Bình Luận , Quan Điểm

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bắc Kinh Không Thể Sử Dụng Vũ Lực Để Dẹp Hết Biểu Tình

Minh Dũng (VNN)
Tờ tạp chí Minh Tinh phát hành tại Hồng Kông vào cuối tuần qua đã có một bài viết với tựa đề ''Sự giới hạn của cách giải quyết bằng vũ lực'' để nói lên viẹc chính quyền cộng sản Trung quốc khó mà sử dụng vũ lực đàn áp cho hết tất cả những cuộc biểu tình kháng nghị tập thể vì nó xảy ra thường xuyên và khắp mọi miền đất nước. Bài báo này viết rằng từ trước đến nay hầu hết mọi cuộc biểu tình kháng nghị tập thể đều bị chính quyền trung ương hay địa phương áp dụng phương cách giải quyết của người cộng sản là huy động công an, cảnh sát, quân đội đến đàn áp bằng vũ lực, bắt bớ, khủng bố những người tham gia biểu tình kháng nghị, nhất là đối với những ai bị tình nghi là kẻ chử động, Thế nhưng đâu có dẹp nổi, bằng chứng là số người và số vụ biểu tình trên khắp cả nước ngày chỉ có tăng chứ không hề giảm. Một tài liệu của bộ Công an Trung quốc cho hay cứ 50 người trở lên xuống đường biểu tình kháng nghị là thế nào cũng xảy ra bạo động và kéo đến bao vây đập phá các cơ quan công quyền. Năm 1993, trên toàn quốc đã xảy ra 8700 vụ, đến năm 2005 số vụ biểu tình kháng nghị tập thể có bạo động và bao vây đập phá trụ sở các cơ quan công quyền tăng lên gấp 10 lần tức là 87 ngàn vụ, và năm 2006 đã trên 90 ngàn vụ. Giáo sư Vu Kiến Vanh của sở Nghiên cứu Phát triển nông thôn thuộc viện Khoa học Xã hội Trung quốc thì 90% các cuộc biểu tình kháng nghị tập thể là của những người bị trưng thu đất đai, ruộng vườn, nhà cửa mà không được bồi thường thỏa đáng, những người bị cưỡng chế rời khỏi nơi cư ngụ hay các công nhân bị đuổi việc, bị áp bức quá đáng. Những người quá bất mãn này chỉ còn biết liên kết lại với nhau để kháng nghị chứ chẳng bao giờ tin vào hệ thống luật pháp, tòa án Trung quốc để thưa kiện, vì họ nghĩ có đi kiện cũng bị xử thua. Giải quyết vấn đề chủ yếu bằng vũ lực, không bằng luật lệ nghiêm minh thì chẳng bao giờ xong chuyện, cứ dẹp xong vụ này là sẽ có vụ khác nổi lên.

Một cán bộ cao cấp là ông Thái Hà đang phục vụ tại trường Đảng ở Bắc Kinh cho hay rằng phải đối ứng với các vụ biểu tình kháng nghị tập thể như thế nào, phương thức trao đổi ý kiến với người dân khiếu kiện ra sao, không phải hể một chút là sử dụng công an, cảnh sát, quân đội đến giải tán bằng vũ lực. Những điều này đã được trường đưa vào giáo trình giảng dạy cho học viên cả mấy năm trước đây, nhưng vẫn chưa thấy áp dụng cụ thể vào thực tế.

Các nhà xã hội Trung quốc thì nói rằng kiện tụng gì khi mà cả ba ngành Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp đều ở trong tay đảng, không lý đảng xử người của đảng là có tội hay sao?. Kiện thua đã đành, không khéo còn bị trả thù tiếp là hết đường sống. Hai thập niên trước những người bị áp ức, trấn lột như thế cũng đã đứng lên phản đối nhưng rất rời rạc, mạnh ai nấy làm, không gắn kết chung lại với nhau như bây giờ nên chính quyền rất dễ dập mà cũng chẳng mấy ai biết đến. Nay đã có nhiều kinh nghiệm nên họ liên kết lại với nhau, hơn nữa với phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại di động, mạng Internet...đã giúp cho việc liên lạc với nhau được mau chóng và gởi thông tin kịp thời cho cả thế giới biết mỗi khi bị nhà nước đàn áp để áp lực chính quyền Bắc Kinh. Trung quốc đã phải mở cửa làm ăn với các nước Âu Mỹ nên họ cũng ngán những chỉ trích của dư luận thế giới, chứ không dám xem thường như thời bao cấp trước đây. Số vụ biểu tình kháng nghị tập thể có bạo động trong năm 2005 hay năm 2006 mà các báo ở Hồng Kông đăng nói là do sự tiết lộ của bộ Công an Trung quốc, chúng tôi chắc chắn con số này không đúng, phải nhân lên ba bốn lần mới hy vọng chính xác vì có khi nào nhà nước cộng sản hay các cơ quan chức năng công bố sự thật đâu.

Một xã hội được đánh giá là ổn định là phải thật sự dựa trên luật pháp, xét xử mọi việc công bằng, không thiên vị, chứ không phải bằng bạo lực, khủng bố hay qua đường lối tuyên truyền của bộ máy cầm quyền. Người ta thường nói thùng rổng kêu to.

Bình Nhưỡng Kháng Nghị Seoul Về Truyền Đơn Thả Ở Bắc Hàn

Các tổ chức người tị nạn cộng sản Bắc Triều Tiên ở Seoul đã thả một số bóng bay sang Bắc Hàn trong đó mang hơn 60 vạn tờ rơi nói về bệnh tật của ông Kim Chính Nhật cho người dân miền Bắc biết khiến Bình Nhưỡng tức tối lên tiếng chỉ trích và quy mọi trách nhiệm cho chính phủ Hàn quốc nếu tình hình giao lưu giữa hai miền trở nên căng thẳng.

Được biết trong hội nghị Quân sự giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên tại Bàn Môn Điếm vào ngày 28/10 vừa qua, Ủy ban quân sự Bắc Triều Tiên đã loan báo cho hay rằng ngày hôm qua (27/10/2008), trên không phận của chúng tôi đã tung bay nhiều truyền đơn phản động do các tổ chức thù địch với nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bắc Triều Tiên thả. Chúng tôi đã biết trước chuyện này và đã yêu cầu chính quyền Seoul phải ra lệnh ngăn cấm, xử phạt thật nặng những người, những tổ chức thả bóng bay đó, nhưng Seoul vẫn làm ngơ vì vậy chúng tôi cực lực lên tiếng kháng nghị và quy mọi trách nhiện cho chính phủ Hàn quốc. Nếu việc này còn tái diễn thì tình hình giao lưu giữa hai miền chắc chắn sẽ trở nên căng thẳng mà trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía chính quyền Seoul.

Ủy ban Quân sự Hàn quốc đáp lại rằng chính phủ Hàn quốc của chúng tôi đã lên tiếng yêu cầu các tổ chức đó không nên thả bóng bay theo như kế hoạch của họ đề ra, nhưng không thể nào xử phạt được vì luật pháp Hàn quốc không cấm người dân làm chuyện đó, hơn nữa nội dung tờ truyền đơn chỉ là các bản tin đã được các nước cho loan tải rộng rãi.

Những người trong bốn tổ chức thả bóng bay đó cho các ký giả hay rằng họ đã thả nhiều quả bóng bay trong đó mang theo hơn 60 ngàn tờ rơi nói về việc ông Kim Chính Nhật đang lâm trọng bệnh mà chính quyền Bình Nhưỡng muốn dấu nhẹm không cho người dân biết, chúng tôi cũng có gởi kèm một số tiền mỹ kim và dồng nhân dân tệ của Trung quốc. Nếu nhà độc tài Kim Chính Nhật không bị bịnh nặng, có thể xuất hiện ngay trước đám đông thì việc gì Bình Nhưỡng phải lo sốt vó lên vậy, chỉ cần ông ta lòi mặt ra 1 phút cũng được là sáu, bảy chục ngàn tờ rơi chúng tôi thả đi chả có giá trị gì mà còn bị mang tiếng là tuyên truyền láo khoét.

Muốn kiểm chứng việc ông Kim Chính Nhật có thật bị lâm trọng bệnh hay không, các ký giả nước phương Tây chỉ còn nước đi săn tin ở những nơi khác chứ chẳng bao giờ trông đợi vào sự tiét lộ từ chính quyền Bình Nhưỡng. Các ký giả Tây phương đã nhắm đến bác sĩ Francis Xavier Roux, Trưởng khoa Thần kinh Ngoại khoa của bệnh viện Sainte Anne Paris, bác sĩ Roux trước đây đã nhiều lần sang Bình Nhưỡng khám bệnh nảo cho ông Kim Chính Nhật. Trên trang điện tử của tuần san Le Point, phát hành ở Pháp, cho đăng tin là ngày 28 tháng 10 vừa qua, bác sĩ Roux đã có mặt tại Bình Nhưỡng, trước đó các ký giả của Le Point cũng đã bắt gặp ông Kim Chúnh Nam, con trai trưởng của ông Kim Chính Nhật, đến bệnh viện Sainte Anne hai lần để gặp bác sĩ Roux. Hãng thông tấn AFP của Pháp cho hay họ đã điện thoại đến phòng làm việc của bác sĩ Roux để xác nhận tin này thì được trả lời là Bác sĩ Roux không đi Bình Nhưỡng chỉ sang Bắc Kinh gặp gở các đồng nghiệp. Các ký giả Nhật thì đã bắt gặp và phỏng vấn được bác sĩ Roux ở phi trường quốc tế Charles De Gaulle vào ngày 23/10/2008, đang chuẩn bị bước lên máy bay đi Bắc Kinh, khi đến nơi bác sĩ Roux đã được sứ quán Bắc Triều Tiên ở Trung quốc đem xe ra đón, qua ngày hôm sau bước lên máy bau đi Bình Nhưỡng. Tất cả các sự việc này đều được thu hình và được nhiều đài truyền hình ở Nhật phát đi.

Sau khi truyền thông Nhật loan tải các bản tin đó thì các phóng viên Pháp kéo đến văn phòng bác sĩ Roux ở Paris hỏi thêm và được trả lời rằng lúc đầu bác sĩ Loux không dự định đi Bình Nhưỡng, nhưng sau khi đã làm xong một số chuyện ở Bắc Kinh, định trở về Pháp thì Bác sĩ Loux thay đổi chươngtrình, đi Bình Nhưỡng để xem lại tình trạng sức khỏe của một số bệnh nhân đã được bác sĩ Loux chữa trị trước đây, trong đó có thể có người con trai trưởng của ông Kim Chính Nhật, chứ chúng tôi không nghe nói gì về chuyện đi Bình Nhưỡng để chữa trị cho người lãnh tụ của Bắc Triều Tiên.

Tuy Bình Nhưỡng vẫn bác bỏ tin ông Kim Chính Nhật bị lâm trọng bệnh, nhưng đến đây thì mọi chuyện đã khá rõ và hầu như hai chính phủ Hàn quốc và Nhật Bản đang âm thầm tìm cách đối phó vì một khi ông Kim Chính Nhật không còn nữa thì chuyện tranh chấp quyền lực khó mà tránh khỏi trong thượng tầng lãnh đạo ở Bắc Triều Tiên, cánh quân đội làm bậy bắn vài quả tên lửa là phiền phức lắm.

MINH DŨNG
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cấm đánh vợ sau 9 giờ tối
Friday, November 14, 2008

Ngô Nhân Dụng

Nhà văn Toni Morrison mới xuất bản một tiểu thuyết mới, kể chuyện mấy phụ nữ sống hồi thế kỷ 17, khi những người Âu Châu đầu tiên sang định cư ở miền Ðông Bắc Hoa kỳ bây giờ. Họ mang “ánh sáng văn minh” tới “tân thế giới,” nhiều sử gia viết như thế. Một trong những món văn minh đó là luật pháp. Giống như các người thuộc phái “pháp gia” đời Chiến Quốc bên Trung Hoa hay các triết gia La Mã cùng thời, những người Anh, người Hòa Lan sang khai phá Mỹ Châu chủ trương rằng xã hội phải có hình luật rõ ràng mới sống chung hòa bình với nhau được. Một trong những bước “tiến bộ” của luật lệ thời đó, bà Morrison đã khám phá ra sau khi đọc các sách cổ, là một điều luật bảo vệ “quyền làm người” của phụ nữ. Một điều luật ở thuộc địa Mỹ Châu xác định rằng “Ðàn ông không được phép đánh vợ mình sau 9 giờ tối mỗi ngày - nếu không có lý do chính đáng!”

Kể câu chuyện trên để thấy hơn ba thế kỷ trước những “người Mỹ” ở đây họ sống với nhau như thế nào. Ðến thế kỷ 21 này không còn ai nghĩ xã hội cần luật lệ bắt các ông phải ngưng đánh vợ từ 9 giờ tối - hoặc nếu đánh thì phải tìm ra lý do chính đáng.

Ba thế kỷ, biết bao nhiêu là thay đổi! Nếu bây giờ có người đem bàn vấn đề “đàn ông chỉ được phép đánh vợ từ mấy giờ đến mấy giờ trong ngày” cho đúng đạo công bằng, chắc hẳn sẽ bị mọi người nhìn như một anh mọi rợ! Bởi vì tất cả những người văn minh hiện nay không ai tưởng tượng được chuyện đàn ông đánh vợ nữa. Ai cũng coi đó là một điều hiển nhiên, tất yếu nó như vậy rồi, không cần phải nói, phải bàn bạc gì nữa. Không có phong trào phụ nữ nào tranh đấu cho quyền không bị chồng đánh. Không tờ báo nào bình luận về quyền đánh vợ, không có đại học nào mở những cuộc hội thảo vấn đề người ta nên đánh vợ vào lúc nào! Nghĩ tới chuyện đó thôi đã chứng tỏ mình là dã man, chưa biết gì về quyền làm người cả!

Cũng tương tự, ở các xã hội văn minh người ta coi quyền tự do hội họp, tự do phát biểu ý kiến là những quyền tự nhiên, đã sinh ra làm người thì ai cũng được hưởng.

Ấy thế mà ở nước Việt Nam thì khác. Ở xứ sở “bốn ngàn năm văn hiến” đó, một công dân không có quyền xuất bản báo nếu không được nhà nước cho phép. Ở các nước văn minh nếu bạn có giấy, có máy in, bạn cứ việc xuất bản tờ báo của bạn. Trong đó bạn muốn viết gì thì viết, trừ phi làm những điều đang bị luật lệ cấm đoán, chẳng hạn như vu khống, mạ lị. Ở đây bạn có quyền mở một mạng lưới trên Internet để “thông tin, giải trí, giáo dục” 24 giờ trên 24 giờ mà không phải xin giấy phép của ông tổng thống Mỹ, ông thống đốc tiểu bang hay ông chủ tịch xã (tất nhiên nhiều người vẫn cẩn thận xin phép “bà xã” hoặc “ông xã” của họ cho an toàn).

Nhưng ở nước Việt Nam Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa thì khác. Tất cả bộ luật báo chí chỉ tóm tắt vào một câu, một câu không cần ghi trong đó: “Cấm mọi người làm báo - nếu không được đảng Cộng Sản cho phép!” Nếu quý vị đàn ông ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có khả năng tìm ra 1001 “lý do chính đáng” để “thượng cẳng tay hạ cẳng chân” với người bạn đời của họ, thì quý vị lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam cũng có 1001 lý do để “quyết” một thằng nhân dân nào đó không có quyền làm báo, làm mạng lưới Internet, vân vân.

Không những thế, nếu đảng Cộng Sản đã lỡ tay cho phép những anh, những chị nào đó làm báo rồi, thì đảng cũng có thể tìm ra 1001 lý do để treo bút các anh các chị, nếu muốn. Một nhà báo đi điều tra chuyện tham nhũng, nghĩ rằng an toàn nhất là mình đi hỏi công an. Công an là tai mắt của nhân dân; công an ngồi trên đầu trên cổ nhân dân; thông tin giúp, suy nghĩ giúp nhân dân để nhân dân khỏi phải tìm tòi, suy nghĩ; công an nói là phải đúng, công an bảo gì mình cứ viết nguyên văn ra như vậy, là khỏi lo nói sai.

Nhưng đâu có ai ngờ trên đầu một ông công an vẫn có ông công an khác, trên đầu ông đó lại còn ông công an khác nữa, ở trên cùng ngồi chễm chệ mấy ông bà trong Bộ Chính Trị! Thành ra nghe một ông công an này nói rằng đúng, lại có ông công an khác bảo rằng sai! Nhà báo nước ta không biết lần mò sao để biết sự thật mà tường trình với nhân dân cả!

Gần đây, khi kể tội hai nhà báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên, một ông tướng công an, thứ trưởng bộ công an, đã nói rằng hai anh Chiến và Hải đã “sai trái” khi biến một câu chuyện bắt người đánh bạc thành câu chuyện tố giác tham nhũng!

Nghe hay thật. Ðối với chế độ công an này thì chuyện mấy ông Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng có tiền để ông Dũng đi đánh cá thua hàng triệu Mỹ kim thì quý ông đó chỉ có lỗi là đánh bạc mà thôi. Ðúng ra, chỉ đáng đem ra đình làng phạt mấy roi mây là đủ rồi. Nhưng các ông này làm sao có được hàng triệu mỹ kim để đem phung phí trong cuộc đỏ đen, đó là điều các nhà báo không được quyền nói tới!

Ðánh bạc là có tội, tham nhũng là việc khác, đã có cả một ủy ban bài trừ tham nhũng lo, do ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu hẳn hòi. Nhà báo được quyền loan tin bắt cờ bạc, như các tờ báo công an vẫn làm. Nhân dân ta suốt ngày được đọc truyện công an bắt cướp, công an bắt sòng bạc, bắt ma túy, quanh năm suốt tháng không cần thắc mắc tại sao một nước “văn hiến chi bang” mà nhiều kẻ cướp, nhiều trùm cờ bạc, trùm ma túy như vậy! Nhưng nhà báo đem chuyện các quan ăn cướp tiền viện trợ của Nhật Bản để làm đường sá rồi đi đánh bạc là xâm phạm vào chức trách của ông thủ tướng!

Trong đầu óc của quý vị tướng tá công an thì các quan chức ai thấy có tiền trước mắt họ lấy bỏ túi là chuyện bình thường! Ðem tiền đó dùng vào việc gì là quyền của các quan! Chỉ có lỗi khi họ đi đánh bạc, mà tệ nhất là đánh bạc rồi còn để bị lộ! Khi xử lý nội bộ với nhau, chắc cái tội mà ông Dũng bị đem ra xỉ vả nặng nhất là tội không cho công an châm mút đủ để đến nỗi bị bắt, làm xấu mặt cả đảng cộng sản mà họ vẫn hãnh diện khoe là “do bác Hồ sáng lập!”

Cho nên có thể nói rằng trong nước Việt Nam của chúng ta hiện nay cũng có một thứ luật dành riêng cho các đảng viên cộng sản cao cấp, tương tự như luật “cấm đánh vợ sau 9 giờ đêm nếu không có lý do” ở Mỹ Châu hồi thế kỷ 17.

Ðiều luật đó chắc chỉ được phổ biến trong nội bộ đảng, nó được hiểu ngầm như thế này: “Cấm các quan chức đảng và nhà nước không được thâm lạm của công lấy tiền đánh bạc - nếu không chia chác đủ cho hệ thống công an để bị chúng nó bắt.”
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

G-20 lo chữa nền tài chánh thế giới
Friday, November 14, 2008

Ngô Nhân Dụng
Nhóm G-7 mới họp hội nghị gần hai tháng trước bàn việc cùng nhau cứu nguy nền tài chánh thế giới. Họ cố ý lờ không mời Nga tham dự để thành một hội nghị G-8; vì lúc đó Nga mới “chơi lẻ” trong vụ tấn công Georgia. Bây giờ cuộc khủng hoảng tài chánh không còn tính cấp bách nữa; nhưng nhu cầu phối hợp giữa các quốc gia để đối phó với các vấn đề ngắn hạn cũng như dài hạn vẫn còn nguyên. Phải họp lại lần nữa. Và lần này không giới hạn trong G-7 hay G-8 mà vọt lên thành G-20 luôn! Ngoài các nước giầu nhất còn những cường quốc kinh tế mới lên như Brazil, Trung Quốc, Ấn Ðộ, cũng phải góp công giải quyết một tai nạn kinh tế toàn cầu. Người ta đang hy vọng các nước trong G-20 sẽ tiến đến một thỏa hiệp Bretton Woods mới.

Năm 1945, sau khi đóng vai dẫn đầu trong chiến thắng Ðức, Nhật, chính phủ Mỹ đã mời các nước đồng minh họp lại ở Bretton Woods đặt nền tảng cho hệ thống tài chánh thế giới. Tiền tệ các nước sẽ được tính giá dựa trên đồng mỹ kim. Ðồng đô la Mỹ sẽ được tính ra vàng, trên nguyên tắc ai cầm một đồng đô la tới đổi, ngân hàng trung ương nước Mỹ sẽ phải trả lại họ bằng vàng. Ðó là cách bảo đảm giá trị của các loại tiền tệ, nếu hối suất của các loại tiền đều được ấn định qua Mỹ kim, và không thay đổi. Vào thời điểm đó hai nước Mỹ và Anh quốc được coi là mạnh nhất thế giới về kinh tế, khi họ đã đồng ý thì ai cũng nghe theo, trừ các nước thuộc khối Liên Xô cộng sản. Các nước trao đổi với nhau đều dùng Mỹ kim, ai cầm đồng tiền Mỹ trong tay cũng yên tâm, nó có giá trị giống như vàng, mà lại nhẹ, để dùng hơn!

Hệ thống Bretton Woods đã tồn tại gần 30 năm, cho tới khi Tổng Thống Nixon đơn phương xóa bỏ với quyết định ngưng không lấy vàng bảo đảm cho Mỹ kim nữa. Từ đó giá trị đồng tiền nước Mỹ hoàn toàn dựa trên niềm tin vào sức mạnh của nền kinh tế Mỹ. Ðặc biệt, ai cũng tin rằng nếu mình cho chính phủ Mỹ vay thì chắc chắn không sợ mất, vì chính phủ này chắc không bao giờ phá sản.

Cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ mới xảy ra khiến niềm tin đó có thể bị lung lay. Những nước giữ tiền Mỹ trong nhà cũng thấy lo; nhưng cho tới khi có một đồng tiền nào khác có khả năng thay thế, đồng đô la Mỹ vẫn còn là đồng tiền chung cho cả thế giới dùng. Hiện đồng Euro của Âu Châu sống lâu chưa đủ và mối liên kết giữa các quốc gia dùng chung đồng Euro còn chưa đủ mạnh để cạnh tranh vai trò bá chủ của đô la Mỹ.

Khi các nước giữ đô la Mỹ, có thể coi như họ đang cho ngân hàng trung ương Mỹ nợ; tuy họ không thể đem đô la tới đòi đổi lấy vàng nhưng có thể dùng đồng tiền đó như một thứ giấy nợ để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ có giá trị. Những quốc gia đang lên như các nước bán dầu lửa ở Trung Ðông, hoặc như Trung Quốc đang giữ trong tay hàng ngàn tỷ đô la lại đem các đồng tiền đó cho chính phủ Mỹ vay; cho cả những công ty tài chánh lớn như Fannie Mae và Freddie Mac vay để họ đem cho người Mỹ vay mua nhà. Chính những món tiền cho vay khổng lồ đó đã giúp cho những công ty và cá nhân người Mỹ muốn vay nợ đều được hưởng lãi suất rất thấp. Lãi suất thấp khiến cho nhiều người dân Mỹ mua nhà dù không có khả năng trả nợ nếu lãi suất thay đổi. Và cũng vì những món tiền “trời cho” dễ dàng đó mà các ngân hàng Mỹ cho vay mà không áp dụng những quy tắc xét đoán kỹ khả năng trả nợ của người vay. Từ đó, sinh ra cuộc khủng hoảng về tài trợ địa ốc ở Mỹ, dần dần biến thành cơn khủng hoảng tiền tệ ở nước Mỹ và trên thế giới.

Cuộc khủng hoảng vừa qua khiến các nước đều bị lây, trừ những nước đóng cửa không thông thương với bên ngoài. Khi kinh tế Mỹ xuống thì những nước mua bán nhiều với Mỹ cũng phải chịu ảnh hưởng. Các nước được an toàn nhất là những nước đã có sẵn một cán cân mậu dịch thặng dư và dự trữ ngoại tệ lớn như Trung Quốc; trong nhà họ đang sẵn tiền để bỏ ra kích thích dân tiêu thụ và đầu tư. Ngược lại, những nước như Việt Nam, cán cân chi phối khiếm hụt và dự trữ ngoại tệ thấp, mà kinh tế lại phụ thuộỳc vào xuất cảng, nhất là xuất cảng sang Mỹ, ảnh hưởng sẽ rất xấu. Dù gặp nạn theo với Mỹ hay không, người ta cũng biết đến lúc phải thiết lập một hệ thống giám sát mới cho thị trường tài chánh và đặt ra những cách báo động nếu thấy có nguy cơ khủng hoảng lại xẩy ra.

Các nước trong khối G-20 họp lại với các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân Hàng Thế Giới bàn cách xếp đặt lại một hệ thống tài chánh quốc tế mới để bảo đảm sự ổn định, tránh những cơn khủng hoảng tương tự đừng xẩy ra trong tương lai.

Hai mươi nước và các tổ chức quốc tế họp lại theo lời mời của Tổng Thống Gorges W. Bush, mặc dù ông sẽ mãn nhiệm trong 2 tháng nữa. Không thể đợi vị tổng thống mới của nước Mỹ được, vì nhu cầu trấn an trương chủ các ngân hàng, các nhà đầu tư, những người quản lý quỹ hưu bổng trên toàn thế giới. Vả lại, trong cuộc họp sơ khởi này không ai chờ đợi sẽ quyết định được điều gì có tính chất thực tế và cụ thể. Họa chăng các người có trách nhiệm và các chuyên viên kinh tế, tài chánh cao cấp của 20 nước mạnh nhất thế giới chỉ có thể nêu lên một số nguyên tắc để cùng theo đuổi trong tương lai. Cuộc gặp gỡ này, ngoài việc trấn an lòng người, ít nhất cũng có thể kích thích giới lãnh đạo các cường quốc kinh tế phải cộng tác với nhau hơn. Còn chuyện họ cộng tác như thế nào, các chuyên gia sẽ phải bàn trong 3 tháng, 6 tháng mới ra những nét cụ thể. Và sau một, hai năm sau khi ông tổng thống Mỹ mới nhậm chức họa chăng mới có những thỏa hiệp để ký kết với nhau.

Nhưng nhu cầu cải tổ hệ thống tài chánh thế giới đã được phát hiện từ 10 năm trước đây, sau cuộc khủng hoảng tiền tệ tại các nước Á Ðông, lan sang các nước Châu Mỹ La Tinh và Nga. Khi đó, các chính phủ Mỹ và Âu Châu đã huy động các tổ chức như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đem tiền tới cứu các nước lâm nạn. Nhưng khi IMF đi tới đâu là họ lại dùng những liều thuốc cũ yêu cầu chính phủ nơi đó áp dụng. Họ thường đặt điều kiện là các nước này phải giảm bớt chi tiêu, cân bằng ngân sách, và áp dụng những chính sách tiền tệ chặt chẽ. Nhưng các chính sách đó có thể khiến cho kinh tế những nước lâm nạn suy thoái hơn, một hậu quả là tiền vốn chạy ra khỏi các quốc gia đang cần ngoại tệ nhất.

Mười năm trước đây, các cường quốc kinh tế đã bỏ lỡ cơ hội cải tổ hệ thống tài chánh thế giới. Trong vài năm, sau khi cơn khủng hoảng có vẻ nguôi đi, đâu lại vào đó, người ta quay về với lối sống cũ. Những quốc gia được hưởng lợi nhờ hệ thống cũ sẽ không bao giờ muốn cải tổ, cho tới khi chính họ gặp nạn. Năm nay, khi cơn khủng hoảng xuất phát từ chính nước Mỹ và lan ngay sang Âu Châu, có lẽ tất cả các nước thấy họ không thể sống theo lề thói cũ được nữa.

Vì vậy, người ta thấy triển vọng một Bretton Woods mới quy định hệ thống tài chánh quốc tế, ít nhất cũng tồn tại và được sửa đổi liên tục trong một vài thế hệ nữa.

Một điều ai cũng phải công nhận là trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, một quốc gia lo hoàn thiện việc giám sát hệ thống tài chánh của mình không đủ. Chính sách, luật lệ của các nước có thể trồng tréo và trái ngược với nhau. Hơn nữa, nhiều ngân hàng quốc tế hiện nay hoạt động ở nhiều quốc gia, họ phải được tất cả các chính phủ giám sát theo những tiêu chuẩn chung.

Một nước như Trung Hoa không thể buộc dân chúng họ thắt lưng buộc bụng trong khi dư tiền đem sang cho người Mỹ vay, mà chính số lượng tiền khổng lồ đem tới đó là một nguyên nhân gây nên khủng hoảng. Các nước Âu Châu, Úc, Nhật Bản cũng thấy phải thúc đẩy chính phủ Mỹ thay đổi luật lệ để giám sát, can thiệp vào thị trường, ngõ hầu tránh cho nước Mỹ khỏi bị khủng hoảng.

Ðó là lý do việc cải tổ hệ thống tài chánh thế giới không thể để mặc cho một quốc gia hành động đơn phương, hay là dăm bẩy nước trong các câu lạc bộ G-7, G-8 quyết định lấy. Phải mời những quốc gia có trọng lượng kinh tế cùng tham dự. Ðiều đáng lo bây giờ là những nước trong Câu Lạc Bộ G-20 cũng chỉ vẽ ra một hệ thống tài chánh bảo vệ quyền lợi của chính họ trước hết, bỏ qua không xét tới hoàn cảnh và nhu cầu của những nước đứng bên ngoài!

Nhưng khi các nước cỡ lớn và trung theo đúng một số quy tắc căn bản thì cả hệ thống quốc tế cũng được hưởng lợi.

Một quy tắc là thị trường tài chánh quốc tế phải được giám sát chặt chẽ hơn, bây giờ ngay những chính phủ chủ trương kinh tế tự do mạnh nhất như Anh, Mỹ cũng phải đồng ý.

Một quy tắc quan trọng nữa là tính chất minh bạch, công khai của hệ thống. Các loại hợp đồng tài chánh mới như đê ri va ti, hợp đồng bảo hiểm trái khoán, những loại chứng khoán mới sáng chế, tất cả đều phải được giám sát để giá trị các loại chứng phiếu đó được thẩm lượng dễ dàng hơn. Ai cũng biết thị trường mua bán các cổ phần ở Mỹ tương đối minh bạch công khai hơn ở Trung Quốc chẳng hạn, vì các công ty ghi tên trong thị trường phải công bố tài sản và lời lỗ định kỳ. Nhưng các loại đê ri va ti mới như các hợp đồng bào hiểm cho các trái khoán, đều không bị bó buộc phải báo cáo kết quả định kỳ như vậy. Những ngân hàng thương mại ở Mỹ được giám sát chặt chẽ nhưng nhiều quỹ đầu tư mới thì không. Nay tất cả sẽ bị buộc phải theo các quy tắc chặt chẽ hơn. Nếu các nước tiên tiến về kinh tế theo đúng được các quy tắc trên thì hy vọng thế giới sẽ có một hệ thống báo động sớm để kịp thời đối phó trước khi các cơn khủng hoảng có thể xẩy ra.

Với những quy tắc chung đó rồi, sẽ phải mất nhiều thời gian mới có thể cụ thể hóa bằng những hiệp ước và luật lệ mới ở từng quốc gia. Cho nên, việc Tổng Thống Bush triệu tập hội nghị G-8 vào cuối tuần này chỉ là bước khởi đầu cần thiết để tiến tới những thỏa hiệp quốc tế về các định chế mới cho tài chánh thế giới. Ông Bush đã giúp thế giới không bị mất niềm tin vào hệ thống kinh tế tư bản, và ông cũng giúp cho người kế vị là Nghị Sĩ Barack Obama khi nhậm chức sẽ tiếp tục việc hợp tác để cải tổ trong 4 năm sắp tới.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Tình hình tranh đấu trong thanh niên

Hoàng Lan
Sự phẫn nộ của thanh niên

Việc Trung Quốc tuyên bố thành lập huyện đảo Tam Sa, thiết lập quản lý hành chính trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đã làm nhân dân Việt Nam phẫn nộ. Lần đầu tiên kể từ năm 1975, đã có những cuộc xuống đường biểu tình của thanh niên vào ngày 9 và 16-12 năm 2007. Tiếp theo đó là các cuộc biểu tình của nhiều nhóm sinh viên du học, cũng như của người Việt sinh sống ở khắp nơi trên thế giới. Các cuộc biểu tình đó là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy rằng tuổi trẻ Việt Nam không hề vô cảm trước hiện tình đất nước.


Trong suy nghĩ của nhiều bạn, tuy nhiên, chống Trung Quốc không đồng nghĩa với chống chế độ độc đảng, hay ủng hộ dân chủ. Tuy vậy, sau sự đàn áp, bắt bớ vô lý của chính quyền đối với những thanh niên tham gia biểu tình, rất nhiều bạn đã thất vọng với cách hành xử đó, và có lẽ họ đã và sẽ còn tự đặt rất nhiều câu hỏi.


Ngày 29-4-2008, hình ảnh cờ Trung Quốc tung bay trên đất Sài Gòn, và những thanh niên yêu nước Việt Nam bị bắt giữ, bị kìm chân, không được cất lên tiếng nói yêu nước của mình trước họa xâm lăng. Những thanh niên quan tâm đến tình hình chính trị, xã hội của đất nước, có lẽ chưa bao giờ họ cảm thấy cô đơn như vậy, cô đơn và tủi nhục vì tiếng nói yêu nước bị chặn nén ngay trên quê hương mình, bởi chính những người gọi là đồng bào mình.
Dấn thân, và khó khăn

Từ việc nhận thức tình hình đất nước tới việc hiểu sự cần thiết của dân chủ là một quá trình. Từ việc hiểu sự cần thiết của dân chủ đến việc dấn thân hành động lại là một quá trình khác.


Thanh niên hiện nay nhiều người đã thấy vấn đề của đất nước. Một số cho đó là chuyện xa vời, chưa phải của mình. Một số khác muốn làm mà chưa thể vượt qua những khó khăn đầu tiên khi quyết định dấn thân.


Một trong những khó khăn lớn nhất mà các bạn thanh niên có lý tưởng gặp phải khi muốn dấn thân vào hoạt động dân chủ là sức ép từ gia đình. Họ không lo sợ cho bản thân, nhưng lo sợ cho những hậu quả có thể xảy đến với gia đình. Chính quyền cũng thường thông qua gia đình để gây sức ép, như trường hợp của các thành viên của THTNDC bị lộ mặt.


Bên cạnh đó, đa số các bạn còn đang là sinh viên, hoặc bắt đầu sự nghiệp, chưa phải gánh vác việc gia đình, nên còn có cái nhìn chưa thực tế. Đó là lý do vì sao nói tham gia hoạt động sẽ là môi trường thực tập rất tốt, bởi quá trình hoạt động, cọ xát thực tế, sẽ khiến các bạn có thêm kinh nghiệm, để chúng ta có sẵn một lực lượng thanh niên dân chủ sẵn sàng cho giai đoạn chuyển tiếp cũng như quá trình xây dựng một Việt Nam dân chủ sau này. Đó cũng sẽ là các thành viên hoặc cán bộ tương lai cho các đảng phái dân chủ chân chính.

Tư tưởng

Thực tế là thanh niên ngày càng quan tâm hơn tới tình hình đất nước, và ngày càng có nhiều bạn dấn thân vào các hoạt động dân chủ, là một tín hiệu đáng mừng cho tương lai đất nước.


Về tư tưởng, phần đông các bạn thanh niên tham gia THTNDC có tư tưởng ôn hòa, bất bạo động, chủ trương chống độc tài, độc đảng. Chính cơ chế độc đảng là nguồn gốc của mọi vấn nạn quốc gia như tham nhũng, xem thường luật pháp…


Tranh cãi về chủ thuyết sẽ không bao giờ kết thúc, vì tin hay không tin vào một chủ thuyết là một điều rất chủ quan, khó tạo đồng thuận. Tuy vậy, những vấn nạn ở Việt Nam, như tham nhũng, coi thường luật pháp, là một sự thật hiển nhiên không thể chối cãi. Nguyên nhân sâu xa của các vấn nạn ấy là cơ chế độc đảng, nảy sinh lạm quyền. Đảng cộng sản VN, ngoài những thất bại trong việc điều hành đất nước, còn thất bại thảm hại trong việc thu hút người tài, dẫn đến một guồng máy nhà nước thiếu năng lực, kém hiệu quả.


Rất nhiều bạn thanh niên, cho dù còn mơ hồ, không thực sự hiểu và ủng hộ dân chủ, vẫn đồng ý rằng Việt Nam cần phải mở ra một cuộc bầu cử tự do, công bằng, dưới sự giám sát của quốc tế, để nhân dân chọn ra những người thực sự có tâm, có tài vào quốc hội. Chính từ quốc hội thực sự do dân bầu ra này, các giải pháp cần thiết cho đất nước sẽ được tiến hành, bắt đầu từ việc soạn thảo hiến pháp mới, một bản hiến pháp thực sự dân chủ, được nhân dân phúc quyết qua trưng cầu dân ý.


Đó cũng là hướng mà Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ đang vận động tới các thanh niên Việt Nam trong nước hoặc du học.

Sự cần thiết của tổ chức

Sự ra đời của một số tổ chức chính trị của thanh niên là một tín hiệu đáng mừng cho công cuộc dân chủ hóa. Chỉ tập hợp nhau lại mới gióng lên tiếng nói đủ mạnh. Chỉ tập hợp nhau lại mới có đủ sức mạnh để làm những điều phải làm, cùng nhau góp sức vào việc chuyển đổi xã hội tốt đẹp hơn. Đã nói đến dân chủ, là phải nói đến sự tham gia vào công việc chung, và phối hợp cùng nhau trong tinh thần teamwork.


Về tổ chức, đứng đầu của THTNDC là Ban đại diện. Trong TH có các nhóm theo khu vực địa lý, như nhóm Sài Gòn, Paris, Mỹ, v.v... Bên cạnh đó là các nhóm theo chức năng, điển hình là nhóm kỹ thuật, nhóm quảng cáo, nhóm báo chí (trong đó có 1 số bạn tham gia làm báo Phía Trước). BDD cũng như các nhóm họp thường xuyên. Mỗi nhóm họp trung bình 2 tuần một lần. BDD thì thường liên lạc với nhau thường xuyên hơn. Giữa BDD và các trưởng nhóm có những thời điểm liên lạc với nhau gần như hàng ngày.


Đến nay, THTNDC đã quy tụ được nhiều bạn trẻ, đặc biệt là thanh niên trong nước và sinh viên du học. Một số bạn đến với tổ chức với suy nghĩ góp phần vào công cuộc dân chủ hóa trong khả năng và điều kiện của mình. Một số không ít các bạn khác xác định hoạt động chính trị là con đường lâu dài cho cuộc đời mình. Những thành viên của THTNDC ngày hôm nay sẽ là nguồn nhân lực đầy triển vọng cho các đảng phái dân chủ chân chính sau này.
Tinh thần bao dung:

Có người nói, sự ra đời của quá nhiều tổ chức phải chăng sẽ làm loãng phong trào?


Lan ko nghĩ vậy. Các tổ chức chính trị của thanh niên là môi trường thực tập dân chủ và thực tập hoạt động chính trị rất tốt. Mỗi tổ chức có phạm vi ảnh hưởng của riêng họ, quá trình dân chủ hóa sẽ diễn ra nhanh hơn. Tuy nhiên, sự tập hợp lực lượng là cần thiết, và Lan mong, và tin rằng, khi thời điểm đến, các tổ chức dân chủ, hoặc đảng phái, sẽ có thể bắt tay liên minh cùng nhau, để đủ sức làm đối trọng với chế độ độc tài.


Thời gian vừa rồi, có một số tiếng nói, chỉ trích hoặc nghi ngại sự hoạt động của các tổ chức trẻ, hoặc các tổ chức mới thành lập. Lan cho rằng đó là một thái độ phản dân chủ. Ý nghĩa lớn nhất của hai chữ dân chủ là lòng bao dung, là tinh thần tôn trọng sự khác biệt, là tinh thần của Voltaire khi nói: “Tôi có thể không đồng ý với anh, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh được nói ra ý kiến của mình”.


Ngoài ra, mọi tổ chức, đảng phái, thậm chí mỗi cá nhân có quyền lựa chọn hướng đi, lựa chọn sự liên minh mà họ cảm thấy phù hợp với mình. Trên đời này không có gì tuyệt đối. Lá phiếu của người dân qua bầu cử tự do, công bằng sẽ là tiếng nói cuối cùng.


Đó cũng là những gì thanh niên như Lan phải hướng tới. Tinh thần tôn trọng ý kiến khác biệt, thiện chí đối thoại và lòng bao dung chính là những giá trị dân chủ mà chúng ta tôn trọng.


Đất nước Việt Nam đã chịu quá nhiều đau thương, chia rẽ, cũng chỉ bởi chúng ta đối thoại với nhau chưa đủ, và vẫn còn để thành kiến làm cái hố vô hình ngăn cản chúng ta tiến lại với nhau.


Chỉ có một thể chế dân chủ mới mở ra một vận hội mới cho đất nước. Đó là một thể chế nơi người dân có quyền tự do lên tiếng, nơi những người có tài, có tâm có cơ hội ứng cử, phục vụ đất nước, nơi có cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực để tránh lạm quyền, nơi sự đoàn kết dân tộc thực sự thành hình trên nguyên tắc dân chủ và sự tôn trọng lẫn nhau


Lan hoàn toàn lạc quan và tin tưởng vào ngày đó. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng một tương lai tốt đẹp hơn.


Nhưng ngày đó đến nhanh hay chậm, là phụ thuộc vào sự nỗ lực của mỗi chúng ta. Nếu chúng ta không nói thì ai sẽ nói thay cho chúng ta, nếu chúng ta không làm, thì ai sẽ làm thay cho chúng ta. Đó là chính là phương châm của THTNDC.


Tương lai Việt Nam là ở trong tay thế hệ trẻ, và thanh niên cần phải giữ vai trò chủ động trong công việc của đất nước. Bên cạnh đó là sự khiêm tốn, không ngừng học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, để thực sự vững vàng cho trách nhiệm lớn lao này.


Thanh niên đã nhập cuộc, tức là con đường tranh đấu cho dân chủ cho Việt Nam sẽ có người tiếp nối. Mỗi người trong chúng ta không ai có thể nói chính xác bao giờ vận nước sẽ đến. Nhưng Lan tin, ngày dân chủ đến trên quê hương Việt Nam, chắc chắn sẽ phải đến. Và ngày đó rất gần.

Hoàng Lan, nguyenhoanglan177@gmail.com
Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ

Sơ lược

Thời gian hai năm vừa qua đánh dấu một bước tiến mới trong phong trào dân chủ Việt Nam: phong trào có thêm sự tham gia của một số thanh niên, những người sinh ra và lớn lên tại quốc nội, dấn thân vào cuộc đấu tranh cho dân chủ cho Việt Nam.

Trước thềm đại hội X, Nguyễn Tiến Trung, đã viết một bức thư ngỏ gửi bộ trưởng bộ Giáo dục Nguyễn Minh Hiển và bản kiến nghị gửi đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam, được đăng tại BBC Việt ngữ tháng 3 năm 2006. Trung đã quyết định viết bức thư giãi bày những suy nghĩ của mình, khi nhận thấy rất nhiều tiếng nói cấp tiến trong nước đã gióng lên trước thềm đại hội X, từ nhiều thành phần xã hội khác nhau, chỉ có thanh niên là chưa lên tiếng.

Nhưng không nhận được sự trả lời nào từ phía chính quyền, Trung cùng một số bạn bè đã thanh lập Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ vào ngày 8-5-2006. Sau hơn 1 năm hoạt động và vận động tại hải ngoại, anh Trung đã về Việt Nam vào tháng 8 năm 2007, với tư cách là thành viên THTNDC và đảng viên Đảng Dân Chủ Việt Nam, xây dựng thành công một chi bộ tại Sài Gòn, trước khi bị chính quyền ép đi nghĩa vụ quân sự một cách phi lý, khi anh đang vừa đi làm, vừa theo học chương trình quản trị kinh doanh. Sự việc anh Trung về nước đã có tác động lớn đến nhiều bạn trẻ, khiến họ thay đổi cách nhìn về THTNDC và suy nghĩ lại về bổn phận của thanh niên trước hiện tình đất nước.


Tháng 1 năm 2008, Nguyễn Trang Nhung, phát ngôn viên của THTNDC, cũng đã trở về nước sau thời gian làm việc tại Nhật Bản.
THTNDC là một tổ chức công khai tại Việt Nam.

Những gương mặt trẻ tuổi nổi bật khác của phong trào dân chủ Việt Nam: luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Lê Công Định, Lê Quốc Quân, các anh chị em trong Câu Lạc Bộ Nhà báo tự do v.v, là những người dũng cảm nói lên tiếng nói của lương tâm mình ngay trong lòng chế độ. Đó cũng là rất nhiều anh chị em trẻ khác hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhưng bằng cách này hay cách khác, qua các tác phẩm nghệ thuật của mình, bày tỏ sự bất bình với chế độ độc tài và gieo mầm những tư tưởng dân chủ tới xã hội. Có thể kể tới nhạc sĩ Tuấn Khanh, đạo diễn Song Chi, các nhà thơ trong nhóm văn nghệ sĩ Sài Gòn…


Nhận định

Qua đó, ta có thể thấy rằng, các cụm từ “lý tưởng”, “dấn thân”, “hi sinh” không phải đã trở thành một thứ xa xỉ trong cái xã hội Việt Nam 33 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự dũng cảm, tinh thần dấn thân vẫn luôn là điều có thật. Có lẽ đó là một điềm may mắn cho dân tộc Việt Nam: “dẫu mạnh yếu mỗi lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có”.


Nhiều nhóm thanh niên dân chủ cũng đã xuất hiện, tuy rằng hoạt động chưa công khai rộng rãi. Nhóm Hiền Thảo – Đông Xuân với nhiều bài viết đặc sắc. Nhóm thanh niên yêu nước Sài Gòn, nhóm thanh niên yêu tự do… Hầu hết hoạt động của các nhóm bí mật chỉ dừng lại ở việc gửi bài lên mạng và sinh hoạt khép kín trong nội bộ của họ. Tuy nhiên, nhiều bài viết sắc sảo của nhóm Hiền Thảo – Đông Xuân cũng góp phần vào việc thay đổi tư duy của nhiều bạn trẻ.


Một trong những diễn đàn thảo luận trên mạng thu hút sự tham gia của nhiều bạn trẻ trong và ngoài nước là diễn đàn X-Café, với phương châm “tôn trọng sự khác biệt”. Tuy chưa phải là một tổ chức chính trị, nhưng với phương châm hoạt động cởi mở của mình, X-café là nơi thảo luận thẳng thắn của các thanh niên về các tình hình chính trị, xã hội, nâng cao lý luận về dân chủ.


Internet và hệ thống blog quả thật đã giữ vai trò rất lớn trong việc thay đổi nhận thức của các bạn trẻ trong nước. Nhiều bạn trẻ tìm đọc các thông tin trên blog thay vì thông tin trên báo đài nhà nước. Có lẽ cũng nhờ internet và blog, mà một trong những sự kiện nổi bật nhất gần đây mới có dịp diễn ra: đó là các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc vào tháng 12-2007.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Phép lạ của tự do dân chủ

Ngô Nhân Dụng

Sống lâu cũng có điều hay, khi được thấy những chuyện mà mình tưởng cả đời không bao giờ xảy ra. Bà Ann Nixon Cooper năm nay 106 tuổi. Bà mới đi bỏ phiếu, bầu cho ông Barack Obama, 47 tuổi. Suốt 100 năm qua, người phụ nữ da đen này không ngờ có ngày được thấy một người gốc Phi Châu được bầu làm tổng thống Mỹ. Bà nhớ lại, trong cuộc đời suốt 100 năm có lúc bà muốn đi bỏ phiếu cũng không được.

Ở nước Mỹ nửa thế kỷ trước lá phiếu có khi là một món xa xỉ dành riêng cho một số người sử dụng, trong đó không có bà Ann Cooper.

Ðừng nói gì những người 100 tuổi. Nhiều người Mỹ trẻ hơn cũng không ngờ có ngày một người da mầu có thể làm tổng thống. Trong thập niên 1960, nhà hài hước Dick Grogory da đen nói đùa: “Người ta hay hỏi tôi liệu một anh mọi đen (negro) có thể được bầu làm tổng thống hay không. Tôi trả lời rằng, có chứ, khó gì, nếu hắn tranh cử với một anh gốc Puerto Rican!”

Mà cũng đừng nói chuyện mầu da. Loài người chúng ta có thể viện rất nhiều lý do để nhìn nhau với cái tâm phân biệt. Năm nay, khi cựu Thống Ðốc Romney còn tranh cử trong đảng Cộng Hòa, các báo Mỹ đã đặt câu hỏi, “Nước Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận một người theo đạo Mormon làm tổng thống hay chưa?” Mormon là một tôn giáo thiểu số, ít người hiểu họ. Năm 2000, khi Nghị Sĩ Lieberman ứng cử phó tổng thống trong liên danh Al Gore, nhiều nhà bình luận đã thấy “có vấn đề;” là nếu ông Gore gặp chuyện chẳng may thì một “người gốc Do Thái” sẽ thành tổng thống Mỹ! Ðó là những cách họ nhắc nhở, đánh thức dậy cái tâm phân biệt nơi người khác.

Chính những người Mỹ gốc da đen không phải ai cũng muốn bỏ phiếu cho các ứng cử viên cùng mầu da. Khi ông Jesse Jackson tranh cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ, nhiều người da đen ủng hộ đối thủ. Năm 1992 và 1996, người da đen ủng hộ ông Bill Clinton, chính ông này được họ coi là “người da đen đầu tiên” làm tổng thống. Năm nay, đa số cử tri Mỹ da đen chọn bà Hillary Clinton chứ không phải ông Barack Obama trong những cuộc bỏ phiếu sơ bộ đầu tiên, trước khi ông có vẻ sẽ thắng. Ở những tiểu bang như Virginia, North Carolina, các lãnh tụ da đen ở địa phương đều cổ động cho bà nghị sĩ New York. Năm 2004, Al Sharpton tranh cử độc lập, 90% người da đen không bỏ phiếu cho ông ta. Khi tranh cử, những lãnh tụ da đen đã được bầu lên cao nhất là chức thống đốc tiểu bang. Những người Mỹ da đen nổi bật đã bước vào hàng ngũ lãnh đạo quốc gia qua những ngả khác con đường bầu cử; như các ông Marshall, ông Thomas đã lần lượt vào ngồi trong Tối Cao Pháp Viện.

Khi nhìn ông Obama nói trước đám đông trong đêm bầu cử, nhiều người như bà Oprah, Mục Sư Jesse Jackson đều rưng rưng nước mắt. Họ đứng im lặng giữa đám đông, nhìn những người chung quanh reo hò, người da đen cũng như da trắng. Chứng kiến lịch sử đang thay đổi, họ không cầm được giọt lệ. Ðây là cảnh mà nhiều người Mỹ gốc Phi Châu đã mơ ước, đã chờ đợi, nhưng ít ai hy vọng sẽ thấy trong đời mình. Nói kiểu người Việt Nam ngày xưa: Họa tới Tết Congo mới thấy!

Tết Congo đã tới, không riêng cho những người gốc Congo ở Mỹ. Khắp thế giới người ta cũng không ngờ nước Mỹ thay đổi “nhanh” như vậy. Trong vòng một thế kỷ rưỡi, từ thân phận những người nô lệ, nay có một người sắp làm nguyên thủ quốc gia!

Trên con đường dẫn tới một ngôi đền cổ du khách chen chúc tại thành phố Kom Ombo, Ai Cập, tôi thấy mấy người đàn ông đang ngồi coi báo. Một thanh niên bản xứ bán đồ kỷ niệm, nghĩ tôi là người Trung Hoa, cười chào: “Nị hảo?” Tôi nghiêng đầu chăm chú nhìn bức hình ông bà Obama đang tới thăm ông bà Bush ở Tòa Bạch Ốc, trên trang nhất một tờ báo in những hàng chữ Á Rập bay bướm, để khỏi phải trả lời những lời rao bán hàng. Chàng thanh niên Ai Cập cũng nhìn bức hình, rồi quay lại nhìn tôi, anh ta nắm bàn tay phải, đưa ngón tay cái chỉ lên trời (một cữ chỉ rất Mỹ), rồi nói bằng tiếng Anh: “Good! Very good!” Chàng thanh niên Ai Cập này nhoẻn miệng cười, như muốn chia sẻ niềm vui với một “người Tầu” xa lạ! Anh đã phát biểu một ý kiến chính trị, quên cả công việc bán hàng của mình. Chia sẻ một niềm vui quan trọng hơn việc thương mại!

Nhưng cái gì thật sự là “good” ở đây? Tại sao một thanh niên sống bên bờ sông Nile sâu thẳm dài 6000 cây số này lại quan tâm và lại muốn phê phán việc dân Mỹ bầu tổng thống của họ; để chia sẻ với một du khách lạ từ Phương Ðông tới?

Có thể đoán, hình như nhiều người muốn truyền tai cho nhau nghe những “tiếng kêu trên đồng vắng.” Những lời báo hiệu của hy vọng. Ðó là niềm hy vọng thế giới này có thể thay đổi.

Nếu dân chúng Mỹ, đã bị các kẻ thù của nước Mỹ chỉ trích bao năm về phân biệt chủng tộc, có thể thay đổi xã hội của họ nhanh như vậy, thì tại sao chúng ta, người Châu Á, người Châu Phi, không hy vọng chính mình sẽ thay đổi số phận xã hội mình? Người Ai Cập, người Kenya, người Trung Quốc, người Việt Nam chắc cũng đang tự hỏi như vậy.

Niềm hy vọng thay đổi của giới trẻ thế giới không đặt vào một ông tổng thống Mỹ mới được bầu. Ông ta không thay đổi nước Mỹ, chính nước Mỹ thay đổi đã tạo ra biến cố này. Ðiều thay đổi trong xã hội Mỹ không phải do một cá nhân thực hiện được. Ðó là do những định chế chính trị tạo nhân duyên hằng thế kỷ.

Ai cũng phải đặt câu hỏi: Người dân Mỹ, nói riêng dân da đen ở Mỹ, họ đã sử dụng “khí cụ” nào để thực hiện sự thay đổi trong năm 2008 này? Họ không xuống đường, không bạo động, không đảo chính. Họ đã dùng các định chế tự do dân chủ.

Dân tộc này thiết lập những thủ tục chung sống với nhau đặt trên một số nguyên tắc, các nguyên tắc đó cho phép xã hội thay đổi trong trật tự và hòa bình. Những quy tắc này đã được thí nghiệm ở bên kia bờ Ðịa Trung Hải, với Desmosthene bên Hy Lạp thời Thượng cổ, với Magna Carta bên Anh quốc trong thời phong kiến, với bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền trong cuộc cách mạng Pháp. Nhưng trong hai trăm năm nay dân Mỹ đã cải thiện các quy tắc sống đoàn thể đó, đặt ra những “luật chơi dân chủ;” với lối bầu, chọn tổng thống mà nhiều người còn thấy là kỳ quặc. Mà kết quả là, khi áp dụng các luật chơi đó, trong trận đá banh mới nhất này, một người Mỹ cha gốc Kenya, mẹ gốc Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan, đã đắc cử tổng thống.

Một chuyện phi thường! Nhưng đã trở thành chuyện bình thường, mà một chế độ tự do dân chủ có thể đem lại! Khi tôi đi từ Los Angeles qua New York, 3 ngày sau khi dân Mỹ bỏ phiếu, tôi đã nhìn những người Mỹ da đen, da trắng đi lại, làm việc chung quanh. Sau khi một biến cố lịch sử xẩy ra, tôi muốn coi nét mặt của những người Mỹ bình thường này có lộ ra nét xúc động nào hay chăng. Không ai khóc. Không ai reo hò. Trên màn ảnh ti vi ở các phi trường người ta tha hồ loan tin và bình luận. Người dân Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống bình nhật. Những người da đen đẩy xe chở hành lý vẫn đẩy xe. Những người da trắng ngồi trước cái laptop trong phòng đợi vẫn chăm chú làm việc. Chính đời sống bình thường đó đã có tính cách phi thường. Phép lạ xảy ra đã được khơi mầm từ hàng ngàn năm trước, khi loài người đặt ra thủ tục bỏ phiếu cho đa số quyết định. Phép lạ xảy ra bây giờ vì từ hàng ngàn năm trước người ta đã nghĩ ra phải hạn chế quyền hành của vua chúa, người cai trị phải tham khảo ý kiến của người bị trị. Máu đã đổ trong các cuộc cách mạng ở Pháp, ở Nga, để loài người cùng dò dẫm tìm cách nào sống chung với nhau bình đẳng và phồn thịnh. Loài người đã đem máu xương mình ra thí nghiệm để tìm ra những thủ tục chung sống yên ổn với nhau, tạo nên những cuộc sống bình thường và thay đổi liên tục.

Ðịnh chế dân chủ cho phép xã hội thay đổi trong hòa bình, trật tự. Ðây không phải chỉ là sự thành công của một cá nhân. Ðây cũng là một vở kịch bi hùng mà nhân vật chính là thể chế dân chủ tự do. Một lần nữa, Thần Tự Do đang đưa cao ngọn đuốc tỏa ánh sáng hy vọng khắp mặt trái đất!

Chúng ta có thể tưởng nhớ những người Hungary đã vùng lên năm 1956 và bị đàn áp tàn nhẫn. Năm đó, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ở Việt Nam đã chia sẻ: “Hãy cho anh khóc bằng mắt em!” Chúng ta có thể nhớ lại những thanh niên Trung Hoa rước tượng Nữ Thần Tự Do ở Quảng Trường Thiên An Môn vào Tháng Năm năm 1989. Họ cũng bị tàn sát. Nhưng cuối cùng, chúng ta có thể tin. Khát vọng Tự Do của loài người sẽ thắng.

Chiến thắng của chế độ tự do dân chủ không diễn ra trong sắt máu nữa. Ðó là một cuộc xây dựng trường kỳ, từng năm, từng tháng, từng ngày, khi người dân được tự do phát biểu, tự do hội họp, và tự do lựa chọn bằng lá phiếu.

Ký giả Rania Al Malky viết trên một tờ báo độc lập ở Cairo giải thích rằng cuộc bầu cử ở Mỹ vừa qua cho thấy “sự kiện dân tộc Mỹ tuân thủ các nguyên tắc của chế độ dân chủ tự do đã cho phép dân chúng Mỹ có thể thay đổi lịch sử, chỉ bằng việc sử dụng lá phiếu.” Bà Al Malky lại nghĩ tới dân tộc của bà. Bà tự hỏi đến bao giờ người Ai Cập mới được phép thay đổi nước họ bằng lá phiếu như vậy.

Không phải chỉ có người Ai Cập. Nhiều nhà trí thức ở các nước nhược tiểu cũng đang đặt câu hỏi như nữa ký giả Malky. Trong đó có người Việt Nam chúng ta. Ðến bao giờ người Việt Nam mới có cơ hội dùng lá phiếu để thay đổi vận mệnh dân tộc mình? Chúng ta có phải chờ 100 năm nữa hay không?

Trong khi chờ đợi, người dân những nước còn chế độ độc tài đành đóng vai những “anh lùn đi xem hội, reo hò theo miệng người khác” còn chính mình chẳng được thấy gì cả.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sóng ngầm dưới mặt Biển Đông

Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org

Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang đàm phán phân định chủ quyền đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng.

Tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”.


Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán” và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung.

Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố.

Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Kết quả của nó sẽ ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng tới chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Nhưng đây là cuộc đàm phán rất phức tạp và Việt Nam phải đối diện rất nhiều thử thách. Trước hết vì nó liên quan đến Hoàng Sa, nhưng những thử thách đó cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.

Yếu tố Hoàng Sa

Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa vào Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa.

Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi một vùng nội thuỷ diện tích 17.400 km² bên trong và một vùng lãnh hải 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó.

Nhưng đường cơ sở này vi phạm UNCLOS. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn những vùng này và lấn sang phía bên Việt Nam của đường trung tuyến.

Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp.

Ngược lại, Việt Nam có thể dựa trên chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước mạnh và đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù sự chiếm đóng đó bất hợp pháp theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách đó của Việt Nam.

Như vậy, Việt Nam khó đạt được công bằng trong đàm phán về vùng biển trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như thông qua Toà án Công lý Quốc tế.

Bên ngoài Hoàng Sa

Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tranh chấp ngay cả những vùng biển rõ ràng thuộc về Việt Nam.

Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26'42" Bắc, 108°19'05" Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý , cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” .

Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bộ, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được .

Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.

Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.


Vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ



Việc Trung Quốc thừa nhận chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.

Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng rất cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.

Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.

Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.

Bài viết thể hiện quan điểm của hai tác giả: Dương Danh Huy từ Anh và Lê Minh Phiếu từ Pháp. Tài liệu tham khảo xem trong các đường dẫn ở bên phải trang
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Từ Arlington Nhớ Về Biên Hòa

Giao Chỉ, San Jose
Image
Bên đây, bên đó
Người Việt tại Hoa kỳ, từ thân phận di tản tỵ nạn, nay trở thành công dân. Chúng ta có quê hương xưa bỏ lại và đất nước mới để xây dựng cuộc đời. Xin cùng tác giả tìm hiểu về những vùng đất rất đặc biệt. Miền đất vĩnh cữu từ Arlington, Virginia đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

Trải qua 150 năm tính đến mùa thu năm 2008, khu đất 624 mẫu với những đồi lớn nhỏ chập chùng nằm bên bờ sông Potamac, đã được tuyên dương là Nghĩa trang Quốc gia Hoa Kỳ. Khu vực này là tài sản của dòng họ Lee, vị tướng tư lệnh của đạo quân miền Nam trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc, Hiệp Chủng Quốc. Lúc đầu, đất này chỉ là khu nghĩa địa thông thường, nhưng sau được cải danh là Nghĩa trang quốc gia. Đã có 16 ngàn chiến binh được chôn cất sau cuộc nội chiến. Trên 320 ngàn ngôi mộ, là nơi an nghỉ của các chiến sĩ anh hùng Hoa Kỳ suốt hơn 200 năm qua. Tính đến nay mỗi tuần vẫn có gần 30 chiến sĩ được an táng.
Image
Từ phía bên kia Đại dương, hơn 20 cây số ở phía Bắc thành phố Saigon, là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Từ khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ giữa thập niên 60, vùng đất trên 120 mẫu bao la, bên tả ngạn con đường đi Vũng Tàu là khu được bộ Tổng Tham Mưu chọn làm nghĩa trang hình con ong. Khởi sự mang danh ‘Nghĩa Trang Quân Đội’ từ 1965, nhưng về sau đã có dự trù trở thành ‘Nghĩa Trang Quốc Gia Việt Nam’.

Cho đến tháng 4 năm 1975, miền Nam đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ và từ đó đến nay, 33 năm qua không có người nào được chôn cất thêm. Nghĩa trang này đã bị tàn phá một phần bởi bộ đội Cộng sản miền Bắc và nay bị lãng quên trong hoang phế.

Xem lại lịch sử Arlington, kể từ khi chôn cất những tử sĩ đầu tiên năm 1802, nhưng đến năm 1864 mới thành Nghĩa Trang Quốc Gia. Hiện nay Arlington đã trở nên một danh lam thắng cảnh của thủ đô Hoa Thịnh Đốn với gần 5 triệu du khách hằng năm.

Trong khi đó nghĩa trang Biên Hòa chỉ có 10 năm lịch sử ngắn ngủi từ lúc chôn người lính đầu tiên tháng 3 năm 1965 cho đến 3 ngôi mộ tập thể được vùi dập vội vàng vào sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Tuy nhiên từ hai vùng đất tử sinh của Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những con số trùng hợp lạ lùng.

Tính đến khi tổng kết chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ đã có 16 ngàn tử sĩ đã được chôn trên đất Arlington, và tại Biên Hòa, khi miền Nam thất thủ, QLVNCH cũng đã chôn cất tại đây 16 ngàn tử sĩ. Cho đến nay, từ nghĩa trang xưa, gia đình đã di chuyển cải táng về quê khá nhiều. Di hài chiến binh miền Nam từ nghĩa trang hoang phế ra đi thêm một lần nữa nên hiện nay chỉ còn trên 10 ngàn ngôi mộ với diện tích thu hẹp từ 120 mẫu còn lại hơn 50 mẫu.

Arlington ngày xưa với 16 ngàn tử sĩ của cuộc nội chiến ngày nay có trên 300 ngàn chiến sĩ Hoa kỳ đã được chôn cất. Một bên có cả 200 năm lịch sử chung sự trong chiến tranh mà vẫn còn tồn tại. Còn Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta, chỉ có 10 năm kiến tạo và chôn cất anh em, nhưng trang sử của nghĩa trang xưa chẳng còn được bao nhiêu, dù trên di sản văn bản hay dưới lòng mộ sâu. Bức tượng ‘Thương tiếc’ đầy huyền thoại bị địch phá bỏ và 20 năm sau vào năm 2005, Cộng sản lại phá thêm 10 thước chiều cao của ‘Nghĩa dũng đài’.

Trong nỗi ngậm ngùi nhớ về nghĩa trang xưa, chúng tôi đi thăm Arlington của quê hương mới. Nhân ngày cựu chiến binh Mỹ năm 2008 , chúng tôi có xin gửi đến những tin tức về 1 vùng đất lịch sử đăc thù của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ.
Đi tìm lịch sử dưới đáy mồ
Ngày mai là ngày cựu chiến binh Hoa Kỳ 2008, và hôm nay chính là ngày thích hợp nhất để chúng tôi đi tìm lịch sử dưới đáy mồ. Các đơn vị tập dượt, du khách lần lượt vào thăm nhộn nhịp nhưng chưa phải là lễ chính nên đường xe còn thong thả.

Qua khỏi trung tâm đón chào khách bốn phương, chúng tôi đi bộ đến vùng đất xa xôi nhất. Khu 18 chôn cất tử sĩ miền Nam và khu 14 mồ tập thể hai miền Nam Bắc trên 2000 người chết. Khu xa nhất mang số 18 và trên đường về ghé vào khu 14. Một ngày khác, sẽ đi tìm nơi chôn 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có một Thiếu tá họ Vũ.
Image
Hai bên đường khá đông các học sinh đi theo thầy, cô từng đoàn dài. Trên 600 mẫu đất bao la cắt ra hàng trăm mảnh. Có những mộ bia đều đặn thẳng tắp đến chân trời. Cũng có những khu đất nhỏ chôn cất tướng lãnh anh hùng với mộ chí rất đặc thù khác biệt. Những pho tượng cấp chỉ huy cỡi ngựa đặt trên lối đi. Tướng trên mình ngựa, bốn chân chạm đất là các vị chết thông thường. Chiến mã co chân trên mặt đất là chủ tướng chết tại sa trường.

Hàng cây lá đổi mùa, vàng chen sắc đỏ phủ kín cả trời xanh. Những bia mộ trắng dọc ngang ẩn hiện. Hàng mộ bên đường có chữ USCT là những người lính da đen tử trận. (United States Colored Troup) Có những mộ chí khắc chữ ‘Citizen’. Cho đến khi đã hy sinh, binh sĩ gốc nô lệ được chính thức giải phóng để trở thành có quốc tịch Hoa Kỳ.

Tổng cộng có 21 khu di tích lịch sử để ghé thăm. Mộ Tổng Thống Kennedy là nơi du khách ghé thăm nhiều nhất. Trước khi vị Tổng Thống trẻ tuổi bị ám sát, Arlington chỉ có hơn một triệu du khách thăm hàng năm. Khi ông được an táng ở đây với ngọn lửa ‘ Tân biên cương’, số du khách tăng lên gấp bốn lần. Khu đổi gác tại tượng đài ‘Chiến sĩ vô danh’ cũng là nơi nhiều người dừng chân.

Từ ngôi nhà của tướng Lee, tư lệnh quân đội miền Nam, du khách nhìn thẳng xuống ngọn tháp cao của tượng đài Tổng Thống Washington. Dòng sông Potamac lịch sử chạy ngang qua như giải lụa xanh thẳng góc với hồ gương phản chiếu long lanh ánh bạc.

Tiếng máy thổi lá xào xạc vang động góc trời, nghe đâu đây như tiếng binh đao của thời nội chiến. Du khách chợt thấy lòng mình lắng xuống với tiếng thì thầm của hơn 300,000 chiến binh dưới đáy mồ lịch sử mà hồn thiêng còn vương vấn đâu đây.

Arlington là miền đất giáp Đại Tây Dương. Người dân Việt lưu vong phải hướng về miền Tây, thả hồn bay ngang qua lục địa Bắc Mỹ mới đến bờ biển Thái Bình, và phải qua cả một đại dương mới về đến Nghĩa trang Biên Hòa.Tại miền đất bỏ lại 33 năm về trước, vẫn còn hơn 10 ngàn tử sĩ của miền Nam nằm chờ.

Nhà thơ Thục Vũ, Trung tá Võ Bị Liên Quân Đà Lạt 54, chết tại ngục tù Yên Bái đã viết nên câu thơ bất hủ:

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây...
áo rách sát xương vai gầy,
cùng chung kiếp sống lưu đầy..."
Hòa hợp hòa giải tại Hoa Kỳ
Cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, hai bên dựa trên nền tảng xây dựng đất nước và lý tưởng tự do bình đẳng. Thực ra làm một cuộc chiến đầy cay đắng tại Hiệp Chủng Quốc kể từ sau chiến tranh cách mạng thành công và lập quốc. Quân hai bên Nam Bắc như anh em một nhà chia đôi chém giết nhau trong bốn (4) năm từ 1861 đến 1865. Đã có con số thương vong khủng khiếp là 620,000 người. Với dân số Hoa Kỳ thời đó là 30 triệu dân, ta có thể coi như con số tử trận tương đương với hơn 6 triệu người của dân số 300 triệu dân Mỹ hiện nay.

Vì vậy hận thù chất ngất, sự hàn gắn giữa hai bên đã phải đòi hỏi một thời gian dài. Thêm vào đó, vài ngày sau miền Bắc chiến thắng thì vị Tổng Thống anh hùng của Mỹ quốc bị ám sát chết. Lửa oán hờn bốc cháy. Câu chuyện đau thương và con đường lịch sử hàn gắn tại nghĩa trang Arlington là các dữ kiện điển hình.

Sau cuộc chiến dù rằng đã có 1 số ngôi mộ tử sĩ miền Nam nằm tại Arlington nhưng nghĩa trang này vẫn được coi chính thức của phe Liên Bang miền Bắc. Gia đình thân nhân miền Nam không được phép vào thăm mộ tử sĩ. Đến thời kỳ chiến tranh chống Mễ Tây Cơ, thanh niên miền Nam tình nguyện nhập ngũ cùng miền Bắc đứng lên bảo vệ đất nước. Hận thù dần dần lắng xuống.

Vào đầu thập niên 90, chính xác là năm 1901, tức là 35 năm sau cuộc chiến Nam Bắc, quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu kêu gọi hòa giải dân tộc. Một khu đất cao phía Bắc của nghĩa trang Arlington được dành riêng làm nơi chôn cất di hài của chiến sĩ miền Nam. Những ngôi mộ dân quân miền Nam tại vùng Hoa Thịnh Đốn được cải táng đưa vào Arlington. Tổng cộng 482 di hài chôn thành vòng tròn chung quanh 1 tượng đài. Vào ngày lịch sử 4 tháng 6 năm 1914, kỷ niệm 106 ngày sinh nhật của vị tổng thống miền Nam bại trận là ông Jefferson Davis, tượng đài tại khu nghĩa trang miền Nam được khánh thành dưới sự chủ tọa của tổng thống Wilson và cựu chiến binh của cả 2 miền hiện diện.

Điêu khắc gia đã hoàn tất bức tượng bà mẹ chiến sĩ miền Nam trên bệ cao 32 Food. Khi bức màn phủ tượng đồng kéo xuống, nét mặt bà mẹ miền Nam buồn rầu nhìn xuống hàng mộ của những đứa con trai hy sinh, nước mắt hòa giải long lanh trên má những người cựu chiến binh già cả hai miền đất nước. Từ trên đỉnh cao của Arlington, ngay tại khu nghĩa trang lính miền Nam nhìn xuống phía Nam, về phía tay trái là khu di tích mang số 14. Tại đây có 1 nấm mồ vĩ đại ghi dấu con số oan nghiệt 2111 chiến binh cả 2 miền trong cuộc nội chiến được chôn tập thể. Những trận đánh sau cùng ở vùng Ricmond, có lần trên 50 ngàn tử sĩ 2 bên hy sinh trong trận sáp lá cà đẫm máu. Khi mưa tuyết, bùn lầy trải qua nhiều ngày, đã có trên 2000 xác không thể nhận diện là quân Nam hay Bắc. Tư lệnh chiến trường đã cho chôn vào mồ tập thể và bên trên ghi dấu chiến sĩ vô danh của nội chiến. Hàng chữ khắc trên đá cẩm thạch đã dành cho lính hai bên lời xưng tụng cao quý và bình đẳng trước Thượng đế.

Như vậy vào 150 năm xưa, để hàn gắn thù hận cuộc chiến Nam Bắc, người Mỹ đã phải chờ đợi 35 năm mới tạm thời giải tỏa được nỗi niềm qua lãnh vực chung sự. Bao giờ đến lượt nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

33 năm đã trôi qua.

Image

Tóm lược về Nghĩa trang quốc gia Arlington
1. Năm 1802 khu đất Arlington là tài sản của dòng họ Lee. Lúc đó ông Rober E. Lee là tướng quân đội Liên bang, chỉ huy trưởng trường West Point. Sau ông ra đi làm tư lệnh quân đội miền Nam trong cuộc nội chiến. Hiện nay vẫn còn ngôi nhà Arlington House tưởng niệm tướng Lee. (#15).

2. Nghĩa trang quân đội lúc đầu có 200 mẫu, chôn người lính đầu tiên tên là Christman, thuộc trung đoàn 67 ngày 13 tháng 5-1864.

3. Người nô lệ da đen là phu đào huyệt đầu tiên James Parks, sanh ra tại Arlington được giải phóng sau nội chiến và khi chết cũng được chôn tại đây.

4. 1500 chiến binh da đen trong hàng ngũ Liên quân hy sinh trong nội chiến cũng được chôn tại đây.(Section 27) Trên mộ bia có tên và 4 chữ USCT (United States Colored Troup). Có trường hợp chỉ ghi Citizen. Không một người da đen nào chôn ở Arlington trong tư cách nô lệ. (#19).

5. Nội chiến Hoa Kỳ kéo dài trong 4 năm từ 1861 đến 1865. Đã có 620,000 quân của 2 bên chết chôn cất tại nhiều nghĩa trang khắp nơi. Riêng quân miền Bắc đã chôn tại Arlington là 16 ngàn người.

6. Thời gian từ 1892 đến 1943 đã có 1 số chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến cách mạng chống quân Anh đã được cải táng vào Arlington.

7. Lần lượt các chiến sĩ hy sinh trong đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Trung Đông đều được mai táng tại đây. Những tượng đài chiến sĩ vô danh (#8) cho mỗi cuộc chiến đều được xây dựng. Gồm cả các mộ chiến sĩ vô danh.(#14).

8. Hai vị tổng thống đã chôn tại Arlington là Tổng thống William H. Taft (#17) và tổng thống John F.Kennedy (#1) cùng các vị anh hùng tên tuổi, (#10) các phi hành gia, (#12) các anh thư liệt nữ của Hoa Kỳ.(#9) Các anh hùng của vụ 9/11 hay các chiến sĩ hy sinh trên các chiến hạm.(#11).

9. Hiện nay nghĩa trang Arlington có đến 624 mẫu đất và đã chôn cất trên 320 ngàn người gồm cả các tử sĩ và các công dân hy sinh cho đất nước. Mỗi tuần lễ, trung bình có 27 đám tang theo nghi lễ quân sự.

10. Sau cuộc nội chiến 1861-1865 có 2111 tử sĩ hai bên được chôn tập thể. Mộ chiến sĩ vô danh của cuộc nội chiến Hoa Kỳ nằm tại khu vực gần Arlington House (#14) . Năm 1901 là năm hòa giải dân tộc. Nghĩa trang và tượng đài của miền Nam được dựng lên (# 18 ).

11.Đặc biệt tại Arlington có tổng cộng 62 người không phải quốc tịch Hoa Kỳ được chôn cất.

Trong số nầy có 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. 9 người vô danh và 1 người là Thiếu tá bộ binh

Có 2 phi công Việt Nam vô danh mất tích tại Lào tháng 3-1968 trong chuyến bay cùng với Thượng sĩ Richarrd Fitts. Hiện chôn tập thể tại Section 34 grave 4524.

Trường hợp thứ ba là 7 chiến binh VNCH vô danh chết cùng 4 chiến binh Hoa Kỳ trên chuyến trực thăng rớt bên Lào ngày 5 tháng 3-1971 hiện chôn tập thể tại Section 3 Grave 4439.

Vào năm 1968-1971, Bộ tư lệnh KQ VN có thể đã ghi phi vụ mất tích, nhưng cho đến năm 1990 toán truy tìm MIA mới đến được chỗ lấy xác. Nhưng chỉ còn xương đã vở nát và lẫn lộn.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cộng sản Việt Nam trong cơn rối loạn
Tác giả: Trung Nghĩa


Bất cứ một tổ chức nào dù chính nghĩa hay phi nghĩa đều phải có những nguyên tắc hoạt động nhất định, trên nguyên tắc này, các hoạt động mới phối hợp nhịp nhàng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống tổ chức đó. Đảng cộng sản, nhà nước cộng sản được hình thành và hoạt động trên các nguyên tắc của học thuyết cộng sản - Một học thuyết chủ trương dùng bạo lực không giới hạn để đạt được các mục đích tốt đẹp cho nhân dân chỉ có trên giấy...

Chưa nói đến tích chất phản nhân văn của học thuyết cộng sản, mà xét ở góc độ cách thức tổ chức bộ máy, nguyên tắc hoạt động của cộng sản, thì hệ thống này đã đạt được những thành công nhất định. Có lúc nó đã tập hợp được số đông quần chúng, phối hợp hành động tạo ra những cuộc "cách mạng" làm rung chuyển cả thế giới... Chính các nguyên tắc tổ chức và hoạt động ngặt nghèo của cộng sản đã giúp Cộng sản Việt Nam sống sót qua cơn "đại hồng thuỷ lòng người" đã quét sạch cộng sản khỏi Đông Âu hồi cuối thập kỷ 80 thế kỉ 20. Sống sót nghĩa là: Còn sống sau một biến cố, một tai nạn lớn, trong khi những người cùng hoàn cảnh đã chết cả. (Từ điển tiếng Việt, 1997, trang 837).

Cộng sản Việt nam sống được đến hôm nay, yếu tố gặp may góp một phần không nhỏ. Nhưng cũng còn bởi yếu tố chủ quan là nó có được một bộ máy gớm ghiếc với các nguyên tắc tổ chức hoạt động rất ngặt nghèo… Nhưng trớ trêu thay, cái nguyên tắc tổ chức hoạt động rất ngặt nghèo của cộng sản giúp cho nó thoát hiểm thì cũng chính các nguyên tắc này đang bó tay nó, và đẩy cộng sản đến sát miệng huyệt mà họ dường như không cưỡng lại được...

Sự kiện Tổng Giáo Phận Hà Nội với những diễn biến mà cộng sản tưởng rằng đã kiểm soát được tình hình, sau khi dùng các phương pháp thủ đoạn hèn hạ với các tu sĩ, giáo dân Công Giáo và họ cũng đã phải hy sinh một đống lợi ích vật chất cũng như tổn hại thêm danh tiếng vốn đã không lấy gì làm tốt đẹp… Nhưng sự thực cộng sản có thể kiểm soát được tình hình không? Nó đang hoạt động nhịp nhàng hay rối loạn? Tại sao lại rối loạn?

1 Sự kiện thiên tai lũ lụt vào đầu tháng 11 năm nay cũng tố cáo bản chất đám quan chức cùng bộ máy cộng sản với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động phi nhân tính của nó:

Thiên tai vốn là hiện tượng của vũ trụ, ngoài khả năng điều hành của con người, thiên tai thì không có tính giai cấp, hay chính trị tôn giáo gì cả… Từ xưa đến nay vẫn thế... Nhưng từ 31/10 đến 5/11/2008 Hà Nội đón nhận một cơn mưa chưa từng có trong lịch sử từ khi có cơ quan khí tượng ghi nhận về thời tiết... Chính cơn mưa này đã vạch vặt chỉ tên những kẻ cầm đầu cộng sản cũng như bộ máy của nó về tính chất phi lý, phi nghĩa của những kẻ luôn xưng là đầy tớ của nhân dân, với bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân. Những thành phần dân chúng còn mơ hồ về bản chất lưu manh, những thủ đoạn hèn hạ mà quan chức cộng sản đã sử dụng trong vụ việc "Xây dựng hai vườn hoa siêu tốc cho nhân dân thủ đô" nay bỗng giật mình khi bị tên trùm cộng sản Phạm Quang Nghị sỉ vả là lười biếng, là ỷ lại, là chỉ trông chờ nhà nước cứu giúp, không tự cứu mình… Thật là nực cười khi người ta nhìn vào hệ thống an sinh thiên tai Việt Nam và thấy rằng ai đó có muốn ỷ lại cũng chẳng được gì, không lẽ họ ỷ được vào cái an sinh thiên tai gần như bằng số không của cộng sản? Sau một hồi nhục mạ dân lành, ông Phạm Quang Nghị lại quay sang đổ cho thiên tai là không thể dự đoán được…

Tại sao ông Nghị lại phát ngôn như vậy? Trong khi công bộc nhà nước luôn được dạy rằng "Cán bộ là đầy tớ của nhân dân" – "Nghiêng đồng đổ nước ra sông; Vắt đất ra nước thay trời làm mưa"? Là bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cộng sản đã đẻ ra nhân cách của ông Phạm Quang Nghị - Người tử tế, hiểu bản chất vấn đề, biết tôn trọng người dân làm sao mà vô được đảng cộng sản chứ chưa nói đến làm thủ lãnh cộng sản như ông Nghị!

Trong giới công chức Hà Nội vẫn còn đang loan truyền việc ông Nguyễn Thế Thảo - CTUBND bị đám giúp việc (vốn theo nguyên tắc tổ chức hoạt động của cộng sản được hình thành từ trước - ông Thảo không có quyền lựa chọn khi về nhậm chức) xúi làm ra chính sách cấm bán hàng rong… Vừa ra đã phá sản và đến người nhát gan nhất cũng sẵng giọng mà chửi rằng "Quân khốn nạn". Khi cơn mưa đã tạnh, ông chủ tịch Thảo thậm chí không dám đi thăm dân chúng vùng vẫn ngập, vì lúc đó ông Nguyễn Minh Triết đã xắn quần lội nước đi thăm rồi… Theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cộng sản, đó là một hình thức ông Triết cảnh cáo đám quan chức Hà Nội… Ông Nguyễn Thế Thảo có đi lội nước lúc này cũng vô ích trước bộ chính trị cộng sản…

Mãi đến khi trời đã tạnh mưa mấy ngày ông Nguyễn Thế Thảo mới cho vài cái xe tải "tăng bo" dân chúng đi qua những quãng đường còn ngập miễn phí, một cách chiếu lệ… Giả dối đến mức ông cộng sản bộ trưởng Nông Nghiệp – Cao Đức Phát phải tri hô lên rằng: Hà Nội phản ứng quá chậm với mưa lụt… Tại sao quan chức Hà Nội lại "Phản ứng quá chậm"? trong khi điều động và chi tiền cho các việc này là trong tầm tay và đâu phải từ tiền túi quan chức? Là bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cộng sản tầng tầng lớp lớp thủ tục, đẻ ra cỗ máy trì trệ tắc trách với nhân dân, không một cá nhân quan chức cộng sản nào (Dù còn chút lương tâm, dù muốn) có thể thay đổi được các nguyên tắc phi nhân tính này.

2 Bộ máy cộng sản với các nguyên tắc tổ chức hoạt động của nó, tiếp tục sản sinh ra những tên cộng sản gian manh, tự cáo giác bản chất lưu manh trước quốc tế.

Mấy ngày qua, không lấy gì làm ngạc nhiên khi một cán bộ cộng sản buôn lậu sừng tê giác bị báo chí Nam Phi bắt quả tang… Cũng không lấy gì làm ngạc nhiên khi tên đại sứ toàn quyền nhà nước cộng sản Việt Nam tại Nam Phi phát ngôn câu: Thật quá nhục nhã.

Nhưng như thế cộng sản cấp dưới đã sỉ vào mặt nguyên thủ cộng sản, tự sỉ vào mặt mình… Và trùng khớp với sự kiện cộng sản cắt xén lời nói của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt để vu cáo bôi nhọ Ngài hoá ra tự bôi nhọ mình…

Cả thế giới cũng như toàn thể dân Việt đang dõi theo việc giải quyết những vụ án cán bộ cộng sản tham nhũng tiền vay nước ngoài do cơ quan điều tra nước ngoài phanh phui… Cộng sản không thể dùng bàn tay để che mặt trời… Công việc này quá sức của nó, bởi các nguyên tắc tổ chức hoạt động của cộng sản không cho phép xử lý vụ việc một cách thỏa đáng và minh bạch. Ông Huỳnh Ngọc Sĩ có thể sẽ "tự sát" theo một nghị quyết của chi bộ đảng cộng sản để cứu nguy tình thế… Nhưng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy cộng sản sẽ lại đẻ ra những con buôn lậu hay tham nhũng tiền vốn vay nước ngoài mới… Vô phương cứu chữa.

Nếu muốn giải quyết được vấn đề, cộng sản buộc phải thay đổi hoàn toàn các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nó. Nghĩa là phải bỏ điều 4 Hiến pháp ngụy quyền lực nhân dân của cộng sản. Nói theo cách của UVBCT ĐCSVN Nguyễn Minh Triết, như thế chẳng khác gì cộng sản treo cổ tự vẫn.

3 Tiếp tục dùng bọn lưu manh nghiện hút, xã hội đen tấn công vào nhà thờ Thái Hà bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cộng sản là cán bộ nào cũng có quyền hành, cán bộ to cũng có lúc nhỏ, cán bộ dù nhỏ cũng có lúc rất to?

Đêm 15/11/2008, cán bộ cộng sản, cả công an cộng sản mặc sắc phục, cả côn đồ, cùng lúc có mặt trong khuôn viên nhà thờ, nhà Dòng Thái Hà lăng mạ, khiêu khích, tấn công giáo dân và tu sĩ Công Giáo, cán bộ, công an cộng sản mặc sắc phục có mặt không những không bắt kẻ có hành vi phạm tội quả tang, mà lại làm ngơ, thậm chí quay sang sách nhiễu đòi lục soát nhà Dòng... Sự việc làm các tôn giáo khác phải khiếp đảm… Đến mấy ni sư giáo hội Phật Giáo Việt Nam – Thành viên MTTQVN cũng phải đến tận nơi tìm hiểu… Họ cảm thấy không an toàn, có thể đến một lúc nào đó, trong hoàn cảnh náo đó, sẽ đến lượt họ…

Trước đó cũng những thủ đoạn này, cộng sản đã bị quay phim, tố cáo ra toàn thế giới. Lần này trước khi làm, chúng cũng thừa biết rằng không thể tránh khỏi bị quay phim chụp hình làm bằng chứng tố cáo… Nhưng chúng vẫn tiến hành…

Có phải cộng sản bất chấp thế giới văn minh? Có phải cộng sản sắp quay lại thời kỳ đóng cửa quốc gia để giết chóc dân lành? Chắc chắn không phải thế, vì cộng sản biết rằng làm thế nó sẽ chết đột tử.

Trong trường hợp này có hai khả năng xảy ra:

• Có thể đây là việc làm có tính toán thống nhất từ bộ chính trị cộng sản cho đến những tên cán bộ cộng sản ở cơ sở… Nhằm đánh phá ý chí đấu tranh của giáo dân tu sĩ Công Giáo, hoặc để thăm dò ý chí này… Nếu thất bại thì cấp trên đổ cho cấp dưới, cùng lắm thì "thí tốt"… Nếu như vậy, thì thật là ngu xuẩn bới chính ông tổ Lênin của cộng sản Việt Nam cũng đã cảnh báo: "Tuyên chiến với tôn giáo là việc làm ngu xuẩn" bất kể dưới hình thức nào… Cũng chắng có lý luận nào của chủ nghĩa cộng sản dậy rằng có thể dùng chiêu bài "thí tốt" để đánh lừa niềm tin, chiến đấu với tâm tình tôn giáo cả…

• Có thể đây là sự bất phục tùng của cộng sản các cấp, các vùng miền với nhau… Nếu thế, thì các nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy cộng sản khi va vào tôn giáo không những vô tác dụng mà còn phản tác dụng… Tôn giáo xưa nay vẫn lấy chữ tín, niềm tin, sự vâng phục trên dưới làm đầu… Nay cộng sản cấp cao nói một đằng, làm một nẻo, rồi đổ cho cấp dưới… Trong khi người ta vẫn chứng kiến những tên cộng sản cao cấp khi nổi giận thì đằng đằng sát khí, ra lệnh bắn giết cả đồng chí vì những việc trái ý cỏn con… (Hồ Chí Minh ra lệnh xử bắn Trần Dụ Châu …) Không ai dù trong tình thế nào, còn dám tin vào lời "bảo đảm" của cộng sản dù ở cấp cao nhất nữa…

Cả hai khả năng này đều là hệ quả tất yếu của các nguyên tắc tổ chức hoạt động của cộng sản. Chính nó đã làm cộng sản bị mù không còn khả năng nhận thức đúng vấn đề hay là làm cộng sản bị liệt, không còn khả năng điều binh khiển tướng…

Có thể nói bộ máy cộng sản Việt Nam đang rối loạn. Rối loạn vì các nguyên tắc tổ chức hoạt động của nó đã đến hồi vô hiệu. Nguyên tắc tổ chức hoạt động vô hiệu bởi nó xuất phát từ tâm địa đen tối vô luân của người cộng sản. Và bởi đã đến thời kỳ nhân loại không chấp nhận sự gian ác, dối trá, phản phúc của những người cộng sản… Nói cách ngắn gọn: Cộng sản đang rối loạn vì tà tâm.

4 Người công chính phải làm gì cho quốc gia, cho dân tộc, cho đạo pháp, cho công lý, và hoà bình?

Cộng sản Việt Nam sống được đến ngày nay là nhờ vào hai yếu tố: Chúng còn vận may và chúng có một bộ máy gớm ghiếc với các nguyên tắc tổ chức hoạt động rất ngặt nghèo… Nhưng xem ra hai yếu tố này đang dần dần mất đi mà chúng không thể níu kéo… Trong khi chỉ cần một trong hai yếu tố này mất đi, Việt cộng sẽ cáo chung.

Nhưng như thế có phải là những người dân Việt, người Việt quốc gia cứ ngồi đấy chờ đến lúc việt cộng mất một trong hai yếu tố sinh tử, rồi bất chiến tự nhiên thành? Nếu chỉ chờ đợi, ngày đó sẽ rất xa… Và còn nguy cơ khác nữa là những tên cộng sản sẽ tìm cách hoá thân, thành lập đảng phái với cái tên không cộng sản… Rồi tiếp tục tiếm quyền lãnh đạo quốc gia, sinh sát dân lành với cái vỏ bọc tinh vi là niềm tự hào, là tinh thần tự tôn dân tộc… Chúng ta hãy nhìn sang nước Nga, với Putin - Một tên cộng sản nòi, trong một cơ quan chó săn cộng sản nợ không biết bao nhiêu xương máu người vô tội… Dùng xảo thuật mà lên nắm quyền… Nhân quyền Nga được hưởng những gì? Kinh tế và hoà bình thế giới được hưởng lợi gì?

Mỗi con dân công chính nước Việt Nam dù ở đâu, trên địa vị nào, hãy hành động vì lòng yêu nước. Trước tiên là hãy truyền tin, hãy chống lại bộ máy tuyên truyền của cộng sản. Hãy làm phá sản các thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm của chúng… Rồi bằng năng lực của mình mà hãy tranh đấu về ngoại giao, về kinh tế, về văn hoá, về chính trị… Để đưa cộng sản về đúng chỗ của nó.

Chúng ta phải là các chi thể trong cùng một cơ thể, cùng phối hợp hành động, cùng đau đớn, cùng buồn vui… Không thể dùng con ngươi tròng mắt để đỡ một cú đấm, cũng không thể bắt chân tay tư duy trừu tượng, đoán định tình thế… Nếu là một bộ não trác tuyệt trên một thân thể bại liệt thì cũng là bất hạnh và ngày chiến thắng cũng mịt mùng…

Tôi muốn nhắn gửi người Việt trong nước đừng nói với kiều bào rằng: "Có giỏi thì về nước mà chống cộng". Tôi lại muốn nhắn gửi người Việt hải ngoại rằng: "Đừng chỉ trích, đừng dè chừng đồng bào trong nước cho rằng họ đã bị mất khả năng nhận thức vấn đề bởi cái xiềng cộng sản bao nhiêu năn nay…" Chúng ta đều là nạn nhân, đều phải chịu một phần trách nhiệm khi để cho cộng sản giầy xéo quê hương – Như thế là chưa trọn hiếu với tổ tiên. Không phải quốc tế mà chỉ chúng ta mới cứu được nhau và cũng chỉ chúng ta mới trả được hiếu cho tổ tiên Người Việt mà thôi.

Hà Nội ngày 20.11.2008
Trung Nghĩa
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Chuyện Quốc Ca Hoa Kỳ
24/11/2008


Nhân đọc một tài liệu về Quốc Ca Hoa Kỳ, tôi ngạc nhiên đến thích thú khi được biết âm điệu bài Quốc Ca Hoa Kỳ hiện nay, nguyên thuỷ đã là nhạc của một "bài ca uống rượu" (drinking song) của The Anacreonic Society (Hội Những Dân Chơi) một loại Câu Lạc Bộ Playboy Tửu Sắc đóng đô ở Strand London vào hậu bán Thế Kỷ 18. Tôi lần mò thêm một số tài liệu khác, kể cả của Chánh Quyền như Bộ Ngoại Giao, Thư Viện Quốc Hội, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hoa Kỳ...thì quả đúng như vậy. Xin đơn cử vài websites dưới đây:

http://www.loc.gov/exhibits/treasures/trm065.html http://en.wikipedia.org/wiki/The_Star_Spangled_Banner

Vào thời gian đầu, người ta vẫn nghĩ tác giả "bài ca uống rượu" là Dr. Thomas Arnold, người đã sáng tác nhiều bản nhạc cho Hội Anacreonic nhưng sau này, sau nhiều khảo cứu, Ông John Stafford Smith, một thành viên của Hội, được chính thức xác nhận là tác giả. Bài hát rất phổ thông ở Anh Quốc và Hoa Kỳ cuối Thế Kỷ 18 cũng như đầu Thế Kỷ 19 đến nỗi ai không biết bài này sẽ bị xem như không phải là dân chơi, dân sành điệu. Ông Francis Scott Key đã dựa vào nhạc của bài hát để viết nên bài thơ làm lời cho Quốc Ca Hoa Kỳ. Câu chuyện về bài thơ ấy như sau:

Trận chiến năm 1812 được coi là khốc liệt nhất khi người Anh tấn công và thiêu hủy điện Capitol và Toà Bạch Ốc ở Thủ Đô Washington Hoa Kỳ, sau đó họ chuẩn bị chiếm hải cảng Baltimore thuộc Tiểu Bang Maryland trong khu vực Vịnh Chesapeake. Hải cảng này được bảo vệ bởi Căn Cứ McHenry. Tổng số có 16 Chiến Hạm của Hạm Đội Vương Quốc Anh tham gia trận này đang xếp hàng tiến về mục tiêu.

Trước khi Hạm Đội vào trong tầm hiệu quả của đại bác, có hai người Mỹ, Đại Tá John Skinner cùng đi với một Luật Sư (kiêm Thi Sĩ tài tử) tên là Francis Scott Key, khởi hành từ Baltimore trên chiến hạm HMS Minden, đến một trong những chiến hạm Anh, để điều đình về việc thả Bác Sĩ William Beanes (một người bạn của Key đã bị bắt trong trận chiến Washington DC). Công tác này thực ra nằm trong một kế hoạch trao đổi tù binh đã được Tổng Thống James Madison phê chuẩn. Skinner và Key lên Chiến Hạm HMS Tonnant ngày 7 tháng 9 nói chuyện với Trung Tướng Robert Ross và Đô Đốc Alexander Cochrane khi họ đang soạn thảo kế hoạch tấn công. Lúc đầu phía Anh Quốc từ chối việc trao trả Bác Sĩ Beanes nhưng sau khi Skinner và Key cho họ đọc những lá thư do chính những tù binh thương binh người Anh viết cảm tạ sự chăm sóc tận tâm của BS Beanes, người Anh đồng ý. Vì lý do sắp đến ngày khai hoả, đồng thời e ngại việc tiết lộ kế hoạch, cả 3 người đều bị tạm giữ trên tàu Surprise, sau đó chuyển qua HMS Minden, chờ cho xong cuộc tấn công.

Hạm đội Anh gồm 16 chiến hạm bắt đầu đồng loạt pháo kích và tấn công căn cứ McHenry ngày 12/9/1814 và kéo dài trong 2 ngày kể cả một nỗ lực đổ bộ lên phía Tây của căn cứ nhưng đã bị hoả lực từ cứ điểm cuối cùng của thành phố là đồn Covington chặn đứng. Đại Tá Skinner và Key hồi hộp theo dõi cuộc chiến từ trên tàu Anh. Không ai có thể cung cấp một chút tin tức nào. Hai ông chỉ biết nhìn về chân trời, nơi Căn Cứ McHenry có một lá đại kỳ dài 42 feet (cỡ 14 mét). Lá cờ này thời bấy giờ có 08 sọc đỏ, 07 sọc trắng và 15 ngôi sao trắng (hiện vẫn còn được lưu giữ và trưng bày tại Viện Bảo Tàng National Museum of American History. Quốc Kỳ ngày nay có 07 sọc đỏ, 06 sọc trắng và 50 ngôi sao trắng).

Đêm 13/9 cuộc pháo tập đột nhiên ngừng hẳn. Sự im lặng ngột ngạt bao trùm. Không rõ cuộc tấn công thất bại hay căn cứ McHenry đã thất thủ. Francis Key nóng lòng ngồi chờ bình minh lên. Khi những tia sáng yếu ớt đầu tiên xuất hiện cuối chân trời, Key mở to mắt cố gắng nhìn về hướng McHenry. Hình như có một lá cờ ẩn hiện trong sương mai dày đặc nhưng không biết cờ phe nào. Càng chờ, niềm hy vọng càng dâng cao với ước mơ, Key đã viết 2 câu thơ đầu tiên:

O, say can you see, Ô kìa bình minh lên
by the dawn's early light Đang tan dần sương mai
What so proudly we hail'd Làm sáng thêm hy vọng
at the twilight's last gleaming Thấp thoáng ở chân trời

Gió thổi nhè nhẹ trong sương sớm. Lá cờ vẫn đong đưa xa xa. Đôi mắt Key hoen lệ nhìn chăm chú như muốn nổ tung. ...thêm từng tia nắng cho bầu trời sáng dần....đúng rồi! Key nhận ra đó chính là những cái sọc thân thương! Chính là những ngôi sao trìu mến! Đúng là căn cứ McHenry vẫn còn đứng vững! Đúng là phe ta đã toàn thắng. Key sung sướng la lên:

T'is the Star-Spangled Banner Cờ Sao chính là đây
O long may it wave Sẽ ngàn năm tung bay
O'er the land of the free Tự do miền đất hứa
And the home of the brave Quê hương của can trường

Trận chiến kết thúc. Đại Tá Skinner và Key cùng với người bạn BS Beanes được đưa vô đất liền phóng thích chiều tối 16/9. Đêm đó Key đã hoàn chỉnh 04 câu thơ tại khách sạn Indian Queen Hotel dưới tựa đề "Defense of Fort McHenry" (Phòng Thủ Căn Cứ McHenry). Sáng hôm sau, ông đem đến khoe người anh rể đang là một thẩm phán tại địa phương Judge Joseph H. Nicholson. Ông này thích quá đem in ngay trên tờ Bản Tin. Thật ra, Francis Scott Key không mong mỏi gì hơn vì 04 câu thơ này khi đọc lên nó có cùng một số câu, số chữ tương tự như âm điệu của một bài hát phổ thông thời bấy giờ của dân nhậu là bài "to Anacreon in Heaven" (Tay Chơi Trên Thiên Đình). Nhạc có sẵn vì rất nhiều người đã biết. Lời lại phản ảnh chuyện thời sự nóng bỏng nhất. Thế là bài hát được truyền đi nhanh chóng. Đặc biệt tại những quán rượu. Nâng ly mừng chiến thắng. Hát vang lời ca mới toanh vinh danh biến cố này. Nỗi vui và niềm tự hào cuồn cuộn dâng cao, lan ra khắp nơi. Ba ngày sau, người ta đưa lên cả hai tờ Baltimore Patriot và tờ The American. Rồi tiếp tục xuất hiện trên 17 tờ báo suốt từ Georgia lên đến New Hampshire. Năm đó (1814) F.S. Key vừa tròn 35 tuổi. Bài hát được đổi tựa thành "The Star-Spangled Banner" ("Cờ Đính Sao" hay "Cờ Sao") được Hải Quân Hoa Kỳ chính thức xử dụng năm 1889, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson công nhận năm 1916 nhưng phải đến ngày 3 tháng 3 năm 1931 mới được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận và Tổng Thống Herbert Hoover ký sắc lệnh công nhận là Quốc Ca.

Trước năm 1931 cũng đã có một số bài hát được xử dụng song hành với bài Cờ Sao, nổi bật nhất là bài "Hail, Columbia" như những quốc ca trên thực tế (de facto) chứ chưa có một bài nào được Quốc Hội chính thức thông qua. Chỉ sau khi có bài báo của Robert Ripley ngày 3/11/1929 đặt vấn đề: "Bạn biết không? Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa có Quốc Ca!", dư luận mới rầm rộ lên, đưa đến việc chính thức hoá bài "Cờ Sao".

Điều 36 U.S.C khoản 301 (United States Code: Luật về Tác Phong) quy định rằng "Bất cứ ai, khi nghe Quốc Ca có sự hiện diện của Quốc Kỳ, ngoại trừ những quân nhân mặc quân phục, cũng phải đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng vào Quốc Kỳ, tay phải đặt lên tim mình. Những ai có đội mũ thì giở mũ ra bằng tay phải, úp mũ lên vai trái với bàn tay phải ở vị trí tim mình. Quân nhân mặc quân phục phải chào kính theo lễ nghi quân cách. Trong các buổi lễ, khi có Quốc Ca mà không có Quốc Kỳ thì cũng phải làm như vậy cho đến hết nốt nhạc cuối cùng".

Ngay cả trong các cuộc diễn hành, khi có toán Quốc Kỳ dẫn đầu, chúng ta thấy đa số khán giả hai bên đường đứng dậy, một số người chào kính theo quy định trên đây.

Phải công nhận rằng bài Star-Spangled Banner rất khó hát vì độ cao thấp quá xa, quá cách biệt (một octave rưỡi). Luật Tác Phong Hoa Kỳ không quy định phải hát theo nhưng nếu hát được càng tốt, có thể hát theo bằng tiếng Việt nếu thích, nếu không, cũng nên hiểu ý nghĩa của lời ca. Nhìn các Vận Động Viên Hoa Kỳ trên đấu trường hay trên bục nhận huy chương, khi Quốc Ca Hoa Kỳ được trổi lên, thấy họ hát theo thật cảm động, nhìn thấy trong ánh mắt họ niềm kiêu hãnh, tự hào quê hương, đất nước. Bài này đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới như Latin, Pháp, Đức...mà bản tiếng Tây Ban Nha "Nuestro Himno" (Our Anthem) do những người Mễ hát trong những lần biểu tình mấy năm qua đã gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên bản dịch tiếng Spanish năm 1919 tựa đề "La Bandera de Estrellas" (The Flag of Stars) đã được Sở Giáo Dục thuộc Bộ Nội Vụ lúc bấy giờ công nhận.

Người viết xin được gợi ý phần tiếng Việt của bài Quốc Ca Hoa Kỳ này, đề nghị độc giả thử hát bài Quốc Ca Hoa Kỳ bằng tiếng Việt như dưới đây xem có xuôi tai và dễ hát hay không, "mua vui cũng được một vài trống canh" thôi, đồng thời xin vui lòng chỉ giáo thêm nếu thấy cần bổ túc hay sửa chữa. Chân thành cám ơn.
QUỐC CA HOA KỲ THE STAR-SPANGLED BANNER

Ô kìa bình minh lên Oh, say can you see,
Ánh dương tan dần sương mai By the dawn's early lights
Làm tỏ sáng thêm hy vọng What so proudly we hailed
Rộn ràng thấp thoáng nơi chân trời As the twilight's last gleaming
Những sao sọc ngời quang vinh Whose broad stripes and bright stars
Đã bao phen cuộc tử sinh Through the perilous fight
Từ đổ nát thê lương điêu tàn O'er the ramparts we watched
Vẫn sừng sững hiên ngang bóng cờ Were so gallantly streaming
Đêm qua đêm pháo sấm sét And the rockets' red glare
Tiếng bom rền vang khắp chốn The bombs bursting in air
Vẫn uy nghi ngọn cờ Gave proof through the night
Vẫn cao vút lòng son sắt That our flag was still there
Dù bao khốn khó luôn kiên gan Oh, say, does that Star-Spangled
Chí lớn tung bay Banner yet wave
Trời tự do miền đất hứa O'er the land of the free
Và quê hương của can trường? And the home of the brave?
NGUYỄN THẾ THĂNG
kbc4648@aol.com
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thái Độ Phi Chánh Trị
Tác giả: GS Nguyễn Văn Bông
Trong những năm qua, tại miền Nam tự do nầy cuộc sinh hoạt chánh trị đã xoay vòng trong mâu thuẫn. Và một trong những mâu thuẫn trầm trọng nhứt có lẽ là thái độ phi chánh trị của đa số công dân và những nhà lãnh đạo trong lúc chính yếu tố chánh trị quyết định sự sống còn của đất nước.

Thật vậy, vì chánh trị và nhân danh chánh trị người ta quay cuồng trong những trò chơi khốn nạn, ném đá giấu tay, người ta dám có những hành động bán nước hại dân để rồi, dư luận xảo trá, bịp bợm, xôi thịt, bè phái được gắn liền với danh từ chánh trị. Và từ đó, công dân chán ghét chánh trị cho chánh trị là một địa hạt không liên quan đến mình, trở về cuộc sống riêng tư và chuyên môn, phó mặc sinh hoạt chánh trị cho những “anh hùng chuyên môn tán dóc”. Thái độ thụ động và bàng quan nầy là một trở ngại cho công cuộc chống Cộng hiện nay và nếu còn tiếp tục sẽ có hậu quả không hay cho tương lai nền dân chủ.

Nếu sự sống cô đơn là ảo tưởng, nếu mối tương quan xã hội là một dữ kiện không thể tránh của con người ngày nay thì dầu chánh trị có được xem là bệnh dịch hạch hay là địa hạt nào của những xảo trá, xôi thịt, con người không thể thoát vòng kềm tỏa của chánh trị. Và dầu có cố ý sống trong tháp ngà hay vô tình lánh xa xã hội, khung cảnh cũng như trật tự pháp lý và những vấn đề chánh trị vẫn chi phối và quấy nhiễu chúng ta.

Trong cuộc sinh hoạt chánh trị hiện nay, người ta nhận thấy có hai trào lưu tư tưởng, hai khuynh hướng. Tuy khác biệt nhau, nhưng chung qui chỉ là hai hình thức của thái độ phi chánh trị. Khuynh hướng thứ nhứt đưa đến sự phủ nhận tính cách chánh trị của hoạt động mình. Khuynh hướng thứ hai nhằm đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.

Vì tầm quan trọng của vấn đề trước viễn ảnh đấu tranh chánh trị, chúng ta thử phân tách và phê bình hai khuynh hướng phổ thông nầy.

Có những người mà hoạt động của họ cũng như hành vi của họ mật thiết liên quan đến sinh hoạt chánh trị. Nhưng họ quả quyết rằng những hành động ấy không có tánh cách chánh trị, họ phủ nhận những hành động của họ, lập trường của họ không có tánh cách chánh trị. Tại sao?

Thái độ phi chánh trị vừa nêu, nghĩ cho cùng, chỉ là một ảo tưởng. Sở dĩ có như thế là vì những người này có một quan niệm quá hẹp hòi, quá khắt khe về chánh trị, đôi khi lại chống chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì chỉ liên quan đến chánh đảng, đến bè phái. Vì vậy, khi mà hoạt động của họ có vẻ trên đảng phái hay ngoài đảng phái thì cho đó là những hành vi không có tánh cách chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì liên quan đến ý thức hệ, đến sự đấu tranh giành quyền lực, cho nên khi hoạt động của họ bề ngoài có tánh cách kỹ thuật, dựa trên kinh nghiệm thực hành, thì không bao giờ họ nhận rằng hành vi ấy là hành vi chánh trị.

Tại sao thái độ vừa nêu là ảo tưởng?


Chúng ta đã biết rằng có nhiều người mà hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách chánh trị, nhưng họ quả quyết phủ nhận tánh cách ấy. Tại sao?

Vì quan niệm quá chật hẹp về chánh trị. Họ không chấp nhận được rằng chánh trị chi phối những địa hạt quan trọng và rộng rãi giữa mối tương quan của con người, chớ không phải vì vỏn vẹn nằm trong lãnh vực định chế và chánh quyền. Họ từ khước việc xem xét, việc cân nhắc những hậu quả chánh trị của hành vi mà họ cho rằng chỉ có tánh cách riêng tư.

Tâm trạng này là tâm trạng của rất nhiều người.

Đó là trường hợp của những đạo sĩ, những vị tu hành. Những vị này, trong những ngày cách mạng, giữa lúc chánh biến, có những hành vi như: góp tiền để giúp tù nhân chánh trị, cho ở trong nhà mình, giấu trong nhà mình những kẻ đối lập chánh trị. Đó là những hành vi hoàn toàn và không thể chối cãi có tánh cách chánh trị. Nhưng vì lòng từ thiện của họ, vì họ cho rằng làm như thế ngoài mục đích chánh trị, mà trái lại vì đó là bổn phận, vì đó là để tránh cho con người những đau khổ. Họ thành thật cho rằng không vì lý do chánh trị, nhưng họ quên rằng những hành vi ấy có hậu quả chánh trị.

Đó là trường hợp của những người cầm bút, của văn sĩ, nghề nghiệp của họ đưa đến một lập trường chánh trị, hoặc có hậu quả chánh trị mà họ không ý thức. Những người cầm bút trong những bộ tiểu thuyết hay những quyển tùy bút, tiểu luận v.. v.. khi họ tố cáo những tệ đoan trong xã hội, khi họ miêu tả chánh giới với những đặc điểm như loạn luân, lãng mạn, những con buôn chánh trị, khi họ tố cáo những thối nát của chánh quyền, thì dù muốn dù không dù cho họ có phủ nhận rằng họ không bao giờ có ý định phán đoán giá trị xã hội mà họ phác họa hay phân tích, dù muốn dù không, hành vi của họ có tánh cách chánh trị, có hậu quả chánh trị, và đôi khi, nhận định của họ có ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sinh hoạt chánh trị.

Đó là trường hợp của những nhà BÁC HỌC: khi họ tố cáo thảm họa của thí nghiệm nguyên tử hay chiến tranh nguyên tử, lời tuyên bố hay hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách khách quan, trên cả ý thức hệ và đảng phái chánh trị. Vẫn biết rằng hành vi ấy chỉ nhằm mục tiêu cao cả, nhân đạo và sự tồn vong của nhân loại, nhưng họ không thể ngăn cản được sự kiện là lời tuyên bố của họ sẽ được khai thác trên phương diện chánh trị, lời tuyên bố của họ không thể có ảnh hưởng chánh trị và là một yếu tố quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế.

Đây là một vài ví dụ tâm trạng thường thường của nhiều người tưởng mình đứng ngoài chánh trị. Lập trường phi chánh trị này dựa trên những hành vi mà người ta cho rằng tự nó không có tánh cách chánh trị, nhưng đó chỉ là ảo tưởng vì, dù tự do không có tánh cách chánh trị, nó vẫn là hành vi có hậu quả chánh trị. Mà tất cả những hành vi có hậu quả chánh trị là những hành vi chánh trị.

Thái độ phi chánh trị này, chúng ta lại tìm thấy được đề cao bởi những tổ chức, nhưng đây không phải là những ảo tưởng: nó trở thành một chiến thuật.

Vì chánh trị có tiếng không tốt cho nên các lãnh tụ nghiệp đoàn, hiệp hội hay tôn giáo ngại rằng có một thái độ chánh trị rõ rệt hoặc dùng những danh từ hơi chánh trị một chút có thể làm sứt mẻ tình đoàn kết của nhơn viên và làm cho họ hoảng sợ. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo khôn khéo luôn quả quyết rằng lập trường của mình hay quyết định của mình chỉ nhằm việc bảo vệ quyền lợi của đoàn thể ngoài mọi tranh chấp chánh trị. Họ cố tránh những danh từ chánh trị và chỉ nêu lên nào là quyền lợi nghiệp đoàn, nào là quốc gia dân tộc. Mặc dầu họ trực tiếp can thiệp vào chánh quyền và sự can thiệp có tánh cách chánh trị không thể chối cãi, họ cũng vẫn tuyên bố chỉ nhơn danh đoàn thể và đứng ngoài đảng phái và tranh chấp chánh trị.

Tuy nhiên, đó chỉ là thái độ phi chánh trị bề ngoài và ai cũng thừa hiểu rằng những tổ chức không mục tiêu chánh trị luôn luôn có những hành vi chánh trị. Sở dĩ nhà lãnh đạo bao trùm lên những hành vi chánh trị một bức màn có vẻ khách quan, trung lập, đó chỉ là một chiến thuật nhằm đạt được kết quả mong muốn mà thôi.

Thái độ phi chánh trị không những là một ảo tưởng hay ngụy trang mà còn là khuynh hướng đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc. Khuynh hướng này rất phổ thông nhứt là sau một cuộc khủng hoảng chánh trị. Người ta tố cáo chánh trị lấn áp sinh hoạt quốc gia và làm hỏng mọi việc. Người ta lý luận rằng con người trong xã hội chỉ lo sống, một cuộc sống hằng ngày, an thân với những lo âu sung sướng cá nhơn hay gia đình của họ. Đó là vấn đề chính của đa số công dân. Còn những ai theo dõi các vấn đề quốc gia, có ý thức chánh trị, cũng như có ý muốn tham gia vào cuộc sinh hoạt chánh trị rất là hiếm có. Và như vậy rất tốt vì, theo lý luận này, quốc gia nào trong ấy công dân tham gia, thảo luận quá nhiều về chánh trị, quốc gia ấy đến ngày tàn.

Theo khuynh hướng vừa nêu, chánh trị là cái gì cao siêu, phức tạp, khó khăn mà chỉ có một nhóm người am hiểu và đủ thẩm quyền giải quyết. Những kẻ chủ trương thái độ thụ động của công dân là con người dân chủ, hay đúng hơn họ chấp nhận nguyên tắc dân chủ, nhưng họ quan niệm rằng, giữa hai cuộc bầu cử, công dân nên trở về công việc riêng tư, hằng ngày của họ. Tóm lại, thái độ xem sự thụ động của công dân là triệu chứng tốt đẹp của cuộc sinh hoạt chánh trị dựa trên hai ý tưởng chánh:


- QUẦN CHÚNG VÔ THẨM QUYỀN để quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia và, nếu có sự am hiểu đi nữa họ chắc chắn sẽ quyết định theo quyền lợi riêng tư của họ.


- QUYỀN LỰC VÔ CHÁNH TRỊ , tức là một quyền lực tối thượng để giải quyết những vấn đề trọng đại, trên những tranh chấp nhỏ nhen về quyền lợi trong sinh hoạt chánh trị bình thường.


Cần phải khẳng định ngay rằng luận cứ vừa nêu không đứng vững. Quần chúng vô thẩm quyền? Đó là sự xác định vô căn cứ. Thường thường chánh quyền hay bao trùm một màn bí mật trên các vấn đề quốc sự, để rồi núp sau tha hồ định đoạt. Thật ra không có một vấn đề chánh trị nào mà không thể giải thích rõ ràng, và sự kiện quần chúng vô thẩm quyền chỉ là sự bịa đặt hầu gạt sự tham gia của công dân ra ngoài cuộc sinh hoạt chánh trị.


Một quyền lực vô chánh trị, siêu chánh trị để giải quyết những vấn đề trọng đại? Luận cứ chỉ phản ảnh của một ảo tưởng. Cho rằng có thể lấy một quyết định chánh trị và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn, hay quan điểm không chánh trị chỉ ảo tưởng. Khi phải quyết định về phương diện chánh trị, tác giả của nó lấy một quyết định chánh trị và đương nhiên là một nhơn vật chánh trị.


Vẫn biết rằng khi mà công dân có một thái độ tách rời chánh trị, không chú ý nhiều đến cuộc sinh hoạt chánh trị, có thể đó là triệu chứng của một cuộc sinh hoạt ổn định. Khi mà guồng máy chánh trị, hành chánh của quốc gia chạy đều và trong nước có thanh bình, thịnh vượng thì lẽ tất nhiên các vấn đề chánh trị kém phần sôi nổi. Vẫn biết rằng nhà cầm quyền cần có một chút tự do, một phần tự trị nào đối với dư luận. Chánh quyền không thể thi hành sứ mạng của mình một cách hữu hiệu nếu dư luận cứ thọc gậy bánh xe, gán cho danh từ “con rùa” khi mới cầm quyền chưa đầy một tháng. Nếu sự tham gia của công dân đưa đến hậu quả như vậy thì sự tham gia nguy hiểm hơn sự bất tham gia. Những chỉ trích việc tham gia chánh trị của công dân làm cho chúng ta phải để ý đến mực tự trị tương đối của chánh quyền. Nhưng không vì lẽ đó mà lại đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.

Thái độ phi chánh trị là nguyên nhơn của sự suy đồi chánh trị. Rất nhiều chế độ đã bị lật đổ vì đã trốn chánh trị, đã từ khước sự tham gia của công dân. Thay vì giữa chánh quyền và nhơn dân nên có một luồng điện thông cảm và cùng giải quyết các vấn đề, người ta chỉ thấy trong chế độ nầy những diễn văn rườm rà, những danh từ trống rỗng, một tinh thần vô trách nhiệm.

Sinh hoạt chánh trị tại Việt Nam đã dứt khoát hay chưa với thái độ phi chánh trị nầy.

Nguyễn Văn Bông
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

"TQ là mối đe doạ cho dân chủ"
Vaudine England
BBC News, Hong Kong


Lord Patten thường lên tiếng thẳng thắn về các mối quan hệ quốc tế
Trung Quốc không chỉ là mối đe dọa về nguồn hàng xuất khẩu giá rẻ mà còn là cả một "mối đe dọa cho dân chủ", cựu thống đốc Hong Kong Chris Patten nói với BBC.
Lord Patten nói rằng Trung Quốc quảng bá ý tưởng làm giàu không cần nhờ tới dân chủ, và ý tưởng đó chính là một mối đe dọa cho phương Tây.

Ông nói các tổ chức như ASEAN cần phải được tăng cường sự vững mạnh để có đủ sức xử lý các vấn đề khu vực.

Lord Patten được đám đông ủng hộ viên đón chào khi ông tới Hong Kong quảng bá về cuốn sách mới nhất của mình.

Cuốn "What's Next? Surviving the Twenty-first Century", tạm dịch là "Bước tiếp theo? Sinh tồn trong Thế kỷ 21", nhằm đánh giá những thách thức trong tương lai.

Nội dung cuốn sách nói về thay đổi khí hậu, nạn buôn người, vũ khí, ma tuý và các khía cạnh thuộc "mặt tối của toàn cầu hoá".

Theo cách nhìn của ông, hầu hết các bất ổn của Á châu nằm ở Miến Điện, Trung Quốc và vấn đề dân chủ, trong đó có một số vấn đề đã từng khiến các quốc gia ASEAN nổi giận.

Tuy cuốn sách có những nội dung thú vị nhưng vị cựu thống đốc vẫn là một nhân vật tiếp tục gây bất hoà.

Thách thức về hệ thống

Ông nói thách thức thực sự mà Á châu đang vấp phải chính là sự chưa công nhận những nền tảng dẫn tới sự phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây, cả mức độ thịnh vượng lẫn mức độ tự do.


Thủ lĩnh sinh viên Wang Dan biểu tình đòi dân chủ hồi 1989, sự kiện mà Bắc Kinh luôn tránh nhắc tới

Ông nói: "Cụ thể là Đông Á, và cả Nam Á nữa, đã rất thành công nhờ một hệ thống chủ yếu được hình thành dưới sự dẫn dắt của Hoa Kỳ, đó là hệ thống kinh tế thị trường tự do hơn, thương mại cởi mở hơn, dẫn tới những nền chính trị dễ thở hơn."

"Tôi cho rằng Trung Quốc là ví dụ đầu tiên về một quốc gia đã thành công một cách đáng ngạc nhiên trong hệ thống quốc tế này, thế nhưng lại có những thách thức về nền móng cơ bản trong nước."

"Và thách thức của họ lại được đón chào bởi các nhà nước chuyên chế kém thành công hơn nhiều, ví dụ như giới lãnh đạo độc tài tại Châu Phi."

Tuy nhiên, ông nói ông không cho rằng mô hình Trung Quốc "độc tài, phi tự do theo đường lối tư bản chủ nghĩa" sẽ chiến thắng, bởi nó không có "van an toàn" mà các nền dân chủ đem lại trong những thời điểm khó khăn.

Khi được hỏi liệu Trung Quốc có trở thành một lực lượng đáng gờm trong các mối quan hệ quốc tế hay không, Lord Patten ghi nhận sự đóng góp của nước này vào các lực lượng gìn giữ hoà bình trên thế giới.

Nhưng khi nói về vai trò của Trung Quốc trong cuộc xung đột Darfur ở Sudan, ông nói trong lúc Trung Quốc đã "che chắn phần nào" cho chính phủ Sudan tại Liên Hợp Quốc, việc quy trách nhiệm cho Trung Quốc về cuộc xung đột là không công bằng
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

CSVN đang trắc nghiệm khả năng đối kháng
của cao trào đòi Công lý và Hòa Bình
Phong trào đòi công lý dưới ống kính ký giả Hauter (François Hauter, envoyé spécial à Hanoï, Le Figaro 13/11/2008). Nhà báo Hauter nhấn mạnh các điểm được tóm lược như sau:

1.- “Giáo hội công giáo kháng cự lại chính quyền. Trong lúc chính quyền cộng sản bảo vệ quyền lợi của thành phần tham nhũng của chế độ, thì giáo hội là chỗ nương tựa của những người thấp cổ bé miệng.”

2.- “Từ vài tháng qua, Giáo Hội Công Giáo đã phải đứng ra như một đối lực duy nhứt có khả năng chống lại chế độ Hà Nội, và bắt buộc chế độ phải nghe theo”.

3.- “Rõ ràng là đảng cộng sản đang trắc nghiệm khà năng đối kháng ấy. Tại Việt Nam, kể từ khi “cách mạng” 1945 đến nay, đó là hiện tượng chưa từng thấy”.

4.- “Giữa hai thế lực đã từng đọ sức với nhau từ một nửa thế kỷ qua, con người cộng sản và các giám mục Việt Nam đã biết rành thực chất của nhau. Tại Hà Nội, hai bên tồn tại trong một thế chung sống bắt buộc và căng thẳng, thường là đau khổ chớ chẳng phải mặn nồng đối với người công giáo. Giáo Hội công giáo là cộng đồng duy nhứt, của toàn dân, dám nói lên tiếng nói của mình. Chỉ có công giáo mới mạnh dạn biểu tình công khai”.

5.- “Trong bối cảnh thời hậu-cộng sản, vô luật lệ và chẳng quyền hành gì, Giáo Hội giúp đỡ dân nghèo nàn, trêu cợt người quyền thế, nên được coi như nơi chốn nương thân của dân nghèo".

Ông Hauter chỉ là một người ngoại quốc. Nhưng ông đã thấy các nét quan trọng nổi bật ghi trên. Giống những nét căn bản, trên tổng quát, của Công Đoàn Liên Kết Solidarity (Solidarnosc) vào thời điểm họ tranh đấu cho quê hương Ba Lan. Nhờ vị thế và hướng tranh đấu ấy, Công Đoàn Solidarnosc, dưới cờ tiên phong của anh thợ điện Lech Wasela trở thành lãnh tụ, đã giải phóng Ba Lan khỏi CS. Để nắm vững vấn đề đòn bẩy do TKS và Thái Hà tạo ra, chíng ta cần thích ứng tổ chức và hành động và tìm hiểu sức mạnh của phong trào đòi công lý và hòa bình tại quốc nội đã chuyển bánh như thế nào?

Căn bản của phong trào đòi công lý và tư hữu qua cầu nguyện:

Khởi đầu từ TKS lan qua Thái Hà, một lực lượng đông đảo người giáo dân Công giáo đã ý thức về vai trò và trách nhiệm tranh đấu cho công lý qua việc đòi đất đã bị cNhà nước Việt Nam chiếm đoạt bất hợp pháp nay lại muốn khai thác đầu tư thương mại. Qua việc tranh dấu của giáo dân, họ cũng đánh thức được tâm thức quần chúng về quyền lợi và vai trò công dân của mình. Tuy dù giáo dân Công giáo chỉ là phần nhỏ chừng 7% dân số trong số 85 triệu dân Việt Nam, nhưng vì hoàn cảnh, họ đã tạo được bước đột phá và đi tiên phong đòi công lý và tư hữu cho toàn dân tộc. Hiện nay 7% dân số ấy xem như là lực lượng là tiền phong tại quốc nội, nhờ vào hệ thống tổ chức thống nhất và lãnh đạo được đào tạo hẵn hoi, có khả năng đối kháng công khai ngay tại địa bàn Việt Nam do CSVN cầm quyền.

CSVN là một thể chế vô thần và là thể chế của bạo tàn và lừa dối, nên sẽ không thể đứng vững được lâu dài. Đàng khác thể chế này chứng tỏ cho thấy không quan tâm gì tới nhu cầu của nhân dân mà chỉ biết vơ vét, lũng đoạn, hối lộ, và làm giầu cho chính bản thân các cán bộ của đảng gồm chừng 3 triệu đảng viên.

Giáo Hội CGVN qua hành động đòi công lý đang đẩy CSVN vào thế phơi bày tất cả mưu mô xảo trá và những trò khủng bố của họ trước dư luận quốc tế. Sự kiện CSVN đã phải cho Công an và du đãng, dân nghiện ngập từ chổ khác dẫn về Thái Hà và đánh phá vào ban đêm là một dẫn chứng hùng hồn về thói bạo tàn và lường gạt của cộng sản. Sau đó họ còn láo khóet truyền thông rằng đó là "phản ứng tự phát của nhân dân”. Điều này càng làm cho dân chúng bắt đầu hồ nghi về tư cách đạo đức và lối hành xử vô luân và phạm pháp của chính nhà cầm quyền. Dân chúng giờ đây xem ra đã bắt đầu quay lưng và không tin vào nhà cầm quyền nữa, vì trong suốt 60 năm qua đã được ăn những chiếc bánh vẽ và phải hy sinh để tạo dựng cái quái thai CSVN hôm nay.

Phong trào đòi công lý, quyền tư hữu và các nhân quyền đặt căn bản vào hai yều tố: Niềm tin vô biên vào đứng chí tôn và Tuyên Ngôn Toàn Thế Giới Về Nhân Quyền của LHQ đã được chấp nhận ngày 10/12/1948. Mẫu thước mà các quốc gia hay nhà nuớc trên thế giới đã ký vào. Bản tuyên ngôn ấy gồm 30 điều khỏan. Nay qua tình hình tại Việt Nam. CSVN xem như đã vi phạm, từ tinh thần tới chữ viết, gần hết 30 điều khoản bàn của tuyên ngôn. Vả nặng nề nhất là điều khỏan 5, 11, 17. Xin ghi lại sau đây 30 điểu khoản của bản tuyên ngôn Nhân Quyền của LHQ mà CSVN đã ký.

Tuyên ngôn Nhân Quyền của LHQ

Điều 1: Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.

Điều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội.

Điều 3: Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân.

Điều 4: Không ai phải làm nô lệ hay bị cưỡng bức làm việc như nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị ngăn cấm.

Điều 5: Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6: Mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi.

Điều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất cứ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản tuyên ngôn này cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy.

Điều 8: Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bênh vực theo pháp luật trước những hành vi vi phạm các quyền cơ bản do hiến pháp hay luật pháp quy định.

Điều 9: Không ai bị bắt, giam giữ hay đày đi nơi khác một cách độc đoán.

Điều 10: Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện, đều có quyền đươc một toà án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.

Điều 11:

(1) Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó dã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.

(2) Không ai bị kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bị coi là một tội hình sự theo quy định của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy.

Điều 12: Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy.

Điều 13:

(1) Mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia.

(2) Mọi người đều có quyền rời khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình.

Điều 14:

(1) Mọi người đều có quyền tìm kiếm và được lánh nạn ở những nước khác khi bị ngược đãi.

(2) Quyền này không được áp dụng trong trường hợp đương sự bị truy tố vì những tội không mang tính chất chính trị hay vì những hành vi đi ngược lại mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 15:

(1) Mọi người đều có quyền nhập quốc tịch của một nước nào đó.

(2) Không ai bị tước đoạt quốc tịch của mình hay bị khước từ quyền được thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:

(1) Nam hay nữ đến tuổi thành niên đều có quyền hôn nhân và xây dựng gia đình mà không có bất cứ một hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong cuộc sông vợ chồng và lúc ly hôn.

(2) Việc kết hôn chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên. (3) Gia đình là một đơn vị tự nhiên và cơ bản của xã hội và được xã hội và nhà nước bảo vệ.

Điều 17:

(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hay chung với những người khác.

(2) Không ai bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc doán.

Điều 18: Mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng dưới hình thức truyền bá, thực hành, thờ phụng hoặc lễ tiết, với tư cách cá nhân hay tập thể, công khai hay riêng tư.

Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới.

Điều 20:

(1) Mọi người đều có quyền tự do họp hành và tham gia hiệp hội một cách hoà bình.

(2) Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.

Điều 21:

(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của nước mình, một cách trực tiếp hay thông qua những đại diện được tự do lựa chọn.

(2) Mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ công cộng của đất nước mình một cách bình đẳng.

(3) Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, theo nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông và bình đẳng và được thực hiện qua bỏ phiếu kín hoặc qua các thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự.

Điều 22: Với tư cách là thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội cũng như được thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia.

Điều 23:

(1) Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn công việc, được hưởng điều diện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống lại tình trạng thất nghiệp.

(2) Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho công việc như nhau, không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào.

(3) Mọi người đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và thuận lợi đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm và được hỗ trợ thêm từ các hình thức bảo trợ xã hội khác, nếu cần thiết.

(4) Mọi ngượi đều có quyền thành lập và tham gia các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả quyền được hạn chế hợp lý về số giờ làm việc và hưởng những ngày nghỉ định kỳ được trả lương.

Điều 25:

(1) Mọi người đều có quyền được hưởng mức sống đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các mặt ăn, mặc, ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, goá bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng kiểm soát của mình.

(2) Các bà mẹ và trẻ em cần được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em, sinh ra trong hoặc ngoài giá thú, đều được hưởng mức độ bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:

(1) Mọi người đều có quyền được học hành. Phải áp dụng chế độ giáo dục miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và giáo dục cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải mang tính phổ thông, và giáo dục cao học phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có đủ khả năng.

(2) Giáo dục phải hướng tới mục tiêu giúp con người phát triển đầy đủ nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục phải tăng cường sự hiểu biết, lòng vị tha và tình bằng hữu giữa tất cả các dân tộc, các nhóm tôn giáo và chủng tộc, cũng như phải đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc vì mục đích gìn giữ hoà bình.

(3) Cha, mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn loại hình giáo dục cho con cái.

Điều 27:

(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia xẻ những thành tựu và lợi ích của tiến bộ khoa học.

(2) Mọi người đều có quyền được bảo hộ đối với những quyền lợi về vật chất và tinh thần xuất phát từ công trình khoa học, văn học và nghệ thuật mà người đó là tác giả.

Điều 28: Mọi người đều có quyền được hưởng trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó các quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:

(1) Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ.

(2) Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

(3) Trong bất cứ trường hợp nào, việc thực hiện những quyền và tự do này cũng không được đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 30: Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong bản tuyên ngôn này.

Hồng Lĩnh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Cộng Sản Việt Nam và Tự Do Báo Chí
Tác giả: Thông Biện Tiên Sinh.



Tờ Tuổi Trẻ ở Sài Gòn lại một lần nữa lâm đại nạn! Tai nạn lần này
cũng như của mấy năm trước: Nó có dây mơ liên hệ tới Cha Già Dịch
Dân Tộc Hồ Chí Minh!

Mấy năm trước, Tổng Biên Tập Vũ Kim Hạnh vì khui vụ Hồ Chí Minh cũng
từng vợ con tùm lum, nên bị thất sủng, cho đi nghỉ mát dài hạn. Lần
này, hai Tổng và Phó Biên Tập nhà ta chơi gì không chơi, lại đi làm
chuyện thăm dò...xem ai là Thần Tượng Mới của Tuổi Trẻ Việt Nam ngày
nay. Kết quả thì Hồ Quá Cố Chủ Tịt chỉ được 37%. Nghe đâu dưới
Bill Gate, Bill Clinton của Mỹ, chỉ hơn được Tướng Khập Khiễng Võ
Nguyên Giáp và ... Bà Già Giết Giặc Nguyễn Thị Bình Nguyễn Thị Định
gì đó!

"Chuyện vô lý nào cũng có thể xảy ra được dưới chế độ Cộng Sản Việt
Nam!" Dường như toàn dân và toàn quân ...lẫn toàn thể phe ta đang
tỵ nạn lòng vòng khắp nơi trên thế giới, đều biết và biết rất rõ
nguyên lý nói trên. Lãnh tụ gì đi nữa cũng vẫn là một con người.

Thậm chí, có nhiều tay lãnh kiểu nhưu Stalin của Nga hay mấy chóp bu
Khmer Đỏ Pol Pot từng "tàn sát hằng triệu triệu dân mình" để bước đi
trên con đường "lý tưởng Đỏ", xem chừng còn thiếu nhiều Tính Người
nữa là đằng khác. Hồ Chủ Tịt đã từng được vẽ vời trong trí tưởng
của tuổi thơ quàng khăn Đỏ Việt Nam là một ông già mà mỗi mắt có tới
...hai đồng tử, ông ta sống thanh đạm và rất yêu trẻ con. Cả đời
ông ta...chưa từng bao giờ lấy vợ (!!!) mà chỉ dâng hiến tất cả cho
Kách Mệnh (chữ của Hồ Chí Minh)!

Do đó khi Tổng Biên Tập Tuổi Trẻ Vũ Kim Hạnh..cho công bố vụ vợ con
của Hồ Chủ Tịt cao cả và mến yêu, bà liền tức thì bèn được ...cho đi
làm Cựu Tổng Biên Tập. Như vậy, hẳn là bà Vũ Kim Hạnh đã có người
nào đó chống lưng và bao che giúp đỡ nên chỉ bị...trừng trị nhẹ như
rứa.

Tội là tội cho tờ báo Tuổi Trẻ! Vì muốn phục vụ Tuổi Trẻ, nên các
Tổng Biên Tập phải theo nhu cầu của thời đại. Mà thời đại hiện nay
là thời đại Tin Học của đầu thiên niên kỷ mới. Đối với tuổi trẻ
thời đại, mọi chuyện đều phải được cho biết một cách tường tận và
đàng hoàng. Không có những vụ bưng bít, che đậy và bóp méo này nọ.
Tuổi Trẻ dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam cũng vậy. Ít nhiều họ cũng
đã học được tinh thần minh bạch và trong sáng của các nước Tự Do Dân
Chủ, qua sách báo và nhất là Internet.

Thời đại quân chủ xa xưa, các đấng minh quân vẫn năm thê bảy thiếp.
Nào là Đông Cung, Tây Cung, Bắc Cung, Nam Cung... Chưa kể những Tài
Nhân, Mỹ Nhân và hàng chục ...những chức vợ Vua khác nữa! Bi nhiêu
cung thì bi, bi nhiêu nhân này nhân nọ thì minh quân vẫn là minh
quân, trị nước và an dân một cách ngon lành, lưu danh hậu thế. Ấy
vậy mà chẳng biết tại sao và vì sao, hồi thế kỷ vừa qua, nước Việt
Nam ta lại ....đẻ ra cái sự vụ hễ cứ muốn là một minh quân, một
nguyên thủ quốc gia chân chính và ...khả dĩ được "toàn dân" ủng hộ,
thì phải ..làm bộ giữ mình trong sạch giá gương, không thèm lấy
vợ...Ông Hồ, ông Ngô là hai biểu tượng điển hình của hai chủ nghĩa
đối nghịch. Tiếp theo đó còn nhiều "chính khách" đang vợ con đùm đề
cũng chơi màn "vợ thà coi như chiếc lá khoai" và "con thà coi như
cái bánh Tây", bỏ nhà ra đi làm...chuyện lớn!

Kể chuyện vợ con của lãnh tụ, còn là bao nhiêu chuyện lỉnh kỉnh khác
chung quanh ông ta, nhất là dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam . Các
lãnh tụ phải luôn luôn được nhân dân ngưỡng mộ và đặt niều tin từ
95% trở lên. Dù thực sự nhân dân không còn tin các ngày dù là 1%
nào đi nữa, thì bổn phận các Cơ Quan Tuyên Truyền trong đó có báo
chí, là phải ...dàn xếp sao cho coi được!

Tờ Tuổi Trẻ, vì ... Tuổi Trẻ bồng bột chẳng biết úy thủ, úy vĩ gì
sốt, nên sau sự vụ vợ con Hồ Quá Cố Chủ Tịch của bà Vũ Kim Hạnh, hai
Tổng và Phó Biên Tập hiện nay lại ..sa vào vết chân què của người đi
trước Vũ Kim Hạnh, chơi cái thăm dò Thần Tượng mới của Tuổi Trẻ Hôm
Nay. Đã thăm dò ra sự thật đau lòng, lại chả biết "Tốt Khoe Xấu
Che" là gì, ngang nhiên đăng tải tùm lum là "Cha Già Dịch Dân Tộc"
Hồ Chủ Tịt nhà ta lại chỉ còn được 37% sự ngưỡng mộ và tin tưởng của
tuổi trẻ.

Hai người Tổng và Phó Biên Tập báo Tuổi Trẻ sẽ bị trừng trị là cái
chắc! Có điều, lần này chả biết sẽ bị nặng nhẹ ra sao so với bà Vũ
Kim Hạnh tiền nhiệu. Còn tờ báo Tuổi Trẻ tương lai bị dòm dỏ trù
dập nặng nề hơn là chuyện tất nhiên!

Có điều, chẳng biết sau hai Tổng và Phó Biên Tập Tuổi Trẻ sắp bị...
hành hình, nhân vật.."liều mạng" nào sẽ dám cắn răng bước ra thừa kế
sự nghiệp đau thương???

Bởi vì, tờ Tuổi Trẻ đến nay rõ ràng là đã bị vận vào một cái
"huông", nói nôm na theo kiểu bình dân học vụ! Là ai đứng ra cầm
chịch cho tờ báo, sớm muộn gì rồi cũng sẽ bị vướng tai ương cho mà
xem!!! Chuyện này, thực ra, có thể giải thích khoa học phân tích
được một cách logic đường hoàng: Báo Tuổi Trẻ hẳn nhiên là được đa
số độc giả là thành phần Trẻ Tuổi đọc. Những người Trẻ Tuổi họ có
cái tinh thân Mới và chuộng sự Thật, sự Trong Sáng... Đến nay đã là
năm 2001, mà biểu họ vẫn cứ chăm chăm vào một cái xác khô đang nằm
tô hô ở lăng Ba Đình để chiêm bái và ngưỡng mộ, thì quả là chuyện
ruồi bu. Hỏi, thì "tui" nói. "Tui" thấy mấy ông như Bill Gate hay
Bill Clinton của Mỹ quả là những hình tượng đáng noi theo của Tuổi
Trẻ hôm nay.

Vấn đề là ở chỗ, sau khi bỏ công thu thập kết quả của cuộc thăm dò,
có những con số...nguy hiểm dường ấy, mà hai vị Tổng lẫn Phó Tổng
Biên Tập đương kim của báo Tuổi Trẻ lại ngang nhiên...phạng lên báo
nhà. Tuy tiếng là Báo Nhà, nhưng cần phải nhớ Nhà đây là Nhà Nước,
tức là cái Nhà của Đảng Cộng Sản Việt Nam Chuyên Chính và Độc Tài.
Muốn Tự Do Báo Chí hả ???? Còn khuya!!!

Cái công thức thiên kinh địa nghĩa của các Đảng Cộng Sản dù là Cộng
Sản của bất cứ quốc gia nào là: Hai chữ Tự Do tất nhiên đi ngược lại
chủ thuyết Cộng Sản. Có Tự Do là không có Cộng Sản. Bởi đó, muốn duy
trì chế độ Cộng Sản, chiêu thức đầu tiên và cuối cùng vẫn là bóp
chết tất cả các quyền Tự Do. Nhất là Tự Do ngôn luận, trong đó có
báo chí. Có Tự Do ngôn luận, "thằng" dân sẽ có phương tiện đòi thêm
tất cả những "cái quyền" Tự Do Khác!!! Như các Tôn Giáo Việt Nam
đang đòi Tự Do Tôn Giáo, chắc chắn vẫn phải nhờ các phương tiện
truyền thông ngôn luận để phổ biến tinh thần những đòi hỏi, tranh
đấu của mình.

Do đó, "bất cứ khi nào" và bất cứ nhân vật nào của Cộng Sản Việt
Nam mà có ngứa mồm tuyên bố, rằng thì là Việt Nam Cộng Sản bây chừ
đã có .. Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Báo Chí rồi, thì chắc chắn đó chỉ là
những lời tuyên bố dỏm và giả !

Thông Biện Tiên Sinh.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Oan Cho Dân Ta Quá !

Bút Phím
Thỉnh thoảng, cứ nghe thông tin rằng “dân oan” ở các tỉnh lại kéo về Sài gòn khiếu kiện, trưa nay, lại nghe “dân oan” ở khu Kim Liên Hà nội đòi tự thiêu nếu công an đến giải tán họ, tôi tự hỏi: “Sao lại gọi là dân oan nhỉ?”

À, hẳn là họ bị chính quyền sở tại đối xử không công bằng, bị kẻ có chức quyền ức hiếp… Nghĩ cũng oan thật! Đất đai nhà cửa là mồ hôi nước mắt làm lụng từ đời này sang đời khác, bỗng dưng biến mất mà chỉ nhận được một số tiền không tương xứng thì ai không khỏi kêu gào oan khuất.

Bất giác sờ tay lên gáy: - Thế mình có phải là dân oan không nhỉ? Đất đai nhà cửa không bị giải tỏa, nhưng cứ có cảm giác rằng lâu nay mình vẫn phải mang trên đầu, trên cổ một cái gì đó rất nặng nề. Vẫn chưa thể lý giải nó là cái gì.

Thôi, dẹp sang bên lo viết cái đơn xin chuyển trường cho thằng nhóc đã! Vừa vào MsWord mở cái file “Don.doc” có lưu sẵn tiêu đề:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tôi bỗng lạnh toát cả người, như thể có một luồng điện chạy dọc suốt sống lưng. Trời đất, mình cũng là dân oan, hơn 80 triệu dân Việt hiện nay đều là dân oan cả!

Vâng, chính xác và hoàn toàn chính xác!

Đây nhé, cái gọi là Chủ nghĩa xã hội đã mang lại được gì cho dân ta ngoài cái thời bao cấp, cấm chợ ngăn sông, xếp hàng ăn độn, đói rách bần cùng... Ai nghĩ đến cái thời ấy mà không rùng mình sởn tóc gáy? Thế mà nó cứ chễm chệ nằm trên đầu trên cổ chúng ta trong mọi văn bản pháp quy, trên những cái cổng chào cao ngất, cứ như thể rằng mấy chục triệu dân Việt Nam đều phải đội ơn cái Chủ nghĩa xã hội này vậy. Oan cho dân ta quá, oan quá còn gì.

Tiếp đến là cái tiêu đề phụ “Độc lập…”.

Tôi tự hỏi hiện nay chúng ta đang sử dụng danh từ này theo nghĩa nào? Tự điển nào có thể định nghĩa được từ “độc lập” này khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Tự điển nào cắt nghĩa cho cái từ “độc lập” này khi Bắc Kinh lệnh cho Hà Nội phải dẹp biểu tình, cấm dân chúng không được biểu lộ lòng yêu nước bằng thái độ ôn hòa? Có ai chỉ giúp tôi cuốn tự điển ấy không? Giá nào tôi cũng mua, nếu không có thì oan cho dân ta quá, oan quá còn gì.

“…Tự do…”, ôi hai tiếng này như tắc nghẹn lại trong cổ họng tôi khi tôi hình dung cảnh hàng trăm ngàn người cùng da vàng máu đỏ, phải bỏ xác giữa biển khơi để đánh đổi cái “tự do” này lấy cái Tự Do bên kia bờ Thái Bình Dương. Đêm đêm tôi vẫn gào thét trong giấc mơ hai từ “tự do”, rồi sáng dậy loay hoay vượt tường lửa vào đọc tin tức từ thế giới Tự Do. Oan cho dân ta quá, cho cả những linh hồn đã chết oan lẫn những người còn đang sống.

Với “độc lập” ấy, với “tự do” kiểu ấy, xin nhường quyền bình luận từ “hạnh phúc” cho quý vị độc giả.

Tôi vẫn chỉ có một câu: Oan cho dân ta quá, oan quá còn gì!

Mới chỉ là dòng tiêu đề của lá đơn, tôi đã thấy oan khuất chất chồng. Chợt khám phá ra một điều thú vị: những cái gì hào nhoáng, bóng bẩy trong cái xã hội giả dối này đều chứa đựng điều bất ổn. Quên bẵng lá đơn với cái tiêu đề đáng sợ, tôi bắt đầu việc tìm kiếm các “mỹ từ” khác.

Và đây: “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nhân dân ta làm chủ cái gì? Đất nước này ư?

Không. Ông chủ gì mà đầy tớ tự quyền cắt đất, nhượng biển vẫn không hề hay biết. Đến khi biết được thì cấm “ông chủ” không được hé răng kêu ca. Làm chủ kiểu gì khi một bác sĩ dịch bài viết “Thế nào là dân chủ” từ Anh sang Việt ngữ và phổ biến cho mọi người thì ông ta lập tức bị bắt bỏ tù. Oan cho nhân dân ta quá, oan quá trời ơi!

Rồi đây nữa: “…nhà nước của dân, do dân và vì dân”.

Thế à? “Của dân” là thế nào khi các thỏa hiệp về biên giới, lãnh hải được ký kết mà không qua một cuộc trưng cầu dân ý. Ngược lại, người dân muốn lên tiếng xác nhận chủ quyền lãnh thổ quốc gia lại phải xin phép đảng. Oan quá dân ta ơi!

“Do dân” là thế nào khi người dân không có quyền bầu lên những người họ tín nhiệm, đại diện cho quyền lợi của họ.

Cuối cùng, ai cũng thấy rõ những gì đảng và nhà nước này làm có thực sự “vì dân” không, hay chỉ vì lợi ích cá nhân của mấy triệu con người có gương mặt sắt máu, có trái tim đá sạn, có linh hồn đã bán rẻ cho quỷ dữ.

Rồi lịch sử sẽ phán xét công bằng, tội đồ dân tộc sẽ nhận đúng tội danh. Vận mệnh nước nhà chưa đến, hơn 80 triệu dân Việt có nhận thức được nỗi oan khiên mà mình đang gồng gánh suốt mấy chục năm qua không?

Đừng để những người dân mất đất, mất nhà phải cô đơn trong hai tiếng “dân oan”. Hãy chia sẻ, hãy đồng cảm cùng với họ, dân Việt ta ơi!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Hãy Thả Họ Tức Khắc
Trần Khải
Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, người đã bị giam và lãnh án tù vì cớ “trốn thuế,” nhưng thực ra là vì kêu gọi biểu tình chống CSTQ chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa...

Đã tới lúc nhà nứơc CSVN cần phải thả anh Điếu Cầy, mà không cần chờ tới dịp Tết để ân xá hay chờ bất kỳ dịp nào khác, vì chính ngay khi CSTQ đưa tàu tới thăm dò các mỏ dầu Biển Đông là lúc toàn dân VN cần được chính phủ trấn an rằng cả nứớc đều chung một lòng giữ đất, giữ đảo.

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, và hãy chính thức đưa ra lời xin lỗi anh; hãy nói rằng việc anh và các bạn thanh niên biểu tình đòi giữ đất, giữ đảo là điều hợp lý, và haỹ nói rằng đất nứơc cần rất nhiều người như anh, những người nóng lòng khi nghe chuyện cõi bờ bị xâm phạm.

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, và phải trả tự do tức khắc, vì Trung Quốc đang ngày càng hung hãn lấn hiếp -- phần thì vận chuyển tiền giả, ma túy, chở rau, sữa lậu mang độc chất melamine tràn ngập VN với giá rẻ, phần thì lấn biển kiếm dầu, phần thì tình báo Trung Quốc bắt đầu mở các hồ sơ mật để đưa các sự thật ẩn kín ra nhằm phá hoại tên tuổi qúôc tế của ông Hồ Chí Minh, từ hồ sơ mật về người vợ Tăng Tuyết Minh, cho tới có tin rằng ông Hồ thật đã chết năm 1932 và người khác đã mang lý lịch giả này...

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, để toàn dân đoàn kết một lòng, vì sóng gió Biển Đông đã thấy bắt đầu dữ dội, nếu không giữ đoàn kết một lòng, sẽ khó mà đương cự với cường đồ Phương Bắc...

Đã tới lúc nhà nước CSVN cần phải thả anh Điếu Cày, bởi vì ngay cả trên báo nhà nứơc VietnamNet cũng đã bắt đầu bênh vực anh qua một hình thức khéo léo: cho độc giả qua VietNamNet đòi hỏi gìn giữ chủ quyền biên giới lãnh thổ Việt Nam... Trong tình hình này, còn giam anh Điếu Cày là còn làm cho lòng dân không an ổn.

Báo nhà nươc VietNamNet phát hành trên mạng ngày 1-12-2008, có nhan đề là “Người dân ủng hộ việc xác định chủ quyền Việt Nam” đã có nhiều ý kiến điển hình như sau, trích:
“Hàng nghìn bạn đọc qua VietNamNet đã bày tỏ sự đồng cảm và nhất trí với tuyên bố của Bộ Ngoại giao về việc xác định chủ quyền biên giới lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến.
Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam

Tôi rất hoan nghênh lời phát biểu của ông Lê Dũng: "...khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...". Đó là sự thật không thể chối cãi! Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là đất đai của ông cha ta để lại. Toàn bộ nhân dân Việt Nam ủng hộ sự khẳng định này! Patriod_vn, TP.HCM, email: pearl_river_2007@...
Cần những hành động mạnh mẽ hơn lời tuyên bố trên, phải bảo vệ chủ quyền nước nhà bằng mọi giá. Nguyễn Duy Thanh, TP.HCM, email: herocrest_131@...

Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của dân tộc Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử khẳng định điều này. Chính vì vậy, Trung Quốc nên tôn trọng chủ quyền Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẵn sàng đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của mình. Thanh Lam, Sóc Trăng, email: thanh_lam6622@...

Việt Nam cần phải có biện pháp cứng rắn hơn về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa. Người dân chúng tôi luôn ủng hộ các biện pháp của Đảng và Chính phủ. Pham Van Khoa, Hải Dương, email: leducthinh2006@...

Tôi nghĩ nhà nước ta không thể chỉ tuyên bố chủ quyền như vậy mà phải có hành động cụ thể, sáng suốt. Nếu không, tài nguyên ở những nơi đó cạn kiệt là điều không thể tránh khỏi. Ha Trung, Hưng Yên, email: hatrung7@...
Tôi rất ủng hộ những tuyên bố vừa qua, đây là sự vi phạm chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam phải tuyên bố rõ ràng về vấn đề này. Nguyen Manh Thang, Hà Nội, email: muadong_nuocnga@...

Ông cha ta đã vất vả để tạo dựng và có được chủ quyền trên hai quần đảo thì sao chúng ta lại không bảo vệ và phát triển được trên hai quần đảo đó? Cần phải có những biện phát thiết thực và hiệu quả hơn là điều mà mọi người dân mong muốn. Trần Minh, Kim Bảng, Hà Nam, email: minhcdt@...
Tôi hoàn toàn đồng ý với tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam, chúng ta hoàn toàn khẳng định chủ quyền lãnh thổ của chúng ta. Kim Xuân Hòa, Vĩnh Phúc, email: kimvanhoa@...

Nhà nước cần có những hành động kiên quyết và cứng rắn hơn về chủ quyền quốc gia dân tộc. Chúng tôi luôn ủng hộ đất nước. Đặng Đình Quy, email: dangdinhquy5984@...

Việt Nam có đủ bằng chứng lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng tôi rất tin điều này và luôn ủng hộ Chính phủ xác định chủ quyền đối với đất nước. Nguyen Huu Hieu, Hà Nội, email: Hieunguyen.hut@...

Truyền thống yêu nước chưa bao giờ phai mờ trong mỗi trái tim người Việt Nam chúng ta. Thời gian qua giới trẻ đã cho thấy điều đó. H.A, Bình Dương, email: qlgtbd@... (...)

Là một người lớn lên ở Miền Bắc XHCN, ngay từ thuở cắp sách đến trường, tôi đã thuộc lòng bài hát: Việt Nam - Trung Quốc núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông thắm tình hữu nghị. Trung Quốc bao giờ cũng nói: "đồng chí tốt, bạn bè tốt láng giềng tốt, đối tác tốt"… nhưng lời nói và việc làm của họ thật quá xa. Trong khi diễn ra những hoạt động "hữu nghị" thì họ ép những công ty thăm dò dầu khí nước ngoài đang làm ăn với chúng ta phải rút đi, họ dùng sức mạnh, bỏ ra hàng chục tỷ đôla để tìm cách chiếm hữu khai thác dầu khí trên vùng chủ quyền của nước ta.
Trong những ngày qua, dư luận của người Việt trên khắp thế giới hết sức sôi sục, đòi hỏi phải tỏ thái độ. Thậm chí nhiều người đã đề xuất biện pháp không dùng hàng Trung Quốc để phản đối… Chưa biết có đúng hay không, nhưng thực tình mà nói, cứ nhìn đến hàng Trung Quốc, tôi lại thấy đằng sau là cả một loạt những chuyện: Nói một đằng làm một nẻo... Lê Tư Thái, Phủ Thông, Bắc Kạn

Đề nghị Trung Quốc thực hiện theo nội dung Công ước Luật biển 1982
Tôi lấy làm bất ngờ khi tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc công bố đại dự án thăm dò, khai thác dầu khí trong khu vực tranh chấp ở biển Đông. Trong khi cách đó không lâu, Trung Quốc đã liên tiếp gây sức ép với tập đoàn BP (Anh) và Exxon Mobil (Hoa Kỳ) buộc họ phải rút khỏi các dự án hợp tác thăm dò dầu khí, cho dù ở vùng thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền của Việt Nam.

Điều đáng nói, động thái trên của phía Trung Quốc được đưa ra ngay sau khi Thủ tướng nước ta vừa có chuyến thăm Bắc Kinh. Truyền thông hai nước đã đưa rất đậm những tuyên bố hữu nghị, hợp tác giữa hai bên, tái khẳng định nguyên tắc "hòn đá tảng" cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc cho hiện tại và tương lai với 16 chữ vàng mà chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc khái quát đề xướng là "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và phương châm "Bốn tốt": "láng giềng tốt, hợp tác tốt, đối tác tốt, đồng chí tốt".

Thế giới ngày nay là thế giới văn minh, mọi ứng xử đều phải tuân theo luật pháp. Những hành động chèn ép kiểu nước lớn đã không còn phù hợp và gây nên phản cảm. Đương nhiên, thời đại nào, quốc gia nào cũng tồn tại bất đồng, xung khắc nhưng mọi bất đồng, tranh chấp đều phải được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế, quy tắc ứng xử và hợp tác mà hai bên đã đề ra, chứ không phải làm những việc đã rồi. Huống chi, Trung Quốc, Việt Nam và các bên liên quan đã phải mất nhiều thời gian và nỗ lực đàm phán để đi tới Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông năm 2002, trong đó đã ghi rất rõ: các bên đồng ý tự kiềm chế, tránh những hành động có thể gây căng thẳng và xung đột tại Biển Đông. Bùi Thành, Gia Lâm

Trung Quốc không thể đứng trên Công ước Luật biển để hành xử
Với hành động ngang ngược này, Trung Quốc đã vi phạm Công ước Luật biển năm 1982. Tất cả mọi nước phải có trách nhiệm thực hiện nội dung công ước đó và Trung Quốc cũng vậy. Thu Linh, Quảng Ninh

Tôi rất bất bình trước việc Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế. Nếu muốn trở thành cường quốc, đóng vai trò lãnh đạo trong thế giới này, trước hết, Trung Quốc phải tuân thủ đúng những cam kết luật pháp quốc tế mà mình đã tham gia, không thể đứng trên luật pháp.

Về phía Việt Nam, tôi cho rằng ta phải có hành động cụ thể. Cần huy động sức mạnh nhân dân để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Xin các vị lãnh đạo hãy vì quyền lợi của dân tộc, giữ gìn cho muôn đời sau. Email: tim_kiem_love@...” (hết trích)

Đó là một phần trích từ lời của người dân trong nước, được báo nhà nứớc đăng tải. Đây là lúc nhà nứớc hãy suy nghĩ cho chín chắn: chỉ cần trả tự do cho nhà báo tự do Điếu Cày, kèm một lời xin lỗi đăng trên các báo, sẽ là bứơc đầu để hàn gắn lòng dân trứơc làn sóng dữ Phương Bắc.

Những trận đánh sắp tới nếu xảy ra, thật khó lường được thiệt hại. Chiến tranh là điều phải tránh, nhưng cũng là quyết định bất đắc dĩ phảỉ lựa chọn, vì có khi lùi thêm một bước là sẽ mất hết... Hãỹ nhìn tấm gương Tây Tạng mà biết sợ, để biết gìn giữ lòng dân cho cuộc chiến lớn, nếu phải xảy ra.

Hãy trả tự do cho anh Điếu Cày, và cho tất cả những người hoạt động dân chủ khác... Vì họ đã chứng tỏ cho cả nứơc nhìn thấy rằng họ đã là nhuũng ngừơi đi đầu vận động cho hạnh phúc toàn dân, đang chịu đựng các đàn áp bất công của nhà nứóc, và sẽ vẫn luôn luôn là những người không rời cuộc chiến vì an nguy của cả dân tộc.

Hãy trả tự do cho họ, tức khắc. Vì toàn dân muốn như thế.

TRẦN KHẢI
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest