Page 18 of 156

Posted: Fri Feb 06, 2009 2:08 am
by tankhoasinh
Học cách cư xử tốt

Oanh Thơ
Sống ở một nước văn minh như Hoa Kỳ hàng ngày, chúng ta vẫn gặp những điều bất lịch sự. Thật vậy, với những tiến bộ kỹ thuật, con người hưởng được nhiều thứ tiện nghi nhưng cùng lúc, đời sống trong xã hội lại bị căng thẳng hơn, khiến cho thái độ cư xử giữa con người với nhau, trở nên thiếu đi sự lễ độ cần thiết.

Một bài báo của ký giả Deborah Pike trên tờ Ladies' Home Journal đưa ra một vài thí dụ về những hoạt cảnh gây sự phiền lòng cho chúng ta và xẩy ra mỗi ngày như việc đang ngồi trong rạp chiếu phim hay nghe nhạc thì có tiếng cellphone reo. Thế rồi tiếp đó là tiếng một người đàn ông trả lời và bắt đầu gây gổ với một cô có vẻ như là vợ của anh ta trên điện thoại.

Hoặc khi bạn gọi điện thoại cho một công ty bảo hiểm, bạn phải chờ đến 45 phút mới được một nhân viên trả lời nhưng cô ta bỗng nhảy mũi rồi gác máy luôn. Khi gọi lại một lần nữa, bạn phải đợi thêm một số thời gian gần bằng lần đầu.

Hay đang sắp hàng chờ đến phiên mình trong cửa tiệm thì bị một người đến sau tỉnh bơ dành đi trước!

Trong một cuộc thăm dò của viện Gallup vào Mùa Hè năm ngoái, 78% người được hỏi công nhận là những thái độ bất lịch sự đang gia tăng trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, một cuộc tìm hiểu khác của hãng điện thoại Pacific Bell Wireless cũng cho biết là 60% khách hàng của họ nói rằng chẳng thà đi khám răng còn dễ chịu hơn là phải ngồi nghe ai đó nói chuyện điện thoại trong rạp hát hay ở nơi công cộng!

Bà Pike cho rằng có những lý do đưa đến việc xã hội trở nên bất lịch sự như vậy. Thứ nhất là vì người ta không có tình láng giềng như những thế hệ trước đây và nền tảng để tạo nên cách cư xử lịch sự giữa những người sống trong xã hội đã trở nên lỏng lẻo.

Mặc dù có nhiều công ty hay cửa hàng đặt trọng tâm trong việc huấn luyện nhân viên để phục vụ khách hàng một cách lịch sự nhưng việc tìm kiếm những người làm việc với tinh thần đó không phải dễ dàng. Thêm vào đó, nhiều nhân viên than phiền là ngày nay khách hàng của họ rất khó tính và rất thô lỗ.

Ðể tạo một tác phong nhã nhặn trong thời đại hiện nay rất khó khăn bởi vì có thể nói chưa bao giờ người ta bị căng thẳng và giận dữ như bây giờ. Một phần vì nền kinh tế xuống dốc tạo ra tình trạng thất nghiệp, khiến một số người mất nhà cửa, của cải. Phần khác thì người ta cảm thấy là họ có nhiều quyền để đòi hỏi những gì họ muốn bất cứ khi nào, cho dù có phải hành động hay có thái độ thô lỗ đi nữa. Và nếu bạn có nhận xét về cách cư xử của họ thì bạn có thể bị họ phản ứng lại một cách hung bạo.

Ðể tìm phương cách giải quyết cho vấn nạn về cách cư xử bất lịch sự trong xã hội, tác giả của bài báo này là bà Deborah Pike đã tìm đến các nhà chuyên môn về phép lịch sự và sau đây là những hướng dẫn của họ.

1. Kỹ thuật mới, luật lệ mới

Hỏi: Một người đàn ông nói chuyện thật lớn trên điện thoại cầm tay trong nhà hàng và bạn đang ngồi ngay bàn bên cạnh thì bạn phải làm sao?

Ðáp: Bạn sẽ không nên có thái độ gì cả vì bạn không biết là người này sẽ cư xử với bạn như thế nào nếu chẳng may hôm đó ông ta đang có chuyện bực mình. Bạn có thể viết xuống một miếng giấy yêu cầu ông ấy nói nhỏ lại và nhờ người bồi bàn mang đến đưa cho ông ta. Nếu người ấy không đếm xỉa gì đến lời nhắn gởi của bạn thì có lẽ bạn nên đổi chỗ ngồi ra xa hơn, hay ăn cho mau mà đi về cho được việc.

Hỏi: Một người bạn đưa bạn đi ăn và tặng cho bạn một món quà sinh nhật. Bạn có thể gởi một lời cảm ơn qua e-mail hay không?

Ðáp: Một người bạn dễ thương như thế đáng được nhận một cái gì hơn là chỉ một lời cảm ơn qua e-mail. Bạn nên gởi một tấm thiệp và viết vào đó lời cảm ơn. Cho đến nay, người Mỹ vẫn thích được nhận một tấm thiệp viết tay. Bạn gởi e-mail cảm ơn cho một người nào đó về một việc nhỏ hơn, chẳng hạn như bạn nhờ họ chở đến chỗ sửa xe để bạn lấy xe về.

Hỏi: Khi nào thì có thể mượn cái cellphone của người khác để sử dụng?

Ðáp: Có người thường nói là: ‘Cho tôi dùng điện thoại của bạn được không?’ nhưng họ ít khi trả lại bạn tiền cho những lần gọi điện thoại này. Do đó, tốt hơn hết là đừng cho mượn cellphone; trừ khi đó là một cú gọi khẩn cấp hay bạn có một chương trình gọi điện thoại không giới hạn thời gian và chỉ trả một giá tiền mà thôi.

Hỏi: Cha của một đứa trẻ ở cùng đội banh của con bạn la hét và văng tục khi mấy đứa nhỏ đang chơi banh. Bạn nên nói gì về việc này?

Ðáp: Hãy cẩn thận về việc có thái độ hay nói câu gì với những người đàn ông loại này vì họ sẵn sàng khơi mào một cuộc ẩu đả với bạn. Cách tốt hơn hết là nên đề nghị với người huấn luyện viên để người này gặp riêng và nói chuyện với ông cha đó là phải cẩn thận lời ăn tiếng nói khi có mặt mấy đứa trẻ; cũng như nhắc nhở các phụ huynh khác trong buổi họp tới là không nên nói những lời thô lỗ. Ngoài ra, bạn có thể viết thư cho huấn luyện viên trưởng để trình bày nhận xét của mình.

Hỏi: Tại trung tâm thể dục, bạn có thể nói gì với một người dùng máy đi bộ (treadmill) lâu hơn là thời gian ấn định cho mỗi người?

Ðáp: Bạn có thể đến gần và nói: “Xin lỗi, nhưng cô/ông đã dùng treamill hơn nửa giờ rồi. Như vậy đã hơn thời gian giới hạn, xin vui lòng để tôi cũng có thể sử dụng nó trong vòng 5 phút nữa thì tôi rất cảm ơn.”

Hỏi: Bạn mới nghe là bà chủ của bạn vừa căng da mặt. Bạn có nên khen bà ấy không?

Ðáp: “Không nên. Bạn nên giữ im lặng hoàn toàn về chuyện này cho dù bà ấy mang kính mát, đội nón và choàng khăn trong vòng hai tuần lễ. Bạn nên tế nhị về chuyện này vì nhiều người phải giải phẫu mặt mà không phải vì lý do làm đẹp”.

Hỏi: Bạn đang ở trong phòng vệ sinh ở sở làm và nghe hai người đồng nghiệp nói xấu về mình. Bạn giận lắm nhưng bạn có nên tỏ dấu hiệu là bạn cũng đang ở đó hay không?

Ðáp: Dĩ nhiên bạn nên làm điều đó để chứng tỏ cho họ biết họ là những người ngu đần nên mới nói xấu người khác ở một chỗ công cộng như vậy vì biết đâu người bị họ nói xấu sau lưng ấy, hay một người quen hiện diện ở đó mà họ không thấy mặt, thì thật là xấu hổ cho họ.

Có hai thái độ có thể thực hiện sau khi chắc chắn là hai người kia nói xấu mình:

a. Nếu bạn ở trong toilet và họ ở rửa tay thì khi mở cửa bước ra bạn sẽ nói: “Kẻ xấu xa mà quí vị đang nói đến đang ở đây này, có điều gì cần nói thêm không?” Chắc chắn cả hai người nhiều chuyện đó sẽ ngượng chín người trong khi bạn rửa tay và rời nhà vệ sinh mà không thèm nói thêm một lời nào hay nhìn đến họ.

b. Nếu bạn ở chỗ rửa tay và họ ở trong phòng vệ sinh thì sau khi nghe những lời nói xấu của hai người kia bạn nên bình tĩnh. Khi họ bước ra gặp bạn, chỉ cần mỉm cười và nhìn thẳng mặt họ rồi nói: “Chuyện ấy hay quá, nó ra sao nữa?”

Trên đây chỉ là một vài thí dụ đơn cử về cách cư xử trong xã hội, vốn phức tạp và có không biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi để đời sống tươi đẹp hơn. (O.T.)

Posted: Sat Feb 07, 2009 2:27 am
by khieulong

Image

Thuốc chống lão hóa: Anti-Aging Medicine: OPC & Resveratrol

B.S. Nguyễn Xuân Thuyên, D.C., J.D.

“Ủa, sao không thấy đường hẻm ở da mặt?” Tôi ngạc nghiên và khựng lại một chút. Người bạn học thời thơ ấu mà tôi tình cờ mới gặp lại vừa vi phạm một “social blunder” rất nặng. Hèn chi mà anh ta vẫn còn độc thân! Tôi cười và tự hào trả lời: “Ðồ khỉ, nhờ genes tốt của bố mẹ đó!”

Tôi chia sẻ với bạn câu chuyện đó là vì tôi nghĩ văn hóa Mỹ tôn trọng tuổi trẻ và sợ hãi tuổi già. Bằng chứng là trên các bìa báo ở chợ, tôi đều thấy đăng hình người mẫu thon, trẻ đẹp; hay tôi đọc tin các nữ diễn viên than phiền là khi tới tuổi cao, thì không còn nhiều những vai trò dành cho các nữ diễn viên đó nữa; hoặc tôi không lạ khi nghe tin một người đàn ông ở tuổi năm mươi trở lên bỏ vợ cùng tuổi để theo một cô gái trẻ hơn. Do đó mà tôi không ngạc nghiên khi đài ABC phát chương trình Barbara Walters Special tựa đề “Lived to be 150 years” để trình bày cách thức sống lâu, sống trẻ.

Tác động của Resveratrol để chì giảm tuổi già


Chương trình đó được phát vào ngày 21 Tháng Tư năm 2008, với mục đích giới thiệu về sự khám phá của Bác Sĩ David Sinclair. Bác sĩ cho biết là ông đã tìm thấy trong rượu vang đỏ có một chất mang tên Resveratrol, có khả năng trì giảm lão hóa. Chất Resveratrol là một chất chống loạn ly tử thiên nhiên, rất mạnh có trong rượu vang đỏ, có khả năng kéo dài đời sống của “gene thọ” của men (yeast) gọi là SIR-2 (sir là chữ tác của Silent Information Regulator).

Vào cuối tuần qua, ngày 25 Tháng Giêng, năm 2009, chương trình “60 Minutes” của đài CBS cũng lại phỏng vấn Bác Sĩ Sinclair và partner của ông là Bác Sĩ Christoph Westphal. Hai vị bác sĩ và công ty dược Sirtris cho biết dự định làm thuốc Resveratrol cho công chúng uống để sống lâu, sống thọ.

Qua các nghiên cứu của họ, các bác sĩ cho biết rằng khi một nhóm chuột được cho ăn toàn đồ béo, thì các con chuột phát xuất dấu hiệu bệnh tiểu đường, gan bị sưng và những con chuột bắt đầu chết. Một nhóm chuột khác cũng được cho ăn toàn đồ béo, công thêm chất lượng Resveratrol thật cao, thì những con chuột này lại không bị mắc bệnh tiểu đường, và lại sống vài tháng lâu hơn rồi mới chết.

Lạ lùng hơn là khi một nhóm chuột khác được cho ăn vừa đủ chất calorie, cộng thêm lượng Resveratrol thật cao, thì họ lại nhận thấy là Resveratrol tác động vào gene thọ của chuột tức là SIRT -1 hoặc “sirtuins”, làm cho những con chuột đó sống lâu nhất.

Bác Sĩ Sinclair giải thích rằng khi cơ thể bị thiếu ăn, bộ phận cơ thể kích thích những giai đoạn nhằm bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh thông thường ở tuổi già để có thể kéo dài đời sống động vật cho sống lâu hơn.

Qua sự khám phá này, ông cho biết là nếu cơ thể con người cũng đáp ứng giống như chuột, thì khi được cho uống lượng Resveratrol thật cao mỗi ngày, thì có thể giảm các bệnh tật gây ra bởi bệnh mập vì ăn quá nhiều đồ béo tại Hoa Kỳ, và đồng thời kéo dài đời sống của con người.

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho biết thêm là không những Resveratrol làm giảm quá trình lão hóa, Resveratrol còn có thể giúp cơ thể bảo vệ chống lại các bệnh như Alzheimer's, bệnh tim và ung thư. Các thí nghiệm cho biết là liều Resveratrol chích cho chuột rất cao, và nếu tính cho người, thì một người cần phải uống khoảng 1,000 chai rượu vang đỏ mỗi ngày mới đủ. Do đó, Bác Sĩ Sinclair đang nghiên cứu bào chế ra một viên thuốc Resveratrol dự định bán trên thị trường. Ông tiên đoán là thuốc có thể sẽ phổ biến trong vòng năm năm nữa.

Ðược biết là sau khi sự nghiên cứu của Bác Sĩ Sinclair được phổ biến và công nhận, thì nhà dược phẩm khổng lồ GlaxoSmithKline gần đây đã mua hết cổ phần của công ty Sirtris dược của Bác Sĩ Sinclair, và trả cho ông $ 720 triệu với mục đích chia lợi sau này.

“The French Paradox”


Tất cả chúng ta đều biết rằng hút thuốc lá, sự ô nhiễm không khí, rượu, thuốc và phóng xạ đều tạo ra các loạn ly tử, mà có thể tạo ra “oxidative stress” (tạm dịch là kết quả của oxýt hóa). Các loạn ly tử có khả năng tấn công tất cả các thành tế bào, DNA và cũng có thể làm tăng tiến trình lão hóa tạo ra tất cả các bệnh thoái hóa. Ngoài ra, các thiệt hại khác của loạn ly tử là làm đặc cứng các ống máu mà có thể gây ra bệnh tim.

Ðã nhiều năm qua, các nhà khoa học rất ngạc nghiên là tại sao người Pháp tiêu thụ thật nhiều chất béo như ăn bơ, ăn thịt, lại hút thuốc, uống nhiều rượu vang, nhưng số người bị bệnh tim lại thấp hơn người Mỹ. Các nhà khoa học đặc ra danh từ “French Paradox” (tạm dịch là nghịch lý của Tây) để nêu chỉ một người có thể ăn nhiều chất béo, uống nhiều rượu đỏ nhưng vẫn không bị bệnh tim. Tại sao? Một trong những lý do là vì trong rượu vang có chất OPC.

OPC

Vì tôi đã nghe “the French Paradox” qua chương trình “60 Minutes”, thì vào năm 1996, tại đại hội dinh dưỡng ở Baltimore, MD, tôi may mắn được gặp và tiếp chuyện với Bác Sĩ Jack Masquelier, giáo viên Ðại Học Bordeaux, ở Pháp. Bác Sĩ Masquelier, vào năm 1947 khám phá ra chất OPC. Vào năm 1950, ông công nhận OPC có khả năng bảo vệ mạch máu và vào năm 1956, ông xác nhận OPC có trong rượu vang đỏ.

Tôi có hỏi tại sao OPC chỉ được tìm thấy trong rượu vang đỏ mà lại không có trong rượu trắng. Bác Sĩ Masquelier giải thích rằng OPC là danh từ viết tắt cho chữ “Oligomeric Proantho Cyanidins”. Ðây là một chất có khả năng tìm kiếm và tiêu diệt các loạn ly tử rất công hiệu. Ông nói thêm là OPC có trong rượu đỏ là vì cách thức sản xuất rượu vang. Khi làm rượu trắng, vỏ, da, hột nho bị loại bỏ, chỉ có lấy nước ép của nho ra mà thôi.

Ngược lại cách thức làm rượu vang đỏ thì nguyên cả chùm nho được ép: cả nho cùng vỏ da, hột, và cành được ép và để ngâm từ 2 đến 3 tuần. Cách thức này gọi là maceration, có nghĩa là khi lên men, alcohol làm tẩy hút màu đỏ từ vỏ da của nho, làm cho nước nho trở thành màu đỏ. Nước này chứa nhiều OPC, được gọi là anthocyanins. Ðó là lý do tại sao rượu vang đỏ có chất OPC nhiều hơn là rượu trắng.

Theo sự nghiên cứu của Bác Sĩ Masquelier, OPC có khả năng chống và diệt loạn ly tử. Ðồng thời, OPC có khả năng bảo vệ collagen ở thành động mạch, nên tăng sự dẻo dai của động mạch.

Công hiệu của thuốc bổ OPC là giữ cho các sụn, dây chằng, gân, các mô liên kết và thành động mạch dẻo dai, như thế máu lưu thông dễ ở các động mạch. Kết quả là cơ thể duy trì sự linh hoạt đồng thời trì hoãn sự già nua.

Kết luận

Chúng ta không thể ngừng quá trình lão hóa. Tôi nghỉ rằng tất cả chúng ta đều muốn duy trì phẩm chất cuộc sống khi có tuổi. Có thể trong vài năm tới, chúng ta có thể uống thuốc chống lão hóa. Nhưng tại sao phải chờ cho đến khi đó? Chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ. Tôi tin rằng phòng bệnh vẫn dễ và rẻ tiền hơn là điều trị bệnh. Dưới đây là vài sự đề nghị của tôi:

1. Chọn Cá- Salmon, mackerel chứa rất nhiều chất fatty acid cần thiết cho cơ thể vì có thể giúp giảm cholesterol và ngăn ngừa sự đông máu ở thành động mạch.

2. Chọn đồ ăn có khả năng chống loạn ly tử- Ăn trái cây và rau quả có màu sắc đậm (nho đỏ, nho đen, blueberries, strawberries, cranberries v.v...) Các loại hoa quả này chứa nhiều nhất chất ORAC (Oxygen Radical Absorbance Capacity- tạm dịch là khả năng thâu hút loạn ly tử). ORAC rất quan trọng bởi vì ORAC tiêu diệt các loạn ly tử, thế nên các loại hoa quả này là vũ khí rất tốt giúp chống lại ung thư. ORAC rất quan trọng bởi vì ORAC tiêu diệt các loạn ly tử, thế nên các loại hoa quả này là vũ khí rất tốt giúp chống lại ung thư.

3. Chọn thực phẩm chứa nhiều Vitamin C và acid linoleic- Theo như nhà nghiên cứu ở Anh cho thấy sự liên hệ giữa đồ ăn và vóc dáng con người. Nếu ăn nhiều chất béo, chất đường, chất ngọt, da chúng ta sẽ mau nhăn. Ngược lại, ăn nhiều đồ ăn chứa Vitamin C và linoleic acid thì làm cho da không bị nhăn nhiều. Các trái cây như bưởi, cam, quít, rau spinach, cà chua, dưa leo là nguồn Vitamin C. Trứng, dầu (sunflower, peanuts, sesame) là nguồn linoleic acid.

Hàng ngày, các nghiên cứu cho thấy sự ích lợi của dinh dưỡng. Chúng ta nên chọn một regimen dinh dưỡng để giúp chúng ta duy trì sức khỏe, và giúp giảm chống lão hóa. Tôi tin dinh dưỡng là cách thức chính để duy trì vẻ trẻ trung, ngoài ra, tôi nghĩ dinh dưỡng là bước đầu tiên hướng về việc ngăn ngừa bệnh tật để chúng ta sống một đời sống khỏe mạnh lâu dài.

À votre santeù!


B.S. Nguyễn Xuân Thuyên là hội viên của American Academy of Anti-Aging Medicine (A4M). B.S. Thuyên có phòng mạch tại Westminster, và đang làm việc cho một văn phòng luật tại Santa Ana. Mọi chi tiết liên lạc xin gọi 714-891-2596 hoặc email về chiro.wellness@yahoo.com

Tham khảo:

1. Baur JA, Resveratrol improves health and survival of mice on a high calorie diet. Nature 2006 No 16; 444 (7117)

2. Borek, Carmia.Maximize your health span with antioxidants. Keats Publishing, Inc.1995

4. Cancers Inhibited by Resveratrol [http:// http://www.lef.org/resveratrol/] webcite Accessed January 25, 2009

5. GlaxoSmithKline commences tender offer to acquire Sirtris Pharmaceuticals [http://www.gsk.com/media pressreleases] May 2, 2008 webcite Accessed January 25, 2009

6. Mitchell Terri, Resveratrol: Cutting-Edge Technology Available Today

7. Russo A. Red wine micronutrients as protective agents in Alzheimer-like induced insult Life Sci. April 11, 2003

8. Masquelier, Jack; Schwitters, Bert OPC in Practice. 2nd edition, Alfa Omega Editrice Roma Italy February 25, 1995.

9. Masquelier, Jack, A lifetime devoted to OPC and Pycnogenols. Baltimore 18 October 1996

10. Wade, Nicholas Substance in Red Wine Could Extend Life, Study Says. New York Times November 2006

Posted: Mon Feb 09, 2009 2:17 am
by khieulong
Henry tái hiện năng lực ghi bàn ở Arsenal

Một số thống kê cho thấy, tiền đạo của Barca hầu như đã lấy lại được phong độ như khi còn khoác áo đội chủ sân Emirates.

Image
Động tác quen thuộc của Henry sau mỗi lần làm tung lưới đối phương.
Được sắp xếp chơi ở vị trí tiền đạo cánh trái, kể từ đầu mùa bóng 2008-2009, Henry đã ghi được 15 bàn trong 26 lần ra sân (tỷ lệ 0,57 bàn mỗi trận). Con số này không kém nhiều so với thời sung sức thi đấu cho Arsenal, ở vị trí trung phong sở trưởng: trung bình 28 bàn trong 46 trận (tỷ lệ 0,6).

Dĩ nhiên, các thống kê trên không thể sánh được với kỷ lục được lập ở mùa giải 2003-2004: 39 bàn trong 51 trận (0,76). Ở mùa giải đó, sân Highbury (cũ) như chìm trong vinh quang khi Arsenal đoạt chức vô địch Premier League và Siêu Cup Anh, Henry thì nhận danh hiệu vua phá lưới và chiếc giày vàng châu Âu.

Trong tổng cộng 369 trận chơi cho đội bóng pháo thủ, tiền đạo người Pháp đã ghi được 226 bàn.

Ở mùa giải hiện nay, khả năng ghi những bàn thắng quan trọng cũng tái xuất với cầu thủ 31 tuổi, khi anh mở tỷ số trong trận bán kết lượt đi Cup Nhà vua Tây Ban Nha gặp Mallorca (2-0) và cú hat-trick vào lưới Valencia tại Liga (4-0).

Cùng với Eto'o và Messi, chỉ riêng ở Liga, bộ ba danh thủ này đã có 47 lần lập công, chiếm 73% trên tổng số 65 bàn sau 21 vòng đấu.

Thúy An

Posted: Tue Feb 10, 2009 3:39 am
by vuphong
Chelsea sa thải HLV Scolari

Sóng gió trong quan hệ giữa Scolari với ông chủ Abramovich, cũng như thành thích kém cỏi của đội bóng gần đây đã đưa Chelsea đến quyết định chia tay nhà cầm quân người Brazil mà họ từng trải thảm đỏ mời về cách đây khoảng 7 tháng.

Quyết định mới được CLB thành London thông báo trên website của đội bóng đêm qua, hai ngày sau khi thầy trò Scolari bị Hull City cưa điểm ngay tại Stamford Bridge. "Ban lãnh đạo ghi nhận những đóng góp của Scolari trong thời gian dẫn dắt đội bóng. Ông ấy đã đem lại những điều mới mẻ tích cực cho Chelsea kể từ khi về với đội và vì thế, chúng tôi rất buồn khi phải thông báo rằng mối quan hệ sớm kết thúc. Kết quả và phong độ của đội bóng gần đây đang có dấu hiệu đi xuống, vào đúng giai đoạn quan trọng của mùa bóng".
Image
Scolari tỏ ra bất lực trong nỗ lực cải biến Chelsea thành một đội bóng vừa chơi đẹp lại hiệu quả. Ảnh: AFP.
Như Chelsea khẳng định trong thông cáo trên, đội chủ sân Stamford Bridge đã thăng hoa rõ rệt trong giai đoạn đầu Scolari cầm quân, khi trình diễn thứ bóng đá đúng như mong đợi của ông chủ Abramovich và các fan: đẹp nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả. Chelsea thậm chí còn còn dẫn đầu giải Ngoại hạng một thời gian dài ở lượt đi. Nhưng sau 7 tháng, thầy trò Scolari không còn đem lại những điều thần kỳ nữa. Và đây chính là yếu tố đẩy Chelsea tụt dốc, góp phần tạo điều kiện cho MU vọt lên dẫn đầu dù còn một trận chưa đấu.

Theo truyền thông Anh, các cầu thủ Chelsea dường như đã chán ngấy các phương pháp huấn luyện của Scolari. Một số thành viên vào loại có số má trong đội thậm chí còn nói thẳng với HLV này rằng cách làm việc của ông không đáp ứng được những đòi hỏi mang tính đặc thù của giải Ngoại hạng, vốn luôn chú trọng đến nền tảng thể lực. Mối quan hệ thầy trò cũng vì thế ngày một lạnh nhạt, khiến bầu không khí trong phòng thay đồ Chelsea ảm đạm hơn lúc nào hết.

Trong khi đó, người hâm mộ thì ít nhiều mất cảm tình với Scolari từ khi Chelsea bị chặn đứng kỷ lục bất bại trên sân nhà vốn tồn tại từ thời Mourinho, liên tiếp thất bại dưới tay các đối thủ ngang tầm, đồng thời luôn đá phập phù trước các đội bóng yếu hơn. Mọi việc lên đính điểm hôm thứ bảy (8/2), khi họ muối mặt để Hull City cầm hòa 0-0 trên sân nhà. Hôm đó, các CĐV tại Stamford Bridge đồng loạt la ó, phản đối HLV người Brazil. Nhiều fan thậm chí còn giương bandrole đòi CLB sa thải ông.
Image
Abramovich không thể kiên nhẫn thêm khi chứng kiến Chelsea mỗi ngày một đi xuống. Ảnh: AFP.
Trận hòa Hull City và vị trí thứ tư của Chelsea trên bảng điểm sau trận này cũng là yếu tố làm cạn sự kiên nhẫn ở Abramovich, khiến ông cùng bộ sậu trong ban lãnh đạo đi đến quyết định sa thải Scolari. Trước mắt, trợ lý số một Ray Wilkins được chỉ định làm HLV tạm quyền. Ông dẫn dắt đội bóng cho đến khi nào ban lãnh đạo tìm được một nhà cầm quân đủ năng lực để lèo lái đội bóng, ít nhất đến cuối mùa giải này.

Bất chấp Tổng giám đốc Peter Kenyon đang đi nghỉ cùng gia đình và không có mặt tại London, Chelsea cũng được cho là đã hoàn tất danh sách các ứng viên thay thế Scolari. Guus Hiddink (HLV đương nhiệm ở ĐTQG Nga), Frank Rijkaard (cựu HLV Barca) và Roberto Mancini (cựu HLV Inter) là ba cái tên nặng ký nhất. Avram Grant, HLV bị chính họ sa thải để lấy chỗ cho Scolari hè vừa qua, cũng được nhắc đến như là một giải pháp chữa cháy không tồi. Ngoài ra, Mark Hughes (Man City), Martin O'Neil (Aston Villa) và David Moyes (Everton) cũng được cho là có tên trong danh sách.

Nhận tin xấu, Scolari chỉ ra một tuyên bố ngắn gọn: "Cảm ơn lãnh đạo Chelsea đã đem lại cho tôi cơ hội làm việc cùng đội bóng, làm việc trong môi trường bóng đá Anh. Đó là một trải nghiệm quý giá. Tôi tiếc vì mình không được gắn bó lâu hơn. Chúc Chelsea may mắn tại cả 3 giải đấu mà đội đang tranh tài". HLV từng vô địch World Cup 2002 cùng tuyển Brazil cũng nói thêm rằng ông vẫn tiếp tục sống ở London và sẽ sớm nói chuyện với báo giới Anh.

Trên tờ Guardian, Acaz Fellegger, đại diện của Scolari, chỉ trích việc Chelsea sa thải HLV người Brazil chỉ sau 7 tháng: "Đó dường như là quyết định của cá nhân Abramovich, nhân vật tối cao tại Chelsea". Nhân vật này cho rằng chính Chelsea và ông chủ người Nga cũng phải chịu một phần trách nhiệm trong sự đi xuống của đội bóng, chứ không riêng Scolari: "Chelsea có quá nhiều cầu thủ lớn tuổi. Khi mới đến, Scolari và ban lãnh đạo đã thống nhất sẽ trẻ hóa đội ngũ. 8 cầu thủ đã ra đi, nhưng CLB lại không có sự bổ sung tương xứng".

Fellegger còn nhấn mạnh trách nhiệm của các nhân vật chóp bu tại sân Stamford Bridge khi nhắc lại vụ mua hụt Robinho cũng như chính sách thắt lưng buộc bụng trong kỳ chuyển nhượng mùa đông. "Scolari muốn có Robinho và lẽ ra cậu ta đã đến, nhưng Chelsea lại không chi tiền. Thế rồi khủng hoảng tài chính nổ ra và những sự bổ sung khác mà Scolari dự kiến trong tháng 1/2009 cũng không thành hiện thực. Vì thế, khi một số vị trí chấn thương, thành tích đội bóng đã đi xuống".

Phương Minh tổng hợp

Posted: Tue Feb 10, 2009 5:09 am
by thienthanh

Image

NGÀY TÌNH ÁI

Hà Thúc Sinh
Tính thực tế của người Tây phương, có lẽ thế chăng, khiến họ đã lấy ngày lễ thánh Valentine để làm ngày dành cho những kẻ yêu nhau có dịp quà cáp qua lại, tìm hiểu nhau hơn để hy vọng đôi bên sớm tìm ra một giải pháp chung cho cái vấn nạn của cả hai bên là “gái thở dài, trai nằm sấp”? Việc này nghĩ cho cùng cũng không vượt qua được một câu nói của người Tàu: vô tri bất mộ – không biết không yêu! Dù rằng chuyện Ngày Tình Ái đến nay vẫn chưa có gì chứng minh được là nó có liên hệ... nhân quả với thánh Valentine, nhưng thôi thì cứ như mọi người, xin các bạn chưa từng yêu, chớm yêu, hay đã yêu rồi giờ yêu lại, dù tình đầu hay tình cuối, hãy cứ đồng ý với nhật kỳ 14 tháng 2 để cùng người mình yêu hát hành khúc... đường trường xa riêng có đôi ta với tình...

Nhưng nói đến yêu, đến chuyện nam nữ luyến ái thì đã có quá nhiều danh nhân đưa ra những danh ngôn. Định nghĩa tình yêu thì câu thơ của ông thi sĩ son phấn Xuân Diệu có thể dùng được:

Làm sao định nghĩa được tình yêu,
có nghĩa gì đâu một buổi chiều;
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
bằng mây nhè nhẹ gió đìu hiu.

Trong khi đó ông thi sĩ Tây Alfred de Musset thì coi tình yêu như một anh lực điền, giao phó cho nó nhiều việc nặng nề quá: “Tình yêu là... tất cả!” Nhảm hơn, một anh Phú Lãng Sa khác núp dưới cái tên chung Tục Ngữ Pháp, phát biểu rằng: “Còn trẻ yêu như điên; về già điên mới yêu.” Riêng ông Jean Paul Sartre nói câu này không biết có ai tin nổi không: “Người ta thường hay nói tình đầu là mối tình đẹp nhất, nhưng chính mối tình cuối mới thật sự là mối tình bất diệt.” (Người viết nói rằng không biết có ai tin nổi không vì ông Sartre, tiếng rằng ông ăn ở với bà Simone de Beauvoir, dù không cùng dưới một mái nhà, và cả hai đều có rất nhiều bồ bịch riêng, nhưng chỉ thấy bà Beauvoir kê khai một danh sách những tình nhân của bà đa phần là các văn nhân thi sĩ, còn ông Sartre thì tuyệt nhiên không thấy khai báo gì cả, do đó khó tin ông có kinh nghiệm chuyện tình đầu tình cuối như ông phát biểu dù ông là một triết gia kiêm văn gia được trao giải Nobel Văn Chương nhưng lúc ấy trẻ người non dạ, khách khí không thèm nhận).

Rồi cẩn thận hơn, để tình yêu và tình bạn không lẫn lộn vào nhau, nhiều danh nhân cũng đã ra công vạch lằn phấn cho nó phân minh. Một lằn phấn xem ra được vạch rõ nhất có lẽ là lằn phấn của một ông tây hay bà đầm nào đó mà người viết không nhớ nữa: “Tình yêu và tình bạn không thể song đôi, có cái này thì không có cái kia.” Nhưng yêu nhau, có nhiều trường hợp không phải để ngồi nhìn nhau, mà để cùng nhìn về một hướng... job! Ồ không thực mà vực được yêu sao!? Vâng, tình yêu và tiền bạc cũng là một khía cạnh lớn hậu mùa Valentine đấy. Biết thế cho nên sự khôn ngoan lẫn óc thực tế của dân Anglo Saxon đã khiến họ đẻ ra được câu danh ngôn nghe thật chí lý: “Khi cái nghèo đi vào cửa chính thì tình yêu đi ra qua cửa sổ.” Rồi thì tình yêu và thân xác nữa chứ. Cái khoản này đã là con người thì ai chả giống ai, ấy thế mà bạn cứ thử nhỏ nhẹ hỏi vào tai cô em bé nhỏ của bạn sau lần gặp... thứ hai mà xem. Một trăm phần trăm bạn sẽ thấy nàng quẫy vai. Nguýt một cái. Rồi một câu nói (thường rất giống nhau ở mức độ dấm dẳn và thầm thì) “Hứ, ai biết gì chuyện ấy!” Thôi tha cho nàng. Nàng có thiên thần như thế mới làm sáng lên được cái hình ảnh đồ quỷ đáng yêu ở bọn đàn ông. Tình yêu còn nhiều mặt của nó lắm các bạn trẻ ơi. Nhưng có lẽ trong văn chương Việt Nam có nhiều câu thơ trác tuyệt để diễn tả thứ tình yêu xa cách:

Thí dụ nhớ chàng ngoài quan ải thì chẳng văn chương nào địch nổi văn chương này:

Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên...
(Chinh Phụ Ngâm)

Chàng nghe nàng đàn hay, hát giỏi, hai tay nâng đàn ngang mày mà dâng cho nàng. Rồi thì chàng nghe tiếng đàn của nàng như thế nào? Tình yêu tri kỷ giữa Kim Trọng và Kiều đến thế này là cùng:

Rằng nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.
Thưa rằng: tiện kỹ xá chi!
Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng.
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày
...

Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một là lưu thuỷ, hai rằng hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân...
(Kiều)

Trình độ cảm tiếng đàn của mình đến thế thì thử hỏi Kiều chịu sao nổi. Bởi vậy nàng mới từ đáy lòng thốt lên với chàng Kim một câu rất là valentine “... ai lại tiếc gì với ai.” Mà nghĩ cho cùng, có người đàn bà tài hoa nào trên đời này lại chẳng phản ứng như Kiều khi gặp được tri kỷ đến cỡ Kim Trọng. Xưa hơn nữa bên Tàu, ông Bạch Cư Dị cũng cảm tiếng tì bà của cô ca kỹ trên bến Tầm Dương chẳng khác mấy Kim Trọng với Kiều, thế mà cô ta xem ra chả có tí phản ứng valentine nào với ông Giang Châu Tư Mã ấy cả dù khi nghe nàng đàn nước mắt ông đã lã chã rơi. Hay vì đời bị bầm dập nhiều quá, cô em đã mang vào thân cái bệnh người ta gọi là chứng lãnh cảm?

Lan man mãi giờ không biết đã đi tới đâu rồi. À, tới chỗ tình yêu tri kỷ. Còn nhiều khía cạnh lắm. Bất cứ ai đã từng khổ điêu khổ đứng vì yêu đều có thể nhắm mắt cũng nhìn ra để mà luận chơi, nào là tình yêu dỗ dành, thông cảm, ồ, chỗ này thì phải dừng lại để có dịp ca ngợi người phụ nữ Việt Nam một cái đã. Vuốt chồng cho chồng nguôi giận, rồi... thông cảm với chồng kiểu này thì thú thật chỉ đàn bà nước ta mới có nổi cái tâm bồ tát đến như thế mà thôi:

Chồng giận thì vợ làm lành,
Miệng cười hớn hở hỏi anh giận gì?
Thưa anh, anh giận em chi,
Muốn lấy vợ bé em thì cưới cho...

Vợ mà như thế, chậc chậc, giá có phải đóng vài lớp kệ mà thờ chắc chẳng chàng trai già nào lại nỡ từ nan! Rồi cái gì nữa nhỉ? À, tình yêu khôn ngoan nữa chứ. Câu này cũng chẳng nhớ của ai, nhưng có lẽ gái Ta gái Tàu gái Âu gái Mỹ đều có thể được coi như có chỉ số thông minh cao nếu họ biết giá trị của nó và đem nó “ứng dụng vào tình hình thực tiễn” ái tình lứa đôi: một người phụ nữ tuyệt vời luôn luôn biết cười với những câu khôi hài của chàng, không phải vì những câu ấy luôn luôn ý nhị, mà chính vì nàng tế nhị.
Có lẽ đọc đến đây thế nào cũng có một vài nữ độc giả nước ta nhăn mặt hoặc... tức anh ách: cái nhà ông này thiên kiến và lạc hậu nhỉ! Nếu quả có thế, xin quí vị kiên nhẫn cho một chút. Người viết bắt đầu chuyển sang chuyện tình yêu trong những khám phá mới rồi đây. Và như thế, hy vọng nó sẽ tiên tiến và đỡ đi phần lạc hậu.

Người ta hay bảo thế kỷ vừa qua, thế kỷ 20, thế giới đảo điên vì 3 anh Do Thái. Ba anh ấy là Karl Marx, tác giả Tuyên Ngôn Cộng Sản và Tư Bản Luận; Sigmund Freud, cha đẻ ngành Phân Tâm Học; và Albert Einstein, nguyên tử. Riêng trong vụ tình yêu thì đã có cả đống những nhà phân tâm học đề ra các lý thuyết bàn về lý do tại sao chúng ta phải ôm ngực trúng một mũi tên tình. Nhưng mũi tên khiếp hãi hơn cả do Freud tìm ra. Người ta kết tội việc ông phanh phui những ẩn ức thầm kín sâu thẳm của con người đã phá hỏng hình ảnh con người và biến nó trở nên giống con vật.

Ông cho rằng: việc chọn lựa người yêu ảnh hưởng sâu đậm bởi thứ tình yêu ẩn ức không bao giờ được thoả đáp là ta được ngủ với mẹ ta (nếu là con trai) và với bố ta (nếu là con gái). Nhiều triết gia và phân tâm học sau này cũng ít nhiều tán đồng lý thuyết của Freud, chẳng hạn Carl Gustav Jung, Thomas Lewis...; đặc biệt Lewis có giả thiết rằng tình yêu lãng mạn bắt rễ từ kinh nghiệm thân mật từ thủa sớm nhất của ấu thơ, chẳng hạn ta ngã vào vú mẹ thế nào, khuôn mặt mẹ ta ra sao... những kinh nghiệm này đeo theo ta không ngừng nghỉ đến ngày ta trưởng thành. Và vì thế, chúng ta yêu cái con người chúng ta đang yêu không quá nhiều vì cái tương lai chúng ta mong xây dựng với người ấy, mà vì cái dĩ vãng chúng ta hy vọng đoạt lại từ hình ảnh của người ấy. Người tình của chúng ta “quen mặt.” Chàng hay nàng có một nét nào đó, một mùi vị nào đó, một giọng nói nào đó, hoặc một sự xúc cảm nào đó làm máy động những ký ức bị chôn vùi của ta. Mùi vị, đó chính là đầu mối cho một khám phá mới nữa, có lẽ mới nhất về tình yêu mà người viết sẽ tường trình đến các bạn đang yêu nhau trong mùa Valentine này.

Thời buổi bây giờ là thời buổi của hoá chất. Cái gì cũng hoá chất cả. Mỹ kéo đại quân qua đánh Iraq danh nghĩa là để tìm bom hoá chất mà chắc rằng họ cũng thừa biết... chẳng bao giờ tìm ra. Nhưng “chính nghĩa” của cuộc chiến này thụy kỳ chung vẫn là hoá chất; hóa chất chẳng riêng ở Iraq mà còn trên nhiều phần đất khác ở Trung Đông: dầu hoả. Phần lớn ung thư ở con người gây ra bởi hoá chất. Nóng quá, chạy thể thao một lát về, thân thể muốn điên muốn khùng. Cởi hết quần áo, nốc một hơi Coke. Uống hoá chất! Nhảy cái tòm vào chậu tắm, nước máy có Chlorine, tiếp xúc hoá chất! Ra bếp mở hộp súp nhét vào microwave, làm một hơi hết đĩa súp. Thôi thế là lại nuốt đầy hóa chất vào người! Những chữ quen thuộc như preservatives, sodium, potassium. vitamin A 10% v.v... ta đọc thấy trên cái nhãn hiệu đều là hoá chất cả.

Trong số National Geographic ra tháng 2 năm 2006, ngay trang bìa đã mang hàng chữ bắt mắt: Tình Yêu: Phản Ứng Hoá Chất. Nói cách khác, người ta yêu nhau vì phản ứng hoá chất ở nhau. Khám phá này cho rằng trai gái bắt mắt nhau rồi yêu nhau đầu tiên là thấy nhau “khoẻ” cái đã. Chứ em “nhìn vào qua song trông anh ốm yếu, ho hen...” thì cầm chắc em đến đi luôn thôi. Và, thời nay, béo quá tất nhiên cũng kẹt, nhưng on diet ghê quá, nhịn ăn dữ quá, trông “người thiếu nữ thân gầy” cứ đét đèn đẹt như cái đóm thuốc lào thì các anh cũng đến vái cả tơi lẫn nón thôi. Đàn bà khoẻ, mát da mát thịt, hông háng vững vàng sẽ dễ thụ thai, dễ đẻ con; đàn ông cũng thế, khoẻ với một lượng tốt testosterone có thể có một hệ thống miễn nhiễm mạnh và nhiều cơ hội đúc được những đứa con đẹp như tiên đồng. Cứ theo khám phá này thì trai gái dám yêu nhau bằng... mũi thật.

Claus Wedekind của đại học Lausanne bên Thuỵ Sĩ đã thực hiện một cuộc thực nghiệm lý thú với những chiếc áo thun ướt đẫm mồ hôi. Ông yêu cầu 49 người đẹp ngửi những áo thun trước đó đã được cánh trai già trai trẻ giấu tên tuổi mặc rồi. Kế ông yêu cầu quí cô chấm điểm mùi nào ưng nhất mùi nào kị nhất. Kết quả Wedekind tìm ra là các cô thích mùi mồ hôi—có dính líu với hệ thống miễn nhiễm—ở những cái áo không giống với loại mùi mồ hôi trên thân thể của chính các cô. Có người chồng mang thứ mồ hôi khác mùi với mình như thế, các cô tăng thêm cơ hội có những đứa con khoẻ mạnh. Vẫn theo khám phá mới này, những trò chơi tạo ra chất dopamine trong óc và điều này kích thích những cảm giác hấp dẫn nhau. Vì thế, dẫn nhau đi chơi roller coaster trong lần hẹn hò đầu tiên chẳng hạn, nó sẽ có nhiều cơ hội dẫn tới những hẹn hò lần hai, lần ba, vân vân và vân vân.

Nói là mới, chứ thật thì các cụ nhà mình đã biết cái vụ tình yêu xảy ra nhờ có phản ứng hoá chất có từ đời tám hoảnh nào rồi, và cũng biết hấp lực ái tình nó nằm trong cái mùi mồ hôi ở chiếc áo thun lá cũng từ khuya rồi, nếu không như thế, làm gì văn chương bình dân của ta có được câu: Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi; nhất là, việc gì phải làm cái chuyện lố bịch giữa cầu giữa đường là việc... thương nhau cởi áo trao nhau!
* * *
Ngày Valentine, dù tình yêu được nhìn, được xét nghiệm, được nhận định như thế nào bởi đủ thứ loại ngòi bút trên đời, người viết xin quí vị cứ yên tâm mà tặng quà cho nhau ào ạt đi, cứ yêu nhau rối rít lên đi, và nhớ hộ cho rằng người mình đã có câu “Thí một bát nước, phước chất bằng non,” huống hồ tặng tình yêu cho một người... cô đơn thì phước ấy còn lớn tới chừng nào. Nhưng nhớ cho sức khoẻ vẫn là trên hết đấy nhé; vì thế, hãy giữ sao cho chữ Valentine sẽ không biến thành chữ Valen-tired sau Ngày Tình Ái.

Posted: Wed Feb 11, 2009 4:50 am
by vuphong
Image


Sợi Dây Tình Yêu
Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút. Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện chăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính. Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh.

Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà.
Phật dừng lại, hỏi nhện: 'Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng. Được không?'
Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý. Phật hỏi: 'Thế gian cái gì quý giá nhất?'
Nhện suy ngẫm, rồi đáp: 'Thế gian quý nhất là những gì không có được và những gì đã mất đi!'. Phật gật đầu, đi khỏi.

Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.
Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: 'Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?'
Nhện nói: 'Con cảm thấy trong nhân gian quý nhất vẫn là 'không có được' và 'đã mất đi' ạ!'
Phật bảo: 'Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi.'
Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện. Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích. Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua. Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi. Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau.
Lúc đó Phật tới, ngài hỏi: 'Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?'
Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật: 'Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không có được và cái đã mất đi.'
Phật nói: 'Tốt, nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người nhé!'

Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi. Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển.
Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa. Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng. Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng biết, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng.

Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu. Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo.
Châu Nhi nói với Cam Lộc: 'Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, của con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?'
Cam Lộc kinh ngạc, hỏi: 'Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?'. Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó.

Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta? Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng công chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với thái tử Chi Thụ. Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế.

Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp.
Thái tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng: 'Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng. Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi.' Nói đoạn rút gươm tự sát.

Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi: 'Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng? Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi. Cam Lộc thuộc về công chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi.

Còn thái tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta. Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?'
Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật: 'Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!'

Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm...
Câu chuyện đến đây là hết, bạn có hiểu câu cuối cùng mà nàng Châu Nhi nói không?
'Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!'
Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.
Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có 'duyên' là đủ.
Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

Tình yêu như sợi dây, hai người cùng kéo hai đầu, chỉ cần một người kéo căng hoặc bỏ lơi, tình yêu ấy sẽ căng thẳng hoặc chùng xuống.
Vậy khi bạn đi kiếm người ở đầu kia dây, hãy cân nhắc. Hoặc bạn có quá nhiều sợi dây tình cảm, hoặc bạn cứ liên tục tìm cái mới, hoặc khi dây đã đứt, bạn không còn can đảm hay lòng tin, tình yêu để đi tìm một tình yêu mới nữa.

Bất kể thế nào, khi sợi dây đó đứt, bạn chỉ mất đi một người không yêu bạn, nhưng người đó đã mất đi một người yêu họ.
Mất một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn rầu?
Bởi bạn còn cơ hội, một lần nữa, gặp người biết rằng bạn quý giá.
Có muốn nghe tôi kể câu chuyện ấy lần nữa không, ngày xưa, trước miếu Quan Âm...

(Trang Hạ dịch, theo saycoo-ĐL)

Posted: Thu Feb 12, 2009 5:14 pm
by tranphuongdong
CỬA THIỀN
Tâm Không Vĩnh Hữu
Đầu xuân, Chùa Ông Định (Đảo Đào Hoa)nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.

Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao.

Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia.

Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.

Một anh Huynh trưởng gia đình Phật tử là VH bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!

Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu..
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!

Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?

Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?

Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!

Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
-A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…

Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?

Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…

Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:

- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!

Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…

Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!

Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?

- Ô-kê!

Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai? Cần gì?". Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!

Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!

Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức.. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!

Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ 7 bó, đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…

- Cứ hỏi. Đây nghe.

- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?

- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.

- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?

- Vừa sai, vừa đúng!

- Sao là sai? Sao là đúng?

- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!

- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?

- Thật hay! Thật hay!

- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?

- Bình thường.

- Đáng trách hay đáng khen ạ?

- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!

Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?

- Im lặng, tức đã thú nhận.
- …
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!

- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?

- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!

- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?

- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.

- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?

- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…

- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…

- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?

- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?

- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!

Anh huynh đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang.

Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương

Posted: Sun Feb 15, 2009 5:01 am
by vuphong
Image

PRESIDENT’s DAY NGÀY TỔNG THỐNG HOA KỲ

Giao Chỉ, San Jose
Tình tự dân tộc ở đâu?
Bài này viết nhân ngày President tại nước Mỹ, nhưng xin kèm đến quý độc giả một câu hỏi: Tổng thống Hoa Kỳ có phải là tổng thống của chúng ta hay không. Chúng ta đây là người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ. Trên pháp lý thì đúng đấy, nhưng trên thực tế thì dân ta có vẻ lạnh lùng hờ hững lắm. Như vậy có vẻ bất công với đất nước mà chúng ta đã hưởng phúc lợi khá nhiều.

Vẫn còn nhớ khởi đi từ cuối thập niên 70, anh em gặp nhau trên con đường xuôi ngược tìm nơi định cư. Tay bắt mặt mừng, hỏi rằng bây giờ bạn làm gì ở đâu. Câu trả lời nhẹ nhàng lý thú: trước làm hãng Ford, mới đây thì lãnh lương Carter. Check Carter lãnh đủ 4 năm, rồi qua làm việc với tổng thống Reagan. Cho đến bây giờ có nhiều bạn cao niên chúng tôi sắp sửa lãnh tiền già của vị Tổng thống mới mà vẫn quen mồm gọi là thằng Obama. Hết sức là tự do dân chủ.

Dân ta ở Mỹ đã 10, 20 hay thậm chí 30 năm. Ðã đứng lên nghe đọc lời thề vào quốc tịch. Vui vẻ giơ tay thề bỏ hết những giây mơ rễ má với quê hương cũ, sẽ một lòng cầm súng chiến đấu cho Tổ Quốc mới, nhưng thật sự tấm lòng không hề rung động với Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.

"Lòng quê gởi áng mây Tần xa xa"...

Người thì làm ăn cật lực để gởi tiền về quê. Mua đất, cất nhà. Người thì đi về như đi chợ. Người thì đốt lửa, thổi gió đấu tranh về quê hương. Hết năm này qua năm khác. Bao nhiêu là đám cưới, bao nhiêu lần khai sinh, bao nhiêu đám ma. Ở trên miền đất đầy cơ hội đã hơn một phần ba thế kỷ mà sao vẫn mang tâm trạng lưu đầy, mãi mãi làm người lưu vong trong hoàn cảnh tạm dung.

Bài học lịch sử và tình tự dành cho Tổ Quốc mới, khi thi xong nhập tịch là buông xuôi hết. Như vậy, phải chăng chúng ta đối xử với nước Mỹ dường như không phải đạo.

Kể từ năm 75 cho đến nay là năm hai không lẻ chín. Qua năm tới 2010 là 35 năm dâu bể. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải dành cho cái đất nước tử tế này một chút tình dân tộc mới.

Xin vui lòng đọc bài viết về ngày President’s Day với mối chân tình.

Xin đọc lại bài học quốc tịch bằng tấm lòng thành.

President’s Day
Ðây là ghi dấu lịch sử đầu tiên dành cho vị tổng thống thứ nhất George Washington. Ông là vị khai quốc công thần, là cha già dân tộc, là quốc phụ của Hoa Kỳ. Vị tướng chỉ huy cuộc tranh cách mạng chống Anh quốc. Thành lập Hiệp chủng Quốc và lên làm tổng thống 2 nhiệm kỳ.

Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1796. Vì vậy President’s Day cũng gọi là Washington’s Birthday.

Sau đó người ta cũng ghép chung vào ngày lịch này để kỷ niệm thêm ngày sinh nhật của vị tổng thống thứ 16 là Abraham Lincoln. Ông sinh ngày 12 tháng 2-1809

Cho đến nay ngày President trở thành ngày quốc lễ và nước Mỹ chọn ngày Thứ hai của tháng Hai, nằm giữa sinh nhật của hai vị tổng thống vĩ đại. Một người lãnh đạo kháng chiến thành lập quốc gia. Một người chiến thắng cuộc nội chiến, thống nhất đất nước.

Nếu hỏi rằng, ngoài hai vị kể trên trong tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ suốt 220 năm qua thì còn có tổng thống nào xếp hạng cao trong lịch sử. Hoa Kỳ có ngay câu trả lời.

Các tổng thống vĩ đại của nước Mỹ.

Câu trả lời không phải bằng văn bản mà bằng cả 1 công viên quốc gia. Không phải là vườn cảnh, tượng đài mà bằng núi đá.

Tại tiểu bang South Dakota có hình tượng khắc trên đá. Các hình tượng vĩ đại của 4 ông tổng thống vĩ đại.

Trái núi chiếm diện tích 1,300 mẫu tây, với tượng đài cao 60 bộ nằm trên khu đất cao 5,700 feet trên mặt biển. Từ trái qua phải là hình tổng thống Washington , Jefferson, Roosevelt, và Lincoln .

Tổng thống Jefferson là người nhậm chức thứ ba, nhưng là cha đẻ của bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ.

Ông đã viết ra những câu bất hủ trong các bản văn lịch sử để làm khuôn vàng thước ngọc cho đời đời. Ðó là câu: Con người sinh ra bình đẳng và ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc.

Vị sau cùng là tổng thống Roosevelt , người đã lãnh đạo nước Mỹ khi nhân loại bước vào thế kỷ 19. Tượng đài khắc trên núi Rushmore là công trình thực hiện cha truyền con nối của gia đình điêu khắc gia Borglum. Ngày nay có hai triệu du khách đến thăm hàng năm.

Tinh hoa của dân chủ
Với hơn 220 năm lập quốc, nền dân chủ của Hoa Kỳ không một lần nào thay đổi người lãnh đạo mà có rối loạn binh đao. Hoàn toàn không có đảo chính, cách mạng, binh biến. Ngay cả những lúc chiến tranh sóng gió hay lúc các vị tổng thống bị truất phế, từ chức thì việc thay đổi cũng tuần tự theo luật lệ hoàn tất rất nhẹ nhàng và an toàn tuyệt đối.



Theo hiến định, khi vị tổng thống tại chức qua đời hay từ chức thì ông phó lên thay. Nếu không có phó tổng thống hay vì lý do gì, ông phó không lên thay thì người thứ ba là chủ tịch hạ viện và kế tiếp là bộ trưởng ngoại giao. Trong thể chế dân chủ, quyền hạn do các chính trị gia nắm giữ nên vai trò bộ trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân thuộc phe quân sự không nằm trong danh sách được giao quyền lãnh đạo đất nước.

Trong hoàn cảnh thuộc về đợt di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 20, nếu chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ sẽ tìm thấy rất nhiều chi tiết lý thú.

Tuy nhiên, nói đến mối giao tình Việt Mỹ phải kể lại câu chuyện sử liệu từ thời tổng thống thứ 18 của Hiệp Chủng Quốc là ông Grant vào năm 1869.

Việt sử ghi lại rằng vào năm 1870, ông Bùi Viện gốc làng Trình Phố, tỉnh Thái Bình dưới triều Tự Ðức được cử đi sứ qua Hồng Kông rồi nhân dịp này theo tàu viễn dương qua Hoa kỳ vào triều đại Tổng thống Ulysses Grant. Tổng thống Mỹ tiếp kiến hứa hẹn viện trợ cho Việt Nam canh tân. Ông Bùi Viện về nước trình lên kết quả và lại trở lại Mỹ quốc lần thứ hai. Tuy nhiên, kỳ này Hoa Kỳ lại đổi ý nên việc viện trợ không thành.

Dù sao thì đây cũng là một ghi dấu về những ngày bang giao Việt Mỹ đầu tiên.



Nhưng suốt một trăm năm từ thời kỳ1850 đến 1950 miền Ðông Nam Á vẫn trong vòng ảnh hưởng của Pháp nên Việt Nam không có cơ hội liên hệ với Hoa Kỳ. Cho đến năm 1975, cựu đại sứ Bùi Diễm, thuộc giòng họ Bùi Viện, đại diện Việt Nam Cộng Hòa lại thất bại trong lần xin viện trợ cuối cùng.

Tổng thống Hoa Kỳ và chiến tranh Việt nam
Cho đến thời kỳ 1954 của tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc.

Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng ta thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Ðình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Ðông Nam Á.

Và chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Ðình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo.

Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas .

Cái chết của cả hai vị tổng thống đều vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam . Ông là người quyết tâm nhưng vẫn không thành công và để cho ông Nixon lên thay với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá.

Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam . Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo. (Evacuation 75)

Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người.

Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Ðối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh rất giới hạn. Ðánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ.

Tổng thống Hoa Kỳ và dân tỵ nạn Việt Nam
Sau ông Ford, dân tỵ nạn lần lượt sống với 5 vị tổng thống của thời hậu chiến. Bắt đầu từ ông Carter, tổng thống thứ 39, ông già hiền lành đạo đức chính là vị ân nhân đầu tiên mở cửa nước Mỹ cho thuyền nhân từ các trại tỵ nạn vào Hoa Kỳ.

Khi đoàn biểu tình Việt Nam thắp nến đi trước Bạch Cung để than khóc cho thuyền nhân thì ông Carter đã mở cửa ban công ngó xuống vẫy tay chào. Nước mắt dân tỵ nạn Việt Nam di tản đợt đầu, nhỏ giọt xuống đại lộ Constitution đã làm động lòng ông tổng thống chuyên cất nhà Homeless.



Lệnh tổng thống ban ra từ đây các tàu chiến của hạm đội số Bảy bắt đầu xua đuổi hải tặc và vớt người di tản. Các phái đoàn Mỹ lên đường đến phỏng vấn tại trại tỵ nạn Ðông Nam Á.

Rồi tiếp đến ông thứ 40 là Reagan suốt 8 năm đưa ra các đạo luật tỵ nạn, khởi sự các buổi thảo luận thả tù, để sau này ông Bush số 41 tiếp tục mở rộng tấm lòng nhân đạo.

Bước qua thập niên 90, triều đại Bill Clinton, tổng thống thứ 42 là thời kỳ của hòa giải và hàn gắn. Clinton mở đường hiệp thương, giải tỏa cấm vận, đưa tay dắt đường cho Hà Nội trở về với thế giới tự do. Sau cùng ông Clinton chấm dứt nhiệm kỳ bằng một chuyến công du cuối cùng dưới hình thức qua Việt Nam để trình diễn một màn Workshop dân chủ đi từ Hà Nội đến Sài Gòn.

Qua đến ông Bush hiện nay, vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ đã đem bài học Việt Nam ra để đánh trận Trung Ðông, nhưng đã gặp nhiều cay đắng. Bây giờ đến lượt tổng thống Obama, với hoàn cảnh thế

giới điên đảo, nợ nần chồng chất, ông có quá nhiều mối bận tâm. Hồ sơ Việt Nam và hồ sơ di dân tỵ nạn sẽ còn lâu mới đem ra thảo luận.
* * *
Xem như vậy, lịch sử cận đại của Hoa Kỳ từ 1954 đến nay có 11 vị tổng thống. Năm vị tham dự vào cuộc chiến Việt Nam. Ba triệu lính lần lượt tham chiến. 58 ngàn người chết. Mỗi vị tổng thống khi nhắc đến Việt Nam đều mang một kỷ niệm cay đắng khôn nguôi.

Kể từ 1975 đến nay, 5 vị tổng thống liên quan đến dân Việt Nam hậu chiến, qua các lãnh vực di dân tỵ nạn và nhân đạo. Cả 5 người đã mang một quan niệm mới mẻ về hai chữ Việt Nam . Ðã bớt phần đau thương cay đắng. Trong những năm gần đây, sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ trong tất cả các lãnh vực đã đem đến cho các ứng cử viên tổng thống một ý niệm mới mẻ tốt đẹp của chúng ta tại quê hương mới. Riêng tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức đã nhắc đến Việt Nam qua trận Khe Sanh.

Bây giờ sẽ đến lượt con cháu chúng ta sẽ làm quen với vị tổng thống da mầu đầu tiên thứ 44 với niềm tự hào của một thế hệ di dân gốc Việt góp phần xây dựng đầy hưng phấn trong tương lai.

Biết đâu sẽ có ngày Hoa kỳ chào mừng một tổng thống Việt Nam da vàng. Mặc dù ngày đó có thể còn rất xa, nhưng bây giờ xin vui lòng nhận chấp nhận tổng thống của chúng ta. Trong niềm tin mới, chúng ta cùng đón ngày President’s Day 2009 của Hoa Kỳ.

Dù rằng nghĩa trang Việt Nam tại Los Gatos có treo đôi câu đối: "Trăm năm xác tục gửi quê người, Vạn dặm hồn thiêng về cố quốc". Tôi cũng chẳng biết còn nhớ đúng hay sai, nhưng xin nhắc lại hai bài học trăm năm của các di dân đến trước chúng ta. Một văn hào Nga đã nói rằng: "Nơi nào tôi sống có tự do, nơi đó chính là quê hương". Một chính khách Ba Lan tỵ nạn lại nói rằng: "Muốn đấu tranh hữu hiệu cho quê hương cũ, hãy làm một công dân tốt trên quê hương mới". Trong tinh thần đó, chúng ta chào mừng President’s Day.

Giao Chỉ - San Jose

Posted: Mon Feb 16, 2009 8:46 pm
by TranAnhDung
Image

Abraham Lincoln tài ba nhất lịch sử Mỹ
Tổng thống thứ 16 của Mỹ, Abraham Lincoln, vừa được các sử gia nước này bình chọn là nhà lãnh đạo tài ba nhất.

Cuộc bầu chọn trên do kênh truyền hình cáp C-SPAN tiến hành trong hai tháng vừa rồi, với sự tham gia của 65 sử gia người Mỹ. Họ đánh giá các tổng thống dựa trên 10 tiêu chí lãnh đạo như mối quan hệ với Quốc hội và sự thuyết phục đối với cộng đồng.

Với việc giành được vị trí top 3 trên tất cả các hạng mục, Abraham Lincoln trở thành tổng thống Mỹ tài ba nhất lịch sử. Xếp ngay sau ông là các cựu tổng thống George Washington, Franklin D. Roosevelt, Theodore Roosevelt và Harry Truman

Trong khi đó, George W. Bush - người rời nhiệm sở tháng trước - chỉ giành vị trí 36 trên tổng số 42 nhà lãnh đạo Mỹ tính đến cuối năm ngoái. Bush đứng thứ 41 và 40 lần lượt trong các hạng mục như "quan hệ quốc tế", "quản lý kinh tế". Vị trí cao nhất mà ông giành được là hạng 24 trong tiêu chí "thực hiện các chính sách công bằng về luật pháp cho người dân".

Danh sách này cũng cho thấy sự bứt phá của các nhà lãnh đạo như Bill Clinton từ vị trí 21 lên 15. Cựu tổng thống George H.W. Bush lên hai bậc và hiện xếp hạng 18. Trong khi đó ông Jimmy Carter lùi xuống thứ 25 từ vị trí 22. Nhà sử học Edna Medford nhận xét những sự thay đổi trên cho thấy các mối quan tâm hiện nay ảnh hưởng đến danh tiếng của các nhà lãnh đạo.

Đứng cuối trong bảng xếp hạng là các cựu tổng thống James Buchanan, Andrew Johnson, Franklin Pierce, William Henry Harrison và Warren G. Harding.

Ngọc Quỳnh (theo AP)

Posted: Tue Feb 17, 2009 6:58 am
by tankhoasinh

Image

Nghe nhạc bằng máy MP3 mở quá lớn lâu ngày có thể bị điếc

BRUSSELS, Belgium (Reuters) - Khoảng 10 triệu người trẻ tuổi ở Âu Châu có nguy cơ bị hư hại thính giác vì mở máy nghe nhạc MP3 quá lớn, một cơ quan y tế của Liên Hiệp Âu Châu (EU) phát biểu trong một cuộc hội thảo hôm 27 Tháng Giêng.

Nghe nhạc từ máy MP3, và những máy chơi nhạc cá nhân khác, với âm lượng cao trong thời gian lâu dài có thể làm mất thính giác và mắc chứng ù tai (tinnitus: ảo giác trong tai giống như tiếng ve kêu), theo lời cơ quan Scientific Committee on Emerging and Newly Identified Health Risks (Ủy Ban Khoa Học về Những Nguy Cơ Sức Khỏe Chớm Phát và Mới Nhận Ra) của Liên Hiệp Âu Châu.

Ủy ban nói rằng khoảng từ 5% tới 10% những người sử dụng máy MP3 có nguy cơ bị hư hỏng thính giác vĩnh viễn, nếu họ nghe từ máy chơi nhạc cá nhân lâu hơn một tiếng đồng hồ mỗi ngày, với âm lượng cao, trong thời gian tối thiểu 5 năm. Hiện thời không có phương pháp nào để phục hồi thính giác bị mất hoặc chữa khỏi chứng ù tai, theo phúc trình của ủy ban nói trên.

Cuộc hội thảo, do Ủy Ban Âu Châu (European Commission) tổ chức ở Brussels, đã bàn luận về những biện pháp có thể áp dụng để ngăn ngừa những hậu quả đối với sức khỏe như vậy, thí dụ như dùng đèn chớp nháy trên máy chơi nhạc để cảnh giác người sử dụng, hoặc đặt ra những qui luật về giới hạn âm lượng tối đa trên máy. Ủy Ban Âu Châu nói rằng họ sẽ cứu xét những biện pháp khả thi cho vấn nạn này. (n.m.)

Posted: Thu Feb 19, 2009 2:43 am
by khieulong
Image


Nhật Trường, tiếng hát của một mùa kỷ niệm

lê hữu

Nơi cuối trời em thắp vì sao,
phiên gác buồn anh vẫn lẻ loi
“Lời cho người yêu nhỏ”
Trần Thiện Thanh
Hầu như mỗi người trong chúng ta đều giữ riêng cho mình những khúc hát, những bài nhạc mình yêu thích nhất. Một bài nhạc cũ đôi lúc không có ý nghĩa gì nhiều lắm đối với người này thế nhưng đối với người khác, mỗi lần nghe lại, như khơi dậy cả “một trời kỷ niệm”. Khi nói về bài nhạc mình yêu thích, người ta cũng thường nói về giọng hát gắn liền với bài nhạc ấy. Không chỉ yêu bài nhạc ấy thôi, có khi người ta còn “yêu” cả giọng hát ấy nữa và chỉ muốn được nghe bài ấy với giọng ấy chứ không phải giọng nào khác. “Bài này là phải nghe Thái Thanh hát” hoặc “bài này không ai hát qua được Thái Thanh”, ta vẫn nghe như vậy. “Bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của Phạm Duy, hay của Văn Cao, hay của Phạm Đình Chương…

Người ta có thể thay tên Thái Thanh trong những câu ấy bằng tên một ca sĩ nào khác, và “bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của nhạc sĩ nào khác. Một trường hợp khá đặc biệt: khi bài nhạc được yêu thích là của Trần Thiện Thanh thì người ca sĩ hay giọng hát gắn liền với bài ấy nhiều phần lại là… tác giả của bài nhạc: ca sĩ Nhật Trường.

Từ “tiếng hát đôi mươi” đến “đêm giã từ sân khấu”
Bao giờ cũng vậy, nghe câu hát ấy và nghe giọng hát ấy cất lên đâu đó, cho dù có đang làm gì, tôi cũng lặng yên một lúc, lắng nghe cho đến hết bài nhạc. Câu hát như đánh thức trong tôi những nhớ thương dịu dàng và, nói như ở trên, cũng đã khơi dậy trong tôi cả “một trời kỷ niệm”.

Rồi đến một chiều phai nắng
và khi gió heo may sang,
tôi cúi đầu trên sân vắng…

Bài hát, thực ra cũng chẳng có gì đặc biệt lắm, chỉ là nói về nỗi niềm của chàng trai vừa “xếp áo thư sinh”, giã từ trường lớp, giã biệt tình đầu, vai mang hành trang bước vào đời quân ngũ.

Tôi lặng ngước trông cao vời,
nghe đâu nghìn mưa bão sắp xô lên đời mình…

Chữ “xô” ấy nghe hay quá, và phải là giọng hát ấy mới nghe ra được cái ý dập vùi của giông tố phũ phàng.

Xin chớ hỏi lòng nhau nữa,
vì biết nói sao cho vừa…

Chữ “hỏi” nghe chùng xuống như tiếng đàn chùng dây. Chữ “vì” khựng lại như một thoáng ngập ngừng. Chữ “nói” rướn lên, và nốt láy mỏng ở “cho… vừa” nghe sao mà tha thiết quá chừng!

Tôi vội bước ra sân trường
không quay nhìn đôi mắt thoáng… rưng rưng lệ buồn.

Cái xuống giọng ở những nốt nhạc “rưng rưng” ấy nghe sao mà… rưng rưng!

Giọng hát ấy là giọng Nhật Trường. Bài hát ấy là một bài của Trần Thiện Thanh, “Giây phút tạ từ” (1967).
Image
Thường thì nhạc sĩ không phải là ca sĩ, và nếu kiêm nhiệm hai vai một lúc thì cũng… ít được tán thưởng. Muốn những ca khúc của mình tới được người yêu nhạc, cần đến một giọng hát; hơn thế nữa, một giọng hát phù hợp, thể hiện được tình cảm của bài nhạc. Trường hợp Trần Thiện Thanh có hơi khác một chút, ông được giới yêu nhạc biết đến qua sự giới thiệu của… ca sĩ Nhật Trường; hay nói cách khác, người ta yêu tiếng hát Nhật Trường từ khi chưa quen biết nhiều tên tuổi nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

Tiếng hát Nhật Trường nghe được trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 60’s, và đã sớm chinh phục trái tim thính giả yêu nhạc. Giọng hát ấy cũng cất lên trên các sân khấu ca nhạc, đại nhạc hội, và cả trong những màn “phụ diễn văn nghệ” cho các chương trình “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Saigon tại rạp Quốc Thanh (nơi ông và ca sĩ Duy Khánh, mỗi lần dứt tiếng hát là mỗi lần nhận được những tràng pháo tay vang dội lẫn trong tiếng hò hét “bis, bis” từ phía khán giả cuồng nhiệt để yêu cầu hát tiếp, hát thêm, hát nữa…). Giọng hát ấy cũng nghe được qua các dĩa nhạc, băng nhạc và các chương trình ca nhạc của đài truyền hình, đài phát thanh Saigon, đài phát thanh Quân Đội, đặc biệt là chương trình Tiếng Hát Đôi Mươi (từ năm 1965) vào mỗi chiều thứ Hai trên làn sóng phát thanh đài Tiếng Nói Quân Đội. Giọng hát ấy cũng từng góp tiếng trong các ban nhạc truyền thanh, truyền hình được yêu chuộng thuở ấy như Tiếng Nhạc Tâm Tình (ca sĩ Anh Ngọc phụ trách), Tiếng Tơ Đồng (nhạc sĩ Hoàng Trọng), Hoa Xuân (nhạc sĩ Phạm Duy), Tiếng Thời Gian (nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông)…

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, trong khi ấy, tuy đã có những sáng tác từ trước đó, chỉ được biết đến nhiều qua nhạc phẩm “Không bao giờ ngăn cách” (1963), ra đời ít lâu sau nhạc phẩm “Ngăn cách” khá nổi tiếng của nhạc sĩ Y Vân. “Không bao giờ ngăn cách” được nhiều ca sĩ tên tuổi thuở ấy trình bày (gồm cả những giọng ca gắn liền với “Ngăn cách” như Thanh Thúy, Minh Hiếu và cả… Nhật Trường, tất nhiên), được yêu chuộng và phổ biến rộng rãi, trở thành… nổi tiếng không kém gì “Ngăn cách” và làm nên tên tuổi Trần Thiện Thanh. (Có lẽ vì câu hát “chúng mình cách xa mà vẫn gần nhau”–gói trọn tình ý của bài nhạc–đáp ứng được tâm tư tình cảm của những lứa đôi thời chinh chiến).

Một ca sĩ tên tuổi thường có ít nhất một, hai bài nhạc nào đó gắn liền với tên mình. Khi nhắc đến tên bài nhạc ấy, người ta nghĩ ngay đến tên ca sĩ ấy. Một bài nhạc khi đã gắn liền với tên tuổi ca sĩ nào rồi thì ca sĩ khác tốt hơn nên… hát bài khác, nếu không muốn người nghe làm một sự so sánh và thêm nhớ… một giọng hát khác. Có khi chỉ một bài nhạc thôi cũng đủ làm nên tên tuổi ca sĩ (bây giờ gọi là “thành danh”). Nhiều ca sĩ một “đời ca hát” chỉ mong được “ký tên, đóng dấu” vào một bài nào đó để tên tuổi không chìm vào quên lãng. Nhưng đâu có phải muốn là được. Việc thẩm định và đưa ra phán quyết bài hát nào thuộc về ca sĩ nào là… thuộc về thính giả. Nhiều ca sĩ từng hát nhiều bài và bài nào… nghe cũng hay, nhưng vẫn không “đóng dấu” nổi tên mình vào một bài nhất định. Trong lúc ấy, Nhật Trường lại có khá nhiều bài hát gắn liền với tên mình, hầu hết là những bài của… Trần Thiện Thanh. “Nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường,” nhiều người dễ dàng chia sẻ nhận xét này của nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Hát “hay hơn” thì chưa thấy có ai thật, nhưng hát hay… không kém, theo tôi, có thể kể ra được một vài, chẳng hạn Lệ Thanh với “Anh nhớ về thăm em”, Minh Hiếu với “Không bao giờ ngăn cách”, Trúc Mai với “Hàn Mạc Tử”, Sĩ Phú với “Khi người yêu tôi khóc”… Khi nhắc đến tên các bài nhạc ấy, người ta vẫn hay nhắc đến tên các ca sĩ này.

Đúng là “nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường”, kể cả những bài… không dành cho Nhật Trường. “Bảy ngày đợi mong” chẳng hạn, bài hát tưởng chỉ dành cho giọng nữ (nói về nỗi hờn trách của cô gái vì người yêu lỗi hẹn), vậy mà đến nay vẫn chưa thấy ai hát hay hơn Nhật Trường.

Tôi có anh bạn rất “chịu” giọng Nhật Trường, lạ một điều là trong số những bài anh ta thích nghe ca sĩ này hát lại chẳng có bài nào của… Trần Thiện Thanh cả. “Bài tango ấy là chỉ có nghe Nhật Trường thôi,” anh ta nói thế khi nhắc đến bài “Ngỡ ngàng” của Hoàng Trọng. Anh cũng chịu Nhật Trường hát “Bến giang đầu” của Lê Trọng Nguyễn, “Khi em nhìn anh” của Y Vân và “Tình yêu đến trong giã từ” của Phạm Mạnh Cương (không phải bài nhạc cùng tên của Nguyễn Ánh 9). Tôi không rõ vì sao anh ta không “chấm” được bài nào của Trần Thiện Thanh (hoặc vì Nhật Trường hát nhạc Trần Thiện Thanh thì… bắt buộc phải hay rồi nên không cần phải bàn tới).

Tôi cũng đồng ý với anh bạn là Nhật Trường hát những bài ấy thì… không chê vào đâu được, và cũng muốn kể thêm một ít bài, tuy không phải là nhạc Trần Thiện Thanh nhưng “không ai hát hay hơn Nhật Trường” (tất nhiên chỉ là ý kiến cá nhân), chẳng hạn “Em tôi” của Lê Trạch Lựu, “Tấm ảnh ngày xưa” của Lê Dinh, “Chuyến đi về sáng” của Mạnh Phát, “Tôi sẽ về thăm em” của Hoàng Nguyên, “Mưa chiều kỷ niệm” của Duy Yên & Quốc Kỳ, “Kể chuyện trong đêm” của Hoàng Trang, “Hành trang giã từ” của Trường Sa, “Tình khúc mùa đông” của Thanh Trang, “Bây giờ tháng mấy” của Từ Công Phụng, “Biết nói gì đây” của Huỳnh Anh & Huyền Thanh, “Hoa biển” của Anh Thy, “Qua cơn mê” của Trịnh Lâm Ngân, “Tám điệp khúc”, “Hai vì sao lạc” của Anh Việt Thu…

Những nhận xét nêu trên là hoàn toàn chủ quan, không hẳn đã phù hợp với nhiều người. Có điều, dường như ai cũng có thể tìm thấy, qua tiếng hát Nhật Trường, bài hát nào đó mình yêu thích. Có thể nói thêm một hai điều: thứ nhất, trong số những bài trên, không ít bài, qua tiếng hát Nhật Trường, được phổ biến, được yêu chuộng và làm nên tên tuổi tác giả (như chính các nhạc sĩ ấy cũng thừa nhận), chẳng hạn “Tấm ảnh ngày xưa” của Lê Dinh, “Bây giờ tháng mấy” của Từ Công Phụng, “Hoa biển” của Anh Thy... Thứ hai, nhiều người dễ nhầm tưởng một đôi bài trong số những bài trên là “nhạc Trần Thiện Thanh” (như “Hoa biển”, “Hành trang giã từ”…) cũng chỉ vì những bài ấy “không ai hát hay hơn Nhật Trường”.

Những điểm nêu trên cũng cho thấy, không thể nào nói tới Nhật Trường mà không nói tới Trần Thiện Thanh, không thể nào tách rời hai con người ấy được, như một diễn viên đóng một lúc hai vai, như “mình với ta tuy hai mà một”. Có lẽ vì vậy mà sau này người ta thống nhất với nhau gọi ông là “ca-nhạc-sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh” cho… tiện (tuy có hơi… dài). Tuy vậy, có những lúc không nhất thiết sử dụng danh hiệu ấy, chẳng hạn khi giới thiệu ca khúc nào đó được “ca-nhạc-sĩ” này trình bày thì nên trả ông về với “ca sĩ Nhật Trường”. Hoặc, khi giới thiệu ca sĩ trình diễn nhạc phẩm nào đó của ông thì không cần nói, “Xin giới thiệu ca sĩ X. trong một nhạc phẩm của ca-nhạc-sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh”, mà chỉ nên nói “… của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh”.

Chuyện một nghệ sĩ trình diễn vừa là ca sĩ vừa là người soạn nhạc (singer-songwriter) không phải là chuyện lạ lùng gì, nhất là ở nước ngoài. Thực ra, không riêng gì Nhật Trường, trong số các nhạc sĩ của chúng ta vẫn có những người từng… kiêm nhiệm ca sĩ, hiểu theo nghĩa từng trình bày, trình diễn các nhạc phẩm của mình (và của nhạc sĩ khác, đôi lúc), thế nhưng người ta vẫn chỉ gọi là “nhạc sĩ”. Điều này có thể giải thích được: thứ nhất, vai trò nhạc sĩ trội hơn và được biết đến nhiều hơn là ca sĩ (chỉ “thường thường bậc trung”); thứ hai, để có thể gọi là “ca-nhạc-sĩ”, các nhạc sĩ này cần chứng tỏ rằng khó ai hát các nhạc phẩm ấy hay hơn… mình.

Trong vai trò “ca sĩ” (không phải ca-nhạc-sĩ), nhiều nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ, với nhiều thể loại, thể điệu khác nhau từng được thể hiện qua tiếng hát Nhật Trường (không hẳn là ông chỉ “chuyên trị” các thể điệu Bolero, Rhumba hoặc Slow, Slow Rock… như nhiều người tưởng). Người yêu nhạc hẳn vẫn còn nhớ từng được nghe giọng hát đầy cảm xúc của Nhật Trường qua rất nhiều bài, từ những bài xưa cũ như “Bến đò xưa” của Đào Thừa Liệt & Nguyễn Kim (ban nhạc Tiếng Tơ Đồng), “Sơn nữ ca” của Trần Hoàn (ban Tứ ca Nhật Trường), “Lá thư”, “Gửi gió cho mây ngàn bay” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, “Ông lái đò” của Hiếu Nghĩa…, đến những bài “Hòn vọng phu 1&3” của Lê Thương (với Thái Thanh), “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng (với Như Thủy), “Hoài cảm” của Cung Tiến, “Tiễn bước sang ngang” của Hoàng Trọng & Hồ Đình Phương, “Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi” của Lam Phương (ban Tứ ca Nhật Trường), “Khúc nhạc ly hương” của Lâm Tuyền, “Mộng dưới hoa” của Phạm Đình Chương & Đinh Hùng, “Vợ chồng quê”, “Ngày trở về”, “Trả lại em yêu” của Phạm Duy (với Thanh Lan), “Ghen” của Trọng Khương & Nguyễn Bính, “Hồn bướm mơ tiên” của Mai Trường & Tô Vân, “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ, “Lệ đá” của Trần Trịnh & Hà Huyền Chi, “Hai vì sao lạc” của Anh Việt Thu, “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An (với Như Thủy), “Bông hồng cài áo”, “Tóc mây” của Phạm Thế Mỹ...

Trong lúc mỗi ca sĩ tên tuổi có một đối tượng thính giả nhất định thì tiếng hát Nhật Trường lại như có vẻ đáp ứng được các đối tượng thính giả khác nhau. Riêng đối với những ca khúc là sáng tác của chính ông, những ý kiến đại loại “nhạc Trần Thiện Thanh là ‘nhạc đại chúng’” có thể được hiểu là một lời khen hoặc ngược lại. Những bình phẩm cách ấy không nói được điều gì. Nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, như những món ăn tinh thần, thực khách tự ý chọn lựa cho mình những món hợp khẩu vị, thanh đạm hoặc cầu kỳ, quý hồ thưởng thức thấy ngon miệng. Không có sự hơn kém trong những khác biệt về quan niệm thẩm mỹ, về thưởng ngoạn nghệ thuật khi xem một bức tranh, nghe một bản đàn, đọc một bài thơ hay ngắm một bông hoa… Nhật Trường, trước sau ông vẫn muốn tìm kiếm những lối đi để lời ca tiếng hát mình đến được với trái tim của quần chúng. Ít nhiều ông cũng đã đạt được điều ước muốn ấy.

Đối với Nhật Trường, người ca sĩ có “tuổi nghề” trên dưới 40 năm, có tiếng hát khá quen thuộc và gần gũi với công chúng, ngày Chủ Nhật 3/11/2002 đánh dấu sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong “đời ca hát” của ông: “Nhật Trường và Bạn Hữu, Đêm Giã Từ Sân Khấu”, một chương trình ca nhạc, nói đúng hơn, một buổi họp mặt văn nghệ được ông tổ chức trong vòng thân hữu, là cơ hội để ông được chính thức thông báo về quyết định “giã từ sân khấu” và cũng để mọi người có dịp nói lời chia tay với “tiếng hát Nhật Trường”.

Có giọng hát nào đứng mãi được với thời gian đâu. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, khi mà những “vết hằn năm tháng” đã hiện rõ trên khuôn mặt chàng ca sĩ điển trai ấy thì giọng hát ấy cũng không còn “trẻ” nữa. “Giã từ sân khấu” hay “chia tay tiếng hát”, những cách gọi ấy mang ý nghĩa gì nếu không phải là “giây phút tạ từ” (tên một bài nhạc của ông) để giữ cho tên tuổi ấy, giữ cho tiếng hát ấy còn đẹp mãi, còn ở lại mãi trong lòng người.

Tuy không còn chính thức xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc, ông vẫn không từ chối mang lời ca tiếng hát tới những nơi nào cần đến sự góp mặt góp tiếng của ông, cho đến ngày ông thực sự nhắm mắt xuôi tay “giã từ cuộc sống” (gần ba năm sau ngày “giã từ sân khấu”) mà ông từng sống sôi nổi, từng yêu thiết tha và luôn muốn làm đẹp cuộc sống ấy.
Từ “Tiếng hát đôi mươi” đến “Đêm giã từ sân khấu” là cuộc hành trình thật là dài của người nghệ sĩ ấy, của tiếng hát ấy. Trong suốt cuộc hành trình ấy đã có những năm dài tiếng hát phải im hơi, là những năm mây đen phủ trùm lên đất nước, lên số phận cả một dân tộc, thế nhưng chưa có lúc nào tiếng hát ấy bị lãng quên. Như những khúc hát của Trần Thiện Thanh vẫn nghe thấy cất lên đâu đó, những tình cảm thương yêu dành cho tiếng hát ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Nhạc tình, “một trời trăng sao”
Giọng Nhật Trường không vang lộng, không được kể là “làn hơi phong phú”. Kỹ thuật ngân, rung không được kể là điêu luyện. Giọng ông cũng không “ấm” hơn những giọng nam trầm khác cùng thời với ông, nhưng nghe “mềm” hơn và “ngọt” hơn. Ông biết tận dụng cái giọng tốt trời cho ấy và biết cách “make-up” để làm đẹp thêm giọng hát mình. Nhiều người cho là giọng hát ấy có hơi… điệu. Nói thế không phải là không đúng, và cũng… không có gì lạ. Cái “điệu” ấy cũng là… tự nhiên thôi, vì ngay từ cử chỉ, điệu bộ cho đến cung cách nói chuyện của ông cũng đã có một vẻ gì… điều điệu. Và khi ông hát, cái “điệu” rất… Nhật Trường ấy thể hiện qua kiểu cách nhấn nhá và luyến láy mềm mại, qua chất giọng nồng nàn, tình tứ như những vuốt ve, mơn trớn. Quả là ông có “điệu” một chút thật, nhưng cũng chỉ là làm duyên làm dáng vậy thôi chứ không thái quá như những kiểu rên xiết, nấc nghẹn… hoặc “phô diễn kỹ thuật” như ít ca sĩ về sau này (rằng hay thì có hay nhưng… vô hồn, vô cảm). “Giọng hát truyền cảm”, nhiều người đã gọi tiếng hát Nhật Trường như thế, có nghĩa giọng hát ấy truyền được những rung cảm tới người nghe, hoặc nói cách văn vẻ, chạm được tới trái tim người nghe. Sức “truyền cảm” của giọng hát ấy không phải chỉ do ở “kỹ thuật” của riêng ông mà còn ở cách ông phả hơi thở đầy cảm xúc vào từng lời, từng chữ, từng nốt nhạc.
Image
Nhật Trường (bên trái, ngoài cùng) và các ca sĩ trong ban Tiếng Nhạc Tâm Tình (ca sĩ Anh Ngọc phụ trách) đầu thập niên 60’s.
Qua tiếng hát Nhật Trường, có những bài hát đã trở thành kỷ niệm khó phai của “một thời để yêu, một thời để nhớ”. Không ít những cặp tình nhân cùng yêu thích một bài hát, một giọng hát. Khi gắn bó với một bài hát, một giọng hát, người ta càng cảm thấy gắn bó với nhau hơn. Giọng hát ấy không rơi vào quên lãng vì đã làm lay động những trái tim, làm đẹp thêm những mối tình.

Ta vẫn nghe được trong những câu hát của Nhật Trường–những năm đầu và giữa thập niên 60’s–những khung trời đầy trăng và sao, những khung trời tự tình của lứa đôi, và chất giọng nồng nàn, quyến rũ như lời tình tự ngọt ngào ấy đã làm xao xuyến, rung động không ít trái tim vừa chớm biết yêu của các cô nữ sinh, sinh viên hay mơ hay mộng.

Một ngày gần đây,
những đêm dài vô tận hôm nay
sẽ thay bằng một trời trăng sao

Sao rơi trong mắt này
trăng vương vai áo này
một trời trăng sao đó riêng đôi mình
(“Một ngày gần đây”, Trần Thiện Thanh)

Xin không thiếu trăng vàng trên tóc em
khi ánh sao rơi đầy mắt người yêu
(“Chân trời tím”, Trần Thiện Thanh)

Tôi sẽ về thăm em
khi trời lấp lánh sao đêm
và gió trăng theo từng bước chân êm
(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên)

Giọng hát Nhật Trường, giọng hát đánh thức những trái tim, đánh thức tình yêu dậy. Tình yêu, trong tiếng hát Nhật Trường, như được ướp bằng chất men lãng mạn, luôn có một vẻ gì đắm say, thiết tha và đầy thi vị.

Anh sẽ vì em làm thơ tình ái
(“Lâu đài tình ái”, Trần Thiện Thanh & Mai Trung Tĩnh)

Anh sẽ đưa em về nơi chân trời tím
(“Chân trời tím”, Trần Thiện Thanh & Nguyễn Văn Hạnh)

Câu hát mà nghe tựa câu thơ, giọng hát mà nghe như giọng đọc thơ.

Mây từ đâu trôi tới, mờ dấu chân trời
Em, tại sao em tới, cho anh yêu vội
(“Người yêu tôi khóc”, Trần Thiện Thanh)

“Người yêu tôi khóc”, một trong những “tình khúc Trần Thiện Thanh” được nhiều người yêu thích, là bài hát đẹp cả về giai điệu lẫn ca từ.

Khi người yêu tôi khóc, xin rất im lìm
như từ lâu tôi dấu những cơn muộn phiền

Khi người yêu tôi khóc thành phố buồn thiu…
Phải là “buồn thiu” chứ… buồn tênh (như một vài ca sĩ đổi lời) hay buồn teo, hay buồn xo, hay buồn… gì khác thì lại kém hay. Phải nghe Nhật Trường hát “buồn thiu” mới hình dung được con phố ấy… “buồn thỉu buồn thiu” như thế nào.

Trong những câu hát của Nhật Trường ta vẫn nhặt ra được những “câu thơ” như thế.

Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh?
Áo ai xanh hờ hững đi vào đêm…

Em mới yêu lần đầu / Anh đã yêu lần sau
(“Chuyện hẹn hò”, Trần Thiện Thanh)

Dường như bài hát nào, câu hát nào cũng được ông phả vào hơi thở đầy cảm xúc (như phả hương vị nồng nàn vào cuộc sống), cũng được ông nắn nót từng chữ từng lời (như người nắn nót, gọt dũa từng chữ từng câu trong lá thư tình viết gửi người mình yêu). Không riêng gì nhạc Trần Thiện Thanh, nghe một bài nhạc tình của ai khác, qua giọng Nhật Trường, cũng dễ nhận ra điều này. “Ngày đó chúng mình” của Phạm Duy chẳng hạn (từng được các ca sĩ tên tuổi thuở ấy như Anh Ngọc, Duy Trác, Thái Thanh… trình bày, mỗi giọng đều có cái hay riêng trong cách thể hiện).

Ngày đó có em đi nhẹ vào đời…

Nghe ông hát “đi… nhẹ vào đời” ta tưởng nghe được tiếng bước chân ai khe khẽ, chầm chậm…

Ngày đôi môi thương môi đã xé nát nụ cười
ôi những cánh tay ngỡ ngàng, tả tơi…

Tìm trong đêm rách rưới cơn mơ nào lẻ loi…

Nghe ông hát “xé nát nụ cười”, “ngỡ ngàng, tả tơi” và “rách rưới… lẻ loi” mới thấy cái cách ông thể hiện tình cảm “nồng nàn và đau đớn” mà người nhạc sĩ ghi ở đầu bài nhạc ấy như thế nào!

Có khi chỉ nghe câu hát đầu tiên của một bài hát, người ta nhận ra ngay ra… giọng Nhật Trường.

Nhớ chiều nào… (ngưng một chút) tôi đến thăm em
(“Mưa chiều kỷ niệm”, Duy Yên & Quốc Kỳ)

Mai tầu xa bến (…) xin em đừng buồn
(“Tâm tình người lính thủy”, Anh Thy & Thanh Viên)

Anh sẽ vì em (…) làm thơ tình ái
(“Lâu đài tình ái”, Trần Thiện Thanh & Mai Trung Tĩnh)

Những chỗ ngưng nghỉ như là… dấu lặng ấy, những chỗ ông hát thật thong thả, thật chậm rãi ấy nghe rất… Nhật Trường. Có lắm lúc ta tưởng như là ông “nói” chứ không phải là “hát” nữa. Có lắm lúc ta nghe ông hát như nghe những chuyện trò nhỏ to hay những lời thủ thỉ tâm tình. Khi ông hát một bài tình ca, những thủ thỉ tâm tình ấy có khi là những xao xuyến, bâng khuâng của trái tim vừa chớm biết yêu.

Ngắt nụ hoa vàng (…) biết rằng mình yêu
(“Yêu”, Trần Thiện Thanh)

Có khi là vẻ đẹp thật mong manh của tình yêu.

Tình yêu như nụ hoa
chỉ nở một lần thôi
chỉ đẹp một lần thôi…
(“Chuyến đi về sáng”, Mạnh Phát)

Có khi là lời tỏ tình thầm kín hoặc đắm say mà những người yêu nhau vẫn thường nói với nhau.

Anh hứa yêu em trọn một đời
yêu như ngày đầu đôi ta chung lối…

Yêu em như trời xanh yêu mây trắng
(“Một đời yêu em”, Trần Thiện Thanh)

Có khi là những lời tình tự nồng nàn, đắm đuối và chan chứa những tình ý yêu đương.

Ta tìm lên núi Tình
ta đến suối Yêu Đương
rồi đi thăm bến Mộng
sẽ qua đồi Ái Ân
(“Khi em nhìn anh”, Y Vân)

Có khi là nỗi đợi chờ và nhớ nhung da diết, như nỗi nhớ trong thơ Hồ Dzếnh.

Thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
để anh buồn như anh chàng làm thơ

Em có hay trời buồn, trời chuyển mưa đó không?
Biết yêu em là biết nghe chờ mong
(“Chuyện hẹn hò”, Trần Thiện Thanh)

Có khi là những lời tình cay đắng nhiều hơn ngọt ngào, những lời tình đẹp và buồn như một nỗi tiếc thương của những lứa đôi yêu nhau mà không đến được với nhau.

Xưa hôn em một lần, rồi đau thương tràn lấp…
Anh xa em thật rồi mà chưa quên mùi tóc…
(“Mùa đông của anh”, Trần Thiện Thanh)

Anh lãng du đêm dài vùng khói mây
hôn tóc em nghe hồn mình đắng cay
(“Tình khúc mùa đông”, Thanh Trang)

Khi biết yêu thì chia phôi
như đóa hoa tàn ban mai
tình yêu đến trong giã từ…
(“Tình yêu đến trong giã từ”, Phạm Mạnh Cương)

Đôi lúc ta ngỡ như ông “nói” chứ không phải là hát, cho đến khi ta nghe được giọng nói của ông trên nền nhạc dạo của bài hát thì đúng là ông… nói thật. Nhật Trường cũng là một trong những ca sĩ đầu tiên sử dụng lối “độc thoại” trên nền nhạc, khiến bài hát nghe “lạ” hơn và cuốn hút hơn. Giọng ông khá diễn cảm, ngọt ngào như rót mật vào tai và ấm áp, dịu dàng như lời… thì thầm bên gối.

“Anh yêu những chân trời tím, mầu tím thắm thiết của yêu đương, của hai đứa chúng mình đi vào tình yêu, đi vào kỷ niệm. Anh sẽ đưa em tới đó, anh sẽ sống bên em như mầu tím và chân trời. Nhưng anh biết, không bao giờ… chúng mình tới đó.”

Lời “độc thoại” ấy ghi ở trang đầu cuốn tiểu thuyết Chân trời tím của Văn Quang và cũng ghi trên đầu bản nhạc cùng tên của Trần Thiện Thanh (1966), lấy ý và nguồn cảm hứng từ tiểu thuyết ấy. “Chân trời tím” là nhạc phẩm hợp soạn giữa Anh Chương (một tên khác của Trần Thiện Thanh) và nhạc sĩ Nguyễn Văn Hạnh. Chi tiết này ít người còn nhớ, có lẽ vì cái tên thứ hai ít được nhắc đến.

Giọng nói ấm áp và diễn cảm trên nền nhạc ấy, những lời hát thật thong thả, chậm rãi ấy, những “dấu lặng” giữa câu hát ấy, những lối nhấn nhá và luyến láy mềm mại ấy, cùng với chất giọng nồng nàn, trữ tình và cách phả hơi thở đầy cảm xúc vào từng lời từng chữ ấy, tất cả, đã làm nên giọng hát đầy “kịch tính” và… “lãng mạn Nhật Trường”.

Nhạc lính, những “bản tình ca thời chiến”

Anh bảo em đừng buồn
bao nhiêu ngày hôm nay cho ngày mai…

Bài hát đầu tiên tôi nghe được của Trần Thiện Thanh có những lời như thế. Tôi đã yêu câu hát ấy và yêu giọng hát ấy.

Bài hát có giai điệu tha thiết quá, và giọng hát cũng tha thiết quá, nghe như lời dỗ dành, vỗ về.

Anh nhớ đừng thăm em một ngày chưa yên vui
Mây nước còn chia phôi, thì đừng mơ lứa đôi…

Bài hát ấy là “Anh nhớ về thăm em” (1961), giọng hát ấy là giọng Lệ Thanh, có chút gì nũng nịu và vẻ gì cam chịu nghe đến… tội nghiệp.

Bài hát ấy cũng là bài “nhạc lính” đầu tiên tôi nghe được của Trần Thiện Thanh, và không phải là nghe với giọng Nhật Trường.

Những năm về sau này, Nhật Trường vẫn được nhắc đến như một ca sĩ chuyên hát “nhạc lính” (làm như là từ xưa tới nay ông chỉ có… hát nhạc lính), có lẽ vì tên ông gắn liền với tên Trần Thiện Thanh (Nhật Trường-Trần Thiện Thanh), mà nhạc Trần Thiện Thanh hầu hết đều có “chất” lính tráng. Hầu như trong bất kỳ chương trình văn nghệ lớn nhỏ nào có ít nhiều liên quan tới “lính”, ta thấy các ca sĩ vẫn tìm đến những bài quen thuộc của Trần Thiện Thanh (trong lúc không thiếu những bài “nhạc lính” khá hay của các nhạc sĩ tên tuổi khác). Thậm chí, sau ngày ông qua đời, đôi lúc ta vẫn nghe người dẫn chương trình văn nghệ giới thiệu “ca sĩ X. trong một nhạc phẩm của cố ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh”, trong lúc các nhạc sĩ khác đã “quá cố”, trước hoặc sau ông, lại không nghe gọi là “cố”, “cựu” chi cả. Nói điều này cũng để thấy rằng, ông nhận được sự “chiếu cố” đặc biệt từ những tình cảm quý mến và thương tiếc dành cho ông.

Thế nhưng, như thế nào gọi là “nhạc lính”? Chắc phải là những ca khúc viết về đời lính và người lính, về tinh thần chiến đấu anh dũng, về sự hy sinh cao cả, thầm lặng, và về tình yêu của người lính dành cho quê hương đất nước. Những bài nhạc lính ấy có thể được viết nên từ cảm xúc của những người yêu lính, yêu đời lính hoặc từ những nỗi niềm, tâm tình của người lính.

Như thế, liệu nhạc lính (như nhạc Trần Thiện Thanh, đặc biệt là những bài thể điệu bolero, rhumba…) có thể xếp vào loại “nhạc đại chúng” hay “nhạc bình dân” như cách gọi (ngụ ý xem thường, hạ thấp giá trị) của một số người, chỉ vì những bài nhạc hát giữa tiền đồn hay những sân khấu ngoài trời ấy không thể đưa vào được những hí viện, những khán phòng ấm cúng, thanh lịch với những giàn nhạc “tầm cỡ” và với một đối tượng khán thính giả chọn lọc của những “nhạc thính phòng”, những “bán cổ điển”… này nọ, như là những kiểu cách thời thượng. Điều thực sự có ý nghĩa, không phải là bài nhạc được trình diễn ở nơi nào, mà là bài nhạc nào còn ở lại trong lòng người về lâu về dài.

Dù sao thì nhạc lính Trần Thiện Thanh cũng đã được khối “quảng đại quần chúng” ấy thực sự yêu thích, và Nhật Trường, khi hát những bài nhạc lính ấy, ông cũng đã nhắm vào đối tượng chính ấy, như tên gọi một album nhạc của ông trước năm 1975, Hát Cho Lính và Những Người Yêu Lính.

Phân biệt nhạc lính với nhạc tình Trần Thiện Thanh có vẻ không dễ dàng chút nào, cho dù có những bài nhạc chỉ nói về tình yêu mà không hề nhắc nhở, đả động gì tới lính tráng. Dường như người ta ngầm hiểu rằng tình yêu trong bài nhạc ấy là tình yêu của “người lính”, chàng trai trong bài hát ấy là chàng lính chiến, và cô gái là “người yêu của lính”. Và ngược lại, gần như bài nhạc nào viết về lính của ông cũng ít nhiều pha lẫn chút tình riêng.

Làm sao biết được nhạc lính hay nhạc tình? “Không bao giờ ngăn cách” có vẻ là “tình khúc Trần Thiện Thanh”, nhưng lại có “viết tên người yêu lên ba-lô nặng trĩu”. “Chân trời tím” chắc phải là “nhạc tình”, nhưng vẫn có “anh vì lửa khói quê hương, đường hun hút biên cương…” Nhạc tình hay nhạc lính, “Chiều trên phá Tam Giang”, bài phổ thơ Mai Trung Tĩnh? Thơ ấy là thơ tình hay thơ… lính? (Hay thơ tình của người lính?). Nếu là thơ lính thì nhạc ấy phải là… nhạc lính.

Làm sao biết được nhạc tình hay nhạc lính? Những ca khúc ấy, tôi nghĩ, có thể gọi chung là “những bản tình ca thời chiến”.

Những đêm mười sáu trăng tròn
vượt con đường mòn đi giữ làng thôn,
bỗng thấy lòng mình thương quá
thương thuở học trò đi tìm vần thơ…
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

Đấy không phải là bài nhạc lính đầu tiên tôi nghe được, và cũng không phải là bài nhạc lính đầu tiên tôi yêu thích, thế nhưng không hiểu sao tôi rất “chịu” Nhật Trường hát bài ấy. “Mười sáu trăng tròn” (1964) là nỗi niềm của chàng trai thời loạn “xếp bút nghiên theo việc đao cung”, lên đường theo tiếng gọi của non sông, bỏ lại sau lưng những mộng ước chưa tròn... Bài hát có một vẻ gì lãng mạn của những đêm “trăng treo đầu súng”, của “xếp áo thư sinh, vui bước đăng trình…” Hình ảnh người lính chiến “lênh đênh tám hướng, bạc mầu vai sương áo kết bụi đường” với lời thề sắt son ghi trên báng súng đã gieo vào lòng tôi thuở ấy những cảm xúc dạt dào.

Một người đi, một người ở lại với năm chờ tháng đợi ngày nào người chiến binh trở về khi đất nước yên vui để tay trong tay đi xây lại chuyện tình giữa mùa trăng thanh bình.

Em ơi, khi non nước đang còn
mịt mờ bên phương nớ
thì chuyện đó đừng mơ…
(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

“Mịt mờ bên phương nớ”, câu hát nghe là lạ, ngồ ngộ. Tôi thích chữ “phương nớ”, và tôi cũng nhận ra một điều là Nhật Trường hát nhạc lính rất hay, nhạc lính của bất cứ ai chứ không riêng gì của Trần Thiện Thanh (chẳng hạn “Tình anh lính chiến” của Lam Phương, “Tôi đã gặp” của Lê Dinh & Minh Kỳ”, “Biệt kinh kỳ” của Minh Kỳ & Hoài Linh, “Tôi sẽ về thăm em” của Hoàng Nguyên, “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy & Linh Phương, “Kể chuyện trong đêm” của Hoàng Trang, “Hành trang giã từ”, “Một lần xa bến” của Trường Sa, “Chim trời chưa mỏi cánh” của Đào Duy, “Hoa biển”, “Tâm tình người lính thủy” của Anh Thy…). Nghe lại giọng hát ấy, nghe lại những khúc hát quen thuộc của một mùa chinh chiến ấy, vẫn thấy lòng dậy lên những cảm xúc rất “lính”.

Trong khói lửa chiến tranh, bên cạnh những nỗi bất trắc, tình yêu vẫn nở hoa như những đóa hồng vẫn nở bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai. Trong những lời nhạc Trần Thiện Thanh ta nghe được qua tiếng hát Nhật Trường luôn có những “người yêu nhỏ” đợi chờ và dõi theo bước đường hành quân của người lính chiến.

Nơi cuối trời em thắp vì sao,
phiên gác buồn anh vẫn lẻ loi…
(“Lời cho người yêu nhỏ”)

Xa xôi đêm nào xuôi quân dừng chân,
khi trăng rơi bên lều, anh chợt thấy nhớ em yêu...

Như chim trời anh đi xa vắng,
em có thành sao sáng yêu đương
xuyên lá rừng khép nép vai anh…
(“Một đời yêu em”)

Người lính chiến, ngoài ba-lô, súng đạn, còn mang theo bên mình một hình bóng không quên, một nỗi nhớ không rời.

Tình yêu thường xen lẫn thân phận người lính xa nhà, xa người mình thương yêu. Những tâm tình của người lính ta nghe được qua tiếng hát Nhật Trường, là những chuyến về thăm, là những lần về phép, người lính chiến dừng chân trong chốc lát, rồi lại lên đường, lại miệt mài đi khi quê hương còn tiếng súng, khi máu xương còn rơi.

Nụ cười đầu môi anh khẽ nói,
“Về thăm em chiều nay thôi,
sông hồ mai sớm lại đi...”
(“Chiều mưa anh về”)

Nếu ta nghe Nhật Trường hát nhạc tình như hát những lời tình tự của những kẻ yêu nhau thì ông hát nhạc lính như hát những lời tình tự với quê hương của ông.

Tôi thức từng đêm thơ ấu mà nghe muối phả trong lòng…

Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi
nên năm hăm mốt tuổi
tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai…
(“Biển mặn”)

“Biển mặn” là tình yêu của người lính dành cho quê hương mình. Tôi vẫn cho “Biển mặn” là một trong những bài nhạc lính hay nhất của Trần Thiện Thanh. Nghe “Biển mặn” là nghe lời tình tự dân tộc từ một trái tim nặng trĩu tình yêu quê hương. Quê hương ở đây là biển cả, là “mẹ trùng dương”, là vị mặn mà của muối biển, là vị mặn nồng của gió biển, là màu xanh của ruộng đồng, của biển rộng sông dài. Và tiếng hát Nhật Trường, và giai điệu dìu dặt ấy, như tiếng sóng vỗ rì rào, như tiếng suối nguồn róc rách, như tiếng sông hiền hòa xuôi chảy qua từng miền đất nước, thấm vào từng mạch đất quê hương.

Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
lúc mầu xanh biển mặn đục sắc mây

Trong bao lần quân hành, tôi qua vùng khô cằn
mồ hôi thành biển mặn trên môi

Những giọt mồ hôi rịn trên môi người lính trong cái nóng cháy da vùng hành quân như có vị mặn của muối biển quê mình. Có hình ảnh nào đẹp hơn, ý nghĩa hơn? Nghe “Biển mặn”, ta nghe tình lính, tình riêng, tình quê hương đất nước quyện lẫn vào nhau.

Nhạc lính, không chỉ ngợi ca những chiến tích làm vẻ vang màu cờ sắc áo, còn ngợi ca những người lính can trường, những người lính đã hy sinh cả máu xương mình cho tình yêu đất nước, những người lính “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. Bài đầu tiên Nhật Trường hát ngợi ca người hùng trong cuộc chiến là một bài của Phạm Duy, “Huyền sử ca một người mang tên Quốc”. Giọng hát ông và cách ông thể hiện tình cảm của bài hát đã truyền tới người nghe những cảm xúc rưng rưng.

đặt tên cho anh, anh là Quốc
đặt tên cho anh, anh là nước
đặt tên cho người, đặt tình yêu nước vào nôi

Tôi tin rằng bài ấy ít nhiều đã gợi hứng cho những sáng tác về sau này của ông nhằm vinh danh tên tuổi những người hùng đã hy sinh trong chiến trận. Hai bài được nói đến nhiều nhất trong số ấy là “Anh không chết đâu em” và “Người ở lại Charlie”, và giọng hát Nhật Trường quả tình đã gieo vào lòng người sự ngưỡng phục và mối xúc cảm đến rơi nước mắt về những thiên anh hùng ca của dân tộc.

“Không, chiến sĩ không bao giờ chết,” câu nói bình dị của Nhật Trường trong vở nhạc kịch ông diễn chung với Thanh Lan (“Anh không chết đâu em”) như nói với ta rằng ngọn lửa bất khuất và ý chí đấu tranh kiên cường không bao giờ tắt trong tim những người lính.

Pho tượng lính và “anh chiến sĩ của mộng mơ”.

Hình tượng người lính chiến, qua tiếng hát Nhật Trường, qua những ca khúc Trần Thiện Thanh, như trở nên gần gũi hơn, thân thiết hơn với quần chúng. Lý tưởng của những chàng trai thời loạn hiến thân vì tổ quốc như được tô đậm hơn, sắc nét hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến, thấy cảm kích những hy sinh cao cả và thầm lặng của người chiến binh vì nước quên mình.

“Nhạc lính” mà ta nghe được trong những lời ca tiếng hát Nhật Trường không sắt máu, không hận thù mà chỉ có những…

Nếu anh có về khi tàn chinh chiến
xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em…
(“Tạ từ trong đêm”)

và những…

Nếu một mai khi hòa bình
anh sẽ trở về như giấc mơ
cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm
mình yêu nhau như khi vừa mới biết nghe em…

Từng đêm không còn tiếng súng
ngủ đi em, ngủ cho yên…
(“Lời cho người yêu nhỏ”)

“Lời cho người yêu nhỏ” là bài hát nói về những giấc mơ, những nỗi khát khao của những người lính, những người tình. Người nhạc sĩ ấy, người ca sĩ ấy, ông có mơ mộng lắm không?...

Nhật Trường, ông từng có những giấc mơ như vậy, ông từng hát về những giấc mơ như vậy. Hạnh phúc, trong những câu hát của Nhật Trường, vẫn luôn là những nỗi đợi chờ, những niềm khát khao. Hạnh phúc ấy, tiếc thay, như những giấc mơ không đến bao giờ... Tất cả vụt biến mất. Cơn bão của lịch sử năm 1975 đã vùi dập phũ phàng, đã nhận chìm và cuốn phăng đi tất cả. Hạnh phúc ấy mãi mãi chỉ là những giấc mơ. Những giấc mơ rạn vỡ, những giấc mơ ngậm ngùi.

Nhật Trường, ông đã sống cùng những giấc mơ đó, đã chết cùng những giấc mơ đó. Cho đến những phút cuối của cuộc đời ông vẫn chưa hề từ bỏ những giấc mơ đó.

Sau ngày ông mất, trong lúc xếp dọn lại đồ đạc trong kho, tình cờ tôi đọc được một mẩu tin trong chồng báo cũ, thật cũ. Mẩu tin ngắn, tôi chắc ít người để ý:
Image
“Nhật Trường Hát Rong Gây Quỹ Xây Tượng Đài.
Quận Cam: Trưa Chủ Nhật 27/2/2000 vừa qua, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường đã tự thực hiện một chương trình văn nghệ ‘hát rong’ trên đường phố Bolsa để gây quỹ xây dựng Tượng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ. Cùng tham dự chương trình văn nghệ thiện nguyện này có nhạc sĩ Xuân Điềm và ca sĩ Mỹ Lan.

Đội chiếc nón rừng có in cờ Việt Nam Cộng Hòa và với quân phục tác chiến, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, cựu quân nhân Quân Lực VNCH, đã ôm tây ban cầm đi giữa đám đông và hát một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông.

Có khoảng một ngàn đồng hương đã cùng tham gia với nhạc sĩ, ca sĩ tên tuổi này. Buổi hát xuống đường gây quỹ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kéo dài đến 5 giờ 30 chiều, tổng số tiền thu được là 15,418.000 mỹ kim.”

“Buổi hát xuống đường” hay “chương trình văn nghệ ‘hát rong’” của Nhật Trường đã thu hút khoảng 1,000 khán giả đồng hương người Việt và quyên góp được trên 15,000 mỹ kim. Những con số không lớn không nhỏ. Chỉ là những con số, nhưng ít nhiều cũng đã thể hiện ý nghĩa công trình mà ông và những bạn đồng hành của ông muốn thực hiện cho bằng được: chiến tranh đã đi qua, nhưng hình tượng hào hùng của người lính chiến vẫn còn sống mãi, vẫn không bao giờ nhạt phai trong tâm tưởng người đời.

Mẩu tin ấy cũng làm tôi nhớ một chuyện nhỏ, chuyện nhỏ thôi nhưng có làm tôi và nhiều người xúc động: Nhật Trường, trong những phút cuối đời, những phút chạm tay vào lằn ranh sống, chết, đã dặn dò người thân trong gia đình cho ông được một lần cuối ngắm nhìn “Tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ”, được một lần cuối trông thấy tận mắt ước mơ cuối đời của ông–của chàng nghệ sĩ khoác cây đàn lên vai làm người hát rong trên đường phố để thu nhặt từng đồng bạc nhỏ cho công trình ấy–sau cùng đã thành tựu.

Gần ba mươi năm sau ngày chiến tranh kết thúc, trên mảnh đất của người Việt tỵ nạn này, tượng đài chiến sĩ ấy đã mọc lên, ngọn lửa vĩnh cửu ấy đã cháy lên, để vinh danh những người lính từng có một thời chiến đấu bên nhau cho những lý tưởng cao đẹp mà họ thực sự tin tưởng.

Tượng đài hai người lính Việt và Mỹ lặng yên đứng bên nhau, lặng yên dõi mắt nhìn về phương xa như trông đợi, như tìm kiếm những đồng đội của mình… đi mãi không về.
Tượng đài hai người lính lặng câm ấy là tượng đài của những hy sinh thầm lặng, là tượng đài của lòng ngưỡng phục, của niềm tự hào và nỗi tiếc thương.

Những thế hệ hôm nay và mai sau, những đứa bé sinh ra sau chiến tranh, những đứa bé sinh ra trên quê hương thứ hai này, như đứa bé con trai ông, mai kia lớn lên, những lần về qua nơi ấy, đứng dưới chân tượng đài ấy, ngước mắt nhìn pho tượng hai người lính lặng câm ấy, sẽ hiểu được vì sao người cha thân yêu của mình, trong “giây phút tạ từ” cuộc sống tươi đẹp, vẫn ước ao được ghé thăm một lần cuối, được đưa tay chào một lần cuối pho tượng hai người lính ấy.

Sau ngày Nhật Trường lìa đời, người ta nhắc nhiều đến ông, nói nhiều về ông (hơn cả lúc ông còn sinh thời). Nhiều bài báo, nhiều chương trình phát thanh, phát hình, văn nghệ, ca nhạc… ngợi ca và tôn vinh ông, như một việc làm, một thái độ trân trọng của quần chúng dành cho người từng có những cống hiến lớn lao và ý nghĩa cho cộng đồng, cho xã hội đương thời. Có điều, nhiều phần người ta nói về ca khúc này, ca khúc kia của Trần Thiện Thanh hơn là nói về tiếng hát của người ca sĩ đã làm cho những ca khúc ấy được người đời biết đến và yêu thích.

Trong một chương trình ca nhạc DVD tôi được xem qua (Asia 50 – Anh Không Chết Đâu Anh / Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, Tình Yêu, Cuộc Đời và Sự Nghiệp), tiết mục tôi “chịu” nhất là phần trình diễn của nhóm ca sĩ trẻ, những ca sĩ sinh ra hoặc lớn lên ở hải ngoại, nghĩa là ra đời sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. “Tình thư của lính”, ca khúc được các em trình diễn là một bài “nhạc lính” của Trần Thiện Thanh mà ngày xưa Nhật Trường vẫn hay “khoác áo treillis” trình diễn trên các sân khấu, và rất được tán thưởng. Các ca sĩ mới mẻ, trẻ trung này có thể không hiểu gì nhiều lắm về cuộc chiến mà máu xương của thế hệ cha anh các em đã đổ xuống, và cũng chưa hề trải qua một ngày nào đời sống quân ngũ; thế nhưng, các em đã “cảm” được bài nhạc ấy cách nào đó, đã hát thật say sưa bài nhạc ấy bằng nhịp điệu vui tươi, bằng tiết tấu sôi động trong hoạt cảnh các chàng lính trẻ “vui đời quân ngũ”. Các “chàng lính trẻ” ấy đã hát hay… không thua gì Nhật Trường.

Nhiều tên trong đơn vị gọi đùa “anh chiến sĩ của mộng mơ”…

Trong một thoáng, tôi “bắt” được câu hát ấy, và trong một thoáng tôi đã nhận ra anh, nhận ra Nhật Trường, nhận ra Trần Thiện Thanh. Anh phải là “anh chiến sĩ của mộng mơ” trong câu hát ấy. Các ca sĩ trẻ trung ấy, thế hệ tiếp nối ấy, đã gọi tên anh như vậy.

Tiết tấu nhộn nhịp của bài hát ấy, những khuôn mặt rạng rỡ ấy, những ánh mắt tươi vui ấy và những bước nhảy sinh động ấy tựa hồ những bàn chân tiếp bước những bàn chân, những thế hệ tiếp nối những thế hệ, rộn ràng theo nhau lên đường đi xây lại những ước mơ chưa thành tựu của những người đã nằm xuống cho một ngày mai tươi sáng về trên quê hương.

Nỗi mất mát, thiệt thòi lớn nhất sau cái chết của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh là chúng ta mất đi một lúc đến hai con người nghệ sĩ, một ca sĩ và một nhạc sĩ, rất gần gũi với quần chúng và rất được quần chúng yêu mến. Những mất mát, thiệt thòi ấy làm sao có thể bù đắp được!

Nhật Trường, hay Trần Thiện Thanh, ông không dễ gì chết được, không hẳn là theo cách mà người ta vẫn gọi ông, “Anh không chết đâu anh”, mà bởi vì ông vẫn sống cùng với những bài hát của ông, cùng với tiếng hát của ông. Những bài hát vẫn còn ở lại cho dù người nhạc sĩ ấy, người ca sĩấy đã đi xa. Những bài hát mỗi lần nghe cất lên từ giọng hát nào là mỗi lần người ta lại nhớ đến ông, lại nhớ đến tiếng hát ông, và lại nói với vẻ tiếc nhớ, ngậm ngùi, “Bài này không ai hát qua được Nhật Trường”. Và cứ mỗi lần nghe nhắc đến tên ông như thế, ta cứ ngỡ như ông vẫn còn quanh quẩn đâu đây, ngỡ như ông vẫn còn ở với chúng ta, như là một câu hát của ông vẫn được nhiều người nghe, nhiều người hát, “Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính”.

Cám ơn Nhật Trường, cám ơn tiếng hát đã gợi nhớ trong ta những kỷ niệm ấm áp về những ngày vui mơ hồ và những tháng năm tươi đẹp.

Đối với những người từng có một thời yêu thích những khúc hát Trần Thiện Thanh, từng có một thời rung cảm vì giọng hát Nhật Trường, có lúc nào bất chợt nghe lại giọng hát nồng nàn, tha thiết ấy cất lên đâu đó, ngỡ như bất chợt lật lại những trang sách cũ, lòng bồi hồi gặp lại những bông hoa ép khô của một mùa kỷ niệm. Những khúc hát êm đềm và quen thuộc ấy luôn đánh thức trong ta những giấc mơ ngọt ngào, luôn gợi lại trong ta nỗi tiếc nhớ xa xôi về tiếng hát của một mùa nào lãng mạn.

Rồi đến một chiều phai nắng…

lê hữu

Posted: Fri Feb 20, 2009 6:55 am
by thienthanh
Image

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?
BS. Nguyễn Quang Tuấn

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất hay gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh van tim... Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.

Những ai có nguy cơ bị TBMMN?
Chảy máu não.

TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp - hở van tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị stress nặng hay thường xuyên.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm song hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp. Sơ đồ mạch máu não.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao hay những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ hay bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất hay gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi... phù hợp với sức khỏe.

Posted: Sat Feb 21, 2009 6:24 am
by vuphong
Vượt qua nỗi đau

Vũ Ðình Trọng/Người Việt

Chiều Thứ Hai, tôi nhận được một email buồn do một người bạn gởi tới. Tin một người phụ nữ quyên sinh trong thời buổi kinh tế đang ngày càng khó khăn chắc cũng chìm ngập trong hàng trăm tin buồn trong ngày, nhưng sao tôi vẫn không khỏi ngăn tiếng thở dài. Có lẽ do chị là người Việt Nam, anh cũng là người Việt Nam lại đang thất nghiệp, và cũng có lẽ, vì anh chị còn hai đứa con, trong đó một đứa bị bệnh si khờ từ nhỏ.

Mất vợ, người đã cùng mình chia sẻ vui buồn suốt 28 năm là nỗi đau nát lòng.

Mất mẹ dù ở tuổi nào đi nữa, cũng là mất nửa cuộc đời!

...

Hôm qua, dù không quen biết, tôi cũng điện thoại đến anh để chia buồn, nhưng lại được gặp anh Ðông, một trong những hàng xóm tốt bụng đang phụ anh làm lễ liệm cho chị tại nhà quàn Rose Hill, thành phố Alhambra. Buổi lễ đầu tiên dành cho người phụ nữ đáng thương này chỉ có người chồng và đứa con gái 17 tuổi. Chiếc khăn tang còn lại dành cho đứa con trai bệnh tật mà anh Ðức (người chồng) chưa dám báo tin. Anh Ðông cho biết vì sợ con trai bị sốc, quẫn trí khi nghe tin mẹ mất nên anh Ðức chỉ nói với con là mẹ nằm ở bệnh viện.

Một lát sau tôi điện thoại lại thì được gặp anh Ðức. Giọng nói anh trầm tĩnh, nhưng tôi cảm nhận được nỗi đau mà anh đang gánh chịu. Anh nói chiều nay, anh phải cho con mình đối diện với sự thật, “phải cho cháu vào gặp má cháu lần cuối.”

Tôi chợt nhận ra, nỗi đau của anh đang bị nhân đôi!

...

Trước 1975, anh là một người lính VNCH, Trung Úy Nguyễn Văn Ðức, phân chi khu trưởng xã An Long, quận Ðồng Tiến, tỉnh Kiến Phong. Sau ngày miền Nam “gẫy súng”, như bao nhiêu đồng đội khác, anh vào tù sáu năm, sau đó vượt biên và định cư tại Mỹ vào năm 1985 với hai bàn tay trắng.

Năm 1990, anh quen chị, và hai kẻ nghèo khó gặp nhau trên xứ lạ quê người, quyết định cùng nhau xây dựng hạnh phúc với hai bàn tay trắng. Anh làm tại một hãng sản xuất khung hình, chị làm phụ bếp cho nhà hàng Phong Dinh. Năm 1992, đứa con gái, Lucky Nguyễn, ra đời trong niềm vui của anh chị. Ba năm sau, đứa con trai, Tommy Nguyễn, ra đời nhưng lại bị bệnh si khờ, thế là anh chị dồn hết tình thương cho đứa con trai đáng thương.

Cuộc sống của anh chị chắc cũng giống như cuộc sống hàng ngàn gia đình Việt Nam khác tại đây, tuy khổ cực nhưng hạnh phúc, một thứ hạnh phúc đơn giản của những người yêu nhau, lo cho nhau. Và để lo cho gia đình, bảy năm trước chị quyết định ở nhà để chăm sóc cho con cái. Một mình anh bươn chải, tuy khó khăn, nhưng cũng đủ đùm bọc gia đình.

Ðầu năm 2008, anh bị thất nghiệp. Nền kinh tế Hoa Kỳ bị suy thoái đã ảnh hưởng đến chính gia đình anh. Tiền nhà lại mỗi lúc một tăng, nếu trước kia chỉ có $600 một tháng thì nay là $1,100. Tiền dành dụm, chắt bóp bao nhiêu năm phải mang ra dùng vì tiền trợ cấp thất nghiệp không đủ trang trải chi phí hàng tháng. Anh Ðức kể:

“Chúng tôi chỉ thuê được căn nhà một phòng tại thành phố Rosemead. Khi con gái lớn, chúng tôi nhường cho cháu căn phòng ngủ đó, còn lại ngủ ở ngoài. Nhà tôi sống cũng rất đơn giản, có gì ăn nấy, không bon chen ngoài đời. Chúng tôi từ nghèo khổ đi lên nên bà xã tôi cũng quen rồi nên sống được. Bà ấy chỉ nghĩ nhiều tới con cái thôi. Tiền nhà ngày càng mắc, chỉ vì ở đó thuận tiện cho con tôi đón xe bus đi học nên tôi mới ở lại. Nhưng chắc lo cho vợ tôi xong, tôi phải kiếm chỗ khá rẻ hơn thôi, rồi ráng kiếm việc làm lo cho hai con.”

Chị quyên sinh không phải vì bế tắc trong cuộc sống, và có lẽ trong lúc đi tìm cái chết cho mình, chị cũng không biết mình đang làm gì. Anh Ðức cho biết:

“Khi đến tuổi mãn kinh, do kích thích tố lên nhiều quá nên bà xã tôi rất khó chịu trong người. Mấy tháng nay bà ấy không ăn được, không ngủ được, người lúc nào cũng thấy bức rức khó chịu. Thấy vợ ngày càng yếu đi mà không biết làm sao. Bác sĩ nói bà xã tôi bị thâm thần dạng nhẹ. Mặc dù tôi phát hiện vợ mình quyên sinh nhưng cũng không cứu kịp.”

Trong khó khăn mới biết tình đồng hương như thế nào. Ngày chị mất, hàng xóm làng giềng xúm lại giúp đỡ, chỉ tội cho Tommy, ngơ ngác không biết mẹ mình đi đâu.

“Khu tôi ở có một số gia đình người Việt. Làng xóm, anh trong hội đoàn đã giúp tôi rất nhiều về vật chất và tinh thần khi vợ tôi nằm xuống. Nhờ họ mà tôi mới có tiền đóng cho nhà quàn để lo cho vợ tôi. Lúc còn sống, bà xã tôi hiền lắm nên được nhiều người thương. Dù đau đớn vì mất vợ, nhưng tôi cũng thấy an ủi phần nào vì tình thương của hàng xóm láng giềng.”

...

Hôm nay chị đã được hỏa thiêu. Cát bụi trở về với cát bụi. Tôi cứ nghĩ đến cảnh chiều qua, anh dắt Tommy lại viếng chị lần cuối mà thấy xót xa. Bao nhiêu năm nay Tommy chỉ biết bám vào mẹ, từ miếng ăn, giấc ngủ. Bao nhiêu năm nay chị luôn ôm con vào lòng vỗ về, che chở, nên tôi chắc rằng dù bị bệnh, Tommy cũng hiểu được nỗi đau mất mẹ, và điều đó cũng là nỗi đau xót của chúng ta.

“Cái khó khăn nhất mình đã vượt qua được rồi, bây giờ phải tiến tới để lo cho hai con thôi.” Anh Ðức chia sẻ, “Tôi đã mất mát quá nhiều, không gì bù đắp được. Anh em, hàng xóm thương lo cho gia đình tôi vậy là đủ rồi. Bây giờ là lúc tôi phải đứng dậy, đi tiếp.”

Tôi cũng tin rằng anh sẽ vượt qua được nỗi đau này vì anh vẫn là một người lính.

Người lính kiêu hãnh sẽ vượt qua nỗi đau, tiếp tục tiến bước.

Vì anh biết, anh là chỗ dựa cuối cùng của hai đứa con thân yêu.

...

Cầu cho chị được yên nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng!

Posted: Sat Feb 21, 2009 6:47 pm
by caolynh
Image

Thân Tặng tất cả các bạn tôi ở khắp nơi trên thế giới chỉ cần lúc nào chúng ta cũng bên cạnh nhau just stand by me

Click to the name of this song Stand By Me
Stand By Me

Posted: Mon Feb 23, 2009 6:27 am
by thienthanh
10 điều nên biết cho đời luôn đẹp
1. Khi gặp được người mà bạn thật sự yêu thương:

Hãy nỗ lực giành lấy cơ hội trở thành một nửa của người ấy bởi vì nếu người ấy ra đi, tất cả sẽ không còn kịp nữa.


2. Khi gặp một người bạn có thể tin tưởng được:

Cần giữ quan hệ tốt với người đó vì trong cuộc đời mỗi người, gặp được tri kỷ không phải là điều dễ.


3. Khi gặp người đã từng giúp đỡ bạn:

Nhớ tỏ thái độ cảm kích đối với người ấy vì họ đã mang lại sự thay đổi trong cuộc đời bạn.


4. Gặp người đã từng yêu bạn:

Nên nở nụ cười cảm kích với họ vì đã giúp bạn hiểu thêm về tình yêu.


5. Gặp người từng ghét cay ghét đắng bạn:

Nên cười xã giao với họ vì họ làm bạn trở nên kiên cường hơn.


6. Gặp người đã từng phản bội bạn:

Nên nói chuyện với họ vì nếu như không phải họ, ngày hôm nay bạn sẽ không hiểu biết gì về thế giới này.


7. Gặp người bạn đã từng yêu:

Nên chúc phúc cho họ, bởi vì khi yêu, bạn chẳng đã từng mong muốn họ vui vẻ hạnh phúc đó sao?


8. Gặp người đi qua vội vàng cuộc đời bạn:

Cần cảm ơn họ đã đi qua cuộc đời này của bạn, bởi vì họ là một bộ phận sắc màu trong cụôc sống phong phú và đa dạng của bạn.


9. Gặp người đã từng hiểu lầm bạn:

Hãy nhân thể giải quyết sự ngộ nhận, bởi vì bạn có thể chỉ có một cơ hội này để giải thích mà thôi.

Và hãy cảm ơn một nửa của bạn hiện nay bởi vì người ấy đã yêu bạn, vì bạn và người ấy đang hạnh phúc.


Hãy yêu đời yêu người và yêu chính mình.