu khí hải dương TQ nhằm khai thác dầu ở Biển Đông, thậm chí vẽ ranh giới lưỡi bò vào bản đồ rước Đuốc Thế Vận Bắc Kinh. Đó là chưa kể hành động bắn giết nhiều ngư dân VN vốn đánh cá ở vùng biển lâu nay của họ.

Khai thác quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa


Giữa lúc giới lãnh đạo Việt-Trung thường xuyên khẳng định giải quyết mọi tranh chấp bằng phương pháp hòa bình và hợp tác cùng phát triển, nhiều dấu hiệu cho thấy TQ, sau khi chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa hồi năm 1974 từ VNCH, đã tiến hành xây căn cứ quân sự, sân bay, cơ sở hạ tầng, khai thác du lịch ở đó; thực hiện những cơ sở tương tự ở 6 đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà họ chiếm từ tay quân đội CSVN hồi năm 1988, đơn phương thăm dò khai thác tài nguyên ở vùng biển tranh chấp, ráo riết tuyên truyền với thế giới về chủ quyền của họ trên Biển Đông, cho thấy chiến lược “Nam tiến” Biển Đông của họ qua ý đồ và nỗ lực tăng cường Hạm đội Nam Hải.

VN cần phải làm gì?

Thanh niên sinh viên Việt Nam biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Quốc hôm 9-12-2007 để phản đối việc Bắc Kinh hợp thức hóa việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Trong tình thế như vậy, lần đầu tiên một cuộc hội thảo về tranh chấp chủ quyền Biển Đông đã diễn ra ở Hà Nội hôm 17 tháng Ba vừa rồi, đề cập thẳng tới các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, “đường lưỡi bò” của TQ.

Báo VietnamNet trích dẫn lời một tham dự viên – chuyên gia của Viện KHXHVN, nói rằng “Chủ quyền là thiêng liêng và không thể nhân nhượng, thế nhưng không thể giữ chủ quyền chỉ bằng cảm tính”.

Các học giả tham dự cuộc hội thảo nhấn mạnh rằng “VN phải chuẩn bị kỹ luỡng, xây dựng lực lượng đàng hoàng để nói được, trao đổi được với đối tác”.

Giữa lúc giới cầm quyền VN bị chỉ trích là quá yếu với TQ nhưng mạnh tay với người dân biểu tình phản đối hành động vừa nói của Bắc Kinh, trong khi Thứ trưởng Thường Trực Bộ Ngoại giao VN Phạm Bình Minh nhấn mạnh tới “điểm tựa phía sau là cả dân tộc”, thì báo VietnamNet số ra trung tuần tháng này đăng bài tựa đề “ ‘Cuộc chiến’ không cân sức giữa giới học giả VN và TQ”, có đoạn lưu ý rằng “Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa VN và TQ mặc nhiên được coi là ‘nhạy cảm’, ‘mật’.”

Theo bài báo thì “Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi trên thực tế, ‘VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của VN đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’ như khẳng định của Bộ Ngoại giao VN.”

Theo TS Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Nghiên Cứu Hán Nôm VN, thì “so tương quan lực lượng với TQ trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả VN vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội”.

Báo Tuần VNNet trích dẫn lời TS Nguyễn Trọng Bình nhấn mạnh rằng “VN tuyệt đối không nên ủng hộ quan điểm của TQ mà nên ủng hộ việc duy trì tập quán quốc tế, một giải pháp quốc tế cho vùng Biển Đông” và, vẫn theo TS Nguyễn Trọng Bình, “VN cần mau chóng hoàn thành bản đồ lãnh hải vùng Biển Đông để đăng ký với LHQ trước ngày 13 tháng 5 năm 2009.

Posted: Thu Apr 02, 2009 1:09 am
by vuphong
Thời sự kinh tế: Phá sản tạo cơ hội làm lại

Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần qua, ông Steven Rattner đã mời ông Rick Wagoner, chủ tịch tổng giám đốc công ty General Motors tới văn phòng của mình ở Bộ Tài Chánh. Ông Rattner, người phụ trách vấn đề cứu các công ty sản xuất xe hơi từ Tháng Hai vừa qua, báo tin cho ông Wagoner biết nếu muốn chính phủ tiếp tục nghiên cứu việc cứu công ty, thì ông cùng với nhiều thành viên trong hội đồng quản trị công ty phải từ chức để người khác lên thay và đổi cách điều hành công ty sản xuất xe hơi lớn nhất nước Mỹ, và trước đây vài năm còn lớn nhất thế giới.

Năm ngoái, có lẽ không ai tưởng tượng nổi chính phủ Mỹ có thể yêu cầu những người lãnh đạo một công ty kỹ nghệ nghỉ việc. Ðây là một hành động hoàn toàn trái ngược với một quy tắc trong kinh tế tư bản, là chính phủ không can thiệp vào nội bộ của một công ty tư nhân, quy tắc thiêng liêng như đã được ký kết “hợp đồng xã hội” của nước Mỹ, giữa chính phủ và dân, giữa các người làm chính trị và giới làm kinh tế.

Nhưng kinh tế tư bản ở Mỹ đang thay đổi. Từ Tháng Mười năm ngoái chính phủ Mỹ đã bổ nhiệm người đứng điều khiển đại công ty bảo hiểm AIG, quốc hội đã ứng 700 tỷ Mỹ kim cứu nguy các ngân hàng và công ty tài chánh, cũng như chính phủ đã cho 2 công ty General Motors và Chrysler vay hơn 17 tỷ đô la vào Tháng Mười Hai năm ngoái. Qua các hành động đó, hầu hết mọi người đồng ý là muốn cứu kinh tế tư bản thì nhà nước phải can thiệp.

Trong bầu không khí đó, hành động “can thiệp trắng trợn” của ông Rattner không khiến mọi người ngạc nhiên nữa. Các chuyên viên của ông đã nghiên cứu trong hơn một tháng chương trình cải thiện do 2 công ty này nộp, họ kết luận nếu tiếp tục như vậy thì cả 2 công ty vẫn chưa có lối thoát và người dân đóng thuế ở Mỹ sẽ còn phải đổ tiền vô cứu trợ không biết bao giờ ngưng. Bây giờ, chính phủ cho Chrysler một tháng, và General Motors sẽ có 2 tháng, để đưa ra những giải pháp mới để thuyết phục chính phủ đưa thêm cho họ gần 22 triệu nữa, nếu chính phủ vẫn chưa hài lòng thì cho cả hai phá sản. Nước Mỹ có 3 công ty xe hơi lớn, việc phá sản của General Motors và Chrysler sẽ để lại một công ty Ford, chính thức chấm dứt thế kỷ huy hoàng của thành phố Detroit, mà tình trạng suy yếu đưa tới sụp đổ đã bắt đầu từ hơn 30 năm nay.

Câu hỏi là: Chính phủ Obama sẽ cứu các công ty General Motors và Chrysler hay sẽ để cho họ phá sản? Ðối với vị tổng thống nhậm chức chưa được 100 ngày, cả hai lựa chọn này đều bất lợi cho ông về mặt chính trị - người Mỹ gọi là một tình trạng chỉ có thua, không có thắng (no win situation).

Nhưng chính vì quyết định cách nào cũng là chịu thua, cho nên có lẽ việc quyết định sẽ dễ dàng hơn. Vì ông Obama có thể không cần nghĩ tới lợi ích chính trị của chính mình nữa mà quyết định với một tiêu chuẩn khác. Ðó là bảo vệ quy tắc căn bản của nền kinh tế thị trường, trong đó mọi người và mọi tổ chức kinh tế chịu trách nhiệm về hành động của mình, khi thất bại thì chấp nhận khai phá sản, cải tổ cơ cấu để bắt đầu lại từ đầu.

Trường hợp công ty Chrysler có lẽ dễ nhìn thấy lợi hại hơn. Chính phủ Obama đang đề nghị công ty này bán một phần (khoảng 20%) cho công ty Fiat của Ý. Chính phủ sẽ cung cấp cho họ khoảng 6 tỷ đô la nữa để tiếp tục hoạt động. Người ta sẽ tính ra rằng họ phải bỏ 10 tỷ đô la, cũ và mới, các chủ nợ của công ty phải xóa nợ 7 tỷ đô la nữa, tất cả để bảo vệ công việc làm cho 50,000 công nhân của Chrysler, như thế là muốn cứu mỗi công việc làm phải chi 340,000 đô la, trong đó có 200,000 của dân đóng thuế ở Mỹ. Nếu dân chúng Mỹ quyết định, thì họ sẽ chọn cứu Chrysler hay cho phá sản?

Trường hợp General Motors phức tạp hơn, vì nhãn hiệu GMC đã từng có thời là nhãn hiệu của sức mạnh công nghiệp của cả nước Mỹ, và công ty này không đưa ra được một kế hoạch cải tổ thỏa đáng đến nỗi nhà nước phải can thiệp cũng vì nhiều nhóm quyền lợi trong đó không ai chịu nhường ai.

General Motors và các công ty xe hơi ở Mỹ nói chung có hai vấn đề lớn khiến họ bị các công ty ngoại quốc qua mặt khi đến Mỹ mở nhà máy sản xuất, thứ nhất là ban giám đốc họ nhắm vào những lợi ích ngắn hạn và chi phí về lao động quá cao. Những chiếc xe của công ty Honda hoặc Toyota sản xuất với giá thành rẻ hơn, vì họ chi phí về công nhân lao động thấp hơn. Các công ty Mỹ chịu những khoản chi lao động đặc biệt vì đã ký kết hợp đồng với Công Ðoàn UAW của các công nhân ngành xe hơi, nhiều hợp đồng ký từ hai ba chục năm trước khi xe Mỹ chưa bị xe các nước khác cạnh tranh gắt gao. Theo các hợp đồng này, nhiều khi công ty không có việc làm vẫn phải trả lương cho công nhân để họ ngồi ở nhà. Các công nhân về hưu được hưởng hưu bổng và bảo hiểm y tế rất cao, cho đến hết đời. Các công ty từ Ford đến General Motors đều nhìn ra rằng các xưởng máy của họ ở Canada sản xuất mỗi chiếc xe với giá thành rẻ hơn, vì bên đó mọi dịch vụ y tế đều do chính phủ đảm nhiệm.

Khi một công ty thua lỗ, các cổ đông, tức là những chủ nhân cổ phần của công ty phải chịu hy sinh, mất tiền, điều này ai cũng đồng ý. Nhưng còn hai thành phần liên hệ có quyền lợi khác nhau nữa là các chủ nợ, và các công nhân và nhân viên trong công ty. Ðể tránh cho công ty khỏi phá sản, cả hai thành phần này cũng phải chịu chia sẻ sự thiệt hại. Chính phủ Obama đã yêu cầu công ty General Motors phải đạt được sự thỏa thuận của các ngân hàng và chủ nhân các trái khoán chịu giảm bớt các khoản nợ tích lũy từ nhiều năm, cũng như Công Ðoàn UAW phải chịu bỏ bớt những quyền lợi của đoàn viên để giảm chi phí sản xuất.

Nhưng trong hơn ba tháng vừa qua, General Motors chỉ đạt được những nhượng bộ nhỏ của các trái chủ cũng như của nghiệp đoàn. Ðó là lý do ông Steven Rattner thấy kế hoạch cải tổ của họ không bảo đảm là công ty sẽ phát triển và đứng vững được trong những năm sắp tới. Trong bản kế hoạch của họ nộp cho ông Rattner, General Motors tiên đoán sang năm 2011 họ sẽ bán được 14.3 triệu chiếc xe, trong khi năm nay bán được 9 triệu xe. Những con số đó quá lạc quan. Ngày hôm qua công ty Honda ở Mỹ đã công bố sẽ giảm bớt hơn 200,000 đơn vị trong số sản xuất năm nay, chỉ còn chế tạo 1 triệu 250 ngàn chiếc xe hơi.

Nỗi khó khăn của General Motors là hai nhóm quyền lợi, chủ nợ và công đoàn bên nào cũng muốn bên kia phải chịu thiệt thòi thêm, còn mình thì đã nhượng bộ đủ rồi. Nếu trong 60 ngày tới ban giám đốc mới của công ty không thuyết phục họ đi tới một thỏa hiệp giảm bớt chi phí nữa, thì chính phủ Obama sẽ để cho phá sản.

Dân Mỹ đã quá chán ngán về các chương trình cứu giúp các ngân hàng của chính phủ, dùng tiền của người dân đóng thuế. Giúp 2 công ty General Motors và Chrysler thêm 21 tỷ đô la nữa không có gì hấp dẫn đối với dân Mỹ, nhất là lại giúp công ty Fiat trở thành chủ nhân một phần của Chrysler. Nhưng ông Barack Obama sẽ bị chỉ trích nếu không giúp 2 công ty xe hơi, sau khi chính phủ Mỹ đã dùng hàng ngàn tỷ để giúp các ngân hàng. Chính phủ có thể nghĩ khác người dân bình thường. Các công ty xe hơi chỉ ảnh hưởng trên các gia đình công nhân của họ và của các công ty bán xe và cung cấp bộ phận cho xe hơi. Còn các ngân hàng liên hệ đến tất cả mọi người, từ người kinh doanh đến người tiêu thụ ở khắp nơi. Người dân bình thường ở Mỹ không hiểu được những mạng lưới tài chánh phức tạp là lý do phải cứu các ngân hàng. Những người sẽ lên tiếng chỉ trích chính phủ nặng nhất sẽ là các công đoàn, trong đó có UAW, là thành phần đã ủng hộ Tổng Thống Obama từ lâu. Người ta sẽ nói chính phủ Obama chỉ cứu các nhà tư bản ở Wall Street mà bỏ rơi các công nhân.

Nhưng việc cứu giúp 140,000 đoàn viên của công đoàn UAW có thể khiến nhiều người lao động khác ở Mỹ có thể bất mãn. Hàng triệu công nhân làm việc ngoài Detroit đã bị mất việc, họ không được cứu. Công nhân làm việc tại các công ty Toyota, Honda cũng là người Mỹ, và họ đã chịu thiệt thòi vì lương bổng thấp hơn, nay lại bị thiệt thòi hơn. Chủ nhân các cổ phần của Honda, Toyota, Nissan ở Mỹ phần nhiều cũng là người Mỹ, họ sẽ thấy bị đối xử bất công.

Tóm lại, dù cứu hay không cứu hai công ty General Motors và Chrysler, Tổng Thống Barack Obama cũng sẽ bị chỉ trích. Nếu ông muốn chứng tỏ là người công bằng và chính trực, thì ông nên chọn giải pháp tôn trọng quy tắc của kinh tế tự do, là cho hai công ty khai phá sản qua chương 11 luật phá sản ở Mỹ. Khai phá sản không phải là chấm dứt hoạt động, mà là tạo cơ hội cho mọi người phải dứt khoát với quá khứ, bắt đầu làm lại. Có như vậy kỹ nghệ xe hơi ở Mỹ mới cải tổ được để cạnh tranh với các công ty ngoại quốc.

Posted: Sat Apr 04, 2009 3:02 am
by quaichao
G-20 và bên lề

Ngô Nhân Dụng

Sau hội nghị G20 ở London, Tổng Thống Barack Obama sẽ tới Praha, thủ đô Cộng Hòa Tiệp để họp với các đồng minh ở Âu Châu. Sau khi nói chuyện kinh tế ở nước Anh, các nhà lãnh đạo Mỹ và Âu Châu sẽ bàn vấn đề an ninh ở một nước nhỏ nằm giữa hai “vùng ảnh hưởng” của Nga và Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, cho chuyến du hành đầu tiên của ông tổng thống Mỹ mới đầy đủ.

Tuy được quảng cáo rầm rộ, nhưng kết quả của Hội Nghị G20 chỉ có 1,100 tỷ đô la do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và các ngân hàng quốc tế sẽ đem cho vay; ngoài ra là những điều thỏa thuận đại cương đã được mọi người dự đoán. Lời kêu gọi các chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh tế mà chính phủ Mỹ đưa ra đã không được nhắc tới; mặc dù các “đồng minh kinh tế” của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc đều sẽ làm đúng như điều mà ông Obama cùng vị bộ trưởng tài chánh của ông vẫn hô hào.

Ngược lại, Pháp và Ðức được hài lòng, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ Tướng Ðức Angela Merkel đều tuyên bố “thắng lợi” khi bản thông cáo chung nêu lên những điều mà họ cương quyết đòi hỏi là tăng cường các luật lệ kiểm soát hệ thống tài chánh quốc tế: Mở rộng việc áp dụng các luật lệ về tiền vốn tối thiểu để kiểm tra các quỹ đầu tư loại “đối trọng” (hedge funds) mà xưa nay không ai ngó tới; tăng việc giám sát các công ty tài chánh không phải ngân hàng; đặt luật lệ kiểm tra các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) xưa nay vẫn làm công việc cho điểm các ngân hàng và các công ty; và hỗ trợ tổ chức OECD (trụ sở đặt tại Pháp) bài trừ những “đảo trốn thuế” của những người giầu ở các nước giầu. Hai nhà lãnh đạo Ðức và Pháp đã bầy tỏ cho cả thế giới thấy họ đoàn kết với nhau ra sao, trước ngày họp hội nghị; ông Sarkozy còn dọa sẽ bỏ ra về nếu các đòi hỏi trên không được chú ý (Ông dùng hình ảnh “chiếc ghế trống” giống như Tướng De Gaule năm xưa không đến họp khối NATO, chiếc ghế được bỏ trống).

Nhưng các thắng lợi của ông Sarkozy và bà Merkel cũng giống như người ta đẩy được một cánh cửa đã mở sẵn. Vì hầu như tất cả mọi người có trách nhiệm tại các thị trường tài chánh, trong lãnh vực tư cũng như trong chính quyền, ở Mỹ và khắp các nước, ai cũng thấy là phải làm tất cả những điều mà các nhà lãnh đạo hai nước lớn nhất Âu Châu đã đòi hỏi. Các công ty thẩm lượng tín dụng lâu nay vẫn nghiên cứu rồi cho điểm A, B, C trên các trái khoán, tức là những giấy nợ của các công ty, các ngân hàng, hoặc các chính phủ, họ đã nhắm mắt suốt mấy năm nên cho điểm cao những “trái khoán nhiễm độc” đang tác hại trên các ngân hàng Mỹ. Một nguyên nhân là gần đây chính các nhà phát hành trái khoán lại là người thuê và trả công cho những người thẩm lượng trái khoán của họ. Chẳng khác gì một nước để cho các người tập lái xe đi thuê ông giám khảo chấm coi mình có đậu bằng lái xe hay không! Ai cũng đồng ý là tình trạng đó phải chấm dứt, không cần ông Sarkozy và bà Merkel lên tiếng yêu cầu.

Các quỹ đối trọng nhiều tiền quá, di chuyển tiền từ nước này sang nước khác dễ dàng quá, nhiều khi đầu tư liều lĩnh, lắm lúc chỉ đầu cơ ngắn hạn kiềm lời, ai cũng thấy phải khép họ vào vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Các nước nhỏ (thường ở các hòn đảo) cho lập ngân hàng dễ dãi và đánh thuế nhẹ để thu hút giới tư bản hoàn cầu tới bỏ vốn, nhưng được giữ kín mà không nêu danh; các đảo quốc này có thể trở thành những ổ trốn thuế vĩ đại, ai cũng thấy cần kiềm hãm.

Nhưng một điều không ai nhắc ông Sarkozy và bà Merkel là cơn khủng hoảng tín dụng từ năm 2007 cho đến hiện nay hoàn toàn không phải vì các quỹ đối trọng cũng như các hòn đảo trốn thuế gây ra. Mà hội nghị G20 họp mấy bữa nay là để đối phó với cơn khủng hoảng đó. Nhìn kỹ lại, ai cũng đồng ý là cuộc khủng hoảng bắt đầu từ các hành động liều lĩnh của chính các ngân hàng, trên nguyên tắc ngân hàng là những định chế đã được chính quyền các nước kiểm soát bằng luật lệ rất chặt chẽ. Cứ nhìn danh sách những ngân hàng ở Mỹ, hãng bảo hiểm AIG, và hai đại công ty tài chánh Fannie và Freddie chuyên về địa ốc, đó toàn những cơ sở đáng lẽ ra phải “an toàn” vì nằm trong vòng luật lệ của chính phủ cả. Chính những luật lệ và các định chế kiểm soát các ngân hàng phải được tăng cường. Nhưng ai cũng biết một hội nghị G20, gồm 19 nhà lãnh đạo các quốc gia cộng thêm tổ chức Liên hiệp Âu châu (EU) trong một ngày không thể nào bàn được chuyện phải kiểm soát các ngân hàng chặt chẽ hơn như thế nào. Các chuyên viên về tài chánh và về luật pháp sẽ phải làm việc hàng năm, hoặc nhiều năm, mới có đủ ý kiến, mà chưa chắc các nước đã thỏa thuận được với nhau.

Cho nên Tổng Thống Sarkozy và Thủ Tướng Merkel phải vui mừng tuyên bố thắng lợi với những lời hứa hẹn rất tổng quát. Người hoan hỉ nhất sau hội nghị có lẽ là Thủ Tướng Anh Quốc Gordon Brown. Ông đã dành rất nhiều thời giờ đi gặp gỡ, tham khảo, cổ động, làm trung gian tìm thỏa hiệp giữa các nước có ý kiến đối nghịch (đi dây giữa Mỹ và Ðức-Pháp mặc dù lập trường Anh giống Mỹ như hệt), nhiều người đùa rằng bây giờ ông Brown đang đóng vai bộ trưởng tài chánh của cả thế giới. Nay ông có thể tuyên bố là hội nghị đã thành công. Pháp và Ðức không lầu bầu nữa. Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào đã tự ý kích thích kinh tế giống như Mỹ vậy, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ đóng vai trò bơm tiền vào các nước với 750 tỷ, trong đó các nước nghèo cũng được khoảng 5 tỷ đô la. Trung Quốc sẽ giúp nền ngoại thương nhiều nước nhỏ bằng cách cho vay, chắc chắn là sẽ dễ dãi cho những nước nào mua hàng của họ vay tiền, dù có hội nghị này hay không. Một thắng lợi khác mà ông Brown có thể kể lại khi viết hồi ký sau này, là hai ông Obama và Medvedev đã gặp nhau ở London, và đã có những bước đầu thỏa thuận về giảm bớt vũ khí hạt nhân.

Ðây là một chuyện chẳng ăn thua gì với khủng hoảng kinh tế và hội nghị G20 cả. Nhưng ông Barack Obama có thể sẽ kiếm được điểm tốt với dân chúng Mỹ, qua công việc bên lề hội nghị này. Chứng tỏ rằng chưa tới 100 ngày sau khi nhận sở làm ở Tòa Bạch Ốc, ông tổng thống mới đã đặt nền móng cho những nước cờ ngoại giao sắp tới.

Hai ông tổng thống Mỹ và Nga đã đồng ý mỗi nước sẽ giảm bớt một phần ba số vũ khí hạt nhân trong kho. Hiệp Ước Giảm Vũ Khí Chiến Lược (viết tắt là START) sẽ hết hiệu lực vào năm tới, và hai nước sẽ phải ký một hiệp ước mới. Trong hàng chục năm qua, hai nước không nói chuyện được với nhau vì không khí căng thẳng bởi các chuyện bên ngoài: Mỹ muốn mở rộng khối NATO cho các nước “chư hầu cũ” của Liên Xô gia nhập; và Nga thì cố xác định ảnh hưởng của mình trên các nước đó. Năm 2002 Mỹ và Nga đã thỏa thuận sẽ giảm số đầu đạn nguyên tử xuống chỉ còn 2,200 (Mỹ) và 1,700 (Nga).

Trong cuộc gặp gỡ ngày Thứ Tư ở London, Medvedev và Obama đã đồng ý sẽ giảm nữa, xuống chỉ còn mỗi bên 1,500; đồng thời sẽ tăng cường việc giám sát. Hai bên vẫn lên lớp nhau như cũ, Nga không muốn NATO mở rộng đến biên thùy của họ, còn Mỹ nhất định không công nhận các vùng ly khai khỏi Cộng Hòa Georgia do quân Nga hỗ trợ. Vẫn dùng lối nói như khi đi tranh cử, ông Obama bảo ông Medvedev rằng khái niệm “vùng ảnh hưởng” của Nga đã lỗi thời, không còn thích hợp với thế kỷ 21.

Tuy hiệp ước Start từ đầu chỉ liên quan đến hai nước Nga và Mỹ, nhưng việc hai ông tổng thống bàn với nhau chuyện này có thể được đưa lên thành một thông điệp gửi cho các nước khác, đặc biệt là Bắc Hàn và Iran.

Ông Obama có thể gửi một lời nhắn tới hai nước có tham vọng làm bom nguyên tử (Bắc Hàn đã có rồi, Iran đang luyện) là các chính phủ Mỹ và Nga đang giảm bớt vũ khí hạt nhân, và trong tương lai, có thể đi tới việc hủy bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân, nếu tất cả các nước đều đồng ý. Như vậy thì những nước nhỏ không có lý do gì làm thêm bom nguyên tử, nhất là một nước để hàng triệu dân chết đói như Bắc Hàn.

Trong khi chờ đợi tiến tới việc hủy bỏ vũ khí hạt nhân, chính phủ Mỹ có thể đề nghị Nga cùng ngưng luyện các chất có thể làm bom hạt nhân. Ðây là một ý kiến đã được nhiều nhà chính trị lão thành cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ nêu lên trong hai năm qua, có thể kể tên các cựu Bộ Trưởng George Shultz và Henry Kissinger (Cộng Hòa), William Perry (Dân Chủ). Nước Mỹ sẽ bớt tốn tiền mà không sợ thiệt hại nếu Nga qua mặt.

Trong khi tới Praha, Cộng Hòa Tiệp, ông Barack Obama có thể sẽ đưa ra những ý kiến hòa dịu với Nga để thúc đẩy tới những thỏa hiệp khác sau cuộc gặp gỡ với ông Medvedev. Vì ai cũng biết ông tổng thống Nga không phải người quyết định, phải ngỏ lời sao cho ông Thủ Tướng Putin cũng được nghe, sau khi ông Medvedev về báo cáo. Một trở ngại là nước Nga sẽ bị thiệt khi hủy bỏ hết vũ khí hạt nhân. Vì hiện nay lực lượng quân sự không hạt nhân của Nga rất yếu, không đủ tiền; bỏ bom hạt nhân đi thì không còn ai sợ Nga nữa.

Nhưng thời kỳ cần tích trữ bom hạt nhân đã hết rồi. Trước đây, Mỹ theo chủ thuyết MAD (mutually assurred destruction), hai bên cùng tận diệt nếu tấn công nhau bằng bom nguyên tử, vì không bên nào đủ sức hủy diệt hết kho vũ khí nguyên tử của bên kia. Chủ thuyết MAD chỉ có giá trị khi Mỹ, hoặc Nga, biết “địa chỉ” của người đánh mình bằng bom nguyên tử, để gửi bom trả lại. Bây giờ mối lo bom nguyên tử có thể nằm ở những tổ chức khủng bố, không có địa chỉ rõ ràng, nhưng có đủ tiền để mua bom nguyên tử trong thị trường chợ đen!

Cho nên con đường phải tiến tới là kiểm soát tất cả việc tinh luyện uranium hay plutonium có thể biến thành bom nguyên tử. Và trong công việc này, Mỹ cần Nga hợp tác, việc ký kết lại hiệp ước Start là một bước đầu.