Bình Luận , Quan Điểm

caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

KHÔNG THÍCH CHUYỆN CHÍNH TRỊ
Nguyên Sang

Có người, khi nghe đề cập đến những vấn đề liên quan tới Việt Nam, nhất là những chuyện xấu xa của chế độ Cộng Sản, thường giẫy nẫy lên mà rằng: "Tôi không thích nói chuyện chính trị". Cũng có người, khi thấy đồng hương đi biểu tình chống Cộng, thường bỉu môi:

"Tôi không thích những người làm chuyện chính trị".

Thưa bạn! Nếu tôi bảo: "Chính suy nghĩ đó đã nhuộm đỏ miền Nam, và cũng chính phát biểu đó, đã chẳng những nuôi dưỡng chế độ CS , mà còn tạo điều kiện cho CS thò cánh tay ra hải ngoại, quấy phá Cộng đồng người Việt tỵ nạn". Chắc chắn bạn sẽ không bao giờ tin tôi, chưa nói là bạn sẽ trút lên đầu tôi những lời lẽ không đẹp, bẩn thỉu nhất, có khi không chữ nghĩa tìm thấy trong từ điển.

Nầy nhé! Bạn theo tôi một thoáng trở về quá khứ. Bạn phải đồng ý với tôi một điều. Miền Nam được Thế giới Tự Do - đứng đầu là Mỹ - chọn làm tiền đồn chống Cộng, ngăn chặn hiểm họa CS đang bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Đó là cuộc chiến tranh "ý thức hệ".
Phía Miền Bắc, CS lấy chính trị làm đầu (Đảng lảnh đạo), và tuân theo sách lược chính trị của CS Quốc Tế. Trong Nam, "ý thức Quốc gia", chỉ là một ý niệm trừu tượng, không có lý luận khoa học, không được hệ thống hoá, không thể đương đầu nỗi với lý thuyết "CS". Đệ Nhất Cộng Hoà đã nghĩ ra đối sách, với học thuyết "nhân vị", tiếc rằng chưa hoàn chỉnh và không đủ sức thuyết phục nhân dân, trong công cuộc đấu tranh chính trị với CS.

Miền Bắc có Liên Sô và Trung cộng hổ trợ đắc lực trên mọi phương diện, vì có chung lý tưởng Quốc tế vô sản. Miền Nam , Mỹ hổ trợ về quân sự là chính. Về chiến tranh chính trị, phải nhờ Đài Loan cố vấn. Thực chất, có lý thuyết, mà không có phương tiện thực hành, có cũng như không. Nước Mỹ là một nước "Tư bản", chuyện đối kháng với Cộng Sản, là chuyện đương nhiên. Chính phủ Mỹ, không cần đến Chiến tranh Chính trị, để tranh thủ nhân dân. Họ chỉ có "Tâm lý chiến", mục đích phục vụ và nâng cao tinh thần, sức chiến đấu của binh sĩ. Mỹ đem mô hình của mình đến miền Nam và chỉ yễm trợ cho Tâm Lý Chiến. Hoàn toàn không quan tâm đến chính trị và cũng chẳng cung cấp bất cứ phương tiện nào để đấu tranh chính trị.

Điều dễ nhận thấy nhất là trong tổ chức Quân Đội: CS Bắc Việt đặt chính trị trên cả tác chiến. Chính Ủy có quyền uy tối thượng. Trong khi đó, Quân đội miền Nam đặt chính trị vào nhiệm vụ thứ yếu, là phó, là Ban 5, không chút thực quyền. Kết quả Bạn thấy đó, miền Nam thất thủ tại chính trường Mỹ. Người dân Mỹ chỉ thấy ảnh tướng Loan bắn vào đầu một tên Cộng Sản, mà không thấy hàng vạn nhân dân Miền Nam chết thê thảm vì Việt Cộng bằng mọi hình thức: đấu tố, đấp mô, phá cầu, đặt mìn, pháo kích bừa bãi. tấn công… Nhân dân Mỹ chỉ biết vụ Mỹ Lai, mà không hề biết Huế với những mồ chôn tập thể Tết Mậu Thân. Người dân Mỹ chỉ biết cái gọi là Mặt trận giải phóng miền Nam , chứ không hề thấy hàng hàng lớp lớp những sư đoàn chính qui Bắc Việt xâm nhập miền Nam … Thưa bạn. Phải chúng ta thua vì chính trị không bạn?

Bây giờ, trở lại thực tại bạn nhé! Xin nhắc một điều. VN là một nước Xã Hội Chủ Nghĩa (xác định đi theo một Chủ nghĩa là khẳng định đường lối chính trị đó bạn!), do Đảng lãnh đạo (Đảng không là tổ chức chính trị thì là gì, hở bạn?. Điều 4 Hiến Pháp của họ có ghi rõ, bạn có thể tham khảo thêm). Hỏi Bạn một câu : Nếu Bạn hợp tác với VNCS, có phải bạn chấp nhận những điều nêu trên không? Nhắc thêm cho bạn một chi tiết, CS có khẩu hiệu: "Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa". Họ gài bạn đấy!

Họ khêu gợi lòng yêu nước của Bạn, dụ dỗ Bạn hợp tác và cuối cùng gán cho Bạn cái lập trường chính trị, Bạn không muốn cũng không được. Nếu Bạn cố cải chầy cải cối , là Bạn chỉ đem tài năng và chất xám phục vụ Tổ quốc, chứ không màng chính trị, tôi nhắc Bạn nhớ câu: "Hồng hơn Chuyên". Cộng sản đặt nặng chính trị hơn chuyên môn, bạn ạ!

Vẫn chưa tin ư? Bạn cứ phạm tội hình sự đi, Bạn sẽ được xét xử tại Toà án, và có ngày về. Còn nếu Bạn dính dấp đến chính trị, đoan chắc Bạn sẽ bị "cải tạo" trong tù, vô hạn định. Có lần, nếu Bạn có theo dõi thời sự, chắc Bạn biết sự kiện một chiếc tàu y tế bị cấm nhập bến ở VN? Ngay cả hoạt động chuyên môn phục vụ nhân đạo cũng phải chào thua "phục vụ chính trị".

Cũng chả cần bạn cộng tác, tiếp tay với họ, bạn chỉ làm thinh, làm ngơ trước các hoạt động của họ; Bạn đã đồng loả và tự bày tỏ lập trường thân Cộng rồi. Đôi khi những hành động tưởng như vô tình, làm theo "feeling" của mình. Bạn lại gây ảnh hưởng tai hại cho người khác trong công cuộc chống Cộng. Cái đó gọi là "thiếu ý thức chính trị", là "vô tình hại bạn", là "đâm sau lưng chiến sĩ".

Có hai sự kiện " nhạy cảm" mà cộng đồng người Việt hải ngoại vô cùng "bức xúc" (xin lỗi vì dùng chữ của CS). Sự kiện thứ nhất là "các nghệ sĩ VN qua". Sự kiện thứ hai là "các nhà từ thiện về". Nửa ý kiến ủng hộ, nửa chống đối.. Có quá nhiều phân tích về hai sự kiện nầy, ở đây, tôi chỉ nhìn qua khía cạnh chính trị.

Bạn ái mộ một nghệ sĩ, tặng hoa, chụp ảnh lưu niệm. Bạn nghỉ sao, nếu bức ảnh đó được guồng máy tuyên truyền khổng lồ của Cộng Sản minh họa trong chiến dịch lừa dối nhân dân, rằng thì là :"Việt kiều niềm nở đón tiếp các nghệ sĩ từ trong nước qua, trong tinh thần Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc"?. Bạn vô tình làm hại các cá nhân và tổ chức đối kháng rồi bạn biết không? Một hành động nhỏ và "mua vui trong chốc lát" của Bạn đã gây tác hại lớn và lâu dài. Tuy nhiên, nếu có ý thức chính trị, chỉ cần Buổi văn nghệ đó, có nền là cờ vàng của chúng ta, ta có thể hoá giải được mọi âm mưu thâm độc của CS, tha hồ bạn chụp hàng nghìn tấm ảnh lưu niệm mà không bị ai lợi dụng và cũng không hại ai cả.


Vấn đề thứ hai là công tác từ thiện tại VN, tôi không chống đối, dù thâm tâm tôi vẫn nghĩ, tại sao lại phải giúp nhà nước CS, lo chuyện an sinh xã hội, để họ tham nhũng, để họ làm giàu, để họ củng cố phương tiện tuyên truyền thò tay đánh phá cộng đồng (như các chưong trình Duyên Dáng VN tiêu pha hàng triệu đô la, chương trình vệ tinh truyền hình VTV4…). Tôi cũng suy nghĩ, thật sự ở VN không chỉ có các nhóm người được giúp đỡ là bất hạnh, mà hầu như - trừ Đảng ra - toàn dân đều bất hạnh và cần được giúp đỡ. Nhưng thôi, tôi nhìn sự kiện trên dây, qua gốc độ ý thức chính trị. Giả dụ mà các cơ quan từ thiện nầy treo được tấm bảng :

"Tổ chức nầy của Việt kiều… tặng", cho mọi người cùng thấy và cùng hiểu là chính Việt kiều chứ không phải Việt Cộng giúp đỡ họ, thì hay biết mấy.

Nếu không làm vậy, việc từ thiện sẽ bị Cộng Sản lợi dụng và tuyên truyền lếu láo: "Đảng đã vận động được khúc ruột xa nghìn dặm về gíup Đảng, giúp dân". Cướp công, cướp của là nghề của họ. Bạn chịu khó lật lại trang sử của Đảng, Bạn sẽ thấy họ rất thành công trong việc cướp công kháng chiến, cướp chính quyền, và năm 75 họ cướp cả miền Nam. "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" là kim chỉ nam cho họ, Từ lời nói đến việc làm, họ dùng mọi phương cách dù tà đạo, xảo trá, gian ác và dã man đến đâu… miễn sao đạt được thắng lợi, đạt được mục đích yêu cầu của họ. Câu nóì của Cựu Tổng Thống Thiệu: "Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm", chỉ phản ánh một khía cạnh dối trá, chưa nói hết bản chất của CS là ác độc và tàn nhẫn.

Thưa Bạn. Nếu bạn qua Mỹ vì lý do kinh tế, tôi chúc bạn đạt được giấc mơ của Bạn. Dĩ nhiên, muốn thành công trên đất Mỹ, bạn phải hòa nhập vào xã hội Mỹ. Người Mỹ rất thích làm việc thiện nguyện.

Họ khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi người làm chuyện thiện nguyện, ngoài mục đích san sẻ bớt gánh nặng cho Chính Phủ, nó còn mang giá trị đạo đức, khi quan tâm đến tha nhân. Tôi tin chắc Bạn sẽ tiếp thu được đức tính nầy của người Mỹ. Cho dù Bạn không thích chính trị. Cho dù Bạn không thích nhận mình là người Việt. Bạn cũng có thể thể hiện việc thiện nguyện cho một cộng đồng tỵ nạn khốn khổ, tuy sống an bình nơi miền đất hứa, mà lòng vẫn canh cánh về đồng bào và quê hương nghìn trùng xa cách.

Chuyện thiện nguyện rất đơn giản. "Mình không giúp ích gì cho cộng đồng, thì cũng không làm gì phương hại cho cộng đồng, không làm đồng hương phiền lòng, nản lòng". Bạn không thích chuyện chính trị, mà phê phán ý thức chính trị của người khác, mặc nhiên, bạn đã đứng vào phe chính trị đối nghịch. Bạn hãy làm một chuyện thiện nguyện trên bình diện tinh thần là "giữ im lặng" trước công cuộc chống Cộng của người khác. Bạn đã không ủng hộ thì cũng xin đừng biểu tỏ thái độ hoặc ngôn ngữ chống báng. Được vậy, bạn gián tiếp giúp đỡ thiện nguyện cho cộng đồng rồi đó! Thực ra, nếu Bạn qua đây theo diện tỵ nạn chính trị một cách trực tiếp, hay chính trị, gắn liền vào cuộc đời của người tỵ nạn chính trị. Cho dù bạn muốn nhận hay không muốn nhận. Lại nữa, nếu bạn là một "con người" đúng nghĩa, Bạn phải mang trong người bổn phận và trách nhiệm với vợ…v..v.. Là một thành viên của cộng đồng, bạn không thể trốn tránh bổn phận và trách nhiệm trước Cộng Đồng. Xa hơn nữa, là một người dân, Bạn phải có bổn phận với dân tộc và nghĩa vụ với quốc gia.

Chúng ta đang sống trong một xứ sở Tự Do. Bạn có quyền tự do "không thích chính trị". Tôi xoá bỏ tư tưởng không tốt trong đầu, khi cho rằng Bạn không thích chuyện chính trị chỉ vì Bạn sợ đường về quê hương của Bạn gặp trở ngại với CS. Tôi nghỉ đơn thuần, chỉ vì Bạn muốn ung dung tự toại, thụ hưởng thành quả mà bạn đạt được trên đất khách quê người.


Tôi cũng chẳng có ý nghỉ là bạn phải có bổn phận và trách nhiệm gì với cộng đồng. Tôi chỉ xin Bạn làm thêm một việc thiện nguyện thứ hai, cụ thể là xa lánh các văn hoá phẩm độc hại của CS, các cơ sở giao du với CS, các cửa hàng , chợ búa bán hàng CS. Bảo đảm trăm phần trăm với Bạn, không có cái gì liên hệ với CS mà không mang chất chính trị trong đó.

Lấy một ví dụ nhỏ thật nhỏ, trong các phim truyện VN, thế nào bạn cũng có dịp nhìn lá cờ máu, nhìn hình tượng "ảo" ông công an thật dễ thương dễ mến!… Chính trị chỗ đó, đó bạn !

Bạn không thích chính trị, tốt nhất là đừng xem, đừng thưởng thức, đừng tiêu thụ, đừng phổ biến những gì dính dấp với CS. Được vậy, Bạn mới công tâm, mới "fair" với tôn chỉ "không thích chính trị" của bạn
. Chắc là việc nầy không khó và cũng chẳng ảnh hưởng gì không tốt đến cá nhân bạn, phải không bạn? Chân thành cám ơn Bạn chịu khó đọc những dòng nầy.


Chào Bạn..

Nguyen Sang
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Họ chỉ là tổng thống
Monday, January 12, 2009

Ngô Nhân Dụng

Sáng hôm qua, trong lúc lái xe đi tập lớp dưỡng sinh Hồng Gia, tôi tình cờ nghe trực tiếp truyền thanh cuộc họp báo giã từ của Tổng Thống George W. Bush - lúc đó là 6 giờ 15 phút sáng ở California. Tôi phải nán ngồi nghe cho hết, vào tập trễ mất nửa giờ, vì có cảm tưởng chưa bao giờ ông Bush nói chuyện với nhà báo một cách thoải mái dễ dàng như vậy. Còn chính ông Bush, có lúc ông nhắc mọi người về ông Barack Obama, “Ông ấy nói giỏi hơn tôi nhiều.” Khi nghe một ông tổng thống này nói về một ông tổng thống khác chưa nhậm chức, tôi nhớ đến tựa đề, “Họ cũng chỉ là tổng thống.”

Tựa đề này mượn từ bài của Peggy Nooman đăng trên nhật báo Wall Street cuối tuần qua: Mere Presidents. Bà Nooman có khuynh hướng bảo thủ. Ký mục viết mỗi tuần của bà xuất hiện trên một tờ báo rất bảo thủ, một tờ báo thường đồng quan điểm với đảng Cộng Hòa. Xin viết rõ như vậy, họ đồng quan điểm với, mà không nói đây là “một tờ báo của” đảng Cộng Hòa, vì lòng tôn trọng các đồng nghiệp. Một tờ báo có thể hay đồng ý với một đảng chính trị, hoặc một vị tổng thống, nhưng họ luôn luôn giữ tư thế độc lập. Chúng ta có thể thấy rất nhiều trường hợp tờ báo Wall Street không đồng ý và đả kích trực tiếp các chính sách của Tổng Thống George W. Bush hoặc các đại biểu quốc hội Cộng Hòa, và họ loan đủ các tin tức dù bất lợi cho ông Bush và đảng Cộng Hòa. Họ chứng tỏ luôn luôn giữ tinh thần độc lập, rất đáng kính trọng.

Bà Peggy Nooman viết rất chững chạc và rất hay. Mỗi buổi sáng cuối tuần người đọc có thể ngồi xuống, uống ly cà phê và đọc ký mục của bà, trong lòng vui vui, nhẹ nhàng thoải mái, vì những lời lẽ văn nhã, điềm đạm, nghe những ý kiến có thể giống hay khác với mình nhưng lúc nào cũng xuất phát từ một tấm lòng thành thật biết sử dụng lẽ phải chăng chứ không có tính cách lý thuyết, giáo điều hoặc thành kiến. Dù không đồng quan điểm với bà, người đọc cũng vẫn phải kính trọng. Trong bài báo cuối tuần qua Peggy Nooman viết về cuộc họp báo của Tổng Thống tân cử Barack Obama, nói chuyện về kinh tế. Trong thời gian tranh cử năm ngoái, bà Nooman ủng hộ Nghị Sĩ John McCain, tự nhiên; nhưng trong bài báo mới này bà nhận xét về ông Obama với những lời lẽ rất khoan nhu, tinh tế và dí dỏm. Bà trích dẫn lời ông Obama nói, “...chính sự kiện cơn khủng hoảng này do chúng ta tạo ra có nghĩa là chính chúng ta có khả năng giải quyết nó.” Nooman viết, “Nghe xong thật nhẹ cả mình. Ðã tới lúc phải có người nói về cuộc khủng hoảng hiện tại với một cách nhìn lạc quan, cho thấy chúng ta có thể đối phó, có thể vượt qua được nó.”

Tới cuối bài viết chúng ta mới được nghe Peggy Nooman viết đến tựa đề Mere Presidents, Họ cũng chỉ là tổng thống mà thôi. Bà cho chúng ta coi lại bức hình 4 vị tổng thống Mỹ còn sống đứng chụp với Tổng Thống tân cử Obama, sau bữa cơm trưa do Tổng Thống George W. Bush mời. Nooman viết: “Khi nhìn lại bức hình này lần nữa, quý vị phải nghĩ: Những người này có bao nhiêu nhược điểm? Ai trong đám này có thể gọi là thành công?”

Ngày hôm qua ông George W. Bush “trả nợ” lần chót với dân chúng Mỹ, hoặc với các cơ quan truyền thông Mỹ, những người thi hành “đệ tứ quyền” chuyên môn làm công việc nhòm ngó, dò xét, thóc mách, dè bỉu,... những người ngồi trong Tòa Bạch Ốc. Phải công nhận ông có vẻ thoải mái. Tôi chỉ nghe, không thấy hình, nhưng nghe thấy có nhiều lúc ông cười và các nhà báo cũng cười. Buồn cười nhất là ngay từ câu đầu, vị tổng thống thứ 43 của nước Mỹ lại “nói nhịu,” một cái tật ông chưa bỏ được dù đã cố tập suốt 8 năm qua! Ông nói với các ký giả họ, “sometimes 'misunderestimated' me.” Thường người nói tiếng Anh nói “misunderstand” hoặc “underestimate,” mà không dùng chữ “misunderestimated,” một chữ do ông tổng thống đặt ra vì ông muốn nói cả hai điều: Các nhà báo “hiểu lầm” ông và “không biết đúng sức” ông. Nhưng không ai coi việc dùng chữ mới đó là một tội nặng, vì dân Mỹ rất rộng lượng đối với các lỗi lầm khi nói tiếng Anh, rộng lượng ngay cả với ông làm tổng thống của họ! Kể ra thì người Việt mình hay bắt bẻ nhau về tiếng... Anh nhiều hơn người Mỹ!

Hồi 2004 khi còn đang tranh cử, khi một phóng viên hỏi ông có thấy mình đã phạm những lầm lẫn nào, ông Bush ngạc nhiên, lúng túng, rồi thú nhận không thấy mình lầm lẫn bao giờ cả. Năm nay, ông đã già thêm hơn 4 tuổi, cho nên ông nhận ra khá nhiều lỗi lầm. Chẳng hạn, hồi bão Katrina đáng lẽ ông nên đáp máy bay xuống vùng bị lụt, thay vì bay quan sát trên không. Nghe như vậy thì những người không thích ông có thể nhìn thấy ngay một điều: Ông cũng chỉ thấy mình phạm những lỗi rất nhỏ. Tất nhiên, bởi vì sau đó ông cực lực bênh vực công tác cứu trợ nạn nhân bảo Katrina của chính phủ ông. Ông hoàn toàn không đồng ý những lời phê bình rằng việc cứu trợ chậm trễ.

Ông Bush cũng nhận phạm một lầm lẫn khác: Treo mấy chữ “Nhiệm Vụ Hoàn Tất” trên chiếc tầu thủy nơi ông đáp xuống đọc bài diễn văn tuyên bố cuộc tấn công Iraq đã thành công. Ông nói mấy chữ đó đã “truyền một thông điệp sai.” Qua cả hai điều thú nhận trên, chúng ta thấy ông Bush vẫn chú trọng đến “hình ảnh” của ông, người đóng vai tổng thống, nhiều hơn là đến công việc ông làm. Nhưng có một việc mà ông đã tiếc không làm, là không vận động cho một đạo luật cải tổ chính sách di dân ngay sau cuộc bầu cử năm 2004. Ðó là lúc “vốn chính trị” của ông rất dồi dào, sau khi được tái cử. Nhưng ông đã dùng phí vốn liếng đó trong việc vận động cho một đạo luật cải tổ Quỹ hưu bổng Social Security, nhưng không thành công. Ðây là một lời thú nhận thành thật. Hai năm sau, ông Bush quay sang chuyện cải tổ luật về di dân thì hơi trễ, ngay cả những đại biểu quốc hội thuộc đảng Cộng Hòa cũng không chịu ủng hộ ông, trừ ông John McCain là người dám bơi ngược dòng mà không sợ sóng.

Có lúc ông Bush cũng nóng lên, khi có ký giả hỏi về uy tín nước Mỹ đang xuống ở ngoại quốc, ông nhất định cải chính và nhắc lại mấy lần: Không, uy tín nước Mỹ không hề xuống. Nhiều người Mỹ không đồng ý với ông Bush, và chắc sẽ còn bất đồng ý kiến trong suốt quãng đời còn lại của ông. Ông cũng khuyên ông Obama, người kế vị, đừng quá quan tâm đến những lời chỉ trích - nhất là của “những người tự gọi họ là bạn mình.”

Cuối cùng, ông Bush có gần một tiếng đồng hồ thoải mái nói chuyện thành thật với các nhà báo vẫn theo dõi ông từ 7, 8 năm qua. Ông thú nhận ông thuộc loại người “không thể hưởng nhàn” (I am a Type A personality) cho nên sẽ không ra bãi biển ngồi chơi. Dù vậy, ông cũng dự đoán sáng Thứ Tư sau thức dậy ở trang trại Crawford, ông sẽ không làm gì hơn là đi pha cà phê và bưng cà phê ra mời bà Laura cùng uống.

Ký giả Peggy Nooman chắc sẽ đồng ý với Tổng Thống Bush là người làm tổng thống thì không nên phí thời giờ lo lắng về những lời chỉ trích lầu bầu. Nhưng chắc bà sẽ khuyên người dân Mỹ, bất cứ ai bất đồng ý kiến với ông tổng thống Mỹ nào cũng vậy, hãy cứ nói ra, nói thẳng thắn, nói toạc ra, không ngại gì hết. Peggy Nooman kể lại lời ký giả Andrea Mitchell của đài MSNBC than là có nhiều người bước vào Tòa Bạch Ốc với ý định “nói cho ông tổng thống biết sự thật” nhưng sau khi vào căn phòng bầu dục thì cứng lưỡi lại! Bà Mitchell cho là cái không khí uy nghiêm nơi các vị tổng thống làm việc, của ngôi vị người cầm đầu quốc gia, làm cho nhiều người sợ hãi, e ngại không dám nói những điều trái với ý ông tổng thống nữa!

Peggy Nooman cho là người Mỹ không nên hành động như vậy. Vì thế, bà mời mọi người coi lại tấm hình chụp 4 ông cựu tổng thống: George H.W. Bush (đời 41), George W. Bush (43), Bill Clinton (42) và Jimmy Carter (39) đứng với Tổng Thống tân cử Barak Obama. Bà đề nghị mọi người cùng hỏi, “Họ có bao nhiêu là khuyết điểm?”

Trong 4 người đó có hai vị thuộc đảng Dân Chủ, hai vị Cộng Hòa (hai cha con), hai người làm đủ 2 nhiệm kỳ (Clinton và Bush 43) còn hai người chỉ sau một nhiệm kỳ đã được dân cho nghỉ việc (Carter và Bush 41). Bốn ông đều cười hớn hở nhìn vào ông kính, còn ông Obama đang tủm tỉm nhìn ngang.

Có một dụng ý của những nhà lập quốc của Hoa Kỳ, Peggy Nooman nghĩ. Họ biết ngôi vị tổng thống có thể làm cho người ta kính sợ. Cho nên những vị tổng thống Mỹ đầu tiên khi nhậm chức luôn luôn nhấn mạnh rằng họ không xứng đáng với ngôi vị đó. Lúc đó người Mỹ mới thoát khỏi chế độ quân chủ được mươi năm, chắc vẫn còn sợ vua lắm. Nhưng người Mỹ bây giờ không cần phải kính nể ông (hay bà) tổng thống như vậy. Nghĩ như vậy là “phản Mỹ” (un-American, trong nguyên văn).

Và sau đây là những lời kết luận của bà Peggy Nooman; bà viết: “Lòng ái quốc (của người Mỹ) đòi hỏi chúng ta phải làm nhiều hơn là tánh nói thẳng. Nó đòi hỏi chúng ta (người Mỹ) phải nói hết sức thành thật và xây dựng với vị tổng thống của mình, nhìn ông ta như một con người, và chỉ là một con người mà thôi!”

Nhắc lại bức hình bốn vị cựu tổng thống, Peggy Nooman viết: “Chúng ta tuyển họ vào làm việc, chúng ta cho họ nghỉ việc, có lúc họ quay trở lại Tòa Bạch Ốc để chụp hình. Không ai có tài ảo thuật cả!”

Ðó là những lời tôi chợt nhớ tới khi nghe cuộc họp báo của đương kim tổng thống nước Mỹ, trong đó ông chúc ông tổng thống sắp tới được thành công. Một người Mỹ có thể nói về họ, như Peggy Nooman nói: “We hire them, we fire them, they come back for photo-ops. They're not magic.”

Người Việt ở Mỹ sẽ tập lối suy nghĩ như vậy cho quen.

Bao giờ người Việt Nam có thể cũng nghĩ như vậy về những vị tổng thống nước Việt Nam?
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Lịch sử: Giai thoại các danh nhân và con trâu
Hoàng đế chăn trâu Đinh Bộ Lĩnh

Ai cũng biết trong sử sách nước ta, vua Đinh Tiên Hoàng xuất thân là một mục đồng hồi bé, chăn trâu cắt cỏ cho người chú là Đinh Thúc Dự. Thuở nhỏ cậu bé Đinh Bộ Lĩnh chăn trâu cùng các bạn nhỏ, thường bày ra trò chia phe đánh trận, tay cầm ngọn cỏ lau dài làm khí giới và cờ phướng lọng quạt, cưỡi trên lưng trâu. Sau này “Cậu bé chăn trâu” trở thành tướng quân họ Đinh oai phong lẫm liệt dẹp được loạn “Thập Nhị Sứ Quân”

xưng đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng, mở ra một trang sử mới cho đất nước Đại Cồ Việt...


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cỡi trâu xung trận

Trong trận đánh giặc Nguyên - Mông trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cỡi voi vượt qua sông Hóa, không may con voi bị sa lầy. Ông đành phải xuống voi. Quân lính cùng nhau ra sức kéo lên nhưng con voi càng bị lún sâu, chẳng hề nhúc nhích. Con voi này đã từng đưa Hưng Đạo Vương xông pha nơi trận mạc. Ông động viên quân lính cố hết sức đẩy con voi ra khỏi bãi lầy... nhưng cuối cùng đành bất lực.

Ngay lúc ấy, có một chú bé chăn trâu chạy đến thưa với ông rằng: “Bây giờ voi không đưa Ngài qua sông được nữa, xin Ngài cỡi lên lưng con trâu của cháu, cháu sẽ giong trâu bơi qua”.

Hưng Đạo Vương nhìn chú bé mỉm cười rồi gật đầu và nói: “Cháu bé giỏi lắm! Thế thì cháu ngồi trước còn ta thì ngồi sau. Cháu ngồi trước thì mới cầm dây thừng giong trâu chứ !”.

Chú bé vâng lời. Đoàn quân sung sướng nhìn vị tướng và chú bé cưỡi trâu sang sông. Hưng Đạo Vương quay lại nhìn con voi bị sa lầy đang chìm dần dưới lớp bùn, ứa nước mắt và nói: “Đến ngày ta thắng trận, ta sẽ dựng tượng voi và cả tượng con trâu này bên bờ sông”.

Đào Duy Từ : Kẻ chăn trâu quân tử

Đào Duy Từ bỏ Đàng Ngoài vào Đàng Trong để đi tìm minh chúa. Những ngày đầu tiên đến đất Hoài Nhơn, chưa gặp người giúp đỡ, ông phải đi ở chăn trâu cho nhà họ Chúc, thuộc thôn Tùng Châu, phủ Quy Nhơn. Một hôm, dắt trâu qua cửa tư thất một vị tướng thì nghe tiếng đọc sách và bàn luận chuyện văn chương, chính sự, ông liền buộc trâu lại đứng nghe. Viên quan thấy vậy liền gọi vào và hỏi:

- Anh có biết chữ không?

- Thưa, tôi vừa nghe các ngài bàn về nho tiểu nhân và nho quân tử. Tôi lấy làm thú vị lắm!

- Thế anh hiểu thế nào là nho quân tử và nho tiểu nhân?

- Thưa ngài, về nho thì tôi chưa được rõ. Tôi chỉ biết đi chăn trâu nên chỉ xin được nói về kẻ chăn trâu. Có kẻ chăn trâu quân tử, có những kẻ chăn trâu tiểu nhân, cũng như các ngài nói về nhà nho vậy. Chăn trâu tiểu nhân là những kẻ dắt trâu ra đồng ăn cỏ, đến tối là dắt trâu về, không nghĩ ngợi, lo lắng chi cả. Còn kẻ chăn trâu quân tử là những kẻ vừa chăn trâu vừa ôn tài, luyện chí, chưa gặp dịp nên tạm theo việc để sinh nhai đó thôi. Sử sách ngày xưa còn ghi lại không hiếm gì kẻ chăn trâu quân tử. Nịnh thích làm tưởng nước Tề, Bách Lý Hề làm tướng nước Tần, trước đều là những kẻ chăn trâu cả đấy!

Viên quan thấy lời lẽ như vậy, đoán ngay đây là một nhân tài, liền báo với chúa Nguyễn dùng lễ mời Đào Duy Từ ra giúp, tạo nên cơ nghiệp nhà Nguyễn ở xứ Đàng Trong.

Thiên Hộ Dương và đội binh trâu

Thiên Hộ Dương là lãnh tụ nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười hồi cuối thế kỷ XIX. Ông có tài đặc biệt là cưỡi trâu ra trận. Đã có lần ông đem các thuộc hạ ra bờ kênh xem ông cưỡi trâu từ dưới nước vượt lên bờ. Các tướng cố sức ngăn cản những đường roi của ông nhưng ông đã gạt phăng hết khí giới của họ, thúc trâu tả xông hữu đột khiến mọi người đều thán phục.

Biết ông có tài đặc biệt ấy, nghĩa sĩ Đồng Tháp Mười đều hưởng ứng, đến qui phục dưới cờ ông. Có một người dẫn đến hàng trăm con trâu rừng đã được anh ta thuần phục. Anh điều khiển trâu không cần tiếng la hét, hay dùng roi vọt mà bằng tiếng... mõ. Cứ theo tiếng mõ của anh mà đàn trâu biết tiến, thoái, biết quì phục tùy theo ý của người chỉ huy.

Thiên Hộ Dương đã tiếp nhận người nghĩa sĩ này và giao cho anh ta chỉ huy một trận đánh. Đội quân trâu tuân theo tiếng mõ của anh ào ạt xông vào đội hình bọn giặc. Giặc trở tay không kịp chạy tán loạn. Tiếng mõ bèn chia đàn trâu làm hai toán rượt theo giặc. Giặc bắn ra, đàn trâu cũng biết nghe theo tiếng mõ để tránh đạn vì vậy mà có rất ít con trâu bị thương, còn phía địch thì hoảng loạn, tan rã hàng ngũ. Sau trận đánh thắng lợi này, Thiên Hộ Dương đã phong cho nghĩa sĩ chỉ huy đội quân trâu là Ngưu quân Thượng tướng.

Phạm Phú Thứ: dùng xe trâu đưa nước vào ruộng

Việt sử có ghi, năm 1865, triều đình nhà Nguyễn bắt đầu cho chế xe tát nước bằng sức trâu kéo, phỏng theo cách thức phương Tây. Sở Đốc công chịu trách nhiệm chế tạo 27 cỗ xe để đưa cho các tỉnh từ Phú Yên, Bình Định đến Nghệ An, Thanh Hóa làm mẫu rồi theo đó mà chế tạo.

Giai thoại đất Quảng kể rằng: Khi tiến sĩ Phạm Phú Thứ theo phái đoàn sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, lúc đến sông Nil (Ai Cập) ông để ý đến loại xe nước giống như bên ta nhưng to lớn và thay vì dùng chân để đạp thì lại dùng trâu để kéo. Ông sai người vẽ lại thật tỉ mỉ hình ảnh và cách vận hành chiếc xe trên. Ông mang về nước bản vẽ ấy rồi đem bàn với các lão nông giàu có tìm cách thực hiện.

Như đã nói, bánh xe giống như bánh xe đạp nước và hoàn chỉnh hơn đem đặt ở bờ sông hay bờ hồ. Cái trục giữa của xe đưa thẳng vào bộ máy chạy toàn bằng các bánh xe có răng cưa theo cách vận hành của đồng hồ quanh một cái trục lớn đứng thẳng. Từ trục ấy đưa ra một đòn gỗ dài mà cuối cùng là nơi bắt ách trâu. Trâu dùng từ một đến hai con và chúng đi chung quanh cái trục dưới ngọn roi của người giữ trâu. Các bánh xe răng cưa vận hành cho trục ngang quay để xe từ từ đưa nước vào máng dẫn nước chảy vào ruộng.

Chiếc xe trâu đầu tiên đóng tại Hòa Vang (Quảng Nam) và được nhân dân mến mộ, dần dần phát triển cách thức dẫn thủy mới mẻ này.

Về sau, người ta tôn ông Phạm Phú Thứ là “hậu tổ” xe trâu (đây là xe trâu đưa nước vào ruộng chứ không phải xe trâu chở rơm rạ hay nông cụ thường thấy). Gọi Phạm Phú Thứ là “hậu tổ” vì “ông tổ” nó ở tận bên sông Nil, xứ Ai Cập.

Cậu bé chăn trâu trở thành tiến sĩ

Xin kể qua về Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889). Ông quê ở xã Lương Điền, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, thuở ấu thơ sống trong một gia đình nghèo khổ, nên ông phải đi chăn trâu cho một phú hộ trong làng. Phú hộ có nuôi một thầy đồ dạy học cho cậu quý tử của mình, hằng ngày ông đi ngang qua phòng học để “nghe lén học lóm”. Khi lùa trâu ra đồng, ông dùng lưng trâu làm bảng, dùng đất sét làm phấn để viết lại những chữ đã học, tiếp thu rất nhanh. Ngày nọ, ông thầy đồ xin gia chủ nghỉ phép về quê, trước khi đi có để lại một bài tập rất khó, lắt léo nhiều điểm cốt ý khiến cho cậu chủ nhỏ điên đầu nhức óc đánh vật với chữ nghĩa trong suốt thời gian thầy đồ vắng mặt. Nguyễn Xuân Ôn bấy giờ mới làm giùm bài cho cậu chủ. Khi ông thầy đồ trở lại, ông kinh ngạc đến sửng sốt vì không thể ngờ cậu chủ lại làm bài quá xuất sắc như vậy. Thầy hỏi dò nơi phú hộ xem thử trong thời gian thầy vắng có vị khoa bảng nào ghé đến nhà chơi hay không, vì thầy chắc chỉ có “cỡ khoa bảng” mới làm được “bài tập hóc búa” mà thầy ra cho cậu chủ. Ông phú hộ khăng khăng là không có ai đến nhà. Vặn hỏi một hồi, cậu chủ cuối cùng khai ra người làm bài tập là “thằng ở đợ chăn trâu”. Thầy đồ lập tức mời Nguyễn Xuân Ôn lên ngồi “ngang mâm cùng chiếu” với mình. Sau đó ông giúp đỡ để “cậu bé chăn trâu” họ Nguyễn được học hành đến nơi đến chốn. Nguyễn Xuân Ôn được thầy thương yêu, hết lòng dốc sức mài sử sôi kinh để báo đáp ân sư. Sau, ông đậu Tiến Sĩ vào năm 1871, làm quan tiến chức dưới triều vua Tự Đức...

NGUYỄN NHÂN THỐNG - MÃN ĐƯỜNG HỒNG
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

HÒA BÌNH DO THÁI – PALESTINE:
KHÔNG BAO GIỜ CÓ


HUỆ VŨ


Image
Ông Theodor Herzl.

Thứ ba, 6 tháng 1 năm 2009, trong lúc không quân tiếp tục không Kích dải Gaza bước sang ngày thứ 11, bộ binh và xe tăng với trực thăng yểm trợ của Do Thái tập trung tiến tới các thành phố trong dải Gaza. Chính quyền Do Thái cho biết đã đưa một lực lượng lớn qua dải Gaza gồm bộ binh, thiết giáp, công binh, pháo binh, tình báo. Cuộc tấn công này sẽ kéo dài trong nhiều ngày. Từ lúc chiến trận bùng phát trong ngày 27 tháng 12 tới nay, đạn rocket của Hamas gây tử thương cho 4 người Do Thái. Trong lúc đó, số thương vong của người Palestine lên trên 560 người, bị thương trên 2.500 người. Đau khổ hơn là trong nhiều ngày bị phong toả, 1.5 triệu người Palestine ở dải Gaza không còn thực phẩm, nước uống, bệnh viện không còn thuốc men và tiếp liệu để săn sóc cho người bị thương. Khi Cuộc chiến tranh từng nhà, trên từng góc phố diễn ra, con số tử vong chắc chắn sẽ gia tăng rất lớn. Chỉ trong ngày Chủ Nhật, 4 tháng 1, đã có 42 thường dân thiệt mạng, trong đó có gia đình Samouni 4 người, một mẹ và 3 con nhỏ. Gia đình Abu Aisha gồm 7 người bị chết sạch. Trong ngày thứ Hai 5 tháng 1 có 30 thường dân bị chết và chỉ riêng sáng ngày thứ Ba, 6 tháng 1, có 18 người chết.

Vào ngày 19 tháng 6 năm 2008, với sự trung gian của Ai Cập, Hamas và Do Thái ký hiệp ước đình chiến trong 6 tháng. Theo hiệp ước này, Hamas ngưng bắn rocket sang Do Thái, ngược lại Do Thái dần dần nhấc bỏ phong tỏa dải Gaza đã áp đặt từ tháng 7 năm 2007, sau khi Hamas chiếm quyền kiểm soát dải đất này từ tay tổ chức Fatah của Tổng thống Mahmoud Abbas.

Chiến trận bùng phát trong ngày 27 tháng 12 năm 2008 được Do Thái diễn tả là nhằm chận đứng dân quân Palestine bắn rocket sang Do Thái.

Ngăn cản Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc thông qua một bản nghị quyết kêu gọi 2 bên lập tức ngưng bắn, đại diện Hoa Kỳ tại LHQ là ông Alejandro Wolff nói rằng Hamas đã đơn phương chấm dứt hiệp ước ngưng bắn trong 6 tháng, việc Do Thái phải tự bảo vệ là điều bất khả thảo luận. Thật sự, cả Do Thái và Hamas đều chưa có bên nào chính thức tuyên bố xé bỏ hiệp ước ngưng bắn mãn hạn trong ngày 19/12. Nhưng hiệp ước này đã gần như bị xé bỏ từ ngày 4/11, sau khi Do Thái đưa quân qua biên giới và thả bom giết chết 6 dân quân Palestine, nói rằng những người này đang đào một con đường hầm để vượt biên giới bắt cóc quân nhân Do Thái. Tổ chức Islamic Jihad đã trả đũa, bắn 35 quả rocket qua biên giới. Trong thời gian hiệp ước ngưng bắn có hiệu lực, Do Thái cũng không nhấc bỏ mức độ phong toả. Từ tháng 11, càng đóng chặt các cổng biên giới. Trong tháng 10 khoảng 140 chiếc xe chở thực phẩm cứu trợ của các cơ quan nhân đạo được cho qua cổng biên giới, trong tháng 11 chỉ có 4 xe!

Chính phủ Bush đã chứng tỏ nhiệt tâm tái lập hoà bình Trung Đông qua hội nghị Annapolis, tháng 11/07, và hy vọng hiệp ước hoà bình, một quốc gia Palestine sống song song với Do Thái được thành lập trước khi ông mãn nhiệm kỳ. Tuy nhiên, tiến trình đàm phán giữa hai phái đoàn Do Thái và Palestine gần như không đem lại một tia sáng nào. Do Thái vẫn tiếp tục mở rộng các khu vực định cư trong vùng Tây Ngạn. Dù Hamas và Fatah là hai tổ chức Palestine cạnh tranh nhau, nhưng chiến tranh bùng nổ và sự thiệt hại sinh mạng rất lớn ở dải Gaza hiện nay chắc chắn sẽ làm cho tiến trình hoà bình Annapolis tan thành bọt nước giống như những cố gắng nhằm đem lại hoà bình trước đó.

Thành công đầu tiên hy vọng đem lại hoà bình giữa Do Thái và Palestine là hiệp ước Oslo năm 1993. Trong năm 1991, Tổng thống George H.W. Bush và Ngoại trưởng James Baker đã vận động Do Thái và các nước Á Rập tham dự hội nghị hoà bình ở Madrid, Tây Ban Nha để giải quyết xung đột Trung Đông. Các cuộc đàm phán từ Madrid tới Hoa Thịnh Đốn không đem lại kết quả. Nhưng tiếp theo đó, các cuộc đàm phán ở Oslo, Na Uy, phái đoàn Do Thái và PLO đã có thể ký kết một hiệp ước ấn định những điều kiện căn bản để thành lập một quốc gia Palestine trong tương lai, dựa trên tinh thần nghị quyết 242 và 338 của Hội Đồng Bảo An. Thủ tướng Do Thái Yitzhak Rabin, chủ tịch PLO Yasser Arafat và Ngoại trưởng Shimon Peres đã được chọn trao tặng giải Nobel hoà bình năm 1994. Nhưng năm 1995, ông Rabin bị ám sát và hiệp ước Oslo coi như chết dần sau đó, Do Thái gia tăng đưa người qua Tây Ngạn định cư lên gấp đôi, dân quân Palestine lại nổi dậy chống Do Thái mạnh hơn.

Vào năm 2000, Tổng thống Bill Clinton tổ chức cho ông Yasser Arafat và Thủ tướng Ehud Barak (hiện giờ là bộ trường quốc phòng) gặp nhau ở trại David. Thủ tướng Ehud Barak đề nghị trả lại cho Palestine 95% diện tích đất đai chiếm đóng và có chủ quyền ở Đông Jerusalem, nhưng Palestine phải nhượng những vùng có các khu định cư cho Do Thái và Do Thái kiểm soát vĩnh viễn 10% lãnh thổ Tây Ngạn. Ông Yasser Arafat không chấp nhận những điều kiện trên. Trong lúc Tổng thống Bill Clinton áp lực ông Arafat đưa ra phản đề nghị để thương lượng, thì chính quyền Do Thái lọt vào tay đảng Likud cực hữu, ông Ariel Sharon lên làm Thủ tướng Do Thái và tiến trình hoà bình Thượng Đỉnh Trại David chết yểu.
Trong tháng 3 năm 2002, khối Á Rập đưa ra sáng kiến hoà bình “Land for Peace”, trả đất tìm hoà bình, đề nghị Do Thái trả lại tất cả những vùng đất bị chiếm đóng để tái lập hoà bình, thiết lập ngoại giao với các nước Á Rập. Ngoại trưởng Shimon Peres tỏ ra hoan nghênh Sáng Kiến Hoà Bình Á Rập nhưng nói rằng Do Thái chưa sẳn sàng trả đất và cho phép người Palestine di cư hồi hương.

Tháng 7 năm 2002, Bộ Tứ gồm Liên hiệp Quốc, Liên Âu, Hoa Kỳ và Nga đã thảo ra những nguyên tắc ấn định lộ trình hoà bình Trung Đông. Theo lộ trình, chính quyền Palestine phải ngăn chận, bắt giữ những người, hay những nhóm người có chủ trương và hành động bạo động đối với Do Thái. Ngược lại, Do Thái phải ngưng thiết lập và mở rộng các khu định cư. Nhưng gần như hai bên, Do Thái và Palestine đều không thi hành những điểm nêu ra trong lộ trình. Những phiên họp của Bộ Tứ không tạo nên sự thay đổi nào tại Trung Đông, ngoại trừ loại ông Arafat khỏi quyền lực. Lộ trình Bộ Tứ gần như đã bế tắc sau khi Hamas chiến thắng cuộc bầu cử quốc hội năm 2006 và chiếm quyền kiểm soát dải Gaza trong năm 2007. Trong tháng 6 năm 2004, chính phủ Ariel Sharon chấp nhận chương trình đơn phương rút khỏi dải Gaza (Unilateral Disengagement Plan) vì vùng đất chỉ rộng 360 cây số vuông này có tới 1.5 triệu người Palestine, rất khó bảo vệ cho người Do Thái định cư trước phong trào tấn công khủng bố Intifada đợt 2 của dân quân Palestine mà không phải do kết quả thương lượng ngoại giao nào. Dù rút lui, nhưng Do Thái vẫn kiểm soát không phận, hải phận, và kiểm soát các con đường biên giới dải Gaza.

Có lẽ cũng nhiều người cho rằng phía Palestine đã hiếu chiến, đặc biệt là Hamas chủ trương khủng bố nên hoà bình không thể nào thiết lập giữa Do Thái và Palestine. Đáng tiếc, những tổ chức tranh đấu Palestine chia rẽ, họ không tìm ra một con đường nào khác hơn mà đã tranh đấu bằng chiến thuật khủng bố, gây mất cảm tình trên thế giới, và hình thức tranh đấu của họ đã giúp cho Do Thái có thêm những lý do biện minh cho sự chiếm đóng và đàn áp. Tuy nhiên, nếu người Palestine dùng những hình thức đấu tranh ôn hoà đi nữa, chưa hẳn họ đã có thể tìm được một quốc gia độc lập, có thể sống hoà bình song song với quốc gia Do Thái. Bởi vì, đơn giản, chủ nghiã phục quốc Do Thái (Zionism) không chủ trương biên giới của quốc gia Do Thái là vùng đất mà Hội Quốc Liên đã phân chia trong năm 1947. Họ luôn luôn chứng tỏ có thái độ mong muốn hoà bình khi gặp áp lực mạnh, nhưng sẽ vận dụng mọi cách vượt qua trở ngại bằng sự thay đổi chính phủ hay tạo những điều kiện để có thể không cho phép một quốc gia Palestine ra đời, tiếp tục thi hành những chính sách củng cố sự chiếm đóng.

Dân tộc Palestine có lẽ là dân tộc đau khổ nhất trên thế giới, trong lịch sử họ chưa từng có quốc gia, và họ rất khó có thể tìm được một quốc gia trong giai đoạn hiện nay khi Chủ nghiã Zionism chủ trương phải lấy lại tất cả “Vùng Đất Hứa” theo Cựu Ước, và người Do Thái gần như thao túng chính sách ngoại giao của nhiều cường quốc Tây phương. Cùng lúc đó, người Palestine lại cũng là con bài mà thành phần Hồi giáo Sunni cực đoan muốn qua họ, dùng sự đàn áp của Do Thái để kích động tinh thần chống Tây phương, chống chính phủ thế quyền tại các nước Á Rập. Khối Shiite do Iran lãnh đạo cũng muốn dùng sự chiến đấu của người Palestine để cạnh tranh ảnh hưởng và cảm tình trong khối Hồi Giáo.

Palestine là danh từ mới được dùng sau này, phát nguyên từ thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên người Palestine có tên là người Philistines có nghiã là người miền biển, tập trung ở các khu vực Gaza, Ashkelon, Ashdod, Ekron và Gath. Trong thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên họ lệ thuộc Ai Cập. Vào năm 1000 BC, vua David của Do Thái chinh phục người Philistines. Vào năm 922 BC vương quốc Israel bị chia làm đôi: Israel ở phía nam và Judad ở phía bắc. Năm 721 Israel bị rơi vào tay Assyria, đến năm 586 Judad bị Babylon chinh phục, thành phố Jerusalem bị phá hủy, người Do Thái bị lưu đày. Có thể nói người Palestine và Do Thái cũng đã từng là anh em trong một quốc gia kéo dài trong nhiều trăm năm. Sau thời bị Babylon cai trị là đế quốc Ba tư, La Mã. Tiếp theo tới người Á Rập Hồi giáo, đế quốc Thổ. Sau Thế Chiến Thứ Nhất, Palestine lại bị lệ thuộc Anh.
Người Do Thái sau khi bị đế quốc Babylon và Đế quốc La Mã lưu dày, bán làm nô lệ, đã đi sinh sống nhiều nơi trên thế giới không còn hiện diện nhiều ở vùng đất Palestine thuộc Anh (Do thái, Tây Ngạn và Gaza), vào năm 1850 trong vùng chỉ có khoảng 12 ngàn người.

Vào năm 1897, người Do Thái hợp đại hội phục quốc đầu tiên ở thành phố Basle, Thụy Sĩ, bàn cách thành lập quốc gia Do Thái. Đại hội trong năm 1904 đề nghị thành lập quốc gia Do Thái ở Á Căn Đình (Argentina), nhưng đại hội năm 1906 đã quyết định quốc gia Do Thái phải là Đất Hứa Palestine. Trong năm 1917, Ngoại trưởng Anh Arthur J. Balfour đã gởi thư cho một lãnh tụ phục quốc Do Thái hứa hẹn sẽ giúp thành lập quốc gia Do Thái. Sau Thế chiến Thứ Nhất, người Do Thái các nơi trên thế giới ồ ạt trở về vùng đất này. Từ năm 1920 tới năm 1945 có khoảng 350 ngàn người Do Thái di cư hợp pháp vào Palestine.

Chủ nghĩa phục quốc Do Thái không chỉ đơn giản có một quốc gia Do Thái sống hòa bình bên cạnh quốc gia Palestine hay chấp nhận người Palestine sống chung với Do Thái. Quốc gia Do Thái đối với người Zionists phải là đất của vua David, Salomon, đất mà Chúa Trời hứa hẹn với con cháu ông Abraham sẽ từ sông Ai cập tới sông Euphrates có đất Kenite, Kamonite, Hittite, Perizzite, Rephain, Amorite, Canaanite, Girgashite và Jubesite. (Genesis 15:18-20) chứ không phải biên giới hiện nay.

Họ cắt nghiã giai đoạn 1.000 năm trong sách Khải Huyền (Revelation) rằng thì là.. một khi người Do Thái phục hồi lại cõi bờ vua David, Salomon, sẽ tới thời kỳ mạt thế và thăng thiên khoảng 7 năm, Chúa Jesus sẽ đến từ trời, hiện rực rỡ trong mây đón rước những người tin Chúa lên thiên đàng. Sau giai đoạn này, Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, chọn 144.000 người Do Thái cùng Ngài cai trị các nước trên thế giới trong vòng 1000 năm cho tới ngày phán xét cuối cùng.

Những điều tin tưởng trên của người Zeonist có lẽ hoàn toàn bóp méo kinh điển. Nếu Chúa Trời đã có hứa với ông Abraham thì phải chăng con cháu của ông ta, vua David cũng đã từng nhận đất mà Ngài đã hứa? Kinh Thánh đã xác định Chúa Trời đã chu toàn lời hứa qua các đoạn Joshua 21:43, Kings 8:56. Người Zeonist cũng đã quên, không nhớ rằng tổ tiên của họ đã từng chối từ không công nhận chúa Jesus là con của Chúa Trời. Qua Kings 9:6-9, Chúa Trời đã cảnh cáo nếu con cháu người Do Thái không theo Chúa, không giữ lời Chúa, Ngài sẽ tước bỏ những đất đai mà Ngài đã ban cho. Sự sụp đổ của vương quốc Israel phải chăng đã là sự trừng phạt của Chúa Trời, và tội chối Chúa Jesus không công nhận Ngài là con Chúa Trời cũng đã làm cho họ bị đế quốc La Mã bán làm nộ lệ khắp thế giới.

Tuy nhiên, không phải chỉ có người Do Thái tin tưởng những điều huyễn hoặc mà các nhà tiên tri Christian Zeonists nêu lên. Nó được rộng rãi tin tưởng ở Anh và Hoa Kỳ. Chính vì những tin tưởng như vậy mà Balfour đã cam kết với người Zeonist ở Anh, và Anh Quốc đã ngầm giúp cho người Do Thái trở về Palestine trong thời gian cai trị vùng Palestine.
Ở Hoa Kỳ, hội Người Thiên Chúa Đoàn Kết cho Do Thái (Christians United for Israel - CUFI) là một hội rất mạnh. Người thành lập CUFI là Mục sư John C. Hagee của Nhà thờ Cornerstone ở San Antonio/Texas có 19 ngàn tín đồ, giám đốc global Evangelism Television, đã công khai tuyên bố quốc gia Do Thái phải gồm Tây Ngạn và Gaza, đây là đất Chúa tuyệt đối dành riêng cho người Do Thái. Trong tháng 7 năm 2007, Mục sư Donald Wagner của đạo Presbyterian cho biết CUFI đã đưa 3.500 người đến mọi nơi trong quốc hội Hoa Kỳ để vận động gởi vũ khí cho Do Thái và tấn công Iran. Mục sư Wagner cũng nói rằng điều ông lo ngại nhất là Christian Zeonists với trên 1 triệu tín đồ Evangelical trên thế giới đã hết sức cực đoan chống Hồi Giáo và ủng hộ Do Thái có thể tạo thêm hận thù giữa người Christian và người Hồi Giáo. Các nhà thờ Công Giáo (Catholic) Lutheran và Orthodox trong vùng Trung Đông cũng rất lo sợ luận điệu của Evangelicals.

Người phục quốc Do Thái không chỉ tin tưởng quốc gia của họ phải bao gồm những vùng đất Tây Ngạn và dải Gaza, Jerusalem phải là kinh đô của họ mà họ cũng không chấp nhận sống chung với người Palestine.

Trong năm 1895, ông Theodor Herzl được coi là nhà tiên tri của Zeonism đã viết: “Hãy tước đoạt nghị lực của dân tộc không đáng một xu trong nước chúng ta bằng cách tước đoạt tài sản và xua đuổi chúng một cách vô cùng thận trọng.” Người lãnh đạo Do Thái đầu tiên là ông David Ben Gurion đã triệt để thực hiện chủ trương của Herzl ngay từ lúc làn sóng di dân Do Thái mới bắt đầu trở về “Đất Hứa” với 2 chính sách là “Mua đất của người Palestine” và “chỉ dùng công nhân Do Thái”. Người Do Thái đã thực sự bắt tay bí mật thực hiện chính sách thanh lọc chủng tộc ngay từ năm 1937. Sau khi Ủy ban do ông Earl Peel đưa ra kế hoạch phân chia Palestine, Ben Gurion đã tuyên bố “không thể có một quốc gia Do Thái trong đó có một thiểu số người Á Rập nguy hiểm” và “Không thể có quốc gia Do Thái nếu người mọi điạ phương còn hiện diện trong biên giới.”

Sự tin tưởng vào sự ưu việt của chủng tộc Aryan đã làm cho Đức Quốc Xã ra tay tàn sát khoảng gần 6 triệu người Do Thái. Nhà sử học Yehuda Bauer của trường đại học Hebrew ở Jerusalem đã nói rằng Holocaust không phải bắt nguồn từ những nguyên nhân thần bí hay huyền thoại nào, chỉ từ ảo tưởng về thế giới của Đức Quốc Xã, họ cho rằng Do Thái đang có âm mưu thống trị thế giới, đây là điều phải dành riêng cho người Đức, thuộc giống Aryan siêu việt.

Thế chiến Thứ 2 kết thúc, người Do Thái vẫn còn kinh hoàng với thảm trạng Holocaust, nhưng ngay sau đó họ lại không có một chút lòng nhân đạo nào đối với một dân tộc khác, để mỗi năm người Do Thái tưởng niệm Holocaust, thì người Palestine cũng mỗi năm mỗi tưởng niệm thảm trạng al-Nakba.

Thảm trạng al-Nakba không có giết người tập thể bằng hơi ngạt như Holocaust, nhưng hàng trăm, hàng ngàn người dân vô tội bị xua đuổi khỏi nhà cửa, khỏi làng mạc mà ông cha, tổ tiên của họ đã sống từ bao ngàn năm trước.

Ngày 14 tháng 5 năm 1948 là ngày Anh chấm dứt sự cai trị Palestine cũng là ngày Do Thái tuyên bố độc lập, thì từ nhiều tháng trước, Ben Gurion đã ra lệnh cho lực lượng dân quân Haganah phải dùng mọi cách từ đe doạ tới khủng bố để làm cho người Palestine phải đi khỏi lãnh thổ càng nhiều càng tốt. Vào đầu tháng 5 đã có khoảng 175.000 người phải rời khỏi Do Thái. Nhà sử học Edgar O'balance đã viết lại thảm trạng: “ Xe Do thái với máy phóng thanh ra lệnh cho người Á Rập phải nhanh chóng di tản.. những làng xã người Á rập bị bao vây buộc phải ra đi trong vòng 2 hay 3 ngày .. xe ũi đất Do Thái tới dỡ nhà cửa ngay trước mắt họ.”

Từ cuối năm 1947 tới tháng 3 năm 1949, Do Thái đã hệ thống xua đuổi người Palestine trong 4 đợt, số người bị buộc phải ra đi trên 800.000 người. Dọn sạch khoảng 500 thị trấn, làng mạc và bộ lạc Palestine.

Không hiểu người tỵ nạn VN chúng ta còn nhớ cái cảm giác đau đớn như thế nào khi ruộng vườn, nhà cửa của mình bị CS tịch thu đuổi đi kinh tế mới hay không? Chúng tôi nghĩ rằng người Palestine trong giai đoạn phục quốc đầu tiên của Do Thái còn đau khổ hơn chúng ta không biết bao nhiêu lần!

Khủng bố, đã được Lực Lượng Đặc Nhiệm Chống Khủng Bố của Hoa Kỳ định nghĩa: “khủng bố là sự xử dụng bất hợp pháp hay đe dọa bạo hành đối với người hay tài sản con người để mong đạt được mục đích chính trị”. Việc PLO, tới Hamas, Islamic Jihad.. đã dùng những hình thức tấn công tự sát, bắn rocket tới những khu vực Do Thái.. đúng là những hành động khủng bố. Nhưng chắc chắn rằng cướp đoạt tài sản, xua đuổi, bao vây, cắt đứt lương thực, thả bom làm cho hàng ngàn người bị thương hình như cũng nằm trong định nghiã khủng bố của LLĐNCKB/HK. Tây Phương đã chỉ trích Nga đã trả đũa Georgia bất tương xứng trong chiến tranh tháng 8 vừa qua. Thế nhưng, trong khi Hamas chỉ bắn rocket và “may mắn” lắm mới làm cho 4 người Do Thái bị chết, còn số thiệt hại sinh mạng của người Palestine lên hàng trăm người, bị thương cả ngàn người lại không ai chỉ trích về sự bất tương xứng này!

Đức Chúa Trời chắc chắn phải là đấng nhân từ, nếu người Do Thái xua đuổi người Palestine để lập lại vương quốc David, Solomon, Ngài sẽ cho Chúa Jesus xuống trần để cùng người Do Thái cai trị thế giới hình như nghe cũng chẳng thuận tai chút nào. Thế nhưng, đây là sự tin tưởng của Christian Zeonists, của Evangelicals, của hàng triệu người có thế lực chính trị tại nhiều cường quốc, cho nên người Palestine có lẽ không bao giờ tìm được những ngày bình an, dù họ có từ bỏ những chiến thuật đấu tranh sai lầm của họ hiện nay hay không.

Năm mới Dương Lịch xin cầu nguyện cho người Palestine, cầu nguyện cho họ sớm thấy rằng hình thức đấu tranh của họ không thích hợp, chỉ phản lại chính nghiã của họ. Nhưng cũng xin cầu nguyện cho những người Christian Zeonists sớm thấy rằng Chúa là đấng nhân từ. Ngài có ban đất cho Do Thái thì chắc chắn cũng chọn lựa một cách nhân từ, tự nhiên chứ không phải xua đuổi, tước đoạt quyền sống của một dân tộc khác.

Huệ Vũ
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Xin gởi đến những ai còn chút tình với quê hương và đất nước
Đã là con người thì ai cũng phải trải qua thời niên thiếu, cái thời của những ngày là học sinh cấp I, II và III chỉ biết tiếp thu những bài học một chiều từ những lời giảng dạy của thầy cô. Khi chúng tôi bước chân vào ngưỡng cửa đại học cũng chính là lúc bắt đầu suy nghĩ cho hướng đi của mình và tương lai của đất nước. Với nền văn minh của thế giới như hiện nay cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin toàn cầu, tất cả những sự thật cùng sự gian trá mà bấy lâu nay nhà nước cố tình dấu giếm đã lần lượt được phơi bày ra ánh sáng. Những gì mà chính quyền dưới sự lãnh đạo của đảng đang thực hiện khiến cho niềm tin của chúng tôi đang đi dần về con số 0.

Chúng tôi cũng tin chắc rằng tất cả các bạn trẻ sinh viên và những nhà trí thức tha thiết với quê hương cũng có cái nhìn không đẹp với đường lối cai trị độc tài, độc đoán do ĐCSVN lãnh đạo hiện nay đối với đất nước. Những hành động dứt khoát và những tiếng nói chân thành của các bác, các chú lão thành đã từng là đảng viên ưu tú của đảng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng, cùng với sự dấng thân tranh đấu ôn hòa của các nhà trí thức dân chủ yêu nước chấp nhận mọi gian nguy trước sự đàn áp thô bạo của cường quyền trong thời gian qua và vẫn còn tiếp tục, là cái phúc rất lớn cho dân tộc VN. Chính nhờ những chứng nhân thực tế của các bác, các chú trong hàng ngũ của đảng đã thức thời kể lại trên hệ thống Internet toàn cầu, cùng các tài liệu bí mật đã được các nhà nghiên cứu lịch sử tìm thấy, khiến cho chúng tôi tự cảm thấy đang bị lừa trong một nền giáo dục chỉ biết tuyên truyền theo hướng có lợi cho ĐCSVN, mà ngay chính chủ nghĩa xã hội của nó đã bị cộng đồng thế giới phế bỏ từ lâu. Sở dĩ chúng tôi dám khẳng định như thế là bởi vì trong thực tế CNXH chỉ còn tồn tại ở một vài nước trên thế giới trong đó có VN, nhưng nó chỉ tồn tại về mặt độc quyền chính trị, còn về mặt kinh tế thì đang nhờ vào sự giúp đỡ của các nước phát triển dân chủ đa nguyên.

Đường lối giáo dục của VN do đảng lãnh đạo đã đưa môn triết học Marx-Lênin vào chương trình học, bắt buộc chúng tôi cũng như toàn thể sinh viên, học sinh trong nước phải tin tưởng vào những điều không tưởng xa rời thực tế, phải học những điều vô bổ để đối phó tình thế, mà ngay chính thầy cô dạy chúng tôi cũng đều công nhận như thế. Đây là một điều tai hại cho thế hệ tuổi trẻ VN và tương lai của đất nước. Chúng tôi xin dẫn chứng ra đây một vài sự thật, hy vọng sẽ thức tỉnh được phần nào lương tâm của những người có thiên kiến hẹp hòi chỉ biết đặt quyền lợi riêng cá nhân và của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc.

Cũng vì mục đích độc tôn quyền hành chính trị cho nên ĐCSVN mới tạo ra cuộc cải cách ruộng đất ở miền bắc và thanh trừng các nhà trí thức trong nhân văn giai phẩm vào những năm 1954-1957 để đảng khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa của VN phải tuyệt đối theo hệ thống XHCN và chỉ có CNXH mà thôi. Hai bài thơ nổi tiếng "đời đời nhớ ông" để tôn vinh Lênin và bài thơ cổ súy cho cải cách ruộng đất của ông Tố Hữu đã nói lên điều đó mà bất cứ ai có dịp đọc qua cũng cảm thấy rùng mình. Những bài học sặc mùi hận thù Mỹ dành cho học sinh mầm non và tiểu học thời bao cấp, cho đến những nhân vật anh hùng kiểu Lê văn Tám và vô vàn những câu chuyện gương mẫu về cuộc đời thần thánh của bác Hồ mà Đảng đã nặn ra để bắt buộc học sinh phải thấm nhuần trong đầu óc. Môn học GDCD lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 có bài đọc thêm "tinh hoa dân tộc VN góp phần vào tinh hoa của thế giới" khẳng định tổ chức Unesco của LHQ đã ra quyết định công nhận chủ tịch HCM là danh nhân thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh chủ tịch HCM (năm 1990). Nhưng sau khi đối chiếu các thông tin có được trên internet thì mới biết được sự thật phủ phàng:

- Anh hùng Lê Văn Tám không có thật mà được đảng tự đặt ra để phục vụ cho mưu đồ chính trị (điều này đã được sử gia Trần huy Liệu xác nhận trước khi chết).
- Cuộc đời thần thánh của chủ tịch HCM như Đảng tuyên truyền cũng không có thật, vì bác Hồ đã có vợ chính thức bên Trung quốc vào năm 1926 là bà Tăng tuyết Minh. Còn tại VN thì bác đã có con với cô Nguyễn thị Xuân vào năm 1957 và đặt tên là Nguyễn tất Trung, hiện nay vẫn còn sống và trở thành tư bản đỏ tại thủ đô Hà Nội. Cái chết mờ ám của Nguyễn thị Xuân là kết quả của một sự đòi hỏi muốn làm một người vợ chính thức với bác (theo tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn hồi ký "Đêm giữa ban ngày", và của ông Nguyễn Minh Cần nguyên Phó chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Hà Nội lúc bấy giờ và hiện nay đang sống bên Nga). Đối với một nhà lãnh đạo cho dù tài ba xuất chúng đến đâu đi nữa, thì chuyện có gia đình, có vợ con là chuyện bình thường. Việc đảng thêu dệt và thần thánh hóa cuộc đời của bác Hồ để phục vụ cho mưu đồ chính trị là không thể chấp nhận bởi vì, nó đã đi ngược lịch sử, đi ngược sự thật. Tác giả Trần Dân Tiên và T-Lan trong các cuốn sách ca ngợi bác cũng do chính bác viết và tự đặt tên. Bác cũng chưa từng được tổ chức Unesco của LHQ công nhận là danh nhân của thế giới, vì buổi lễ tuyên dương bác Hồ là danh nhân thế giới tại Pháp năm 1990 là do tòa đại sứ VN tự tổ chức, tự chi trả không có sự yểm trợ và tham dự của đại diện Unesco LHQ.

Bác Hồ thường nói "các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải phải cùng nhau giữ nước" nhưng đây là câu nói không thật bởi vì chính bác đã đồng ý cho thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay tuy bề ngoài chính quyền VN vẫn tuyên bố về chủ quyền của HS và TS, nhưng công an lại đàn áp bắt giam những ai dám nói lên tiếng nói và biểu tình chống TQ xâm lăng, trong khi cho phép những du khách Trung Quốc biểu tình xác định Hoàng Sa và Trường Sa là của bọn chúng ngay trên đất nước mình?. Tại sao chính quyền lại dập tắt cuộc biểu tình của sinh viên ngày 14/9/2008 là ngày mà tòa đại sứ TQ họp báo tại thủ đô Hà nội để công bố bức công hàm của ông Phạm văn Đồng? Tại sao chính quyền lại không dám đưa việc xâm lăng HS, TS của TQ ra trước HĐBA Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế xét xử? Tại sao đất nước là sở hữu tối thượng của toàn dân mà chính quyền không dám công khai cho nhân dân biết các hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải ký kết với TQ năm 1999 và 2000?

Với những điều xảy ra như vậy, chúng tôi có quyền nghi ngờ lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo ĐCSVN. Sau hơn 60 năm kể từ ngày Đảng lãnh đạo miền Bắc và hơn 30 năm giải phóng miền Nam. Đất nước VN đã thua xa những nước khác trong khu vực mà trước 1975 nền kinh tế của miền Nam VN vẫn được công nhận là con rồng của Đông Nam ChâuÁ. Nhìn qua các nước chung quanh chúng tôi hiểu rằng nếu không có ĐCSVN thìđất nước vẫn giành được độc lập từ tay người Pháp vì đây là xu hướng chung bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho VN cũng như các nước thuộc địa củaPháp trên thế giới. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn nền độc lập của VN sẽ là nền độc lập dân chủ đa nguyên, ngày hôm nay đất nước VN sẽ không phải là một trong những nước nghèo của thế giới, nhân dân VN sẽ không hổ thẹn khi phải hy sinh những đứa con thân yêu đi làm tôi mọi cho các nước tư bản qua hình thức hợp tác lao động và lấy chồng nước ngoài. Tổ quốc VN cũng không phải mất đi hàng triệu đứa con thân yêu qua các cuộc chiến phi lý, cũng sẽ không có chuyện hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi. Đặc biệt Hoàng sa và Trường sa sẽ không bao giờ rơi vào tay của bọn bành trướng TQ.

Nếu không có ĐCSVN thì hàng ngày sẽ không bao giờ có cảnh từng đoàn người dân oan đi khiếu kiện vì đất đai đã bị các cán bộ, đảng viên có quyền thế ngang nhiên chiếm dụng. Nhân tài VN sẽ không đứng ngoài để nhìn những con người kém trí tuệ của đảng tự do tham nhũng nhưng vẫn hô hào là chống tham nhũng, tự do đứng trên luật pháp nhưng vẫn chủ trương sống và làm việc theo pháp luật, tự do ăn chơi và tự do làm giàu bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành những tư bản đỏ của thời đại. Sẽ không có chuyện nhân tài VN bắt buộc phải đem chất xám của mình để phục vụ và làm giàu cho các công ty nước ngoài, sẽ không có những khối lượng chất độc khổng lồ của các công ty, xí nghiệp tự do thải xuống những dòng sông mạch sống của nhân dân trước sự vô cảm của các quan chức chính quyền (điển hình là Cty Vedan trên dòng sông Thị Vãi).

Chúng tôi đã đọc bản tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ chí Minh đã tuyên thệ trước toàn dân miền Bắc ngày 2/9/1945, cũng như bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà VN đã ký kết. Chúng tôi cũng nghiên cứu rất kỹ bản hiến pháp của VN hiện hành trong đó điều 69HP có ghi: công dân có mọi quyền tự do về ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin, báo chí, biểu tình và lập hội". Rồi lời tuyên bố của chủ tịch nước Nguyễn minh Triết tại Mỹ: "bất đồng chính kiến là chuyện bình thường", và của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng: "yêu nhất, thích nhất là trung thực, ghét nhất, giận nhất là giả dối". Nhưng trên thực tế đây là những câu nói giả dối mỵ dân. Việc đàn áp bắt bớ những thành phần bất đồng chính kiến tranh đấu cho một nền dân chủ phù hợp với hiến pháp và ý nguyện của toàn dân, trù dập những người yêu nước chống sự bành trướng của TQ là không thể chấp nhận được.

Chúng tôi đã từng đọc toàn văn các luận cứ của luật sư Lê Công Định trong vụ án chính trị bào chữa cho anh thư LS Lê thị Công-Nhân và LS Nguyễn văn Đài; Luận cứ của LS Lê Trần Luật bào chữa cho nhà dân chủ Trần Minh Đức, Phạm Bá Hải và dân oan cũng là thành viên khối 8406 Lương Văn Sinh. Riêng vụ xử anh Nguyễn Hoàng Hải (blogger Điếu Cầy) tội trốn thuế (một tội danh không có thật) được chính quyền bịa đặt dựng lên nhằm mục đích bỏ tù anh, để anh không còn cơ hội thực hiện lòng yêu nước của mình trước sự xâm lăng của Trung quốc. Chúng tôi cũng biết đầy đủ về việc công an đã dùng luật rừng để bắt chị Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, SV Tiến Nam, SV Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, chị Lê thị Kim Thu và một số nhà dân chủ khác. Thật đúng như lời bà Ngô bá Thành (cựu chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội) nói "VN có cả một rừng luật, nhưng toàn là luật … rừng".

Việc chính quyền Hà nội đơn phương giải tỏa 2 khu đất tòa Khâm sứ cũ và Linh địa Thái Hà vào ban đêm trong khi sự việc đang trong vòng tranh cải, cũng như cố tình cắt xén bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt để tìm cách vu khống bài phát biểu đầy tinh thần dân tộc của ngài. Việc nhà nước huy động tất cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí để bôi xấu TGM Kiệt và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa, là hành động bỉ ổi. Việc làm này chứng tỏ tầm hiểu biết của các nhà lãnh đạo ĐCSVN là dưới mức trung bình. Còn nhớ vào tháng 9/2007 khi HT Thích Quảng Độ cứu trợ và phát biểu trước hàng ngàn dân oan khiếu kiện tại VP2QH tại Sài gòn, lúc đó cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí độc diễn hạ nhục HT Quảng Độ cũng giống như TGM Kiệt bây giờ. Hình như tội vu khống trong bộ luật hình sự chỉ dành cho người dân, còn những con người có chức quyền thì cứ tự do vu khống. Chính quyền Hà Nội lại còn gởi bản đề nghị cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỷ luật và thuyên chuyển TGM Kiệt. Khi HĐGMVN từ chối vì TGM Kiệt không sai phạm giáo luật thì ngày 15/10/2008 ông Nguyễn thế Thảo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội công khaiphát biểu trước đại diện ngoại giao các nước tại Hà Nội rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển cho bằng được TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội. Thật tình, tuổi trẻ chúng tôi không biết phải nghĩ sao cho phù hợp với chính quyền này?, phải chi chính quyền CSVN biết được cái nhục mất đất, mất hải đảo và mất biển qua công hàm của ông Phạm văn Đồng, qua các hiệp định biên giới và vùng biển năm 1999 và 2000 mà VN đã nhường cho TQ thì hay biết mấy. Bây giờ bằng tất cả chân tình chúng tôi xin bày tỏ: 1/- Xin đồng bào VN hải ngoại, xin quý vị xuất gia tu hành trong các tôn giáo có tư tưởng về nguồn ở hải ngoại (nhất là Phật giáo). Kính mong quý vị nên suy nghĩ kỹ hành động của mình để khỏi bị lừa bởi các chính sách mà chính quyền VN đang nhắm vào quý vị một cách rất tinh vi, họ đã dùng những cụm từ: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dậm" không thể tách rời, hoặc các đặc tình tôn giáo là để mê hoặc quý vị nhằm cũng cố cho địa vị độc tôn của họ và moi tiền của quý vị mà thôi, cũng như họ thường xuyên dùng các hiệp ước, hiệp định thương mại và kinh tế để moi tiền cộng đồng quốc tế.

Nhân dân VN rất cám ơn các vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội Hoa kỳ cũng như các Ủy ban nhân quyền trên thế giới đã nhìn hiện tình của VN một cách đúng đắn và có những hành động kịp thời bênh vực cho lẽ phải. Chúng tôi cũng rất bất bình trước sự hiểu biết không đúng sự thật của Quốc hội Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ và các viên chức cấp cao BNG trong chính quyền của tổng thống Bush khi công nhận VN có tiến bộ về chính trị và tôn giáo để đưa VN ra khỏi danh sách "Các nuớc cần quan tâm" (CPC). Nước Mỹ sở dĩ được như ngày hôm nay là cũng nhờ có sự cống hiến của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, trong đó có cộng đồng người VN tỵ nạn cộng sãn mà điển hình có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nữ anh hùng phi công Elizabeth Phạm…v.v….

Nhưng chắc có lẽ cũng vì quyền lợi kinh tế riêng do chính quyền CSVN dành cho Hoa Kỳ, khiến cho TT Bush đã không thực hiện đúng như những gì ông đã nói: "Hoa Kỳ luôn luôn đứng bên cạnh những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trên thế giới". Chúng tôi cũng rất mong sự lên tiếng của các nhân tài VN làm việc trong đất nước Hoa Kỳ và các nước khác, giúp họ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn cho hiện tình đất nước VN. Chúng tôi cũng xin các đoàn thể đấu tranh hải ngoại hãy dẹp bỏ những thiên kiến tỵ hiềm để cùng nhau hướng về đại cuộc, nhất là đừng nghi ngờ quá đáng đối với các nhà đấu tranh dân chủ trong nước mà trước đây các bác, các chú này là những đảng viên, những cán bộ cao cấp của ĐCSVN, vì chính những người này mới là những chứng nhân thực tế không thể thiếu trên con đường tranh đấu cho lẽ phải mà toàn dân đang mong đợi, cũng như cho sự phán xét của lịch sử sau này.

Tục ngử VN có câu: "một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao". 2/- Chúng tôi xin có đôi lời gởi tới các anh các chú trong lực lượng công an và quân đội, đồng lương của quý vị là tiền thuế của nhân dân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành cho người dân, bổn phận của quý vị là TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN (đây là lời nói của chủ tịch Hồ chí Minh khi còn sống). Nhưng nếu bây giờ mà quý vị chỉ phục vụ duy nhất cho đường lối của đảng là quý vị đã không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình đối với tổ quốc và nhân dân. Trong vai trò làm ruộng người nông dân có toàn quyền tự do chọn lựa phương cách canh tác riêng, sau thu hoạch nếu anh nông dân nào có kỹ thuật canh tác tốt để có thu hoạch cao thì sẽ được mọi người học hỏi và tuyên dương, anh nông dân đó không cần phải dùng quyền lực bắt buộc người khác phải theo mình. Trong một xã hội và đất nước cũng thế, ĐCSVN không thể bắt mọi người dân phải tuân phục theo mọi đường lối cai trị của đảng, kể cả việc dâng 2 quần đảo HS và TS và những nhượng bộ đất đai, bờ biển cho TQ qua hiệp định biên giới năm 1999 và hải phận năm 2000. Những lời phát biểu của ông Lê Dũng (phát ngôn viên BNG VN) về chủ quyền HS và TS cũng như ông Lê công Phụng (đại sứ VN tại Mỹ) về ranh giới đó chỉ là những lời nói suông nhằm để xoa dịu sự công phẩn của nhân dân mà thôi. ĐCSVN cũng không thể tự mình đứng trên luật pháp khi tự do dùng các cơ quan truyền thông và báo chí để hạ nhục, vu cáo và chửi bới người dân không cùng quan điểm với đảng khi chưa có phán quyết cùa tòa án. Nếu thực sự ĐCSVN được nhân dân đồng tình ủng hộ thì tại sao không chấp nhận thành phần đối lập.

Nếu ĐCSVN tự nhận mình là một chính quyền tôn trọng luật pháp thì tại sao không thực thi đúng điều 69HP do đảng đề ra: nghĩa là người dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền lập hội, có quyền ra báo chí tư nhân, có quyền tự do biểu tình theo luật định, có quyền tự do ứng cử không qua sự lựa chọn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đảng, có quyền tự do bầu bất cứ người nào mà dân thích chớ không phải chỉ bầu trong danh sách đã được đảng chọn lựa như hiện nay. Còn biết bao nhiêu những vấn đề tồi tệ khác do đảng gây ra cho đất nước và nhân dân.

Trong quá khứ và hiện tại Đảng lãnh đạo đất nước đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chẳng lẽ lực lượng quân đội và công an các anh, các chú lại trung thành với sự sai lầm triền miên của đảng hoài hay sao?. Một sự thật hiển nhiên là hầu hết những nước tiến bộ phồn vinh trên thế giới không lấy CNXH làm cứu cánh duy nhất như VN. Là thành phần trẻ tha thiết với với quê hương đất nước và qua thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các phong trào và các nhà đấu tranh dân chủ không bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN, họ chỉ muốn đảng lãnh đạo đất nước phải thay đổi tư duy theo trào lưu tiến bộ của thế giới, như những gì mà đảng thường tuyên bố và cam kết với LHQ và cộng đồng quốc tế cũng như với nhân dân.

Trong nền dân chủ đa nguyên, nếu ĐCSVN là chính nghĩa thì vẫn được nhân dân ủng hộ qua cuộc bầu cử tự do và công bằng chớ không cần thiết phải dùng lực lượng công an khống chế, đàn áp như hiện nay. Chúng tôi mạnh dạng viết lên những dòng chữ này vì sự hiểu biết về luật pháp mà chúng tôi đã học và lịch sử mà chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi cũng tin rằng vì cuộc sống và địa vị cá nhân, vì miếng cơm manh áo cho nên các anh, các chú công an phải tuân hành theo mệnh lệnh của đảng để thẳng tay đàn áp các thành phần bất đồng chánh kiến với đảng dù biết rằng những việc làm đó là không đúng, nhất là thầy Nguyễn Tử Quảng, một tác nhân nguy hiểm cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì tương lai của đất nước sẽ ra sao?. Sự thật bao giờ cũng là sự thật, lịch sử sau này sẽ không tha thứ cho sự vô trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhìn ra các nước cùng khu vực để suy nghĩ cho chính đất nước của mình: Singapore độc lập năm 1963 ngày nay kinh tế và chỉ số GDP hơn VN 197 lần. Nhật bản không còn gì sau đệ nhị thế chiến ngày nay là cường quốc kinh tế của thế giới. Đảo quốc nhỏ Đài Loan vượt xa anh khổng lồ hung hăng TQ, sự phồn vinh của Nam Hàn trước sự nghèo đói của Bắc Hàn, và Đông đức cuối cùng rồi cũng phải thống nhất với Tây đức. Ngay cả sự bất ổn chính trị của Thái lan bên cạnh chúng ta trong thời gian qua, quân đội chỉ phục vụ đất nước chớ không bảo vệ một cá nhân hoặc đảng phái nào dù đang cầm quyền đã đứng ngoài cuộc và cuối cùng phần thắng vẫn nghiêng về nhân dân. Kinh tế và cuộc sống của người dân Thái lan vẫn hơn VN hàng chục lần.

Đại hội ĐCS Nhật năm 2005 (có sự tham dự của ông Phan Diễn, đại diện ĐCSVN) đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Cựu TBT Gorbachev Liên sô trong lần phát biều tại trường đại học Columbia: "Tôi đã bỏ hơn nữa đời người để chiến đấu cho lý tưởng CS. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết tuyên truyền và nói láo". Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt VN khi về hưu có nói rằng "Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu CNXH, nhưng nay nghĩ lại tôi thấy rằng yêu nước cũng còn có nhiều đường". Thiết tưởng đây là những bằng chứng cho những ai còn có tư tưởng coi CNCS là con đường phát triển duy nhất cho VN, cần phải suy nghĩ lại.

Đất nước VN không bao giờ thiếu người tài đức, một cộng đồng dân tộc đa nguyên trong một khối đoàn kết quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp. Chúng tôi tin tưởng đó không phải là hy vọng riêng của chúng tôi mà còn là niềm hy vọng chung cho tất cả toàn dân Việt Nam. Chúng tôi rất tâm đắc khi trong kỳ họp QH vừa qua đã có những đại biểu mạnh dạn nói lên những hiện tình tồi tệ và đau thương của đất nước và cuộc sống của nhân dân trước các nhà lãnh đạo của các bộ ngành trong chính quyền. Mặc dù sự lên tiếng này chưa mạnh mẽ lắm, nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. Chúng tôi rất đau buồn khi vì sự độc tài, độc đoán mà các nhà lãnh đạo VN đã gây ra quốc nạn tham nhũng vô phương cứu chữa khiến cho Nhật bản (quốc gia viện trợ ODA lớn nhất) phải tuyên bố ngưng viện trợ cho VN. Chúng tôi cũng rất đau buồn khi hầu hết các nước viện trợ cho VN đều than phiền về hiệu quả chống tham nhũng của chính quyền trước cộng đồng quốc tế. Món nợ mà chính quyền VN hiện nay đang vay mượn của các ngân hàng trên thế giới, nhân dân phải trả đến bao giờ mới hết.

Là người VN chúng ta có đau buồn không khi Hoàng sa cùng các hòn đảo chiến lược của Trường sa, Ải nam quan, thác Bản giốc và hàng chục ngàn km2 đường biển, những phần đất thiêng liêng của đất nước đang bị TQ chiếm giữ trước sự đồng tình của một chính quyền luôn tự hào là vì dân vì nước?, và chúng ta sẽ nghĩ sao khi tất cả những người lên tiếng chống lại sự xâm lăng của TQ đều bị chính quyền thẳng tay đàn áp hoặc bỏ tù? Chúng ta có cảm thấy xấu hổ không khi TQ đã ngang nhiên không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Exxon Mobil của Mỹ hoạt động trên vùng biển của ta theo hợp đồng mà VN đã ký kết. Trong khi đó các nhà lãnh đạo VN chẳng những không phản đối mà ngược lại còn đồng ý cho TQ khai thác dầu hỏa trên biển Đông trong vùng biển của ta, và luôn miệng nói lúc nào cũng trung thành với "16 chữ vang" và 4 tốt đối với TQ.

Ngày 8/12/2008 vừa qua chính quyền đã dựng lên phiên tòa để xử 8 giáo dân Thái Hà về tội hủy hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Các giáo dân này đã "can tội" dẹp bỏ một bức tường do công ty may Chiến Thắng xây trái phép trên phần đất của nhà thờ giáo xứ Thái Hà. Phiên tòa tuy được thông báo là xử công khai nhưng chỉ những người có giấy mời mới được vào và phòng xử là ở lầu 4, trong khi bên ngoài thì có hàng trăm cảnh sát cơ động và công an được trang bị súng ống đầy đủ phong tỏa các ngã đường. Với luận cứ bào chữa sắc bén của LS Lê Trần Luật, cuối cùng công lý đã chiến thắng với bản án tù treo cao nhất là 17 tháng. Còn nhiều và còn nhiều lắm,... không thể dùng giấy mực viết hết ra đây được. Chỉ mong rằng tuổi trẻ và những ai còn chút tình với quê hương và đất nước phải làm sao để khỏi hổ thẹn với truyền thống hào hùng của dân tộc. Viết vào những ngày đầu năm Tân Sửu 2009 Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com) --

Nguyễn Kế Vũ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Diễn biến hòa bình toàn diện

Ngô Nhân Dụng

Tuần trước mục này giới thiệu lá thư của nhà thơ Bùi Minh Quốc tố cáo một âm mưu “diễn biến hòa bình” của Bắc Kinh, muốn dùng mối quan hệ “đồng chí anh em” giữa hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam để gây ảnh hưởng trên chính sách quốc gia của nước Việt Nam. Họ đã xâm nhập để gây ảnh hưởng và điều khiển các lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội làm theo ý muốn của các đồng chí Bắc Kinh. Khi viết bài trên, ký giả nghĩ rằng tất cả mọi người đọc đều quen biết với bốn chữ “diễn biến hòa bình.”

Nhầm to. Một độc giả Người Việt đã viết thư yêu cầu giải thích “diễn biến hòa bình nghĩa là gì?”

Mấy chữ “diễn biến hòa bình” được đảng Cộng Sản Trung Hoa dùng, sau cộng sản Việt Nam cũng bắt chước. Họ chống lại cuộc vận động thay thế chế độ cộng sản bằng một chế độ tự do dân chủ. Họ báo động các đảng viên rằng những người chủ trương dân chủ hóa không dùng vũ lực để lật đổ chế độ độc tài mà dùng những phương pháp ôn hòa, cũng có tác dụng nguy hiểm cho chế độ. Họ đặt tên đường lối ôn hòa này là “diễn biến hòa bình.” Một thí dụ của “diễn biến hòa bình” là những cuộc vận động của giới trí thức và lao động tại Ðông Âu trong thập niên 1980, đưa tới sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại đó vào năm 1989. Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam rất sợ nhân dân hai nước sẽ thức tỉnh về quyền công dân và quyền làm người của họ, các lực lượng tranh đấu ở trong nước và từ bên ngoài sẽ vận động dần dần làm chế độ cộng sản sụp đổ. Cho nên họ luôn luôn báo động, đề cao cảnh giác về “diễn biến hòa bình.”

Thi sĩ Bùi Minh Quốc đã dùng gậy ông đập lưng ông. Nhà thơ đưa ra những bằng chứng cho thấy Cộng Sản Trung Quốc là tổ sư nghề “diễn biến hòa bình.” Họ đã dùng thủ đoạn diễn biến hòa bình đối với nước Việt Nam chúng ta ngay từ năm 1950 khi những cán bộ Trung Cộng đầu tiên sang Việt Nam làm cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nhà thơ báo động các đảng viên cộng sản Việt Nam phải ý thức về âm mưu đó và đứng lên cùng nhau ngăn ngừa. Bùi Minh Quốc đã đưa ra rất nhiều biện pháp cụ thể để chặn đứng âm mưu diễn biến hòa bình của Trung Quốc. Thí dụ, cần cho các học sinh ở khắp nước ta từ cấp tiểu học phải học lịch sử Việt Nam đúng với sự thật, học cho biết các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đất đai của tổ tiên không thể nào nhường cho ai được.

Lá thư của Bùi Minh Quốc được đưa ra vào lúc chính quyền cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị ký kết việc cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc. Trong một bài trước, mục này đã nêu các lý do không nên làm việc đó. Vì còn rất nhiều điểm tranh chấp ở biên giới chưa được giải quyết đúng lợi ích của dân tộc Việt Nam. Trên thế giới lúc nào cũng có hàng ngàn những bất đồng ý kiến về biên giới, giữa Ðại Hàn với Nhật, giữa Nhật Bản với Nga, giữa Mỹ và Canada, Canada và Ðan Mạch, vân vân. Người ta thà giữ nguyên tình trạng tranh chấp như vậy, không giải quyết nếu quyền lợi quốc gia chưa được bảo vệ đầy đủ. Không ai vội vàng ký kết cho xong chuyện, ký rồi không rút lại được nữa, di hại cho con cháu muôn đời!

Việt Nam đang ở thế yếu; ký kết bất cái gì về biên giới Việt Trung bây giờ cũng là chịu “nhường nhịn” và mắc vào bẫy của Trung Quốc; không khác gì ông Phạm Văn Ðồng ngày xưa viết thư công nhận chủ trương của Trung Quốc về hải phận. Một lá thư ngoại giao chiều theo ý đảng cộng sản đàn anh thôi, thế là mất luôn những quần đảo với tài nguyên vô giá mà tổ tiên để lại.

Lá thư của Bùi Minh Quốc sẽ khích động các đảng viên cộng sản phải đòi ban lãnh đạo đảng của họ thoát ra khỏi âm mưu diễn biến hòa bình của giới lãnh đạo Bắc Kinh, âm mưu “chiếm nước Việt Nam bằng cách trước hết chiếm lấy đảng Cộng Sản Việt Nam.” Bùi Minh Quốc đưa ra lá thư này đúng lúc. Vì âm mưu diễn biến hòa bình của các đồng chí Trung Quốc đang tiến tới bằng tốc độ rất nhanh và lan ra rất rộng!

Hai tuần trước đây, ông Vũ Dũng, thứ trưởng ngoại giao ở Hà Nội đã bênh vực đảng của ông trong việc cắm mốc biên giới họ đã làm với các đồng chí Trung Quốc. Vũ Dũng nói, “không thể có chuyện cắt đất” Việt Nam nhường cho Trung Quốc. Một bản tin truyền qua các mạng lưới trong tuần qua đã vạch rõ những lời giải thích của ông Vũ Dũng là sai, nếu không nói là cố tình man trá.

Thí dụ, ông Vũ Dũng giải thích ra sao về hiện tượng cái cửa ải tên là Ải Nam Quan lại không nằm trên đường biên giới hai nước mà nằm lọt thỏm vào bên trong địa phận nước Tầu? Ông ta vin vào các sử liệu của nước ta, nói rằng theo Ðại Nam Nhất Thống Chí thì cái cửa ải gọi tên là Trấn Nam Quan được xây dựng từ thời nhà Minh, sau đó nhà Thanh tu bổ lại vào năm 1726. Cả câu này không hề nói cái cửa đó do người Tầu tu bổ cho nên nó phải nằm bên kia biên giới hàng trăm mét như cộng sản Việt Nam bây giờ đang chấp nhận! Cộng Sản Việt Nam coi cái ải đó là thuộc hẳn vào nước Tầu chứ không phải nằm giữa hai nước nữa.

Ông Vũ Dũng còn viện dẫn một “dấu tích lịch sử quan trọng” là “Mốc 19” do chính quyền Pháp và nhà Thanh bên Trung Hoa lập ra năm 1894. Ông nói. “Vừa qua Ta và Trung Quốc đã tiến hành cắm mốc 1117 trùng với vị trí mốc 19 cũ.” Do đó, Vũ Dũng nói đúng chỗ đó là biên giới, mặc dù nó thụt về phía Nam sau cửa ải Nam Quan.

Nhưng cuốn sách “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” lại nói khác. Sách này do nhà xuất bản Sự Thật in Tháng Ba năm 1979 ở Hà Nội, sau ngày 17 tháng 2 là ngày quân đội Trung Quốc tấn công sang Việt Nam. Ở trang 10 sách này viết rằng tại khu Ải Nam Quan “Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách Ải Nam Quan 100 mét trên đường quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử (theo hiệp định Pháp Thanh), rồi đặt cột km 0 (cây số zero) đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là đường biên giới giữa hai nước ở khu vực này.” Cuốn sách kết luận là trong vùng đó Trung Quốc đã lấn chiếm một khu vực đất của Việt Nam dài 3,100 mét và rộng 500 mét!

Như vậy tức là trước đây Cộng Sản Việt Nam tố cáo Trung Quốc lấn vào lãnh thổ Việt Nam; bây giờ họ lại công nhận việc chiếm đóng đó. Tại sao có sự thay đổi lập trường như vậy? Cái ấy gọi là “diễn biến hòa bình!”

Về tình trạng phải cắt hơn một nửa khu thác Bản Giốc cho Trung Quốc, ông Vũ Dũng quả quyết là việc chia thác Bản Giốc làm hai phần là đúng hiệp ước giữa hai nước từ năm 1999. Nhưng cuốn sách “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” lại viết rằng, “Tại khu vực mốc 3 Xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam, chính quyền Bắc Kinh đã công nhân sự thật đó.” Nghĩa là hồi xưa đảng Cộng Sản Trung Quốc công nhận cả cái thác Bản Giốc là thuộc Việt Nam. Bây giờ thì Cộng Sản Việt Nam lại đồng ý chia đôi, bên lớn bên nhỏ! Tại sao lại thay đổi lập trường như vậy? Cái ấy cũng gọi là “diễn biến hòa bình!”

Cuốn “Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” tố cáo rất nhiều thủ đoạn của các đồng chí Trung Quốc trong âm mưu lấn, chiếm, cướp đất của Việt Nam. Thí dụ, khi xây dựng đường ở Hữu Nghị Quan (tức Ải Nam Quan) Trung Quốc đã đặt “điểm nối ray” đường sắt vào sâu phía trong biên giới nước ta hàng 300 mét, rồi bảo điểm nối đó là biên giới giữa hai nước. Về thác Bản Giốc cuốn sách Vấn đề Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc cho biết ngày 20 tháng 2 năm 1976, Trung Quốc đã cho 2,000 người, cả lực lượng vũ trang vây một vùng rồi cấp tốc xây dựng một cái đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt, sau đó bảo đó là thuộc lãnh thổ Trung Quốc, cả hòn đảo nhỏ Pò Thoong, trước là của Việt Nam, sau cũng thành của Trung Quốc! Một thủ đoạn khác của Trung Quốc là mượn đường đi qua đất Việt Nam để nối liền hai vùng đất Trung Quốc, sau đó chiếm luôn cả vùng chung quanh con đường, làm đất Trung Quốc luôn!

Cuốn sách trên cũng tố cáo Trung Quốc lợi dụng được cộng sản Việt Nam nhờ vẽ bản đồ tỷ lệ 1/100,000 mà cố ý vẽ sai, biến nhiều vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc! Hồi 1955 chính quyền Hồ Chí Minh đã nhờ Bắc Kinh làm công việc này, không khác gì mở cửa cho kẻ trộm vào nhà mình xem xét đường đi nước bước, từ trên xuống dưới! Tinh thần nô lệ Trung Quốc đó còn di hại cho tới bây giờ! Tất nhiên, trong cuốn sách trên Việt Cộng còn tố cáo Trung Cộng đã dùng vũ lực chiếm nhiều vùng đất của nước ta.

Nhưng tất cả những hành động trên đều là dùng sức mạnh bắt ép, không phải là những “diễn biến hòa bình” thứ thiệt! Bây giờ các đồng chí Bắc Kinh biết dùng những diễn biến êm ái hòa bình hơn: Họ kết thân, giúp đỡ và ràng buộc các lãnh tụ cao nhất trong cộng sản Việt Nam! Họ gây ảnh hưởng trên chóp bu của đảng Cộng Sản, vì biết nắm được chỗ đó là xong hết! Họ đã thành công. Một độc giả gửi thư cho Người Việt, ký tên là Phạm Công Bình, địa chỉ Quận Ba Ðình Hà Nội, đã mô tả ông Tô Huy Rứa, người mới được vào Bộ Chính Trị, là một người “nếu gặp lãnh đạo Trung Quốc thì ông mặt thường tái xanh giọng nói ấp úng.” Vì ông ta là tay chân của Nông Ðức Mạnh, mà Nông Ðức Mạnh thì đã hoàn toàn “nhất trí” với các đồng chí Trung Quốc! Cho nên ông ta còn có tên là Nông Cũng Rứa!

Với những “diễn biến hòa bình” của Trung Quốc thành công, các hành động như “nhường nhịn” mấy trăm thước đất biên giới chưa nguy hiểm cho tương lai dân tộc Việt Nam bằng những vụ “nhường nhịn toàn diện” khác. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã bán cả quyền khai thác đất nước Việt Nam cho các đồng chí phương Bắc.

Tạp chí Dân Chủ và Phát Triển mới chuyển đi một lá thư của ông Võ Nguyên Giáp, gửi cho ông Nguyễn Tấn Dũng, khuyên ông này ngưng ngay không cho các công ty Trung Quốc khai thác sản xuất chất bô xít ở cao nguyên miền Tây, một chất cần thiết trong việc chế tạo nhôm.

Trong lá thư dài 2 trang, Võ Nguyễn Giáp nhắc lại rằng đầu những năm 1980 cộng sản Việt Nam cùng Nga và các nước khối COMECON (hợp tác kinh tế giữa các nước cộng sản Âu châu và Nga) đã khảo sát việc khai thác chất bô xít ở Tây Nguyên. Chính ông Giáp được trao nhiệm vụ chỉ đạo chương trình này. Kết quả là “các chuyên gia Liên Xô và khối COMECON đã khuyến nghị chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư vùng đồng bằng Nam Trung Bộ.” Do những lời khuyến cáo đó, kế hoạch bô xít hồi 1980 đã bị ngưng.

Bây giờ thì chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cứ tiến hành việc trao cho các công ty Trung Quốc thực hiện việc khai thác bô-xít! Họ bất chấp những nguy hiểm cho môi trường sống của người Việt ở cao nguyên và miền Nam Trung Việt; mặc dù từ Tháng Mười Một năm 2008 nhiều nhà khoa học Việt Nam đã lên tiếng cảnh cáo và yêu cầu phải xét lại. Trung Quốc đã nổi tiếng thế giới về tài làm ô nhiễm môi trường sống ở ngay nước họ. Và đạo quân gây ô nhiễm đó đang lừng lững tiến vào đất nước ta, như ông Võ Nguyễn Giáp báo động: “Trong tháng 12 - 2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc có mặt trên công trường, và dự kiến cao điểm sẽ lên tới hàng nghìn tại một dự án.”

Tại sao các chuyên gia Nga bác bỏ dự án khai thác bô xít ở Cao Nguyên miền Tây trước đây hơn 20 năm, mà bây giờ nhóm Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng lại chấp thuận dự án 20 tỷ đô la của các đồng chí Trung Quốc? Cái ấy phải do một thứ “diễn biến hòa bình!”

Năm ngoái Nông Ðức Mạnh đã sang Trung Quốc cam kết với lãnh tụ Cộng Sản Trung Hoa Hồ Cẩm Ðào là hai nước “hợp tác chiến lược toàn diện.” Toàn diện tức là không phải chỉ hợp tác trong việc cắm mốc biên giới mà thôi, mà còn hợp tác trong tất cả những mặt khác. Thí dụ, khai tác tài nguyên thiên nhiên của nước Việt Nam! Cái ấy là một thứ “diễn biến hòa bình toàn diện!”
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

NHÌN VỀ NƯỚC MỸ DÂN CHỦ HÔM NAY
TÔI CÓ MỘT CÂU HỎI VÀ MỘT GIẤC MƠ



Giấc mơ Mỹ

Hôm nay, ngày 20 tháng 01 năm 2009! Không chỉ nước Mỹ... mà hàng triệu triệu con tim những người yêu chuộng hoà bình tự do trên thế giới đều hướng về nước Mỹ, hướng về thủ đô Washington DC để cùng nhau chứng kiến một sự kiện trọng đại. Đó là sự kiện một người Mỹ da màu bước lên đài vinh quang, long trọng đặt tay lên quyển hiến pháp Hoa Kỳ, tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 hợp chủng quốc Hoa Kỳ vĩ đại.

"Nếu có ai đó vẫn đôi chút hoài nghi, không tin nước Mỹ là xứ sở của những điều không thể, không tin giấc mơ của lớp cha anh lập quốc vẫn tồn tại trong nước Mỹ thời nay, hay vẫn nghi ngờ về sức mạnh của nền dân chủ Mỹ, thì câu trả lời dành cho quý vị chính là đêm nay"

Đó là câu mở đầu cho bài diễn văn mừng chiến thắng đầy xúc động của vị tân tổng thống Barack Obama trong mùa bầu cử vừa qua. Phải!Sức mạnh dân chủ Mỹ là nền tảng cho những điều không thể để trở thành những điều có thể mà bất cứ ai còn nghi ngờ về sức mạnh vô địch của nhân dân.

Chính nhân dân, chính nền dân chủ đã sáng suốt lựa chọn Obama vào vị trí xứng đáng.

Chính nhân dân đã biến mơ ước của bất kỳ ai trở thành hiện thực. Không ai có thể tưởng tượng được rằng. Chỉ cách đây chưa đầy hai năm thôi…Mấy ai có thể nghĩ rằng một người Mỹ gốc Phi không phải là tầng lớp vinh gia thế phiệt, không có cội nguồn gốc gác oanh liệt như những dòng họ truyền thống của nước Mỹ lại có thể giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống nước Mỹ.

Chúng ta hãy đọc đoạn trích sau đây. "Trong cuộc đua trường kỳ và khó khăn như thế này, chỉ riêng sự thành công của Thượng nghị sỹ Obama đã khiến tôi cảm thấy kính trọng năng lực và sự bền chí của ông. Việc ông truyền cảm hứng và niềm hy vọng cho hàng triệu người Mỹ, những người đã từng tưởng là mình không có mấy vai trò trong việc bầu chọn tổng thống Mỹ, càng khiến tôi ngưỡng mộ và trân trọng ông". Ông quả xứng đáng với lời ca ngợi trên của thượng nghị sĩ John McCain. Chỉ với hơn một năm với một nỗ lực phi thường, ông đã chinh phục được cử tri Mỹ đa phần là người da trắng một cách thuyết phục nhất.

Hôm nay, Nhân sự kiện trong đại này. Nhìn vào nước Mỹ, chúng ta không khỏi không đặt câu hỏi là tại sao nước Mỹ lại hùng cường đến vậy? Điều gì đã tạo lên một quốc gia trong đó có tất các các chủng tộc, sắc tộc trên thế giới lại có thể đoàn kết lại, lại có thể nắm tay nhau để tạo lên một sức mạnh dân tộc vĩ đại như vậy?

Tại sao với chỉ hơn 230 năm lập quốc, mà nước Mỹ lại có những bước tiến lịch sử khổng lồ... Một nước Mỹ trong mơ !!! Mà trong khi đó, đối một số dân tộc lâu đời trên thế giới lại không thể có đựoc, chỉ là niềm mơ ước??Vậy bí quyết đó nằm ở đâu

Xin thưa! Đó chính là sức mạnh dân chủ. Sức mạnh cuả sự vô địch do quyền lực nhân dân tạo dựng lên. Chúng ta đều khẳng định, nhân tố làm nên lịch sử chính là nhân dân. Nhưng để tạo lên sức mạnh vô dịch của nền dân chủ, chúng ta không quên những cá nhân, những nhân tố đã tạo dầy công tạo dựng nên nền tảng cho cây dân chủ nẩy mầm đơm hoa kết trái. Sự tác động tích cực của các cá nhân tiêu biểu đã góp phần làm nên lịch sử. Họ chính là hạt nhân của một cao trào cách mạng. hướng quần chúng nhân dân đi theo những giá trị tư tưởng dân chủ bền vững

Theo tôi, yếu tố những CON NGƯỜI. xuất chúng chính là bí quyết quan trọng nhất cho sự thành công của nước Mỹ. Những con người tiêu biểu, ưu tú đã biết vận dụng và có những bước đột phá để phát huy khả năng của con người, để tạo nên sức mạnh của cộng đồng và tạo lên một xã hội lý tưởng nhất

Nếu không có tư tưởng khai sáng và những nhà lập quốc, những nhà tư tưởng Hoa Kỳ đã mở ra chiến dịch vận động bang Niw york chấp nhận tham gia vào hiệp ước liên bang để tạo dựng lên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hôm nay, thì nước Mỹ sẽ ra sao?

Phải! Chính những nhân tố cá nhân, những yếu nhân của lịch sử Hoa Kỳ, những nhà lập quốc, những vị tổng thống Hoa Kỳ, kế tiếp nhau làm nên một phần của lịch sử hoa Kỳ. Họ chính là những người nắm giữ chiếc chìa khoá để mở ra cánh cửa của tự do, của công bằng, bình đẳng và bác ái. Họ chính là những người biết tao lên sức mạnh của một dân tộc.

Nước Mỹ biết ơn họ, nhân loại biết ơn họ. Biết ơn một G. Woshington, người đi tiên phong trong viêc gieo cây mầm dân chủ cho nước Mỹ sau này. Biết ơn một T.M Jeffeson đã soạn lên bản tuyên ngôn bất hủ đã xác tín quyền làm người, quyền con người mà bấy lâu nay nhân loại hằng khao khát và đổ không biết bao nhiêu máu xương để đi tìm ra cái chân lý đó.

Không biết ơn sao được bởi nó là cuốn cầm nang là điểm tựa, nền tảng cho hàng loạt các văn kiện của mọi quốc gia khác ra đời. Từ bản tuyên ngôn bất hủ đó là động lực phấn đấu, là kim chỉ nam cho mọi hành động của những người chân chính trên toàn thế giới làm nên cuộc đổi đời cho dân tộc mình

Những con người làm nên lịch sử Hoa Kỳ

Họ chính là những nhà lập quốc Hoà Kỳ trong buổi đầu dựng nước. Họ chính là một G. Woasington vĩ đại. Cha đẻ của nền dân chủ Mỹ. Chính ông là người đã nêu gương sáng về đạo đức đối nhân xử thế cũng như đặt nền móng cho việc thực hiện điều luật về giới hạn hai nhiệm kỳ tổng thống sau này

Nếu khi đó ông cũng như bao kẻ tầm thường khác, vì cái bả vinh quang, khi đã leo lên được cái ghế quyền lực đã vội quên lời hứa của ngày hôm qua để tham quyền cố vị giành cho bản thân, cho thân tộc mình những quyền lực vĩnh cửu, thì hôm nay đây hình hài Hoa Kỳ sẽ ra sao? Bản đồ Thế giới sẽ ra sao! Ai mà biết được một Seda, một Naponeon nữa của nước Mỹ sẽ ra đời để thống trị toàn thế giới???

Vì vậy không chỉ nhân dân Mỹ biết ơn ông mà nhân loại cũng nghiêng mình kính cẩn trước sự vĩ đại của ông. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã nhất trí tuyên bố về ông 5 ngày sau khi mất là: "Đứng đầu trong chiến tranh, đứng đầu trong hòa bình và đứng đầu trong trái tim của nhân dân

Ông là người vĩ đại nhất trong những người vĩ đại.

Ngày nay khi viếng thăm mộ của Thomas Jefferson, vị tổng thống thứ ba nước Mỹ, người ta thấy ghi trên bia mộ nhưng dòng chữ hết sức bình dị nhưng đầy tự hào "Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia" Ông chính là một trong những người đã sáng lập lên nước Mỹ. Ông là một phần của lịch sử nước Mỹ, hình ảnh của ông sẽ mãi mãi trường tồn trên vách núi Rushmore tên tuổi của ông sẽ gắn liền với lịc sử nước Mỹ và thế giới

Người dân Mỹ biết ơn A.Braham Lincol vị tổng thống của lòng dân do dân và vì dân. Chính ông là người đã đưa tư tưởng của bản tuyên ngôn bất hủ đó vào thực tiễn. Chính ông là người đã tháo bỏ ách nô lệ cho hàng triệu triệu con người khốn khổ.

Trên đời này không có gì đau khổ hơn, trăn trở day dứt và hổ thẹn hơn khi chính con người lại bóc lột chính con người. Một điều mà không thấy xảy ra trong bất cứ loài vật nào trên trái đất.

Không có gì hổ thẹn hơn khi một quốc gia, nơi khai sinh ra bản tuyên ngôn bất hủ, một quôc gia được lập lên cũng bởi những tư tưởng vĩ đại nêu lên trong bản tuyên ngôn đó, một quốc gia được tạo dựng lên bởi "Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá ban cho họ quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Không vì lý do gì lại phản bội chính mình để chà đạp nên người khác, để đang tâm bóc lột đồng loại.

A Lincol không phải là người khai sáng nhưng ông chính là người thức tỉnh lương tâm Mỹ, là người trưc tiếp tháo bỏ ách nô lệ cho những người lao động khốn khổ . Người Mỹ da màu biết ơn ông. Một con người vĩ đại của mọi thời đại. Nhiều người dân Mỹ đã trìu mến gọi ông với cái tên là cha Lincol

Với Franklin Delano Roosevel vị tổng thống thứ 32 của nước Mỹ cũng vậy. Ông đồng thời cũng là vị tổng thống duy nhất có hơn hai nhiệm kỳ tổng thống. ông cũng là một yếu nhân quan trọng của thế giới khi đưa nước Mỹ tham gia vào thế chiến thứ 2, góp phần chiến thắng trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt tàn bạo....

Bốn mươi tư đời tổng thống kế tiếp nhau lên nắm quyền điều hành đất nước. Tuy với những thang bậc về năng lực tài năng có thể khác nhau, nhưng họ đã xứng đáng với sự lựa chọn sáng suốt của nhân dân. Họ là những hạt giống tốt nhất trải qua sự sàng lọc, lựa chọn của nhân dân một cách xứng đáng nhất. Đó chính là sức mạnh dân chủ được thể hiện

Quá trình hình thành và phát triển của nước Mỹ

Muốn biết về những gì nước Mỹ đã trải qua, không gì bằng bạn hảy hỏi thăm Giắc.Landon. Ông ấy sẽ kể cho bạn nghe câu chuyện về nước Mỹ một cách đầy đủ

233 năm kể từ khi tổng thống G. Woshington đọc tuyên ngôn khai sinh ra hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nước Mỹ cũng đã trải qua những thăng trầm trong lịch sử. Nhất là giai đoạn đầu trong th ời kỳ lập quốc. Do những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hình thành và phát triển, đã dẫn đến những cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, những cuộc nội chiến đẫm máu và một xã hội Mỹ có những lúc tưởng như bị bế tắc, bị tha hoá bởi những thế lực x ã hội băng đảng Gangtes vv...

Rồi một nước Mỹ luôn là mục tiêu đánh phá của các thế lực thù địch đen tối, kẻ thù của nền dân chủ luôn rình rập chống lại một nước Mỹ hùng cường, đối với chúng nước Mỹ càng mạnh bao nhiêu, càng thể hiện tính dân chủ bao nhiêu thì ngày cáo chung của chúng cũng sẽ đến gần bấy nhiêu. Lên chúng rất run sợ và tìm mọi cách chống phá.

Nhưng nước Mỹ đã vựợt qua tất cả bằng những nỗ lực phi thường. Đúng như trong bài diễn văn chúc mừng đối thủ của Thượng nghị sỹ Cộng hòa John McCain, ông đã phát biểu" .... Hãy luôn tin tưởng vào triển vọng và sự vĩ đại của nước Mỹ, bởi không gì là không thể ở đất nước này. Người Mỹ không bao giờ bỏ cuộc. Chúng ta không bao giờ đầu hàng. Chúng ta không trốn tránh lịch sử; chúng ta làm nên lịch sử..."

Đúng như lời ông nói, nước Mỹ hay nói chính xác hơn là tính ưu việt của chế độ dân chủ là luôn tự điều chỉnh và luôn đổi mới, đổi mới không ngừng bởi nó tuân theo quá trình tiến hoá có tính qui luật, đào thải và phát triển một cách tích cực thông qua sự chọn lựa của nhân dân. Bất kỳ điều gì có tác động tiêu cực đến cơ thể nước Mỹ cho dù đó là chính trị kinh tế văn hoá xã hội vv..cho đến nhân tố con người sẽ lập tức bị caí cơ thể dân chủ đào thải! Mảnh đất dân chủ chỉ chấp nhận những cây mầm tốt nhất, cho ra những hoa thơm trái ngọt nhất được đơm hoa kết trái trên nước Mỹ mà thôi.

Nước Mỹ của những điều kỳ diệu.

Hướng về nước Mỹ hôm nay, chúng ta không thể không điểm lại quá trình hình thành và phát triển của nước Mỹ. Nhà nước dân chủ kiểu mẫu đầu tiên trên thế giới. 233 năm quả là quá ngắn so với chiều dài lịch sử của một dân tộc. Vậy mà nhân lọai chứng kiến một đất nước theo đúng nghĩa của một quốc gia Hợp chủng quốc đầu tiên trên thế giới. Nước Mỹ đã hội tụ đủ các dân tộc, sắc tộc, tín ngưỡng tôn giáo cùng chung sống cùng nhau tạo dựng lên một đất nước, một dân tộc vĩ đại. Xa hơn nữa là một quốc gia hùng cường giàu có vào bậc nhất trên thế giới. Quả là điều kỳ diệu

Với nước Mỹ không có điều gì là không thể! Bạn muốn trở thành một doanh nhân!!!Xin thưa nước Mỹ sẽ cho bạn những cơ hội tốt nhất cho dù bạn chỉ là một sinh viên nghèo hay một người chưa học hết lớp ba trường làng..

Không tin ư?Bạn đã biết đến một Thomats Edison chưa! Ông là một nhà phát minh vĩ đại nhất từ trước tới nay. Với vốn học chưa hết tiểu học và chỉ có mảnh giấy ghi nhận xét của cô giáo phụ trách đưọc ông lưu lại sau hơn 20 năm "...Cách tốt nhất là nên cho trò Tôm về chăn lợn..."Nếu không phải là nước Mỹ, liệu Edison có được chắp cho đôi cách ước mơ trở thành hiện thực được không!!! Chỉ có nước Mỹ đã sản sinh và tôi luyện ra những con người như thế mà thôi. Tài năng chỉ được đem ra thi thố khi nó được tạo cho những điều kiện tốt nhất, bằng không nó sẽ bị thui chột trong môi trường độc tài toàn trị như Việt Nam hiện nay là một minh chứng

Quí vị không tin ư! Một Bil Gates đã từ bỏ trường đại học Howadr danh tiếng, với hai bàn tay trắng để trở thành người giầu nhất hành tinh..khi lập lên tập đoàn phần mềm Microsoft nổi tiếng và ông cũng trở lên nổi tiếng bởi có tấm lòng vàng, các hoạt động từ thiện là mục đích cao cả của ông, chỉ có một Bil Gates của nước Mỹ mới có tính cách cao thượng, giảm dị hiếm có như vậy thôi.

Một người giàu nhất hành tinh, muốn cái gì sẽ được cái nấy, vậy mà khi sang thăm và làm việc tại Việt Nam . Bil Gater đã đi trên chiếc xe Tyota 12 chỗ ngồi từ Hà Nội đến tỉnh Bắc Ninh của Việt Nam !!!Cũng như ông đã giữ đúng lời hứa sẽ hiến tặng toàn bộ tài sản cho nhân loại khi vừa tròn 50 tuổi!!!

Thật là bình dị và phi thường...Không biết những đại gia Việt Nam khi biết những thông tin này về Bil Gates có cảm thấy hổ thẹn và ray rứt trong lòng không!!! Tôi tin là không! bới một mảnh đất cằn cỗi sẽ không bao giờ nảy sinh ra một cây mầm tốt. Một môi trường độc tài, một xã hội tham nhũng thì chỉ có những kẻ sâu mọt mà thôi

Không tin ư! Một A Braham Lincol, xuất thân từ tầng lớp bình dân nghèo đói thất học, đã vươn lên trở thành vĩ nhận của nước Mỹ, của nhân loại và hôm nay đây mới cách đây hai năm thôi, một thượng nghĩ sĩ da màu vô danh tiểu tốt Barac Obama, đã làm nên sự kiện, trở thành vị tổng thống da màu đầu tiên, với những nỗ lực vô song có một không hai trong lịch sử nước Mỹ.

Không phải ngẫu nhiên mà hôm nay nước Mỹ trở thành điểm đến, niềm ao ước của hàng triệu triệu con người muốn sinh sống và làm việc. Không phải ngẫu nhiên trong quá khứ và hiện tại hàng năm có hàng trăm nghìn nhà khoa học, nhà văn, những chính nhân chính trị muốn lấy nước Mỹ làm nơi neo đậu. Rõ ràng những điều đó đã chứng minh cho ta một điều, hôm nay nước Mỹ là thiên đường của nhân loại

Ảnh hưởng của giá trị dân chủ Mỹ đối với thế giới.

Kể từ khi nước Mỹ ra đời cho đến nay ảnh hưởng của nước Mỹ đối với thế giới mang tính toàn diện. Từ kinh tế, chính trị cho tới văn hoá và lối sống Mỹ. Nước Mỹ đã đóng góp công sức rất lớn và quan trọng cho thế giới đặc biệt về chính trị tư tưởng. Chế độ dân chủ mẫu mực của nước Mỹ đã làm thay đổi cả lịch sử thế giới. Nước Mỹ chính là nơi khai sinh ra nền dân chủ thế giới

Như chúng ta đã biết, trải qua quá trình đấu tranh và phát triển. Loài người đã phải mất bao công sức để đi tìm cho mình một con đường có tính vĩnh hằng là hạnh phúc ấm no. Biết bao nhà tư tưởng, nhà hiền triết vĩ đại từ đông sang tây, từ cổ chí kim... Từ Đức Kito cho đến đấng tối cao Mohamet, từ Đức phật Thichcamauni cho tới các triết gia lẫy lừng như Khổng tử, lão tử vv.. đã nghiền ngẫm để tạo ra những giá trị tư tưởng mong đi tìm hạnh phúc, giảm bớt khổ đau cho loài người, nhưng đều chưa đạt được điều mong muốn cho nhân loại.

Nhưng chỉ với một triết lý đơn giản đến không ngờ " Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá ban cho họ các quyền bất khả xâm phạm đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Những nhà lập quốc Hoa Kỳ đã làm nên điều kỳ diệu... họ tìm ra chiếc chìa khoá vạn năng mà bấy lâu nay loài người mơ ước tìm kiếm, hoá ra nó ở ngay trước mắt ta, ở ngay chung quanh ta và ở chính trong ta.

Quyền con người. Chỉ có quyền con người được phát huy một cách khả dụng nhất, sẽ đem lại những điều kỳ diệu nhất, mà nước Mỹ là một minh chứng Đó chính là phát hiện vĩ đại nhất của loài người mà công đầu thuộc về nước Mỹ, những nhà lập pháp Mỹ. Đó cũng chính là một phát minh vĩ đại nhất trong mọi phát minh vĩ đại.

Khi hiệu quả từ phát minh về "quyền con người" có tác dụng thì hê quả tất yếu của nó sẽ mang đến những sác mầu mới, những cuôc cách mạng mới. Một chế độ dân chủ mà trong đó ngươì dân với các quyền của mình đã thể hiện vai trò cá nhân để tạo lên một cộng đồng vững mạnh. Làm nền tảng cho mọt xã hội phát triển, Phát huy tối đa nguồn lực con người trong mọi lĩnh vực. Bởi vậy suy cho cùng thì chế độ dân chủ sẽ là nền tảng quan trọng nhất cho mọi lĩnh vực khác trong đời sống xã hội phát triển.

Từ khi cái phát minh về "quyền con người" ra đời và được nước Mỹ đem ra sử dụng, nó đã mang lại hiệu quả vô cùng to lớn. Màu đen tang tóc và màu đỏ tàn khốc đã dần thay thế từ tây sang đông, từ bắc xuống nam bằng một màu xanh hoà bình hạnh phúc. Tiếng cười và những cử chỉ thân thiện thay cho sự thù hận đau thương. Nước Mỹ đã đem lại hạnh phúc cho nhân loại, nước Mỹ xứng đáng là cái nôi của nền văn minh dân chủ thời đại.

Về kinh tế cũng vậy. Nước Mỹ đã tận dụng triệt để bản chất tốt đẹp của chế độ dân chủ để phát huy sức mạnh con người trong lĩnh vực kinh tế. Nhưng bước tiến quan trọng về phát triển kinh tế đã đưa nước Mỹ lên vị trí số 1 trên thế giới. Với một nền kinh tế năng động có tính thị trường, nước Mỹ có mức giao dịch mậu dịch hàng năm hơn 10 nghìn tỉ USD. Có thu nhập bình quân đầu người DDP trên 10 nghìn USD.

Với một chế độ dân chủ kiểu mẫu và một nền kinh tế hùng mạnh, nước Mỹ ý thức được vị trí lãnh đạo của một cường quốc luôn luôn tác động và đi đầu trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị xã hội an ninh kinh tế trên toàn thế giới. Vì một lý do hết sức đơn giản, nước Mỹ là quốc gia hợp chúng quốc, đa dân tộc đa sắc tộc, công dân Mỹ có nguồn gốc từ khắp nới trên thế giới. Do đó bất kỳ ở đâu trên thế cũng ảnh hưởng đến lợi ích nước Mỹ. Nước Mỹ là quốc gia có ảnh hưởng nhất trên thế giới.

Thế giới đối với nước Mỹ.

Nước Mỹ là quốc gia có ảnh hưởng nhất trên thế giới!Còn thế giới có ảnh hưởng với nước Mỹ như thế nào. Trước hết nhìn trên bản đồ nước Mỹ chỉ là một phần của thế giới. Tuy về địa lý nước Mỹ cách biệt với thế giới bởi các đại dương bao bọc. Nhưng trong quá trình phát triển của mình, nước Mỹ không thế phát triển khi cô lập với thế giới bên ngoài và trong suốt hơn 200 năm nước Mỹ luôn có mối quan hệ với các châu lục khác trên thế giới. Vì vậy thế giới có ảnh hưởng rất lớn đối với nước Mỹ và nước Mỹ luôn là bạn là đồng minh của các dân tộc khác trên thế giới. Họ đón nhận sự giúp đỡ chí tình của nước Mỹ, cũng như lấy nước Mỹ làm biểu tượng của tinh thần dân chủ, tự do và bác ái cho công cuộc đấu tranh cách mạng đòi quyền làm người của các dân tộc. Ngày nay rất nhiều quốc gia đã đi theo con đường dân chủ của Hoa Kỳ, đấu tranh để xây dựng lên nhà nươc dân chủ nhân dân và Hoa Kỳ luôn là biểu tượng của các nước để họ noi theo.

Nhưng đi ngược lại với trào lưu dân chủ hoá, không ít các thế lực đen tối đã hằn học và thù nghịch với Hoa Kỳ. Xuất phất từ quyền lợi và lợi ích cá nhân hẹp hòi. Các thế lực đó đang ngày để tìm cách chống lại nước Mỹ, hay làm giảm bớt ảnh hưởng của nước Mỹ trên thế giới, họ nấp dưới chiêu bài dân tộc chủ nghĩa, kích động sự thù hằn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo với mục đích duy nhất là hòng mưu toan chống lại Hoa Kỳ, là thành trì của hoà bình, dân chủ thế giới.

Nước Mỹ luôn là mục tiêu khủng bố của các thế lực đen tối. Nước Mỹ luôn là cái gai của các thế lực thù địch. Trong thâm tâm họ thì việc tìm cách tranh giành ảnh hưởng vị trí lãnh đạo của nước Mỹ là mục tiêu quan trọng. Việc tạo lên một dân tộc để phục vụ cho lợi ích cá nhân và của dân tộc đó đã kích động sự hằn thù đối với nước Mỹ dân chủ đã dẫn đến những hành động cực đoan nguy hiểm.

Các thế lực đen tối đang tìm cách liên minh, liên kết với nhau để tạo lên một thế giới đa cực, nhằm giảm ưu thế và đối đầu trực tiếp với nước Mỹ, với nền dân chủ thế giới. Những cái đầu nóng ở Maskoba ở Bắc Kinh cùng với các tên sen đầm khu vực khác đang mưu toan đưa thế giới trở lại thời kỳ chiến tranh lạnh.Trục liên minh ma quỉ và nhóm khủng bố hồi giáo cực đoan Al Keyda đang là mối đe doạ hiện hữu đối với nước Mỹ dân chủ. Buộc lòng Hoa Kỳ phải có những hành động thích ứng để bảo vệ lợi ích và an ninh của chính nước Mỹ và thế giới.

Đâu là điểm yếu của nước Mỹ

Điểm yếu lớn nhất của nước Mỹ là không tạo dựng lên bộ máy tuyên truyền, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ. Hoa Kỳ đã không biết kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa lý luận và thực tiễn. Họ quá tôn sùng chủ nghĩa thực dụng.

"Caí gì là điểm yếu của ta thì sẽ là thế mạnh của kẻ thù" và kẻ thù của Hoa Kỳ đã biết lợi dụng điều này để dùng bộ máy tuyên truyền khổng lồ để chống lại nước Mỹ. mê hoặc mọi người về một nước Mỹ ngáo ộp xấu xa, tạo dựng lên hình ảnh một nước Mỹ đen tối, lấy nước Mỹ làm nhân vật tội ác phản diện trong lòng mọi người. Thủ đoạn này đã phần nào đem lại sự thành công nhất thời cho các thế lực đen tối và làm chậm quá trình dân chủ hoá trên toàn thế giới.

Tôn Tử một nhà quân sự lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại đã nói về kế đánh thành "Thượng sách là đánh vào lòng người, dùng biện pháp thuyết phục để chinh phục kẻ thù, thứ đén là dùng mưu mẹo và hạ sách là dùng vũ lực" Nếu Hoa Kỳ biết khắc phục điểm yếu này, với lợi thế sức mạnh sẵn có biết kết hợp với việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền vận động các giá trị dân chủ, không chỉ trong phạm vi nước Mỹ mà nhân rộng ra toàn thế giới. Nếu khắc phục được điểm yếu cốt tử này nhất định sẽ thu phục được lòng người đó là kế thượng sách nhất trong các kế mà Tôn tử đã dẫn dụ.

Hẳn mọi người còn nhớ nước Mỹ được ra đời cũng bởi chính sự thuyết phục của tư tưởng khia sáng, của các nhà tư tưởng Hoa Kỳ buổi đâu lập quốc.

Tôi có một câu hỏi...?

Xu thế dân chủ hoá toàn cầu có tất yếu, khi cái dòng chảy Việt Nam không thể cưỡng lại được, buộc lòng phải hoà chung vào một phần của dòng chảy thế giới. Những người CSVN để tồn tại bắt buộc phải thay đổi một số chính sách. Nhưng về bản chất họ không thay đổi, trong thâm tâm họ vẫn coi nước Mỹ là thù nghịch.

Họ vẫn nhìn sang bên kia bờ đại tây dương với ánh mắt dò xét và hằn học. Họ luôn đề cao cái luận điệu "cảnh giác với các diễn biến hoà bình". Thực chất là nhằm ngăn cản quá trình dân chủ hoá đất nước.

Nhưng cho dù có mưu mô xảo quyệt đến đâu, cho dù cố tình ngăn cản bưng bít sự thật thì bàn tay lông lá của họ sẽ không che khuất được ánh mặt trời. Sự hoà nhập với thế giới đã vén lên bức màn lịch sử nhân loại sau bao năm trong tăm tối, người dân đã phần nào hiểu được sự thật những giá trị thật về một nước Mỹ dân chủ, về thân thế và sự nghiệp của những nhà cách mạng dân chủ Mỹ

Cũng như bao người dân Việt Nam khác đã và đang sống trong một chế độ độc tài toàn trị. Mọi quyền công dân được hạn chế trong một khu vực được qui định không phải bởi pháp luật mà bởi một nhóm người tự nhận và tự phong cho mình cái quyền đứng trên người khác, ban phát cho chúng tôi những người dân cuộc sống do họ định ra. Giờ đây thông qua các phương tiện truyền thông điện tử, tôi mới nghiệm được ra sự thật tại sao Việt Nam đến bây giờ vẫn sống trong nghèo khổ và tại sao nước Mỹ lại hùng cường và sung sướng

Những người CSVN cho rằng họ có công đánh duổi ngoại bang, họ tuyên truyền nhồi sọ, áp đặt cho chúng tôi những giá trị tư tưởng phản nghịch. Cho đến bây giờ họ vẫn tự nhận họ là chính nghĩa, cho đến bây giờ ánh hào quang ảo ảnh của quá khứ vẫn làm họ lu mờ và biết bao người dân vẫn lầm tưởng nhưng giá trị mà họ tuyên truyền là chân lý.

Người xưa có câu "không biết thì không bị coi là có tội"Cũng có thể sự ngộ nhận vì ấu trĩ, non nớt do nhận thức thời đại chưa thật thấu đáo sẽ mang đến sự sai lầm, lâm lẫn đáng tiếc của một thế hệ hay một cá nhân. Những người cộng sản Việt Nam cũng vậy, trong quá trình hoạt động cách mạng của quá khứ, có thể do trình độ nhận thức tư tưởng chính trị hoặc giả bị mê hoặc do sự tuyên truyền của chủ nghia CS làm cho họ lầm lẫn.

Nhưng riêng tôi lại không đồng tình với cách biện luận như vậy, bởi sự ngộ nhận, ấu trĩ và lầm lẫn của họ chỉ là tức thời trong một thời khắc nhất định, chứ họ không thể mông muội suốt 60 năm qua. Nhất là những bậc tiền bối cộng sản tại sao họ lại không biết và đã che giấu bưng bít thông tin, không cho nhân dân biết về một nước Mỹ dân chủ và những nhà lập quốc Hoa Kỳ, những bậc vĩ nhân của thời đại ??

Không những vậy họ còn dựng lên hình ảnh một nước Mỹ đế quốc xấu xa, chuyên đi áp bức bóc lột các dân tộc khác??Vì sao vậy? Vì sao họ lại làm thế và họ phải trả lời trước nhân dân về một nước Mỹ hôm nay. Họ phải trả lời trước nhân dân tại sao họ lại che giấu sự thật về nước Mỹ dân chủ, tự do và công lý và những con người vĩ đại của dân tộc Hoa Kỳ, của nhân dân thế giới??????

Đó là câu hỏi duy nhất của tôi gửi đến những người cộng sản Việt Nam .

Đồng thời tôi cũng mong rằng đây không chỉ là câu hỏi của riêng tôi, mà là câu hỏi của nhiều người Việt Nam khác

Trông người lại ngẫm đến ta, qua màn ảnh nhỏ khi chứng kiến những hoạt động diễu hành cũng như buổi lễ nhậm chức tổng thống của nước Mỹ sao mà thấy thèm muốn.... Họ như vậy, còn ta thì sao....??? Đất nước của tôi hiện vẫn đang trong vòng tăm tối đói nghèo bởi nghịch đảng. Cảnh chia ly thù hận vẫn chưa chấm dứt thậm chí nó còn được nuôi dưỡng bới sự oan trái bất công!!!Tất cả những điều đó đã gieo vào lòng sự bi quan tuyệt vọng cho những ai còn nặng lòng với nước

Xin đừng tuyệt vọng!Xin đừng oán trách và xin đừng buông xuôi! Hỡi những ai còn chần chừ do dự, bi quan yếm thế hay chưa dám xã thân vì đất nước. Hãy lấy bài học của người, lấy tấm gương của người để làm động lực noi theo Phải làm gì điều gì tốt nhất để cống hiến cho tổ quốc

....và một giấc mơ!!!

Để kết thúc bài viết này, cũng như bao người khác mong muốn có những giấc mơ đẹp, tôi cũng mong có một giấc mơ như Mục su Martin Luther King về đất nước tôi!

Tôi mơ ước những ai chứng kiến ngày lễ đang quang của tổng thống Obama sẽ liên tưởng tới con người Việt Nam , dân tộc Việt Nam , đất nước Việt Nam ! Để tự vấn lương tâm..Phải nghĩ gì và làm gì..cho vận mệnh đất nước..cho tương lai dân tộc

Tôi mơ ước về những người Việt Nam , bất kể họ là ai ở bất cứ cương vị vị trí nào không phân biệt giới tính tuổi tác và quan điểm chính trị. Qua các phương tiện truyền thông, khi chứng kiến buổi lễ nhận chức tổng thống trọng đại ngày hôm nay của ông Barack Obama !Nghĩ về một nước Mỹ vẻ vang...Nghĩ về những con người quả cảm vĩ đại đã làm lên một dân tộc vĩ đại, để dấn thân, để từ bỏ những toan tính tầm thường, hướng tới những giá trị vĩnh cửu hòng đem lại lợi ích cho dân tộc Việt Nam thân yêu của mình.

Trông gương người khác, nhìn thấy đất nước của những điều kỳ diệu. Tôi ước ao những người CSVN đang lãnh đạo đất nước hiện nay. Xin quí vị chớ mải ham hố quyền lực và ích kỷ cá nhân, hãy vì một dân tộc. Hãy vì một tương lai và tiền đồ tươi sáng của con em chúng ta, trong đó có con em của quí vị. Hãy trao trả cho dân tộc, cho những người dân, nhưng người thân, những người hàng xóm của mình cái quyền tối thượng, cơ bản của mỗi con người. Để mọi người được sử dụng cái quyền thiêng liêng đó như một thứ tài sản quí giá nhất để cống hiến cho xã hội và như một thứ vũ khí hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ cho chính họ.

Tôi tin tưởng rằng khi người dân được trao trả thứ tài sản cao quí đó, thì đất nước nhất định sẽ chuyển mình đi lên vì sức mạnh đóng góp của toàn dân, vì sức mạnh dân chủ đã được phát huy một cách hữu hiệu

Tôi tin tưởng rằng, những đứa con của quí vị sẽ không bằng lòng, khi chúng biết rằng cha ông chúng lại dùng quyền hành và thủ đoạn để chiếm đoạt những điều kiện sống tối thiểu của những đứa trẻ bạn bè thân thiện hàng ngày của chúng, đem về nhà để giành riêng cho chúng.

Tôi tin là như thế và tôi có một mơ ước sẽ có một ngày không xa, dân chủ sẽ đến với đất nước Việt Nam .

Hà Nội, ngày 20/1/2009 (25/tết kỷ sửu)

Như Hà
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Lễ nhậm chức khơi dậy niềm hy vọng

Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com, Washington DC

Image
Tổng thống Barack Obama đọc diễn văn nhậm chức, báo hiệu thời kỳ mới



Cuối cùng thì ông Barack Obama đã chính thức trở thành vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, trong một buổi lễ nhấn mạnh niềm hy vọng, sự đoàn kết dân tộc và rằng Hoa Kỳ vẫn sẽ là lãnh đạo của thế giới.
Dẫu đã biết rằng ngày 20.01.2009 là ngày lịch sử không chỉ của nước Mỹ mà cả thế giới, đã được thông báo sẽ có từ 1.5 - 2 triệu người đổ về trung tâm dự lễ, thì khi viết những dòng này, tôi vẫn còn trong cảm giác ngất ngây vì chưa bao giờ trải qua một ngày hội chính trị như vậy.

Ngày hội

Buổi sáng sớm, tôi đến ga Metro để đón tàu điện vào trung tâm. Tại ga, số lượng người đông tới mức theo sự sắp xếp của cảnh sát, chúng tôi phải chầm chậm đi bộ khoảng 40 chục mét, rồi...đi vòng trở lại thêm 40 mét nữa trước khi vào được ga.

Toàn bộ thời gian từ lúc có mặt ở ga cho đến khi bước qua được cổng soát vé là 56 phút.

Có vài người "nhanh tay, lẹ chân", lợi dụng khi cảnh sát không để ý, đã tách hàng, lẻn vào dòng người đi trước. Nhưng hầu hết đều ngoan ngoãn đi từng bước, vui vẻ nói cười và chụp hình kỷ niệm.

Đến lúc tôi ra được khu vực ngoài trời National Mall, nơi dân chúng đổ về để chứng kiến giây phút Obama tuyên thệ, các đường phố chật cứng người. Nhiệt độ thì dưới âm, và thực ra ta chẳng nhìn thấy gì khi dõi mắt về phía khu vực lễ đài Capitol.
Image
Ông Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 của Mỹ
Chả thế mà bài xã luận trên Washington Post sáng nay nói đứng ngoài trời thì không thấy gì, không nghe được gì; sướng nhất là xem tivi.

Nhưng tờ báo vẫn thúc giục tất cả hãy Đi vì đây là "khoảnh khắc lịch sử phi thường".

Một gia đình gồm hai vợ chồng, hai con 8 và 15 tuổi, đã đi từ bang Oklahoma tới đây. Người chồng nói với tôi rằng lần cuối ông dự một lễ nhậm chức tổng thống là năm 1977 khi Jimmy Carter bước vào Tòa Bạch Ốc.

Hơn 30 năm sau, gia đình lên thủ đô vì giống như bao nhiêu người khác, họ nói chưa khi nào họ lại tưởng tượng sẽ có một tổng thống Mỹ da đen.

Khi buổi lễ chưa bắt đầu, tôi đã thấy quanh mình có người khóc, giọt nước mắt của hạnh phúc và hy vọng.

Khủng hoảng và hy vọng

Sau khi đã đặt tay lên cuốn Kinh thánh đọc lời thề nhậm chức, vào khoảng 12h10 giờ địa phương, Tổng thống Obama bắt đầu bài diễn văn nhậm chức.

Ông cảm ơn người tiền nhiệm Bush vì "về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này."

Một lời cảm ơn khá lạnh nhạt, và liền lập tức, tân tổng thống chỉ trích đống bề bộn mà chính quyền Cộng hòa để lại.

Ông nói có những tổng thống tuyên thệ trong giai đoạn phồn vinh và hòa bình, nhưng "những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão".

Tân tổng thống liệt kê những ví dụ của khủng hoảng mà Hoa Kỳ đang hứng chịu: chiến tranh, kinh tế suy yếu ("hậu quả của lòng tham và vô trách nhiệm của vài kẻ, nhưng cũng là sự thất bại tập thể khi không dám có lựa chọn khó khăn và chuẩn bị cho đất nước trước thời kỳ mới"), người dân mất nhà mất việc, hệ thống y tế tốn kém, trường học yếu kém...
Image
Cả triệu người tề tựu ở National Mall để theo dõi
Không kém phần nghiêm trọng là "tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước - một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn".

Bài diễn văn là sự cân bằng giữa thực tế đầy thách thức và niềm hy vọng mà tân tổng thống hứa hẹn đem lại.

Người xem vỗ tay khi ông nói "chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa".

Trách nhiệm người dân

Một thông điệp quan trọng, không chỉ trong bài diễn văn mà đã được ông Obama đề cập trong mấy ngày gần đây, đó là người dân Mỹ phải nâng cao tinh thần cộng đồng, trách nhiệm tập thể để phục hồi Giấc mơ Mỹ.

Phát biểu hôm thứ Hai ở một trường trung học, ông nói: "Chính phủ chỉ có thể làm đến mức nào thôi. Nếu chúng ta chờ đợi ai đó làm giúp, việc sẽ chẳng bao giờ xong".

Trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống, chữ "tôi" chỉ dùng ba lần, trong lúc đại từ "chúng ta" xuất hiện hơn 60 lần, vừa để hứa hẹn một chính quyền "của nhân dân" mà cũng là lời kêu gọi nhân dân góp sức.

Ông kêu gọi người Mỹ trở lại với những giá trị "cũ" mà cha ông đã dựa vào để dựng xây nước Mỹ: "sự chăm chỉ và trung thực, dũng cảm và công bằng, rộng lượng và tò mò, trung thành và yêu nước".

Cái người Mỹ phải có là "một thời kỳ mới của tinh thần trách nhiệm, sự nhận diện của từng người Mỹ rằng chúng ta có nhiệm vụ với bản thân, quốc gia và thế giới".

Bác bỏ sự hồ nghi của những người "có trí nhớ quá ngắn", ông Obama nhắc lại nước Mỹ đã luôn có thể vượt qua thách thức "khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm".


Những bậc cha ông khai quốc của chúng ta...đã soạn thảo ra một bản hiến chương đảm bảo việc việc pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ


Barack Obama, diễn văn nhậm chức

Ông khẳng định nước Mỹ vẫn giữ vị trí lãnh đạo thế giới, nhưng trong cử chỉ phê phán ngầm "cuộc chiến chống khủng bố" của ông Bush, ông nói Hoa Kỳ sẽ không lựa chọn một trong hai, "giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta".

Làm như thế, nước Mỹ sẽ xứng đáng với "bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ".

Ông cũng ngầm hứa Hoa Kỳ sẽ dùng vũ lực có trách nhiệm khi nói "sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng".

Lần đầu tiên trong một diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Obama có thông điệp cho thế giới Hồi giáo: "Chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau".

Trong tiếng vỗ tay của triệu người có mặt, tân tổng thống cũng nhắn gửi: "Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội,...các người không thể tồn tại lâu hơn chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người."

Đây không phải là diễn văn xuất sắc nhất mà Barack Obama từng đọc; nó không đạt tới gần mức tuyệt hảo như bài nói tại đại hội đảng Dân chủ 2004 hay diễn văn chiến thắng hồi tháng 11 năm ngoái.

Điều này không có gì lạ, vì theo cố sử gia Arthur Schlesinger Jr, diễn văn nhậm chức tổng thống "là hình thức nghệ thuật tầm tầm. Nó ít khi là dịp cho tư tưởng độc đáo hoặc kích thích suy tư".

Có thể xét theo chiều dài lịch sử, diễn văn ngày hôm nay của vị tổng thống thứ 44 không độc đáo, nhưng chắc chắn nó "kích thích suy tư", không chỉ cho người Mỹ mà cả công dân từ các quốc gia khác.

Cho đến ngày 20.01, người ta xét đoán Barack Obama hầu như dựa trên ngôn từ của ông.

Sau diễn văn ngày hôm nay, tổng thống phải bắt tay vào hành động.

Thách thức trước mặt ông và nước Mỹ là vô cùng lớn, nhưng ngày hôm nay, bài diễn văn đem lại hy vọng rằng từ đây, tình hình sẽ khác.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Người Việt khắp nơi trông đợi gì ở Obama?
Tác giả: Hà Giang, RFA


Chỉ hơn một tuần lễ sau ngày lễ nhậm chức, tổng thống Obama đã phải vật lộn với hàng loạt những vấn đề cực kỳ phức tạp và khó khăn của Hoa Kỳ cũng như trên thế giới. Đã thế, là một biểu tượng cho sự đổi thay và hy vọng, ông Obama còn mang nặng trên vai kỳ vọng của biết bao người trước đây đã ủng hộ và mong cho ông được đắc cử, cả của cử tri Hoa Kỳ lẫn của dân chúng mọi giới ở khắp toàn cầu. Vậy những người trẻ ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam mong đợi gì nơi ông? Hà Giang ghi nhận và gửi đến thính giả:


Đối với nhiều người trên thế giới, việc ông Obama đắc cử để trở thành tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ là một biến cố lịch sử, một thay đổi quan trọng về quan hệ chủng tộc ở Mỹ, cũng như là một biểu tượng cho hy vọng và sự đổi mới. Trong niềm hân hoan đón nhận biến chuyển mà đa số cho là khả quan ấy, nhiều người đã vô hình chung đặt vào tổng thống Obama những niềm kỳ vọng, mà một số nhà phê bình cho rằng, nếu bình tâm xét lại có thể người ta đã tự tạo cho mình những thất vọng sau này.

Người ta mong là ông Obama sẽ nhanh chóng hòa giải được hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan; Họ mong ông gấp rút giải quyết được cuộc suy thoái kinh tế không những của nước Mỹ mà còn cho toàn cầu; Mong cho vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới được cải thiện; Mong những quân nhân Mỹ hiện đang viễn chinh ở Iraq được mau chóng trở về đoàn tụ với gia đình… Những điều này và còn biết là bao nhiêu niềm trông đợi khác đã tạo ra một thử thách vô cùng lớn lao cho vị tổng thống da mầu đầu tiên của Hoa Kỳ.

Người Việt chúng ta ở cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam cũng mong đợi ở ông Obama nhiều điều.

Anh Đông, một sinh viên Việt Nam sống tại Sài Gòn nói rằng dù ở thật xa nhưng giới trẻ Việt Nam đã theo dõi rất sát cuộc vận động tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ, và họ cũng mong cho có sự cải thiện ở Việt Nam . Anh phát biểu:

“Mặc dù là cách xa nửa vòng trái đất nhưng mà tôi rất là quan tâm đối với việc mà nhân dân Mỹ bầu chọn tổng thống trong thời gian vừa qua. Chiến thắng của ông Obama đã cho thấy rằng người dân Mỹ cần sự thay đổi. Thực lòng mà nói thì tôi rất là mong muốn rằng trong nhiệm kỳ 4 năm sắp tới, ông Obama sẽ thực hiện đúng được cái lời hứa khi mà tranh cử đó là việc vực dậy nền kinh tế của nước Mỹ và thế giới. Đặc biệt là đối với Việt Nam thì tôi mong muốn là trong nhiệm kỳ sắp tới thì mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ sẽ được thắt chặt hơn trên tinh thần hòa bình và hữu nghị, trong đó thì mối quan tâm tới vấn đề dân chủ và nhân quyền đối với Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể!.”

Mặt khác, nỗiưu tư canh cánh bên lòng về việc lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam hiện đang bị Trung Quốc dần dà xâm chiếm đã khiến ông Bá ở Hải Phòng lên tiếng:

“Yêu cầu ông Obama giúp nhân dân Việt Nam đòi lại lãnh hải và hải đảo của nhân dân Việt Nam. Việt Nam không có nhân quyền, và yêu cầu ông Obama đưa ra ánh sáng, trước công luận trên toàn thế giới!”

Qua lời chị Thảo, mộtthiếu nữ đang sống ở Thủ Đức, người ta có thể hình dung ra được nỗi khát khao cho nhân quyền và một nền tự do thực sự của đa số những người trẻ ở Việt Nam:

“Hy vọng rằng là, ông ấy là một người trẻ hơn, ông ấy có cái mạnh dạn và sự cứng rắn của ông ấy đối phó với nhà nước Việt Nam để buộc nhà nước Việt Nam đi thực hiện được nhân quyền và tự do…”

Tại Hoa Kỳ, người Việt có những mong đợi dường như có phần thiết thực hơn. Một thanh niên tên Quốc, chuyên viên điện tử, hiện định cư ở Nam California cho biết:

“Tôi thật sự cũng không có mong đợi gì nhiều lắm ở ông Obama cao hơn những tổng thống trước đến gì của Mỹ, nhưng ông Obama là một người thuộc sắc dân thiểu số, cho nên tôi mong đợi là ông sẽ khuyến khích người thuộc sắc tộc thiểu số tham gia vào sinh hoạt chính trị nhiều hơn, điều này ích lợi cho nước Mỹ. Tôi cũng mong đợi là ông sẽ thay đổi một số chính sách trước đây của Tổng Thống Bush, để cải thiện cái hình ảnh của nước Mỹ trên thế giới trong khi đó vẫn đẩy mạnh tiến trình dân chủ bằng một con đường khôn ngoan hơn, giúp dân chủ hóa Việt Nam và giúp Việt Nam tránh được ảnh hưởng không tốt của những nước độc tài”.

Bà Hằng, một nhà giáo nhà ở khu Little Saigon, mong rằng nền kinh tế chóng được phục hồi:

“Điều tôi mong đợi nhất ở Tổng Thống Obama, thứ nhất là ở chính trị, ông ta làm trong sạch cái bộ máy chính trị của chính phủ Mỹ, và cái thứ hai là về kinh tế, ông ta vực dậy được cái nền kinh tế của Mỹ qua cái thời kỳ suy thoái này. Đó là hai hy vọng lớn nhất của tôi.”

Trong khi đó một du sinh tên Dương hiện đang theo học ngành quản trị xí nghiệp tại thành phố Garden Grove, và đã ở đây được gần 4 năm, cảm thấy phấn khởi vì ông Obama là một người da mầu mà đã rất thành công, và mong rằng quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và các nước khác sẽ Obama cải thiện. Du sinh Dương bầy tỏ:

“So với những tổng thống khác có thể ông Obama sẽ thông cảm hơn. Người da mầu mà thành công thì những người Châu Á hay dân tộc khác cũng sẽ thành công như ông. Cũng mong là ông Obama sẽ giúp cho những người trẻ có thêm cơ hội để mà có công ăn việc làm nhiều hơn, và cái quan hệ ngoại giao với các nước khác như Việt Nam sẽ tốt hơn về mặt kinh tế và chính trị.”

Những kỳ vọng mà người Việt khắp nơi đặt ra cho Tổng thống Obama không khác mấy so với các đời tổng thống Mỹ trước đây. Tuy sự khác biệt về màu da đã đưa ông nằm ở một vị thế cao hơn trong lòng những người thuộc sắc dân thiểu số nhưng việc đặt quá nhiều kỳ vọng vào một vị tổng thống có rất nhiều điều cần phải giải quyết xem ra thật khó cho ông trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn mà suy thoái kinh tế toàn cầu chính là ưu tiên hàng đầu cho tân tổng thống.


Hà Giang, thông tín viên RFA.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Bàn Về Nội Dung Bài Diễn Văn Nhậm Chức Và Cuộc Chiến Đã-Qua
Tác giả: Lê-Văn-Xương



1 - BÀN VỀ NỘI DUNG BÀI DIỄN VĂN NHẬM CHỨC .


Đối với những người biết việc thì một Tổng-Thống Cộng-Hòa hay Dân-Chủ đọc bài diễn văn nhậm chức ngày 20-1 vừa qua thực ra không quan trọng bằng chính nội dung bài diễn văn ấy . Quả thực đó là một trong số những bài diễn văn được coi là viết ngắn gọn, xúc tích, hàm chứa cả một một kế hoạch cụ thể mà Hoa-Kỳ sẽ thực hiện trong tương lai đối với các vấn đề quốc nội cũng như quốc-tế . Đó là bài diễn văn mà những người Việt kiên định với tự do,dân-chủ,yêu thương con người và hết lòng hết dạ chăm lo cho tương lai của dòng tộc Việt hằng mong đợi đã từ lâu . Sau rất nhiều gian khổ với biết bao nỗi đắng cay tủi nhục mà chúng ta và nhiều dân tộc linh lạc khác trên địa cầu này đã phải chịu đựng trong thời gian khá dài đã qua , bài diễn văn mà Tổng-Thống Barack H. Obama trong lễ nhậm chức trước gần hai triệu người dự khán đã như một làn gió mới trong lành , mát mẻ đem lại sức sống và niềm hy vọng cho hàng tỷ người hiện đang sống tại nhiều châu lục trên trái đất này , trải dài từ Châu-Phi , Nam-Mỹ đến Á-Châu cũng như Trung-Đông .


Dĩ nhiên khó khăn còn nhiều vì các thế lực cực đoan cũng như chủ nghĩa bành trướng Đại Hán vẫn không từ bỏ tham vọng bành trướng thông qua bóc lột,chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên của nhiều châu lục khác nhau được ngụy trang dưới vỏ bọc là tự do thương mại toàn cầu . Hán xử dụng các dự án đầu tư nhắm vào các vùng giầu tài nguyên thiên nhiên như một vỏ bọc cho việc di dân Hán đến đó sinh sống như bước đầu của kế hoạch xâm lăng Hán – hóa các vùng ấy thông qua xúi dục bạo loạn dựa vào các mâu thuẫn chủng tộc , cũng như các tồn tại do thời kỳ thực dân còn sót lại , hoặc các di lụy của cuộc chiến tranh lạnh đã qua .


Hán ngày nay là cái gì ? Chủ nghĩa Xã-Hội hiện đại chăng ? Chủ nghĩa dân-chủ hiện đại chăng ? Khổng-học tân thời chăng ? Không , xã hội Hán cũng như cách mà những người lãnh-đạo Hán ở Trung-Nam-Hải thể hiện cho thấy “ Hán vẫn là Hán như ngày xưa cách nay trên 5,000 năm khi thời đại Hoàng-đế bắt đầu . Hán học và hội nhập vào xã hội Bách-Việt để rồi dùng bạo lực xâm lăng và hủy diệt Bách-Việt “ . Hơn 5,000 năm trước Hán đi vào con đường ấy , ngày hôm nay đây Hán vẫn tiếp tục đi vào con đường ấy như một lời nguyền , như một thói quen của loại thú hoang dã (họ nói đến totem sói cũng cùng ý này) . Hán bất chấp các đe dọa từ thiên nhiên đang rình rập xung quang trái đất nhỏ bé này , Hán không chấp nhận đường hướng mà cả nhân loại này -sau biết bao gian khổ mất mát hy sinh , trải qua biết bao sai lầm - đã học hỏi được . Và ngày nay đang muốn vươn lên phía trước với những ước mơ về một xã hội loài người sao cho mang nặng tính người hơn so với quá khứ , cũng như cố sửa chữa lại trái đất này hiện ngày càng trở nên nóng hơn . Đó là đe dọa cụ thể và cấp bách . Hán không đóng góp gì vào việc đầy lùi các đe dọa ấy , thay vào đó Hán chủ trương tàn phá trái đất này một cách có hệ thống . Hán có tội với người và với thiên nhiên vậy .


Như thế Hán thực sự là gì ? Thực ra Hán là một lò tham nhũng thâm căn cố đế do lịch sử của Hán đã để lại như thế . Hán bảo rằng , tiền nào cũng là tiền , nước Mỹ cũng đã từng mua nô lệ từ Châu-Phi cũng như diệt người gốc thổ dân để làm giầu . Như thế đồng tiền của Mỹ,sự giầu sang của Mỹ cũng bắt nguồn từ đồng tiền chả sạch sẽ gì . Mỹ làm được thì Hán làm được . Thời thuộc địa đã đi vào dĩ vãng xa xưa , các sai lầm ấy đã được sửa chữa và sẽ được sửa chữa trên quy mô rộng ,đều khắp và toàn diện để đem lại cho thế giới này một bộ mặt mới , một văn minh mới đang hình thành trong thực tế .


Bài diễn văn nhậm chức của Tổng-Thống Obama khẳng định điều đó . Khi nói về các quốc gia tham nhũng và độc tài ,Ông Obama đã ám chỉ nhiều quốc gia dù ngụy trang dưới bất cứ mỹ từ nào , đã xử dụng độc tài như một phương tiện tối hậu để tham nhũng ; vơ vét tài nguyên thiên nhiên , công sức lao động cần cù của biết bao người lao động đang phải sống khống khổ, dãi nắng dầm mưa,áo không đủ mặc , ăn không đủ no , con cái không được học hành , dân chúng không được chăm sóc y tế tối thiểu , không có nước sạch để uống . Gần một nửa nhân loại đang phải sống như thế , họ có quyền được sống cho ra sống . Trước các cản trở của Hán , không một giải pháp chính trị toàn cầu nào được tiến hành đến nơi đến chốn để đem lại cho những con người khốn khó đó một tia hy vọng dù cỏn con . Các vấn đề Dafur ,Somalia , Zambia là những thí dụ điển hình .


Xem xét ngọn nguồn vấn đề toàn cầu hiện nay cho thấy , mạng lưới khủng bố quốc tế , việc lan tràn vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt , các bất ổn ở nhiều nơi trên thế giới , các tổ chức tội ác xuyên biên giới cũng như nhiều quốc gia hiện hoặc đang có khuynh hướng tiến tới độc tài đều có bàn tay của Hán nhúng vào ở phía sau . Trước các vấn đề ấy , Tổng-Thống Obama đã nói rõ : “ Ông sẵn sàng thương thuyết trên căn bản là các quốc gia ấy phải chấp nhận thay đổi cách nghĩ cách làm của mình , tức là phải tỏ ra có trách nhiệm và thi hành nghiêm chỉnh các trách nhiêm ấy “


Khi câu này được nói tới trong bài diễn văn nhậm chức thì ta lại phải xét trong bối cảnh ấy mới được . Khi nhắc tới Gettyburg , Normandi , Khe-Sanh , Tổng-Thống Obama muốn chuyển đến cho tất cả các quốc gia hiện bị cai trị bởi các nhóm cầm quyền tham nhũng và độc tài một tín hiệu rất rõ rệt : “ Các anh thay đổi nếu không chúng tôi thay đổi các anh , nếu cần phải xử dụng bạo lực chúng tôi cũng sắn sàng xử dụng để cứu vớt hàng tỷ người đang phải sống dưới mọi hình thức gông cùm khác nhau do các anh áp đặt “.


Hoa-Kỳ cho dù đã có phạm các sai lầm trong quá khứ , nhưng họ biết sửa chữa các sai lầm ấy , biết và dám nhận lỗi để tự hoàn thiện mình để trở thành một quốc gia đa sắc tộc,tôn giáo , tự do , dân chủ . Đất nước này đã trở thành vườn địa đàng của những ước mơ về một thế giới mới ngày càng hoàn thiện hơn , về những con người ngày càng vĩ đại hơn vì các khám phá vô biên mà chỉ có hệ thống xã hội dân chủ khai phóng trí tuệ con người thuộc đủ mọi văn hóa chủng tộc tôn giáo khác nhau có thể cùng ngồi lại với nhau trong sự tương kính ; cùng một mục tiêu chung là cố công hiến các hiểu biết của mình cho một thế giới mới một văn minh mới đang cấu trưởng và thực tế dang hình thành từng bước vững chắc và có hệ thống .


Đó là một đất nước vĩ đại dành cho những con người có đầu óc vĩ đại cùng đến đây với tâm lành - cho dù chưa chắc họ phải ở đây hoặc mang quốc tịch Mỹ - để cùng nhau đóng góp công sức trí tuệ cho công việc chung của nhân loại . Hoa-kỳ coi đó là trọng trách tinh thần mà họ tự nguyện gánh vác nhân danh sự tồn vong của nền văn minh này trên trái đất này . Kết hợp trí tuệ toàn cầu là một đòi hỏi cấp bách về mặt tổ chức cũng như đạo đức , điều này cũng chỉ có hệ thống tổ chức xã hội Mỹ , vững trãi về mọi mặt , mới làm được mà thôi . Đó chẳng phải là biểu hiện của trật tự Mỹ ( pax Americana) như nhiều người vẫn hằng nghĩ .Đó càng không phải là chủ nghĩa thực dân mới . Đó đích thực là trật tự Nhân-Chủ (Pax humocratie) vậy .


Trật tự Nhân Chủ đòi hỏi con người phải tái phân lợi tức sao cho đồng đếu nhau hơn , để tuyệt đại đa số con người không phân biệt châu lục, mầu da,tôn giáo,văn hóa được hưởng các lợi ích do khoa học kỹ thuật đem lại . Trật tự nhân chủ đòi hỏi con người phải thống nhất làm một khối vững chắc để dồn công sức vào việc đẩy lùi bệnh tật , ngèo đói ; đồng thời huy động tài nguyên toàn cầu vào việc ngăn ngừa các thiên tai do con người gây ra cũng như do vũ trụ đem lại ; Trật tự nhân chủ đòi hỏi con người phải biết tiết kiệm bất cứ thứ gì có thể tiết kiệm được để lo cho mai sau và tránh ô nhiễm . Trật tự nhân chủ đòi hỏi phải hình thành một chính quyền toàn cầu , hoàn thiện chính quyền ấy càng nhanh càng tốt . Trật tự nhân chủ không chấp nhận các chủ trương phân liệt tôn giáo , chủng tộc ,mầu da ,văn hóa , độc tài , tham nhũng . Trật tự nhân chủ nhìn nhận thế giới này , con người , văn minh này là một ; không thể tách thành các nhóm chỉ biết quyền lợi nhỏ hẹp của điều mà ta gọi là quốc gia theo cái nhìn cổ điển .


Nhiều người sẽ nói : không , Ông Obama có nói gì đến điều đó đâu . Nếu Ông Tổng-Thống Obama nói thẳng ra như vậy thì đâu còn là bài diễn văn nhậm chức của Tổng-Thống Mỹ nữa . Quý vị nên nhớ rằng những bài diễn văn như thế này được duyệt cực kỳ cẩn thận bởi những bộ óc mẫn tiệp nhất , chính người đọc cũng phải học thuộc lòng không thể sai dù một dấu phẩy ; chỗ nào phải gằn dọng , chỗ nào cần nói nhẹ cũng được các chuyên gia chăm lo đầy đủ . Nếu tinh ý quý bạn sẽ thấy quý ông Tổng-Thống Dân-Chủ thường đọc diễn văn rất trôi chảy ; chỉ có Ông Tổng-Thống Bush là hay bị ngập ngừng vì ông đã ở trung tâm của quyền lực từ khi còn trẻ nên quen nhìn vấn đề trong tổng thể , điều này cũng ảnh hưởng đến cá tính của ông khi làm Tổng-Thống . Nhưng dám quyết định thì khó ai sánh được với ông Tổng-Thống thứ 43 của nước Mỹ .


Đối với thế giới Hồi Giáo , Ông Obama nói rõ :” nhân dân sẽ phán xét những gì quý vị xây dựng , chứ không phải những gì quý vị phá hoại ..” đó là lời trách cứ nghiêm khắc không phải chỉ với nhóm cực đoan Hồi-Giáo không thôi mà với bất cứ chính quyền vô trách nhiêm nào đối với nhân dân nước họ . Xây dựng những cung điện huy hoàng lộng lẫy không phải là xây dựng khi mà dân chúng vẫn phải sống dưới gông cùm của hàng loạt các lý thuyết hoặc niềm tin không tưởng đã quá lỗi thời , được xử dụng như bình phong che đậy cho việc bảo vệ ưu quyền cho cá nhân hoặc phe nhóm . Xây dựng con người mới với những viễn kiến mới là cách thức xây dựng đích thực vậy , để những con người ấy biết cách hội nhập vào văn minh mới để làm thăng tiến cuộc sống của nhân dân từng vùng khác nhau . Đó là sứ mệnh cao cả và là một trách nhiệm mà nhân dân các nước ấy phải tự đứng lên để làm lấy lịch sử cho mình và của mình thôi . Hoa-Kỳ chỉ có thể giúp theo cách mà Hoa-Kỳ có thể làm được . Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó . : “ Các anh không làm thì chúng tôi sẽ lật đổ các anh để chuyển giao quyền lực về tay nhân dân , như đã sảy ra ở Irak hay Afghanistan “ . Qua bài diễn văn này , ta thấy Hoa-Kỳ đã bộc lộ quyết tâm xây dựng lại một thế giới mới và Hoa-Kỳ sẵn sàng đứng nhận trách nhiệm trụ cột cho tiến trình xây dựng ấy .


2 - BÀN THÊM VỀ THỰC TẾ HIỆN NAY ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN ĐÃ-QUA .


So với bài diễn văn mà Tổng-Thống Bush đọc trong lễ tuyên thệ nhậm chức trước đây 8 năm thì bài diễn văn nhậm chức của Ông Obama cụ thể và rõ ràng hơn nhiều . Như thế đường đi đã định cụ thể không lay chuyển được . Dĩ nhiên , như bất cứ chính quyền nào khác mới vào Bạch-Cung , tiên lễ hậu binh là việc cần theo . Hôm nay đây guồng máy ngoại giao đang chuyển động theo hướng này . Nhưng tôi biết rất rõ rằng các cuộc thương thuyết rồi chẳng đi đến đâu vì Hán đã lún quá sâu vào con đường sai lầm của mình không thể rút lại được nữa .


Khi Ông Obama vừa đắc cử , trên làn sóng này , tôi đã tuyên bố rất rõ rằng :” Ông Obama là Tổng-Thống của tôi , và rằng , mọi người Việt nên một lòng đứng sau lưng Ông Obama vì trách nhiệm của Ông cực kỳ nặng nề nhưng cũng rất mực vinh quang “ . Thực không vô tình khi phát biểu như vậy , vì rằng : “ đã đến lúc Hoa-Kỳ phải mạnh dạn công khai nhận lấy trách nhiệm của mình với thế giới , nếu trì hoãn thì thế giới này sẽ tan rã mau chóng “ .


Trong bài diễn văn nhậm chức , ông nói trực tiếp đến Khe-Sanh trong một trận đánh kéo dài hơn hai tháng trong khu vực chỉ cách biên giới Lào khoảng 10 Km và cách vùng phi quân sự hơn 20 Km . Hà-Nội đã tung hơn 3 sư đoàn đến đó để thử lửa với một lữ-đoàn Thủy-Quân Lục Chiến Mỹ và Tiểu-Đoàn 37 Biệt Động-Quân VNCH . Tướng Giáp muốn tái lập một Điên-Biên-Phủ năm xưa , dù bị thiệt hại nặng , nhưng biến cố tết Mậu-Thân đã làm cho cục diện chiến trường và chính trị thay đổi hẳn (tôi không đi vào chi tiết vụ này) . Vấn đề là cuộc chiến Việt-Nam từ năm 1946 đến 1975 đã tạo ảnh hưởng như thế nào xuyên suốt trong cuộc chiến tranh lạnh , đó mới là điều đáng nói .


Dù cuộc chiến Đông-Dương lần nhất (1946-1954) hay lần hai (1954-1975) thì các tướng lĩnh chỉ huy cao nhất của cả hai cuộc chiến ấy chỉ được đánh bằng một tay trái mà thôi . Quyết định chính trị mới thực sự quan trọng , vì mục tiêu của toàn cuộc chiến tranh lạnh là Liên-Xô là gián-tiếp , Bắc –Kinh trung gian , Hà-Nội hay Sai-Gòn chỉ là phương tiện gây áp lực thôi . Cho nên quân Mỹ ở Việt Nam phải chiến đấu không được phép thắng và chính phủ Việt Nam Cộng-Hòa phải đánh để thua . Có như vậy thì Liên xô mới mau chóng tan rã mà không cần đến chiến tranh nguyên tử ( dĩ nhiên còn lắm mưu kế khác nữa , dịp khác sẽ trở lại) .


Phải chăng cuộc chiến ấy không có lý tưởng và chính nghĩa ? phải chăng các chiến binh VNCH cũng như Mỹ không dám chiến đấu ? phải chăng VNCH thiếu lãnh đạo và tham nhũng ? phải chăng cuộc chiến ấy là bại trận và bi thảm như cách mà nhân dân Mỹ đã đối xử không đúng với các chiến binh Mỹ từ chiến trường Viêt-Nam trở về cũng như làn sóng người Việt tỵ nạn đến đây sau ngày 30-4-1975 . Không , trăm lần không phải như vậy . Về mặt chiến lược mà nói cuộc chiến ấy đã thành công hơn bất cứ cuộc chiến nào khác mà Hoa-Kỳ đã tham gia và những người Việt đã đứng trong hàng ngũ liên minh tự do dân chủ thế giới đã chiến đấu với tất cả lòng quả cảm phi thường và đã chấp nhận hy sinh to lớn để thế giới quật ngã Liên-Xô khi bức tường Bá-Linh bị đạp đổ vào năm 1990 . Cả thế giới phương tây chịu ơn bất cứ những ai đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến ấy .


Chúng ta , những người ý thức rất rõ về chiến lược toàn cầu trong đường dài , nên chia sẻ các ưu tư đối với cục diện thế giới sau ngày 30-4-75 ; khi mà mục tiêu kế tiếp là Hán cũng như nhóm cực đoan Hồi-Giáo , đồng thời không thể đẩy tình hình thay đổi quá mau lẹ được vì các trở ngại bên trong các xã hội Âu Mỹ cũng như việc thay đổi nước Hán cần thời gian để cho tình hình ở đấy chín mùi cho các thay đổi . Cho nên những ai đã tham gia vào cuộc chiến ấy đã bị cố tình bỏ quên , không một nghi thức nào dù là tối thiểu nhằm vinh danh những người đã nằm xuống dù Mỹ hay Việt . Với người Mỹ thì việc dựng bức tường đá đen ghi danh những người lính Mỹ tử trận ở Việt Nam tuy chưa thực sự xứng đáng nhưng cũng tạm đủ . Đối với những người đứng trong hàng ngũ VNCH nam cũng như nữ , dân sự cũng như quân sự thì sao ? đối với những người vẫn chiến đấu cho đến sáng ngày 30-4 oan nghiệt ấy , trong số những chiến binh ấy Tướng cũng như sỹ quan hay binh sỹ , nhiều vị đã oanh liệt tự sát để bảo tồn danh dự thì sao ? Đối với vợ con những tử sỹ VNCH (được ghi nhận 300,000 người bị tử thương) nay đa số phải sống trong đói khổ bên lề xã hội thì sao ? đối với thương binh VNCH cũng khoảng (600,000 người) không hề được chữa chạy thuốc men tối thiểu thì sao ? Tất cả các vị ấy đều là những người đã hy sinh tuổi trẻ của mình cho cuộc chiến .


Những người may mắn được đến đây định cư nhưng bệnh hoạn về thể chất cũng như tinh thần là điều hiển nhiên , rất nhiều người đang phải sống trong dằn vặt vì đã không hoàn thành được sứ mạng của người trai đối với đất nước loạn li ; xác thì ở đây mà hồn thì vẫn ở bên kia bờ Thái-bình-Dương . Họ còn bị dằn vặt hơn nữa khi các thế hệ con cháu đã bị nhồi sọ bởi các tuyên truyền một chiều của chế độ Cộng-Sản trong nước và được tiếp tay bởi các chiến dịch truyền thông cố tình tạo ra một hình ảnh xấu về VNCH để chế độ VNCH sớm đi vào tử lộ của ngày 30-4-75 .


Vong linh của tất cả những người đã từng chiến đấu kiên cường cho lý tưởng tự do cho thế giới đang đòi hỏi thế giới cần thực hiện các việc làm cụ thể để khôi phục lại danh dự của những người đã nằm xuống . Những người hiện còn đang sống trong nước cũng như hải ngoại đã một thời đứng trong hàng ngũ VNCH ( trừ những người đã quay lưng lại với lý tưởng ấy , dù họ đến đây ngay từ sau ngày 30-4-75) thực lòng yêu con người cũng như đất nước hoàn toàn có quyền đòi hỏi thế giới trong việc khôi phục lại danh dự cho các vị ấy . Đó không phải là trách nhiệm vật chất mà là trách nhiêm tinh thần . ĐÓ LÀ VẤN ĐỀ DANH-DỰ . Khi đã nói đến danh dự thì đó cũng là vấn đề đạo đức nữa .


Chúng ta hiểu rằng Ông Tổng-Thống Obama khi nhắc đến địa danh Khe-Sanh so sánh với các địa danh khác mà quân Mỹ đã tham gia để giải phóng Âu-Châu trong thế chiến II hay cuộc nội chiến hoặc cuộc chiến tranh dành độc lập của Mỹ thì Ông Obama đã chánh thức nhìn nhận vai trò của cuộc chiến thần thánh ấy rồi . Khi nhắc đến cuộc chiến ấy mà Ông Obama không hề dính líu vì lúc kết thúc với người Mỹ thì ông mới có 10 tuổi mà thôi , như thế ông cũng muốn vinh danh thế hệ Ông McCain là những người đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến ấy . Bước kế tiếp mà chúng ta : những người đã đứng trong hàng ngũ Việt-Nam Cộng-Hòa và tuyệt đối không bỏ ngũ là “ chánh thức yêu cầu Hoa-Kỳ cần kiên quyết khôi phục lại danh dự cho VNCH nói chung “ .


Chúng ta hiểu rằng , vẫn còn một số việc cần làm , nhưng rồi ngày ấy cũng phải tới thôi có thể trong tám năm cầm quyền của Ông Obama (tôi hy vọng như thế) hoặc lâu hơn thế , chúng ta cứ kiên nhẫn chờ đợi , dứt khoát ngày ấy phải tới và cũng có thể được thể hiện bằng một bức tượng lớn lao làm hậu cảnh cho bức tường đá đen ở Hoa-Thịnh-Đốn .


Bài diễn văn nhậm chức của Tổng-Thống Obama đã được nhiều người dịch ra tiếng Việt một cách rất xuất sắc . Nhưng vẫn có những đoạn mà người đọc chưa chắc đã hiểu thực về nội dung hàm chứa bên trong . Ở đoạn kết ông nhắc đến cha ông 60 năm trước đã không được một quán ăn nhỏ nhất cho một việc làm . Đó là tình cảnh của cha ông lúc còn nhỏ và ông Obama đã được nước Mỹ nuôi nấng dạy dỗ để trở thành Tổng-Thống Mỹ quyền lực nhất toàn cầu . Việc như vậy cũng chỉ có thể sảy ra ở Mỹ mà thôi , kỳ dư không thể sảy ra ở bất cứ quốc gia nào khác .


Nhưng đằng sau con số 60 này còn hàm chứa một ẩn ý khác thâm sâu hơn rất nhiều mà người ngoài không thể hiểu được . Trước đây tôi có thưa với quý vị rằng : “ người Mỹ họ rất am tường về cụ Lý-Đông-A “ . Con số 60 mà Ông TT Obama nói đến ở đây còn bao hàm ý nghĩa liên quan đến cá nhân cụ Lý cũng như học thuyết nhân chủ mà cụ Lý đã đề ra và người Mỹ cũng như phương Tây đang theo . Dĩ nhiên thánh kinh cũng như truyền thống Mỹ do các vị khai phá nước Mỹ đã đặt ra thông qua hiến-pháp cũng như bản tuyên ngôn độc lập Mỹ cách nay hơn 200 năm cũng đã đặt ra hướng đi ấy rồi . Nhưng học thuyết nhân chủ mà cụ Lý đã đề ra hàm súc , cụ thể và dễ đi vào lòng người hơn mà không sợ lâm vào thế bị đụng độ giữa các văn hóa khác nhau . Phật Giáo, Hồi-Giáo , Thiên Chúa Giáo , Do Thái Giáo…đều có thể dung nạp được mà không sợ bị phản ứng ngược . Tôi hy vọng rồi ra Hoa-Kỳ sẽ tạo điều kiện để học thuyết này được quảng bá trong quần chúng , nhất là các vùng đang đắm chìm trong các tranh chấp chủng tộc,tôn giáo .


3 – VÀI DỰ KIẾN .


Trước đây đã khá lâu trong các bài viết của mình , tôi đã nêu lên các vấn đề liên quan đến Châu-Phi , Nam-Mỹ theo cách thức mà Hoa-Kỳ phải nhận lấy trách nhiệm trong việc xây dựng lại Châu-Phi cùng với Âu-Châu . Khi cuộc tranh luận giữa bà Hillary và Ông Obama trong nội bộ Đảng Dân-Chủ đang sảy ra , tôi có nói rằng Ông Obama là biểu tượng toàn bích để Hoa-Kỳ thực hiện kế hoạch tâm lý chiến về mặt chiến lược . Tôi cũng một lần nữa nói đến lục địa Châu-Phi nay đã mất tinh thần rất nặng nề , hầu như bị bỏ quên chả ai thèm đếm xỉa tới , nay là lúc cần khôi phục lại nềm tin nơi lục địa này .


Trong bài diễn văn nhậm chức , ông Obama đã nhắc đến Châu-Phi với những hứ hẹn cụ thể : như đem nước sạch đến cho dân cư , nuôi dân Châu-Phi khỏi đói , ngăn ngừa các chứng bệnh truyền nhiễm . Những việc ấy trong thời Tổng-Thống Bush đã có các chuẩn bị thích đáng khi cho lập Bộ Tư-Lệnh toàn Phi-Châu căn cứ chính đặt ở Djibuti ven bờ Hồng-Hải cũng như ông đã hứa cấp viện 15 tỷ Dollar cho việc ngăn ngừa bệnh AIDS . Ông Obama trong diễn văn của mình đã cam kết cụ thể hơn hẳn so với những gì mà vị tiền nhiệm đã làm . Các trì trệ ở Châu-Phi hoặc ngay cả ở nước Việt ta đều xuất phát từ thái độ ngoan cố của Bắc kinh mà ra cả . Bắc kinh quyết không chịu buông tha con mồi mà chúng đang dồn mọi nỗ lực để chiếm đoạt .


Việc này cùng với hàng loạt việc khác liên quan đến cục diện toàn cầu như Irak , Afghanistan , Pakistan , Iran , Palestine ,Grugia ,Ukraina , Nga .cũng như vấn đề kinh tế , tài chánh toàn cầu chỉ có thể giải quyết được trọn gói khi vấn đề Trung-Cộng được giải quyết rốt ráo . Cách thức giải quyết như thế nào không phải là chủ đề được bàn luận hôm nay . Cứ như cục diện hiện nay trước lúc Ông Bush rời Bạch-Cung thì ông đã đạt được một số tiến bộ được coi là có ý nghĩa quan trọng đối với các phía liên quan (còn sớm quá để bàn các việc này) để Ông Obama và bà Hillary tiếp nối .


Vấn đề Hán hoàn toàn không có tiến bộ gì nhất là sau bài diễn văn nhậm chức của Ông Obama thì Hán lại càng tỏ ra cứng rắn hơn đối với nhiều vấn đề quốc tế khác , nhất là khi nội các Bill Clinton trở lại Bạch-Cung (bây giờ thì Hán chẳng tin Bush hay Bill Clinton hoăc Obama) . Tình hình này cho thấy nội các Obama vẫn còn phải đối diện với một thử thách lớn lao trong thời gian không xa (có nhiều chắc chắn trong năm 2009 này) . Điều này có thể làm thay đổi một vài ưu tiên trong chương trình làm việc của Ông . Nhưng dù sao ta vẫn nên bàn vài điều liên quan đến cách thức mà ông thực hiện các chính sách và đường lối ông đã trình bày trong diễn văn nhậm chức .


Thứ nhất là vấn đề nuôi Châu-Phi . Đây là một đòi hỏi cấp bách và đạo đức đối với Âu-Châu cũng như Hoa-Kỳ . Một bên thì núi bơ bể sữa đổ đi , bên kia thì đói rách suốt mấy chục năm trường , ngày càng rơi vào nội chiến giữ chủng tộc và tôn giáo . Việc khôi phục lại chính sách viện trợ thực phẩm thặng dư đã được mở rộng trong thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh nay cần được tái lập trên quy mô lớn với sự phối hợp toàn diện của đủ mọi cơ quan thuộc chính quyền liên bang cũng như các tổ chức tư nhân . Khi dã nuôi no thì mới nói đến việc canh cải lại nông nghiệp cho lục địa này được ; khi Hán bị đẩy lùi để đi vào phân rã thì việc cải tổ tận gốc rễ châu lục này mới tiến hành được , như vậy môi sinh mới được bảo toàn để họ có thể tự mình nuôi mình và tự mình lo cho mình được . Việc này là cần thiết vào lúc này khi mà dự trữ nông phẩm của Mỹ hiện nay ở mức độ quá cao .


Thứ hai là Nếu thiếu người Mỹ gốc Châu-Phi thì nước Mỹ không thể hùng mạnh như ngày nay . Như vậy người Mỹ và cả Âu-Châu đều có một món nợ tinh thần với Châu-Phi , theo đúng truyền thống Mỹ là ân oán phân minh . Như vậy Hoa-Kỳ trở lại Châu-Phi quả là hợp đạo lý vậy . Nhưng ai có thể làm việc ấy một cách hoàn mỹ nhất nếu không phải là bộ phận chủ lực chính là người Mỹ gốc Châu-Phi hiện nay .


Quan sát cộng đồng người Mỹ gốc Châu-Phi để lại cho ta hai nhận định trái ngược nhau . Thứ nhất là một bộ phận đã chứng tỏ là rất trí tuệ , có khả năng lãnh đạo cao , rất kỷ luật đủ sức làm việc lớn đối với thế giới . Nhưng một bộ phận khác lại quá trì trệ , các giá trị gia đình ít được tôn trọng , nhiều người trong số họ có liên quan đến luật pháp theo cách này hoặc cách kia . Đưa bộ phận này tiến lên ngang bằng với các cộng đồng khác là một ưu tiên hàng đầu hiện nay đối với nước Mỹ . Ông Obama lên làm Tổng-Thống thứ 44 của Mỹ là một đòn tâm lý đánh vào cộng đồng người Mỹ gốc Châu-Phi để nhắc nhở cho họ thấy nguồn gốc của họ và họ còn có trách nhiệm với nguồn gốc của họ nữa . Cộng đồng người Mỹ gốc Châu-Phi còn quá nhiều việc phải làm và cần quyết tâm làm thì mới đáp ứng được với kế hoạch mà Ông Obama đã nói tới trong bài diễn văn nhậm chức của mình .Hãy tưởng tượng thế này , cùng một công việc ở Châu-Phi thì một người Mỹ trắng làm chắc sẽ không hay bằng một người Mỹ gốc Châu-Phi đứng làm . Một kế hoạch như vậy được tiến hành sẽ thu dụng rất nhiều người trẻ gốc Châu-Phi tại Mỹ trong nhiều cơ quan thuộc Liên-Bang , như thế sẽ khôi phục được niềm tin từ cả hai cộng đồng Châu-Phi tại Châu-Phi cũng như tại Mỹ .


Đối với Cộng –Đồng người Việt cũng như nước Việt , chúng ta thấy rất rõ rằng : Hán bị phân rã thì thế nào xung quanh cũng chẳng ít thì nhiều bị vạ lây . Hán đi vào khủng hoảng thì Việt thế nào cũng chịu nhiều đau khổ , nên các diễn biến trong nước hiện nay không phải là điều xa lạ với những ai theo dõi tình hình một cách chặt chẽ .


Bài diễn văn nhậm chức của Ông Obama là điều mà tôi chờ đợi đã lâu , rất mừng là điều ấy đã xác nhận những gì mà chúng tôi có dịp trình bày trên làn sóng này trong thời gian dài đã qua . Trong thời gian cầm quyền của Tổng-Thống Bush , Ông bận tâm với hai cuộc chiến và với kế hoạch lùa tiền của các quốc gia được cai trị bởi độc tài tham nhũng vào Mỹ để từ đây các tài nguyên ấy được xử dụng cho việc xây dựng lại thế giới sau này . Phàm bất cứ người làm chính sách nào đều cũng phải thấy là kế hoạch càng lớn thì việc tập trung tài nguyên vào một mối phải được coi là ưu tiên hàng đầu . Anh không có tiền thì anh không thể làm được điều gì cả , nói suông thế thôi (như người Cộng-Sản hay nói mà chẳng làm gì cả) . Cho nên vấn đề Việt-Nam là vấn đề nhỏ đối với ông , nhưng trong tám năm ấy , Ông Bush cũng đã hơn một lần tiếp những người mà cộng đồng người Việt không mấy tin tưởng về mặt lập trường . Nhiều người Việt nghĩ rằng chính quyền Mỹ hay chơi trò hai mang (double standard) .


Khi ông Obama công khai nói tới quốc gia tham nhũng và độc tài như là lời minh thị xác định lập trường của mình . Người Việt yêu con người và yêu nước chân chính hiện đang sống tại Mỹ - dù có quốc tịch hay không - cũng như đại bộ phận người Việt trong nước Việt vẫn một mực tin vào chính nghĩa mà người Mỹ đã đề cao trong suốt lịch sử của mình , nay bày tỏ hy vọng rằng : “Tổng-Thống Obama sẽ khác với vị tiền nhiệm là chỉ tiếp khi thực sự cần đối với những người Việt chân chính mà thôi .( Những vị này Hoa-Kỳ biết rõ ) .


Xin chúc cho vị Tổng-Thống thứ 44 của Hoa-Kỳ được nhiều sức khỏe và xin ngài cẩn trọng xem xét những gì mà tôi đã trình bày trong bài viết này .


Xin đa tạ ngài

Lê-Văn-Xương
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Một kế hoạch 900 tỷ đô la

Ngô Nhân Dụng

Tổng Thống Barack Obama và các đại biểu quốc hội Mỹ đang đi dần dần tới một kế hoạch kích thích kinh tế. Ði từ từ, vì khi phải bàn việc chi tiêu 900 tỷ mỹ kim, chắc chắn người ta khó đồng ý với nhau ngay. Ví thử quý vị là một đại biểu quốc hội Mỹ mà sắp bàn vấn đề này, với 900 tỷ Mỹ kim mình phải quyết định đem chi vào việc nào, quý vị có nghĩ tới việc dành một số tiền trong đó để chi vào việc gì ích lợi nhất cho các cử tri đã bầu mình hay không? Với hơn 500 đại biểu quốc hội, bên kia là ông tổng thống và chính phủ của ông với những lời hứa hẹn họ đã nói khi tranh cử, chúng ta có thể tưởng tượng biết bao nhiêu là ý kiến muốn đem dùng 900 tỷ Mỹ kim vào những việc hữu ích!

Tình hình kinh tế xuống trước hết vì cả hệ thống ngân hàng bị kẹt với những món nợ xấu. Các công ty tài chánh, tạm gọi chung là các ngân hàng, đã cho vay bừa bãi suốt mấy năm trời. Lỗi ở ngân hàng trung ương giữ lãi suất ở mức thấp lâu quá. Lỗi ở các chính phủ Trung Quốc, Á Rập dư tiền đem sang cho Mỹ vay dù lãi suất thấp. Tiền nhiều quá, rẻ quá, các ngân hàng không đi vay rồi đem về cho vay lại cũng uổng. Nhưng trong hệ thống tài chánh người ta lại có nhiều sáng kiến, đem “đóng gói” lại các món nợ mua nhà, dùng làm bảo đảm mà đi vay nợ thêm, phát hành các trái phiếu. Nhiều “sáng chế” đưa ra những loại chứng khoán mới trong hệ thống tài chánh. Các chứng khoán mới này, gọi là đê ri va ti, giúp cho các ngân hàng càng dễ vay nợ hơn, mối rủi ro của các món nợ được đem chia ra cho nhiều người cùng chịu, thì nghĩ rằng rủi no cũng nhẹ hơn.

Ðùng một cái, nhiều người vay nợ xấu không trả được nợ. Ðến lúc đó những trái khoán bảo đảm bằng những món nợ khó đòi đó không ai muốn mua nữa. Các công ty tài chánh và ngân hàng lớn bị kẹt vì trong nhà chứa bao nhiêu thứ trái khoán nhiễm độc đó. Ðiều độc hại là người ta không biết chắc những chứng khoán nào bị nhiễm độc nhiều hay ít. Ai dám mua những trái khoán đó nếu không biết đến lúc nào các món nợ trong đó sẽ ngưng không trả được nữa? Tháng Mười, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đoán là có khoảng 1,400 tỷ đô la trái khoán bị nhiễm độc sẽ không còn giá trị nào nữa. Ðến Tháng Giêng, họ nâng con số ước đoán lên 2,200 tỷ đô la. Tại sao con số lại tăng lên? Vì người ta không thể biết món nợ nào là món nợ xấu trước khi chính con nợ báo tin không có tiền trả nợ! Và số con nợ xấu đó ngày càng xuất đầu lộ diện nhiều hơn.

Hậu quả là các ngân hàng bị ứ đọng với hàng ngàn chứng khoán không ai muốn mua. Chính các ngân hàng biết sẽ lỗ vốn, phải để dành tiền đề phòng, họ có tiền cũng không còn đem cho ai vay nữa. Các xí nghiệp không vay được tiền chạy công việc, người tiêu thụ không vay được tiền sắm xe, mua nhà, tất cả kéo nhau cùng đi xuống! Nước Mỹ mỗi tháng mất nửa triệu công việc làm. Trong một ngày Thứ Hai vừa qua, các công ty lớn loan báo sẽ sa thải 76,000 công nhân. Con số mới ra cho thấy trong quý sau cùng của năm 2008 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ đã giảm gần 4% một năm, một tỷ lệ giảm sụt nặng nề nhất từ 26 năm nay.

Trong tình trạng kinh tế suy thoái bình thường thì muốn thúc cho các hoạt động đi lên ngân hàng trung ương có thể bơm thêm tiền vào trong xã hội. Giảm lãi suất là một cách thúc cho người ta vay nợ và chi tiêu hoặc đầu tư. Nhưng khi ngân hàng trung ương đã giảm lãi suất xuống đến số không rồi thì không giảm thêm được nữa. Ngân Hàng Trung Ương cũng có thể bơm tiền vào nền kinh tế theo những cách khác. Nhưng ngay việc bơm tiền vào cho các ngân hàng cũng không thúc được cho các ngân hàng nhúc nhích thêm trong việc cho vay. Vì họ vẫn còn kẹt với những trái khoán không ai muốn mua. Nói chung, là những “biện pháp tiền tệ” mà ngân hàng trung ương vẫn dùng bây giờ trở thành vô dụng. Người ta vẫn ví như đi đẩy một sợi dây, thay vì kéo dây, ngân hàng trung ương trở nên bất lực.

Chính vì vậy mà tất cả mọi người đồng ý: Chính phủ phải đứng ra làm công việc đẩy tiền trực tiếp vào trong nền kinh tế. Trong tình trạng người tiêu thụ và các xí nghiệp, các ngân hàng không chịu đẩy cho đồng tiền luân chuyển, chính phủ phải đứng ra làm công việc đẩy tiền đó. Thiếu tiền thì đi vay nợ, khi nào kinh tế lên sẽ thu thuế trả nợ. Ðấy là lý do chính phủ Bush trước đây và chính phủ Obama bây giờ, thuộc hai đảng khác nhau, triết lý kinh tế cũng khác nhau, mà đều đồng ý phải đi vay nợ lấy tiền kích thích kinh tế. Số khiếm hụt ngân sách đã lên đến ngàn tỷ đô la, và sẽ khiếm hụt thêm hàng ngàn tỷ nữa trong năm tới. Nhưng không có đường nào khác.

Hạ Viện Mỹ đã chuẩn y một ngân sách 819 tỷ kích thích kinh tế với tỷ số 244 - 188 phiếu. Tất cả các dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu chống. Nhiều đại biểu Dân Chủ chống (11 vị) vì kế hoạch kích thích chưa vừa ý họ. Ở cả hai viện quốc hội ai cũng có ý kiến. Có người muốn phải ghi vào trong luật là các xí nghiệp nhận được công việc do chính phủ trao cho thì chỉ được mướn các công nhân quốc tịch Mỹ mà thôi! Có người đòi khi kích thích kinh tế thì chỉ được phép mua những hàng hóa sản xuất ở Mỹ thôi. Người muốn phải dành nhiều tiền trợ giúp các gia chủ sắp bị xiết nhà; người muốn tăng trợ cấp cho những người thất nghiệp; mỗi người một ý. Khi không được vừa ý, dù là một ý rất nhỏ, họ có thể bỏ phiếu chống! Các đại biểu Cộng Hòa nêu một ý kiến lớn; họ đòi chương trình kích thích này phải bớt phần chính phủ chi tiêu và tăng thêm phần cắt giảm thuế. Triết lý “giảm thuế” này đã được thi hành mạnh mẽ dưới thời Tổng Thống George W. Bush, và đến nay vẫn còn được đảng Cộng Hòa tin tưởng.

Câu hỏi là: Có hai con đường để chính phủ đẩy tiền vào trong nền kinh tế: chi tiêu trực tiếp hoặc giảm thuế để dân có tiền đem tiêu. Ðường nào có hiệu quả kích thích hơn? Người thích giảm thuế thì cho là người dân đem tiền tiêu bao giờ cũng có hiệu quả hơn để đồng tiền cho các công chức nhà nước tiêu! Người nghĩ ngược lại thì cho rằng khi trả lại thuế hay cắt thuế, người dân nhận được tiền chưa chắc đã đem tiêu, nhất là trong lúc này ai cũng lo sắp mất việc. Như vậy thì không có hiệu quả kích thích bằng chính phủ đưa tiền trả lương cho những người làm việc! Việc gì, các đại biểu quốc hội sẽ bầy ra.

Nhưng việc thông qua hơn 800 tỷ ở Hạ Viện tương đối dễ dàng. Cái cửa sắp tới phải đi qua là Thượng Viện. Ở đây đảng Dân Chủ có đa số 59-41, chưa đủ 60 phiếu để buộc các nghị sĩ Cộng Hòa phải ngưng thảo luận, nếu họ muốn dùng thủ tục filibuster không cho Thượng Viện biểu quyết. Liệu Tòa Bạch Ốc và các nghị sĩ Dân Chủ có thể thuyết phục được một số nghị sĩ Cộng Hòa ủng hộ mình hay không?

Có thể, nếu có sự trao đổi. Một số nghị sĩ, Dân Chủ hoặc Cộng Hòa, có những ý kiến họ rất thiết tha. Nếu chiều theo ý thì họ có thể bỏ phiếu thuận. Có người muốn tăng số tiền miễn thuế cho những người vay nợ khi mua nhà. Có người muốn buộc các ngân hàng phải ngưng ngay việc xiết nhà dù chủ nhà không trả được nợ. Trong dự luật chi tiêu kích thích trị giá gần 900 tỷ ở Thượng Viện có những khoản chi bị nhiều nghị sĩ chống đối; thí dụ chi cho cơ quan y tế quốc gia để nghiên cứu thuốc ngừa cảm cúm. Nhiều người không hiểu tại sao chương trình ngừa cúm đó lại đem cho vào kế hoạch kích thích kinh tế? Nghị Sĩ Olympia Snowe, tiểu bang Maine, là một người đặt câu hỏi đó. Bà thuộc đảng Cộng Hòa, và là một trong những tác giả viết về thuế trong dự luật kích thích kinh tế ở Thượng Viện. Nếu Tổng Thống Obama chinh phục được bà Snowe ủng hộ thì sẽ có nhiều nghị sĩ Cộng Hòa khác cũng sẽ ủng hộ kế hoạch kích thích kinh tế của ông. Ông Obama có thể sẽ nhượng bộ Nghị Sĩ Cộng Hòa Charles Grassley, tiểu bang Iowa, nếu ông đồng ý thêm vào trong dự luật một khoản giảm thuế cho những người lợi tức khá giả nhưng tìm được nhiều lý do hợp pháp để không phải đóng thuế, gọi là Thuế Tối Thiểu (alternative minimum tax).

Tuần lễ tới sẽ là thời gian các nghị sĩ ở Thượng Viện và Tòa Bạch Ốc gặp gỡ để mặc cả, trao đổi với nhau, với hy vọng cuối cùng các nghị sĩ Cộng Hòa sẽ không dùng tới thủ tục filibuster nói dai, nói hoài không cho biểu quyết. Thượng Viện được tiếng là nơi các đại biểu thảo luận với nhau như người lớn, chứ không gay go om sòm như ở Hạ Viện. Cho nên hiện nay ông trưởng khối đa số (Dân Chủ) ở Thượng Viện đang hy vọng sẽ có 80 nghị sĩ bỏ phiếu thuận. Ít nhất, ông hy vọng sẽ có 5, 6 nghị sĩ Cộng Hòa sẽ ủng hộ dự luật.

Vì trong tình trạng kinh tế đang báo động như bây giờ, không mấy ai muốn đóng vai kỳ đà cản mũi trước một kế hoạch cứu nguy kinh tế. Ðảng Dân Chủ cũng không muốn một mình đứng ra nhận trách nhiệm về kế hoạch này. Vì không ai biết với 900 tỷ sắp chi ra đó bao giờ kinh tế Mỹ sẽ hồi phục! Nếu may mắn đến cuối năm nay mà kinh tế bắt đầu lên trở lại thì ai cũng muốn đứng ra nhận công của mình; còn nếu đến sang năm kinh tế vẫn chưa lên thì sẽ nhiều người khoe với cử tri là chính mình đã biết trước nên bỏ phiếu chống!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Việt Nam có thể cứ tiếp tục lơ lửng
giữa trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được không?

Phong Uyên
“…Nhà cầm quyền ĐCSVN không thể cứ tiếp tục lơ lửng giữa bầu trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được nếu không muốn như một trái khí cầu, càng bay cao gần trời Trung Quốc, càng dễ bị nổ tung. Đã đến lúc phải có một sự chọn lựa rõ ràng…”

Ngày 16-1 vừa rồi, nhân dịp tổng thống Obama nhậm chức, ban Việt ngữ Đài BBC có phỏng vấn ông Lê Công Phụng, đại sứ tại Mỹ. Ông Phụng là người được giới truyền thông nước ngoài biết đến nhiều vì ông đã làm trưởng phái đoàn đàm phán về biên giới với Trung Quốc và được coi là đã gặt hái được kết quả trong cuộc đàm phán nên được thăng chức thứ trưởng Ngoại giao. Có thể BBC nghĩ việc đưa ông Phụng làm đại sứ tại Mỹ là nằm trong ý định của chính quyền CSVN đang muốn tăng cường quan hệ với Mỹ để đối lại và làm cân bằng quan hệ với Trung Quốc trước nay vẫn bị thua thiệt, nên đã phỏng vấn ông để qua những câu trả lời có thể đoán biết được một phần nào ý định đó.

Phân tích những câu trả lời của ông Phụng tôi thấy không thể không đưa ra những nhận xét sau đây:

1. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ chính quyền cộng sản Việt Nam có ý thay đổi lập trường của mình, vẫn tưởng có thể tiếp tục bám lấy Tàu để giữ vững chế độ mà vẫn tiếp tục moi tiền của Mỹ như đưới thời Bush và như trước khi có khủng hoảng kinh tế toàn cầu:

Câu hỏi của BBC: "Việt Nam có bao giờ đặt vấn đề sẽ là đồng minh với Mỹ hay không" là có ý thăm dò Việt Nam có hay không ý muốn dựa vào Mỹ để thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc. Ông Phụng trả lời: "quan hệ 2 nước đi nhanh hơn không có nghĩa là Việt Nam đang chuẩn bị thành đồng minh của Hoa Kỳ".

" Đi nhanh hơn " chả có nghĩa gì cả và để đi tới đâu? Lẽ ra ông Phụng nên dùng từ ngữ "thắt chặt hơn" nếu sợ từ ngữ "Đồng minh" có thể làm phật lòng Trung Quốc. Vả lại muốn được thành Đồng minh của Hoa Kỳ không phải dễ: Trong lịch sử Hoa kỳ chỉ có 2 nước đồng minh là Anh và Pháp. Thật ra là từ sau Thế chiến thứ 2 chỉ có Anh là đồng minh thật sự của Mỹ.

Câu hỏi tiếp theo: "Quan hệ tay ba của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ như thế nào?"

Ông Phụng trả lời: "Với Trung Quốc Việt Nam phải học cách sống chung, còn với Mỹ Việt Nam sẽ.... thúc đẩy quan hệ hợp tác trên mọi lãnh vực."

Xin hỏi ông Phụng, một người đã có nhiều kinh nghiệm với Trung Quốc, Việt Nam phải học ai để sống chung với Tàu? Không có lẽ học Tây Tạng? Còn học Đại Hàn hay Đài Loan thì quan hệ hợp tác không đủ: Mỹ không rút quân khỏi Đại Hàn, Hạm đội 7 Mỹ canh chừng eo biển Đài Loan là vì Đại Hàn và Đài Loan có quan hê đặc biệt với Mỹ. Muốn "sống chung" với Tàu mà không bị bóp chết lần lần thì tất nhiên Việt Nam phải có một quan hệ với Mỹ gần như Đại Hàn và Đài Loan.

Vả lại, hợp tác theo nghĩa từ điển là “chung sức để làm một sự việc gì”. Cho tới nay có việc nào Hoa Kỳ cần phải chung sức với Việt Nam ngoài việc kiếm xương lính Mỹ chết và Mỹ đã phải trả với giá nào? CSVN chỉ hiểu "hợp tác" theo nghĩa "viện trợ" một chiều có lợi cho mình.

Câu hỏi: “còn 2 cường quốc kia (Trung Quốc và Mỹ) có lôi kéo Việt Nam không?”

Trả lời: “Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị rất nhạy cảm, sát cạnh Trung Quốc nên cả 2 đều có nhu cầu tranh thủ Việt Nam.”
Image
Trò láu cá: bắt cá hai tay


Ông Phụng hơi lạc quan. Cứ tưởng Việt Nam "quí giá đậu đen", hai cường quốc này đang tranh thủ Việt Nam về phe mình. Ông phải biết rõ hơn ai hết là cũng vì Việt Nam "nằm ở vị trí địa chính trị sát cạnh Trung Quốc" nên mới mang hoạ. Về chính trị Trung Quốc không cần tranh thủ với ai vì các nhà cầm quyền cộng sản đã tự "bó thân về với Triều đình" rồi. Từ thượng cổ Trung Quốc luôn luôn nuôi ý định chinh phục Việt Nam và lần này có nhiều hi vọng thành công vì đã biết tính giai đoạn để kết hợp quân sự với kinh tế: Giai đoạn 1, dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt biên giới, chiếm đoạt các hải đảo của Việt Nam. Giai đoạn 2, dùng sức mạnh kinh tế bóp cho chết Việt Nam. Con đại xà Trung Quốc đang quẫy phá làm tan nát nền kinh tế bằng tràn ngập Việt Nam qua ngả nhũng lạm và buôn lậu, hàng hoá nhiễm độc rẻ tiền, sẽ tiếp tục phun nọc độc bùn đỏ bôxít phá hoại môi trường miền Nam Việt Nam để triệt tiêu sản xuất nông nghiệp Việt Nam, biến Việt Nam thành một bãi xả rác. Còn Hoa Kỳ với Obama "tranh thủ" Việt Nam để làm gì? Có một thời chính quyền Bush bị giới tài phiệt hám lợi chi phối, đã lơ là nhân quyền chỉ nghĩ tranh thủ thị trường kiếm lợi ở Việt Nam. Tham nhũng, lừa đảo, dối trá, đã làm những tay kinh doanh tài phiệt này vỡ mộng.

2. Những bất đồng về đối ngoại trong nội bộ không hề có mà chỉ có những phản ứng yếu ớt của một vài người còn chút lương tri khi thấy phải nhượng bộ Trung Quốc quá nhiều. Những "quyết sách" vẫn chỉ là những quyết định của phe Bảo Thủ:

BBC nhắc lại nhận xét của cựu thứ trưởng ngọai giao Trần Quang Cơ ".... trong chiến lược đối ngoại, nội bộ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam có bất đồng".

Ông Phụng trả lời: "Ý kiến khác nhau đó là lúc bàn thảo. Còn khi đã quyết sách rồi mọi người quyết tâm thực hiện... bằng không sẽ không làm được gì... người ngoài sẽ thấy mình không ổn... không hiệu quả".

Ông Phụng tự thú nhận là ĐCSVN vẫn trung thành với nguyên tắc "Tập trung dân chủ" của Staline: bàn cãi cho lấy lệ chứ "quyết sách" đã được "ai đó" quyết định từ trước rồi, mọi người chỉ quyết tâm thực hiện. Ông Phụng không biết là trong một đảng dân chủ mọi bàn cãi đều công khai. Và trước một vấn đề, có thể có nhiều giải pháp khác nhau, đối lập nhau. Nhưng giải pháp chiếm được đa số (nghĩa là chỉ cần hơn một phiếu chứ không cần phải 99%) sẽ được chọn. Chính cái 99% mới là cái "người ngoài thấy mình không ổn" vì thấy ngay cái tính chất độc đoán của nó. Thử hỏi ở Việt Nam có cái "bỏ phiếu" nào bị dưới 90%? Ông Phụng cũng không lấy làm lạ là mọi quyết sách đều được quyết định trong nội bộ lãnh đạo cấp cao chứ không cần phải được Quốc Hội chuẩn y?

ĐCSVN còn bảo thủ hơn đàn anh Trung Quốc là không dám bắt chước ĐCSTQ thay "Tập trung dân chủ" bằng cái gọi là "Dân chủ nội bộ đảng": các phái trong ĐCSTQ có quyền đưa ra những ý kiến đối chọi nhau, những đường lối hoàn toàn khác nhau. Phái nào thắng sẽ áp dụng thẳng cánh đường lối của mình và sẵn sàng thanh trừng phe có ý chống lại. Vì vậy mà có thể thay đổi chính sách, cải tiến chế độ. Thí dụ như hiện nay "lãnh đạo" và "quản lí" đều nằm trong tay Hồ Cẩm Đào vừa là Bí thư Đảng vừa là Chủ tịch nước, nên không có sự chồng chéo. Còn trong ĐCSVN, cái gọi là "quyết sách" chỉ là kết quả của một sự mặc cả chia nhau giữa phe "Lãnh đạo" và phe "Quản lý" để đi đến "Đồng thuận" và để các phe phái cứ tiếp tục "dậm chân tại chỗ".

3. Người Việt hải ngoại vẫn bị coi là thù địch với chế độ mà điển hình là ông Joseph Cao:

BBC nhắc lại: "Ông Joseph Cao vừa trở thành dân biểu gốc Việt đầu tiên trong QH Mỹ. Một trong những việc làm đầu tiên của ông là đề nghị đưa Viêt Nam trở lại danh sách các nước đàn áp tôn giáo" và hỏi: “Đại sứ có đồng ý là những vấn đề chính trị, nhân quyền sẽ luôn là khúc mắc giữa chính phủ trong nước và Việt kiều tại đây?”

Ông Phụng trả lời: “ Giữa Việt Nam và Mỹ đang có cách nhìn khác nhau về dân chủ và nhân quyền

... Nhưng tôi nghĩ...ông Obama làm tổng thống thì ông vẫn là người gốc Kenya. Bà con người người Việt ở đây muốn làm đến thủ tướng, tổng thống thì vẫn là người Việt. Mà nếu đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm... Không nên chống lại đồng bào mình.”

Tôi hơi lạ là một vị đại sứ ở một nước lớn nhất hoàn cầu, học rộng biết nhiều, lại có cái lí luận sơ đẳng y hệt như các vị "tiến sĩ" trong Ban Tư duy của Đảng:

1. BBC hỏi một đường ông Phụng trả lời một nẻo: Ông Phụng tự nhiên so sánh "cách nhìn” Nhân quyền của Việt Nam với Mỹ. Ông không biết là cả thế giới (trừ mấy nước XHCN cha truyền con nối) chỉ có một cách nhìn Nhân quyền. Muốn biết định nghĩa Nhân quyền chỉ cần truy Wikipédia: "Nhân quyền là những quyền gắn liền với nhân vị của mỗi con người trong nhân loại, bất di bất dịch, không thể biến đổi được trong bất cứ trường hợp nào và chống lại mọi áp chế đến từ mọi xã hội, mọi quyền uy, mọi hệ thống, mọi chế độ đặt trên nền tảng một đẳng cấp, một chủng tộc, một dân tộc, một giai cấp, một tập đoàn xã hội”. Ý tưởng Nhân quyền đã phát sinh ra từ khi loài người biết suy nghĩ. Nghĩa là đã từ 3000 năm nay với Thánh Kinh, với các tư tưởng Ba Tư và Hi Lạp chứ không phải là sản phẩm của Tây phương đặt ra để khuynh đảo các nước "Xã hội Chủ nghĩa" còn lại như lí luận của ban Tư duy. Cũng vì coi trọng nhân quyền hơn cả quyền của dân tộc mình, của đất nước mình, mà các tổ chức bảo vệ nhân quyền ở Mỹ như Amnesty International, Human Rights Watch... đã luôn luôn đả kích chính quyền Bush về nhà tù Guantánamo. Chính quyền Bush cũng chả bao giờ dám quy tội các tổ chức này là bênh khủng bố chống lại nước Mỹ cả. Thử hỏi ở Việt Nam số trại Cải tạo gấp bao nhiêu lần Guantánamo? Chắc chắn là số phận người tù Guantánamo không đến nỗi hẩm hiu bằng những "ngụy quân", "ngụy quyền", "ngụy văn nghệ sĩ, bác sĩ" Nam Việt Nam.

2. Làm đại sứ ở một nước mang tên là Hợp Chúng Quốc gồm cả trăm chủng tộc khác nhau, tới từ trăm nước khác nhau, mà ông Phụng không biết là mỗi người Mỹ xử sự như một công dân Mỹ chứ không theo gốc gác của mình. Ông còn sai lầm và trong tiềm thức chắc vẫn chưa bỏ được óc kỳ thị chủng tộc, óc theo phụ hệ nên ông nghĩ ông Obama gốc Kenya vì cha ông Obama là người Kenya. Và dẫu 100% gốc Kenya đi nữa, ông Obama cũng sẵn sàng với tư cách một chức trách Mỹ chỉ trích chính quyền Kenya nếu chính quyền này có chính sách đàn áp dân chủ nhân quyền.

3. Ông Phụng cũng vẫn coi Đảng với nước là một và mọi người phải tuân theo khẩu hiệu "Trung với Đảng là trung với nước". Ông Cao đã dám đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước đàn áp tôn giáo thì ông Cao là người "không đứng đắn lắm... nói xấu Việt Nam.... chống lại đồng bào mình". Ông Cao đã phạm tội nói xấu nước vì cho là Đảng đàn áp tôn giáo. Thử hỏi nếu còn ở Việt Nam mà bị qui tội như vậy thì ông Cao sẽ bị nằm trong trại Cải tạo bao nhiêu năm? Chính sách đàn áp tôn giáo là của Đảng chứ đâu phải của người dân Việt Nam, nạn nhân của chính sách đó? Nếu Đảng nghĩ đến thanh danh của nước, nghĩ đến nhiều người dân Việt chỉ còn chút hi vọng là bám vào tôn giáo mà cũng bị áp chế, thì chỉ cần thay đổi chính sách không chiếm đất, không bỏ tù, không quản thúc các linh mục, các mục sư, các nhà sư, các chức sắc Hoà Hảo, Cao Đài thì ông Cao sẽ không có lí do gì mà không rút lại đề nghị của mình.

Tôi xin trở lại câu hỏi của BBC mà tôi cho là cốt lõi: "Đại sứ có đồng ý là những vấn đề chính trị, nhân quyền sẽ luôn là khúc mắc giữa chính phủ trong nước và Việt kiều tại đây?":

Tôi thông cảm với ông Phụng là ông rất khó trả lời vì vẫn phải nói theo tư cách một người đại diện cho Đảng. Ông đành phải đánh trống lảng và đưa ra những cái "ưu ái" mà Đảng dành cho Việt kiều như được “miễn visa", cho hưởng "song tịch", cho "mua nhà”... Tôi xin nói thẳng là "cho hưởng song tịch" là cái làm nhiều người gốc Việt, nhất là những người đã phải bỏ nước ra đi, không dám về Việt Nam. Còn miễn visa, mua nhà... chỉ là chính sách thương mại mà nhiều nước đã thực thi để khuyến khích du lịch, phát triển ngành địa ốc, tạo công ăn việc làm cho người dân.

Nhưng nếu ông Phụng chịu khó để Đảng qua một bên, tự đặt mình vào đúng cương vị một đại sứ Việt Nam phải nghĩ đến quyền lợi đất nước và tiền đồ dân tộc, thì sẽ không thể không đồng ý là chính quyền cộng sản phải giải quyết những vấn đề chính trị, nhân quyền nếu thật sự muốn bớt đi những khúc mắc với người Việt nước ngoài:

Phải thoả mãn những đòi hỏi tối thiểu về chính trị và nhân quyền:

Không cần phải giải quyết toàn bộ những vấn đề chính trị mà chỉ cần bắt đầu ban bố cho người dân một vài tối thiểu dân chủ như tự do ngôn luận. Báo chí không mở miệng được, truyền thông trên mạng bị tường lửa ngăn chặn thì làm thế nào phanh phui diệt trừ được tham nhũng? Đất nước sẽ rơi vào tay Trung Quốc vì tham nhũng là vũ khí sắc bén nhất mà Trung Quốc đang dùng để chặt phá kinh tế Việt Nam.

Vấn đề nhân quyền cũng vậy. Người thường dân chỉ đòi hỏi quyền tối thiểu được làm người: có tự do tín ngưỡng, có một chút của riêng mình, một mảnh đất, một căn nhà mà không bị cướp đoạt. Quyền tự do đi lại muốn ở đâu thì ở không cần phải có hộ khẩu. Quyền không phải kê khai trên tờ giấy tùy thân mình thuộc sắc tộc nào, Kinh hay Thượng, theo tôn giáo nào ... Vì tất cả những qui định, những xác định thành phần, sắc tộc, đều chỉ có mục đích kiểm sát, khống chế mỗi con người.

Nếu những đòi hỏi tối thiểu mà còn không được thoả mãn thì khó mà có thể có hoà giải với người Việt nước ngoài và chỉ nuôi dưỡng những hận thù đưa đến những hành động quá khích, tuy đơn lẻ, như vụ phá hoại vài bức tranh của triển lãm "Nghệ thuật cất tiếng" vừa rồi.

Thoả mãn những đòi hỏi này cũng là điều kiện tất yếu để cứu vãn nền kinh tế tài chính nước nhà:

Như tôi đã nói trên, âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc đã đi tới giai đoạn 2 là phá hoại kinh tế, môi trường Việt Nam, làm cán cân xuất nhập với Trung Quốc mỗi ngày lại thêm mất thăng bằng để làm kiệt quệ tài chính Việt Nam vì nguồn tiền đến từ thặng dư xuất khẩu với Âu Mỹ và kiều hối sẽ chui vào túi Trung Quốc hết. Giai đoạn này còn nguy hiểm gấp 10 lần giai đoạn 1 dùng áp lực quân sự chiếm đất chiếm đảo.

Để đối phó lại, nhất là trong hiện tình kinh tế toàn cầu suy thoái, chỉ có cách là:

- Tăng cường xuất khẩu, tăng cường kinh doanh với các nước phương Tây.

- Nới rộng tự do cho người dân trong nước để Việt kiều các nước Tây phương có lí do tiếp tục gửi tiền về.

Cho tới nay nguồn ngoại tệ chảy vào nước đều đến từ Tây phương theo 2 nguồn là thặng dư xuất nhập và kiều hối. Lượng tiền này tương đương bằng 1/3 tổng sản lượng của cả nước. Nhưng có điều cần phải biết:

Trong hiện tình suy thoái kinh tế toàn cầu, rất khó mà cạnh tranh được với dumping của Trung Quốc. Ngoài ra những loại hàng đến từ các nước kém mở mang phần nhiều là giống nhau nên người tiêu thụ Âu Mỹ có nhiều lựa chọn, thường dành ưu tiên cho những đồ đến từ những nước biết kính trọng nhân quyền. Nếu nhà cầm quyền CSVN vẫn cứ coi "Đòi hỏi Nhân quyền Dân quyền" là chống lại mình thì khó mà bán đồ cho các nước dân chủ Tây phương được.

8 tỷ Đô la kiều hối (không kể tiền chui) phần nhiều là tiền của người Việt di tản gửi về giúp gia đình trong nước và nhờ vậy cả chục triệu người sống được. Những người gởi tiền đã luống tuổi, người thân trong nước cũng mỗi ngày một ít; nguồn kiều hối sẽ cạn dần nếu con cháu những người này thấy không có lí do gì tiếp tục gửi tiền về để nuôi dưỡng bộ máy đàn áp dân quyền nhân quyền của Đảng.

Tôi xin kết luận: Nhà cầm quyền ĐCSVN không thể cứ tiếp tục lơ lửng giữa bầu trời Trung Quốc và đất Hoa Kỳ được nếu không muốn như một trái khí cầu, càng bay cao gần trời Trung Quốc, càng dễ bị nổ tung. Đã đến lúc phải có một sự chọn lựa rõ ràng.

Phong Uyên
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Có Cảm Được Nỗi Đau?

Minh Đức
Trước ngày Tết qua You Tube, người Việt khắp thế giới đã được xem một đoạn video ghi lại những âm thanh, hình ảnh la hét cười đùa của những người còn trẻ đến thưởng ngoạn hoa tại Lễ Hội Hoa Anh Đào do một hội đoàn có tên Hiệp Hội Giao Lưu Văn Hóa Việt-Nhật tổ chức tại phố Giảng Võ Hà Nội vào ngày 6 tháng 4 năm ngoái. Hình ảnh cho thấy những người trẻ này đã vít cành bẻ nhánh, hái hoa, trộm đèn, một cách rất “vô tư” thoải mái. Đến cuối ngày thì các nhánh hoa Anh Đào được nâng niu mang từ Nhật sang trở thành trơ trụi, tan nát bên cạnh những lắc đầu ngao ngán của những người Nhật trong ban tổ chức. Tờ Tuổi Trẻ Online ngày 7/4/2008 sau khi “tường thuật” về lễ hội Hoa Anh Đào đã kết luận: “nhưng thật đáng tiếc là đoạn kết của lễ hội đã kết thúc không có hậu: nhiều người thiếu ý thức đã lao vào vặt trụi hoa đào để làm kỷ niệm!”

Gần đến ngày Tết, cũng qua báo chí, người hải ngoại lại được đọc được xem các tin tức, hình ảnh và những trao đổi của người dân trong nước phàn nàn về các hành vi đáng xấu hổ của các trai thanh gái tú Hà Nội đến xem hội chợ Hoa qua một bài viết ngắn đăng trên Việt Báo Việt Nam số ra ngày 2/1/2009 kết quả được ghi nhận là “Tả Tơi giữa phố hoa Hà Nội” ngay trong đêm khai mạc 31/12/2008. Bằng những hành vi cầm nhầm của con người Xã Hội Chủ Nghĩa, những người đi xem hoa đã tự “xem của người như của mình” và đã thản nhiên ngắt, bẻ, hái, lấy đi bất cứ những gì có thể lấy được như các lồng chim, chậu hoa, vân vân, đang được trưng bầy.

Sát Tết vài ngày, cụ tiến sĩ Cung Khắc Lược, người được xem là một trong “tứ trụ Thư pháp Việt Nam” (cùng các bậc lão thành về thư pháp: Lê Xuân Hoà, Nguyễn Văn Bách, Lại Cao Nguyện) đang ngồi viết chữ tặng miễn phí cho nhưng ai yêu thích nghệ thuật thư pháp tại vỉa hè Văn Miếu – Quốc Tử Giám thì bị công an Việt Cộng đến giật bút, cuốn giấy, vất tráp lên xe chở đi. Nhìn hình ảnh cụ đồ già chắp tay vái lạy, xin các vị công an đáng tuổi con cháu cụ [mà mặt mày như những cái bị] nên có cách đối xử với nhà nho sao cho đúng vai trò người đang giữ gìn pháp luật quốc gia mà cay mắt. Cụ sau cùng chỉ biết nghẹn lời nhìn theo xe công an lăn bánh. Khuôn mặt cụ chạy dài những đường nhăn, ánh mắt cụ sầu tủi.

Sau Tết vài ngày một bài viết có tên “Đến thăm nhà bác Lê Khả Phiêu” do một nhóm phóng viên trong nước viết đưa lên mạng thì mọi người lại được nhìn thấy hình ảnh tư gia sang trọng với những báu vật quốc gia được trưng bầy trong nhà của nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu, một trong những lãnh đạo CSVN đã đặt bút ký nhượng các phần đất biển của cha ông Việt Nam cho Trung Quốc. Đọc các lời phát biểu nhân nghĩa của Lê Khả Phiêu đăng kèm theo bài báo phỏng vấn sau đó, trông nụ cười đắc ý thỏa mãn của Lê Khả Phiêu, người Việt khắp nơi không thể không liên tưởng tới những nỗi đau khổ trăn trở của những người lao động Việt Nam trong những ngày lễ tết cổ truyền đã không đủ cơm ăn hay sữa bú cho con.
Image
Qua các hệ thống truyền thông BBC, VOA, RFA, RFI, vào các ngày trước Tết, thế giới cũng được nhìn thấy cảnh các công an cán bộ Việt Cộng một cách hung hãn, bất chấp những sự van xin gào khóc của dân, đã xô đẩy hành hung, cào đất phá ruộng của người dân tại các vùng như Yên Sơn, Hà Nội, hay Kiên Giang, miền Nam, vân vân, để xây lên những khu công nghiệp mới theo hợp đồng kinh doanh với tư bản ngoại quốc.

Vài sự kiện nêu trên được truyền đi trên các mạng điện tử truyền thông thế giới đã nói lên những ý nghĩa của chúng.

Việt Nam rồi sẽ ra sao dưới chế độ hiện tại theo “tư tưởng và “đạo đức Hồ Chí Minh [?!]” hoặc đi theo cái gọi là định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?

Chế độ CSVN biến thái, rõ ràng đã và đang biến người Việt Nam trong nước trở thành nô lệ cho một thiểu số lãnh đạo vô tài bất xứng. Những kẻ này đang là chỗ dựa cho một lũ thời cơ kinh tế và chính trị ở hải ngoại a dua theo đóm ăn tàn. Chúng ngoài ra trong vai trò đối tác đã tạo điều kiện cho các nhóm tư bản tài phiệt thế giới tha hồ bóc lột sức lao động của người dân Việt Nam và khai thác một cách hủy hoại tài nguyên đất nước Việt Nam.

Đảng CS biến thái và nhà nước tham nhũng Việt Nam, trên thì nhân danh công lý cho phép lãnh đạo tha hồ vơ vét, ăn cắp tài nguyên đất nước làm của riêng. Dưới thì cho phép đàn em mặc sức trấn lột cướp đoạt của dân. Trong cùng lúc cái thể chế độc tài XHCN đã chặn bước tiến của các nhân tài dân tộc, biến người Việt Nam trở thành những con người thụ động, co thủ, yên phận để thoả những nhu cầu vật chất của chủ nghĩa tiêu thụ tư bản đang tràn ngập trên đất nước.

Trong cái tâm thức chính trị xã hội như vậy, nhóm lãnh đạo đảng CSVN dù biến thái một cách tồi tệ cũng đã có thể cho tới nay, vẫn tiếp tục cai trị đất nước. Cho nên không lạ khi Tanaka Masao, một cảnh sát viên Nhật Bản đã có lời phê phán miệt thị dân tộc Việt Nam trong vụ bắt phi công VN chở hàng ăn cắp về nước tiêu thụ: “Tôi không thể tưởng tượng và hiểu được: một dân tộc có 4000 năm văn hiến, dũng cảm, dám đánh và đã chiến thắng 4 cường quốc mạnh nhất thế giới trong chưa đến nửa thế kỷ để giành lấy Độc lập và Tự do lại để thế hệ con cháu phải đi ra làm ăn tại nước ngoài do không đủ sống, sinh ra ăn trộm?”

Nghe lời phê phán của người cảnh sát viên Nhật Bản mà nhói trong tim.

Hỡi người Việt năm châu có cảm được nỗi đau?

Minh Đức
Ngày 2 tháng 2 năm 2009
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Từ 10 điều tiên đoán của Edward Harrrison

Edward Harrrison là 1 chuyên gia cố vấn kinh tế tài chính vĩ mô thế giới cho công ty GMA ( Global Macro Advisors ).

Trước đây ông là thành viên của công ty Cố vấn đầu tư Lion Stratergy Advisors tại NY. và có làm việc cho Deutsche Bank, Bain Consulting, và Yahoo trong tư cách cố vấn. Ông nói được tiếng Đức, Hòa lan , Thuỵ điển, Pháp , cũng như Anh ngữ. Ông tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh MBA tại Columbia university và cử nhân kinh tế tai Dartmouth College tiểu bang New Hampshire USA.
10 tiên đoán cho tình hình kinh tế thế giới 2009 :
1. Nội các Obama sẽ không có khả năng thay đổi gì cụ thể thay đổi hiện trạng kinh tế. Hệ quả với chuyện quanh quẩn dậm chân tại chổ trong việc tài trợ bao quát cho ngân hàng , dẫn đến một khủng hoảng khác từ mất mát của sự bảo chứng từ bằng tài sản ( Asset Backed Securities losses ) .

2. Nội các Obama sẽ làm thỏa mãn cho khuyng hướng xã hội bằng cách tái phối trí toàn diện hệ thống ngân hàng với sự chi tiêu khổng lồ về công ích. Cánh Dân chủ ( Liberals ) sẽ ưu thế trong việc chỉ định ít nhất 2 thẩm phán tối cao pháp viện thay cho Ruth Bader Ginsburg và John Paul Stevens rời chức vụ vì quá lớn tuổi.

3. Nội các Obama sẽ đối diện với chuyện một tiểu bang nào đó đi đến phá sản. Obama sẽ "bail out" cho tiểu bang này .

4.. Đông Âu sẽ đi đến cuộc khủng bằng cuộc khủng hoảng 1997 tại châu Á. Hậu quả là là sự rối loạn trong dân chúng và sự kiện đi đến gần sụp đổ của hệ thống ngân hàng Châu Âu.

5.. Hệ thống ngân hàng Ái nhĩ Lan sẽ bị tác động mạnh bởi sự khủng hoảng niềm tin và
đưa đến tình trạng tương tự tại Iceland từ những khoan nợ bị mất và quá tải của hệ thông ngân hàng. EU sẽ bail out toàn bộ hệ thống ngân hàng Ái nhĩ lan.

6. Giá dầu sẽ lao đầu xuống chỉ còn 25$/thùng cuối năm 2009 ..

7. Kinh tế Trung cộng sẽ bị sụp đổ từ sự cắt giảm khổng lồ hàng nhập cảng từ Trung cộng. Nước này sẽ gồng mình sống còn với những thách đố nghiêm trọng dồn dâp. Nhưng chưa ngưng ở đây : sức tăng GDP tổng sản lượng nội địa của Trung cộng sẽ lao đầu xuống còn 2% mà thôi , sự bất ổn trong dân không thể tránh được

8. Rào cản quan thuể (tarrif) cùng chinh sách nâng đỡ cho xuất cảng và thi đua giảm giá chỉ tệ làm rối loạn quy ước tự do mậu dịch quốc tế. Ban đầu các quốc gia lợi dụng WTO để đưa họ lên nhưng sau này chính họ chỉ hành động có lợi một chiều mà thôi. Hoa kỳ là nước đầu tiên bảo vệ cho lợi ích mình trước đã.( Unilaterally ) .

9. Giá nhà cửa của Hoa kỳ sẽ ngưng giảm , hệ quả vụ Suprime ít hoành hành đi. Trái lại, Anh và Ái nhĩ lan rối loạn về tín dụng địa ốc sẽ gia tăng khủng khiếp.

10. Hoa kỳ sẽ bắt đầu làm hòa với Venezuela, Cuba, hay Iran .. Thái độ này là dấu hiệu Obama sẽ đi theo học thuyết Sino-American của chính phu Nixon trước đây (Sino- American của tt Nixon cũng không đồng minh mà cũng không là kẻ thù với Tàu) ; nội các Obama sẽ kiện toàn thêm từ học thuyết này của cố tt Nixon.

lời bàn: thưa quý bạn :
Nếu 10 tiên đoán của Edward Harrrison là đúng thì chúng ta sẽ nghĩ tới những điều có thể xảy ra :
1. Tàu cộng sẽ mất hết sức lực dự trữ vì cuộc ĐẠI SUY THOÁI KINH TẾ tại nội địa nước Tàu nên không còn sức đâu để " thanh toán VN " nữa. Đây cũng là hồn thiêng sông núi phò trợ cho cái họa mất nưoc khỏi xảy ra.

2 . tình trạng VN về kinh tế rất bi đát , xã hội rối loạn ; đã thế từ sư. BẤT TÀI CỦA ĐẢNG CSVN làm mức độ rối loạn khủng hoảng tăng thêm .

3. Nội bộ quyền lực của CSVN vì sự kiện rối ren của Tàu cộng đưa đến sự đấu đá lẫn nhau ra mặt ;
( Nguyễn T Dũng cho con làm "dâu" nước Mỹ cũng có thể là nước cờ của Y dự phòng cho hậu sự )

Và cũng có thể những điều rất tệ hại như sau :
chính sách Obama là cầu an cho nội địa nước Mỹ là chính cũng từ chính sách Sino-American nhai lại tt Nixon có thể tt Obama không còn quan tâm Biển Đông nữa , đổi chác cho Tàu công với quyền lợi song phương Mỹ Tàu . Như vậy Tàu rãnh tay làm "chuyện đã rồi " thì VN hay Đông Nam Á rất là nguy nan.

Tóm lại từ những sự thực quá khách quan , con trâu Kỷ Sửu không hẳn là con TRÂU VÀNG được mà có thể là "con trâu đen không có đồng cỏ để ăn không có đất mà cày. " trong năm 2009

Riêng xk giống như bài viết trước trong Olympic 2008 của Tàu cộng : OLYMPIC 2008 CON SỐ 0 TO TƯỚNG ; Tàu cộng đã tung hê hơn 65 tỷ làm chuyện Olympic để răn đê thiên hạ , xem thiên hạ sắp sửa vào trong cái "LỒNG CHIM" trong bàn tay "Hán đế họ Hồ"??? như trong ngày khai mạc Olympic.

Giờ đây thì Tàu cộng có gì??? MƯU SỰ TẠI NHÂN THÀNH SỰ TẠI THIÊN. năm 2009 sẽ là năm tan nát ốm yếu cho Tàu cộng như con trâu già ốm yếu chờ ngày xe thịt lấy da mà thôi.

xin chào các bạn

Xuân Khê
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khi dân Mỹ chọn một đảng chính trị

Ngô Nhân Dụng

Những người theo dõi chính trị nước Mỹ đều biết trong những tuần lễ đầu kể từ khi nhậm chức, Tổng Thống Barack Obama đã ký nhiều quyết định đảo ngược lại các chính sách của ông Gorges W. Bush, vị tổng thống tiền nhiệm.

Ông Obama ra lệnh đóng của trại tù Guantanamo trong vòng một năm; mà năm 2003 chính Tổng Thống Bush đã quyết định dùng nhà giam đó. Ông Obama cho phép cơ quan viện trợ USAID được giúp tiền cho những chương trình kế hoạch hóa gia đình của nước khác, dù những chương trình này có thể dùng phương pháp phá thai.

Nhân viên chính phủ Obama cũng cho thấy nhiều chính sách của chính phủ cũ sắp thay đổi. Ông giám đốc trung ương tình báo CIA xác định với các đại biểu quốc hội rằng ông coi việc giội nước dọa làm người ta chết ngạt là một hình thức tra tấn, một quan điểm khác ông giám đốc cũ. Ông bộ trưởng tài chánh mới nói với quốc hội rằng ông thấy chính phủ Trung Quốc đã “cố ý dìm giá” đồng nhân dân tệ để tạo hối suất quá thấp, cho các nhà xuất cảng Trung Quốc được lợi. Lời kết tội đó không chắc đã đưa tới những hành động cụ thể trong những ngày tháng sắp tới, nhưng đã thay đổi không khí cuộc bang giao ngay lập tức. Các viên chức về kinh tế, thương mại hai nước sắp gặp nhau sẽ không mang nụ cười thân thiện như thời ông Bush còn làm tổng thống.

Một quyết định của ông Obama liên can đến tiểu bang California. Năm 2002 California đã làm luật buộc các hãng xe hơi phải giảm 30% số khí thải làm nóng khí quyển, tăng hiệu quả dùng xăng nhanh gấp đôi so với đòi hỏi của luật liên bang. Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) dưới thời Tổng Thống Bush đã bác bỏ điều luật này của tiểu bang, mặc dù tòa án tối cao đã phán California làm đúng. Ông Obama đã ra lệnh EPA phải chấp nhận đạo luật của tiểu bang, đi ngược lại với người tiền nhiệm.

Những thay đổi trên đây được nhiều người khen và cũng bị nhiều người chỉ trích. Ở đây chúng tôi không có ý bàn về nội dung các chính sách này. Ðiều chúng tôi quan tâm là chính quyền mới đã thay đổi ngay những chính sách cũ, ngay trong những ngày đầu tiên lên cầm quyền. Và đó là một đặc tính của quốc gia có hai đảng lớn này. Mỗi lần nước Mỹ thay đổi đảng nắm quyền tổng thống chúng ta đều chứng kiến cảnh đó.

Ông Obama muốn chứng tỏ ông làm đúng những lời đã hứa với những người đã đi vận động bầu ông làm tổng thống. Về trại giam Guantanamo thì hai ứng cử viên tổng thống năm ngoái đều chủ trương phải đóng cửa. Cả hai ông Obama và McCain đều không chấp nhận phương pháp đe dọa nhấn nước khi hỏi cung. Nhưng ông Obama vẫn muốn thi hành lời đã hứa bằng những hành động nhanh chóng và quyết liệt, nếu không những người đã ủng hộ ông sẽ thất vọng.

Nhiều người ủng hộ ông Obama khi tranh cử đã tỏ ý thất vọng. Những tổ chức người đồng tính nói họ “cực kỳ thất vọng” khi ông Obama mời một vị mục sư ra đọc những lời cầu nguyện và chúc phúc trước lễ tuyên thệ của ông, mà vị mục sư này nổi tiếng về hoạt động chống hôn nhân đồng tính ở California.

Khi đảo ngược chính sách viện trợ liên can tới việc “phá thai” thì ông Obama cố ý cho thấy ông khác với ông Bush trên một vấn đề rất quan trọng. Từ lâu, đây vẫn là một điểm phân biệt giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Ngay khi mới nhậm chức năm 2001, Tổng Thống Bush đã ra lệnh USAID không được trợ cấp những chương trình hạn chế sinh đẻ ở nước khác, nếu các chương trình này chấp nhận hành động phá thai. Lúc đó ông Bush đã đảo ngược một chính sách của cựu Tổng Thống Clinton. Trước đó 8 năm, Tổng Thống Clinton cũng hành động tương tự: đảo ngược một quyết định cũ của Tổng Thống Reagan.

Vấn đề chống phá thai trong các chương trình viện trợ có tính chất quan trọng đối với 300 triệu dân Mỹ như thế nào?

Thực ra, đối với an ninh quốc gia hoặc quyền lợi kinh tế của nước Mỹ; chuyện một cô gái ở Uganda hay ở Indonesia có phương tiện phá thai hay không không hệ trọng bao nhiêu. Nhưng trong dân chúng Mỹ có những nhóm cử tri đông đảo thuộc cả hai đảng rất quan tâm đến vấn đề phá thai, mà họ coi là giết các sinh mạng đang thành hình. Nhiều người quyết liệt chống phá thai vì lý do tôn giáo, đạo đức. Ngược lại nhiều người Mỹ coi phá thai là một thứ quyền tự do của phụ nữ mà nam giới không coi trọng.

Các Tổng Thống Ronald Reagan và Gorges W. Bush được đảng Cộng Hòa đưa ra tranh cử, khi cầm quyền họ thi hành chính sách của đảng. Khi dân Mỹ bỏ phiếu, những người quyết tâm chống phá thai biết nên bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa, tin tưởng đó là những người đồng ý với lập trường đó. Các cử tri bầu cho đảng Dân Chủ nghĩ ngược lại, và bầu ngược lại.

Trong đời sống chính trị nước Mỹ, mỗi đảng chính trị là tập hợp của nhiều nhóm cử tri. Mỗi nhóm cử tri có những mối quan tâm riêng và cũng chia sẻ chung một số quyền lợi kinh tế và giá trị đạo đức. Họ có thể tụ họp dưới mái lều một đảng vì chia sẻ những quyền lợi, những khát vọng lớn với nhau.

Lòng ái quốc, lòng yêu tự do, tôn trọng quyền của mỗi công dân, ý muốn nước Mỹ hùng cường nhất thế giới; đó là những khát vọng lớn. Cả hai đảng có thể đều đề cao những giá trị, những khát vọng đó. Vậy làm cách nào để các cử tri thấy hai đảng khác nhau? Mỗi đảng phải tự chứng tỏ họ khác đảng kia, để các cử tri phân biệt. Thí dụ: Ai cũng yêu tự do, nhưng quyền tự do nào được coi là quan trọng hơn quyền nào? Tự do chọn hợp đồng bảo hiểm y tế tư, hoặc tự do phá thai theo ý muốn, quyền tự do nào coi là quan trọng hơn? Ai cũng muốn quốc gia hùng mạnh, nhưng thế nào mới gọi là hùng mạnh? Ðó là những câu hỏi mà mỗi đảng chính trị có thể đưa ra những câu trả lời khác nhau trong mỗi mùa tranh cử. Ðiều quan trọng là các cử tri được quyền tự do chọn, khi họ bỏ phiếu. Và quyết định của đa số cử tri sẽ được người khác tôn trọng. Ðó là “luật chơi dân chủ tự do.”

Những nhóm người Mỹ muốn bảo vệ quyền tự do mang súng, phần lớn ở miền núi hoặc nông thôn, ủng hộ đảng Cộng Hòa. Những người nhiệt tín về tôn giáo, và muốn cả xã hội chia sẻ lối sống theo đạo lý như của tôn giáo họ dậy, họ cũng thích đảng Cộng Hòa hơn. Những người chủ trương nên cho khai thác thêm nhiều mỏ dầu ở Mỹ, thay vì ngăn cản với những lý do như bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống, những người đó cũng thích đảng Cộng Hòa. Và còn nhiều nhóm khác, với những mối quan tâm hoặc quyền lợi đặc biệt, họ đã tụ họp chung dưới cùng một mái lều của đảng Cộng Hòa.

Ở phía bên kia, các công đoàn hoặc các nhóm di dân mới thường ủng hộ đảng Dân Chủ, theo một truyền thống đã có từ nhiều thế kỷ. Các thầy,cô giáo hay đứng về phía đảng Dân Chủ, đảng thường bảo vệ quyền lợi nghiệp đoàn giáo chức. Những người thiết tha bảo vệ khí quyển thấy đảng Dân Chủ là đồng minh của họ; cũng như những công nhân ngành may quần áo muốn bảo vệ công việc làm trước cuộc tấn công của hàng dệt may rẻ tiền từ các nước mới lên, họ coi là đảng Dân Chủ bảo vệ họ mạnh mẽ hơn.

Những thí dụ nêu trên chứng tỏ mỗi đảng chính trị ở Mỹ quy tụ nhiều nhóm dân chúng với các quyền lợi dị biệt. Họ không giống nhau hoàn toàn nhưng cùng bỏ phiếu cho một đảng vì tìm thấy trong đó những ứng cử viên chia sẻ một mối quan tâm như mình. Có những mối quan tâm lớn, có thứ nhỏ. Nhưng lớn hay nhỏ đều tương đối; vì có vấn đề đối với người này được coi là nhỏ nhưng đối với người khác lại là rất lớn.

Các nhà chính trị Mỹ thường thay đổi ý kiến tùy theo cử tri của họ, chứ không phải chỉ tùy theo lập trường của đảng họ. Ðối với đảng Dân Chủ chẳng hạn, quyền công dân được mang súng không bao giờ được ghi vào cương lĩnh của đảng. Nhưng bà Kirsten Gillibrand, mới được đề cử tạm giữ chức nghị sĩ tiểu bang New York trong 2 năm thay thế bà Hillary Clinton, lại là người cổ động mạnh mẽ cho quyền mang súng. Bà đã là dân biểu một vùng miền núi và miền quê ở tiểu bang New York, với rất nhiều cử tri coi việc xách súng đi săn và tự vệ là một thứ quyền thiêng liêng. Có cử tri sẵn sàng bỏ qua nhiều thứ quyền lợi khác, nhưng phải bảo vệ một quyền tự do mà họ thiết tha nhất. Nhiều người trong đảng Dân Chủ không thích bà Gillibrand, nhưng ông thống đốc New York cũng thuộc đảng Dân Chủ lại ủng hộ bà, vì ông mong các cử tri của bà sẽ bỏ phiếu cho ông trong hai năm nữa!

Có lúc mỗi đảng chính trị ở Mỹ trình bày một số triết lý chính trị lớn, khác với đảng kia, để thu hút các cử tri. Lập trường của một đảng không thể chỉ nêu lên các vấn đề nho nhỏ của địa phương. Thí du trong vấn đề chính phủ và doanh nghiệp, đảng Cộng Hòa thường vẫn đề cao vai trò của tư nhân, đề cao thị trường tự do; còn đảng Dân Chủ quan tâm đến các trách nhiệm lớn mà chính phủ phải gánh vác khi tư nhân không đảm trách được. Về đối ngoại, đảng Cộng Hòa thường tỏ ra cứng rắn, chủ trương phải sử dụng sức mạnh quân sự của nước Mỹ; còn đảng Dân Chủ thường tìm cách chinh phục các nước khác bằng viện trợ và hợp tác. Rõ ràng lập trường họ khác nhau trong những vấn đề lớn.

Tuy hai đảng thường công bố những tư tưởng nền tảng khác nhau như vậy, nhưng trong thực tế họ không phải lúc nào cũng gắn bó, ôm chặt lấy các lý thuyết đại cương này. Những triết lý căn bản trên khi đem thực hành sẽ thay đổi tùy theo hoàn cảnh. Có thật đảng Cộng Hòa chủ chiến, Dân Chủ hiếu hòa hay không? Chúng ta nhớ chính Tổng Thống Kennedy Ðảng Dân Chủ đã bắt đầu đưa các cố vấn Mỹ vào Việt Nam, cho tới khi Tổng Thống Nixon thuộc đảng Cộng Hòa chấm dứt cuộc chiến và rút quân về nước. Ông Bush khi tranh cử năm 2000 đã chỉ trích ông Clinton đem quân can thiệp vào chiến tranh Kosovo, mà ông thề sẽ không bao giờ dùng quân Mỹ giúp xây dựng chế độ mới cho những quốc gia khác. Nhưng sau đó chính Tổng Thống Bush bắt đầu cuộc chiến Iraq, để thay đổi chế độ chính trị của nước này; còn ông Obama thuộc đảng Dân Chủ lại hứa sẽ rút quân chiến đấu về Mỹ.

Về chính sách đối nội cũng vậy. Chính các vị Tổng Thống Reagan và Bush đã gia tăng số người và số cơ quan trong guồng máy nhà nước cũng như tăng ngân sách chính phủ liên bang; trong khi ông Clinton cắt giảm trợ cấp xã hội. Tổng Thống Bush luôn luôn đề cao tự do mậu dịch, nhưng khi cầm quyền ông lại tăng thuế nhập cảng thép, để chiều lòng các cử tri ở các tiểu bang sản xuất thép; ông chỉ bãi bỏ các sắc thuế đó sau khi tái đắc cử năm 2004. Ông Bush cũng chủ trương phải cắt giảm ngân sách chi tiêu của nhà nước như mọi vị tổng thống Cộng Hòa. Nhưng chính phủ của ông Bush đã tăng chi rất nhiều; đến mức biến ngân sách thặng dư (trên 200 tỷ Mỹ kim) khi ông nhậm chức đã trở thành khiếm hụt (hàng ngàn tỷ) trong vòng tám năm. Hai đảng chính trị ở Mỹ có những lúc phải chứng tỏ họ khác nhau, để cho các cử tri bỏ phiếu lựa chọn. Nhưng cũng có lúc họ đồng ý với nhau, vì có những nhu cầu chung của cả nước, hiển nhiên không ai cãi được.

Khi kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng thì cả ông Bush và ông Obama cùng chủ trương phải bành trướng vai trò của nhà nước, trong đó có việc tăng ngân sách chi tiêu hàng ngàn tỷ Mỹ kim mới.

Người ta dễ tưởng lầm rằng các vị tổng thống của hai đảng sẽ dễ thỏa hiệp với nhau trong những vấn đề nho nhỏ nhưng cương quyết bảo vệ lập trường của đảng trong những vấn đề lớn, những “quốc gia đại sự.” Thực ra không phải như vậy. Hai vị Tổng Thống Bush và Obama đồng ý với nhau trong kế hoạch lớn cần 700 tỷ Mỹ kim để cứu nguy tài chánh; ông Obama chưa nhậm chức đã giúp ông Bush thúc đẩy quốc hội chấp thuận món tiền này. Nhưng hai vị tổng thống này lại cương quyết bảo vệ những lập trường riêng trong những vấn đề nho nhỏ, không thỏa hiệp được. Thí dụ, quyết định phương pháp hỏi cung các tù nhân bắt được ở Afghanistan, họ khác nhau. Họ bất đồng ý kiến trong quyết định chi hay không chi mấy triệu Mỹ kim viện trợ cho một chương trình kế hoạch hóa gia đình ở một nước Á Châu hoặc Phi Châu, nếu chương trình đó chấp nhận việc phá thai. Trong chuyện này thì ông Bush chắc chắn nói không, ông Clinton và ông Obama thì cả hai đều nói có. Một vị tổng thống Cộng Hòa trong tương lai lên thay ông Obama sẽ cũng hành động giống ông Bush.

Cho nên khi người Mỹ nghe một vị tổng thống hô lên một khẩu hiệu, họ biết mỗi ông tổng thống hiểu nghĩa khẩu hiệu đó một cách. Khi một vị tổng thống hô hào tinh thần “Trách nhiệm” thì quý vị hiểu là gì? Một vị tổng thống Cộng Hòa chắc đang nhấn mạnh tới trách nhiệm của mỗi cá nhân phải tự lo cho mình, không nên chờ nhà nước giúp một tay hay một đồng đô la! Cho nên ông Bush muốn giảm bớt thuế, để mỗi công dân tự đóng tiền vào quỹ hưu bổng hay quỹ y tế họ lựa chọn lấy. Ngược lại, khi ông Obama đề cao khẩu hiệu “Thời đại của trách nhiệm” thì ông lại muốn nói đã tới lúc mọi người phải quên mình bớt đi mà nghĩ đến trách nhiệm đối với người khác, đối với quốc gia, với tập thể.

Phải công nhận rằng làm người dân một nước tự do rất vất vả. Mọi quyết định lựa chọn đều khiến người ta phải suy nghĩ, phân biệt, tức là vất vả.

Như đã trình bày trong bài trên, một người Mỹ khi bỏ phiếu bầu có thể lựa chọn theo quyền lợi chung, theo quyền lợi lớn của cả quốc gia; nhưng cũng có thể họ bỏ phiếu theo nhu cầu hoặc quyền lợi rất chuyên biệt, rất riêng tư của họ.

Như vậy thì một đảng chính trị nên đóng vai đại diện cho tất cả mọi người dân trong nước, hay chỉ có tham vọng làm đại biểu cho từng nhóm cử tri thôi? Ðây là một câu hỏi lý thú nên suy nghĩ. Câu hỏi này càng quan trọng khi có những đảng chính trị cứ nhân danh “đại diện cho toàn dân” để ép tất cả mọi người phải vâng lệnh mình. Chúng ta nên chọn lối chỉ có một đảng chung thôi, theo lối bán buôn, bán sỉ; hay là cứ để cho nhiều đảng bán lẻ rồi chọn trong nhiều đảng khác nhau? Chúng tôi sẽ chia sẻ ý kiến cùng quý vị trong một bài sau.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests