Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Về buổi hàn huyên với Cung Trầm Tưởng tại Virginia

Trịnh Bình An

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 10 năm 2012, tại nhà hàng Harvest Moon,Virginia (USA) người gốc Việt có dịp tụ hội trong một buổi “Ăn trưa và hàn huyên với thi sĩ Cung Trầm Tưởng nhân dịp phát hành thi tập ‘Một Hành Trình Thơ 1948-2008’”.

Từ lâu, dường như đã thành lệ, các buổi ca nhạc gây quỹ thường được tổ chức tại các nhà hàng còn các buổi ra mắt sách thường được tổ chức ở các trường học hay trung tâm văn hóa, nhưng buổi ra mắt sách của Cung Trầm Tưởng là một ngoại lệ. Có lẽ bắt đầu từ ý tưởng của Ban Tổ Chức nhằm tạo một bầu không khí vui tươi và ấm cúng giữa bạn yêu thơ và nhà thơ, vì thế buổi ra mắt sách trở thành một bữa cơm thân mật có văn nghệ giúp vui thay vì chỉ có các diễn giả cầm mích trên bục.

Ý tưởng này tỏ ra thành công khi số lượng khách tham dự lên đến trên 300, ngồi kín nhà hàng vốn thường là nơi tổ chức đám cưới. Chương trình gồm có: ăn trước, kế đến vừa ăn vừa nghe ca hát, ngâm thơ; sau cùng là hội thoại với nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

Buổi trưa ai nấy đói bụng, món ăn nóng sốt lại rất hợp khẩu vị nên được mọi người chiếu cố nồng nhiệt. Ông Hoàng Song Liêm giới thiệu ông Cung Trầm Tưởng vì ông Liêm vừa là bạn ngày nhỏ, vừa là chiến hữu binh chủng Không quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và cũng là người làm thơ.
Image
(Từ trái) Cung Trầm Tưởng, Hoàng Song Liêm, Uyên Thao

Khách đến tham dự đa số là lớp người cỡ... Cung Trầm Tưởng, nghĩa là từ 55 đến 85. Người trẻ có mặt, đáng ngạc nhiên, lại là những ca nhạc sĩ trình diễn. Thấy những bạn trẻ ngâm thơ say sưa hẳn những người bậc cha chú không khỏi bồi hồi cảm mến, hy vọng vào một thế hệ con cháu không bỏ quên nguồn cội.
Bà con được dịp thưởng thức nhiều thi phẩm và nhạc phẩm (thơ phổ nhạc) của Cung Trầm Tưởng gồm có: Tiễn em, Kiếp sau, Vô vàn, Bên ni bên nớ, Mùa thu Paris, Chiều đông, Lũng kín, Ta còn yêu ta và Vạn Vạn Lý. Ban nhạc khá hùng hậu với keyboard, violon, sáo, guitar và piano. Được biết các nhạc sĩ và ca sĩ còn là những tình nguyện viên thường xuyên có mặt trong các sinh hoạt cộng đồng người Việt vùng Washington DC-Maryland-Virginia.

Phần ca nhạc tuy hậu hĩnh nhưng vì nằm trong một khuôn khổ thời giờ hạn hẹp của chương trình nên dẫn đến kết cục đáng tiếc: phần trò chuyện với Cung Trầm Tưởng thành ra quá ngắn. Chính nhà thơ đã phải cắt bỏ phần phát biểu của ông, còn phần Hỏi-Đáp với đồng hương cũng chẳng trọn vẹn, nhiều người không có dịp hỏi chuyện nhà thơ, như ông Lê Thiệp (1), đã giơ tay rồi nhưng đợi mãi vẫn không tới lượt.

Điều đáng tiếc khác là non nửa khách tham dự đã bỏ ra về trước khi tan tiệc. Hình ảnh một bữa tiệc chưa tàn mà đã vãn có cái gì đó vừa kỳ cục vừa chua chát. Với tư cách là người tham dự, người viết xin đưa ra một vài nhận xét như sau:

Trước hết, cần kể đến những người tổ chức. Phải công tâm mà nói buổi họp mặt có được là nhờ nhiệt tình của rất nhiều người, đó là những thành viên trong Ban Tổ Chức, những vị có tên được in trên giấy và cả những vị có tên nhưng không quản công lao lo lắng cho mọi việc từ nhỏ cho tới lớn như vẽ phông sân khấu, ngồi bán vé, cắm hoa trang trí, v.v. Tất cả đều nhằm tỏ lòng quý mến và biết ơn tới Cung Trầm Tưởng - người đã góp phần đưa thi ca miền Nam tiến lên giai đoạn cởi mở và phóng khoáng hơn.
Image
Cung Trầm Tưởng

Với một bữa cơm Tàu 7 món với đủ tôm, cá, gà, rau… người ít đi ăn bên ngoài cũng biết là số tiền 20 đôla một người chỉ vừa đủ chi trả cho nhà hàng. Người viết nghe lỏm được rằng BTC tuy biết vậy nhưng vẫn ráng giữ giá rẻ với mong mỏi số khách đến sẽ đông hòng làm vui lòng người đến tự phương xa. Các chi phí còn lại như trang trí sân khấu, in thiệp mời, quảng cáo… may mắn thay, đã được một số vị hảo tâm ủng hộ nên dù không lời nhưng cũng không đến nỗi bị lỗ.

Về phía ban văn nghệ và điều hợp chương trình. Ban nhạc và các nghệ sĩ – như đã nói ở trên – chứng tỏ một sự tập dượt hết sức công phu. Tuy nhiên, có một vài điểm cần để ý.

Thứ nhất, dù tài năng cách mấy, nghệ sĩ nghiệp dư không cách chi hát hay bằng… YouTube, nhất là những bài thiên hạ đã hát mòn cả dĩa của Cung Trầm Tưởng – Phạm Duy. Vì thế dù rất thưởng thức và ngưỡng mộ nhưng sau khi nghe ào ạt 3, 4 bài sẽ thành bão hòa và người nghe thấm mệt.

Thứ hai, phần giới thiệu của các diễn giả và phần giới thiệu từng bài hát quá dài cho một chương trình vỏn vẹn chỉ có 3 tiếng. Vả lại, người ta đến cốt là để nghe Cung Trầm Tưởng nói chứ không phải để nghe người khác nói (những người đó ở sẵn đây, muốn nghe lúc nào chả được). Thêm nữa ai nấy đều biết thơ Cung Trầm Tưởng rồi (nên mới đến chứ), đâu cần có người làm một màn báo cáo về cái hay cái đẹp của thơ họ Cung nữa, hay, buồn cười hơn, kể lể về cái đẹp của mùa thu… Virginia!

Thứ ba, phần các vị bỏ về sớm. Những người ấy hẳn có lý do, hoặc không đủ kiên nhẫn, hoặc đường xa (sợ) ướt mưa vì cơn bão Sandy chờn vờn sát nách. Người viết (cũng vô tình nghe lỏm được) rằng nhiều người đã ngỏ ý yêu cầu cắt ngắn phần ca nhạc nhưng khi thấy vẫn tiếp tục ca thì họ tự xử bằng cách ra đi. Thế nhưng, dù với lý do gì đi nữa thì kiểu chạy làng giữa chừng để lại cảnh “người bỏ ra về, ghế chỏng chơ” (2) vẫn là điều không nên làm.

Nhưng gì thì gì, “kép đẹp” Cung Trầm Tưởng vẫn tỏ ra vui như Tết từ đầu đến cuối. Ông chăm chú lắng nghe ngâm thơ, đàn hát. Đến bài Vạn Vạn Lý – một bài thơ phổ nhạc có tiết tấu hùng tráng – ông vỗ tay đệm theo và cuối cùng, đứng bật dậy tiến lên sân khấu bắt tay cám ơn ban nhạc.

Phần trò truyện với quan khách của nhà thơ cũng rất vui, rất thân tình.

Được biết, Cung Trầm Tưởng không hề biết đến cái com-pu-tơ là cái gì vì ông chưa bao giờ sử dụng email. Thật khó tưởng tượng ở thời đại iPad và ebook này lại có người không dùng đến keyboard và word trong việc sửa bản thảo. Trong suốt quá trình hoàn thành cuốn “Một Hành Trình Thơ”, mỗi lần cần chỉnh sửa, ông Uyên Thao phải in ra, gởi bằng đường bưu điện đến ông Tưởng, và rồi ông Tưởng sẽ đọc, sẽ sửa, và gởi lại qua “cánh chim” US Mail, để rồi ông Thao sẽ phải lui cui gõ lại vào máy; nói đó là một công trình quả cũng không ngoa.

Ấn tượng sâu đậm nhất qua một lần gặp Cung Trầm Tưởng là sự thoải mái, cởi mở và thẳng thắn của nhà thơ. Ở Cung Trầm Tưởng không hề có chút kênh kiệu hay làm ra vẻ bí ẩn của những “nhà” này, “lầu” nọ. Cung Trầm Tưởng nói thẳng (nhưng có vẻ buồn buồn) rằng vào tuổi ông thì chả cách gì làm thơ tình được nữa, và rằng người ta dù không thích lối thơ “trừu tượng” của ông nhưng cái nhìn siêu hình ở tuổi ông là cái không thể tránh khỏi. (3)
Image
Nguyễn Thị Thanh Bình

Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến một hạt sạn trong phần hàn huyên, nên chăng nếu gọi đó là “hiện tượng Nguyễn Thị Thanh Bình”? Đây là lần đầu tiên người viết được nhìn thấy nhân vật này. Một nhà thơ-văn trẻ, như lời đồn đại. Người viết đọc đâu đó thơ cô, khá cảm động với tấm lòng hướng về đất nước, nhưng thật không ngờ cô làm thơ đã dài mà nói cũng… dài luôn.

Cô Thanh Bình đứng lên đặt câu hỏi bằng cách kê khai một lô một lốc các thứ lục bát Du Tử Lê, Ngu Ý, hiện đại, hậu hiện đại, v.v và v.v . Cô nói dài tới mức thiên hạ bên dưới trợn mắt “oắt-đờ-heo”, thế rồi thiên hạ vỗ tay..., vậy mà cô vẫn nói, không ngừng. Rồi thiên hạ phải la to chị ơi, nói ngắn thôi. Cô tự xưng cô được cử làm đại diện cho giới (thơ) trẻ để đặt câu hỏi với giới (thơ) già. Cũng may, người ít tuổi (?) nhưng nói nhiều như cô hơi hiếm!

Tóm lại, buổi hàn huyên với Cung Trầm Tưởng tại nơi có mùa thu đẹp nhất nước Mỹ có phần đạt và phần chưa đạt, nhưng sự cố gắng to lớn của nhừng người tham gia tổ chức đã giúp cho mọi người có một buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật thoải mái, vui vẻ và đáng nhớ. Điều quý giá nhất là người đến tham dự có dịp có được cuốn “Một Hành Trình Thơ” với chữ ký của chính nhà thơ Cung Trầm Tưởng – người mà tên đã đi vào văn học sử Việt Nam.

Với những ai không có dịp trực tiếp nghe Cung Trầm Tưởng trò chuyện ngày hôm đó nên cảm thấy an ủi rằng họ vẫn có trong tay những gì tinh túy nhất của nhà thơ - “Một Hành Trình Thơ” (4) – để có lúc cầm lên, lật ra, đọc vài câu, lòng sẽ tràn ngập niềm vui vì thấy tiếng Việt ta sao mà đẹp đến thế.

Nguồn:
(1) – “Đọc Lững Thững Giữa Đời của Lê Thiệp” – Trịnh Bình An, DCVOnline.net
(2) – Thơ chế từ câu “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, bài Đánh Đu của Hồ Xuân Hượng
(3) – “Nhà thơ Cung Trầm Tưởng ra mắt sách tại California” - YouTube
(4) – “Đọc Một Hành Trình Thơ của Cung Trầm Tưởng” – Trịnh Bình An, DCVOnline.net
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Hạnh Phúc Xót Xa
Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên” hai họ. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai, cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa” chăng?

Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”

Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.

- Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

- Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.
Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.


Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
o O o
Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Nauy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều “tế nhị”.

Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò trước khi làm việc:

- Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm, những gì ông nói.

o O o
Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà Kari Mette, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.


Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, Một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật những điều tai nghe mắt thấy). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, dù đôi mắt thật buồn. Theo cô y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.
Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

Những người may mắn đến được bến bờ tự do
Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.

Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng I vvvvc d1i tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác.
Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

- Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.
- Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thãi trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

- Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.
- Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề. Hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!

Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

o O o
Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

- Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.

Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận. Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết nói chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng bận tâm gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên Những người may mắn đến được bến bờ tự do trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

o O o
Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu. Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ. Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.

o O o
Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay
trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của hai mươi lăm năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

- Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
- Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm, phấn son xong mới lên tiếng:
- Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ. Cô cười bẽn lẽn:
- Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.
Tôi cười:
- Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.
o O o
Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.

Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

- Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
- Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.
- Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi.

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
- Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
- Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.
Tôi cười phụ họa:
- Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.
- Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải vậy không?
Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.
- Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.

Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.
- Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.
- Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
- Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:
- Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?
- Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
o O o
Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc. Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều.

Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình với cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ. Mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con. Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào, sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc. Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

Phạm tín An Ninh
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »


Image

New York, thành phố không bao giờ ngủ …

Nguyên Nhung.

Lâu lắm rồi gia đình tôi có làm một chuyến đi chơi xa mùa hè, đã có dịp đi ngang thành phố New York. Đáng lẽ tôi đã ghé thăm New York từ năm 1999, nhưng ngại ngần nhiều thứ vì không có ai quen ở đây, rồi lại nghe thiên hạ đồn rằng lái xe vào New York là một chuyện không dễ dàng chút nào. Với số lượng du khách mỗi năm khoảng mấy chục triệu tấp nập đổ đến thành phố này từ khắp nơi trên thế giới, đông đảo như vậy thì chỉ có mấy phương tiện chuyên chở công cộng như taxi, xe bus và xe điện ngầm vận chuyển được thôi.

Nhìn vào bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà Laura, New York nằm lọt thỏm vào vùng ven biển Atlantic mênh mông, bên cạnh chiu chít là những tiểu bang miền Đông Bắc Mỹ như New Jersey, Connecticut, Massachusetts …cách nhau chỉ vài trăm miles.

Trời hôm đó trần mây thấp, ít nắng, những áng mây xám giăng đầy trời khiến viên phi công phải vất vả lắm khi cho máy bay chui qua màn mây đục nghiêng cánh trên vùng trời New York. Dưới cánh bay là dòng sông Hudson biên giới giữa hai tiểu bang New York và New Jersey, rất nhiều tàu bè qua lại trên dòng sông rộng buổi hoàng hôn, nổi bật một cù lao giữa sông là tượng Nữ Thần Tự Do sừng sững vươn lên . . .

Tuy đã vào thu nhưng thời tiết ở Hoa Kỳ khá chênh lệch nhau, quen với khí hậu nóng ẩm nơi tiểu bang mình ở nên chỉ cần bước ra khỏi cánh cửa hãng Hàng Không, bạn có thể cảm ngay được không khí buốt lạnh của cơn gió mùa Đông Bắc. Anh Phong và con trai đi đón khách tại phi trường LaGuardia, từ phi trường về nhà bạn chưa tới nửa tiếng nhưng nếu không phải dân địa phương thì vẫn có thể đi lạc như chơi. Đến nơi thì một cặp khác là anh chị Tài Lừng từ Wisconsin cũng đến từ trưa, đang cùng Ngọc Vân chuẩn bị bữa cơm chiều. Mừng cho bạn thật nhiều, sau những cơ cực lúc ban đầu nay đã có một cơ ngơi khang trang và rộng rãi. Nhà cửa ở New York cao gía gấp 3 lần nơi thành phố tôi cư ngụ, mặc dù có số tuổi hằng mấy chục năm. Căn nhà hai tầng có một khoảng sân nhỏ nhìn xuống con đường thật yên ắng vào buổi sáng, ven đường hoa hồng dại mọc tràn lan, loại hoa mà bà Laura đã thêu trên bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ, biểu tượng cho một số tiểu bang miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

Đôi nét về New York City

New York nằm trên bến cảng thiên nhiên Atlantic thuộc Đông Bắc Hoa Kỳ, thành phố gồm 5 quận là The Bronx, Brooklyn, Manhattan, Queens và đảo Staten. Đất chật người đông nên hầu như người dân nghèo sống trong những chung cư cũ kỹ, phương tiện di chuyển thông dụng là xe điện ngầm lan toả khắp nơi, chuyến xe điện từ Brooklyn đến Manhattan đã cho một người khách du lịch như tôi có thể nhìn ra phần nào tầng lớp dân chúng sống trong khu vực ở thành phố đông đúc này.

New York nổi tiếng về phương tiện giao thông hoạt động suốt 24 trên 24 giờ mỗi ngày. Nhiều cư dân khác nhau, nhiều ngôn ngữ khác nhau, và cũng là cửa ngõ để di dân từ khắp nơi đổ về bằng đường biển. Khởi đầu thì New York được người Hà Lan thành lập năm 1624, đến năm 1664 lại bị Vương Quốc Anh kiểm soát. Năm 1785 cho tới năm 1790 New York đã từng là thủ đô của Hoa Kỳ. Tượng Nữ Thần Tự Do là món quà của nước Pháp tặng cho Hoa Kỳ, khánh thành ngày 28 tháng 10 năm 1886. Nữ Thần Tự Do biểu tượng cho Libertas và đã từng đón tiếp hằng triệu di dân đến đất Mỹ cuối thế kỷ 19-20.

Trời vẫn mưa phùn gió bấc, mới đầu thu lá chưa vàng, nếu không vì thời gian ngắn ngủi không kịp đi thăm các nơi đặc biệt của thành phố này thì cứ ở nhà mà xúm vào tán gẫu chuyện ngày xưa. Ngày xưa của hơn 40 năm trước, ôi thời gian sao đi nhanh thế, bữa cơm chiều hôm trước ắp đầy hương vị miền Tây quê nhà. Chồng bạn đã về hưu chỉ thích đi câu, những con cá biển tươi hồng nằm trong tủ lạnh chuẩn bị cho món canh chua, món bún cá và cá ướp muối xả chiên ròn. Quý là ở chỗ đó, món ăn ngon vì hợp khẩu vị đã đành, mà quý hơn là ở nơi xứ lạ quê người vẫn tìm ra cái vui nồng ấm, rộn rã tiếng cười trêu chọc nhau như ở quê nhà ngày xưa.

Sáng hôm sau, tuy trời ui ui khi mưa khi nắng nhưng cả nhà quyết định dạo một vòng phố Tàu cho biết, New York có tới hai khu phố Tàu lập nghiệp từ thuở nào không ai biết. Lý do dễ hiểu là ngày chủ nhật mới có chỗ đậu xe, mà lại không phải trả tiền. Có mỗi một ngày chủ nhật thôi nghen, còn các ngày khác bạn đừng hy vọng lái xe vào khu thị tứ của New York vì không dễ gì kiếm được chỗ đậu xe và tiền đậu xe không phải là ít! Những ngày sau đã có một phương tiện giao thông giản tiện hơn đó là xe điện ngầm, chỉ cần mua một cái “ticket” là tha hồ đi khắp nơi.

Wall Street và Federal Hall

Cũng chính trên chuyến xe điện từ Brooklyn đến Manhattan mà tôi cũng lờ mờ đoán ra khu vực nào có nhiều người da màu sinh sống, rồi sau một, hai trạm ngừng những người khách ấy lần lượt đi xuống để thay vào một lô hành khách đủ màu da trẻ trung, ăn mặc tề chỉnh hơn vội vã lên xe. Họ có thể là sinh viên, công chức , tư chức, dân buôn bán, khách du lịch đang tỏa ra các nơi làm việc hay các địa điểm du lịch dọc theo đường xe điện. May thì vớ được một chỗ ngồi chúi đầu vào tờ báo hay cuốn sách, có người phải đứng lắc lư mãi suốt chặng đường dài, có người vừa đứng vừa dậm chân theo điệu nhạc gắn vào hai lỗ tai chẳng thiết gì đến xung quanh. Hình như ngày nào cũng như ngày nấy, ở Mỹ có cái thú là khi ra đường không phải đóng bộ cho ông đi qua bà đi lại nhìn ngó bình phẩm.

Chắc không ai lạ gì đường Wall Street, giờ này vẫn còn một số người đeo ba lô, mang túi ngủ nằm ngổn ngang dọc theo đường đi, họ đến để phản đối cái gọi là “Thị Trường Chứng Khoán” mập mờ căn cứ vào các biến động khắp nơi trên nước Mỹ và trên toàn thế giới. Nhiều người đã tiêu tan sự nghiệp cũng vì say sưa chạy theo những con số ảo lên xuống mỗi ngày, mồ hôi nước mắt của một đời gầy dựng trong nhọc nhằn cũng vì cái đam mê này để có một kết thúc thê thảm. New York là thành phố lớn và nhộn nhịp, là hơi thở của nước Mỹ nhưng cũng thật khó thở cho những ai quen sống cuộc đời bình lặng nơi những tiểu bang êm ả .

Cũng trên đường Wall, mọi người đang đứng trước những bậc thềm cao của Federal Hall. Đây là nơi Quốc Hội đầu tiên của Mỹ nhóm họp, cũng là nơi ông George Washington tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Vì vậy nơi này còn giữ lại những di tích lịch sử như tấm ban công, nơi ông Washington đứng đọc bản tuyên thệ trước dân chúng năm 1789, đánh dấu ngày nhậm chức của vị tổng thống đầu tiên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Đi thăm Nữ Thần Tự Do

“Ráng cuốc bộ à nha!”, cô bạn tôi dặn dò khi đưa cho tôi mượn đôi giày thể thao để có thể lội cùng khắp các nơi ở New York. Đôi giày quá khổ của bạn như đôi hia bảy dặm đưa tôi đi khắp hang cùng ngõ hẻm, công nhận là thoải mái khi lang thang trên các nẻo đường phố ở New York. Ngày thứ hai ở New York chúng tôi dự trù đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do, cũng bằng xe điện rồi xuống ga đi thẳng vào địa điểm tập trung để du khách xuống phà. Sau biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001, những nơi này được kiểm tra kỹ lưỡng không thua gì ở phi trường hay các nơi quan trọng khác. Tuy lỉnh kỉnh như vậy nhưng lại khá yên tâm, xung quanh tôi lúc ấy xì xào những ngôn ngữ lạ vì hầu như du khách kéo đến đây từ khắp nơi trên thế giới.

Phà cập bờ, Nữ Thần Tự Do đây rồi, họ đang kỷ niệm 125 năm ngày dựng tượng Nữ Thần Tự Do ngay cửa ngõ ra vào New York, dòng Hudson là một nhánh sông lớn nằm ngay cửa biển nên ngày nào năm xưa dân tứ xứ tìm về đất Mỹ như tìm về miền đất hứa. Từ trên phà nhìn lên cao ,trong ánh nắng yếu ớt của một buổi mai đầy gió lạnh, tượng Nữ Thần Tự Do màu đồng xanh pha sắc xám lừng lững vươn cao, biểu tượng cho sự tự do và no ấm của nước Mỹ. Mọi người rảo xung quanh để ngắm và chụp hình, tượng Nữ Thần Tự Do hướng ra phía biển và bên kia là thành phố New York với những nhà chọc trời soi bóng dưới dòng sông. Rất tiếc là tượng đang thời kỳ trùng tu nên chúng tôi không được vào thăm phía trong thân tượng.

Sau đó, du khách lại xuống một chuyến phà khác để đến đảo Ellis Island, nơi đây là trung tâm tiếp nhận di dân vào Mỹ hơn trăm năm trước (nay được xây dựng lại thành Immigration Museum ). Từ xa xưa, đây là cửa ngõ đón nhận những con tàu của người di dân tứ xứ, tại đây họ sẽ được phỏng vấn, khám sức khoẻ trước khi được chấp thuận cho nhập cư vào đất Mỹ. Nay là bảo tàng trưng bày nhiều hình ảnh cũng như những hành lý của những người được nước Mỹ mở rộng vòng tay đón nhận vào xứ sở này. Một cuộn phim khoảng nửa tiếng chiếu lại những cảnh lúc ban đầu, khiến hai cô bạn tôi rưng buồn vì nhớ lại những ngày vượt biển cam go và kinh hoàng trên biển khơi sau năm 1975. Nơi bạn được định cư cũng là New York, những ngày đầu tiên vật lộn với cuộc sống và làm quen với khí hậu mùa đông nước Mỹ không dễ chịu chút nào, chưa kể phải tiết kiệm tối đa để gửi về cho gia đình ở quê nhà cũng đang sống trong thời buổi “gạo châu củi quế”. Vậy mà anh vẫn cố đi học trở lại, trong cái vất vả mới hiểu rằng chỉ có sự học mới mở cánh cửa thênh thang cho cơ hội bước vào, và bây giờ sau hơn 30 năm trời đã không phụ lòng người có chí.

World Trade Center

Ngày hôm sau vẫn là một ngày mùa thu mưa rơi rả rích , nhưng chương trình thì vẫn tiếp tục đến viếng thăm hai tòa tháp đôi đã bị bọn khủng bố đánh xập vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Thấm thoát thế mà đã 11 năm trôi qua, mãi tới bây giờ chúng tôi mới có điều kiện đi thăm bạn, New York đã hồi sinh và hai tòa nhà cao ngất ấy đã được xây dựng lại, những tấm kính màu xanh da trời lấp loá như lẫn cùng mây trời xanh lơ . Nơi nền nhà năm xưa đã có hai hồ nước bao quanh bằng những phiến đá đen, nước chảy róc rách từ trên cao rồi tuôn vào một hố vuông sâu hun hút giữa lòng hồ, tiếng nước chảy như tiếng kinh cầu thì thầm đưa tiễn những mảnh hồn bất hạnh, đã bị thiêu cháy trong hai toà nhà định mệnh ấy được yên nghỉ ngàn đời nơi miền miên viễn. Trên thành hồ người ta khắc tên gần 3000 người đã chết vì đại nạn của nước Mỹ, anh hùng nhất là tên tuổi của biết bao người lính cứu hoả đã lao mình vào hai tòa nhà để cứu các nạn nhân, nhưng cuối cùng họ cũng bị chôn vùi trong đống tro tàn đổ nát.

Đến nơi này, dù không ai bảo ai nhưng tất cả đều lặng lẽ nghiêng mình xuống mặt hồ và nhìn theo dòng nước chảy tuôn xuống hố vuông ở đáy hồ như tuôn vào lòng huyệt. Nhiều đôi mắt rưng rưng, có người giơ lá cờ nước Mỹ vẫy vẫy thay cho lời chào vĩnh biệt, cơn mưa đã qua nhưng bầu trời vẫn âm u như cũng muốn trút xuống ngàn giọt lệ …

Times Square

Buổi sáng ngày kế tiếp, cơn mưa thu vẫn rớt những giọt lệ đầm đìa xuống thành phố, sau bữa ăn sáng tại nhà với món bún cá. Cá biển tươi do anh Phong câu là thú vui điền viên của người lính gìa sau những năm làm việc mệt mỏi, thêm món rau ghém đúng điệu miền Tây thuở nào nên ai cũng phải tấm tắc khen ngon. Sau bữa ăn còn ngồi tán dóc mãi cho đến khi chủ nhà hối mọi người chuẩn bị ra trạm xe điện ngầm để thăm nốt vài nơi mà bạn tôi bảo chẳng ai ở xứ Mỹ lại không nghe tiếng. Đó là Times Square nơi mà mỗi năm trong khí trời rét buốt, tuyết có rơi đầy trời thì người dân New York cũng vẫn tụ tập ra đây đển đón chào năm mới.

Từ trạm xe điện chui lên phố là gặp ngay trụ sở Liên Hiệp Quốc bên kia đường, nhưng muốn qua được bên đó thì đâu phải cứ băng ngang lộ, còn phải đi bộ tướt khói, cũng may là trời lạnh nên không ai thấy mệt. Qua một màn khám xét cẩn thận nữa chúng tôi đã đặt chân vào nơi có quả cầu rất lớn bằng đồng mở toang ra vì vết đau của chiến tranh, một tượng đồng hình khẩu súng với nòng súng bị thắt nút khóa, biểu tượng của hòa bình mà con người hằng mong mỏi.

Trong lúc đó, phái đoàn ngoại giao của một quốc gia nào đó đang xếp hàng chờ đợi lên phòng họp, trông vẻ mặt ai cũng trang trọng và lạnh lùng, còn bọn “phó thường dân” như chúng tôi thì cũng có phong cách thoải mái của người công dân sống trong một đất nước tự do, người dân không khúm núm sợ sệt bất cứ ai. Trên vách tường có treo lá cờ màu xanh của Liên Hiệp Quốc lỗ chỗ vết đạn, đây là lá cờ treo ở trụ sở Liên Hiệp Quốc được đem về từ Iraq, bên dưới là hàng chữ:

“Fallen in The Cause Of Peace”

Trên một bức tường khác, chân dung các vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc được phóng to treo trên tường, đương kim Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc là người Nam Hàn, ông có nét mặt rất hiền hậu. Chúng tôi thì thầm nói với nhau, thế giới bây giờ điên đảo hết rồi, hình như tiếng nói của các vị này chẳng tác động được bao nhiêu đến các đất nước đang sùng sục máu lửa hận thù nơi xa xôi kia. Chiến tranh vẫn sôi sục, con người vẫn ra sức giết lẫn nhau, bản tin hằng ngày vẫn nghe ì ầm tiếng bom nổ và bao nhiêu thây người gục ngã. Từ ngày còn bé chưa biết gì, nay đến lúc bạc đầu tôi vẫn chưa hề thấy thế giới có một ngày bình yên …

Rồi theo đường 43th chúng tôi còn phải lội bộ mệt nghỉ đến khu trung tâm thành phố, buổi chiều vẫn mưa phùn gió bấc, người người vẫn chen chân trên những con đường ướt mưa. Chưa tối mà nơi này đã rực sáng ánh đèn màu, đây là đầu não của Đài Truyền Hình CNN, các biển quảng cáo đủ loại nhấp nháy trên các nhà chọc trởi hình như đều quy tụ tại nơi đây, trái tim của New York lúc nào cũng hừng hực sức sống. Người ta vẫn thản nhiên đi trong mưa và giá lạnh, giữa lòng đường là những chiếc bàn tròn có dù che để người đi đường nghỉ chân, chúng tôi ngồi giữa phố nhấm nháp mấy nắm xôi dừa đem theo. Giữa phố đông người đi, mưa vẫn bay bay khi bóng chiều xậm lại cho đèn càng thêm rực rỡ, bên kia đường là rạp hát Broadway nổi tiếng của nước Mỹ, thường trình diễn những vở nhạc kịch trứ danh (mà giá vé vào cửa cũng không rẻ gì đâu nhé!).

Bốn ngày ở New York, thế mà cũng chưa đi hết nổi thành phố không bao giờ ngủ này. Trên đường về, ghé phố Tàu ở khu Manhattan chui vào một tiệm cà phê sâu hút trong lòng phố, nơi này có cà phê sữa nóng ngon tuyệt ăn với miếng bánh ngọt rất thích hợp cho túi tiền của người bình dân. Theo bạn tôi thì ánh sáng của đèn màu đô thị vẫn không soi nổi hết những mảnh đời tăm tối, bóng đêm và tội ác vẫn đè nặng lên nhịp thở của New York mỗi phút giây.

Ngày hôm sau chúng tôi lên đường qua Boston để dự Đại Hội mùa Thu của trường Phan thanh Giản Đoàn thị Điểm Cần Thơ tổ chức. Những ngày ở New York là những ngày vui riêng của bạn bè cùng lớp năm xưa, đến Boston chúng tôi lại có niềm vui chung là được gặp lại Thầy cũ, Bạn cũ, và những anh chị đồng môn ở khắp nơi đổ về đây, dường như cũng chỉ mong đợi mỗi năm một lần được gặp lại nhau để tìm về kỷ niệm thời đi học.

Mùa Tạ Ơn

Chỉ không đầy 2 tuần sau khi chúng tôi trở về nhà, cơn bão Sandy đã thổi vào New Jersey, New York và các tiểu bang lân cận, đem đến cảnh khổ cho bao nhiêu người đang cư ngụ ở đây. Những nơi chốn chúng tôi đã tới cũng bị tàn phá nặng nề, cho đến giờ này nhiều vùng trong thành phố ánh sáng này vẫn chìm trong bóng tối, cơn bão tuyết tiếp theo nàng Sandy còn ác nghiệt hơn, vì mang theo những cơn mưa tuyết bao trùm lên cảnh vật khiến người ta rét cóng. Không ai nghĩ nổi rằng nước Mỹ vẫn có những người nghèo phải đi nhặt nhạnh thức ăn trong thùng rác của siêu thị để sống qua cơn đen tối vì thiên tai giáng xuống…

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn, tôi muốn mượn những dòng chữ này để cảm ơn tất cả mọi người, đã trôi qua dòng đời mà tôi như chiếc thuyền con bập bềnh trên dòng sông uốn khúc. Cũng như các bạn cùng lớp may mắn của tôi, trải qua những năm tháng gian nan với cuộc sống để rồi có ngày đã đến được nơi này, đất nước Hoa Kỳ đã mở toang cánh cửa cơ hội cho gia đình tôi được vươn lên. Cảm ơn đất nước này, cảm ơn những người Lính đã xả thân ngoài chiến trường dãi dầu với khói lửa chiến tranh. Cảm ơn Thầy Cô và các anh chị đồng môn khác nhau qua nhiều thế hệ, mà vẫn đến với nhau bằng tình thân anh chị em một nhà từ hai ngôi trường cũ. Cảm ơn riêng đến các bạn cùng lớp với tôi, cảm ơn người bạn đời của chúng tôi, đã thật chu đáo tạo cơ hội để bạn bè “Xóm Nhà Lá” chúng tôi ngày xưa có được những ngày vui bên nhau thật tròn trịa sau hơn 40 năm rời xa trường cũ…

Nguyên Nhung
( Mùa Tạ Ơn 2012)
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Những bức ảnh 'đắt giá' nhất về làng giải trí Hoa ngữ

Khoảnh khắc "tình tay ba" Gia Linh - Triều Vỹ - Mạn Ngọc hay những bức hình thân mật của hai tài tử yêu chung Trương Bá Chi...
được xếp vào danh sách những bức ảnh biết kể chuyện về showbiz Hoa ngữ.

Image
Huyền thoại điện ảnh Hong Kong Trương Quốc Vinh (trái) và Thành Long. Trương Quốc Vinh được nhớ đến nhiều nhất
với vai diễn Trình Điệp Y trong phim Bá vương biệt Cơ. Trong ảnh, diễn viên quá cố đùa nghịch bóp cằm siêu sao hành động Thành Long.
Ảnh chụp năm 1989, trong một bữa tiệc góp mặt nhiều ngôi sao gốc Hoa.

Image
Tạ Đình Phong (phải) có chút bẽn lẽn bên cạnh Trần Quán Hy. Hai tài tử từng có thời là bạn bè.
Năm 2006, Tạ Đình Phong kết hôn với Trương Bá Chi. Đến năm 2008, những bức ảnh nóng
giữa Bá Chi và bạn trai cũ Quán Hy xuất hiện tràn lan trên mạng.
Đình Phong tỏ ra không quan tâm đến chuyện cũ của vợ. Nhưng đến năm 2011, cuộc hôn nhân của họ cũng tan vỡ.

Image
Một khoảnh khắc ngồi cạnh nhau khác của Quán Hy (trái) và Đình Phong.

Image
Lương Triều Vỹ nắm tay hai người đẹp Lưu Gia Linh (trái) và Trương Mạn Ngọc trên thảm đỏ LHP Cannes 2000. Lúc này, Gia Linh là bạn gái của Triều Vỹ. Còn Mạn Ngọc là tình cũ của anh.

Triều Vỹ, Mạn Ngọc tham gia LHP với tư cách là diễn viên trong phim Hoa dạng hoa niên.
Sự xuất hiện của Gia Linh khiến nhiều người cho rằng cô đòi đến Cannes để "quản lý" bạn trai.

Năm 2008, Triều Vỹ kết hôn với Gia Linh và sống hạnh phúc với cô trong khi đó Trương Mạn Ngọc trải qua nhiều mối tình khác, đến nay cô vẫn đơn độc.

Image
"Kỳ phùng địch thủ" làng văn Hàn Hàn (trái) và Quách Kính Minh. Đây là hai nhà văn thế hệ 8X tiêu biểu của văn đàn Trung Quốc.
Hàn Hàn, Kính Minh thường bị đem ra so sánh với nhau về tài năng, tác phẩm, độ giàu có...
Giữa hai chàng trai cũng thường xuyên xuất hiện tin đồn bất hòa.

Image
Từ trái sang: Trương Nghệ Mưu, Đổng Khiết và Triệu Bản Sơn. Trong phim Thời khắc hạnh phúc (Happy Times)
của đạo diễn họ Trương, Đổng Khiết, Triệu Bản Sơn đóng vai chính.

Image
Lý Tiểu Long (trái) và Thành Long trong một bộ phim. Lúc đấy, Thành Long mới chỉ là một diễn viên phụ không danh tiếng.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Lê Trạch Lựu Và Nhạc Phẩm "Em Tôi"

Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn (05/1946), đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này.

Nhà đoàn tôi « đóng trại » to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng. Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !
Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: « Phượng… Phượng cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này… » Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ …
Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin TRẠCH LỰU đừng giận KIM PHƯỢNG mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Ðông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa …

đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng TRẦN BÍCH LAN NGUYÊN SA đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ HOÀNG ANH TUẤN… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài EM TÔI… cả nhạc lẫn lời. Chủ nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu… , Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc EM TÔI vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản TINH HOA…
Những tháng năm qua…



KHI «EM TÔI» ĐƯỢC NỔI TIẾNG , TÔI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG CÙNG VỚI THỜI ĐẠI ĐÓ VÌ TÔI Ở XA , TÔI KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN RÕ RÀNG THẾ NÀO LÀ MỘT BẢN HÁT ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI YÊU CHUỘNG… TRAI HAY GÁI, AI AI CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH CÓ MỘT NGƯỜI YÊU , HAY MÌNH ĐƯỢC YÊU , HAY MÌNH TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH MÌNH LÀ CÔ GÁI ẤY , CÒN CẬU TRAI ĐƯỢC YÊU CÔ GÁI DỊU DÀNG, THƠ NGÂY, ÂU YẾM , MƠ MÀNG CHO NÊN AI AI CŨNG HÁT… CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH… CŨNG CẦM LẤY CÂY ĐÀN…

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Phượng tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:
« Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục. »

Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: «Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không? » Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm.
Phượng trả lời tôi:
« Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…

Thu Tao Ngộ
Tháng mười năm 2009
LÊ TRẠCH LỰU
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Tống biệt hành
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-NBi2R4XR3

Thâm Tâm

Đưa người ta không đưa sang sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng
ly khách ly khách con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại
ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

Người đi ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
chị thà coi như là hạt bụi
em thà coi như hơi rượu cay
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

HAPPY THANKSGIVING

Những Câu Chuyện Nhỏ Mùa Tạ Ơn.

Nguyên Nhung

Trước ngày lễ Tạ Ơn cách đây vài năm, ba của bạn tôi qua đời. Như một cây khô đã cằn cỗi, chuyện ấy tất nhiên phải đến, nhưng câu chuyện của bạn tôi kể làm tôi cảm động mãi.

“Các con đều bận đi làm, ở nhà có hai ông bà gìa thui thủi với nhau. Một người phụ nữ đến giúp việc vài giờ trong ngày, các con đến tối mới về. Mẹ bạn tôi đã bị lẫn lộn vài năm, không nhận ra ông chồng của mình đang sống bên cạnh, bà chỉ còn nhớ những gì thuộc về quá khứ. Vì vậy, mỗi ngày bà đi bên cạnh đời ông mà không biết ông là ai. Mỗi lần nhớ đến “người chồng trong quá khứ” của mình, bà hay ghé tai ông hỏi:

“Có thấy ổng đâu không?”

Ổng gìa cười:

“Hổng biết”

Ông cũng còn khoẻ mạnh nhưng trời cho ông đi trước, ngủ một giấc rồi không dậy nữa.

Mỗi ngày, bà luôn nhìn thấy căn phòng có hai chiếc giường kê gần nhau, khi ông còn khoẻ vẫn phải nhìn ngó bà vợ lãng trí của mình. Sáng nay ngủ dậy, bà thấy cái giường bên cạnh trống không, ông gìa vẫn nằm ở đây biến đâu mất rồi. Bà nhìn vào chiếc giường trống, nói mông lung một mình:

“Hổng biết đâu rồi ha …”
Một Đám Ma Vui

Chị người miền Nam, tính xởi lởi thân thiện và lạc quan với nụ cười luôn nở trên môi.

Nhà một mẹ một con, chị lấy chồng nhưng vẫn sống chung với mẹ để phụng dưỡng.

Không biết chị giúp mẹ hay mẹ giúp chị, vì khi vợ chồng chị đi làm, các con ở nhà đều được bà chăm sóc, dòm ngó.

Khi qua Mỹ, chị mang mẹ cùng đi, cả nhà xúm xít lấy nhau an vui hạnh phúc. Con chị lấy chồng lấy vợ, lại một lần nữa muôn sự trong nhà nhờ tay bà cố chăm sóc, mấy đứa nhỏ yêu thương bà cố nhất trong đời.

Một ngày, các cháu nhỏ đi học, bà loay hoay vào nhà tắm rồi ngã, lịm đi lúc nào không ai hay. Khi cháu đi học về mới biết, nhưng muộn rồi, bà đi luôn không về nữa.

Mọi người hay tin đến nhà Quàn chia buồn với gia đình chị. Thấy chị tuy đội khăn tang, nhưng nụ cười vẫn nở trên môi:

“Má tôi già rồi, Trời Phật thương cho đi một cách nhẹ nhàng, tôi mừng cho má.”
Người người đến thăm xúm xít nghe chị kể chuyện mỗi ngày của bà mẹ, ai cũng cười vui hỉ hả. Mấy đứa cháu chạy chơi trong nhà Quàn, chạy lên chạy xuống nơi đặt quan tài của bà cố, chúng dừng lại và hôn lên khuôn mặt hiền từ của người bà nhân hậu. Mọi người thấy lạ nhưng có đứa nhoẻn cười thật hồn nhiên:

“Bà cố đang ngủ, con thương bà cố lắm.”

Những quả cam vỏ xanh

Cuối tuần tôi đi chợ mua thức ăn cho cả tuần, đây là một ngôi chợ mới mở rất sạch sẽ có nhiều trái cây tươi.

Mọi người đang lăng xăng chọn lựa, khu để trái cây tôi nhìn thấy họ chỉ chú ý đến những bịch cam vàng óng, như đang mời mọc người mua mặc dù chưa biết vị của nó ngọt hay chua, nhạt hay mặn như loại cam nhỏ của miền Texas mà tôi thường bảo, hình như đã được ướp một chút muối của trời trong những trái cam.

Riêng quầy đối diện là những bịch cam trái nhỏ vỏ xanh, chả ai đoái hoài tới mặc dù có một nhân viên đang mời mọc. Anh ta xẻ một quả thành những miếng nhỏ mời khách nếm thử, nhưng hình như ai cũng dửng dưng . Tôi nhón một miếng nhỏ, sững sờ vì vị ngọt thanh tao của một trái cam còn tươi, gíá lại rẻ mà vẫn bị chê vì cái vỏ không bắt mắt người tiêu thụ.. Lấy một bịch cam to mà chỉ có 4.99, chiều hôm đó cà nhà ăn cam, ai cũng phải tấm tắc khen những múi cam vỏ xanh mà lại ngọt thanh tao một cách lạ kỳ.

Chầm chậm thưởng thức từng múi cam ngọt dịu, tôi bỗng nghĩ ra một điều. Trong cuộc đời lắm khi mình cũng đã lầm khi đánh gía một con người có dáng vẻ tầm thường, nhưng biết đâu sau lớp áo mộc mạc, câu nói tiếng cười đơn sơ ấy lại tiềm ẩn một tấm lòng ….

Mơ Thu


Chị sinh vào muà thu, nên suốt đời mơ một mùa thu.

Hồi còn trẻ, mỗi lần nghe bản nhạc Hoài Thu chị lại nghe lòng lâng lâng, mơ một mùa thu Đà Lạt. Chị thích thơ Lưu trọng Lư, vì nghĩ đến hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô …”

Mỗi lần thu đến, dù nơi chị ở thu chỉ là chút gió hiu hiu lạnh vờn trên mặt sông gờn gợn sóng, trời vẫn xanh thăm thẳm và cảnh vật xung quanh chị vẫn không có gì thay đổi. Nhưng chút heo may thì hình như đã làm chị thổn thức khi nhớ đến những kỷ niệm, những khuôn mặt thân quen chị gặp gỡ trong đời.

Chị vẫn mơ được nhìn thấy một mùa thu diễm lệ ở một nơi nào đó có bốn mùa, trong khi ấy có biết bao người đang sống nơi có mùa thu diễm lệ vẫn nhớ về hơi gió heo may bên một bờ sông vắng.

Sống Đẹp Cho Tới Giây Phút Cuối Cùng

Bữa ăn cuối cùng với bà NaoMi cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, bác Huệ và tôi được mời cùng đi với nhóm bạn già cuả bà NaoMi đến thăm bà tại nhà dưỡng lão. Viện Dưỡng Lão vào một ngày muà thu buồn ảm đạm, một cụ gìa ú ớ gọi tên hết người này đến người khác, bà đang lẫn lộn dĩ vãng với hiện tại. Một cụ ông đẩy chiếc xe lăn cho bà vợ tóc xoã rũ rượi, ông nói:

“ Mỗi ngày, tôi đi bộ 3 miles từ nhà đến đây để gần gũi vợ tôi, dù bà không nhớ tôi là ai, nhưng tôi thì nhớ bà là vợ mình.”

Một câu nói thật hay mà đâu cần phải tìm trong những lời hay ý đẹp cuả các vĩ nhân trên thế giới. Chưa hết, tôi gặp một cô giáo già hơn 80 tuổi, có lẽ bà là ngưởi tỉnh táo nhất trong những người già ở nursing-home này. Bà luôn miệng ca hát, toàn những bản nhạc quen thuộc trong muà Giáng Sinh, hình như trong tâm hồn bà lúc nào cũng là mùa Giáng Sinh. Tôi hỏi bà có buồn không khi sống ở đây, bà bảo bà không buồn, vì ít ra bà cũng còn thấy mình đang hạnh phúc, tỉnh táo hơn nhiều người khác. Trong phần văn nghệ giúp vui, bà Nao Mi đóng vai một đưá trẻ con, bà giả giọng eo éo nên ai cũng phải bật cười. Bà thích ăn những món ăn VN và hỏi cách nấu, rồi hỏi tôi về một bài hát Việt Nam bà nghe được trong nhà thờ, khi tôi hát, bà ư ử hát theo và khen đây là một bài thánh ca mang đậm đà tính cách dân tộc.

Vật lộn với thần chết đến giây phút cuối cùng, lạc quan yêu đời để lướt qua những cơn đau là tính lạc quan cuả bà NaoMi. Một ngày thứ bảy cùng năm đó, tôi lại đến dự tang lễ tiễn bà NaoMi trong ngôi thánh đường êm ả, nhìn tấm ảnh nụ cười bà thật rạng rỡ.
Cho Và Nhận

Mẹ tôi lúc sinh tiền nhiều khi cũng làm các con trong nhà khó chịu và xấu hổ, vì bà hay nhặt nhạnh, đi xin những quần áo cũ, vật dụng phế thải cuả những gia đình giàu có dư thưà quen biết, đem về gom vào một chỗ. Các con trong nhà ai cũng phàn nàn cái tính dở người cuả bà cụ, có người lại phân tích tâm lý cho rằng cuộc đời mẹ tôi vì trải qua những lúc ghê gớm nhất như trận đói năm Ất Dậu, vàng bạc mang theo bị lột sạch trước khi xuống cảng Hải Phòng ngày di cư vào Nam, đã ám ảnh mẹ tôi đến nỗi phát sinh cái tính lo xa, chắt bóp, tằn tiện cuả bà. Mãi sau này khi hiểu được việc làm cuả mẹ, lúc lâm vào cảnh đời tăm tối, tôi mới cảm kích được tấm lòng nhân ái cuả mẹ tôi đã bị các con hiểu lầm.

Những món mẹ nhặt nhạnh chất trong xó nhà lần hồi cũng vợi đi, đổi lại là ánh mắt, nụ cười cuả những gia đình nghèo khổ từ trong quê chạy ra thành phố trong thời kỳ chiến tranh, sống trong những mái lá lụp xụp vách được chèn bằng vài tấm thiếc mỏng nhặt nhạnh ngoài bãi rác. Trong đống đồ đạc cuả họ thế nào cũng lôi ra được vài bộ quần áo cũ, cái nồi sứt quai, đôi dép cũ, con búp bê gãy tay cho một đứa bé mà mẹ tôi đã lượm lại từ những nhà dư ăn dư mặc. Nỗi sung sướng cuả họ sau này tôi đã cảm nhận rõ đến chảy nước mắt, khi nhớ lại một muà Xuân khốn khó nhất trong đời mình sau năm 1975, ngày cuối năm vẫn còn phải chạy ăn. Buổi chiều về nhà thấy con mình đang tíu tít mừng rỡ ôm gói quà cuả một người bạn ghé thăm chiều 30, những quả chuối khô, thèo lèo, mứt dưà, mứt bí nằm lẫn lộn với nhau trong cái bọc ny lông, kèm theo mấy chữ cuả người bạn cũ khiến tôi xúc động đến lặng người.....

Nguyên Nhung
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Nhạc Sĩ Nguyễn Vũ và nhạc phẩm "Bài Thánh Ca Buồn"




Lại thêm một mùa Noel nữa đến với nhân loại. Trên TV, Radio những bài hát về Giáng Sinh, được phát thanh rầm rộ, vang rền khắp nơi....

Trong số các bài hát về Giáng Sinh Việt Nam thì “Bài Thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ không bao giờ thiếu được.


Bài Thánh ca đó còn nhớ không em,
Noel năm nào chúng mình có nhau,
long lanh sao trời đẹp thêm môi, mắt.
Áo trắng em bay tựa cánh thiên thần...

Bài hát đã được nhạc sĩ Nguyễn Vũ viết vào tháng 10/1972, ca sĩ Thái Châu--
một giọng Nam ấm, nhẹ nhàng, là người đầu tiên được chọn để hát bài hát
trữ tình này. Nhạc sĩ Nguyễn Vũ đã gửi trong đó nỗi niềm hoài nhớ về hình
bóng của một người thiếu nữ mà ông đã gặp trong một đêm Noel.
“Bài Thánh Ca Buồn” là một trong những tác phẩm hay nhất của Nhạc Sĩ Nguyễn Vũ.

Âm điệu ngân vang đó đã khơi gợi lòng thương nhớ của ông dành cho người
thiếu nữ đó. Xin mượn vài dòng cảm nghĩ viết về tiểu sử bài hát vào mùa Noel của Nhạc sĩ Nguyễn Vũ.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ sinh trưởng ở Hà Nội nhưng ông đã sống thời niên thiếu
ở Đà Lạt. Ông đã sáng tác khá nhiều nhạc phẩm tạo được tiếng vang:
“Huyền thoại chiều mưa, Sao Rơi trên biển, Lời cuối cho em, Bài Thánh ca buồn, Nhìn nhau lần cuối, Lời cuối cho người tình”, v.v.


Và “Bài Thánh ca buồn” là bài hát luôn luôn được nhắc lại nhiều nhất vào mỗi mùa Giáng Sinh.

Theo tài liệu ghi nhận thì nhạc sĩ Nguyễn Vũ viết bài này theo cảm nghĩ của một mối tình thầm kín vào thời thơ dại, khi ông mới chỉ là một cậu bé 14 tuổi.
Hàng ngày ông thường bắt gặp một người con gái rất xinh đẹp và ngoan đạo
đi ngang qua ngõ nhà ông, trên đường đi Lễ nhà thờ Đà Lạt, và ông cứ thế
mà theo vết chân nàng thiếu nữ có mái tóc dài bềnh bồng, buông xõa xuống
đôi bờ vai thon bay theo cơn gió miền cao nguyên se lạnh.

Ông âm thầm, lầm lũi theo sau người đẹp, mỗi chiều nàng đi Lễ,
nhưng chưa một lần dám bày tỏ, và ông chỉ tìm biết được là nàng lớn
hơn ông 2 tuổi tên là Th... Bất ngờ, một buổi lễ Giáng sinh, sau buổi Lễ
tan, trên đường về thì trời đổ mưa, hai người chạy vội vào một mái hiên tạm trú đứng sát nhau, khoảng cách thật gần. Qua tiếng mưa rơi, xa xa vọng lên âm vang quen thuộc của bài hát

“Đêm Thánh Vô Cùng” (Silent night), nàng đưa tay hứng lấy những
giọt nước mưa và khẽ hát theo bài hát, giọng hát trong veo và thật buồn của nàng làm ông bàng hoàng đến lặng người, lòng nao nao, ông quên rụt rè, mà mạnh dạn, khẽ đưa tay vuốt nhẹ lên... những hạt mưa bụi li ti bám bên ngoài chiếc áo ấm của cô, nàng quay lại mỉm cười: "Cám ơn!”. Thế rồi mưa tạnh, người đẹp khuất bóng cuối đường.


Sau đó gia đình ông chuyển vào Sài Gòn, và từ đấy mỗi khi chợt
nghe bài “Đêm Thánh Vô Cùng” lòng cảm xúc dâng lên, nhớ lại cảm giác ngày xưa, ông sáng tác ra “Bài Thánh Ca Buồn” vào năm 1972, để nhớ lại kỷ niệm của một Mùa Noel năm xưa.

Nhân mùa Noel sắp đến xin mượn youtube và bài "Thánh Ca Buồn" để cùng chia sẻ mùa Giáng Sinh năm thứ 37 nơi quê hương người, và cũng không quên cám ơn nhạc sĩ Nguyễn Vũ đã sáng tác một bài hát thật hay, muôn đời nhớ mãi...

Kiều Oanh Trịnh
Mùa Noel 2012
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Nha Trang ngày về.
Phạm Thành Châu
1

Bài hát "Nha Trang Ngày Về" của nhạc sĩ Phạm Duy, hắn nghe không chán. Hắn như thấy rõ một anh chàng thất tình đang ngồi ở bãi biển ngó mong, nhớ lại thời cùng "người yêu trong cánh tay", cũng trên bãi biển này, bây giờ không biết người yêu ở đâu?! Với hắn, đi học ở Nha Trang, rồi yêu một cô nữ sinh Nha Trang, nên nghe bản nhạc, hắn cũng buồn man mác. Bây giờ hắn đã về Nha Trang và cũng ra bãi biển ngồi "một mình trên bãi khuya" để tưởng niệm lại mối tình không còn nữa. Nhưng khổ nỗi, mối tình của hắn chỉ là đơn phương nên không thể có người yêu trong cánh tay, và giây phút ngồi một mình trên bãi khuya, hắn chẳng có gì để tưởng nhớ, để tiếc nuối, để buồn rầu. Nói rõ ra, hắn không có kỷ niệm, vì thế, hắn ngồi trên bãi khuya một lúc là phát chán, lại sợ công an đến hỏi thăm hoặc mấy tên đầu gấu đến trấn lột. Việt kiều được nhìn như những tên mán mà túi áo, túi quần đầy ắp đô la.

Thời đi học, hắn có yêu một nữ sinh, nhưng em không yêu hắn, em yêu một tên khác, dù vậy, hắn vẫn cứ yêu em. Năm bảy lăm, hắn may mắn cùng gia đình đi thoát. Ở Mỹ, hắn vẫn mơ tưởng đến em. Hiện nay, hắn đã tốt nghiệp đại học, làm lương khá, hắn về thăm bà con ở quê rồi lên Nha Trang tìm em. Nhưng đã ba hôm rồi mà hắn không biết em đang ở nơi nào? Nhà em, tiệm buôn trước chợ Nha Trang, bây giờ cửa sắt đóng im ỉm.

Một buổi sáng, hắn ra ngồi trước thềm nhà em, tức là cái tiệm buôn ngày trước, hy vọng em ra vào, hắn sẽ đến chào hỏi. Trước kia hắn vẫn thường la cà vào tiệm này chỉ để ngắm trộm em chứ không dám nói chuyện. Cái lối lúng túng, ngập ngừng của thằng học trò mới lớn trước người đẹp tố cáo hắn si mê em, em không đáp lại nhưng vẫn tử tế lịch sự. Bây giờ hắn nghĩ, có đô la là có tình yêu, hắn sẽ mạnh dạn, tự tin khi gặp em. Nhưng khi cửa mở, hắn nghe những người trong nhà nói chuyện với nhau bằng giọng Bắc Kỳ bảy lăm thì hắn biết ngay, gia đình em đã bị đánh tư sản, nhà cửa đã bị tịch thu. Đương nhiên cả gia đình phải đi kinh tế mới. Cái tổ chim bị người ta phá thì mấy con chim phải bay tứ tán! Biết em ở nơi nào?

Nha trang thay đổi quá nhiều, cả đến tên đường cũng thay đổi. Ngày trước, hắn ở dưới quê lên tỉnh trọ học, không quen biết nhiều, nay bạn bè chẳng thấy đứa nào, thế nên hắn cứ lơ ngơ như chó mất chủ. Chỉ còn vài hôm nữa là hắn phải từ biệt Nha Trang, về Sài Gòn, chuẩn bị lên máy bay về Mỹ thì hắn gặp lại em. Chỉ tình cờ thôi. Buổi tối đó, hắn lang thang vơ vẩn trên đường phố rồi ghé vào một quán cà phê. Quán chỉ loe hoe vài người khách. Thường thì hễ không có khách, chủ bèn kêu nhân viên ra ngồi cho bớt vắng vẻ, thấy đông, người ta mới vào. Thế nên, khi hắn vào một góc quán, gọi một ly cà phê rồi ngồi chống cằm lắng nghe mấy chị đàn bà tụ tập bàn bên cạnh chuyện trò. Cô, bà nào cũng thế, hết chuyện mình đến chuyện người, nói sa đà quên cả thế gian. Hắn chú ý nghe một cô được gọi tên là Hạnh, nói.

Bịnh viện ở đây không đủ máy móc, phương tiện, phải vào Sài Gòn mới mổ được, nhưng tốn lắm, năm, bảy triệu chưa chắc đủ. Mà không mổ, e khó qua khỏi.

Trong ánh đèn lờ mờ, hắn nhận ra cô Hạnh, người hắn muốn tìm, nhưng hắn vẫn yên lặng, trả tiền và ra về.

Sáng hôm sau hắn lại đến. Quán đông người, ồn ào tiếng người nói, tiếng nhạc, khói thuốc mù trời. Hắn không thấy cô Hạnh đâu. Lúc trả tiền, hắn hỏi cô thu ngân.

- Cô Hạnh không làm ban ngày ở đây hả chị?

Cô này không đẹp, có lẽ không được chàng nào nhìn đến nên trông quạu quọ.

- Con Hạnh chỉ làm buổi tối thôi.

- Ban ngày cô ấy làm ở đâu?

- Nó phải ở nhà lo việc nhà. Con còn nhỏ, chồng bịnh hoạn.

Lúc nhận tiền thối, hắn để lại một tờ bạc lớn, coi như tiền "típ" nên cô không còn trả lời nhát gừng nữa.

- Tôi với cô Hạnh là bạn học tuy khác lớp, sau này tôi vào Sài Gòn sinh sống nên không rõ cô ra sao, chồng con thế nào?

- Chồng nó là thằng bồ lúc còn đi học, sau đi sĩ quan. Năm bảy lăm sập tiệm, ai cũng lo thất thần, chỉ mình hắn chạy đi tìm thằng bồ. Chồng thì nói làm gì, đây chỉ mới đám hỏi thì mạnh ai nấy lo. Vậy mà hắn vô tuốt bịnh viện Cộng Hòa đón thằng chồng chưa cưới cụt chân về. Hắn kể, lúc đó quân giải phóng vô, đuổi hết thưong binh "ngụy" ra, họ bò lết đầy đường, máu me tùm lum, ai không bò ra được thì bị "cách mạng" bắn "bùm" một phát rồi đem vất xuống hố, may hắn vô kịp, thằng chồng chưa cưới vừa mới bị thương, nằm một đống, cục cựa không được nói gì bò đi.

- Kể ra cô ấy cũng chung tình.

- Thì chung tình mới thành cái của nợ suốt đời. Sau giải phóng, hai bên nhà trai, nhà gái đều bị đánh tư sản, phải đi kinh tế mới, lên núi, vô rừng mà sống, dân thành phố mà bắt cuốc đất trồng khoai thì chỉ có nước chết đói. Mới mò về được mấy năm nay. Thằng chồng què ra vá xe đạp còn hắn thì đến đây làm, vừa rồi nghe nói bị bịnh tim, phải mổ xẻ sao đó, chịu chết chứ tiền đâu?

Giọng hằn học vô lý mà hắn thường nghe ở các cô gái lỡ thì.

- Khổ như thế thì đừng lấy chồng còn hơn.

Cô đồng ý ngay.

Ở một mình cho sướng, lấy chồng, rủi gặp thằng cà chớn chỉ thêm khổ.

Tôi nghe nói mấy chàng Việt kiều có tiền, dễ tìm người yêu lắm, có đúng vậy không?

- Đâu cần phải Việt kiều, cứ có tiền là có thể mua quả tim của bất cứ người đẹp nào. Vợ tổng thống Mỹ, vừa chết, thằng tỷ phú già khú đến dẫn về, đời mà!

Hắn khen.

- Chỉ có chị nói chuyện là hợp ý tôi.

Chuyện trò đến đấy hắn ra về.

2

Tối đó hắn lại đến, ngồi ở một góc tối trong quán. Khi cô Hạnh mang cà phê đến, hắn hỏi.

- Cô có phải tên Hạnh không?

- Dạ phải? Sao anh biết em?

- Trước bảy lăm, tôi thường đến tiệm buôn của gia đình cô.

Cô nhìn hắn chăm chú rồi "À" lên một tiếng.

- Em nhớ ra rồi! Anh là anh Hồng. Anh học trên em một lớp. Mà anh ở đâu mới về Nha Trang phải không?

- Tôi ở Mỹ, về thăm Việt Nam, độ vài hôm nữa phải vô Sài Gòn chuẩn bị lên đường.

Cô tò mò.

- Nghe nói mấy người ở Mỹ giàu lắm?

- ít có người nào gọi là giàu, nhưng đồng đô la ở Việt Nam quá lớn nên tiêu xài thoải mái, thấy thế người ta bảo là giàu.

Rồi hắn hỏi.

- Cô Hạnh làm ăn, sinh sống ra sao?

Cô ngồi xuống bên cạnh làm ra vẻ chán nản.

- Buôn bán ế ẩm quá, không đủ sở hụi, em định bán quán cà phê này, tìm lập một quán nhậu, khá hơn. Nhưng khi hỏi được chỗ thì lại không đủ tiền. Vay nợ chỉ lo trả tiền lời cũng đủ chết.

Hắn biết cô chỉ là người làm công ở đây thôi nhưng vẫn hỏi.

- Nếu lập quán nhậu, phải tốn bao nhiêu?

Cô mừng rỡ nhưng cố bình tỉnh.

- Anh có định cho em mượn tạm không? Rồi em sẽ trả lại anh sau. Lập quán nhậu lời lắm. Hay là anh em mình hùn hạp làm ăn. Anh bỏ vốn, em bỏ công ra, mình chia lời.

Vài hôm nữa tôi về Mỹ rồi, làm sao chia lời được. Tôi cho vay. Hạnh cần bao nhiêu?

- Em chỉ cần bốn năm trăm đô là đủ, không kịp chung tiền, chủ sang cho người khác, mất dịp may uổng lắm. Quán đông nghẹt khách, chiều nào cũng ngồi tràn ra đường!

- Được rồi, tối nay tôi chờ Hạnh ở ngã tư đằng kia, Hạnh về lúc mấy giờ?

- Em về khuya, nhưng em sẽ ra gặp anh sớm, độ mười giờ, anh chờ em ở đó nghe.

- Đồng ý nhưng tôi nói trước cho Hạnh chuẩn bị tinh thần. Hạnh nhận tiền tôi thì tôi cũng được món quà gì chứ, phải không?

Cô sửng người, nhưng bình tĩnh lại.

- Anh muốn món quà gì em cũng chịu cả, vì em cần tiền gấp lắm.

- Món quà đó chỉ riêng Hạnh có mà thôi. Nói thế Hạnh hiểu rồi. Suy nghĩ kỹ đi, lát nữa trả lời.

Lúc trả tiền hắn móc một nùi bạc để xuống mấy tờ mà không lấy tiền thối, lúc đó cô Hạnh mới tin hắn đúng là Việt kiều.

3

Hắn đi lang thang, ngơ ngáo, thấy gì cũng nhìn. Đến trước tiệm buôn xưa kia của gia đình cô Hạnh, hắn ngồi xuống thềm nhà. Hắn nhớ lại thời còn đi học, hắn si mê cô Hạnh, tối nào học bài một lát hắn lại đến trước nhà cô, ngồi ngay trên thềm, suy nghĩ vẩn vơ, tưởng tượng người đẹp của hắn đang ngồi học bài trên lầu. Hắn đã từng ước được biến thành cái ghế cho em ngồi, cái bàn cho em tì tay, được làm cái cặp để em ôm vào ngực mỗi khi đi học. Hắn biết (lúc bấy gìờ) tất cả chỉ là không tưởng, vì cô Hạnh đã có người yêu, nhưng hắn chỉ buồn và càng yêu cô thêm chứ không hề ghen tức.

Ngồi một lát, nhìn đồng hồ, hắn đứng dậy đi đến chỗ hẹn. Vừa đến nơi hắn đã thấy cô Hạnh xuất hiện. Từ xa, nhìn dáng đi, cô không thay đổi và gương mặt vẫn còn những nét cũ. Hắn lại nhớ đến ngày trước, nhiều lần hắn gặp cô đi trên đường phố, dáng uyển chuyển, gương mặt đẹp, sáng rỡ như đóa hoa, tóc bay trong gió. Hình ảnh đó vẫn còn trong tâm trí hắn. Nhưng lúc đó cô không quen thân gì lắm. Bây giờ mới chính thực là cô đến với hắn. Hắn không ngờ đồng tiền có sức mạnh đến cỡ đó. Mua được nguyên một con người, một người đẹp.

Khi cô đến gần hắn mới thấy rõ, cả người cô đã được phủ lên những nét phong sương, gian khổ. Mái tóc mượt mà ngày xưa, bây giờ lơ thơ, lùi xùi như không hề được chải gỡ. Cô dừng lại trước mặt hắn, hắn nhìn chăm chăm cô khiến cô bối rối. Hắn thấy cô quá ốm, hai má tóp lại, cổ như cao hẳn lên, cánh tay khẳng khiu như của người bịnh, chỉ bộ ngực là nổi rõ dưới áo, hắn đoán cô mới sinh con, còn căng sữa. Hắn bảo.

- Mình ra bãi biển đi, nói chuyện tiện hơn.

Cô ngập ngừng.

- Anh cho em đi sau anh được không?

Được chứ, nhưng đến bãi biển, tối và vắng người, mình đi bên nhau.

Cô đi sau hắn một quãng ngắn. Ra đến bãi biển, ánh sáng chỉ còn lờ mờ, hắn đi chậm lại, cô đi bên hắn. Rồi hắn kéo tay cô cùng ngồi xuống. Hắn nhớ lại trước đây hắn đã từng ra bờ biển buổi tối, ngồi một mình mơ mộng, ước ao có cô Hạnh bên cạnh.

Hắn yên lặng nhìn ra mặt biển mịt mù tối tăm, gió biển thổi mát lạnh, tiếng sóng vỗ nhè nhẹ vào bờ "Nha Trang ngày về... người yêu trong cánh tay" Hắn choàng tay qua vai cô Hạnh. Cô co rúm người lại. Hắn nghe cô thở gấp, rồi cô lặng lẽ khóc. Hắn hỏi.

- Sao Hạnh run dữ vậy?

- Em lạnh quá!

- Có cần tôi ôm Hạnh không?

- Không, không!

Cô nói giọng hoảng hốt. Hắn rụt tay lại, không còn ôm vai cô nữa. Rồi cả hai cứ ngồi yên lặng như thế, một lúc thật lâu, hắn hỏi.

- Hạnh cố nhớ lại cảm tưởng trước bảy lăm và cảm tưởng bây giờ. Hạnh thấy Nha Trang thế nào?

Cô lau nước mắt, suy nghĩ rồi nói.

Nha Trang không còn là của em nữa. Nhà cửa, đường phố, cây cối vẫn vậy, nhưng em thấy xa lạ quá. Trước kia hễ đi đâu xa Nha Trang, em nhớ, khi về em mừng rỡ, như gặp lại mẹ, gặp lại bạn thân. Bây giờ em dửng dưng, thấy nơi đâu cũng bao trùm không khí sợ hãi công an, sợ hãi cơ quan nhà nước. Từ khi bị cách mạng tịch thu nhà, không bao giờ em đi ngang nhà cũ của em. Hễ thấy nhà cũ của em là em khóc. Em nhớ mẹ em, nhớ ba em và các em của em. Nhớ những ngày hạnh phúc, vô tư trước ngày mất nước.

- Bây giờ các người đó ở đâu?

- Ba mẹ em đã mất rồi, mấy đứa em vẫn còn trên kinh tế mới. Chúng không muốn về lại Nha Trang... Chỉ nửa năm ở kinh tế mới, mẹ em đã lâm bịnh nặng. Những khi mê sảng, mẹ em cứ kêu lên "Tôi lạy các ông! Chúng tôi xin đi. Các ông đừng bắn. Tôi lạy các ông!" Chỉ vì nhà nước tịch thu tài sản mà ba mẹ em không chịu, cứ khóa của ở trong nhà, họ phải phá cửa, vô bắt cả nhà, bỏ lên xe, đưa lên kinh tế mới với hai bàn tay trắng.

Giọng cô đều đều, bình thản, như đang kể chuyện của người khác.

- Em đang ở Nha Trang mà lại nhớ Nha Trang kỳ lạ. Nha Trang ngày xưa của em.

- So với Cải Cách Ruộng Đất ngoài Bắc năm 54 - 56, họ nhân đạo hơn nhiều. Hạnh nên "cám ơn" họ. Nhưng ngay tại đây, tôi biết Hạnh còn sợ một loại người khác nữa. Đó là Việt kiều.

- Em không hiểu ý anh?

- Tôi ôm vai Hạnh, Hạnh sợ đến phát khóc.

- Không phải đâu, sợ anh thì ít, nhưng em khóc vì em đang nghĩ đến chuyện riêng của em, em lo buồn quá! Em rất cần anh giúp em.

Rồi cô tựa vào người hắn, như chiều lòng hắn, nhưng hắn đã đứng lên.

- Bây giờ mình về. Tôi cần Hạnh ra đây để hỏi rõ về quyết định của Hạnh, nếu Hạnh đồng ý, tối mai lúc mười giờ, tôi chờ Hạnh ở ngã tư lúc nãy, chúng ta sẽ đến một nơi, Hạnh sẽ nhận được tiền và tặng cho tôi món quà mà tôi thích, chắc Hạnh hiểu. Nếu không đến, là Hạnh từ chối.

Cô yên lặng một lúc.

- Em sẽ đến, chỉ sợ anh đổi ý thôi. Cố giúp em nghe anh!


4

Hắn giã từ cô, đi lẫn vào bóng tối. Chờ cho cô Hạnh đi một quãng xa, hắn đi theo, cố cho cô không thấy được hắn, dù đôi lúc cô quay nhìn phía sau. Cô đi vào một con hẻm tối om, tối đến độ hắn chỉ nhận được dáng cô lờ mờ phía trước. Rồi cô mở cửa bước vào một chái nhà, đóng cửa lại. Chái nhà rộng vài mét, dài độ năm mét, tựa vào vách tường của con hẻm. Hắn nép vào vách nhìn qua cửa sổ mắt cáo. Một ngọn đèn nhỏ leo lét để trên một cái bàn cũ đen thùi. Cạnh bàn là một chiếc giường, buông mùng, có người đang ngủ, đầu giường là một cặp nạng của người què. Một cái nôi, treo gần đấy, cũng buông mùng, hình như có em bé ở trong.

Cô để xách tay trên bàn, vén mùng chui nửa người vào giường, cúi xuống như hôn người nằm ngủ. Hắn lắng nghe nhưng không rõ tiếng đối đáp. Chợt có tiếng ọ ẹ trong nôi, cô chui ra, nắm tô nôi vừa đưa vừa như chuyện trò với đứa bé.

- Ngủ đi con, để mẹ và ba ăn cơm xong, sẽ cho con bú, từ chiều tới giờ, ba cho con uống nước cháo hoài, đâu bổ béo gì.

Rồi cô quay lại nói với người nằm trên giường.

- Lúc chiều em gặp con bạn Việt kiều, nó học cùng lớp với em lúc trước, vợ chồng nó về thăm Nha Trang. Nó hứa cho em mượn mấy trăm đô, mai mốt nó ghé đưa. Có tiền, em sẽ đưa anh vào Sài Gòn.

Có tiếng nói gì đấy. Cô bảo.

- Mẹ con em chỉ ở nhờ độ một tuần để săn sóc anh trong bịnh viện. Nếu họ khó khăn thì mẹ con em nằm ở hành lang bịnh viện. Nhiều người ở quê đưa người nhà nằm bịnh viện cũng phải sống như vậy, đâu có sao!





Cô nói với giọng nhỏ nhẹ, âu yếm và vui, rồi cô cất giọng ru con "Ầu ơ... Cầm con dao sắc, cắt một củ gừng. Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân... Cái tay em bưng, cái chưn em bước. Mái tóc em xước, cái lược em rơi... Ầu ơ... Vừa đi vừa vái ông trời, cho chồng em lành bịnh ở đời với em"





Hắn lặng lẽ quay về.

5

Cô Hạnh y hẹn ra với hắn, cô vẫn xin đi sau hắn một quãng. Đường phố còn đông đúc người qua lại, đèn từ các cửa tiệm sáng ra đến ngoài đường. Đến một cửa hàng, hắn ghé mua một thùng sữa hộp, kẹp vào nách đi tiếp. Cô Hạnh vẫn lẽo đẽo theo sau. Đến một tiệm cơm sang trọng, hắn dừng lại chờ cô.

- Hạnh có định ăn cơm với tôi không?

- Cám ơn anh, em còn no.

- Thì mình vào đây uống nước.

- Dạ!

Cô và hắn ngồi đối diện.

- Thường thì Hạnh thích ăn gì ? Thịt hay là cá?

Cô cười buồn rầu.

- Lúc nhỏ em kén ăn lắm. Bây giờ, có gì để ăn đâu mà chọn lựa.

- Bên Mỹ ăn uống thừa mứa, mấy người Việt tỵ nạn cũng bắt chước đế quốc tư bản, không dám ăn thịt, sợ mập quá, sợ đứt gân máu chết bất tử. Để tôi gọi một ít thức ăn mang về.

Hắn ra dấu, bà chủ tiệm đến với tờ giấy, hắn kê một lô thịt quay, cá chiên, cá kho, thịt kho... Một lát người làm để trên bàn hai xách thức ăn, hắn trả tiền, cầm lấy, ôm thùng sữa, đi ra.

- Bây giờ Hạnh theo tôi.

Cô biến sắc, riu ríu đứng dậy, mặt cúi gầm, lẳng lặng theo hắn. Ra khỏi tiệm, hắn tiếp tục đi, đến một chỗ vắng, dưới mái hiên, hắn dừng lại chờ cô.

- Hạnh có thay đổi quyết định không? Bây giờ vẫn chưa muộn.

Cô lắc đầu, buồn thảm.

- Em chẳng còn con đường nào khác!

Hắn móc bóp rút mấy tờ trăm đô, đưa cô Hạnh.

- Xin lỗi Hạnh, tôi đã làm Hạnh sợ thất thần. Tôi không có ý xấu gì với Hạnh đâu, tôi muốn thử Hạnh và cũng muốn chiêm nghiệm một số ý nghĩ của tôi. Đây là tất cả số tiền tôi có, Hạnh cầm lấy. Tôi đã được biết chút ít về hoàn cảnh Hạnh. Tôi rất kính phục Hạnh, kính phục tấm lòng chung thủy của Hạnh. Chồng Hạnh là một người lính may mắn, sẽ rất hãnh diện và tri ân Hạnh. Tôi tin rằng miền Nam Việt Nam của chúng ta còn rất nhiều tấm lòng, trái tim như Hạnh. Trời sẽ không phụ lòng họ. Đất nước sẽ qua cơn hoạn nạn, chúng ta sẽ có dịp vinh danh những trái tim cao quí đó.

Cô Hạnh nhìn sững hắn. Rồi cô ôm mặt khóc nức nở. Hai vai cô rung lên.

- Em muốn quì xuống lạy anh để cám ơn anh đã cứu mạng chồng em.

Hắn vỗ vỗ lưng cô như dỗ dành đứa em gái.

- Nín đi! Người ta nhìn thấy kìa! Đây là địa chỉ của tôi ở Mỹ , cần gì Hạnh cứ gọi cho tôi. Tên tôi được thêm chữ thị ở giữa, vậy là chồng Hạnh sẽ nghĩ rằng tôi là bạn gái của Hạnh. Đàn ông rất tự ái, thà chết chứ họ không chịu nhờ vả người đàn ông nào mà họ không biết rõ, nhất là thông qua người vợ của mình. Đừng cho chồng Hạnh biết gì về tôi cả.

Cô lau nước mắt.

- Cám ơn anh, em chỉ cần chừng này là đủ.

- Dù sao cũng phải nhớ gọi tôi nếu có gì khẩn cấp mà không xoay sở được. Bây giờ Hạnh thử nói thật cho tôi nghe, giả như chuyện đó xảy ra, chồng Hạnh biết, Hạnh nghĩ sao?

Cô thở dài.

- Em đã cùng đường rồi, thân em có sá gì, phải cứu chồng em trước đã, sau đó ảnh có biết chuyện xấu xa của em, có bỏ em, em cũng cam lòng. Nhục nhã quá thì em tự tử.

- Thế thì Hạnh mất hạnh phúc rồi còn gì? Mục đích của Hạnh là cứu chồng để được sống bên chồng. Cứu được chồng rồi bị chồng bỏ! Cũng như không!

- Em không hiểu được thế nào là hạnh phúc, nhưng em đã đi khắp đình chùa, miếu võ, em khóc lóc, cầu lạy, năn nỉ các ngài làm sao cứu được chồng em khỏi bịnh, rồi sau đó có bắt hồn em đi, cho em chết thay chồng, em cũng vui lòng. Em thương chồng em lắm.

Cô nói xong, quên cả khóc, nhìn hắn cười. Giọng như tâm sự với bạn thân.

6

Rằm này em sẽ vô chùa, xin cạo đầu và ăn chay ba tháng để cám ơn Trời Phật phò hộ gia đình em được tai qua nạn khỏi và để cầu Phật độ trì cho người có lòng tốt như anh luôn được sức khỏe, may mắn.

Hắn buồn cười.

- Hạnh cầu Trời Phật từ bao giờ mà nói nghe như văn chương của mấy bà già trầu?

Cô đã trở lại vẻ tự nhiên.

- Từ lúc gặp anh, nghe anh nói, em vừa hi vọng vừa lo sợ. Em sợ đến nỗi không ngủ được, em cứ ôm chồng mà ứa nước mắt. Em không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra cho em? Rồi em cứ van vái, Chúa, Phật, thần thánh, ma quỉ, cô hồn các đảng, những người khuất mặt, xin cứu chồng em, xin cứu em. Bây giờ em cũng đang khóc đây! Đừng cười em nghe!

Cô ngước nhìn hắn. Quả thật, cô cười mà nước mắt chảy dài trên má.

- Hai đứa đứng nói chuyện lâu quá, mà Hạnh thì vừa khóc vừa cười, người ta có thể hiểu lầm. Bây giờ Hạnh đi xích lô về.

Hắn gọi một chiếc xích lô, cô Hạnh lên ngồi. Hắn để mấy xách thức ăn, thùng sữa hộp dưới chân cô. Xe lăn bánh, cô xoay người lại phía sau, vẫy tay chào hắn. Bỗng cô ra dấu cho xe ngùng. Hắn tiến lại, cô thì thầm vào tai hắn.

- Năm trăm đô, thì anh mua gái tơ, sá gì nạ dòng như em. Bây giờ em mới nhớ lại, trước kia anh có yêu em. Anh thật... làm em thất kinh hồn vía!

Hắn cũng thì thầm.

- Đâu phải chỉ trước kia, bây giờ tôi vẫn yêu Hạnh. Hiếm người có được một trái tim như Hạnh.

Cô đưa tay lùa mái tóc ra phía sau. Hắn nhớ rõ, trước kia cô vẫn thường làm như thế. Cô lại nhìn hắn và cười khi chiếc xích lô lăn bánh.

Phạm Thành Châu
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image
Nỗi nhớ mùa Đông

Khi thời khắc những cơn gió heo mây ùa về mang theo cái se lạnh báo hiệu một mùa Đông lại đến, mùa của những đàn chim di trú từ phương Bắc về phương Nam để tránh cái lạnh khắc nghiệt! Cũng chính cái lạnh lẽo và sự khô hanh của mùa Đông làm cho mùa Đông thật giống với những nỗi buồn, có lẽ vì thế mà đặc trưng của mùa Đông lại là cái cảm giác ngày thật ngắn và đêm thì dài, cái cảm giác mà ta có thể cảm nhận thật sâu sắc cái thăm thẳm và sắc đến khó tả của màn đen đau đáu trong những đêm trăn trở, suy tư của đời người.

Mùa Đông tuy nói là buồn nhưng cũng là mùa tương hợp cho những mối tình, mùa của từng đôi uyên ương sánh bước bên nhau để đến bến bờ hạnh phúc, mùa mà những cội đa già đứng nhọc nhằn, trơ trọi lá trong mưa rét, nhưng đó lại là mùa ủ ấp những lộc chồi để khi Xuân về đua nhau khoe sắc, mùa chuẩn bị cho những cái mới, những đổi thay.

Trong ngổn ngang ký ức về mùa đông, một nỗi nhớ được khe khẽ gọi tên. Nhớ một bàn tay đã ủ ấm bàn tay lúc gió chuyển mùa. Nhớ chiếc lá cuối cùng nắm níu mong được ở lại với cây. Nhớ những dòng sông tuổi thơ chạy dọc hai bên cánh đồng lộng gió mùa Đông Bắc, lạnh đến tái tê lòng. Nhớ khoảng sân đầy xác lá vàng ủng nước, là nơi chứng nhân mọi thứ yêu thương còn đọng lại bên hạt nắng hanh vàng.

Thấm dần vào nỗi nhớ yêu thương là những kỷ niệm vụt trở về trong khoảnh khắc. Nhớ nhung khiến cho con người ta buồn nhiều hơn. Vẫn biết thế nhưng không ngăn lòng được. Nhất là nhớ về một mùa Đông còn chưa xa lắm… Đâu đó tận sâu thẳm tâm hồn, vẫn là nỗi nhớ dài, lẫn lộn buồn vui về những hình ảnh hạnh phúc nhất. Để rồi đắng cay với hiện thực là đã mất đi rồi những yêu thương của ngày xưa...

Mọi thứ vẫn tồn tại ở đây, đang gom góp từng hạt nắng đắp vào trái tim yếu đuối, vậy mà vẫn nghe quanh mình như có gió lạnh ùa về, run rẩy và cô độc, chới với giữa lúc gió chuyển mùa. Đã chẳng còn giữ được mùa Thu lại nữa, dù là lá vàng, hay chút nắng se nhẹ thì cũng vậy thôi, tất cả đã tàn rồi! Tất cả trôi đi, chỉ có tâm can còn lại đối diện với bộn bề cuộc sống.

Tình yêu đã có với nhau vào một mùa Đông. Để rồi khi cơn gió Đông ùa về bên song cửa, lòng chợt rùng mình vì lạnh và cô đơn. Những kỷ niệm tình yêu luôn gắn liền với mùa Đông, thật nhẹ nhàng, như xua tan cái lạnh giá để lòng cảm nhận biết rằng giữa mùa Đông vẫn còn thấy ấm áp. Ngày đó, mọi thứ thật hạnh phúc... con phố thân quen ghi dấu biết bao dư vị ngọt ngào của tình yêu thời xa đó.

Những ước ao được sống lại với kỷ niệm của ngày nào, là sự trăn trở u mê, là sự khát khao của kẻ lạc lối trong tình yêu. Rồi sẽ tất bật, sẽ ngột ngạt giữa cảm xúc xô bồ. Ngập tràn cảm giác stress, khi cứ viễn vông tiếp tục nuôi dưỡng tình yêu đã đang ở thì quá khứ. Và từ góc sâu thẳm trong tâm hồn, nó như một bản nhạc nhấn chìm tâm tư trong nốt trầm xao xuyến chen lẫn nốt lặng giữa những phím đàn, nó đánh thức mọi nhớ thương đang sống động ùa về từng khoảnh khắc...

Thực tế cuộc đời cho thấy, hình ảnh hạnh phúc dù có đẹp đến đâu thì cũng chỉ có giá trị một thời. Cho dù nỗi nhớ có len đến, như một ánh mắt, một nụ cười năm nào, cứ như ngước nhìn chầm chậm xoáy mòn mọi thứ muốn lãng quên. Hãy tự ru cõi lòng, hãy tự an ủi một thực tại rất hững hờ đó, nếu không nó sẽ đánh đổi mọi thứ đang có trong hiện tại.

Nhìn lại, tình yêu lúc nào cũng thật mong manh dễ vỡ. Một chút đắng chát, một chút tiếc nuối, miên man trong khắc khoải về miền ký ức xa xôi. Thời gian đã trôi qua không khi nào quay lại được, làm sao có thể trở về ngày xưa để làm ấm lại những buổi chiều xa vắng.

Lòng vẫn mong bình yên, dù là sự bình yên ngắn ngủi, thoáng qua. Mọi thứ hôm nay đã trầm khuất trong cô tịch, tĩnh lặng. Sự khát khao được trở về giấc ngủ trong thế giới yên bình, không có bão giông. Để lắng lòng trong cõi hư vô, để không còn cảm giác sợ hãi, lo sợ về một bình yên không ở kế bên. Dù qua bao mùa Đông nữa, bình yên vẫn hiện hữu kế bên, nó như một ngọn đèn chiếu sáng mỗi khi đêm về bên trong cánh cửa đang khép lại...

Dẫu sao đi nữa tôi luôn hy vọng một ngày, một ngày không xa lắm, trong cái lạnh lẽo của mùa Đông ùa về, tôi, bạn và mọi người sẽ không còn cảm thấy cô đơn, không còn chới với mà sẽ luôn vui vẻ, sẽ luôn hạnh phúc và ấm áp như câu nói: “Ấm áp không phải khi ngồi bên đống lửa, mà là bên cạnh người bạn thương yêu; Ấm áp không phải khi bạn mặc một lúc hai, ba áo, mà là khi bạn đứng trước gió lạnh, từ phía sau đến có ai đó khoác lên bạn một tấm áo; Ấm áp không phải khi bạn nói “ấm quá”, mà là khi có người thì thầm với bạn: “Có lạnh không?”; Ấm áp không phải khi bạn dùng hay tay xuýt xoa, mà là khi tay ai kia khẽ nắm lấy bàn tay bạn; Ấm áp không phải khi bạn đội chiếc mũ len, mà là khi đầu bạn dựa vào một bờ vai tin cậy” để cuộc sống này đầy ấp những niềm vui!

YuMe
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Image

Paris By Night 49 -
Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương





Paris By Night 59 -
Cây Đa Bến Cũ


khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Văn chương Nguyễn Tường Giang:
Trầm tích định mệnh khác


Du Tử Lê

Thừa hưởng huyết thống văn chương tài hoa của thân phụ, nhà văn Thạch Lam/Nguyễn Tường Lân,
theo tôi nếu Nguyễn Tường Giang không viết văn, không làm thơ, mới là điều đáng ngạc nhiên. Và, đáng tiếc!

Image
Nhà văn Nguyễn Tường Giang.

Bước vào thế giới thơ, văn từ những năm còn là sinh viên Ðại Học Y Khoa Saigon đầu thập niên (19)60, nhà văn, nhà thơ Nguyễn Tường Giang từng cộng tác với các nhóm văn hóa như Thái Ðộ, Ðất Nước. Ông cũng là một trong những thành viên chủ trương tạp chí Văn Chương, thành lập nhà xuất bản Thạch Ngữ. Ở hải ngoại, Nguyễn Tường Giang đi tiếp con đường chữ, nghĩa thừa hưởng từ thân phụ, qua những sáng tác đăng tải trên các tạp chí như Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21... Nhưng, mãi tới hôm nay, họ Nguyễn mới cho ấn hành tuyển tập thơ, văn đầu tiên “Khói Hồ Bay” ở quê người.

Với gần 400 trang sách khổ lớn, mẫu bìa trang nhã tới mức khiến người đọc bỗng cảm thấy muốn nâng niu, phải gượng nhẹ. Tựa nếu không, hương khói văn chương họ Nguyễn, có thể bất bình mà, bay mất!

Trong lời tựa, trước khi mở vào tác phẩm, nhà văn Phạm Phú Minh ghi nhận một giai đoạn thơ của Nguyễn Tường Giang như sau:

“Nỗi buồn (trong thơ Nguyễn Tường Giang) tồn tại như một phẩm hạnh của tâm hồn nhà thơ, nó xác nhận một cái gì bất biến nơi ông, trước những biến đổi cực kỳ lớn cho đời ông cũng như cho đất nước Việt Nam. Dù phải hoàn toàn làm lại cuộc đời nơi xứ lạ, phong tục tập quán và văn hóa cuộc sống chung quanh đều thay đổi, nhưng trong thâm tâm ông đã kết tinh một viên ngọc của yêu thương lẫn đau thương, một loại trái tim Trương Chi không bao giờ tan biến. Ðó là chỗ đáng yêu và đáng phục nhất của của tâm hồn Nguyễn Tường Giang, nằm ẩn một cách sâu xa và kín đáo trong tâm sự thi ca của ông...”

Cũng vậy, trước khi bước vào phần văn xuôi Nguyễn Tường Giang, nhà văn Nguyễn Tường Thiết viết về người em có chung một huyết thống với mình như sau:

“Khi chú Sáu của tôi (nhà văn Thạch Lam) qua đời năm 1942, tuổi của Giang lúc ấy vỏn vẹn ba ngày. Khi bác Tam (Nhất Linh) của Giang mất năm 1963, tuổi tôi hai mươi ba.

“Với Giang, Thạch Lam là cái bóng trong tâm tưởng. Với tôi, Nhất Linh là cái hình trong hồi ức.

“Giang mở đầu một bài hồi ký về cha mình bằng một cái chết:

“‘Chết là giải thoát một đời. Chết là đầu bên kia của sợi dây ngày tháng. Một sớm kia, một tối nào. Tôi hay anh, cũng thế. Bên kia cái chết là nội cỏ ngàn cây hoa mộng hay bên kia cái chết là thảng thốt khổ đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết, nhiều khuôn mặt chết. Quá nhiều. Nhưng không bao giờ, mãi mãi, tôi có thể hình dung được một cái chết, một khuôn mặt chết thân yêu nhất và buồn bã nhất của đời tôi. Cái chết của cha tôi, Thạch Lam.’” (Khói Hồ Bay - Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng).

Cách gì, nhìn từ góc độ nào thì, với tôi, cõi-giới văn chương của họ Nguyễn, vẫn tựa như kẻ ngậm ngùi tự lật những viên gạch một nền nhà xưa cũ, để tìm kiếm kho tàng quá khứ! Với hy vọng dò thấy mạch nguồn dĩ vãng. Một dĩ vãng đau đáu những mơ hồ của tâm cảnh nghiệt ngã hay, bản-án-không-văn-bản. Liên quan tới cái chết của người cha mà, ông gọi là “bản án sát nhân trong tâm hồn”:

“Sự ra đời của tôi, một đứa con trai, là tai họa cho ông. Một người đoán tử vi nào đó, năm 1942, khi mẹ tôi đang mang thai, đã nói nếu sinh con trai người cha sẽ chết. Khi mẹ tôi đi sinh, cha tôi đang đau nặng.Ông đau bệnh gì: bệnh lao vì làm việc và suy nghĩ nhiều. Ý chí muốn dứt bỏ cái thú phù dung, hay tại số. Tôi không thể định rõ được. Lúc người nhà về báo với ông đứa trẻ mới sinh ra là con trai, ông không nói gì, lặng lẽ coi tiếp tờ báo đang xem dở. Ba ngày sau, ngày 27 tháng 6, 1942, Thạch Lam mất. Sinh ra đời, buồn thay, nhiều khi đã mang bản án sát nhân trong tâm hồn.” (“Khói Hồ Bay,” trang 298)

Ðó là một trong rất nhiều đoản văn như những chiếc máy khoan đất đá, có khả năng dò tìm đáy tầng dĩ vãng. Nói cách khác, tôi nghĩ, họ Nguyễn đã tìm được kho-tàng-nguồn-cội, khi ông cắt ruột, xẻ gan lật những viên gạch nền nhà quá khứ của tâm cảnh ông.

Những tìm và thấy của Nguyễn Tường Giang (qua văn chương,) với tôi là những mạch ngầm định mệnh một đời người. Chúng ở đó. Vĩnh viễn. Chúng không hề là những sợi khói, để hy vọng tan biến, một ngày nào. Nỗi buồn như những thương tích thân tâm của họ Nguyễn cũng chấp chới ở nhiều độ sâu khác nhau. Mỗi độ sâu trong tâm cảnh đào xới, họ Nguyễn lại tìm và thấy những trầm tích khác nhau.

Bắt gặp kia, khi là trầm tích của nỗi buồn thiếu mẹ:

“Mẹ hiền giờ đã khuất
ngàn dậm thân lưu đầy
nhớ nhà đôi dòng lệ
biết nói cùng ai đây?” (1)

Lúc khác, lại là trầm tích của tình bằng hữu - Một thứ tình cảm trải dài lênh đênh, cùng khắp, không chỉ trong văn xuôi mà, còn nồng nàn trong thơ cũ cũng như mới của ông nữa:

“Lâu ngày không gặp bạn
được tin bạn đi rồi
hàng phong như lửa đỏ
sáng rực một góc trời
“Tần ngần về đường cũ
nhặt một lá phong rơi
hàng phong thiếu một lá
cũng buồn như ta thôi.” (2)

Nhưng, nếu những trang thơ của Nguyễn Tường Giang là những cật vấn trực tiếp với cuộc đời, nhân thế thì, những trang văn của họ Nguyễn lại là những nhát cuốc đào sâu, xới tơi cả một quá khứ lao lung, phủ kín ngậm ngùi. Tôi gọi đó là loại quá khứ bập bềnh những oan khiên. Trập trùng những mất mát. Nhức nhối những chia tan.

Chúng ta đọc thơ Nguyễn Tường Giang để về gần với những câu hỏi căn bản như con người từ đâu đến? Sống để làm gì? Chết sẽ đi về đâu? Trong khi văn xuôi của Nguyễn Tường Giang lại cho ta về gần (rất gần) kỷ niệm. Kỷ niệm riêng mà chung! Vì chúng là những nấm mộ. Những nấm mộ không chỉ trong ký ức. Trong hồi tưởng. Mà, những nấm mộ, hiểu theo một nghĩa nào, cũng chính là nơi chúng ta sẽ tìm về, nằm lại. Vĩnh viễn. Như một lần chúng ta tình cờ bị/được định mệnh dắt tay bước qua ngưỡng cửa đời sống, để có mặt trong cuộc đời này. Dù chỉ khoảnh khắc.

Nhưng, khoảnh khắc một đời người, theo tôi, không hề là vạch phấn giới hạn sức sống của văn chương Nguyễn Tường Giang. Tôi nghĩ, nhiều phần, ngược lại.

Tôi tin, văn chương họ Nguyễn sẽ vượt khỏi vạch vấn khoảnh khắc. Bởi tự thân, nó vốn có cho riêng nó một định mệnh.

Ðịnh mệnh của những trầm tích khác.

Du Tử Lê
(Calif. 9 tháng 12, 2012)

Chú thích:
(1): Sđd. Trang 57.
(2): Sđd. Trang 56.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image
Bên Thắng Cuộc

Mặc Lâm,
biên tập viên RFA

“Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. Quyển sách được viết bởi nhà báo Huy Đức, người nổi tiếng với trang blog Osin với những bài chính luận độc đáo có số người đọc rất cao.

Amazon phát hành chính thức

Sau ba năm mài miệt, “Bên thắng cuộc” chính thức ra đời vào ngày 12 tháng 12 vừa qua với hai cách: sách in do chính tác giả xuất bản và sách điện tử do Amazon phát hành dưới hình thức Kindle.

Có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà văn Việt Nam có lượng sách bán trên hệ thống Amazon qua hình thức sách điện tử. Sự đột phá này có ý nghĩa quan trọng cho những ngòi viết đang bị cho là có vấn đề tại Việt Nam, từ nay họ có thể lập ra kế hoạch cho cuốn sách sắp tới phát hành một cách rộng khắp nhưng lại không hề bị lưỡi kéo kiểm duyệt gây rắc rối. Huy Đức là nguời đầu tiên và chắc chắn không phải là cuối cùng tận dụng lợi thế khoa học kỹ thuật này.

“Bên thắng cuộc” vừa ra đời một ngày đã tạo tiếng vang lớn khi nhiều tiếng nói uy tín giới thiệu nó một cách trân trọng, trong đó có bài viết của Giáo sư Trần Hữu Dũng, hiện giảng dạy tại đại học Wright thuộc tiểu bang Ohio Hoa Kỳ. GS Dũng cũng là chủ website Viet-Studies có luợng người vào xem rất lớn. Chia sẻ với chúng tôi về cuốn sách ông cho biết:
“

Hãy xem cuốn sách này như một nguồn tài liệu vì vậy nó rất tốt chứ không phải một cuốn viết về sử theo như cách hàn lâm.
GS Trần Hữu Dũng


“Tôi thấy cuốn sách có rất nhiều chi tiết và thông tin nào cũng hay cả! Nhưng nếu đưa cho người khác đọc thì có thể họ lại cho rằng cuốn sách này không phân tích tổng quan nên những học giả hàn lâm họ sẽ chê cuốn sách chỗ đó. Đối với tôi thì chuyện ấy sau này Huy Đức có thể làm được, viết một cuốn sách riêng để phân tích những sự kiện nào đáng nhất.

Có nhiều anh em cũng cho rằng Huy Đức nên viết lại, chia các chi tiết ra thì cuốn sách sẽ hay hơn. Nhưng muốn làm như vậy thì phải nhiều năm nữa mà Huy Đức không có thời gian. Cuốn sách phải ra liền không thể trễ hơn nữa. Hãy xem cuốn sách này như một nguồn tài liệu vì vậy nó rất tốt chứ không phải một cuốn viết về sử theo như cách hàn lâm.

Có một điều rất hay, đó là tôi hỏi Huy Đức, khi Huy Đức phỏng vấn những người trong cuốn sách này thì họ có biết rằng Huy Đức viết sách hay không? Huy Đức nói là biết! Thành ra tôi không hiểu tại sao mà họ tin cẩn Huy Đức để mà nói những điều như vậy trong khi biết rằng Huy Đức dùng những lời nói của họ để viết sách? Huy Đức rất cẩn thận và đức tính này rất hay.”

Ba muơi tháng tư

“Bên thắng cuộc” có thể nói là một cẩm nang cho những ai muốn biết về các sự kiện xảy ra tại Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 tới nay. Tác giả đã bỏ công hàng chục năm để phỏng vấn hàng trăm người trong cuộc. Tác giả cũng sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn trong đó chủ yếu là các hồi ký của những người có dính đến cuộc chiến tranh Việt Nam hay tham gia vào guồng máy chính trị của chế độ hiện nay.

Điều quan trọng nhất mà Huy Đức có được nhưng nhiều nhà báo khác không có đó là vào năm 2005-2006 anh được sang Mỹ du học tại tiểu bang Maryland và phỏng vấn hàng trăm người khác để kết nối với những điều anh đã thu thập từ trong nước.

Lượng thông tin kếch xù này được Huy Đức xử lý một cách khôn ngoan qua bút pháp chừng mực, dẫn người đọc tới cánh cửa bí ẩn mà người ta tin rằng trong thế giới cộng sản khó có người thứ hai làm được như anh.

Huy Đức không phải là một nhà viết sử vì vậy “Bên thắng cuộc” không thể là một cuốn sách lịch sử theo lối hàn lâm. Mặc dù vậy nó vẫn có thể dùng vào việc tra cứu sự kiện lịch sử xảy ra trong nhiều năm nhất là giai đoạn sau ngày 30 tháng 4. Mức độ chính xác và khả tín của “Bên thắng cuộc” có thể làm người sử dụng nó yên tâm vì nhân chứng hầu hết đều còn sống và họ sẵn sàng chịu trách nhiệm những gì họ cung cấp.
Image
Nhà báo Huy Đức, ảnh chụp trước đây. Photo courtesy of Osinbook.
Bắt đầu bằng chương 30 tháng 4, Huy Đức lần luợt mang ra ánh sáng những câu trả lời về trại cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền, rồi vượt biên, nạn kiều cũng như các cuộc chiến tranh khác sau năm 1975. Những góc cạnh Huy Đức đưa ra so với kinh nghiệm của hàng triệu người từng sống và chịu sự dày xéo, sai lầm của chế độ vẫn còn nguyên những yếu tố hấp dẫn bởi anh đào sâu chi tiết từng mảng đời, hoàn cảnh như một tác phẩm văn chương để từ đó người đọc cảm thấy như đọc lại chính mình.

Bên cạnh các vấn đề kinh tế chính trị, Huy Đức khéo léo lồng vào những mối tình có thật, bị chà đạp, ngăn trở do ý thức hệ hay lý lịch khiến “Bên thắng cuộc” trở nên đa dạng và sống động hơn rất nhiều so với loại sách khô khan chỉ viết và bình về các biến cố lịch sử.

Quen biết nhiều quan chức cao cấp của chính phủ qua những lần tác nghiệp cộng với mối xã giao rất rộng khiến Huy Đức có cái nhìn bao quát xã hội và anh mang hơi thở đậm đặc mồ hôi ấy vào tác phẩm khiến những biến cố lớn đều có chất người, chất thời sự báo chí qua từng trang viết của anh.

Tự sát hay Tuẫn tiết?

Huy Đức tập hợp dữ kiện và phân phối chúng một cách thông minh khiến người đọc không có thời gian bỏ cuốn sách xuống để làm việc gì khác. Bên cạnh đó, điểm Huy Đức thuyết phục người đọc nhất là tâm thức nhân bản của anh.

Người ta không lạ gì các bài viết mang tính “lịch sử” lại chỉ kể về những thất bại của đối phương và xem những người lính phía bên kia là kẻ thù, kể cả khi họ đã buông vũ khí để trở về với làng mạc, đồng lúa Việt Nam. Sự quen thuộc ấy không được lập lại trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức nhìn người lính cả hai bên trước nhất là những con người, mọi dị biệt về tính tình hay cách ứng xử đều thuộc về cá nhân để từ đó anh thật sự sống cùng và nghiền ngẫm từng trường hợp xảy ra để viết.
“

Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.
Huy Đức


Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết.

Những người chấp nhận kết liễu đời mình như thế chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn.

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: “Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó”.

Trong “Bên thắng cuộc” người đọc tại Việt Nam, nhất là những bạn trẻ sẽ phát hiện ra nhiều nhân vật đang sống chung quanh mình đã và đang đi vào lịch sử, mặc dù không chắc hình ảnh của họ là sáng hay tối.

Ông Hồ Ngọc Nhuận là một trong những người như thế.

Những khuôn mặt lịch sử

Huy Đức kề lại cuộc trao đổi giữa dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và Đại tướng Dương Văn Minh trước giờ Sài Gòn thất thủ. Câu chuyện có thể do chính ông Nhuận kể lại bởi ông thuộc thành phần thứ ba, vẫn sống và mới đây xuất hiện tại Sài gòn lên tiếng trong việc biểu tình chống Trung Quốc.

Hình ảnh ông Hồ Ngọc Nhuận sống động trên các trang mạng khiến câu chuyện của Huy Đức kể đậm đặc thêm tính thời sự. Nó rất khác với những trang sử cố vẽ lại sự kiện nhưng thiếu người ngồi mẫu. Câu chuyện của Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Đặng Đình Đầu, Huỳnh Bá Thành cùng hàng trăm người khác đã làm cho cuốn sách có lực hút của một hành tinh.

Một nhân vật khác nổi bật lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư Lê Duẩn. Huy Đức đã lặn lội không biết bao nhiêu cây số để theo dõi từng bước chân của ông từ Nam ra Bắc cũng như các nước cộng sản anh em. Mỗi một sự kiện, Huy Đức tìm đến một nguồn khả tín để mang ra công luận những gì chưa biết hay chưa trọn vẹn về nhân vật này.

Theo Huy Đức thì Lê Duẩn rất ghét Trung Quốc. Các vụ đi đêm với Mỹ đã khiến ông này nổi giận và trở nên gay gắt thẳng thừng với Chu Ân Lai, trách móc họ Chu đã phản bội Việt Nam. Lê Duẩn cũng là người có đôi tai tình báo thính như tai thợ săn trong đêm tối. Ông từng nói với vợ là Hoa Kỳ hứa với Trung Quốc sẽ không động tĩnh gì nếu Bắc Kinh tấn công Hoàng Sa, khi ấy còn trong sự kiểm soát của chính phủ Sài Gòn.

Vậy mà Lê Duẩn vẫn không thoát nỗi cái bẫy mềm mại của Trung Quốc, đó là những đồng tiền viện trợ đánh Mỹ nhiều đến nỗi sau khi chiến thắng vẫn còn lại 50 triệu Mỹ kim trong két của B29 và 51 triệu Mỹ kim khác của chiến trường B2 và Khu 5 vẫn chưa xài tới.

Nếu câu chuyện của Tổng bí thư Lê Duẩn là thâm cung bí sử thì Công hàm ngoại giao năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký phải thuộc trách nhiệm của nhiều người, trong đó có ông Hồ Chí Minh và Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trách nhiệm này không thể quy cho một mình Thủ tướng Đồng khi bên cạnh ông còn quá nhiều người có khả năng lũng đoạn một người hay một nhóm.

Phương án II

Trong chương Nạn kiều, Huy Đức góp phần bạch hóa câu chuyện tổ chức cho Hoa kiều vượt biên để gom vàng của nhà nước. Dẫn lời ông Nguyễn Đăng Trừng, phó Phòng chống phản động bành trướng bá quyền, Phương án II là tên gọi của tổ chức cho Hoa Kiều Vượt biên nhằm đưa “đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng là người Hoa, điểm nóng là cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc gần kề. Biết bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra trong cái gọi là Phương án II này. Huy Đức ghi lại hoàn cảnh của các nạn nhân Hoa lẫn Việt qua các câu chuyện có thực của người kể.
“

Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.
Huy Đức


“Bên thắng cuộc” ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Gấp cuốn sách lại là một chương khác mở ra trong lòng người đọc: một thời kỳ biến động của đất nước đã khuấy động sự trầm lắng mà nhiều người muốn quên sau hơn bốn muơi năm nhọc nhằn, thao thức cùng dân tộc. Huy Đức đã đốt lên ngọn lửa trong đêm dài để soi rọi những mất mát thực sự của đất nước, con người. Đọc “Bên thắng cuộc” để biết rằng từng có những mảnh đời như thế. Họ bị bạc đãi, bị vùi dập và tâm hồn họ rách rưới tả tơi ngay cả khi được sống và định cư ở nước ngoài.

Trong lời nói đầu, Huy Đức chia sẻ:

“Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật.”

Vì khao khát tìm kiếm sự thật nên “Bên thắng cuộc” không thể xuất hiện công khai tại Việt Nam. Thực tế cho thấy nó đang lưu lạc trên khắp thế giới tới nơi nào có người anh em của nó. “Bên thắng cuộc” sẽ mãi mãi đứng ngoài mảnh đất mà nó yêu thương để mỗi đêm thủ thỉ bên tai người đọc những câu chuyện đắng lòng về một đất nuớc liên tục gặp bi kịch trong các cuộc chiến mà căn cước kẻ chiến thắng vẫn rất mù mờ.

Có một điều chắc chắn rằng mặc dù Việt Nam có rất nhiều giải thưởng được cho là cao quý để trao tặng những cuốn sách độc đáo, thế nhưng không giải thuởng nào đủ giá trị để trao cho “Bên thắng cuộc”.

Vì nó quá lớn.

Và chứa đầy máu cũng như nước mắt của toàn dân tộc.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bán sách cũ

Hà Việt Hùng

Gần cuối con đường dẫn ra bờ hồ, có một cửa hàng bán sách cũ. Người qua đường khó biết đấy là cửa hàng sách cũ vì bên ngoài
không có bảng hiệu, và cũng không có điểm gì đặc biệt cả. Trong cửa hàng, sách bầy la liệt, đúng hơn là vứt la liệt.


Image
Mặc dù sách đã được cẩn thận sắp đặt có thứ tự trên những cái kệ gỗ hoặc kệ sắt, nhưng vì nhiều quá, sách đã nằm chồng chất lên nhau cao nghệu, lên sát trần nhà, lan ra ngoài, chẩy xuống nền nhà, len lỏi qua những lối đi nhỏ, và tràn ra tới gần cửa ra vào. Bốn phía đều có sách. Sách, sách, sách, sách. Có thể có tới hàng triệu cuốn. Ðó là nét đặc thù của cửa hàng.
Người ta cứ tưởng chủ nhân cửa hàng bán sách phải là người có bằng cấp ghê gớm lắm, bét lắm cũng phải bằng cử nhân, tốt nghiệp đại học hệ bốn năm, nhưng không ngờ ngày xưa ông chỉ là học sinh mới học xong lớp 7 phổ thông. Ông lớn lên cùng với ngày tháng gian truân vất vả, cộng với lòng yêu sách vô bờ bến. Ông đã chắt chiu, gom góp mua những quyển sách bằng tiền ăn sáng eo hẹp của mình. Lúc đầu là tủ sách gia đình, bây giờ sách đã cơ man, biết bao nhiêu mà kể.

Khách đến cửa hàng của ông, khỏi phải nói, đều là những người yêu sách nhiệt tình, nhiệt tình cũng như ông vậy. Ðại đa số là học sinh, sinh viên nghèo, hoặc là “giai cấp văn hóa mạt rệp” không đủ tiền mua một quyển sách thuộc loại quý hiếm. Họ đến thường xuyên, phần lớn nhẵn mặt. Ông để họ tự do đứng hay ngồi đọc ở cái bàn nhỏ kê ở góc nhà. Thỉnh thoảng ông còn mời họ vài hớp nước trà cho bớt khô miệng nữa. Cứ nhớ đến “ngày xưa” của ông, rất dễ thông cảm với họ.

Trong cửa hàng của ông có nhiều loại sách, nhất là sách văn học, nghệ thuật. Có những quyển còn già hơn tuổi đời của ông. Có những bộ sách quý hiếm ông cẩn thận sắp trong tủ kính, giá nào cũng không bán. Người ta thấy ông có quyển Vang Bóng Một Thời, tập truyện ngắn của Nguyễn Tuân, nhà xuất bản Tân Dân in năm 1940 tại Hà Nội; một phần lớn bộ Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, do Vũ Ðình Long làm chủ nhiệm, cũng do nhà Tân Dân in từ năm 1934; bộ Kim Vân Kiều và Chinh Phụ Ngâm do Học giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch và chú giải, in năm 1943. Rồi đến những quyển Tỳ Bà Hành, Nhị Ðộ Mai, Thúy Kiều Thi Tập in năm 1926. Ai cần quyển nào, cứ nói cho ông biết tên tựa, một loáng sau là có ngay. Quyển nào không có đó, nếu khách cần, cho ông biết tên, ông hẹn 3-4 ngày sau đến lấy, y như là có, ít khi sai. Ai hỏi ông, nhập nguồn sách ở đâu, ông chỉ cười, trả lời lấp lửng.

Những quyển sách ra đời đã từ lâu, có quyển “giang hồ” từ Nam ra Bắc, long gáy, sút bìa, ông phải ngồi tỉ mẩn dán lại. Ðặc biệt sách nào có ghi thủ bút trên đó, càng quý.

Nhớ một hôm, có một ông khách bước vào cửa hàng của ông. Ông khách trạc trên năm mươi. Sau một lúc tự tìm kiếm, ông khách lôi ra rồi cầm trên tay quyển Lỡ Bước Sang Ngang (1940) của Nguyễn Bính (bản in sau năm 1975 tại Sài Gòn). Ông để ý trang bìa quyển thơ bị rách một nửa, và những trang giấy bên trong đã ngả sang mầu vàng. Ông khách lật mấy trang đầu, đôi vai ông ta bắt đầu rung lên nhè nhẹ. Ông ta khóc. Từ đằng xa ông thấy hết, nhưng vì tôn trọng sự riêng tư của người khác, ông mặc kệ.
Mười lăm phút sau, ông nhẹ nhàng đi tới bên cạnh người khách, hỏi:
-Xin lỗi. Quyển sách này gợi lại cho ông kỷ niệm không được vui?
Người khách quay lại, nhận ra ông là chủ nhân cửa hàng sách, ông ta nói:
-Hơn ba mươi năm trước tôi đã tặng quyển thơ này cho một người con gái ở Sài Gòn. Ðây là chữ viết của tôi. Sao bây giờ nó lại nằm đây?
Ông không trả lời câu hỏi, nói với người khách cho ông mượn quyển thơ. Ông không cần lật ra, vì bìa sách đã bị rách một nửa trên, để lộ ra hàng chữ viết tay bằng bút bic mầu tím. “Tặng Dậu. Kỷ niệm mối tình của đôi ta.” Bên dưới là chữ ký ngoằn ngoèo.

Ông trả quyển sách cho người khách, hỏi:
-Thế bây giờ Dậu đâu?
Người khách quay nhìn ra cửa, đôi mắt heo hút. Biết ý, ông nói:
-Ông có quyền không trả lời.
Người khách đứng tại chỗ, lật thêm vài trang sách, rồi giơ ra trước mặt ông.
-Ông cho tôi mua quyển này. Bao nhiêu hả ông?
Ông chặn tay người khách.
-Tôi biếu ông.
Hình như người khách không nghe rõ câu trả lời, ông ta đút tay vào túi lục tiền, hỏi lại:
-Bao nhiêu hả ông?
Ông nói giọng dứt khoát:
-Không, tôi biếu ông mà. Kỷ niệm không ai có thể mua hay bán được.
Người khách nhìn ông, lí nhí câu cám ơn trước khi đi ra. Ông gật đầu, mỉm cười nhìn theo. Hạnh phúc của ông là những lúc này.
Lại một hôm, có một người khách đầu đội nón cối, mặc đồng phục mầu xanh bạc thếch, đến cửa hàng của ông, trên tay ôm chồng sách. Ông hỏi:
-Ông có sách bán à?
Người khách gật đầu:
-Chứ không đến đây làm gì?
Ông niềm nở:
-Sách gì? Ông cho tôi xem.

Vừa nói ông vừa đỡ một quyển trên tay người khách. Thơ Tố Hữu. Ông lẩm nhẩm trong đầu. Anh chàng này có thể mô tã cứt là vàng,có lần đã đánh giá“trí thức còn thua cục cứt. Cứt còn có lợi cho ruộng nương.” Có ai đọc cái thứ này đâu mà mua với bán. Ông lấy quyển kế tiếp. Tư Bản Luận của Karl Marx. Chà, bộ sách này đã từng được xem là “cẩm nang và vũ khí của giai cấp lao động” đây. Nó đã giết hại cả chục triệu sinh linh vô tội ngay trong các nước Cộng sản vì “đấu tranh giai cấp. Marx đã chết lâu rồi. Lý thuyết của ông ta lạc hậu, chẳng khác gì cái “thùng rỗng kêu to.”

Còn cuốn này? Ông lấy quyển thứ ba, rồi thứ tư, rồi thứ năm. Kể Chuyện Xây Lăng, Mỗi Bước Người Ði, Tư Tưởng...

Ông để những quyển sách vào tay người khách:
-Ông thông cảm. Bây giờ không ai đọc những quyển này.
Người khách trố mắt.
-Không ai đọc à? Tôi đã tốn khá tiền để mua những quyển này đấy. Còn tốn cả thời gian để ngồi đọc nữa.
Ông thành khẩn:
-Tôi hiểu, nhưng không mua được. Phiền ông đem về.
Người khách ôm lấy chồng sách, nói tiếng “cám ơn” trước khi bước ra cửa. Ra đến ngoài,không biết nghĩ sao, ông ta vội vàng đặt chồng sách bên cạnh ống cống bên lề đường, nhẩy tót lên chiếc xe đạp, vù đi.
Ông chỉ kịp chạy ra, miệng la to:
-Này, ông kia, sao lại bỏ sách ở đây?
Người khách vẫn gò lưng trên chiếc xe đạp.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

AI ĐÃ VIẾT CA KHÚC " BÀI THÁNH CA BUỒN?

Những năm của thập niên 70, trên sóng Đài phát thanh Sài Gòn và nhiều băng đĩa nhựa đã có ca khúc " Bài thánh ca buồn'. Với sự thể hiện tài tình và thu hút người nghe như một ma lực ...??? Đó là giọng ca của Nam ca sĩ Evis Phương và được sự đón nhận của người yêu nhạc tại miền Nam thời bấy giờ. Phải nói rằng: Người nghe và yêu ca khúc này thì nhiều vô kể, nhưng có mấy ai biết đến cha đẻ của nó hiện là một "ông giáo làng"... Bài hát ra đời từ một hoài niệm đẹp.Dẫu biết mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 35 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của ca khúc "Bài thánh ca buồn" -nhạc sĩ Nguyễn Vũ - vẫn còn nguyên sự phấn khích: "Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen".
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944, tại Hà Nội, nhưng suốt thời gian thơ ấu anh sống tại Đà Lạt, chính thành phố sương mù này đã tạo bước đường nghệ thuật của anh. Năm 12 tuổi( 1956) anh đạt giải nhất đơn ca do Đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi anh viết ca khúc đầu tay " Huyền thoại một chiều mưa".

HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CA KHÚC

Ông kể : Năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái "má đỏ, môi hồng, nước da trằng ngần" của thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. "Trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng tôi lại không có can đảm để làm quen". Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai chúng tôi đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô ấy và tôi đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô ấy lẩm nhẩm hát theo. Và mỗi lần đi lễ cô ấy cứ đi qua trước ngõ nhà tôi. Cô ấy rất đẹp và ngoan đạo. Vì yêu thầm cô ấy nên tôi cũng" siêng" đi nhà thờ con Gà ( Đà Lạt).Hình ảnh ấy cứ ám ảnh tôi mãi cho đến nhiều năm sau đó, vào năm 1972, tôi đã viết lại cảm xúc của mình". Và ca khúc "Bài thánh ca buồn" đã chào đời. Một câu chuyện tình lãng mạn của một mùa Noel đầy kỷ niệm rất đáng nhớ. Cái lãng mạn, trong sáng và cũng rất thánh thiện, tinh tế của ca khúc " Bài Thánh Ca Buồn" vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo lẫn những người ngoại đạo đôi lần hát vu vơ trong mùa Giáng Sinh se lạnh cuối năm, trở thành một trong những bản nhạc được yêu thích trong các album nhạc Giáng Sinh. Hạnh phúc với vai trò người thầy Sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Nguyễn Vũ không lớn lao như nhiều nhạc sĩ khác, nhưng không ít tác phẩm đã đi vào lòng người.

-Sau khi ca khúc chào đời từ năm 1972 và được người yêu nhạc đón nhận một cách nhiệt tình , đến nay anh có gặp lại cô ấy không?
-Những hoài niệm bàng bạc trong ký ức tôi là câu tứ để hình thành ca khúc. Tôi nghỉ cứ để y như thế chắc là đẹp hơn. Hơn nữa tôi có một gia đình êm ấm. Tôi cũng có nhiều chuyến trở về Đà Lạt, trong thâm tâm cũng có ý dò tìm nhưng.... bặt vô âm tín! Đà Lạt bây gìơ đã đổi thay quá nhiều so với thời thôi ở.

NHẠC SĨ NGUYỄN VŨ VÀ NHẠC SĨ NGUYÊN VŨ CÓ PHẢI LÀ HAI NGƯỜI KHÔNG?

Rất nhiều bạn yêu nhạc bị nhằm lẫn điều này, và cho rằng nhạc sĩ Nguyên Vũ là đại tá hải quân( của chế độ cũ) bởi lẽ, nhạc sĩ Nguyên Vũ hay viết về biển như các ca khúc :"Sao rơi trên biển", " Một loài chim biển".... Nhưng thực chất hai chỉ là một. Ngoài ca khúc" Bài Thánh Ca Buồn", ông còn được biết đến qua ca khúc: " Hai mùa Noel", "Huyền Thoại Một Chiều Mưa", " Lời cuối cho em".... Ông bảo: "Tôi đặc biệt thích viết về biển. Cái lạnh khô khốc của gió biển, mùi mặn của nước biển và màu xanh của nó luôn khiến cảm xúc của tôi dâng tràn. Có lẽ tôi yêu thích biển, viết khá nhiều về biển nhưng tôi vẫn để dành những bài hát đó cho riêng mình". Đó cũng chính là sở thích lạ đời của một nhạc sĩ luôn đổ tâm huyết vào sáng tác. Ông lý giải: "Tôi chưa từng nghĩ đến sáng tác để kiếm tiền, tôi làm vì yêu thích công việc ấy, thế thôi! Hơn nữa, nghề này bạc lắm. Có ai biết đến người sáng tác ca khúc cho dù nó nổi tiếng đâu! "

THỰC TRẠNG ĐÁNG BUỒN

Một điều đáng buồn nhất của rất nhiều nhạc sĩ và các nhà thơ có ca từ đã phổ nhạc là khi ca sĩ thể hiện trên sân khấu ít được giới thiệu người sáng tác ra ca khúc này mà chỉ giới thiệu ca khúc do ai thể hiện. Đó là một thực trạng đáng buồn và đang phổ biến hiện nay và thiếu sự tôn trọng người sáng tác lẫn người có ca từ( Nhà thơ).Ông nói:"Với khán giả, họ chỉ cần biết ai hát ca khúc ấy mà hay như thế là đủ!". Điều đó khiến ông chẳng còn đặt nhiều quan tâm cho việc phổ biến những ca khúc của mình. Sau này ông không tiếp tục công việc sáng tác nữa. "Điều ấy khiến đến tận bây giờ tôi vẫn còn hối tiếc. Bởi ngưng sáng tác cũng đồng nghĩa với việc tôi mất đi một thói quen trải lòng mình bằng âm nhạc", ông tâm sự. :" Không sáng tác nhưng ông lấy công việc dạy nhạc cho lớp trẻ làm niềm vui. Đó là lớp dạy đàn, dạy nhạc mà ông mở tại tư gia của mình (Q.Tân Bình, TP.HCM). Hình ảnh những đứa học trò cặm cụi, đánh vật với những nốt nhạc như tiếp thêm sức lực cho tôi. Và tôi tin biết đâu một ngày nào đó, niềm vui đó sẽ giúp tôi tiếp tục quay trở lại với công việc sáng tác". Ông tin như vậy.

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Chỉ còn một chuyện nhỏ ít ai biết là ca - nhạc sĩ Đức Huy không chỉ là em họ ông mà còn là học trò giỏi của ông mấy chục năm trước. Nhạc sĩ Nguyễn Vũ là người đã phát hiện và dẫn dắt ca - nhạc sĩ Đức Huy bước vào con đường âm nhạc. Không thích kể nhiều về chuyện đã qua, con người lặng lẽ ấy, đến hôm nay chỉ tự hào nói rằng thành công nhất trong suốt cuộc đời ông là bốn đứa con gái đều thành người. Dù không ai trong số họ nối nghiệp cha nhưng tất cả đều biết đàn biết hát. "Cha con chúng tôi trở thành ban nhạc trong những ngày nghỉ, hội tụ gia đình. Với tôi, như thế là đủ và hạnh phúc lắm rồi!".

Hoàng Hữu Quyết
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest