Posted: Sat Dec 06, 2008 6:00 am
Hoa Kỳ xoay trở ra sao?
Mới và cũ trong chuyện đối ngoại của Mỹ
Nguyễn Xuân Nghĩa
Mới và cũ trong chuyện đối ngoại của Mỹ
Nguyễn Xuân Nghĩa
Từ nhiều năm trước, khi mở ra mục này (“Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài”) người viết có chủ đích - và giao hẹn trước với ban biên tập - là sẽ thiên về chuyện quốc tế: các nước nhìn Hoa Kỳ ra sao, đối phó thế nào, có gì đúng có gì sai... Lý do chính là vì người Mỹ - và truyền thông Hoa Kỳ - có cảm tưởng là biết hết về thiên hạ sự mà lại hiểu rất ít về nguyên nhân của nhiều chuyển động quốc tế nên cứ ngạc nhiên vì thế giới lại có ác cảm với thiện chí của mình. Cột báo này không có mục đích bênh vực ông Bush hay đảng Cộng Hòa, độc giả mà đọc kỹ thì tất thấy!
Bây giờ, khi nước Mỹ có lãnh đạo mới, ta sẽ làm một ngoại lệ, khá dài, là “nhìn từ bên trong ra ngoài”, xem Hoa Kỳ sẽ xoay trở ra sao với thiên hạ sự?
Mặt trời mọc cùng tiếng gà gáy
Tự cổ kim, mọi lãnh đạo chính trị đều nghĩ là ta mà cầm quyền là sẽ mở ra vận hội mới, theo kiểu con gà - nhờ mình gáy mà mặt trời mọc. Thực tế thì trong lãnh vực đối ngoại, lãnh đạo mới tại Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà họ không chi phối được. Gáy thì gáy chứ mặt trời lặn thì gà cũng lên chuồng. Hay vào nồi.
Yếu tố thứ nhất, khi tranh cử, họ nói sẽ áp dụng đường lối này chủ trương nọ, chứ khi đắc cử họ vẫn gặp yếu tố bất ngờ, thí dụ là vụ khủng hoảng tài chánh, hay số phiếu của cử tri.
Khi tranh cử năm 2000, Thống Ðốc Bush muốn tập trung vào nội trị và có chủ trương đối ngoại khiêm cung: không áp đặt giá trị của Mỹ trên xứ khác, không đem quân đi “xây dựng quốc gia” cho xứ khác. Ông còn đả kích chính quyền tiền nhiệm là đã can thiệp vào Kosovo. Khi đắc cử, Bush gặp vụ khủng bố 9-11 và đảo ngược chủ trương hòa hoãn khi tranh cử, tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo - mà giờ này ông vẫn chưa biết đặt tên ra sao là đúng - và đề cao việc phát huy dân chủ để giải thích ngược chuyện Iraq. Hứa hẹn “phát huy dân chủ” cho Việt Nam là một nhắc nhở... chua chát! Tổng Trưởng Quốc Phòng Dick Cheney thì can ông Bush cha không lật đổ Sadam Hussein năm 1991, chứ Phó Tổng Thống Cheney bị coi là con diều hâu hắc ám của vụ tấn công Iraq!
Yếu tố chi phối thứ nhì là cục diện toàn cầu sau khi đắc cử, trong đó có di sản do chính quyền cũ gây ra hay để lại. Yếu tố thứ ba là chủ trương tạm gọi là cố hữu của hai đảng đối với các vấn đề quốc tế. Ðó là đề mục chính của bài này.
Bàn cờ bốn góc
Cục diện toàn cầu hiện có ít ra bốn múi, như một bàn cờ bốn góc.
Tổng thống mới chưa thoát ra khỏi thế cờ do khủng bố al-Qaeda đặt ra và cách ông Bush ứng phó. Bốn hậu quả của bài toán khủng bố là 1) làm sao ổn định Iraq để rút quân tăng cường cho chiến trường Afghanistan; 2) đồng thời đấu trí với Iran để bảo đảm an ninh cho Iraq và khu vực Trung Ðông; mà 3) không bị Iran bắt bí và chế tạo võ khí nguyên tử; và 4) trấn an các xứ Hồi giáo khác, nhất là Pakistan, đừng theo con đường khủng bố. Mà phải xử lý ngần ấy chuyện trong khi vẫn phòng ngừa sự xuất hiện của các lực lượng al-Qaeda nội hóa, khủng bố tự phát, từ Maroc tới Nam Dương - vụ Mumbai của Ấn bị tấn công đêm 26 là một nhắc nhở, với hung thủ có thể xâm nhập từ Pakistan - và tránh xung đột giữa hai cường quốc nguyên tử là Ấn Ðộ và Pakistan. Trong khi đó, Hoa Kỳ bị cạn tiền, bội chi ngân sách nặng ở giữa thời chiến.
Góc thứ hai, vì bảy năm tập trung vào hồ sơ Hồi Giáo, Hoa Kỳ đã thả nổi cho Liên bang Nga tái xuất hiện như một đại cường đang đòi lại ảnh hưởng bị mất sau khi Liên Xô sụp đổ. Vì vậy, Nga tấn công Georgia và uy hiếp các nước trong khối Xô viết cũ. Làm sao ngăn chặn sự tái phát của Chiến Tranh Lạnh khi Âu Châu bị rạn nứt giữa hai khối mới và cũ? “Âu Châu cũ” là Tây Âu thì cầu hòa và vẫn cứ đòi dạy dỗ Hoa Kỳ nhưng sợ bị Nga bắt bí về năng lượng. “Âu Châu mới” là Ðông Âu thì đứng trước mũi dùi của Nga nên chỉ trông cậy vào tấm giáp rất mỏng của NATO. Mà làm sao chặn Nga tại Ðông Âu nhưng không để Nga phá thối tại Trung Ðông, bằng cách yểm trợ Iran chẳng hạn?
Góc thứ ba, Nga không chỉ muốn thọc tay vào Ðông Âu hay Cận Ðông mà đã vào Nam Mỹ. Tại vùng Cận Ðông, Mỹ làm sao củng cố quan hệ chiến lược với Turkey để đóng chốt tại Hắc Hải mà không gây xáo trộn cho Iraq vì sắc dân Kurd có mặt tại cả Iraq và Turkey? Làm sao vận dụng Israel canh chừng Iran mà không gây họa vì Israel có thể đánh phủ đầu Iran trước khi Tehran có võ khí nguyên tử? Làm sao bảo vệ được vùng ảnh hưởng tại Nam Mỹ khi Venezuela đang muốn làm đầu cầu của Nga và hậu cứ cho nội chiến tại Colombia và Bolivia? Và làm gì khi láng giềng Mexico có thể tan rã vì khủng hoảng kinh tế trong khi các tổ chức ma túy đã bành trướng hoạt động vào tận lãnh thổ Mỹ?
Trong khi ấy, và đây là góc thứ tư, Trung Quốc là xứ có lợi nhất nhờ bảy năm bận rộn của Mỹ, mà cũng là quốc gia bất ổn nhất trong nội bộ với khủng hoảng có thể bùng nổ nếu kinh tế toàn cầu sa sút quá lâu. Trung Quốc là bài toán về an ninh và kinh tế của Mỹ mà cũng là vấn đề cho các đồng minh thuộc loại bán đảo hay hải đảo của Mỹ tại Ðông Á, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore và nhất là Úc Ðại Lợi. Cái nhân khủng hoảng tại Trung Quốc đã có, cái duyên của khủng hoảng có thể là vụ suy thoái toàn cầu. Tổng thống mới của Mỹ không thể thả nổi Ðông Á, nơi mà cục diện dễ gây bất ngờ, nhất là khi Trung Quốc có loạn. Và gieo họa cho Việt Nam.
Bất cứ ai lên lãnh đạo Hoa Kỳ đều phải giải quyết các bài toán ấy để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Cách giải quyết đôi khi có khác vì hai hướng khác biệt: chúng ta trở lại quan điểm truyền thống rồi sự chuyển hóa dần về đối ngoại của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ.
Cộng Hòa và thuật Vương Bá
Trước khi có Ronald Reagan, thần tượng của nhiều đảng viên Cộng Hòa, kể cả Nghị Sĩ John McCain, là Tổng Thống Teddy Roosevelt, một ông tổng thống bán văn bán võ đã đưa Mỹ lên vị trí đại cường vào đầu thế kỷ XX với chủ trương có ảnh hưởng tới lý luận Cộng Hòa. Chủ trương này hàm ý Mỹ là siêu cường hải dương, sẽ bảo vệ tới cùng quyền lợi chiến lược của mình mà không muốn bị ràng buộc vào các định chế quốc tế vì có khi bị cột tay hoặc bị lôi vào việc bảo vệ xứ khác mà không liên hệ gì tới quyền lợi của Mỹ.
Nôm na là ích kỷ và cương cường - như một đế quốc bá quyền.
Ðấy là đặc tính đầu tiên của Cộng Hòa xuất hiện từ đầu thế kỷ 20. Và hai Thế chiến còn khiến phe Cộng Hòa càng nghi ngờ sự phiêu lưu, phân hóa hay bạc nhược của Âu Châu.
Cũng từ chủ trương thực tiễn đầy hoài nghi ấy, trong đảng Cộng Hòa còn nảy ra xu hướng “tự cô lập”: tránh khỏi dính vào thiên hạ sự để vì đó mà phải chữa cháy cho thiên hạ. Khi trận Trân Châu cảng bùng nổ cuối năm 1941 khiến Mỹ phải tham chiến, trào lưu cô lập ấy mất ảnh hưởng, nhưng vẫn chi phối một số thành phần cực hữu trong đảng.
Trong cuộc tranh cử vừa qua, Dân Biểu Ron Paul tại California thuộc xu hướng đó, với lý luận chủ hòa vì không muốn Mỹ dính vào thiên hạ sự nên lại gần với lập trường phản chiến của phe cực tả bên đảng Dân Chủ! Năm xưa, ứng cử viên gốc Cộng Hòa là Ross Perot cũng thuộc phe tự cô lập đó, chia mất phiếu của ông Bush cha nên ông Clinton thắng cử năm 1992. Chủ trương tự cô lập từ phe cực hữu còn có một biến thái kinh tế là tinh thần “bảo hộ mậu dịch”, rần gần với phe cực tả bên đảng Dân Chủ. Vì vậy, xếp loại “tả hữu” để phân biệt lập trường là quá đơn giản!
Nhưng tự cô lập là phe thiểu số, biên tế, ngoài rìa, của đảng Cộng Hòa, là nhờ... Eisenhower.
Sau Thế Chiến, trong đảng nảy ra hai hướng, tự cô lập là ông Robert Taft và can thiệp quốc tế là Tướng Eisenhower, anh hùng chiến cuộc Âu Châu. Eisenhower thắng cử và kéo đảng qua hướng can thiệp. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh thời đó, phải can thiệp dưới lá cờ vương đạo, giữa Thiện và Ác. Thiện là thế giới tự do và Ác là khối cộng sản.
Từ đó, trong đảng vẫn có hai trào lưu song hành, thứ nhất là cực kỳ thực tiễn bá đạo, tới độ sẵn sàng hợp tác với một chế độ cộng sản để tấn công một chế độ cộng sản khác, là mưu lược của Nixon và Kissinger (những ai tin rằng Cộng Hòa là đảng “chống Cộng” đã quên chuyện này rồi). Trào lưu thứ hai, trọng luân lý, là chủ trương “vương đạo” của Reagan và phần nào - mà phần nào thôi - của ông Bush 43: Hoa Kỳ là đế quốc có từ tâm và đạo đức. Sau khi Liên Xô sụp đổ, vai trò luân lý ấy mất nội dung trong cả chục năm và chỉ hồi sinh với cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo ngày nay.
Cho nên, nếu thắng cử, đảng Cộng Hòa chưa rõ sẽ ngả theo hướng thực tiễn kiểu Nixon hay đạo đức kiểu Reagan. Nhiều phần sẽ khai triển tiếp chiến lược dồn quân của Bush tại Iraq là... đàm phán với kẻ thù Taliban tại Afghanistan để diệt al-Qaeda và rút lui, như Bush đã hòa giải với phe Sunni đã từng bị trấn áp trong bốn năm liền, để mua hòa bình tại Iraq. Nhưng do ảnh hưởng luân lý cố hữu, đảng này cũng có thể thành lập liên minh các nước dân chủ để bảo vệ hòa bình thế giới theo kiểu Reagan. Ngoài ra, đảng Cộng Hòa còn có một đặc tính địa dư chiến lược khác, xuất phát từ thời Teddy Roosevelt, là ngó về Á Châu hơn chỉ chú ý tới Âu Châu như thói quen của Dân Chủ.
Bây giờ, sau khi thất cử, đảng Cộng Hòa phải xây dựng lại cơ sở và lý luận. Hãy để họ tự kiểm thảo và vẽ lại bản đồ, mà nhìn qua bên kia: đảng Dân Chủ.
Dân Chủ trước ngã ba Chiến, Hòa và Chạy
Về truyền thống, ta không quên là ba trận đại chiến trong thế kỷ 20 đều xảy ra dưới thời các tổng thống Dân Chủ: Woodrow Wilson với Thế Chiến I, Franklin Roosevelt với Thế Chiến II và Harry Truman với Chiến Tranh Cao Ly. Phải kể trận thứ tư là chiến tranh Việt Nam, khởi đầu từ Kennedy và Johnson. Ðảng Dân Chủ không chủ chiến mà cứ lâm chiến vì lý tưởng truyền thống ấy! Từ kinh nghiệm đó ta có thể nhìn ra ba đặc tính về đối ngoại của đảng này.
Ðặc tính thứ nhất là trì hoãn việc tham chiến tới cùng nên thường lâm chiến vì phản ứng chứ không chủ động. Ðặc tính thứ hai, nếu lỡ có phải lâm chiến thì lập liên minh chứ không đơn phương can thiệp, để đồng minh lãnh tổn thất hơn Mỹ. Thứ ba, sau chiến tranh thì ưu tiên của Mỹ là liên kết với Âu Châu để xây dựng các cơ chế quốc tế có chức năng bảo vệ hòa bình, mà thực tế chẳng bảo vệ được gì, như Hội quốc liên thời Wilson, Liên Hiệp Quốc hay Minh Ước NATO thời Roosevelt và Truman.
Từ thất bại đó, đảng Dân Chủ bị xé làm ba xu hướng nên thường phân vân giữa ngã ba đường.
Thứ nhất là phản chiến do ảnh hưởng của trí thức thiên tả nhuốm mùi thân cộng từ Âu Châu. Xu hướng cực tả này kết án Mỹ về mọi sự trên thế giới và trong nước Mỹ, và thù ghét quân đội tới xương tủy. Họ có ảnh hưởng mạnh trong truyền thông và giới nghệ sĩ. Barack Obama xuất thân từ đó ra, dù là càng có hy vọng nắm quyền thì càng nhích về cánh hữu của ông, về phía trung tả.
Xu hướng thứ hai là các chính khách thời cơ. Họ theo ngả thực tế về quyền lợi nên không ngại lâm chiến, nhưng khi có khó khăn thì đảo lập trường thành chủ hòa. Ðiển hình là từ anh em Robert và Edward Kennedy thời xưa cho tới đa số dân cử ngày nay trong đảng, kể cả phó tổng thống tân cử Joe Biden, vốn đồng ý tấn công Iraq y như Hillary Clinton, rồi lại đổi ý và biện bác linh tinh.
Xu hướng thứ ba là những người nhìn vào đại thế mà định nghĩa lại cuộc chơi cho văn minh hơn, như xây dựng thế liên kết quốc tế - ưu tiên là Âu với Mỹ - qua đàm phán hơn là quân sự để duy trì hòa bình. Dụng lễ hơn dụng binh! Ðó là trường phái thực tiễn và quốc tế của thành phần ưu tú, học giả. Ða số đã tham gia chính quyền Clinton và sẽ trở lại nội các Hillary nếu bà ta không thất cử.
Sự phân hóa về lý luận của đảng khiến từ 10 năm qua phe Dân Chủ chỉ thắng cử ba trong 10 lần tranh cử và hai chính quyền Carter và Clinton cũng gieo mầm cho nhiều xung đột về sau. Cách mạng Hồi Giáo tại Iran và al-Qaeda đã phôi thai tại Afghanistan từ thời Carter, rồi bành trướng vào thời Clinton. Sự thể ấy cũng khiến Hillary bị loại ở vòng sơ bộ vì có quan điểm thực tế về Iraq nên mất phiếu cử tri phản chiến và cực tả. Obama phải tựa vào phe phản chiến để vượt qua Hillary với số phiếu đại biểu cực nhỏ và có khẩu hiệu tranh cử mờ ảo để thỏa mãn cả ba xu hướng này: cắt giảm quân phí, triệt thoái khỏi Iraq, đàm phán vô điều kiện với Iran và vận dụng giải pháp quốc tế để duy trì hòa bình thế giới.
Ngày nay, còn ai nhớ đến các khẩu hiệu ấy không?
Obama giữa ba dòng thác
Qua cách tuyển chọn ban tham mưu đối ngoại, Obama cho thấy ông sẽ tiến hành chủ trương trung tả như Hillary, thậm chí trung hữu của... McCain. Ông được phe Cộng Hòa vỗ tay, dù bắt đầu bị cánh cực tả đả kích.
Obama mời Hillary làm ngoại trưởng, lưu ông Robert Gates ở trách vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng để sẽ cùng Tướng David Petreaus tái diễn thành thích Iraq tại Afghanistan, do dự trong đối sách về trại tù Guantanamo. Ông còn cho biết là đã gặp Brent Scowcroft, nhân vật dày kinh nghiệm đối ngoại đã từng là Cố Vấn An Ninh của ông Bush cha. Nếu thành công, Obama có thể bất chấp xu hướng phản chiến vì có một đa số cao hơn, gồm cả thành phần đã từng bỏ phiếu cho Bush hay McCain.
Nếu không, ông sẽ là Bush 43!
Tổng Thống Obama sẽ xoay trở giữa ba xu hướng ấy của đảng Dân Chủ trong Quốc Hội - vốn ưu lo cho cái ghế hơn là phục vụ tổng thống. Khi tổng thống hết được quần chúng hậu thuẫn, họ là thành phần đầu tiên sẽ chống, từ trong đảng: Lyndon Johnson hiểu như vậy - Bush cũng thế, bên phía Cộng Hòa!
Bơi giữa ba dòng thác, Obama phải đối phó với nhiều thách đố không thể thoái thác, ngoài vụ khủng hoảng tài chánh. Thí dụ nóng nhất: trận thử lửa với Liên Bang Nga sẽ là vấn đề nếu ông không chọn nổi ưu tiên là đối phó với khủng bố Hồi Giáo hay Vadimir Putin tại đại lục Âu-Á.
Obama có thể ngả theo xu hướng chủ hòa cổ điển của Dân Chủ là nhường quyền quyết định cho các trung tâm bất lực quốc tế là Liên Hiệp Âu Châu và Liên Hiệp Quốc. Lùi mãi không xong, khi cả Georgia và Ukraine đều trôi vào quỹ đạo Nga và Ðông Âu bị uy hiếp, thì Hoa Kỳ và NATO phải lâm chiến vì phản ứng. Lúc ấy mới thấy NATO thiếu ruột vì sức mạnh quân sự bị tiêu hao vào Aghanistan và tùy thuộc quá nhiều vào Mỹ. Mà ngân sách quốc phòng Mỹ có thể phải giảm như Obama tuyên bố nhiều lần. Nếu khủng hoảng bùng nổ, quan hệ giữa Mỹ và Âu Châu sẽ suy sụp và Âu Châu phân hóa sẽ gây ra nguy cơ đại chiến trong mươi năm tới.
Nổ còn rền hơn quân khủng bố (081126).
Nguyễn Xuân Nghĩa




