Page 15 of 187

Posted: Mon Oct 06, 2008 4:38 am
by tranphuongdong
Việt Nam đã và đang mất dần nhân tài
Tác giả: Cung Thị Lan



Nhân tài, tiềm lực quan trọng chẳng khác gì các tài nguyên khác của quốc gia, đã và đang bị đường lối chính trị của các nhà lãnh đạo Việt Nam đương thời hủy diệt.

Trước đây, nếu những người yêu nước dưới lá cờ cộng sản cho rằng họ chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ rừng vàng, biển bạc cho đất nước và giành quyền tự do độc lập cho nhân dân thì ngày nay chính họ là những người hủy hoại những tài nguyên này của quốc gia kể cả chất xám, một nguồn lực vô giá của dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, không biết bao nhiêu tiêu đề về “chảy máu chất xám” được đề cập trong các ban ngành, trên báo chí và các diễn đàn của Việt Nam. Đã có nhiều bài biếm nhẽ về sự tham tiền của các du học sinh không chịu trở về nước phục vụ sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài, nhiều bài phân tích về nguyên nhân thất thoát chất xám và nhiều bài bàn luận các phương cách thu hút những nhân tài trở về nơi sinh quán. Tuy nhiên, bất kể lời trách móc thâm thúy hay cay đắng như thế nào, sự bàn bạc về cách thức chiêu dụ lòng yêu nước qua “Hòa giải hòa hợp”, “Đóng góp cho đất Nước” và “Chiêu hiền đãi sĩ” sôi động ra sao, dòng chảy của chất xám Việt Nam vẫn tuôn trào ra ngoài, không thể quay ngược lại và đất nước tiếp tục mất dần nhân tài dưới nhiều hình thức khác nhau.

Sau chiến tranh 1975, Việt Nam đáng phải được phát triển thành một nước giàu mạnh và vượt bậc nhờ sự hợp tác của tất cả những người dân của hai miền, đã trở thành một nơi tàn phá nhân tài một cách khốc liệt. Khác với các nước sau chiến tranh khác, chủ nghĩa cộng sản mà những người lãnh đạo bắt toàn dân nước Việt tuân theo đã tiêu hủy không biết bao nhiêu chất xám trong các trại học tập cải tạo, trong các chuyến trốn ra nước ngoài và trong lòng biển.

Nếu sau ngày đất nước bị chia đôi năm 1954, miền Nam tiếp nhận một số lượng nhân tài của miền Bắc do các chuyến di cư vào Nam thì sau ngày đất nước thống nhất, nhiều nhân tài của cả nước mất dần sau những chuyến vượt biển. Sau khi Cao Ủy Tị Nạn liên Hiệp Quốc quyết định đóng cửa các trại tị nạn, làn sóng trốn ra khỏi nước của thuyền nhân ngơi đi, những làn sóng tìm đường ra khỏi Việt Nam qua hình thức lao động nước ngoài, và bảo lãnh theo diện đoàn tụ gia đình vẫn tiếp tục.

Các làn sóng ra khỏi nước ồ ạt này có thể coi là hiện tượng người dân muốn thoát khỏi chế độ chính trị không thích hợp hay vì đời sống xã hội đói nghèo và lạc hậu. Nói cách khác, sự ra đi này vì lý do chính trị và/hay kinh tế.

Ngày nay, hiện tượng du học của học sinh và sinh viên Việt Nam phổ biến đến độ nhiều người phải tự hỏi có phải đây là làn sóng trốn ra khỏi nước vì lý do văn hóa. Trong nước, không ai có thể giải thích một cách chính đáng về hiện tượng này; nhưng, nhà nhà, người người vẫn thi đua tìm cách ra đi. Người nghèo đi theo cách của người nghèo, người giàu đi theo cách của người giàu, người đẹp đi theo cách của người đẹp, và người tài giỏi đi theo cách của người tài giỏi.

Đã có biết bao nhiêu chuyến ra đi qua đăng ký lao động nước ngoài, qua giấy tờ bảo lãnh theo diện hôn phối thật lẫn giả, và qua du học. Nhiều phụ huynh giàu có ở Việt Nam đã tìm cách đưa cho con ra nước ngoài học ngay từ bậc trung học để cho con họ thoát chế độ thi vào Đại Học, sớm có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài và có cơ hội gặp người bản xứ cho cuộc hôn nhân về lâu về dài.

Đáng để ý nhất là các học sinh, sinh viên giỏi do nhà nước tổ chức cho du học ở nước ngoài. Những người này thường tìm cơ hội định cư tại các quốc gia mà họ học xong chứ không chịu trở về nước. Không kể thành phần con cán bộ giàu có bị rớt Đại Học và bị cha mẹ tống ra khỏi nước để tránh tình trạng lông bông chơi bời hút xách, luồng nhân tài Việt Nam ra khỏi nước ngày càng nhiều. Đa số là những người trẻ và số lượng rất đông. Vì hiện tượng “Chảy máu chất xám” khá phổ biến ở Việt Nam, trở nên vấn đề tranh cãi và bàn luận sôi động. Trong lúc nhiều ý kiến đổ lỗi cho thủ tục rườm rà, hệ thống tuyển chọn không minh bạch, môi trường làm việc không tốt, lương tiền thấp kém và chế độ ưu đãi không đúng mức; một số ý kiến khác qui tội phản Tổ Quốc, không yêu nước, ham danh phận và lo ấm thân cá nhân.

Nếu hiện tượng vượt biển bị kết tội là vọng ngoại, vong bản, hiện tượng lấy chồng ngoại quốc bị cho là ham giàu và hiện tượng du học và định cư sau du học bị cho là vị kỷ, ham sang giàu thì phải chăng Việt Nam từ sau năm 1975 cho đến ngày nay đã sản sinh quá nhiều kẻ phản bội Tổ Quốc? Hay là người dân Việt đã và đang tìm cách cứu tương lai cho họ và gia đình họ?

Phải chăng những hào nhoáng bên ngoài của chính sách cởi mở, cải cách, và sửa sai chưa và không đủ sức thu phục lòng tin của người Việt sau nhiều năm chiêm nghiệm thực tế. Sự tìm cách đưa con cháu hay cả gia đình ra khỏi nước bằng nhiều hình thức khác nhau của người dân Việt đã chứng minh các chính sách đang thực hiện trong nước dù thay đổi, mở hay cởi bao nhiêu vẫn không phát triển được tài năng của con cháu họ.

Việc âm thầm đưa con ra khỏi nước của người dân Việt đã chứng minh hùng hồn thực hiện phương cách “Anh muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm; tôi chỉ nghe vậy nhưng làm theo cách của tôi”. Đây là một sự thật phủ phàng mà chính giới lãnh đạo Việt Nam không thể nào phủ nhận nếu họ thực sự đối diện với lương tâm của họ. Điều buồn cười là chính họ cũng tuồn con cháu họ ra nước ngoài du học để tìm đường tiến thân hay định cư.

Sự thất thoát nhân tài do chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại ở Việt Nam. Mặc dù phê phán chế độ độc đoán của thời quân chủ phong kiến, chế độ phong kiến biến dạng của cộng sản không khác nào lối “Ý vua là ý trời! Nghịch ý vua là xử chém!” của thời vua chúa xa xôi. Áp dụng chế độ độc đảng, độc quyền theo kiểu phong kiến biến dạng để kiểm soát tư tưởng của người dân, điều khiển hành động của người dân và thống trị đời sống tinh thần nhân dân, giới lãnh đạo Việt Nam đã bóp chết nguồn chất xám ngay trong cái nôi của nó.

Đã có biết bao nhiêu người giỏi đề cập trung thực chuyện “ở truồng của vua” nhưng vua vẫn khăng khăng là đang mặc chiếc áo đẹp. Rốt cuộc cho việc phủ nhận này là những người như Nguyên Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), cựu nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư lê Thị Công Nhân hoặc bị kiểm điểm hoặc bị cô lập, quấy rối, hành hung hay giam cầm. Tiếc thay cho Việt Nam của chúng ta! Những người tài như thế đáng ra phải có cơ hội phục vụ cho sự phú cường và độc lập của đất nước, trí tuệ và tuổi xuân họ đều bị tàn phá và tiêu hao!

Nhật Bản không được thiên nhiên ưu đãi như Việt Nam nhưng là một cường quốc hàng đầu của châu Á với một tiềm lực kinh tế hàng đầu của thế giới. Là một quần đảo trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như núi lửa động đất, dân tộc Nhật đã đưa nền kinh tế và đời sống xã hội của họ ngày càng cao. Vì ý thức được mức kìm hãm của chế phong kiến và những liên quan, Minh Trị Thiên Hoàng đã dứt khoát xóa hẳn những hệ lụy của chế độ này và xúc tiến việc duy tân cho đất nước theo phong cách Âu Mỹ.

Do phong trào du nhập và áp dụng phong cách làm việc, luật pháp, phong tục, chế độ giáo dục và thương mại theo lối Âu Mỹ, Nhật Bản đã phát triển đồng bộ các ngành quan trọng cho đất nước. Bằng đường lối chính trị không cộng sản, Nhật đã phát triển được nguồn chất xám của quốc gia trong nhiều mặt mà đặc biệt nhất là trong ngành công nghiệp hóa. Chính tiềm lực nhân tài này đã khống chế điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đưa đất nước họ trở nên độc lập, phú cường.

Mỹ giàu có bậc nhất trên thế giới không phải chỉ vì được thiên nhiên ưu đãi mà vì đường hướng chính trị kinh tế xã hội theo lối dân chủ. Sau nội chiến, khác với chế độ lý lịch và phân biệt đối xử theo lối cộng sản tại Việt Nam, các điều luật trong hiến Pháp Mỹ đã bảo vệ quyền lợi công dân một cách bình đẳng và công bằng. Ngoài những việc xây dựng đất nước sau chiến tranh, sử dụng tài nguyên vốn có một cách hợp lý, và áp dụng phương thức làm giàu cho đất nước một cách hiệu lực, Mỹ còn đầu tư và phát triển chất xám cho tương lai đất nước một cách tối đa. Nếu trước nội chiến (1861-1865) Mỹ chỉ có 100 trường trung học công lập thì sau 15 năm(1880) số lượng trường trung học công lập của Mỹ tăng lên đến 800. Sau chiến tranh, Việt Nam có bao nhiêu phần trăm học sinh đến lớp? Trong thời gian 32 năm, Việt Nam đã xây dựng thêm bao nhiêu trường công lập? Và hiện nay đất nước có bao nhiêu phần trăm trẻ em cắp sách đến trường?

Xã hội nghèo nàn và giáo dục lạc hậu cũng là nguyên nhân Việt Nam mất nguồn chất xám. Vì kế sinh nhai của gia đình, nhiều trẻ em Việt Nam hiện nay không thể cắp sách đến trường. Đáng lẽ phải ở lớp trong giờ học, các em lang thang với những xâu bánh, thỏi kẹo, và vé số gọi mời khách mua. Đáng lẽ phải được bắt buộc đến lớp học miễn phí và công bình, lối học kèm dạy thêm và tiền học phí cao trở thành những tấm rào cản cho việc phát triển trí thông minh của các em. Sự âm thầm chịu thua thiệt của các em là hiện tượng nguồn chất xám của tương lai đất nước đang bị hủy hoại dần theo cảnh cơ hàn và sự chênh lệch khá lớn giữa giàu và nghèo trong xã hội. Khác với Việt Nam, Mỹ là một nước tự do nhưng không có nghĩa là trẻ em Mỹ có quyền tự do không đi học. Ngoài những trường hợp đặc biệt do phụ huynh yêu cầu tự dạy cho con ở nhà sau khi nhận chương trình học hay cho con vào các trường tư thục, các trẻ em Mỹ đều được học miễn phí tại trường công lập và đều phải đến trường. Ngay cả những trẻ em khuyết tật hay có yêu cầu đặc biệt cũng được chu cấp giáo dục đầy đủ và hoàn thiện.

Ở Mỹ, phụ huynh nghèo cần trợ cấp tài chính, thực phẩm, y tế hay nhà ở đều phải có giấy chứng thực là con họ đang học ở trường mới có thể nhận được những phục vụ này. Nếu trẻ em Mỹ lảng vảng ngoài đường trong thời gian học từ khoảng tám giờ sáng đến ba giờ rưỡi chiều, sẽ bị cảnh sát chất vấn và đưa trở lại trường ngay.

Ở Việt Nam, các em được đến trường phải chịu lối giáo dục áp đặt theo đường hướng yêu chủ nghĩa xã hội. Vì phải tiếp thu kiến thức đã được đặt sẵn và trả lời bài làm theo những điều đã định, các em này không thể nêu nhận định một cách thành thật sau khi phán xét và suy luận. Các em phải đồng ý theo sự khinh ghét giai cấp giàu có, đề cao giai cấp công nông và căm thù kẻ địch qua các bài văn học, lịch sử và đạo đức Việt Nam. Ngoài ra, các em còn phải coi trọng chủ nghĩa Mác Lê Nin và tôn sùng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như một chân lý sống tuyệt đối.

Có thể nói trường học Việt nam như là những cái khuôn nhào nặn các khối óc non trẻ theo một kiểu nhất định chứ không tạo điều kiện cho học sinh tính độc lập suy nghĩ và phát triển trí thông minh sẵn có. Không như cách thức đào tạo của trường Việt Nam, các trường học ở Mỹ hay ở các nước dân chủ tạo điều kiện cho học sinh học hỏi, tham khảo, và nhận định về các lý thuyết xã hội chính trị và tính cách cá nhân của các vị lãnh đạo của nước họ hay của các nước trên thế giới một cách độc lập và tự do. Có biết bao vị tổng thống Mỹ cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước họ trở nên phú cường và đời sống xã hội của họ ngày càng cao nhưng có vị nào được nêu danh thành thần tượng hóa như lãnh tụ Hồ Chí Minh của Việt Nam? Hơn thế nữa, sau nội chiến, Mỹ tôn trọng những di tích lịch sử của quốc gia chứ không áp đặt mọi người khẳng định ai địch ai ta hay ai phải ai trái. Nhờ quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí đã có nhiều cuốn sách lịch sử và tài liệu ghi lại trung thực những sự kiện trong quá khứ. Đây là những nguồn tham khảo quý giá giúp cho giới trẻ Mỹ thấu hiểu những gì đã xảy ra trong nước họ cũng nhu trên thế giới. Đồng với sự lợi ích của quyền tự do này, lối học tìm hiểu, phân tích và rút ra kết luận giúp cho học sinh Mỹ có thể phát triển tư duy một cách độc lập và thông minh. Do những lẽ này mà các lãnh vực giáo dục, nghiên cứu và khoa học của Mỹ phát triển nhanh và mạnh.

Dù bộ giáo dục Việt Nam cố gắng thực hiện mục tiêu đào tạo những con người yêu Xã Hội Chủ nghĩa như thế nào, vẫn không thể thành công vì sự mâu thuẫn giữa lý thuyết trong nhà trường với những chuyển biến mới của sự chênh lệch giàu nghèo của xã hội Việt Nam hiện nay. Thêm vào đó, sự tìm hiểu thế giới bên ngoài qua hệ thống thông tin toàn cấu đã làm lớp người trẻ Việt nam không còn tin vào những gì họ học trong nhà trường và tỏ ra thờ ơ khá nhiều với lịch sử nước nhà. Sự mất lòng tin đối với đường lối giáo dục của Việt Nam không những đã hủy diệt tính ham học của thế hệ trẻ mà còn tạo nên sự bất mãn ghê gớm trong lòng phụ huynh. Dưới áp lực thi cử của đại học, phụ huynh đã tốn không biết bao nhiêu công sức đưa đón các con họ từ các lớp học thêm rồi cuối cùng phải tìm đường cho con ra nước ngoài học tập. Trong khi những phụ huynh có điều kiện tài chính tuồn con ra khỏi nước, phụ huynh nghèo đã để con họ thất học ngay tại bậc tiểu học. Trong khi nhiều lớp mở ra cho bậc trung học và đại học thì các lớp ở bậc tiểu học giảm dần đi. Dưới hai hình thức này, các trường học Việt Nam dần dần ở dạng đầu voi đuôi chuột. Trong khi các em nhỏ không được đến trường khiến nguồn thông minh từ những bộ não non nớt ấy bị giết lần mòn, những em đến trường vô hướng sau khi tốt nghiệp.

Các nhà quản lý giáo dục Việt Nam không phát triển được nguồn nhân tài lớn rộng của đất nước vì không tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một ngành giáo dục ngang tầm với chương trình giáo dục quốc tế.

Do tham nhũng, hối lộ và phe cánh, việc xây dựng trường học, phát triển trang thiết bị và lương giáo viên thực hiện một cách trì trệ và hình thức. Trong khi các em học sinh ở Việt Nam phải chịu cảnh thiếu lớp thiếu trường, thiếu lớp và trang thiết bị thiếu chất lượng hàng năm, các trường ở Mỹ phải chuẩn bị chu đáo cho sự xét duyệt phẩm chất trước ngày khai giảng.

Không chỉ những người chịu trách nhiệm trong ngành giáo dục mà ngay cả các giới lãnh đạo trong các ban lãnh vực khác của Mỹ cũng quan tâm đến sự phát triển nhân tài trong nước họ. Các phong trào và đạo luật “Xây dựng một đứa trẻ cần sự hợp tác của một cộng đồng”, hay “Không để một đứa trẻ nào bị thua thiệt” đã huy động thầy cô giáo, những câu lạc bộ dạy thêm, những công tác thiện nguyện đã giúp đỡ cho nhiều em học sinh có điều kiện học, học giỏi và phát triển trí thông minh.

Trong các bài báo và sách vở của nước cộng sản, các nhà đại tư bản kếch xù Mỹ thường bị kết án là giai cấp bóc lột; thực tế, họ là những người đóng góp rất nhiều trong công tác trợ cấp xã hội qua việc đóng thuế lợi tức cá nhân. Các tỉ phú như vua dầu khi Rockefeller, vua thép Andrew Carnagie, và vua điện toán Bill Gate đã cống hiến số lượng tài chính đáng kể cho các phúc lợi xã hội Mỹ như xây trường học, bệnh viện, thư viện, đại sảnh dành cho phòng hội họp, và các trang thiết bị quan trọng khác cho các phòng thí nghiệm trong các trường học. Nhờ những đóng góp tài chính và những công tác thiện nguyện này mà Mỹ phát triển nhân tài ngày càng nhiều hơn. Hiện nay, Việt Nam có nhiều người giàu đến độ không ai hiểu đất nước còn tiến lên chủ nghĩa cộng sản hay đang ngược về xã hội Tư Bản.

Dù ở hướng nào, những người giàu trong xã hội Việt Nam hiện thời cũng được mang danh là giới Tư Bản đỏ. Trong lúc giới này thi đua phát triển ngành du lịch như xây dựng các nhà hàng, khách sạn, quán rượu, chỗ nhảy đầm, sân golf, trường đua ngựa... thì ngành giáo dục cho sự phát triển công nghiệp hoá không hề được quan tâm. Trong khi các bậc cha anh nhậu nhẹt ăn chơi bàn tán những mối lợi về các tổ chức ca nhạc, trình diễn thời trang, tuyển chọn ca sĩ, tuyển chọn hoa hậu... thì các chất xám trẻ lang thang trên các vỉa hè gọi mời người mua thuốc lá, mua đậu phọng, mua kẹo cao su, hay mua vé số... Thử hỏi nguồn chất xám của tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chính vì đường lối chính trị nhập nhằng, kinh tế đình trệ và xã hội mâu thuẫn mà nguồn chất xám của đất nước bị mất dần đi. Sau thời gian cấm vận, một số người trốn ra khỏi nước trước đây tin rằng Việt Nam đã thực sự đổi mới, quyết định quay về góp phần xây dựng đất nước, nhưng sau đó đã chán nản rút lui vì những thực tế không tốt đẹp như họ tưởng. Những người này thường lớn tuổi, số lượng ít ỏi và ngày một giảm dần đi. Nếu ngay sau thời gian cấm vận, người Việt ở Hải Ngoại nghĩ đến sự góp kiến thức học hỏi ở nước ngoài để xây dựng đất nước bao nhiêu thì ngày nay họ không còn tư tưởng ấy nữa.

Có người nói rằng “Trước đây tôi nghĩ là sẽ về Việt Nam làm việc và sống cho đến chết nhưng về nước thấy cung cách làm việc chẳng tiến bộ gì tôi thà ở xứ người mà thấy giúp ích hơn. Người khác tuyệt vọng rằng: “Còn lâu lắm! Họ mạnh quá mà! Phải thêm một đời nữa, một thế hệ nữa thì may ra đất nước ta mới có Dân Chủ! Ngày đó chắc chúng ta cũng chết hết rồi!” Người khác chua chát hơn: “Muốn về Việt nam làm việc hay ở phải có tiền. Nhưng tiền chỉ đủ làm vừa lòng một người mà không làm vừa lòng nhiều người khác thì đâu sống nổi. Chẳng thà ở nước dân chủ, có luật lệ hẳn hoi, không bị ai bắt chẹt, sống an toàn hơn!”

Đa số đều than van về vẻ giả tạo khang trang của đất nước, về sự khăng khăng cố chấp của những người lãnh đạo đất nước và những chính sách cực đoan làm mất nguồn nhân tài. Thực tế, nhiều trí thức ở Việt Nam có tài nhưng không có Đảng đều không được sử dụng hay sử dụ ng một cách không thích đáng. Trong khi đó, những cán bộ có bằng cấp tại chức, đến sở để nhận lương Nhà Nước chứ không hề giúp ích gì cho sự phát triển một nền khoa học hiện đại, một nền kinh tế công nghiệp ngang tầm với thế giới. Vì đường hướng nửa nạc nửa mỡ, giới lãnh đạo Việt Nam đã không tạo được sự tin tưởng và lôi kéo lại nguồn chất xám đã mất mà còn tuồn cho các công ty lớn của nước ngoài ngay tại trong nước một số lượng khá lớn. Sau khi trở về nước, các du học sinh Việt Nam thường kiếm việc làm ở các công ty nước ngoài vì mức lương và chế độ ưu đãi hậu hỉ hay chỉ làm cho các cơ quan Nhà Nước một thời gian rồi cũng chuyển sang làm việc cho các công ty nước ngoài như Nam Hàn, Nhật, Pháp, Úc...vì chán chê với lối làm việc quan quyền, phe cánh, hối lộ và tham nhũng của các quan chức Việt Nam.

Nếu trước đây luồng nhân công lao động Việt Nam tình nguyện sang các nước Xã Hội Chủ Nghĩa và các nước dân chủ khác làm việc để mưu sinh cho gia đình thì ngày nay những công ty lớn của nước ngoài đầu tư thu hút nguồn nhân công rẻ mạt và nguồn nhân tài từ số du học sinh ngay tại nước Việt Nam một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây có thể coi là máu chất xám của Việt Nam chảy vào các nước khác ngay ở trong nước. Điều đáng buồn cho hiện tượng này là nguồn tài chính đầu tư cho những sinh viên du học đã bị lấy mất và sự thông minh của người Việt Nam bị các quốc gia khác, qua các công ty của họ, sử dụng.

Cứ như thế, dân tộc ta suốt đời mãi chịu kiếp làm thợ làm công chứ không bao giờ có cơ hội làm chủ để có cơ hội đưa nền kinh tế đất nước mở mang, phát triển và độc lập.

Phải chăng giới lãnh đạo của đất nước hiện nay vẫn còn muốn dân tộc gắn bó với “giai cấp công nhân tiên phong”? Phải chăng Đảng và Nhà Nước chỉ muốn dân tộc ta tiếp tục làm nô lệ cho các nước ngoài? Phải chăng sự luồn cuối với các nước lớn là số kiếp mà cả dân tộc chúng ta phải chịu đựng muôn đời? Và phải chăng lòng kiêu hãnh của chúng ta vẫn còn tồn tại khi nhìn những người lãnh đạo đất nước chầu chực các nước lớn để xin xỏ và quỵ lụy điều nọ điều kia trong các chuyến công du của họ?

Đất nước ta chỉ có thể trở thành độc lập và phú cường thật sự khi nguồn nhân tài của dân tộc được bảo tồn, phát triển và sử dụng đúng mức. Muốn thế, Việt Nam cần dứt khoát với những hệ lụy của chế độ phong kiến, những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ và cực đoan.

Qua kinh nghiệm của lịch sử trong và ngoài nước, chúng ta cần nhìn thấu đáo mọi sự việc để xét đoán một cách sáng suốt phương cách đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nước lớn, và được độc lập tự trị như Nhật Bản.

Muốn lèo lái đất nước đến chỗ độc lập phú cường, muốn giữ gìn tài sản tinh hoa, và phát triển tinh thần dấn thân cống hiến của cả dân tộc, Việt Nam trước hết cần một nhân tài xuất chúng - một người vừa có tâm, vừa có tài trong việc lèo lái đất nước theo một hướng mới mẻ và tươi đẹp. Điều này thực hiện sớm hay muộn tùy vào sự can đảm và lòng nhiệt thành của người ấy

Posted: Tue Oct 07, 2008 2:44 am
by khieulong
Ngày Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008 (Kỳ 3: Cầu siêu các vong linh tử sĩ)

Sunday, October 05, 2008

Image
Hàng trăm cựu tù nhân chính trị cùng thân quyến và các Phật tử cúi đầu trước hình của bảy vị tướng quân lực VNCH.

Bài và hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt
Tường trình từ Dallas, Texas

DALLAS, Texas (NV). - Trong ngày cuối cùng của “Ngày Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008” tổ chức tại Dallas, 5 Tháng Mười năm 2008, có hai buổi lễ cầu hồn tại nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp và lễ cầu siêu tại chùa Ðạo Quang, Dallas, cho các vong hồn tử sĩ và đồng bào tử nạn trong chiến tranh cũng như trên đường vượt thoát tìm tự do.

Chúng tôi có mặt tại chùa Ðạo Quang vào lúc 11 giờ sáng, vừa lúc chùa đãi cơm chay cho khoảng 100 cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (TNCTVN) và gia đình cùng Phật tử đến tham dự. Ông Lê Hoàng Minh, phụ tá Hòa Thượng Trụ Trì Thích Tịch Ðức cho biết không phải chỉ hôm nay chùa mới có bữa cơm chay thết đãi Phật tử đến chùa dự lễ mà mỗi Chủ Nhật chùa đều tổ chức một bữa cơm thân mật như thế.

Trong chánh điện trang nghiêm, hình của bảy vị tướng quân lực VNCH được đưa đến bày dưới chân tượng Phật. Bà Khúc Minh Thơ, hội trưởng Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, trưởng ban tổ chức Ngày Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008 cho biết:

“Hai vị quả phụ hai vị tướng Phạm Ngọc Sang và Lê Trung Trực đã mang di ảnh chồng đến nhờ tôi mang tới chùa để hai vị tướng này cùng đồng đội, chiến hữu đã khuất cùng được nghe kinh. Khi họ còn sống, họ đã chiến đấu bên cạnh anh em thì nay gia đình mong rằng họ sẽ tiếp tục bên anh em đã khuất.”

Ngoài di ảnh hai vị tướng trên, chung tôi nhận thấy còn có di ảnh tướng Phạm Văn Phú, tướng Nguyễn Chánh Thi, tướng Nguyễn Văn Ðiềm... Phát biểu trong buổi lễ cầu siêu, bà Khúc Minh Thơ chân thành cám ơn hòa thượng trụ trì đã cho phép và chủ trì buổi lễ cầu siêu để hương linh những người đã khuất được siêu thoát. Bà nói tiếp:

“Ðiều này chứng tỏ không ai quên họ, những người chồng, người cha của chúng con, những người đã hy sinh cho đất nước, dân tộc.”

Ông Huỳnh Văn Phú, cựu trung úy, đại đội trưởng Ðại Ðội Trinh Sát thuộc một Sư Ðoàn Bộ Binh, người mang di ảnh tướng Nguyễn Văn Ðiềm đến chùa trong lễ cầu siêu cũng có vài lời với hòa thượng trụ trì:

“Con mang di ảnh vị tướng của chúng con đến đây để được nghe kinh Phật. Trong cơ duyên nay, con kính xin hòa thượng cho phép con được để di ảnh vị tướng của chúng con tại chùa để sớm tối được nghe kinh Phật.”

Ðiều đặc biệt trong lễ cầu siêu tại chùa Ðạo Quang là Hòa Thượng Thích Tịch Ðức đã cho phép đồng bào làm lễ chào quốc kỳ VNCH ngay tại chánh điện tôn nghiêm.

Tiếng kinh Phật ngân vang dưới sự chủ trì của hòa thượng trụ trì cùng các vị chư tăng chùa Ðạo Quang như muốn mang ánh sáng vào đạo pháp của Ðức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni đến vong linh tử sĩ vị quốc vong thân thoát khỏi vòng luân hồn, sinh diệt.

Trong phần phỏng vấn của nhà văn Huy Phương (đài SBTN) trước buổi lễ, bà Khúc Minh Thơ cho biết:

“Tôi đã từng nói là Khúc Minh Thơ không bao giờ bỏ cuộc từ hai mươi mấy năm trước. Ðứng dưới mái chùa ngày hôm nay, lòng tôi rất thanh thản mặc dù tôi đã nhận được nhiều sự chửi mắng thậm tệ, nhưng chúng tôi luôn lấy việc làm thay lời nói. Các anh em đã về đây, gặp nhau trong vui mừng, việc đó là âu trả lời thích đáng nhất cho những ai chống đối, đánh phá tôi, chống đối Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam trong thời gian qua.”

Nhân dịp này, vào tối Thứ Bảy, 4 Tháng Mười tại Special Events đại nhạc hội “Ba Hình Ảnh-Một Cuộc Ðời” đã được tổ chức long trọng với sự có mặt của khoảng 3,500 người,

Ngoài Fashion Show do Kathy Ðặng (Gia Ðình Việt-Mỹ) thiết kế và đạo diễn, phần ca nhạc phong phú gồm các ca khúc về lính với sự góp mặt của ca sĩ Gia Ðình Việt-Mỹ Randy, Vân Anh và một 1 số ca sĩ, con em cựu tù nhân chính trị của hai trung tâm ca nhạc Asia và Thúy Nga như: Như Quỳnh, Diễm Liên, Nguyên Khang, Thế Sơn, Trần Thái Hòa, Hồ Hoàng Yến... cũng như nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, và ban tù ca Xuân Ðiềm. Ðặc biệt có mặt nhạc sĩ Phan Văn Hưng đến từ Úc Châu với các bài ca đấu tranh của anh với tình cảm dành cho các cựu tù nhân chính trị. Hai MC nghệ sĩ Nam Lộc và Việt Dzũng đã gởi đến khán giả hai bài hát của mình, “Món quà cho quê hương” (Việt Dzũng) và “Sài Gòn ơi vĩnh biệt” (Nam Lộc), là hai ca khúc đã nhận được những tràng vỗ tay vang dội đầy xúc động của những cựu tù nhân chính trị.

Buổi đại nhạc hội kết thúc lúc nửa đêm với những tình cảm lưu luyến. (V.Ð.T.)

Posted: Thu Oct 09, 2008 12:37 am
by khieulong
Tư bản hay Xã hội? Quan trọng nhất là dân chủ

Ngô Nhân Dụng

Từ năm 1989 không còn ai đặt câu hỏi nên lựa chọn Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội nữa. Cho tới mấy tuần nay, vấn đề đó lại được gợi lên. Nhưng, chúng ta sẽ thấy, đó là một vấn đề giả, một vấn đề giả từ cả trăm năm trước đây.

Nhưng nhiều người mới nêu lên vấn đề đó với lòng thành thật. Thế giới đang chứng kiến cảnh chao đảo của các thị trường chứng khoán và các ngân hàng. Trong hai ngày qua thị trường New York tụt mất hơn 10% giá trị. Quốc hội và chính phủ Mỹ đã đồng ý kế hoạch giải cứu tốn 700 tỷ đô la rồi mà vẫn chưa tạo lại được niềm tin vào thị trường. Nhiều người ở Âu Châu tuyên bố thời đại thống trị của chủ nghĩa tư bản, hoặc ít nhất là chủ nghĩa tư bản theo lối Anglo Saxon (Mỹ và Anh Quốc) đã chấm dứt. Ngay sau đó, các thị trường chứng khoán và ngân hàng ở Âu Châu cũng lung lay. Thị trường Nga đã tụt giảm từ đầu năm, giữa Tháng Chín chính phủ Nga đã phải trợ giúp 100 tỷ, hôm qua mới đưa thêm 37 tỷ cho các ngân hàng vay, với những điều kiện còn dễ dãi hơn chính phủ Mỹ đặt ra cho các ngân hàng của họ. Một nước thịnh vượng lên chỉ nhờ dầu lửa tất nhiên cơn khủng hoảng cũng gia tăng khi dầu xuống giá.

Chúng ta chứng kiến cảnh nhà nước can thiệp để cứu thị trường ở khắp thế giới! Ngày xưa Tổng Thống Reagan nổi tiếng với lời tuyên bố khi tranh cử: “Chính phủ không phải là lời giải đáp cho các vấn đề của nước Mỹ! Chính cái chính phủ đó là vấn đề cần giải quyết!” Ông là vị tổng thống mở cánh cửa cho chủ thuyết kinh tế tự do được hồi sinh trong 25 năm qua, lên mạnh nhất trong thời Tổng Thống Bush. Bây giờ chúng ta chứng kiến cảnh các nhà tư bản tới yêu cầu chính phủ giúp giải quyết cuộc khủng hoảng của chính họ. Ngày Thứ Hai, ông cựu chủ tịch ngân hàng Lehman (đã phá sản hôm 15 Tháng Chín) được mời ra điều trần trước các dân biểu quốc hội, ông nói rằng mỗi đêm ông vẫn tự hỏi và cho đến khi chết ông sẽ còn tự hỏi không biết tại sao chính phủ Mỹ không giải cứu công ty của ông mà vài ngày sau lại cứu công ty bảo hiểm AIG!

Ở bên Anh, chính phủ đang dùng hàng trăm tỷ Mỹ kim cứu những ngân hàng lớn nhất nước, có ngân hàng gần như được quốc hữu hóa một phần. Nhưng các đại biểu quốc hội thuộc đảng Bảo Thủ đều đồng ý với các biện pháp của chính phủ thuộc đảng Lao Ðộng. Dù cánh tả hay cánh hữu, hai đảng lớn ở Anh đều coi việc chính phủ can thiệp để cứu thị trường là chuyện tự nhiên. Một nhà bình luận người Anh viết: Ở nước Anh bây giờ, ai cũng theo chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội.

Nhưng ở Mỹ thì còn nhiều cuộc tranh luận về chủ thuyết kinh tế. Những người rất bảo thủ và những người rất cấp tiến đều chống đạo luật giải cứu 700 tỷ của chính phủ Bush (một chính phủ được coi là bảo thủ), nhưng với những lý do khác nhau.

Nhiều dân biểu Hạ Viện Mỹ chống lại vì họ muốn bảo vệ nguyên tắc “chính phủ không can thiệp vào kinh tế; hãy để cho thị trường hoạt động tự do, lời ăn lỗ chịu!” Họ tố cáo đạo luật đó biến đang nước Mỹ thành một nước “xã hội chủ nghĩa!” Có người còn nói đây là một “hành động quốc hữu hóa” lớn nhất kể từ sau cuộc Cách Mạng Tháng Mười năm 1917 ở Nga! Nhiều dân biểu thiên tả chống, nhưng với lý do ngược lại: Các nhà tư bản đã được tự do nhiều quá nên làm bậy! Tại sao người dân đóng thuế phải đem tiền cứu họ khi chính họ gây ra mối họa mà cả nước phải gánh chịu?

Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 đã làm sống lại cuộc tranh luận từ thế kỷ trước: Chủ Nghĩa Tư Bản hay Chủ Nghĩa Xã Hội?

Nhưng đây là một cách đặt vấn đề sai. Vì đặt căn bản trên những lý thuyết cực đoan mà bây giờ không còn ai tin nữa. Một là lý thuyết kinh tế tự do tuyệt đối. Hai là lý thuyết cộng sản, dùng nhà nước để điều hành tất cả mọi hoạt động kinh tế, từ đó nhà nước thành chủ nhân của cả xã hội, can thiệp vào mọi sinh hoạt không riêng gì lãnh vực kinh tế.

Bây giờ trên thế giới không còn ai muốn theo những đường lối đó, chắc chỉ còn trừ xứ Bắc Hàn vẫn theo chủ nghĩa cộng sản.

Nếu vấn đề trên là giả, thì đâu là sự lựa chọn thực sự? Từ hàng trăm năm nay, vẫn có một vấn đề cho mọi người chọn lựa, là làm sao cân bằng quyền lực giữa thị trường tự do với vai trò của nhà nước.

Chính phủ Mỹ đã nhiều lần can thiệp vào thị trường, lần lớn nhất là sau cuộc khủng hoảng năm 1929. Những đạo luật ra đời dưới thời Tổng Thống Franklin Roosevelt đã chấm dứt một thời kỳ “tư bản sơ khai” ở nước Mỹ, hệ thống tài chánh và ngân hàng được đặt trong vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Sau đó còn nhiều lần khác, gần đây nhất là năm 1989, khi chính phủ Bush (thân phụ ông Bush bây giờ) đứng ra giải cứu các ngân hàng tiết kiệm sau mấy năm khủng hoảng khiến hàng ngàn ngân hàng nhỏ sụp đổ. Ðó là chưa kể những vụ can thiệp lẻ tẻ vào năm 1998 khi một quỹ đầu tư lớn sập suýt nữa kéo theo cả thị trường New York, hay là hồi 1987 khi thị trường New York mất 22% giá trị trong một ngày Thứ Hai Ðen.

Ở nước Mỹ, cuộc cạnh tranh giữa “nhà nước” và “thị trường” không bao giờ ngừng. Có những người nhiệt liệt tin rằng cả guồng máy nhà nước chỉ là cái chướng ngại làm cho thị trường không phát huy được những khả năng giúp cho mọi người sống sung túc, thịnh vượng hơn. Cứ để yên cho nó tự do, thị trường sẽ tự điều chỉnh và tự giải quyết mọi khó khăn. Ngược lại, có những người tin tưởng triệt để là nhà nước không thể nào nhác mắt bỏ qua không giám sát các hoạt động của thị trường. Không những nhà nước đóng vai điều hòa quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội, mà còn lo giúp các nhà tư bản hoạt động trong trật tự để bảo vệ chính họ.

Cuộc tranh luận giữa hai lối suy nghĩ đó đã bắt đầu từ hàng trăm năm, và có thể sẽ còn kéo dài trong hàng trăm năm nữa!

Các nước Âu Châu, đặc biệt là các nước Bắc Âu cũng có những cuộc tranh luận như vậy, nhưng những nước có lịch sử lâu đời (hay gọi là già nua) này nghiêng về phía đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp dân chúng. Nhưng về mặt giám sát thị trường thì có những nước Âu Châu cũng không khác gì nước Mỹ. Anh Quốc là một thí dụ. Người Anh đều đồng ý phải để chính phủ lo vấn đề y tế, chính phủ phải lo vấn đề chuyên chở. Nhưng chính phủ Anh lại cho các xí nghiệp và ngân hàng được tự do không thua gì chính phủ Mỹ.

Cuộc chạy đua giữa thị trường và nhà nước diễn ra hàng ngày, mỗi bên đều cố giành thêm quyền cho mình. Hễ chính phủ làm thêm luật, là các nhà kinh doanh khó chịu và phản đối, dù đó là luật kiểm soát thực phẩm hay luật bắt các ngân hàng phải giữ số vốn dự trữ cao. Ngược lại, guồng máy hành chánh của nước nào, dưới chế độ nào cũng tìm cách mở rộng quyền hành của mình bằng cách đặt ra những luật mới!

Cho nên, sự lựa chọn của mỗi quốc gia sẽ khác nhau. Mỗi nước sẽ ấn định một thế quân bình giữa quyền giám sát của nhà nước và quyền tự do của thị trường. Bình thường, thì cuộc tranh đấu giữa hai bên diễn ra liên tục, không ngừng, mỗi bên đều tìm cơ hội giành lấy thêm quyền cho mình.

Ai đứng làm trọng tài cho cuộc chạy đua đó? Ở những quốc gia dân chủ tự do thì trọng tài cuối cùng vẫn là người dân. Chính các cử tri khi đi bỏ phiếu sẽ lựa chọn những đường lối kinh tế của vị tổng thống và của quốc hội sắp tới.

Nhưng người dân bình thường có đủ kiến thức để chọn một đường lối kinh tế tốt nhất hay không? Ðây cũng là một câu hỏi sai. Trong thế giới loài người không có cái gì là tối hảo! Người dân một nước chọn một đường lối là theo nhu cầu của họ, khi họ đi bỏ phiếu. Nếu họ chọn sai, họ sẽ gánh hậu quả. Dân chúng có quyền chọn sai, đó là bản chất của chế độ tự do dân chủ. Nhưng sau mấy năm, họ thấy sai họ có quyền sửa đổi bằng lá phiếu!

Người dân Mỹ vẫn làm công việc lựa chọn và thay đổi đó từ hơn 200 năm nay. Sau khi kinh tế nước Mỹ trì trệ trong thập niên 1970 chẳng hạn, Tổng Thống Reagan nhân cơ hội đó mở cửa cho giới kinh doanh được tự do hơn, kêu gọi giảm bớt luật lệ và guồng máy nhà nước thi hành luật. Lúc đó ông Reagan được dân Mỹ hoan nghênh, vì người bình thường không phải chủ xí nghiệp hay ngân hàng cũng cảm thấy đang khó thở muốn được cởi trói! Nhưng bây giờ, cuộc khủng hoảng tài chánh khiến cả nước Mỹ thấy những nhà tư bản đã tạo nghiệp mà cả nước phải chịu cảnh khốn đốn. Cho nên cả hai ứng cử viên tổng thống Mỹ năm nay đều kêu gọi phải xét lại, cần hạn chế quyền tự do của các nhà tư bản để họ bớt làm bậy. Tức là lại thêm luật lệ và thêm người lo việc thi hành luật!

Người ta thường nói sức mạnh của nước Mỹ là do hệ thống kinh tế tư bản. Không phải như vậy đâu. Nước này họ mạnh chính vì họ giữ được một chế độ tự do dân chủ hơn 200 năm qua.

Posted: Mon Oct 13, 2008 4:30 pm
by tranphuongdong
Lòng Tự Hào,

Bảo Giang

Người ta có hai điều đáng để tự hào là : Sống đời lương thiện vói chính mình và đem sự lương thiện, tài đức của mình vào làm tăng tiến thêm tinh hoa cho xã hội. Nhưng người có lòng tự trọng là người cảm thấy tủi hổ, nhục nhã vì những hành vi bất lương, kém giáo dục do người đồng chủng gây ra.…

Thật vậy, nói về lòng tự hào, tôi tin rằng nhiều người chưa dễ quên hình ảnh của một vận động viên bơi lội Mỹ, cô Janet Evans đã biểu lô khi đứng trên lễ đài nhận tấm huy chương vàng trong kỳ thế vận hội Olimpic tai Soul vào năm 1988

Janet Evans năm ấy 17 tuổi, đi dự Olimpic lần đầu tiên và đã thắng được 3 huy chương vàng. Những huy chương ấy là tài năng. Nhưng lòng tự hào của Janet lại nằm đúng vào lúc, đôi mắt thơ ngời sáng nhìn theo bóng cớ, tai nghe hồn non sông như lòi gọi mời vượt thời gian trổi vang vang theo bài quốc ca. Bỗng chốc, sức sống như rung động đến từng làn da thớ thịt, rồi dòng nưóc mắt thánh thót lăn dài trên đôi gò má…Mặc cho dòng nước mắt tuôn rơi, cô vẫn hát theo lời tự hào của non sông…

Tôi cho rằng đó là hình ảnh tuyệt mỹ đã được biểu lộ từ tấm lòng lương thiện, mang khát vọng của đời mình tô thêm nét đẹp cho quê hương, xứ sở, nơi mình đã được sinh ra và lớn lên để làm người.

Janet Evans tự hào là phải. Cô tự hào không phải chỉ vì thành tích của cá nhân, nhưng còn là niềm tự hào to lớn từ dân tộc ấy, nơi đã sinh ra và làm trưỏng thành nhân loại. Nơi có những vĩ nhân đã giải phóng dân tộc, mở ra một trường dân chủ cho nhân loại. Ở đó có George Washington và ở đó có Abraham Linlcon, người đã giải phóng kiếp nô lệ của con ngưòi. Và ở nơi đó đã ấp ủ, hơn thế, như luồng gió mới truyền vào hơi thở của thế giới tư tưỡng Nhân Quyền và Dân Quyền. Và cũng là nơi, Tự Do, Công Lý của xã hội được tôn trọng và đặc biệt, nơi ấy đã cưu mang con người bằng tình người lương thiện.

* Anh nói thế, chẳng lẽ chỉ có một mình Janet Evans hay dân Mỹ mới có lòng tự hào và lòng tự trọng dân tộc, còn những người không thắng cuộc, và các dân tộc khác không có lòng tự hào về đất nước và con người của mình hay sao?

- Ồ, dĩ nhiên, mỗi người và mỗi dân tộc đều có lòng tự hào và tự trọng về thành tích và về dân tộc mình chứ. Ngay như chúng tôi đây, tuy người của chúng tôi chưa một lần đứng trên bục cao danh dự của quốc tế để lĩnh nhận những huy chương cao quý của nhân loại, Nhưng chúng tôi có khi nào không hãnh diện và tự hào về giòng dõi Việt tộc của chúng tôi đâu.

Này nhá, từ khởi đầu cuộc dựng nước và cứu nước của dân Việt, sách sử nước tôi đã ghi lại bao nhiêu nét hùng vỹ. Từ những cuộc kháng Minh, diệt Mông, đánh Hán đuổi Tây đến những ngày chinh chiến Quốc - Cộng, chẳng có khi nào mà không có những anh hùng của non sông làm rạng danh giòng giống Lạc Hồng. Anh mở sách ra mà xem, sau các vua Hùng là những triều Lý Lê Trần Nguyễn với những Trưng Nữ Vương, Ngô Quyền, Lý thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Bình Định Vương Lê Lợi, rồi Quang Trung Nguyễn Huệ đến Hàm Nghi, Phan đình Phùng, Hoàng hoa Thám, Ngô đình Diệm… Cà tây lẫn tầu đã dễ gì mà quên được những tên tuổi ấy. Rồi đến cuộc chiến bảo vệ quê hương, những danh tướng làm rạng màu cờ sắc áo Tự Do của giống nòi cũng hiển lộ thần oai vì dân tử tiết như Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Lê đăng Vỹ, Trần văn Hai…Tất cả là hồn thiêng sông núi còn sinh động trong lòng chúng tôi, lẽ nào chúng tôi không tự hào.

Còn hơn cả lòng tự hào nữa đấy. Chúng tôi đi mà dám ngửa mặt lên nhìn đời. Này nhá, khi Tổng Thống Ngô đình Diệm, tuy lãnh đạo đất nước chưa bao lâu, nhưng đến xứ người thì được anh hùng của dân tộc Hoa Kỳ, và là tổng thống đương nhiệm, thống tướng Dwight Eisenhower, đưa cả nội các ra tận chân máy bay mà đón rươc với đại lễ dành cho nguyên thủ một quốc gia.

Kế đến, trong cuộc tỵ nạn Việt cộng mới cách đây vài ba chuc năm thôi, hàng ngũ người tỵ nạn cộng sản với hai bàn tay trắng bị bóc lột hôm nào, nay đã thành một lực lượng xây dựng được chỗ đứng vững chắc nơi mình sinh sống. Họ trưởng thành trong lương thiện và còn góp mặt trong tất cả các cơ chế từ hành pháp đến lập pháp và tư pháp tại các cấp chính quyền địa phương. Thuyền Nhân tỵ nạn cộng sản năm nào nay đã có những danh vị hàng quốc tế. Những danh tánh như Dương Nguyệt Ánh, Eugen Châu, Elizabeth Pham…. đã là những điển hình, chứng minh cho lòng tự hào và tự trọng của người Việt Nam trên trường quốc tế đấy!

- Phải những điều ấy thì đúng và ai là người Việt mả không tự hào về non sông đất nưóc cũng như dân tộc của minh. Nhưng tại sao, Ngài Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội, lại bảo: “ chúng tôi cảm thấy nhục nhã khi cầm tờ hộ chiếu Việt Nam …” Nóí như thế là nghĩa gì? Có phải là Ngài phỉ báng Dân Tộc Việt Nam và chống đối dân tộc Việt Nam chăng?

- Sao mà lại có những kẻ đặt câu hỏi ngu đến như thế nhỉ? Há những kẻ đặt câu hỏi ấy không biết rằng, nóí như thế là Ngài Tổng Giám Mục đã biểu lộ lòng Tự Trọng của dân tộc một cách cao độ hay sao?

- Ối bác đảng ơi! hởi các đồng chí ơi! Họ bảo nói như thế là sự biểu lộ lòng tự trọng cao tầng đấy. Không phải là chống đối dân Việt Nam đâu! Chỉ có lủ phản động tin chúng chứ bác đảng nào mà tin cho cái “ný nuận” ấy được nhỉ?

- Này, không phải có mình tôi hay có vài người chấp nhận suy nghĩ ấy đâu. Nhưng là toàn dân Việt Nam đều nhận chân gíá trị như thế. Mà không phải chỉ riêng người Việt Nam tâm phục khẩu phục lời của Ngài Tổng Giám Mục công bố trước mặt những cán cộng cao cấp trong hàng ngũ gọi là cửa quyền Hà Nội đâu, nhưng là cả loài người văn minh, có đạo lý và luân lý trong cuộc sống đời thường đều công nhận lời nói với lòng tự trọng của Ngài đấy!

Bởi vì người có lòng tự trọng là người thấy tủi hổ vì những hành vi bất lương, thiếu đạo đức, thiếu gíao dục của người đồng chủng với mình gây ra!( ở đây được hiểu là do nhà cầm quyền Việt cộng gây ra)

Giải thích cách khác, bớt nhức nhối và đau đớn là vì Ngài thường đi ra ngoài nước, Ngài thấy chính quyền các nưóc thì tôn trọng nhân dân, tôn trọng quyền sống, quyền làm người cơ bản của đồng bào, tôn trọng sự tự do, tôn trọng Nhân Quyền, tôn trọng Nhân Phẩm và đạo đức xã hội. Sự tôn trọng ấy đã tạo điều kiện để phát triển về nhân bản và luân lý xã hội làm cho xã hội ngày một tốt đẹp, ngày thêm phát triển. Ngài muốn cho dân ta có được một ngày có những cái vinh dự như thế trên trường quốc tế,

Nhưng than ôi, khi quay về quê hương mình thì Ngài rơi nước mắt khi thấy nhân dân đi kêu oan, đòi đất đòi nhà trên bình diện cả nước. Chính quyền thì mặc sức vơ vét trên những luống cày một cách bất lương, vô đạo. Tệ hơn thế, còn ra sức dùng vũ lực trấn áp tinh thần của đồng bào. Đạo đức xã hội thì suy đồi. Đi đến bất cứ nơi nào thì cũng chỉ thấy cảnh công an, cán bộ cửa quyền tác oai tác quái. Tự Do Dân Chủ Độc Lập Hạnh Phúc của đồng bào chỉ là cái bánh vẽ trên giấy để cho nhà nươc tự do sử dụng mua vui trong cuộc chơi lừa bịp. Bởi vì, thực tế là người ta không thể tìm ở đâu ra sự Tự Do và ấm no của người dân, nói chi đến Hạnh Phúc và Độc Lập như cái khẩu hiệu của nhà nước này dựng lên!

Nhưng mãi đến nay, mới chỉ có một minh Ngài Tổng Giám Mục Hà Nội thay mặt toàn dân mà nói lên lời chân thật, tự trọng ấy. Nhưng ngày toàn dân sẽ hét vào mặt nhà nước Việt cộng như thế cũng không còn là xa nữa đâu.

- Tại sao Ngài Tổng Giám Mục và toàn dân Việt Nam lại thấy nhục nhã vì cái chế độ Việt cộng này?

Đơn giản là vì chúng đã làm tổn thương danh dự và nhân phẩm của Việt Nam trong mấy chục năm qua. Ngày nay, hai tiếng Việt Nam không còn được nhắc trên trường quốc tế với lòng kính trọng vì nơi đó có một giống dân lương thiện, hiền hoà, cần mẫn, can đảm, hiếu khách, đầy lòng tự hào và tự trong về khí phách của hồn thiêng sông núi. Trái lại, đi đến đâu cũng bị soi mói, bị nhìn dưới đôi mắt như những kẻ hạ cấp, trộm cắp thiếu lòng lương thiện, kém văn hóa.

- Tại sao dân Việt ta lai bị nhìn bằng đôi mắt khinh khi ấy nhỉ?

Dễ hiểu thôi, hảy điểm qua một số công việc của nhà nước này trong mấy chục năm qua. Từ việc lớn đến việc nhỏ. Từ việc chúng bán đất cầu quyền lực đến tàn sát giết hại nhân dân, đến việc đẩy ngưòi dân ra khỏi nước để vơ vét tiền của của của nhân dân, đến việc, xưa là đấu tố, nay là quy hoạch để cướp đoạt tài sản ruộng đất của nhân dân thì sẽ nhìn ra cái lý do tại sao người Việt Nam bị đánh giá và bị nhìn chung cái nhìn với Việt cộng.

Này nhá, hãy bắt đầu bằng cái tên Hồ chí Minh để xem cái chế độ vô đạo lý này đã lập được những công trạng gì cho Việt Nam :

1. Sau khi không được nhận vào trường bảo hộ để thoả mãn khát vọng làm nô lệ cho thực dân Pháp. Hồ chí Minh đã xin làm nô lệ cho đảng cộng sản Pháp rồi đến đảng cộng sản Liên Sô.

2. Khi ra khỏi nhà tù Quảng Châu, Hồ chí Minh đã nổi danh khắp năm châu vì món nghề chôm chỉa cuốn Ngục Trung Thư của một người tù cùng thời với Hồ.

3. Khi về nước thì Hồ chí Minh đã mượn đỡ cái tên Trần dân Tiên để viết về cuộc đời cách mệnh của Hồ. Tuy thế, Trần dân Tiên cũng không dám viết về cái gia phả đích thực của Hồ là con cái nhà ai. Trần dân Tiên là ai? Tại sao không viết sự thật đời “Chí Phèo” với thị Tăng Minh Tính, thị Khai, thị Xuân, mà lại ca tụng Hồ chí Minh? Phải chăng đây chỉ là một cái tên khác trong toan tính lường gạt nhân dân cả nước của Hồ chí Minh?

4. Rồi Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng đã phản bội toàn dân trong công cuộc kháng chiến chống thực dân. Chúng đã thiết lập chế độ cộng sản nô lệ cho Nga Tàu trên toàn miền bắc, rồi ký công hàm bán nước, công nhận chủ quyền 12 hải lý của Trung cộng trên vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trực thuộc thẩm quyền hành chánh của Việt Nam Cộng Hoà theo hiệp định Geneve năm 1954 quy định.

5. Tập đoàn Hồ chí Minh, Đặng xuân Khu đã giết chết hơn 60,000, ngàn người Việt Nam trong sách lược cướp của giết ngươi ngụy trang dưới chiêu bài cải cách ruộng đất 1954-1957. và gần 5000 đồng bào ta ở Huế trong tết Mậu Thân. Cũng chính tập đoàn này đã gây ra cuộc hiến thảm khốc tại miền nam Việt Nam . Rồi đẩy hàng triệu người dân Việt bỏ nhà, bỏ nước ra đi. Khiến hàng trăm ngàn ngưòi bị chôn vùi dưới lòng đại dương.

6. Rồi tập đoàn Việt cộng hậu Hồ chí Minh là Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm, Phan văn Khải, Võ văn Kiệt thì đã cúc cung tận tụy làm nô lệ cho Tàu và chúng dám bán đất, bán bờ biển của Việt Nam cho Trung cộng qua hai hiệp thương và hiệp định biên giới 12-1999 và 12/2000.

7. Đồ đệ của Hồ Chí Phèo thì bịt miệng công lý, bịt miệng Linh Mục Nguyễn văn Lý giữa công đường. Tạo ra được một bức hình làm ô nhục toàn thể dân tộc Việt Nam . Người Việt Nam ngửa mặt lên làm sao được khi tấm hình này đã được truyền đi, và còn xây dựng trên những bức tường cao ở các thành phố hải ngoại cho nhân dân thế giới chiêm ngưỡng. Có ai không lên án, rồi kinh tởm cái dã man của cái chế độ Việt cộng này?

8. Rồi những kẻ có tài cầm búa, nhiễu loạn nhân tâm như Nguyễn thế Thảo, Hoàng công Khôi, Nguyễn đức Nhanh ở Hà Nội, Hoàn Kiếm thì tạo ra được những văn thư không thuộc thế giới loài ngươi, chúng nhân danh đảng và nhà nước Việt cộng để hù đọa và đưa bọn bất lương đến đập phá nhà cửa của lương dân và bạo hành nhân tâm con người Công Lý. Ấy là chưa kể đến những lau nhau ăn theo từ các cơ quan truyền thông, báo chí truyền hình, đài phát thanh. Chúng tự chà đạp và phi báng nhân phẩm, nhân tâm của chúng bằng cách cắt xén lời Công Lý, và hô hoán hỗ trợ cho cuộc bạo hành vô đạo này.

9. Hơn thế, đảng và nhà nước Việt cộng sau gần 6 thập niên cầm quyền đã tạo ra được một xã hội không còn biết đến sự thật, lời thật là gì. “ ngày nay chúng tôi phải nói dối nhau mà sống…. Trần quốc Thuận, phó chủ nhiệm quốc hội Việt cộng, khoá X” rồi “người ta nói dối lem lẻm, nói dối ở mọi nơi và mọi lúc… Nguyễn Khải, nhà văn nhớn của chế độ việt cộng” Bấy nhiêu vẫn chưa đủ, chúng còn thi nhau tạo ra một xã hội không còn luân thường đạo lý. Vào cửa quan chỉ gặp trộm cướp. Ra đường thì gặp toàn công an bất lương. Vào trường học thì ma cô bất lương hành nghề gạ tình lấy điểm, tung hoành. Người Dân lành trên khắp cả nước thì trở thành những dân oan lang thang đi đòi nhà đòi đất! Độc Lập ở đâu, Tự Do, Dân Chủ và Hạnh Phúc ở đâu? Ấy la chưa kể đến biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam bị chúng bán ra ngoại quốc để làm nô lệ tình dục cho khắp năm châu

Đấy là một số thành tích vẻ vang của nhà nước Việt cộng trong mấy chục năm qua tạo ra. Nhìn vào bảng thành tích này, Ai ? Ai? Và những ai nữa dám hãnh diện, dám tự hào về những hành động bất lương, vô luân của nhà cầm quyền Việt cộng?

Câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là:

- Ngoài những cán cộng của Việt cộng và bọn việt gian ra, không một ngưòi Việt Nam nào dám hãnh diện, dám ngửa mặt lên vì những hành động dã nhân của nhà nước Việt cộng này.

Nói cách khác, toàn thể dân tộc Việt Nam là những ngưòi có lòng tự hào, có lòng tự trọng dân tộc đều thấy tủi hổ và nhục nhã vì cái hộ chiếu của mình do nhà nước Việt cộng cấp phát, nhưng đành phải ngậm đắng qua ngày.

Như thế, lòng tự trọng của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã biểu lộ một cách toàn bích khi Ngài công khai nói trước cuộc họp của cái gọi là chủ toạ đoàn của uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Lời ấy không chỉ được nói trong cuộc họp, nhưng đã truyền đi trong cả nước, ra hải ngoại, toàn thể nhân dân đã nức lòng vì lời công tâm ấy. Như thế. lời lẽ ấy không chỉ biểu lộ sự nghiêm minh của lòng tự hào dân tộc. Nhưng còn là một bản án cho những hành động vô đạo lý do chế độ này tạo ra. Chúng phải chịu trách nhiệm vì đã làm ô nhục tiền nhân, cũng như danh dự của người Việt Nam .

Nói cách khác, Đó là lời Công Lý, ngài nói thay cho toàn dân Việt. Toàn thể dân tộc Việt Nam hãnh diện và biết ơn tấm lòng tự trọng và qủa cảm ấy.

- Nhưng tại sao Việt cộng lại lên án Ngài?

- Việt cộng lên án Ngài vì Những kẻ sống trong gian dối vô đạo, không bao giờ dám nghe, chứ đừng nói chi đến việc chúng sẽ chấp nhận lời Công Lý. Vì chúng u mê bảo vệ sự vô đạo nên phải lên án Công Lý.

- Vì sợ tiếng nói Công Lý sẽ bùng nổ trên cả nước và sợ nhân tâm sẽ quy về Ngài để đứng lên đòi lại công Lý, đòi lại Tự Do. Và vì phát xuất từ một nền văn hóa thấp hèn, suy đồi về đạo đức luân lý gia đình, không có nền tảng xã hội, lớp cán cộng không thể hiểu nổi lòng tự hào và tự trọng của dân tộc mang ý nghĩa gì? Chính vì sự không có hiểu biết này, nhà nước Việt cộng đã cắt xén lời nói của Ngài trên hệ thống phát thanh, trên truyền hình, báo chí rồi khích động, đưa những quân bất lương đến đập phá hàng rào đất đai của toà Giám Mục và của Thái Hà và cuồng loạn trong mưu đồ bôi nhọ một hình ảnh kiệt xuất trong tự hào của Việt Nam.

Tuy nhiên, ngày nay dân ta đã hiểu thế nào là Công Lý, thế nào là vô đạo. Nên chỉ có mình nhà nước Việt cộng và hệ thống của chnúg hãnh diện và tự hào về những hành động cuồng bạo, bất nhân vô đạo lý của họ. Toàn dân ta thì không.

Thật vậy, càng nhìn, càng đọc, càng thấy chúng diễn xuất trọn vẹn vai trò Chí Phèo của Nam Cao. Chỉ khác là thằng Chí Phèo không làm lãnh đạo và tiếc rằng, tác giả Nam Cao đã viết xong câu chuyện của Chí Phèo vào năm 1941 nên đã không ghi cho Chí Phèo cái họ Hồ! Nếu ông viết trễ mấy năm, cái kết chắc phãi khác?

Dầu vậy, bao lâu ánh nắng của mặt trời còn chiếu dọi trên đấu thì bấy lâu Công Lý còn hiện diện và người bước đi trong công lý luôn hân hoan và vui mừng. Và Ngày Vui Mừng của con dân Việt đã nằm trong tầm tay rồi.

Bảo Giang

Posted: Tue Oct 14, 2008 3:24 am
by thienthanh
Xung đột giữa nhà nước Việt Nam và tôn giáo,
qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây

Tác giả: Phan Bá Việt


“…Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên…”


Diễn tiến vụ Toà Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà có thể tóm lược trong vài nét chính: tịch thu nhà đất một cách tùy tiện không văn bản, hứa trả lại đất, nhưng rồi không trả và đề nghị các mảnh đất khác, sau đó khẩn cấp công viên hoá các khu đất giáo phận đang đòi lại, bắt giam những người được coi là có uy tín trong khối giáo dân, gửi côn đồ tới khiêu khích và đánh đập giáo dân tham gia cầu nguyện.


Diễn tiến này không khỏi gây ra nhiều thắc mắc. Tại sao không trao trả những khu đất yêu cầu mà lại chỉ định các khu đất khác? Có phải vì những khu đất đòi hỏi đã được chuyển nhượng nên không thể trao trả? Tại sao không lập công viên tại các khu đất đã đề nghị cho giáo phận Hà Nội? Có phải vì lời tuyên bố của tổng giám mục Ngô Quang Kiệt là khối Công Giáo chỉ đòi lại những nơi đã không được sử dụng vào công ích nên nhà nước đã vội vàng công viên hoá khu đất để vô hiệu hoá việc đòi lại đất? Tại sao lại vu khống và lăng nhục tổng giám mục Kiệt bằng các phương tiện truyền thông nhà nước? Tại sao lại sử dụng bọn xã hội đen?


Nhưng muốn hiểu những gì xảy ra cần ý thức trước hết một điều, đó là đề tài “Phân tích sự xung đột giữa nhà nước Việt Nam và tôn giáo, điển hình qua các cuộc tranh chấp với Công Giáo gần đây” tự nó đã chứa đựng một sai lầm. Không làm gì có xung đột và cũng không làm gì có tranh chấp. Bởi vì chỉ có thể nói tới xung đột và tranh chấp khi các đối tác trong cuộc tranh giành với nhau một quyền lợi mà cả hai đều có một lý do nào đó để cho là của mình. Đằng này chỉ là một sự bắt chẹt một chiều của một nhà nước cậy có bạo lực đối với một thành phần ôn hoà của xã hội dân sự. Công Giáo bị cướp đoạt đất một cách tùy tiện không qua một văn bản nào cả. Họ đòi hoặc phải trả lại họ hoặc phải có văn bản tịch thu hẳn hoi. Như vậy không thể gọi là một tranh chấp được. Vả lại các tôn giáo Việt Nam đều không có tham vọng chính trị nên không muốn và cũng không thể tranh chấp với chính quyền cộng sản. Đặc biệt là trong trường hợp Công Giáo thì hàng giáo phẩm Công Giáo Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có khuynh hướng nhẫn nhục với chính quyền, theo như lời Chúa phán: "của César hãy trả cho César, của Đức Chúa Trời hãy trả cho Đức Chúa Trời", ngay cả khi César lấn sang quyền của Thiên Chúa. Thái độ nhẫn nhục quá đáng này nhiều khi đã khiến người ta phải phiền lòng. Bởi vậy quan hệ giữa Công Giáo, và các tôn giáo Việt Nam nói chung, với chính quyền cộng sản chỉ là một quan hệ đàn áp đơn phương.


Nhưng tại sao lại có quan hệ đàn áp đơn phương như vậy?


Tính toàn trị và quan liêu của nhà nước công sản


Nhà nước Việt Nam hiện nay chỉ là công cụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và ĐCSVN thì lại quan niệm rằng một khi mình đã cướp được chính quyền ("cướp chính quyền" là tiếng mà chính người cộng sản đã dùng để nói về Cách Mạng Tháng 8) thì tất cả đất nước là của họ. Đảng đã quy định quyền này bằng điều 4 của hiến pháp để biến Đảng thành một ông vua kiểu mới. Đảng là luật, chỉ một mình Đảng có quyền trên đất nước còn mọi người khác, mọi tôn giáo, phải thần phục, không có quyền đòi hỏi mà chỉ được phép xin, để Đảng tùy tiện cho hay không cho. Chính vì vậy nhà nước Việt Nam, công cụ của Đảng, đã tỏ ra hống hách quan liêu, không bao giờ chấp nhận là mình đã sai, không bao giờ muốn biết tới quyền của những người ngoài Đảng. Những ai có ý định đòi hỏi, không chấp nhận cách hành xử "xin-cho" thì phải bị đàn áp và trừng phạt. Trái với một nhận định hơi vội vàng, chủ nghĩa Mác-Lênin chưa hề cáo chung tại Việt Nam, mô hình kinh tế của nó đã phá sản và không thể tiếp tục được nữa, nhưng văn hóa toàn trị của nó vẫn còn đó.


Sợ hãi xã hội dân sự


Như mọi chính quyền toàn trị, chính quyền cộng sản Việt Nam rất sợ xã hội dân sự. Vì vậy họ chủ trương bóp nghẹt xã hội dân sự. Các tôn giáo là những thành phần của xã hội dân sự. Các tôn giáo lại có số người đông đảo, có truyền thống lâu dài, có lòng tin và sự gắn bó cao. Đó là những thành phần xã hội dân sự bền vững nhất nên cũng phải bị khống chế chặt chẽ nhất. Xã hội dân sự là điểm trên đó lập trường của đảng cộng sản và của đối lập dân chủ đối chọi với nhau một cách rõ rệt nhất. Một bên, đảng cộng sản, coi xã hôi dân sự như một mối nguy cẩn phải triệt tiêu; một bên, đối lập dân chủ, coi đó là yếu tố nền tảng của đất nước cần được phát huy tối đa.


Trong dự án chính trị Thành Công Thế Kỉ 21, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã phát biểu một quan điểm trái ngược hẳn với quan điểm của chủ nghĩa cộng sản:


“Xã hội dân sự là toàn thể các giáo hội, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức thiện nguyện, các nghiệp đoàn, hợp tác xã, công ty, xí nghiệp. Nói chung, đó là tất cả các kết hợp của người dân, được thành lập để cùng theo đuổi một số mục đích chung và không nhắm tranh giành quyền lực chính trị.


Ý niệm xã hội dân sự đã được xuất hiện cùng một lúc với các xã hội văn minh. Đó là những sợi dây chằng chịt gắn bó những con người với nhau và gắn bó con người với xã hội. Những sợi dây liên lạc đan xen đó tạo ra sự bền chắc của quốc gia. Các kết hợp công dân tạo thành xã hội dân sự cũng là những cái nôi cho ý kiến, sáng kiến và tiến bộ. Một xã hội dân sự mạnh bảo đảm các ý kiến mới được nảy sinh nhanh chóng, các mâu thuẫn được phát hiện và giải quyết kịp thời, xã hội không ngừng tiến hóa trong hòa bình và trật tự.


Trong mô hình xã hội của chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một vai trò quan trọng là thực hiện liên đới xã hội, giúp đỡ và bênh vực những người yếu kém và thiếu may mắn.


Mọi kết hợp đều tạo ra sức mạnh. Sức mạnh của xã hội dân sự là sức mạnh tổng hợp, nhưng không bao giờ thống nhất, của các kết hợp công dân có khi cùng hướng với nhau, có khi biệt lập với nhau và cũng có khi đối chọi với nhau. Sức mạnh của xã hội dân sự từng lúc và từng cơ hội hòa nhập với nhà nước hay đối lập với nhà nước, nhưng lúc nào cũng ảnh hưởng trên nhà nước và không bao giờ có tham vọng tranh quyền với nhà nước bởi vì nó không có và không thể có tham vọng chính trị.


Xã hội dân sự đảm bảo sự năng động của xã hội và đồng thời cũng bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ độc tài chuyên chính. Mọi chế độ độc tài bạo ngược đều nhắm trước hết tiêu diệt xã hội dân sự. Bản chất của các chế độ độc tài là dựa trên một thiểu số để khống chế một xã hội phân hóa. Các bạo quyền không cần dân chúng tin yêu mình mà chỉ cần người dân đừng gắn bó với nhau để không có sức đề kháng. Không gì thỏa mãn các tập đoàn độc tài hơn là sự thờ ơ và bất lực của quần chúng.


Triết lý của một chế độ dân chủ, trái lại, coi xã hội dân sự là thành tố áp đảo và nền tảng của quốc gia vì thế vai trò của nhà nước là làm cho các kết hợp công dân ngày càng đông đảo, không ngừng tiến lên và mạnh lên để đóng góp tích cực cho sự phồn vinh của xã hội. Nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là công cụ của xã hội dân sự với sứ mệnh bảo đảm hoạt động lành mạnh của xã hội dân sự, để xã hội dân sự tạo hạnh phúc cho các công dân. Đó không phải là một sự từ nhiệm mà là một triết lý chính trị mới của một chính quyền đủ tự tin để đặt lòng tin vào các công dân. Trong quan hệ biện chứng với xã hội dân sự, nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là người trọng tài, phối hợp và thể hiện những nguyện vọng của xã hội dân sự. Nhà nước phục vụ chứ không khống chế xã hội dân sự”


Văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản Việt nam


Việt Nam là một trong những nước may mắn không thực sự có vấn đề tôn giáo. Số người có tôn giáo chỉ là một tỉ lệ nhỏ và họ cũng không hề quá khích. Công giáo 8%, tín đồ Phật Giáo thực sự, nghĩa là những Phật tử hành đạo một cách tương đối đều đặn vào khoảng 10%, Cao Đài và Hoà Hảo chỉ còn rất ít tín đồ thực sự. Một cuộc thăm dò gần đây của đại học Irvine, Hoa Kỳ, cho thấy gần 90% thanh niên Việt Nam tuyên bố họ không theo và cũng không muốn có một tôn giáo nào; gần 100% không muốn tôn giáo can thiệp vào hoạt động chính trị. Bất cứ một chính quyền nào, trừ chính quyền cộng sản, cũng không có lý do nào để phải lo ngại các tôn giáo. Vấn đề tôn giáo chỉ đặt ra vì, ngoài tâm lý toàn trị, văn hoá cộng sản về bản chất cũng không khác một văn hóa tôn giáo, nghĩa là cũng đòi người dân tin Đảng thay vì lý luận, cũng đòi được tôn sùng thay vì phê phán. Chúng ta có thể thấy văn hoá tôn giáo của đảng cộng sản qua những ứng xử như việc thần thánh hoá các lãnh tụ (Hồ Chí Minh đã được đưa vào chùa và còn được cho ngồi ở nơi trang trọng hơn Đức Phật), việc đảng không bao giờ sai lầm, việc chủ trương xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, việc hô hào học tập đạo đức Hồ Chí Minh…. Chính văn hoá tôn giáo này đã khiến đảng cộng sản nhìn các tôn giáo như là các đối thủ.


Âm mưu chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc


Âm mưu lộ liễu của chính quyền CSVN là chia rẽ Công Giáo với phần còn lại của dân tộc. Họ muốn là dân chúng nhìn vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ như là một tranh chấp giữa một bên là chính quyền CS muốn xây công viên và thư viện, nghĩa là những tiện ích công cộng phục vụ toàn dân, và một bên khác là Công Giáo chỉ muốn giành các khu đất cho mình. Vì vậy nhà nước đã sử dụng các cơ quan truyền thông để xuyên tạc vu khống, để khích động dân chúng và cố tạo ra hiềm khích giữa dân chúng và người Công giáo. Chiến dịch đả kích và bôi nhọ tổng giám mục Kiệt -bằng cách cắt xén và xuyên tạc những gì ông nói và bịa đặt cho ông những ý đồ mà ông không hề có- nằm trong mục tiêu cô lập người Công Giáo để dễ đàn áp. Chúng ta cần phải cảnh giác với âm mưu này và lên án mạnh mẽ một chính quyền đang cố tình chia rẽ dân tộc. Chia để trị luôn luôn là chủ trương của những chính quyền toàn trị. Đó cũng là lý do khiến đảng cộng sản rất dị ứng với chủ trương Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không ngừng cổ võ. Chính vì “Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cuộc vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều kiện cần cho thành công của cố gắng phục hưng đất nước ngày mai” (TCTK21) nên chúng ta cần phải cảnh giác với mọi âm mưu phá hoại chất liệu nhân xã của dân tộc ta.


Vấn đề cụ thể: cướp đoạt nhà đất để chia chác


Ngoài những nhận định về triết lý chính trị chúng ta không thể bỏ qua một mâu thuẫn cụ thể giữa chính quyền CS và các tôn giáo, đó là vấn đề nhà đất. Đảng CS đã cướp đoạt quá nhiều nhà đất của dân chúng, trong đó có các tôn giáo. Khối dân oan hiện nay lên tới gần một triệu người. Vấn đề nhà đất không phải là vấn đề riêng của Công Giáo, hay của một tôn giáo nào, hay của các tôn giáo, mà là vấn đề chung của cả dân tộc. Cả một dân tộc bị cướp bóc! Chính vì vậy mà các biến cố Thái Hà và Tòa Khâm Sứ nguy hiểm cho chế độ vì sự phản kháng của Công Giáo có thể lây lan sang nhiều thành phần dân tộc khác. Trong lịch sử cận đại của thế giới chưa có trường hợp một đảng cầm quyền nào cướp đoạt nhà đất của dân chúng trên một qui mô lớn như tại nước ta. Nhà đất là một trái bom nổ chậm. Điều đó càng khiến nhà nước cộng sản sợ và phản ứng thô bạo.


Một hy vọng


Những phân tích trên đây một lần nữa tái xác nhận là trong tình trạng hiện nay tại Việt Nam điều được nhìn như các xung đột giữa chính quyền với các thành phần dân tộc thực sự mới chỉ là những đàn áp đơn phương của một chính quyền đồng hóa cai trị với thống trị. Sự kiện người Công Giáo không nao núng, vẫn giữ được quyết tâm mà không bị trượt tuột vào thái độ căm thù là một yếu tố rất quan trọng và là một hy vọng. Nó có thể tạo ra thay đổi tâm lý cả trong xã hội Việt Nam lẫn trong đảng cộng sản. Về phía xã hội Việt Nam nó tạo ra ý thức rằng dù quyền lợi chính đáng đến đâu cũng phải đấu tranh có tổ chức nếu muốn giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh của người Công Giáo Hà Nội đã có hiệu lực vì họ có tổ chức. Về phía đảng cộng sản từ chỗ không thể đàn áp người ta có thể dần dần bỏ tâm lý đàn áp và chấp nhận đối thoại như là phương thức văn minh hơn và hiệu quả hơn để giải quyết những bất đồng. Chúng ta không mong đợi gì hơn.


Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cần một thay đổi lớn, thay đổi cả một văn hóa quyền lực. Đây là một thay đổi rất khó khăn vì ngoài một nhận thức mới họ còn phải giải quyết những sai lầm, kể cả những tội ác, đã tích lũy từ nhiều thập niên trong quá trình giành chính quyền, giữ chính quyền và lạm dụng chính quyền. Những người cầm quyền hiện nay không phải là nguyên nhân của phần lớn những vấn đề nghiêm trọng của đất nước, họ chủ yếu là những người đã kế thừa một di sản nặng nề. Chắc chắn rất nhiều người yêu nước sẵn sàng thông cảm những khó khăn của họ và sẵn sàng đánh giá những bước đi đúng hướng. Với điều kiện là chính họ cũng phải sẵn sàng chấp nhận một đoạn tuyệt quyết định với tâm lý và những tập quán cũ.


Phan Bá Việt

Posted: Thu Oct 16, 2008 1:50 am
by quaichao
Án tù hai năm cho nhà báo Nguyễn Việt Chiến
Tác giả: DCVOnline



HÀ NỘI – Hôm nay thứ Tư ngày 15 tháng Mười, Việt Nam tuyên án hai năm tù ở cho một nhà báo đã từng tường thuật một vụ tham nhũng trước đây, và đã làm giới truyền thông ở đất nước Việt Nam Cộng sản bàng hoàng.

Tòa án Hà Nội cũng tuyên án tù ở một năm cho một cựu thượng tá cảnh sát, là người đã cung cấp tin tức tham nhũng này cho giới báo chí, nhưng tòa án đã tha bỗng một cựu thiếu tướng và nhà báo thứ hai, người cũng đã tường thuật vụ tham nhũng này.

Nhà báo bị án tù, là ông Nguyễn Việt Chiến, người đã khui vụ tham nhũng của PMU 18, thuộc Bộ Giao thông ba năm trước đây, qua đó những viên chức cao cấp của bộ đã biển thủ công quỹ để cá độ túc cầu Âu châu.
Image
Bà Nguyễn Việt Hằng, em của nhà báo Nguyễn Việt Chiến sau khi nghe tòa tuyên án. Nguồn: AFP


Loạt tường thuật tham nhũng này đã đưa đến một số bắt bớ và làm đẩy mạnh phong trào chống tham nhũng trở thành trung tâm điểm của chính sách nhà nước, cùng lúc Việt Nam được khen ngợi bởi cộng đồng quốc tế vì đã dành cho giới báo chí vốn bị nhà nước kiểm soát những tự do chưa từng có trước đây.

Nhưng, tháng Năm năm nay, cảnh sát đã bắt hai ông nhà báo dẫn đầu chuyện tường thuật tham nhũng ở Bộ Giao thông này, là ông Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên và ông Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ.

Hai ông phó Tổng biên tập của hai tờ báo này bị mất chức và sau đó, ban tuyên giáo của Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam đã thu hồi thẻ nhà báo nhiều nhà báo khác, những người đã đứng ra bênh vực cho hai đồng nghiệp của mình.

Hôm nay thứ Tư, Tòa án Nhân dân Hà Nội kết tội cả hai nhà báo này “đã lạm dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Ông Chiến, 56 tuổi, đã từng được giải thưởng dành cho nhà báo trước đây cho rằng ông vô tội suốt phiên tòa hai ngày nay, ông đã bị kết án hai năm tù ở, tính từ ngày ông bị bắt.

Ông Hải, 33 tuổi, đã thừa nhận ông đã vi phạm những sai lầm không cố ý trong khi tường thuật vụ án tham nhũng này và đã một lần bật khóc giữa phiên tòa, đã nhận án hai năm tù treo nhẹ nhàng hơn và được thả tự do sau đó.

Tòa án cũng kết án hai ông cựu sĩ quan cảnh sát cao cấp, vì đã cung cấp tin tức cho giới báo chí trong cuộc điều tra vụ biển thủ ở PMU 18 suốt hai năm 2005-2006.

Cựu thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, 62 tuổi, người cầm đầu cuộc điều tra này, chỉ nhận sự cảnh cáo chính thức, nhưng thượng tá Đinh Văn Huynh, 50 tuổi, bị tuyên án hai năm tù ở kể từ ngày ông bị bắt.

Công tố viên cho rằng những tường thuật của hai nhà báo này có những sai lầm và định kiến và đã làm xấu đi cái hình ảnh của viên chức nhà nước, của đảng viên đảng Cộng sản, cũng như làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam và giới lãnh đạo, trước ngày họp của Trung ương đảng trong năm 2006.

Image
Nhà báo Nguyễn Việt Chiến
trước vành móng ngựa.
Ông cho rằng mình vô tội
trong hai ngày qua. Nguồn: AFP

Quan tòa, khi tuyên án, đã lập đi lập lại rằng “những lực lượng thù địch, phản cách mạng và những kẻ cơ hội chính trị” đã lợi dụng vụ tai tiếng này để tấn công lãnh đạo và nhà nước Việt Nam “cùng lúc khuấy động, xúi dục những hành động làm rối loạn an ninh và trật tự” trước ngày họp của đảng Cộng sản.

Ông Chiến nói rằng cho đến ngày ông bị bắt, ông chưa bao giờ bị khiển trách, bị phỉ báng hay bị than phiền từ một độc gỉa của ông.

“Khi vụ án PMU 18 được khui ra, nguyên cả hệ thống chính trị của Việt Nam để ý chăm chú về chuyện này,” ông nói thêm.

Vụ tai tiếng này đưa đến chuyện từ chức của ông Bộ trưởng Đào Đình Bình và ông phó Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến bị bắt, trong lúc nhiều viên chức của PMU 18 bị tù vì tội tham nhũng và cá độ bất hợp pháp.

Nhưng ông cựu thứ trưởng Tiến đã được thả tự do sau đó và được trắng án.

Các nhà báo và ngoại giao ngoại quốc được phép theo dõi phiên tòa hai ngày qua hệ thống truyền hình trực tiếp, trong lúc nhiều nhà báo Việt Nam theo dõi và chờ đợi tin tức diễn tiến trong phiên tòa trên đường phố bên ngoài tòa án.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã lên án phiên tòa này là “sự trả thù” của nhà nước dành cho hai “nhà báo dám tiết lộ những trường hợp xấu hổ và mang đến sự tự do hơn cho báo chí Việt Nam.”

“Đó là một sự sỉ nhục công lý. Phiên tòa này là ở ngay tâm điểm của một cơn địa chấn phá hủy cái căn bản vẫn đang còn mong manh của một nền báo chí độc lập, muốn đóng vai trò thách đố một nhà cầm quyền đã được cũng cố, vững chắc.”

Posted: Thu Oct 16, 2008 2:15 am
by quaichao
Ðảng CSVN Thi Hành Chính Sách
“Cấm Sách Vở, Giam Học Trò”


Trần Nam – ÐDCND

Image
Tần Thủy Hoàng


Trung Tướng Trần Ðộ, trong cuốn nhật ký Rồng Rắn, đã viết “Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thuỷ Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài”. Một người cả đời đi theo đảng, từng giữ những trọng trách cao cấp nhưng cuối đời đã dũng cảm quay lại phê phán đảng. Nhận xét của Tướng Trần Ðộ đáng cho chúng ta suy gẫm.



Nhắc đến Tần Thủy Hoàng, là nhắc đến chế độ “đốt sách vở, chôn sống học trò”. Một chế độ tàn ác trên cả tận cùng của tội ác. Tâm điểm chính sách tàn bạo đời Tần là “dùng tất cả tài nguyên trong thiên hạ để phụng sự cho sự cai trị của Hoàng Ðế”. Ðể đạt mục tiêu này, Tần Thủy Hoàng đã gieo rắc sự khủng khiếp trong nhân dân, sử dụng luật lệ tàn bạo, tra tấn và trừng phạt nhằm trấn áp những ai dám chống lại chính sách của Tần. Chính sách đàn áp, tra tấn và trừng phạt nhà Tần không những chỉ nhắm vào người phạm tội mà luôn cả gia đình, thân nhân, dòng họ của kẻ phạm tội, nhằm gây khiếp đãm trong thiên hạ, giử chế độ Tần Thủy Hoàng được tồn tại.



Nổi bật lên trên sự dã man của nhà Tần là chủ trương triệt để kiểm soát tư tưởng, độc quyền chân lý, cấm tất cả những chính kiến ngược lại quan điểm của Hoàng Ðế. Dưới nhà Tần, những ai dám phê phán triều đình đều bị giết. Ðể cho chắc ăn, bảo đảm không bất cứ ai có thể gieo rắc tư tưởng ngược lại quan điểm của Hoàng Ðế, Tần Thủy Hoàng ra lệnh “đốt sách vở và chôn sống học trò”. Những kẻ phản kháng, những kẻ đối nghịch có hành động nguy hiểm cho triều đình, nặng thì bị giết, nhẹ thì bị tù, thân bị đày đi làm nô lệ. Thời Tần, dân số chừng 10 triệu, thì đã có hơn hai triệu người bị bắt làm nô lệ, bị đày ải, bị chết thãm bên bờ tường Vạn Lý Trường Thành. Sử sách ghi nhận, số học trò bị giết nhiều đến nỗi quan chức nhà Tần phải đẩy ra biển cho chết, thay vì đem chôn sống.



Ðời Tần, tội nặng nhất là “Tự Do Tư Tưởng”. Các sách như Tứ Thư, Ngũ Kinh đều bị đem đi đốt hết. Cả nước chỉ được lưu truyền sách bói toán, sách trồng trọt.. v.v…Kẻ nào dám lưu trử, truyền bá các sách bị cấm. Nếu bị bắt sẽ bị truy tố tội “phản nghịch”, chịu hình phạt bêu đầu. Một chế độ cai trị tàn độc, dã man nhất cũng không đứng vững được 100 năm. Nhà Tần xụp đổ chỉ trong vòng 15 năm (221 TCN - 206 TCN), kết thúc trang sử đẫm máu của vị Hoàng Ðế tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại.



Chế độ độc tài CS cai trị Việt Nam từ năm 1945-2008. Trải qua bao thăng trầm, CS đã tồn tại 63 năm. Mặc dù không lộ liểu “chôn sống học trò”, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội, vào những ngày đầu chiếm chánh quyền ở Miền Nam, đảng CSVN từng thì hành chính sách, tịch thu và “đốt sách vở Ngụy”, đối với các viên chức, trí thức của chế độ cũ thì “bị đày ải, giam cầm” cho đến chết, thân tàn ma dại nơi rừng sâu nước độc. Gần đây, ở kỷ nguyên thế kỷ 21, trước sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản, chính sách cai trị Ðảng CSVN tinh vi hơn, nhưng mục tiêu vẫn là tìm mọi cách kiềm soát và độc quyền tư tưởng. Từ chính trị, kinh tế, tôn giáo đến xã hội, văn hoá, truyền thông, giáo dục, báo chí, giải trí v.v.. Không lãnh vực nào không có sự hiện diện và kiểm soát chặt chẻ của đảng CSVN. Ðiều này, không khác gì tư tưởng chủ đạo của Tần Thuỷ Hoàng, “lấy hết của cải trong thiên hạ mà phụng sự cho ngai vàng của Hoàng Ðế”.



Ðối với Tần Thủy Hoàng, tội nặng nhất là “Tự do Tư tưởng” thì đối với Ðảng CSVN, cũng không có khác biệt. Vụ án Nhân văn Giai phẩm, những cuộc đàn áp các nhà bất đồng chính kiến như bắt giữ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, nhà thơ Trần Ðức Thạch, sinh viên Ngô Quỳnh, chị Phạm Thanh Nghiên… v.. v , những bản án tù cáo buộc vi phạm điều “88” tức “làm ra và tàng trử tài liệu chống chế độ” dành cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài, bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư Trần Quốc Hiền, Nguyễn Bắc Truyễn, ký giả Huỳnh Nguyên Ðạo v.v…. đều nằm trong phạm trù không chấp nhận quyền “Tự do Tư tưởng”. Nếu có khác đời Tần, thay vì dã man “đốt sách vở, chôn sống học trò” thì tinh khôn và tàn độc hơn, đảng CSVN đã và đang thi hành chính sách “hậu” Tần “cấm sách vở, giam học trò”.



Mục tiêu của chế toàn trị vẫn là triệt hết các tư tưởng đối nghịch, đi ngược lại quan điểm “chủ nghĩa xã hội” của đảng cầm quyền. Ðảng CSVN tận dụng mọi phương tiện trong tay như công an, nhà tù, luật pháp để huỷ diệt những mầm móng phản kháng, nhằm giữ chính quyền độc tài từ đời này sang đời khác. Ðảng CSVN bất kể hậu quả của độc quyền tư tưởng, bất kể tương lai đất nước đi về đâu, bất kể nhân dân phẩn uất, căm hận đến mức độ nào. Nếu ở Việt Nam không có cảnh “truyền ngôi” thô bỉ như ở Bắc Hàn, hoặc phẩn nộ “anh nhường ngôi cho em” như ở Cuba; thì sự liên tục cai trị của chế độ độc đảng, hết Tổng bí thư CS này, đến đời Tổng bí thư CS khác cũng là hình thức đánh tráo quyền lực. Từ khuôn mẫu dòng họ truyền ngôi, nhà nước hậu phong kiến CSVN đã ma mãnh, biến thái qua mô thức truyền nhau vai trò lãnh đạo suốt 63 năm qua.



Lãnh tụ CS Joseph Stalin từng nói “Tư tưởng mạnh hơn súng. Chúng ta không cho kẻ thù có súng thì tại sao lại để bọn chúng có tư tưởng chứ”. (1) Stalin, chủ trương tiêu diệt hết mọi tư tưởng độc lập, phản kháng, dám chỉ trích chế độ Sô Viết. Thời Stalin, biết bao kẻ vô tội, trong và ngoài đảng, đã chết thảm vì bị đày ải đến các nhà tù ở vùng băng tuyết Tây Bá Lợi Á. Văn hào Nga, Alexander Solzhenitsyn, người từng đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1970, là nhân chứng sống cho nhân loại trước sự tàn ác khủng khiếp của chế độ nhà tù thời Stalin.



“Ai dám cưỡng lại và tìm cách chứng tỏ rằng mình đúng, kẻ đó phải rời hàng ngũ lãnh đạo và sau đó sẽ bị tiêu diệt về tinh thần và thể xác. Ðiều này đã xảy ra sau Ðại hội thứ XVII của đảng, khi rất nhiều lãnh tụ xuất sắc của đảng và các đảng viên nòng cốt - biết bao chiến sĩ trung thực và ngay thẳng của sự nghiệp cộng sản - đã là nạn nhân của sự bạo ngược của Stalin.” Ðó là bản báo cáo Mật mà chính Tổng bí thư Ðảng CS Liên sô Khrushop đã báo cáo về Stalin. Dù vậy, chủ nghĩa Cộng sản ở Liên Bang Sô Viết, sau nhiều năm gieo rắt tai hoạ cho nhân loại, đã kéo dài 73 năm, bằng tuổi thọ của một đời người.



Các chế độ từ phong kiến, thực dân đến phát xít, cộng sản qua độc tài toàn trị đều sợ hãi quyền “Tự do Tư tưởng”. Một quyền tự nhiên, khi sinh ra con người đã có. Nó là hơi thở của sự sống, trong đó con người đúng nghĩa phải được quyền tư duy độc lập, không bị chi phối và kiểm soát bởi bất cứ quyền lực độc đoán nào. Tự do tư tưởng không phải là thứ xa xí phẩm mà chế độ độc tài dành quyền ban phát. Tự bản thân, giá trị của “tự do tư tưởng” đã hình thành khi nhân loại hiện hữu, như cách nói “tôi tư duy tức là tôi hiện hữu”. Một sự hiện hữu trọn vẹn, độc lập không bị trói buộc bởi những quyền lực giả hình.



Trong bản Hiến chương Quốc tế Nhân Quyền, quyền tự do tư tưởng và phát biểu quan điểm, điều 19 ghi “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng và phát biểu chính kiến của ḿình, được quyền tự do giữ vững quan điểm mà không bị người khác can thiệp. Ai cũng có quyền t́ìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức và sư kiện về mọi vấn đề, bằng mọi phương tiện truyền thông không phân biệt biên giới quốc gia”



Tự do tư tưởng là một quyền căn bản nằm trong nhiều quyền, gọi chung là Nhân Quyền. Bao gồm quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tư do đi lại, tự do tôn giáo v.v... Tuy nhiên, để cai trị và bảo vệ chế độ, những nhà nước toàn trị, luôn tìm mọi cách kiểm soát chặt chẽ quyền tự do tư tưởng. Việc này, Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền trong phần mở đầu đã cảnh báo các chế độ độc tài… “việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đă đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãii và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người”.

Tự do tư tưởng là quyền bẩm sinh, nó hiện hữu và hình thành trước các chế độ chính trị. Và nhiều chế độ chính trị đã nhờ rao giảng quyền “tự do tư tưởng” này để nắm được chính quyền. Ông Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà nội, khi đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, đã từng nhắc nhở “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Trời cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra câu ấy có ý nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Ðó là những lẽ phải không ai chối cải được”.



Ðúng vậy, “đó là những lẽ phải không ai chối cải được” kể cả Ðảng CSVN. Nhưng đến khi nắm được chính quyền thì ông Hồ và Ðảng CS của ông lại phản bội ngay mục tiêu đã từng chiến đấu và cổ xuý.



Một chế độ cai trị nhân dân chỉ biết dựa vào sức mạnh của bạo lực, chế độ đó, tự bản chất sẽ không ổn định và bền vững lâu dài. Khi sức mạnh của công an, mật vụ, pháp luật rừng và nhà tù không còn là nỗi sợ hãi của nhân dân, chế độ sẽ nhanh chóng sụp đổ. Khi đám đông khốn cùng dám ngẩng cao đầu đi đến lao tù, chấp nhận bị đày ải; đó cũng là lúc tiếng chuông vang báo tử của chế độ độc tài, toàn trị.

–––––

(1) Joseph Stalin (1879-1953) “Ideas are far more powerful than guns. We don't allow our enemies to have guns, why should we allow them to have ideas? “

Posted: Sat Oct 18, 2008 3:55 am
by thienthanh

Image

Khi nhà báo phải câm miệng…
Tác giả: Hòa Vân



Trong bài viết Có những khi dư luận phải ngậm đắng nuốt cay… của mục Phát ngôn và hành động ấn tượng trong tuần 9-16.5.2008, báo điện tử Tuần Việt Nam, nhà báo Bùi Dũng nhận xét :

« Nếu ngày thứ Tư (14/5) và trước đó, trên các mặt báo còn sôi lên sự việc hai nhà báo là Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (báo Thanh Niên) cùng với Thượng tá Đinh Văn Huynh, Trưởng phòng 9, C14, điều tra viên cao cấp vụ PMU18 bị bắt tạm giam, Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về TTXH (C14), Bộ Công an, Trưởng ban chuyên án PMU18 bị khởi tố thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết ».

Thế nhưng, nếu hôm nay bạn muốn tìm lại đoạn viết trên bằng cách bấm vào đường dẫn về địa chỉ mạng của nó thì… cái câu cuối « thì sang ngày hôm sau (15/5),... Hết » đã được thay bằng ba dấu chấm và một đoạn khác, nêu lên nhiều câu hỏi không phải không xác đáng về vụ bắt giam các nhà báo, nhưng cái thông tin « Hết » như được phù phép biến đi…

Lạ ! Muốn biết thêm thông tin, đành phải lướt mạng, tìm đến các blog. Và đây, trên blog của Ngoc N, một nhà báo báo Pháp luật Việt Nam (bài Chuyện bên lề bài báo "vượt luật") :

« Chiều ngày 14/5/2008, BBT báo Pháp Luật Việt Nam cũng như tất cả các BBT những tờ báo đều nhận được chỉ thị qua điện thoại của sếp cao nhất Ban tuyên giáo TƯ về việc cấm tiếp tục đăng thông tin về vụ 2 nhà báo bị tạm giam và tướng Quắc bị khởi tố… ».

Té ra, « Hết », vì có người đã ra lệnh, không ai còn được nói gì nữa. Chấm dứt cuộc chơi. Ngay cả nói rằng cuộc chơi đã chấm dứt cũng không được, nên Tuần Việt Nam mới phải sửa bài viết.

Dễ hiểu là nhất loạt báo chí… xếp hàng, im.

Ngay cả báo Tuổi Trẻ, một người trong cuộc, cũng không được phép đưa thêm tin về nhân viên của mình đang còn bị tạm giam, và phải tìm cách lách bằng những bài báo viết về tai nạn nghề nghiệp của… các nhà báo nước ngoài. Nhưng thế cũng không được ! Loạt bài Khi nhà báo rơi vào vòng lao lý vừa ra được hai kỳ (Cái giá của thông tin…, ngày 16.5 và Miller thà ngồi tù, không lộ nguồn tin, ngày 17), thì một cú điện thoại đã gọi đến tòa soạn, và « Kỳ 3 : William Farr ôm bí mật xuống đáy mồ », đúng như cái tựa tiền định của nó, đã lập tức bị chôn xuống đáy mồ, dù đã được quảng cáo trước ! Dĩ nhiên, người ta sẽ không biết Tuổi Trẻ có định đăng gì hay không cho bài kỳ 4, vào đúng ngày sinh nhật cố chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vụ PMU18 đã từng được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng coi là vụ tham nhũng lớn nhất cần sớm được giải quyết (không tham nhũng thì ông tổng Bùi Tiến Dũng lấy đâu ra cả triệu đô la để chơi cá độ ?). Thế mà, hơn hai năm sau, vụ án vẫn chưa được mang ra xử, trong khi nhân vật nổi cộm nhất, cấp trên trực tiếp của tổng Dũng, nguyên thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến vừa được trả tự do, được Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyên bố vô tội đối với hai trong ba tội danh mà ông ta bị truy tố, và miễn trách nhiệm hình sự với tội danh thứ ba (« thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng »)… Và tướng Quắc bị khởi tố về tội « lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ », thượng tá Huynh và hai nhà báo bị khởi tố và bắt tạm giam về cùng tội danh. Dễ hiểu là nhiều người cho rằng đằng sau vụ này là một cuộc đấu đá tranh giành quyền lực ở cấp cao, mà những người bị bắt chỉ là ruồi muỗi.

Nhưng nếu việc bắt hai nhà báo (báo chính thống, của chế độ1) có thể được coi như một vụ trả thù (hèn hạ) của một phe trong cuộc đấu đá đó2, việc bắt toàn bộ báo chí im miệng, không được đề cập tới sự việc, mới là điều đáng nói tới. Nói như người Pháp, cái sự im lặng đinh tai ấy của báo chí là bằng chứng hùng hồn nhất của sự khinh miệt nhân dân, khinh miệt trí thức của kẻ cầm quyền. Xin cho tôi không bình luận về những lời tố cáo tính « hèn hạ » của trí thức VN, mà nhà báo là một bộ phận đáng kể, nhất là trong việc phản ánh những tệ nạn xã hội cũng như những bức xúc của người dân. Vì đơn giản là trong thời gian qua họ đã từng can đảm viết lên nhiều điều rất trái tai người cầm quyền. Nhưng đối với nhiều vấn đề thì họ không có chỗ để viết. Có những nhà báo phải mượn blog để nói lên uất ức của mình, vì có đưa bài thì cũng không được đăng. « Lệnh » từ rất cao, tuyệt đối, bất chấp dư luận đang đòi hỏi làm rõ sự việc, với những minh chứng cụ thể, thuyết phục cho quyết định bắt người của Viện kiểm sát (dù là những minh chứng đó vẫn có thể bị tòa án bác bỏ sau đó). Bắt là bắt, không cần trưng ra lý do. Và anh không được cãi.

Nghe nói người ta đang bàn bạc về cái đề án gọi là « Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế ». Những người đã đưa ra cái lệnh « Im ! » đầy khinh miệt kia cũng là những người chủ trì cuộc thảo luận. Kết quả (ngắn hạn thôi, dài hạn lại là chuyện khác) tưởng chẳng cần nói…




Hòa Vân



1 Đối với những người không nằm trong hệ thống, sự đối xử hèn hạ này còn thêm tính dã man nữa. Xem vụ “nhà báo tự do” Hoàng Hải, tức blogger Điếu Cày bị bắt (ngày 20.4.2008 tại Đà Lạt), và nhiều blogger khác cùng chính kiến với anh bị công an sách nhiễu suốt những ngày cuối tháng 4 – nhân vụ “rước đuốc thế vận hội Bắc Kinh” đi qua TPHCM - trên website của “Câu lạc bộ nhà báo tự do” : http://clbnbtd.com/index.php.

2 Câu này không hàm nghĩa coi các nhà báo này là thuộc « một bên » trong cuộc đấu đá. Cũng không hàm nghĩa phủ nhận tính tích cực mà nhiều người đề cao của hai nhà báo trong những bài viết liên quan. Chỉ nói lên cái khả năng là những người ra lệnh bắt họ coi họ là thuộc phe kia. Việc đánh giá hai nhà báo cụ thể trong vụ này không thuộc chủ đề của bài viết, còn đánh giá chung thì… tùy. Mặc dầu cái thói bôi xấu những người bị khởi tố, dù họ chưa bị/được đem ra xử, là rất cần bị phê phán, tôi tin rằng không phải nhà báo VN nào cũng là « nhà báo công an » chuyên nghề bôi bẩn những người khác ý…

Posted: Sun Oct 19, 2008 1:57 am
by khieulong
Chính sách chạy rong
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên


Ngủ rong là nay ngủ nhà này, mai ngủ nhà khác. Hát rong còn gọi là hát dạo. Sáng hát ở đầu đường, chiều hát trong xó chợ, kiếm tiền sống độ nhật. Hàng rong là kiểu bán hàng di động liên miên. Di động để tìm đến khách hàng, di động vì bị công an hè phố xua đuổi. Nói chung ngủ rong, hát rong, bán rong cùng với các loại sống rong khác là phương pháp mưu sinh bồng bềnh của giới quần chúng cùng khổ. Thế nhưng trên địa bàn chính trị, thời gian gần đây, tại sao chế độ Hà Nội lại phải thực thi một loại chính sách mới, gọi là chính sách chạy rong? Ý nghĩa của chính sách này là gì? Câu trả lời nằm ở hai trường hợp chạy rong điển hình sau đây:

Trường hợp một

Cuối năm 2007, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày tham dự các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 01 và tháng 04 năm 2008, Điếu Cày lại cùng với sinh viên dự định thực hiện các cuộc biểu tình chống cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh ngang qua thành phố Saigon. Ngày 21/04/2008 Điếu Cày bị công an Saigon bắt giam. Ngày 10/09/2008, toà án CSVN đã xử phạt Điếu Cày 2 năm 6 tháng tù về tội trốn thuế. Công luân đều thừa biết Điếu Cày rơi vào vòng lao lý chỉ vì người ký giả hào hùng này đã mạnh mẽ chống Trung Quốc xâm lược. Thế nhưng, chế độ Hà Nội, tay sai của Trung Quốc, lại loan tin là Điếu Cày bị phạt giam vì lý do đương sự trốn thuế.

Giữa tháng 08/2008, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới đã phổ biến lời nhận định đối với trường hợp bị gọi là trốn thuế của Điếu Cày như sau: “Điếu Cày bị cáo buộc trốn đóng thuế đối với một bất động sản mà ông cho thuê trong mười năm. Tuy nhiên, trong thực tế, công ty thuê mướn bất động sản của Điếu Cày từng thỏa thuận và cam kết với Điếu Cày là họ sẽ nộp tất cả các khoản thuế có liên hệ đến bất động sản. Luật pháp Việt Nam nhìn nhân tính chất hợp pháp của loại hợp đồng vừa kể”

Nếu trốn thuế, tại sao mười năm qua Điếu Cày không hề bị sở thuế hạch hỏi? Tại sao phải đợi cho đến ngày Điếu Cày chống Trung Quốc, CSVN mới đặt vấn đề thuế má đối với Điếu Cày? Không còn nghi ngờ gì nữa, Điếu Cày không hề trốn thuế. Trốn thuế chẳng qua chỉ là một tai hoạ do CS gài vào đời sống của Điếu Cày nhằm khủng bố Điếu Cày với chủ ý buộc người ký giả kiên cường này phải từ bỏ hẳn tư tưởng chống Tàu. Như vậy xuất phát từ ý muốn trừng phạt Điếu Cày về thái độ bất đồng chính kiến với Hà Nội, CSVN đã ôm hồ sơ Điếu Cày di chuyển từ vụ chống “mẫu quốc” Trung Hoa qua vụ trốn thuế do CSVN ngụy tạo. Đây rõ ràng là một trường hợp chạy rong trên địa bàn dùng luật pháp làm công cụ để khủng bố người dân.

Trường hợp hai

Từ lâu rồi, cuộc thảo luận giữa Toà Tổng Giám Mục Hà Nội và chế độ CSVN về chủ đề đất đai cho tôn giáo là một thảo luận không có kết luận. Sau phiên họp ngày 20/09/2008 giữa Toà Tổng Giám Mục Hà Nội và UBNDTP Hà Nội cuộc thảo luân kia thực sự làm cho dư luận trong và ngoài Việt Nam chú ý. Sau đây là các chủ đề gây sự chú ý:

Chủ đề thứ nhất: Vai trò của “Vấn đề tiên quyết” trong phương pháp thảo luận.

Muốn giải quyết êm thấm một vấn đề phức tạp, các bên tham dự cuộc thảo luận cần phải chia vấn đề phức tạp kia thành những đề mục nhỏ,. Sau đó thảo luận từng đề mục nhỏ theo một trật tự ưu tiên hợp lý mà các bên hội thảo đồng thuận. Hãy nghĩ về một vụ kiện chủ nhà đứng nguyên đơn để khởi tố xin trục xuất người thuê nhà. Đề mục ưu tiên số một của vụ kiện này là nguyên đơn phải chứng minh đương sự đích thực là sỡ hữu chủ của ngôi nhà. Tương tự như vậy, trước khi trả lời câu hỏi ai là người được được phép sử dụng lô đất Toà Khâm Sứ, nhà cầm quyền CSVN và toà Tổng Giám Mục Hà Nội không thể không xét tới các loại giấy tờ có liên hệ tới lô đất gây tranh cãi. Nói rõ hơn, vấn đề tiên quyết trong vụ lô đất 42 Phố Nhà Chung là lời giải đáp cho câu hỏi: Đất số 42 là đất thuộc diện cải tạo tư sản hay cải tạo nông nghiệp? Đó là lý do giải thích tại sao trước UBNDTP Hà Nội ngày 20/09/2008, TGM Ngô Quang Kiệt đã đặt vấn đề: “Thế thì trên mảnh đất 42 chúng tôi chưa được cái văn bản nào của nhà nước nói về cái sự thay đổi đó. Không có đi vào cái diện cải tạo tư sản, không có đi vào cái diện cải tạo nông nghiệp, cũng không có cái văn bản nói lên sự tịch thu hay là trưng thu trao cho cơ quan nào…hoàn toàn không có”.

Thay vì đáp ứng yêu cầu của TGM Ngô Quang Kiệt bằng cách viện dẫn các giấy tờ cần thiết liên hệ đến đất số 42, ngày 01/10/2008 Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam theo kiểu ông nói gà, bà cố tình nói vịt: “Trong khi pháp luật đang có hiệu lực thi hành, mọi người đều phải chấp hành. Mọi nhu cầu về nhà đất đều được xem xét, gỉai quyết cấp đất, giao đất theo pháp luật hiện hành”.

TGM Ngô Quang Kiệt không hề từ chối chấp hành pháp luật. TGM Ngô Quang Kiệt chỉ đặt vấn đề tiên quyết là : Đâu là giấy tờ xác định điểm khởi hành để Toà TGM Hà Nội chấp hành pháp luật đối với lô đất 42.

Qua cuộc đối thoại giữa Toà TGM Hà Nội và chế độ Hà Nội , công luận thấy rất rõ: thay vì thảo luận nghiêm chỉnh và đúng trọng tâm, ông Nguyễn Tấn Dũng đã chạy rong từ căn bản pháp lý của đất số 42 qua các vấn đề pháp luật chung chung. Cuộc chạy rong này nhằm khỏa lấp tội phạm cưởng chiếm đất đai của người dân một cách vô căn cứ.

Chủ đề thứ hai: Thảo luận và đánh, rối thảo luận.


Có lẽ nhận biết kiểu chạy rong của ông Nguyễn Tấn Dũng không có tính thuyết phục, những “ủng hộ viên” của Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy cuộc thảo luận về đất 42 theo một hướng khác. Hướng khác đó là: hãy thảo luận trên giả sử nếu trả đất 42 cho Công Giáo Hà Nội thì sự trao trả kia có hợp lý hay không?

Đầu tháng 10/2008,trong bài viết mang tựa đề “Tại anh hay tại ả” đăng trên báo Diễn Đàn, Nguyễn Ngọc Giao nêu ý kiến: “Có thể nghĩ rằng sớm muộn, chính quyền Việt Nam sẽ phải sửa đổi hiến pháp để thừa nhận quyền sở hữu nhà đất của tư nhân. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, điều đó không có nghĩa là trở lại quyền sở hữu “trước đây”…Luận điểm của TGM Ngô Quang Kiệt (đất 42 Nhà Chung là sở hữu có giấy tờ làm bằng của Giáo Hội từ trăm năm nay rồi) không vững vàng chút nào khi ta biết rằng trước khi Giám Mục Puginier giành được đất này, nó là sở hữu của chùa Bảo Thiên. Nếu phải trả lại thì trả lại cho ai?».

Mặt khác, theo BBC ngày 23/09/2008 khi đề cập tới vụ toà Khâm Sứ, ông John V Hanford đặc trách về các vấn đề tôn giáo của chính phủ Hoa Kỳ nhận định rằng: “Một trong những vấn đề là tài sản được sang tay nhiều lần.Trong trường hợp miếng đất được nhiều người biết đến ở Việt nam, tôi nghĩ trước đây của người Phật Giáo sau nhờ người Pháp mới trở thành của người Công Giáo nên rất phức tạp”.


Y kiền của Nguyễn Ngọc Giao và của John V. Hanford đã dẫn đến các suy nghĩ sau đây:

1) Nếu chấp nhân đất 42 trước kia là của Chùa Bảo Thiên thì vụ tranh cãi về đất 42 phải tách ra làm hai vụ tranh tụng riêng biệt. Một là CSVN lấy đất 42 từ tay Công Giáo Hà Nội thì hãy trả lại cho Công Giáo Hà Nội. Hai là sau khi đất 42 trở về với Công Giáo Hà Nôi, Chùa Bảo Thiên sẽ kiện Công Giáo Hà Nội để đòi lại đất 42. Trên địa bàn luật dân sự và dân sự tố tụng, tranh tụng về bất động sản là ngành tranh tụng đòi hỏi các thẩm phán xử án phải có hiểu biết cao cấp và chuyên môn về luật dân sự. Một vài lời bàn lơ mơ trong các loại bình luận trên báo chí không thể đưa đến giải pháp êm đẹp cho đất 42.

2) Trong hiện trạng hồ sơ của đất 42 chỉ có chế đô Hà Nội thảo luận với Công Giáo Hà Nội, không nên kéo theo quá khứ xa xăm có tên gọi là Bảo Thiên. Kéo theo kiểu vừa kể sẽ sản sinh ra chuổi hệ lụy rằng trước Toà khâm Sứ là Bảo Thiên. Trước Bảo Thiên là chủ A, trước chủ A là chủ B, Chủ C. Cứ như thế mà kéo dài, cuối con đường kéo dài kia là một thừa kế của dân tộc Chiêm Thành. Vị này sẽ dõng dạc tuyên bố: Xin quí vị Việt Nam hãy trả đất Chiêm Thành lại cho người Chiêm Thành. Dĩ nhiên nếu không tìm ra người có đủ tư cách pháp lý là thừa kế Chiêm Thành thì Đảng CSVN sẽ vội vàng hát lại bài hát cũ: Đất đai là của toàn dân. Đảng quản lý. Trong thực tế đảng quản lý có nghĩa là đảng lấy đất đai của toàn dân làm của riêng, đảng toàn quyền mua bán, chia chác đất đai của toàn dân.

Lý luận trình bày trong phần “suy nghĩ hai” là lý luận đánh rối vụ kiện, lý luận tránh né phân xử vụ kiện. Lý luận chạy rong trên địa bàn luật lệ về đất đai.

Bài viết này đã trình bày những nét căn bản nhất các vụ chạy rong do chế độ Hà Nội chủ động: Chạy rong từ vụ chống Tàu qua vụ trốn thuế. Chạy rong từ nền tảng pháp lý của đất 42 qua những luật lệ lơ mơ về đất đai. Chạy rong từ Toà Khâm Sứ qua chùa Bảo Thiên… Nhìn chế độ Hà Nội vất vả với chính sách chạy rong người dân không thể không nghĩ tới hoạt cảnh chạy rong diễn ra trong các chợ Bến Thành, Đồng Xuân. Ở các chợ kia bao giờ cũng có một số trẻ em sinh sống bằng khả năng ăn cắp vặt. Mỗi lần ăn cắp được một món tài sản của khách đi chợ các trẻ em này chuyền tay cho nhau «chiến lợi phẩm» mà chúng bắt được với tốc độ càng nhanh càng tốt. Hành động như vậy đám trẻ em ăn cắp vặt đã buộc chiến lợi phẩm của chúng phải chạy rong từ tay người này qua tay kẻ khác. Chiến thuật chạy rong kia khiến cho khổ chủ không cách chi tìm lại được tài sản của mình đã bị mất cắp.

Trước khi có được tự do dân chủ, trước khi có được nhân quyền, quần chúng Việt Nam chỉ thỉnh cầu nhà Nước CSVN một điều. Điều đó là: xin quí vị lãnh đạo Hà Nội hãy tức thời tháo bỏ chính sách chạy rong ra khỏi guồng máy cai trị của quí vị. Có như vậy, người dân mới có thể nhận biết được một cách rõ rệt sự khác biệt giữa hai hoạt cảnh: một bên là đảng CSVN đang điều hành việc nước, bên kia là đám trẻ em chợ Bến Thành-Chợ Đồng Xuân đang ngày đêm bận rộn với những vụ đánh cắp theo chiến thuật chạy rong.



Đỗ Thái Nhiên

Posted: Tue Oct 21, 2008 8:42 pm
by vuphong
Image


TU THEO VỌNG NGHIỆP:
LÊ MẠNH THÁT THIỀN SƯ?


NGUYỄN-CHÂU

Tháng 10, năm 1988, cựu Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh, thế danh là Phạm Công Thiện, đã viết một bài nhan đề "Hai Vị Thiền Sư" với nội dung tán tụng Lê Mạnh Thát và Tuệ Sĩ, đồng thời cũng để tự giới thiệu thân thế và sự nghiệp của bản thân Phạm Công Thiện (Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh đã hoàn tục ngay sau 30-4-1975, và đang định cư tại Úc, con gái đầu của ông năm nay cũng trên 40 tuổi).

Phạm Công Thiện viết:
"Tôi được may mắn quen biết Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát khi hai vị này còn rất trẻ và còn dưới hai mươi tuổi. Bây giờ cả hai vị đã được 45 tuổi (cả hai đều sinh năm 1943).

"Lúc tôi quen biết hai vị thì hai vị hãy còn là những chú tiểu ở chùa; bây giờ thì hai vị đã trở thành hai vị Thiền sư lỗi lạc và lại cũng là Anh Hùng Dân Tộc của Lịch Sử Việt Nam hiện đại. Tại sao gọi là “Anh Hùng Dân Tộc" thì rất dễ nhận thấy (mà cụ thể nhất là cái án tử hình về tội "phản cách mạng và bạo động vũ khí lật đổ chế độ", vân vân).

"Nhưng tại sao gọi Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ là "hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất, thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch nhất của Việt nam hiện nay"?

"Thiền sư" à? Chỉ nội cái danh hiệu "thiền sư" đã là mệt rồi, lại còn thêm mấy chữ mơ hồ như "lỗi lạc nhất, thông minh nhất.."? Tôi muốn nói về Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát với tất cả thận trọng và suy nghĩ chín chắn cặn kẽ, và tôi xin chịu mọi trách nhiệm về cái nhìn khác thường của tôi đối với nhị vị.

"Tại sao là "thiền sư"? Và "thiền sư": Là thế nào?

Không cần trả lời trực tiếp về những câu hỏi bất thường này. Nơi đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh đôi điều gián tiếp và ai muốn hiểu gì thì cứ hiểu. Không ai có thể tự nhận đủ thẩm quyền tôn giáo và tâm linh để trả lời dứt khoát những câu hỏi bất thường trên. Chỉ có những kẻ bỏ cả trọn đời mình lặng lẽ sống chết với cái gọi là "Bồ Ðề tâm" hay "Phát Bồ Ðề Tâm" thì may ra mới trực nhận đâu đó khí phách và thần dụng bảng lảng của "nghịch hành thiền".

"Mấy chữ "thiền sư" đã bị người ta lạm dụng để tự truy tặng một cách lố bịch hay truy tặng kẻ khác với nông nổi dễ dãi tự mãn phè phỡn nông cạn, nhất là từ lúc Thiền hay Zen trở thành cái mốt trí thức đốn mạt. Bất cứ người nào tỏ vẻ "kiêu ngạo khác thường" một chút là có những hành động cử chỉ "ngược đời trái đạo" một chút thì tự gán hay bị gán là "thiền sư”.

"Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ không bao giờ tự nhận lời "thiền sư" và cũng không bao giờ nghĩ mình là cái gì cả trên mặt đất này. Hai người này chỉ là những kẻ lễ độ khiêm tốn một cách tự nhiên và không bao giờ biết giả vờ "hạ mình" với ý đồ kín đáo chà đạp lên trên kẻ khác.

"Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau, thì mới may ra cảm nhận đôi chút tác phong thiền sư kín đáo toát ra một cách tự nhiên và một cách "vô công dụng hạnh" từ đời sống thường nhật và tinh thần "diệu nhập" của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là "thiền sư" với tất cả đắn đo thận trọng và với tất cả ý nghĩa cao đẹp và "như thực" của một danh xưng "xung thiên chí"...

Giữa dòng thác lũ ào ạt và địa chấn thường trực của sinh mệnh, thế mệnh, và tính mệnh của quê hương, một sớm hôm nào đó, tôi đã được xô đẩy lặn hụp với Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát; tất cả ba anh em chúng tôi đều xuất thân từ Viện Phật Học miền Trung mà vị cha già của chúng tôi Hòa Thượng Trí Thủ (người đã bị Cộng sản Hà Nội thủ tiêu ngay lập tức sau khi Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát bị bắt giam vào ngày 1 tháng 4 năm 1984, vì "tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng sản").(Ngưng trích).


Phạm Công Thiện (tuổi Tân Tị, 1941 - "Ngày Sinh của Rắn") viết bài này sau khi các Ðại Ðức Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni sư Trí Hải bị nhà cầm quyền Hà Nội buộc tội "âm mưu lật đổ chính quyền". Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát bị kết án tử hình, Ni sư Trí Hải 20 năm tù giam.

Theo Phạm Công Thiện thì "Thực sự từ những năm 1966 cho đến 1970, Lê Mạnh Thát đang còn du học tại Hoa Kỳ, học ban tiến sĩ tại Viện Ðại Học Wisconsin, Madison, hình như mãi đến năm 1973 mới về Ðại Học Vạn Hạnh nhưng chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên, nhất là qua bài vở của tạp chí Tư Tưởng. Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát đều sinh năm 1943 (Thát sinh quán tại Quảng Trị và Tuệ Sỹ thì nguyên quán tại Quảng Bình và ra đời ở Paksé tại Lào)."

Phạm Công Thiện chỉ nói từ năm 1966 đến 1970, Lê Mạnh Thát đang còn du học tại Hoa Kỳ, học ban tiến sĩ, mà không cho biết là học Tiến sĩ ngành nào.

Viện Ðại Học Wisconsin - Madison là một Viện Ðại Học danh tiếng của Hoa Kỳ, có rất nhiều người xuất thân từ Ðại Học này được giải Nobel. Tôi đã tìm vào danh sách các Tiến sĩ (Ph.D.) của Viện Ðại Học Wisconsin - Madison, nhưng không thấy tên Lê Mạnh Thát và cũng chẳng thấy tên của Luận án tiến sĩ (tức là đề tài nghiên cứu) của Lê Mạnh Thát. Thế mà nhà báo Hoàng Hải Vân của báo Thanh Niên (trong nước) đã viết:

"Thượng Tọa Thích Trí Siêu là một nhà tu hành xuất gia từ bé, ông không chỉ là một thiền sư, mà còn là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...), ông còn là một người Việt Nam "nguyên chất" với tất cả lòng tự trọng tự hào về dân tộc mình, thể hiện một cách lạ lùng ngoạn mục ở tất cả các công trình khoa học của ông. Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...

"Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng Tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Ðức Bồ Ðề Ðạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

"Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Ðại lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ Tịch Ủy ban Quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Ðại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào."


Những lời tâng bốc mê muội (nếu không muốn nói là ngu dốt) của nhà báo Hoàng Hải Vân trên báo Thanh Niên đã làm cho giới học giả và nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam nhẩy thót lên. Nhất là khi cái anh nhà báo "với trình độ nông cạn" này bị lóa mắt trước cái mà anh ta gọi là "sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng" Lê Mạnh Thát trong tham vọng "dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước."

Qua loạt bài báo tâng bốc Lê Mạnh Thát, cái dốt của Hoàng Hải Vân (báo Thanh Niên) đã lòi hết ra và "thói nói trạng"- một bẩm tính của phong thủy Quảng Trị - nơi Lê Mạnh Thát sinh, cũng lộ nguyên hình.

Trước hết là cái dốt của nhà báo Hoàng Hải Vân về hệ thống bằng cấp. Hoàng Hải Vân viết "ông không chỉ là một thiền sư, mà còn là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...).

- Nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ. Theo cách nói này thì quả thật là Hoàng Hải Vân mù tịt, không biết tiến sĩ là cái bằng gì, làm thế nào để có được. Ông Lê Mạnh Thát "có nhiều bằng tiến sĩ". Thử hỏi: nhiều là bao nhiêu? Tiến sĩ là một học vị được các trường Ðại Học cấp cho những sinh viên, những nhà nghiên cứu đã bảo vệ thành công luận án của mình trước Hội Ðồng Giám Khảo. Hầu hết các luận án tiến sĩ đúng nghĩa đều phải đưa ra một khám phá hoặc một phát minh mới về khoa học, văn chương, hoặc triết lý. Không có khám phá mới thì không thể gọi là luận án tiến sĩ. Trường hợp Lê Mạnh Thát, có lẽ ông đã có bằng Master. Vào thập niên 1970, tại Việt Nam khi có nhiều người xuất thân từ hệ thống giáo dục Hoa Kỳ về nước, Bộ Giáo Dục đã đề nghị xem bằng Master của Mỹ tương đương với bằng Tiến sĩ (Docteur -Doctorat trong hệ thống giáo dục Pháp). Có lẽ vì đó mà người ta tôn Lê Mạnh Thát là tiến sĩ, chứ thực sự Lê Mạnh Thát chưa có bằng Ph. D. (Philosophy Doctor) của Mỹ. Thông thường, sau khi trình luận án tiến sĩ và được chấm đậu, luận án này được in ra và lưu trữ ở thư khố Ðại Học, nhiều tiến sĩ đã in luận án của mình thành sách. Ðiều này không xẩy ra đối với Lê Mạnh Thát. Ông Thát không thể có nhiều bằng tiến sĩ như Hoàng Hải Vân đã tâng bốc.

- Ông Lê Mạnh Thát "thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...)” lời tâng bốc này thì thật là ghê gớm nó có thể làm cho người nghe "ngất xỉu", nhưng ông Hoàng Hải Vân lại không kể ra đủ 15 ngôn ngữ, chứ đừng nói là hơn.

Ðây cũng là kiểu ca ngợi Hồ Chí Minh "Bác Hồ biết bảy thứ tiếng" bởi vì "Bác"từng đi làm bồi, làm tay sai cho cộng sản Ðệ Tam quốc tế khắp thế giới, đến đâu cũng có một "nữ gia sư" cận kề dạy cho. Còn Lê Mạnh Thát thì ăn cơm chùa, ngủ nhà chùa, nên có thời suốt ngày đêm đọc sách chữ Tàu, sách chữ Phạn... "Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ... (theo Hoàng Hải Vân) chỉ thiếu ngôn ngữ Lào, Khờ-Me, Chăm-Pa!

Thứ hai, là cái dốt của Hoàng Hải Vân về "Công trình khoa học". Một công trình khoa học đích thực thường khởi đi từ "giả thuyết" (hypothèse - hypothesis) qua "thí nghiệm kiểm chứng" (Expérience - vérification) đến kết luận. Nhưng Hoàng Hải Vân đã xem những suy diễn Lê Mạnh Thát về thời "huyền sử" của Việt Nam, những suy đoán chưa được kiểm chứng một cách có phương pháp như là "tư liệu để dựng lại lịch sử".

Thứ ba, nhà báo Hoàng Hải Vân cũng đã cho thấy sự yếu kém của ông trong nghiệp vụ thông tin: Chính ông phải biết rõ rằng "Thượng Tọa Thích Trí Siêu đã hoàn tục", nay chỉ còn là Lê Mạnh Thát, một người không bình thường như mọi người: Thượng Tọa Thích Trí Siêu không có cái đầu trọc như các thầy tu Phật khác! Do đó, dù nhà báo Hoàng Hải Vân được chỉ đạo của Ðảng Cộng sản đến gặp Lê Mạnh Thát để viết bài bốc ông ta lên mây, nhằm mục đích mà mắt thiên hạ, thì thiết nghĩ Hoàng Hải Vân cũng nên giữ lại một chút lương tri, chứ sao mà táng tận như vậy. Cách Hoàng Hải Vân ca tụng Lê Mạnh Thát giống hệt như Ðảng ca ngợi Bác "suốt đời vì lo việc nước mà không có thời giờ lập gia đình" (tuy Bác vẫn sống "độc thân" với hơn mười bà vợ đủ mọi quốc tịch, vừa có hôn thú vừa già nhân nghĩa non vợ chồng mà cả thế giới đều biết.)

Trở lại với Lê Mạnh Thát. Nhà báo Hoàng Hải Vân đã kể lại sự "đốn ngộ" của ông khi tò mò hỏi về chuyện “đầu Thượng Tọa Thích Trí Siêu" Lê Mạnh Thát "vẫn để tóc".

"Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Ðức Bồ Ðề Ðạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông."

Như thế là trong phòng Lê Mạnh Thát có bức ảnh Bồ Ðề Ðạt Ma. Lê Mạnh Thát lấy hình tượng Bồ Ðề Ðạt Ma để biện minh cho sự vi phạm "giáo luật tu trì" của bản thân. Hoàng Hải Vân khoe là "Tôi ngộ ra nhiều điều trong tiếng cười của ông". Thực ra, Hoàng Hải Vân chỉ ngụy tín mà thôi. Bởi vì, chính Lê Mạnh Thát được xem là đã tu trì khoảng 50 năm, nhưng chưa chứng được một quả vị nào, thì đã hoàn tục vì vọng nghiệp.

Ðến đây, tưởng có thể nhắc lại nhận định của Phạm Công Thiện về ý niệm và danh xưng "Thiền sư" để nhà báo Hoàng Hải Vân mở mắt, mở lòng, đừng mê muội nữa!

"Mấy chữ "thiền sư" đã bị người ta lạm dụng để tự truy tặng một cách lố bịch hay truy tặng kẻ khác với nông nổi dễ dãi tự mãn phè phỡn nông cạn, nhất là từ lúc Thiền hay Zen trở thành cái mốt trí thức đốn mạt. Bất cứ người nào tỏ vẻ "kiêu ngạo khác thường" một chút là có những hành động cử chỉ "ngược đời trái đạo" một chút thì tự gán hay bị gán là "thiền sư”.

"Thiền sư" mà còn chấp tướng

Lê Mạnh Thát còn treo hình Bồ Ðề Ðạt Ma rất lớn trên tường, nhiều tượng Phật trên bàn làm việc. Ðiều này cho thấy trong tâm Lê Mạnh Thát chưa có Phật, Bồ Ðề Ðạt Ma cũng chỉ là vọng tưởng mà thôi. "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu!"

Ôi! Ðây là tư tưởng (hay tư duy) của một người tu hành hay của một phàm nhân? So sánh để biện minh cho bản ngã của mình, rồi từ "chấp ngã", Lê Mạnh Thát nghĩ đến chuyện hơn thua "bộ râu". Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là Tổ sư thứ 28 của Thiền Tông (Zen Shu) bên Trung Hoa thế kỷ thứ 6. Hạnh nguyện và phương pháp tu trì của phái Thiền này là "Tham thiền để thấy Phật nơi ta. Kiến Phật nơi mình là đắc đạo." Nghe nói rằng "Thuở ấy, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ Xà Quật. Ðức vua thời Ðại Phạm Thiên có cúng dường cho Ngài một cái hoa sen vàng (kim liên) và cầu Ngài thuyết pháp. Ðức Phật Thế Tôn cầm hoa sen lộn vòng qua các ngón tay, không nói một lời nào cả. Bấy giờ hầu hết đạo chúng đi theo Ngài, không ai hiểu được sự im lặng ấy có ý nghĩa gì, chỉ có ông Ca Diếp mỉm cười. Ðức Thế Tôn liền nói với ông Ca Diếp rằng: "Ta có cái tư tưởng hay và lạ về Niết Bàn, cái chìa khóa của Chánh Pháp muốn truyền cho ngươi."

Sự im lặng đó là đặc trưng của Thiền Tông: các hành giả (người cùng tu) hiểu được nhau bằng tương truyền tư tưởng, ý hội chứ không ngôn ngữ. Pháp này được Ca Diếp (Kacyapa) truyền lại cho A Nan rồi Thương Na Hoa Tu cho đến Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ sư thứ 28. Sau 60 năm đi thuyết pháp từ Thiên Trúc đến Trung Hoa, Bồ Ðề Ðạt Ma đã đi vào Tung Sơn, trú tại chùa Thiếu Lâm. Ngài ngồi quay mặt vào vách mà tham thiền trong vòng 9 năm và viên tịch năm 529.

Lê Mạnh Thát tôn thờ Bồ Ðề Ðạt Ma để tu theo hạnh nguyện của vị sư này. Lê Mạnh Thát nói là "ông chỉ còn thua Bồ Ðề Ðạt Ma một bộ râu". Xin mách bảo cho ông Lê Mạnh Thát một kế để có thể bằng ông Ðạt Ma trong một thời gian ngắn: đó là mua thuốc mọc tóc, mọc râu, xức đâu mọc đó, đang được quảng cáo rầm rộ khắp nơi, giá cả phải chăng, công năng diệu dụng!

Thực ra, Lê Mạnh Thát hơn Bồ Ðề Ðạt Ma nhiều lắm. Tháng 9, năm 520, Bồ Ðề Ðạt Ma đến thành Kiến Khương, kinh đô của Lương Võ Ðế. Võ Ðế có tiếng là mộ đạo, nhưng căn cơ thấp kém, lại có tâm ác, nên Ðạt Ma không truyền được pháp Tâm ấn và Thiền Ðịnh, phải rời khỏi nước của Lương Võ Ðế.

Trong lúc, Lê Mạnh Thát, sau khi được Cộng sản ân xá khỏi án tử hình và các thứ án khác, ông đã thức thời hoàn tục, và đến ngày 10 tháng 11 năm 2007, Lê Mạnh Thát đã được báo chí Cộng sản Việt Nam tôn lên làm Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Ðại Lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc "VESAK" tại Việt Nam, đồng thời là Tổng Thư Ký Ủy Ban Ðiều Phối Quốc gia của đại lễ này.

Tuy biết Lê Mạnh Thát đã hoàn tục, đang sống đời một cư sĩ, nhưng Cộng sản Việt Nam vẫn cố lập lờ đánh lận thế giới với cái "tít lớn" trên báo "Thượng Tọa Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát". Tinh thần "vô liêm sỉ" và "vô úy" (không sợ ai) đã thúc giục Lê Mạnh Thát hăng hái nhận luôn, không một chút do dự. Thượng Tọa Thích Hoàn Tục Lê Mạnh Thát đã họp báo và lấy làm vinh dự lắm với cái chức "Ai-Âu-Xi (IOC) cho nên không còn biết chính tà gì nữa.

Nhà cầm quyền Hà Nội đã sử dụng công cụ Lê Mạnh Thát để phá hoại nền nếp sinh hoạt của Phật giáo chính thống. Thay vì mời một vị tăng đạo cao đức trọng đứng ra chủ trì và chứng minh Ðại Lễ Phật Ðản Quốc Tế, Hà Nội đã chọn một tu sĩ đã hoàn tục và phong cho một giáo phẩm kỳ cục ""Thượng Tọa Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát".

Một thượng tọa không có Pháp danh, nhưng lại có nhiều tham vọng thế tục, được nhà cầm quyền Hà Nội nhử miếng mồi "xây dựng đại học Khuôn Việt" tại Sài Gòn trị giá 40 triệu Mỹ kim, mà cái chức Viện Trưởng thì Lê Mạnh Thát tưởng như đã nắm chắc trong tay. Do đó, Lê Mạnh Thát mở miệng ra là nhắc tới chính quyền, ca tụng Nhà Nước, nịnh bợ Hồ Chí Minh.

Lê Mạnh Thát nói với báo Thanh Niên "Sau ngày độc lập, rất chính xác khi lấy tên Hùng Vương đặt cho con đường chính giữa thủ đô, ngang qua Hội trường Ba Ðình, đó là điều hết sức có ý nghĩa."

Cựu tử tù về tội âm mưu lật đổ chế độ Cộng sản, Lê Mạnh Thát đã thành một tên nịnh thần. Vừa nịnh cộng sản vừa nói sảng "Giữa lúc người Mỹ tuyên bố đưa Việt Nam vào thời đại đồ đá, thì Việt Nam lại có một cuộc khảo sát lớn về thời đại Hùng Vương do chính Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng chỉ đạo. Giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện 4 tập sách về thời đại Hùng Vương. Ðó là một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nhất từ trước tới nay..." (nguyên văn).

Nhân được làm chủ tịch Ủy Ban Tổ Chức Ðại Lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc "VESAK", Lê Mạnh Thát đã "thừa thắng xông lên" đả phá các nhà viết sử Việt Nam từ xưa tới nay, đòi viết lại lịch sử theo cuốn sách có tên là "Lục Ðộ tập kinh" mà ông ta cho là một nguồn tài liệu cơ bản để tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam. Lê Mạnh Thát đã tự cho mình là uyên bác lỗi lạc nhất. Khi được Hoàng Hải Vận bốc: "Nói như vậy có nghĩa là để đối chiếu chỉ hai chữ "trung tâm" thầy đã phải đọc hết tất cả của Trung Quốc trong 3 thế kỷ?" Lê Mạnh Thát đáp ngay "Ðúng vậy. Không đọc hết thì làm sao mà khảo sát, đối chiếu được!"

Cuốn "Lục Ðộ Tập Kinh" mà Lê Mạnh Thát đã đọc và xem như bửu bối của sự nghiệp nghiên cứu của ông, viết bằng chữ Hán. Nhưng ông Lê Mạnh Thát nói "căn cứ vào những "tàn dư" của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt, chỉ có thể giải thích là tập kinh đó đã được dịch ra chữ Hán từ một nguyên bản tiếng Việt."

Ðây là một hoang tưởng, tương tự như tại Mỹ hiện nay có một số người đang tìm cách chứng minh là Việt Nam đã có chữ viết, có văn tự từ ngàn xưa, và ngôn ngữ Việt là khởi đầu của ngôn ngữ nhân loại. Có người đã đưa ra "bằng chứng" là Chúa Jesus đã nói tiếng Việt khi bị đóng đinh trên Thập Tự giá! (Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang).

Căn cứ vào “Lục Ðộ Tập Kinh”, Lê Mạnh Thát đưa ra nhiều luận chứng thiếu nền tảng khoa học về lịch sử, nhưng lại tự cho là duy nhất đúng, còn tất cả tài liệu khác đều sai. Lê Mạnh Thát đã nói về sử gia Ngô Sĩ Liên như sau:

"Bộ Việt luật còn đó. Bài Việt ca còn đó. Truyện trăm trứng còn đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói!"

Ông Lê Quý Ðôn và những bài thơ sưu tập trong Kiến Văn tiểu lục, Lê Mạnh Thát tìm thấy một vài bài không đúng tên tác giả, và đã nói với Hoàng Hải Vân rằng "Ông Lê Quý Ðôn mà cũng lôi thôi quá!".

Qua những hành trạng và ngôn ngữ trên đây, chúng sanh tính của Lê Mạnh Thát đã lộ rõ ra hết. Cái ngã mạn trong Lê Mạnh Thát đã biến ông thành một kẻ cuồng ngôn, loạn ngữ đối với tất cả mọi người, trừ nhà báo Hoàng Hải Vân, môn đồ mê muội của ông và chính quyền Cộng sản mà ông đang tôn thờ.

Lê Mạnh Thát đọc và nghiên cứu Lục Ðộ Tập Kinh, nhưng lại quên câu "Nhất niệm tâm sân khởi bát vạn chướng môn khai", thì thật rất nguy hiểm cho một con người ở tuổi gần "thất thập" mà vẫn con bị "huyễn hoặc" bởi "hư danh".

Kinh "Tứ Thập Nhị Chương" - Tu Lục Ðộ Hạnh, Phật nói "Người tùy theo thế tình, tham cầu danh vọng. Khi được công danh hiển đạt, thì thân thể đã già yếu. Kẻ tham danh lợi ở đời, không hiểu thấu đạo, chỉ uổng công nhọc xác. Ví như cây hương đốt, khi được người ta ngửi thấy mùi thơm, thì thân hương đã hóa thành tro bụi, vì lửa lung đốt cháy liền thân hương vậy."

Ðại Lễ Phật Ðản VESAK đã xong. Môn đồ mê muội Hoàng Hải Vân đã bốc Lê Mạnh Thát lên tận đỉnh mây làm cho nhiều người bất bình, bất phục, bất mãn, nhất là khi nghe Lê Mạnh Thát thóa mạ các tiền nhân quá vãng. Báo chí cộng sản đã bắt đầu phản ứng. Thiết nghĩ, Lê Mạnh Thát cũng nên tụng lại phẩm Lục Ðộ Hạnh trên đây để cầu sám hối trước khi quá muộn. Chúng sanh sở tại chư vọng nghiệp, giai do vô thỉ tham sân, si.

Mục Kiền Liên, đệ nhất Thần Thông vì đã ỷ vào phép thần thông mà vong mạng. Mê, Ngộ cách nhau một niệm.

NGUYỄN-CHÂU

Posted: Thu Oct 23, 2008 1:26 am
by dailien
San sẻ tài sản ở nước Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Nghị Sĩ Barack Obama nói, rồi Nghị Sĩ John McCain nhắc lại, hai chữ trong tiếng Anh “wealth spreading” đã được lập đi lập lại nhiều lần trong hơn một tuần lễ. Hai chữ này có thể dịch sang tiếng Việt là “đem trải rộng (spread) tài sản (wealth) ra,” hoặc “phân bố, san sẻ, chia sớt tài sản,” nếu muốn quá khích dịch là “san bằng tài sản!” Tùy theo ý người dịch muốn, nó có nghĩa tốt hay xấu. Ngày hôm qua, bà Thống Ðốc Sarah Palin đã gắn cho ông Obama nhãn hiệu một “wealth spreader,” người đem chia tài sản (của quý vị cử tri yêu quý, những người đóng thuế!)

Câu chuyện bắt đầu khi một cử tri, ông Joe Wurzelbacher chất vấn ông Obama tại sao định giảm thuế cho mọi người mà lại không cắt cho những người lợi tức từ 250,000 đô la một năm trở lên. Ông Joe trở thành nổi tiếng, và câu trả lời của ông Obama cũng vậy. Ông Obama nói, “Ðem tài sản san sẻ ra sẽ ích lợi cho tất cả mọi người.” Ông McCain bắt được câu đó, ông không ngần ngại gọi ý kiến của ông Obama là một thứ “Chủ nghĩa xã hội!” Nghe phát sợ!

Không phải người Việt đã sống qua chế độ cộng sản mới cảm thấy ghê sợ cái tên chủ nghĩa xã hội, người Mỹ nghe thấy tên gọi đó cũng ghét. Cộng Sản ở Trung Quốc làm, rồi Cộng Sản Việt Nam bắt chước, cả phong trào cải cách ruộng đất, tòa án nhân dân, đấu tố chỉ nhắm mục đích là cướp tài sản của các địa chủ rồi đem san sẻ lại cho các bần cố nông theo đảng Cộng Sản. Nhưng cuối cùng là Ðảng ôm trọn gói tài sản cả nước, biến toàn dân thành những đứa ở làm công cho đảng! Bây giờ đảng chịu nhả bớt ra nhưng vừa nhả vừa tiếc, vẫn cắn lại!

Mấy chữ “san sẻ tài sản” được truyền đi nhanh và rộng trong một tuần lễ trong cuộc tranh cử, khiến cho hãng thông tấn AP ngày hôm qua phải phổ biến một bài phân tích, được rất nhiều nhật báo ở Mỹ đăng lại trong số báo ra ngày hôm nay. Họ viết tựa đề: “San sẻ tài sản? Nước Mỹ đã làm từ lâu rồi!” Bài của AP xác định rằng nước Mỹ đã có một “truyền thống tái phân phối (họ dùng động từ redistribute) những tài sản khổng lồ qua các chính sách thuế khóa và chi tiêu của chính phủ.”

Ðiều này đúng. Kể từ năm 1913 khi chính phủ liên bang bắt đầu đánh thuế lợi tức cá nhân. Các đại biểu quốc hội Mỹ bắt chước những chính sách thuế khóa đã thi hành ở nhiều nước Âu Châu, gọi là “thuế lũy tiến,” (progressive). Người có lợi tức cao đóng cho chính phủ một tỷ lệ cao trong lợi tức của mình, gọi là suất thuế; người lợi tức thấp đóng thuế với tỷ lệ thấp hơn. Càng giầu thì suất thuế càng cao, càng nghèo suất thuế càng giảm.

Những người cộng sản thế kỷ trước thường chỉ trích chế độ thuế khóa này. Họ nói chế độ tư bản dùng chính sách thuế lũy tiến để tiếp tục đàn áp giai cấp công nhân! Lấy tiền nhà giầu phát cho nhà nghèo là cốt cho họ khỏi nghe theo cộng sản dụ mà nổi lên lật đổ chế độ tư bản!

Nhưng những người ủng hộ lối đánh thuế lũy tiến lý luận rằng thuế má là góp tiền cho quốc gia, để quốc gia có thể cung cấp những tiện nghi, vật dụng chung (thí dụ đường, cầu, phi cảng) và dịch vụ chung (thí dụ, hệ thống đổ rác, quân đội, cảnh sát giữ an ninh, trật tự) cho mọi người dân cùng hưởng; nhưng trong một nước thì người giàu thường được hưởng nhiều hơn người nghèo. Có người cả đời không dùng đến phi trường, có người mỗi tuần dùng một lần! Cảnh sát giữ an ninh cho ông có 5 chiếc xe trong nhà, bảo vệ cho ông nhiều hơn bà hàng xóm chỉ có một chiếc xe!

Hơn nữa, cách tổ chức kinh tế của quốc gia trên nguyên tắc tạo cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người, nhưng thế nào cũng sinh ra sẵn những bất công. Thí dụ, một cậu sinh viên lớn lên ở New York vừa học xong đại học vào làm cho ngân hàng đầu tư, có thể được trả 300,000 đô la một năm. Anh ta vẫn được hưởng cơ hội cao hơn một thanh niên cùng tuổi lớn lên ở một làng nông nghiệp tại Kansas, ra trường rồi chỉ kiếm được 25,000 đô la một năm! Có phải vì anh thanh niên ở Kansas lười biếng hơn hay dốt nát hơn chăng? Không phải, chỉ vì họ sinh ra và lớn lên ở hai chỗ khác nhau! Hệ thống kinh tế, xã hội, pháp luật đưa đến tình trạng không công bằng đó; chính sách thuế khóa làm giảm bớt những bất công loại này, khó tránh được nhưng nên tránh. Gọi đó là san sẻ tài sản cũng được!

Người Mỹ đã chấp nhận hệ thống thuế lũy tiến đó từ hàng trăm năm nay. Hai người hiện giầu nhất nước Mỹ là Warren Buffett và Bill Gates đều chống chính sách cắt giảm thuế cho người lợi tức cao của Tổng Thống George W. Bush hồi năm 2003. Ở nhiều nước tư bản khác như Anh Quốc, Canada, Thụy Ðiển, chế độ thuế khóa còn buộc người kiếm nhiều tiền đóng suất thuế cao hơn ở Mỹ nữa. Ðó đúng là thu tiền của người giầu, đem tiền dùng chung cho cả nước hưởng; nếu cần thì phát cho người nghèo gọi là trợ cấp xã hội. Trợ cấp xã hội ở Mỹ còn thấp hơn ở những nước như Anh, Hòa Lan, Canada, vân vân; và sau cuộc cải tổ thời ông Clinton số người lãnh trợ cấp xã hội đã giảm bớt 60%.

Thuế lợi tức cá nhân là nguồn thu cao nhất trong các số thu của chính phủ liên bang Mỹ. Hiện nay những người kiếm nhiều tiền nhất nước Mỹ, 5% trên cao đóng góp hơn một nửa số thuế lợi tức mà liên bang thu vào. Còn 40% người dân Mỹ ở dưới thấp, những người nghèo nhất, không phải đóng một xu thuế lợi tức nào cả, dù họ có làm việc và được trả lương, chỉ vì lương thấp quá. Ðó là lý do những người giầu Mỹ vẫn than phiền họ bị nhà nước tư bản bóc lột!

Tuy những người giầu nhất nước Mỹ bị “bóc lột” như vậy, nhưng trong thời gian qua lợi tức của lớp người này vẫn tăng nhanh hơn người nghèo. Các nhà nghiên cứu thường chia dân số làm 5 tầng, từ giầu nhất đến nghèo nhất. Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Ưu Tiên Ngân Sách (CBPP) ở Washington thì trong 10 năm qua lợi tức của những gia đình thuộc 20% dân số Mỹ nghèo nhất đã giảm mất 2.5%. Trong khi đó những người thuộc tầng lớp 20% giầu nhất thì lợi tức đã tăng hơn 9%! Người trung lưu, tức là một phần năm dân với lợi tức ở tầng giữa, có 40% ở trên và 40% dưới họ, thì lợi tức chỉ tăng lên được 1.3%. Tầng lớp một phần năm nghèo nhất kiếm 18,120 đô la một năm, còn tầng ở trên cao nhất có lợi tức 132,130 đô la!

Nếu chia dân số thành 20 phần, mỗi phần 5% thì sự chênh lệch còn cao hơn nữa. Lương bổng lợi tức những người thuộc tầng 5% giầu nhất cao gấp 12 lần những người thuộc 5% nghèo nhất. Trong hơn 25 năm qua những người thuộc nhóm trên đã “tăng lương” được 108,000 đô la còn những người thuộc nhóm dưới chỉ tăng được dưới 1000 đô la! Hiện tượng nhà giầu giầu thêm, người nghèo nghèo hơn diễn ra qua các đời tổng thống Cộng Hòa cũng như Dân Chủ.

Nhưng khi nói đến sự chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ, có 2 điều chúng ta nên nhớ. Thứ nhất là ở nước Mỹ người ta “di động” từ một tầng lớp nghèo sang lớp giầu hơn hay là ngược lại, chứ không đứng yên trong một lớp. Theo một cuộc nghiên cứu từ năm 1996 mà ông ben Bernanke nhắc đến trong một bài thuyết trình về chênh lệch giầu nghèo, thì cứ 5 năm lại có một nửa người đổi cách xếp hạng, từ tầng này đổi sang tầng khác, cao hơn hoặc thấp hơn. Ông cũng cho biết càng lâu thì sự chuyển dịch càng nhiều hơn chứ không cố định. Ông chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ còn phân tích thấy nguồn gốc của sự chênh lệch về lợi tức ở Mỹ, thấy rằng nguyên nhân chính là khả năng kỹ thuật, do học vấn mà ra! Ông Bernanke thấy mỗi lần có những thay đổi lớn về kỹ thuật, trong tin học cũng như trong ngành tài chánh thì có sự thay đổi trong sự chênh lệch lợi tức; vì những người chạy theo kịp sự thay đổi kiếm được nhiều tiền hơn!

Ðiều này khác hẳn tình trạng ở các nước “kém khai hóa,” cho hấy một đặc điểm khác trong cảnh giầu nghèo ở Mỹ. Ở những nước đang mở mang, người giầu chiếm hết của cả nước, ở nước giầu không như vậy. Nhưng điều tệ hơn là những người giầu ở các nước nghèo thường làm giầu nhờ lũng đoạn cơ cấu xã hội, chính trị, chứ không thuần túy nhờ biết cạnh tranh về kinh tế với cơ hội bình đẳng.

Nhà kinh tế Martin Wolf đã nêu thí dụ một trong những người giầu nhất thế giới là ông Carlos Slim, năm ngoái có lúc là người giầu nhất, ông người Mexico. Năm 2007 ông Slim có tài sản 59 tỷ Mỹ kim, còn ông Bill Gates ở Mỹ chỉ có 56 tỷ. Ðiều đáng chú ý là tài sản của ông Slim lớn bằng 6.6% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mexico; còn gia tài của ông Gates chỉ đáng 0.4% GDP của nước Mỹ. Có lẽ vì vậy mà dân Mỹ biết các ông Gates và Buffett giầu nhưng không cảm thấy ganh ghét họ! Ông Wolf cho biết trong số 100 người được coi là giầu nhất thế giới có hai nước đông nhất, 39 người Mỹ và 14 người Nga. Ở Mỹ, tài sản của 39 vị tỉ phú này chỉ lớn bằng 4.5% tài sản của cả nước tạo ra trong một năm (tức là GDP). Còn ở Nga, 14 vị tỷ phú của họ chiếm 26% tài sản một năm mà cả quốc gia tạo được. Cách kiếm tiền, tức là cách làm giầu ở các nước tự do dân chủ khác với các nước độc tài hoặc nửa độc tài.

Ở các nước “đang phát triển” thì các định chế kinh tế, chính trị còn chưa được tự do dân chủ, cho nên những người giầu lợi dụng kiếm tiền dễ dàng hơn. Cách kiếm tiền giản dị nhất là đút lót xin cơ hội độc quyền, hoặc ăn chia, hối lộ. Còn bọn tỷ phú ở các nước đã tiến bộ, với hệ thống pháp luật công khai, minh bạch thì họ phải kiếm tiền cực nhọc hơn! Cũng nhờ cơ chế tự do dân chủ cho nên người ta dễ di động từ tầng lớp dưới lên tầng trên, đẩy nhiều người khác từ tầng trên tụt xuống tầng dưới!

Mặc dù xã hội Mỹ công bằng hơn ở Nga hay ở Mexico, các công dân Mỹ có cơ hội tương đối công bằng hơn nhiều nước khác, nhưng người Mỹ vẫn luôn luôn đặt câu hỏi tại sao hệ thống xã hội của họ vẫn còn gây ra cảnh chênh lệch về lợi tức và tài sản rất nặng như vậy. Một lý do là chính sách thuế khóa. Hệ thống đánh thuế là do con người đặt ra (trả cho César!) cho nên không thể nào hoàn hảo. Trong xã hội lại có nhiều nhóm người với những nhu cầu và quyền lợi khác biệt nhau, khó lòng đặt ra một hệ thống làm tất cả mọi người vui lòng!

Cho nên trong cuộc tranh cử hiện nay, chúng ta sẽ còn nghe Nghị Sĩ John McCain tiếp tục chỉ trích Nghị Sĩ Barack Obama về ý tưởng “san sẻ tài sản” từ những người kiếm 250,000 đô la một năm trở lên sang những người lợi tức thấp hơn! Năm 2001 và 2003 Tổng Thống George W. Bush đã giảm thuế cho mọi người, những người giầu được giảm nhiều hơn. Năm nay ông McCain muốn tiếp tục chính sách đó, còn ông Obama muốn thay đổi. Hai ứng cử viên đều hứa sẽ giảm thuế. Nhưng người nào lên làm tổng thống Mỹ năm tới cũng sẽ phải lo làm sao thu đủ thuế trước đã, vì khi kinh tế xuống thì thuế cũng xuống theo!

Không ai có thể áp đặt chính sách thuế khóa cho cả nước, chỉ có dân chúng Mỹ nắm quyền quyết định, bằng lá phiếu của họ. Và người dân một nước dân chủ tự do thì có quyền thí nghiệm với một chính sách thuế khóa, rồi thấy nó không được như ý, 4 năm sau họ đổi ý kiến, đó cũng là chuyện bình thường! Sống dưới chế độ tự do dân chủ nó sướng như vậy!

Posted: Fri Oct 24, 2008 5:02 am
by thienthanh

Image

Cuộc Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ
Qua Lăng Kính Một Người Dân Mỹ Gốc Việt

Tác giả: Lê Minh Nguyên

Khác với dân chủ tập trung và hình thức, được thực hiện qua đảng cử dân bầu ở Việt Nam, cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội Hoa Kỳ năm 2008 là một cuộc bầu cử sôi nổi và hào hứng, từ sơ bộ trong mỗi đảng cho đến chính thức giữa hai đảng. Chúng ta sẽ hồi hộp và chờ đến cuối ngày bầu cử, Thứ Ba 4/11/2008, để biết kết quả.

Bầu cử ở các quốc gia tự do, dân chủ và đa đảng có dáng dấp như một bộ môn thể thao, nó kích động được sự tham dự và hội nhập của người dân vào tiến trình chính trị và sự tham gia chính quyền. Ngoài việc điều chỉnh cơ thể chính trị quốc gia cho thích hợp với môi trường xã hội luôn thay đổi và kim thời, bầu cử còn làm phát tiết và thỏa mãn được hai năng lực vĩ đại trong mỗi một con người là lòng yêu thương (ứng viên hay đảng mình) và tính chiến đấu (để thắng đối phương). Các quốc gia dân chủ dùng thay đổi và động tính (qua bầu cử) để tạo ổn định hệ thống chính trị, khác với các quốc gia độc tài dùng ổn định (qua độc quyền chính trị) để tạo mầm bất ổn cho hệ thống chính trị.

Mỗi người đều có niềm tin và giá trị khác nhau. Thứ tự ưu tiên của các giá trị cũng khác nhau. Nếu một số người cho rằng trong kỳ bầu cử này các vấn đề kinh tế, an ninh, y tế, giáo dục, an sinh xã hội là quan trọng, thì giữa họ với nhau, thứ tự quan trọng cũng chưa chắc là giống nhau. Bởi vì người sắp mất việc có thể cho là kinh tế quan trọng nhất, người sợ khủng bố có thể cho là an ninh quan trọng nhất, người đang bị bệnh mà không có bảo hiểm sức khỏe có thể cho là y tế quan trọng nhất. Người viết xin được phản ảnh quan điểm và nấc thang giá trị của cá nhân mình, trong cương vị của một người dân Mỹ thiểu số gốc Việt, để nhận xét xem ứng viên Tổng Thống nào sẽ đem lợi ích lớn hơn cho dân thiểu số ở Mỹ và vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ ở Việt Nam.

Theo BBC ngày 16/10/2008 về “Sức nặng lá phiếu cử tri Mỹ gốc Á”, dựa vào khảo sát của các nhà nghiên cứu của bốn trường đại học hàng đầu tại Hoa Kỳ, được thực hiện toàn diện nhất từ trước tới nay, thì nhiều cử tri Mỹ gốc Á quyết định sẽ bỏ phiếu cho TNS Barack Obama hơn số người sẽ bỏ phiếu cho TNS John McCain. Khảo sát cho thấy 41% Á kiều muốn bầu cho ông Obama trong khi 24% sẽ bỏ phiếu cho ông McCain. Trong đó 3/4 từ các cộng đồng gốc Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ hậu thuẫn TNS Obama. Hàn và Phi ủng hộ ông Obama nhiều hơn ông McCain tuy không cao như các cộng đồng khác. Chỉ có người Mỹ gốc Việt là ủng hộ TNS McCain với tỷ lệ khỏang 2/3. Sáu cộng đồng gốc Á lớn nhất là Ấn, Trung Hoa, Phi, Nhật, Hàn và Việt Nam. Người Mỹ gốc Á chiếm 5% dân số HK với khỏang 15 triệu vào năm 2007. Tại các tiểu bang "chiến trường" như Colorado, Ohio và Florida, 43% Á kiều tỏ ý sẽ bầu cho TNS Obama, 22% bầu cho TNS McCain, và 35% chưa quyết định.

Trong cuộc bầu cử chính thức, con số mầu nhiệm là 270 đại biểu cử tri đòan để thắng (trong tổng số 538 đại biểu cử tri đoàn toàn quốc, mỗi tiểu bang có số cử tri đoàn tương đương với tổng số dân biểu và nghị sĩ của tiểu bang mình, và ứng viên nào thắng phiếu phổ thông do dân bầu trong tiểu bang đó thì sẽ lấy hết cử tri đoàn của tiểu bang). Do đó các chiến lược gia của cả hai bên đều làm sao để đạt được con số này. Chính vì vậy mà những tiểu bang sấp ngửa như Florida (27), Ohio (20), North Carolina (15), Missouri (11), Indiana (11), Nevada (5) v.v.. trở nên vô cùng quan trọng. Và cũng chính vì vậy lá phiếu của những sắc dân thiểu số ở các tiểu bang này có khả năng quyết định.

Theo Real Clear Politics (http://realclearpolitics.com/), một website theo sát cuộc bầu cử 2008 mà nhiều hãng thông tấn lớn của HK hay sử dụng, và CNN (http://www.cnn.com/ELECTION/2008/) thì tính đến ngày 22/10/2008 TNS Obama có được từ 277 đến 286 đại biểu cử tri đoàn, TNS McCain có được từ 160 đến 174, và con số sấp ngửa là từ 87 đến 92.

Cuộc bầu cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ vừa qua cho ta thấy là có một sự chuyển quan thế hệ, khi dân tộc Mỹ đang chuyển từ Thời Đại Kỹ Nghệ, điển hình qua bộ máy tranh cử của bà TNS Hillary Clinton: cồng kềnh, cứng rắn, dựa vào sức mạnh thượng tầng, phe nhóm, thực thể độc lập và cạnh tranh nhau, sang Thời Đại Thông Tin, điển hình qua bộ máy tranh cử của TNS Obama: đội hình, uyển chuyển, dựa vào Internet và truyền thông hiện đại, liên thuộc và nhịp nhàng nối kết, tận dụng sức mạnh hạ tầng. Nó cũng chuyển từ thế hệ già còn mang nặng tư tưởng kỳ thị, bảo thủ sang thế hệ trẻ phóng khoáng và bao dung hơn.

Các sắc dân thiểu số có lý do chính đáng để ủng hộ TNS Obama, bởi vì nếu TNS Obama đắc cử thì vị trí xã hội của các sắc dân da màu được tăng cường, cũng cố và kính trọng hơn ở đất nước này. Nó còn giúp cho con cháu của dân thiểu số thấy rằng Hoa Kỳ là xứ của cơ hội, nếu chúng siêng năng và tranh đấu thì bầu trời là giới hạn, chúng có thể đạt được bất cứ vị trí nào của xã hội, kể cả chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ.

Hơn nữa, dân chủ và nhân quyền là các lý tưởng chính yếu của đảng Dân Chủ, trong khi “ổn định và buôn bán” là các điểm chính yếu của đảng Cộng Hòa, chỗ dựạ vững chắc của đảng Cộng Hòa là giới tư bản. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam chủ trương cần “ổn định để phát triển”. Do đó, trong tám năm qua hai chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam có một mẫu số chung là “ổn định”. Với mẫu số chung này thì ta không lấy làm ngạc nhiên khi HK chỉ giúp đỡ phong trào dân chủ ở Việt Nam và can thiệp nhân quyền một cách chiếu lệ. HK chỉ chú trọng vào việc buôn bán cũng như việc ổn định vùng Đông Nam Á, bằng cách cộng tác mật thiết với đảng CSVN để thăng bằng (và làm tiền đồn trong tương lai) cho sự vươn lên của Trung Quốc. HK dùng CS trẻ du học ở Mỹ để thay thế CS già. Đối với giới tư bản, dân chủ hay độc tài không quan trọng bằng thương mại (lợi nhuận) và an ninh (để việc buôn bán không bị trở ngại).

Sự thay đổi xảy ra, nếu có, ở Việt Nam hay ở bất cứ nới nào, phải cần có động tính, bởi vì quy luật của thay đổi là từ tình trạng tĩnh phải biến nó thành tình trạng động, khi tình trạng động thì thay đổi, sau khi thay đổi thì nó trở lại tình trạng tĩnh trong một thăng bằng mới. Muốn có thay đổi phải chấp nhận sự rủi ro. TNS Obama tiêu biểu cho thế hệ trẻ, làn sóng đang lên và trở nên thế chính dòng của dân tộc Hoa Kỳ trong thời đại mới. Chủ đề tranh cử của ông là “thay đổi”, chủ đề này cộng với lý tưởng dân chủ và nhân quyền, nó sẽ là luồng gió mạnh tạo động tính cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.



Có người cho rằng việc bầu một người da màu làm Tổng Thống còn quá sớm. Như vậy thì khi nào mới là không sớm ? Một trăm năm nữa chăng ? Nếu chế độ độc tài toàn diện và bảo thủ như Việt Nam chọn ông Nông Đức Mạnh, một người thiểu số lên làm làm Tổng Bí Thư; nếu ở Ấn Độ đảng Quốc Đại đang cầm quyền chọn một người đàn bà gốc Ý, Sonia Gandhi, làm lãnh tụ của họ; nếu thế hệ trẻ ở một nước độc tài như Trung Quốc say mê Michael Jordan qua tài bóng rổ của anh ta mà không cần biết anh ấy có nước da màu đen hay trắng, thì tại sao dân của một nước tự do dân chủ như Hoa Kỳ lại cho rằng việc bầu một tài năng đen trong lãnh vực chính trị lại là quá sớm ???

Vì căn cứ địa của đảng Cộng Hòa là giới tư bản cho nên triết lý của đảng CH là chính quyền nhỏ, chính quyền ít can thiệp vào đời sống của quần chúng, giảm thuế hay đánh thuế nhẹ giới tư bản, quốc phòng và ngoại giao mạnh để bảo vệ giới tư bản làm ăn ở các nơi trên thế giới. Sức mạnh này chủ yếu không phải để bảo vệ dân chủ mặc dù dân chủ là một giá trị mạnh của đất nước HK, dân chủ là trụ cột thứ yếu trong ba trụ cột (1) thương mại, (2) an ninh và (3) tự do dân chủ.

Đảng Dân Chủ có lý tưởng phục vụ xã hội như giúp người nghèo, người lao động, người già, người tàn tật, người thiểu số, phụ nữ, trẻ em v.v.. Để thực hiện lý tưởng này họ muốn đánh thuế cao các nhà tư bản, lập ra nhiều cơ quan chính quyền để lo cho dân như sở an sinh xã hội, chương trình trợ giúp thuê nhà v.v.. Theo tài liệu CNN lấy từ một tổ chức nghiên cứu thuế khóa độc lập ở Washington DC ( ngày 12/6/2008 được cô Gerri Willis, Chủ Bút về Tài Chánh, trình bày thì sự khác biệt về thuế khóa giữa hai ứng cử viên như sau:



Lợi tức McCain Obama

$38,000-$66,000 Giảm thuế $319 Giảm thuế $1,042


$66,000-$112,000 Giảm thuế $1,009 Giảm thuế $1,290


$112,000-$161,000 Giảm thuế $2,614 Giảm thuế $2,204


Hơn $2,900,000 Giảm thuế $269,364 Tăng thuế $701,885



Ngoài ra, Obama giúp tiền (tax credit) cho những người không có lợi tức nào hết để khai.

Trong chính trị, người ta thường đánh vào tâm lý sợ hãi của quần chúng để đạt mục đích thay vì dùng lý lẽ, bởi vì nó có hiệu quả hơn là dùng lý lẽ. Trong chiến tranh Việt Nam, có rất nhiều gia đình mà cha con, hoặc anh em, hoặc những người thân thương hay kính quý nằm ở hai chiến tuyến. Điều đó không có nghĩa bởi vì thầy tôi là cộng sản cho nên tôi là cộng sản, người tôi gặp một vài lần trong đường đời là khủng bố nên tôi có liên hệ với khủng bố, mục sư của tôi là người cực đoan nên tôi là kẻ cực đoan, hay cha tôi là Hồi Giáo nên tôi là Hồi Giáo. Nếu có TNS cách đây hơn 30 năm chỉ nghĩ đến quyền lợi của dân tộc mình mà không muốn giúp đỡ người ngoại quốc, dù là đồng minh, thì cũng có TNS vì niềm tự hào dân tộc mà cách đây không lâu gọi người Việt Nam là dân man di từ Đông Nam Á (gooks).

Đã có những người da đen đạt được địa vi rất cao trong xã hội HK như cựu Ngoại Trưởng Colin Powell, đương kim Ngoại Trưởng Condoleezza Rice, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Clarence Thomas, cố Bộ Trưởng Ron Brown, Thống Đốc Massachusetts Deval Patrick v.v.. Sự chiến thắng của TNS Obama sẽ cho thấy nước Mỹ kim thời “không xét người bằng màu da mà xét người bằng phẩm chất bên trong của họ”.

Quả chuối có da vàng nhưng bên trong là màu trắng bổ dưỡng, người Việt da vàng ở Mỹ cũng muốn các sắc dân khác nhìn mình không phải qua làn da mà là qua cái phẩm chất bên trong. Nếu người Mỹ da trắng đã vượt qua được trở ngại này để đưa được một người da đen ra làm ứng viên Tổng Thống của một đại chính đảng, tạo một dàn phóng tốt cho thế hệ trẻ của các sắc dân thiểu số sau này, thì chúng ta cũng đừng nên bỏ qua cơ hội để tạo sự thăng tiến cho dân tộc mình.

Không ai có thể biết chắc được tương lai, nhưng tương lai là một tiến trình của quá khứ và hiện tại. Quá khứ thì đã xảy ra và ta không sửa được, hiện tại thì đang xảy ra và có thể ta không hài lòng, lá phiếu mà ta đi bầu là gì nếu không phải là để làm viên gạch xây dựng cho một tương lai tốt đẹp hơn ? Nếu chúng ta nhìn về phía trước và lo xây đắp từ bây giờ thì một Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai là điều có thể xảy ra.


(22/10/2008)

Posted: Sat Oct 25, 2008 1:50 am
by khieulong
Sàng Lọc Trí Thức

Nguyễn Ðạt Thịnh

Trí thức là những người lính tiền đạo trên hướng tiến bộ của mọi quốc gia, tiến bộ thực hiện từng ngày, trên nhiều địa hạt, từ sáng chế khoa học, đến những cải thiện thuận lợi nhà máy sản xuất, những khám phá y học…, sáng chế không chỉ tập trung vào những quốc gia tiền tiến, mà ngay cả từ những nước nhỏ hơn nhưng biết trọng dụng trí thức, đào tạo trí thức và tạo điều kiện cho họ sáng tạo trong việc làm.

Một thí dụ: người trí thức Nhật đã thành công trong việc “bình dân hóa” chiếc xe hơi bằng những sáng tạo của họ; bình dân hóa bằng việc hạ giá chiếc xe, giảm tốn kém sử dụng để vừa tầm vói của mọi công nhân thông thường. Họ làm chiếc xe hơi và cái máy xe nhỏ lại, để việc sử dụng xe hơi bớt tốn kém, không còn là độc quyền chỉ dành cho người Âu, Mỹ, mà trở thành phương tiện di chuyển hàng ngày của mọi người, kể cả những người Á, Phi.

Sự thành công của họ đã loại những chiếc xe V 8 của Hoa Kỳ, nặng bốn, năm tạ, máy 5 lít trở lên, dài gần chục thước; biến những chiếc xe cồng kềnh này thành lỗi thời, xấu xí đến mức chính khách tiêu thụ người Mỹ cũng chê, không dùng nữa.

Sáng kiến của những nhà trí thức, kỹ sư Nhật không chỉ giúp sản phẩm Nhật thắng sản phẩm Mỹ trên thị trường xe hơi, họ còn thành công cả trên những thị trường xe 2 bánh, máy truyền hình, máy ảnh; giờ này người Mỹ thích xe mô tô Honda, Suzuki hơn những chiếc Harley cồng kềnh ngày xưa. Hỏi họ về một hãng Mỹ thứ nhì sản xuất xe 2 bánh, 99% người Mỹ không kể tên được hãng này.

Thí dụ thứ nhì: Kỹ sư Nam Hàn đang giúp sản phẩm Korean dành được một phần quan trọng trên những thị trường máy điện thoại di động và máy truyền hình. Giờ này những trade mark Sam Sung, Hyundai đang trở thành quen thuộc với khách hàng Hoa Kỳ, và những chiếc Santa Fe, Sonata đang chia một mặt đường khá lớn trên mọi xa lộ liên bang.

Sau khi nhìn quanh những thành quả của trí thức Nhật và Nam Hàn trên thị trường Mỹ, hãy thử nhìn và tìm hiểu về tình trạng trí thức của người Việt Nam.

Nhận xét đầu tiên là người Việt Nam rất thông minh, điều này có thể được chứng minh vô cùng dễ dàng bằng những thành công rực rỡ của thế hệ thứ nhì di dân Việt Nam sang Hoa Kỳ và những quốc gia khác.

Người trẻ Việt Nam đang nắm giữ nhiều chức vụ quản trị trong các hãng xưởng Hoa Kỳ, ấy là chưa kể những khoa học gia đang được nể phục với những sáng tạo của họ trên các địa hạt hóa học, khoa học chiến tranh, và ngay cả trong cơ quan NASA nữa.

Nhận xét thứ nhì là tại Việt Nam việc đào tạo trí thức bị sàng lọc bằng những hệ thống tàn độc; thực dân Pháp sàng lọc trí thức Việt Nam bằng hệ thống học đường Kim Tự Tháp: mỗi quận chúng cho lập một trường tiểu học, mỗi tỉnh một trường trung học, và mỗi “kỳ” (Nam, Trung, và Bắc Kỳ) một trường đại học. Do đó trong một ngàn cậu học sinh tiểu học, chỉ một cậu vào đến bực đại học.

Sau cuộc nội chiến, chiếm được toàn cõi Việt Nam, Việt Cộng sàng lọc trí thức bằng chính sách “học tài, thi lý lịch” để chỉ con cháu “cách mạng” được lọt vào đại học. Chính sách này và khả năng yếu kém của các giáo sư đại học Việt Cộng tạo ra hàng ngàn ông tiến sĩ không có thực học gây bế tắc cho hoạt động kinh tế và kỹ nghệ Việt Nam khi họ được nhận vào thị trường thế giới WTO.

Sau 33 năm thành công trong việc loại trừ con cháu những người Việt Nam chống cộng trên ngưỡng cửa trường đại học, giờ này Việt Cộng vẫn tiếp tục công cuộc gạn lọc, sàng xẩy; biện pháp mới giúp chúng phân biệt con cháu những gia đình thân cộng và những gia đình còn lại là tiền; chúng tính tiền học đại học rất nặng để chỉ những người làm việc hay cộng tác với nhà nước mới có đủ tiền cho con đi học.

Về chính sách học phí đại học, tờ Tuổi Trẻ viết, “TT - Trên thực tế, nhiều trường ĐH đang cố “đẻ” ra không ít khoản thu phụ bên cạnh học phí vốn đã không nhỏ đối với sinh viên, đặc biệt là những sinh viên nghèo.

“Ngoài học phí phải đóng như những trường ĐH công lập khác, sinh viên hệ ĐH khóa 1 học theo niên chế sẽ phải đóng thêm 200.000 đồng/học kỳ tiền cơ sở vật chất. Thêm vào đó là 100.000 đồng lệ phí thư viện. Nếu cộng với 900.000 đồng học phí, sinh viên chính quy khóa 1 sẽ phải đóng 1.200.000 đồng/học kỳ. Đối với sinh viên ĐH theo học hệ liên thông, số tiền này còn cao hơn gần gấp đôi. Đặc biệt, sinh viên bậc CĐ phải đóng tiền cơ sở vật chất nhiều hơn hẳn sinh viên ĐH với số tiền 350.000 đồng/học kỳ cùng lệ phí thư viện 100.000 đồng. Nhưng đó vẫn chưa phải là mức cao nhất. Những học sinh học hệ trung cấp bốn năm còn phải đóng tiền cơ sở vật chất xấp xỉ học phí với 500.000-600.000 đồng/học kỳ.

“Sinh viên học theo hình thức tín chỉ cũng không được loại trừ khỏi cách thu tiền lạ lùng này. Trường chia đều phí cơ sở vật chất ra từng tín chỉ để buộc sinh viên phải nộp. Theo đó, cứ mỗi tín chỉ sinh viên ĐH đóng 52.000 đồng học phí, đồng thời đóng thêm 28.000 đồng tiền cơ sở vật chất.”

Chuyển đổi số tiền này thành mỹ kim thì học phí tại Sài Gòn không đắt hơn học phí những trường đại học tại Hoa Kỳ, nhưng khác biệt giữa hai hệ thống trường ốc là số học phí 1.2 triệu đồng tại Sài Gòn có thể lớn hơn lương những người thợ dệt, thợ giầy đang liên miên đình công đòi tăng lương trước những xưởng họ làm việc tại Biên Hòa hay Bình Dương; trong lúc số tiền học của cậu sinh viên California không thể nào nhiều hơn lương ông bố.

Ấy là chưa nói đến việc cậu sinh viên Ca Li còn có quyền xin grant, và cả cậu lẫn ông bố đều có quyền đi vay loan theo chương trình cậu học.

Việt Cộng sẽ không làm như vậy vì chúng có nhu cầu sàng lọc để duy trì tình trạng “con vua thì lại làm vua/Con ngụy ở tù thì quét lá đa.”

Nguyễn Ðạt Thịnh

Posted: Sun Oct 26, 2008 4:48 pm
by tankhoasinh
Đôi dòng cảm nghĩ về các bức thư của nữ tù nhân Hồ Thị
Bích Khương viết từ trong trại giam tỉnh Nghệ An gửi ra!


Nguyễn Khắc Toàn
Vào những ngày cuối tháng 9/2008 vừa rồi, khi chốt canh gác lần thứ 10 trong vòng gần 3 năm qua do công an thành phố Hà Nội tái lập trước nhà tôi vẫn còn đang hoạt động, thì bất chợt một hôm tôi nhận được 1 bức thư từ trong Nghệ An gửi ra theo đường bưu điện dạng “thư bảo đảm”.

Tôi vội xé phong thư và đọc liền 1 mạch 3 lá thư gửi kèm trong đó, gồm có 2 thư viết riêng cho tôi và 1 bản khiếu nại tố cáo do đích thân chị Hồ Thị Bích Khương quê ở xóm 3, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An viết, còn người gửi cho tôi được ghi trên bì thư là chị Hồ Thị Lan - người chị ruột của Bích Khương. Điều đặc biệt, là tất cả các thư này đều được viết trên nền bìa giấy mầu vàng, cứ 1 thư gồm 2 tờ 4 trang chữ được viết kín sau đó khâu đính lại với nhau ở góc trên bằng chỉ trắng, nền giấy rất mỏng y như giấy pơluya chuyên dùng để viết thư được lột từ vỏ thùng hộp mỳ ăn liền, nó không phải là khổ giấy A 4 thông thường. Bởi thế, khi scan theo các bản gốc này thì có đoạn thư viết dài quá không chụp quét được hết nội dung các dòng chữ viết trên đó. Do vậy, tôi phải chụp quét tới 2 lần để lấy hết các dòng viết rồi đánh dấu thứ tự theo số bằng trang các trang 3a và 3b để minh hoạ cho các bức thư đã được đánh máy lại nhằm giúp người đọc hiểu hết nội dung người viết, và kèm theo các bản thư gốc viết tay cùng phong bì thư để minh chứng. Điều đáng chú ý là bản khiếu nại tố cáo của chị được gửi tới các cơ quan quyền lực nắm sức mạnh của chế độ từ tỉnh đến đảng và nhà nước ở trung ương. Các địa chỉ gưỉ đến, cụ thể gồm có : Giám đốc công an tỉnh Nghệ An, ông bộ trưởng bộ công an Lê Hồng Anh, Bộ chính trị trung ương ĐCSVN, Ban bí thư TW ĐCSVN, Viện kiểm sát tối cao…nhưng tất cả đều không được trả lời hay hồi âm theo luật định hiện hành cho chị, người tù đang mỏi mòn trong ngóng ánh sáng công lý nơi đường hầm tăm tối !!!...

Nếu ai đó có từng bị tù đầy vì lý do chính trị, tôn giáo, chính kiến hay kể cả tù hình sự tại các lao ngục của thể chế mang danh XHCN ở Việt Nam hiện nay thì mới thấy hết ý nghĩa quý giá của việc chuyển được các lá thư này ra tới ngoài xã hội. Nhất là, việc nó lại được công bố trên Mạng lưới internet toàn cầu như hiện nay, thì đây quả là một sự kỳ diệu rất hiếm có và đáng nể phục cho thân phận những người tù bất đồng chính kiến này !!!

Đọc xong các lá thư lần thứ nhất, sau đó tôi tiếp tục đọc đi đọc lại mấy lần nữa và suy nghĩ quyết định phải công bố lên Mạng internet cho công luận rộng rãi biết. Bởi vì, tôi thấy rằng đây không chỉ là việc nữ tù nhân Hồ Thị Bích Khương gửi thư riêng cho tôi, mà còn muốn thông qua các lá thư đó để nhờ tôi hãy chuyển giúp chị đến công chúng, đến tất cả những ai quan tâm tới công cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ, nhân quỳên và công lý trên quê hương, xứ xở này nữa. Đó là hãy chuyển những dòng tâm tư và đôi nét về cảnh ngộ của chị nói riêng cũng như số phận của hàng trăm, hàng ngàn tù nhân chính trị, tôn giáo nói chung trên cả nước mà các chính trị phạm đang tồn tại mòn mỏi trong ngục tù chế độ của đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam. Đây cũng chính là những bằng chứng để phản chứng minh cho điều mà họ không ngớt phủ nhận leo lẻo, hoặc chối bay biến trước cả thế giới và dư luận dân chúng quốc nội. Là không bao giờ có những tù nhân vì chính kiến, vì chính trị hay vì lý do tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam, quốc gia mà đảng Cộng sản và nhà nước của họ đang nắm toàn quyền cai trị một cách triệt để, toàn diện và tuyệt đối...!!!

Qua nội dung các thư của Bích Khương viết từ ngục tối, nơi chị đang chịu đoạ đầy khốc liệt, tôi thực sự cảm phục đến kinh ngạc sự can đảm lạ thường của một phụ nữ đã và đang là nạn nhân rất tiêu biểu của sự đàn áp tàn khốc mà hoàn cảnh của chị, một nông dân nghèo quê xứ Nghệ giàu lòng ái quốc, thương dân, căm ghét bất công, áp bức, lên án không chùn bước trước nạn quan quyền chà đạp kiếp phận người dân ở tầng lớp cần lao !

Quê hương Nghệ An của chị, dải đất miền Trung Xứ Nghệ nơi sản sinh ra các điệu hò ví rặm bát ngát thơ mộng, địa danh nơi đây có núi Hồng Lĩnh, có dòng sông Lam mát rượi chảy qua… Chính nơi đây cũng rất nổi tiếng với những danh nhân văn hoá, những cuộc nổi dậy quật khởi chống giai cấp thống trị bạo tàn trong suốt chiều dài lịch sử oai hùng và cũng thật bi tráng, tủi hổ đến não lòng !!!

Gần 80 năm về trước nơi đây đã chứng kiến hàng ngàn nông dân các huyện Thanh Chương, Nam Đàn nhất tề đứng dậy làm nên một Xô Viết Nghệ Tĩnh Đỏ. Một cuộc nổi dậy mang tính ấu trĩ, cực đoan và cực tả do phải chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa cộng sản Bôn sê vích khi ấy bên nước Nga và Liên Xô cũ mà các lãnh tụ cộng sản như Lê nin, Staline cầm đầu. Và những người cộng sản xứ An Nam lạc hậu thế hệ đầu tiên, đầu đàn đã ngộ nhận đây là con đường cứu cánh cho cả dân tộc, rồi được họ du nhập vào quốc nội trong những năm cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Cuộc nổi dậy của tầng lớp các nông phu, thợ thuyền nghèo đói đứng lên chống chế độ thực dân Pháp và phong kiến mục nát lúc đó đã bị dìm trong bể máu với hàng trăm dân lành bị giết hại dã man, thật tai hại xót xa và lãng phí vô cùng !

Sau ngày hoà bình năm 1954 lập lại tại miền Bắc Việt Nam, nơi đây đã chứng kiến cuộc trỗi dậy của hàng ngàn nông dân huyện Quỳnh Lưu đứng lên chống lại bọn cường hào, địa chủ ác bá mới mang danh “giai cấp vô sản đỏ” thống trị. Thế rồi hậu quả, họ cũng chịu chung số phận bị đàn áp tan hoang như cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh năm xưa dưới thời thuộc Pháp !!! Nơi đây cũng chính là quê hương chôn rau cắt rốn của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phạm Hồng Thái và của các thủ lãnh đảng CSVN như ông Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Hoan, Trần Quốc Hoàn... cùng rất nhiều lãnh tụ kỳ cựu của khác nữa của đảng CSVN trước đây và hiện nay không sao kể hết....

Nhưng thật đáng buồn thay, máu xương và mồ hôi nước mắt của dân chúng Xứ Nghệ đổ xuống quá nhiều trong các cuộc trường chinh mấy thập kỷ sau sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh năm xưa. Ấy vậy mà, quê hương, con người nơi đây nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói, lam lũ và lầm than. Cuộc sống của số đông dân chúng trên mảnh đất giàu lòng quật cường và cách mạng này vẫn đầy rẫy bất công, áp bức chồng lên áp bức ! Hàng ngàn, vạn, hàng trăm vạn những công dân Hồ Thị Bích Khương, Nguyễn Xuân Tứ, Phạm Hồng Đức...vv… cùng vô số đồng bào dân oan trong tỉnh nhà, ngày nay một lần nữa đã phải đứng dậy chống giai cấp thống trị mới, chống bọn cường hào ác bá thời đại “a còng” (@) hiện đại mà chúng còn tinh vi hiện đại hơn trước, nguy hiểm và gian trá hơn trước rất nhiều lần là như vậy đó !!!...

Vì điều kiện sinh hoạt trong nhà tù của chế độ XHCN ở trong nước rất ngặt nghèo, nhất là đối với những tù nhân vì bất đồng chính kiến với đảng CSVN như Bích Khương, nên các buổi thăm nuôi của gia đình với chị đều bị công an trại giam ngồi kèm rất chặt chẽ không bao giờ rời mắt và rời tai dù chỉ là lấy một giây, một phút. Bởi vì họ rất biết nếu các thông tin từ nhà tù lọt ra ngoài thì rất nguy hiểm cho chế độ, cũng như ngược lại các thông tin từ ngoài xã hội và nhất là thế giới văn minh bên ngoài lọt được vào đến tai các tù nhân chính trị này cũng rất tai hại mỗi khi họ biết được các tin tức quý giá dù rất nhỏ nhoi. Trong các lần được gặp gỡ gia đình đến thăm nuôi tại trại giam B - 14, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại vi Hà Nội hay khi ở trại giam Ba Sao - Nam Hà trong hơn 4 năm tù đầy khắc nghiệt từ đầu năm 2002 đến đầu năm 2006, tôi đã chứng kiến thực tế như vậy. Mỗi khi được ra gặp người thân trong phòng riêng đặc biệt, ngoài việc bị công an trại tù giám sát chặt chẽ như thế, thì người tù chính trị còn bị khám xét rất kỹ từng tý một trên thân thể, trên áo quần để lục lọi tìm kiếm các lá thư bí mật có thể được mang theo để chuyển ra ngoài.

Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra, là gia đình Bích Khương đã nhận được đầy đủ các thư do chính tay người nữ tù bất khuất này viết ra khá chi tiết và rõ ràng. Qua các nội dung thư được gửi ra, chúng ta có thể phán đoán được chị đã viết trong các thời điểm khác nhau. Có thư được viết khi chị đã bị giam cầm trong gần 1 năm rưỡi, có thư được viết ra khi chị đã ở tù được gần 2 năm và sau đó chờ cơ hội tốt tất cả mới được chuyển bí mật ra ngoài, cuối cùng đã đến được với chúng ta. Tôi đã từng phải chịu mức án tù khá nặng nề dài tới 12 năm và 3 năm quản thúc tại địa phương mà tòa án của đảng CSVN và nhà nước XHCN của họ tuyên phạt do các hoạt động tranh đấu đòi dân chủ hóa đất nước của mình. Tôi đã từng ở các trại giam, các nhà tù khét tiếng của tổng cục an ninh - bộ công an, rồi trại cải tạo lao động Ba Sao, nơi có các tù nhân chính trị danh tiếng từng thụ án như cụ Hoàng Minh Chính, Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu phi công Lý Tống, ông Trần Mạnh Quỳnh, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, các tù nhân của chế độ cũ Việt Nam Cộng hòa trước đây ở miền Nam như các tướng Nguyễn Hữu Có, Lê Minh Đảo, các ông Võ Đại Tôn, Trương Văn Sương – (một người tù đã thụ án bước sang năm thứ 33 của cuộc đời mình)… Nên chính vì thế tôi càng thấu hiểu và ngợi khen sự thông minh, lanh lợi, lòng can đảm lạ thường của Hồ Thị Bích Khương trong việc tổ chức, bố trí đưa được các lá thư trong tù ra ngoài xã hội như thế này thật tuyệt vời làm sao…

Sau này, lớp thế hệ chúng tôi có các trí thức trẻ, như các em Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Văn Đài…cũng đã từng và đang bị tù ở trại giam Ba Sao nơi đây. Bởi thế tôi cũng càng hiểu việc để lọt những lá thư dù là của tù thường phạm hình sự ra ngoài xã hội thì sẽ phải chịu kỷ luật của ban giám thị trại tù ra sao.

Về việc này, nếu đối với tù hình sự khi vi phạm nội quy như vậy sẽ bị kỷ luật theo “quy chế trại giam”, nhẹ thì bị cảnh cáo, nặng thì bị cắt thăm nuôi 1 hay vài tháng, nặng nữa thì vừa cắt thăm nuôi vừa bị đưa đi cùm biệt giam vài tháng ! Trường hợp các tù nhân chính trị trong những giai đoạn đen tối nhất trước đây cũng phải chịu như vậy. Thậm chí có trường hợp sẽ bị trại giam và bộ máy đàn áp của an ninh nhà nước kiến nghị với “viện kiểm nhân dân, toà án nhân dân” tiến hành lập hồ sơ, khởi tố, truy tố các tù nhân để cộng tội, cộng án tù giam thêm dài lâu hơn nữa ! Nhưng sau này và có thể là giai đoạn hiện nay trong bối cảnh mới hoàn toàn khác trước kia, nên phía công an nhà nước CSVN đã có phần cởi nới, nhẹ nhàng hơn trước, các chính trị phạm đã không còn bị trừng phạt nặng nề như trước nữa. Đối với những trường hợp tù nhân chính trị có tên tuổi mà thế giới bên ngoài biết đến nhiều thì có phần đỡ hơn, vì phía cơ quan an ninh nhà nước họ có e dè trong việc trừng phạt các nhân vật này để bị đỡ mang tiếng với công luận thế giới và trong nước.

Vào một lần trước kỳ đảng và nhà nước CSVN có chủ trương đặc xá 4 lần trong 2 năm liền (2004 -2005) nhân dịp các ngày đại lễ của “nhà nước đảng CSVN” trong các năm này, thì có một lần tôi đã gửi được chót lọt nhờ qua 1 tù nhân hình sự phạm tội về kinh tế ở sát buồng giam bên cạnh khi được đặc xá trở về xã hội chuyển lá thư tới gia đình trước dịp 30/4/2005. Sau đó gia đình tôi đã chuyển đến ông Nguyễn Thanh Giang xem trước và tiếp đó được phổ biến trên Mạng internet toàn cầu mà công luận đã rõ. Lập tức chỉ mấy ngày sau tôi bị một tốp cán bộ của cục A - 42, tổng cục an ninh do các thượng tá chức vụ phó phòng, là Nguyễn Thiện Hân và Cường cùng nhiều sĩ quan an ninh khác trên cục A 42 của tổng cục an ninh - bộ công an từ Hà Nội tức tốc lao về thẩm vấn sự việc tày trời này !!!

Còn đối với những tù hình sự khác, khi để xảy ra sự kiện này thì chắc chắn sẽ bị kỷ luật rất nặng nề với các mức như đã nói trên. Chính vì bức thư được lọt ra thế giới bên ngoài đó, nên lẽ ra tôi đã được thả vào đợt 30/4/2005 hoặc muộn là vào nhất dịp trước ngày 2/9/2005, nhưng vì thế mà tôi đã bị giam cầm thêm 8 - 9 tháng nữa cho đến đầu năm 2006 mới được tạm phóng thích để trở về nhà !

Trường hợp chị Hồ Thị Bích Khương đây là lần tù thứ 2, lần trước chị bị bắt giam tại Hà Nội khi tham gia đấu tranh chống lại các lực lượng an ninh Hà Nội theo lệnh cấp trên đến trấn áp, bắt bớ, tước đoạt một số đồ dùng của đồng bào dân oan tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội. Chuyện này tôi đã trực tiếp nghe các dân oan Nguyễn Thị Kỷ quê Thái Bình, Vũ Thị Bình quê gốc Hải Phòng, ông Nguyễn Hữu Châu nhà ở số 66 ngõ Lệnh Cư, phố Khâm Thiên, quậm Đống Đa, Hà Nội và nhiều người khác kể lại, rằng chính tay Bích Khương đã cào cấu tấn công lại tên phó công an phường Thụy Khê khi bị chúng đánh đập tàn bạo để tự vệ cho mình và baỏ vệ đồng bào nghèo khác đang phải sống vạ vật tại vườn hoa. Chính vì hành động dũng cảm này nên chị đã bị bắt giam ngay tức khắc rồi bị đưa vào trại Hỏa Lò, sau đó “tòa án quận nhân dân” Ba Đình tuyên phạt 6 tháng tù giam. Trước toà án của nhà nước và đảng CSVN tại thủ đô Hà Nội, Bích Khương đã đứng can đảm quay lưng lại khinh bỉ toàn bộ hội đồng xét xử, những kẻ đã mượn danh nghĩa các cơ quan “bảo vệ pháp luật của nhà nước XHCN ” thực chất là chỉ để đàn áp các quyền Công dân, quyền Con người căn bản một cách chuyên nghiệp và có hệ thống ! Khi bị mấy công an áp giải đứng bên cạnh xông vào cưỡng bức bắt quay lại chủ toạ cuộc xét xử thì chị đã dùng bàn tay với một ngón chỏ quét 1 vòng từ thư ký toà, đại diện viện kiểm sát, đến các “hội thẩm nhân dân” và đến cả chính viên chủ phiên tòa để chỉ thẳng tay tố cáo những kẻ đang kết án, buộc tội mình. Sự kiện phi thường quá đỗi này đã được cô Vũ Thanh Phương một thành viên can trường của Khối 8406 và Phong trào dân chủ Việt Nam viết khá cụ thể nêu lại toàn bộ lời tuyên bố của người phụ nữ gan dạ Hồ Thị Bích Khương đứng trước vành móng ngựa hôm ấy, ngày cách đây đã hơn 3 năm về trước !

Đây thật là chuyện phi thường hiếm thấy rất khó phai mờ theo thời gian năm tháng và thật đáng biểu dương vô cùng, bởi vì ngay cả đấng nam nhi mày râu trong hoàn cảnh như vậy chưa chắc đã có khí phách uy dũng đến như vậy so với chị. Người dân Hà Nội đã từng chứng kiến các vị như cụ Hoàng Minh Chính, hay cựu đảng viên CSVN bất phục chế độ Tạ Đình Đề trước đây đã làm được việc đó và rất ít sự biến này được tái diễn lại…

Khi hết án được ra tù vào cuối tháng 11/2005, Hồ Thị Bích Khương trở về nhà tiếp tục dẫn đầu các cuộc đấu tranh tại quê hương thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và tại thủ đô Hà Nội. Chị bênh vực đồng bào nghèo khổ bị áp bức, bị cướp đoạt tài sản như mình. Chị sống hiền hoà, cần cù chịu khó và lành mạnh, dù ở đâu cũng toát lên bản chất người phụ nữ nông thôn dịu dàng với thân hữu bạn bè, nhưng dữ dội và quyết liệt với kẻ nghịch thù. Giờ đây sự tranh đấu của chị đã không còn cô đơn, lẻ loi như trước nữa, bởi vì chị đã, đang và sẽ tiếp tục chính thức đứng trong đội ngũ những người đối kháng tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do và công lý. Chị sống tuy nghèo khổ cơ cực, nhưng nhân cách và tâm hồn luôn luôn trong sáng, đây là điều rất hiếm thấy trong khối “dân oan” mà tôi đã từng gặp gỡ trong mấy năm qua, nó hoàn toàn trái nghịch với những kẻ coi môi trường dân oan đau khổ làm nơi kiếm sống và làm giàu. Có trường hợp thậm chí chúng còn quay quắt, phản trắc phá hoại phong trào đấu tranh mà dư luận ngày nay đã biết quá rõ chúng là ai !

Từ trong ngục tù, qua những dòng thư viết ra, chúng ta vẫn thấy chị trăn trở, tỏ sự “hối tiếc” về một lỗi rất nhỏ thuộc về kỹ thuật khi phổ biến các bài, ảnh của chị gửi ra từ quê nhà mà nguyên nhân sơ xuất này là do viết nhầm đôi dòng chú thích nội dung ghi dưới các bức ảnh của chính tay chị chụp tại hiện trường để tố cáo lực lượng công an nhà nước đã đánh đập bản thân chị và nhiều đồng bào dân lành khác tại ngay trụ sở tiếp công dân của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An !!! Cũng chỉ mấy ngày sau sự kiện này công an huyện và tỉnh Nghệ An đã thực hiện lệnh từ trung ương ra tay bắt giam chị vào ngày 25/4/2007. Điều đó cho mọi người chúng ta biết rõ con người Hồ Bích Khương có nhân cách, phẩm chất đạo đức chân chính, thật thà và mộc mạc toả sáng sự tinh khiết đến nhường nào !

Khi phải ra thủ đô để đến các “cơ quan tiếp công dân khiếu nại tố cáo” của đảng và nhà nước để đòi quyền lợi cho gia đình mình, chị luôn luôn tỏ ra là người có dũng khí đấu tranh mãnh liệt và tư cách đường hoàng làm bộ máy công an cũng như chính quyền rất căm tức khó chịu. Họ coi chị như cái gai cần phải nhổ bỏ ra khỏi con mắt của họ càng nhanh càng tốt. Đã có mấy lần công an Hà Nội bắt giữ đưa chị sang “Trại xã hội Đồng Dầu” bên huyện Đông Anh, rồi ép buộc gia đình ký giấy xác nhận chị bị bệnh tâm thần để đưa đi đầy ải lâu dài trong các nhà thương điên của họ !!! Chị phải chịu cuộc sống tuy nghèo túng, nhưng giầu lòng nhân ái, thường hay giúp đỡ những người cô thế xung quanh. Khi có được chiếc máy tính, USB và máy chụp ảnh do anh chị em bên ngoài giúp đỡ tài chính, chị quyết tâm dùng làm phương tiện hoạt động, cụ thể để chuyên viết đơn từ giúp đồng bào ở Hà Nội và quê nhà bị tước đoạt tài sản, bị bỏ tù oan sai, nên ai ai cũng quý mến. Chị thường hay đùm bọc và chia sẻ thương yêu với những người cùng cảnh ngộ như mình và có uy tín khá cao trong đồng bào dân oan ở quê hương và tại thủ đô.

Tại Hà Nội, ngoài việc phải chầu chực nộp đơn từ tố cáo, chị còn giành thời gian tranh thủ đi làm thuê hay lang thang đi nhặt rác phế liệu để bán lấy tiền tồn tại qua ngày vừa nuôi con vừa lấy đó làm nguồn sống để tiếp tục cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ của mình. Khi đêm tối đến, chị lại trở về vườn hoa Mai Xuân Thưởng ngủ bên mái hiên nhà vệ sinh công cộng cùng đồng bào dân oan nghèo khổ khác. Khi bị những kẻ xấu cùng giới nữ với mình vu cáo, xuyên tạc, hãm hại, bôi nhọ danh dự, chị bình tĩnh, ra sức kiềm chế, ung dung ngồi viết các bài báo để công bố trên Mạng phê phán lại những đối tượng xấu đó với những lý lẽ vững chắc, sắc sảo để bảo vệ danh dự, uy tín của mình, đồng thời vạch trần được bộ mặt đạo đức giả chuyên nghề chỉ lợi dụng hoàn cảnh đau khổ của đồng bào dân oan để kiếm sống của đối tượng kia trước công luận.

Nhớ lại, khi Hồ Thị Bích Khương đến gặp tôi vào tháng 6 hay tháng 7 gì đó lần đầu tiên trong năm 2006, lúc đó chính tôi đã nhờ kỹ sư Bạch Ngọc Dương chụp cho bức ảnh 2 mẹ con người phụ nữ nghèo khổ này một tấm ảnh với dự định sẽ dùng để minh hoạ cho các bài viết sau này có liên quan đến chị. Thế nhưng, sau đó chiếc thẻ nhớ có tấm hình của 2 mẹ con Bích Khương đã bị công an bảo vệ chính trị Hà Nội tịch thu tại đồn Tràng Tiền trong lần họ bắt giữ Ks Bạch Ngọc Dương và Ls Nguyễn Văn Đài khi đến thăm tôi. Gặp được đôi lần lúc đầu với Hồ Thị Bích Khương tôi rất mừng vui vì phát hiện ra trong người con gái xứ Nghệ này những phẩm chất tuyệt vời mà qua mấy lá thư từ nhà tù gửi ra được công bố dưới đây sẽ làm cho mọi người biết rõ thêm về chị.

Chúng ta hoàn toàn có quyền so sánh đơn giản rằng, trong khi có những trí thức chỉ mới hơn 2 tháng tù đã hoàn toàn suy sụp tinh thần, thậm chí bị hoảng loạn chỉ nghĩ đến tự sát và cuối cùng đi đên đầu hàng bộ máy đàn áp, có kẻ thì khi bị bắt giam vào tù luôn mồm xin khoan hồng tha tội, luôn tay xin viết kiểm điểm thú nhận mọi tội lỗi, rồi luôn tự sỉ vả mình đã chót ngộ nhận phạm pháp khi tham gia đấu tranh đòi dân chủ cốt chỉ để mong được đảng và nhà nước CSVN giảm án, tha tù sớm trở về đoàn tụ gia đình, có kẻ chỉ mới 3-4 tháng đã phải công khai lên Tivi để xin công an và nhà nước khoan hồng xem xét, tha thứ và hứa hẹn không tái phạm tội nữa…vv…và vv…

Trong khi đó đối với Hồ Thị Bích Khương, thì cả lần tù trước và lần tù này bộ máy trấn áp của công an nhà nước đâu có tìm được dấu hiệu đầu hàng của chị !!!??? Đây quả thật là một con người phi thường trong số những chiến sĩ quả cảm, phi thường nhất - những người dám xả thân thực sự tranh đấu cho lý tưởng và các mục tiêu dân chủ hoá nước nhà. Chị hoàn toàn xứng đáng được vinh danh và ngợi ca mà chúng ta không còn gì để hoài nghi về con người này nữa. Nhất là trong bối cảnh chiến dịch bắt bớ hàng loạt những anh em hoạt động dân chủ và một số dân oan vừa diễn ra trong nước thì việc công bố các lá thư từ trong tù của Hồ Thị Bích Khương gửi ra cho chúng ta càng thêm ý nghĩa biết bao !!!.

Qua thực tế đấu tranh, nhất là trong môi trường tù đầy ác nghiệt mới có thể cho chúng ta câu trả lời rõ ràng, là chỉ có qua trui rèn, tôi luyện thì mới biết được bản chất, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhân cách cao đẹp của mỗi con người mà thôi. Thật đúng là : “Ngọc càng mài càng sáng” hay “ Thép càng tôi càng cứng” là vậy ! Giờ đây những tên tuổi, các nữ anh thư của chúng ta, như từ Lê Thị Công Nhân, Hồ Thị Bích Khương, đến Phạm Thanh Nghiên... đã hoàn toàn được khẳng định rất vững chắc trước công luận.

Tôi cũng nghĩ rằng Hồ Thị Bích Khương cũng như các tên tuổi khác trong đội ngũ tranh đấu rất trở nên quen thuộc với dư luận trong và ngoài nước, như nhà báo Trương Minh Đức, cựu doanh nhân trẻ Phạm Bá Hải, cô Phạm Thanh Nghiên, cựu quân nhân Lê Thanh Tùng, cựu nhà giáo Vũ Hùng, cựu tù nhân chính trị Nguyễn Văn Tính...là hoàn toàn xứng đáng được nhận lãnh các giải thưởng Nhân quyền cao quý của Quốc tế và Hải ngoại ngay trong năm 2008 này vì các thành tích đấu tranh thực tiễn của họ đã đóng góp cho công cuộc chung.

Cũng cần phải nói là trong suốt thời gian Bích Khương bị bắt giam và thụ án tù, cô Vũ Thanh Phương trong Sài Gòn được sự phân công của tôi đã thường xuyên gửi giúp các phần quà quý giá đầy tình nghĩa của đồng bào hải ngoại chuyển về hỗ trợ để nuôi con trai chị, cũng như tiếp tế trong lao tù cho chị. Nhân đây một lần nữa, tôi gửi lời cảm tạ đến tất cả quý vị đã có tấm lòng với trường hợp của Bích Khương và xin được nêu cụ thể sự hỗ trợ quý báu của những địa chỉ thân thiết như : Nhóm thân hữu tiểu bang Oregon – Hoa Kỳ, Khối 1706, chị Hồng - Việt Kiều, chị Bảo Khánh - đài Vietnam Sydney Radio, Khối 1906 mà anh Trần Hồng Quân, ông Trương Quốc Hùng ( nickname “Hẹn nhé Sài Gòn” ) bên Úc Châu là nbững người đại diện đã trực tiếp giúp đỡ và ông Bùi Xuân Quang của Hội tương trợ Pháp - Việt ở thủ đô Paris. Còn bây giờ, thì tôi từ Hà Nội đang trực tiếp gửi các món quà còn lại do bà con người Việt chúng ta ở hải ngoại hỗ trợ gửi về cho chị ruột và chị chồng của Bích Khương ở quê nhà.

Khi tôi viết những dòng của bài này nhằm vinh danh tên tuổi chị thì chỉ còn mấy tháng nữa, cụ thể là vào ngày 25/4/2009 nữ tù nhân chính trị Hồ Thị Bích Khương hết án sẽ được ra tù để trở về xã hội tạm thời đoàn tụ gia đình. Tôi tin chắc rằng chị sẽ trở lại Phong trào tranh đấu đòi dân chủ, tự do, nhân quyền và công lý để tiếp tục góp phần mạnh mẽ của mình vào sự nghiệp tranh đấu cho mục tiêu cao cả sáng ngời chính nghĩa của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Hôm nay, tôi hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả các bức thư quý giá do chính tay người nữ tù nhân bất khuất phản kháng chế độ độc tài - Hồ Thị Bích Khương viết từ lao ngục gửi ra để công luận tỏ tường về khí phách của một phụ nữ được trưởng thành và rèn luyện từ thực tế đấu tranh và từ phong trào dân oan đi lên.

Còn một chi tiết tôi thấy cũng cần phải nêu trong bài viết này, là trước khi công bố chính thức các bức thư của người em gái ruột mình đang trong lao tù lên Mạng toàn cầu, tôi đã có tới hơn 4 - 5 lần gọi điện về Nghệ An để nói chuyện, động viên chị ruột Hồ Thị Bich Khương và được chị đồng ý hoàn toàn việc bạch hoá các tư liệu này cho dư luận biết.

Tôi hy vọng trong lần thăm nuôi vào ngày 30/10/2008 tới đây, Bích Khương sẽ rất vui mừng, phấn khởi khi biết tin các dòng thư thân yêu hiền hoà nhưng thật dữ dội, quyết liệt của mình được bay đến với hàng triệu, hàng chục triệu bạn đọc gần xa… Các lá thư này như những cánh chim bằng bay không biết mỏi, như những làn gió mát lành lan toả đến mọi miền trên khắp địa cầu để chuyển tải đến công luận thông điệp dứt khoát…

Rằng : “Không bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ bạo lực, cường quyền của kẻ thống trị, của những thế lực đen tối dù tạm thời có uy quyền đến mấy có thể khuất phục, hoặc làm khiếp nhược được những tiếng nói tranh đấu chân chính và đích thực trên đất nước còn khốn khổ, lầm than này ”!!!

Viết tại Thủ đô - Việt Nam ngày 20 và 21/10/2008
Nhà báo tự do Nguyễn Khắc Toàn
Số nhà 11, Ngõ Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Posted: Tue Oct 28, 2008 2:42 am
by tranphuongdong
ChứcTrách

Ngô Nhân Dụng

Trong đời sống kinh tế, chữ TÍN là căn bản. Mình gửi tiền vào ngân hàng vì tin sẽ không bị mất. Ngân hàng cho mình vay, gọi là “tín dụng,” vì tin luật pháp sẽ buộc mình phải trả. Nếu có những thân chủ không trả được nợ, ngân hàng phải tin rằng đó là một số nhỏ. Trong mọi hoạt động kinh tế đều như vậy. Một công ty sản xuất áo sơ mi tin rằng những hợp đồng mình đã ký với nhà cung cấp vải, chỉ, hộp đựng áo, vân vân; hoặc những hợp đồng thuê mướn những công nhân làm việc may áo, đơm khuy, cắt chỉ, vân vân; tất cả các hợp đồng đó đều được mọi người tôn trọng. Nếu không có niềm tin như vậy thì kinh tế cả thế giới không chạy được.

Hôm qua, ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương của nước Mỹ, được mời điều trần trước Quốc Hội về nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chánh hiện tại. Ông đã thú nhận rằng trong thời gian giữ trách nhiệm giám sát hệ thống tài chánh quốc gia có một điều ông đã lầm. Mối lầm lẫn của ông là ông đã tin rằng các ngân hàng lúc nào cũng lo bảo vệ giá trị tài sản cho các cổ đông của họ.

Nhưng đó là niềm tin chung của tất cả hệ thống kinh tế thị trường. Tất cả những người mua cổ phần của mọi công ty, mọi ngân hàng, đều phải có sẵn tin rằng những người quản đốc công ty hay ngân hàng lúc nào cũng tìm cách bảo vệ giá trị của công ty, ai cũng cố gắng làm tăng giá trị cổ phiếu. Muốn được như vậy, khi thuê mướn người làm quản đốc, các công ty, các ngân hàng đều ấn định mức lương và tiền thưởng tùy thuộc vào thành quả của công việc. Cách đo lường thành quả dễ nhất là căn cứ vào giá trị cổ phần tăng nhiều hay ít. Nếu không có niềm tin như vậy thì cả hệ thống kinh tế thị trường sẽ sụp đổ!

Vậy tại sao ông Alan Greenspan lại cảm thấy mình đã tin lầm? Bởi vì trong mấy năm qua ở Mỹ nhiều ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư, hãng bảo hiểm, nhiều định chế tài chánh có lịch sử hàng trăm năm rất khả kính, có lúc đã đầu tư một cách liều lĩnh vào các chứng khoán mà chính họ cũng không hiểu rõ giá trị các chứng khoán này sẽ thay đổi ra sao nếu có những biến cố bất ngờ xẩy ra.

Những quyết định đầu tư liều lĩnh của ban giám đốc các ngân hàng và định chế tài chánh khác trong mấy năm trước đây không những đã làm cho tài sản của các cổ đông bị tụt giảm, mà còn làm cho cả nước, cả thế giới bị liên lụy.

Tại sao lại có nhiều người cùng phạm lầm lẫn trong cùng một thời gian để bây giờ chúng ta rơi vào cơn khủng hoảng này? Ðây là câu hỏi sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm câu trả lời trong thời gian tới. Vì phải biết lý do tại sao thì chúng ta mới biết cách vẽ ra những biện pháp ngăn ngừa không để xẩy ra lần khác giống như lần này. Nói chung, mọi người đã thấy phải thiết định lại hệ thống giám sát các ngân hàng và các công ty đầu tư cho có hiệu quả hơn, mà không làm cho hệ thống bị tê liệt hoặc mất sáng kiến, mất tính linh động của nó.

Một yếu tố cần thiết để cho hệ thống giám sát hữu hiệu là phải có tin tức đầy đủ và kịp thời trao đổi trong cả hệ thống, để việc mọi người thẩm lượng giá trị các chứng khoán đúng hơn, không để rơi vào những lầm lẫn lớn như mới xẩy ra nữa. Thông tin đầy đủ và kịp thời đòi hỏi cả hệ thống phải có tính chất công khai, minh bạch, có như vậy mới xác định được chức trách (accountability) rõ ràng.

Muốn bảo vệ niềm tin vào hệ thống kinh tế cũng như xã hội, phải làm sao cho chức trách rõ ràng, minh bạch. (Chữ accountability trong tiếng Anh, từ điển kinh tế ở Hồng Kông dịch là Chức Trách, người Trung Hoa ở lục địa và Ðài Loan dịch là Kinh Quản Trách Nhiệm, nói Chức Trách gọn hơn). Khái niệm Chức Trách cần được phổ biến, tìm hiểu, và thảo luận khi chúng ta bàn việc xây dựng một nước Việt Nam tương lai. Một hệ thống kinh tế mà không có chức trách rõ ràng thì ngay trong đời sống bình thường nó không mang lại hiệu quả kinh tế, khi gặp biến thì sinh khủng hoảng. Một hệ thống chính trị mà không có chức trách rõ ràng thì sinh ra hối mại quyền thế, tham nhũng, thối nát. Một hệ thống xã hội mà không có chức trách rõ ràng thì không còn kỷ cương, không còn đạo lý.

Thí dụ, trong xã hội ai cũng biết chúng ta không nên đổ rác bừa bãi. Nhưng làm sao để các công ty thải chất độc ra sông, ra biển chịu trách nhiệm về hành động của họ? Ai cũng biết trẻ em phải có quyền được đi học, một quyền công dân thường ghi trong hiến pháp. Nhưng nếu một công ty thuê trẻ em làm việc để có thể bóc lột dễ hơn, thì ai là người sẽ bị trừng phạt? Người chủ xưởng hay là viên thanh tra lao động, hay là quan chức địa phương? Chức trách không rõ thì những sai lầm tác hại sẽ kéo dài mãi mãi.

Rất nhiều câu hỏi tương tự từ phạm vi nhỏ tới lớn: Ai chịu trách nhiệm trong công ty khi việc kinh doanh thua lỗ? Ai chịu trách nhiệm trong một nước khi nạn đĩ điếm, ma túy lan tràn?

Làm sao để đồng bào chúng ta luôn luôn tỉnh thức về chức trách? Mọi người trong xã hội phải có thói quen chỉ đích danh những tổ chức hoặc cá nhân, với những địa vị, chức vụ, và quyền hành mà xã hội trao cho họ, họ phải chịu trách nhiệm về những vấn đề liên can tới các chức vụ, địa vị và quyền hành đó.

Ngày Thứ Tư vừa qua, ông chủ tịch công ty Wal-Mart mới nói chuyện ở Bắc Kinh với một ngàn người thuộc các xí nghiệp Trung Hoa chuyên cung cấp hàng hóa cho Wal-Mart. Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới của nước Mỹ hiện mỗi năm bán số lượng hàng hóa của Trung Quốc trị giá khoảng 30 tỷ Mỹ kim. Ngoài ra họ cũng có 115 cửa hàng sử dụng 53,000 nhân viên trong lục địa. Cho nên khi ông Lee Scott nói thì nhiều người lắng nghe.

Những lời ông Scott nói được nhật báo Financial Times (Tài Chánh Thời Báo) thuật lại ngày hôm qua, ông nhắm khuyến cáo các xí nghiệp bán hàng cho Wal-Mart hãy tôn trọng những luật lệ của nước họ, của Trung Quốc! Nếu không thì không thể làm ăn với Wal-Mart lâu dài được!

Những điều mà ông Lee Scott nêu lên để đòi hỏi các nhà cung cấp là: phải tôn trọng luật lệ bảo vệ môi trường sống, luật lao động, và phải đóng thuế, không được trốn thuế! Ngoài ra, 200 công ty lớn nhất trong số những nhà cung cấp cho Wal-Mart phải cho Wal-Mart biết tên và địa chỉ của những cơ xưởng bán hàng cho họ dùng trong quá trình sản xuất, để dễ truy tầm nguồn gốc của những vi phạm nếu có. Họ cũng phải tìm cách tiết kiệm năng lượng trong nội bộ 20% và chế biến các món hàng điện (thí dụ, màn ảnh ti vi phẳng) sử dụng ít điện, bớt đi 25%.

Ông Scott tóm tắt quy tắc đạo đức kinh doanh như sau: “Một công ty mà quỵt tiền không trả lương giờ phụ trội cho công nhân; hoặc gian trá khi khai tuổi công nhân, hoặc đổ rác và hóa chất độc hại xuống các con sông của chúng ta; hoặc không trả thuế và không tôn trọng các hợp đồng; thì cuối cùng chính các công ty đó đã phạm lỗi gian trá về phẩm chất của những món hàng họ chế tạo ra.”

Câu nói đó gợi cho người ta nhớ đến vụ các công ty chế sữa với chất độc ở Trung Quốc. Ông Scott muốn nhắc nhở các nhà kinh doanh Trung Quốc rằng các xí nghiệp chịu trách nhiệm với cả xã hội, đây là xã hội Trung Hoa của người Trung Hoa, về những các vấn đề môi trường, lao động, thuế khóa. Ông phải tới tận Bắc Kinh để nói, vì công ty Wal-Mart sẽ yêu cầu các nhà cung cấp hàng hóa cho họ phải ký những bản hợp đồng trong đó ghi rõ cả lời cam kết tôn trọng các luật lệ như trên!

Không thấy nhà báo ghi lại một lời phản đối nào của đại biểu các xí nghiệp Trung Hoa được mời đến nghe công ty Wal-Mart nói. Chắc họ cũng đồng ý rằng trong xã hội phải có những người nhắc nhở cho nhau về chức trách và cần giữ niềm tin xã hội ung. Ít nhất, mọi người phải tin vào luật lệ và tin luật lệ sẽ được thi hành! Ông Lee Scott đã giúp người Trung Hoa xây dựng và củng cố niềm tin vào hệ thống xã hội của họ! Với những vụ xì căng đan như vụ sữa độc, người Trung Hoa đang cần những liều thuốc mạnh như thế!

Cũng đáng buồn khi những người hậu duệ của Khổng Tử, Mạnh Tử phải ngồi nghe một nhà kinh doanh ngoại quốc đến khuyên nhủ mình phải tôn trọng luật lệ của nước mình! Nhưng điều này cũng hiểu được. Vì sau nửa thế kỷ sống dưới chế độ cộng sản mọi kỷ cương Khổng Mạnh đã bị xóa bỏ hết. Người ta không còn giữ khái niệm về Chức trách nữa. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói thuyết “Chính Danh.” Ðó là một cách gọi tên khái niệm Chức Trách, trong phạm vi chính trị.