Page 19 of 68

Posted: Sat Jun 19, 2010 7:11 am
by khieulong
Image

Ý nghĩa ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6
Phạm Phong Dinh

Ngày 20 tháng 7 năm 1954 đánh dấu ngày Quốc Hận thứ nhất của dân tộc Việt Nam, sau khi Cộng Sản Bắc Việt cùng với thực dân Pháp ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến thứ 17 chạy ngang con sông Bến Hải làm ranh giới Bắc Nam. Ðó cũng là ngày đánh dấu cuộc di cư từ bỏ chế độ Cộng Sản lần thứ nhất của người Việt với gần một triệu dân miền Bắc gồng gánh bồng bế nhau tìm đủ mọi cách để được đáp tàu vào vùng đất miền Nam tự do, nơi đó nước Việt Nam Cộng Hòa non trẻ đang chập chững những bước đầu tiên trong cộng đồng chính trị thế giới.

Giữa bối cảnh một nửa đất nước oằn oại rên xiết trong gông cùm Cộng Sản, trong bóng đêm của dối trá và tội ác, một nửa nước còn lại vừa phải đối phó với quân Cộng Sản còn nằm mai phục trong các chiến khu cũ thời Pháp và đương đầu với những vấn đề ổn định nội bộ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng lúc đó là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, tiếp nhận di sản nghèo nàn và lạc hậu do phía quân đội Pháp hồi hương bàn giao lại, đảm nhận trọng trách nặng nề bảo quốc an dân.

Ngày 1.7.1955, Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, đánh dấu ngày khai sinh một quân lực non trẻ mà đã dám chiến đấu chống lại cả một đại khối Cộng Sản Quốc Tế hung hãn tràn xuống từ phương Bắc. Tên tội đồ dân tộc, kẻ giết hàng triệu người mà miệng vẫn cười Hồ Chí Minh, một cán bộ cao cấp của Cộng Sản Quốc Tế, cúi đầu làm tay sai nhận vũ khí và thực hiện sách lược “Dùng người Việt giết người Việt” của quan thầy Nga Xô và Trung Cộng, vơ vét thanh thiếu niên miền Bắc đẩy vào miền Nam, dùng bọn thổ phỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thực hiện sách lược “Dùng người miền Nam giết người miền Nam” tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình.

Dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, khi ông chính thức làm tổng thống sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 23.10.1955, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được cải danh thành Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, với xác quyết quân đội sẽ được phát triển và tối tân hóa thành một đạo quân mạnh để đập tan bất cứ một cuộc xâm lược nào từ phương Bắc. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt lịch sử 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tuy có những lúc thăng trầm nghiêng ngửa, có những lúc thiệt hại nặng nề, nhưng những người chiến binh dũng cảm Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, không chấp nhận chế độ Cộng Sản, quyết đánh cho đến hơi thở và giọt máu cuối cùng.

Từ ngày 1.11.1963, sau khi một nhóm tướng lãnh đảo chánh lật đổ, sát hại Tổng Thống Diệm, đất nước và quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị suy yếu trầm trọng vì tình trạng chỉnh lý tranh giành quyền lực liên miên giữa các tướng lãnh. Cộng Sản Bắc Việt nương cơ hội này lăm le tràn xuống đánh dứt điểm miền Nam. Hồi tưởng lại hoàn cảnh đất nước thật đen tối trước ngày 19.6.1965, vận mệnh của nước Việt Nam Cộng Hòa như sợi chỉ mỏng manh treo nghìn cân trước làn sóng xâm nhập đã bắt đầu ồ ạt với hàng trăm ngàn quân chính qui Bắc Việt đã có mặt ở miền Nam.

Về chính trị, tình hình đầy xáo trộn và bất ổn. Những cuộc xuống đường dưới sự khích động của những phần tử Cộng Sản nằm vùng và trà trộn liên miên xảy ra, mà hậu quả hiển nhiên và tức thì là sự rối loạn, khẩn trương của xã hội, dân chúng lúc nào cũng lo âu trước thời cuộc hỗn độn. Cộng Sản nhân đó gia tăng những hoạt động tuyên truyền, phá hoại, lũng đoạn hàng ngũ những người Quốc Gia. Ở nông thôn thì Việt Cộng gia tăng khủng bố dân chúng, bắt cóc, thủ tiêu và ám sát dã man những viên chức xã ấp tận tụy với chính nghĩa quốc gia, thậm chí những người dân vô tội dù chỉ tỏ chút ngần ngừ hay biểu lộ thái độ không hợp tác, ủng hộ, là đã có thể bị Việt Cộng tuyên án tử hình và hạ sát. Bầu không khí sợ hãi, chết chóc bao trùm khắp miền nông thôn, nhất là ở những vùng xa xôi hẻo lánh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thiết lập nền an ninh vững chắc.

Về mặt quân sự, lợi dụng lúc giao thời, chính phủ dân sự Việt Nam Cộng Hòa không có khả năng tập họp được sức mạnh của quân đội, Cộng Sản liên tục cho binh đội xâm nhập miền Nam, chuyển dạng thái chiến tranh xâm lược từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn để thử thách sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa, điển hình là những trận đánh Bình Giả và Ðồng Xoài cuối năm 1964 và giữa năm 1965. Trong bối cảnh chính tình nhiễu nhương, quân đội không được lãnh đạo và chỉ huy thích đáng, đã đưa đến thiệt hại rất nặng cho quân ta trong hai trận đánh này, mà chỉ trông cậy vào trái tim nồng nàn tình đất nước tình đồng bào và chính thân xác của các anh, người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới có thể cắn răng ngăn chống được cơn sóng dữ Cộng Sản đã mấp mé gần ngưỡng cửa Sài Gòn.

Về mặt kinh tế, vì chiến tranh tàn phá, đất đai bị bỏ hoang, do đó mức sản xuất sút kém, đời sống dân chúng lệ thuộc vào ngoại viện. Một đất nước từng xuất cảng gạo mà phải nuốt nước mắt nhận những hạt gạo gọi là viện trợ của nước ngoài. Trong khi đó Cộng Sản luôn tìm cơ hội cắt đứt đường tiếp tế giữa nông thôn và thành thị, làm cho mức sinh hoạt của xã hội ngày càng đắt đỏ và rất khó kiểm soát, gian thương lộng hành trắng trợn. Người dân ở thành thị khốn khổ vì nạn vật giá gia tăng hàng ngày bao nhiêu, thì người dân ở nông thôn càng oằn nặng dưới sự khủng bố và bóc lột ghê rợn của Cộng Sản bấy nhiêu. Ðóng góp nuôi quân, thuế khóa nặng nề, dân công, sưu địch, con em bị bắt buộc cầm súng trong vùng Cộng Sản kiểm soát đã là nguyên nhân thúc đẩy đồng bào liều chết bỏ chạy ra vùng quốc gia để được quân đội bảo vệ và chính quyền giúp đỡ.

Hoàn cảnh bi đát của Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 19.6.1965 là như vậy. Ðất nước đã bước đến mấp mé bên bờ vực thẳm, chỉ một bước nữa thôi, quân dân Miền Nam rất có thể sẽ nằm dưới sự thống trị của Cộng Sản Hà Nội. Nhưng... những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ cho phép điều đó xảy ra. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một tập thể duy nhất có tổ chức chặt chẽ và tinh thần kỷ luật cao, không thể chần chờ trước cơn quốc biến, nên đã đứng ra nhận chịu trên vai trách nhiệm nặng nề cứu nguy đất nước và dân tộc.

Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, tổng thư ký Hội Ðồng Quân Lực đọc bản tuyên cáo giải tán Hội Ðồng Quân Lực ngày 6.5.965 sau 5 tháng hoạt động, trao trả quyền hành pháp cho chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát.

Cho đến gần giữa năm 1965, Hội Ðồng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã loại bỏ được những thế lực phân chia sức mạnh quân đội, cùng chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo và điều hành guồng máy quốc gia. Ðể tỏ rõ thiện chí và quyết tâm kiến tạo nền dân chủ cho Miền Nam, ngày 5.5.1965, Hội Ðồng Quân Lực đã quyết định trao quyền lãnh đạo đất nước lại cho chính phủ dân sự, cụ Phan Khắc Sửu được mời làm Quốc Trưởng, Bác Sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng. Nhưng cũng chỉ hơn một tháng sau, ngày 11.6.1965, chính phủ dân sự do cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng nhận định rằng tình hình đất nước đã đến lúc lâm nguy nếu người quốc gia không mạnh mẽ hành động và tìm ra một con đường tức thời nào đó.

Con đường đó, sau những cân nhắc, chính là sức mạnh của Quân Ðội. Chính phủ Phan Khắc Sửu quyết định trao trả quyền lãnh đạo đất nước lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bằng tuyên cáo chính thức như sau:
Tuyên cáo
của Quốc Trưởng
Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp Và
Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa
Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể Tướng lãnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11.6.1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Ðịnh số 8 ngày 5.5.1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5.5.1965, Quyết Ðịnh số 5 ngày 16.2.1965, Quyết Ðịnh số 6 ngày 17.2.1965 và Quyết Ðịnh số 4 ngày 16.2.1965.

Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1-11-1963.

Làm tại Sài Gòn, ngày 11.6.1965

Phan Khắc Sửu
Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa

Phan Huy Quát
Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa

Phạm Xuân Chiểu
Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp


Ngày 12.6.1965, trong một buổi họp quy tụ tất cả những Tướng lãnh đang nắm những trọng trách trong Quân Ðội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh bốn Vùng Chiến Thuật cho đến các Tư Lệnh Quân Binh Chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương Tổng Thống), Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng), thông qua quyết định như sau:
Quyết định
Thành lập Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 11.6.1965 trao chả trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- Chiếu biên bản Ðại Hội Ðồng các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 12.6.1965.

Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các Vùng Chiến Thuật và Quân Binh Chủng đã quyết định:

Quyết Ðịnh:

Ðiều 1 - Thành lập một ủy ban lãnh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia.

Ðiều 2 - Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có: một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.

Ðiều 3 - Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển Quốc Gia.

Ðiều 4 - Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:

A- Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

B- Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

C- Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ðiều 5 - Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.

Sài Gòn, ngày 14 tháng 6 năm 1965

Toàn thể các Tướng Lãnh và Tư Lệnh Quân Binh Chủng

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Hội Ðồng Quân Lực ra mắt quốc dân và Quân đội ngày 19-6-1965.

Ðó là ngày đánh dấu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên gánh vác trách nhiệm lớn: bảo vệ nền tự do độc lập của Việt Nam Cộng Hòa, làm tiền đồn ngăn chống làn sóng Cộng Sản và xây dựng một đất nước lạc hậu nghèo khó vì chiến tranh triền miên với mục đích tiến lên thành một quốc gia phú cường, ngẩng cao đầu sánh vai với cộng đồng thế giới.

Ngày 19-6-1965, thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương trong một buổi lễ ra mắt được tổ chức long trọng ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm lèo lái quốc gia và làm thành phần tiền phương của quân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước.

Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, để thích ứng với tình hình nghiêm trọng của đất nước, ông thành lập một nội các được mệnh danh là Nội Các Chiến Tranh, với thành phần nhân sự như sau:

- Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

- Tổng Ủy Viên Ngoại Giao: Bác sĩ Trần Văn Ðỗ.

- Tổng Ủy Viên Tư Pháp: Luật sư Lữ Văn Vi.

- Tổng Ủy Viên Chiến Tranh kiêm Ủy Viên Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có.

- Tổng Ủy Viên Kinh Tế Tài Chánh kiêm Ủy Viên Kinh Tế: Kỹ sư Trương Thái Tôn.

- Tổng Ủy Viên Văn Hóa Xã Hội kiêm Ủy Viên Giáo Dục: Bác sĩ Trần Ngọc Ninh.

- Ủy Viên Tâm Lý Chiến: Luật sư Ðinh Trịnh Chính.

- Ủy Viên Xây Dựng Nông Thôn: Ông Nguyễn Tất Ứng.

- Ủy Viên Nội vụ: Ông Trần Minh Tiết.

- Ủy Viên Thanh Niên: Y sĩ Trung Tá Nguyễn Tấn Hồng.

- Ủy Viên Tài Chánh: Giáo sư Trần Văn Kiện.

- Ủy Viên Canh Nông: Kỹ sư Lâm Văn Trí.

- Ủy Viên Giao Thông Công Chánh: Kỹ sư Ngô Trọng Anh.

- Ủy Viên Y Tế: Bác sĩ Nguyễn Bá Khả.

- Ủy Viên Xã Hội: Luật sư Trần Ngọc Liễng.

- Ủy Viên Lao Ðộng: Ông Nguyễn Xuân Phong.

Công việc của Hội Ðồng Quân Lực thật bề bộn trong bối cảnh một đất nước Cộng Hòa non trẻ đầy biến động sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, tiềm lực kinh tế và quân sự vẫn chưa được phục hồi đủ mạnh để có thể đương đầu hữu hiệu với làn sóng xâm lăng của Cộng Sản. Bản Hiến Pháp của nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa không còn được công nhận, Ðại Hội Ðồng Quân Lực đã công bố một bản Ước Pháp tạm thời thay thế Hiến Pháp Ðệ Nhứt Cộng Hòa trong thời gian chờ đợi bầu cử Quốc Hội mới, rồi từ đó hình thành Hiến Pháp mới.

Nguyên văn Lời Nói Ðầu của Bản Ước Pháp Việt Nam Cộng Hòa như sau:

Trong cơn nguy biến, vì quyền sống của Dân Tộc, vì uy danh của Tổ Quốc, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm lãnh trách nhiệm trước quốc dân và lịch sử.

Ðể hoàn thành sứ mạng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không lấy mỵ dân làm phương châm mà lấy an dân làm chánh sách.

Quốc dân Việt Nam, trải bao hy sinh, vẫn hoài bão một tổ quốc hùng cường trong thanh bình và tự do.

Nhiệm vụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là thực hiện cho bằng được hoài bão tha thiết ấy, dù phải trả bất cứ giá nào. Muốn vậy, muôn người như một phải thống nhất ý chí và hành động, dốc mọi nỗ lực cho tiền tuyến, đẩy lui và tiêu diệt xâm lược Cộng Sản. Muốn vậy, hậu phương phải ổn định để dần dần kiến tạo cơ sở vững bền cho một truyền thống dân chủ tự do có điều kiện nảy nở trong cách mạng và trong chiến đấu.

Ðã hơn bốn mươi năm trôi qua rồi mà những lời hịch chính khí này vẫn còn giữ nguyên giá trị. Nếu có một ngày một nước Việt Nam mới không Cộng Sản được hình thành, dân tộc Việt Nam tích cực góp công kiến thiết đất nước, nỗ lực xây dựng nền dân chủ, tự do, nhân quyền, bảo quốc, an dân, thì đó cũng chính là con đường mà dân tộc Việt Nam đã vạch ra từ nền tảng của những Hiến Pháp của hai nền Cộng Hòa.

Người Cộng Sản cho rằng người Việt Quốc gia Hải ngoại nuối tiếc và vẫn còn nuôi mộng phục sinh một nước Việt Nam Cộng Hòa. Sự thực thì, cái tên Việt Nam Cộng Hòa chỉ là danh xưng của một lãnh thổ và dân tộc theo đuổi một lý tưởng, mai sau này dù Việt Nam không Cộng Sản có mang một danh xưng nào khác, muốn hay không, người ta vẫn thấy thấp thoáng hình ảnh chân chính của nước Việt Nam Cộng Hòa trong đó, với tất cả những nền tảng căn bản hình thành một quốc gia độc lập, tự do, nhân bản, văn hiến, đạo đức, khai phóng, cộng hòa, dân chủ, hùng cường và thịnh vượng

Từ thời điểm đó, ngày 19-6 được đánh dấu như là một cái mốc lịch sử, một chương mới của cuộc chiến đấu chống đại khối Cộng Sản Quốc Tế của quân dân Miền Nam, mà Quân Lực Việt Nam Cộng hòa là thành phần gồng gánh trách nhiệm lãnh đạo đất nước, ở hậu phương thì xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, bình định những mầm mống nằm vùng bạo loạn, ở tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống cơn sóng xâm lăng cuồng sát của đạo quân hiếu chiến Cộng Sản Bắc Việt. Danh xưng Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa từ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa được nâng lên một nấc cao hơn nữa với cái tên đầy kiêu hãnh và hùng mạnh: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 19-6-1966, một cuộc diễn binh hùng hậu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức tại Sài Gòn, đánh dấu Ðệ Nhất Chu Niên ngày Quân Ðội đứng lên nhận lãnh trách nhiệm lèo lái đất nước. Những năm về sau, cứ đến ngày 19-6, anh hùng, hào kiệt, anh thư và chiến sĩ bốn phương quy tụ về thủ đô, hiên ngang hào hùng đi dưới rừng Cờ Vàng Ðại Nghĩa và Quân Kỳ trong tiếng nhạc thúc giục rộn rã.

Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu sau khi đắc cử tổng thống đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa trong tháng 11.1967 vẫn tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm ngày Quân Lực 19-6 với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biểu dương sức mạnh và ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam chống xâm lược Cộng Sản từ phương Bắc.

Với sự trợ giúp của các nước Ðồng Minh, trong đó phần đóng góp chính yếu đến từ Hoa Kỳ từ sau năm 1954, QLVNCH đã dần lớn mạnh, không những đủ khả năng chận đứng đà xâm lăng cuồng bạo của binh đội Cộng Sản Bắc Việt, mà còn đánh cho bọn chúng tan tành thành từng mảnh vụn trong những chiến thắng lừng danh thế giới như Mậu Thân 1968, chiến dịch hành quân sang Kampuchea đập nát những hang ổ kho tàng tiếp liệu Cộng quân năm 1970. Trong cuộc hành quân sang Hạ Lào, chiến dịch Lam Sơn 719, mặc dù bị báo chí và truyền thông Hoa Kỳ cũng như nằm vùng Cộng Sản tiết lộ bí mật, QLVNCH ngay từ đầu đã ở trong thế hạ phong nhưng vẫn đánh thiệt hại rất nặng lực lượng Cộng quân.

Chiến thắng lừng lẫy nhất mà đã làm cho toàn thế giới phải cúi đầu ngưỡng phục, kể cả giới truyền thông báo chí phản chiến và thân Cộng cũng phải xấu hổ gục đầu công nhận tính chất xâm lược rõ ràng của Cộng Sản Hà Nội và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của QLVNCH. Ðó là cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. QLVNCH đã để lại trong lịch sử Việt Nam trang sử chiến đấu chói lọi nhất, thiêu cháy huyền thoại Ðiện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp. Sau cơn thảm bại Mùa Hè 1972 nhục nhã, Giáp bị cách chức.

QLVNCH chiến đấu trong nỗi cô đơn cay cực mà chưa từng có một đội quân nào trên thế giới đã trải qua hoàn cảnh ngặt nghèo tương tự. Vừa phải đổ máu xương ngăn chống Cộng Sản ở phía trước mặt mà còn phải hứng chịu những vết đâm lút sâu của những thế lực bạn bè từ phía sau lưng. Người lính Việt Nam Cộng Hòa bị trói tay không cho đánh, mặc dù chỉ chiến đấu để tự vệ và bảo vệ làng xóm của các anh. Chính họ đã hy sinh mạng sống để cho dân tộc được sống và được hạnh phúc.

Sự dàn xếp của những thế lực Cộng Sản Quốc Tế và tư bản đã đưa đến ngày tang thương 30-4-1975. QLVNCH một lần nữa bị buộc phải hoàn toàn buông súng. Bọn Cộng Sản tiểu nhân đắc chí ngổ ngáo tiến vào chiếm lấy Việt Nam Cộng Hòa, ngông nghênh tuyên bố đại thắng, thực hiện sách lược sỉ nhục lăng mạ và đày ải những người chiến binh QLVNCH và vợ con gia đình của họ. Nhưng thật sự có phải cộng sản Bắc Việt đã chiến thắng hay không?

Sau hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày 30-4-1975, giờ đây mọi góc cạnh của sự thật đã được phơi bày dưới ánh sáng của mặt trời. Chúng ta khẳng định mạnh mẽ QLVNCH không hề thua và Cộng Sản không hề thắng trong trận chiến đấu cuối cùng ngày 30.4.1975. Sự thắng thua chỉ được phân định khi hai lực lượng cùng đối mặt chiến đấu giữa hai chiến tuyến. Hai võ sĩ so găng trên võ đài, một võ sĩ bị trói tay chân và với sự đồng tình của ban trọng tài đã bị võ sĩ kia đánh đập rồi tự đưa tay tuyên bố chiến thắng và tha hồ lăng mạ sỉ nhục đối phương. Cuộc thắng thua còn chưa được phân định khi viên đạn cuối cùng còn chưa được bắn ra khỏi nòng súng.

Giờ đây, sau gần ba mươi năm chứng kiến những tội ác ghê tởm hãi hùng của Cộng Sản Hà Nội bủa lên đầu chính dân tộc của chúng, công luận thế giới đã khẳng định chế độ Cộng Sản là một cái quái thai kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại và cần phải hủy diệt nó. Ngọn gió đã đổi chiều thuận lợi cho QLVNCH. Cuối cùng thì những giá trị nhân bản thực sự của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã được thế giới thừa nhận và tôn vinh. Những nắm xương khô đang mục rã theo với thời gian nghiệt ngã của 300 ngàn tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm câm nín u uất dưới những nghĩa trang hoang phế điêu tàn, hay ở những chống rừng sâu núi thẳm, cùng với nửa triệu chiến sĩ thương phế mà phần lớn còn sống lây lất và khắc khoải bên kia bờ Thái Bình Dương, tất cả những người anh hùng vĩ đại đó giờ đây đã được tôn vinh.

Ðiều mà những người còn sống, những người còn lành lặn thân xác phải làm là sẽ cùng nhau tìm cách cắm lên bia mộ các anh những nén hương của lòng tri ân với những giọt nước mắt tiếc thương, cùng nhau gởi về cho các anh thương phế chút lòng của những người đồng đội mà ngày xưa từng kiêu hãnh đứng chung dưới lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để các anh còn tiếp tục nuôi dưỡng một niềm tin. Rồi sẽ có một ngày, cơn thịnh nộ của đất trời và của toàn dân tộc Việt Nam sẽ như con sóng thần biển Ðông cuốn xô đi những tàn tích của cái ác.

Chúng ta cũng nghiêng mình trước Bức Tường Ðá Ðen ở Washington D.C, tri ân hơn 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ trận vong, những người bạn đã từng sát cánh chia sẻ nỗi cơ cực và chết chóc của chiến tranh với người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì nền tự do của đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta tri ân và vinh danh 300.000 chiến binh thương phế Hoa Kỳ đã bỏ lại một phần thân thể của các anh trên một đất nước thật quá xa xôi để trở về nhận chịu sự thờ ơ lãnh đạm của chính người dân Mỹ, cùng mang mễn những chứng bệnh tinh thần trầm kha.

Giờ đây thì anh linh của tất cả những người lính trận vong Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể đi về phía cõi vĩnh hằng với lòng thanh thản, những chiến sĩ thương binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể thể ngẩng cao đầu cười nửa miệng trên những đống gạch đổ nát ngổn ngang của bức tường thành Bá Linh và những mảnh vụn của cái quái thai chủ nghĩa Cộng Sản. Chính là các anh, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và người lính Quân Lực Hoa Kỳ đã là nỗ lực chánh hủy diệt cái ác mệnh danh là chủ nghĩa Cộng Sản đó. Chúng ta có thể xác quyết một điều là, ngày nào mà người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn tập họp, đoàn kết đứng chung dưới lá Quốc Kỳ và Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, thì ngày đó Cộng Sản Hà Nội còn rất run sợ, ngày ăn không thấy ngon, đêm ngủ không được yên.

Chúng phải hiểu một điều đơn giản nhưng rất thật là, cho dù chúng có nặn cái bộ óc “trí tuệ” của loài Vượn đến thế nào để cho ra bao nhiêu cái nghị quyết nhắm vào người Việt hải ngoại và Tập Thể người lính QLVNCH, thì cũng sẽ hoàn toàn không ăn được cái giải gì, giống như những cú đánh mất hút vào cõi hư vô. Chúng chỉ thắng được chúng ta ngày 30.4.1975, khi chúng ta bị buộc phải buông súng mà thôi. Ba mươi năm trước, Cộng Sản Hà Nội cậy có súng AK để đánh đập, hạ nhục, giết tróc những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không còn vũ khí trong những trại tù khắc nghiệt và dã man của chúng. Ngày nay, ba mươi năm sau, tuy rằng trong tay người lính chúng ta không còn cây súng M16, nhưng chúng ta có rất nhiều sức mạnh khác mà cộng sản Hà Nội hằng run sợ:

- Thứ nhất, sự phẫn nộ của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm ngàn người lính đã ra được đến bến bờ tự do, dù họ không còn vũ khí, nhưng mỗi trái tim bất khuất của các anh chính là thứ vũ khí sắc bén nhất và hữu hiệu nhất, những trái tim đó đã kết nên thành một bức tường cứng rắn. Ba mươi năm nay, Cộng Sản đã hằng bắn phá vào bức tường ấy, chỉ để thấy rằng chúng đã một lần nữa chiến bại. Tập Thể Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn là lực lượng duy nhất đối kháng và ngăn chống cực lực mọi cuộc tấn công của cộng sản, dù là bằng bất cứ hình thức nào.

- Thứ hai, cuộc chiến đấu bằng cây viết của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản từng tuyên án: “Một nhà văn ‘ngụy’ bằng mười sư đoàn tác chiến”. Ngày nay, cây viết của những người lính đã trở thành cây súng M16 bắn những giọt mực ngạo nghễ và thách thức vào mặt Cộng Sản Hà Nội, ngòi bút xé toang bức màn đen tối của giả dối và tàn bạo để đưa ra trước công luận thế giới và lịch sử sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Quốc Tế lên Miền Nam và cuộc chiến đấu bảo quốc kiệt liệt của quân dân Miền Nam.

- Thứ ba, chiến thắng vẻ vang chấn động cả thế giới của người Việt hải ngoại qua sự kiện vừa kỳ lạ lẫn kỳ diệu: Lá Quốc Kỳ Vàng Ðại Nghĩa Ba Sọc Ðỏ hiện nay đã phất phới, ngạo nghễ tung bay ở 4 tiểu bang, 3 quận hạt, 55 thành phố và trong nhiều trường đại học khắp nước Mỹ. Ðó há chẳng phải là một dấu hiệu, một sự thừa nhận chân thành của người Mỹ, rằng chỉ có Lá Cờ Vàng Việt Nam mới là biểu tượng của chính khí dân tộc Việt Nam, là biểu trưng của cuộc chiến đấu quật cường của một dân tộc nhỏ bé chỉ có gần 18 triệu người mà đã anh dũng ngăn chống một đại khối Cộng Sản Quốc Tế với dân số hơn 1 tỉ người. Không chỉ ở Hoa Kỳ, mà gần như trên toàn thế giới, Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hằng năm tung bay trên cột cờ thị chính của những thành phố lớn trong ngày 30-4. Ðó há chẳng phải là sự ghê tởm và chối bỏ chủ thuyết Cộng Sản và lá cờ máu tanh hôi của bè bọn Cộng Sản Hà Nội của lương tâm thế giới hay sao.

Ngày Quân Lực 19-6 năm nay có nhiều ý nghĩa quan trọng. Nó đánh dấu sự bắt đầu hồi sinh của QLVNCH và của niềm tin chính nghĩa Quốc Gia qua cuộc đọ sức gay go giữa cái Thiện và cái Ác. Ngày tàn của bọn Cộng Sản Hà Nội không còn bao xa nữa. Bên trong cái vỏ bọc hào nhoáng phù du hiện tại mà bọn Cộng Sản tô vẽ ở quê nhà, chỉ là một cái ruột rỗng tuếch mục nát chờ giờ sụp đổ. Với sự tập họp của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thể hiện qua sự đoàn kết cao độ trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại, kết hợp với những phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người và quyền tự do tín ngưỡng ngày càng sôi sục ở quốc ngoại và quốc nội, dân tộc Việt Nam có quyền hy vọng sẽ có nhiều chiến thắng khác liên tục và lừng lẫy hơn, để cuối cùng lật đổ được bạo quyền Hà Nội.

Anh linh của tiền nhân, của những vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long, các trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng, sĩ quan và các chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân xin hãy hiển linh thương xót phù trì cho dân tộc Việt Nam và QLVNCH có được nhiều sức mạnh đứng lên giải thể bạo quyền Cộng Sản, đem ánh sáng công chính và hạnh phúc trở lại trên khắp mọi miền đất nước, ném bọn chúng vào cõi sâu thẳm tối tăm nhất và đời đời của địa ngục.

Phạm Phong Dinh

Posted: Fri Jun 25, 2010 11:24 pm
by vuphong
[center]Sự Hiện Diện Của Lá Cờ Vàng Trong Tang Lễ Tướng Bigeard


Image[/center]

Nhận được hình người cựu quân nhân Việt Nam cầm quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa đi dự đám tang Đại Tướng Marcel Bigeard tại Hotel des Invalides, tôi rất hãnh diện được thấy Đại Tá Hoàng Cơ Lân và Thiếu Tá Trần Đức Tường thay mặt cho tất cả quân đội với màu cờ vàng ba sọc đỏ. Và cũng rất xúc cảm với nghĩa cử của ba người lính Pháp, nhân dịp này ra nghiêng mình hôn lên lá cờ vàng. Có một lúc trong đời họ, họ đã hãnh diện phục vụ lá cờ này song song với lá cờ tổ quốc họ. Tôi tự hỏi bây giờ còn bao nhiêu lính Mỹ đứng nghiêm chỉnh chào lá cờ yêu quý cuả chúng ta không e dè, không ngượng nghịu, và nhất là không ý đồ chính trị...
Image


Tôi cũng có cơ hội đọc những bài bình luận không mấy thiện cảm và bồng bột do người Việt Nam viết về sự hiện diện của quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa trong ngày tang của Tướng Bigeard và quyết định của ông muốn trải tro tàn trên mảnh đất Điện Biên.

Về chuyện quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa còn bay phất phới trên những mảnh đất tự do trong những dịp lễ trọng đại là nhờ lòng quyết tâm của thiểu số còn có lòng với tổ quốc dủ cho tổ quốc có mất vào tay quân thù. Vậy người nào trong chúng ta còn mang giòng máu Quốc Gia trong người đều cảm thấy niềm hãnh diện vô biên khi thấy đồng đội của mình trương được lá cờ Tổ Quốc phất phới trên những vùng trời tự do.

Image


Tại sao lại trương cờ trong dịp đám tang Tướng Marcel Bigeard? Xin trả lời: không có lúc nào hợp thời hợp cảnh hơn. Xin kiên nhẫn để tôi giãi bày lý luận của tôi nằm gọn trong mấy chữ sau đây: KHÔNG CHO CỘNG SẢ̉N VIỆ̣T NAM ĐỘC QUYỀN CHỐNG THỰC DÂN:

Cộng Sản đứng lên cướp Chính Quyền lấy danh nghĩa chống Thực Dân. Rất nhiều người không CS cũng chống Thực Dân kể cả Hoàng Đế Bảo Đại. Khi tình hình chính trị ép buộc, vì hiểm họa Cộng Sản đe dọa khắp Á Châu, nhất là sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa Trung Hoa, Thực

Dân Pháp trả lại độc lập cho Việt Nam dù là độc lập nừa vời. Quốc Trưởng Bảo Đại đã lập ra Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Kể tử lúc đó, Quốc gia Việt Nam đứng vào hàng ngũ các Quốc Gia Tự Do đấu tranh một sống một còn với Cộng Sản. Như vậy, vào thời điểm này, đương nhiên quân đội Pháp trở thành đồng minh của ta.

Từ chối quân đội Pháp là đồng minh từ 1949 đến 1954 là MẶC NHIÊN công nhận độc quyền chống thực dân của Cộng Sản là chính thống.
Charles De Gaulle sau này thiên về chủ trương Trung Lập hóa Đông Dương là chuyện sau, không liên hệ gì với tới sự hy sinh của lính Pháp trên khắp chiến trường Bắc Trung Nam để Quốc Gia Việt Nam có chỗ đứng. Cũng nên ghi nhớ rằng, ngoài những đơn vị Quốc Gia hoàn toàn lính Việt Nam lúc đầu do Sĩ Quan Pháp chỉ huy như Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam (Đại Úy André Botella Tiểu Đoàn Trưởng), phần lớn trong những đơn vị Pháp khác, một nửa quân số là người Việt. Một nừa quân số Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù Thuộc Địa (6ème BCP) của Thiếu Tá Marcel Bigeard là người Việt.

Không ghi công ơn những người lính này như trường hợp một tỉnh nào đó tại Canada là quên ơn người lính mang thân ra bảo vệ cho ta ngồi mài đũng quần ở Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Albert Sarraut hay Chasseloup Laubat trong những năm 1949-1954, để sau này thành bác sĩ, kỹ sư.

Không ghi ơn những người lính này là không công nhận công lao của những vị niên trưởng của ta như Đại Tướng Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Vỹ, Đỗ Cao Trí, Lâm Quang Thi, Lâm Quang Thơ, v...v... đã có mặt trên khắp chiến trường Nam Định, Hưng Yên, Lạng Sơn khi họ còn là những sĩ quan trể tuổi, ưu tú của Quốc Gia Việt Nam.

Người làm chính trị hay người vô ý thức có thể quên những chiến sĩ này. Còn chúng ta, đã có thời mặc quân phục, chúng ta không bao giờ quên ơn những chiến sỉ, Việt Nam cũng như ngoại quốc, đã xả mình chống giặc Cộng.

Bây giờ tôi cũng xin đề cập đến chuyện Đại Tướng Bigeard muốn tro tàn cùa mình được trải trên địa phận Điện Biên. Lại cũng có những lời bàn ra tán vào của người Việt Nam chúng ta về vấn đề này. Phần lớn tôi nhận thấy những lời phán xét này không it thì nhiều bị ảnh hưởng của chính kiến làm lệch lạc.

Chỉ có lính mới thông cảm tâm tư cuả lính.

Tại Điện Biên Phủ, Thiếu Tá Bigeard, vị Tiểu Đoàn Trưởng lẫy lừng trong quân đội Pháp đã là kẻ chiến bại. "Bại binh chi tướng, bất khả dũng ngôn", ông lầm lũi chập nhận phận tù binh. Sau này khi chì huy những đơn vị chiến đấu tại Algérie hay Phi Châu, khi ông lên đến vinh quang tột đỉnh của binh nghiệp, ông không bao giờ quên được những chiến hữu của mình, Pháp cũng như Việt, đã anh dũng hy sinh trong thũng lũng Điện Biên. Phải là lính mới hiểu được ước mong của ông khi nằm xuống muốn ở bên cạnh chiến hữu của mình. Ước vọng chân thành không tính toán chính trị, cũng không phải ước mơ hão huyền, viễn vông.

Image


Những người lính Pháp đến trước quốc kỳ Việt Nam nghiêng mình hôn lá cờ của mình, họ làm cử chỉ này vì họ nhớ tới những chiến hữu Việt Nam đã từng đứng chiến đấu bên cạnh họ. Chỉ có cùng là lính với nhau , chúng ta mới thông cảm được tình chiến hữu này thội

Mộng cuả Tướng Bigeard sau khi hỏa táng, tro được trải trên đất Điện Biên về cùng với chiến hữu, đó là mộng của một hiệp sĩ. Cử chỉ của ba cựu chiến binh Pháp đến ôm hôn quốc kỳ Việt Nam, cũng là thái độ của những hiệp sĩ thời xưa... Liệu mỗi người trong chúng ta còn giử được tinh thần hiệp sĩ này không?



Khôi Nguyên

Posted: Sun Jun 27, 2010 5:02 pm
by vuphong
TRUNG-TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG
GIỮA MỘT TÌNH-HÌNH KHÓ-KHĂN

Tư-Lệnh Quân-Ðoàn I & Quân-Khu I Ngô Quang Trưởng được hầu hết mọi người khâm-phục. Ông đã dành nhiều tâm-trí, công-sức, và thì-giờ vào các cuộc hành-quân hơn là vào công việc văn-phòng. Ông thường-xuyên mặc chiến-phục, đội mũ sắt, mang áo giáp, bay đến tận từng đồn+chốt khắp Quân-Khu, để quan-sát, nghiên-cứu tình-hình tại chỗ, và kiểm-tra tác-phong kỷ-luật của các cấp quân-nhân. Bản-thân ông ít thích truy-hoan, nên cấm sĩ-quan thuộc quyền đến khiêu-vũ ở các nhà hàng ca+vũ+nhạc, khiến các Tỉnh-Trưởng và Thị-Trưởng cấm luôn cả các phòng trà ca-nhạc tổ-chức khiêu-vũ cho bất-cứ giới khách hàng nào.

Ðó là tóm-tắt những nét chính về tướng Trưởng được nhiều người nhận thấy hoặc đồn miệng với nhau.

Riêng đối với tôi, ông còn là Ðại-Biểu Chính-Phủ, tức Thủ-Hiến, của Vùng I, nhất là sau khi Tòa Ðại-Biểu Chính-Phủ đã bị giải-tán, chức-vụ Phụ-Tá Hành-Chánh cho Tư-Lệnh Quân-Khu cũng bị bãi-bỏ luôn. Tư-Lệnh Quân-Ðoàn/Quân-Khu cử-nhiệm các Tiểu-Khu-Trưởng và Ðặc-Khu-Trưởng kiêm-nhiệm Tỉnh-Trưởng và Thị-Trưởng. Tư-Lệnh Quân-Ðoàn/Quân-Khu trực-tiếp điều-khiển Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng sở-tại, đồng-thời cũng là Chủ-Tịch Hội-Ðồng Bình-Ðịnh & Phát-Triển cầm đầu công-tác chuyên-môn của đa-số các Bộ quan-trọng thuộc Chính-Quyền Trung-Ương thực-hiện trong lãnh-thổ Quân-Khu mình. Tóm lại, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng là Chính-Quyền tại Miền Trung.

Tôi trích sao riêng gửi cho ông biết điều-khoản trong Sắc-Lệnh của Thủ-Tướng quy-định việc tôi, Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt cấp Vùng, trực-tiếp báo-cáo tình-hình lên Tư-Lệnh Quân-Khu, liên-quan đến an-ninh và chính-trị nội-bộ, thuộc thẩm-quyền của Ðại-Biểu Chính-Phủ, là chức-vụ mà ông kiêm-nhiệm hiển-nhiên. Sau đó, tôi chính-thức tường-trình lên ông những vấn-đề nội-chính của Quốc-Gia.

Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng

Tôi có trách-nhiệm trực-tiếp báo-cáo tình-hình lên Tư-Lệnh Quân-Khu, song tôi ít gặp Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng của Quân-Khu I, nếu so-sánh với các Trung-Tướng Vĩnh Lộc, Lữ Lan, Ngô Du, Nguyễn Văn Toàn, như hồi tôi còn coi Ngành Cảnh-Sát Đặc-Biệt ở Quân-Khu II. Trung-Tướng Trưởng dùng phần lớn thì-giờ của ông để đi thị-sát bên ngoài, ít ở văn-phòng.

Tuy thế, trong tâm-tưởng tôi cảm thấy gặp-gỡ và gần-gũi Tướng Trưởng thường-xuyên. Viên trung-tướng ấy, như ở Sài-Gòn cũng như ở Vùng II tôi nghe nhiều người ca-tụng, quả là một nhân-vật lý-tưởng của xã-hội đương-thời. Địa-vị của người quân-nhân đã được nâng lên hàng đầu trong bốn giới, Quân Công Cán Chính, mà người quân-nhân ấy lại đã ở trên đỉnh cao của cả cấp-bậc lẫn chức-vụ (“Tướng Vùng” là “Lãnh Chúa” rồi). Nào là được đề-bạt lên chức-vụ cao hơn ở Trung-Ương nhưng ông thoái-thác, tình-nguyện ở lại trấn-giữ vùng địa-đầu đầy gian-nguy này của Quê Hương; nào là ông tận-tụy dồn hết tâm-trí, công-sức và thì-giờ vào công-cuộc chống Cộng ngay ở trận tiền, hiếm khi hưởng-lạc ở thị-thành; nào là ông được Tổ-Chức Liên-Phòng Đông-Nam-Á (SEATO= South East Asia Treaty Organization) mời qua Thái-Lan hằng tháng thuyết-trình về nỗ-lực và kinh-nghiệm chiến-trường Việt-Nam; nào là ông không có tham-vọng chính-trị nên được Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu tin yêu, an-tâm rằng ông sẽ không bao giờ ly-khai Trung-Ương như cựu Trung-Tướng Nguyễn Chánh Thi ngày xưa...

Một hôm, trong lúc chờ-đợi tập-trung tài-liệu để đem đi họp tại văn-phòng Đại-Tá Hoàng Mạnh Đáng, Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đoàn I và Quân-Khu I, một số sĩ-quan cao-cấp đã ngẫu-nhiên đề-cập với tôi về Trung-Tướng Trưởng: nào là ông đã nghiêm-phạt một viên tướng Tư-Lệnh Sư-Đoàn vì liên-đới chịu trách-nhiệm trong vụ một đơn-vị thuộc quyền lùa bò của dân-nhân; nào là ông đã trừng-trị một đại-tá trưởng cơ-quan vì tham-nhũng đối với ngân-sách Phát-Triển Nông-Thôn; nào là ông dùng trực-thăng bay khắp Quân-Khu đích-thân kiểm-soát tình-hình mọi mặt, mọi nơi, kể cả giám-sát tác-phong kỷ-luật của quân-nhân dọc đường cũng như tại các đồn trại xa xôi, vào những ngày giờ bất-ngờ nhất; nào là ông chỉ mặc chiến-phục với áo giáp, mũ sắt, sẵn-sàng tác-chiến bất-cứ lúc nào... Dư-luận cũng đồn là ông đã từng tát tai một Bộ-Trưởng hãnh-tiến tại phi-trường...

Vô-số việc làm điển-hỉnh của Tướng Trưởng đã được kể lại với tôi bằng lời-lẽ và thái-độ đầy thán-phục, gây trong tôi một xúc-động mạnh và một ấn-tượng sâu, đến nỗi sau đó, lúc tôi leo lên giữa chừng cầu thang dẫn đến văn-phòng của Tướng Trưởng và Đại-Tá Đáng, thình-lình gặp Tướng Trưởng bước xuống, tôi bỗng khựng người. Sừng-sững trước tôi quả thật là hình-ảnh vĩ-đại của một người-hùng mặc-áo-giáp đội-mũ-sắt, thực-tế mà hoang-đường như trong huyền-thoại thời xưa. Ông hỏi tôi đến làm gì, tôi nghẹn-ngào không nói nên lời, khiến Đại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I An-Ninh Quân-Đội, cùng đi với tôi, phải trả lời thay.

Thế là tôi đã có một lãnh-tụ chống Cộng khả-tín cho toàn Vùng Chiến-Thuật sôi-sục này.

Vấn Ðề Quân-Nhân Vô-Kỷ-Luật

Khi người lính ở trong quân-sở hoặc quân-cứ thì quân-phong quân-kỷ có thể được xem là việc riêng trong gia-đình Quân-Lực; nhưng một khi người lính đã đi ra ngoài thì mọi ngôn-ngữ cử-chỉ dù nhỏ-nhặt cũng ít nhiều ảnh-hưởng đến mối quan-hệ giữa Quân và Dân.

So với tổng-số quân-nhân tại-ngũ thì tỷ-lệ cá-nhân vô-kỷ-luật chỉ là một con số nhỏ; nhưng những việc làm sai-quấy của số ít này đã gây bất-bình và ác-cảm không ít trong dân-nhân đối với binh-giới nói chung, tạo thành một vấn-đề trong lĩnh-vực chính-trị nội-bộ của chế-độ Việt-Nam Cộng-Hòa.

Khi nào có một người nào vi-phạm luật-pháp hoặc luật-lệ hiện-hành mà mặc quân-phục rõ-ràng hoặc tự-xưng là quân-nhân, thì Cảnh-Sát chỉ cần báo cho Quân-Cảnh đến chấp-lý mà thôi. Thế là Cảnh-Sát, ở đây, là Cảnh-Sát Sắc-Phục, không theo dõi, thống-kê, phân-loại, so-sánh tăng/giảm, tìm hiểu nguyên-nhân, v.v...; vả lại, dù có muốn cũng không làm được, vì không biết rõ tính-danh, số quân-tịch, cấp-bậc, đơn-vị, nội-dung sự phạm-pháp, cách giải-quyết, và kết-quả thế nào.

Nhưng đó lại là một vấn-đề nội-chính. Nó thuộc phạm-vi nghiên-cứu của Ngành Ðặc-Cảnh (Cảnh-Sát Ðặc-Biệt); nó xảy ra trong vùng sinh-hoạt của người dân, là vùng mà tôi đã đề-nghị và Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu sở-quan đã đồng-ý giao cho Ngành Ðặc-Cảnh chịu trách-nhiệm về an-ninh chung; và nó cũng là một mục-tiêu hoạt-động hằng ngày của chính trung-tướng Ngô Quang Trưởng. Phải bảo-toàn hình-ảnh tốt đẹp của người chiến-sĩ đang hy-sinh xương máu trên chiến-trường; phải duy-trì mối tình khắng-khít cá+nước quân dân; phải xóa sạch mọi tì-vết, không để cho kẻ thù khai-thác vơ đũa cả nắm chê-bai hàng-ngũ Quốc-Gia chúng ta.

Lần đầu tiên là vào cuối năm 1973, tôi nêu đề-tài này lên trong một buổi họp đặc-biệt của nhóm người tạm gọi là Ủy-Ban Phối-Hợp Tình-Báo Quân-Khu I, mà Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng giao cho Đại-Tá Hoàng Mạnh Ðáng, Tham Mưu Trưởng, đại-diện, chủ-tọa các buổi họp hằng tuần. Tôi lấy quốc-lộ số I là con đường bộ huyết-mạch nối liền từ thủ-đô Sài-Gòn ra các Tỉnh Miền Trung và miệt ngoài, đoạn từ Sa-Huỳnh cực-Nam của Tỉnh Quảng-Ngãi ra đến Ðèo Hải-Vân cực-Bắc của Tỉnh Quảng-Nam, trong đó có Thị-Xã Ðà-Nẵng, để làm bối-cảnh điển-hình. Trên con đường này, không những chỉ có sự đi lại của mọi tầng-lớp và thành-phần dân-nhân, các loại ngoại-kiều, mà còn có sự hiện-diện thường-xuyên và tập-trung hoạt-động của mọi cơ-quan và đơn-vị thi-hành luật-pháp và duy-trì an-ninh trật-tự chung. Vào thời-điểm đó, trung-bình hai tháng là có một vụ quân-nhân dùng súng bắn bừa vào xe đò chở đầy hành-khách đang chạy trên quốc-lộ số I, gây thương-tích cho một vài thường-dân.

Trong phòng làm việc của Đại-Tá Ðáng có một bộ-phận giống như chi-nhánh của hệ-thống nội-đàm mà tôi đoán là máy chính nằm trong phòng làm việc của Trung-Tướng Trưởng. Có lẽ ông đã mở máy mà nghe Ủy-Ban chúng tôi thảo-luận những gì. Lần họp kế sau, Đại-Tá Ðáng khéo-léo nhắc chúng tôi đừng đề-cập nhiều những vấn-đề nội-bộ, ý nói vì có Người Bạn Ðồng-Minh (viên-chức CIA cố-vấn của Ðặc-Cảnh) và thông dịch-viên cùng nghe.

Tôi còn nhớ ngày xưa, khi tôi còn làm giám-đốc chương-trình phát-thanh “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Ðệ-Nhị Quân-Khu, tôi phải đệ-trình bản thảo bài xã-luận của tôi viết hằng ngày lên cho Thiếu-Tướng (sau này là Trung-Tướng) Lê Văn Nghiêm, Tư-Lệnh Quân-Khu, duyệt trước, để được đọc trên Ðài vào chiều cùng ngày và được đăng trên báo “Tin Tức” phổ-biến khắp Quân-Khu vào sáng hôm sau. Có một lần, bài xã-luận của tôi nhắc-nhở tài-xế quân-xa tuân giữ luật-lệ lưu-thông khi lái xe trên đường thành-phố. Tôi quan-niệm rằng: khi một người lính, dù là hạng chót (binh nhì), đứng gác ở một cổng đồn, anh ta có quyền chận đường một ông Bộ-Trưởng; khi một nhân-viên Quan-Thuế (dù là hạ-đẳng) soát hàng ở một phi-trường, anh ta có quyền lục xách một viên đại-tướng; vậy thì, khi một đại-diện Cảnh-Sát (dù là sơ-cấp) kiểm-soát xe cộ, tại sao anh ta lại không có quyền chỉ dẫn đúng luật đi đường cho các quân-xa? Tướng Nghiêm phê vào bên lề bản thảo của tôi hai chữ “con cú”. Phòng Năm chúng tôi đoán ý ông cho rằng bài xã-luận ấy có phần cay-cú hoặc xoi-mói như “cú vọ” (?), nên đã xếp bỏ. Phần đông cấp trên không muốn nghe người khác nói đến khuyết-điểm của cấp dưới thuộc phần trách-nhiệm của mình.

Tuy nhiên, việc của tôi thì tôi vẫn phải làm. Ngoài Tư-Lệnh Quân-Khu ra, tôi còn báo-cáo lên Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương, là Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây. Nơi đây chuyển lên Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia kiêm Ðặc-Ủy-Trưởng Tình-Báo Trung-Ương, là Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, để trình tiếp lên Tổng-Thống. Như thế thì Trung-Ương vẫn biết đến vấn-đề đó như thường.

Sau đó, tôi không trình-bày sự-việc nói trên trong các buổi họp như thế nữa. Tôi làm công-văn báo-cáo hằng tháng lên Tư-Lệnh Quân-Khu.

So-sánh thì thấy, vào cuối năm 1973, trung-bình hai tháng mới có một vụ, gây thương-tích cho một vài thường-dân; nhưng đến mấy tháng đầu năm 1975, liền trước ngày thất-thủ Quân-Khu địa-đầu này, tổng-số thống-kê mỗi tháng đã lên đến cả chục vụ, gây cả tử-thương cho nhiều hành-khách, trong đó có một số là quân-nhân, và có lần cho cả một tu-sĩ của Ðạo Ky-Tô.

Việc Kiểm-Soát các Cựu-Can & Cựu-Cán Việt-Cộng

Phong-trào phản-đối Chiến-Tranh Việt-Nam ở Hoa-Kỳ và một số nước khác đã mở đường cho Hiệp Ðịnh Paris 1973. Hậu-quả trầm-trọng và cụ-thể nhất là Mỹ giảm bớt dần dần để rồi chấm dứt hẳn viện-trợ cho Việt-Nam Cộng-Hòa.

Sau vụ Việt-Cộng tổng-tấn-công Tết Mậu-Thân năm 1968, hoạt động của Quân-Lực cũng như của Ðặc-Cảnh gia-tăng tối đa; do đó, số cán-bộ, bộ-đội, và cơ-sở địch bị bắt cũng gia-tăng rất nhiều. Chính-Quyền phải xây-cất thêm trại tạm giam ở mỗi Tỉnh, một số trại giam thuộc Trung-Ương, và một trại tập-trung tại mỗi Vùng Chiến-Thuật, để gom lại các phần-tử nguy-hiểm được đưa từ các Tỉnh về. Thật ra, trách-nhiệm của Ngành Ðặc-Cảnh chỉ giới-hạn trong việc bắt hung-thủ và nghi-can, điều-tra, lập hồ-sơ truy-tố trước Ủy-Ban An-Ninh, hoặc chuyển nội-vụ qua Tòa Án Quân-Sự Mặt Trận; còn thì chỉ đích-thân tạm giữ một số ít đối-tượng đặc-biệt trong một thời-gian ngắn cần-thiết cho việc hỏi cung hoặc xây-dựng thành mật-viên, tại Trung-Tâm Thẩm-Vấn là nơi hội đủ các điều-kiện tiêu-chuẩn tối-thiểu được sự cố-vấn và yểm-trợ trực-tiếp của các chuyên-gia Hoa-Kỳ. Ngoài ra, chế-độ giam-giữ và đối-xử trước khi thành-án thì thuộc phần đảm-trách của các Trại Tạm Giam ở phía Sắc-Phục của Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực, Trung-Tâm Cải-Huấn thuộc Bộ Nội-Vụ, hoặc Trại Giam Tù-Binh Cộng-Sản Việt-Nam thuộc Bộ Quốc-Phòng; và sau khi thành-án thì do Tổng-Nha Cải-Huấn hoặc Bộ Tổng Tham Mưu quản-lý và kiểm-soát cho đến ngày các đương-nhân được trả tự-do.

Tuy thế, Ngành Ðặc-Cảnh vẫn là cái đích chính của mọi sự chỉ-trích liên-quan đến tù và trại giam. Do đó, Ngành Ðặc-Cảnh bị đặt trong một tình-trạng tiến/thoái lưỡng-nan. Một mặt thì hứng chịu phần lớn dư-luận công-kích là chế-độ có quá nhiều tù và trại giam: trại giam thì thiếu tiện-nghi, mà tù thì bị ngược-đãi, thậm-chí tiếng lóng “bị nhốt chuồng cọp”, là một hình-thức kỷ-luật áp-dụng ở đâu ngoài Ngành Ðặc-Cảnh, cũng bị dịch sai và hiểu lầm một cách có ác-ý là tù bị nhốt chung chuồng với cọp. Một mặt thì phải rút ngắn thời-gian điều-tra, lập hồ-sơ; riêng tại Trung-Tâm Thẩm-Vấn thì phải đi trước các trại giam khác về việc: tăng thêm thức ăn; trổ thêm cửa sổ; tăng thêm hệ-thống ánh sáng và vệ-sinh, y-tế; giảm bớt số người giam chung trong mỗi phòng – nghĩa là tăng thêm phòng giam, nhưng đồng-thời lại phải giảm bớt tổng-số phòng giam!

Tình-hình chung được đặt dưới sự kiểm-soát thường-xuyên và bất-thần của vô-số tổ-chức và nhân-vật: trong Chính-Quyền thì ngoài các Thanh-Tra nội-bộ từ cấp Vùng lên đến cấp Trung-Ương còn có Biện-Lý, các phái đoàn Viện Giám-Sát, Dân-Biểu, các cơ-quan Y-Tế, Xã-Hội, v.v...; ngoài Chính-Quyền thì có các tu-sĩ thuộc mọi giáo-hội, các hội-đoàn từ-thiện, các nhà báo, v.v..., chưa kể áp-lực từ các nhóm tranh-đấu, như “Phong-Trào Ðòi Cải-Thiện Chế-Ðộ Lao-Tù”, v.v...

Căng nhất là vào cuối năm 1972, giai đoạn chuẩn-bị gấp rút cho Hiệp-Ðịnh Paris 1973, Chính-Quyền Trung-Ương trù-liệu giảm bớt trại giam bằng cách đóng cửa, hoặc bỏ bớt một số phòng, và giảm-thiểu tù bằng nhiều cách: chỉ giữ lại một số can-phạm quan-trọng và nguy-hiểm nhất, còn thì trả tự-do cho những cá-nhân được sự bảo-lãnh của thân-nhân là công-chức hoặc sĩ-quan cao-cấp của Việt-Nam Cộng-Hòa; cho những phần-tử có khai-báo thật-thà được hưởng quy-chế hồi-chánh-viên; chuyển những cán+cơ hoạt động có vũ-trang qua diện tù-binh để trao trả cho đối-phương; phóng-thích, nhưng chỉ định cư-trú, một số đông những cựu-can, cựu-cán có tiền-án tiền-tích hoạt-động cho Việt-Cộng, tuy không hội đủ yếu-tố để bị kết tội giam lâu nhưng bị xét thấy có hại cho an-ninh chung, và những cán-binh tuy xin ra hồi-chính nhưng tránh né khai-báo và có chỉ-dấu là trá-hàng, v.v...

Ngoại-trừ các tù-nhân đang còn thụ-án và các tù-binh đang chờ được trao trả cho bên kia, tất cả các thành-phần trên đều là đối-tượng cho Ngành Ðặc-Cảnh giám-thị, theo dõi, và nếu cần thì đương-đầu. Nhưng Ngành Ðặc-Cảnh lại không được hỏi ý-kiến về nơi chỉ định cư-trú cho các đối-tượng này.

Thời-gian đó, nhiệm-sở của tôi là Vùng II. Một hôm, trong một buổi họp của Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu II, tại Nha Trang, Phó Tư-Lệnh là Đại-Tá Nguyễn Cắt, chủ-tọa, đã ra lệnh cho Bộ Tham-Mưu thuộc quyền hội-ý với các Tỉnh-Trưởng để chọn một Tỉnh trong Quân-Khu làm địa-hạt chỉ-định cư-trú chung cho tất cả các cựu-can, cựu-cán và hồi-chánh-viên đặc-biệt nói trên tập-trung về từ các Tỉnh và Thị-Xã khác khắp Quân-Khu.

Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu II không mời Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng II cùng dự buổi họp này.

Bản-thân tôi vốn có những quan-hệ công-vụ chặt-chẽ với các sĩ-quan cao-cấp đứng đầu các cơ-quan Quân-Báo và Quân-An ở cấp Quân-Ðoàn và Quân-Khu, nên tuy không được mời đến nhưng tôi vẫn lợi-dụng điều đó để đến dự các buổi họp nội-bộ của họ mỗi sáng sớm tại Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn/Quân-Khu. Qua việc làm của Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu II, tôi thấy rõ là Trung-Ương muốn thay thế các trại giam hữu-hình, mà diện-tích chỉ xấp-xỉ một ô phố, bằng những trại giam vô-hình, mà sức chứa là lĩnh-thổ của cả một Tỉnh, vô vàn rộng lớn hơn. Biện-pháp ấy chắc-chắn sẽ bị đả-phá dữ-dội hơn, nhất là bởi giới truyền-thông nước ngoài, tai-hại vô cùng cho chế-độ Miền Nam. Không thể im-lặng đồng-tình, tôi đã đứng lên phát-biểu ý-kiến: “Tôi tin là sẽ không có một Tỉnh-Trưởng nào, nếu thật-sự là Tỉnh-Trưởng, mà lại thuận nhận cho Tỉnh mình trở thành một địa-phương quản-thúc tù.” Ðại-tá Cắt bất-bình, nhìn thẳng mặt tôi: “Anh tưởng là tôi không trừng-phạt được các Tỉnh-Trưởng nào không tuân lệnh của Quân-Khu sao?”

Cũng như phần đông các nhà lãnh-đạo ở cấp quốc-gia, ông quan-niệm mỗi Tỉnh-Trưởng chỉ là một Tiểu-Khu-Trưởng, nên lấy con mắt quân-sự mà nhìn chính-sự, và áp-đặt mệnh-lệnh hành-pháp bằng kỷ-luật nhà binh.

Sau khi nghe ý-kiến của tôi qua thông-dịch-viên, các viên-chức cao-cấp trong Bộ Tư-Lệnh Cố-Vấn Quân-Sự và Viện-Trợ Kinh-Tế của Hoa-Kỳ đã đưa ngón tay cái chĩa lên trời về phía tôi mà gật gật đầu. Thấy thế, tôi không nói gì thêm.

Sau đó, không có Tỉnh nào được chọn làm lĩnh-thổ quản-thúc tù chính-trị cho toàn Vùng II.

*

Biện-pháp áp-dụng từ đó cho đến sau ngày đã có Hiệp-Ðịnh Paris là cho trở về quê cũ, người nào làng nấy, cư-trú cố-định và hạn-chế đi lại, các cựu-can cựu-cán và hồi-chính-viên đặc-biệt mà tin-tức tình-báo cũng như nhận xét của các giới-chức Cải-Huấn thuộc Bộ Nội-Vụ và Phục-Hoạt thuộc Bộ Chiêu-Hồi đã xếp vào loại “mìn ngụy-trang”, “khổ-nhục-kế”, chưa cho phép tự-do hoàn-toàn. Tùy theo sự xếp loại, các phần-tử ấy phải đến trình-diện mỗi tháng, mỗi hai tuần, hoặc mỗi tuần, tại Phòng Ðặc-Cảnh Quận sở-tại; tại đây, nhân-viên chuyên-trách có lập một cuốn sổ, để các đương-nhân khi đến thì ghi tên, tuổi, địa-chỉ, ngày giờ đến trình-diện, và ký tên vào, làm bằng-chứng đã được kiểm-soát để lưu hồ-sơ.

Tại Vùng I, tin-tức nội-tuyến cho biết có một số phần-tử thuộc diện nói trên đã tái-hoạt-động cho Việt-Cộng. Tôi liền đích-thân đến thử một số Xã thuộc Tỉnh Quảng-Nam để tìm hiểu tại chỗ xem sao.

Về việc trình-diện: có một số người liên-hệ đã ăn nên làm ra, hoặc đã trở thành đảng-viên quan-trọng của Việt-Nam Quốc-Dân Ðảng, không còn đến trình-diện tại Phòng Ðặc-Cảnh Quận hoăc Cuộc Cảnh-Sát Xã nữa, mà chính nhân-viên hữu-trách phải mang sổ đi tìm, bất-cứ ở đâu, lúc nào, có khi gặp rồi mà còn phải chờ chực, để được đối-tượng ký-chỉ vào sổ trình-diện, cho có hình-thức là đã kiểm-soát họ rồi.

Về việc chỉ-định cư-trú và hạn-chế đi lại: dân-chúng được tự-do đi lại và cư-trú; trừ một ít trường-hợp đặc-biệt, Cảnh-Sát không soát xét tờ khai gia-đình; Cảnh-Sát cũng ít phối-hợp công-tác với Xã-Trưởng. Do đó, có một số phần-tử nguy-hiểm đã rời khỏi địa-phương; họ được các Chủ-Tịch Ủy-Ban Hành-Chánh Xã nguyên-quán cấp giấy phép cho chính-thức ra đi, nhất là vào các thị-xã, đặc-biệt là vào Ðà Nẵng, là những nơi họ bị cấm đến, để thoát khỏi sự kiểm-soát của cơ-quan an-ninh và dễ tái-hoạt-động sau khi đã đổi vùng. Lúc đầu thì ít, về sau thì càng ngày càng nhiều.

Cả một vấn-đề hệ-trọng như thế, mà mấy năm trời không ai hay biết gì.

Việc Dân Quê Bỏ Làng Ði Theo Việt-Cộng

Vào khoảng cuối năm 1973, trung-bình vài tháng mới có một vài thanh-nam miền quê vắng nhà lâu ngày; điều-tra thì được biết họ đã lén-lút vào rừng theo cộng-quân.

Tôi cũng cho lập bảng thống-kê hằng tháng về sự-kiện này thì thấy con số mỗi ngày một gia-tăng.

Cũng như đối với các vấn-đề khác, tôi ra lệnh cho cấp dưới ghi-nhận, báo-cáo, lập bảng thống-kê, rồi so-sánh mức-độ và cường-độ tăng/giảm thế nào, không phải chỉ để biết suông mà thôi. Tôi đã chỉ-thị cho các Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh trình lên Tỉnh-Trưởng sở-tại với đề-nghị có biện-pháp ngăn+trừng. Tôi cũng đã trình lên Tư-Lệnh Quân-Khu, đồng-thời trình lên Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương, để các nơi này trình tiếp lên cho Tổng-Thống được biết về vấn-đề này.

Về phần Cảnh-Lực thì tại mỗi Xã cũng như mỗi Phường đều có một Cuộc Cảnh-Sát, nhưng chỉ là Cảnh-Sát Sắc-Phục, kiểm-soát vệ-sinh, điều-khiển lưu-thông, kiểm-tra dân-số, chấp-lý các vụ vi-phạm luật-lệ hình-sự và thể-lệ hành-chánh hiện-hành. Ðúng ra thì họ cũng có bổn-phận ngăn-chận không để người dân từ vùng Quốc-Gia di-chuyển qua vùng cộng-sản, vì là vi-phạm quy-định hành-chánh; nhưng phần lớn họ chỉ giới-hạn nhiệm-vụ trong việc thỉnh-thoảng xét hỏi giấy tờ những người khả-nghi, còn những gì hằng ngày có liên-quan đến cộng-sản, tức là chính-trị, thì họ phó mặc cho Ngành Ðặc-Cảnh đảm-đương. Vậy mà Trung-Ương không thiết-lập cơ-cấu Ðặc-Cảnh xuống thấu cấp Xã, mặc dù Việt-Cộng từ xưa đã biết xây-dựng cơ-sở từ cấp Tổ Tam-Tam leo lần lên cấp Khóm Thôn, trong từng Xã một, rồi tiến lên cấp cao hơn.

Ðể đối-phó với Việt-Cộng ở cấp Xã, Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia chỉ-định Trưởng Cuộc Cảnh-Sát Xã kiêm-nhiệm đại-diện Ngành Ðặc-Cảnh tại địa-phương mình; nhưng hầu hết các viên-chức này không am-thạo, mà cũng không ham-thích, công-tác chính-trị và phản-gián, vả lại không có nhân-viên đặc-trách tại Cuộc để giữ phần-hành chuyên-môn, nên tuy có đại-diện mà cũng gần như không. Dù theo lý-thuyết thì mỗi Cuộc đều có một vài nhân-viên phụ-trách Chương-Trình “Phụng Hoàng”, xem như để đương-đầu với Việt-Cộng, nhưng trên thực-tế thì đa-số các nhân-viên này chỉ là những ký-sự văn-phòng, lấy tài-liệu từ Ủy-Ban Phụng-Hoàng Quận, hầu hết do Ngành Ðặc-Cảnh cung-cấp, để lập hồ-sơ, thống-kê, biểu-đồ, về tình-hình hạ-tầng cơ-sở địch, chỉ để thuyết-trình mỗi khi có phái-đoàn đến thanh-tra hoặc mang đi họp, chứ hiếm khi tự mình thu-thập tin-tức hoặc tự mình tìm bắt tên Việt-Cộng nào.

Về phần chính-quyền Xã thì tuy có một Ủy-Ban Hành-Chánh nhưng nhiều nơi mọi việc đều do một mình Xã-Trưởng nắm trong tay. Thật ra, các vấn-đề quan-trọng đều do chính-quyền Quận chủ-trì. Xã-Trưởng chỉ dự họp, dự lễ, ký các loại hộ-sự chứng-thư; cũng có nơi thì lập danh-sách nhận tiền trợ-cấp di-tản, bồi-thường thiệt-hại chiến-tranh, v.v... Hầu hết Xã-Trưởng đều không quan-tâm đến việc dân làng bỏ trốn theo đối-phương; nhưng, dù có bận lòng thì cũng không làm gì được, vì không có lực-lượng, không chỉ-huy được Cảnh-Sát hay Nghĩa-Quân. Ða-số Xã-Trưởng chỉ có mặt trong Xã vào ban ngày, còn ban đêm thì về ngủ ở quận-lỵ hoặc tỉnh-lỵ cho được an-toàn.

Trong tình-trạng chiến-tranh, nòng-cốt của chính-quyền Xã là một trung-đội Nghĩa-Quân, do một hạ-sĩ-quan thuộc Chi-Khu biệt-phái đến chỉ-huy. Lực-lượng quân-sự này canh gác một số yếu-điểm vào ban đêm. Từ năm 1973, Quân-Lực thành-lập thêm một tổ-chức lãnh-thổ cấp Xã, gọi là Phân-Chi-Khu, do một sĩ-quan chỉ-huy đơn-vị Nghĩa-Quân nói trên. Phân-Chi-Khu hầu như là một văn-phòng tham-mưu hơn là một bộ chỉ-huy hành-quân. Và không phải Phân-Chi-Khu- Trưởng nào cũng ở lại tại Xã vào ban đêm.

Phân-Chi-Khu- Trưởng, có lính dưới quyền, trở thành một thế-lực mâu-thuẫn với Xã-Trưởng. Trong một đại-hội Phân-Chi-Khu thuộc Quân-Khu I tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Nghĩa-Quân Hòa-Cầm, ở ngoại-ô Ðà-Nẵng, do Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu chủ-tọa, nhiều Phân-Chi-Khu- Trưởng đã chỉ-trích các Xã-Trưởng là già-yếu, học-lực thấp, thiếu năng-động, v.v... trong lúc không có mặt các Xã-Trưởng. Tổng-Thống Thiệu đã gợi ý cho các Phân-Chi-Khu- Trưởng kiêm-nhiệm Xã-Trưởng thay thế các người này. Báo-chí đã tường-thuật cái nhíu mày của Đại-Sứ Hoa-Kỳ, và đặt câu hỏi: tổng-thống nghĩ gì khi đòi xóa bỏ tư-cách dân-cử của Xã-Trưởng, là nhân-vật được dân bầu vào Hội-Ðồng Xã và Hội-Ðồng này cử ra, trong lúc Hội-Ðồng Xã là một đơn-vị dân-cử cơ-bản trên đường dân-chủ-hóa để còn tiến tới bầu-cử Quận-Trưởng, Tỉnh-Trưởng, Thị-Trưởng, là các cấp còn lại trong hệ-thống Chính-Quyền Quốc-Gia?

Dân làng bỏ theo Việt-Cộng là một căn bệnh truyền-nhiễm. Chính-Quyền đã không ngừa bệnh mà cũng không chữa bệnh đúng cách. Chế-độ không chịu nhìn thấy những nguyên-nhân đánh mất niềm tin của người dân, và cũng không chịu chọn những phương-sách thích-ứng để khôi-phục lại niềm tin ấy, vì đã đặt quân-sự lên trên chính-trị và dân-sự, cả sau khi tình-hình đất nước đã mở vận-hội cho thế đối đầu quân-sự được bổ-sung thêm bằng thế đấu-tranh chính-trị trực diện với kẻ thù. Vấn-đề này đã vượt lên trên khả-năng và trách-nhiệm của một Tư-Lệnh Quân-Khu, tức Chính-Quyền Vùng, đặc-biệt là tướng Trưởng, viên tướng biên-thùy không có tham-vọng chính-trị nên giới-hạn cái nhìn trong con mắt nhà binh.

Riêng tại Vùng I, vào những tháng cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa, trung-bình mỗi tháng đã có hằng chục vụ dân làng bỏ vùng Quốc-Gia vào rừng núi sống với Việt-Cộng: không còn lẻ-tẻ từng người lâu lâu lén-lút một lần, mà là cả gia-đình, nhiều gia-đình đồng loạt, công-khai chuyển-nhượng nhà đất và thanh-toán tài-sản, ồn-ào chuẩn-bị, và ngang-nhiên kéo đi, cả giữa ban ngày, trước mắt các cơ-cấu chính-quyền và đơn-vị quân-lực tại hương-thôn.

*

Trong các buổi họp tại Quân-Khu, các cấp lãnh-đạo không đề-cập gì đến các vấn-đề then-chốt mà tôi đã nêu ra như trên.

Dù phía Việt-Nam có cố giữ kín trong nội-bộ, nhưng chắc gì phía Hoa-Kỳ đã không nắm được những điểm khuyết/nhược đó trong sách-lược và thực-lực của Ðồng-Minh mình...

LÊ XUÂN NHUẬN

(trích từ cuốn sách hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” của Lê Xuân Nhuận, do nhà Văn Nghệ ở nam Cali xuất-bản vào năm 1996 – ISBN: 1-886566-15- 1 )

Posted: Mon Jun 28, 2010 2:03 am
by dailien
Hát Cho Một Người Nằm Xuống

Giao Chỉ- San Jose

Image
SVSQ Văn tích Sơn.
Câu chuyện tháng sáu

Nhu cầu công tác truyền thông đã đưa chúng tôi đến công việc mỗi tuần viết một bài về Chuyện San Jose. Mỗi tuần là một lần lựa chọn. Ðôi khi không phải chuyện địa phương mà chỉ gọi là chuyện Viết từ San Jose.

Tháng 6 này đề tài phải chọn đúng ra là chuyện bầu cử địa phương với các ứng cử viên Việt Nam. Nhưng thiên hạ đã bàn tán hết chữ nghĩa. Nói năng chi cũng thừa. Bèn thông qua. Ngày 13 chủ nhật là ngày hội giáo chức phát phần thưởng. Con đường văn hóa vẫn miệt mài. Ngày 19 và 20 là ngày Quân lực, ngày của người cựu chiến binh chưa thấm mệt. Ðấu tranh cũng vẫn miệt mài. Cuối tháng 6 lại là lần thử lửa quan trọng của mặt trận RMS. Ba chữ viết tắt lạ lùng này có nghĩa là Ra Mắt Sách.

Chiều thứ bảy 26/6/10 tại ViVo ra mắt sách: Nhìn lại Sử Việt. Thơ mời hết sức trang trọng vì ban tổ chức là Thân hữu Ngân Hàng Phát triển kỷ nghệ Việt Nam. Không biết đây là quá khứ hay hiện tại. Lại có sự bảo trợ bởi ba hội Ái Hữu Bắc Trung Nam. Chu Văn An, Ðồng Khánh và PetrusKy. Quan khách giới thiệu gồm có Khương Hữu Ðiểu, Nguyễn Ðức Cường và Hoàng Ðức Nhã. Tác giả là giáo sư Lê Mạnh Hùng hiện ở London. Qua đến ngày chủ nhật 27/6/10 tại phòng họp County, vào buổi chiều, cuốn sách của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng sẽ ra mắt với Tâm tư Tổng Thống Thiệu. Ðây là một tác phẩm được coi là thành công về quảng bá thị trường. Sẽ có đông người dự và còn nhiều thảo luận tranh cãi. Tuy nhiên, cùng trong một dịp cuối tuần, hết sức tình cờ hai nhân vật một thời thân cận và liên quan đến vị Tổng Thống đệ nhị Cộng Hòa đều đến San Jose. Quả là một sự kiện đáng lưu ý.

Chưa hết, ngày chủ nhật 11 tháng 7/2010 giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sẽ về San Jose giới thiệu một tác phẩm: Ngày long trời, đêm lở đất, viết về chuyện cải cách ruộng đất. Tác giả là nạn nhân đã bị hành quyết, như vậy tác phẩm coi như là một tiếng nói từ bên kia thế giới để lại cho con cháu. Xin dọn đường trước để các độc giả San Jose đón coi.

Riêng tuần này, chúng tôi không thể không nhắc đến một buổi văn nghệ hết sức đặc biệt vào trưa ngày thứ hai 7/6/2010.

“Hát cho người nằm xuống”.

Trưa thứ hai, đầu tuần, ông Lại Ðức Hùng điện thoại mời niên trưởng đi dự buổi văn nghệ tại phòng 108, khu nursing home góc Tully của bác sĩ Ngãi. Anh chị em nghệ sĩ tài tử và thân hữu đến hát cho một cựu quân nhân nằm tại đây. Xin nói ngay là ông đang nằm chờ giây phút cuối hay là chờ phép lạ.

Khi tôi bước vào thì các bạn đang quay quần chung quanh giường bệnh. Có lời ca, tiếng đàn, tiếng khóc và lạ lùng chưa lại có cả tiếng cười. Sau mỗi bài hát lại có cả tiếng vỗ tay. Bệnh nhân nằm yên. Mắt mở an nhiên tự tại, tay chân và thân hình co rút gầy guộc. Hai tay giơ cao khẳng khiu, đôi mắt vẫn tinh anh. Nói năng còn minh mẫn.

Ban văn nghệ hát nhạc thiền. Cô ca sĩ Thu Nga hát nhạc tình có phu quân đánh đàn. Nghệ sĩ Ðan Hùng ngâm thơ. Các ca sĩ tài tử thay nhau trình diễn. Ông Lại Ðức Hùng hò dân ca ba miền. Bài sau cùng Ðan Hùng hát theo lời yêu cầu của người chuẩn bị ra đi. Ðó là bài “Hát cho một người vừa nằm xuống.” Bệnh nhân nói rằng tuy nằm xuống nhưng không phải là đã ra đi. Mọi người cùng cười, nhưng lời ca đau thương đã cất lên. “Anh nằm xuống, bên nghĩa trang này.......” Quả thực trong đời tôi chưa bao giờ tham dự một chương trình văn nghệ lạ lùng như vậy.

Sơn Văn (Văn tích Sơn)

Người nằm xuống mà chưa đi vào chiều ngày thứ hai 7/6/2010 là MC. Sơn Văn của San Jose. Anh tên thật là Văn Tích Sơn, nguyên Ðại úy xuất thân khóa 21 Võ bị Ðà lạt. Ra trường về Sư đoàn 21 rồi thuyên chuyển đó đây. Ðến khi bị thương nặng thì được đưa qua hành chánh về làm phường trưởng tại Sài Gòn. Gia đình Sơn Văn quê Sơn Tây, cha mẹ di cư vào Nam 1954 và trước sau có tất cả 9 người con. Sơn là con trưởng. Năm 1964 đậu tú tài rồi vào Ðà Lạt học 2 năm. Cô em gái được lên Ðà Lạt dự mãn khóa của ông anh vẫn còn nhớ mãi kỷ niệm một thời hoa mộng. Ôi bác biết không? Các anh sinh viên sỹ quan mặc đồ đại lễ mãn khóa đẹp ơi là đẹp. Anh Sơn cao và đẹp trai. Hai vợ chồng ông Kỳ-Tuyết Mai lên chủ tọa. Ðó quả thực là những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ. Dù là chinh chiến nhưng năm 64/66 chưa phải là chinh chiến điêu linh. Sáu tám Mậu Thân chưa tới và còn lâu mới đến 72 đỏ lửa, nói gì là chuyện tan hàng 75.

Sau phần văn nghệ bên giường tử sinh, tôi ngồi nói chuyện với cô em thứ bảy từ bên Úc qua. Cô Phương nói rằng cha tụi em thì mất rồi, nhưng mẹ già còn sống ở Saigon năm nay hơn 90 tuổi. Gia đình có 9 anh chị em thì chia ra ở 3 đại lục. Bên Úc có 3 gia đình. Bên Mỹ có 3 gia đình, còn lại Việt Nam 3 gia đình. Anh Sơn Văn có vợ con nhưng chia tay khi anh bị đi tù ở Hàm Tân, Xuyên Mộc. Ði tù về anh Sơn HO qua Mỹ một mình, sống ở San Jose như một người lữ khách độc hành.

Tình bằng hữu, duyên văn nghệ:

Suốt bao năm Sơn Văn mang đôi mắt người Sơn Tây với tình cảm bằng hữu và se duyên văn nghệ ngay từ khi trong trường Võ Bị. Anh là sinh viên sỹ quan đã có được hùng khí từ tiếng nói. Cậu Alpha đỏ hô nghiêm nghỉ dõng dạc được cán bộ nhà trường chú ý cho tham dự chương trình phát thanh. Từ đó duyên kiếp gắn liền với nghề MC, giới thiệu, trình diễn, thuyết trình. Chút nghề riêng được xử dụng khắp mọi nơi.

Qua đến San Jose suốt bao năm sinh hoạt với Liên Hội và các đoàn thể, Sơn Văn không nệ hà đứng máy nói ào ào như nước chảy hoa trôi, thiên văn địa lý thông tuệ hơn cả cán bộ tâm lý chiến của Việt Nam Cộng Hòa. Tiếng nói to lớn đầy hùng khí và nội lực rất mạnh nhiều khi thính giả cao niên còn thấy vất vả với ông MC nhiệt huyết.

Lần này tôi rất xúc động với tâm tình của ban văn nghệ và các bạn cựu sinh viên võ bị một thời nên tiếp tục hỏi chuyện anh Vũ văn Hợi. Ông này là đại úy Mũ Ðỏ, đại đội trưởng nhảy dù từ tốn nói rằng: Anh em chúng tôi hiện chơi với nhau có 3 người cùng khóa 24, anh Lại Ðức Hùng, tôi là Vũ Văn Hợi (nhẩy dù) và Nguyễn Thanh Lương (Thủy quân lục chiến) Thấy niên trưởng Sơn Văn bị tai nạn xe tông gần chết mấy năm trước nên sẵn có phương tiện bèn đưa đón. Ðây là tình riêng giữa anh em chứ không dám nhận danh hiệu chính thức gì cả. Trong quân đội, chẳng cứ binh chủng và quân trường, cứ lớn tuổi là niên trưởng. Dù sao ông Sơn Văn cũng trên đàn em 3 khóa.

Nghe anh em tâm tình ngay bên giường bệnh, tôi nói rằng trước đây mình chẳng biết ông này là ai. Chỉ thấy ông chống gậy đi lại khó khăn, nhưng mỗi lần gặp các đàn anh cao niên, Sơn Văn cố đứng ngay ngắn giơ tay chào hết sức uy nghi, thưa gởi lễ độ. Chợt nghĩ thầm, tay này là ai mà lễ nghi quân cách nặng như vậy. Khi được giới thiệu nói vài lời với người nằm đó. Tôi thực sự nghẹn ngào. Cúi xuống cầm tay nói rằng, cậu này lì thật, chẳng biết bụng dạ thế nào chứ nhìn mặt cậu bình thản rõ ràng coi chuyện tử sinh nhẹ như không. Nhắc đến chuyến đi cuối cùng, Sơn Văn lại nhếch miệng cười ruồi, coi như bây giờ đi lúc nào cũng được. Tôi quay ra nói với anh em rằng, tác phong của Sơn Văn như vậy chắc mọi người ai nấy đều thương yêu và kính trọng. Anh em lại nói rằng, thấy vậy mà không phải vậy. Sơn Văn cũng có kẻ thương người ghét ngay từ quân trường cho đến khi ra đơn vị rồi đến bên này. Nhưng bây giờ là giây phút biệt ly thì chắc ai cũng phải bỏ qua hết.

Tôi lại bên giường bệnh thêm một lần nữa. Nhìn sâu vào đôi mắt người Sơn Tây giơ tay chào. Ðôi mắt của người bệnh vụt sáng long lanh đầy thiện ý, Sơn Văn giơ bàn tay trơ xương chào lại niên trưởng với nụ cười hết sức hiền lành.

Câu chuyện phủ cờ:

Tôi lại ghé vào tai nói rằng: Bây giờ bàn chuyện này nhé. Chẳng biết sẽ đi lúc nào, nhưng anh nghe Lại đức Hùng nói Sơn Văn muốn được phủ cờ khi nằm xuống. Bây giờ cậu nói tôi nghe, cậu muốn ai đứng ra làm việc này. Tôi vừa nói vừa gọi cô em gái đến để cùng nghe cho rỏ những lời di chúc sau cùng. Sơn Văn nói rằng xin niên trưởng nói hộ để Lại Ðức Hùng làm việc này. Tôi nói rằng một mình anh Hùng không đủ, Sơn nói thêm thì có Hợi, Lương, Thọ là đủ bốn người bốn góc. Hợi và Lương thì tôi có biết. Nhưng Thọ là ai tôi chưa hay, nhưng xem ra như thế là quá đủ rồi. Chẳng phải là danh nghĩa binh chủng hay quân trường. Ðây chỉ thuần túy là ước mong cuối cùng của một người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa nằm xuống. Và người thi hành vì tình chiến hữu pha duyên văn nghệ. Chẳng khác gì anh em con cháu trong nhà.

Tuy nói như vậy, suy nghĩ như vậy nhưng sao tôi thấy hết sức nghẹn ngào. Tôi thật tình cờ được ông Hùng gọi đến vào buổi trưa định mệnh xem màn văn nghệ tử sinh mà thấy như sống thêm được một ngày đầy ý nghĩa.

Sơn Văn chỉ là một sinh viên võ bị rất bình thường. Cái khóa của anh cũng có cái tên rất bình dân là Chiến thắng Nông thôn. Học có hai năm mà trải qua đến bốn đời chỉ huy trưởng. Chẳng còn nhớ ông nào để mà coi là thần tượng. Ra trường, cũng chiến đấu, cũng bị thương với viên đạn xuyên qua lồng ngực nhưng đóng vai quân nhân tàn phế loại 2 thì cũng đáng buồn. Qua đến đất Mỹ anh trở thành người cựu tù chính tri cô đơn. Gia đình đông anh chị em nhưng mỗi người một ngả. Từ bốn phương trở về, rồi đi tới đi lui nhưng không thể nào tiền định được giờ phút sinh ly tử biệt. Ai cũng biết rằng bệnh ung thư đến thời kỳ thứ tư, bác sĩ lắc đầu và nhà thương từ chối. Nhưng Sơn Văn vẫn còn bình tĩnh nằm chờ...

Hai cô em có gia đình sinh sống làm ăn ở quận Cam, mấy tuần nay cứ xe đò Hoàng nhẩy tới nhẩy lui. Cô em thứ bảy từ Úc về chờ anh ra đi có lúc ngồi tấm tức khóc. Cô nói rằng mới thoát bước ra ngoài, khi quay lại anh Sơn nói rằng em phải luôn luôn ở bên anh. Có thể chỉ chốc lát quay lại là anh đi rồi. Anh muốn lúc ra đi phải có người thân bên cạnh. Chị em bèn thuê một căn nhà bên cạnh nursing home. Chia nhau canh thức chờ anh đi. Nhưng cô nói rằng, nếu lâu quá mà anh không đi thì em cũng phải về bên Úc. Còn cửa hàng, còn chồng em, còn giòng đời trôi chảy. Không lẽ ngồi đây mà cầu cho anh đi sớm. Nhưng anh đã can đảm từ chối các phương tiện y khoa, từ chối các nguồn dinh dưỡng. Chỉ còn những muỗng nước tình nghĩa của thân quyến và một chương trình văn nghệ hết sức lạ lùng.

Hát cho một người nằm xuống và sắp ra đi

Câu chuyện bàn định sau cùng là những ai sẽ cầm 4 góc của 1 lá Quốc Kỳ. Lá cờ sẽ phủ lên quan tài của đại úy Sơn Văn, người MC tình nguyện của San Jose, khóa Võ bị 21 Chiến thắng Nông Thôn. Quả thực cũng là chuyện lạ.

Nhưng mà hát cho một người nằm xuống trong lúc vai chính chờ giờ ly biệt mà lại còn cố vỗ tay theo điệu hát. Trong đời người, chuyện này tôi chưa từng thấy lần nào.

Vì vậy nên sẽ không vội có lời vĩnh biệt ở đây.

Tuần tới tại San Jose sẽ lại có 2 ngày Quân Lực.

Ngày nào là ngày của SVSQ Văn tích Sơn. Giao Chi. San Jose.

Ngàn Thu vĩnh biệt

Cựu sinh viên sỹ quan Võ bị, khóa 21, đại úy Văn Tích Sơn đã ra đi lúc 8 giờ sáng ngày thứ năm 10 tháng 6-2010 tại San Jose, hưởng thọ 69 tuổi.

Linh cữu quàn tại Oak Hill. Phát tang 12 giờ trưa thứ ba 15-6-10. Hỏa táng trưa thứ tư 16-6-10. Liên hội tổ chức tưởng niệm tối thứ ba,15-6-2010 từ 6:00 pm dến 8:00 pm. Xin mời các cựu quân nhân, văn nghệ sĩ, các thân hữu và chiến hữu, bạn bè truyền thông vui lòng đến dự để cùng cầu nguyện cho hương hồn Sơn Văn sớ về nơi vĩnh cửu.

Posted: Tue Jul 06, 2010 3:19 am
by thienthanh
Tâm tư của một cựu chiến binh đã ra người thiên cổ

Chính Biên
“Như cây đèn cạn dầu, nằm nhà thương, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay. Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác. Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao lâu nữa. Thế là hết một kiếp người!”

Ðó là đoạn văn kết của một bức thư viết ngày 11 tháng 5 năm 2010 từ trong nhà thương của một cựu Ðại Úy Nguyễn Hữu Phú thuộc ngành An Ninh Quân Ðội QLVNCH, gửi đăng trên mục “Viết về H.O.” của nhật báo Người Việt.

Nay thì được tin anh Phú vừa mất vào lúc 12.30 hôm Thứ Bảy, 26 tháng 6 vừa qua. Linh cữu đang được quàn tại Peek Family và giờ thăm viếng bắt đầu từ 10 giờ sáng ngày Thứ Năm, 1 tháng 7.

“Thế là hết một kiếp người” như anh đã viết.

Một kiếp người của anh cũng là một kiếp người của biết bao nhiêu người cùng lứa tuổi anh. Lớn lên, có khi chưa hết cấp trung học đã phải vào lính bảo vệ quê hương trước sự xâm lăng phá hoại của cộng sản Bắc Việt. Dằng dặc trong hàng chục năm chinh chiến với bao thiếu thốn trong cuộc sống, gian nguy trong sinh tử chiến trường để rồi khi hòa bình đến thì tất cả ngây thơ đi “trình diện học tập,” cả nút vào tù tập thể mà anh Nguyễn Hữu Phú trong những ngày cận kề cái chết tại một nhà thương nơi miền đất hồi sinh đã tưởng nhớ và viết lại.

Sổ Tay Cựu chiến Binh xin được đăng lại bài viết này của anh Phú như một lời thương tiếc gửi đến anh. Từ nay anh đã thoát khỏi “kiếp người” mà Vũ Hoàng Chương đã nói “Lũ chúng ta đã sinh lầm thế kỷ.” Mong anh sớm tới được miền Nước Chúa.
Image
Tác giả Nguyễn Hữu Phú và gia đình.
(Hình: Tác giả cung cấp)


Kỷ yếu một H.O.
Nguyễn Hữu Phú
Cha mẹ tôi vốn là phú nông, còn thêm buôn bán từ Huế ra Vinh. Hồi nhỏ, tôi học trường Donbosco tại Quảng Trạch, Quảng Bình, do các cha và các thầy dòng dạy. Tháng 7, 1954, Hiệp Ðịnh Geneve, ngừng bắn, gia đình di cư vào Nam, lập nghiệp tại Kim Long, Huế. Vào Nam, tôi học các trường Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Sao Mai. Ra trường, đi làm và tự lập. Năm 1959, cha mẹ từ Huế vào cưới vợ cho con tại Ðà Nẵng.

Ðến năm 23 tuổi, tôi được động viên học khóa 12 Trần Hưng Ðạo, sĩ quan Thủ Ðức. Tháng 8, 1960, ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Ðược tuyển chọn một trong số 10 người, trên 1,250 sinh viên, về ngành An Ninh Quân Ðội, Bộ Quốc Phòng. Ðậu thủ khoa trên 25 sĩ quan và trên 100 hạ sĩ quan. Ðược Ðại Tá Ðỗ Mậu, giám đốc Nha ANQÐ, Bộ Quốc Phòng, sau là thiếu tướng thông tin, trao bằng danh dự cùng quà tặng, trước sự hiện diện của quân nhân, gia đình binh sĩ, và ban văn nghệ bậc nhất thời bấy giờ.

Tôi ra trường, đến thăm anh con cô cậu ruột, Nguyễn Bá Linh, thiếu tá tỉnh trưởng Vĩnh Long, anh cho lá thư gởi Ðại Úy Dương Tiến, sau là trung tá Chánh Sở I ANQÐ. Tôi được chỉ định làm trưởng ban 1, Phòng Nhân Viên, theo dõi điều chỉnh hồ sơ, vẽ sơ đồ... Sau một thời gian, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về cục ANQÐ tại Sài Gòn, được bố trí trưởng ban 1, Phòng Bảo Vệ do Ðại Úy Phạm Thành Kiếm làm trưởng phòng. Tại Cục ANQÐ, tôi được yêu cầu huấn luyện cho sĩ quan, hạ sĩ quan về đề tài bảo vệ cơ sở. Sau đó lại được hoán đổi về Sở I ANQÐ tại Ðà Nẵng, sở yêu cầu tôi tổ chức liên tục các khóa an ninh căn bản cho sĩ quan, hạ sĩ quan an ninh đơn vị, trong số có Trung Tá Tài, khóa tu bổ Ðà Nẵng là cấp bậc lớn nhất. Mỗi khóa học 1 tháng, học viên từ 40 đến 50, bằng cấp do trung tá chánh sở ký, với kiến thị của trung tướng tư lịnh Quân Ðoàn I. Tiếp theo, tôi được theo học hai khóa cấp I và cấp II tình báo, tại trường quân báo Cây Mai, rồi du học tại trường phản tình báo Okinawa, Nhật Bản, tốt nghiệp hạng ưu.

Ðại Tá Sáng, chánh sở I, dành 1 căn nhà trong dãy nhà sĩ quan tại sở cho gia đình tôi ở. Trong 17 năm làm việc tại Sở I ANQÐ, tôi giữ các chức vụ: Phụ tá trưởng ty ANQÐ Quảng Trị, phụ tá trưởng Phòng An Ninh quân đoàn cho Thiếu Tá Hồ Văn Thống, trưởng phòng, Ban Khai Thác, chánh văn phòng, ngày 1 tháng 3, đi với Ðại Tá Sáng vào nhận chức trưởng chi ANQÐ Ninh Hòa, Nha Trang, và sau đó là tại Cam Ranh cho tới ngày “sập tiệm,” thầy trò dắt nhau đi ở tù “cải tạo.”

Tôi lãnh ba nhiệm kỳ, chín năm tù, ra trại bị quản chế tại Kinh Tế Mới ở Khánh Hòa ba năm. Trên thực tế, cho đến ngày qua Mỹ, tôi sống tại Ðà Nẵng từ năm 1955 đến năm 1972 là 17 năm, biết bao kỷ niệm nhớ thương.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ngày tàn chế độ, vợ và các con tôi không nhà, không nơi nương tựa phải đi kinh tế mới. Mấy mẹ con lên kinh tế mới được một năm thì vợ tôi bị bịnh sốt rét, chết tại bệnh viện Khánh Hòa. Cha mẹ tôi đưa xác về chôn cất tại Cam Ranh. Một người vợ hiền lành, mảnh mai, lâm cảnh cơ hàn, chết bơ vơ trong cảnh đổi đời. Các con mồ côi, mất tuổi thơ, tuổi xuân nơi núi rừng, đào bới đất đá mà sống.

Còn tôi trong trại tù lao động cực khổ, sắn ăn cầm hơi. Sau tôi may mắn được nuôi lợn, cho ăn và tắm rửa, mỗi ngày nhặt rau bỏ, sắn, trái cây hư đem về bếp cho ông chánh lục sự già yếu ăn thêm.

Ngoài ra, tôi được cho đi làm ngoài, toán sáu người, chặt một người hai bó cây. Anh em lo cho tôi hết, tôi vào nhà dân mua bán đổi chác, anh em đưa áo quần cho tôi nhờ đổi con gà luộc hoặc ký đường cát. Nhờ vậy mà mỗi ngày tôi được luộc một nồi sắn cho anh em ăn, còn đem về trại cho một hai anh em bạn thân khác, trong số có Nguyễn Ng. V., quê Lệ Thủy, là ưu tiên. Về sau, hắn đổi qua lán khác, tôi vẫn cho đồ ăn, nhưng hắn ghen tỵ nên báo cáo rành mạch để cán bộ bắt quả tang. Thật ra, mua bán đổi chác chỉ nhốt năm ba bữa, nhưng tôi bị xui là buổi sinh hoạt đêm qua tôi phát biểu mánh khóe bớt xén gạo nhà bếp của anh em tù do tên Thượng Úy Tẩu quê ở Quảng Nam làm hậu cần. Tên này, do tôi tố cáo với Thượng Úy Huệ, sĩ quan thanh tra liên trại, nên bị sa thải tại chỗ. Tuy nhiên, hắn đã ra lệnh nhốt tôi phòng cách biệt đêm trước. Phòng cách biệt khoảng thước vuông, làm bằng nứa, đổ đất ở giữa, đêm đến cho lính canh vào đánh. May tụi lính canh thương hại nên chỉ đánh đá vào vách.

Tôi bị nhốt, ban ngày lao động một mình do Trung Sĩ Phát trông coi rất dễ chịu.

Tuần lễ thứ hai và là khởi sự cho việc trốn trại. Tên Trung Sĩ Minh đổi toán thay cho tên Trung Sĩ Phát. Bàn giao xong, hắn đi một mình xuống trại giam, bắt trói tôi vào cột nhà để đánh đập. Biết tên này hung dữ, lỡ đánh chết mình thì oan (hắn thù oán vì có hai người anh tử trận ở miền Nam), tôi giả kế nói: “Qua một tuần lễ suy nghĩ, tôi biết việc làm sai trái, cán bộ để tôi cung khai, đủ cả người mua bán đổi chác.” Hắn tin tưởng đưa tôi lên bàn ăn ngoài lán, đưa bút giấy cho tôi khai, giao cho tên Ngọc (Tàu lai) trên chòi canh chừng! Giờ trốn trại đã điểm. Hết giờ làm việc, tên Ngọc quay mặt ra ngoài đánh kiểng chậm rãi. Tôi vội chạy vào trại thay bộ đồ đi rừng, chụp cái nón lá, đạp hàng rào lẻn ra ngoài, lên khu vệ binh riêng biệt cạnh trại. Bọn nó không ngờ, rải quân hàng ngang từ lính chí quan, lần lượt từ đồi sắn này đến đồi sắn khác, cán bộ dùng loa kêu gọi bảo lãnh tánh mạng cho tôi. Ðến khoảng 2 giờ, mệt lả, đói bụng, chúng kéo về.

Tôi xuống đồi, đến nhà anh Triệu Mai Tân có con đầu tên là Triệu Mai Thăng. Vợ người Tày tên Nghĩa, hằng ngày, sáng cầm dao lên rẫy, chiều gùi một giỏ sắn về. Anh ở nhà nội trợ nấu cơm trộn sắn, thức ăn thì mắm muối, có bữa ra hồ Thác Bà lưới vài con cá đem về ăn. Anh cho tôi bộ bà ba đen, một dao phay, một cái nón cối. Trước giờ chia tay, tôi còn nhờ Thăng lên đồi đốn cho năm cây Nứa cỡ bằng cườm chân để vượt hồ Thác Bà qua núi rộng chừng hai cây số.

Trời tối đen, tôi vượt hồ Thác Bà, ra giữa hồ phải tránh né những bè mảng của dân câu cá, câu tôm. Trong lúc đó, trại cũng cho đốt đuốc truy lùng. Tôi lên núi, đi bốn ngày đêm, ăn sắn, bắp sống. Dân làng ba xóm, cùng đèn bão, lên bao vây tôi chỉ còn khoảng 50 đến 100 mét. Tôi núp trong hầm, nếu họ có một cái đèn pin thì đã phát hiện ra rồi. Bỗng trời đổ cơn mưa dữ dội, chịu không nổi vừa mưa vừa lạnh, họ từ từ rút dần xuống đồi. Cảm tạ ơn trên cho tôi thoát thân.

Qua một ngày ven suối, vào khoảng sáu giờ chiều, tôi vào trình diện liên trại. Ðược mấy ông trung tá, thiếu tá chỉ thị nhà bếp cho tôi một dĩa cơm. Ăn xong, Thượng Úy Huệ dùng đèn pin dẫn qua cánh đồng đưa đến trại 4. Ông này lấy thêm lời khai của tôi vụ Thượng Úy Tẩu bớt xén gạo nhà bếp (do anh Châu đầu bếp thay tôi cho biết. Anh này bị lật Mảng, chìm chết tại hồ Thác Bà khi mang cơm cho anh em lao động ăn trưa tại chỗ).

Tôi đến trại 4, lúc đầu được thiếu úy, cũng tên Huệ, bảo làm luống cỏ trên đường vào phòng. Trung Tá Luyện trại cũ mang quân tư trang lên cho tôi, đi bằng ghe Mảng, có tên Ngọc dẫn đi. Tên Ngọc gác cổng đi lên với hy vọng may ra đánh tôi được vài báng súng. Thiếu Úy Huệ bảo hắn ra ngoài chờ bàn giao nên tôi thoát bị đòn. Tại trại 4, văn phòng báo chí bị gián đoạn, đóng cửa vì anh Lập họa sĩ phụ trách đã chuyển vào Nam. Tôi được anh em giới thiệu đưa lên làm việc. Ðầu tiên là 8 trại làm 8 bích chương dự thi, tôi chọn đề tài “Ðền Ơn” và vẽ hình bông lúa đạt giải nhất. Ðặc biệt các bài Lao Ðộng Là Vinh Quang nỗi bậc nhất bích chương.

Tôi được chuyển về trại 3 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh từ năm 1982 và đến năm 1984 được thả về. Tại đây tôi được chỉ định làm tổ trưởng tổ chuyển vận gồm 10 người. Thiếu úy Lực, cán bộ quản giáo, đi bộ đội vào miền Nam, bị thương, chuyển qua công an, nghèo khổ, thực thà. Bốn năm sau cùng trước khi ra trại, được vào tổ chuyển vận, bốc vác, thật là may mắn, được ăn ké cơm với thịt, chỉ dành cho cán bộ. Ngày ra trại, tôi và quản giáo Lực bùi ngùi, xúc động. Nếu có dịp về Việt Nam, mong gặp lại, mời vào miền Nam chơi cho rõ tình.

Tôi về, ở cùng các con vùng kinh tế mới làm ruộng rẫy, chặt lồ ô về chẻ hom, đem ra chợ bán. Cuộc sống cha con có phần đỡ khổ hơn, tuy vẫn cơm độn, mắn muối. Tại đây, người ta tổ chức một cuộc tập trung nhân dân toàn xã, bắt tôi đọc tiểu sử. Trưởng công an huyện nói: “Tiểu sử của anh rất huy hoàng nhưng sống trên xương máu của nhân dân.” Tôi trả lời: “Sống chế độ nào, phục vụ chế độ đó. Chính phủ trả lương, tôi chẳng bóc lột xương máu nhân dân bao giờ.” Kết luận, hắn khuyên tôi hòa mình với nhân dân, xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Buổi đọc tiểu sử kết thúc lúc 1 giờ trưa. Mỗi tuần, tôi có một quyển sổ ghi học tập, lao động, nội quy... Ghi vào, trình diện công an xã hàng tuần, công an huyện hàng tháng, suốt ba năm. Sau đó, tôi giả vờ lơ đi, bọn chúng cũng thay đổi, chẳng tên nào để ý. Tôi bị trưởng công an huyện, tù ở đảo về, coi trọng là vì sĩ quan ngành an ninh phản tình báo, biết bao sĩ quan cải tạo về mà nó chả đề cập.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện H.O. Cái khó khăn bấy giờ của cha con chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục và ở ngoài Trung xa Sài Gòn. Tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn. Ðược chừng nào thì lo chừng đó, thiếu thì lại chạy đi xin, đi mượn nữa. Thật tình thì cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy. Làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn, chỉ cầu may. Chờ đợi mấy năm, gia đình chúng tôi nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn, chúng tôi lại chạy vay tiền bạc vào Sài Gòn phỏng vấn, khám sức khỏe. Lòng luôn phập phồng lo lắng trục trặc hay có sự gì đổi thay. Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được ngày ra đi.

Từ chốn núi rừng đói rách, đặt chân lên đất Mỹ văn minh, nhà cao, đường lớn, tâm trạng chúng tôi thật háo hức cùng đầy âu lo. Vốn liếng tiếng Anh của chúng tôi chẳng bao nhiêu, nhưng cũng như mọi người chúng tôi vừa học tiếng Anh vừa đi làm rồi mọi sự từ từ cũng êm xuôi.

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1994. Sau 16 năm định cư tại Hoa Kỳ, các con tôi ai cũng từ độc thân, tay trắng, nay đều đã có gia đình, con cái, nhà cửa, xe cộ. Cuộc sống chúng tôi mọi sự thật đầy đủ, hạnh phúc, duy chỉ có điều buồn nhất là tôi sắp lìa xa các con cháu của tôi vì bị ung thư giai đoạn cuối.

Như cây đèn cạn dầu, nằm nhà thương, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay. Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác. Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao lâu nữa. Thế là hết một kiếp người!

Cảm tạ ơn trên đã quan phòng, che chở cho gia đình tôi bình yên và cám ơn các ân nhân đã giúp cha con được định cư tại Hoa Kỳ.

(Viết tại nhà thương, California, ngày 11 tháng 5 năm 2010)

Posted: Tue Jul 13, 2010 1:31 am
by thienthanh
Image

Posted: Wed Jul 14, 2010 4:33 am
by thienthanh

Image

Chuyện Tình Khoai Lang

Mặc dù chỉ với một hành động nhỏ nhoi tặng những củ khoai lang cho chúng ta, nhưng cô đã chứng minh được rằng, cô là người chống lại bọn VC, cô là người đã còn nhớ đến người lính VNCH xưa.
Chuyện tình này có thật, rất là cảm động, đã được nhiều anh em biết tới. Theo đúng như những kết luận về chuyện tình thời cổ tích, hai vai chính tới nay vẫn còn sống, vẫn thương yêu nhau, gia đình thật là đầm ấm.
Chuyện tình yêu này thật là đẹp, thật là đáng ghi nhớ, hay hơn tất cả những chuyện tình yêu trên thế giới. Love Story của Mỹ cũng thua xa! Một câu chuyện tình yêu kéo dài cả ba năm trời, trong đó hai vai chính, một nam một nữ không hề quen biết nhau, không hề tiếp xúc với nhau, nhưng kết cục lại lấy được nhau thật là ngọt ngào. Câu chuyện tình yêu này đã được đặt tên là... Chuyện Tình Khoai Lang, theo lời kể của một chịến hữu Nhẩy Dù của tôi, như sau:
***

Ngày đó, vào khoảng năm 1977, tôi đang bị bọn VC bắt đi tù vì tội có ông Tổng Thống đầu hàng. Cả bọn tôi, đa số là các Sĩ Quan trẻ (cấp bậc từ Thiếu Úy tới Đại Úy) được tập trung ở trại Suối Máu, sau đổi qua Trảng Bom (Biên Hòa). Bọn VC độc ác bắt chúng tôi làm việc cật lực nhưng không cho ăn uống tử tế, thuốc men hoàn toàn không có . Ai sống được thì sống, ai về chầu ông bà ông vải thì cứ việc đi. Phương cách giết người này thật là độc ác, giết nguời mà không cần gươm súng. Mỗi ngày đi lao động bên ngoài, anh em cố gắng kiếm được thêm cái gì thì ráng mà kiếm để sống cho qua ngày. Có người lượm được cái trứng chim, bắt được con thằn lằn, rắn mối...cũng đã cho rằng mình có số sung sướng lắm rồi. Dân làng thì ở ngoài xa, thỉnh thoảng mới gặp một vài người. Bọn VC quái ác không cho dân tiếp xúc với anh em chúng tôi và cũng cấm tuyệt anh em chúng tôi không được lân la tới khu dân chúng. Đói, đói lắm, đói thê thảm, đói lả người ra! Nhưng anh em còn trẻ, sức chịu đựng cao, tinh thần càng cao hơn, nên ráng sống đợi một ngày mai tươi sáng.
Bọn VC khoe với chúng tôi: " Đảng ta đã . . . Đại Thắng Lợi"
Thì chúng tôi lại vui mừng nhìn nhau, nói trong ý nghĩ: "Anh em ta . . . Đợi Thắng Lại!"
Ruộng mía, khoai lang, khoai mì của đồng bào ở chung quanh rất nhiều, nhưng chúng tôi không đụng tới, vì đó là của dân, mồ hôi nước mắt của họ. Họ cũng đói như chúng tôi vậy, đâu thể nào lấy của dân được. Ngày xưa, chúng tôi bảo vệ họ, ngày nay không làm gì được nữa nhưng không vì đói mà mất tư cách. Đồng bào biết chúng tôi đang bị đầy đọa, họ cũng thương cảm lắm, họ cũng đã tìm đủ mọi cách mà giúp đỡ chúng tôi. Bọn VC cũng biết như vậy, cho nên mỗi lần phải đưa chúng tôi di chuyển ngang khu dân cư, bọn chúng đi kè kè sát bên, không cho ai tiếp xúc với ai. Muốn mua thêm ít đường, ít muối cũng khó lòng mà làm được!
Thế nhưng trời cao còn có mắt mà, không sao! Miễn được thấy dân là lòng người lính thấy ấm lại rồi! Buổi sáng hôm đó, chúng tôi đang trên đường đi lao động. Từ xa, chúng tôi đã thấy khu dân cư ở đằng trước, và thấy bóng dáng những trẻ em, những cô gái đang tung lúa, thẩy khoai lang ra trước nhà để phơi. Khi tới gần khoảng chừng chục thước, chúng tôi thấy một bóng dáng phụ nữ cầm thúng thẩy khoai lang ra ngoài đường đi, chỗ chúng tôi đang bước thấp bước cao. Chúng tôi tuyệt đối không đụng tới tài sản của dân, dù là mấy củ khoai lang nhỏ bé, nên vẫn cứ thế mà bước đều. Mấy hôm sau, khi đi ngang qua xóm nhà này, chúng tôi lại thấy bóng dáng người phụ nữ này. Cô cũng dáng điệu như cũ, cầm thúng khoai lang thẩy ra đường đi. Lần này cô nói bâng quơ:
- Má à, mấy đám khoai lang hư này, mình đâu có bán cho ai được! Thôi, dục bỏ, nha Má!
Cô vừa nói vừa thẩy khoai lang ra chỗ chúng tôi.
Cô đứng ở xa nói tới, chúng tôi cũng không đi gần nên chỉ nghe cô nói như vậy thôi. Nói là cô gái thì cũng là nói vậy thôi, chứ không thấy rõ hình dáng, nói chi tới mặt mày.
Mấy hôm sau nữa, chúng tôi lại có dịp đi lao động ngang qua khu dân cư này. Chúng tôi lại thấy cô gái hôm trước. Cô vẫn đứng xa xa, nhưng lần này cô cố tình cầm khoai lang thẩy vào chúng tôi rồi bỏ đi, dáng vẻ rất là bình thường.
Tối về khu trại, chúng tôi bàn tán về cô gái, về những củ khoai lang mà cô thẩy ra ngoài. Chúng tôi cùng đồng ý là thái độ của cô rất lạ: Không có ai phơi khoai lang ở chỗ đường đi đó, mà cũng không có ai dục khoai lang trên đường đi như vậy cả.
Một người bạn - tên Phúc - đã nói với tôi:
- Tao nghĩ rằng cô gái này muốn cho mình những củ khoai lang đó. Chứ nếu cô muốn dục đi, thì thiếu gì chỗ dục. Hơn nữa, khoai lang dù là hư, không cho người ăn được thì để cho heo ăn, dễ gì mà dục bỏ!

Lần sau nữa, khi đi ngang khu nhà dân đó, chúng tôi lại thấy cô. Lần này chúng tôi không thấy cô thẩy khoai lang ra nữa, mà đứng yên ở phía xa xa chỉ trỏ chỗ này, chỗ kia, ý như muốn chỉ cho chúng tôi những củ khoai lang mà cô đã thẩy ra trước đó.
Tối về, chúng tôi lại có dịp bàn tán. Phúc nói với tôi:
- Tao có nhìn thấy mấy củ khoai lang ngay trên đường mình đi. Tao thấy khoai lang kỳ này cũ rồi, không tươi như bữa trước nữa. Tao nghĩ rằng, cô thẩy ra cho tụi mình lượm, nhưng không ai lấy, nên cô lại thâu lại để dành, bữa nay thẩy ra nữa. Chắc chắn là cô cho tụi mình đó, tụi mày đồng ý không?
Tất cả cùng có ý nghĩ đó! Chắc là cô còn có lòng thương những người lính sa cơ đói khổ, mà tặng những củ khoai lang ăn lót lòng. Củ khoai lang nhỏ nhoi không đáng là bao, nhưng tấm lòng của cô thật đáng quý! Chẳng có ai ở không mà chờ anh em chúng tôi đi gần tới mới thẩy khoai lang ra. Cũng chẳng có ai có nhiều khoai lang để mà thẩy chơi như vậy. Chắc chắn là khi chúng tôi đi khỏi, cô lại thâu lại những củ khoai đó mà để dành thẩy lại cho chúng tôi vào ngày hôm sau. Anh em chúng tôi cùng đồng ý là kỳ tới, nếu có đi ngang khu nhà dân, nếu cô còn có lòng hảo tâm mà thẩy khoai lang ra, chúng tôi sẽ chia nhau lượm.
Dịp may đã tới, chúng tôi lại có dịp đi ngang khu nhà dân cũ, và lại thấy bóng dáng cô từ xa. Cô lại thẩy khoai lang ra rồi bỏ đi. Chúng tôi đã bàn với nhau trước rồi, nên chia ra làm nhiều toán nhỏ: Toán đi trước bao chung quanh đám quản giáo để chúng khỏi nhìn thấy phía sau, toán thì đi chậm chậm lượm thật lẹ những củ khoai lang bỏ vào giỏ xách thật nhanh. Lính mà! Chúng tôi thanh toán chiến trường khoai lang lẹ lắm, không thua gì những lúc thanh toán bọn quỷ đỏ trên chiến trường trước đây.
Buổi trưa hôm đó, chúng tôi lại chia ra nhiều toán để dắt bọn quản giáo đi ra xa, trên đầu gió, để đám còn lại lo nướng khoai . Đói lòng ăn được củ khoai lang. Ôi, sung sướng nào hơn!
Đám này ăn xong thì lại ra canh bọn VC để đám kia trở lại ăn những củ khoai lang tình nghĩa đó. Lần sau đi ngang khu nhà dân, đến phiên Phúc lo lượm những củ khoai lang của cô gái hảo tâm. Buổi trưa, Phúc nói nhỏ với tôi:
- Đúng như tao dự đoán, mày ạ! Kỳ này cô ta cho mình toàn là khoai mới, bự và ngon hơn khoai bữa trước nhiều lắm! Chắc cô đã núp đâu đó, thấy mình đã lượm hết khoai kỳ trước nên mới đưa khoai lang mới ra đó!
Nhờ những củ khoai lang đó mà anh em chúng tôi có thêm sức khỏe. Nhờ ở cảm tình mà người dân đã dành cho chúng tôi qua củ khoai lang mà chúng tôi thêm được sức mạnh để chịu đựng cực khổ, chờ đợi ngày mai trời lại sáng. Chúng tôi ăn những củ khoai lang đó của cô gái tốt bụng, nhưng chỉ nhìn thấy dáng của cô từ phía xa xa mà thôi, chứ chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cô cả. Cũng chỉ duy nhất có một lần được nghe giọng nói của cô mà thôi.
Thời gian cứ thế trôi qua, chúng tôi vẫn sống, vẫn hiên ngang với đời.
Rồi ngày mai đã tới, ngày tôi và Phúc được bọn VC trả về nguyên quán. Chúng nói là chúng tôi đã... học tập tốt. Nhưng đối với chúng tôi, với riêng tôi và Phúc, chúng tôi vẫn vậy. Muôn đời chúng tôi vẫn là người lính VNCH và càng căm thù bọn Việt Cộng hơn bao giờ hết. Tôi được gia đình lo liệu sẵn, một thời gian ngắn sau khi về lại nhà, tôi đã may mắn vượt biên trót lọt và qua định cư ở Melbourne xứ Úc Đại Lợi.
Tôi cũng có nghe bạn bè nói, Phúc cũng đã vượt biên và hiện ở Sydney, cùng xứ Úc với tôi.
Một ngày đẹp trời vào năm 1990, vợ chồng tôi có dịp đi Sydney và đã ghé thăm Phúc.
Bạn bè ngày xưa gập nhau mừng mừng tủi tủi, nói chuyện huyên thuyên - Chuyện xưa còn đó, nhưng bạn bè nay đâu? Thằng nào còn sống? Thằng nào chết trong trại tù? Thằng nào vượt trại? Thằng nào vượt biên? Đi đâu?
Cuối cùng mới tới chuyện đời sống hiện tại.
- Mày lấy vợ hồi nào? Lấy từ hồi ở VN hay qua đây mới lấy? Bao nhiêu đứa con rồi? Đứa lớn bao nhiêu? Đứa nhỏ mấy tuổi. Chúng tôi nói như chưa bao giờ được nói.
Phúc kể, đã lấy vợ từ hồi ở VN, hai vợ chồng cùng vượt biên qua đây. Vợ của Phúc chỉ cười cười khi nghe chồng giới thiệu là tôi ở cùng trại tù với anh từ năm 1977.
Một lúc sau, vợ Phúc bưng ra một đĩa mà Phúc nói rằng rất đặc biệt: Khoai lang Dương Ngọc!
- Ăn đi mày, ăn để nhớ lại cái thời bị tù đầy, bị bọn VC vo tròn bóp méo!
Tôi sáng mắt lên, vồ lấy củ khoai lang, ăn không kịp bóc. Tại sao lại phải bóc vỏ? Vỏ khoai cũng là khoai vậy! Tại sao lại vứt bỏ đi?
Bao nhiêu kỷ niệm xưa quay trở lại. Tôi cũng đã kể chuyện khoai lang cho vợ tôi nghe nên tất cả đều cùng nhau góp lại chuyện xưa. Tôi vừa ăn vừa ngậm ngùi:
- Không biết cô gái đã cho mình những củ khoai lang đó, bây giờ ra sao? Có ai biết cô đó là ai không? Cô ta còn ở đó hay đã trôi nổi đi phương trời biền biệt nào rồi?
Phúc trầm ngâm một lúc rồi trả lời tôi:
- Cô gái cứu sống mình bằng những củ khoai lang... đang ở trước mặt mày đó! Tao cưới cổ rồi!
Thật là không ngờ! Vợ chồng tôi ngạc nhiên tới há hốc miệng, rớt cả củ khoai lang ra ngoài:
- Mày... mày nói cái gì? Cô này đây... vợ mày đây... là... là cô gái cho tụi mình khoai lang ở Trảng Bom? Mày... nói chơi hay... nói dỡn vậy? Thiệt không? Làm sao mà mày kiếm ra cổ ? Mà... phải thiệt là cổ không? Làm sao mày biết là cổ mà dám nói là cổ ? Dám lấy cổ?
Vợ Phúc (Dung) mỉm cười giải thích cho chúng tôi:
- Em đâu có gueng, đâu có biết ảnh là ai đâu! Tự dưng ảnh tới kiếm em rồi... hỏi cứ (cưới) em đó chớ!
Phúc giải thích rõ ràng hơn:
- Khi còn ở trong trại tù, mình đã nói chuyện với nhau thật nhiều về cô gái đó, tao thầm cám ơn cô đã còn nghĩ đến những người lính VNCH đang mắc nạn. Tao đã nghĩ trong đầu rằng, nếu có dịp trở về, thế nào cũng đi tìm cô gái đó mà cảm ơn. Nếu cô ta còn độc thân, tao sẽ cưới cô ta làm vợ. Mặc dù chỉ với một hành động nhỏ nhoi tặng những củ khoai lang cho chúng ta, nhưng cô đã chứng minh được rằng, cô là người chống lại bọn VC, cô là người đã còn nhớ đến người lính VNCH xưa. "Miếng khi đói bằng gói khi no" mà! Mình đang sa cơ mà còn có người dám nghĩ tới mình, thì làm sao mà không cảm động cho được? Đến khi được thả về, tao trở ra Phan Thiết ở với cha mẹ anh em một tuần, thì nói với ba má là tao kiếm đường làm ăn. Tao quay trở lại Biên Hòa, đi vào khu Trảng Bom, nói với Tổ Trưởng vùng đó là tao ở Biên Hòa, muốn về làm rẫy, mua đất trồng khoai lang. Ông này dẫn tao đi giới thiệu với những gia đình đang trồng khoai lang, có dư đất muốn bán. Nhà nào tao cũng vào làm quen để hỏi mua đất, hỏi kỹ thuật trồng khoai, nhưng mục đích chính là kiếm cho ra cô gái đó. Tao cũng như mày, như những anh em trong trại, đâu có ai biết mặt mũi cô ra làm sao? Ngay cả dáng người cũng không nhìn được, nên khó kiếm hết sức. Nhưng tao còn nhớ được giọng nói của cô ta khi nói: "Má à, khoai lang của mình hư hết rồi, không bán được đâu, dục đi nha Má!" Tao nhớ có nhiêu đó thôi. Rồi duyên số cũng giúp cho tao kiếm ra bả. Buổi chiều hôm đó, khi tao đã hết hy vọng kiểm cổ rồi, đang trên đường đi tới nhà Tổ Trưởng chào từ giã. Chợt tao đi ngang qua một căn nhà ở cuối xóm, thấy một cô gái đang gom khoai lang bỏ vô thúng. Tao ngừng lại hỏi bâng quơ:
Cô lựa khoai lang đem bán hả?
- Cô này không quay lại, vừa tiếp tục lựa khoai, vừa trả lời:
- Tui lựa khoai lang dư đặng mai đem thẩy cho mấy người lính "học tập cải tạo".
Tao thấy coi bộ trúng mối rồi, bèn hỏi tới:
- Khoai lang trồng cực khổ mới có. Bộ cô có bà con đang học tập trong đó hay sao mà lại cho họ khoai lang?
- Tui đâu có gueng ai ở trỏng đâu! Bị tui thấy họ tội nghiệp thì tui giúp đở chúc ít dzậy mà! Hồi xưa, mấy người này đi lính để giữ cho làng xóm được yên, khỏi bị bọn VC phá đám giết hại người ta. Nay những người này bị bắt ở tù, mình phải nhớ ơn họ, phải giúp họ chớ! Hổng giúp được nhiều thì có mấy củ khoai lang cũng giúp họ chút đỉnh dzậy mà!
Mới nghe bả nói là tao nhớ lại liền. Đúng y là giọng nói "Má à, đám khoai lang này hư rồi . . ." mà tao nhớ không bao giờ quên. Tao lại còn kỹ càng hỏi cho ra lẽ tại sao bả lại giúp mấy đám tù cải tạo như mình? Nghe bả trả lời ngon lành như vậy là tao chịu quá đi, nhất định giá nào cũng phải làm quen, nếu được, sẽ cưới bả làm vợ. Lính mà! Dễ lắm! Giản dị lắm: "Hễ ai thương lính là lính thương lại liền".
Tao lại đang trong tình trạng độc thân... "Tròn năm năm lính, chưa hề có bạn tâm tình". Tới luôn! Tao đi tới đi lui nhiều lần làm quen với bả, với gia đình bả, nói là xin học làm rẫy. Khi biết rõ gia đình bả, và biết bả còn đang độc thân, chưa có đám nào, tao mới trở về Phan Thiết kể lại chuyện của bả cho ông bà già tao nghe và nói ý định muốn cưới cô gái quê, nhưng có lòng thương lính đó. Ba má tao đồng ý tao muốn lấy ai thì lấy, miễn là hai vợ chồng hạp với nhau là được rồi. Nhưng mà cô đó có lấy tao hay không thì lại là chuyện khác nữa. Tao trở lại nhà Dung phụ làm rẫy tiếp. Trong một bữa nghỉ trưa ở ngoài ruộng, chỉ có một mình tao với bả, tao mới nói rõ tao là ai? Đã cảm cái tấm lòng của bả và muốn được cưới bả làm vợ. Bả rất ngạc nhiên mà nói với tao, y như bả vừa mới nói với mày vậy: - Tui đâu có gueng biếc gì anh đâu? Tui cho mấy anh khoai lang là cho nguyên đám đó chớ đâu phải cho một mình anh! Bị tui nhớ hồi xưa mấy anh đã đi lính giữ làng xóm tụi tui, chứ tui đâu có biết anh ở trỏng đâu? Mà anh . . . cứ (cưới) tui làm chi?
Làm chi thì tao không biết làm chi, nhưng tao nói tao cảm tấm lòng của bả mà cưới bả, vậy thôi. Tao nói:
- Ít ra thì anh với em cũng còn giống nhau ở một điểm là "THƯƠNG LÍNH".
Nói ba điều bẩy chuyện một hồi, bả cũng không biết nói sao nữa, kêu tao muốn gì thì về nói chuyện với ba má cổ, chứ cổ... hổng biết. Vậy là chịu rồi! Tao mừng quá, cả hai đưa nhau về gập ông già bà già của bả, tao lại kể rõ lai lịch của tao ra và xin đưa cha mẹ tới xin cưới Dung. Hai ông bà ngạc nhiên hết sức, cuối cùng nói là:
- Nếu vậy đúng là duyên số rồi. Con Dung nhà tui nó đâu có gueng biếc gì ông đâu. Nó xin tui ít phai lang, nói là để cho mấy ông bị tù cải tạo, tội nghiệp mấy ổng quá. Ai dè có ông ở trỏng, ông thương nó, ông được dzìa rồi thì ráng lội bộ đi cùng khắp chốn kiếm cho ra nó đặng xin 'cứ' nó! Đó là do Ông Tơ Bà Nguyệt cột đó, chứ hổng có ai bầy ra được đâu!
Tụi tao định ngày, đưa cha mẹ tao tới làm đám hỏi, xong rồi mới mời ổng bả và Dung về nhà tao chơi. Tới Phan Thiết, thấy nhà cửa của ba má tao thì ổng bả và Dung hoảng hồn, vì nhà tao hồi đó cha mẹ cũng còn nhà cửa, cơ sở làm ăn khá lắm! Dung đã nghéo tao ra sân mà nói:
- Nhà anh giào như zậy, mà anh cứ tui là gái guê làm chi? Thôi, thả tui zìa Trảng Bom tui làm rẫy sướng hơn!
Tao phải nói khó với bả:
- Mấy thứ đó là của cha mẹ anh, chứ anh... "Trên Răng Dưới . . . Dế ", đâu có cái gì nữa đâu! Có cái mạng cùi cũng nhờ em cho mấy củ khoai lang mới còn sống tới ngày nay. Mà em đừng có lo, mình còn đủ chân đủ tay, mình tự làm mà nuôi thân, chịu không?"
- Anh nói dzậy thì tui chịu!
Chịu hay không chịu thì cũng trễ rồi! Lính đã nói là Lính làm:
- Em có ý kiến nhiêu đó là đủ rồi, mọi thứ còn lại để anh lo, đừng có lộn xộn gì hết nữa!
Rồi tụi tao làm đám cưới. Cưới xong, tao lo đường vượt biên. Ông bà già vợ thẩy một mớ khoai lang lên tàu, vậy là tụi tao dông. May mắn cho tụi tao, trời yên bể lặng. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, tàu tụi tao cặp được tới Bidong. Tao chọn đi Úc cho nó lẹ và an toàn. Khoảng hai tháng sau tụi tao tới Sydney, gởi điện tín cấp tốc về cho ông bà già tao hay. Hai ổng bả mừng quá, lập tức mướn xe chạy tới Trảng Bom cho ba má Dung hay. Ba Má Dung cũng mừng quá, xá trời xá đất cám ơn lia chia. Ba của Dung cười lớn:
- Dzậy là thằng rể tui khỏi sợ bị Diệc cộng bắt cải tạo nữa rồi ha!
Má của Dung hỏi thêm:
- Ở bển có đất cho tụi nó trồng khoai lang hông dzậy, anh chị sui?
Tụi tao ở bên đây thì cũng giống như tụi bây vậy, ra sức làm mà lo cho gia đình, con cái, lo cho cha mẹ bên Việt Nam. Tụi tao có hai con rồi. Bây giờ bả hết dám hỏi:
- Anh " cứ " tui làm chi, nữa rồi.
Tụi tao lo làm nuôi con ná thở, đâu còn thì giờ mà hỏi nữa! Hỏi nữa tao để ... đẻ nữa!

Posted: Thu Jul 15, 2010 8:46 pm
by bobinh

Image

CUỘC ĐỔ BỘ TRONG LÒNG ĐỊCH

Trung Tá Nguyễn Ðăng Hòa


Kể từ sau cuộc đổ bộ bằng trực thăng của Tiểu đoàn 1 Quái Điểu vào ngày 11/7/72, tại quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, chưa một ai viết lại cuộc đổ bộ ấy, và tôi nghĩ nếu tôi không viết để nói lên cuộc chiến đấu ác liệt, oai hùng này thì ai có thể viết thay tôi ? Vì như tôi đã trình bày trong tập Hồi ký CƠN LỐC DÀI, hơn 100 ông phóng viên thế giới,
không một ông nhà báo nào dám "thi thố tài năng" đi theo chúng tôi cả. Cũng như 2 nữ phóng viên chiến trường Việt Nam là Kiều Mỹ Duyên và Lam Thiên Hương một thời ngang dọc đã lắc đầu khi tôi mời 2 cô đi "du ngoạn". Nỗi danh thì cũng muốn, nhưng nghĩ đến mạng sống như "chỉ mành treo chuông" 2 cô vừa cười vừa nói: "Thôi, tui chẳng ham đâu".

Như có một thôi thúc, ray rứt nào đó buộc tôi phải viết để nói lên sự thật oai hùng của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đã tạo được trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cho phép tôi được làm một nhân chứng lịch sử để tô đậm thêm Quân sử hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

* * * * *

... Phá Tam Giang vào một sáng mù sương 11/7/72

Dù đang là mùa hè nhưng trời Huế vẫn còn sương mù, một làn khói mỏng giăng đầy, bao phủ cả một vùng Vân Trình rộng lớn. Trên cánh đồng vừa mới gặt, mùi rạ thơm thoang thoảng, nếu có thêm vài cô thôn nữ xinh xắn của mẹ Việt Nam nữa là ta đã có một hình ảnh đồng quê thanh bình của bao năm cũ. .. Gia đình Quái Điểu hơn 700 tay súng đã sẵn sàng tại bãi bốc chờ lên trực thăng đi vào đất đi.ch. Những chàng Kinh Kha thời đại đang ưu tư về cuộc đời và đang chờ đón một tương lai không mấy rạng rỡ.

Đúng 7 giờ sáng, chiếc trực thăng UH-1B của chỉ huy đáp xuống cạnh nhà thờ 2 chuông Điền Môn, bốc tôi và cố vấn Mỹ bay thẳng ra biển Đông. Để tránh phòng không địch, trực thăng đã phải bay trên biển và ở cao độ vừa tầm cho chúng tôi quan sát thành phố Quảng Trị và quận lỳ Triệu Phong, nơi Tiểu đoàn 1 Quái Điểu sẽ phải đổ bộ để tái chiếm.

Quận Triệu Phong nằm về phía Đông Bắc cổ thành Quảng Trị khoảng 2 cây số, là quê hương của tên đồ tể Lê Duẩn, môn đệ kế vị già Hồ đã về chầu Diêm Vương. Vì vậy không dễ gì địch để chúng tôi tái chiếm lại Triệu Phong.

Những túi lửa B.52 chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số được lóe lên từng chập, và khi các chùm bom chạm đất thì lửa bốc cháy cùng những tiếng nổ phụ rền vang một góc trời ... Tại đây địch cũng sẵn sàng nghêng đón chúng tôi. Đơn vị bạn gần nhất vẫn còn ở tuyến sau Mỹ Chánh mịt mù. Chúng tôi sẽ phải nhảy trên đầu địch, đánh thọc sâu vào lòng địch, bóp ngay yết hầu chúng, buộc chúng phải nhả Cổ thành Quảng Trị mà chúng đã chiếm giữ hơn 3 tháng qua. Sư đoàn Dù đã gặp phải muôn vàn khó khăn và thiệt hại nặng nề khi tái chiếm Quảng Tri.

Có lẽ thượng cấp quên đi cửa ngõ Triệu Phong, nơi mà Việt cộng phải giữ với bất cứ giá nào, để bảo vệ huyết lộ dẫn ra Cửa Việt bằng đường bộ và đường thủy dọc theo sông Thạch Hãn. Nhờ huyết lộ này mà chúng có thể tiếp tế cũng như tải thương và thay quân rất dễ dàng.

Đúng 12 giờ 5 phút ngày 11/7/72, ngày mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trước khi lên máy bay, Tướng Trưởng và Tướng Lân đến bắt tay và chúc chúng tôi thành công. Lời nói của Tướng Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến như một luồng điện chạy dài theo xương sống tôi:

- Danh dự này, tôi giao cho anh và Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.

Riêng Đại tá Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 nhìn chúng tôi như một người cha nhìn những đứa con thân yêu đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông rơi nước mắt nói với tôi lời giã biệt:

- Mày cố gắng giữ gìn anh em, khuyên họ nên đọc kinh cầu nguyện theo đạo giáo của họ!

Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến với biệt danh Quái Điểu được trực thăng bốc từ nhà thờ 2 chuông Điền Môn bay ra Triệu Phong, bất thần đổ trên đầu địch, giữa những đám ruộng trước quận lỵ. Tuy bãi đáp đã được B.52 "dọn cỏ" suốt 2 tiếng đồng hồ, với 33 phi vụ đã cày nát từ Đông Hà đến Quảng Trị, mà gia đình Quái Điểu vẫn được con cháu Bác và Đảng dàn chào long trọng. Súng phòng không 23 và 37 của địch bắn lên như pháo bông.

Đại đội 4 Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trịnh Văn Thềm chỉ huy, lãnh nhiệm vụ đổ bộ trước. Hai chiếc trực thăng khổng lồ CH.54 chạm đất một cách bất ngờ nên thoát được phòng không địch. Có 32 chiếc trực thăng đổ quân, gồm 17 chiếc CH-53 (loại Chinook Mỹ dùng để cứu con tin tại Iran) chở được 60 người và CH-46 loại Chinook chở được 20 người. Chiếc tôi đi bị lãnh 4 viên phòng không, tưởng chừng như rớt. Vừa rời khỏi trực thăng, tôi đã được chào mừng bằng một trái 57 ly không giật, vì chung quanh tôi là một rừng antenne truyền tin. Tôi bị thương ở đùi phải, máu ướt đẫm. Viên Trung úy Hải quân Mỹ bị lòi ruột ra ngoài trông thật khiếp, nhưng vẫn còn sống. Đau đớn cho Tiểu đoàn chúng tôi là 1 chiếc trực thăng bị rớt và nổ tung sau đó 2 phút lại chở nguyên Trung đội Quân y, 60 người chỉ sống sót 12 trong đó có Bác sĩ Hoàn. Ông đã lao được ra ngoài cửa cấp cứu, nhưng phải 2 ngày sau mới bò về được Bộ chỉ huy Tiểu đoàn với thân hình cháy phỏng nặng. Chúng tôi không lấy được xác những người bị chết vì chiếc máy bay này thuộc Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và đã mang theo 47 trái mìn chống chiến xa và tất cả đã tan tành theo chiếc máy baỵ. Đáng lẽ tôi đã gởi xác theo chuyến đó rồi, nhưng tới phút chót cố vấn Mỹ lại rủ tôi đi trên chiếc CH-46 để khi xuống bãi thoát ra thật nhanh, tránh được phòng không địch.

Ngay phút đầu, sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, chúng tôi đã bị thiệt hại hơn 200 người vừa chết vừa bị thương. Người cố vấn Mỹ còn cho tôi biết trong số 32 máy bay trực thăng, có 29 chiếc trúng đạn và 2 chiếc rớt, một nổ tại chỗ và một rớt ngoài biển. Cuộc đổ bộ này đã được báo chí xem như cuộc đổ bộ Inchon tại Đại Hàn năm xưa. Tướng Lân được triệu về dinh Độc Lập để thuyết trình về cuộc đổ quân cho Hội đồng An ninh Quốc Gia. Mọi người hồi hộp theo dõi bước chân của bầy Quái Điểu gan lì.

Cánh đồng Triệu Phong đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Xe tăng Việt cộng phối hợp với bộ binh của chúng bắt đầu rời vị trí phòng thủ để rượt đánh chúng tôi, và những chiếc trực thăng vũ trang "Cobra" của phe ta đã táo bạo săn đuổi chúng như những con diều hâu hung dữ. Riêng Tiểu đoàn 1 Quái Điểu lúc bấy giờ tan tác như bầy gà lạc mẹ, mạnh ai nấy đánh, dùng chiến thuật cá nhân phối hợp từng tổ nhỏ cố bám lấy bờ sông Vĩnh Định là chi nhánh của sông Thạch Hãn để làm điểm tựa, giữ lấy mạng sống mong manh. Hai con sông này đã nuôi dưỡng quận lỵ Triệu Phong, làm cho nó trở nên trù phú và sầm uất nhất tỉnh Quảng Trị, giờ đây đang ôm ấp che chở cho những toán Quái Điểu lạc bầỵ

Nhờ vào súng M.72 chống chiến xa ta đã bắn hạ được một số tăng địch, có những chiếc bốc cháy cách xa ta chỉ 50 thước, làm cho anh em an tâm hơn và tin tưởng vào loại vũ khí cá nhân hiện đại và tối tân này, mỗi Đại đội chỉ được trang bị 12 trái thôi. Những hố bom trở thành vị trí chiến đấu lý tưởng cho binh sĩ mình. Họ đứng thẳng, tỳ súng vào miệng hố nhắm vào từng đợt sóng biển người của bọn Việt cộng khát máu mà bắn.

Đại đội 1 của Đại úy Bùi Bồn đã dùng con sông Vĩnh Định như một chỗ tựa tốt để chống trả từng đợt xung phong của địch cũng như yểm trợ cho các Đại đội 2, 3 và chỉ huy còn đang phơi mình trên bãi đáp. Kết quả sơ khởi Đại đội 1 đã tịch thu 10 cây súng 37 ly phòng không của địch đã đặt hàng ngang tại bìa làng.

Trời đã vào đêm, bóng tối đồng lõa với tội ác của địch qua những đợt "cắn lén" nhưng cũng là người bạn chân tình che chở cho chúng tôi, hạn chế tầm quan sát của địch nên chúng chỉ dùng pháo đe dọa vu vơ. Đến 10 giờ Tiểu đoàn mới nắm được tay nhau, lập thành một phòng tuyến tạm thời. Chỉ còn Đại đội 4 của Đại úy Thềm bị cô lập phải tự phòng thủ bảo vệ riêng, nhưng xét về mặt chiến thuật thì rất có lợi cho Tiểu đoàn. Một cái chốt khổng lồ làm tiền đồn cho đơn vị tại Chợ Sãi, dùng Pháo binh và Hải pháo ngăn chận sự di chuyển của địch từ Cổ thành Quảng Trị qua quận Triệu Phong, cũng như quan sát được thủy lộ dẫn ra Cửa Việt. Chiếm và giữ được Triệu Phong thì sớm muộn gì tỉnh Quảng Trị cũng sẽ trở về vùng đất Tự do.

Thường thường đánh nhau với những đơn vị chính quy tuy chém giết thả giàn "mạnh được yếu thua" nhưng thích hợp với người quân tử. Một cuộc chiến tranh quy ước, có lúc đánh lúc nghỉ, ăn uống, tiếp tế, tải thương, thay đổi lối đánh cho phù hợp trận liệt, rồi trở lại đánh tiếp. Nhưng với bọn Việt cộng, các cấp chỉ huy của chúng có được đào tạo ở một quân trường nào đâu! Đã vậy đầu óc lại bị Bác Đảng nhồi nhét hận thù đầy ắp nên chúng hăng say chém giết ... từ chú du kích nhỏ bé không biết gì gặp lúc đàn anh chết nhiều quá, cũng nhảy ra thay thế chỉ huỵ Vì vậy Việt cộng chỉ biết dùng một chiến thuật rừng với lối đánh lén, cắn lén!

Triệu Phong lúc bấy giờ là vùng địch kiểm soát nên họ có nhiều lợi thế hơn ta. Chúng rình rập, tấn công không ngơi nghỉ cốt làm cho quân ta mệt, tinh thần căng thẳng, quân số tiêu hao dần mòn. Nếu không có tinh thần cao và khả năng điêu luyện sẽ bị chúng đốn ngã dễ dàng. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đang đi trên đoạn đường chông gai ấy. Đến 11 giờ đêm quân ta tạm ngưng chém giết, mọi người lục ba-lô lấy cơm sấy ra nhơi. Ngồi trong hố cá nhân, chẳng cần cấp chỉ huy ra lệnh hay kiểm soát đôn đốc, ai nấy cũng đề cao cảnh giác và sẵn sàng lâm chiến vì đã quá quen thuộc với những đòn đen tối hạ cấp của lũ chuột Việt cộng.

Đêm khuya yên tĩnh, bỗng có tiếng la hét vang dội từ phía Chợ Sãi, nơi Đại đội 4 của Đại úy Thềm phòng thủ riêng. Một đoàn xe tăng địch với đèn pha sáng trưng, dàn hàng ngang cùng bộ binh chạy theo bên hông xe vừa bắn vừa hô xung phong. Tôi đã chuẩn bị trước các yếu tố tác xạ tiên liệu Pháo binh và Hải pháo, 42 khẩu pháo 105 ly nhả đạn cùng lúc và liên tục cộng với hàng ngàn trái hải pháo loại 500 cân Anh khổng lồ, khi nổ chụp lúc chạm nổ, trút lên đầu địch.

Vặn tần số truyền tin nội bộ của Đại đội 4 tôi theo dõi trận đánh, nghe các Trung đội trưởng liên lạc với Đại đội trưởng lòng tôi yên tâm được phần nào và cảm phục sự gan lì của họ. Trên máy PCR. 25 vang lên giọng nói bình tĩnh của Thiếu uý Tánh khi anh liên lạc với Đại úy Thềm:

- Thần Phong hãy yên tâm, chiếc tăng đầu còn cách chúng tôi 100 thước, tôi đã ra lệnh từng tổ 3 người sẵn sàng M.72 nghênh chiến ... Hiện giờ chiếc gần nhất chỉ còn khoảng 50 thước, chờ kết quả, sẽ có một số "cua rang muối" (chiến xa địch) để tặng Thần Phong và Hương Giang (danh hiệu của tôi).

Thiếu úy Tánh nói tiếp trong sự hồi hộp của tôi:

- Tôi bắn thử một viên M.72 chống chiến xa, kết quả tuyệt vời, chính tôi cũng không ngờ đạn vừa ra khỏi nòng là một tiếng nổ long trời, con cua trước mặt tôi đã nổ tung và bùng cháy.

Tất cả các Trung đội đều an tâm và phấn khởi, từng tổ tam tam chế đã dùng M.72 cải tiến để đưa đoàn cua của Bác vào chảo rang. Đại đội trưởng đã gọi máy về Tiểu đoàn tặng tôi có đến hàng chục con cua. Riêng Hạ sĩ Ích, Tiểu đội phó dùng M.79 phóng lựu, một mình anh đã rang 3 con cua ngon lành.

Song song với Đại đội 1 và 4, sự chiến đấu gan dạ của Đại đội 2 của Đại úy Duật và Đại đội 3 do Trung úy Vàng Huy Liễu chỉ huy đã tạo sức mạnh vô song cho gia đình Quái Điểu. Sư đoàn 312 của Việt cộng với quân số gấp 10 lần hơn đã không nuốt được Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến kiên cường.

Qua hai ngày song đấu, địch đã được tăng viện nhưng không vì thế mà áp đảo được quân ta. Cấp chỉ huy Việt cộng đã đánh giá sai lầm về Tiểu đoàn 1 Quái Điểu, và cho đấy là một miếng mồi ngon chúng chỉ cần nhe nanh là đã nuốt chửng được ngay. Việt cộng đâu ngờ gặp phải một miếng mồi lửa, tạo nên bởi sự đoàn kết sắt đá, gắn bó keo sơn cùng sự chiến đấu bền bỉ gan dạ của anh em binh sĩ ta. Và chúng cũng không lường được lòng yêu nước tràn đầy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trước sự tồn vong của đất nước. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã tổ chức được vị trí phòng thủ kiên cố bằng máu xương và sức mạnh tinh thần của mình cộng với sự yểm trợ hùng hậu mà chưa bao giờ Quân lực Hoa Kỳ xử dụng trên chiến trường Việt Nam .

Tôi đang liên lạc trên hệ thống Không lực để nhờ họ đánh phá căn cứ Ái Tử, (nơi mà địch đang đặt Bộ chỉ huy và căn cứ hỏa lực để yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị) bằng những trận rải thảm B.52 tạo nên những biển lửa khổng lồ đốt cháy tham vọng điên cuồng của bọn Cộng sản cướp nước bạo tàn, thì Trung sĩ Ngữ cận vệ trung tín nhất của tôi chạy vào báo:

- Trình Thiếu tá, Trung úy Kỳ thuộc Đại đội Viễn thám vừa bắt được 2 nữ du kích Việt cộng, tịch thu 2 khẩu súng "các-bin" tại nhà mình đang đóng quân!

Thì ra căn hầm cư trú của 2 "cô bé" du kích chỉ cách hầm đóng quân của tôi và cố vấn Mỹ độ 10 thước, trong vòng 24 giờ qua các cô muốn giết chúng tôi lúc nào chẳng được. Vì thế tôi đến gặp 2 cô và được biết họ cũng như hầu hết thanh thiếu niên Quảng Trị bị kẹt lại sau khi quân ta rút về tuyến Mỹ Chánh đã bị Việt cộng đoàn ngũ hóa và trang bị thành tổ "dân quân chiến đấu". Hai cô còn cho biết họ là nữ sinh trường trung học Nguyễn Hoàng và có người anh cả là Đại tá làm việc tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòạ Tôi liền cởi trói, bảo lãnh 2 cô và gia đình họ rồi hứa sẽ đưa ra vùng tự do sau cuộc đổ bộ này. Từ đó 2 cô là những người phục vụ đắc lực cho đơn vị tôi về tình hình du kích tại địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã thanh lọc và bắt giữ cũng như tịch thu rất nhiều tài liệu và vũ khí. Thế mới hay, trong cuộc chiến, yếu tố "tranh thủ nhân tâm" cũng quan trọng không kém, và còn tiết kiệm được xương máu anh em.

Sau 15 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã giao tiếp được với Tiểu đoàn chúng tôi nhưng cách nhau bằng con sông Vĩnh Đi.nh. Vì không dùng được trực thăng nên tôi phải nhờ đơn vị bạn này tải thương bằng những bè chuối buộc dây kéo qua sông !

Sau đó Tiểu đoàn 1 Quái Điểu được đưa về Huế, chúng tôi như những người về từ cõi chết, râu tóc rậm rạp như người rừng, mắt sâu như vực thẳm, tiều tụy như những bệnh nhân lâu ngày. Chúng tôi những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã dành phần đời trai trẻ của mình cho những chuyến đi dài không mệt mỏi: từ tuyến đầu của con sông Thạch Hãn, được chọn làm giới tuyến ngăn địch cho đến vùng đầm lầy sông Ông Đốc, chặng đường cuối của quê hương hoặc lặn lội vùng biên giới Miên Lào với núi rừng trùng điệp... với một mục đích duy nhất là bảo vệ quê hương thân yêu khỏi lọt vào tay quân Cộng sản khát máu, bạo tàn.

Nguyễn Ðăng Hòa

Posted: Fri Jul 16, 2010 5:17 pm
by khieulong

Image

Anh Đi Thật Rồi Sao!
(Chuyện tình có thật của chàng sinh viên VB và cô nữ sinh BTX)

tovancap
Năm 1962, khi vừa học lên lớp Đệ Ngũ thì bố Tuyết-Lê thuyên chuyển từ Tam Kỳ, Quảng Tín vào Đà Lạt nên gia đình cùng di chuyển đến ở một thành phố đẹp, mộng mơ mà cô bé Lê mới chỉ được biết qua tranh ảnh và âm nhạc, nay được hít thở không khí của thành phố sương mờ và được theo học trường Bùi Thị Xuân, một trường nữ trung học nổi tiếng vùng Cao Nguyên thì thật là hạnh phúc. Lê lại may mắn có được mấy nhỏ bạn hàng xóm học cùng lớp nên Lê rất mau chóng hòa nhập vào đời sống mới và ngôi trường mới.

Nhà của Lê và mấy nhỏ bạn nằm trên đỉnh đồi nên hằng ngày Lê và các bạn phải xuôi dốc để đến trường và ngược lên trở về nhà theo con đường vòng quanh đồi thông có những căn nhà xinh xinh với những vườn hoa hồng rực rỡ. Mới đầu leo dốc thì mệt thở ra khói nhưng lâu dần rồi cũng quen và thấy vui, vui nhất là khi canh chừng cho nhau để một đứa len lén thò tay qua hàng rào của một nhà nào đó để ngắt trộm một nụ hồng nhung trong vườn còn đọng sương sớm, mang hoa vào lớp cắm trên bàn học, cô giáo trông thấy chỉ mỉm cười. Được cô chiều nên trò làm tới, buổi học nào cũng có bông hồng trước mặt, vì vậy một ngày kia gặp nạn.

Sáng hôm đó tới phiên Lê ngắt bông, vừa vươn tay qua hàng rào thì có tiếng chó sủa, mấy nhỏ bạn ù té chạy, Lê vốn dĩ rất sợ chó nên hốt hoảng, lính quýnh chạy theo, bị trượt chân té nhào, sách vở văng tứ tung, đang lui cui lượm thì nghe có tiếng hỏi:
Em có sao không?
Từ thuở nhỏ Lê đã có tính tinh nghịch như con trai, đối đáp luyến thoắng nên gia đình và bạn bè đặt cho cái tên “cô ba lém”, vậy mà nay khi nghe người lạ hỏi thì cô ú ớ không biết trả lời sao, không dám ngước nhìn người đó là ai, mà chỉ biết cắm cúi lượm sách vở bị tung ra! Một lúc sau Lê lại nghe tiếng nói tiếp theo:
_Chết chửa, tay em chảy máu rồi kìa, để tôi giúp cho.
Nghe chảy máu, Lê điếng hồn vội nhìn bàn tay thì mới biết bị té, bị sỏi làm trầy da và đang rướm máu nhưng vì sợ quá nên cô không cảm thấy đau. Thật nhanh, người đó chạy vào trong nhà rồi trở ra, anh ta không cần hỏi ý kiến gì mà cầm đại tay Lê, bôi nước gì vào chỗ trầy da làm cô nữ sinh xót quá rụt tay lại.
_Ráng chịu xót một chút, thuốc sát trùng mà, anh băng cho kẻo bị làm độc.
Bao nhiêu bản tính ngỗ nghịch chạy đi đâu hết! Lê chỉ biết im lặng cúi đầu và để yên tay trong tay cho người xa lạ chữa vết thương. Chừng vài phút sau, Lê cảm thấy bàn tay bớt rát hơn và được buông ra, một giọng nói êm dịu:
_Xong rồi, chúc em mau lành. Chắc em thích hoa hồng lắm phải không? Anh đền em bông hồng nhung đẹp khác, vì tiếng sủa của con Kiki làm em sợ.

Lê lí nhí nói tiếng “cám ơn ông” rồi miễn cưỡng cầm lấy bông hồng và vội vàng bước đi, cô bé chỉ biết đó là một thanh niên nhưng không dám nhìn mặt “chàng”, càng không thể đem bông hồng này vào lớp nên tới chỗ khuất Lê quay lại nhìn và vội giấu nó vào bụi cây bên đường. Mấy nhỏ bạn đứng chờ xa xa nhưng Lê làm mặt giận, đi thẳng tới trường và vào lớp, không ai hay chuyện gì vừa xẩy ra, trừ mấy nhỏ hàng xóm, nhưng chúng thấy Lê giận nên cũng sợ mà im re.
Từ sau ngày bị nạn, mấy cô nữ sinh thích hoa đành bỏ tật “ta ngắt đi một” bông hồng và khi đi ngang căn nhà có “người ấy” thì vội cúi đầu bước mau. Nhưng niềm vui của các cô thì không giảm mà còn tăng thêm, họ yêu văn thơ lại thêm đa sầu đa cảm kể từ khi bước sang năm đệ ngũ. Cô Thúy và cô Âu Lăng, giáo sư Việt Văn cho đọc và bình giải truyện của Tự Lực Văn Đoàn như Nửa Chừng Xuân, Tắt Lửa, Đôi Bạn v.v…. Lê rất mê đọc truyện Tự Lực Văn Đoàn, mỗi lần đọc đến đoạn nào cảm động là các cô sụt sịt khóc.

Đà Lạt thật đẹp và thơ mộng với những mái nhà như lơ lửng từng mây mỗi buổi sáng sương mờ bao phủ khắp nơi, dưới thung lũng ấp Ánh Sáng, Thái Phiên, thác Cam Ly, trên mặt hồ Xuân Hương, hồ Than Thở khiến những thiếu nữ tuổi trăng tròn đôi lúc cũng thở than, yêu thiên nhiên và mơ một tình yêu, vì thế thỉnh thoảng Lê kín đáo nhìn bàn tay mình bị té hôm nào, tuy đã lành vết sẹo nhưng hình như dấu tay người lạ vẫn còn.

Thành phố sương mù thật hiền hòa nhưng cuối tuần du khách đổ về khiến sinh hoạt náo nhiệt hẳn lên, vui nhất là ngày Chủ Nhật, phố phường tràn ngập những bộ quân phục đẹp mắt trong những thân thể tráng kiện của các sinh viên sĩ quan thuộc trường Chiến Tranh Chính Trị và Võ Bị Quốc Gia mà người dân thường gọi vắn tắt là sinh viên Võ Bị Đà Lạt.

Chốn dân gian có câu “trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”, sinh viên sĩ quan không được phép chọn vợ khi đang thụ huấn, nhưng thật hạnh phúc nếu Chủ Nhật được dăm ba giờ phép dạo phố ngắm “hoa” hầu quên đi những hình phạt nhẩy xổm hít đất, tạm xa các huấn luyện viên và sinh viên cán bộ đàn anh mà lúc nào họ cũng muốn phạt đàn em. Với các thiếu nữ Đà Lạt thì dù chưa tới tuổi “tìm chồng” nhưng các nữ sinh vừa độ trăng tròn cũng không khỏi vương vấn mơ mộng một hình bóng nào đó trong các chàng sinh viên sĩ quan ấy nên cũng cùng nhau xuống phố. Nam thanh nữ tú tạo nên một hình ảnh thật đẹp và thanh bình của thành phố Đà Lạt.

Sáng Chúa Nhật nào Lê cũng xin phép bố mẹ để đi chùa cùng các cô bạn hàng xóm, nhưng “vào chùa thấy Bụt muốn tu”, mà đang yêu đời thì tu sao được nên các cô sớm giã từ chốn tôn nghiêm để nhập cuộc vui trên phố Hòa Bình, trên sân Cù, dạo quanh bờ hồ Xuân Hương, dừng chân bên vườn Bích Câu, nhà Thủy Tạ v.v…. Nhiều lần họ làm ngơ, tảng lờ như không nghe thấy những tiếng xít xoa “đẹp quá” khi đi ngang các chàng sinh viên sĩ quan. Nhưng cũng có lúc bản tính nghịch ngợm của các cô cũng khiến nhiều chàng lúng túng khi đi một mình, họ cùng nhau hát “lính mới tò te xách que đi đầu” để trêu ghẹo các chàng lính mới mặc quân phục có hai sọc đỏ hai bên ống quần. Lê nhớ mãi cái buổi chiều Chủ Nhật hôm ấy khi cùng các bạn dạo quanh bờ hồ, gần cầu “ông Đạo”, thấy một chàng “nai vàng ngơ ngác” đi ngược chiều, mấy nhỏ bạn bèn thách đố Lê:
_“Ê cô ba lém, mi có dám làm quen chàng sinh viên kia không, tụi tau bao mi một chầu mì quảng Phan Đình Phùng”
_“Sợ chi mà hông dám, tau không cần tụi mi bao mì quảng”.

Lỡ mang tên “cô ba lém” lại còn bị bạn khích tướng nên Lê buột miệng nhận lời nhưng khi nhìn người SVSQ đang lại gần thì bụng đánh lô-tô, tiến tới thì mắc cở, lui thì mất mặt nữ nhi, mấy đứa bạn đã lánh đi chỗ khác rồi, còn trơ lại một mình chưa biết tính sao thì vừa lúc người sinh viên đi tới và khẽ gật đầu và mỉm cười. Thấy chàng ga-lăng, Lê bạo dạn lên tiếng ngay:
_“Chào ông, ông có thể giúp em một việc được không?”
_“Chuyện gì thế cô bé? Nếu việc không khó lắm thì tôi sẵn sàng”.
“Xí”, người ta lớn thế này mà gọi là “cô bé”! Nghĩ bụng vậy thôi chứ lòng mừng thầm là chàng đã hứa giúp, hơn nữa trông cũng lịch sự dễ thương lại đẹp trai nên Lê không ngại ngùng nói rõ cho chàng biết sự thách thức của đám bạn nghịch ngợm nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò con gái..

_“Thưa ông, mấy nhỏ bạn kia thách em hỏi ông khóa mấy và tên gì?”
Hỏi xong cô ngước nhìn người SVSQ rồi bẽn lẽn cúi đầu, trở về bản tính nhút nhát cố hữu của bất cứ một thiếu nữ nào mới lớn, nhưng người SVSQ thì nhìn sững cô nữ sinh, ngần ngừ chưa trả lời câu hỏi mà ra chiều suy nghĩ, hình như anh ta đã gặp cô bé này ở đâu rồi. Trong tích tắc, tri nhớ và óc thông minh của chàng SVSQ nhận ra cô bé “ngỗ nghịch” này là ai rồi. Kể từ ngày cầm tay cô băng bó vết thương, anh mong gặp lại “cố nhân” mà chưa có dịp. Đây là lúc may mắn và thuận lợi nhất, nhưng chàng tảng lờ như chưa hề biết nên trả lời:
_“Tôi tên Khôi, Nguyễn Đăng Khôi, khóa 19 Võ Bị”.
_“Cám ơn ông, em sẽ nói cho các bạn em biết là đã hỏi được tên ông”.
Nói xong Lê dợm bước quay đi thì Khôi chận lại:
_“Khoan đã, cô hỏi tên tôi mà lại không cho tôi biết quý danh của cô thì không công bằng. Hơn nữa nếu cô kể lại tên tôi cho mấy bạn kia nghe thì chắc gì họ tin là cô nói thật? Đã hứa giúp thì tôi phải giúp đến nơi đến chốn. Bây giờ tôi mời cô và mấy cô bạn kia sang bên nhà Thủy Tạ ăn kem, uống café để chứng minh cô đã giữ lời hứa với các bạn”.
_“Í! Bây giờ thì không được đâu, em phải hỏi ý kiến mấy bạn em trước đã, để khi khác, cám ơn ông”.
Nói rồi Lê vội vã đi theo mấy cô bạn nhưng nghe rõ tiếng Khôi sau lưng:
_“Xin tôn trọng quyết định của người đẹp, nhưng tôi mời các cô vào sáng Chúa Nhật tuần sau tại nhà Thủy Tạ, tôi sẽ ngồi chờ từ 9 giờ sáng cho đến tối”.
Cô bé tên Tuyết Lê không hề biết người SVSQ vừa nói chuyện với mình là ai, nhưng Khôi thì nhớ mãi cái buổi sáng hôm ấy, khi nghe chó sủa, nhìn qua cửa sổ thấy mấy cô bé bỏ chạy còn một cô đang lui cui lượm sách vở, Khôi vội chạy ra giúp và băng bó vết trầy ở bàn tay cho cô. Lúc đó hình như gia đình cô ta mới dọn về và Khôi cũng đang chờ giấy gọi gia nhập khóa 19 trường Võ Bị. Thời gian trôi qua dễ chừng đã cả năm, Khôi vẫn mong có dịp gặp lại cô bé xinh xắn và tinh nghịch ấy nhưng chưa có dịp, nay niềm vui đến thật bất ngờ. Khôi cười thầm, vừa đi vừa huýt sáo mong sao cho mau tới Chúa Nhật tuần sau.

Y hẹn, Chúa Nhật sau Khôi ra nhà Thủy Tạ bên bờ hồ Xuân Hương ngồi nhâm nhi “giọt đắng” café để tưởng tượng vị ngọt của tình yêu vừa chớm nở, dù cô bé ấy không trả lời nhưng linh cảm cho Khôi biết anh sẽ không bị thất vọng. Nhìn những giọt café đen sánh nhỏ xuống ly nhưng mắt Khôi luôn liếc về phía cầu Ông Đạo, cây cầu nối liền trung tâm thành phố với nhà Thủy Tạ, để mong thấy bóng dáng những tà áo dài với áo len khóac ngoài, nhưng sao hôm nay đồng hồ chạy chậm quá! Mong và đợi làm thời gian như đứng lại, nhưng rồi các cô cũng đến khi Khôi hút đến điếu thuốc thứ 9.
Chuyện gì xẩy ra sau đó thì những ai đã một lần yêu đều biết, “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”, có duyên với nhau thì dù xa vạn dặm cũng tìm gặp nhau, huống chi Lê và Khôi không chỉ sống cùng một thành phố mà còn chung lối về nên cả hai “thân” với nhau mau chóng, nhưng có điều Lê chưa biết Khôi là người đã cầm tay mình và tặng cô đóa hồng nhung, còn Khôi thì tế nhị nên cứ giữ kín chi tiết này để Lê khỏi ngượng và chờ khi nào tình yêu chín mùi sẽ kể lại để tặng người yêu.

Yêu nhau dù một ngày không gặp đã thấy nhớ, thấy lâu, nhưng kỷ luật quân trường nào dễ đâu! Hẹn em tuần sau nhưng rồi anh bị cấm trại nên đành lỗi hẹn, Chúa Nhật nào dù được phép đi phố nhưng vẫn bị các “thầy” Huỳnh Bửu Sơn, Phan Thanh Trân giữ lại cả buổi sáng để tập cơ bản thao diễn, múa súng! Khôi giận các thầy vô cùng, giận thầy nhớ em khiến chàng bước sai nhịp, tung súng đầu gắn lưỡi lê mà tưởng như lưỡi lê đâm vào ngực! Đại Úy Huỳnh Bửu Sơn và Thiếu Úy Phan Thanh Trân chỉ cho K19 xuất trại sau khi đã tập xong vài màn múa súng! Những giờ phép quý báu bị cắt đầu trừ đuôi, đến khi gặp nhau vừa nói vài câu thì như sắp hết giờ, đã tới lúc phải vào trường! Ôi thời gian không có chân mà sao chạy nhanh thế! Đồng hồ không thiên vị, nhưng vì yêu mà Khôi thấy chờ thì lâu nhưng khi tay trong tay thì đồng hồ chạy như bay. Nhiều lần Khôi muốn ở lại thật khuya, hay ngồi ôm vai em tới sáng, dù cho có bị các ông niên trưởng K17, K18 phạt cũng đáng giá. Nhưng chỉ một lời của Lê, một hơi thở nhẹ bên tai “thôi anh về đi, tuần sau gặp lại” thế là Khôi mềm lòng đứng dậy tạm chia tay.

Thời điểm 1964, sau khi các đàn anh K16, K17 và K18 ra trường hết, K19 được thoải mái và tương đối tự do, vì họ đã là niên trưởng, dù trường có cấm trại hay không thì họ vẫn tìm cách xuất trại “hợp pháp”. Vài tháng trước ngày mãn khóa thì những bộ “vét” thay cho quân phục SVSQ, ai có tình yêu thì tự do dung giăng cầm tay mà không sợ bị các con mắt “cú vọ” của đàn anh soi mói, vì nội quy cấm SVSQ cầm tay hay ôm eo người tình dạo phố. Đây là thời điểm huy hoàng nhất đối với Khôi, tình yêu đôi lứa không còn gì đẹp hơn, lãng mạng hơn.
Nhưng với cô bé Lê thì mới chỉ thấy một cảm giác lâng lâng vui vui kèm theo niềm hãnh diện mỗi lần được sánh bước cùng chàng sinh viên sĩ quan Võ Bị Nguyễn Đăng Khôi. Gia đình Lê tuy không khắt khe nhưng cũng không thả lỏng đề con rong chơi, Lê là gái duy nhất và là con út nên được cha chiều, còn mẹ thì “săn sóc” hơi kỹ, mẹ giao nhiệm vụ cho mấy anh canh chừng mỗi khi cô đi chơi, vì thế dù quen nhau đã lâu nhưng chưa có cơ hội để Lê cảm nhận được thế nào là tình yêu thực sự của Khôi, và rồi từ một dịp “xui xẻo” đã làm thay đổi tình yêu ấy.

Một buổi trưa Chủ Nhật, Khôi và Lê thả bộ theo quanh bờ hồ và ngồi lại trên ghế đá công viên Bích Câu thì chợt đâu cô nghe tiếng gọi:
_ “Lê, em làm gì ở đó, em nói đi chùa sao lại ngồi ở đây?”
Nghe gọi, Lê giật mình quay lại thì thấy anh Hoàng đang dừng xe ngoài đường, anh chính là người được mẹ giao nhiệm vụ canh chừng cô em. Thường mỗi sáng Chúa Nhật, nhỏ Hiền, bạn cùng xóm, cùng lớp đến rủ Lê đi chùa nên mẹ cô rất hài lòng và cả hai cùng đến chùa thật, nhưng khi có Khôi thì khác, đây là lần đầu anh Hoàng bắt gặp Lê “trốn chùa đi chơi với bồ”! Lúng túng chưa biết trả lời với anh trai ra sao thì Khôi vỗ nhẹ vai Lê và nói:
_ “Em an tâm, để anh giải thích với anh Hoàng”.
Nói rồi Khôi đi thẳng tới chỗ Hoàng, thấy họ bắt tay nhau, nói nhỏ với nhau những gì Lê không biết, chỉ một lát sau, Hoàng đưa tay dứ dứ về phía cô em:
_ “Anh về mét mẹ à nha”.
Thấy anh trai nói “mét mẹ” rồi phóng xe đi khiến cô em mất vui, nhưng khi Khôi quay trở lại mỉm cười thì Lê “quên hết lời anh dặn dò” bèn hỏi nhỏ Khôi:
_ “Hai người nói gì với nhau vậy? Hai người có quen nhau không?”
_ “Anh nói với Hoàng là anh yêu em, yêu suốt đời, yêu tới chết”.
_ “Xạo hoài, chắc tại anh Hoàng yêu bộ jaspe’ và cặp alfa này”.
Đã có lần Lê nghe anh Hoàng nói sau này sẽ đi Võ Bị, thế nên mọi việc êm xuôi vì tối về không hề thấy mẹ hỏi han gì cả, còn Hoàng thì mỉm cười đòi hối lộ khiến Lê an tâm và cô còn vui hơn khi Hoàng khen Khôi đẹp trai và trông rất oai trong bộ quân phục SVSQ, và hai người có biết nhau sơ sơ.

Kể từ sau ngày bị anh trai bắt gặp Lê theo Khôi, tưởng là xui mà hóa hên, lại thêm vào thời điểm khóa 19 của Khôi làm niên trưởng thì đôi “uyên ương” tự do sánh vai khắp nẻo đường thành phố sương mù mỗi cuối tuần, đôi khi Khôi còn liều mạng nhẩy dù thêm tối thứ Bẩy. Họ rủ nhau đi ăn hủ tíu Nam Vang ở góc đường Tăng Bạt Hổ và dốc Minh Mạng, ngồi café Phi Nhạn, phở Bằng, cháo Như Tĩnh v.v…. Tình tứ hơn thì “ta yêu ta tìm nơi vắng vẻ”, họ đi xa hơn, đến Tùng Nghĩa, thác Prenn, Datangla và chính nơi đây, bên dòng thác hoang sơ kín đáo, Lê mới cảm nhận được vị ngọt của nụ hôn tình yêu là thế nào.
Hôm đó Khôi cầm tay Lê vuốt ve những ngón tay búp măng rồi hỏi:
_ “Những vết sẹo trong lòng bàn tay em lúc trước biến đâu mất rồi?
Lê không nhớ gì cả bèn hỏi lại:
_ “Những vết sẹo nào hả anh?”
_ “Vết sẹo mà hôm đó mấy con chó sủa làm em bị té đó...”
Khôi chưa nói hết câu thì Lê sửng sốt, ngồi ngay lại nhìn thẳng vào Khôi:
_ “Sao anh biết?”
_ “Em có nhận ra người băng vết thương rồi tặng em đóa hồng nhung…”.
Lê ngạc nhiên đến độ tròn xoe đôi mắt nhìn thẳng vào mắt Khôi:
_ “Thế ra là anh, cám ơn anh, nhưng anh nhắc làm em xấu hổ quá....”
Vừa nói Lê vừa quàng hai tay qua cổ Khôi định trách móc tiếp nhưng không còn kịp nữa, hai tay Khôi cứng như hai gọng kìm xiết eo Lê nói thật nhanh “yêu anh không” và môi Khôi cũng khóa chặt môi Lê khiến cô bé ú ớ rồi im lặng, “nói năng chi cũng bằng thừa”, họ hôn nhau như chưa bao giờ như thế, vì đó mới thực sự là nụ hôn tình yêu đầu tiên của cô.

Nhưng không phải tình yêu lúc nào cũng ngọt ngào mà không gặp cay đắng. Đó là lần Khôi rủ Lê đi Suối Vàng, cách Đà Lạt khoảng 20km, thuộc huyện Lạc Dương. Hai chữ “suối vàng” khiến Lê rùng mình không dám nói ra điều ghê sợ ấy, mà kín đáo rủ Khôi đi hồ Than Thở. Trên cỏ xanh phủ đều những lá thông, ngồi êm như trên thảm, Khôi chỉ xuống mặt hồ kể cho Lê nghe những kỷ niệm lạnh tê tái khi huấn luyện viên khóa 17 bắt khóa 19 cầm súng đưa lên đầu rồi đi thật chậm, từ chỗ hai người đang ngồi xuống lòng hồ cho tới khi nước vào miệng, vào mũi! “Từng bước từng bước thầm”, nước hồ mùa Đông thấm dần qua quần áo, vào da thịt! Nếu có kêu trời lạnh quá! Lạnh quá thì khóa đàn anh nói tập làm quen với lạnh lẽo gió sương của người lính ngoài chiến trường.

Nghe Khôi kể mà thấy thương.
Chàng làm cô cũng rùng mình thấy lạnh bèn nép thêm sát vào bên anh rồi bất chợt nũng nịu hỏi Khôi:
_ “Từ trước tới nay anh đã yêu cô nào chưa?”
Đây là một câu hỏi mà bất cứ thiếu nữ nào vừa bước chân tới ngưỡng cửa tình yêu đều hỏi và luôn luôn mong ước câu trà lời phải khẳng định là “chưa”, dù rằng anh có yêu bao nhiêu rồi thì cũng cứ nói dối, trong tình yêu có những bí mật không nên bật mí, nói dối để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi. Nhưng Khôi vì yêu thật nên thật thà “khai báo”:
_ “Anh chưa bao giờ yêu ai cả, trừ em, nhưng có lần anh bị yêu. Khi anh còn đi học ngoài Trung, ở trọ một gia đình có cô con gái tên Hương. Một đêm đang ngủ, anh giật mình vì có ai chạm vô người, bừng mắt dậy thì bị cô Hương đè lên anh, anh không chống cự nổi và rồi... rôi sau đó anh không dám trọ nữa.”

Nghe xong Lê ôm mặt khóc sướt mướt, với tâm hồn còn trong trắng cô không hiểu hết ý nghĩa câu nói của Khôi “anh không chống cự nổi và rồi...” mà chỉ tưởng tượng có một cô gái đã nằm bên Khôi là đủ làm tim Lê đau nhói rồi! Lê tự trách mình tại sao lại tò mò đi hỏi những câu chuyện của người lớn? Trách mình rồi thầm trách Khôi “Sao anh ngốc quá vậy, ai bảo anh nói thật làm chi cho em đau khổ! Anh là người thật thà đáng ghét.”

Quá đau khổ, Lê lau mắt và đứng dậy im lặng rời chỗ ngồi, dù Khôi có năn nỉ níu kéo giải thích gì đi nữa thì tai người anh yêu vẫn còn ù! Vừa lúc một taxi từ hướng trường Võ Bị chạy trở ra phố, Lê ra đứng chặn đường rồi tự động mở cửa xe trốn vào mà không cần biết trong xe có hành khách hay không. Khôi đứng như trời trồng, nhìn theo taxi cho tới khi nó khuất sau đồi thông rồi chàng vuốt mắt, lắc đầu cho tỉnh cơn mê, lội bộ trở về trường thật sớm. Người Khôi hâm hấp nóng, mệt mỏi như bị cảm, Khôi nói với Trương Khương, bạn cùng phòng:
_ “Nếu cán bộ có điểm danh, mày nói tao sốt, nằm tại phòng.”
Khương quá ngạc nhiên, lẽ ra giờ này “hai đứa” đang tay trong tay, có khi Khôi liều mạng ở lại tới rạng sáng mới trở về trường. Khương hỏi Khôi:
_ “Chuyện gì vậy, mày và Lê giận nhau hả?”
Khôi thuật lại câu chuyện vừa xẩy ra bên bờ hồ Than Thở, Khương vỗ trán:
_ “Trời ơi! Sao mày thật thà đến thế! Chuyện xảy ra trước khi mày quen Lê thì tại sao nói với người yêu chuyện đó? Mày chẳng hiểu tâm lý phụ nữ cái gì cả, một khi họ hỏi mình về tình yêu trong quá khứ thì cứ nói rằng em là người đầu tiên và duy nhất, họ muốn mình nói thế mà. Mày không nghe “sư phụ” Huỳnh Văn Phú dạy tụi mình à? Nếu có bị vợ hay người yêu hỏi về người phụ nữ nào khác thì phải nói là không biết, không nghe, không thấy. Nếu có bị bắt tại trận cũng chối, bị nắm tận tay cũng giật ra mà chối. Mày liệu mà đi tìm Lê để năn nỉ, đừng có nằm đó mà bịnh luôn đấy, bịnh tương tư khó chữa lắm”.
Đêm ấy Khương không thấy Khôi nhúc nhích hay trở mình, sáng ra kèn báo thức tập họp chạy bộ cũng không thấy nó dậy, Khương vội vén màn, tung mền thì mới biết…. Khương mỉn cười “Thằng quỷ sứ”. Chạy bộ xong về phòng thì đã thấy Khôi chỉnh tề trong quân phục tác chiến, cầm sổ chuẩn bị đi khai bệnh.
Càng thương thì càng giận, mà càng giận thì lại càng thương hơn, Khôi và Lê đã cùng tìm lại được niềm tin nhau sau đêm Khôi trốn đi phố ấy. Nhiều lần tâm sự cùng nhau, cùng mong sao cho lâu tới ngày mãn khóa, được làm SVSQ ở lại trường, thế mới biết tình yêu là trên hết. Nhớ lại ngày mới nhập học, sau 8 tuần lễ hành xác, đoạn đường trước mắt còn tới 4 năm! Eo ơi! Tưởng như dài 40 năm, nhưng rồi cả khóa 19 reo hò vui mừng khôn xiết khi chương trình huấn luyện rút xuống còn 2 năm, bây giờ có tình yêu bên cạnh thì Khôi lại mong chương trình dài thêm 4 năm, 8 năm. Nhưng thời gian không chờ đợi ai, họ nắm tay nhau hồi hộp đếm từng ngày, K19 sắp tới ngày xuống núi, tung cánh chim khắp bốn phương.

Ngày 28 tháng 11 năm 1964, gần 400 SVSQ khóa 19 quỳ xuống vũ đình trường Lê Lợi để nhận cấp bậc tốt nghiệp và khi đứng dậy đã là các tân sĩ quan, trong đó có Nguyễn Đăng Khôi. Các thiếu úy tốt nghiệp trường VBQGVN sau hai năm trui rèn trong lò luyện thép trên đồi 1515 sẵn sàng lên đường. Tất cả khóa 19 đều ra chiến trường, không có đơn vị chuyên môn như khóa đàn anh. Sau khi một số bốc thăm đi các binh chủng, số còn lại thì tự chọn các sư đoàn Bộ Binh.

Hết 15 ngày phép, bạn bè và Lê tiễn chân Khôi ra phi trường Liên Khương để về trình diện SĐ2/BB! Trên đường đi đến phi trường, Khôi ôm Lê, cầm tay em vuốt ve tràn đầy yêu thương, an ủi em đừng buồn, anh hứa sẽ viết thơ về cho em ngay sau khi đến đơn vị. Lê chỉ biết nép sát vào Khôi như rút hơi ấm từ anh, miệng dạ dạ mà không biết nói gì với Khôi, dù rằng có cả ngàn lời thương yêu muốn nói với anh. Cô nhủ lòng nhất định không khóc đề khỏi làm nhụt trí người trai nhưng không hiểu sao nước mắt cứ ứa ra! Mong con đường dài thêm để được nép bên anh phút nào hay phút đó, nhưng rồi xe vẫn đến phi trường, mọi người xuống kéo theo hành lý cho Khôi, vì tay Khôi còn bận nắm tay em.

Thủ tục đã xong, mọi người đứng vây quanh Khôi, chỉ chờ loa phóng thanh gọi tên anh nữa là xong. Khôi ôm vai người yêu vỗ nhè nhẹ, hình như anh cũng đã cạn lời nên vẫn chỉ lập lại mãi một câu “Đừng buồn, anh yêu em, anh sẽ viết thư cho em ngay khi đến đơn vị”. Giây phút chia tay đã đến, họ gọi tên Khôi trên loa phóng thanh, Khôi vội ôm Lê hôn giã từ, nụ hôn kéo dài, loa phóng thanh lại réo tên anh lần nữa, bạn bè giục anh, Khôi chần chừ buông Lê ra và chạy vội lên cầu thang, dừng lại tại cửa máy bay vẫy tay giã biệt!
Chân tay Lê cứng đơ, em chỉ biết cố mở thật to đôi mắt để thu hình Khôi, muốn ghi hình ảnh anh vào tận cùng tâm trí, nhưng sao hình Khôi cứ mờ dần, mờ dần, cô mở to mắt nhưng không thấy gì nữa, đưa tay vuốt mặt mới biết mình khóc và bất chợt kêu thầm đau khổ:
_ “Khôi ơi! Anh đi thật rồi sao!”
Phi cơ bay đi lâu rồi mà Lê vẫn còn đứng đó, đứng như một tượng gỗ! Lộc, một bạn thân của Khôi đến vỗ vai cô và an ủi:
_ “Thôi ta về đi em, đừng buồn nữa, nó sẽ viết thư ngay cho em mà.”
Suốt trên đường về, đầu óc Lê hoàn toàn tê liệt, cô cắn môi im lặng để khỏi bật ra tiếng khóc. Đến khu Hòa Bình, cả nhóm vào café Tùng, nhưng cô thì như kẻ mất hồn, không biết mình nghĩ gì và làm gì nữa, chỉ có một cảm xúc thật rõ ràng là mất mát, mất một cái gì thật to lớn và quý giá: “Anh đi thật rồi sao?”
Mọi người gọi café, Lê chưa bao giờ biết uống café nhưng cô cũng gọi đại một ly café đen như dân ghiền sành điệu uống không đường, dường như cô muốn nếm thử vị đắng của café so với điều cay đắng xót xa vừa đến như thế nào. Thực sự thì Lê không biết mình nghĩ gì làm gì giữa đám đông bạn bè này, mọi khi vẫn có Khôi, giờ thì cô đau đớn với cô đơn rồi bật khóc nức nở!!! Mới chỉ là một cô bé mới lớn, chưa là một “cô gái” nên mọi cảm xúc thật ngây thơ trong trắng, chỉ biết yêu và mong được nhìn thấy người mình yêu, được ôm trong vòng tay, có anh bên cạnh là đủ, nhưng “giờ này anh ở đâu?!”

Những ngày tháng sau đó Lê càng buồn them. “Người đi một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn kia bỗng dại khờ”, vào lớp không tập trung tư tưởng, lơ là việc học hành, mỗi khi có thể được là cô lại lang thang đến nhà Lộc, nơi còn đầy ắp những kỷ niệm, hình bóng và mồ hôi quân trường của Khôi, nơi mà mỗi khi Khôi và anh Khương trốn đi phố thường đến đây và ở lại, cô đến để tìm chút hương yêu ngày cũ còn vương đâu đó, đến để nghe Lộc nói về Khôi, đến để than thở và được khóc, nhưng quan trọng nhất là để chờ đợi được cầm lá thư của anh từ chiến trường gửi về. Mong sớm nhận được thư tình ngọt ngào, được nhõng nhẽo, dỗi hờn.

Thế nhưng! Chờ và chờ, ngày qua ngày, chờ đợi trong vô vọng, không một tin tức nào từ Khôi! Gần hai tháng rồi, gần như ngày nào Lê cũng đến nhà Lộc, địa chỉ nhận thư, để chờ mong và khóc. Lê có đến nơi Khôi ở trước khi gia nhập Võ Bị, thì được biết Khôi chỉ tạm trú ở đó một thời gian, sau này ít liên lạc nên họ cũng không biết tin tức gì cả. Thấy Lê như mất hồn, Lộc cũng hoảng, bèn đề nghị đi xuống Nha Trang tìm Trương Khương để dò hỏi tin tức, may ra....
Lộc và Lê đến nhà Khương vào mồng 4 tết nguyên đán, sau khi chúc tết gia đình Khương xong, Lộc hỏi Khương:
_ “Mày có tin tức gì về Khôi không? Lê nó mất tinh thần rồi kia kìa.”
_ “Không, tao tưởng tụi nó...!”
Hiểu được tâm trạng của Lê nên Lộc và Khương không dám nói đến những sự nguy hiểm bất ngờ ngoài chiến trường mà xoay quanh chuyện bạn bè, sẽ dò hỏi xem có ai nhận được thư của Khôi không. Bất ngờ Khương hỏi thăm Lộc về người yêu của hắn hiện đang học ở Saigon:
_ “Thế còn Đinh Lệ Mỹ thì sao?”
_ “Vẫn viết thư cho Mỹ”. Lộc nói.
Đang theo dõi hai người “nhỏ to” về tin tức của Khôi thì Lê thoáng nghe “Vẫn viết thư cho Mỹ” xen vào, trong lúc bất an hoảng loạn, cô tưởng lầm rằng Khôi vẫn viết thư cho Mỹ! Thế là cô gập người đau đớn vô tận, cả một bầu trời sụp đổ. Cô bật khóc nức nở khiến ai cũng ngạc nhiên, rồi mọi người an ủi vỗ về. Biết khóc như thế trong nhà Khương ngày đầu năm là điều tối kỵ nên Lê cắn môi cho tiếng khóc không bật ra mà chỉ còn nấc nghẹn trong họng và Lê cũng không dám thổ lộ lý do khiến cô khóc, cô xin lỗi gia đình anh Khương rồi cùng Lộc ra xe.

Trở về Đà Lạt với mặc cảm bị bỏ rơi, như tờ giấy trắng bị đổ mực, vấy chàm, không làm sao Lê có thể gột bỏ được cái tên “Đinh Lệ Mỹ” ra khỏi đầu khiến cô ngày càng thêm tự ái, uất ức nhưng không biết làm gì hơn là khóc và khóc trong vòng tay Lài, cô bạn thân thiết cùng lớp, để Lài chia xẻ những đớn đau và an ủi. Chính trong lúc bất an và tự ái, Lê đã tuyên bố với Lài và bạn bè:

_“Tình yêu của tao đã chết rồi! Tao sẽ lấy bất cứ người đàn ông nào đến hỏi tao lần đầu tiên”.
Thế rồi năm tháng trôi qua, Lê tiếp tục kiếp sống “tật nguyền”, chán nản buông trôi mặc cho dòng đời đưa đẩy, không nhắc đến chữ “Khôi” nữa. Thực ra Lê cố nén vào tận cùng đáy lòng để khỏi bật khóc mỗi khi có ai nhắc tới tên Khôi.
Vẫn bặt tin Khôi và thấy Lê bất cần đời nên Lộc tìm cách giới thiệu anh của Lộc cho cô, một trung úy công binh còn độc thân, để hy vọng Lê tìm được một cuộc sống bình thường. Lợi, anh của Lộc, rất có cảm tình với Lê và cũng biết rõ mối tình Lê-Khôi và tâm trạng của cô hiện tại. Lợi lớn hơn Lê 10 tuổi, Lợi hết sức chiều chuộng và nhiều lần ngỏ ý cầu hôn nhưng Lê lại dửng dưng chuyện tình cảm mà chỉ xem như bạn bè. Biết tính của Lê nói là làm nên “cùng tắc biến” Lợi nhắc:
“Em đã hứa với các bạn là sẽ kết hôn với người nào đến hỏi…”
Lại bị chạm tự ái, Lê ngắt lời Lợi rồi nói:
_ “Anh Lợi khỏi cần nhắc thêm, nếu muốn thì đến mà hỏi ba má Lê.”
Tưởng nói cho qua chuyện, nhưng vì yêu nên Lợi làm thật, Lợi đã đến thưa với ba má Lê để xin cầu hôn nàng, dĩ nhiên các cụ sẽ vui vẻ trả lời là mọi quyết định là do “em nó”! Nghĩ lại chuyện cầu hôn của Lợi mà Lê phát tức cười dù trong lòng héo như dưa muối. Nhưng Lợi kiên trì theo đuổi, cuối cùng thì cô phó thác mặc đời, gật đầu cho xong. Đó là vào cuối năm 1967, tức là 3 năm sau kể từ ngày Khôi tốt nghiệp, ngày Khôi ra chiến trường và là ngày anh từ giã em!

Sau 3 tháng kết hôn với Lợi thì một hôm Lộc trao cho Lê một lá thư, tên người gửi là Đông, một cái tên hoàn toàn xa lạ, địa chỉ là KBC…. nhưng tên người nhận là Tuyết Lê, thư gửi về địa chỉ nhà Lộc. Quá bất ngờ và hồi hộp muốn ngộp thở, tay run không bóc nổi lá thư, không chần chừ Lê trao ngay cho Lộc đọc dùm xem thư của ai, nói cái gì? Nhưng thư chỉ vỏn vẹn có mấy chữ:
Kính gửi cô, (bà) Lê.
Nếu cô (bà) còn ở địa chỉ cũ và nhận được thư này thì liên lạc với tôi, địa chỉ ngoài bì thư, tôi có tin về bạn Nguyễn Đăng Khôi”.
_ “Trời ơi! Anh Khôi ơi!”
Lê chỉ thốt lên được bấy nhiêu đó rồi đổ gục xuống, Lộc phát hoảng khi thấy Lê không khóc mà đôi vai thì rung lên từng chặp. Một lúc sau cô bật đứng dậy, mắt ráo hoảnh nhưng đỏ au, có lẽ đau khổ tột cùng không còn nước mắt, mặt đanh lại, cô nói với Lộc:
_ “Đây là tin chẳng lành! Bây giờ phải làm sao hả anh Lộc?”
Lộc cũng có linh tính như thế, nhưng trấn an Lê và cho chính mình:
_ “Không sao đâu, có tin là được rồi, từ từ rồi tính. Địa chỉ nơi gửi là KBC, tức khu bưu chính quân đội, làm sao biết họ ở đâu mà tìm, làm gì có số điện thoại mà gọi, gửi thư thì phải vài ngày mới tới tay ông Đông, cách hay nhất là ngay bây giờ ra bưu điện đánh điện tín hỏa tốc, chậm lắm là ngày mai Đông sẽ nhận được.”

Điện tín đánh đi rồi, hai người trở về nhà Lê ngồi chờ, dù biết rằng đó là vô ích, vả lại Lộc không thể để Lê ngồi một mình trong lúc này, cô ấy đang như ngồi trên đống lửa, khóc rồi hỏi chừng nào có tin, rồi lại khóc! Chiều Lợi đi làm về, Lộc vội nói nhỏ với anh về cái tin chẳng lành này, Lợi cũng bị bất ngờ và đau khổ ở một khía cạnh tình cảm khác, nhưng Lợi vẫn vội vã đến vỗ về an ủi vợ rồi tế nhị tôn trọng niềm riêng tư của Lê, Lợi đi lo việc cơm nước.
Lê muốn ngồi một mình, nhưng khi Lợi và Lộc lánh đi chỗ khác rồi thì cô lại cảm thấy sợ hãi, lạnh lẽo, vào giường nằm, bao nhiêu kỷ niệm với Khôi hiện ra từng nét, từ buổi ban đầu hỏi tên đến khi tiễn chân anh ra phi trường, cô lâm râm khấn vái:

_“Khôi ơi! Nếu anh có mệnh hệ nào thì về báo cho em biết”.

Khấn xong nhắm mắt lại Lê thấy Khôi đến tìm cô trong bộ Jaspé, cầu vai alfa thiếu úy! Lạ nhỉ? Mà sao hôm nay anh buồn thế! Bị cán bộ phạt tội trốn đi phố à? Sao không chạy lại ôm em và hôn như mọi khi? Lê hờn dỗi rồi vùng vằng quay đi và bật khóc nức nở. Giật mình tỉnh giấc trong tiếng nấc, nước mắt còn chạy quanh, ngơ ngác nhìn nhưng không thấy Khôi, thấy thấp thoáng hai anh em Lợi Lộc đang thì thầm bên ly café trong bếp, đồng hồ chỉ đúng 9 giờ tối.
Tâm trạng Lê lúc này thật khó hiểu, mâu thuẫn liên tục, khấn vái xin gặp Khôi, trong giấc mơ thấy rồi lại đau khổ, không tin là thế và chờ thư hồi âm. Lợi vẫn đi làm như thường lệ, còn Lê không ra khỏi nhà, ngồi chờ tin và lại mong “no news is good news”. Nhưng rồi vẫn phải đối diện với sự thật, không phải chờ đợi lâu, Lộc mang đến cho Lê một bao thư dầy, gửi bảo đảm và khẩn. Lê ngồi chết dí xuống ghế, tay vịn chặt hai bên thành ghế, cắn môi để nghe Lộc đọc thư của Đông, một đồng đội của Khôi.

Lá thư khá dài, kể rõ mọi chi tiết kể từ khi Khôi mới về trình diện đơn vị, quen với Đông trong trường hợp nào, tâm sự với Đông về người yêu là nữ sinh trường Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt v.v... kèm theo thư là một tấm hình cô gái còn quá trẻ và rất xinh đẹp, phía sau tấm hình có ghi: “Tặng anh”, ký tên “Tuyết Lê” và ghi thêm địa chỉ nhà Lộc.
Đông cho biết anh là người nhận Khôi khi đến đơn vị, thấy Khôi vừa ra trường, đẹp trai, có tư cách nên kết thân với nhau. Ngay ngày hôm sau là đi hành quân, trong dịp này Khôi tâm sự với Đông nhiều về tình yêu. Sau một tuần trở lại hậu cứ, vì độc thân ngủ chung một phòng nên Đông thấy Khôi bối rối lục tung tất cả ba-lô quần áo để tìm một vật gì đó, mãi sau Khôi mới hỏi Đông có thấy cuốn sổ tay của Khôi không, một cuốn sổ tay ghi địa chỉ đồng thời cũng ghi lý lịch binh sĩ trung đội và lúc nào cũng phải để trên túi áo ngực (thầy Huyến dậy như thế). Vậy là cuốn sổ đã rơi mất lúc đi hành quân rồi, chắc là hôm đụng trận đầu tiên! Không có địa chỉ viết thư cho Lê nên Khôi và Đông phải chạy ra thị xã Tam Kỳ, tìm bạn của Lê là Cẩm Thạch ở tiệm thuốc tây Huỳnh Châu, nhưng rất tiếc là Cẩm Thạch và Lê đã mất liên lạc từ khi Lê di chuyển đi chỗ khác....
Lộc vừa đọc đến đó thì Lê la lên:
_ “Đúng rồi đó Lộc, em vẫn kể cho Khôi nghe về kỷ niệm cũ ở Tam Kỳ, có bạn thân là Cẩm Thạch, con nhà thuốc tây Huỳnh Châu. Như vậy đúng là Khôi mất địa chỉ của em nên mới nhớ đến Cẩm Thạch và chạy đến xin địa chỉ. Nhưng tụi em đã không liên lạc với nhau từ lâu! Em trách oan anh rồi Khôi ơi!”
Chờ cho Lê bớt khóc, bớt nức nở, Lộc đọc tiếp thư Đông:
_Khôi cuống cuồng lo lắng vì mất cuốn sổ, trong đó có ghi thêm lý lịch binh sĩ của trung đội, Khôi dặn tôi giữ kín chuyện này, nếu cấp trên mà biết làm mất lý lịch binh sĩ là không xong. Nhưng quan trọng, rất quan trọng là làm sao có địa chỉ đế viết thư cho Lê như đã hứa trước khi đi. Tôi đề nghị Khôi nên viết nhiều thư để gửi về bất cứ địa chỉ nào ở Đà Lạt để nhờ nhắn tin. Khôi đã làm theo và sốt ruột chờ thư hồi âm. Nhưng rồi lại đi hành quân hết nơi này đến nơi khác, có khi cả tháng mới trở về hậu cứ tái trang bị rồi lại ra đi..!
Lộc im lặng, ngưng đọc, quay đi, ngước mặt nhìn lên trần nhà, đưa tay dụi mắt như có bụi bay vào, rồi khịt-khịt mũi, Lê bực mình gắt:
_ “Sao Lộc không đọc tiếp đi?”
Lộc im lặng, đứng dậy quay lưng, đưa lá thư về phía sau cho Lê, cô đứng dậy giật lấy thư trong tay Lộc, ngó vào và chỉ thấy mấy hàng chữ viết đậm và rồi cả người lẫn lá thư cùng rơi xuống đất sau khi Lê nấc lên: “Anh đi thật rồi!”

Mấy dòng chữ đó viết như sau:

“Và lần hành quân đó Khôi tử trận váo lúc 5 giờ chiều ngày 17/2/65 tại quận Quế Sơn”!!!
Như vậy là sau khi ra trường và trình diện đơn vị, Khôi là một trong bốn thiếu úy K19/VB hy sinh sớm nhất tại chiến trường. Ba người “đi trước” là BĐQ Nguyễn Thái Quan, thủ khoa Võ Thành Kháng và Nguyễn Văn Hùng thuộc TQLC, họ tử trận tại Bình Giả ngày 31/12/1964 (mãn khóa ngày 28/11/1964)!
Nguyễn Đăng Khôi đã về với “hòm gỗ cài hoa” trong khi người yêu ở hậu phương vẫn đợi và chờ lá thư của anh gửi về em ngay sau khi đến đơn vị! Rồi trong lúc hờn dỗi, hiểu lầm, Lê đã trách Khôi trong khi anh đã nằm sâu trong lòng đất. Khôi viết, viết nhiều lắm, nhưng âm dương cách trở làm sao tới tay em được!

Ai trong chúng ta đã coi cuốn phim “We Were The Soldiers” hẳn là hồi hộp, sợ hãi rồi xót xa đau đớn cho những người yêu, người vợ lính ở hậu phương mỗi khi trông thấy xe taxi đưa thư đi vào cư xá, cầu trời khấn Phật đừng đến gõ cửa nhà mình, cái xe taxi chết tiệt kia mang thư báo tử. Trường hợp của Lê, người nữ sinh BTX cũng mong cũng đợi thư người cựu SVSQ thì gần 3 năm sau mới nhận được và không phải thư tình mà là thư “báo tử”. Nhìn những người phụ nữ trong phim đau khổ thế nào thì mới hiểu Lê đau khổ nhiều lần hơn thế nữa! Đâu cần phải xem phim, thực tế ngay trong anh chị em chúng ta cũng có quá nhiều anh cùng chung số phận như Khôi, “trả xong nợ nước”! Nhiều chị cùng hoàn cảnh như Lê!
Thư Đông có giải thích lý do anh nhắn tin trễ cho Lê. Tử sinh ngoài chiến trường là chuyện bình thường, người tử trận “lui” về sau để cho gia đình lo hậu sự, người chưa tử thì tiếp tục đi tới, đi vào cửa “tử” để tìm cửa “sinh” cho hậu phương. Vì thế Đông không để ý đến chuyện hậu sự của Khôi cho đến một ngày kia, khi Đông thu dọn hành trang để thuyên chuyển đi đơn vị khác,
Đông viết:

Cách nay khoảng 3 tháng, tức cuối năm 1967, trong khi thu dọn hành trang để thuyên chuyển đi đơn vị khác, trên cái bàn mà tôi và Khôi khi xưa dùng chung, trong đám sách vở giấy tờ lộn xộn cũ kỹ bụi bậm tôi thấy một cuốn tập bìa cứng còn mới, định nhét vào ba-lô để dùng, nhưng khi mở ra thì giật mình! Đó là cuốn nhật ký của Khôi, ngay trang đầu tiên là tấm hình ghi chú tên Lê. Tôi biết đây là người Khôi yêu tha thiết, còn nội dung thì chưa kịp viết gì, chỉ mới viết có vài dòng ngày tháng năm. Tôi biết tấm hình này là một kỷ vật quý báu đối với người còn sống nên tôi xếp lại, cất kỹ vào ba-lô với ý định sẽ trả về cho khổ chủ. Nhưng vì đi hành quân liên miên nên nay tôi mới thực hiện được.

Một sự trùng hợp hay linh thiêng nào đây mà đồng đội của Khôi, anh Đông, lại tìm được cuốn nhật ký của Khôi trong đống sách vở báo chí bụi bậm vào cùng thời điểm Lê miễn cưởng lập gia đình với Lợi? Duyên số chăng? Lê đã trách lầm Khôi và gây đau khổ đổ vỡ cho chính mình, lập gia đình khi không có tình yêu, lãnh cảm, gây buồn phiền cho người sống chung, hơn thế nữa không hợp nhau về nhiều phương diện vì thế Lê đề nghị ly hôn với Lợi. Trước sự thật đau đớn, không thể níu kéo thêm, Lợi nói:
_ “Với hy vọng là sau khi lấy nhau, anh sẽ tạo được tình yêu nơi em, nhưng anh đã thất bại. Xin chia sẻ với em những mất mát to lớn.”
Sau khi ly hôn với Lợi, Lê trở về sống với gia đình nhưng để tạm tránh “cảnh buồn người có vui đâu bao giờ” nên Lê thường xuyên xuống Nha Trang ở với Lài, cô bạn gái thân thiết nhất kể từ khi còn ngồi cạnh ở trường BTX. Lài là chỗ cho Lê nương tựa, giúp Lê giấu kín được tình yêu của Khôi vào tận đáy tim mà mỗi khi ngồi một mình là như mới xẩy ra hôm qua, tim Lê không còn chỗ cho tình yêu nào nữa dù xung quanh có nhiều người theo đuổi.

Vận nước nổi trôi đưa đẩy Lê trôi đạt đến một miền đất xa lạ, không một người thân quen bạn bè kể cả đồng hương, Lê nhận Hòa Lan làm quê hương thứ hai chờ tới ngày “đoàn tụ” với Khôi. Nhưng, sau 45 năm (64-2009) kể từ ngày Khôi ra trường và tiễn chân anh ra chiến trường thì Lê bất ngờ gặp lại hình ảnh và kỷ niệm với Khôi trên đất Mỹ
Cuối năm 2009, từ Hòa Lan qua Hoa Kỳ thăm bạn bè Đà Lạt và Bùi Thị Xuân ngày xưa. Tại Houston, Lê được BTX Lệ-Liễu dẫn đến tham dự tiệc tất niên của các bạn đồng khóa với Khôi. Thật xúc động, nói sao cho hết mừng vui lẫn tủi buồn. Các anh chị Khóa 19 Houston, Texas, yêu thương chiều chuộng người con dâu “hụt” K19VB hết lòng. Cám ơn các anh chị Cường, Em, Doan v.v… rồi như có người hướng dẫn, đưa Lê đến San José, Bắc California, vẫn được các bạn của Khôi đón nhận quá thân tình, đặc biệt là cố nhân Trương Khương, một bạn thân thiết như ruột thịt của Khôi, gặp anh chị Khương như được trở về mái nhà xưa.

Anh chị Khương chiều chuộng an ủi cô em, đi thăm viếng khắp nơi và xuống Little Saigon, Nam CA, được tham dự tiệc tất niên với các anh chị K19, vui quá! Cảm động quá! Nhưng cũng tủi thân quá: “bạn bè anh đây mà anh ở đâu!”
Trước ngày Lê qua Hoa Kỳ thì trên diễn đàn Nguyễn Trãi của khóa 19 đã phổ biến một tin về người em của Khôi ở Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn nên các anh K19 đang tìm cách giúp đỡ và trong bữa tiệc tất niên ấy, dù nhiều hay ít các anh chị mỗi người một tay và dĩ nhiên cũng có bàn tay của Lê. Đây lại là một sự tình cờ trùng hợp khác nữa hay có bàn tay nào hướng dẫn Lê.

Quý giá hơn là được các anh chị K19 kể cho Lê nghe những kỷ niệm của Khôi, tặng cho những tấm hình khi Khôi còn là tân khóa sinh, là sinh viên sĩ quan, cả tấm hình Khôi và Lê chụp chung ở thác Prenn Đalạt và quan trọng hơn nữa đã biết nơi yên nghỉ của Khôi ở nghiã trang Đà Nẵng, Lê đã và đang nhờ các bạn K19 của Khôi dò tìm xem “họ” di chuyển Khôi đi đâu sau khi nghĩa trang ở Đà Nẵng bị giải tỏa, hầu có thể mang hài cốt anh vào chùa, cho vong hồn anh bớt lạnh lẽo. Khi nghe Lê tâm sự về chuyện tình của Khôi và cô, chị Cường cho đó là ý tưởng đầy tình nghiã sâu đậm, chị Cường đã gọi đùa Lê là “thiếu phụ ngây thơ”. Ngây thơ nên đã trách lầm người yêu khi anh đã nẳm sâu trong lòng đất, Lê đau khổ hối hận:
“Khôi ơi! Em quỳ đây với mớ kỷ niệm tình yêu chúng mình, thắp nén nhang này cầu xin vong hồn anh hãy hiểu và tha thứ cho em, những vụng dại ngày xưa, em đã trách lầm anh, đã nghĩ oan cho anh, xin lỗi anh! Ngàn lần xin lỗi anh!”
“Nhưng Khôi ơi! Thân xác đã trở về với cát bụi, dù tìm được “tro bụi” hay không thì em vẫn lập bàn thờ anh, bàn thờ anh đã và mãi mãi trong lòng em, người yêu của anh.
Tuyết Lê”

Xin cám ơn tấm lòng yêu thương của tất cả các anh chị đồng môn, đồng đội của Nguyễn Đăng Khôi, khóa 19/TVBQGVN.
Ghi chú: hiện nay, tại Hoà lan, Tuyết Lê đã đem hình Nguyễn Đăng Khôi vào chùa Vạn Hạnh, cách nơi ở gần 2 giờ lái xe để có thể thường xuyên đến thăm Khôi, với Lê đó là tất cả và không mơ ước gì hơn.

Posted: Mon Jul 19, 2010 1:46 am
by dailien
Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên và người phóng viên chiến trường

Philato

Hiện nay cộng đồng người Việt tỵ nạn CS sống trên đất Mỹ thường có một sinh hoạt rất ý nghĩa và đượm tình đồng hương, đó là những buổi họp mặt (đại hội) hằng năm của những người cùng địa phương, cùng học đường, cùng quân trường và nhất là của các cựu quân nhân cùng đơn vị. Thông thường thì đại hội được tổ chức vào những dịp có nhiều ngày nghỉ lễ, tùy theo khả năng và nhu cầu mà tổ chức mỗi năm hoặc hai năm một lần. Binh chủng TQLCVN chúng tôi thì tổ chức mỗi năm một lần, luân phiên ở các tiểu bang khác nhau. Năm 2008 chúng tôi tổ chức tại Little Saigon vào dịp July 4, anh em Mũ Xanh các nơi về tham dự đến gần 400 người, trong đó có khá đông anh em thuộc Tiểu Ðoàn 2/TQLC mang danh hiệu Trâu Ðiên.

Trong khi các cựu Trâu Ðiên đang vui vẻ ôn lại chuyện đồng đội cũ chiến trường xưa thì vị cựu Tiểu Ðoàn Trưởng ra hiệu yên lặng rồi ông mở tờ báo KBC/HN ra cho mọi người xem bài viết của tác giả Ngọc Anh với tựa đề “Người Yêu Trâu Ðiên”. Bên lề bài viết là tấm hình của một phụ nữ rất duyên dáng với áo dài trắng, tóc xõa bờ vai nhưng đôi mắt thì quá buồn. Bầu không khí buổi họp mặt bỗng sôi động hẳn lên, có nhiều tiếng huýt sáo y như ngày nào năm xưa khi em “gái” hậu phương đến thăm anh “trai” ngoài tiền đồn biên giới.
Ngọc Anh với “Người Yêu Trâu Ðiên”
Chưa biết nội dung nói gì nhưng ai cũng đòi người anh cả đơn vị cho cầm tờ báo để ngắm người đẹp, người đẹp giữa chốn ba quân, khiến nét mặt anh cả tươi vui với giọng nói trẻ trung như ngày xưa ra lệnh trước hàng quân:

- “Ai là thủ phạm, ai là ‘Người Yêu Trâu Ðiên’ thì bước ra khỏi hàng”.

Thật bất ngờ, mấy chục “ông già” trong quân phục rằn ri sóng biển cùng nhất loạt đứng lên đưa cao tay, miệng hô lớn:

- “Em, chính em, chính là em”.

- “Thưa đại bàng, không phải thằng đó, em mới chính là thủ phạm”.

Nếu tác giả Ngọc Anh, dù là nam hay nữ, mà nhìn thấy cảnh này chắc chắn sẽ cảm động lắm, chỉ với cái tựa bài viết thôi mà đã khiến những cựu quân nhân già cỗi nơi hải ngoại bỗng trở lại thành những người lính trẻ trung oai hùng năm xưa, vui thật là vui.

Trước tình thế khó xử, biết trao “người đẹp” cho ai bây giờ nên anh cả liền bắt bí:

- “Trâu Ðiên nào đã tham dự trận đánh vùng Phú Lâm hồi Tết Mậu Thân đưa tay lên”.

Tất cả các cánh tay lại đồng loạt đưa thẳng lên như năm xưa tuyên thệ ngày mãn khóa tại vũ đình trường, trong đó có nhiều anh khi trận Mậu Thân xẩy ra thì còn là học sinh. Anh cả mỉm cười vì ai cũng muốn “tự giác”... nên ông đành trao tờ KBC/HN cho một người rồi ra lệnh:

- “Trận Mậu Thân, cậu là một trong hai Ðại Ðội Trưởng chịu trách nhiệm giải tỏa khu vực mũi tàu Phú Lâm, hãy cầm tài liệu này về điều tra xem ai là người bị tác giả N.A khiếu nại”.

Mọi người cùng cười, chỉ một tựa bài viết mà làm không khí sinh động hẳn lên, mọi Trâu Ðiên cùng nâng ly chúc mừng sức khỏe giống như nâng ly mừng chiến thắng Phụng Dư, Ðầm Giơi, Cổ Thành, v.v. Tôi đưa tay nhận tờ KBC/HN như nhận tấm bằng tưởng lục.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết “Người Yêu Trâu Ðiên”, tất cả những gì tác giả N.A. ghi lại đều có liên quan đến cuộc hành quân 40 năm về trước của đơn vị tôi. Tôi tự hỏi không lẽ lại có sự trùng hợp lạ lùng đến thế sao? Ðây phải là một câu chuyện có thực.

Nội dung câu chuyện nói về thân phụ của tác giả là một phóng viên chiến trường, ông đi theo Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên để chụp hình quay phim những trận đánh trong thành phố Saigon Tết Mậu Thân. Trong những hình ông chụp có một tấm hình đẹp của người lính Trâu Ðiên và ông đã tặng tấm hình đó cho con gái khi cô mới chỉ là một nữ sinh lớp Ðệ Lục trường Gia Long...

Thân phụ N.A. đã kết thân với người lính ấy và mỗi khi họ trò chuyện bên nhau thì cô bé chăm chú nhìn hình con trâu trên vai áo trận rằn ri. Rồi người lính ấy di chuyển đi nơi khác khiến cô bé bâng khuâng và khi VC tấn công đợt 2 thì thêm một đại họa bất ngờ ập đến với tuổi thơ, thân phụ tác giả đã bị VC hạ sát trong lúc đang thi hành công vụ!

Xin phép tác giả cho tôi trích một vài đoạn trong bài viết “Người Yêu Trâu Ðiên” để đem so sánh với những gì đã xẩy ra 40 năm về trước ở đơn vị tôi khi tham dự trận Mậu Thân: (trích)

- Anh Trâu Ðiên yêu dấu.

Khi viết năm chữ này, trái tim em đập những nhịp bất thường, ngón tay cầm viết cũng run rẩy. Trước mặt em là tấm hình đen trắng...

Anh Trâu Ðiên biết mà, tấm hình này chính Ba em chụp cho anh... Tự nhiên Ba cầm tấm hình ngắm nghía rồi đưa cho em, nói:

- “Tấm hình này đẹp quá, muốn giữ không con?”

Tấm hình Ba khen đẹp quá, em đã ép trong cuốn nhật ký nhỏ, giấu kín giữ cho riêng em mà thôi...

Tháng Năm năm Mậu Thân, VC lại tấn công thủ đô lần thứ 2.

Buổi sáng hãi hùng đó, không có anh Trâu Ðiên, Ba em đã đi luôn...

Không, Ba có trở về bằng thân xác còn nóng hổi, máu còn chẩy ra linh láng, ướt hết quần áo em! Hai chị em yếu đuối đã vác xác Ba về...

Lá thư này em viết nhưng không bao giờ gửi, vì em đâu biết anh Trâu Ðiên ở nơi nào trên mảnh đất đầy thống khổ... Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Ðiên, ngươi bạn trẻ của Ba, hình ảnh Ba và anh Trâu Ðiên luôn gắn liền nhau trong lòng em. Em giữ mãi lá thư không gửi trong cuốn nhật ký...”

Với lòng mong mỏi anh Trâu Ðiên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ tới anh Trâu Ðiên ngày xưa... (quý vị nào muốn đọc toàn bài viết xin tìm trên Việt Báo online hay email cho: phuongtimxua@yahoo.com.)

Thực sự tôi chưa biết rõ tác giả Ngọc Anh là nam hay nữ, nhưng tấm hình kèm theo bài viết thì là hình của “cô” Phượng Tím, người cùng với “anh” Dương Thượng Trúc phụ trách mục “Thư Hậu Phương, Thư Tiền Tuyến” trên báo KBC/HN. Tiết mục này tương tự như hộp thư “Dạ Lan” của đơn vị tôi ngày xưa, chuyên gửi những lá thư tình của em gái hậu phương cho anh lính tiền tuyến khiến nhiều anh tưởng thật, mơ một ngày về phép đến rủ em Dạ Lan dạo phố. Nhưng thực sự thì cô “Dạ Lan” cũng chỉ là người lính chiến có súng, cầm súng như các anh mà thôi.

Nhân dịp đọc bài viết “Người Yêu Trâu Ðiên”, tôi xin thuật lại một vài chi tiết 40 năm về trước để giúp tác giả biết thêm về lòng yêu nghề mà không ngại gian lao nguy hiểm của người phóng viên chiến trường. Nếu đích thực ông là thân phụ của tác giả thì xin cho tôi gửi lời chia buồn đến gia đình người quá cố, một phóng viên mà tôi quý mến...

* * *

Tết Mậu Thân 1968, TÐ.2/ TQLC đang hành quân vùng Cai Lậy, Giáo Ðức, Ðịnh Tường thì được trực thăng bốc về Saigon và đổ quân xuống ngay trong sân bộ Tổng Tham Mưu, sau khi thánh toán xong tụi VC ở trường Sinh Ngữ, trung tâm Ấn Loát, cổng xe lửa số 6 thì Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên chia ra từng Ðại Ðội đi đánh các nơi khác, sau đó thì Ðại Ðội 1 của tôi và Ðại Ðội 4 của Ðại Úy Vũ Dzoan được lệnh giải tỏa lực lượng địch đang chiếm khu cư xá Phú Lâm.

Chúng tôi lục soát và chiếm những mục tiêu đang có VC cố thủ trên những nhà lầu dọc theo hai con đường Hậu Giang và Lục Tỉnh để tiến về mũi tàu Phú Lâm và đài phát tuyến. Vì chiến đấu trong thành phố nên chúng tôi không được phép sử dụng pháo binh và máy bay, do đó chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn bởi vì địch đã nằm sẵn trên các cao ốc, nhìn rõ mục tiêu, nhắm súng vào chúng tôi. Nhưng đã là lính thì phải chấp nhận hy sinh để giảm thiểu thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào.

Khi đại đội tôi tiến đến ngã tư đường Hậu Giang và Phú Ðịnh thì đụng nặng, địch khá đông đang cố thủ trong hãng pin Con Ó, cách chúng tôi một bãi đất trống và hỏa lực rất mạnh. Ðã mấy tiếng đồng hồ rồi mà quân ta chưa tiến thêm được bước nào mà bị thương và tử trận ngày càng tăng cao trong khi thượng cấp thì ra lệnh phải tiến “bằng mọi giá”!

Chúng tôi phải xin tăng cường xe thiết giáp để TQLC tùng thiết* (*có nghĩa là bộ binh và thiết giáp che chở yểm trợ cho nhau cùng tiến), cấp trên đã biệt phái xuống cho tôi một thiết giáp M41. Chỉ một chiếc thôi thì chưa đủ, nhưng có còn hơn không nên tôi cho lệnh Trung Ðội đi đầu của Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang chuẩn bị “tùng thiết” để vượt qua khoảng trống, chiếm mấy cao ốc trước mặt, thiết lập đầu cầu. Tiến như thế rất nguy hiểm nhưng phải theo lệnh cấp trên.

Khi xe và quân tùng thiết tiến lên thì tôi bất ngờ trông thấy anh phóng viên chiến trường núp sau pháo tháp và đang đưa máy hình lên chụp. Anh ta đã đi theo đơn vị tôi lao vào lửa đạn cả ngày rồi nhưng ngồi trên pháo tháp như thế thì thật liều mạng, giận quá tôi quát:

- “Này anh phóng viên, yêu cầu anh xuống xe ngay”.

Tôi hét lớn với người phóng viên đang bám theo xe trong tình trạng hết sức nguy hiểm, nhưng có lẽ vì tiếng máy nổ của M41 lớn quá khiến người phóng viên không nghe được, hoặc cũng có thể anh ta “giả điếc” để cố bám theo toán quân xung phong đầu tiên. Một tay anh bám vào thành xe, một tay bấm máy hình liên tục. Mỗi khi xe lắc lư như muốn hất tung mọi người xuống đất thì anh phóng viên vội buông máy hình treo toòng teng vào cổ còn 2 tay thì bám chặt vào xe. Nguy hiểm quá, nếu không bị bắn thì anh ta cũng bị rớt xuống, sẽ bị xích xe cuốn theo ngay! Không chần chừ được nữa, tôi ra lệnh cho Hạ Sĩ 1 Bùi Ngọc Ðường:

- “Ðường, lôi ngay ông phóng viên xuống đất cho tao”.

Không chậm trễ một giây, người lính cận vệ của tôi nhẩy lên xe ôm ngang lưng người phóng viên rồi nhẩy khỏi xe thiết giáp, cả hai cùng té lộn nhào xuống đất, trong lúc hai người còn đang nhăn nhó chưa kịp đứng dậy thì xe thiết giáp rú ga, gầm lên ủi sập bức tường phía trước mặt, lập tức địch bắn đủ mọi loại vũ khi về phía chúng tôi, xe bị trúng đạn B40, tiếng nổ chát chúa hất tung những người ngồi trên xe xuống đất, thiết giáp chồm lên đống gạch rồi khựng lại phun khói, cả khói xe lẫn khói đạn B40 mịt mù khiến tôi không nhìn thấy gì cả.

Sau vài động tác xoa mặt dụi mắt, tôi mới nhận ra được một cảnh tượng hết sức đau lòng, xe bị đứt xích, người trưởng xa M41 ngồi trong pháo tháp thò đầu ra ngoài thì đã biến đâu mất rồi! Cái nón sắt của anh văng ra xa, móp méo và bê bết máu! Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang*, đi sau xe thiết giáp thì đang gượng đứng dậy, 2 tay xoa khắp người xem có bị thương chỗ nào không, Hạ Sĩ Danh Thon, hiệu thính viên của Th/Úy Quang nằm sấp bất động, ngực đè lên máy truyền tin PRC25, tôi lật người Thon lại, một viên đạn xuyên qua máy truyền tin anh đeo trước ngực, xuyên qua áo giáp, trổ ra sau lưng một lỗ nhỏ, máu chưa kịp thấm ra ngoài. (*Thiếu Úy Quang khóa 18 Võ Khoa đã tử trận một năm sau đó.)

Ðảo mắt quan sát một vòng, tôi thấy xung quanh xe thiết giáp vài quân nhân bị thương, chưa biết nặng nhẹ ra sao, cách đó vài mét, người phóng viên ngồi dựa lưng vào tường, mặt nhăn nhó, chắc là lúc bị Ðường kéo té xuống đất đau lắm, nhưng anh ta vẫn còn đủ sức đưa máy lên bấm liên tục. Khi máy nhắm về phía tôi, anh trông thấy người vừa ra lệnh “lôi” anh ấy xuống đất nên anh ta lắc lắc cái đầu tỏ ý “ghê quá” và đưa nắm tay với ngón cái hướng lên trời, không biết ý anh muốn nói là may mắn vừa thoát chết hay là muốn nói cám ơn tôi đã đuổi anh ấy xuống, có thể là cả hai. Tôi tiến lại bắt tay anh và nói đùa:

- “Về nhà nhớ mua heo cúng nghe ông, lần sau ráng giữ lấy cái ‘gáo dừa’”.

Anh nắm chặt tay tôi như muốn nói thêm điều gì nhưng rồi lại vội vàng tiếp tục đưa máy chụp nhiều tấm hình. Ðến lúc này tôi mới biết là xe thiết giáp đã bị 2 trái B40 bắn vào xích và pháo tháp. Pháo tháp là một khối sắt dầy, đạn B40 không phá được nhưng sức nổ đã làm bay những gì xung quanh, sức nổ đã làm bay phần thân trên của anh thiết giáp, còn phần thân dưới có lẽ đã bị đứt ra và lọt vào trong lòng xe rồi! Nếu anh phóng viên còn bám theo pháo tháp để chụp hình thì không biết sẽ ra sao? Tôi không hối hận khi cương quyết đuổi anh ta xuống xe.

Thấy xe bằng sắt mà còn bị đứt huống chi người, thượng cấp không hối thúc tiến nữa mà cho dừng quân để trực thăng (gunship) đến bắn rockets thẳng vào mục tiêu, nhờ vậy chúng tôi mới vượt qua được khoảng trống và tiến nhanh đến giải tỏa địch khu cư xá Phú Lâm.

Bài viết này chúng tôi không chủ tâm viết về trận Mậu Thân mà chỉ muốn nói về chuyện người Phóng Viên Chiến Trường nên chúng tôi không đi vào chi tiết việc binh đao mà xin quay về với người “lính” mang ống kính, máy chụp hình.

Rất hiếm khi có được phóng viên chiến trường ở ngay tuyến đầu tại mặt trận, có chăng là sau khi mọi chuyện đã xong xuôi, báo chí mới tháp tùng theo phái đoàn trung ương đến quan sát trận địa để chụp hình quay phim đưa hình phái đoàn hoặc hình những xác VC, những cây súng gẫy lên báo chí còn những hình người lính chiến thì mờ-mờ ảo-ảo làm nền trang trí.

Nhưng lần này về đánh giặc ngay trong lòng thủ đô nên có dịp nằm cùng phóng viên ngay tuyến đầu, những hình ảnh người lính TQLC xung phong vào lửa đạn đều được các anh chụp và đưa lên các trang nhật báo ngay ngày hôm sau kèm theo tên tuổi đơn vị v.v... như trường hợp phóng viên Nguyễn Tú của nhật báo Chính Luận, những hình ảnh và bản tin của anh viết về Trâu Ðiên trên báo đã được thân nhân gửi ra chiến trường khiến chúng tôi rất hãnh diện. Dù không biết ông Nguyễn Tú nay ở nơi đâu nhưng cũng xin thay mặt anh em để cám ơn ông Tú.

Có những người lính thấy hình mình được đăng trên báo, dù không rõ lắm nhưng cũng thấy thích thú, cắt xén thật cẩn thận để giữ làm kỷ niệm hoặc làm quà tặng cho người yêu. Các cấp chỉ huy thì cất kỹ những trang báo nói về trận đánh của đơn vị mình rồi đóng khung lồng kính treo lên chỗ trang trọng nhất của đơn vị.

Ðối với người lính tác chiến thì những hình ảnh và bài viết của các phóng viên chiến trường về đơn vị họ, nhất là các đơn vị cấp nhỏ như Trung Ðội hay Ðại Ðội, là một niềm an ủi lớn lao, một điều khích lệ vô cùng quan trọng cho tinh thần chiến đấu của họ, nhưng tiếc thay, trong quá khứ, người có trách nhiệm đã không để ý đến “binh sĩ vận” mà chỉ lo “thượng cấp vận”.

Có được người phóng viên đi theo khiến anh em lính chúng tôi lên tinh thần, hơn nữa chuyện anh thoát lưỡi hái của tử thần vừa qua càng làm chúng tôi quý mến nhau hơn nhất là tình cảm giữa anh và Bùi Ngọc Ðường, họ thân nhau như anh em, dù tuổi tác có chênh lệch.

Trong lúc đơn vị tôi tạm đóng quân trong cư xá để chờ nhiệm vụ mới thì anh phóng viên dẫn chúng tôi về nhà, cũng ở trong cư xá Phú Lâm, anh có ý muốn giới thiệu chúng tôi với chị ấy và các cháu, trước khi bước vào nhà anh nói nhỏ với tôi và Ðường:

- “Các anh đừng nói gì về chuyện vừa xẩy ra nhá, sợ bà xã tôi và sấp nhỏ lo lắng”.

Một người vừa yêu nghề lại vừa yêu vợ con nên đôi khi cũng không dám nói sự thật, tôi thông cảm với anh vì tôi vẫn thường nói dối như thế. Mỗi lần về phép, mẹ tôi hỏi đi lính có vất vả không thì tôi không ngần ngừ mà trả lời mẹ ngay:

- “Như đi làm thư ký văn phòng ấy mà”.

Tác giả “Người yêu Trâu Ðiên” và bức ảnh cuối cùng của người Phóng viên chụp con cháu trên nóc nhà ở Phú Lâm xem Trâu Ðiên đánh trận Mậu Thân.

Ðố các anh Trâu Ðiên: Ai là tác giả trong “Ngũ long Công chúa” trong hình?

Anh giới thiệu chị và các con với chúng tôi, có lẽ cũng đến “ngũ long công chúa”, cháu lớn chỉ độ “trăng tròn” là cùng. Thấy lính tráng súng ống vào nhà nhưng lại ngồi uống café hút thuốc nói chuyện vui vẻ với bố nên các cháu an tâm, bạo dạn hơn, thập thò sau màn che, cười khúc khích, kí đầu hoặc vỗ vào lưng nhau “thùm-thụp”.

Một gia đình thật hạnh phúc, tôi ước mong một ngày nào trong tương lai có được mái ấm gia đình như anh, nhưng có lẽ còn lâu lắm, vì anh hơn tôi gần một “con giáp”, hoặc không bao giờ có được hạnh phúc ấy một khi còn “vui đùa” với súng đạn, nghĩ vậy nên tôi tâm sự với anh:

- “Này anh, nếu hôm qua Ðường không ôm anh nhảy xuống đất thì hôm nay đâu còn chầu café này, anh đâu còn nghe tiếng cười khúc khích dễ thương của các cháu, anh phải hết sức cẩn thận khi đi làm phóng sự ngoài chiến trường, hoặc nên đổi nghề, lương không được bao nhiêu mà có quá nhiều nguy hiểm, anh đã có gia đình, các cháu đang nhìn anh kia kìa”.

Tôi chỉ tay vào phía trong nhà, sau bức màn che, thấp thoáng một hai cô bé tóc đuôi gà đang nhìn bố tiếp khách, anh nhìn theo hướng tay tôi chỉ, anh gật gật đầu ra chiều suy nghĩ. Chúng tôi bắt tay từ giã, anh siết chặt tay tôi và nói nhỏ:

- “Anh sẽ để ý và nghiên cứu lại lời khuyên của chú”.

Tôi thật cảm động khi nghe anh xưng “anh” và gọi tôi bằng “chú” (em) mang đậm nét tình nghĩa gia đình. Từ hai người xa lạ, chỉ qua một lần cùng chung nguy hiểm mà chúng tôi trở thành anh em thân thiết hồi nào không hay.

Anh tiễn chúng tôi ra cửa nhưng có tiếng chị dặn với theo:

- “Tối các em nhớ lại ăn cơm canh chua cá kho tộ với các cháu cho vui”.

Vui quá đi chứ, hổm rầy sống giữa thành phố mà cứ phải “nhá” C ration*, thịt hộp 3-lát ngán quá (*thức ăn đóng hộp cho lính hành quân). Nhưng ngay tối đó Ðại Ðội tôi phải di chuyển gấp đến mặt trận Bình Hòa nên không kịp báo tin cho anh chị hay.

Ngày qua ngày TÐ.2 di chuyển khắp nơi, từ nội thành ra tới ngoại ô, từ Nhà Bè sang bến đò Long Kiển, lên Nhị Bình (Lái Thiêu), chỗ nào có bong dáng VC là chúng tôi phải đến. Ðã có lần đơn vị chúng tôi trở lại lục soát khu vực rừng khóm (dứa) (thuộc mật khu Lý Văn Mạnh), rất gần với cư xá Phú Lâm nhưng không có thì giờ ghé thăm anh chị.

Rồi VC tấn công đợt 2, bận túi bụi với những người “anh em” từ bưng về thành, nào là ngã ba Cây Thị, xóm Cao Ðồng Hưng, khu Ðồng Ông Cộ, cầu Bình Lợi, ngã ba Cát Lái v.v... người tử trận kẻ bị thương, chúng tôi không còn thì giờ nhớ đến gia đình, nhớ đến người yêu nên hình dáng người phóng viên cũng mờ dần.

Vào khoảng tháng 10/1968, tình hình Saigon hoàn toàn yên tĩnh trở lại, TÐ.2 được biệt phái cho Quân Ðoàn III để hành quân vào mật khu Hố Bò, Bời Lời. Trước khi đi xa Saigon, Bùi Ngọc Ðường trốn đi chơi nguyên ngày, khi trở lại đơn vị thì vừa kịp nhảy lên xe GMC cùng Ðại Ðội di chuyển đến quận Hiếu Thiện (Tây Ninh) và từ đây được trực thăng vận vào mật khu Bời Lời ngay nên tôi chưa có dịp “thưởng” cho Ðường 5 roi. Cũng may là ngay trong trận này, Bùi Ngọc Ðường cùng với Nguyễn Văn Hợi đã liều mình cứu sống được viên Trung Úy cố vấn Mỹ bị thương và đã bị VC bắt. Nhờ thành tích này mà Ðường được Sư Ðoàn TQLC tưởng thưởng cho một xe Honda và dĩ nhiên tôi cũng tha cho hắn tội trốn đi phố.

Bùi Ngọc Ðường và tôi là hai “thầy trò” nên khi đi hành quân thì như hình với bóng, Ðường luôn ở bên cạnh để giúp tôi khi cần thiết, đi đâu là phải hỏi, vậy mà lần này dám đi cả ngày, đã vậy khi trở về lại có vẻ buồn. Tuy được phòng Tâm Lý Chiến Sư Ðoàn thưởng cho chiếc Honda mà sao Ðường không vui! Và rồi, xe Honda còn trùm mền chờ ngày Ðường về phép để chở người yêu dạo phố thì Ðường lại hy sinh trong một cuộc hành quân sau đó!

Khi Ðường tử trận rồi, Nguyễn Văn Hợi, người cùng với Ðường cứu sống cố vấn Mỹ, mới nói thật với tôi là Ðường trốn đi phố là để về thăm anh phóng viên ở cư xá Phú Lâm, và người anh kết nghĩa này của Ðường đã bị VC hạ sát trong đợt 2 trận Mậu Thân!

Nghe Hợi nói mà tôi bỗng rùng mình, nhớ lại lúc Ðường ôm người phóng viên nhẩy khỏi xe thiết giáp và họ đã thoát không bị nát thây trong gang tấc và rồi họ kết nghĩa anh em, tình huynh đệ chưa được bao lâu thì anh hy sinh mà em không biết! Khi trở lại thăm anh thì... chưa tàn bó nhang thắp cho anh thì em lại tử trận!

Cả hai đều những người tôi thương mến, hình ảnh của họ đã nằm sâu trong ký ức, nào ngờ, 40 năm sau, một sự tình cờ mà hai hình ảnh này sống lại thật rõ ràng trong trí nhớ của những người hay quên hiện tại mà nhớ dai chuyện quá khứ. Ðọc từng dòng từng chữ câu chuyện của N.A, tôi tin chắc người bạn phóng viên chiến trường, người anh kết nghĩa của Trâu Ðiên Bùi Ngọc Ðường chính là thân phụ của tác giả bài viết “Người Yêu Trâu Ðiên” và người lính trong tấm hình mà N.A giấu kín trong tập nhật ký nhỏ có phần chắc là Bùi Ngọc Ðường!!!

Tác giả N.A. kết thúc lá thư không gửi vì không biết anh Trâu Ðiên ở đâu bằng lời chúc:

- “Với lòng mong mỏi anh Trâu Ðiên vẫn còn sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn còn có một người nhớ đến anh Trâu Ðiên ngày xưa”.

Phần tôi xin kết thúc bài viết “Trâu Ðiên và Người Phóng Viên” bằng lời nhắn:

“Cô Ngọc Anh ơi, Trâu Ðiên Bùi Ngọc Ðường, người trong tấm hình mà cô giữ kín trong cuốn nhật ký, đã không thể về dự đại hội TQLC năm 2008 được, Ðường không chết nhưng đã nằm lại đâu đó trên chiến trường miền Nam VN, cũng như thân phụ của cô, ông không chết nhưng về với các con bằng thân xác còn nóng hổi, máu chẩy ra linh láng!”

Tôi tin rằng Bùi Ngọc Ðường, người lính trong tấm hình mà cô “nhốt” trong cuốn hồi ký, hay cô nhốt hắn trong tim thì chỉ có hắn biết, hắn sẽ phù hộ cho gia đình cô.

California, tháng 9 năm 2009.
Philato

Posted: Tue Jul 20, 2010 12:37 am
by tiendung
Hiệp Sĩ Mù xuất hiện trong đêm hội ngộ 45 năm Liên Khóa 65 KQ

Vũ Ngô Khánh Truật

Hiệp Sĩ Mù là một cựu SVSQ phi hành khóa 65. Anh từng du học Hoa Kỳ ngành Trực Thăng năm 1967. Năm 1972, anh bị thương “mù cả hai mắt” trong trận chiến tự vệ làn sóng Việt Cộng tràn qua vĩ tuyến 17 tại mặt trận Quảng Trị. Anh đã sống 38 năm trong bóng tối mênh mông tại VN. Năm nay nhân dịp 45 năm hội ngộ của liên khóa 65. Với sự giúp đỡ của các NT và các bạn đồng khóa. Anh đã có mặt trong một đêm hội ngộ có thể nói là “hi hữu” trong cuộc đời của anh.

Cách đây hơn 5 năm, nhờ mục nhắn tin trên Cánh Thép, các bạn trong liên khóa đã liên lạc được với anh và các KQ Huỳnh Quốc Hải, Nguyễn Thế Hải và nhiều KQ khác đã về VN thăm anh hoặc điện thoại thăm hỏi trong tình nghĩa KQ “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè.” Vì vậy mà một số KQ như Phan Kim Thạch trưởng khóa 65E, Lê Văn Sùng tự Sùng Combat khóa 65F và nhiều anh em khác nữa trong dịp 43 năm hội ngộ tại Washington DC đã nhen nhúm một ý định mời các bạn trong Liên Khóa 65 trên khắp thế giới và đặc biệt còn lại ở VN tham gia hội ngộ trong ngày kỷ niệm 45 năm hội ngộ.

Như lời tường thuật của một phụ nữ VN đang sống bên Úc Châu, KQ... “Hiệp sĩ Mù,” dù không còn thấy trời xanh và cây xanh đã 38 năm, nhưng anh không bi quan buồn nản về cuộc đời kém may mắn của riêng mình. Anh đã sống cuộc đời ăn chay trường và cất bước lên đường trong công việc nghĩa. Với cặp mắt mù lòa, anh đã học được nghề “châm cứu” của đông y để chữa trị cho những người bệnh hoạn. Những tỉnh miền Tây Nam phần không ai là không biết đến danh thầy H. mù trong những trường hợp bệnh hoạn. Việc nghĩa không phải chỉ có vậy, người cựu SVSQ KQ khóa 65 còn thường xuyên thăm hỏi và giúp đỡ các thương phế binh VNCH khác nữa.

Chưa hết, hàng tháng, ông thầy mù nghĩa hiệp này còn kiếm ra những bao gạo 9 ký... đi xe ôm để đem đến tận nhà những ông già bà cả nghèo đói giao tận tay cho họ trong nụ cười đầy tình bác ái, đầy tình người trong một nghĩa cử cao đẹp “khó thấy được” trong thời đại gạo châu củi quế này. Vùng nào thiếu nước vệ sinh để sử dụng trong tình trạng ô nhiễm môi trướng ở VN hiện nay, Thầy H. lại kiếm tiền đào ngay một cái giếng nước để bà con chòm xóm có nước sạch sẽ sử dụng. Những phụ nữ yếu đuối nghèo đói, gặp khó khăn trong các trường hợp sinh đẻ hay bệnh hoạn, Thầy H. biết được là thầy mau mắn xuất hiện để gọi là của ít lòng nhiều, giúp đỡ ngay tức thời như một mũi thuốc hồi sinh cho những con người không còn tìm đâu ra nơi cứu giúp...

Ði xa hơn nữa, thầy H. lại cũng không quên nghĩ đến những người phong cùi... Khi có phương tiện, thầy xuất hiện bên họ để đưa tận tay họ chút tình người dành cho những người khốn khổ này... Trong một DVD do một người bạn về VN đến thăm đem sang và gửi đến cho mọi người... Hiệp Sĩ Mù... tức Hiệp sĩ “không không thấy” nhưng “không không quên” luôn nhắc đến những kỷ niệm thân thương 45 năm trước... Anh nhắc đến những kỷ niệm xưa với những người bạn cũ như nhắc đến những sự việc vừa mới xẩy ra hôm qua... Những chuyện của cán bộ Ngô Sỉ ...” kèn”... phạt đàn em tên Thơ đến phát xỉu! Nhe hàm răng hô lại tưởng đàn em giỡn mặt cán bộ. Nhắc tới Ðinh Xuân An tự Ðinh phạn xá vì An làm cán bộ phạn xá! Nhắc đến em bé bụ bẫm Nguyễn Tiến Vinh to cao nhưng lại đẹp trai “như con gái.” Nhắc đến Hải nhái vì “nhẩy nhẹ nhàng nhanh nhẹn như con nhái” ở bãi biển Nha Trang. Nhắc đến Hùng bò chân bước thấp bước cao mà vẫn oanh oanh liệt liệt trở thành phi công vận tải xuất thân trường bay Mỹ Quốc... mới là chuyện hi hữu trong đời... Anh nhắc đến tên cúng cơm kèm theo nickname như nhắc đến những anh em thân thương ruột thịt của mình...

Ðôi mắt tuy mù lòa non nửa thế kỷ, nhưng tâm hồn và lương tâm anh không lòa... và thật trong sáng. Ông thầy mù vẫn mò mẫm đi bốc mộ và cải táng cho một phi công C119 bị rơi trong ngày 30 tháng 4 ở VN. Anh còn mò mẫm để biết được cái áo bay của bạn mình đã mục nát nhưng cái miếng “bằng ny-lông” để gắn ba bông mai vàng của Ðại Úy Phi Công Huỳnh Ðình Chiến vẫn còn sờ thấy được. Các bạn liên khóa 65 và các bạn phi công vận tải C119 nào muốn biết thêm chi tiết về KQ Huỳnh Ðình Chiến thì cứ tự nhiên liên lạc với H. mù hiện đang mò mẫm trong bóng tối cuộc đời và đang du lịch trên đất Mỹ... đến tháng 9 năm 2010 mới trở về lại VN qua số điện thoại di động (714) 548-2956.

Cách đây hơn 100 ngày, người cựu SVSQ Không Quân mù lòa này còn cùng bạn KQ khác tên Phan Tấn Tước... mò mẫm xuống tận Vĩnh Long Việt Nam để tham dự lễ hỏa táng “hiền thê của KQ C123 Trần Minh Trị” qua đời tại VN cho đúng với phương châm của KQ “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè.” Ðể rồi cả hai người, như một phép lạ, chỉ 100 ngày sau Phan Tấn Tước và Thầy “Mù Vó”... đã lại hội ngộ với anh em trên đất Mỹ!

Trăm cái... tai nghe không bằng một cái mắt thấy. Kẻ viết những dòng chữ này muốn thấy tận mắt những lời đồn đại của phóng viên ở Úc Châu cũng như những thông tin của bạn hữu ra sao nên tháng 10 năm 2009, người viết đã làm một chuyến về miền Tây VN cho biết sự tình. Chỉ thông báo ngày giờ xuống thăm hiệp sĩ... nhưng khi ra đến bến xe “tốc hành miền Tây” đã gặp ngạc nhiên ngay tức khắc...

“Xin mời anh chị lên ngồi hàng ghế sau tài xế... Ông thầy đã dặn chúng tôi đón tiếp anh chị và đem anh chị đến tận nhà thầy!” Từ bé đến lớn... rồi bây giờ gần thất thập cổ lai hi, tôi chưa hề bao giờ được đi xe đò một cách long trọng như vậy. Tôi vừa ngạc nhiên lại vô cùng thắc mắc vì những tiếp đãi nồng hậu của người tài xế cũng như người lơ xe. Như hiểu được những thắc mắc của tôi người lơ xe vừa thân mật chuyện trò vừa giải thích: “Cô chú không biết chứ cả tỉnh đó và những vùng lân cận không ai là không biết đến ông thầy mù ‘phước thiện’ đó!”

Chiếc xe vùn vụt chuyển bánh qua Bắc Cần Thơ rồi quẹo phải chừng 2 tiếng, chúng tôi được xe tốc hành đem đến trước nhà thầy... thầy đã đợi sẵn. Tôi ngậm ngùi nhìn người bạn tôi đang ngồi trên cái phản gỗ cũ kỹ bên cạnh là vợ thầy, gầy gò ốm yếu “tay nọ đỡ tay kia” vì một tay đã không còn cử động sau lần tai biến mạch máu não! Tôi ở lại đó 2 ngày và tôi hỏi thẳng bạn tôi về cuộc sống cá nhân, gia đình cũng như những công cuộc phước thiện mà báo chí bên Úc đã đăng tải qua bài viết của cô Thu Hoa - Cô Thu Hoa thật ra chỉ là một nhà từ thiện về miền Tây làm việc thiện chứ không phải là một phóng viên như tôi nghĩ. Tôi hỏi: “Vậy chứ bạn kiếm đâu ra tiền để chi phí cho nhiều, rất nhiều việc từ thiện như vậy?”

Bạn tôi cười hề hề giải thích: “Có gì đâu anh... Bạn bè khắp nơi biết tôi ‘hành hiệp trong giang hồ’ nên họ cho tôi tiền bạc. Tôi ăn chay trường, vợ tôi cũng ăn chay như tôi nên cuộc sống chúng tôi không có nhu cầu tốn phí chỉ cần khúc bánh mì chay với 1 chai nước là xong một bữa... Thế nên chúng tôi mới có phương tiện làm công tác từ thiện. Lại nữa và quan trọng hơn cả là chúng tôi, những người ‘bạn đạo’ cùng một lý tưởng ‘hành hiệp cứu đời’ nên chúng tôi thường thường cùng nhau lo cho những công tác phước thiện định kỳ hay đặc biệt...”

Trong dịp này, chúng tôi có gặp một bác sĩ y khoa đang hành nghề trong tỉnh lại có nhà thuốc Tây gần nhà thầy... và cũng là bạn Ðạo với thầy. Vẻ cung kính của ông bác sĩ đối với thầy cho chúng tôi biết thêm là những việc làm đầy tình bác ái của bạn tôi đã đánh động đến lương tâm con người và mọi người đều cùng thầy... chung sức trong các công tác như tôi được biết ở phần trên.

Sự xuất hiện của Hiệp Sĩ Mù... không phải dễ dàng như người ta “đi shopping”! Niên trưởng KQ Phạm Ðình Khuông khóa 65 A với sự hỗ trợ của Tổng Hội Không Lực VNCH đã hai lần làm đi làm lại giấy mời cộng với cái Passport đã từng du học trực thăng năm 1967 của thầy... mới được phái đoàn Mỹ chấp thuận cho “chiếu khán du lịch Hoa Kỳ trong 3 tháng.” Các KQ và mạnh thường quân ẩn danh sau đây đã đóng góp kẻ ít người nhiều trước ngày hội ngộ cả vài tháng mới có đủ chi phí vé phi cơ cho hiệp sĩ sang gặp lại bạn bè:

- KQ Trần Minh Trị C123

- Chị quả phụ cố KQ Nguyễn Lương Hùng C119,

- Chị quả phụ cố KQ Lê Văn Ðạt

- KQ Kha Lăng Ða Hồ danh Lịch ở St Louis

- KQ Trần Quang Khải

- KQ Nguyễn Anh Tuấn

- KQ Lê Mạnh Hùng

- Gia đình một KQ giấu tên...

- KQ Lê Văn Sùng tự Sùng Combat...

Ðó là những đóng góp rất khiêm nhường trước ngày hội ngô của liên khóa 65/45 năm hội ngộ cả vài tháng. Thời gian trong và sau cuộc hội ngộ, kẻ viết bài này không hề biết được thêm một chi tiết nào khác.Trong buổi tối sau ngày hội ngộ, người viết tình cờ biết được một chi tiết rất cảm động với sự chứng kiến của vài KQ có mặt: một gia đình con của một KQ khóa 65 đã đến thăm Hiệp Sĩ Mù kèm theo một tờ giấy như sau :

Gia đình cháu “giấu tên,” con một KQ khóa 65 gửi chú H. chút quà mọn như sau:

-Biếu thím H. mua đồ nấu chay;

-Mua gạo phát cho người nghèo;

-Giúp các học sinh nghèo học giỏi;

-Mua hòm phát cho người nghèo qua đời...

Sau khi gia đình người cháu gái ra về, tôi đặt thẳng vấn đề với Hiệp sĩ Mù... hay thầy H. hay bạn cùng Liên Khóa 65 với tôi cũng vậy: “Bây giờ tôi hiểu ra rồi... Vậy tại sao H. không nói những việc làm của mình cho anh em Liên Khóa 65 biết để họ trợ giúp bạn?”

H. mỉm cười hiền lành và trả lời: “Anh ạ! Tôi là một Phật tử thuần thành. Suốt đời còn lại sẽ ăn chay niệm Phật. Nhưng tôi thấy trong Thánh Kinh Công Giáo có dạy rằng ‘việc làm nhân đạo của tay phải, tay trái cũng không biết được’. Vậy tôi làm sao nói ra hay phô trương cho mọi người biết. Phô trương như vậy thì việc làm của mình đâu còn ý nghĩa nữa?”

“Với lại, sau hơn 10 ngày tôi ở đây, với người bạn trong Liên Khóa 65 này, tôi nhận ra một thực tế cần phải nói ra cho mọi người bên VN hiểu: Rằng... phần đông người VN đều có ý nghĩ ở bên Mỹ này, các anh làm ăn thật dễ dàng giầu có như mọi người chỉ cần ra ngoài đương lượm dollars về là xong, cất vào túi hay bỏ vào ngân hàng. Thật ra, các anh các chị thật là vất vả với muôn vàn khó khăn mà người ta gọi là pressure mới kiếm được đồng tiền để sinh sống... Nào tiền nhà, tiền bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cộ, tiền điện, tiền nước, tiền rác... và những chi phí không tên khác. Cứ ra khỏi nhà là các anh các chị đã phải chi tiêu rồi. Thế thì tôi mới hiểu ra là các bạn tôi, dù cùng trang lứa với tôi, có thể các anh cũng già nua và cằn cỗi hơn chúng tôi nhiều vì các anh có nhiều điều phải lo âu hơn chúng tôi...”

Nghe những nhận xét của H., người Hiệp Sĩ Mù cả hai mắt, đã 38 năm tôi mới nhận ra một sự thật: “Nhiều khi người mù hai mắt, nhưng tâm hồn và lý trí của họ còn sáng suốt hơn cả chúng ta, những người còn đủ cả hai mắt.”

Tôi đem chuyện này nói lại với bạn tôi, một người Hoa Tiêu C119 thuộc khóa 65D. Anh bạn tôi sốt sắng và khuyến khích tôi bằng những lời lẽ đầy chân thành:

“Bác phải viết ra, viết ngay ra vì bác biết rõ ngọn nguồn câu chuyện của bạn chúng ta, người bạn đã sống cả một kiếp người trong bóng đêm cuộc đời.”

(Nguồn: Ðặc San Giáo Sĩ Việt Nam, Số 123)

Posted: Fri Jul 30, 2010 3:11 am
by dailien
Image

Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH

Vũ Ánh.


Thương phế binh bao giờ cũng là đề tài đáng nói và cần nói tới cho đến mãi sau này.Một người lính trên chiến trường khi chân tay, thân mình còn nguyên vẹn, chiến đấu dũng mãnh nhưng chưa chắc đã có thể trở thành đề tài của một bài báo hay một nhạc phẩm được nhiều người đọc, được nhiều người nghe.

Nhưng khi người lính ấy đã mất một phần thân thể trong một trận chiến và mang mãi thương tật ấy cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, chắc chắn anh sẽ là đề tài hấp dẫn cho một tác giả.

Dường như trong lòng người thương binh nào cũng có một nỗi u uẩn, một nỗi phẫn uất không duyên cớ, một tâm lý thay đổi dễ nóng giận những chuyện bất bình.

Trước 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã bỏ ra một khoảng thời gian nhất định để lui tới trong Tổng Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn, Tổng Y Viện Duy Tân Ðà Nẵng, Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế và Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ để tìm hiểu tâm trạng những người lính mất chân, mất tay, có khi mất cả hai chân hoặc hai tay hay cả đôi mắt.

Tôi hiểu rằng biến động mạnh mẽ nhất về tâm lý thường rơi vào trường hợp những thương binh không bao giờ còn nhìn thấy được thấy ánh sáng. Nhiều thương binh kể cả cấp sĩ quan, hạ sĩ quan lẫn binh lính không bao giờ màng tới trợ cấp tàn phế của chính phủ vì gia đình họ khá giả, nhưng cái tâm lý u uẩn vì ngã ngựa, vì nghĩ rằng mình bị loại bỏ, không bao giờ còn được cùng đồng đội sống những ngày căng thẳng khó quên được khi đánh đông dẹp bắc. Tâm lý ấy dần dần đẩy họ vào một khoảng trống rỗng đáng sợ nhất trong cuộc đời còn lại.

Tôi không thảo luận vấn đề này sâu hơn nữa vì đây không phải mục đích của bài này. Ðiều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là những sự thay đổi về tình trạng xã hội sau ngày 30 tháng 4, 1975 ở miền Nam Việt Nam đã đẩy người thương binh VNCH vào thảm cảnh ghê gớm hơn: họ không còn phương tiện tối thiểu để sinh sống.

Khi miền Nam Việt Nam chưa mất, các thương binh VNCH còn được trợ cấp, còn được hưởng những phúc lợi y tế, giúp đỡ xe lăn, giúp các điều kiện chỉnh hình, gia đình thương binh còn phương tiện để giúp đỡ thêm cho người thân lâm vào hoàn cảnh không may này.

Nhưng sau biến cố 30 tháng 4, người thương binh VNCH bị đẩy vào hoàn cảnh thật khốn cùng vì trong cái xã hội của những người chiến thắng, tất cả mọi sự giúp đỡ trước đó đều bị cắt. Không những thế họ còn nhận lãnh sự sỉ nhục đau đớn tột cùng: thương binh “ngụy,” thương binh của “đạo quân đánh thuê,” “nhúng tay vào máu nhân dân,” trong khi họ biết chắc rằng họ không phải là loại người như thế, chính nghĩa vẫn ở về phía họ, nhưng chỉ vì ở phía thua trận nên bị kẻ thắng gán cho đủ điều.

Năm 1989, khi từ trại tù Cộng sản trở về, sống bằng sức lao động của nghề chân tay, tôi lại có nhiều dịp sinh hoạt với thương binh VNCH ở đầu đường cuối chợ.

Phần đông thương phế binh VNCH lúc đó sống bằng nghề bán dạo nhang, đèn, những đồ chơi vớ vẩn cho con nít, bán vé số, bán đồ phế thải bên lề đường, có khi bị công an đuổi, tịch thu hàng hay đồ nghề, những người lính này chỉ cười và chửi đổng: “Mẹ kiếp thắng rồi thì chúng bay muốn làm đếch gì mà chả được.”

Nói là thương binh VNCH sống bằng những “nghề” như vừa kể, nhưng thực ra họ không thể sống với số tiền nhỏ nhoi kiếm được không phải do “nghề” ấy mà do lòng trắc ẩn của người đời. Một số thương binh còn may mắn vì được sự giúp đỡ của những người còn lành lặn trong gia đình họ. Nhưng có nhiều gia đình không còn lực để giúp cho người thân ruột thịt của mình đành phải để thương binh ấy dứt áo ra đi sống lang thang trên hè phố.

Tôi phác họa ra hình ảnh ấy của thương binh VNCH ở miền Nam Việt Nam không phải là để thảm kịch hóa vấn đề và dùng nó vào một chiến dịch quyên góp hàng năm để giúp đỡ các thương binh VNCH.

Vào giai đoạn tôi còn đang phải sống trong cái xã hội tan nát của miền Nam Việt Nam từ 1989 đến 1992 thì ở Mỹ chưa có phong trào giúp đỡ thương phế binh VNCH quy mô như ngày nay. Sự giúp đỡ vào lúc đó chỉ là những giúp đỡ riêng lẻ của một số các thành viên trong các hội đoàn cựu quân nhân ở hải ngoại đối với những đồng đội cùng đơn vị còn kẹt lại Việt Nam.

Biến cố 30 tháng 4, 1975 ảnh hưởng đến tất cả những người lính, bất kể cấp bậc, bất kể quân binh chủng. Thương phế binh cũng vậy, từ quan đến lính đều mang cùng một số phận như nhau.

Những cựu binh VNCH nào được định cư ở Hoa Kỳ hay ở những quốc gia khác đều là những người may mắn hơn những người còn ở lại. Và tất cả mọi người chúng ta, nếu xuất thân là những người tỵ nạn, nên tự khoác cho mình nghĩa vụ trợ giúp những người trước đây từng xả thân chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Riêng tại Nam California, chúng ta phải cảm ơn tất cả những người nào đã có sáng kiến, đã thực hiện sáng kiến ấy, đã điều hành công cuộc trợ giúp các thương phế binh VNCH bằng cách tổ chức quyên góp qua đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH” hàng năm.

Chúng ta cũng cần phải cám ơn tất cả những nghệ sĩ đã cộng tác với đại nhạc hội này cũng như những người từ thiết kế sân khấu, âm thanh, ánh sáng, giữ trật tự, bán vé, những tình nguyện viên vận động và làm việc ngày đêm để sao cho số tiền thu được qua đại nhạc có thể giúp được càng nhiều thương phế binh VNCH càng tốt.

Nhờ những tấm lòng bao la này mà Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH có một được một số tiền để thực hiện công tác thiện nguyện của hội đối với thương phế binh VNCH ở Việt Nam.

Những món tiền gởi về hàng năm tất không thể làm cho đời sống các thương phế binh VNCH ở miền Nam Việt Nam thoát ra khỏi được những khó khăn mà chỉ có tác dụng làm vơi bớt sự đau khổ về tinh thần cho họ. Nó thể hiện được tình huynh đệ chi binh. Nó là ngọn lửa sưởi ấm lại những con tim đã giá lạnh vì những nghiệt ngã của cuộc đời. Nó là lời an ủi vô biên và dù ở cách nhau cả biển Thái Bình mênh mông nhưng người ở hải ngoại không lúc nào không nghĩ đến những hy sinh cao cả của những người đã hiến dâng những phần thân thể của mình cho đất nước.

Tuy nhiên, Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH cũng cần có thêm những phương thức quyên góp khác để phụ vào với phương thức tổ chức đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH.”

Liệu chúng ta có thể áp dụng bài học rút ra từ cách làm rất thành công mà cựu Tổng Thống Bill Clinton và cựu Tổng Thống George W. Bush áp dụng trong việc quyên góp giúp nạn nhân động đất ở Haiti hay không?

Ủy ban quyên góp của họ đã liên lạc với những công ty điện thoại để các công ty này đồng ý trực tiếp ghi vào hóa đơn tính tiền điện thoại đối với những ai đã gởi e-mail qua điện thoại (text) vào một tài khoản nhất định nằm trong “trust fund,” ghi rõ số tiền mà mình muốn giúp.

Những người không muốn “text” thì có thể gởi ngân phiếu vào trust fund. Phương thức này giúp những đồng hương Việt Nam ở tiểu bang khác cũng có thể giúp các thương phế binh VNCH.

Và cuối cùng, Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH cũng nên nghĩ tới việc vận động mỗi gia đình đồng hương tỵ nạn bảo trợ cho một thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.

Về quản trị những số tiền quyên góp này, hội nên vận động và tận dụng những thiện nguyện viên trong cộng đồng góp sức làm việc bằng những nguyên tắc kế toán tối tân hiện đang áp dụng ở Hoa Kỳ.

Tôi tin rằng với những phương thức cộng thêm vào với đại nhạc hội “Nhớ ơn anh, người thương binh VNCH,” số tiền trợ giúp thương phế binh VNCH sẽ gia tăng lên nhiều hơn.

Dù sao, đây cũng chỉ là một gợi ý của cá nhân tôi. Gợi ý này có thể phù hợp hoặc không phù với với các điều kiện thực tế nào khác trong cộng đồng hiện nay, hoặc chúng cần phải được thảo luận rộng rãi hơn trong cộng đồng để hội có những quyết định cuối cùng tăng cường nỗ lực quyên góp.

Muốn có thêm những phương thức quyền góp thì phải có thêm người giúp việc, đóng góp công sức, thêm vào sự tháo vát, nhiệt tình. Tôi không nghĩ là cộng đồng chúng ta thiếu những tấm lòng đối với những công việc nên làm và cần làm.

Posted: Sun Aug 01, 2010 3:09 am
by khieulong
Tìm thấy hài cốt 8 phi công
Phi Đoàn Tinh Long 821 ở Sài Gòn


Phi vụ cuối cùng, 29 tháng 4, 1975

Hà Giang/Người Việt
Tin tám bộ hài cốt, được cho là của tám vị anh hùng tử sĩ thuộc Phi Ðoàn Tinh Long 821, bị thiệt mạng trong Phi Vụ Tinh Long 07, vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, được tìm thấy và chôn cất tử tế tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua, đã làm nhiều cựu nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 xúc động.

Ðó là hài cốt của những chiến sĩ đã tử nạn khi chiếc phi cơ AC-119K, danh hiệu Tinh Long 07, đã nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường, vì trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, lúc đang bay để bảo vệ thủ đô Sài Gòn và phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4, năm 1975, trước sự chứng kiến đau lòng của đồng đội.

“Tình chiến hữu và lòng tri ân với các vị anh hùng tử sĩ này đã khiến chúng tôi, một nhóm cựu Không Quân trong và ngoài nước tìm hết cách để truy tìm hài cốt cũng như danh tánh của phi hành đoàn.”
Image
Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, tử nạn khi chiếc máy bay AC-119K,
bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của quân đội Bắc Việt, do Liên Xô viện trợ, bắn nổ tung và rơi xuống trong vòng đai hướng Bắc của phi trường Tân Sơn Nhất
trong phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH sáng ngày 29 tháng Tư, 1975. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp)


Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại và email, Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, một thành viên của nhóm người “không bao giờ quên phi vụ cuối cùng của quân lực VNCH” chia sẻ.

Trung Úy Trương Nguyên Thuận cho biết sau 3 năm trời kiếm tìm ròng rã, và biết bao nhiêu nỗ lực, ông và đồng đội mới tìm được địa điểm, rồi phải nhờ đến sự giúp đỡ của những nhà ngoại cảm, mới bốc được 8 hài cốt mà họ quyết đoán chính là tám người trong phi vụ Tinh Long 07 đã tử nạn cách đây 35 năm.

Tìm ra những hài cốt đã vùi sâu trong lòng đất cách đây hơn 35 năm đã khó, mà tìm ra danh tánh của toàn thể phi hành đoàn này còn khó hơn. Cho đến nay, hài cốt của 3 trong 8 vị anh hùng tử sĩ này vẫn chưa được xác nhận.

Ðó là lý do tại sao Trung Úy Trương Nguyên Thuận, một nhân viên của Phi Ðoàn Tinh Long 821 thời đó, cùng một số bạn bè, đang nhờ sự hỗ trợ của giới truyền thông để truy tìm cho ra tên tuổi và gia đình của những nhân viên phi hành trong phi vụ lịch sử này.

Sự kiện phi cơ AC-119K bị bắn nổ tung trên không trung và rơi xuống đất, làm thiệt mạng nguyên cả phi hành đoàn (trừ một người nhẩy dù ra được), đã được rất nhiều người chứng kiến.

Cựu Trung Tá Không Quân Nguyễn Văn Ức kể:

“Lúc chiếc phi cơ AC-119K nổ tung trên không gian thì chúng tôi đang ở bên ngoài Bộ Tư Lệnh Không Quân đều nhìn thấy.”

“Chúng tôi đứng đó đau đớn khóc cho số phận nghiệt ngã của đồng đội.”
Image
Quang cảnh buổi an táng hài cốt 8 vị anh hùng tử sĩ Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07 tại nghĩa trang An Khánh, Thủ Thiêm, ngày 24 tháng 7 vừa qua.
8 hài cốt nhưng chỉ có 6 hũ cốt vì một số xương trộn lẫn với nhau không phân ra được. (Hình: Trung Úy Trương Nguyên Thuận cung cấp
)


Ký giả Lê Thụy của nhật báo Người Việt nhớ lại là lúc đó ông đang thơ thẩn ngoài cửa Việt Tấn Xã ở đường Hồng Thập Tự, vì “không còn tâm trí nào để làm việc.”

“Tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ hai đuôi bay thấp trước mặt, rồi một xẹt lửa màu đỏ từ hướng Tây Ninh bắn lên, rồi thì chiếc phi cơ nổ tung lên.

Rồi thấp thóang thấy có một chiếc dù.”

“Tôi nhớ rõ dân chúng la lên, ‘thôi chết chúng đã vô tới đây rồi!’”

Nhưng tại sao là một phi vụ hẳn hòi mà danh tánh của phi hành đoàn lại không có?

Câu trả lời, theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận, nằm trong bối cảnh lịch sử của đất nước lúc đó.

Qua những lần tiếp xúc, câu chuyện được ông tóm lược như sau:

Càng gần những ngày cuối tháng 4 năm 1975, phi trường Tân Sơn Nhất càng hoảng hốt, nhốn nháo với những chuyến bay do chính phủ Hoa Kỳ hối hả tìm cách di tản một số người dân Việt Nam và những nhân viên của họ.

Sáng 28 tháng 4, khi SÐ3KQ Biên Hòa được lệnh di tản về Tân Sơn Nhất, thì tình hình càng trở nên hỗn loạn. Thế nhưng đa số các nhân viên trong phi Ðoàn Tinh Long 821, thuộc SÐ3KQ vẫn cố gắng duy trì hoạt động bình thường cho đến giây phút cuối của cuộc chiến.

AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”, với “một hỏa lực hùng hậu gồm: 4 cây miniguns MXU-470/A 7.62 ly với 21,500 dây đạn; 2 cây súng M61-A1 20 ly với 3,000 dây đạn.” Ngoài ra còn có “24 trái sáng loại MK 24 và ống phóng LAU-74/A. Tất cả hệ thống được điện toán hóa và do phi công chính điều động.”
Image
AC-119K được Trung Úy Trương Nguyên Thuận mô tả là “một loại phi cơ vận tải chiến đấu tối tân nhất thời bấy giờ”
Cũng theo cựu Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì Phi Ðoàn Tinh Long 821, gồm 300 nhân viên gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ; từ nhân viên phi hành đến nhân viên hành chánh, là một Phi Ðoàn “Gunship” hoạt động khắp 4 vùng Chiến Thuật, từ Cà Mau đến Vĩ Tuyến 17. Phi đoàn chỉ đánh trận vào ban đêm, từ trời sập tối đến lúc mặt trời ló dạng. Mỗi đêm, tại đại bản doanh phi đoàn, có 6 phi vụ chính và 2 hoặc 3 phi vụ túc trực hành quân, tùy theo tình hình và nhu cầu chiến trường. Các phi hành đoàn túc trực có thể bị điều động bất cứ lúc nào.

Lệ thường tất cả nhân viên có tên trong phi vụ lệnh hàng đêm phải có mặt tại phi đoàn trễ nhất là 5 giờ chiều trong tình trạng sức khỏe hoàn hảo và phải ngủ tại phòng hành quân suốt đêm. Tinh Long có 6 phi hành đoàn chính được đánh số từ Tinh Long 01 đến Tinh Long 06, và 3 phi hành đoàn túc trực là Tinh Long 07 đến Tinh Long 09.

Vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4 năm 1975; Phi Hành Ðoàn Tinh Long 07, được điều động vào sáng sớm, khi mặt trời đã ló dạng, vào lúc đó Cộng quân đã tràn ngập chung quanh vòng đai phi trường.

Mặc dù đã bay phi vụ đầu tiên trong đêm nhưng Trung Úy Trang Văn Thành cùng Trung Úy Tào Thuận gom một số đoàn viên còn ngủ tại phòng túc trực hành quân cất cánh để bảo vệ phi trường và thủ đô Saigon ở giờ phút hấp hối.

Vì tình trạng hỗn tạp trong buổi sáng hôm đó nên không ai biết chắc ai đã có mặt trên phi vụ định mệnh này ngoài hai pilot và người cơ khí phi hành Phan Quốc Tuấn. Người sĩ quan IR có tên trong phi vụ lệnh hiện ở Orange County vì đã ra về lúc trời hừng sáng, trước khi bị điều động.

Khi cánh trái phi cơ bị bắn gẫy, khoảng hơn 7 giờ sáng, phi cơ bị rơi xoắn trôn ốc, ở cao độ 2000 bộ, dù có muốn nhảy dù cũng không có cơ hội; vì thế, toàn thể phi hành đoàn đã tử nạn trừ một nhân viên trái sáng - Trung Sĩ Nguyễn Văn Chín - đã kịp nhảy dù sống sót nhưng đã bị trọng thương vì dù không bung kịp. Nguyễn Văn Chín đã đến báo hung tin cho gia đình Trang Văn Thành tuần lễ sau đó rồi biệt tích cho đến ngày nay vẫn không ai biết tin tức, mặc dù chúng tôi đã truy tìm mấy chục năm qua bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng không có kết quả.

Như vậy cho đến giờ phút này thì danh tánh đã được xác định của phi hành đoàn Tinh Long 07 gồm có:

1. Trưởng phi công: Trung Úy Trang Văn Thành.
2- Phó phi công: Trung Úy Tào Thuận.
3. Cơ khí phi hành: Phan Quốc Tuấn.
4. Ðiều hành viên: Thiếu Úy Phạm Tấn Ðức.
5. Quan sát ban đêm: Thiếu Úy Trương Ngọc Anh.


Theo Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì danh tánh của những người còn lại, được người ngoại cảm liệt kê dưới đây, cần được thân nhân của đại gia đình Phi Ðoàn Tinh Long 821 xác định.

KQ Nguyễn Văn Chánh
KQ Nguyễn Tiến Cường
KQ Phan Văn Quốc
KQ Phan Văn Duy
KQ Trần Tiến Mạnh


Em của Trung Úy Phạm Tấn Ðức là bà Nguyệt Ðiểu là người duy nhất có mặt trong buổi bốc hài cốt. Gia đình của Trung Úy Trang Văn Thành và Trung Úy Tào Thuận, cũng như Thiếu Úy Trương Ngọc Anh đã được báo tin.

Buổi bốc hài cốt đầy thương cảm. Tám hài cốt được chứa trong 6 chiếc lọ và chôn cùng một nấm mồ. Lý do là vì “có hai chiếc lọ mỗi chiếc chứa hài cốt của hai người, vì xương cốt của họ lẫn lộn không thể phân biệt được.”

Theo kết luận của Trung Úy Trương Nguyên Thuận thì “còn danh tánh của 3 vị anh hùng tử sĩ khác vẫn chưa được xác định.”

Ông tâm sự là ở đâu đó, thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ này, mà chúng tôi biết chắc chắn là đồng đội của mình trong Phi Hành Ðoàn Tinh Long 821, cũng đang mong tìm được hài cốt của họ.

“Chúng tôi muốn phổ biến tin này rộng rãi với niềm hy vọng là thân nhân của 3 vị anh hùng tử sĩ còn lại ở đâu đó được an lòng khi biết thân nhân của mình đã được yên mồ đẹp mả.”

Ðộc giả cần biết thêm chi tiết có thể liên lạc với Trung Úy Trương Nguyên Thuận ở thanphongkingwood@yahoo.com hay số điện thoại 281-443-1015; hoặc liên lạc với email nguyentoaichi@gmail.com.

Posted: Fri Aug 06, 2010 12:04 am
by vuphong

Image

Người phụ nữ của Thương Phế Binh VNCH

Người Lính Cũ
Cứ vào dịp cuối Hè gần sang Thu hàng năm, cộng đồng người Việt hải ngoại lại nhắc nhau nhớ đến mối nợ ân tình mà chủ nợ chẳng bao giờ đòi. Ðó là những Thương Phế Binh VNCH còn ở trong nước.

Năm nay vào ngày Chủ Nhật 1 tháng 8 tới đây, Hội H.O. Cứu Trợ TPB và Quả Phụ VNCH lại một lần nữa tổ chức Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh để có tiền cứu trợ các anh em TPB và các chị quả phụ VNCH còn ở bên nhà phải bị sống ngoài lề xã hội cộng sản trong đủ mọi thiếu thốn khó khăn.

Vào dịp này, những người lính cũ bỗng nhớ đến một phụ nữ mà theo góc nhìn của những người lính cũ thì đáng được vinh danh hơn cả mà lại không thấy trong danh sách vào dịp Thượng Nghị Sĩ Lou Correa vinh danh đặc biệt dịp “Phụ Nữ Xuất sắc trong năm” (Woman of the Year). Ðó là chị Hạnh Nhơn, con chim đầu đàn của Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa có thể không biết tới vì ông không là người lính VNCH cũng không là gốc Việt để được biết tường tận cộng đồng người Việt. Thiếu sót chính là ở chúng ta đã chẳng có ai viết lá phiếu đề nghị lên Văn Phòng của Thượng Nghị Sĩ. Cũng thiếu sót là các em gốc Việt đang làm trong văn phòng của Thượng Nghị Sĩ đã không được ai nhắc nhở tới để “cố vấn” cho Thượng Nghị Sĩ.

Liệu người viết có chủ quan không đây?

Nhưng người viết đã lẩm nhẩm tính rằng hoạt động của chị Hạnh Nhơn từ ngày tới Hoa Kỳ theo diện H.O. gần 15 năm nay, chị đã bỏ biết bao công sức để tìm mọi cách cứu trợ cho anh em Thương Phế Binh và những Quả Phụ VNCH phải ở lại trên miền đất đã gạt anh chị em ra ngoài xã hội.

Nếu tính theo các tiêu chuẩn mà Văn Phòng Thượng Nghị Sĩ cho biết thì về chính trị, chị Hạnh Nhơn và anh chị em trong hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ, đã làm được công việc lột trần bộ mặt tàn ác của nhà cầm quyền VN mà Hoa Kỳ đang có những liên lạc ngoại giao “tốt đẹp” nói theo ông đại sứ Mỹ ở VN. Không một người dân Việt nào là không biết đến hoàn cảnh khổ nhục bị đẩy ra ngoài vòng xã hội của người Thương Phế Binh VNCH mà nhà nước CS đã có chủ trương rõ rệt.

Về xã hội, chị Hạnh Nhơn và Hội H.O. đã phần nào hàn gắn được vết thương chiến tranh cho người VN, nhất là cho những người đã từng tin tưởng vào đồng minh Hoa Kỳ mà chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản thế giới.

Về giáo dục, chị Hạnh Nhơn và hội H.O. đã giúp cho tuổi trẻ VN hiểu biết được sự làm người. Ðó là trí tuệ biết sống có nhân có nghĩa.

Về từ thiện thì những sự vận động gây quĩ lên tới hàng triệu Mỹ kim, chị Hạnh Nhơn và hội H.O. đã mở cửa được lòng từ thiện của khắp mọi người đến đúng chỗ.

Những thành tích ấy của chị Hạnh Nhơn, theo góc nhìn của những người lính cũ đã dư điều kiện để cho thượng nghị sĩ vinh danh rồi.

Nhưng người viết lại chợt giật mình nghĩ lại rằng chị Hạnh Nhơn chỉ là người cho người lính VNCH vinh danh thôi, còn người dân Hoa Kỳ dù là người dân quốc tịch Hoa Kỳ phải vinh danh đến những phụ nữ biết đi vào dòng chính, có khi cũng chẳng cần đến cộng đồng người Việt như chúng ta điểm danh 10 vị nữ lưu được vinh danh vào năm ngoái mà nhiều người trong cộng đồng VN chưa được hân hạnh biết đến.

Posted: Sat Aug 07, 2010 6:32 am
by thienthanh
CÁNH HOA THỜI LOẠN
(tặng những người phụ nữ tôi kính mến)

Bài và hình : Nam Lộc
Tôi bước vào chương trình Asia số 66, chủ đề “Cánh Hoa Thời Loạn” bằng những xúc động lớn lao, ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Nhất là kể từ hôm một nữ khán giả trẻ, cô Tăng Thị Ngọc Lan tìm đến Trung Tâm Asia để trao lại cho tôi những lá thư viết từ chiến trường cùng một số hình ảnh của người anh trai, Cố Thiếu Tá Tăng Ngọc Nhã, tiểu đoàn trưởng 487 Ðịa Phương Quân, người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Bạc Liêu ngày 21 tháng 4 năm 1974.

Cả đêm hôm ấy tôi cứ trằn trọc mãi và không thể nào nhắm mắt nổi. Ðầu óc cứ bị ám ảnh bởi tấm hình chụp ngày tang lễ của Thiếu Tá Nhã hơn 36 năm về trước với hình ảnh người góa phụ trẻ chưa đầy 20 tuổi, khuôn mặt buồn vời vợi, ôm đứa con gái vừa mở mắt chào đời, chưa kịp nhìn thấy mặt cha. Bên cạnh là nét mặt khổ đau, chịu đựng của bà mẹ già đang nuốt lệ để tiễn đứa con trai yêu quý vừa đền xong nợ nước! Chiếc quan tài phủ lá cờ vàng cùng hàng chữ “ghi ơn” mờ nhạt, im buồn như bóng dáng của người em gái rụt rè đứng ở phía sau. Thật là một hình ảnh tàn nhẫn của chiến tranh, nó đã làm tả tơi bao cánh hoa trong thời ly loạn. Chỉ một tấm ảnh đó thôi người ta đã nhìn thấy cả ba thế hệ để tang!
Image
Nhưng người lính nằm xuống trong cái “hòm gỗ cài hoa” được phủ cờ đó nghĩ gì? Chúng ta hãy đọc một đoạn của lá thư mà Thiếu Tá Nhã gởi về cho cô em gái lúc ông còn sống khi hay tin một người thân trong gia đình của ông vừa tử trận:

Kontum 14 tháng 3, 1968

Ngọc Lan em,
Anh rất lấy làm đau buồn khi nhận được tin anh Phương đã đền xong nợ nước ...........

Anh biết lúc này gia đình mình bị xúc động nhiều, em hãy thay anh khuyên nhủ ba má bớt sầu não, cầu nguyện cho linh hồn người đã ra đi, và hãnh diện cho gia đình mình, đã có người hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc...

Image
Dồn dập những ngày sau đó, hàng trăm hình ảnh cùng nhiều lá thư đầy kỷ niệm với những nét chữ đã hoen nhòa vì nước mắt, kèm theo bao tài liệu lịch sử quý giá và sống thật, đã được khán thính giả lần lượt gởi đến cho Trung Tâm Asia, mà tôi là người được hân hạnh được trao cho trách nhiệm thực hiện những video clips để giới thiệu trong chương trình! Nhưng làm sao mà chỉ trong một vài phút tôi có thể diễn tả hết được những trang sử trác tuyệt của thời chinh chiến, nhất lại là những mẩu chuyện liên quan đến sự chịu đựng, cùng gương hy sinh và lòng quả cảm của những người phụ nữ Việt Nam thể hiện qua nhiều vai trò trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử dân tộc. Vì thế tôi tự nhủ sau buổi thu hình mình sẽ phải viết và phải viết thật kỹ càng để ghi chép lại cho thế hệ mai sau biết được và hiểu được bao tấm gương hy sinh hào hùng của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những “cánh hoa thời loạn!”

Tôi sẽ phải kể cho các con tôi nghe câu chuyện của nữ quân nhân Nguyễn Thị Kim Lang, người đã bị xử bắn vì chống đối chế độ Cộng Sản vào ngày rằm tháng 7 năm 1975 tại sân vận động Gò Công trong lúc chị đang mang thai đứa con đầu lòng trong bụng! Tôi cũng sẽ không thể không nhắc đến chiến công hiển hách của nữ Trung Sĩ Ngô Thị Hồng Phượng tại Sóc Trăng trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Tôi sẽ phải nói đến hình ảnh can trường của nữ thiếu úy cảnh sát tên là Thái Kim Vân, người con gái độc thân, mới 22 tuổi đầu đã phải chịu lưu đầy trong các trại tù Việt Bắc, từ cải tạo cho đến hình sự với bản án chung thân khổ sai cũng chỉ vì chị đã hiên ngang và công khai lên tiếng tranh luận về những sai lầm của chủ nghĩa CS với các tên cai tù và cán bộ giảng huấn!
Image
Thiếu Úy Thái Kim Vân.
Thậm chí ngay khi vừa được thả ra sau gần 3 năm “học tập cải tạo,” Thiếu Úy Thái Kim Vân đã lập tức tham gia vào các hoạt động phục quốc, mà hậu quả là những trận đòn chí tử khi chị bị CS bắt lại. Người con gái tuy có trái tim gan dạ, nhưng với thân xác nhỏ bé, cô đã gục ngã trước những cuộc tra tấn dã man. Hậu quả của những tháng năm bị biệt giam trong thùng sắt, vừa đói, vừa lạnh khiến Thiếu Úy Thái Kim Vân bị lao phổi nặng. Nhưng CS đã không săn sóc hay chữa trị, mãi cho đến khi người nữ tù nhân can trường đang thoi thóp chết thì tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) mới biết đến và lên tiếng can thiệp mạnh mẽ, đồng thời với áp lực của nhiều cơ quan nhân đạo khác trên thế giới, CSVN đã phải trả tự do cho Thiếu Úy Thái Kim Vân sau hơn 18 năm giam giữ!

Nhưng Trời Phật đã không phụ kẻ có lòng, trong lúc tả tơi vì bệnh hoạn, ai cũng sợ bị lây, không dám đến gần! Ngoại trừ người bạn tù, Ðại Úy Nguyễn Thanh Nguyên, cựu SVSQ khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, vì tội nghiệp nên thỉnh thoảng đem thức ăn và thuốc men đến chỗ cô bị biệt giam để thăm viếng và săn sóc. Rồi từ thương hại đến thương... yêu, sau gần hai mươi năm lao lý, Việt Cộng đã phải thả tất cả tù chính trị, họ thành hôn và được chính phủ Hoa Kỳ nhận định cư qua diện tỵ nạn đặc biệt, đợt Z-05. Thượng đế thật công bằng, ngài đã bù lại cho họ một đứa con gái thông minh, xinh xắn và giỏi giang. Cháu Tina Nguyễn năm nay mới 12 tuổi, nhưng đã là học sinh xuất sắc nhất trường với những bằng khen từ Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, và còn là một nhạc sĩ nổi tiếng trong học khu nơi cháu đang sống hạnh phúc bên cha mẹ.
Image
Gia đình Thiếu Úy Thái Kim Vân hiện nay ở HK.
Thượng Ðế cũng không phụ lòng người “góa phụ ngây thơ,” nàng tên là Ngọc Di, 20 tuổi, mang bào thai 6 tháng được chồng vội vã đưa lên phi cơ để lánh nạn vào giờ phút lâm chung của thành phố Sài Gòn. Cô con gái “di tản trong bụng mẹ” tên là Ðan Vi giờ đã trở thành một bác sĩ nhãn khoa và cháu đã cùng người mẹ thủy chung, đồng thời cũng là vợ trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc đi tìm xác chồng sau 33 năm biệt tín.
Image
Hình mẹ & con cô Ngọc Di, tháng 8, 1975

Image
Bác Sĩ Nguyễn Lộc Ðan Vi, 2001
Hai người phụ nữ, một mẹ, một con miệt mài trong nước mắt hơn 10 năm trời. Cho đến một ngày cuối tháng 10, 2008 mới tìm được nắm xương tàn của chàng phi công cảm tử cùng người bạn tù, trung úy phi hành Lê Văn Bé, cả hai đã bị CS bắn chết trong lúc rủ nhau vượt ngục. 33 năm sau vợ con mới chính thức đội khăn tang và đau xót nhặt từng mảnh di hài với những dòng lệ khô trên khóe mắt.
Image
Hình mẹ & con cô Ngọc Di đang nhặt thi hài
Ngày 3 tháng 11, 2008 mẹ con ngồi trên phi cơ ôm mỗi người một bình tro trở về Hoa Kỳ. Ngọc Di ôm xác chồng, cháu Ðan Vi ôm bình tro chiến hữu của cha! Có người tò mò hỏi tại sao lại mang thêm di hài của người bạn tù vượt ngục? Ngọc Di trả lời: “Dạ, tại khi còn sống, nhà em vẫn thường nói, tâm nguyện của lính Không Quân là ' không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!'”
Image
“không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”!
Và còn nhiều nữa, nhiều nữa, tôi sẽ phải viết một cách thật chi tiết về sự hy sinh vô bờ của những “nữ điệp viên” Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, của người biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga (*), cùng bao thiên hùng sử và lòng quả cảm của những “Vì Sao Mùa Quốc Hận”!
Image
Có nhiều bạn trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam vẫn thường thắc mắc hỏi: “Ai gây nên cảnh chiến tranh?” Làm tôi chợt nhớ đến câu nói thật thà và bình dị của nữ ca sĩ Sơn Ca khi trả lời lý do tại sao cô lại thích hát những nhạc phẩm ca ngợi hòa bình, cô nói: “Cũng như những người dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, Sơn Ca rất mong chờ hòa bình sớm trở lại trên quê hương...” Tuy nhiên, cô đã không quên nhắc nhở mọi người rằng chiến tranh là do Cộng Sản Hà Nội chủ trương dùng vũ khí để xâm chiếm hầu áp đặt thể chế Cộng Sản trên toàn đất nước. Còn quân dân miền Nam Việt Nam chỉ luôn luôn ở thế tự vệ và lúc nào cũng yêu chuộng hòa bình!

Nhưng đã 35 năm qua, “hòa bình” đã đến trên quê hương ta, vậy tại sao những người phụ nữ VN vẫn khổ? Hàng ngàn, hàng vạn những “cánh hoa thời... bình” giờ phải hy sinh thân xác làm cô dâu bất đắc dĩ ở Ðài Loan hay Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Bao trẻ thơ bị bán đi làm nô lệ tình dục, và “nỗi buồn chiến tranh” vẫn đè nặng xuống thân phận của người dân miền Nam. Các bạn trẻ ở trong nước hãy tìm đọc tập truyện cùng tên (Nỗi Buồn Chiến Tranh) của nhà văn cùng chế độ, Bảo Ninh. Ông viết: “Họ, những người chiến bại cùng dòng máu ấy - sau khi tiếng ồn ào của những cuộc xung sát đã im bặt - tiếp tục hứng chịu khổ nạn: khổ nạn hòa bình. Người lành lặn thoát chết thì đi ở tù, người tàn tật thì, cho đến bây giờ, 35 năm sau, vẫn còn là những công dân... không-có-hạng trên đất nước của mình! Và những người đã chết phải chết thêm một lần nữa! Kể cả những bức tượng!”

“Sau chiến tranh, người chiến thắng vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc chiến khác: cuộc chiến chống những người chiến bại... Ðến bao giờ?”

NAM LỘC
Tháng 8, 2010