Page 16 of 39

Posted: Mon Apr 30, 2012 5:54 pm
by vuphong


Image

CHỜ NHAU,
XÓT XA CHỜ NHAU

Trong chương trình 70 năm tình ca, người dẫn chương trình là ông Hoài Nam đã nhắc lại một giai đoạn tình yêu của nhạc sĩ Vũ Thành An. Nhắc đến Vũ Thành An, những người ở lứa tuổi người viết nhớ ngay “Những Bài Không Tên” thật da diết về tình yêu, những khắc khoải rã rời về sự tan vỡ…

Người viết tóm tắt : “ Vào năm 1965 Vũ Thành An viết nhạc và Nguyễn Đình Toàn đặt lời cho bản Tình Khúc Thứ Nhất để kỷ niệm một mối tình. Cuộc tình kéo dài được một năm thì chấm dứt với bản Bài Không Tên Cuối Cùng do chính Vũ Thành An đặt nhạc lẫn lời đánh dấu sự tan vỡ đó…”

Sau Bài Không Tên Cuối Cùng, Vũ Thành An gặp tình yêu khác và rồi lại tan vỡ để những Bài Không Tên khác xuất hiện… không theo một thứ tự nào…! Năm 1969, ông lập gia đình và bài Không Tên Số 5 ra đời như một tin vui…. Tuy nhiên, theo nhiều người thẩm định về mặt nghệ thuật trong dòng nhạc của Vũ Thành An – Bài Không Tên Số 8 là đặc biệt nhất, cung cách thật độc đáo cả về lời, ý, nhạc….

Nói về tình khúc thật khó, có người thích bài này, có người cảm bài kia. Vì thế, ông Huy Phương có lần đã thổ lộ : “ …Mỗi bài hát, của riêng mỗi người đều mang theo những màu sắc, âm thanh của một ngày tháng cũ xa xưa nào đó, cho nên đối với người này bản nhạc có thể có ý nghĩa, quay quắt tuyệt vời, với người kia là tầm thường vô vị. Những ca khúc được hát lên trong một đoạn đời nào đó, sẽ được nhắc lại, vẽ lại bây giờ, đó là giai điệu của một mối tình, một hình ảnh, một tháng, một ngày, một phút giây. Khi tiếng hát được cất lên, chúng ta không nhìn ra người hát, không nhớ tới người viết. Nó là nỗi niềm riêng của mỗi người, là châu báu không thể ban cho ai. Chính những dòng nhạc đó đã tiềm ẩn sẵn đâu đó trong vùng sâu kín của tâm hồn, đang trỗi dậy gọi chúng ta về với những ngày tháng cũ…”

Dư âm của những ngày dành cho những cặp tình nhân đắm đuối nôn nao tìm tặng nhau những thỏi kẹo ngọt, rượu nồng, hoa thơm…Khiến người viết bồi hồi lục lại chồng nhạc xưa :

Đêm nay gió xôn xao
Ngoài kia đã vang lời mưa chào
Chờ mộng ấp hơi nồng
Tình lấp cho đầy hư không

Tìm nhau, thắp đêm tìm nhau
ướp môi tìm nhau, với tay tìm nhau
Chiêm bao mặc áo tình nhân
đội lời nguyền thương thân trót đời

Chờ nhau, xót sa chờ nhau
Hắt hiu chờ nhau, năm vàng ngày héo
Thôi em màu môi cũng nhạt
Chìm theo suối mê thời gian

Đêm mưa lũ tìm về
một cơn lốc xoay đời quên đời
Lời ngày đó ân cần
Tìm đến ôm đèn chong đêm

Nhớ nhau, tìm đến nhau
Nắng mưa ngược xuôi
Đời mình cơn lốc xoáy
Mai mốt rồi thương vay

Nếu yêu nhau, xin nhau
Thương cuộc đời khô héo
Xin dịu dàng dắt dìu
Tìm nhau, thắp đêm tìm nhau
Ướp môi tìm nhau, với tay tìm nhau
Chiêm bao mặc áo tình nhân
Đội lời nguyền thương thân trót đời

Chờ nhau, xót xa chờ nhau
Hắt hiu chờ nhau, năm vàng ngày héo
Thôi em màu môi cũng nhạt
Chìm theo suối mê thời gian.

Theo tôi, không ai hát nhạc của Vũ Thành An hay bằng chính tác giả. Chỉ có những đau khổ và cảm xúc tuyệt vọng tới cùng cực mới có thể khiến ông vừa đệm guitar thùng vừa hát da diết như “rút hết ruột mình ra”, đánh thức những rung động đầu đời của người nghe mà bấy lâu nay họ tưởng chừng cảm giác đó đã ngủ quên trong những năm tháng xa vời hư hao vô nghĩa….

Với tay tìm nhau… tìm nhau và chờ nhau trong hắt hiu cuối đời.

Không phải Bài Không Tên Số 6 làm tôi khóc đây sao ?

thuỵvi
(Hầm Nắng 17/2/2012)

Posted: Thu May 03, 2012 1:54 am
by thienthanh

Image

Người phụ nữ Việt Nam:
Nguồn thơ của Hồ Dzếnh

Viên Linh

Nhà thơ Hồ Dzếnh (1916-1991), nguồn thơ trong sáng nhất là người phụ nữ Việt Nam.

Nhà thơ Hồ Dzếnh, tên thật Hà Triệu Anh, có mẹ là người Việt, cha là người Trung Hoa. Sau năm 1954 ông kẹt lại miền Bắc như nhiều thi sĩ tiền chiến nổi danh khác, mà sau này còn được người ta nhắc đến vì trong suốt hai mươi năm sống với cộng sản ông đã không vì miếng ăn hay bị lôi cuốn để viết ra nhưng câu thơ phản lại lòng yêu mến của người đọc, mà ông đã tạo dựng được, từ sau những tác phẩm như Quê Ngoại, hay các bài thơ nhan đề Chiều (hay Màu Cây Trong Khói), và nhất là bài Cô Gái Việt Nam. Trong trong các thi sĩ Việt Nam, Hồ Dzếnh là người có những bài thơ ca gợi phụ nữ Việt Nam hay nhất, thật lòng nhất, là đề tài của bài viết nhỏ này.

Thân sinh Hồ Dzếnh là Hà Kiến Huân người Quảng Ðông. Ông Huân qua nước Việt từ cuối thế kỷ XIX, ít lâu sau quen biết và thành hôn với một cô lái đò ở trên sông Ghép, Thanh Hóa, tên là Ðặng Thị Văn. Năm 1916 Hà Triệu Anh ra đời. Những năm thơ ấu ông sống trong môi trường thiên nhiên rừng núi, nhờ người cha làm nghề buôn gỗ ngược xuôi giữa rừng núi và thành phố. Hoàn cảnh đổi thay khi Hà Triệu Anh còn niên thiếu, ông theo mẹ về ở hẳn quê mẹ. Quê mẹ vùng Thanh Hóa và tình mẫu tử của người mẹ Việt tần tảo nuôi con đã in sâu trong tâm hồn ông. Ở Thanh Hóa, theo học ở trường Thiên Chúa Giáo, gọi là Trường Nhà Chung, mà ảnh hưởng đã khiến ông viết bài “Jésus Christ, ý nghĩa đêm Noel,” và các bài thơ có bóng dáng Chúa trong đó như “Hồn Chiều,” “Hiu Quạnh.”

Sống ở Hà Nội, Hồ Dzếnh bắt đầu bước vào làng văn, làng báo trong khoảng 1931, cộng tác với các báo Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Về sự nghiệp văn chương, Hồ Dzếnh đã cho xuất bản các tác phẩm văn, thơ như sau: Chân Trời Cũ (1942), Một Chuyện Tình Mười Lăm Năm Về Trước (1942-ký Lưu Thị Hạnh), Quê Ngoại (1943), Cô Gái Bình Xuyên (1946), Hoa Xuân Ðất Việt (1946), Người Cứu Thương Trung Hoa (1947), Những Vành Khăn Trắng , Dĩ Vãng, Hai Mối Tình (1948), Ðường Kế Mã (1943), Nhà Nhiều Con, Quê Ngoại II, Tiếng Hát Thiên Nga (1993). Thi phẩm Quê Ngoại khi mới xuất bản (1943) đã được tuần báo Tri Tân nhận xét: “Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn hữu tài.”

Một trong những bài thơ của ông được nhắc nhở đến nhiều nhất là bài Chiều, đã trở thành lời nhạc (nguyên văn) trong một nhạc phẩm cùng tên. Có điều cần ghi nhận là, trong thi ca Việt Nam, Hồ Dzếnh có những lời ngợi ca về phẩm chất người phụ nữ Việt Nam trong khá nhiều bài, điển hình nhất là bài Cô Gái Việt Nam, (đề tặng Hồng Nhật - bài này cũng còn tên khác là Cảm Xúc) với giọng thơ hết sức chân tình, cảm động:


Cô Gái Việt Nam

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.
Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú là khi đã
Bồng bế con thơ đón tuổi già!

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắt lòng cô vẫn đợi chờ.
ải lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông cười,
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con đã héo rồi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.


Hồ Dzếnh cũng là một trong một số hiếm hoi những nhà thơ làm thơ về người vợ của mình:

Bài thơ tặng vợGửi Nguyễn Thị Hồng Nhật

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!

(1986)

Nhân vật phụ nữ trong thơ Hồ Dzếnh có nhiều vóc dáng, từ một người trong lịch sử (Mỵ Châu, bài Phong Châu), đến cô khách qua đò (Lỡ Ðò), “chị tôi” (bài Quê Hương), Bích Câu (Ðất Mẹ Ngày Xuân), Thúy Kiều (Mối Tình Ðầu).

Bài viết nhỏ này cũng nhờ nhân kỳ trước Trang Thời Sự Nhân Văn nói về các Thi Thần (Muses), hay các Thần tượng Nghệ thuật. Nàng thơ, hay nguồn cảm hứng của một nhà thơ, là ánh sáng thi ca dẫn dắt nhà thơ khi gieo vần, lựa điệu. Với Hồ Dzếnh, đó là người phụ nữ Việt Nam. Trong các thi sĩ Việt Nam cùng thời với tác giả Quê Ngoại, hình như không một người nào đạt tới chỗ trong sáng, chỗ tinh hoa, chỗ thiên thần mà đơn giản trong lành như Hồ Dzếnh khi làm thơ về phụ nữ.

Posted: Sun May 06, 2012 4:12 pm
by thienthanh
Image

Tháng tư, những giọt mưa

Nguyễn Mạnh Trinh


Ðêm hôm qua. Mưa lớn. Nằm nghe những hạt mưa rơi trên mái, trong cái ẩm lạnh của đất trời tự nhiên không ngủ được. Thức giấc trong cái không gian mênh mông, thấy cuộc đời qua đi với nỗi bàng hoàng khi nhìn về tháng ngày đã trải. Bao nhiêu cơn mưa trong đời. Ở những nơi chốn nào, tuy xa xôi mà gần gũi. Bao nhiêu tháng tư, từ chiều mưa sấm sét cuồng nộ của Sài Gòn ngày tổng thống Dương Văn Minh lên nhậm chức và cũng là lúc tên phi công phản bội Nguyễn Thành Trung đánh bom căn cứ Tân Sơn Nhất. Bao nhiêu những chiều mưa và bao nhiêu những sáng nắng. Làm sao quên buổi chiều hôm đó, khi cơn giông tối thẳm của bầu trời Sài Gòn, khi quốc gia đang trong những ngày bi đát và tôi đứng trong hangar nhìn những chiếc A37 thả bom phi trường. Buổi sáng tôi vừa tiễn mẹ tôi và gia đình ra đi, trong lòng đang hoang mang giữa đi và ở thì bây giờ tưởng như mình đang đứng giữa cơn giông tố cuộc đời. Mưa, những cơn mưa hay là giọt lệ của trời. Gió, hay là những sợi lạnh buốt làm tê điếng làn da….

Tháng tư ở Sài Gòn. Gợi nhớ đến những hạt mưa. Của những ngày lang thang trong thành phố quen xưa nhưng bây giờ xa lạ. Thành phố ấy câm lặng giữa mưa gió buốt rét.

“Giờ ta lạc chốn nào đây
Phố hoang vắng giữa trời đầy bóng mưa.
Chân quen. Thân thế đẩy đưa
Thân ta mộng khép miệng thừa tiếng vui.
Nửa khuya thèm giấc ngủ vùi
Chập chờn bóng ngả ngược xuôi lệ thầm
Nặng vai tù ngục căn phần
Rồi thôi lưu lạc phân vân ngõ đời
ngửa tay xin chút rong chơi
Mưa giăng ngõ hẹp cõi đời xót xa.”


Một bữa trở về nhìn ngôi nhà mình ở bị niêm phong và một đời sống cũ đã bị nhạt nhòa chỉ còn lại những dấu vết của tàn phai. Con ngõ hẹp, hiên nhà xưa, những tối về khuya thuở nào bây giờ nhớ lại chỉ còn buốt xót. Nước mất, nhà tan. Những giọt mưa rơi trong tiềm thức và giọt giọt trong tâm một nỗi ngậm ngùi.

Bây giờ, lại một tháng tư. Tháng tư ở California có những cơn mưa sót mùa. Mưa. Mang theo hơi lạnh và mang theo cả những nỗi buồn man mác. Buồn, cũng như nước giọt bất chợt từ trời cao, có khi chỉ là những nỗi sầu lan man không duyên cớ. Sao ta cứ làm một người cứ mãi bâng khuâng của một người ngóng hoài về quá khứ.

Ðêm mưa, nằm nghe nước giọt bên ngoài, trong nệm êm chăn ấm và da thịt của người thân yêu, dường như có nỗi niềm nào lẩn khuất từ tiếng gió, từ tiếng mưa. Cái giây phút hiện sống sao nó cũng mơ hồ, y như những ngày nào đã qua, hệt như thuở nào đã hết. Tôi mơ màng trong cái cảm giác không biết mình ở nơi đâu, sống chỗ nào. Những ngày tháng cũ trôi qua, từ thuở ấu thơ tắm truồng ở một xóm lao động Sài Gòn đến những cơn mưa trưa bất chợt, đứng trú mưa ở một hàng hiên và nghe lòng xôn xao khi thoảng nghe mùi tóc của một người nữ bên cạnh. Hay những cơn mưa của Pleiku, của xôn xao mật ngọt tình đầu, của những đêm mưa mù mịt đất trời trở về phi trường trong nỗi buồn của một người tưởng như bị biếm vào đất trích…

Những câu thơ trở lại với tôi trong canh khuya. Nguyễn Bính. Một thân lận đận nơi trời xa / nằm nghe mưa rơi trên mái nhà / gió bấc vào thu đầy tiếng lá / đời tàn mộng đẹp tiếc xuân qua. Tôi ở phương xa nhưng đâu có lận đận? Sao vẫn tiếc hoài khi sống lại những cơn mơ.

Có lúc bâng khuâng như đoc lại một bài thơ của một người bạn đã quá cố. Thơ nhắc lại một thời điêu linh. Một bài thơ của Giang Hữu Tuyên, tôi đọc và luôn luôn sau đó bao giờ cũng là những liên tưởng đến thân phận của mình một lúc nào tuy đã hai mươi năm nhưng tưởng như mới hôm qua. Những ngày chập chững gượng lại để bước tới vững vàng cuộc đời mình. Tôi đọc bài thơ ấy nhiều lần và mười lần như một cũng là những chạnh lòng như thế. Bài thơ “Trời mưa đi phát báo” mà nhiều người cũng đọc và đồng cảm như tôi.

“Chiều ngã năm đường năm bảy ngã
Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi
Bao mùa mưa đã im giông bão
Sao nước trường giang vẫn khứ hồi
Mười mấy năm làm tên phát báo
Lòng buồn theo thành quách xa xưa
Những trang tin dội từ quá khứ
Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa
Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi
Sáng chưa đi chiều lại mưa về
Mưa ngã năm từ năm bảy ngã
Ngã nào cũng mưa và mưa thôi
Xấp báo trên tay vừa ướt hết
Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay
Hình như những mùa mưa thuởtrước
Ðang về làm ướt trái tim ai”


Mưa. Những cơn mưa của con người bơ vơ lưu lạc giữa mù mịt đất trờ. Ðường năm bảy ngã, chiều biết đi về lối ngã nào đây. Chỗ nào cũng mưa và mưa bao phủ. Mưa làm ẩm ướt những trang tin trên báo và cũng ướt luôn trái tim ai đang giây phút chạnh lòng. Ai? Người ấy có thể là thi sĩ nhưng cũng có thể là một người trong chúng ta, lạc giữa đìu hiu của đất trời và giữa đơn điệu thúc bách của áo cơm. Y hệt như cảnh “Xấp báo trong tay vừa ướt hết. Vậy mà cứ đứng giữa mưa bay. Hình như những mùa mưa thuở trước . Ðang về làm ướt trái tim ai?”.

Không còn là hình như, mà, đã là như thực, một cảm giác thực, một chạnh lòng thực. Mưa. Mưa. Vô cùng không gian thơ. Mưa của một người lính cũ còn vương vấn chiến địa xưa. Những hạt mưa thuở nào. Buốt xót. Nghe nợ áo cơm quẩn với hình hài. Ðời sống ngắn lắm và bước chân của con người cũng chẳng dài hơn…

Mưa sao cứ gợi hoài trong ký vãng những cảm giác bềnh bồng bâng khuâng. Một buổi sáng trên xa lộ. Trời mưa. Ðáng lẽ giờ này lười lĩnh trong chăn ấm với giấc ngủ nướng mà phải lặn lội đường xa trong cái hiu hắt của đất trời. Những rặng núi xám phía hướng trước mặt vẫn là nền đen thẳm trong màn mưa mù mịt. Chạy vào lane trong, với tốc độ chậm, vặn nhạc hòa tấu nhẹ nhẹ, tôi miên man trong từng ý nghĩ. Dường như có tiếng gọi nào, của mơ mộng thanh xuân, của thuở nào hăm hở với giấc mộng cho đời, cho người. Mỗi một lúc trong thăng trầm của cuộc đời, mỗi nỗi niềm riêng. Khi rời giảng đường vào lính, giấc mộng chẳng to tát vá trời lấp biển, nhưng cũng là những cảm nhận khá ngây thơ về đường binh nghiệp.

Khi vượt biên, tưởng như mang theo thông điệp của những người còn kẹt lại ở quê nhà, cao giọng cất lên tiếng nói của người yêu tự do dân chủ. Và khi sang định cư ở xứ người, hăm hở bước vào con đường lập nghiệp mới cho bản thân, vừa học vừa làm để tròn trách nhiệm với chính mình và còn mong góp vào những công việc chung của một cộng đồng lập nghiệp ở xứ người vì tìm kiếm những ý nghĩa cho cuộc sống đời xa xứ. Những ước vọng ấy, thôi thúc, có khi thành một ám ảnh và là ray rứt trong cái nhịp sống thúc đẩy đến chóng mặt của xã hội hiện tại.

Hình như tôi có một bài thơ nói về cảm giác ấy. Mưa buổi sáng trên xa lộ phía nam. Bài thơ có những đoạn như muốn thầm thì tâm sự với chính mình trong cái đìu hiu của một cuộc đời đã manh nha nhiều uẩn ức”

“những buổi sáng mưa dài trước mặt
nước ào ạt tung tóe khoảng trời
đèn thắp lên thiên thu đừng tắt
gọi ai người khản tiếng tàn hơi
đường trải ra chuyến xe mỗi nặng
đi về phương bắc hay phương nam
sao tiếng sóng đằng sau còn vẳng
hay là đời nhịp của chia tan
mưa vỗ vỗ nhạt nhòa khung kính
ru ta ru ta mưa thầm thầm
ngọn núi thẳm trước sau vô định
cánh chim bay vào chốn biệt tăm
một tiếng đồng hồ trên xa lộ
nghĩ mãi về đời mãi về mình
với lúc thực hư dường chẳng rõ
thấy mình heo hút giữa lặng thinh
tự giải thích với ngàn câu hỏi
ta hôm nay ta sống làm gì
ngày tiếp ngày không chờ không đợi
chuyến xe sang tiếp nối về đi…
tóc dần phai mộng dần phia nhạt
vui như lá cỏ đọng sương mai
mà buồn như hàng hà hạt cát
ta làm gì làm gì hôm nay..”


Có người đọc thơ cho rằng đây là một khuynh hướng thơ “hội nhập bình thản”. Một kết luận chắc nịch cho bài thơ: vừa lòng với hiện tại, với công việc làm và yên phận. Thực ra cái từ ngữ hội nhập bình thản tự nó đã có những định nghĩa mơ hồ và người đọc thơ đã hiểu một cách nào khác để có những kết luận đầy tính suy diễn. Mà suy diễn thì ít khi có tính chính xác! Bài thơ trên không có chữ nào để nói lên tâm trạng vừa lòng với hiện tại và cũng chẳng có ngôn ngữ nào để chỉ rằng vừa lòng với công việc làm đang có cũng như yên phận với những sự đều đều nhàm chán của cuộc sống.

Trong bài thơ, là cảm giác của một người vừa phải sống đời của một người bình thường đánh vật với cơm áo lại vừa bị ray rứt của những nỗi niềm của một người muốn dấn thân nhưng chưa có dịp thì tuổi già sắp đến. Những ngôn ngữ như “khản tiếng tàn hơi”, như “tiếng sóng đằng sau còn vẳng”,hay hình ảnh như “ngọn núi thẳm trước sau vô định? Cánh chim bay vào cõi biệt tăm”, đều muốn nói lên cái tâm tư của một người tị nạn xứ người nhưng vẫn thầm canh cánh những nỗi niềm ấp ủ từ lúc thanh xuân…

Giải thích một bài thơ, nhiều khi giống như một công việc giết chết thơ. Ðâu có ai mang cảm xúc ra để kể lể, mang tâm sự ra để đối chiếu với thơ. Nhưng, nhiều khi viết với cái tâm cảm của mình mà bị cảm nhận bởi những ý nghĩ sai lạc đến một trăm tám chục độ thì cũng là điều đáng buồn cho người làm thơ…

Thực ra, mỗi người có một lối cảm nhận thơ riêng. Nhất là không thể dùng sự suy diễn từ những yếu tố khác ngoại văn bản để kết luận về một điều này điều nọ. Ðọc thơ và hiểu được thơ, thực cũng hiếm có mấy ai..

Những cơn mưa tháng tư. Những cơn mưa của người vừa qua tuổi sáu mươi để gần tới bảy mươi, sống song hàng giữa thực tế và mơ mộng. Nhưng cũng may, vẫn còn những khoảng trời rộng lãng mạn, vẫn còn văn chương để nghĩ về và viết đến. Nếu không, ôi thôi, đời sống sẽ đơn điệu biết bao. Cái tâm trạng ở Tần nhớ Tấn ấy, hễ là người tị nạn thì ai mà chẳng có. Mỗi khi nghĩ đến lại có điều gì vướng bận trong lòng. Có mấy ai vừa lòng với công việc ở đây, dù là người khoác lác cỡ nào. Lao động, dù cổ xanh hay cổ trắng cũng là đem mồ hôi hay tâm sức để đổi lấy miếng ăn. Ngay cả những người bản xứ da trắng, và ở những cấp vị cao, khi kinh tế trồi sụt, cũng còn thấy được đi làm và có công việc là hạnh phúc. Huống chi , người tị nạn, đòi “hội nhập bình thản” thì có lẽ chỉ là chuyện phong thần…

Mưa tháng tư hình như có hạt nào rơi từ quá khứ. Mới gần đây thôi, những tháng ngày lạ lẫm, những bước đến chập chùng cảm giác. Mưa trên buổi chiều nào gần gũi nhưng lại xa vắng. Mưa trong trí nhớ của tôi

“Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
trên góc phố Los Angeles
bảng xe bus lặng thinh
chuyến xe không hành khách trở về
tôi lạnh run đứng ngó.
Mưa ngủ quên giây phút nào
Hạt mưa quá khứ.
Vỡ vụn trên mặt nhựa nâu
Cho anh hơi thở muộn
Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
Trên đời sống hôm nay kẻ lạ
Góc phố biển một mình
Con hải âu nhìn trời xanh chết rũ
Từng chiếc lá lạnh buốt
Rơi trong ngày đầu năm vừa qua
Ðâu tóc bạc tuổi già
Tuổi thơ ơi tuổi thơ chúng ta
Là âm bản cơn mưa mù mịt
Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
Con phố Bolsa mỗi sáng mỗi chiều
Như Sài Gòn nỗi niềm
Gánh trên vai trí nhớ
Giọt nhạc nào rơi rơi
Như bóng chiều tàn phai nắng rụng
Anh nói nhỏ với thinh không
Vừa chết lặng màu hồng
Khi một trời chập chùng gió tím.
Mưa đã rơi đã rơi từ hư không.”


Làm thơ, có phải là chiêu niệm quá khứ và hướng vọng tương lai. Mưa. Giọt ẩm hơi nước đọng lại trong đời sống trong da thịt những sợi cảm xúc nào của riêng một người hay của chung những hệ lụy cuộc đời. Những giọt mưa tháng hai rơi hoài trong tâm thức một người luôn không bằng lòng với tháng ngaỳ hiện tại hôm nay…

Nguyễn Mạnh Trinh

Posted: Mon May 07, 2012 5:10 pm
by KýCóp
MỘT NGÀY KHÔNG THỂ QUÊN
Truyện của Phương Lan
Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía. Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.

Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:

- Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy.

Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:

- Má ra vườn chi sớm thế?

- Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…

Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:

- Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy?

- Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.

Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:

- Sao má để lửa lớn thế?

- Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.

Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục:

- Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi.

Phượng đau xót nhìn mẹ:

- Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà?

- Thiệt à? ba đi xa thiệt à?

Bà mẹ lập lại một cách ngớ ngẩn, nét mặt chùng xuống, rất buồn. Một cơn gió lạnh lọt qua song cửa, làm lay nhẹ mấy tấm rèm, bà rùng mình, ngẩng nhìn ra bên ngoài, hàng cây maple bên kia đường đã rụng hết lá, vậy là mùa đông sắp tới rồi. Tim bà se lại, ông ra đi vào một ngày chớm đông, ông đi không bao giờ về nữa… Từ đó, bà sợ mùa đông, tuyết rơi chỉ gợi đến sự chia ly, màu tuyết trắng quá, trắng lạnh như màu áo tang, tuyết rơi phủ ngập khắp nơi, giá băng cũng phủ ngập đời bà. Xa nhau đã mấy đông rồi, bà chẳng còn nhớ, nhưng bà vẫn đợi, những đêm không ngủ, nằm nghe tiếng gió gọi, bà tưởng như tiếng thì thầm của người xưa. Ông đang ở đâu? đêm dài lạnh lẽo, ông có thấy cô đơn không ông? ở nơi xa xăm nào đó, chắc ông cũng đang nhớ đến tôi, sao ông không về? ông ơi…

Bà cố nhớ lại, trong ký ức đã phai mờ của bà, những hình ảnh cũ vẫn hiện ra, nhưng lộn xộn, không theo một thứ tự nào hết. Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba. A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa… Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ… Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò:

- Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…

Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền. Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh… Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài. Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm. Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:

- Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.

Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói:

- Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa.

Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được?

- Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.

Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con… Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ… Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt:

- Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.

Thiệt tình bà không trông thấy lúc ông đi, và ông cũng chẳng bao giờ thơ từ về nhà. Nhưng bà biết ở một nơi xa xăm nào đó, ông vẫn hướng về bà, vẫn nhớ đến bà, vợ chồng đầu gối, tay ấp mấy chục năm trường, đi xa sao khỏi vấn vương? Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này.

Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái:

- Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…

Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối:

- Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã.

Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói:

- Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.

Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía:

- Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới, ba cần có áo ấm, mà mấy cái kia đã cũ cả rồi.

Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.

Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ vẫn thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu…

Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ... Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà, thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng, bao giờ cũng là một chặng đường buồn thảm. Phượng rơi nước mắt, nghĩ đến phút chia tay lát nữa.

Con về mẹ ở lại đây
Chia tay là đứt lìa dây mẫu từ
Ngàn năm biết có bao giờ
Có dòng ước mắt ngược bờ chảy lên?

Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa. Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn đi đón ông ngoại. Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ…

Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên...

Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nũa. Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay.

Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi:

- Nãy giờ em ở dưới nhà à?

Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn, và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng, mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách:

- Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!

Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:

- Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được.

- Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu…

- Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao.

Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt. Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con:

- Sao con làm nhiều đồ ăn thế?

Phượng nhìn đi chỗ khác, nói:

- Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể.

- Con cũng cùng ăn với má chứ?

Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi, mới mở miệng nói dối:

- Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi.

- Đi chơi thiệt sao? thích quá.

Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi:

- Đi du lịch à?

Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà, như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng:

- Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng:

- Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?

Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm… Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng. Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng:

- Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa.

Phượng dỗ:

- Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.

Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu:

- Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là…

Phượng vội đỡ lời:

- Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh…

- Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu.

- Được vậy tôi rất mừng.

Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói:

- Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng.

Nói xong, cô Ingrid bấm chuông, và một người tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi:

- Tôi đi theo được chứ?

- Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.

Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng:

- Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam.

Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm:

- Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại.

Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng - chắc dùng làm chỗ tiếp khách - những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Nghe có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó:

- Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu…

Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái:

- Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…

Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với mẹ, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng.
Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cuơng quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường… Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run:

- Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má…

- Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con…

Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt:

- Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho má, cũng như tất cả mọi người.

Bà mẹ vừa khóc vừa nói:

- Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về…

Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng:

- Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà…

Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở... Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi:

- Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả.

Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng:

- Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.

Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng:

- Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho.

- Vâng cháu xin nhờ cụ.

Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành:

- Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má.

- Thế con có trở lại không?

- Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má.

Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra:

- Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại.

- Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ?

- Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà. Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu.

Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng:

- Cô đi ngay đi, lẹ lên!

Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa:

- Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!

Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ đang chờ chết ở bên trong, với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn:

- Con ơi! con ơi…

Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “ con ơi ” ai oán của mẹ.

Truyện này được trích trong tác phẩm Lấy chồng xa của Phương Lan

Posted: Sun May 13, 2012 5:15 am
by quangminh
DU TỬ LÊ
Nỗi ám ảnh phố phường


Ngô Kinh Luân

Dầu có muốn hay không, thì vẫn phải thừa nhận, Du Tử Lê là một tên tuổi. Tôi thích đọc Du Tử Lê, những bài thơ mang đậm nét đèn vàng phố thị hay hiu hắt tóc xánh. Hầu như trong giới viết lách ở Sài Gòn, ít nhiều đều thuộc vài câu thơ của Du Tử Lê. Thế nên, khi nghe nhà văn, nhà báo Đoàn Thạch Hãn buộc miệng “Tôi với Lê thân lắm”. Vội vã gửi lời nhờ, “Khi nào chú Lê có dịp về lại Việt Nam, chú cho con gặp với”. Hạnh ngộ, chỉ có bấy nhiêu.

1. Tháng trước, đang tối mặt với công việc, thì chú Đoàn Thạch Hãn gọi. Mỏi mệt, tôi từ chối “Con sẽ gọi lại cho chú sau”. Chú Hãn vội vã nói với “Du Tử Lê về, muốn gặp con”. Chiều hôm sau, chú Hãn gọi lại. Bảo, chú đang ngồi với Du Tử Lê ở quán cà phê cóc trên đường Cao Thắng. Ban đầu, tôi mời Du Tử Lê ở quán cà phê xập xình kế bên. Đến quán, thấy cạnh quán xập xình và góc cà phê cóc, Du Tử Lê đã chọn quán cóc ấy.

Du Tử Lê ngồi trên ghế đẩu, áo sơ mi đóng thùng, ủi phẳng phiu, dáng người nhỏ, ngón tay thon dài… nhìn rất lành. Gặp Du Tử Lê, tôi vui, miệng nói nhanh như tép nhảy, nói ào ào, nói bạt mạng. Nói đến mức về sau biết Du Tử Lê có vấn đề về thính giác, tự dưng nghĩ lại bỗng đỏ mặt.

Du Tử Lê có giọng nói nhỏ nhẹ, cách diễn đạt chậm rãi. Tôi đọc tiểu sử của Du Tử Lê thấy ghi, ngày mới sinh, Du Tử Lê có 6 ngón tay. Do mặc cảm nên sinh ra nhút nhát, lại sống với mẹ và vú nuôi, nên có xu hướng nữ tính. Không biết, điều này có đúng không. Tôi hỏi, chú về được mấy ngày. Du Tử Lê trả lời, có mười ngày thôi. “Ít vậy hả chú?”, tôi ngạc nhiên. “Ừ, công việc cô (vợ của Du Tử Lê) bận quá”, lại từ tốn. Bà xã của Du Tử Lê đang công tác tại tờ Người Việt ở Cali.

Du Tử Lê, chú Đoàn Thạch Hãn và tôi nói nhiều về không khí văn chương trước và sau 1975. Cả làng báo ở trong nước và tại cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Có nhiều điểm khác biệt, có đôi nét tương đồng. Nhìn chung, cũng đều theo nghề chữ nghĩa, cá tính có thể khác nhau, nhìn nhận có thể riêng biệt nhưng chung lại đều có lý tưởng. Dẫu rằng, mỗi cá nhân có lý tưởng của chính mình.

Du Tử Lê bảo, Du Tử Lê thích những góc quán ở Sài Gòn. Những góc quán ám ảnh Du Tử Lê suốt trong những đêm nằm trên đất Mỹ. Du Tử Lê về lần này, có vài tờ báo muốn trò chuyện cùng ông, nhưng ông ngại. Không phải ngại chuyện bên này, mà ngại về phía bên kia. Tôi có thưa, chuyện cũ qua lâu rồi, hậm hực với nhau mà làm gì, đều có tuổi cả. Du Tử Lê im lặng, ánh mắt thấp thoáng sự ý nhị. Du Tử Lê nói, ông thích những người trẻ, như tôi. Tôi mỉm cười, bạo gan đọc “Tóc mới xanh thôi, nhưng lòng đã bạc nhiều”. Lý ra, câu chuẩn của Du Tử Lê là “Tóc đương xanh nhưng lòng đã bạc nhiều – Chân bé nhỏ đi trong sầu bão lớn”. Nhưng không sao, tôi thích đọc Du Tử Lê theo kiểu dị bản của tôi hơn. Nhớ chú Đoàn Thạch Hãn có góp chuyện “Lê thấy không, đó là hạnh phúc của một người làm thơ”. Tôi hỏi Du Tử Lê về căn nguyên cái chết của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, ông giải thích cặn kẽ, có đôi chỗ khác so với giai thoại. Gặp nhau vài mươi phút rồi thôi, vì có nhà thơ nào đó mời Du Tử Lê ăn tối. Trước khi chia tay, ông có bảo ông vẫn duy trì việc sáng tác ở Mỹ. Vài năm trở lại đây, ông còn vẽ tranh.

Lần gặp thứ hai, tôi mời Du Tử Lê đi ăn trưa. Ông trả lời thích ăn các món Bắc. Tôi nhờ nhạc sĩ Hà Quang Minh chọn quán, vì ăn trưa tại Sài Gòn, tôi không rành lắm. Quán ấm cúng, nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Trần Cao Vân, quận 1. Trước sân, có cây mít trĩu qua. Bữa ăn trưa có chú Đoàn Thạch Hãn, vợ chồng Du Tử Lê, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, Hà Quang Minh và tôi.

Vẫn chỉ là chuyện văn chương. Lê Thiếu Nhơn kể nhiều về các lời đồn đoán trong giới văn nghệ sĩ hải ngoại. Du Tử Lê ngồi nghe Lê Thiếu Nhơn nói như hát hay. Tôi không biết khi đó, ông nghĩ gì. Hình như giữa Du Tử Lê và Hà Quang Minh có ngồi bàn tính với nhau về phương ngữ giữa hai miền Nam – Bắc. Tôi ngóng tai nghe, lòng không hứng thú lắm. Chú Đoàn Thạch Hãn lên cơn mệt, mặt đỏ gay như gà chọi. Lâu lâu, tôi chen miệng vào một câu liên quan đến… chân dài, rất không liên quan.

Tàn trưa, Hà Quang Minh mời tất cả đi bộ sang quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng gần đấy để hàn huyên. Du Tử Lê đi bộ dọc theo hè phố đến quán. Vừa đến, đã ngồi thở dốc. Tuổi tác đè nặng trên vai… Ngồi một lúc lâu, nhà thơ Phan Vũ mang cả “Em ơi – Hà Nội phố” đến. Nhà thơ Phan Vũ vừa vào quán, đã sang sảng đọc. Đọc hết một đoạn rất dài trong “Em ơi – Hà Nội phố”, lại đọc sang các bài thơ khác. Đọc xong, thì kể chuyện, từ chuyện xa xưa cho đến chuyện gần đây.

Đọc xong, lại cẩn thận ký tặng Du Tử Lê bản thảo đánh máy một đoạn trong “Em ơi – Hà Nội phố”. Du Tử Lê đón nhận trân trọng, “Tôi nói thật, tôi chưa thấy ai viết về Hà Nội hay như anh”. Nhà thơ Phan Vũ cười khà khà, tay vân vê tẩu thuốc “Giá mà có thời gian hơn, tôi còn viết ra nhiều hơn để tặng ông”. Suốt buổi, Du Tử Lê cứ lặp đi lăp lại lời khen với nhà thơ Phan Vũ “Tôi chưa thấy ai viết về Hà Nội hay như anh”. Đang vui, nhà thơ Phan Vũ kể “Năm nay tôi 73 tuổi, vợ tôi thì… 37. Vợ tôi mê nhất là thơ của Du Tử Lê, mê từ cái hồi còn đi học”.
Du Tử Lê đáp “Còn tôi, mê nhất là vì sao anh 73 tuổi còn lấy được vợ 37 tuổi. Giả năm tôi 81 tuổi, có cách nào lấy vợ 18 tuổi hay không?’.
Đó là lần hiếm hoi, tôi thấy Du Tử Lê

2. Du Tử Lê có mời tôi, tối trước khi Du Tử Lê về Mỹ, cố gắng sang quán trên đường Trần Quốc Thảo ngồi uống rượu, nghe nhạc… Hà Quang Minh sẽ mời vài ca sĩ thân đến đàn hát cho vui. Tôi không từ chối, cũng không nhận lời, chỉ im lặng, Về sau, tôi không đến. Cho đến giờ, vẫn còn ân hận. Sau này, nghe chú Đoàn Thạch Hãn kể lại, trên đường từ khách sạn ra phi trường Tân Sơn Nhất, Du Tử Lê có đọc bài viết mới nhất của tôi, dường như là bài “Nỗi đau tiết hạnh” in trên Chuyên đề ANTG Tuần, viết về nỗi đau của cô dâu bị nhà chồng trả về vì nghi ngờ mất trinh ở Cần Thơ, khen tôi rất nhiều. Trước khi lên máy bay, Du Tử Lê có lấy điện thoại di động của chú Hãn để gọi chào tạm biệt tôi, tiếc là tôi không nhấc máy.

Đoàn Thạch Hãn còn bảo, Du Tử Lê có nói, lần này về Việt Nam mười ngày, Du Tử Lê gặp nhiều bạn bè cũ. Thích nhất là gặp được những người trẻ như Lê Thiếu Nhơn, Hà Quang Minh và tôi. Tôi có thưa là tính tôi quan niệm dân viết lách phải bổ bã, hảo hán gặp nhau phải uống ly rượu lớn, nói cười như không. Du Tử Lê đằm tính quá, nhiều lúc không có cảm giác thân mật. Chú Đoàn Thạch Hãn phân trần, cái tính Du Tử Lê vậy. Giận hờn ít biểu lộ ra mặt. Với lại, Du Tử Lê cũng ngại những điều tiếng từ phía bên kia. Chứ nếu không thân ái với tôi, chắc chắn là Du Tử Lê không nhờ chú Đoàn Thạch Hãn gọi tôi ra cà phê trò chuyện. Tôi nghe vậy, biết vậy.

Có hứa với Du Tử Lê rằng, sẽ biếu Du Tử Lê cuốn sách của tác gia Trần Trọng Kim, quyển Việt Nam Sử Lược. Một trong những cuốn sách tôi cực kỳ yêu thích. Bỏ cả buổi trời, lang thang khắp các nhà sách tìm mua cho ông mà không thấy. Tặng ông quyển sách đang có ở nhà thì tiếc, cứ lần lữa mãi cho đến khi ông đi. Tự nhủ, vài hôm nữa sẽ xin địa chỉ của ông ở Mỹ để gửi sang, chứ không thất hứa thì ngại quá.

Lần về Việt Nam này, Du Tử Lê không mang theo tác phẩm của ông. Ông ngại, khâu kiểm duyệt hay những phiền phức có thể gặp phải. Hơn một lần, tôi định nói với ông là ông quan trọng hóa một vấn đề đơn giản. Nhưng nghĩ tới nghĩ lui, lại thôi. Nhiều năm trôi qua rồi, vết thương cũng bắt đầu khép miệng rồi, ký ức khi nhớ khi quên rồi… mọi thứ có còn nặng nề như trước đây nữa đâu mà băn khoăn cho thêm phiền lòng.

Quý nhau vì một câu thơ hay, nên tìm đến với nhau hơn là tìm đến một giai thoại. Vốn dĩ, tôi không tin vào giai thoại. Bởi giai thoại là thứ đơn giản nhất người ta có thể tự nghĩ ra để lừa nhau, chỉ có chữ nghĩa là không thể giấu diếm.

“….Người về như bụi, vàng trang sách xưa, người về như mưa, soi tìm dấu cũ. Tôi buồn như cỏ, một đời héo khô, tôi buồn như gió, ngang qua thềm nhà, thấy ai ngồi đợi, bóng hình chia đôi, sầu tôi lụ khụ. Người về như sóng, buồn tôi quanh năm, người về như đêm, mơ hồ cõi chết, tình tôi phập phều, những tăm phụ bạc…”. Một trong những đoạn thơ của Du Tử Lê mà tôi cực thích.

Tôi nhớ là, ở lần gặp đầu tiên, tôi có hỏi Du Tử Lê rằng “Chú ạ, đời sống văn nghệ bên đó có vui không?”. Du Tử Lê không đáp, mắt hướng nhìn lá vàng rơi đang lúc gió, tràn cả mặt phố… Có khi, đó cũng là một cách trả lời. Bởi mãi về sau, ông mới chậm rãi bảo, ông yêu Sài Gòn vô cùng…

Posted: Mon May 14, 2012 8:31 pm
by khieulong

Image

Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội
Nhạc: Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn
Giọng hát: Khánh Ly
Mưa Sài Gòn lại nhớ mưa Hà Nội, nhớ đến nôn nao mùa ổi chín và tiếng sấu rụng ngoài vườn.
Sài Gòn sau một đêm mưa, cái hơi gió lành lạnh mà thấy ấm áp trong lòng sợi nhớ sợi thương, trước những Lộc hoa đất trời gửi gắm vào mùa. Sài Gòn không có những con đường tháng ba với hoa gạo - mộc miên, những con đường ngập tán hương hoa sữa … Sài Gòn - “con đường có lá me bay” như hòa nhịp chung với cái rét Lộc tháng Hai của đất trời, vạn vật cây cối xung quanh cũng mơn mởn những chồi non xanh tươi đâm ra trước gió vẫy gọi lòng người...

Theo Băng Tâm:

Hẳn không phải người miền Nam nào cũng đã được đến thăm thủ đô Hà Nội và đương nhiên không hẳn người Hà Nội nào cũng đòi đặt chân đến Sài Gòn, đất Trấn Biên xưa và đang là thành phố lớn nhất nước. Nhưng có lẽ ấn tượng về Hà Nội - Thăng Long, tưởng tượng về thành phố phương Nam rỡ ràng nắng lửa với những trận mưa rào quá thảng thốt như lá me bay ... thì người Việt chúng ta luôn mang nó trong lòng, nếu một lần đến sẽ là hoài niệm, nếu chưa một lần qua là thương nhớ đợi chờ .

Cách đây khoảng trên dưới 50 năm, khi Sài Thành vào tuổi 250, Nguyễn Tuân từng nổi máu giang hồ, nhảy lên con tàu lửa vài toa, một mạch vượt những khúc lưng rồng xương sống đất nước, không hiểu lòng lòng ông đã hòa Hà Nội vào Sài Gòn, hoà Sài Gòn vào Hà Nội như thế nào, khi con người luôn Thiếu quê hương ấy ốp đồng trong những câu văn quằn quại ?

Câu thơ Nguyễn Bính tha hương khi thì Chợ Quán khi thì Đakao..., anh chàng thi sĩ đồng quê mà lang bạt với những Hành phương Nam ấy có qua những cái tên không Hà Nội, chẳng Nam Định, càng không Huế : Bà Quẹo, Hàng Xanh, Cầu Muối, Thị Nghè, Sở Thú ... để rồi từ đó một lèo ra bưng kháng chiến, với những câu thơ xót dạ :

... Hai ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với người buồn vậy thay ! ...


vẫn là trên đất nước mình sao lại mang tâm trạng bơ vơ lưu lạc ?

Thì ra con đường xuôi Nam thiên lý của dân tộc đã thành con đường trong mỗi lòng con người, không con phân biệt bắc, nam!
Từng thời gian dài, Hà Nội được gọi là Hà Thành hoa lệ, còn Sài Gòn gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Cốm HàNội đi máy bay vào đó, xoài cát từ trong đó bay ra. Hình ảnh người con trai da ngăm đen, có hiếc răng vàng, đầu đội mũ phớt lệch ngang ngang tàng, gọi là công tử Bạc Liêu, anh Hai Nam Bộ, anh Năm Sài Gòn, với giọng nói ấm trầm ... đã quen với người Hà Nội. Người miền bắc hòa đồng Nam Bộ và Sài Gòn làm một. Ít ai phân biệt đâu là Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau hay Kiên Giang, Rạch Giá ... mà chỉ biết đó cũng là người Việtnam ta, ở tít tận phương Nam nắng gió, sống hiên ngang, phóng khoáng, không cần chắt bóp như người đồng bằng Bắc Bộ quen cùng lam lũ ...

Tôi từng nhiều lần tạm biệt Hồ Gươm, Hồ Tây vào với Sài Gòn trong nhiều mùa khác nhau. Kể cả lúc Sài Gòn chưa nhiều cao ốc, cái chợ cũ Võ Di Nguy gần chợ Bến Thành còn là cái chợ trời inh ỏi băng cát xét, cạnh đó là cả một phố dài la liệt sách cũ làm mình mê mẩn; đêm nằm ngủ ở khách sạn loại sang; nhưng ăn nắm bột mì hấp của bữa cơm hai hào và tôi lang thang tìm người bạn cũ.

Sài Gòn không như Hà Nội, đường phố nào cũng dài. Nếu phố hồ Hoàn kiếm bên bờ hồ Gươm, trông sang phố Cầu Gỗ ngắn nhất, chỉ vừa 52 mét, điển hình cho một phố ngắn Hà Nội, thì Sài Gòn có những con đường không thể đi bộ, nó dài hàng chục cây số ngàn (cây số ngàn là tôi nói theo tác giả Vương Hồng Sển, có lý hơn là nói cây số ), như đường Trần Hưng Đạo nối Sài Gòn với Chợ Lớn, như đường Xô- Viết Nghệ Tĩnh, và hàng chục con đường khác .

Sài Gòn cũng như Hà Nội, khá nhiều chợ: Bến Thành, Chợ Lớn, An Đông, Tân Định, Bà Chiểu, Hòa Hưng...không đếm xuể như Hà Nội có chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Bưởi, cả chợ có cái tên kỳ quặc là chợ Âm phủ ... Ai cũng dễ bị ngợp vì hoa trái miền Nam trong các chợ Sài Gòn, cho đến thời điểm 300 năm này, Hà Nội không còn khác biệt, đã quen với xoài, măng cụt, vú sữa, chôm chôm, mãng cầu, sầu riêng, cam xanh, nhãn trong dịp Tết ( miền bắc tháng 6 mới có nhãn ), cho đến hủ tiếu, sực tắc bán rao trên các đường phố lúc về đêm. ( Hà Nội đã mất hẳn tiếng rao nhu sênh phách ấy rồi !).

Một lần nhà báo Trần Thanh Phương khoe những bản địa chỉ và tư liệu về Sài Gòn, về Lục tỉnh, về đồng bằng sông Cửu Long mà anh biên khảo đầy yêu mến với miền anh sinh trưởng, dù anh cũng đã từng gắn bó với Hà Nội mấy chục năm. Chúng tôi đọc nghiến ngấu với bao háo hức về vùng đất của nước non mình mà mình chưa được biết.

Sài Gòn, một thành phố trẻ mà tưng bừng, vươn lên mạnh mẽ, đi đầu cả nước về công nghiệp. Ba trăm năm, so với gần ngàn năm Hà Nội, thì sức bật ấy quả là đáng tự hào và kinh ngạc, nó mới già hơn nước Mỹ một chút ít; nhưng cái nối nó vào với dân tộc và đất nước lá ngấm sâu nguồn mạch, bất tận chan chứa, đang phát huy chất Việtnam, dù có pha tạp bởi nó ở ngã ba con đường văn hóa đông, tây .

Hà Nội mùa này vẫn đang còn ấm ướt và se lạnh trong mưa xuân. Mỗi đêm, lắng nghe bản tin thời tiết, không thể bỏ qua đoạn nói về SaiGon mưa nắng ra sao, nhiệt độ 33 hay 35, nghĩ về một thành phố rất quen thuộc với mình trong tâm tưởng; nhưng cũng rất xa lạ với mình khi mỗi lần gặp lại là một bỡ ngỡ, vì đổi thay rất tốc độ - nghĩ về những bạn ngồi trong phòng máy lạnh hay người bạn ở nhà mái tôn, ban ngày không thể ngồi trong nhà; mà phải đến một chỗ nào đó tránh nóng; đêm về mới hì hục miệt mài cùng trang bản thảo góp vào đời sống tinh thần của thành phố có thể tới hàng chục triệu dân ấy .

Những chiếc toa tàu hạng ba sơn màu đỏ mà Nguyễn Tuân đi giang hồ, nay ở đâu? Những quán cơm vỉa hè mà Nguyễn Bính ngồi ăn như một kẻ tha hương, chắc đã thành thiên cổ. Ngôi nhà tập thể ở ngoại vi thành phố, chỗ trú ngụ của nhà thơ Hoàng Tấn, thường ký bút danh Hồ Tăng Ấn , trong các bài ca cải lương Nam Bộ , người từng có nhiều năm phụ trách mục Tiếng thơ trên đài Tiếng nói Việtnam , nay về hưu - tường treo la liệt tranh và thơ. Ông vẫn là một người không thể quên Hà Nội, nên khi gặp đồng hương Thăng Long, ông trào nước mắt mà cười - một ông già Sài Gòn áo bà ba chính hiệu .

Tôi đã lang thang Sài Gòn, nếm vị phở bắc trong hương nắng, với cả giá đỗ sống và rau ngổ ba lá. Tôi đã nếm món bún ốc trên đường Võ Thị Sáu, với sợi bún to và cứng, con ốc hơi dai , ăn quả cóc trên hè phố với muối ớt ... để Sài Gòn thấm vào mình, để mình hòa vào Sài Gòn, những đại đồng tiểu dị, và đồng sàng đồng mộng với người bạn xa nhau lâu nay gặp ồn ã một Sài Gòn .

Theo Trần Huiền Ân

Hồi học tiểu học, tôi có đọc những cuốn thơ bình dân của nhà xuất bản Phạm Văn Thình ở Chợ Lớn (có bạn nói là Phạm Văn Thinh?). Nay còn nhở bốn câu thơ, không biết ở tác phẩm nào:

Này sự công chúa Quỳnh Nương
Trên lầu bước xuống thảm thương nhiều bề
Buồn đi dạo cảnh vườn lê
Sớm nương cội liễu tối về cội thung


Nơi trang bìa bốn các cuốn thơ này thường là một bài thơ quảng cáo. Như bài thơ quảng cáo cho tiệm Thanh Thanh, giới thiệu khá nhiều mặt hàng, có cả thuốc lào Cẩm Lệ và nước mắm nhỉ Liên Thành, nhưng trước hết là giới thiệu sách báo với quyển Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh:

Tiệm Thanh Thanh, tiệm Thanh Thanh

Góc đường De La Somme - Pellerin

Sách vở báo chí Trung Nam Bắc

Hán Việt từ điển Đào Duy Anh

Lại nhớ những buổi trưa bị bắt buộc ngủ mà không ngủ được, nằm nhìn lên trần mùng bồi bằng giấy báo, trong tầm mắt tôi là một mẩu tin chiến tranh Trung - Nhật và ô quảng cáo dầu khuynh diệp Viễn Đệ với hình người mang chai dầu lớn bằng cái gùi trên vai.

Bước vào tuổi trưởng thành tôi mới biết Sài Gòn. Đến Sài Gòn trong một chuyến máy bay đêm. Từ trên cao nhìn xuống, Sài Gòn là một vùng rộng lớn nhấp nháy những ánh đèn. Về nghỉ tại nhà một người quen ở đường Da Bà Bàu (Chợ Lớn - sau đổi là đường Nhật Tảo), sáng thức dậy vẫn là trên cao nhìn xuống, từ bao lơn tầng ba thấy Sài Gòn thật nhiều cây xanh. Cái ấn tượng đầu tiên của tôi với Sài Gòn là một đô thị đêm nhấp nháy đèn và sáng mượt mà xanh. Việc đầu tiên của tôi là đi tìm tiệm Thanh Thanh.

Lúc này De La Somme đã thành đại lộ Hàm Nghi, Pellerin đổi là Pasteur. Tôi, một cậu trai nhà quê xa lạ ngại ngùng không dám hỏi ai, không biết cái tiệm Thanh Thanh trong bài thơ quảng cáo ở phía nào của góc đường De La Somme và Pellerin cũ?

Từ đó, tuy không ở Sài Gòn nhưng tôi có nhiều dịp đến Sài Gòn, mỗi lần lưu lại mươi ngày, nửa tháng, đi xe lam, đi xe đạp và đi bộ len lỏi khắp các ngõ hẻm của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định… Bến Vân Đồn nhà số chồng lên số, đường Lão Tử khuất lấp, Bình Hòa, Cây Thị còn thưa thớt dân cư. A, cái ngày ấy sao tôi đi khắp cả… Có rất nhiều chỗ bây giờ không còn hình dung ra được.

Bao nhiêu ngày tháng trôi qua. Bây giờ thường lấy mười năm làm một đơn vị tính. Sài Gòn rộng rãi hơn và đông đảo gấp bội. Bởi nó vốn là hai thành phố và một tỉnh: Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đi qua Xóm Mới (Gò Vấp) không còn những khoảng ruộng xanh. Sài Gòn xe cộ kín đường và tốc độ choáng ngợp. Sài Gòn tất bật, vội vàng làm cho những người có tuổi sống ở các tỉnh nhỏ khó quen.

Cho nên khi ở xa nghĩ về Sài Gòn tôi vẫn nuôi giữ hình ảnh của một đô thị nhấp nháy sáng - mượt mà xanh của tuổi trẻ, một mình nhàn nhã len lỏi tìm tòi. Và mỗi lần qua đường Hàm Nghi tôi vẫn chưa quên câu hỏi: Cái tiệm Thanh Thanh xưa ấy ở phía nào của góc đường De La Somme - Pellerin ?

Theo Tưởng Năng Tiến

Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội“Mưa chiều nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đầy.”
(Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội – Phạm Đình Chương & Hoàng Anh Tuấn)

Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn ra đời ngày 7 tháng 5 năm 1932 tại Hà Nội. Ông đi du học năm 1949 và không bao giờ có dịp trở lại nơi sinh trưởng nữa. Không phải Hà Nội mà Paris, Sàigòn, Đà Lạt, và San Jose mới là những nơi ông đã sống gần hết cuộc đời lưu lạc của mình. Tuy thế, tác giả “Yêu Em, Hà Nội” (có lẽ) chưa bao giờ thôi nhớ đến thành phố này – dù chỉ một ngày – trong suốt những năm tháng tha hương. Hoàng Anh Tuấn qua đời sáng nay – ngày 1 tháng 9 năm 2006 – tại California. Bài viết này xin được coi như một nén hương lòng, gửi người đã khuất.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa (Tears Before The Rain) là tựa một cuốn sách của Larry Engelmann do Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ, và Tin Biển xuất bản năm 1995. Tôi tiếc là mình đã quá tuổi để có thể đọc một tác phẩm dầy tới 360 trang bằng ngoại ngữ, và sẽ không bao giờ có cơ may đọc được bản dịch (bằng tiếng mẹ đẻ của mình) dù đã tình cờ nhìn thấy nó, đôi lần. Tôi đã trót thề sẽ không bao giờ đọc thêm bất cứ điều gì viết bởi ông Nguyễn Bá Trạc, bất kể bằng văn vần hay văn xuôi – kể luôn văn dịch.
Lý do giản dị như sau. Mùa hè năm 1985, từ Santa Clara, tôi di chuyển đến một thành phố kế cận – San Jose, thuộc tiểu bang California. Nơi đây, tôi hân hạnh được ở gần nhà một danh sĩ Việt Nam – nhà thơ Nguyễn Bá Trạc. Một người cầm bút tăm tiếng và cũng (hơi hơi) … tai tiếng.

Không bao lâu sau, tôi khám phá ra rằng giữa tôi và vị danh sĩ này có một nỗi bận tâm chung: chúng tôi đều rất dư thì giờ, đều quá rảnh, hay nói một cách rõ ràng hơn là đều … thất nghiệp – nếu hiểu nghề nghiệp, một cách đơn thuần, là làm chuyện gì đó có thể kiếm được ra tiền.

Bởi vậy nhà văn và nhà thơ Nguyễn Bá Trạc đều đặn thăm viếng tệ thất của tôi đôi/ba bận mỗi ngày, dù tôi chưa bao giờ tỏ ý mời – kể cả mời lơi. Đã nhiều lần tôi tỏ ý quan ngại rằng sự thân thiết quá mức như thế – rất có thể – làm phương hại đến tình đồng loại và tình đồng hương giữa chúng tôi.
Nguyễn Quân, tiếc thay, tuyệt đối không hề bận tâm đến điều này. Tuy không thốt ra bằng lời nhưng thái độ thản nhiên của ông, khi vẫn tiếp tục và đều đặn gõ cửa nhà tôi (sáng – trưa- chiều – tối), đã nói lên điều đó.
Thêm một chuyện đáng phàn nàn khác nữa (và chuyện này, dường như, định mệnh chỉ nhắm riêng tôi) là thời gian này danh sĩ Nguyễn Bá Trạc đang thai nghén một tác phẩm văn thơ tổng hợp, tác phẩm đầu tay của ông, có tên là Ngọn Cỏ Bồng.

Sáng tác, đối với đa số nghệ sĩ, là một việc làm thầm lặng. Nguyễn tiên sinh thì khác. Đã thế, ông còn (hoàn toàn) không đồng ý với tôi rằng ép buộc tha nhân phải nghe thơ văn của mình, cho dù là tuyệt tác chăng nữa, là một việc làm vô cùng không …tế nhị – nếu chưa muốn nói là nhẫn tâm. Đó là một hình thức “quấy nhiễu tri thức”(intellectual harassement), nếu nhìn vấn đề theo khía cạnh pháp lý.

Bởi vậy, trước khi cuốn Ngọn Cỏ Bồng được đem in, tôi đã phải nghe văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc đọc đi đọc lại bản thảo cỡ đâu khoảng một … tỉ lần – hay hơn nữa, không chừng! Câu chuyện mà Nguyễn Bá Trạc vô cùng lấy làm thú vị và đắc ý, có tên là “Ông Khó Tính”, đại khái như sau:
“Bạn tôi, ông Khó Tính, lúc còn ở Sàigòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: cứ học nủa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào chửi thề những câu tục tĩu…”
“Khi cộng sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch đến sát cửa dinh Độc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi dạt đến Mỹ. Đất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu…”

“Từ ngày xa nhà, tính tình lại càng khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng lẩm nhẩm nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Đứa đi quyền, đứa dang chân đứng tấn. Nguời bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt sử. Đứa nào không thuộc bài thì co dò mà đá, đến nỗi bị cảnh sát còng cả tay.”

“Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê nguời gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng không kiêng nể gì nữa…”
“Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tầu. Bạn khen núi, ông bĩu môi: ’Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Đại Lãnh?’
“Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ:’Bọn Đông Dương ta khối đưá bị bịnh tâm thần’. Có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn…”
“Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang, bạn thân ái mời ông khó tình đến. Nước đun xủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm.
Được đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:
- “Trà uống được không?’
Ông Khó Tính:
- “Cũng được. Nhưng thua Đỗ Hữu”.
Bạn cười dòn:
- “Bố ơi! Chính hiệu trà Đỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”
Ông Khó Tính:
- “ Thảo nào. Có điều cái nước máy chát qúa!”
Bạn chồm lên:
- “Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đây. Không phải nước máy đâu.”
Ông Khó Tính tuột giầy gãi nách ngáp:
- “Nước mưa ở Mỹ, uống vào đắng cả mồm!”
Tôi đã nghe khá nhiều danh gia ngỏ ý xuýt xoa tán thưởng sự duyên dáng (quá cỡ) của ông Nguyễn Bá Trạc qua câu chuyện viết về ông Khó Tính, nhất là ở câu nói cuối cùng – như vừa dẫn. Chao ơi, tôi thất vọng đến nỗi có thể chết (ngay) được vì sự hiểu biết quá giới hạn về môi sinh của văn sĩ kiêm thi sĩ Nguyễn Bá Trạc (nói riêng) và của giới danh sĩ Việt Nam ở hải ngoại (nói chung).

Ông Khó Tính không phải là một nhân vật hư cấu. Ông ta sống (ràng ràng) ở thành phố San Jose một thời gian khá lâu, cùng lúc với tôi và danh gia họ Nguyễn. Và nếu tôi nhớ không lầm, vào thời gian này, ông ta cũng rảnh, nghĩa là cũng đang thất nghiệp!

Nhờ đó, tôi đã có nhiều dịp được hân hạnh hầu chuyện cùng ông Khó Tính. Nhân sinh quan và vũ trụ quan của ông ra sao, phận kẻ hậu sinh, tôi (tuyệt nhiên) không dám lạm bàn nhưng nhận xét rằng “nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm” – theo thiển ý – thì vô cùng chính xác.

Tôi bắt chiếc cổ nhân, ăn nói cầu kỳ (chút đỉnh) như thế cho ra vẻ mình cũng là người khiêm tốn. Chứ thực ra, nuớc mưa ở Mỹ uống ngang phè hay đắng cả mồm là một sự kiện hiển nhiên chứ chả dính dáng (mẹ) gì đến “tôn ý” hoặc “thiển ý” của bất cứ ai.

Những hoá chất như sulfur dioxide, nitrogen oxides … từ chất đốt của săng dầu than củi trong không khí, khi gặp môi trường không khí ẩm thấp sẽ góp phần tạo thành mưa hay tuyết với nồng độ acid cao – có thể làm ô nhiễm nước uống, hư hại nhà cửa, mùa màng và ảnh hưởng đến sinh hoạt của của nhiều sinh vật – là một tiến trình tự nhiên.

Khói xe, khói nhà máy phun tùm lum ở Mỹ vẫn được coi là nguyên nhân chính tạo ra nồng độ acid cao trong nước mưa. Uống vào đắng cả mồm là phải. Ông Khó Tính – dù thực sự đúng là một người không dễ tính chăng nữa – nói như thế thì có sai sót, oan ức chỗ nào đâu mà qúi vị che miệng chúm chím cười. Đã thế, còn dám xa gần ám chỉ rằng tinh thần ông ta (hơi) bất ổn.

Đã lâu, tôi không có dịp gặp lại ông Khó Tính dù thỉnh thoảng vẫn nhớ đến “cố nhân” – với đôi chút quan hoài, và rất nhiều… ái ngại! Sáng qua, tình cờ đọc lại một tờ báo cũ – Việt Báo USA, ấn bản Bắc California, số ra ngày 15 tháng 10 năm 98 – thấy loan tin mưa acid ở Việt Nam mỗi lúc một thường hơn, và nồng độ acid cũng cao hơn, đến độ có thể làm chết cá ở ao hồ.

Bài báo (viết theo bản tin của AP) cũng có trích dẫn lời một nhân viên thuộc Trung Tâm Khí Tượng Phía Nam, bà Nguyễn Kim Lan, cho rằng nguyên do chính của hiện tượng này là việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, cùng với khói thải của nhà máy ở Việt Nam và từ những lân bang.
Ủa, chớ nhà máy nào ở xứ mình mà hoạt động dữ dội vậy kìa? Mỏ than Nông Sơn – ai cũng biết – muốn xụp tiệm tới nơi, đang ở tình trạng bỏ thì thương vương thì tội, chỉ còn được khai thác lai rai để giảm số người thất nghiệp. Nếu nó có tỏa khói thì nhiều lắm cũng chỉ là khói hâm cơm trưa của công nhân chứ làm gì đến độ gây ô nhiễm môi sinh, tạo thành mưa acid với nồng độ cao, làm hư hại mùa màng và chết cá?

Hay là nhà máy thép Thái Nguyên chăng? Sau 1975 thì cả nước đều rõ là cái nhà máy thổ tả này chỉ thực sự hoạt động (bằng mồm, theo kiểu trăm voi không được bát nước xáo) và đạt thành tích trên đài hay trên báo. Truyền thống này, chắc chắn, vẫn còn được giữ vững cho đến ngày nay. Báo Tiền Phong – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – đăng bài “Chúng Ta Chưa Tự Làm Được Cái Đinh Vít”, có đoạn, như sau: “… dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren)”.
Như vậy, không lẽ khói thải tùm lum lại từ những cơ xưởng kỹ nghệ của những lân bang cỡ như Miên Quốc hay Lào Quốc? Người Lào, dù đã vượt quá độ từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa từ lâu, nghe đâu, vẫn còn đi xe bò lòng vòng trong thành phố và cưỡi voi dạo chơi tà tà ở trong rừng. Còn người Miên, cách đây chưa lâu, họ vẫn còn có thể (nhân danh chủ nghĩa cộng sản) giết hàng triệu người bằng cuốc chim hay chầy vồ gì đó. Đời sống của nhân dân ở hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, cũng như ở nước ta, đâu mấy ai đụng chạm hay dính dáng gì tới máy móc mà có khói – ngoại trừ những lúc nướng khoai.

Vậy thì khói thải ở đâu ra? Lửa phải có ở chỗ nào mới được chớ? Không có lửa sao có khói? Tôi thực lòng không dám nghi ngờ độ khả tín và khả xác của nguồn tin từ tờ Việt Báo USA; tuy nhiên, vì chút bồn chồn lo lắng nên loay hoay vào “internet” truy tìm phần tin tức của AP để mong được hiểu biết sự việc rõ ràng hơn. Tôi không kiếm ra được bài báo dẫn thượng nhưng (chả may) lại thu lượm được nhiều sự kiện rất phiền lòng khác về tình trạng mưa acid ở Việt Nam.

Qua địa chỉ “web site” của South East Asian Science Policy Advisory Network tôi đọc được một bài báo ngắn của ông Nguyễn Hiệp – người mà tôi đoán là một chuyên gia hiện đang định cư tại Úc – có tựa là “Transboundary Sulfur Pollution &Vietnam” . Ông Nguyễn Hiệp đã bầy tỏ sự quan ngại rằng ở Đông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hoá chất này rất lớn từ những lân bang hoặc ngay cả từ những quốc gia xa xôi khác. Việt Nam và Nepal là hai (receptor) “nạn nhân” điển hình trong vùng về tệ trạng này.

Tài liệu ông Hiệp trích dẫn cho thấy Trung Cộng là nước đứng thứ nhì thế giới về lượng thải sulfur, và hơn 60 phần trăm số lượng hoá chất này – từ cơ xưởng kỹ nghệ của họ – đã theo gió rơi rớt và tích tụ ở Việt Nam (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationship in Asia, Journal of Amostpheric Enviornment, Vol. 32, No.8, 1998, pp. 1397-1406).

Thảo nào, bà Nguyễn Kim Lan nào đó đã có vẻ ấp úng khi nói là nguyên do mưa acid một phần là do khói thải từ những nước lân bang nhưng không nói rõ từ đâu. Bà sợ làm mất lòng người anh em cộng sản láng giềng, dù nước Việt (từ lâu nay) đã trở thành cái thùng rác chứa đựng 60 phần trăm lượng hoá chất ô nhiễm của Trung Cộng – một quốc gia có lượng thải lưu huỳnh cao thứ nhì thế giới!

Thái độ nhũn nhặn thái quá và khó hiểu này, phần nào, có thể giải thích được nếu biết rằng sự ô nhiễm môi sinh ở Việt Nam hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến đời sống của giai cấp cầm quyền. Họ có dư phương tiện để tránh hết mọi điều bất tiện. Giai cấp bị trị, nhất là những người ở thôn quê, không có cái may mắn xa xỉ đó. Xin đơn cử một thí dụ.

Báo Lao Động, số 189, phát hành ngày 11 tháng 7 năm 2006 (trong mục “Bạn Đọc Viết”) có đề cập đến tình trạng nước uống ở làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị – như sau:
“Nước có lọc qua năm lần bảy lượt rồi cũng thế. Phèn – đục – đỏ ngầu là ‘bản chất’ của nguồn nước nơi ni” – anh Nguyễn Viết, Trưởng thôn An Bình – bức xúc: An Bình là vùng đất trũng, do đó sau những trận mưa lớn, lụt lội…, nó trở thành rốn chứa nước bẩn. Tất cả rác thải của các vùng lân cận đều trôi dạt về đây. Sau trận mưa, mùi xú uế của rác thải bao trùm lấy ngôi làng này…”

“Anh Hồng Văn Mừng – Chủ tịch xã Cam Thanh – cho biết: ’Một thôn có chưa đầy 1.000 nhân khẩu như An Bình mà đã có hơn 40 người mắc bệnh ung thư, quả là con số đáng để các cơ quan chức năng có kế hoạch kiểm tra một cách nghiêm túc về hiện tượng mắc bệnh của người dân’ – vị chủ tịch xã này trông sự mong mỏi vào cuộc ráo riết, cấp bách của ngành chức năng.

Mong lắm thay, một ngày gần nhất An Bình sẽ bình an .
Tôi thực lòng không tin rằng thôn An Bình – cũng như hàng ngàn vạn thôn làng khác nữa, trên quê hương mình – sẽ được sống bình an trong những ngày tháng tới.

Quê hương tôi ở vùng nhiệt đới, nơi đây mỗi năm chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Vũ độ hàng năm tính hào phóng theo đơn vị mét (meter), nghĩa là cả trăm “inches”. Cũng chính nơi đây là xuất xứ của câu tục ngữ “hiền như một ngụm nước mưa”. Vậy mà, sau nửa thế kỷ đói ăn, đồng bào tôi – đã đến lúc – thiếu luôn nước uống.

Posted: Mon May 21, 2012 6:03 am
by thienthanh
Image

Khánh Ly: Đa đoan một kiếp cầm ca


Khánh Ly hát hay, Khánh Ly nổi tiếng, nhưng cuộc đời thì sao? Câu trả lời là: Tài hoa cũng lắm, đa đoan cũng nhiều! Tài hoa thì do thiên phú. Còn đa đoan thì hầu như do Khánh Ly chọn lựa.

Khánh Ly là nghệ danh được ghép từ tên của hai nhân vật lừng lẫy trong truyện "Đông Chu Liệt Quốc": Khánh Kỵ và Yêu Ly. Nhưng xem ra, cách sống và xử sự của Khánh Ly chẳng giống chút nào với hai con người khí khái này.

Chào đời tại Hà Nội vào năm đói Ất Dậu (1945), tên cúng cơm của Khánh Ly là Nguyễn Thị Lệ Mai, bạn bè thương gọi là "Mai Đen". Được trời ban cho một chất giọng đặc biệt, 9 tuổi Khánh Ly đã bước lên sân khấu tham gia một cuộc thi ca hát với ca khúc "Ngây thơ", nhưng chẳng nhận được một thứ hạng đáng kể nào cả. Năm 1956, sau khi theo gia đình vào định cư tại Đà Lạt, Khánh Ly đã tham gia cuộc thi hát nhi đồng, do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại Sài Gòn. Với nhạc phẩm "Ngày trở về" của Phạm Duy, Khánh Ly đoạt được giải nhì. Mãi đến năm 1962, Khánh Ly mới thật sự bước vào đời ca hát chuyên nghiệp tại phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Chưa có tiếng tăm gì, khó cạnh tranh, chỉ một thời gian ngắn, Khánh Ly phải quay về Đà Lại hát cho một vài hộp đêm tại đó.
Mãi đến năm 1967, Khánh Ly mới thật sự nổi tiếng. Cô nhanh chóng chinh phục được người nghe bằng dòng nhạc của Trịnh Công Sơn, trở thành một trong ba giọng ca nữ hàng đầu của Sài Gòn thời đó, theo thứ tự là Thái Thanh - Lệ Thu - Khánh Ly. Năm 1968, cô đứng ra thành lập hội quán Cây Tre ở số 2bis Đinh Tiên Hoàng, Đakao, thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và thanh niên, sinh viên, học sinh tìm đến.

Hội quán Cây Tre tuy rất nổi tiếng nhưng không có hiệu quả về kinh tế. Đến năm 1972, Khánh Ly trở thành bà chủ phòng trà cùng tên (Khánh Ly) tại số 12 - 14 đường Tự Do (Đồng Khởi). Nhưng tiền của kiếm được bao nhiêu, hầu như Khánh Ly đều nướng sạch vào những canh bạc thâu đêm suốt sáng, thường xuyên tổ chức tại phòng trà cũng là nơi ở của mình. Tại địa chỉ này, Khánh Ly còn tập họp một số "bằng hữu" toàn là những tay anh chị khét tiếng trong đám sĩ quan người nhái, có mặt hằng đêm, như: Phong Nhái, Chánh Râu, Chất Lựu Đạn… Đám giang hồ áo lính này coi phòng trà Khánh Ly như trụ sở, từ đó bung ra đi thu tiền bảo kê hầu hết các vũ trường, snack bar, night club khắp trung tâm Sài Gòn, rồi quay về "trụ sở Khánh Ly" chia chác chiến lợi phẩm. Hai món cờ bạc mà Khánh Ly say mê nhất là xì phé và xập xám. Dường như câu nói cửa miệng của dân đổ bác: "Tiền xâu, đánh đâu, thua đó" đã hoàn toàn ứng nghiệm vào cuộc đỏ đen của Khánh Ly.

Tài danh có thừa, nhưng đời ca hát của Khánh Ly không chỉ toàn vinh quang, mà cũng có khi lắm nỗi nhục nhằn. Năm 1973, Khánh Ly tổ chức một chương trình ca nhạc tại Đà Lạt. Nhiều ngày trước đó, người ta thấy trên những băng rôn quảng cáo có nhiều tên tuổi ca sĩ nổi tiếng. Thế là khán giả nô nức đến xem, vé đã được bán sạch sành sanh. Vậy mà xuyên suốt chương trình, chỉ có Khánh Ly và Ngọc Minh thay nhau bao hết. Ngoài ra không có một ca sĩ nào khác. Cho là mình bị lừa, khán giả bắt đầu la ó, rồi tràn lên sân khấu đập phá. Khánh Ly phải chui ván sàn thoát thân. Ngày hôm sau, một tờ nhật báo tại Sài Gòn đã đưa tin với tựa đề giựt gân "Khánh Ly chui lỗ chó chạy trốn tại Đà Lạt". Khánh Ly cay lắm, nhưng đành ngậm bồ hòn.

Dân văn nghệ Sài Gòn trước năm 1975, thảy đều biết rằng Khánh Ly rất kỵ Lệ Thu, chỉ vì con gà ganh nhau tiếng gáy. Dạo đó nhiều bầu sô và người làm chương trình đến mời Khánh Ly tham gia, đều bị hỏi một câu: "Có Lệ Thu không? Có bà ấy là không có tôi!". Một lần, nhân dịp họp mặt khóa 10 trường Võ bị Đà Lạt được tổ chức tại hồ nước trong khuôn viên Tiểu đoàn 61 Pháo binh, tại Gò Vấp (nay là UBND quận Gò Vấp), người làm chương trình cố tình sắp xếp cho Lệ Thu hát mở màn và Khánh Ly hát phần sau để tránh cho hai người gặp nhau. Chẳng may, sau khi hát xong, thay vì về sớm thì Lệ Thu lại được tướng Lê Minh Đảo mời ngồi lại đến mãn tiệc. Khi đến nơi, thoáng thấy Lệ Thu, Khánh Ly lập tức bỏ hát quay về. Người làm chương trình hết lòng nài nỉ, nhưng Khánh Ly vẫn không đổi ý: "Anh nói với tôi là không có Lệ Thu, tôi mới nhận lời. Tôi đã nói trước với anh rồi, có Lệ Thu là không có tôi".

Có một dạo, dư luận xã hội đồn ầm lên rằng, chất giọng được mệnh danh là "giọng hát ma túy" của Khánh Ly có được là do chơi thuốc phiện. Kỳ tình "Mai Đen" không hề dính líu tới ả phù dung. Nhưng một lần, Khánh Ly đi từ Sài Gòn lên Thủ Đức trên một xe du lịch với một ông cò Cảnh sát. Khi đi ngang qua lãnh địa của một ông cò khác, thuộc phe đối nghịch, xe bị chặn lại khám xét. Mở cốp xe ra thì thấy một bàn đèn để hút thuốc phiện. Tuyệt nhiên, thuốc phiện thì không thấy. Khánh Ly nhận là của mình, nhưng cho đó chỉ là vật trang trí. Vậy là hôm sau, đi đâu cũng nghe người ta bàn tán việc Khánh Ly hút xách một cách sôi nổi với những tình tiết được thêm mắm, thêm muối thật hấp dẫn.

Khánh Ly có vóc dáng mình hạc xương mai, phảng phất nét liêu trai chí dị. Khuôn mặt dễ nhìn, không thuộc loại "hồng nhan", nhưng đường tình ái cũng rất "đa truân!". Thuở mới thành danh, Khánh Ly gá nghĩa vợ chồng với một tay chơi, có cái biệt danh kèm theo tên cúng cơm rất ấn tượng: "Minh Đĩ". Anh chàng này vốn con nhà giàu, có bà chị lấy chồng là một đại tá không quân. Nhờ vào tiền của và thế lực của ông anh rể, Minh Đĩ chui vào làm lính kiểng với cấp hàm trung sĩ, thuộc binh chủng không quân, để tránh ra trận. Được hai mặt con thì Khánh Ly và Minh Đĩ ca bài chia tay. Chẳng bao lâu, Khánh Ly lấy Mai Bá Trác, một Đại úy biệt kích, khi ông ta đang làm trưởng trại Lực lượng đặc biệt (LLĐB) Thiện Ngôn ở biên giới Tây Ninh. Thời đó mà được làm trưởng trại LLĐB là coi như trúng số. Dưới quyền, có từ 4 đến 5 Đại đội biệt kích quân, phần lớn là người Miên và dân tộc thiểu số. Thứ lính này không có số quân, do Mỹ trang bị và trả lương. Mỗi đại đội chỉ cần vài chục lính ma, lính kiểng là mỗi tháng, sau khi chia chác cho đàn em, trưởng trại dễ dàng đút túi cả chục cây vàng. Cứ tưởng tượng, lúc bấy giờ ông Trác đã sắm xe du lịch Mustang, để sẵn ở Sài Gòn thì đủ biết. Tháng nào, ông ta cũng về ăn chơi xả láng, tiêu tiền như nước, nên dễ dàng chinh phục được Khánh Ly.

Sống với Mai Bá Trác có một mặt con thì năm 1972, nhân một chuyến đi hát tiền đồn để úy lạo binh sĩ, Khánh Ly gặp Đỗ Hữu Tùng, Trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến. Bị ngay một tiếng sét ái tình, dù trai đã có vợ, gái đã có chồng, họ vẫn rất say đắm nhau. Tuy là mối tình "ngoài luồng" nhưng hầu hết những ai quen biết hai người trong cuộc đều xác nhận đây là một đôi nhân tình rất xứng đôi, vừa lứa về mọi mặt. Bây giờ, Tùng đã thành người thiên cổ. Ông ta tử trận tại bãi biển Đà Nẵng năm 1975, nhưng Khánh Ly vẫn tâm sự với bạn bè thân thiết, rằng Tùng là người mà Khánh Ly yêu thương nhất đời.

Sau tháng 1975, trên bước đường di tản, định mệnh đã xui khiến Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan, người chồng đang sống với Khánh Ly từ đó cho đến nay. Nhiều người đã tỏ ra tiếc cho Khánh Ly, vì có một người bạn (cuối cùng) đời thuộc loại văn dốt, võ dát dù ông ta mang danh là một nhà báo của làng báo Sài Gòn cũ. Nguyễn Hoàng Đoan chỉ thật sự được nhiều người biết đến từ khi sang Mỹ và trở thành "ông Khánh Ly".

Từ năm 1972 cho đến ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Hoàng Đoan thất nghiệp. Không một tờ báo nào nhận ông ta vì khả năng viết lách thì yếu kém nhưng lại giỏi ăn tạp. Ông ta đã có vợ và 2 con gái, nhưng Nguyễn Hoàng Đoan lại sống vô trách nhiệm. Chính xác, Đoan lo thân mình còn chưa xong, lấy đâu ra để lo cho vợ con. Không chu toàn được cơm áo, Đoan cũng chẳng là chỗ dựa tinh thần cho con cái. Suốt ngày, ông ta thường xuyên có mặt chầu rìa tại sòng bài Ba Hóa ở khu vực nhà thờ Huyện Sĩ. Dần dà, ông ta tán tỉnh được cô con gái của chủ sòng bài khét tiếng này, để trở thành một "đấng trai bao"! Thời gian rảnh, Đoan thường xuyên có mặt tại hai động chứa gái hạng sang. Một ở trên đường Huỳnh Tịnh Của và một tại villa số 11, đường Đặng Đức Siêu (nay là Nam Quốc Cang) để kiếm ăn và chơi lụi.

Sang Mỹ, chẳng có nghề ngỗng gì, nên Đoan phải bám váy Khánh Ly. Việc hát xướng của Khánh Ly tại hải ngoại cũng không đều đặn, thu nhập cũng chẳng là bao, đời sống cũng khá chật vật. Nguyễn Hoàng Đoan đã "tham mưu" cho Khánh Ly cách làm mình, làm mẩy và lật lọng với các bầu show. Ai mời đi hát ở đâu đó, dù rỗi rảnh, Khánh Ly vẫn hô hoán: "Chết rồi, chị trót nhận lời hát cho một người quen, lỡ nhận tiền trước rồi!". Nếu như đối tác tiếp tục năn nỉ, Khánh Ly sẽ dở chiêu đòi tăng giá vào giờ chót, lật bài ngửa: "Vậy thì em trả thêm cho chị chút đỉnh!". Cô thường đồng ý tham gia chương trình để bầu show quảng cáo tên tuổi ì xèo. Kề ngày diễn, Khánh Ly đột ngột đòi tăng giá từ 3.000 lên 5.000 USD mới có mặt. Thế là bầu show phải đắng cay ngậm quả bồ hòn. Giới bầu show hải ngoại đã đặt cho Khánh Ly hai biệt hiệu rất lẫy lừng: "nữ hoàng nâng giá", và "ca sĩ xù show". Ngay cả nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng không được Khánh Ly nể mặt. Cay đắng đến độ, trước khi qua đời, người nhạc sĩ tài hoa này đã trăn trối với vợ con: Cấm cửa, không cho Khánh Ly đến viếng!

Tháng 5/2000, Khánh Ly có về Việt Nam thăm gia đình. Quay lại Mỹ, Nguyễn Hoàng Đoan và Khánh Ly, kẻ xướng, người họa, nửa úp, nửa mở: "Việt Nam mời tôi về hát với catse 2 triệu USD. Nhưng chắc không có chuyện đó với tôi". Chẳng cần truy cứu hư thực, mới nghe ai cũng đã phì cười, bởi sự bịa đặt hết sức ấu trĩ của "nữ hoàng nâng giá".
Đúng là nồi nào úp vung nấy. Đáng tiếc cho danh ca của một thời...

Đoàn Thạch Hãn

Posted: Wed May 23, 2012 1:26 am
by KýCóp
Sắt Son

Tác giả: Phạm Tín An Ninh
Không ngờ tôi lại là người bưng tấm ảnh chị Ngà theo sau quan tài của chị. Và cũng chính tôi là người đào huyệt chôn chị. Đám ma của chị có lẽ là một đám ma buồn nhất mà tôi chứng kiến. Có cái chết nào lại không buồn. Những ngày ở trong trại “cải tạo”, tôi đă từng khiêng xác vài người bạn tù đi chôn ở ven triền núi hoang vắng đến lạnh lẽo, trong cảnh nhá nhem của buổi chiều đông trên khu núi rừng Việt Bắc. Nhưng đó là chuyện trong tù, c̣n hôm nay ngay trên làng quê ḿnh, chị Ngà đến nơi an nghỉ cuối cùng mà không có một người ruột thịt tiễn đưa, ngay cả cái áo quan cũng do bà con láng giềng góp tiền mua cho chị.

Chị nằm bên cạnh cha mẹ cùng người em trai, trên một ngọn đồi đầy những cỏ may và cây hoa bộng giếng, nh́n xuống cái làng quê mà gần cả một đời chị sống quanh quẩn ở đây, cô đơn, lặng lẽ.

Chôn cất xong, mọi người ra về, tôi nán lại, dựng tấm bia bằng gỗ trước mộ chị. Khi ngồi một ḿnh nắn nót viết cái tên của chị lên tấm gỗ, nước mắt tôi ràn rụa, mơ hồ như thấy ḿnh đang trở về cái thời nào đó thật xa xăm.

Ngày xưa cha tôi làm thầy giáo, dạy trường Pháp Việt. Tôi mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cho nên những ngày đi dạy học ông thường dắt tôi theo. Đến lớp, ông giao tôi cho mấy anh, chị học tṛ lớn của ông để tôi vừa chơi vừa học. Nhờ vậy mà lúc c̣n bé tí xíu tôi đă biết “con ngựa cheval nhảy qua ḥn núi montagne ăn cỏ herbe uống nước de l’eau“.

Trong số các anh chị dạy tôi học, tôi thích nhất là chị Ngà. Chị là con gái lớn của ông bà Tần, chuyên nuôi tằm, bán tơ, một gia đ́nh thuộc hàng khá giả trong làng, có ngôi nhà ngói lớn, ờ cách nhà ông bà nội tôi chỉ mấy cái vườn cây. Chị Ngà có làn da trắng, mái tóc thật dài. Lúc nào gặp tôi chị cũng cười và nói năng nhỏ nhẹ. Nghe cha tôi nói lại, chị hiền lành ngoan ngoăn và học rất giỏi, nên là một trong số học tṛ cưng của cha tôi. Thấy tôi mồ côi mẹ, lại là con của thầy ḿnh, nên chị rất thương tôi. Ngay cả những ngày nghỉ, chị cũng thường ghé lại nhà ông bà nội, dắt tôi đi chơi, mua cho tôi mấy con ḅ, con gà bằng đất. Có điều tôi ít khi đến nhà chị, v́ rất sợ những con tằm. Tôi bảo đó là những con sâu, mặc dù chị tốn bao nhiêu công sức để nói về lợi ích của con tằm đă làm nên tơ lụa, và những con bướm đẹp đẽ đang bay ngoài vườn kia là hoá thân từ chính những con tằm. Nhưng lúc ấy tôi nghĩ là chị đă kể từ một chuyện thần thoại nào đó nên không tin những điều chị nói.

Cả một thời ấu thơ, lớn lên ở nhà ông bà nội, ngoài cô Út ra, chị Ngà là người mà tôi gần gũi nhiều nhất. Chị có một người em trai tên Ngọc, lúc nhỏ tôi rất phục tài đá banh của anh. Gần như không trận bóng nào có anh mà thiếu tôi trong hàng khán giả nhi đồng. Nhờ anh mà đội bóng cùa làng tôi giữ chức vô địch mấy năm liền trong huyện. Tôi mê anh đá banh, nhưng nhiều cô gái trong làng th́ mê anh đẹp trai, cao lớn. Sau này anh đăng vào lính thủy quận lục chiến. Nghe nói anh đánh giặc hăng lắm, nên mới ba năm đă lên tới chức trung sĩ. Lâu lâu về phép dắt theo cô bồ có mái tóc quăn, trông anh oai phong lắm.

Khi tôi từ giă quê lên tỉnh học, cũng là lúc chị Ngà ra nghề làm cô giáo, dạy một lớp nhỏ trường làng, rồi lấy chồng. Tôi cũng vinh dự được mời, và quà cưới tôi cho chị hôm ấy là bức tranh chân dung của chị do chính tay tôi vẽ. Tưởng chồng chị là ai, hoá ra là anh Phúc, cũng là học tṛ của cha tôi, học trên chị một lớp, người cùng làng. Nghe nói anh học giỏi, nhưng thầm lặng, ít nói và không thích giao du với bạn bè. Anh là con trai một của bà ba Tịnh. Bà góa chồng từ lúc nào tôi không biết. Chỉ nghe người ta bảo ông Tịnh theo vợ bé, là một cô đào trong gánh hát rong, rồi biệt tăm luôn.

Anh Phúc thi đậu lấy bằng primaire, nhưng viện cớ mẹ goá con côi, nên không đi làm công chức như những người khác, mà lại tự ḿnh khai thác một khu vườn bên kia sông Gốc, trồng nhiều loại cây và có ao nuôi cá. Trong làng ai cũng khen anh biết tính toán và có ḷng hiếu thảo

Trong đám học tṛ của cha tôi cũng có vài anh khác ngắm nghé chị Ngà, nhưng vâng lời cha mẹ, chị lấy anh Phúc, bởi anh là con một của bà mẹ góa, được nhà nước cho miễn dịch, khỏi phải đi lính xa nhà, để chị c̣n được gần gũi săn sóc ông bà khi đến tuổi già. Đám cưới nhà quê, nhưng khách khá đông, mà hầu hết là bạn học của hai người và cũng là học tṛ của cha tôi.Trong lễ cưới, sau khi cô dâu chú rể lạy tạ cha mẹ hai bên, rồi xin được lạy cha tôi một lạy để đền ơn sư. Cha tôi cầm tay anh chị dặn ḍ nhiều thứ, tôi không nhớ hết, chỉ c̣n mang máng hai tiếng thủy chung.

Từ ngày chị Ngà lấy chồng tôi ít có dịp gặp lại chị. Mặc dù nhà chồng chị cũng không xa mấy, nơi ven làng, bên con sông Gốc, mà phía bên kia sông là khu vườn của anh Phúc và cánh rừng tiếp giáp với dăy trường sơn.

Tôi gặp lại chị đúng vào một ngày buồn, chỉ đứng nh́n chị ấy khóc. Anh Ngọc, em trai duy nhất của chị, bị tử trận đâu trong Rừng Sát. Cha mẹ chị ngất xỉu khi nhận chiếc quan tài mà không hề được báo trước. Đám ma hôm ấy nghiêm trang lắm, có cả ông quận và mấy anh lính bồng súng chào đi theo. Tôi d́u chị đi sau linh cửu, tiễn đưa anh Ngọc đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Điều làm tôi – và nhiều người – ngạc nhiên là trong đám ma của anh Ngọc, không ai nh́n thấy mặt anh Phúc, chồng chị. Mọi người th́ thầm “cha nào con nấy, chắc là lại mê con đào hát nào, bỏ con Ngà rồi!’’

Tội nghiệp cho chị và oan cho anh Phúc. V́ trước đó mẹ anh Phúc đă thay mặt con trai xin lỗi gia đ́nh sui gia, bởi anh Phúc ốm nặng bất ngờ phải nằm bệnh viện.

Hai tháng sau, một trận lụt lớn tràn qua làng tôi, kéo theo một số nhà cửa và trâu ḅ, nhưng không có ai chết, ngoại trừ cái tin anh Phúc bị nước cuốn đi, khi anh c̣n ở khu vườn bên kia sông Gốc, chưa kịp về nhà. Mẹ anh Phúc rước thầy ngồi đồng đi t́m xác anh Phúc suốt mấy ngày liền, nhưng người ta nghĩ là xác anh đă trôi ra biển.

Trong nhà cũng lập bàn thờ, nhưng chị Ngà nhất định không chịu để tang. Chị bảo linh tính báo cho chị biết là anh Phúc, chồng chị vẫn c̣n sống. Có thể, xác anh đă trôi giạt đến một nơi nào đó rồi được người ta cứu như câu chuyện nàng Thúy Kiều mà chị thường đọc cho cha mẹ chị nghe…

Tôi rời quê vào Sài g̣n học, rồi sau đó đi lính. Lâu lâu nghỉ phép về quê, tôi t́m đến thăm chị. Sau ngày cha mẹ mất, chị nghỉ dạy học, bán ngôi nhà ngói lớn của ông bà, đem tiền bạc về xây lại ngôi nhà mẹ chồng thành ngôi nhà lớn ba gian, mua luôn cả khu vườn bên cạnh có trồng đủ loại cây ăn trái. Chị dành lại một số tiền mở một nhà máy xay xát nhỏ, nuôi bà mẹ chồng bị đau bệnh mấy năm nay, chỉ nằm một chỗ.

Trong làng, có người th́ bảo chị ấy “khôn nhà dại chợ, bán nhà cha mẹ để gây dựng nhà chồng, và mang cả bàn thờ cha mẹ, em út sang bên ấy, không sợ tủi hổ vong linh”. Nhưng cũng có người, trong đó có ba tôi, th́ khen chị, bảo là “xuất giá th́ phải tùng phu, con Ngà nó làm vậy là đúng theo sách thánh hiền!“

Không hiểu có phải v́ chị nghe lời dặn ḍ của ông Thầy, từng khai tâm và d́u dắt chị nên người, thuộc ḷng hai chữ thủy chung, nên dù chồng đă biệt tích từ lâu, chị vẫn ở vậy, thờ phụng nhà chồng, trong lúc chị vẫn c̣n trẻ và có nhan sắc trong vùng. Có mấy ông thầy giáo ở xa đổi tới từng mon men đến chị nhưng chị khước từ.

Ngày mẹ chồng chết, cũng chỉ có mỗi một ḿnh chị mặc áo tang. Nghe nói cái đám ma đúng vào một ngày gió mưa, ảm đạm. Người ta không chỉ thương cho người chết, chẳng có chồng con trong phút lâm chung, mà c̣n tội nghiệp cho cả cô dâu, một ḿnh cô đơn đi sau quan tài, tiễn đưa bà mẹ chồng về nơi chín suối, mà cũng đưa cuộc đời ḿnh vào chốn quạnh hiu.

Chiến tranh càng lúc càng leo thang. Sau ngày mấy ông tướng nghe theo Mỹ hạ bệ và giết hai anh em ông Ngô đ́nh Diệm, không biết đất nước có thực sự khá hơn không, nhưng ở quê tôi th́ không c̣n b́nh yên như trước nữa. Một vài người làm việc trong chính quyền bị ám sát. Cứ vài ba tuần lại có một cuộc đụng độ giữa các toán dân vệ với quân du kích. Ba tôi phải bỏ quê, về sống ở thành phố, giao ngôi nhà từ đường của ông bà nội cho cô Út tôi chăm nom thờ phượng.

Tôi về phép thăm ba tôi đúng vào ngày giỗ ông nội, nên hai cha con cùng về thăm quê. Tôi gặp chị Ngà khi vừa bước chân vào nhà ông nội. Chị đến đây từ sáng sớm, phụ cô tôi dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ, chùi bóng mấy bộ lư đồng và mấy tấm liễn. Thấy ba tôi, chị ṿng tay cúi đầu thưa Thầy như cái hồi c̣n bé. Chị nắm tay tôi, miệng nở nụ cười. Nhưng nh́n trong đôi mắt chị, tôi thấy phảng phất buồn.

Không biết ba tôi thay đổi quan niệm từ lúc nào, sau đám giỗ, ông bảo tôi t́m chị Ngà, dặn chị ở lại cho ông nói chuyện. Ông khuyên chị Ngà nên bước thêm bước nữa, hy vọng c̣n sinh đẻ được để có mụn con, hầu tránh cảnh tuổi già đơn chiếc, chẳng có ai lo lắng cho ḿnh. Hôm ấy tôi cũng phụ họa nhiều điều và hứa sẽ làm mai cho chị. Lần này Chị không một mực khước từ, nhưng xin để tang mẹ chồng cho đủ ba năm. Tôi giận chị nhưng cũng cảm phục tấm ḷng thủy chung của chị.

Tháng tư bảy mươi lăm, khi chị Ngà chưa măn tang mẹ chồng, th́ cả miền nam để tang cho đất nước. Cái “đại thắng mùa Xuân” của những người Cộng sản đă gây biết bao nhiêu thê lương tang tóc. Ba tôi bị bắt trong lúc tôi c̣n theo đơn vị từ Cao nguyên “di tản chiến thuật” vào các địa danh xa lạ ở tận Long An tham dự những trận đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ.

Miền Nam mất. Trong lúc những người Cộng Sản ngơ ngác ḥ reo chiến thắng, tôi lặng lẽ quá giang đủ các loại xe trở về quê. T́m tới trại tù Đá Bàn, một mật khu lúc trước nằm sâu trong núi, nơi ba tôi bị giam giữ, nhưng cuối cùng tôi vẫn không được phép gặp ba tôi. Tôi về nhà ông nội thăm bà cô út và thắp hương từ biệt trước bàn thờ gia tộc.

Cô tôi đau ḷng cho biết, người kư lệnh bắt ba tôi là một anh học tṛ của chính ông ngày trước. Anh bỏ nhà lên núi rồi tập kết ra Bắc. Bây giờ đang giữ một chức vụ khá lớn trong Uỷ Ban Quân Quản.

Cô tôi chưa kể hết câu chuyện th́ chị Ngà đến. Chị nắm chặt hai bàn tay tôi, không nói điều ǵ. Tôi thấy chị đang khóc. Tôi nghĩ là chị thương và lo lắng cho cha con tôi trong cái cảnh sa cơ này. Tôi lấy lại b́nh tĩnh, chưa kịp nói lời trấn an, th́ chị nh́n tôi nghẹn ngào:

- Em, em.. xin Thầy và em tha thứ cho chị. Chị không ngờ.., chị thật sự không ngờ.

Và chính tôi cũng không ngờ. Anh học tṛ kư lệnh bắt cha tôi chính là anh Phúc, chồng của chị. Tôi rút nhanh tay ra khỏi bàn tay của chị. Dường như đây là lần đầu tiên trong đời, nh́n những giọt nước mắt – mà lại nước mắt của một người rất gần gũi thân quen – ḷng tôi dửng dưng không hề xúc động. Tôi có cảm giác đắng cay của một người bị lừa gạt và phản bội. Tôi giận cho t́nh đời và thầm ân hận là cha tôi đă từng “nuôi ong tay áo”.

Tôi từ biệt làng quê và bà cô cả một đời nuôi nấng chăm lo cho tôi từ thời tấm bé, bước vào trại “cải tạo” với ngổn ngang trăm mối trong ḷng. Tự dưng tôi mất mát gần như tất cả mọi thứ trên đời, kể cả những t́nh cảm mà tôi cứ ngỡ là nó sẽ không bao giờ mai một,

Hơn tám năm trong nhiều trại tù từ nam ra bắc, bị hành hạ đói khổ khốn cùng. Tôi sống c̣n có lẽ là nhờ những giấc mơ về quá khứ. Trong đó tôi bắt gặp lại hầu hết bóng dáng những người thân yêu của cái thời hạnh phúc. Và khuôn mặt xinh đẹp hiền hậu dễ thương của chị Ngà vẫn thường hiện lên rơ nét, mặc dù khi đầu óc tỉnh táo, tôi đă cố gắng xua đuổi h́nh ảnh ấy ra khỏi kư ức mệt mỏi của ḿnh. Tôi thương chị mà hận chị. Tôi nghĩ là chị đă đồng lơa với nhà chồng để lừa gạt chúng tôi hơn mười mấy năm qua.

Ra khỏi tù, tôi không được phép về sống chung với vợ con ở thành phố Ninh Ḥa, quê vợ. Lư do hết sức đơn giản là: chính quyền ở đó không nhận tôi tạm trú. Công an tỉnh bắt buộc tôi phải về “tŕnh diện chính quyền” nơi sinh quán. Tôi lại một ḿnh khăn gói về quê cũ, mà ở đó chỉ c̣n một bà cô già goá bụa sống âm thầm trong ngôi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội tôi để lại.

Nghe tin tôi về, bà con hàng xóm đến thăm. Mới hơn tám năm mà trông ai cũng già nua, khắc khổ. Trong số đó tôi để ư một người đàn bà, đứng ngoài cửa nh́n tôi, đôi mắt thất thần, đầu tóc rối bù, áo quần rách rưới bẩn thỉu. Tôi ngờ ngợ nhớ tới một người. Nhưng khi vừa đứng lên định bước tới hỏi thăm, th́ bà ta vụt chạy về phía sau vườn. Tôi ngẩn người khi cô tôi bảo nguời đàn bà ấy chính là chị Ngà, vợ anh Phúc ngày xưa.

Buổi tối, sau khi dắt tôi lên căn nhà thờ thắp hương lạy ông bà, cô tôi đóng kín cửa, khêu ngọn đèn dầu, ngồi kể cho tôi bao nhiêu nỗi niềm tâm sự. Cha anh Phúc – theo lời tiết lộ sau này từ những người thân tín của anh Phúc – thực ra không hề theo một ả hát rong nào cả, mà bỏ làng vào bưng từ khi anh Phúc mới lên mười. Ông đă chết từ lâu, nhưng hàng năm vợ con vẫn nhận được thư ông do một vài người lạ mặt mang tới. Trong mấy lá thơ, hầu hết là khuyến khích anh Phúc nối gót cha đi theo bọn chúng. Trước khi lên núi, anh Phúc làm quen, rồi tỏ ra yêu chị Ngà, nhưng thực ra đó là kế hoạch đă được bọn chúng giao cho anh Phúc phải thi hành, để giải quyết việc nuôi nấng mẹ của Phúc, mà họ biết là bà đă trở thành goá bụa từ lâu rồi.

Những ngày làm vườn bên kia bờ sông, anh Phúc đă hoạt động cho phía bên kia. Dưới căn hầm trong khu vườn là sào huyệt từng che dấu cho nhiều cán bộ. Sau một trận tấn công chiếm trụ sở xă bất thành, sợ hành tung bại lộ, anh Phúc đă lên núi rồi tập kết luôn ra Bắc, sau khi dựng lên vở kịch chết trôi trong trận lụt năm nào.

Tất cả mọi việc không phải chỉ để qua mắt mọi người, mà c̣n đánh lừa cả chị Ngà. Chị nhẹ dạ cả tin, nên ban đầu cứ tưởng chồng ḿnh c̣n sống bị trôi giạt ở đâu đó, nên vẫn chờ đợi trong hy vọng. Sau một thời gian dài bặt vô âm tín, chị mới nghĩ là anh đă chết. Tội nghiệp, chị không hề biết là ḿnh đă bị lừa dối để uổng phí cả một đời xuân sắc.

- Thế bây giờ ông Phúc ở đâu và v́ sao chị Ngà lại ra nông nỗi? Tôi hỏi.

- Sau ngày 30-4 chưa đầy một tháng, thằng Phúc đưa vợ con từ ngoài Bắc vô đây, dành lấy ngôi nhà do công sức của con Ngà gầy dựng, trong đó phần lớn là tài sản của chính cha mẹ nó. Con Ngà phải ra phía góc vườn che một cái cḥi tranh để trú nắng trú mưa.

- C̣n cái máy xay xát ở đâu mà trông chị nghèo khổ đến như vậy? Tôi thắc mắc

- Họ mang vào hợp tác xă. Thời gian đầu họ cho con Ngà làm công nhân xay lúa, nhưng lại trả lương bằng bo bo. Chỉ sau vài tháng tất cả các máy xay xát tâp trung về huyện, nó bị mất việc.

- Bây giờ gia đ́nh ông Phúc vẫn c̣n bên ấy? Con không muốn có ngày gặp mặt ông ta.

- Thực ra nó dành nhà, nhưng chỉ ở một vài tháng rồi cho gia đ́nh một “đồng chí”nào của nó cũng từ ngoài Bắc vào tá túc, trong khi chờ chia chác những ngôi nhà lớn mới tịch thu. Sau đó thằng Phúc bán cả nhà lẫn vườn tược lại cho người khác, vào thành phố nhận một chức hàm lớn hơn. Con Ngà nó phát điên từ dạo ấy. Ngày nghe tin ba con chết trong trại tù cải tạo, nó như một kẻ không hồn. Ban đêm, người ta nghe tiếng nó gọi Thầy ơi, Thầy ơi rồi khóc nức nở.

Tôi theo cô Út, đi dọc theo phía sau mấy khu vườn, t́m đến chị Ngà. Trong căn cḥi lụp xụp tối tăm, chị Ngà đang ngồi thẫn thờ trên cái giường tre như một pho tượng cũ. Trên đầu giường có ba tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc, em chị, nhem nhuốc, úa màu. Không ngờ cái ngày đổi đời, người chồng biệt tăm bao nhiêu năm bây giờ bỗng dưng về, trở thành ông lớn th́ cuộc đời của chị lại tàn tạ bi thảm như hôm nay. Tôi ngồi xuống bên cạnh chị, ôm đôi vai gầy c̣m của chị mà trong ḷng tựa hồ như bao nhiêu vết chém.

- Chị Ngà ơi, chị vẫn măi măi là chị của em mà. Em thương chị và sẽ lo lắng cho chị.

Chị Ngà ngồi bất động. Rồi bất ngờ ̣a lên khóc. Cô cháu tôi càng dỗ dành an ủi, chị lại càng khóc to hơn, tôi nghe tiếng ấm ức nghẹn trong cổ họng chị. Tôi năn nỉ, khóc lóc với chị bao nhiều lần mới đón được chị về ở chung trong nhà ông nội. Tôi mang mấy tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc về để một góc trên bàn thờ gia tộc. Từ ngày ấy chị khá hơn xưa. Những lúc ngồi tâm t́nh với cô cháu tôi, chị vui vẻ b́nh thường như thuở c̣n con gái, nhưng cũng có nhiều đêm khuya chị ngồi trước bàn thờ lẩm bẩm một ḿnh và khóc sụt sùi. Từ ngày có chị, tôi cũng thấy ḿnh đỡ bớt cô đơn, và có lúc c̣n thấy ḿnh hạnh phúc trở lại với cái thời thơ dại.

Vậy rồi chị ĺa bỏ thế gian này cũng thật bất ngờ. Buổi sáng thức dậy sớm, tắm rửa xong chị thay quần áo mới, kẹp lại mái tóc, trông chị trẻ ra. Cả ngày hôm ấy chị cười đùa hồn nhiên vui vẻ, ngồi ôn lại bao nhiêu kỷ niệm của những ngày tôi c̣n bé, và chị c̣n là cô học tṛ cưng của ba tôi. Khi vui, trí óc chị trở nên minh mẫn lạ thường. Chị c̣n nhớ bao nhiêu điều mà chính tôi đă quên từ lâu lắm. Trước khi đi ngủ, chị c̣n ôm đầu tôi vào ḷng, nhại một câu hát đă lâu “may mà có em đời c̣n dễ thương..”. Và sau đêm hôm ấy, chị không bao giờ thức dậy nữa.

Trước ngày vượt biển, phải cắt ruột bỏ quê mà đi, tôi đến nghĩa trang gia tộc thắp hương cho ông bà và mẹ tôi, rồi đến thăm mộ chị cuối cùng. Trong lúc cầm ba nén hương đứng trước mộ chị, tôi nghĩ đến thuyết luân hồi của nhà Phật, và h́nh dung bây giờ chị Ngà đang sống ở một thế giới khác, xinh đẹp và rất hạnh phúc với một người chồng xứng đáng, bởi chị là một nguời đàn bà thánh thiện, sắt son.

Một con bướm trắng không biết từ đâu bay lại đậu trên tấm bia bằng gỗ, mà chính tay tôi đă dựng lên cho chị, nhịp nhịp đôi cánh rồi vụt bay theo cơn gió lốc, biến mất trong bầu trời xanh.

(Viết vào ngày giỗ thứ hai mươi của chị Ngà)
Phạm Tín An Ninh

Posted: Fri May 25, 2012 3:38 am
by khieulong
Những Ngày Thơ Ấu Với Bạn Tôi, Ở Hà Nội

Nguyễn Thế Đỉnh
Trước khi kể chuyện

Ông Du Tử Lê thân mến và yêu dấu

Tôi tự hào là một trong những người bạn hiếm hoi còn lại của ông từ thời nhỏ dại, thoắt cái chúng ta đã là bằng hữu của nhau hơn 52 năm, nếu tính tuổi thọ là 100 thì quả thật tôi được kết thân với ông quá lâu - hơn nửa đời rồi còn gì. Kinh hãi hơn nữa là lúc tôi ngồi một mình tự đếm lại tuổi mình. Và, chợt hốt hoảng khi thấy tôi và ông - người bạn còm cõi , tư lự tên Lê Cự Phách ở Triệu Việt Vương, Hanoi, đã trải qua hai thế kỷ. Không, chúng ta là bạn của nhau đã sang đến Thiên niên kỷ thứ hai rồi. Những năm, những tháng đã qua có lúc tôi cư ngụ xa tít tắp với ông, lúc thì là hàng xóm gần gũi, thảng hoặc có thời gian cả năm chẳng đứa nào dòm ngó đến nhau, nhưng không giận vì biết nhau quá rõ. Từ cái tên Lê Cự Phách đến Du Tử Lê những dòng thơ trải dài trong cõi nhân gian. Tôi thích thú, sung sướng và có cả u buồn khi đọc thơ ông. Tâm hồn tôi phơi phới và hí hửng khi được nghe ai đó, hoặc đọc từ bài báo, cuốn sách nào đó luận về thơ ông. Tôi sướng mê cả người vì bạn tôi được yêu thương quá đỗi, nhất là người khoái thơ, khoái bạn tôi lại là nữ nhân thì tôi tưởng mình có thể nhảy cẫng lên được.

Vậy mà, tiếc thay tôi lại chẳng thể là nhà văn, nhà thơ để được viết những dòng chữ khen cái áo tốt của ông Phò Mã, tôi là người lính đánh giặc khắp miền đất nước -lính BÐQ- binh chủng mà đã có lần ông nói với nơi cà phê La Pagode: “Chúng mày đi thứ lính gì mà nghe đến tên là hãi bỏ mẹ”. Tôi không thể viết về thơ bạn ta được, nhưng tôi có thể kể rành mạch về những ngày tháng thơ dại của hai chúng ta để ông nghe, bằng hữu khác nghe và nhất là cho chính tôi được sống thỏa thuê, chạy nhảy quanh quẩn trong cõi thiên đường ấu thời chúng mình. Quả thật có lúc nghĩ lại, chợt dưng tôi thấy mắt mình có hạt bụi, kênh sót và xao xuyến.

Bạn tôi, Du Tử Lê,

Không nói được về thơ văn bạn mình thì tôi cũng chỉ xin được bắt chước người, kể chuyện ấu thơ, kể trên giấy thay lời nói bên tai. Tôi khoái trá mỗi lần ông và tôi gặp nhau. Ai cũng vác mấy bó tuổi trên vai nặng oằn lưng mà vẫn mày, tao loạn cả lên, thật đã vô cùng. Chẳng biết ông có còn nhớ được bao nhiêu về dĩ vãng chúng mình, Hanoi? Sẵn đây tôi cũng nói với ông điều này:

Năm 1992, lúc tôi chưa xuất cảnh sang Mỹ, có dịp ra Hanoi. Tôi về thăm nhà xưa, số 9 Triệu Việt Vương, có người ở nhưng rêu phong, mục nát, mặt mũi u trầm như con bệnh ung thư những ngày cuối đời, còn căn nhà 11 Huyền Trân Công Chúa, nơi tôi cư ngụ sau cùng trước khi chia xa, nay không còn nữa, tìm mãi không thấy cái cầu thang lộ thiên bằng đá trắng, nó khuất dạng nơi nào?

Thôi bây giờ tôi kể chuyện những ngày tháng cũ nhé. Kể Chuyện Thuở Ấu Thời...

Gần cuối năm 1948, gia đình tôi từ Thanh Hóa hồi cư về Hanoi. Căn nhà cũ đã có chủ mới, ở phố Hàng Nâu. Bố mẹ tôi đem các con về Bạch Mai ở đậu nhà dì Nguyệt tôi. Bố tôi trình diện nhiệm sở cũ. Sau khi hoàn tất thủ tục người được bổ nhiệm về Hải Dương để nhận công tác mới. Gia đình lại chuyển cư một lần nữa. Riêng tôi, năm đó đã khá lớn, chưa có chỗ học ổn định, và bố tôi quyết định giao công việc trông nom, săn sóc cho chị K, chị lớn của tôi. Tôi ở lại Hà Nội, đi học. Tôi về ở với gia đình chị K, ở phố Triệu Việt Vương, nhà số 9.

Nơi trú ngụ này đã lưu giữ trong tôi những kỷ niệm ấu thời. Hình như tôi không quên một điều gì. Nhớ tất cả, từ những hàng cây rợp bóng mát, ngõ Tràng An quanh quất bên hông nhà đến những cây dầu, cây sấu cao ngất nơi cuối phố, gần nhà Diêm. Ở Triệu Việt Vương, tôi đã có những người bạn nhỏ, cùng khu phố, cùng trang lứa. Và từ bấy lâu, nay còn lại mỗi một. Ðó, Lê Cự Phách -tên thơ: Du Tử Lê! Năm mươi hai năm đã ra đi, biền biệt vào quá khứ, nhưng mỗi lần chợt nhớ về tuổi thơ –Hànội. Bóng hình ấu thơ như sợi dây phơi chăng ngang trí não, chợt dưng chùng xuống, chiếc võng khẳm đầy kỷ niệm về bằng hữu thơ dại, về nơi chốn ấp ủ thiên đường dĩ vãng, lại đong đưa nơi trí tưởng. Xin được kể lại ở đây để cùng bạn -Lê Cự Phách- dắt nhau về với những ngày xưa thân ái.

Thời gian tản cư, từ Hànội vào Ninh Bình rồi Thanh Hóa, dù chạy trốn bom đạn, và tạm cư ở đâu, bố tôi cũng dạy cho hai anh em tôi học. Tôi có một người anh trai duy nhất, còn lại toàn chị gái.

Nhờ vậy, khi về đến Hànội, tôi đã đọc thông viết thạo và làm khá rành bốn phép tính, kể cả tính đố 2 con. Vốn liếng chữ nghĩa đó đã giúp tôi được nhận thẳng vào trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên, phố Hàm Long. Hoặc cũng có thể nhờ anh rể tôi cũng là nhà giáo, ông dạy sinh ngữ, môn Pháp văn, đã vận động xin cho tôi được nhập học tại đây không chừng. Chỉ biết là tôi bắt đầu học tại Ngô Sĩ Liên từ niên học đó. Ở tuổi chúng tôi thời đó, sinh hoạt hàng ngày không được tự nhiên lắm, thường hay e thẹn, đôi khi nhút nhát nhất là công việc làm quen với nhau. Hơn nữa, với tôi, khi về trọ ở nhà chị, dù được chăm nom chu đáo và thương yêu, từ anh rể, chị và các cháu, nhưng tôi vốn là đứa bé, thuở lọt lòng đến bấy giờ, lúc nào cũng quanh quẩn trong vòng tay mẹ. Miếng ăn, tấm áo, giờ ngủ, mọi thứ đều được mẹ lo. Hình bóng mẹ đối với tôi to rộng, vĩ đại như Ðại dương, Nay, phải xa mẹ, tôi tự thấy mình lẻ loi và cô độc không tưởng được. Những buổi sáng, khi thức dậy, ngó quanh ngó quẩn chẳng thấy mẹ đâu, tôi muốn khóc. Nỗi nhớ chợt đầy và xót xa. Tôi thường ra trước sân nhà -một khoảng sân thật nhỏ để ngóng nhìn về hướng chân trời rồi tự hỏi mẹ tôi đang làm gì nơi ấy. Sao lại bỏ mặc tôi cô độc?

Và, tôi đã gặp Lê Cự Phách tại nơi này, lúc thì ngồi tư lự, hai tay chống cằm trên bậc thềm, nhìn ra con phố, có lúc đứng trơ trọi ngay dưới chân cột đèn. Dù nhìn thấy Phách cũng chỉ có một mình, tôi vẫn ngần ngại chưa dám lại gần.

Có lẽ hiểu được tâm trạng tôi, thảng hoặc vì phải tất bật với công việc hàng ngày của bà mẹ có khá nhiều con, nên chị K. đã thả lỏng cho tôi phần nào trong sinh hoạt mỗi ngày, miễn sao, buổi tối trước khi đi ngủ, tôi phải học bài khoảng một tiếng đồng hồ hoặc lâu hơn chút đỉnh. Triệu Việt Vương là căn phố im vắng, chạy song song cùng những con đường như Phố Huế, Huyền Trân Công Chúa.

Triệu Việt Vương khởi từ ngã ba giáp với phố Nguyễn Du chạy thẳng về phía nhà Diêm và có còn tới đâu nữa không, tôi đã quên, nhớ không hết. Hai bên phố là những căn nhà ở, vùng này không phải khu thương mại, nơi những công chức, giáo chức và quân nhân cư ngụ. Cả con đường được che mát bằng những cây bàng, không cao lắm, nhưng tàn xòe rộng và lá to. Bóng mát đủ che cho những trẻ thơ như chúng tôi tụ nhau lại để trò chuyện hay cùng chơi một trò chơi gì đó.

Tôi trở thành bạn của Lê Cự Phách (lúc đó làm gì có cái tên Du Tử Lê) một buổi trưa thật tình cờ. Sau khi đi học về, anh rể tôi đi dạy chưa về tới, cả nhà đợi cơm. Tôi chưa biết làm gì, chợt nghe tiếng gọi Phá... ch... ơi... ời, tiếng gọi nhão nhẹt thấy ghét và lạ tai. Tò mò, tôi mở cửa, bước ra đường cùng lúc ấy, Phách cũng mở cửa, chậm rãi đi ra. Tôi khựng lại quan sát, Phách và mấy người bạn đối đáp, Phách được chia bốn cục kẹo nougat (kẹo đậu phụng tây). Bất chợt Phách quay lại, thấy tôi, ngần ngừ một giây, Phách tự nhiên chia cho tôi hai cục. Tôi xấu hổ, chưa dám nhận, Phách đã nói: “Cứ ăn đi của Tuấn Còm đấy”. Lúc đó Tuấn Còm, bạn học của Phách cũng nói: “Ăn đi, tớ mới đổ bi được đấy (một trò chơi do mấy người bán kẹo dạo, đóng một cái bàn với những hàng đinh dích-dắc để dựng đứng. Người mua 1 đồng, lấy hòn bi thả vào những khoảng giữa hai hàng đinh, viên bi chạy từ trên xuống nếu rơi trúng số nào thì được bấy nhiêu cục kẹo và số to nhất là 10 cục -nếu ngược lại không trúng cũng được 4 cục. Coi như mua). Thế là tình bằng hữu của chúng tôi khởi đi do hai cục kẹo Nougat, chạy dích-dắc đến nay đã được 52 năm (1948-2000) chỉ tiếc Tuấn Còm đã không bao giờ chúng tôi gặp lại, vì gia đình Tuấn Còm di cư vào Saigon năm 54. Và, cũng ngay buổi sơ giao ấy, tôi được biết Phách học trường Hàng Vôi (Nguyễn Du). Cũng từ đó Phách và tôi thường quanh quẩn với nhau lúc rảnh. Thường thì chúng tôi rảnh nhiều hơn bận. Vì được thả lỏng, phần thì bản tính thích lang thang đây đó, bất kể giờ giấc, sáng, trưa, chiều có khi cả buổi tối, nếu bữa nào anh chị tôi bận việc gì đó, không để ý đến lũ nhóc chúng tôi, lúc nào tôi cũng có thể đi hoang được. Có lần mê mải dong chơi quên cả ăn, tôi bị phạt đứng úp mặt vào tường, tức đến vỡ ngực. Tình cờ, tôi và Phách cùng học một buổi và đi cùng một con đường. Thế là tôi tận dụng ngay sự tình cờ này để mỗi ngày tôi luôn luôn đi học trước giờ vào lớp cho thỏa và dĩ nhiên có Lê Cự Phách đi bên cạnh. Tôi chả cần biết, tự thâm tâm Lê có tính thích la cà nơi này, chốn kia trước khi đến trường lúc chưa là bạn của tôi? Nhưng kể từ khi kết thân, chưa một Lê Cự Phách từ chối.

Tôi gọi là Phách mang cặp cùng tôi đi ngay. Sau này, tôi suy nghĩ có thể Phách không muốn vậy, nhưng bản tính chiều bạn và chấp nhận cùng nhau lang bạt mỗi ngày. Tội nghiệp cho Lê Cự Phách luôn luôn đặt mình theo sự bày vẽ, hướng dẫn của tôi. Có ngày, từ phố Hàm Long, thay vì vào trường, tôi kéo tay Phách không cho rẽ qua Ngô Quyền để lên trường Hàng Vôi. Hai đứa vượt qua nhà thờ, đến ngõ Ðại Khánh để rủ Trần Hữu Khôi, Phương (cháu giáo sư Sử Trần Hữu Quảng). Mấy đứa nhập lại rủ nhau sang phố Lò Ðúc, cà khịa với mấy ông Tây Lai con; tôi và Khôi nhẹt miệng ra nhạo:

“Tây lai ăn khoai cả vỏ...”, bị ném đá, thế là hè nhau ù té chạy, chỉ tội cho Lê Cự Phách, gầy còm và lèo khoèo hơn chúng tôi, nên bao giờ cũng chạy sau và sợ mất vía.

Hàng năm chúng tôi đóng vai người lớn một cách tự nhiên đưa đến, đó ngày giỗ Hai Bà Trưng, nhóm bạn thân chúng tôi gồm Phách, Tuấn Còm, Hiền, Khoát và tôi từ phố Lò Ðúc, qua Lò Rượu rồi quẹo trái để đến làng Ðồng Nhân, nơi có đền thờ Hai Bà Trưng, có những cây đa rợp bóng mát. Chúng tôi tìm cách lọt vào trong đền để được nhìn ngắm thỏa thuê những đồ thờ và cách tế lễ, không khí trang nghiêm đã khiến chúng tôi người lớn hẳn lên, nhất là Lê Cự Phách, mặt mũi trầm ngâm, hai tay khoanh trước ngực, không nhỏ to thì thầm, đứng im lìm, thả hồn vào ngày giỗ Hai Bà. Sau khi lễ tất, mọi người được chia phần xôi, oản. Thông thường chúng tôi từ chối vì xấu hổ hoặc có người nhận, sau đó nhường lại cho ai đó đứng gần.

Nhà số 9 Triệu Việt Vương cấu trúc khác với những căn phố cùng đường, ngôi nhà được xây dựng theo hình thước thợ -căn chị K. tôi thuê, thẳng góc cùng với căn gia đình Lê đang ở. Tôi biết chừng vài tháng gì đó chị Tâm (chị của Lê) có lẽ thấy tôi ngổ ngáo và nhanh tay lẹ chân hơn em chị, nên chị đã dặn tôi: KH, em chơi với Phách đừng để ai bắt nạt nó nhé. Chị nhờ em “trông”nó đấy. Tôi vừa ngượng vừa sướng tê cả người vì được gởi gấm và cứ tưởng mình là quan trọng. Thật ra, chị Tâm không dặn dò, tôi cũng chẳng để yên cho kẻ khác bắt nạt bạn tôi - và đến hôm nay tôi vẫn giữ nguyên như vậy. Tôi cố gắng bảo vệ và chia xẻ với bằng hữu những gì bạn tôi cần và trong khả năng tôi có thể làm được. Có lẽ chị Tâm thương em và thấy tôi nói năng liến thoắng, chạy nhảy huỳnh huỵch. Tóm lại về thể lực, tôi trội hơn hẳn Lê Cự Phách, hơn nữa cũng có thể chị Tâm dùng câu nói thân tình để phòng ngừa trường hợp tôi đổ quạu đánh em của chị.

Vào những năm từ 48 đến 49 hoặc 1950, những trò chơi tuổi dại của chúng tôi thường là đánh bi, đáng khăng hoặc là những cách chơi như trốn tìm v.v... Nhưng khu phố chúng tôi ở, tất cả các môn này đều không có. Hàng ngày, nếu không phải giờ học bài, chúng tôi hay tụ họp, quay quanh một gốc bàng, hoặc ngồi trước hiên nhà ai đó để chia nhau đọc tờ quảng cáo ciné (lúc đó có tên gọi là tờ program). Mỗi đứa chia nhau đi khắp các ngã đường, từ những rạp xa như Lửa Hồng, Philarmonique, Majestic, Ðại Nam và gần nhà chúng tôi là Ciné Hànội gần chợ Hôm, ai xin được tờ pro-gram phim mới, là vội về gọi nhau để coi cốt truyện được tóm gọn trên đó.

Ðọc xong, là lúc bàn tán, có anh vào cửa rạp coi hình, vẫn cứ tưởng là mình đã xem, kể chuyện phim loạn lên một cách rất mạch lạc đáng nể. Tôi cũng lọt vào trong nhóm này, nhất là những loại phim có bắn súng, đánh gươm như Zoro, Les Troi Mousquetairs v.v... Tôi liến thoắng cũng chẳng thua ai; đến đây lại phải nhắc đến một nét rất khác người của Lê. Chưa bao giờ Lê tự đến các rạp để xin cho mình -có lẽ Lê không thích- thế nhưng lần nào tôi hoặc các bạn rủ rê Lê vẫn tham dự, cũng đọc nhưng không mặn mà lắm, và nếu có được hỏi sao không xin được tờ nào Lê trả lời:

“Chị tao không cho đi”. Dĩ nhiên điều đặc biệt tôi muốn nói là nếu tôi yêu cầu, thế nào ngày hôm đó Lê cũng mang về một tờ program cho tôi.

Bên hông nhà số 9 Triệu Việt Vương là đầu ngõ Tràng An, con hẻm quanh co một đoạn ngắn thì trổ ra phố Huế, nói là ngỏ (hẻm) nhưng thực tế lối đi rộng và cũng có trồng hai ba cây bàng, để có bóng mát. Ðầu ngõ Tràng An phía phố Huế, bên kia đường có hiệu sách Vĩnh Tường của con nhà Nguyễn Xuân Tùng (anh này nhỏ hơn tụi tôi vài tuổi) và tầng trên của hiệu sách là nơi cư ngụ của gia đình Nguyên Huy-Nguyễn Huy Tiến, ông này thì lại lớn hơn chúng tôi một hai tuổi, nhưng chúng tôi sợ hãi không dám làm quen, vì thời đó ông ấy ngoài giờ đi học, đã bận chở đào lên Nghi Tàm - Quảng Bá ăn ổi hoặc lên Cổ Ngư ăn bánh tôm. Nhà sách này và Văn Chương Thư Quán ở phố Chợ Ðuổi là hai nơi Lê và tôi nhiều khi la cà nửa ngày để đọc sách “khín”. Hai đứa chúng tôi vào nhà sách vòng qua vòng lại, giả vờ hỏi mua cục tẩy, cái ngòi bùt để có cớ đọc sách cho đỡ ngượng. Dường như Ðịnh Mệnh đã an bài, thân phận đã được định đoạt từ một cõi nào xa tít cho một đời người mai sau, khi hắn đã là người lớn, suy từ đời riêng Lê Cự Phách và tôi đã diễn ra gần trọn vẹn cho mỗi cá nhân. Những môn học như Toán, Luận, Chính Tả v.v... Bài làm văn của tôi chỉ ở mức trung bình, riêng Lê thì đã ứng nghiệm ngay từ thời thơ ấu, bài luận nào cũng được 8, 9 điểm. Còn nhớ, tôi được thầy giáo cho bài luận về nhà làm (năm lớp nhất): “Em hãy tả lại điều gì làm em cảm động nhất”. Tôi sợ điếng hồn, biết tả cái gì bây giờ, nói lại nỗi lo của mình cho bạn nghe, Lê phán ngay: “Viết về mẹ mày đi.” Ngưng một giây Lê tiếp: “Ðể tao làm hộ cho”. Quả nhiên, hôm sau tôi đã có bài làm, chỉ việc chép vào tập, Lê tả nỗi vui mừng, xúc động của đứa con khi được mẹ từ tỉnh lẻ lên thăm và đón về thăm nhà. Ðứa con đó là tôi. Bài luận ấy tôi được chấm hạng nhất và thày tiên đoán, nếu cứ chịu khó học và cố gắng suy nghĩ để làm bài, rất có thể tôi sẽ là nhà văn sau này. Bây giờ nhớ lại còn ngượng ê cả mặt. Vì tôi đến hết kiếp này vẫn chẳng trở thành nhà văn được.

Ngày qua tháng lại, tôi ở trọ nhà chị đã được 4 năm, sinh hoạt của tôi vẫn cứ đều đặn như tất cả mọi ngày và gần giống với những người cùng trang lứa. Mỗi buổi sáng tôi được một đồng để ăn quà.

Ở Hànội có món xôi lạp xưởng tôi thấy ngon chưa từng thấy. Cầm đồng bạc trong tay, tôi ra cửa ngồi đợi, thường thì Lê đã đợi ở đó từ trước, tiếng rao “Lạp xường mà đô mái phàm” (tôi chả hiểu nghĩa của câu này cho đến bây giờ) từ phía cuối phố. Chúng tôi chạy ra lề đường đứng chờ, ông bán xôi đến, một đồng một đĩa xôi trắng muốt, thơm dẻo và năm hay sáu miếng lạp xưởng mỏng như giấy bóng, nhưng cái ngon chính là những giọt magie, lần nào tôi cũng xin thêm vào giọt, đã không được lại còn bị lườm cho mấy cái. Thật là tức.

Sướng nhất là những buổi sáng thứ Năm, không phải đi học. Dặn dò tôi vài điều thông lệ, chị K. tôi cùng cháu H. con gái lớn của chị đi chợ Ðồng Xuân hay đi chợ Mơ ở Bạch Mai, thế là tôi rủ Lê qua Huyền Trân Công Chúa gọi Tuấn Còm, Khoát, Hiền lác (mắt lé), Hải béo cùng nhau đi một mạch đến nhà Bác Cổ (tức Viện Bảo Tàng) để vui đùa. Chúng tôi xếp hàng vào nhà Bác Cổ để xem những cổ vật lịch sử như Long Sàng của vua Gia Long, chiếc áo giáp của Quang Trung Ðại Ðế và những khẩu thần công đúc bằng đồng, kế tiếp chúng tôi rủ nhau ra bờ sông Hồng, vào mùa nước cạn trơ lại mấy đụn cát, chỗ tốt cho chúng tôi vùng vẫy, bắn nhau bằng mồm, chỉ tội nghiệp Lê Cự Phách, lẽo đẽo theo bạn không than phiền, không nổi quạu, -vẻ chịu đựng không tham dự nhưng vẫn không bỏ cuộc, đi tới đâu cũng có mặt. Dường như trong suốt cuộc dong chơi Lê chỉ có mặt. Lê không thích quẫy lộn, mà chỉ đứng quan sát. Sở dĩ Lê với tôi thân nhau một phần vì hoàn cảnh sống của chúng tôi hơi giống nhau. Tôi xa cả cha lẫn mẹ.

Riêng Lê, tôi không được gặp cha Lê lần nào, có lẽ người cũng làm xa ở Hànội, hoặc vì còn quá nhỏ để tôi nhận ra sự thật (tôi xin lỗi bạn tôi: Du Tử Lê nếu có điều xúc phạm ở đây). Mẹ của Lê, cụ cũng thường đi vắng cả ngày. Lẽ ra chúng tôi được quanh quẩn bên mẹ và có thể cả nhõng nhẽo nữa, nhưng điều này hơi ít với chúng tôi nên cả hai đứa cùng thích rủ nhau đi lang thang đây đó trên phố phường Hànội với hai hàng cây bàng, cây sấu bóng mát, cứ thế hai đứa chúng tôi chiều theo ý thích của nhau. Tôi còn nhớ Lê chỉ thích, những lúc rảnh là vào đền Ngọc Sơn, đi ra phía sau nơi gọi là Trấn Ba Ðình để ngồi im hàng giờ nhìn ra mặt hồ, ngoài ra Lê cũng hay rủ tôi đi dọc theo phố Nguyễn Du, từ cửa Trường Thiếu Sinh Quân mải miết về phía hồ Ha-Le hai đứa vào chùa Long Vân để nhìn ngắm nơi này chỗ kia. Và, lần nào cũng vậy, tôi chưa bao giờ bỏ lỡ dịp may, lợi dụng lúc này để xuống hồ bơi lội. Tắm hồ là nỗi đam mê của tôi thuở nhỏ, đã có lần đang bì bõm lội, tôi bị mấy ông nhóc đánh giày ở Trần Nhân Tôn dìm gần chết. Lại thêm một điều lạ nữa, dù tôi rủ rê, mời mọc hay cách gì Lê cũng nhất định không chịu xuống bơi chung với tôi, dù một lần. Mãi ba chục năm sau tôi mới phát giác ra cậu Lê không biết bơi. Nhiều lúc ngồi trên bờ đợi lâu quá, Lê gọi tôi: KH. ơi khéo không lại bị chuột rúc đấy, hoặc “KH. ơi, thôi lên đi trên này gió rét rồi đấy”.

Kỷ niệm về tuổi thơ Hànội thì nhiều nhưng không phải là những sự kiện to lớn, hoàn toàn là những ngày, những giờ chúng tôi cùng chung nhau một trò chơi, một thói quen, một sở thích rất thơ dại.

Thế nhưng con đường một chiều ấy trôi hút mất hút vào hư không, để lúc nhìn lại thì chỉ còn là những bóng hình, lúc rực rỡ như bình minh, lúc thì u uẩn như chiều đông. Lê Cự Phách và tôi cùng trú ngụ chung một địa chỉ, cùng được nâng niu, thương yêu của mẹ, của những người thân và cùng trải dài những tháng năm ấu thơ của mình trên những con phố, thậm chí chia cho nhau từ miếng xôi lạp xường, khúc “Khán chế sủi ê” hoặc cục kẹo nougat ngọt bùi.

Tình thân bằng hữu thâm giao của tôi và Lê Cự Phách khởi đi từ những ngày cuối năm 1948 ở số 9 Triệu Việt Vương Hànội đến nay, đã được 52 năm, con số khá dài của một đời người, dù rằng kể từ tháng 10/1954. Cha mẹ dắt tôi lại một lần nữa bỏ Hànội, bỏ quê hương di cư vào Nam theo tinh thần hiệp định Geneve -vào Nha Trang- Lê và tôi cứ nghĩ là chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn gặp, và là bạn bè với nhau nữa, vì Lê có di cư hay ở lại Hànội lúc đó làm sao tôi biết được. Thật lòng, những ngày tháng ở Nha Trang, vì lo học hành (tôi đã xin được vào học tại trường Trung học Võ Tánh) ngày một lớn, nên bố tôi kiểm soát gắt gao hơn, thêm vào đó là sống với thành phố có biển, có núi, có nhiều cảnh lạ, bạn mới rủ rê, thế là tôi lại mặc tình dong chơi vào ngày nghỉ hè. Và, đã có lúc tôi quên mất người bạn thuở nhỏ Hanoi của tôi. Có còn chăng là những lần trốn học (chuyện trốn học với tôi là bình thường và thích thú) đi lang thang nơi bãi biển vắng tanh, nhất là những ngày biển động, bãi ít người, tôi ra ngồi trên cát để ngó mông về chân mây xám, đục để nhớ lại tuổi mình. Lúc đó, tôi nhớ Lê đến thảm thiết, nhớ người bạn còm cõi, tư lự và chịu đựng. Nỗi nhớ ngút ngàn trong tôi và tôi khấn thầm, ước ao sẽ được tụ họp đầy đủ những bằng hữu Hanoi ấu thơ như Lê, Tuấn còm, Hải béo, Khoát v.v... để vui chơi như ngày tháng cũ...

Thay Lời Chấm Hết.

Bạn tôi, ông Du Tử Lê
Cuối cùng thì chúng ta: Lê Cự Phách hay Du Tử Lê, nhà thơ lớn, một nguồn hãnh diện cho nền văn học, cho bạn bè, đã gặp lại nhau. Tôi và bạn ta vẫn quanh quẩn bên tình thân hữu và ông vẫn có nguyên dáng vẻ của sự chịu đựng, nhường nhịn như ngày xưa, Hanoi.

Sau một thời gian học ở Võ Tánh, bố tôi lại quyết định cho tôi vào Saigon để học, vì ở Nha Trang, tôi ngồi tại bãi biển nhiều hơn trong lớp. Vào Saigon được vài tháng, lớ quớ thế nào, tôi lại “tó” được ông -Du Tử Lê nơi nhà bạn tôi- Hoàng Ðình Tập. Chúng ta lại có nhóm bạn mới, tuy nhiên, lúc này đã là Cậu cả rồi, đang học Trung học cả. Những cái tên Ðào Quý Châu, Hoàng Ðình Tập, Nguyễn Ngọc Chấn v.v... thay cho những cái tên bạn cũ -đã thất lạc. Và, điều tôi chẳng dè, hay chẳng bao giờ nghĩ được rằng tôi sẽ có một người bạn thi sĩ nổi danh: Lê Cự Phách – Du Tử Lê. Người bạn nhỏ mà chị Tâm đã dặn dò:

“Em bênh nó nhé, đừng để nó bị bắt nạt, Phách nó yếu lắm”.

Bạn tôi, Du Tử Lê.
Hẳn bạn còn nhớ, một lần có bốn đứa: Hoàng Ðình Tập, Ðào Quý Châu, Lê Cự Phách và tôi, tại Café La Pagode, Saigon, sau khi tôi “đấu” về một chuyến hành quân, đụng độ khá nặng tại Rừng Tây Ninh, con nhà Tập khen tôi là “thằng Ð. (tôi cũng đã được đổi tên mới) có trí nhớ tốt thật, cái gì nó cũng nhớ, kể lại rành mạch như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, tao chịu thua”. Tôi khoái chí, phổng mũi buột miệng: “Những chuyện vài chục năm tao cũng còn nhớ, như chuyện của tao và con nhà Lê ở Hanoi, tao bắt nạt nó thế nào, còn nhớ hết”. Hoàng Ðình Tập vồ ngay lấy: “Mày nói cho anh em nghe đi, tao với nó học chung từ Ðệ Thất đến bây giờ mà nó dấu đời tư ghê lắm, mày phanh phui sự thật ra đi”.

Tập nó chết đã ba mươi hai năm. Trong đám tụi mình: Tôi, Ðào Quý Châu, Hoàng Ðình Tập, Nguyễn Ngọc Chấn đều đã mặc chung bộ quân phục, đội mũ nâu của binh chủng Biệt Ðộng Quân ra trận, có đứa nào chết đâu, một mình Hoàng Ðình Tập xé lẻ -bỏ anh em- nó chết trong lúc đang chỉ huy một Trung đội BÐQ xung phong tái chiếm lại ngôi nhà thờ do VC chiếm đóng tại vùng Bình An, quận 7 Saigon năm Mậu Thân 1968. Nó ra đi trước sự sững sờ, chết lặng của tôi. Bạn nó, cấp chỉ huy của nó. Trái B40 đã giúp nó cơ hội, rẽ hàng bỏ anh em lại, đi một mình. Tập chết đã ba mươi hai năm, nhanh thế đấy, và, lời hứa với nó tôi cứ lần lữa qua ngày, đến nay vẫn chưa làm được, cũng bởi nguyên do mâu thuẫn: nửa muốn khai thật, khai hết về đời tư của bạn ta ở Hanoi, nhưng nửa kia, lại muốn cất giữ riêng trong ngăn kéo tâm hồn, để dành làm vốn.

Tháng Giêng/2000 vừa qua, nhân ngày giỗ của Tập, chúng mình nhắc lại những ngày tháng nó còn sống, cùng với tôi xách súng lên mặt trận. Ðạn nổ như giã gạo trên đầu, vẫn nghênh ngang, cười cười, ngậm cái pipe (tẩu thuốc lá) Dunhill nhả khói. Tôi chợt nhớ đến lời yêu cầu của bạn mình. Trước sau cũng phải trả nợ một lần cho xong. Không còn cơ hội để nói trực tiếp cho nó nghe về câu chuyện ấu thơ của bạn tôi, và tôi dong chơi phố phường Hà Nội, với Triệu Việt Vương, ngõ Tràng An, Huyền Trân Công Chúa v.v... Thì đành vậy, tôi viết trên giấy và chúng ta cứ coi như Hoàng Ðình Tập đang vừa đọc vừa bập bập cái ống vố nhồi đầy thuốc 79 thơm lừng, nó cùng với chúng mình dắt nhau về thăm lại khu vườn tuổi nhỏ thần tiên -Hà Nội- Du Tử Lê há.

Chấm hết ở đây nhé bạn tôi, yêu dấu!

Tháng một năm hai ngàn
Nguyễn Thế Ðỉnh

Posted: Sat May 26, 2012 6:34 am
by hoanghoa
Image

Nhạc Sĩ NGUYỄN VĂN KHÁNH
Yêu Ai Yêu Cả Một Đời


Năm 1952 , khi tôi cộng tác viết loạt bài phê bình âm nhạc trên tờ nhật báo Giang sơn, chủ nhiệm; bác sĩ Hoàng Cơ Bình - ở phố Hàng Trống Hà Nội , tôi được quen nhạc sĩ trử tình nổi tiếng thời bấy giờ là Nguyễn Văn Khánh, ( NVKh) tác giả các ca khúc được nhiều người ưa thích : Chiều vàng và Nỗi lòng.

Lúc ấy, Nguyễn Văn Khánh là công chức Sở Tài chính thành phố Hà Nội. Con người NVKh, ai mới trông thấy cũng cảm thấy tỏa chất nghệ sĩ, từ mái tóc, lối nói chuyện và nhất là dáng dấp thật phong phú ! NVKh ít nói, nhưng khi nói thật dí dỏm, có duyên. Nhà NVKh ở phố Khâm, Thiên , phố toàn nhà các cô đầu, ở trong ngõ, nhưng đất rất rộng. Khu ăn chơi này, trong một bài thơ nói đến thảm cảnh 2 triệu dân chết đói 1945, nhạc sĩ Văn Cao đã gọi đó là phường Dạ Lạc ( bài Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc ), đã làm xúc động dân chúng Bắc hà. Trong khuôn viên, có cả một cái ao nuôi cá, nên vào ngày chủ nhật, NVKh có cái thú ngồi uống rượu và câu cá. Rượu đối với NVKh là cái hũ chìm, uống bao nhiêu không say mà càng uống càng tỉnh táo. Lối uống rượu của NVKh đáng gọi là tiên tửu, khác hẳn một số đông tực tửu, rượu vào lời ra, ăn nói thô lỗ đi đến cãi nhau,đánh lộn !. Hàng tuần, NVKh hay đến vũ trường chơi với tôi vào thứ 5; còn tôi thì khoảng 10 giờ sáng chủ nhật là xuống uống rượu, câu cá, hàn huyên với NVKh. Có một lần, vào một sáng chủ nhật mùa đông gần Tết; trời lạnh như cắt ruột; xuống đến nhà , thấy Khánh đang đứng phục vụ vợ chiên một cá chép rất lớn. Thấy tôi đến, Khánh vội dừng tay, kéo tôi lên nhà, quạt lò lửa cháy lớnm, hơ tay sưởi cho đỡ lạnh. Hôm ấy lại mưa phùn lất phất, nên chúng tôi không ra câu cá mà ngồi với nhau trong nhà. Một lúc sau Khánh ôm cái hũ sành khá lớn ra, đặt lên trên bếp lò, cưới, nói :
- Lòng mình lúc nào cũng lạnh, muà đông mưa phùn gió bấc lại càng lạnh, nên chúng mình phải đổ nước sôi ( rượu hâm thật nóng) vào để cho lòng ấm lại. Hôm nay cậu phải uống thật say, mệt thì đắp chăn bông ngủ kỹ, đến tối tôi đưa cậu đi làm.
Dứt câu nói, thì chị Khánh đã bưng mâm lên, đặt vào giữa bộ ghế ngựa ( những tấm cây lớn ghép vào nhau để nhiều người ngồi ăn hoặc vài người có thể nằm ngủ ). Thế là hai đứa tôi ngồi đối ẩm, tán phét đủ chuyện trên đời cho đến chiều .
Được vài hôm, tôi được ban tổ chức Chợ Phiên ( kermesse) tổ chức đón mừng xuân Quý Tỵ ( 1953) tại bờ hồ Hoàn Kiếm - nhờ lo cho một cuộc thi hát. Tôi nhận lời và lập ban gíám khảo; người đầu tiên được mời là Nguyễn Văn Khánh, rồi Hoàng Trọng, Hùng Lân. Trong số thí sinh được phát thưởng hộm ấy, đến bây giờ, hơn 40 năm tôi vẫn còn nhớ - có 1 thí sinh dự thi - anh Duy Trác sau trở thành nam ca sĩ nổi danh vào thập niên, 60, 70 và còn là luật sư tòa Thượng Thẩm Sài Gòn.

Dù thân với NVKh khá lâu mà chưa có lần nào có dịp thuận tiện để móc anh bộc lộ đời tình ái của mình; khiến anh có được sợi tơ lòng óng ả ở các ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng .Thế rồi, cho đến một buổi chiều thứ bẩy vào dịp lễ Các Thánh ( Toussaint ), đột nhiên anh đến chơi, rủ tôi đi lễ nhà thờ; mặc dù cả hai chúng tôi đều không có đạo. Cách đó 2 ngày, trôi đã cùng người yêu bé bỏng có đạo đi lễ tại nhà thờ Hàm Long. Nhân buổi lễ, tôi viết được bài Cầu xin Đức Mẹ, tôi bèn lấy ra hát cho NVKh nghe. Anh ngồi lắng nghe tôi hát, xong, tùm tỉm cười, nheo mắt, nói :
-Đi với người đẹp , mắt cậu sáng như đèn pha ô tô, nên mới nhìn thấy Đức Mẹ, để có được ca khúc này hả ? Bài nghe ra có âm hưởng nhạc đạo lắm, được đấy !
Sau này, đất nước chia đôi, mỗi lần vào dịp mừng Chúa Giáng sinh, đài phát thanh cho trình bầy bài ây, tôi lại sực nhớ tới lời bình của NVKhánh.

Chúng tôi lững thững đến nhà thờ. Sau buổi lễ hai đứa tôi băng qua đường, vào quán cà phê Bằng , ....khi đang nhâm nhi ly cà phê nóng hổi; trừ loa phóng thanh phát ca khúc Nỗi Lòng : ' yêu ai yêu cả một đời ' - tất cả khách trong quán im lặng thưởng thức. Khi giọng ca chấm dứt, tôi mở lời :
- Cuộc tình mê ly nào đã làm cậu có được bài Nỗi lòng và Chiều vàng buồn tê tái vậy ?

Im lặng với nét mặt như đượm buồn, đưa hồn trôi về quá khứ, NVKhánh tâm sự . Khánh là con người đa sầu, đa cảm , biết yêu rất sớm. Mới bước vào năm thứ 2 bậc Thành chung ( nay lớp 7 ) , NVKh đã để ý, thầm yêu, trộm nhớ cô bé láng giềng . Cô bé này cũng đang cắp sách đến trường , con gái út của một ông thông phán làm ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.

Những đêm trăng sáng, NVKh ra đằng sau vườn nhà, mang đàn ra , hát : C' est à Capri, J' ai deux amours , Madelon ..., chứ tân nhạc lúc bấy giờ mới có được một, vài ba bài của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước , Văn Chung, Dzoãn Mẫn ... và chưa được phổ biến rộng rãi. Tiếng đàn quyện với tiếng hát trong đêm khuya thanh vắng, bay tới tai cô gái nhà bên. Về sau, cứ đúng giờ, NVKh ra vườn nghêu ngao. Có lẽ, cả hai đều tình trong như đã ... nên sau buổi học chiều về đến nhà, là cả hai cùng ta vườn sau, cách nhau có cái giậu mía thưa để nhìn nhau. Để làm hiệu, NVKh ra tới gần cửa ra vườn là cất tiếng hát lớn. Một lúc sau, đang tha thẩn ngoài vườn, nhìn sang, NVKh đã thấy bóng dáng mỹ nhân cũng ra, giả vờ làm một việc gì đó, nhưng 4 mắt thường vô tình gặp nhau.

Một buổi chiều ra vườn, NVKh hái ở cây, một quả cà chua chưa chín, rồi vứt nhẹ qua hàng rào. Vứt xong, NVKh lên tiếng, nhờ cô nhặt giùm, vì với tay không tới. Cô bé ranh mãnh lắm, nhặt xong, đưa cho anh, nói bâng quơ :
- Quả còn xanh thế này sao tự nhiên lại rụng được ?!
NVKh cũng thông minh, láu lỉnh, đáp:
- Phải là quả chín mới rụng được hay sao, hả cô ? Lá vàng còn ở trên cây , lá xanh rụng xuống được nữa là . Cám ơn cô nhiều !
Lúc ấy 4 mắt liếc nhẹ nhìn nhau , thầm nói với nhau: tình của 2 đã rạt rào rồi . Đêm hôm ấy, NVKh thao thức, sung sướng, xen lẫn lo lắng; nên không sao chợp mắt được ! Nằm trong giường, NVKh chỉ mong chóng sáng, nóng lòng chờ tiếng gà gáy sáng, thỉnh thoảng lại nhìn lên chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường mong sao chóng đến 5 giờ - nhưng ở đời, càng mong lại càng thấy lâu ! Nằm chán, lại ngồi dậy, ngồi mãi thi lòng dạ bồn chồn, đi đi, lại lại, thì mỏi chân; NVKh càng nóng ruột, thì lại càng nhớ. Thế rồi, chuông đồng hồ ngân nga 4 tiếng. Không tin ở tai mình, NVKh lấy bao diêm ra, quẹt lửa, nhìn kỹ, thì quả thực mới 4 giờ. Anh bực lắm, bước xuống giường, vặn cây đèn dấu sáng lên, lấy giấy bút ra ngồi vào bàn viết. NVKh viết tự tình gửi cho cô gái nhà bên. Viết rồi lại xé, xé xong lại viết; cứ như thế suốt 1 tiếng đồng hồ. NVKh chẳng viết được một lá thư nào ưng bụng, dù là ngắn ngủi . Đang loay hoay, NVKh mưng rỡ, khi nghe thấy chuông đồng hồ thánh thoát đổ 5 tiếng ngân vang. Cùng lúc ấy, tiếng chuông nhà thờ gần nhà đổ từng hồi, ngân rung trong gió như đánh thức, như nhắc nhở - rồi hồi chuông dần dần nhanh như thúc giục đàn chiên của Chúa tỉnh giấc, thức dậy, chuẩn bị đi dự lễ đầu. Nghe tiếng chuông xong , không khí buổi sớm mai trongsáng đã làm cho mọi người vui vẻ, chào đón ngày mới tốt lành. NVKh cũng mang tư tưởng ấy, còn yêu đời hơn, lại vội vã đi ra vườn phía sau. Thật hữu duyên thiên lý, NVKh vừa ra đến vườn, nhìn sang bên cạnh, đã thấy người đẹp đang múc nước giếng , NVKh đánh liều, hỏi trước :

- Sao hôm nay cô dậy lấy nước sớm thế
Cô chưa kịp trả lời , vì đang kéo gầu nước đầy , NVKh hỏi tiếp ngay :
- Giờ mà trăng vẫn còn. Cô múc nước giờ này cô có múc được ánh trăng không đây ?

Người đẹp không trả lời, nhìn NVKh, với ánh mắt thật tình, kèm theo nụ cười chúm chím, như đóa hoa hàm tiếu - làm cho NVKh thấy mình luýnh quýnh, run rẩy - vì quá càm động - và bữa kể lại cho nghe, Khánh xác nhận hình ảnh ban đầu ấy, dù ngàn năm không những không bao giờ anh quên được mà nó còn rực sáng, nóng bỏng mãi trong lòng, mỗi khi nhớ đến ; còn tưởng như mới xảy ra ngày hôm qua. Thật đúng :

Cái buổi ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm sau hồ dễ mấy ai quên !
( Thế Lữ )
Sau lần đối thoại đầy tình tứ ấy, NVKh và cô gái bé bỏng nhà bên có được những buổi hẹn hò bên hồ Hoàn Kiếm, rồi còn hẹn nhau đi xa hơn là Hồ Tây, Chùa Láng, Quảng Bá, Nghi Tàm - và có lần lên Bác Cổ để tâm tình. Cuộc tình thơ mộng, trong sáng kia kéo dài tới 3 năm - cả 2 gia đình không một ai biết chuyện . Cho tới khi NVKh học năm tư 4 Thành chung, đi thi tốt nghiệp Diplôme ( Trung học cơ sở bây giờ ) , NVKh nhớ kỹ : buổi sáng đầu tiên thi luận viết tiếng pháp ( Rédaction francaise ) - ai đủ điểm trung bình trở lên thì ngày thứ 3 mới được thi oán và các môn kế tiếp. Thi viết xong, vô thi vấn đáp. Mỗi kỳ thi có 2 khóa kháo đầu ( 1ère session ) vào tháng 6 ; khoa nhì ( 2ème session) vào tháng 8. Thi đậu kỳ thi viết, vào vấn đáp mà rớt thì khoá sau chỉ phải thi vấn đáp thôi. Rớt vấn đáp nữa thì học lại 1 năm , để sang năm thi lại hoàn toàn. Khóa thi trung học năm ấy, NVKh mải ngụp lặn trong cuộc tình, nên khóa đầu bị trượt. Cô em nhà bên được tin này buồn lắm, nói với Khánh :

- Anh bị rớt keo đầu rồi thì em không muốn thấy anh phải mất thêm 1 năm nữa học lại. Vi thế, trong 3 tháng hè này, em xin anh phải để hết tâm trí vào việc học, và nhất định em không gặp anh như trứơc được nữa !
Nguyễn Văn Khánh năn nỉ, hứa chắc chắn rằng khóa 2, anh sẽ đỗ - nhưng chỉ xin mỗi tuần cho anh gặp 1 lần vào chiều chủ nhật. Nói mãi ,cô ta mới bằng lòng, lại cương quyết : nếu thi khóa 2 không đỗ thì chia tay luôn! Đó thật là một động lực vô cùng mãnh liệt, khiến NVKh dùi mài kinh sử đêm ngày; đến khóa thi, NVKh đỗ thật . Đời có những may rủi thật bất ngờ . Đúng lúc ấy, NVKh đang mừng, no tròn mộng đẹp - thì cụ thông phán phải đổi lên Thái Nguyên, cách xa Hà Nội hàng 100 cây số.

Đêm cuối cùng ở Hà Nội, 2 người đã gặp nhau chia tay tạm biệt. Sáng hôm sau, với vẻ mặt thẫn thờ, NVKh ra khỏi cửa nhà, nhìn, và chờ chiếc xe đưa người yêu rời xa cố đô Thăng Long để ngược lên miền núi. Nói tới đất Thái Nguyên, người miền xuôi ai cũng sợ, cho đó là nơi của ma thiêng, nước độc. Có người còn xếp Thái Nguyên , đất khỉ ho, cò gáy, chó leo thang - thực tế, họ sợ là phải, vì mạn ngược thỉ bệnh sốt rét hoành hành ác liệt, nên đã có câu :
lử khử lừ khừ không ở Đại Từ thì cũng Vũ Nhai

nên NVKh vừa lo vừa thương người yêu - từ hôm ấy NVKh tương tư ra mặt.

Thời đó, phương tiện giao thông thật hạn chế, chỉ có xe lửa từ Hà Nội lên Lạng Sơn, muốn đi Thái Nguyên phải xuống ga Bắc Giang, rồi đi xe đò ngược lên, mà mỗi ngày chỉ có 1 chuyến. Dù xa xôi vất vả, thứ 7 nào NVKh cũng lặn lội đều đặn lên thăm nàng . nàng gặp thì gắt gỏng, tại sao mưa phùn cũng không ngăn được NVKh. lên đây sao ?

Người yêu của NVKh đã có kẻ đánh tiếng xin cưới làm vợ, hai gia đình môn đăng hộ đối, chàng thanh niên kia là dân có học - nhưng vì chót thề non, hẹn biển với Khánh, nên cô thoái thác, bằng cách hẹn lần hẹn lữa .Vì thế, mỗi lần gặp nhau; cả 2 đều tâm sự qua hai hàng nước mắt - nhưng không biết và chẳng có cách nào giải quyết được cái nếp áo mặc sao cho qua khỏi đầu ?

Trong hoàn cảnh đau khổ ấy, một lần trên xe từ Thái Nguyên về lại Hà Nội, NVKh đã nảy ra một ý nhạc thật dịu dàng, thổn thức :
Yêu ai yêu cả một đời

rồi từ Bắc Giang về Hà Nội - trên xe lửa Nguyễn văn Khánh đã hoàn tất được nhạc phẩm Nỗi lòng - và có lẽ ca khúc này là điềm báo trước : 2 người yêu nhau không trọn vẹn cuộc tình :

.. dù sao, dù sao nếu có một ngày
một ngày gieo tronmg tim ta
là tình yêu kia ly tan
để rồi vẫn thương vẫn nhớ ...

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì, NVKh vẫn trọn đời thủy chung : ' vẫn yêu hoài !'
Sau lần lên Thái Nguyên này, Nguyễn văn Khánh bận việc nhà quan trọng, nên 2 tuần tới, Khánh không lên Thái Nguyên như trước nữa. Nửa tháng không được gặp nhau, lỏng Khánh như lửa đốt và chỉ có 15 ngày thôi àm Khánh cảm thấy thời gian lâu bằng 1 thế kỷ . Lần này, Khánh lên Thái Nguyên như mọi lần. Đến nơi, ra nơi hẹn cũ, chờ mãi chẳng thấy bóng nàng. Chờ đến chiều, dù bụng đói, dạ khát; Khánh cũng liều đi bộ đến gần nhà nàng dò la tin tức. Gặp một người ở gần nhà nàng, trong quán nước, NVKh khôn khéo thăm hỏi, bà chủ quán cho hay : tin sét đánh ngang trời, cách đây khoảng 10 ngày, nàng bị trúng gió, người nhà vội đưa vào nhà thương, sau 1, 2 ngày, cô ấy đã trút hơi thở cuối cùng. Gia đình xin xác về, đem chôn cô trên một đồi thông, cách đó chừng 1 cây số.

Nghe tin xong, Nguyễn Văn Khánh lật đật rời khỏi quán, bước đi như kẻ không hồn, đi thẳng về phía đồi thông, nơi đó ấp ủ hình hài người yêu dấu trong một buổi chiều vàng.
Sau mấy ngày mưa phùn, gió bấc - chiều hôm ấy mưa tạnh, mặt trời ra khỏi đám mây tỏa xuống những tia nắng vàng yếu ớt như người vừa trải qua cơn bệnh. Khi tới nơi, NVKh thoăn thoắt bước lên đồi, dù đất đồi sỏi đá lổm chổm, ngổn ngang, Khánh vẫn tìm thấy mộ, mắt nhòa lệ, họng nấc từng cơn đau đón, nhìn không chớp mắt lớp đất mới đắp, NVKh ngồi sụp xuống, say sưa hát:

yêu ai yêu cả một đời

với niềm tin vững dạ trong lòng : hương hồn người yêu bé
nhỏ đang phảng phất đâu đây, lắng nghe được giọng hát của Khánh như ngày nào ... ngồi quên cả giờ giấc, ngẩng mặt lên, nấu trời tắt nắng. Hoàng hôn xuống dần. Nguyễn Văn Khánh u sâu, buồn chán lê gót chân mỏi như về quán trọ.
Đi được một quãng đường, đột nhiên Khánh dừng chân bước, lại vào một quán nước xiêu vẹo bên đường, Khánh vội móc túi, lấy ra cấy bút chì, mảnh giấy đã hơi nhầu nát, bviết một mạch ý nhạc đang dâng lên nóng hổi và đo thắm như dòng máu con tim . Viết nhạc tới đâu, Khánh hát tiếp lời ca tới đó. Giữa một khung cảnh bi ai trầm buồn, lòng người nhạc sĩ như tan nát, tim như bị nhồi máu, vậy là ca khúc Chiều vàng ra đời, với ca từ ai oan não nề :

... Trên đồi thông, chiều đã xuống dần
mặt trời lấp ló sau đồi, chiều vàng ...
... giờ đây vướng thầm hồn cố nhân
năm tháng trôi qua sóng gió đời
chiều chiều nhớ em lòng khôn nguôi ... !

Kể chuyện xong, Khánh rủ tôi về nhà anh ăn cơm tối. Về tới nhà, anh vội lấy ra một cái hộp vuông trong đó có đựng một cái khăn len quàng cổ, do nàng ấy đan, tặng Khánh và xấp thư tình của nàng .
... Nhân năm ấy, có kỳ thit uyển nhân viên cho Sở Tài chính thành phố Hà Nội, Khánh trúng tuyển, trở thành một công chức, sáng vác ô đi, tối vác về. ...
Năm 1954, lệnh Tổng động viên, tuổi tôi bị kẹt trong lệnh đó, Khánh và tôi rủ nhau đi uống cà phê để giã từ.
Cho tới ngày 30- 4- 1975, gặp lại một số nhạc sĩ ngoài bắc vô nam, tôi mới biết : sau ngày giải phóng thủ đô Hà Nội được vài năm, Nguyễn Văn Khánh đã trút hơi thở cuối cùng tại căn nhà xưa .. Tôi không ngờ buổi cà phê năm xưa lại là lần cuối gặp nhau để rồi từ đó vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn văn Khánh .. .

Lê Hoàng Long

Posted: Wed Jun 06, 2012 5:12 am
by khieulong
Image
Johann Strauss II


The Blue Danube - Bản Waltz bất hủ
Những ai yêu âm nhạc chắc cũng đã từng nghe bản Waltz “The Blue Danube” của Johann Strauss (II). Năm 1867, Johann Strauss sáng tác “The blue Danube” tên đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau”.

Hàng năm cứ mỗi lần đón chào năm mới, hàng trăm triệu khán giả truyền hình trên khắp thế giới đều háo hức chờ đợi dàn nhạc giao hưởng “Wiener Philharmoniker” của Áo trình diễn buổi hoà nhạc truyền thống “New Year Concert” chào mừng năm mới với bản nhạc kết thúc luôn luôn là bản Waltz “The Blue Danube” của Johann Strauss II.

"The Blue Danube" được Johann Strauss II (con) biên soạn và công diễn lần đầu tiên vào 9 tháng 2 năm 1867 trong buổi hoà nhạc của Ban Thánh ca nam thành Viên (Vienna Men's Choral Association). Phần lời ca do Josef Weyl viết dưới cái tên “An der schönen blauen Donau” (On the Beautiful Blue Danube – Trên dòng sông Đa nuýp xanh xinh đẹp).Tuy nhiên lúc này bản nhạc chưa được nhiều người chú ý.


Cũng năm đó, tại hội chợ Quốc tế Paris (World's Fair in Paris). Johann Strauss đã chuyển soạn bài này thành một phiên bản cho dàn nhạc hoà tấu với tên gọi là “Le beau Danube bleu” (Blue Danube Waltz) và đã thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên. Từ đó về sau bản The Blue Danube soạn cho dàn nhạc hoà tấu, được nhiều dàn nhạc nổi tiếng trên thế giới trình diễn và đã trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất. The Blue Danube phần lời nhạc để hát theo do Josef Weyl viết và được chính Johann Strauss II đồng ý cho sử dụng trong Hội Chợ Quốc tế Paris năm 1867. Tuy nhiên sau đó thì phần lời hát đã bị lược bỏ để chỉ còn lại giai điệu, phần lời cũng được biên dịch ra cho nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

The Blue Danube không chỉ làm cho người nghe mê đắm mà cũng còn là một tác phẩm được ngay cả những nhà soạn nhạc hàng đầu thế giới khâm phục. Nhà soạn nhạc vĩ đại Johannes Brahms cũng đã phải khâm phục khi ghi những trang đầu của sheet nhạc The Blue Danube rằng "Thật đáng tiếc rằng bản nhạc này không phải do Johannes Brahms sáng tác".
Image
Bìa của bản "The Blue Danube"
Tổng hợp từ Internet.
"The Blue Danube" đã ra đời thế nào?

Dưới đây là các clips The Blue Danube (trên trang You Tube) được trình diễn do dàn nhạc theo các phong cách khác nhau.

BEAUTIFUL BLUE DANUBE!.avi

Famous Waltz Blue Danube Strauss - Silvester 2008

Blue Danube Waltz - New Year's Concert 2011 - Vienna Philharmonic

Vienna New Year's Concert 2012 - Johann Strauss: "The Blue Danube", Waltz, op. 314

André Rieu - The Beautiful Blue Danube

André Rieu & DJ Ötzi at Schönbrunn - La Ola Walzer

*******


Trở lại với bản “Dòng Sông Xanh” tiếng Việt do Phạm Duy viết lời từ bản nhạc này.
Trong “Ngàn lời ca khác”, Phạm Duy nói: “Cho tới năm 1949, tôi lập gia đình với Thái Hằng ở Chợ Neo Thanh Hoá và vì Thái Thanh,
lúc đó còn bé lắm, thích hát nhạc cổ điển cho nên tôi soạn lời ca cho những bài Dạ Khúc (Schubert), DòngSôngXanh (Johann Strauss),
Trở Về Mái Nhà Xưa (Curtiss) v.v... để cho cả hai chị em hát.

Thái Thanh thì lại bảo: “Hồi đó, năm tôi 14 tuổi, anh Phạm Duy cứ dùng tôi làm cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng, chị ruột của tôi.
Năm đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không lạ gì mà hồi đó đã có bài "Giòng Sông Xanh" nhạc Johann Strauss lời Việt.
Ông Phạm Duy đã phải đặt lời Việt cho bài "Giòng Sông Xanh" để cho cô Thái Thanh bé xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái Hằng.”
(Thái Thanh, Giai phẩm Xuân Người Việt Ất Dậu, 2004)
Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền

(Kết ở đây)
Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
Thả ý thắm theo người chở gió về suôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
Đời là khúc nhạc, đời là tiếng thơ
Nước sông reo như ru cuồn cuộn sóng trôi xa
Là tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta.

Sông về sông dào dạt ý
Hát tang bồng theo tầu mà đi
Ai giang hồ sau ngàn hải lý
Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.
Ôi, mắt em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời.
Ôi, mắt em xanh như đêm dài, đời người quên kiếp mai.
Sông về, sông cười ròn tiếng
Yêu mối tình bên bờ Thành Vienne.
Đôi giang hồ quay về bờ bến
Ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao Thiên Đàng.

Ngày ấy, có tiếng ai khoan hò thuyền về.
Ngày ấy, có dáng em soi dòng chiều hè.
Ngày ấy, có tiếng ta hát gọi tình về
Nước sông miên man trôi đi.
Ngày ấy, lúc đến với em một lời thề.
Ngày ấy, lúc nói với em một chuyện gì.
Ngày ấy, lúc vui cuộc sống nhịp tràn trề
Nước sông miên man trôi đi.
. . . . .
A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Yêu đi !
A á a a a a a a a a ! Có sóng nước trên sông ghi.
A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Ra đi !
A á a a a a a a a a ! Nước cũ đón đưa về...
Những bạn yêu thích bài này và đã từng nghe Thái Thanh, Mai Hương… trình bày chắc hẳn không biết một điều rằng:
Có một đoạn chiếm gần hết nửa bài đã không đuợc hát lên. Chính Phạm Duy cũng thừa nhận như vậy:
“Bài Beau Danube Bleu” còn có một đoạn sau rất hay mà tôi có soạn lời Việt.
Tiếc rằng khi Thái Thanh-Thái Hằng và ban Thăng Long lăng xê bài này, họ đã không hát đầy đủ tất cả lời ca”
Người hỡi ! Ánh trăng rụng không tới nước.
Vì đêm rét mướt, dòng sông lắng câm.
Người hỡi ! Giúp nhau mở đôi mắt ướt
Ngắm cầu nhớ sông im cúi gầm.
Đi về đâu ? Đi về đâu ?
Nước lặng khô cứng đờ.
Màn tang buông tuyết phủ.
Người ơi ! Đi về đâu ?
Kiếp tù đầy nước giá
Xót thương cho cây khô nghèo.

Rồi đàn chim xanh từ trời thanh về vờn quanh.
Gió Đông chết ngoài sông mới, mùa Xuân tới.
Ai mơ hồ ngủ kỹ, mau ra đời
Bông hoa đầu rụng rơi trên sông xanh lơ.
Đi ! Ta đi, cùng đi theo sông, vờn sóng nước biếc.
Theo nhịp sóng vui tưng bừng.
Sông vi vu ù u... vui nghe tầu hú... u hú.
Sẽ đưa ta đi nơi xa mờ
Cùng đi, vào Thương với Nhớ.

(Trở lại từ đầu để kết)
Dòng Sông Xanh
Le Beau Danube Bleu


Nhạc Johann Strauss - Lời Việt : Phạm Duy
Do Mai Hương trình bày
Và do Thu Giang trình bày trọn lời

Thai Thanh - Giong Song Xanh

[Dòng Sông Xanh] - Ngọc Hạ - Full HD

Posted: Sat Jul 07, 2012 6:47 am
by hoanghoa
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác qua đời, thọ 73 tuổi


WESTMINSTER (NV) - Theo tin từ gia đình, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã từ trần lúc 10 giờ 15 phút tối ngày 2 tháng 7 năm 2012 tại tư gia,
thành phố Westminster, Orange County, thọ 73 tuổi. Ông qua đời để lại vợ, bà Nguyễn Khoa Diệu Chi, và ba con, hai gái một trai.

Image
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác sinh ngày 4 tháng 01 năm 1940 tại Xuân Hòa, huyện Bình Khê, bây giờ đổi thành huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Ðịnh. Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông đi học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, tiếp tục học tại trường trung học Cường Ðể, Quy Nhơn, trường Võ Tánh, Nha Trang, rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An, Sài Gòn. Ông tốt nghiệp thủ khoa Ðại Học Sư Phạm ban Việt Hán tại Huế năm 1963. Ông dạy tại trường Ðồng Khánh, Huế hai niên khóa, rồi đổi vào Qui Nhơn làm hiệu trưởng trường Cường Ðể, rồi làm Chánh sở Học chánh tỉnh Bình Ðịnh cho đến năm 1974 thì vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục tại Bộ Giáo Dục.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác bắt đầu viết văn tương đối muộn, khi đã 30 tuổi. Từ năm 1970 ông cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Có lần ông đã phát biểu rằng thời điểm xuất hiện trên văn đàn rất quan trọng đối với nhà văn. Nếu một người cầm bút xuất hiện ở lứa tuổi mười tám đôi mươi thì mọi chuyện như quá trình sáng tác hay tư tưởng sẽ diễn tiến bình thường. Còn những người bắt đầu viết văn chậm như ông thì sẽ rơi vào hiện tượng tuy mới vào làng nhưng mình lại không thuộc giới những nhà văn trẻ nữa, mà cũng không thể thuộc vào lớp lớn cùng lứa với mình, vì “tuổi nghề” mình còn mới mẻ.

Trong thời kỳ đầu, các sáng tác của ông có khuynh hướng hiện thực, với những truyện ngắn như Bão Rớt, Tiếng Chim Vườn Cũ, Qua Cầu Gió Bay... Truyện dài Ðường Một Chiều, kể một vụ án mạng mà người phạm tội không biết là mình phạm tội, được giải thưởng Văn Bút của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974.

Biến cố miền Nam sụp đổ năm 1975 đã làm gián đoạn việc sáng tác của ông. Từ năm 1977 đến 1981 trong khung cảnh đổi chủ của miền Nam, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cầm bút trở lại, mượn chuyện lịch sử để diễn tả một xã hội đang thay đổi sau khi một chế độ chính trị chấm dứt: Trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ ra đời, mượn bối cảnh thời Quang Trung để nói về sự đổi đời ngày nay.

Vừa viết xong Sông Côn Mùa Lũ, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cùng con trai vượt biên vào tháng 11 năm 1981. Chuyến vượt biển thành công, ông đã đến được đảo Kuku của Indonesia, và bắt đầu viết lại ngay với một tâm trạng hoàn toàn tự do và giải thoát. Sau mấy tháng ở tại đây, ông đã hoàn tất những truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa Nản Chân Bon và tập I của trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Ðộng.

Tháng 11 năm 1982 ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tám năm sau bảo lãnh được vợ và hai con gái qua Mỹ, đồng thời ông cũng “đoàn tụ” được với bản thảo tác phẩm mà ông đã hoàn tất chín năm trước tại Việt Nam: Trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ.

Tại hải ngoại, thời kỳ đầu ông cộng tác với các báo Ðồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật. Từ 1986 ông làm chủ bút tạp chí Văn Học, một tạp chí uy tín quy tụ nhiều cây bút văn học hải ngoại và cả trong nước. Ðến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng làm báo Văn Học vì phát giác mình bị ung thư gan.

Nguyễn Mộng Giác là một nhà văn quan trọng và hiếm hoi của Việt Nam, đã ghi lại được một cách sống động qua tác phẩm của mình tính chất xã hội vào thời điểm trước và sau khi miền Nam đổi chủ 1975. Và đặc biệt đây là nhà văn gần như duy nhất đã có tác phẩm giá trị ngay trên đường vượt biên, là chứng nhân văn học của cuộc vượt thoát vĩ đại đi tìm tự do của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ 20.

Posted: Wed Jul 11, 2012 4:38 am
by hoanghoa
Image

Viết nhân ngày giỗ Nhất Linh năm nay (7-7-2012)


Từ ít nhất bốn năm năm trở lại đây, “vấn đề Nhất Linh” cứ được hâm nóng bởi một số cây bút. Đúng ra chỉ có một người “chấp bút” viết về nhân vật này với một chủ đề nhất định, là Nhất Linh chết vì bệnh tâm thần, cùng lúc bác bỏ tất cả những chứng cứ lịch sử rất rõ rệt cho biết Nhất Linh chết vì những lý do khác. Có một điều rất ngộ nghĩnh, là khi “người chấp bút” ra một bài thì lại có người viết bài phản biện, người đó đọc rất kỹ các phản biện ấy để sửa đổi bài của mình cho hoàn chỉnh hơn, và đến một lúc nghĩ rằng bài của mình đã rất hoàn chỉnh rồi, không thể cãi đằng nào được nữa thì in thành sách. Nhưng khi sách phát hành thì đến phiên người con út của chính Nhất Linh là ông Nguyễn Tường Thiết vào cuộc, viết một bài dài bẻ gãy từng điểm không trung thực về thân phụ của mình, để đính chính trước dư luận về những điều mà ông cho rằng cố tình bóp méo những sự thật nay đã trở thành lịch sử (được đăng lại trong số này).

Hầu như ngay lập tức sau khi bài này được phổ biến trên một tờ báo lớn tại Nam California vào đầu năm 2012, tác giả “chuyên đề về Nhất Linh bị bệnh tâm thần” phổ biến bản tóm lược một luận án y khoa của trường Y Sài Gòn đề cập đến bệnh hoạn của một số nhà văn Việt Nam trong đó có Nhất Linh, rồi tiếp theo là một bài chỉ trích tờ Phong Hóa và Ngày Nay xuất bản từ thập niên 1930 của thế kỷ trước. Chưa hết, tác giả này còn viết bài đánh giá một cách tệ hại những đảng phái quốc gia đã từng chống đối chế độ Ngô Đình Diệm, mặc dù những đảng phái này có một bề dày lịch sử lớn hơn chế độ cụ Ngô nhiều, đã hy sinh nhiều xương máu chống thực dân Pháp lẫn cộng sản ngay trên quê hương Việt Nam. Một thái độ rất là “ăn thua đủ”, có vẻ được hướng dẫn bởi một niềm tin sắt đá, rằng mình có sứ mệnh thiêng liêng và cao cả phải “hạ” Nhất Linh và những ai chống đối chính quyền Đệ nhất Cộng hòa với bất cứ giá nào.

Nhìn toàn cảnh những sự việc đã xảy ra trong vụ này, tôi cảm thấy rất buồn. Với tinh thần phe phái, rồi ra những giá trị đích thực của Việt Nam sẽ bị bôi bẩn hết. Bắt đầu là những người cộng sản Việt Nam từ năm 1945, khi họ theo đường lối đệ tam quốc tế ra tay tiêu diệt và nói xấu một cách triệt để những nhân vật yêu nước không đi theo đường lối của họ. Họ đã giết Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Khái Hưng, Nguyễn Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu…, và gán cho những “tội danh” Việt gian, bán nước, phản động không những cho người đã chết mà còn vô số người còn sống. Họ phủ nhận tất cả thành tựu của nhà Nguyễn, từ các chúa Nguyễn đến triều đại nhà Nguyễn, với một thái độ kỳ thị hẹp hòi rất rõ rệt. Cộng sản là những người cuồng tín, chỉ biết lý thuyết và niềm tin của họ là đúng, ai không theo họ là lập tức mang tội phản động.

Họ đã làm đổ nhào cả một nền nếp văn hóa cổ xưa của Việt Nam, đã chà đạp vô số giá trị mà phải hàng ngàn năm một dân tộc mới thủ đắc được, vì tin chắc chỉ có văn hóa mác xít của tầng lớp vô sản mới có giá trị để xây dựng nên một xã hội tốt đẹp. Sự ngây thơ dại dột muốn xây dựng xã hội mới bằng nòng súng và bạo lực đã mang lại thất bại cho cộng sản quốc tế, và khi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không”, cộng sản Việt Nam đã vội vàng phục hồi những giá trị cũ: in lại sách của Phạm Quỳnh, thừa nhận công lao của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về báo chí và văn chương, tái bản hầu hết các sách vở thời Pháp thuộc và cả một số tác phẩm của Miền Nam trước đây mà họ đã lên án nặng nề, phần nào tôn trọng trở lại các tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian mà một thời họ cho là mê tín, lạc hậu… Vì, sau những ảo tưởng về một xã hội mới theo kiểu mác-xít, nếu không có những vốn liếng ấy, Việt Nam còn cái gì?

Dù đã biết phần nào quay đầu về với dân tộc, hậu quả những phá phách của cộng sản vẫn còn nặng nề trên đời sống của xã hội Việt Nam, nhất là khi chế độ ấy với bản chất độc tài vẫn còn khống chế đất nước. Những lời chửi rủa, bôi nhọ của họ đối với những nhân vật khả kính của Việt Nam dù ngày nay không mấy khi còn được nói ra một cách chính thức và công khai nữa, nhưng vết hằn của nó trong một thời kỳ tuyệt đối toàn trị đã tạo những mảng đen khó phai mờ trong tâm trí một số thế hệ.

Nhưng cộng sản là cả một hệ thống cách mạng quốc tế, có lý thuyết, có tổ chức chặt chẽ nên những người cuồng tín theo nó đã tàn phá quê hương thì đã đành. Đàng này, một người có học, trong hàng ngũ quốc gia, mà cũng học đòi làm những việc tương tự như cộng sản chỉ vì muốn bênh vực một nhân vật chính trị mà mình sùng bái thì phải nói là không sáng suốt. Vì sao? Vì bênh vực người mình tôn thờ là một việc, mà ra sức bôi đen những cá nhân, đoàn thể chống đối người ấy, bất kể giá trị của các cá nhân, đoàn thể ấy đối với đất nước ra sao, thì thật là một hành động rất vô ý thức. Tác giả ấy quên một điều: muốn làm sáng danh người mà mình bênh vực thì cách tốt hơn hết là làm sáng tỏ tài năng, đức độ của người đó, chứ không phải cố sức đả kích, bôi nhọ, bới lông tìm vết để hòng làm cho kỳ được công việc triệt hạ những cá nhân, đoàn thể chống đối ông Ngô Đình Diệm. Giá trị của cụ Ngô có được sáng rỡ thêm vì hành động đó không?

Cố chứng minh nhà văn Nhất Linh tự tử vì bệnh tâm thần chứ không phải vì chống đối ông Diệm như những bằng cớ rành rành trên giấy trắng mực đen trong di chúc và các biến cố chính trị xã hội thời đó, thì được cái gì? Được cái này: thuyết phục dư luận nửa thế kỷ sau cái chết của ông Diệm rằng ông nhà văn nổi tiếng ấy không phải vì chống đối ông Diệm mà tìm cái chết, mà chỉ vì… điên! Ai tin được ông tác giả ấy thì cứ tin, nhưng riêng tôi, tôi thấy thê thảm quá. Thảm không chỉ cho chính ông ấy, mà thảm cho cả những giá trị mà ông ta muốn bảo vệ. Tôi không tin một người đức độ như ông Ngô Đình Diệm lại bằng lòng với một cách xuyên tạc lịch sử trắng trợn như vậy của những người tự nhận bênh vực cho ông. Những nhân vật lớn trên sân khấu chính trị chắc chắn hiểu nhau hơn là những bình luận vụn vặt về sau theo kiểu này. Vì bôi bẩn, xuyên tạc những giá trị thật sự của lịch sử Việt Nam thì sự thiệt hại chỉ có thể là cho chính Việt Nam thôi. Lo nâng một bức tượng lên cho cao mà chân lại dẫm lên bao nhiều đồ đạc quý giá trong nhà, người có trí (khôn) không ai làm như vậy!

Người thật sự có lòng với lịch sử đều có một lối nhìn xác thực nhưng bao dung với những gì đã xảy ra trong quá khứ. Và hiểu cái lẽ tương đối trong một thực trạng xã hội và chính trị. Nhìn một nhân vật hay một chế độ bằng cách không xem xét thực tế xã hội thời đại đó, mà chỉ trừu tượng hóa, về nhân vật thì chỉ còn một hình tượng xa xa đầy lý tưởng, về chế độ thì chỉ với một mớ lý thuyết trên giấy tờ, rồi cho đó là hoàn thiện, hoàn mỹ thì e rằng khó mà chính xác được. Đưa một cái gì của trần gian này đến mức toàn hảo không thể phê phán đều là thái độ cuồng tín. Và cuồng tín thì không có chỗ cho luận giải một cách khoa học hay thông cảm được, vì đã theo nguyên tắc “không theo ta là kẻ thù của ta”. Trong bảy mươi năm tồn tại của chế độ cộng sản, họ đã dứt khoát hành động theo một câu ngắn gọn: bạo lực cách mạng. Trong xã hội ấy không có đối thoại về chính trị, người dân hoặc cúi đầu nghe theo lãnh tụ, hoặc bị tiêu diệt. Khi người cộng sản nói sử dụng bạo lực cách mạng cho một đối tượng nào đó thì có nghĩa kẻ đó sẽ bị giết hoặc tù đày cho đến chết.

Nhà văn Mai Thảo có thuật lại cho bạn bè nghe câu chuyện do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn kể: Ông Nguyễn Tường Tam thời kỳ ở trong chính phủ liên hiệp năm 1946, một hôm vào phủ chủ tịch để phản đối với ông Hồ Chí Minh về việc một số đảng viên Quốc Dân Đảng bị cán bộ phe cộng sản làm khó dễ. Ông Hồ hứa với ông Tam sẽ chỉ thị trả tự do cho họ và không để những việc như thế xảy ra nữa. Ông Tam đi về, nhưng ra tới sân mới nhớ quên một món đồ (có thể là cây dù) để ngoài cửa phòng ông Hồ, bèn quay lại lấy, bỗng ông Tam nghe tiếng ông Hồ trong phòng dội ra: Sao không thủ tiêu chúng nó ngay đi, để làm gì gây lắm chuyện?!

Bạo lực cách mạng là thế. Thời điểm 1945, 46, 47 tại miền Bắc và miền Trung vô số quan lại cũ, đảng viên Quốc Dân Đảng đã bị giết, tại miền Nam hầu như tất cả phe đệ tứ bị thủ tiêu. Chưa hết: đến cải cách ruộng đất, hàng trăm ngàn địa chủ bị công khai bị hành quyết nơi đấu trường. Cộng sản là thế: hoạch định chính sách xong là cứ thẳng tay áp dụng bạo lực cách mạng.

Nhưng nợ máu một khi đã gây ra sẽ không bao giờ mất, nó sẽ là nhân cho một cái quả khủng khiếp trong tương lai. Chẳng có mục đích nào có thể biện minh cho phương tiện là sự tàn sát đồng loại. Nhất là khi nhìn lại, tất cả “mục đích” của chủ nghĩa cộng sản toàn là thứ dỏm, những khẩu hiệu tranh đấu cho người nghèo, xây dựng thế giới mới rốt cuộc được tóm gọn trong một câu của bài Quốc Tế Ca: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình!” Đó là câu tiên đoán tài tình nhất, tất cả ước mơ cao cả của các tay tổ cộng sản đều trật lất, trừ câu này. Và thảm họa cho những đất nước tuy là hậu cộng sản nhưng vẫn do đảng cộng sản cầm quyền chính là đây.

Quay lại trường hợp Nhất Linh và các đảng phái quốc gia đang bị một cây bút có ý đồ dùng “bạo lực chữ nghĩa” để vùi dập, tuy có vẻ chỉ là một động thái có tính cách cá nhân chứ không phải là chủ trương rõ rệt của một thế lực nào, chúng tôi mong cá nhân ấy nên nhìn lại và chọn một thái độ khác khi viết về lịch sử.

Nhiều nhà nghiên cứu đang thẩm định một cách khoa học và đứng đắn các ưu điểm của Đệ nhất Cộng hòa, đặc biệt các điểm đáng kính trọng ông Ngô Đình Diệm, các công trình đó đều đáng được trân trọng và chào đón. Nhưng nếu cố tình tìm mọi cách, kể cả dối trá và bóp méo sự thật, nhằm vùi xuống bùn đen những giá trị đã được xác định của quá khứ, thì thật sự là không nên. Dân tộc và đất nước Việt Nam trong suốt một thế kỷ qua đã là nạn nhân quá nặng nề của xâu xé tương tàn rồi, nay là lúc nên làm lành những vết thương, thay vì xé ra cho lớn hơn.

7/07/2012
Phạm Phú Minh

Posted: Thu Jul 12, 2012 5:46 pm
by TranAnhDung
Image

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng….

Tôi viết bài này thể theo yêu cầu của chị HạtSươngKhuya, người mà tôi quen biết trên một diễn đàn paltalk và chưa một lần gặp mặt. Cũng trên diễn đàn này, thỉnh thoảng tôi được nghe chị chia sẻ quan điểm chính trị cũng như thưởng thức giọng ca thánh thót của chị khi có phần văn nghệ chen vào. Tuy vậy, tên thật ngoài đời của chị thì tôi hoàn toàn mù tịt và tôi cũng không tò mò.

Nghe chị chia sẻ, được thưởng thức giọng ca của chị đã cho tôi cái cảm giác lạc quan chen chút ấn tượng hay hay mà mườn tượng ra rằng người có giọng ca hay ắt phải có nhan sắc. Tuy là giọng ca tài tử nhưng đã có sức cuốn hút lạ thường, ngay cả giọng nói của chị cũng không chịu kém. Một chút gì đó nhẹ nhàng, một chút gì đó thân thiện nhưng thẳn thắng và tự tin, đây là nét đặc trưng trong phong cách của chị thì phải. Hơn thế, cái giọng nói ấy nó còn tựa như chất giọng của “người em gái hậu phương” Dạ Lan gởi đến “anh trai tiền tuyến” thủa nào trên đài Phát Thanh Quân Ðội ở thời chinh chiến xa xưa. Cái giọng của người em gái hậu phương Dạ Lan xa xăm ấy phải nói là không lẫn vào đâu được, nó chẳng những bộc lộ cái tình cảm thương mến ngọt ngào mà còn biểu thị những chăm chút âu lo cho từng đời lính trận mà hằng đêm từ 7 giờ đến 9 giờ tối, với chỉ vỏn vẹn 2 tiếng đồng hồ ngắn ngủi thế mà đã được hầu hết những người chiến sĩ VNCH trú đóng trên khắp bốn vùng chiến thuật thương yêu mong đợi, trong đó có tôi.

Riêng đối với chị HạtSươngKhuya, tôi vẫn thầm tiếc mỗi khi được thưởng thức giọng ca của chị, với chất giọng thánh thót, sắc nét và tròn trịa ấy nếu được đào tạo từ trường lớp theo quy chế chính quy thì cái chắc chị đã không còn là HạtSươngKhuya nhỏ bé khiêm nhường như cái nick name của chị mà đã trở thành Vì Sao Mai lừng lững trên vòm trời ca nhạc VN từ khuya rồi. Cũng cần nói thêm, chị Hạt Sương Khuya là phu nhân của anh LamSơn719, anh là một cựu sĩ quan của sư đoàn Nhảy Dù, một trong hai sư đoàn thiện chiến nhất của QLVNCH. Cũng như chị, thỉnh thoảng anh vào chương trình Paltalk đóng góp, nghĩ rằng, anh lấy nick name LamSơn719 chắc cũng có ngụ ý. LamSơn719 là tên của một chiến dịch do QLVNCH thực hiện mà đơn vị của anh được giao trọng trách làm nỗ lực chính được khởi động ngày 8 tháng 2 năm 1971 mà phải kết thúc nửa chừng vào ngày 24 tháng 3 năm 1971. Mục tiêu chính của chiến dịch này là làm sao phá tan cho được hệ thống hậu cần của bộ đội Việt Cộng tại Lào và cắt đứt đường mòn HCM tại thị trấn Xê Pôn nằm sâu trong núi rừng hiểm trở, cách biên giới Việt Lào 40 km về hướng Lào nhằm vô hiệu hóa mọi phương tiện tiếp tế của CS Miền Bắc cho các đơn vị của họ tại chiến trường Miền Nam.

Chiến dịch Lam Sơn 719 là một chiến dịch phải trả một giá rất đắt của QLVNCH, nó chỉ đạt được mục tiêu trong một thời gian ngắn ngủi rồi phải rút lui do các cuộc tấn công tới tấp của địch quân vào đội hình chính của mình. Nói về tổng thể đây là một cuộc hành quân đã không đạt được mục đích nếu không nói là bị thất bại mà nguyên nhân của nó là do tính chủ quan, một phần là dựa quá nhiều vào sự yểm trợ hỏa lực tưởng như dồi dào của mình mà xem thường phần yểm trợ hỏa lực của đối phương, một phần là do yếu kém về mặt tình báo cũng như bảo mật cùng với những mâu thuẩn trong hệ thống chỉ huy. Thiết nghĩ, anh dùng nick name LamSơn719 như để nhắc nhở đến một kỷ niệm đau đớn trong đời binh nghiệp của mình và của đơn vị mình chăng?

Trở lại với chị HạtSươngKhuya, số là sau khi trình bày nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trong một diễn đàn nọ, chị có yêu cầu tôi, nếu được hãy viết một bài về người nhạc sĩ tài hoa nhưng cũng lắm truân chuyên này. Chỉ vỏn vẹn lời yêu cầu này thôi, thế mà tôi đã “hơi bị” khó xử khi nghĩ đến cái tật làm biếng của mình. Hình như, ngay lúc đó, tôi đã ừ ừ hữ hữ cho qua chuyện với những mong rồi chị sẽ dần quên!

Cho mãi đến hôm nay, đã gần 2 tháng, có thể chị ấy đã thật tình quên nhưng người muốn chị ấy quên là tôi thì lại phải nhớ và cái nhớ của tôi cũng có lý do của nó. Số là mới đây tôi có nhận được một email nói về “Paris xuống đường”, nói về cuộc biểu tình ngày 14-9-2011 tại Paris và kèm theo 1 cái link bao gồm hình ảnh cũng như bài viết tường trình ngày Paris xuống đường biểu tình chống lại âm mưu bành trướng bá quyền của TQ đối với Việt Nam mà tôi chắc là trong hàng lớp người biểu tình đó có sự hiện diện tích cực của anh chị LamSơn719 & HạtSươngKhuya. Lại nữa, trong Email gởi cho tôi người gởi có phổ biến bài viết “Paris Xuống Đường” của chị HạtSươngKhuya đã cho tôi xác quyết điều này.

http://vongngayxanh.wordpress.com/2011/ ... 1%BB%9Dng/

http://vongngayxanh.wordpress.com/categ ... 1ng-khuya/

Những hình ảnh, những khẩu hiệu được trưng lên để nói rõ với thế giới rằng, cách đây 53 năm (14-9-1958) Phạm Văn Đồng, thủ tướng nước VNDCCH đã đặt bút ký công hàm công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc với mưu đồ tranh thủ sự ủng hộ của nước này trong cuộc chiến xâm lược miền nam VN của họ để cho đến nay phía TQ đã lợi dụng công hàm này như là 1 bằng chứng về chủ quyền biển đảo của họ. Báo chí, truyền thông cũng như trên các kênh truyền hình chính thống của TQ đã ra rả nhắc tới bản công hàm 1958 này và xem như Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận và tán thành tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý, đồng thời đã chỉ thị cho các cơ quan nhà nước của CSVN có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Thực hư việc này như thế nào nó còn dính đến những cuộc họp mật giữa họ với nhau và cái chắc là họ sẽ chẳng bao giờ hé lộ cho dân chúng biết.

Hình ảnh mà tôi đoán mò về anh chị trong đoàn người biểu tình cũng như sự tích cực đóng góp tiếng nói của chị hòa cùng dòng người xuống đường nêu cao tinh thần yêu nước của người con dân VN xa xứ khiến tôi vô cùng xúc động. Thế là tôi dẹp cái “sở tật” qua một bên, làm quân tử nhất ngôn, quyết trả cho xong món nợ văn nghệ này. Tôi xắn tay áo, ngồi vào bàn phím kì cạch gõ, lẽ dĩ nhiên, nói gì thì nói, sau cùng tôi cũng phải nói lời cảm ơn đến chị, vì nhờ vậy mà tôi có được bài viết này.

“Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi”? Đây là đoạn kết trong nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Lời tán thán ẩn dụ này đã như vận vào đời của người sáng tác ra nó…. Với nhạc phẩm này tác giả tâm sự như sau:

“Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt.

Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muối sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới là một nhạc phẩm hay, năm 1961 nhạc phẩm này đã được nghệ sĩ Trần Văn Trạch đem chuông đi đánh xứ người và đã được Ðài Truyền Hình Pháp, đài Europe số 1 thu âm, thu hình, gây tiếng vang ở Âu Châu. Sự kiện này dội ngược về trong nước khiến chỉ trong vòng vài tháng, giới yêu nhạc VN lúc bấy giờ đã nuốt trọn trên 60.000 ấn bản do nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam phát hành, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất kể từ trước đó cho đến thời điểm lúc bấy giờ.

Như con tuấn mã đang sung sức, thế mà nó còn được tăng lực bởi “Ðại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” do chính nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn với dàn nhạc của Ðài Truyền Hình Pháp nên sự hâm mộ của giới thưởng ngoạn trong và ngoài nước càng được nhân lên và lan rộng. Nỗi vui mừng về đứa con tinh thần mang nặng đẻ đau với dáng vóc khôi ngô cùng niềm hãnh diện chưa bị nguôi ngoai thì bỗng đâu “mưa bay gió cuốn” ập đến với tác giả! Nó như cơn giông bất chợt đầu mùa ngoài biển khơi, gây cảm giác bất thường mà cũng đầy bất trắc cho người đi biển. Trong bài viết “Hình ảnh người lính khác, trong nhạc Nguyễn Văn Đông” của thi sĩ Du Tử Lê có cho biết như sau:

“Theo một bản tin được phổ biến trên trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia thì, sau khi hai ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” và “Mấy Dặm Sơn Khê” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông được bằng hữu trong giới, trân trọng giới thiệu với quần chúng, tác giả đã gặp nhiều khó khăn từ Bộ Thông Tin Saigòn… Cụ thể, năm 1961, bộ này đã ra quyết định cấm phổ biến hai ca khúc vừa kể với lý do: Nội dung “phản chiến!” Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới…”

Cũng có nghĩa là, sau khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được ban hành và được phổ biến trên trang nhất của nhiều tờ báo lúc bấy giờ, tác giả đã phải chấp hành lệnh phạt theo quân kỷ với lý do là đã không tuân hành huấn lệnh quy định, huấn lệnh ấy là: Bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác văn, thơ, nhạc đều phải trình qua giới chức có thẩm quyền của Bộ Quốc Phòng để được xét duyệt và cấp giấy phép trước khi cho phổ biến.

Vì không chấp hành đúng theo quy định này tác giả đã phải nhận 15 ngày phạt trọng cấm cũng như không được phép xuất hiện trong mọi sinh hoạt văn nghệ nơi công cộng dù rằng tác giả đang đảm nhiệm chức vụ quan trọng trong quân đội. Sự kiện này đã tạo nên một loạt phản ứng từ phía quần chúng, những người mến mộ, họ đứng về phía tác giả, bênh vực những khát khao thầm kín về một đất nước thanh bình, về những cảm nhận mang tính nhân bản mà tác giả đã thầm gởi gấm trong nhạc phẩm của mình. Sự kiện này đã kéo theo hàng loạt những phản ứng buộc báo giới cũng phải nhập cuộc.

Cho mãi đến bây giờ, qua bao nhiêu lớp sóng phế hưng, bao nhiêu thăng trầm dâu bể với bao thay đổi về lối sống, nếp nghĩ, về cách cảm nhận nghệ thuật và ngay cả phong cách thưởng thức âm nhạc của quần chúng, ấy vậy, khi ngoảnh nhìn lại, người ta vẫn không thể nào phủ nhận được những giá trị nhân bản của những nhạc phẩm viết về lính của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, thậm chí ngay cả những người lính của phía đối nghịch cũng chấp nhận nó một cách tự nhiên để rồi nghêu ngao hát như hát cho chính mình, dù rằng chân dung của người lính VNCH đã được tác giả minh họa trong những nhạc phẩm ấy. Hãy nghe một anh Bộ Đội hiện đại mến mộ nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới gởi gấm tâm sự của mình.

Theo tôi, chả có lý do gì mà cấm không cho phép người Việt mình hát, bộ đội mình hát ca khúc Chiều mưa biên giới cả. Cho dù là người lính Việt Nam cộng hoà hay người lính cộng sản cũng đều mang chung những tâm trạng như vậy cả thôi. Chiến tranh dưới con mắt của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, nguyên là một người lính Việt Nam cộng hoà, vẫn không có gì là tốt đẹp cả.

Có lần tôi được nghe kể rằng người trình bày ca khúc Chiều mưa biên giới hay nhất là Trần Văn Trạch, tuy nhiên tìm được bản thu của ông này trên mạng giờ hơi khó nên tôi chỉ có những bản thu của Hà Thanh, Bảo Yến, Ngọc Huyền, Thanh Tuyền, Giao Linh, Mai Thiên Vân mà thôi. Trong số những con người này, không hiểu sao tôi thích nghe nhất là giọng Ngọc Huyền (ca sĩ cải lương ngày xưa ở SG), hát trong chương trình Asia 48 – 75 năm âm nhạc Việt Nam. Không biết cuộc sống sau khi sang Mỹ có gì vất vả khổ sở không mà trong chương trình ấy, Ngọc Huyền hát hai bài, bài còn lại là Dạ cổ hoài lang, đều rất tâm trạng, thậm chí còn khóc trên sân khấu.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh năm 1932 tại Sài Gòn nhưng cha mẹ ông gốc ở Tây Ninh. Thuở nhỏ, ông học nhạc với một thầy giáo nhạc người Pháp. Là một nhạc sĩ của dòng nhạc tình miền Nam ông chẳng những hát mà còn sử dụng được nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandoline và guitare Hawaiienne. Trong sự nghiệp văn nghệ của mình, ở mỗi đoạn đường ông đi là một đóng góp tích cực cho khu vườn văn nghệ nghệ thuật nước nhà, ông đã trải qua biết bao nhiêu giai đoạn sinh hoạt văn nghệ nổi bật. Ở thập niên 50, ông đã từng là Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân, một đoàn văn nghệ quy tụ một lực lượng ca nhạc sĩ tên tuổi lúc bấy giờ, ngoài ra ông cũng còn tổ chức và điều khiển các chương trình Đại nhạc hội tại Sài Gòn cũng như khắp các tỉnh ở Miền Trung và Miền Nam. Năm 1958, ông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời Gian của Đài phát Thanh Sài Gòn, đến năm 1959 ông là trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp quốc gia và đã quy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia, một giải thường do bà Ngô Đình Nhu trao tặng. Ngoài ra ông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca nổi tiếng, với sự cộng tác bởi những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân… cho ra đời nhiều chương trình ca nhạc, các vở tuồng, cải lương. Chính ông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng do các ca sĩ đã thành danh lúc bấy giờ hợp tác như: Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Phương Dung, Giao Linh … và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.

Ngoài bút danh quen thuộc Nguyễn Văn Đông, ông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà, Đông Phương Tử. Với 2 bút danh Phượng Linh và Đông Phương Tử ông đã viết nhạc nền và làm đạo diễn cho những tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng v.v..

Những nhạc phẩm nổi tiếng về người lính VNCH đã được ông sáng tác như: Chiều mưa biên giới, Phiên gác đêm xuân, Mấy dặm sơn khê, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp, Lá thư người lính. Riêng “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” cũng đã gây cho ông nhiều khó khăn như đã nói trên.
Nhạc sĩ cũng chính là người thầy, người đở đầu cho những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Tuyền, Giao Linh và Hà Thanh.

Về đường binh nghiệp của mình, ông đã trải qua những giai đoạn sau: Năm 1946 ông vào thụ huấn trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Năm 1950 ông được cử theo học khóa 4 trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bực thiếu úy năm 1952. Sau đó lần lượt ông theo học các khóa “Ðại Ðội Trưởng” tại Trường Võ Bị Ðà Lạt, khóa “Tiểu Ðoàn Trưởng” tại Trường Chiến Thuật Hà Nội. Năm 24 tuổi ông nắm chức vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Trọng Pháo 553, xem như ông là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH lúc bấy giờ.
Trải qua nhiều chức vụ, nhiều đơn vị và đồn trú ở nhiều địa bàn để rồi cuối cùng ông thuyên chuyển về Saigon, giữ những chức vụ khá quan trọng. Cấp bực cuối cùng trong Quân đội của ông là đại tá, chức vụ cuối cùng trong Quân Lực VNCH của ông là Trưởng khối lãnh thổ Bộ Tổng Tham Mưu. Ông cũng từng được trao tặng Bảo Quốc Huân Chương.

Khi biến cố Tháng Tư 1975 xảy ra, như hầu hết những sĩ quan QLVNCH khác, ông bị tù cải tạo. Năm 1985, sau gần 10 năm lao khổ ông được trả về với lý do bị bệnh sắp chết nên được thả ra cho gia đình đem về nhà chôn cất! Nghe nói, gia đình phải võng ông về. Về sự kiện này, ông có tâm sự:

Khi trở về, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Chắc có lẽ, Trời Phật đã nhìn lại mình mà cho mình sống, dù là một đời sống lây lất, cho đến ngày hôm nay”
“Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tị hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!”

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu ?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ

Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang
Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn
Cờ về chiều tung bay phất phới
Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ
Bầu trời xanh lơ

Đêm đêm chiếc bóng bên trời
Vầng trăng xẻ đôi
Vẫn in hình bóng một người
Xa xôi cánh chim tung trời
Một vùng mây nước
Cho lòng ai thương nhớ ai

Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng
Người tìm về trong hơi áo ấm
Gợi niềm xa xăm

Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi


Nhạc viết về lính của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông như đời lính của ông mà nhạc phẩm Chiều Mưa Biên Giới là một điển hình. Nó nói lên tâm trạng thật của đa số người lính tác chiến ngoài mặt trận, nó không cổ võ lòng thù hận cũng không mảy may tâng bốc hay ca tụng những giết chóc của súng đạn, nó chỉ khiêm nhường nói lên thân phận của người trai thời loạn là cầm súng bảo vệ cuộc sống thanh bình của người dân khi bị ai đó xâm phạm. Người lính của Nguyễn Văn Ðông là thế, nó bình thường, nó đúng nghĩa một người lính….

Sông Lô

Posted: Fri Jul 20, 2012 1:34 am
by quaichao
Lục bát Cung Trầm Tưởng

Viên Linh

Mỗi sinh nhật tôi lại nhớ đến bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Mỗi đêm mưa tôi lại đọc bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng.
Ðó là mùa mưa Sài Gòn. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi.

Image
Cung Trầm Tưởng, cầm lá sớ thơ, và Viên Linh tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa, quận Cam, 1992.
(Hình: Phan Diên)

Ðó là những năm cuối thập niên '50, những năm của Hiện sinh, của bản ngã, của đời sống thanh niên thành phố vừa vào tuổi hai mươi, của những đêm khuya ngã tư đèn vàng, những đầu tháng tạp chí văn chương. Của khói thuốc và sách vở. Của những buổi hẹn hò ở một góc sân trường; những cuộc tiễn đưa nơi sân ga bến buýt. Của vào đời và tan tác.

Mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn
Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi.
Mưa hay trời cũng thế thôi
Ðời nay biển lạnh mai bồi đất hoang.

Hồn tu kín xứ đa mang
Sớm hao tâm thể chớm vàng lượng xuân.
Niềm tin tay trắng cơ bần
Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.

Ðêm nay trời khóc trời mưa
Gió lùa ẩm đục trời đưa thu về
Trời hay thu khóc ủ ê
Cổ cao áo kín đi về đường tôi.

(Ðêm Sinh Nhật, Cung Trầm Tưởng)

Ðó là chúng tôi. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi, những năm đầu của cuộc vận động đổi mới chữ nghĩa, - dăm ba thần tượng sụp đổ, một vài trường phái manh nha. Chúng tôi ghi nhận trong bất cứ cuộc vận động nào, thơ đi trước. Thơ bao giờ cũng đi trước; thi sĩ là kẻ tiền-hô. Có bao giờ chưa, một cuộc vận động văn học thi sĩ lại không ở hàng đầu? Một biến động thời thế thi sĩ lại không biến đổi trước nhất? Giữa thập niên '20 Phan Khôi là người phá thể [với bài thơ Tình Già]. Ðầu thập niên '30 Ðoàn Phú Tứ là kẻ xoay vần [với nhóm Xuân Thu Nhã Tập]. Ðể hình thành nền Thơ Mới. Ra ngoài đất nước, cũng chính là thơ trước nhất đã dựng lại một nền văn học. Vũ Khắc Khoan làm thơ. Mặc Ðỗ làm thơ. Võ Phiến làm thơ. 1975, những nhà văn phải làm thơ. Ðương nhiên các thi sĩ không làm gì khác là làm thơ. Trong khi các nhà văn phải làm thơ vì biến động trước mắt thì các thi sĩ đã làm thơ rồi, vì biến động đã ở dưới chân thi sĩ, từ lâu, trên các nẻo đường xuôi ngược của thi sĩ, không ngừng.

Không biết làm thơ, vào trong tù, ai cũng có thể làm thơ. Thế thì khi thi sĩ vào tù, thi sĩ thường thường ở tù lâu hơn các ông tướng, và các thứ. Vào tù binh tướng bị lột khí giới; vào tù, khí giới của thi sĩ còn nguyên. Bạn tôi cũng vậy. Cung Trầm Tưởng cũng vậy, trước sau gì cũng vẫn làm thơ. Ở ngoài đời là một tay làm thơ. Tựa bên phải thì làm thơ bằng tay phải; tựa bên trái thì làm thơ bằng tay trái. Vào tù, hai tay bị còng, thì có “Lời Viết Hai Tay.”** [**nhan đề một thi phẩm của CTT.] Từ cuối thập niên '50 trở đi, Lục Bát Việt Nam không bao giờ còn như xưa nữa. Hình sắc, âm điệu, ngôn ngữ của hai dòng 6-8 đó - như một thôn nữ khăn vuông mỏ quạ váy quai cồng của đồng chiêm lúa mùa nhiều thế kỷ trước chốn Phong Châu - hiện thành Vệ Nữ và Hoàng hậu, hiển lộng và rực rỡ - nhưng lại có chút man dại của bản năng và nhịp thở phố xá, qua thơ Cung Trầm Tưởng.

Ðến anh thì đến hôm nay
Lỡ mai gió giật chở đầy mưa qua
Ðến anh thân thể lụa là
Dài đuôi con mắt ngắn tà váy kiêu

Ðến anh lưng thắt chiết yêu
Sểnh tâm phá giới con diều ái ân
Chờ em anh để râu xanh

(Râu Xanh, Cung Trầm Tưởng)

Trước 1975. Một hôm Cung Trầm Tưởng đến tòa soạn Tạp chí Thời Tập của tôi trên đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn rủ tôi đi Cần Thơ dự Ðêm Con Ðuông. Con đuông là một thứ Nhộng của xứ dừa, họa sĩ Ngy Cao Uyên ở Cần Thơ lấy tên Con Ðuông đặt tên cho nhà xuất bản của anh, in ra những tập thơ mỏng, bìa là một họa phẩm nguyên tác nhỏ bằng lòng bàn tay; “Lục Bát Cung Trầm Tưởng” được in ra trong khuôn khổ này. Tôi còn nhớ chuyến bay chỉ có 4 người, kể cả phi công. Khi chiếc Bà Già bay trên ruộng rừng đất nước, nhìn ngắm những hố bom B.52 phía dưới, chúng tôi nói về những tàn phá của cả thù lẫn bạn. Rồi cũng không quên nói về thơ. Ðêm ấy trên những chiếc giường sắt trong căn cứ Không đoàn Vận tải (mà ông họa sĩ chủ trì là trung tá chỉ huy trưởng), chúng tôi nói về màu sắc trong thơ.

1992. Nhớ Cung Trầm Tưởng, không có việc gì, với tấm bản đồ thành phố Paris trong tay, tôi đã lên một con tàu và bước xuống một sân ga: “Ga Lyon đèn vàng”. Sau này qua điện thoại, tôi kể anh nghe tôi xuống sân ga đó không phải để kiểm chứng xem bạn ta có phải là người đi xa về rồi nói chuyện linh tinh hay không, như ở ga Lyon đèn trắng lại nói nó đèn vàng hay không, mà tôi xuống đó, để đứng ở ga Lyon và ngó lên mấy ngọn đèn, nhớ bạn, và đọc thơ bạn và hát nhạc Phạm Duy ở đấy. “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế.” Ngược lại, cũng qua điện thoại, Cung Trầm Tưởng thuật lại tôi nghe khi còn ở Sài Gòn, sau 10 năm ở tù cộng sản ra, đang lóng ngóng chuyện rời bỏ quê hương, thì nghe tôi nói về anh và về Thơ Lục Bát của chúng tôi trên đài Radio France International. Bài nói trên đài RFI ấy chính là trong cái dịp tôi bước xuống ga Lyon vào năm 1992 đó. [Dường như là do Thụy Khuê phỏng vấn.] Và ở hai phía địa cầu, như thế, cái tiếng Lục và cái tiếng Bát mà chúng tôi làm ra, chúng tôi ngâm lên, đã cùng được nghe thấy, trong một phút một giây của thời gian thật:

Hồn tôi cái đĩa thâu thanh
Tròn nguyên nét nhạc trung thành ý ca
Ðồ rê mi phá sol la
Ngẫm từng âm điệu nghe ra trời buồn.

“Cơ bản, Thơ vượt lịch sử.” Cung Trầm Tưởng nói. Tôi đồng ý. Lịch sử vốn tái diễn không ngừng, thơ vốn hồi sinh cùng thi sĩ. Lịch sử lập lại. Thơ không lập lại. Thơ xướng danh lịch sử và sang vòng chuyển hóa mới. Hiện tại của lịch sử là nhà tù: Tập thơ “Lời Viết Hai Tay” là dĩ vãng của thi sĩ.

Viên Linh,
Lời bạt cho thi phẩm của Cung Trầm Tưởng, 1992

Bổ sung 2012