Page 15 of 39

Posted: Sat Mar 03, 2012 6:47 am
by khieulong

Image

Phạm Nguyên Lộc, giọt nắng hồng giữa gió bụi trần gian

Ngô Nguyên Nghiễm


Những giọt nắng lạ thường, nhễu xuống khung đời và vô tình đọng lại, hóa thân thành những trường canh, bay nhảy suốt quãng đời thanh niên đầy vọng ước, và mặc nhiên cùng người nghệ sĩ xuôi ngược đằng đẵng suốt nẻo đời lãng bạt phong trần. Gió có thổi qua, hạt bụi nào còn vương trên mái tóc, và hoa có nở âm thầm trên mọi nẻo đường đi, thì tâm thức của chàng trai vẫn vang vọng đầy ắp những thần khí mà nghệ thuật vẫn tháng năm chan hòa sinh hóa với cơn mê… Thật vậy, sự ảo diệu trên hướng tới của thi ca, của âm nhạc vẫn cuốn hút, gắn chặt vào định số của Phạm Nguyên Lộc, như một nhu cầu không thể tách rời khỏi tử sinh đời người. Năm Phạm Nguyên Lộc tuổi vừa lên 18, một vóc dáng phiêu bồng lãng tử với mái tóc dày cuốn quýt như gói trọn thần sắc, trong ngần của thời niên thiếu. Tài hoa bộc phát, hình như không đợi thời gian để tôi luyện tiềm năng, phát tiết nhất thời dũng mãnh, lắng đọng từ tiền kiếp. Người nghệ sĩ vừa hóa thân trở lại nhân gian, đã đeo gọn hành trang trên đôi vai bước vội qua ngưỡng cửa sinh phù, một cách mặc khải.

Tuổi thơ của nhạc sĩ-nhà thơ Phạm Nguyên Lộc gắn chặt trên những ca đoàn, tài năng thường được ban phát trên những chương trình nhạc kịch của địa phương. Sự sáng rỡ của một giọng hát điêu luyện là bước đầu định hình cho bước đi, hướng về một nẻo tương lai được định trước. Dù khởi đầu trong những buổi ban sơ ước lệ, nhưng Phạm Nguyên Lộc đã khẳng định được tài hoa, như ước đoán của nhiều thân hữu. Bản chất trầm lặng, tạo dựng cho Phạm Nguyên Lộc vóc dáng độc đáo, trên bước vói nhặt từng cánh hoa lưu ly nghệ thuật. Khác với vội vã của nhiều anh em văn nghệ, như một phương cách đốt giai đoạn để bước nhanh về phương trời thiện mỹ. Nhưng Phạm Nguyên Lộc không bao giờ tạo dựng cho mình một lớp áo hành trình như vậy. Đến nay, hơn 30 năm chìm đắm trong cuộc sống văn nghệ, Phạm Nguyên Lộc vẫn trang trí cho chính bản thân sự khiêm tốn cần thiết, giúp tâm thức lập dựng được cái chân trong mọi sáng tác của anh, dù ngẫu hứng trong thi ca hay hội họa, hay sáng tác ca khúc, hay trầm lắng hóa thân trong trình diễn ca kịch. Hôm tôi và nhạc sĩ Miên Đức Thắng tình cờ có dịp dành hẳn thời gian cộng hưởng cho đêm nhạc tại sân khấu Tulip… Phạm Nguyên Lộc bao giờ cũng rất lịch thiệp, khiêm tốn dù ở mọi hoàn cảnh nào, nhưng trước kỷ thuật trình diễn say mê của Miên Đức Thắng dành tặng riêng Phạm Nguyên Lộc, thì hình như bản chất khiêm tốn bỗng nhiên òa vỡ, Phạm Nguyên Lộc bỗng chốc hóa hình phiêu lãng, giọng ca của tháng ngày qua được hiện về một cách lắng đọng, như mang cả một không gian quá khứ của dòng nhạc Phạm Nguyên Lộc năm nào. Những tháng ngày nhật nguyệt chạy đuổi nhau trên khoảng đời thường, tưởng chừng lặng lẽ xuôi ngược thời gian như dòng thơ mà Lộc viết cách đây mấy mươi năm, khi vứt bỏ tất cả hào nhoáng của cơn mê nghệ thuật. Chàng lắng trong hoa im tiếng / gió quên lay / bướm ngại ngùng không nói. Nhưng hôm này có dịp bừng sáng giữa một không gian âm nhạc kỳ diệu trên sân khâu Tulip, Phạm Nguyên Lộc cảm nhận một giọt nắng lạ thường vừa rải hương sắc trên vườn đời, những giọt nắng hồng làm bừng lên sức sống sáng hóa cho một giọng hát cô tịch và những khúc tình ca băng tuyết của Phạm Nguyên Lộc.

Sắc hương bay lạc trong vườn
Em mang giọt nắng lạ thường về thăm
Ngại ngùng bất tận ý ngôn
Hoa im tiếng, gió lặng hồn thiên thu


Hơn 32 năm rồi, đêm trầm tích này đã tượng hình lại trong tâm trí tôi một khuynh khoái lãng mạn, đầy nét trí thức trong những ca khúc diệu vợi mà ngày nào Lộc thường nghêu ngao cùng anh em, chung sống dưới một tổ ấm đầy ắp tình thương yêu, nặng nghĩa Lương Sơn Bạc. Giọng ca của Phạm Nguyên Lộc trầm lắng u buồn, như có những giọt nước mắt chìm ngắm trong ca khúc mà chàng âm thầm sáng tác trong những ngày ly hương. Nỗi nhớ diệu vợi, đầy ắp tính người, tình yêu chan hòa cõi sống, như những tia nắng nhạt dật dờ, âm thầm vô ngôn trước thi ca, khiến đêm về ta làm thơ. Làm thơ trong mơ, mà thấp thoáng ngoài song cửa, vẫn còn mái tóc xõa dài của những buổi hoàng hôn nhạt nhòa trong ký ức:

Thấp thoáng ngoài khung cửa
Tóc xõa dài thiên thu
Dường như ta hóa đá
Tượng đài còn mộng du…

Dường như trong cơn mơ
Em cười bên nắng nhạt
Đêm về ta làm thơ
Mưa tình rơi nặng hạt.


Cách đây hơn 3 năm, Nguyễn Thành Xuân vác hành trang xuôi ngược về phố núi Thất Sơn, trong một dịp quy cố hương. Xuân tường thuật lại, một đêm thù tạc cùng bằng hữu tại một tư gia ven sông thị xã Sa Đéc, thì tình cờ bắt gặp được âm thanh điêu luyện của Phạm Nguyên Lộc. Đĩa nhạc CD Giọt Sầu Cay, được anh em chuyền tay, lại di chuyển sâu rộng đến tận xứ sở của hai thi nhân tài hoa Trần Tuấn Kiệt và Hạc Thành Hoa. Đĩa CD này, là bản sao của một album mà Phạm Nguyên Lộc phát hành rộng rãi nhiều quốc gia hải ngoại như Mỹ, Úc, Canada, Pháp… và khi về Việt Nam, khi tôi chụp bắt được kỷ niệm xa khơi của một tâm hồn thân quen hằng mươi năm cách biệt, đã in lại hơn 100 bản, và gởi tặng nhiều nơi, tạo dựng lại những kỷ niệm xa vắng tưởng chừng đã tan loãng trong hướng gió trầm mặc của thời gian. Nhà thơ Nguyễn Thành Xuân ngồi nắn nót, chép lại từng lời vừa thoát ra từ âm thanh lãng bạt của đĩa CD hữu hình, nhưng chất chứa đầy những kỷ niệm xót xa ngày nào, giống như một chiêu niệm mà Phạm Nguyên Lộc đọc cho tôi nghe hơn một lần, từ đại dương xa xôi nửa vòng trái đất vọng về:

Đường đi, bụi đỏ
Hoa vàng bướm bay
Lời tình chưa ngỏ
Nắng nhạt, chiều nay…


Phạm Nguyên Lộc không chỉ sáng tác nhạc khúc, anh còn đa năng trong thi ca và hội họa, riêng giọng hát của Lộc cũng chất chứa đầy nét điêu luyện của một ca sĩ chuyên nghiệp. Thời gian sau này, cuối thiên niên kỷ XX, nhạc và thơ của Phạm Nguyên Lộc kín đáo, sâu lắng trong môi trường sáng tạo mới. Cá tính thì khu trú trong một sự khiêm nhường kỳ lạ, giống như một Trần Kiêu Bạt của thơ, luôn luôn nhốt kín lòng mình trong một sự cô đơn cùng cực, không thố lộ bày tỏ huống gì phổ biến cho tha nhân, để đón nhận cảm thông chia xẻ. Chính vậy, nên Trần Kiêu Bạt đến lúc vĩnh biệt cõi tạm vô thường, thơ anh vẫn còn rơi rớt tận phương trời nào. Gia đình và thân hữu chỉ còn biết mơ ước, anh em góp nhặt tác phẩm của Bạt giúp quy hồi cố hương. Lối sống của Phạm Nguyên Lộc thực chất cũng rất hoạt diện trong lành, đối với người chung quanh Lộc có sẵn sự cởi mở và tin cẩn, một đức tính sơ nguyên mà Phạm Nguyên Lộc thù tạc chân thành, dù mới gặp gỡ lần đầu. Bản chất nghệ sĩ khiến nhiều khi mọi người tìm thấy ở Lộc, một sự thân tình ấm áp còn tồn tại chân chất giữa cõi nhân gian này…

Bước qua những khoảnh khắc trôi nhanh của cuộc đời, hầu như ngày tháng vô hình vẫn là nỗi ám ảnh khôn cùng của những người sống quá nhiều cho kỷ niệm. Trong đó, người làm văn nghệ phải chăng vẫn có một nghiệp chướng luôn phải chìm đắm trong mọi ngã đường phiêu bạt của nhân gian. Tâm thức chợt về, thì cảnh trí của ngày tháng nào làm mơ hồ thoáng hiện những quá vãng xa khơi. Trong đó, dù có những thương yêu, cũng có những từ biệt, đã mang đi theo hành trình thời gian, cả một vùng trời kỷ niệm, như sóng biển nhạt nhòa khiến trong vẫy tay chào, như ta xót xa vẫy chào ta. Phạm Nguyên Lộc trầm ngâm ngồi ôn lại chuyện cũ, những ngày tháng trông đợi của yêu thương và từ biệt như thế, chắc cũng là chuyện thường tình của nhân thế. Nhưng trong sáng tác của Phạm Nguyên Lộc, vẫn tràn đầy ý nghĩa giữ lại cho ta ngày hiu quạnh, nên sự tha thiết trong nghệ thuật, phải chăng là hơi thở phả cho tượng đá linh hồn có một sức sống tinh khôi?

Thơ Phạm Nguyên Lộc rung cảm, chân thành bao nhiêu thì nhạc của anh như chàng trai 50 mang một phong thái sáng tác 20, một dung nhan tươi trẻ của một sức sống chân thành với lòng mình, với tha nhân và với tình yêu. Với quãng đường ở lại, còn đó một lần ai đã qua, hình như Phạm Nguyên Lộc vẫn sống trong một sự đam mê, đầy ảnh tượng chiêu hồn của ngày niên thiếu mang trong tim một sự tinh khiết hóa thân, ngây thơ đến tội nghiệp:

Con phố vắng đầy hồn
Ngập tràn đời trăm ngõ
Nơi nào, người có hay?

Hay:

Mời người quen lạ
Rượu đắng giao bôi
Lỡ ru hồn lạnh
Bến cũ ngậm ngùi

Đêm nay, yêu người
Hồn đầy phố vắng
Trăm ngõ tử sinh
Một đời lãng đãng

Dấu niệm cuộc tình
Phiêu lưu không lối
Rủ cánh chim xanh
Một thời mòn mỏi.


Thơ của Phạm Nguyên Lộc, nhạc của Phạm Nguyên Lộc, vẫn là những tình khúc… tuyệt đẹp, mà hầu như chứa đựng những vụng dại của người trẻ tuổi khi bước qua ngưỡng cửa cuộc đời. Sự sinh hóa của tình yêu là cõi hoa mộng, đầy bướm, đầy rượu đắng, dấu cũ, mỏi mòn, hồn đơn, gió bụi, quạnh hiu, phố cũ, nhớ nhung, chiều nắng nhạt… Nhưng tất cả, với mọi nhân thế cũng đều ấn tượng với cõi tình như vậy. Riêng với nghệ sĩ thì tài hoa và khí lực, đã sáng tạo được nhiều tác phẩm vượt thời gian, lập dựng được một khoảng không riêng biệt đầy nét thánh hóa… để qua đêm hiu quạnh sương còn đọng, thì sự lãng bạt trong dòng nghệ thuật của Phạm Nguyên Lộc là một sinh khí đặc thù, giúp cuộc sống chan hòa tiếng hót của một loài chim xanh, làm dịu dàng ánh nắng bình minh…

Ngô Nguyên Nghiễm
Viết tại Thư trang Quang Hạnh
Mùa xuân 2011

Posted: Thu Mar 08, 2012 6:29 pm
by khieulong
Image


Cái Vỗ Mông

Sầu Đông

Phẩm là một kẻ ghét Mỹ. Ghét cay, ghét đắng. Hồi ở trên đảo, sau chuyến vượt biên may mắn chỉ kéo dài một đêm, hai ngày rồi được tàu Pháp vớt, chàng đã thề trước mặt nhiều người là không bao giờ thèm nhìn mặt bọn Mỹ, rằng đi xứ nào thì đi, ‘Công-gô’, ‘công-ghoéo’ gì gì cũng được. Chàng bảo: ” Tao cạch mặt bọn Mẽo. Bọn ấy là chúa đểu. Mình xém thành mồi cho cá cũng vì làm đồng minh với chúng! ” Ghét Mỹ vì cái chính trị lắt léo của Mỹ một phần, phần khác là vì sau vụ tết Mậu Thân, một hôm chàng đưa người yêu bé bỏng của chàng đi coi phim về, khi ngang qua góc Tự Do – Lê Thánh Tôn, một thằng lính Mỹ đội bê-rê xanh có lẽ đã xỉn, đã nhè ngay mông người yêu của chàng mà vỗ một phát. Chàng giận điên người, muốn xông vào thọi ngay mặt thằng mất dậy ấy một thọi, nhưng thằng kia đang xỉn, tướng tá to lớn, dữ dằn quá, nên chàng chỉ biết kéo vội người yêu tránh vào Quán Chùa ( La Pagode ) gần đó.Chuyện ghét Mỹ của chàng còn nhiều lý do mà nếu liệt kê ra cho đầy đủ không biết chừng nào mới hết. Sau lần cái mông của người yêu bị thằng lính hỗn chạm vào, chàng nhìn chỗ nào cũng thấy một bọn đồng minh nghênh ngang, hám gái. Cũng may là chàng chưa ghét cùng, ghét cực đến độ bỏ trốn ra bưng đi theo mấy anh ‘cách mạng’. Bọn lính ngờ nghệch Mỹ thù chúng làm chi cho mất công. Chả gì mẹ và chị của chàng nhờ mua bán đồ PX ( quân tiếp vụ của quân đội Mỹ) mà xây được nhà lớn ở ngay con hẻm dẫn vào xóm đạo. Bố chàng làm trùm xứ đạo, vẫn còn nhắc chàng những chuyện khủng bố của bọn cộng sản nơi vùng quê Nghệ Tĩnh năm xưa. Nhưng chàng chả thấy dân chủ của bọn ‘rợ’ Mỹ hay ho ở khoản nào. Chàng bảo với người yêu của chàng những hôm hai đứa đi lễ ngày chủ nhật là cái giàu có, hào nhoáng của xứ Mỹ chỉ là cái vỏ ngoài của một xã hội ruỗng nát về đạo đức. Xứ gì mà lính đóng quân ở đâu là ngay sau đó có nguyên một đạo quân những gái bán ba bao vây. Và trong những trại lính Mỹ, chẳng thiếu những tờ Playboy in toàn hình đầm truồng. Thật ra những lần ngồi trong ban văn thư của quân trường nhìn ra ngoài sân tập của sinh viên sĩ quan, chàng cũng thú vị lén mở một vài trang trong tờ Playboy mà viên trung sĩ dưới quyền bỏ quên trong hộc bàn, nhưng những lần thấy viên sĩ quan cố vấn cao lênh khênh thẳng người đi ngang qua cửa phòng làm việc của chàng, chàng lại liên tưởng đến khuôn mặt lạnh như tiền của Cabot Lodge, hay của mấy viên tướng Mỹ chàng thường thấy xuất hiện trên báo chí: khinh khỉnh, lạnh lùng. Những phiên trực ban, vào lúc thức ngủ lơ mơ, chàng có lúc mơ thấy phi cơ trực thăng chở viên tướng Abrahams rớt ở vùng rừng cao su Trảng Bàng.

Nhưng cô người yêu bé bỏng của chàng xem ra không mấy căm hận về cái phát mông của thằng lính mất dậy ấy. Mỗi lần ngồi nghe chàng hậm hực kể với bạn chuyện cái mông của nàng, mặt nàng chỉ ửng hồng rồi dụi dụi cái đầu vào vai chàng. Không biết là nàng thẹn thùng khi nghe chàng vung tay kể lại chuyện ấy hay là nàng đang hưởng cái thú vị của một người yêu biết là kẻ yêu mình đang ghen, đang tức lắm!

Chàng có một người bạn khá thân, tên Quang, cùng động viên vào một khoá sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Khi ấy họ đều là những thư sinh mặt trắng, hiền lành, cùng trình diện ở quân trấn một ngày. Những ngày trong quân trường họ cùng được xếp vào một trung đội trong một đại đội, cùng chung một cái giường đôi ( bạn chàng nằm tầng trên, chàng tầng dưới), và sau này cùng ngán và nể Lộc Lác. Lộc Lác là một gã sinh viên sĩ quan ngang tàng. Hắn thường bảo: “ đã vào lính thì hoặc xanh cỏ, hoặc đỏ ngực ”. Nó là loại điếc không nghe thấy tiếng đại bác bắn bên tai. Mấy ông sĩ quan cán bộ trung đội còn phải ngán hắn nữa mà. Hắn chui rào trốn trại về thăm bồ của hắn dài dài. Mãn khoá, Lộc Lác qua lực lượng đặc biệt ( cũng đội nón xanh ! ), Quang về một trung đoàn bộ binh, còn chàng chẳng biết dây mơ rễ má thế nào mà được giữ ở lại quân trường.

Một lần Quang được về phép sau trận Mậu Thân, chàng đã hớn hở báo tin quan trọng cho bạn chàng biết là ông trung úy Bạch – đàn em của thiếu tá Vinh ( cựu đại đội trưởng đại đội 17 của họ ) đã ‘khỉa’ ngon một thằng quân cảnh Mỹ khi thằng này đòi còng tay ông Vinh ở nhà hàng Tháp Ngà ( Tour d’Ivoire ) . Chàng bảo ” Tao phục ông Bạch. Phải dạy cho bọn Mẽo biết thế nào là lễ độ và chủ quyền chứ. ” Chàng đã có người trả hận dùm, nhưng vẫn chưa thôi ghét Mỹ.

Ngoài chuyện ghét cay, ghét đắng bọn Mỹ vì cái phát mông cô bồ của chàng, chàng cũng không mấy thiện cảm với người ngoại quốc, đặc biệt với đám người Hoa. Chàng đã chịu một phần ảnh hưởng của những bài học lịch sử những năm đầu trung học: “ Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu ”, nhưng nhiều hơn cả là những cọ sát hàng ngày của gia đình chàng với đám con buôn người Hoa vùng Chợ Lớn, vừa keo kiệt, bủn xỉn với bạn hàng, vừa đầy những mánh lới làm giàu bất lương qua những thủ đoạn mua chuộc, hối lộ, chưa kể thái độ chèn ép có hệ thống, và kỳ thị ra mặt với đám dân buôn người Việt. Chàng cũng đã từng đọc đâu đó là ở xứ Ma-lai-xi-a không xa VN bao nhiêu, dân Tàu chỉ mới được nhập cư chưa tới một thế kỷ, đã hầu như trở thành chủ nhân ông đích thật của xứ này! Ở khắp vùng Đông nam á, đám người Hoa đã làm mưa làm gió trên thương trường và chính trường, và cuối cùng là những thú vui bệnh hoạn như mua trinh gái tơ của các xì thẩu người Hoa.

Ðối với người Pháp, quá khứ tuy gần mà xa. Trước mắt chàng chỉ còn lại những ảnh hưởng tốt đẹp của văn hoá Pháp: những ngôi trường với những tiểu thư xinh đẹp, lịch sự. Cô bồ của chàng là một điển hình. Rồi những nhà thơ như Mallarmé, Beaudelaire, Apollinaire,…những nhà văn, nhà tư tưởng như Voltaire, Montesquieu, … mà chàng đã được cụ Huỳnh Hoà, thầy dạy văn chương Pháp năm đệ tam của chàng, giới thiệu không chỉ là niềm vinh dự của nước Pháp mà còn là của cả nhân loại nữa. Riêng chàng, cô người yêu bé bỏng trường đầm của chàng thỉnh thoảng vẫn nghe chàng ngâm nho nhỏ một câu thơ duy nhất chàng thuộc của Lamartine ” Thời gian ơi! Xin hãy ngừng cánh bay ” ( Oh temps! Suspends ton vol ) sau lần đầu tiên chàng đặt được một nụ hôn nồng lên đôi môi dịu dàng của nàng trong một góc của rạp chiếu bóng Rex. Vì thế khi được tàu Pháp vớt, chàng sung sướng đến lịm người, hệt như linh hồn kẻ thánh thiện vừa được thánh Phao Lồ đón vào nước trời: chàng đã choáng đi mất vài giây.

Với cộng sản, chàng vừa thù vừa ghét. Chàng thù vì ” Ông già tao làm trùm xứ đạo, chỉ biết việc đạo mà chúng nó cũng đem đi nhốt. Ông cụ chết ở trong tù rồi! Xin lãnh xác về chôn, chúng nó cũng làm khó dễ đủ đường!! ;…Tao là lính văn phòng, có đào mả cha nhà chúng nó hồi nào đâu, mà chúng nó nhốt và hành tao đến bảy niên, lại còn nay khai lý lịch, mai khai lý lịch, mốt nó cũng cứ bắt khai lý lịch nữa;… Tù thì nói mẹ nó là tù, lại còn bày đặt mấy tiếng ‘cải tạo viên’. Cải tạo cái con bà nhà chúng nó. Chúng nó vừa độc, lại vừa ác! ” Ðám tù cải tạo đói khổ trong tù; người thân ở bên ngoài cũng khốn khổ chẳng kém, ác liệt nhất là trong những năm liền sau chiến tranh. Quang may mắn hơn hắn về chuyện đi tù, chỉ bị nhốt có ba niên, nhưng ra khỏi tù rồi mới thấy cái xã hội bên ngoài là một trại giam lỏng lớn. Nhà nào cũng xính vính, xác xơ, tan tác. Cái đói, cái nghèo làm nhiều người thay đổi tâm tính. Kinh hãi nhất là cái cùm lớn choàng lên toàn xã hội: đi đứng, nói năng nhất nhất phải cẩn thận. Ôi thôi! Nhắc đến còn ớn lạnh cả người. Ðã có lúc Phẩm tưởng cái hệ thống cùm kẹp ghê gớm ấy sẽ giúp bọn đại ma muôn năm trường trị. Trong tù, chàng có lúc nhớ đến những nhân vật tiểu thuyết của Kim Dung: Ðông Tà, Tây Ðộc. ‘Tây Ðộc’ chàng đã nếm qua, nhưng phải đến lúc gặp ‘Ðông Tà’ chàng mới thấy hết cái độc điạ, khủng khiếp của nó.

Trời đất sắp xếp sao đó mà tới đâu Quang cũng gặp Phẩm: hết ở tổ hợp sơn mài, đến vá xe ở đầu đường Lê Thánh Tôn, rồi cả đạp xích lô nữa! Còn cô bồ xinh đẹp trường đầm ngày xưa của Phẩm ( đã thành vợ Phẩm sau Mùa Hè Ðỏ Lửa) có lẽ may mắn nhờ giáo dục tốt lành nơi giáo xứ của cô, đã không nỡ bỏ chàng và hai đứa con như một vài con bạn đã bỏ chồng trong tù để ôm lấy những kẻ chiến thắng. Vả lại, mới chỉ nói chuyện với vài cán ngố, Loan đã ngấy đến tận cổ, gì đâu mà “tủ lạnh chạy đầy đường!” Mán quá . Nhưng cái số nàng là số vất vả , hồi mới quen nhau đi giung giăng, giung giẻ với Phẩm giữa đường lớn đã bị ngay Mỹ say vỗ đít, đến lúc lấy nhau chưa được bao nả thì quân ta tan hàng. May mà cả hai bên gia đình đều có tí của chìm khiến mấy mẹ con Loan không đến nỗi phải rệu rạo nhai bo bo nhưng nàng thường xuyên bị phường khóm ‘động viên’ đưa các con về vùng kinh tế mới. Năm 75, Loan mới ngoài đôi mươi, tươi rói; vài năm sau ‘giải phóng’ Loan xuống sắc rõ rệt. Còn Phẩm lúc ở tù về và nhất là lúc ngồi vá xe ở đầu đường nhìn không kỹ có người kêu chàng bằng bác, khác hẳn lối gọi xách mé, mất dạy của bọn ở ngoài bắc vào: ông già, bà lão đều bị chúng kêu là “anh”, “chị” ráo trọi. Có lần, sau một cuốc xe chở người nhà của một cán gộc đến trạm hàng không nằm trên đường Phan Ðình Phùng đón người nhà, Quang thất kinh kể cho chàng nghe là đã thấy tận mắt các cán nam, cán nữ cỡ giám đốc trở lên ngồi xổm bên kia đường Phan Ðình Phùng sau khi xe buýt đưa người từ phi trường TSN bỏ xuống tại đây chờ người nhà hay nhân viên ra đón. Quang bảo : ” Các quan lớn mà ngồi kiểu ‘nước lụt’ đó, ăn xôi xong lấy lá chuối chùi mồm, tiện tay quệt luôn vào ống quần thì dân đen thấy ông bà ông vải rồi! ” Gã bảo : ” Trong Nam, thủ tướng như Nguyễn Cao Kỳ cà chớn thật, nhưng nhìn mặt mấy lão Lê Duẩn, Phạm văn Ðồng,… rồi nghe mấy lão chỉ dậy toàn thể nhân dân “có sức người sỏi đá cũng thành cơm” thì có ngày cả nước chống gậy thành…khất sĩ quá ! Thôi, chết cũng ‘dĩ đào vi thượng sách’. ” Và thế là vợ chồng chàng tìm mọi cách đem hai con vượt biển. Bất ngờ là chàng lại gặp lại Quang lúc ở trên đảo. Quang đến sau chàng một tuần. Gia đình chàng đã quyết chí đi Pháp, còn bạn chàng có người em du học ở Canada đứng ra bảo lãnh nên đã được phái đoàn Canada ưu tiên nhận.

***

Quang giới thiệu Tân với vợ chồng Phẩm khi ngồi chung trong một bàn tiệc nhỏ nhân dịp Quang mời vợ chồng Phẩm ở một tiệm ăn của Tây nằm trong khu thương mại ngầm gần trường UQAM ( Université du Québec à Montréal ) trong một dịp Lễ Tạ Ơn. Lúc ấy vợ chồng Phẩm đã qua định cư ở Canada vài năm. Trước khi đưa vợ con qua Canada, vợ chồng chàng đã sống trên đất Pháp gần năm năm.

Tân chưa tiện hỏi lý do khiến vợ chồng bạn của Quang rời Pháp, nhưng Tân nhận ra mối thiện cảm đặc biệt của vợ chồng người bạn của Quang đối với xứ ấy. Khi nghe Quang nói chưa từng một lần qua Châu Âu, Loan bảo : ” Ít nhất một lần trong đời anh cũng nên đi một vòng Châu Âu, đặc biệt đến thăm nước Pháp. Ở Paris và nhiều thành phố trên đất Pháp có rất nhiều di tích văn hoá và lịch sử, và dân Pháp thật lịch sự ”. Phẩm cẩn thận bảo : ” Ðàn ông Pháp giỏi nịnh đầm, nhiều tên buôn bán khéo nói đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra; nhưng nước Pháp là một trong những cái nôi lớn của nền văn minh nhân bản hiện đại.”

Tân mới quen biết Quang khi được nhận vào làm ở chi nhánh ngân hàng nơi Quang đã làm nhiều năm. Quang phụ trách kế toán. Tân lo về những khách hàng đầu tư. Cả hai là những nhân viên gốc Việt trong một chi nhánh có đến phân nửa là dân ‘còi’ ( québécois/québécoise/ ) nhưng họ không thấy xa lạ với các đồng nghiệp. Trên thực tế họ không gặp khó khăn nào trong công việc cũng như trong giao tiếp. Tân bảo: ” Cái quan trọng trong giao tiếp là thông cảm. Ngôn ngữ là nhịp cầu tương giao chính; nhân loại ngày nay đã gần nhau lắm rồi, trừ những anh quá cực đoan về chính trị, tôn giáo, hay chủng tộc.” Không rõ có phải vì chuyến vượt biên hãi hùng xảy đến cho Quang hay không mà sau khi đến định cư ở Canada Quang đã có lúc có ý định xin vào tịnh tu trong một ngôi chùa trong vùng. Tuy vậy, cách hôm khoản đãi vợ chồng Phẩm không lâu, Tân đã thấy Quang dìu một em da trắng, tóc vàng, mắt xanh dạo trong công viên gần nhà. Lúc khoản đãi vợ chồng Phẩm, Tân không thấy Quang dắt theo em đầm nào, nhưng gã bạn ấy đã có phần vui tính trở lại.

Tân còn nhớ trong buổi tiệc họp mặt nho nhỏ ấy Quang đã nháy mắt với Tân giới thiệu : ” Ông bạn tôi đây là người ghét Mỹ vô cùng, ông ấy đã từng thề không bao giờ thèm đặt chân lên đất Mỹ, nhưng mới hôm qua thôi, ông ấy đã đổi ý; đúng là ‘quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn’. Bạn tôi đang muốn qua đất Mỹ đái lên xứ ấy nữa. ” Tân được biết sau nhiều năm định cư ở Canada Phẩm chưa từng một lần qua Mỹ. Phẩm bảo : ” Công việc bận quá và cũng chưa muốn đi, mới chỉ có cô ấy qua Cali. vài lần thăm mấy bà chị trong vài năm gần đây ”. Có vẻ như chàng vẫn còn căm bọn Mỹ lắm. Tân bỗng nổi hứng tiếp lời: ” Phải đái cho lụt xứ chúng nó chứ, cho chúng nó biết xứ của chúng chẳng thơm tho, tốt lành gì. Báo chí của chúng còn dám mạt sát trong lúc Miền Nam đang dầu sôi lửa bỏng ‘Sàigòn là một ổ điếm’ cơ mà. Tôi sẵn sàng chở quí vị qua đái ở bên ấy. Từ đây qua đất Mỹ chỉ khoảng 40 phút lái xe, ngay gần biên giới có một cái chợ bán rau trái, thịt thà rất rẻ.” Vợ của Phẩm, trước và sau 75 ở bên nhà, trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt, dù là dân trường đầm, nhưng chắc đã chứng kiến không ít cảnh lộn xộn ngoài đường mà chính nàng đã có lúc phải chịu, nên khi ba anh đàn ông nói những câu xông mùi như thế nàng cũng không nhăn mặt mà còn vui vẻ đồng tình. Ðược trớn, Phẩm làm tới : ” Em cũng phải tưới cho chúng nó chết lụt luôn chớ ”. Ngày hôm ấy là một ngày rất vui của cả bốn người, có lẽ là vui nhất sau nhiều chục năm chịu nhiều những tai ương, hoạn nạn. Họ đã cụng với nhau những ly Rosé de Provence, Bourgogne générique, cùng với phó mát Neufchâtel và Suisse canadien, đã ăn với nhau một bữa cơm Tây đã khẩu.

Tuần lễ sau đó chỉ có ba tay đàn ông chạy xe qua Mỹ. Vợ Phẩm phải ở nhà sửa soạn đón một bà chị từ Cali. qua chơi vào ngày hôm sau. Phẩm cho biết mấy bà chị vợ ở Cali. cứ khuyên gia đình chàng xin di dân qua Mỹ. Loan bảo các bà ấy nói xứ Mỹ cái gì cũng nhất, nhất là cơ hội. Cơ hội cho mình và cho các con. Cả cơ hội làm giàu nữa. Nhưng trong ba bà chị thì hai bà đã bỏ chồng Việt để lấy chồng Mỹ. Các bà này lúc ở Việt Nam chẳng bà nào có cái xui xẻo bị lính Mỹ vô kỷ luật sờ mông cả. Nay thì hai bà ấy cho chồng Mỹ sờ thả dàn. Chồng cũ của các bà ấy có người là kỹ sư, có người là sĩ quan quân đội cũ. Quang bảo : ” Ðồng ý, nhưng cơ hội sa ngã cũng kinh hoàng lắm. Ở mấy xứ tự do cũng phải có bản lãnh, nội công tu dưỡng thâm hậu mới sống nghiêm chỉnh được ”. Nghe bạn nói, Tân ngờ ngợ rồi ra sẽ có ngày bạn chàng sẽ vào nhà chùa thật.

Khi đã qua thủ tục trình thẻ quốc tịch, xe vào hẳn đất Mỹ. Quang vỗ vai Phẩm : ” Nhớ đừng vào nhà cầu nghe ông bạn, để dành cái bong bóng thật căng, đến giữa đường rồi xuống xe hẵng xả, chẳng lụt nhiều cũng lụt ít”. Tân ngạc nhiên khi thấy Phẩm cười, đáp : ” Ngày xưa mình ghét chúng nó thật nhiều vì thật tình lúc ấy chúng nó là đồng minh nhưng chơi cha mình quá, mà phiá mình mấy anh tướng đầu trò cũng ẹ quá chừng. Ðúng là bị chúng nó dắt mũi, làm nhục mà không sao phản ứng hữu hiệu được. Báo chí Mỹ chúng nó mạnh quá. Nó hướng dẫn dư luận dân Mỹ. Nó ảnh hưởng cả đến dân chúng nhiều nước. Làm dân xứ nhỏ, nghèo đã khổ mà giới lãnh đạo phải liên minh với anh nhà giàu hùng mạnh thật chẳng sung sướng và dễ dàng gì. Lúc ấy mình cũng còn trẻ quá đâu có hiểu biết chi nhiều về chính trị quốc tế này nọ, nhìn các ông lớn nhà mình thấy oai phuông lẫm liệt, nhưng lạng quạng với đồng minh chi viện cho mình thì có khi chết không kịp ngáp. Thật tình những lúc tức quá mình nói cho đã cái miệng, nhưng ở đây mà đứng đái giữa đường thì chắc chắn cảnh sát Mẽo nó vồ ngay tức thì, rồi nó sẽ đưa vào bịnh viện tâm thần, và trục xuất sau đó”. Nói xong, Phẩm cười khà khà. Ðúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn. Cả ba chàng sau đó chẳng có chàng nào đái đường, chẳng có chàng nào làm lụt nước Mỹ, nhưng khi nào cần ‘xả xú bắp’, họ lựa cái quán cà phê Starbucks sạch sẽ, vào đó tìm chỗ xả. Phải nói thêm là xả ở những chỗ sạch sẽ thơm tho như thế nó đã cách gì!

Trên đường trở về Montréal vào buổi chiều, khi Quang lái xe chạy ngang một làng quê Mỹ êm ả vùng giáp biên với Canada có những con đường thật sạch cùng những căn nhà xinh xắn, Tân bỗng thấy hai cô gái đi dọc bên đường cùng chiều xe, Tân từ ghế sau rướn người lên nói đùa ” tiện tay vỗ mông mấy con Mỹ non một cái chơi nào ”. Phẩm ngồi ở ghế trước lật đật quay lại chặn tay Tân ” Ấy! ấy!! chớ có dại!!! vỗ mông một phát phải trả giá nặng lắm; vỗ vào mông bọn trẻ vị thành niên có thể ngồi bóc vài cuốn lịch . Mình là dân có văn hoá, không thể cư xử như bọn rừng rú được ”. Quang và Tân đều cười. Quang bảo ” Nước Mỹ không thiếu bọn rừng rú nhưng đừng có dỡn mặt cảnh sát; biết cách sờ thì êm; còn em nhăn mặt, búa của quan toà khện nặng lắm”.

Trước khi qua biên giới Mỹ trở về, Phẩm chỉ lá cờ Mỹ với những ngôi sao trắng trên một nền xanh nước biển nhỏ bên góc trái cùng với những xọc trắng, đỏ đang tung bay phất phới; chàng khen ” cờ của xứ Mỹ rất đẹp, màu sắc tươi tắn, hài hoà; nhìn màu cờ thấy tươi tỉnh, hăng hái ra. Cờ của hai anh cộng sản Tàu, Việt chỉ thấy toàn sắc máu đỏ lòm, mê không được.”

Nghe chàng nói biết là chàng đã hoà giải với dân xứ ấy rồi. Trên đường về Tân hỏi Phẩm lý do gia đình chàng dời qua Canada mà không định cư hẳn ở Pháp. Phẩm cho biết mấy năm đầu ở Pháp khá vất vả. Ðời sống kinh tế của Pháp khó so bì được với của Bắc Mỹ, giá sinh hoạt cao, thuê nhà rất khó,mua nhà còn khó hơn. Nhưng mối lo nhất của chàng là việc học của con cái. Lối học hành, thi cử bên Tây không mấy khác với lối thi cử ở Miền Nam xưa. Vào được các trường đại học, nhất là những trường lớn cũng trầy vi tróc vảy, và cơ may tốt nghiệp đại học đối với con em di dân thật chẳng dễ dàng. Chàng bảo hệ thống giáo dục Bắc Mỹ có phần thoáng và thực tế hơn. Con em cũng có nhiều cơ may tốt nghiệp đại học hơn. Với chàng cái quan trọng đối với con cái là cần có căn bản đại học; sau đó muốn làm gì thì làm. Phẩm thấy gia đình chàng hợp với đời sống ở Montréal, và cuộc sống gia đình dễ chịu hơn lúc ở Pháp nhiều, phần lớn nhờ công ăn việc làm ổn định và giá sinh hoạt không cao như ở bên Pháp. Ngoảnh đi ngoảnh lại hai đứa con đã gần xong đại học; một đứa học dược, cứ đến hè là làm cho một tiệm thuốc trong hệ thống cửa hàng Jean Coutu ; đứa kia học về tài chánh. Vợ chồng Phẩm thấy nhẹ nhõm đi nhiều. Loan giữ một chân thư ký trong văn phòng một công ty nhập cảng ở mạn bắc Montréal . Phẩm bảo: ” Có vợ đẹp cũng lo. Ðàn bà đẹp đi làm ở đâu cũng có mấy thằng già dịch thả dê. Toàn những thằng chó chết ngon lành hơn mình! Mẹ kiếp.” May là Loan vẫn còn giữ được tí nề nếp con nhà và cái giáo dục gia đình thiên về tôn giáo còn thấm ở trong người . Tân bảo ” Mừng cho anh”. Quang thầm nghĩ : vậy là cuối cùng gia đình bạn ta cũng đã ổn định. Có điều Phẩm vẫn còn rất buồn một đôi lần nhắc lại cái chết của ông cụ trong tù, và việc người chị mất tích trên Biển Ðông.

***

Tân đang ngồi trong phòng khách nhà một người bạn trong vùng Pasadena, Cali. thì bất ngờ thấy Phẩm dừng xe ngoài hàng rào, rồi đi tới đi lui có ý tìm số nhà. Tân từ trong nhà chạy ra ” Hello, anh Phẩm ” – ” Anh Tân ! ” – ” Ði đâu mà lạc vào vùng này vậy? ” – ” Ði tìm nhà một bạn học cũ, dân HNC xưa. Ông ấy nhắn chiều nay lại chơi, nghe nói các bạn học cũ họp nhau vui lắm”. Tân bảo : ” Từ hôm gặp anh chị, có dịp ngồi chung trong một tiệm ăn với anh chị và anh Quang đến nay dễ cũng đến hai năm hơn rồi đấy nhỉ. Thời gian trôi nhanh quá.” – ” Vâng, mấy chục năm qua cái vèo. Hai năm bõ bèn gì. Anh cũng qua đây chơi? ”- Tân : ” Tôi đã đổi sở làm. Tôi tính ở hẳn bên này. Tôi mới lập gia đình được nửa năm nay. Vợ tôi có quốc tịch Mỹ . Cô ấy về VN thăm ông bà già rồi, cuối tháng mới trở lại” – ” Sao đám cưới anh không báo cho chúng tôi một tiếng. Cũng chẳng thấy anh Quang nói gì cả.” – ” Chuyện vợ chồng là cái duyên, cái số anh chị ạ. Việc cưới xin của chúng tôi cũng đơn giản lắm, chỉ có vài người trong gia đình hai bên chớ không có rình rang ra ngoài. Xin anh chị thông cảm. Tôi nhận được việc ở bên Mỹ này sau lần đưa anh qua chơi bên biên giới Mỹ chừng hai tháng. Từ đó tới nay, bận việc quá, tôi chưa về lại Montréal lần nào.” Loan : ” Bận vợ thì có ấy chứ. ”

Chưa kịp hỏi han gì thêm đã thấy chủ nhà từ trong nhà bước ra: ” Hello bạn hiền, cách mấy chục năm nay giờ mới lại gặp nhau đây. Ấy quên, chào chị. Xin giới thiệu ngay với chị, tôi là bạn học cùng trường với anh từ giữa những năm 60 kià. Tôi tên Trứ. Mời anh chị vào nhà, trong nhà cũng đã có một vài anh chị tới rồi.” Loan đứng khựng trước căn nhà có lá quốc kỳ VNCH rất lớn treo ngay trong sân nhà. Loan bảo: ” Trông căn nhà này chẳng khác toà lãnh sự của VNCH trên đất Mỹ, còn khá hơn toà đại sứ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam ở Ottawa bên Canada. Toà đại sứ gì mà ngó như cái chuồng chim. Rõ chán.’’

Chủ nhà đưa khách vào nhà: ” Xin giới thiệu với các anh, các chị, đây là anh chị Phẩm. Anh Phẩm cũng dân HNC chúng mình, trên tôi một lớp.” Khi mọi người đã đến đông đủ, Phẩm đếm được 15 người.

Chủ nhà chỉ vào bà vợ vừa mới trang điểm lại, sau khi bận rộn trong nhà bếp, từ phòng riêng bước ra: ” Xin giới thiệu với các anh, các chị đây là bà chủ của tôi. Xin giới thiệu với bà chủ đây là các bạn cùng trường cũ với tôi”. Bà chủ tươi tắn nhéo tay ông chồng ” Tôi đã được hân hạnh biết phần lớn quí vị ở đây rồi. Lần này là lần thứ ba mình gặp nhau trong năm nay. Chỉ có ba vị ngồi gần cái truyền hình là tôi chưa được biết.” Mọi người quay lại nhìn vợ chồng Phẩm, và Tân. Chủ nhà cười cười: ” Một ông bạn thân của tôi là ông Quang cùng lớp ở HNC, hiện ở Montréal, qua điện thư báo cho biết một hiền nhân mặc áo lính ngày xưa là anh Phẩm đây, cũng cùng phe ta, lần đầu tiên chính thức đến viếng xứ Mỹ tự do loạn xạ này. Ðược biết anh Phẩm ra khỏi VN đã nhiều năm, giờ mới chịu đáo xứ này, còn đây là bạn Tân, lớp bên cạnh tôi năm 1964. Anh Tân làm cho một ngân hàng cách nhà này khoảng một tiếng lái xe.”

Sau màn giới thiệu lỉnh kỉnh với đủ thứ lễ nghi quân cách, mọi người ngồi quanh hai vuông chiếu lớn đã bày biện đủ các món truyền thống: giò lụa, chả chiên, giò bì, nem nướng, cuốn bì, bánh cuốn, bánh tráng, rau sống, rau thơm các loại, dưa leo, chuối chát,… Các món ăn ê hề, bia bọt đủ cả. Chủ nhà : ” Xin quí vị cứ ‘tự nhiên như người Hà Nội’. Mừng là chúng ta lại có những dịp gặp mặt nhau trò chuyện, trao đổi kinh nghiệm sống và hội nhập trên đất Mỹ, cùng ôn lại những kỷ niệm thời học trò xa xưa. Các chị đừng khách sáo gì nhé. Cánh đàn ông chúng tôi nếu có lỡ nói năng bừa bãi cũng xin các chị bỏ qua.” Có tiếng một bà: ” Ông này mở bài rào trước đón sau như vậy là có ý gì đây, nghe thấy ghê quá. Tôi đề nghị cấm không được nói tục ”. Mọi người cười ồ ồ. Một bà khác : ” Toàn dân ăn học đàng hoàng cả, chắc toàn là nói chuyện lành mạnh, chớ không đến nỗi dữ dằn kiểu XXX” – ” Thế chị đã coi XXX chưa? ” – ” Ðừng có hỏi”. Mọi người lại cười.

Sau khi mọi người đã cụng ly, Tân nhìn qua vợ chồng Phẩm, rồi nhìn quanh chiếu tiệc: ” Các anh chị có mặt ngày hôm nay phải biết ơn anh chị Phẩm đây thật nhiều”. Mọi người đều ngớ ra chẳng hiểu mô tê chi cả.

Vợ Phẩm: ” Chúng tôi mới lần đầu gặp các anh, chị đây mà ”. Phẩm ngờ ngợ Tân muốn chọc quê mình nhưng chưa đoán ra được Tân tính nói chuyện gì. Chàng ngồi yên lặng lẽ chiêu một ngụm bia. Có nhiều tiếng lao xao : ” Người nhà cả mà, anh Tân nói lẹ lên chớ, sốt ruột lắm rồi”. Tân: ” Các anh, chị ở Mỹ mà thoát một trận lụt lớn là nhờ anh chị Phẩm đây ”. Loan : ” Ðừng có tào lao thiên địa nghe anh Tân ”. Phẩm : ” Cứ để cho hắn nói ”. Tân : ” Ông bạn thân của chúng tôi ở Montréal mà chủ nhà và một vài anh, chị đây đều biết đã vượt biển vào năm 84, và cùng ở trên một đảo với anh chị Phẩm . Anh Phẩm đã từng thề là không bao giờ đặt chân lên đất Mỹ, và đã từng bảo “ ông thì cứ đái vào xứ chúng mày ” – “ Ðúng vậy không anh Phẩm? ”. Phẩm bảo: “ Quả có thế thật ”. Mọi người lăn ra cười. Loan cười : ” Cái nhà anh Tân này kỳ cục quá ”. Tân: ” Mấy năm trước anh ấy đã đổi ý, và khi có dịp đưa anh ấy qua đất Mỹ cách Montréal khoảng 40 phút lái xe, anh ấy đã đại xá cho cả xứ Mỹ. Ðó ! các anh, chị thấy chưa, các anh chị là may mắn lắm đấy nhá.” – ” Rõ khỉ cái nhà anh này, đang ăn uống mà nói chuyện gì linh tinh thế, chả thanh tao tí nào ” – ” Có sao đâu, lụt thế quái nào được, ông ấy có uống hết cả vài két bia ở đây giỏi lắm cũng chỉ một vũng là nhiều”. Lại có tiếng nhiều người cười. Một bà : ” Mỹ nó làm gì anh mà anh ghét nó đến thế? ” Mặt Loan đỏ hồng. Phẩm chắc lưỡi : ” Ta đã tha rồi mà ”. Nhiều tiếng : ” Chuyện hấp dẫn đây ”. Phẩm nhìn vợ rồi nói thật nhanh : ” Chuyện xưa rồi, cái thằng lính Mỹ say rượu đi ngang sơ ý quẹt vào mông bà ấy ” – ” Thế thì có gì phải tức đến muốn làm lụt nước Mỹ; ở đây đi những chốn đông người nhiều chị đầm còn mong có người vô ý như vậy nữa kià ” – ” Bà này ‘phăng’ ra như vậy chứ làm gì có chuyện ấy, mà dẫu có muốn mấy gã đàn ông cũng đâu dám ẩu, lạng quạng nó đưa ra toà thì có mà mọt gông ” – Bà chủ nhà: ” Thế là hiểu nước Mỹ rồi đó. Hồi 75 lúc mới ở trại tạm cư được nhà thờ bảo lãnh ra mình cứ tưởng không còn hy vọng gì gặp lại người thân còn kẹt ở bên nhà, và VC đừng hòng đặt chân lên đất Mỹ. Vậy mà nay đám thần thế qua đây du lịch cả đống, và con cái mấy thằng ‘tư bản đỏ’ nằm đầy trong các trường đại học ”. Chủ nhà: ” Ấy đấy, cái xứ dân chủ nó như vậy đấy. Có quan hệ ngoại giao trở lại thì nó cứ chiếu theo luật pháp xứ nó mà nó thi hành. Ở xứ này luật là luật mà ” . Có tiếng phản đối : ” Không đơn giản như vậy đâu, Mỹ đâu có ngu và dốt; nếu không, xứ Mỹ đâu có giàu có nhất thế giới được. Cái lũ quái gở bên kia đại dương tưởng chúng là anh hùng, là khôn ngoan lắm, đánh thắng tới ba thằng thực dân, đế quốc lận. Thắng cái khỉ mốc gì mà tính cả hai miền chết hơn ba triệu người, hàng triệu thương binh, và tỉ lệ người bệnh tâm thần trong dân chúng có thể là cao vào bậc nhất hoàn cầu! Và nay lại ngửa tay xin xỏ bàn dân thiên hạ.” – ” Thôi đi mà ! Mình ăn uống cho vui vẻ, đừng mất công bàn tới, bàn lui mấy vấn đề chính trị nữa, nhức đầu lắm ” – ” Cũng phải bàn đến chứ, mình muốn tránh nó, nó cũng không tránh mình mà, ngay chuyện bầu cử ở đây, nếu thuyết phục được cử tri gốc Việt đi bầu đông đủ thì cộng đồng người mình cũng có thể ảnh hưởng tới các quyết định liên quan đến quyền lợi của mình chứ ”- Một ông có lẽ dạy học ngày trước lên tiếng: ” Tôi nghe nói có gã giáo sư trung học dạy triết nào đó mới qua Mỹ ít lâu dám lớn lối mở miệng bảo là nước Mỹ không có triết học. Ðúng là ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung ”. Có tiếng người cười sặc xụa : ” Những người làm nghiên cứu của những trường đại học Mỹ, nhất là những trường lớn như Yale</, Stanford,… phải lao động trí óc khiếp lắm mới mong giữ được chân giáo sư, không phải khơi khơi đâu. Thú thật là tôi ngờ cái học của chả ấy quá. Không chừng đọc nguyên tác của những tác giả Anh, Pháp còn ú ớ , chứ nói gì đọc bằng tiếng Ðức, Hán hay tiếng Phạn,.. .” – Một ông hắng giọng: ” Tôi chẳng đọc gì nhiều, chỉ đọc vài cuốn của các cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, hay một vài cuốn sách dịch của Phùng Khánh xem ra cũng tạm đủ…để loè thiên hạ rồi. Mấy lúc gần đây, tôi có đọc sách dịch từ VN đưa qua nhưng chịu không thấu: đọc nhưng chẳng hiểu họ viết những gì. Tôi cứ ngờ ngợ là các trự ấy còn vất vả nhai, và nghiền ngẫm nhiều năm may ra mới hiểu nổi nguyên tác. Ngày xưa khi đi học tôi có đọc sách giáo khoa viết cho học sinh các lớp đệ nhất của linh mục Trần văn Hiến Minh, có nghe loáng thoáng về Saint Thomas d’ Aquin. Mới đây có dịp đọc một ít sách do nhiều tác giả năm châu viết, rất nhiều người dẫn lời của ông thánh ấy. Ðến khi mon men vào thư viện tìm đến khu triết học, nhìn đến sách ông ấy viết mình mới tá hoả. Chẳng hiểu trong đầu ông ấy nghĩ những gì mà viết ghê quá, cuốn nào cuốn nấy dày như bách khoa từ điển Mỹ ấy . ”

Chủ nhà nhìn người ngồi bên cạnh vừa mới nói, lên tiếng: ”Tôi phải nói là rất hânh hạnh giới thiệu gia đình anh chị Phúc đây là một trong những gia đình hiếm hoi mà các cháu học hành thành đạt hết sức xuất sắc. Tôi được biết anh chị có một cháu vừa vào làm việc ở John Hopkins. Ông Phúc hãnh diện: ” Cám ơn anh Trứ, cháu mới ra trường kỳ hè vừa rồi, nhưng học thêm chuyên khoa tai-mũi-họng .” Chủ nhà tiếp lời: ” Anh Phúc thật ra học trên chúng mình tới năm lớp, là đàn anh của tụi mình, mà bây giờ lại là đàn anh lớn nữa. Anh chị ấy khiêm tốn không nói ra nhưng tôi rất muốn giới thiệu sự thành công của gia đình anh chị ấy: bốn cháu học Harvard ; hai trong số ấy sắp ra trường về ngành y, một chuyên về tai-mũi-họng như tôi đã giới thiệu, một chuyên về nội thương, một đang học ngành nha, chuyên về các bệnh của nướu răng, và một cháu mới được nhận vào trong năm nay. Thằng út cũng tốt nghiệp xuất sắc ở trung học, cũng đang có dự tính xin học dự bị y khoa. ” Nhiều tiếng xuýt xoa trổi lên. Có tiếng một ông: ” Ðàn anh có bí quyết gì chia xẻ cho đàn em với. Nhà chúng em ba đứa mà nói chẳng có đứa nào chịu nghe mình cả. Chúng nó toàn học văn chương với nghệ thuật, hễ cứ đến 18t. là chúng nó tếch khỏi nhà, hệt như Mỹ con. Chán quá đàn anh ơi! ” Tiếng chủ nhà: ” Thì ông bớt đi đánh bài, bớt coi phim chưởng, bớt đi nhảy đầm đi, và đừng có lái xe đua chạy sau váy mấy con đĩ ngựa…ở mấy cái quán cà phê dưới Los. nữa.” Chủ nhà vừa nói xong bỗng la oai oải: ” Í! đau quá, làm cái gì kì vậy, cho tôi nói nữa chớ; anh em trong nhà cả mà. ” Cả chiếu tiệc lại cười nghiêng ngả. Bà chủ nhà đang nheo tai ông chồng. Bà vợ ông bạn bị tố : ” Chả dạy em đánh bài, nhảy đầm, và hát ka-ra-ô-kê nữa đó các anh, các chị. Nói thật tình thì con ảnh hai đứa, con em một đứa, còn con chung chưa có đứa nào. Bác sĩ bảo là em hết trứng rồi. ” Cả chiếu tiệc lại cười nghiêng ngả.

Tiệc tan, mọi người vui vẻ chào tạm biệt. Ông Phẩm ngồi trên xe quay sang bà vợ: ” Thật không ngờ con em trong nhiều gia đình bạn học cũ của mình thành công quá sức. Cũng may là mình thoát được ra khỏi VN, chớ nằm kẹt ở lại thì giờ này dù chúng nó có mở cửa toang hoác, mình cũng vẫn cứ tiêu điều. Những người còn kẹt lại sống với đám ấy mới thật là những kẻ bị lưu đày.”

***

Vợ chồng ông Phẩm ra khỏi nhà thờ nằm trên đường Saint Hubert sau thánh lễ chủ nhật. Bà Loan nhìn chồng: ” Anh coi kià, ngay bên kia đường là một cửa tiệm bán các dụng cụ làm tình, chướng quá ”. Ông Phẩm nói đùa với vợ: ” Cái này là ma quỉ chọc ghẹo các thánh, muốn quấy phá các thánh nhưng không xong. Nhà thờ của mình lớn và bề thế còn cái tiệm của mấy con quỉ mắt xanh bên kia đường chưa bằng góc cái nhà cầu ở tầng dưới nhà thờ ”. Bà tiếp: ” Mới hôm nào ở Nam Cali. vui quá mà đến nay đã mấy tháng rồi, biết vậy mình nhờ vợ chồng chị Tâm bảo lãnh từ Pháp qua thì giờ này đã ở luôn bên ấy rồi.” Ông Phẩm: ” Mỹ hay Canada đâu có khác gì nhau, khí hậu bên mình đây mùa đông có gắt nhưng cũng chẳng khác bao nhiêu so với vùng đông bắc Mỹ, và thành phố này cũng có cái êm đềm của nó. Với lại ở xứ tự do mình muốn đi đâu thì đâu, chả bị phép tắc phiền toái như sống với mấy cha nội ác ôn bên mình.” Bà Loan : ” Hôm ở nhà ông Trứ ở Pasadena em nghe mấy bà ấy nói là có cả cà phê ôm quanh vùng Little Saigon ; nghe đâu đám cà phê ôm ấy phần lớn từ Sàigòn qua Mỹ trong mấy năm gần đây. Mấy con nhỏ ấy nó khai thác khách hàng dữ lắm. Ðứa nào đứa nấy đều chơi xe thật láng ” – ” Nghề của chúng nó mà, bên Montréal mình còn có cả nữ sinh viên hành nghề đầm truồng để trả chi phí đại học nữa. Nhưng coi vậy mà chẳng phải vậy: số người có ý chí dùng số tiền kiếm được để đạt đến mục đích tốt lành của mình không nhiều. Phần đông bị môi trường cuốn đi, rồi cũng đua đòi, cũng phi xì ke, chưa kể những thủ đoạn bất lương của bọn ma cô.” Bà Loan: ” Ghê quá anh nhỉ. Xứ tự do có nhiều cái thú vị nhưng không cẩn thận cũng ‘tiêu tán đường’ – ” Thì mình làm mình hưởng, mình làm mình chịu, chứ đâu có chuyện mình không làm mà nó choàng đủ thứ tội lên đầu mình. ” Bà bỗng nhiên đi sát vào ông: ” Anh có nhớ hôm nay là ngày gì của em không nào?” Ông cười: ” Làm gì mà chẳng nhớ, nhưng về đến nhà anh mới bật mí được”

Lái xe về đến nhà, đẩy cửa vào nhà, ông vào phòng trong mở tủ lấy ra một gói quà ông mới mua chiều hôm kia nhưng không cho bà biết. Ông để lên bàn: ” Chiều nay chắc hai đứa chúng nó mới về. Quà sinh nhật của mình đây.” Khi bà mở gói quà bà thấy một chiếc áo ngủ bằng lụa màu mỡ gà trông giống loại lụa tơ tằm vùng Bảo Lộc nơi bà đã sống những năm tuổi thơ trước khi dời xuống Sàigòn. Bà mừng rỡ và hạnh phúc: ” Cám ơn mình thật nhiều.” Lúc ấy ông choàng hai tay ôm lấy bà, hôn lên môi và nhớ đến nụ hôn ông đặt lên môi bà trong góc rạp Rex năm nào. Bỗng nhiên ông nhớ lại cái phát vào mông của bà lúc hai người từ rạp Rex đi về phiá góc đường Tự Do – Lê Thánh Tôn. Ông ghé vào tai bà: ” Hôm nay là sinh nhật của mình làm sao anh quên được, lại trùng vào ngày Lễ Tạ Ơn, và hẳn mình còn nhớ chúng mình lần đầu tiên vào rạp Rex nữa chứ,…”

Ông nheo mắt cười với vợ, một tay vỗ nhè nhẹ lên mông bà. Rồi ông làm một động tác bất ngờ; ông xoay người qua phiá sau lưng bà, quì xuống hôn phớt lên đúng phiá mông phải: mông của bà hình như mềm và thơm hơn bất cứ lúc nào.

Posted: Tue Mar 13, 2012 3:35 am
by quaichao
THẰNG NGỐC

Thật ra, nó có tên do cha mẹ đặt thật đẹp, Phạm Bảo Long, con rồng quý của bố nó. Nhưng cho tới bây giờ, cái tên mà nó được người ta gọi nhiều nhất lại không phải là Long. Thay vào đó, nó đã trải qua rất nhiều tên khác nhau mà người ta đặt ra để gọi nó: Ngu, Ngốc, Mát, Tưng Tửng, Khờ, v.v… Chẳng hiểu tại sao người ta sàng đi, sàng lại rồi ngừng ở chữ Ngốc ! Ngay cả anh chị của nó cũng gọi nó là Ngốc. Trong một lần bốc đồng, thằng Lân, anh nó, đã láo lếu đổi chữ “Bảo” trong tên đệm của nó thành chữ “Ngoc”, thế là nó trở thành Phạm ( Ngoc ) Long ! Vài năm trôi qua, tiếng Việt của thằng Lân khá hơn, nên đã “đội mũ”, “đeo kiếm” để “Ngoc” chính thức trở thành “Ngốc”. Ông bà Phan, bố mẹ nó, mặc dầu cố tránh nhưng vì quen tai, lâu lâu cũng gọi nó là Ngốc.

Mà này, không những nó không giận mà ngược lại, nó có vẻ vui khi thấy người xung quanh có những trận cười khi gọi nó là Ngốc. Nói cho bằng đúng, trong trí khôn chậm chạp của nó, nó chả biết giận. Cho tới hôm nay, trí khôn trong thân hình gần 30 tuổi của nó tương đương với trí khôn của đứa bé 8, 9 tuổi.

Những mẩu đàm thoại hằng ngày giữa nó với anh chị hoặc bố mẹ đều là những câu đơn sơ, vô tội vạ. Những câu tiếng Việt “ba rọi”, ngây thơ của nó có lúc đã trở thành những câu nói thật tức cười. Ông bà Phan còn nhớ thời kỳ Lân, Lan, và nó mới học tiếng Việt, chúng nó thích ngồi xem những băng truyện cổ tích Việt Nam. Một hôm ba anh em đang xem phim với bố, tới đoạn nghe một nhân vật trong phim dùng chữ “cụ ông”, “cụ bà”, thằng Lân thắc mắc hỏi bố hai chữ đó có nghĩa là gì.

Ông Phan ôn tồn: “Cụ” là một lời lễ phép được dùng khi nói chuyện với một người già, một “old person”. Lập tức, thằng Lân nhìn bố rồi nói một cách khôi hài: “Cụ Bố”. Vừa lúc đó thì bà Phan từ trong bếp bước vào phòng khách, chưa kịp nói gì thì thằng Ngốc đã đứng lên chỉ vào mẹ rồi nói lớn: “Cụ Mẹ !” Bà Phan tá hỏa. Trợn trừng đôi mắt giận dữ: “Chúa ơi, đứa nào dạy thằng Ngốc nói tục !” Anh em thằng Ngốc chẳng hiều tại sao mẹ giận. Riêng ông Phan thì vừa ôm bụng cười vừa giải thích. Bà Phan thở phào nhẹ nhõm sau khi biết rằng đó chỉ là một câu nói vô tội vạ, rất “ngố”, của thằng Ngốc.

Rồi thằng Ngốc cũng được cắp sách đi học. Cũng may mà nước Mỹ có chương trình học tập cho những đứa trẻ như nó. Nếu gia đình ông bà Phan không tỵ nạn sang đây thì chắc nó chẳng bao giờ được biết đến ghế nhà trường. Nó cũng mang về những phiếu điểm và phần thưởng cuối năm nhưng bố mẹ nó chỉ xem cho qua rồi bỏ sang một bên. Cũng may mà nó không đủ khôn để nhận ra sự thất vọng của bố mẹ khi so sánh phiếu điểm của nó với của Lân và Lan, chị nó. Cũng may mà nó không nghe, hay ít nhất, không hiểu những lời than van của ông bà Phan khi nói về nó. Đối với ông bà, thì thằng Lân và con Lan rồi đây sẽ là niềm hãnh diện, sẽ là ông này bà nọ, sẽ có nhà cao cửa rộng, sẽ là đìểm để ông bà tựa nương lúc tuổi già, còn thằng Ngốc thì chắc mãi mãi sẽ chỉ là một gánh nặng mà họ sẽ không bao giờ có hy vọng trút bỏ được !

Ngày tháng trôi qua, thằng Ngốc cứ thế ăn no chóng lớn. Trí óc nó chậm phát triển nhưng thân thể thì càng ngày càng nảy nở. Từ năm 14 tuổi nó đã cao hơn các anh chị nó cả cái đầu. Nó chẳng làm được những việc lớn nhưng ngược lại, rửa chén, quyét nhà, rửa xe, nói chung là những việc lặt vặt không cần tính toán thì nó làm giỏi hơn cả Lân và Lan. Thằng Ngốc lại chẳng mấy khi bị bệnh. Một trong những niềm vui của nó là đi nhặt ống loong cho Nhà Thờ. Có những ngày mưa, nó ướt như chuột lột, thế mà nó chả ốm đau gì cả !

Rồi khác với các anh chị và những đứa trẻ cùng tuổi, nó chẳng bao giờ đòi hỏi bố mẹ phải mua cho nó thứ gì. Đôi giầy bata và vài bộ quần áo mua trong Wal-Mart hoặc mua lại trong chợ bán đồ cũ cũng đã quá đủ. Thằng Ngốc chẳng màng tới những chuyện đã xảy ra hôm qua hay những bất trắc có thể đến ngày mai. Nó sống hoàn toàn cho hiện tại. Đó hình như cũng là mối đau đớn của bố mẹ nó.

Năm 19 tuổi thằng Ngốc “tốt nghiệp” trung học. Nó cũng đội mũ, mặc áo ra trường như các anh chị. Nó thấy bố mẹ, nhất là mẹ, rươm rướm nước mắt khi nó ôm mảnh bằng tốt nghiệp đến. Nó đâu có đủ trí khôn để phân tách xem đó là những giọt nước mắt vui hay buồn. Nó đâu biết rằng ngày Lân và Lan ra trường bố mẹ nó vui bao nhiêu thì sau buổi ra trường của nó, bố mẹ nó buồn bấy nhiêu. Có lẽ buồn nhất là vì bố mẹ nó không thể khoe với bất cứ ai là nó sẽ theo ngành gì và đã được trường nào nhận cho học. Mai đây, nó sẽ làm gì để sống ? Ông bà sẽ phải nuôi, phải hầu hạ nó đến bao giờ ? Khi ông bà về già, sau khi ông bà chết, thì ai sẽ nuôi nó ?

Sau ngày “ra trường”, để nó lanh quanh ở nhà cũng thấy uổng, ông Phan bảo nó xuống tàu theo ông đi đánh tôm ở vịnh Mễ Tây Cơ. Nó không lái tàu được, không vá lưới được, nhưng ông nhận thấy công việc nhặt tôm và khuân vác thì nó làm bằng mấy người khác. Thêm vào đó, nó chẳng phàn nàn và cũng chẳng đòi hỏi “tiền phần” như những người làm công khác. Ngày qua ngày, nó chỉ biết ăn, ngủ, rồi nhặt tôm. Cuối tuần sau khi bán tôm xong, bố nó chở nó đi ăn McDonald’s rồi cho nó năm đồng. Nó cầm tiền về khoe mẹ rồi bỏ vào con heo đất để Chúa Nhật lại “mổ” heo mang lên bỏ vào thùng từ thiện trong Nhà Thờ – cái thói quen mà mẹ đã tập cho nó từ bé.

Đi biển với bố được năm năm thì trận bão Katrina thổi vào thành phố nơi gia đình nó cư ngụ. Sau những ngày chạy bão, gia đình nó trở về trong cảnh nhà tan tàu nát ! Chẳng biết làm gì khác để sống, bố nó cố sửa lại con tàu để đi làm hầu có tiền trang trải chi phí nhà cửa. Các anh chị của nó đã thành công, cả hai đều đã lập gia đình, công việc ngon lành, nhà lớn, xe hiệu nhưng khi bố hỏi mượn tiền để sửa lại căn nhà hư hại thì cô cậu thoái thác. Năn nỉ mãi, cô cậu gởi về cho bố mẹ được vài trăm bạc rồi im luôn ! Nhìn lại những năm tháng ông bà hy sinh bòn nhặt từng đồng để gởi cho cô cậu trang trải tiền ăn, tiền học, tiền tiêu, tiền xe, tiền chưng diện… Ông bà thở dài, tự an ủi, thôi… nước mắt chảy xuôi…

Với số tiền vay mượn và ít tiền giúp đỡ của chính phủ liên bang cùng với công sức của ông và thằng Ngốc, sau gần một năm sửa chữa, con tàu cũng ọc ạch chạy ra biển. Thôi, cứ sửa tạm để đi làm rồi khi có tiền sẽ tu bổ lại những chỗ còn tạm dùng được. Ông Phan tự an ủi thế.

Thả mẻ chã đầu tiên được vài tiếng, mặc dầu biết là nó không lái tàu được nhưng ông Phan cũng nhờ thằng Ngốc đứng cầm tay lái để con tàu khỏi quay rồi ông và chú làm công ra phía sau kéo chã. Sóng khá lớn, con tàu vật vã trên ngọn sóng làm cho việc kéo chã thật khó khăn. Gần mười phút sau thì bọc tôm khổng lồ mới được đưa lên lơ lửng trên sàn tàu. Nhìn bọc tôm cá to bằng nửa chiếc xe hơi, ông Phan vui ra mặt. Vạn sự khởi đầu nan nhưng mẻ lưới đầu tiên mà trúng như thế này thì đúng là tổ đãi !

Sau chuyến này chắc ông sẽ trả được một phần nợ, sắm sửa thêm được những thứ cần thiết, thậm chí ông có thể xẻo ra vài trăm đô tặng riêng vợ để bà Phan có thể mua được vài bộ quần áo thay thế cho những bộ đã bị bão cuốn đi. Hình dung khuôn mặt rạng rỡ của vợ khi cầm tiền đi shopping, ông quên cả sóng gió, quên cả mệt.

Bình thường nếu không có sóng gió, và khi bọc tôm đã được treo lủng lẳng trên sàn tàu, ông Phan chỉ cần cởi sợi dây cột đuôi bọc tôm thì khối tôm cá sẽ tuôn ra thành một đống trên sàn tàu. Khổ nỗi sóng lớn quá. Bọc tôm cứ lắc qua bên này, quật sang bên kia. Ông Phan cầm sợi dây thừng đã cột sẵn trên bọc tôm, cố giữ để nó đừng vùng vẫy theo ngọn sóng. Đang vật lộn với bọc tôm thì… Ầm, cây cần cẩu dùng để cẩu bọc tôm bị gẫy. Nó gẫy ở ngay đoạn ông chưa có tiền sửa !

“Lạy Chúa tôi…” Tiếng la thất thanh chưa dứt thì bọc tôm cá ngàn cân quật ông Phan vào thành tầu. Đầu ông vẹo về một bên còn phần thân thể từ bụng trở xuống thì bị kẹt bên dưới túi tôm cá – tựa như con voi đè lên con nai gầy. Con tàu vẫn tiếp tục vùng vẫy. Cố gắng hết sức mà sau gần năm phút chú làm công vẫn không thể cứu ông Phan ra khỏi núi tôm cá. Ngoài thằng Ngốc ra thì chẳng ai có thể giúp chú trong lúc này.

Chú làm công chạy vào phòng lái, vội vã cột lại dây để tay lái khỏi quay rồi lôi thằng Ngốc ra phía sau cứu bố nó. Bình thường nó đã khỏe hơn người nhưng hôm nay, trong lúc khẩn cấp này, hình như sức mạnh của thằng Ngốc được tăng lên gấp đôi. Nó hết đẩy rồi lại kéo bọc tôm để chú làm công tìm cách giải thoát bố nó. Khoảng gần năm phút sau hai chú cháu mới lôi được ông Phan ra khỏi đống tôm cá và khênh ông vào trong phòng lái. Ông Phan vẫn bất tỉnh. Trong bộ quần áo ướt tanh mùi tôm cá, thân hình gầy gò đen đủi của ông thoi thóp thở !

Chú làm công đã liên lạc với Coast Guard và máy bay cấp cứu đang trực chỉ về phía con tàu khốn khổ. Một giờ sau thì ông Phan được trực thăng mang thẳng vào bệnh viện. Chú làm công lái con tàu và mang Ngốc về đất liền cho mẹ nó.

Kể từ ngày đó, ông Phan bị liệt từ thắt lưng trở xuống. Hai cánh tay ông còn cử động được nhưng chỉ cử động một cách rất yếu ớt. Ngay cả việc dùng muỗng xúc cơm ông cũng phải nhờ đến bà Phan hoặc thằng Ngốc giúp. Rồi ông bà không có bảo hiểm nên tiền bán chiếc tàu cũng chỉ đủ trang trải ít chi phí trong vài tháng. Bà Phan bắt buộc phải trở lại công việc cạy sò, lột tôm cho một hãng bào chế hải sản gần nhà nhưng với số tiền thu nhập ít ỏi, cuộc sống gia đình ông bà vẫn thiếu trước hụt sau. Vài trăm ngàn nợ bệnh viện chẳng biết bao giờ mới trả được ?

Thông cảm với hoàn cảnh của ông bà Phan, bệnh viện đã cho ông bà cơ hội trả góp mỗi tháng vài trăm đồng. Nhưng mặc dù vài trăm, với tình trạng này, một ngày rất gần đây chắc ông bà Phan cũng đành phải chạy nợ ! Thằng Lân và con Lan có mang gia đình về thăm nhưng được khoảng hai tuần thì cũng phải ai về nhà nấy.

Rồi thằng Ngốc lại có công việc mới. Sau vài tuần được mẹ chỉ dẫn, nó đã giúp được mẹ đút cơm, thay tã, bế bố cho mẹ tắm rửa v.v… Những lúc cần mua bình sữa, bó rau, cuộn giấy, mẹ nó viết vào tờ giấy, đưa tiền rồi nhờ nó đạp xe ra tiệm tạp hóa ở đầu đường gần nhà mua cho bà. Ông chủ tiệm tạp hóa biết nó từ bé và biết rõ hoàn cảnh hiện tại của bố mẹ nó nên bao giờ cũng nhiệt tình giúp mỗi khi nó ra mua đồ.

Bà Phan thầm nghĩ, cũng may mà có thằng Ngốc, cũng may mà trời cho nó to lớn có sức khỏe; bằng không, chẳng sao mà bà có thể lo cho ông Phan như thế này được – nhất là những lúc phải bế ông từ chỗ này đến chỗ khác. Ông bà Phan đã nhiều lúc tự hỏi không hiều vì nó quá khờ khạo, quá ngốc, hay vì nó thật tâm thương ông bà nên đã không nhận ra hoặc không ghê tởm sự thối tha bẩn thỉu mỗi khi làm vệ sinh, thay tã cho bố nó ?

Ông Phan sống trong tình trạng này được ba năm thì sức khỏe yếu dần. Mặc dầu vẫn được chăm sóc kỹ lưỡng, ông thường xuyên bị lở loét, xưng phổi, cao áp huyết, và những bệnh liên quan đến hô hấp. Gia đình hai đứa con lớn, vì nhiều vấn đề, ít khi về thăm ông bà. Những kỳ vọng mà ông bà đã đặt vào Lân và Lan mười mấy năm trước chắc sẽ không bao giờ thành sự thật ! Sự chu đáo của bà Phan và của thằng Ngốc có làm cho ông vui nhưng cũng không thể nào xóa đi được sự tuyệt vọng mỗi khi ông nghĩ về bệnh tật của mình !

Ông biết bà Phan và thằng Ngốc, qua con mắt trìu mến ngây thơ của nó, vẫn muốn ông hiện hữu trên đời này. Mặc dầu vất vả trăm bề nhưng vợ ông và thằng Ngốc không bao giờ than van khi phải giúp đỡ hầu hạ ông. Những năm tháng nằm liệt trên giường bệnh, ông đã hiểu rõ và nhận ra đâu là nghĩa, đâu là hiếu. Ông nhận ra rằng thằng Ngốc không phải là gánh nặng mà ngược lại nó là người con duy nhất đã, đang, và sẽ gánh những gắnh nặng cho ông bà.

Trong một đêm trằn trọc, nằm ôn lại những ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, ông bà Phan nhận ra rằng trong cuộc đời gần 30 năm, họ chưa thấy thằng Ngốc đòi hỏi bất cứ điều gì. Chưa bao giờ nó đòi hỏi ông bà, hay những người chung quanh, phải như thế này, phải như thế nọ. Trong con người bao dung, trong ánh mắt thơ ngây, nụ cười nhân ái, hình như có lúc nó đã gián tiếp nói với ông bà rằng “con không phải là đứa trẻ thông minh, lanh lẹ, như bố mẹ mong muốn. Nhưng con là con của bố, là con của mẹ. Con không chọn để được sinh ra làm một thằng “Ngốc”, ngay cả cái tên “Ngốc” cũng do người ta gán cho con chứ không phải do con chọn. Vậy con xin bố mẹ thương và chấp nhận con như con thương và chấp nhận bố mẹ…”

Ông bà Phan nhìn nhau ứa nước mắt. Phải rồi, cả đời, thằng Ngốc đã cho nhiều hơn nhận. Nó cho mà không bao giờ đòi hỏi một điều kiện. Tình yêu mà nó dành cho mọi người là một tình yêu tuyệt đối, chân thật, không vụ lợi. Trong tim của thằng Ngốc chất chứa tình yêu của vị thánh hiền. Nó đã dạy cho ông bà bài học tình yêu. Qua sự bao dung của nó, người chung quanh, nếu để ý, sẽ nhận ra rằng, con người khôn hay ngốc, sang hay hèn, đều có những nét đẹp ( hoặc xấu ) của riêng họ.

Cuối cùng cái ngày đó cũng phải tới ! Mẹ nó nhờ nó ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường rồi đưa tay vào nâng đầu bố dậy để ông dễ thở. Ông Phan biết là ông sắp từ bỏ những gì thân yêu nhất. Trong hơi thở mong manh, ông nhìn bà Phan và nhìn thằng Ngốc trăn trối: “Cám ơn em… cám ơn con ! Anh có… một điều muốn… nói với em. Từ nay… em và các con… đừng gọi Long là… thằng Ngốc nữa… Gọi nó là… Ngọc. Nó là… viên Ngọc quý !”

Trong tiếng nức nở của bà Phan và trên cánh tay êm ấm của thằng Ngọc, ông trút hơi thở cuối cùng. Gia đình Lân và Lan vẫn chưa về đến nơi !

ĐINH CÔNG BÌNH

Posted: Fri Mar 23, 2012 2:47 am
by tiendung
Tiếng Huế, Một Ngoại Ngữ
Người bạn đời gốc Bắc của (nhà văn) Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:

"Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe, không làm sao chen vào được một câu" . (Túy Hồng, Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương 1990, t.14) .

Mới nghe qua, tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai trong người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương?

Sau năm 1954, hơn một triêu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam để tránh hiểm họa Đỏ, đã sống rải rác khắp mọi miền dưới vĩ tuyến 17. Dù ở đâu, dù mấy chục năm đã trôi qua, họ vẫn giữ nguyên giọng Bắc, chỉ thay đổi một vài thổ ngữ cho dễ chuyện trò thông cảm.

Còn Huế mình, khi tha hương, đa số đều đổi giọng, hoặc Nam hoặc Bắc; nếu không được khéo léo rặt ròng như Bắc Nam chính cống thì cũng lơ lớ cho người khác xứ dễ nghe, chứ không còn rặt Huế nữa, ngoại trừ khi nói chuyện trong gia đình hay với đồng hương Cơm Hến.

Việc không đổi giọng của đồng bào miền Bắc di cư và việc đổi giọng hay pha giọng của người Huế tha hương, có người cho rằng đó là dấu hiệu của mặc cảm về giọng nói. Tôi không nghĩ như thế.

Đồng bào miền Bắc tha hương vẫn giữ nguyên giọng nói, không phải do mặc cảm tự tôn, tự cho rằng đó là một giọng nói hay, không việc gì phải đổi. Mặt khác, người Huế tha hương thường đổi giọng cũng không phải vì mặc cảm giọng nói của mình trọ trẹ khó nghe. Tất cả chỉ là sự đáp ứng thực tế của cuộc sống, sự thích nghi với hoàn cảnh.

Việc gì đồng bào miền Bắc phải đổi giọng khi giọng nói ấy không gây trở ngại nào trong đối thoại? Tại sao mình cứ khăng khăng giữ nguyên giọng Huế trong giao tiếp, khiến đồng bào khác xứ không hiểu gì cả, phải tốn công lặp đi lặp lại, giải thích này nọ, mất thì giờ? Như vậy làm sao dễ cảm thông với nhau cho được? Không đổi hay đổi, tất cả chỉ là thế. Không mặc cảm, không gượng gạo.

"Thương nhau thương cả đường đi . . ." . Thanh Nam quen với "nhỉ, nhé, hộ, gì cơ, làm sao . . . " nhưng vì yêu Túy Hồng nên phải ráng nghe và hiểu "hí, nghe, giúp, cái chi rứa, làm răng . . . " . Còn người dưng nước lã với nhau, lấy gì làm áp lực để buộc người ta phải hiểu điều mình nói?

Nói mà người khác không hiểu hay khó hiểu là một nhược điểm nên tránh trong giao tiếp. Vì vậy, sự điều chỉnh cho thích ứng với nhu cầu thực tế là sự thích nghi hoàn cảnh một cách khôn ngoan . Người Tàu tới nơi nào cũng sống được và sống giàu sống mạnh, là nhờ tinh thần hội nhập thực tế . Tuy vậy, không bao giờ đánh mất bản chất Trung Hoa của họ . Hòa mà không hùa là thế .

Ai cũng biết Tổng Thống Ngô Đình Diệm vốn quê Lệ Thủy, Quảng Bình nhưng sinh trưởng ở Huế. Nói chuyện với người Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, ông nói tiếng Huế nhưng khi nói trước công chúng, khi đọc diễn văn hay thông điệp, bao giờ ông cũng dùng giọng Nam. Ông mang mặc cảm giọng Huế trọ trẹ chăng? Hiển nhiên là không.

Trong nước, ông là người có quyền lực nhất, nhưng không vì quyền lực đó để buộc quốc dân phải nghe cho được giọng Huế khó nghe của ông. Ông cần được hết thảy người dân của mọi miền đất nước nghe, hiểu và thông cảm. Đổi giọng, vì thế là một sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế.

Trong bài viết nói trên, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: "Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách" . Đó cũng là một trong những lý do trong sự đổi giọng của Tổng Thống Diệm, trong việc giả giọng Bắc của Hoàng Thi Thơ khi điều khiển các chương trình ca nhạc, của Như Hảo trên đài phát thanh và truyền hình v.v...

Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách thì rất dễ lọt tai. Có lẽ cũng vì cái ưu điểm "giọng nói trong phòng khách" đó nên nhiều chàng trai khác xứ đã lăn xả vào làm rể xứ Huế chăng ?

Tôi không phải là một nhà ngữ học . Vì vậy, những điều trình bày ở đây chỉ là những ý kiến rất thô thiển, có tính cách thường nghiệm của một kẻ bình thường . Đứng trước một thực tế là giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu ("ngoại ngữ Huế ") đối với đồng bào các miền khác, có nên chăng thử đặt câu hỏi tại sao ? Để dễ thông cảm .

Ở đây xin tạm hiểu "giọng" là nói về thanh âm phát ra từ người nói và "tiếng" dùng để chỉ về ý nghĩa của chữ dùng . Đôi khi, trong "tiếng" bao gồm luôn cả "giọng", chẳng hạn cái tiêu đề tạm dùng ở trên .

Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ, phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc một âm vực khó nhận ra ? Tôi có cảm tưởng như khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp, người Nam đi giọng cao, còn người Huế thì bình bình .

Phải chăng cái đặc tính bình thanh này khiến nó trở thành khó nghe ? Điều này xin để bàn tay chuyên môn của các nhà âm ngữ học can thiệp . Riêng tôi nghĩ rằng nếu miền Bắc và miền Nam có giọng nói dễ nghe, họ lại rất khó giả giọng miền khác . Trái lại, nếu âm vực giọng Huế thuộc loại bình bình, trung tín, khó nhận ra đối với người ngoài, thì cũng chính nhờ đặc điểm trung tín này đã giúp người Huế có thể giả giọng khắp mọi miền không mấy khó khăn .

Giọng Bắc, giọng Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Saigon . . . người Huế đều giả được tuốt . Cũng tỉ như nước lã không màu; nước không màu chứa trong ly thủy tinh trong suốt khó thấy; muốn cho người ta dễ thấy thì pha màu, và muốn pha màu gì cũng được .

Nghĩ sao nói vậy, chứ tôi biết rằng ý kiến trên sẽ bị bà con khác xứ chỉnh ngay, vì đã hơn một lần anh bạn người Nam nói với tôi rằng "Con gái Huế thì thanh tao, nhẹ nhàng, nhưng tiếng Huế của mấy ông nghe nặng lắm ."

Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi dấu ngã; không phân biệt có "g" với không "g", "c" với "t" . Nếu từ Quảng Nam trở vào người ta khó phân biệt "b" và "p", đến nỗi khi đánh vần thường hỏi nhau "bê bò hay pê phở" và ngay cả đến những bậc khoa bảng tiếng Tây như gió cũng có lúc nói âm "pê phở" chưa chỉnh, thì ở Huế, tại vùng quê và ngay đối với lớp người già sống tại thành phố, người ta không phân biệt âm "gi", "d" và "nh" . "Người già" và "người nhà" đều được nói giống nhau .

Sau khi làm xong cái nhà, tôi nói chuyện với ông chú già: "Mặc dù cháu tính khá kỹ, vậy mà cuối cùng cũng phải mượn thêm của bạn bè mới đủ, vì số chi phí vượt quá mức dự trù" .

Ông cụ thản nhiên đáp: "Cháu không nghe à, ôn mệ mình từ xưa nay đã nói là làm già (đồng hóa làm nhà và làm già, nghĩa là làm đôi ra, làm nhiều hơn) chớ có nói làm non mô; mà đã làm già thì hụt tiền thôi ."

Trộn lẫn giữa âm thanh và ý nghĩa quả thật là một lối chơi chữ rặt kiểu Huế, các bạn khác miền e khó mà thưởng thức .

Tôi không biết chắc khi một người ngoại quốc học tiếng Việt, cái khó nhất đối với họ là gì ? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng ? Văn phạm chăng ? . . .

Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi, ngã cho đúng cũng đã là một vấn đề . Hồi còn học tiểu học, thầy dạy lớp Nhất đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng, với "câu thần chú ":

"Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không ?"

Ý thầy muốn chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu huyền hay dấu nặng thì đánh dấu ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu sắc hay không dấu thì đánh dấu hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải thuộc lòng . Chẳng hạn:

- Nghĩ ngợi / nghỉ ngơi
- Sừng sững, sửng sốt

Thần chú như thế kể cũng linh nghiệm thật, nhưng khi viết chính tả cũng phải tốn công suy nghĩ, hơi . . . mệt . Tôi vái trời khi đi thi tiểu học được gặp một thầy giáo hay cô giáo người Bắc, vì tôi nghiệm ra rằng người Bắc phát âm dấu hỏi dấu ngã rất đúng . Ấy là nhờ gần gũi với một ông Hà Nội đang tán bà chị tôi .

Cho đến bây giờ vẫn thế, bộ óc tôi ghi nhận rằng khi phát âm dấu ngã thì người Bắc nói nghe như dấu sắc (nghĩ ngợi . . . nghí ngợi) và dấu hỏi nghe như dấu nặng (nghỉ ngơi . . . nghị ngơi) .

Giả giọng Bắc mà không biết qui luật này sẽ đánh dấu hỏi ngã sai bét và lòi đuôi "giả cầy" ngay . Một ông nhạc sĩ nọ gốc miền Trung, thường nói giọng Bắc trên TV, trước 75 có lần bị báo chí diễu là "người nói giọng Bắc hay nhất nước" cũng chỉ vì không để ý điều đó .

Cách đây non 30 năm, lần đầu tiên khi đọc một cuốn truyện (không nhớ tên) của một văn sĩ người Bắc (không nhớ bút hiệu) đến đoạn đối thoại của một nhân vật nữ người Huế, tôi vừa cười thích thú , vưa giận . Thích thú, vì tác giả viết rất có duyên . Giận là giận mấy ông thợ nhà in sắp chữ (tôi đinh ninh thế) .

Ai đời "Thôi em về hí", lại sắp chữ thành "Thôi, em về hỉ" . . . Chữ "hí" của người ta viết với dấu sắc, nghe dịu dàng êm ái như rứa, đem sửa lại thành "hỉ" với dấu hỏi, nghe lãng xẹt, vô duyên như ăn cơm hến thiếu ruốc .

Trong lời nói thường nhật của người Huế, HÍ là một từ đệm, đóng vai trò như NHÉ hay NHỈ tiếng Bắc và NHA tiếng Nam . . . Tôi cứ thầm cằn nhằn và giải thích như thế với mấy ông ấn công vô danh; mãi sau mới có dịp biết rằng mình đã nghĩ oan cho họ . Hầu như trong các truyện có dính líu đến ngôn ngữ của xứ Huế, chữ HÍ đệm ở cuối câu đều được nghe và viết thành HỈ .

Khi người Huế phát âm những chữ thuộc về dấu sắc, người Bắc và người Nam đều nghe thành dấu hỏi hoặc dấu nặng . Đó là lý do HÍ biến thành HỈ . Điều đáng nói là sai lầm này cũng hiện diện trong những tác phẩm do chính người Huế viết ra . Lỗi ở ấn công chăng ? Nếu không, đó là điều khó hiểu .

Trong bài "Tôi Không Yêu Tiếng Huế" (Tiếng Sông Hương 1990), tác giả Phàm Phu đã viết rất dí dỏm về những trở ngại do giọng Huế và tiếng Huế gây ra trên chốn giang hồ, vì người khác xứ nghe dấu khác đi .

Một thiếu nữ Hà Thành khi nghe một thanh niên Huế ngỏ lời: "Cô cho tôi xin một cái bóng (tấm hình) của cô để làm kỷ niệm . . ." đã ngơ ngác hỏi lại "Thưa, anh bảo cái bọng gì cơ ạ ?" (t. 45) .

Một ông người Huế khi vào hội tứ sắc đã hỏi làng "Hôm nay tui biết tui hên nên muốn đánh lớn . Mấy bà có chịu hai cắc (một lệnh) không ?" Câu nói này đã làm cho một bà người Nam giận dữ bỏ chơi, vì nghe lầm dấu sắc ra dấu nặng, tưởng ông kia ăn nói xí xọn (t. 46) .

Thời gian ở tù Cộng Sản trong trại "cải tạo", được sống gần gũi với anh em người Quảng Nam, tôi mới biết giọng Huế đã được nghe như thế nào . Buổi tối, trong khi chờ tới giờ ngủ, anh em thường tụ tập chơi cờ hoặc kể chuyện vui cho đỡ buồn . Có lần một anh bảo tôi: "Đố anh nói to và đúng câu 'Đem vở vô buồng, học đủ rồi ra ' " .

Dĩ nhiên là tôi đáp ứng ngay, dõng dạc, rõ ràng . Câu nói vừa dứt, lập tức tiếng vỗ tay và tiếng cười khoái trá nổi lên . Có cả tiếng hô "hay, hay ! nói tiếp đi" . Tôi ngơ ngác không hiểu, vì không tin rằng câu nói đơn giản đó lại có hiệu lực chọc cười đến thế . Ông bạn ăn chung mâm vừa cười vừa cắt nghĩa "Tụi tui nghe người Huế nói dấu hỏi thành dấu nặng cả, nên mới phịa ra câu đó để chọc anh đó" . À ra thế !

Giọng Huế tuy khó nghe với người khác xứ nhưng rất dễ chỉnh: trong lúc nói chuyện, chỉ cần đổi "tông" lơ lớ đi một chút là người nghe thoải mái ngay . Tiếng Huế mới là cả vấn đề, bởi vì khi nói đến giọng là chỉ mới đề cập tới hình thức, còn đi vào tiếng là đi vào nội dung, đi vào đời sống văn hóa .

Ngôn ngữ chẳng qua là qui ước về âm thanh do con người phát ra . Vì vậy, cùng một âm thanh phát ra giống nhau nhưng do qui ước khác nhau nên mỗi dân tộc hiểu theo một nghĩa riêng .

Tác giả Phàm Phu (TSH 90, đã dẫn) kể rằng trong một lần dạo phố Bangkok, thấy cô người Thái cực kỳ xinh đẹp, bèn chụp ảnh để kỷ niệm . Vừa đưa máy ảnh lên nhắm, vừa hỏi ý kiến ông bạn đồng hương làm hướng đạo: "Chụp hí ?" (Chụp nhé ?) thì mỹ nhân hoảng hốt bỏ chạy, còn tác giả bị bạn mắng như tát nước là ăn nói thô tục đối với phụ nữ ngoại quốc . Lý do là trong tiếng Thái "chụp" có nghĩa là "hôn", còn "hí" là "cái ấy" của phụ nữ .

Hai tiếng Huế vô tội đã trở thành ngôn ngữ sàm sỡ ở Bangkok . Hồi còn ở tù "cải tạo" tại trại Tiên Lãnh (Quảng Nam), tôi và một anh bạn đã làm cho mấy phụ nữ Kàtu bỏ chạy trong cơn mưa .

Sau một ngày vất vả đốn cây rồi đốt thành than, tổ chúng tôi bốn người quảy bốn gánh than đầy ắp về trại . Nửa đường, trời đổ mưa, bèn ghé vào một cái chòi trong rẫy lúa bỏ hoang để tạm núp mưa, cho than khỏi ướt .

Một lát, thấy có bốn năm phụ nữ Thượng, người Kàtu, từ phía suối lúp xúp chạy về chòi chúng tôi, ý hẳn cũng để đụt mưa . "Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm . . .", sợ mấy phụ nữ sẽ bị trợt té trên con đường dốc dẫn vào lều đã trở thành trơn trợt, anh bạn và tôi la lên "Coi chừng té ! Té !" .

Kỳ lạ, câu nói vừa dứt thì nghe mấy người đàn bà đó ré lên chí chóe gì đó và đổi hướng không chạy vào lều nữa . Trong tổ, có anh bạn gốc Trà Mi (quận miền núi ở Quảng Nam) nhẩn nha giải thích "Nói như mấy ông thì cho vàng tụi hắn cũng không vô núp mưa . 'Té ', tiếng Kàtu có nghĩa là đ.., biết chưa ? Lần sau gặp tụi đàn bà con gái ở đây đừng có nói bậy như vậy nữa, coi chừng có ngày ăn rựa" . Hú vía !

Giữa các dân tộc, qui ước thanh âm khác nhau dẫn đến ý nghĩa khác nhau đã đành, mà ngay trong cùng một nước ngôn ngữ cũng thay đổi theo địa phương . Cùng một từ, mỗi miền có thể hiểu một nghĩa khác nhau . Cùng chỉ một vật hay một việc, mỗi miền có một lối gọi khác nhau .

Chẳng hạn chữ "đồ" cũng có ý nghĩa khác nhau giữa hai miền Bắc Nam . Trong khi miền Nam, miền Trung dùng chữ đồ một cách hồn nhiên để chỉ về đồ vật thì người Bắc lại dùng nó để chỉ bộ phận sinh dục của phái nữ . Vì vậy, khi thấy ba ông bạn cùng chụp chung một tấm hình (chữ Hán gọi là đồ) với một cô đầm, ông nào ngó cũng chễm chệ, phong lưu, Tú Xương đã ỡm ờ vịnh ngay:

Ba bác chung nhau một cái đồ
. . .
Thôi đừng chê nhỏ lại cười to !

Cùng chỉ một vật dùng để chứa thức ăn, ở Bắc gọi là bát, Huế gọi là đọi, Nam gọi là tô . Cùng chỉ động tác rơi xuống đất vì mất thăng bằng, người Bắc gọi là ngã, Huế gọi là bổ, Nam gọi là té .

Sự đa dạng trong ngôn ngữ của một dân tộc là điều tự nhiên; bao giờ trong cái chung cũng có cái riêng và thấp thoáng trong cái riêng là hình ảnh cái chung .

Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường dễ làm nảy sinh nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn các miền khác, đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu tự điển tiếng Huế .

Trong TSH 93, qua bài "Thử nói về ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế", tôi đã có dịp khái quát về ảnh hưởng của ngôn ngữ cung đình trong ngôn ngữ Huế . Điều đáng nêu lên ở đây là: tại sao tiếng Bắc, tiếng Nam không gây trở ngại khi giao tiếp như tiếng Huế ? Ngoài giọng Huế khó nghe, như đã nói ở trên, phải chăng vì tiếng Huế quá đặc thù ? Phải chăng vì ngôn ngữ Huế ít được phổ biến ? Hay vì tiếng Huế khúc mắc khó hiểu ? Thiết nghĩ có lẽ do tất cả .

Người khác xứ có thể dễ dàng quen thuộc với "răng, ri, mô, tê, rứa, hè, hí" vì tính cách phổ thông của chúng, nhưng quả tình khó mà thông cảm với những lối nói đặc thù khác .

Tôi có anh bạn người Nam, sống ở Huế khá lâu . Trong một buổi trà dư tửu hậu, anh tuyên bố rằng "Bây giờ người Huế nói cách chi tui cũng hiểu" . Nghe vậy, một anh bạn khác liền hỏi ngay: "Thiệt hả ? Rứa thì anh có biết vụ hai đứa con ông Bảy bựa qua ngầy lộn rồi lôi giau từ trong chờn ra trữa cươi đập chắc, một đứa bể mỏ, một đứa u trốt. Mạ hắn can không được, đứng trữa cươi la làng như quạ quạ bẻ bắp" .

Anh bạn người Nam ngẩn tò te, chịu thua . Đây là chìa khóa mật mã:

- Bựa qua: hôm qua
- Lôi giau: lôi nhau
- Ngầy lộn: gây gỗ
- Chắc: với nhau
- Chờn: giường
- Trữa cươi: giữa sân
- Bể mỏ: vỡ mồm, dập miệng
- U trốt: u đầu

Mới chỉ có một câu nói ngắn như vậy mà cần phải giải thích đến tám chữ mới làm cho người ngoài hiểu được, và thực ra, đó mới chỉ là những chữ nặng về hình thức hơn ý nghĩa .

Nếu đi vào ý nghĩa thì sự khúc mắc càng thể hiện rõ rệt hơn . Thành ngữ "tào lao xịt bộp" là một thành ngữ phổ thông ở Huế, dùng để chỉ lời nói hay việc làm không đâu vào đâu, không có chủ đích, không ý nghĩa, kiểu "nghe qua rồi bỏ" .

Trong một cuộc tiếp kiến Toàn Quyền Đông Dương, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Bảo Đại) đã làm cho một vi quan lúng túng khi phải thông dịch câu nói rặt Huế của bà "Tôi tra rồi, ăn nói tào lao xịt bộp . . ." (Nguyễn Đặng, TSH 93), chỉ vì ông không phải là người Huế .

"La ngầy" hay "ngầy" có nghĩa là "la rầy" nhưng "ngầy lộn" lại có nghĩa là "gây gỗ" với nhau . "Mụ nớ" có nghĩa là "người đàn bà kia" (không có ý kính trọng) nhưng khi một người đàn ông được gọi là "Mụ" hay "Mệ", có nghĩa ông ta là người trong hoàng tộc .

Có một thực tế mà dường như ít ai để ý . Ấy là kể từ ngày chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức, thay thế cho chữ Hán thì lối viết theo cách phát âm của người Bắc là lối viết chính thức của nước ta .

Thực vậy, từ giấy tờ hành chánh cho đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học . . . phổ biến qua hình thức văn tự, hầu như tất cả đều được viết theo cách phát âm này . Ngoại trừ một Hồ Biểu Chánh của hồi đầu thế kỷ và sau này có thêm Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và hiện nay Hồ Trường An, là viết văn theo rặt giọng Nam, còn tất cả, bất cứ người cầm bút thuộc lãnh vực nào, xuất thân từ địa phương nào, đều viết theo phong thái âm giọng miền Bắc .

Bình Nguyên Lộc viết tiểu thuyết theo giọng Nam nhưng khi viết "Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam", một tác phẩm biên khảo, cũng viết theo cách phát âm miền Bắc . Số học giả, thi sĩ, văn sĩ người Huế trong nền văn chương quốc ngữ đông biết mấy, thế nhưng không vì vậy mà "răng, ri, mô, tê, rứa, ni, nớ . . ." được chính thức đi vào văn học như "sao, thế này, đâu, kia, vậy, này, ấy . . ."

Tiếng Việt theo cách phát âm miền Bắc hầu như đã trở thành lối viết chính thức, có lẽ do truyền thống lập quốc và Nam Tiến .

Trong âm nhạc, ta cũng thấy hiện tượng tương tự . Khi hát tân nhạc, tất cả ca sĩ đều phát âm theo giọng Bắc, bất kể người miền nào . Nhiều danh hề đã chọc cười khán giả một cách thành công khi thỉnh thoảng hát tân nhạc theo giọng Nam . Ban AVT nhờ có Vân Sơn đệm giọng Huế mà trở thành hài hước có duyên .

Từ thập niên 60, một số nhà văn nữ người Huế quả có đưa tiếng Huế vào tác phẩm nhưng cũng chỉ có tính cách mắm muối thêm duyên, kiểu như Vân Sơn đệm giọng Huế trong AVT chứ chưa tạo được sắc thái địa phương như Hồ Biểu Chánh hay Hồ Trường An .

Giọng Bắc, giọng Nam dễ nghe, đó là lý do tại sao đồng bào miền Bắc, miền Nam không gặp trở ngại với người khác xứ . Trái lại, bên cạnh giọng nói thuộc về một âm vực khó nghe, người Huế lại nói và viết không giống nhau . Thêm vào đó, Huế lại quá phong phú thổ âm, thổ ngữ, cả về số lượng cũng như ý nghĩa .

Tất cả những cái đó đã biến tiếng Huế trở thành "ngoại ngữ" ! Muốn hiểu rành "ngoại ngữ" đó, chỉ có cách hãy sống với Huế . Ai không tin, thử hỏi mấy ông rể Huế, biết ngay .

Võ Hương An

Posted: Thu Mar 29, 2012 4:26 am
by quaichao
Quê hương ngạo nghễ

Ðỗ Quý Toàn

“Ðường Việt Nam ôi vô cùng vô tận!” Ðó là câu đầu một bài hát thời rất trẻ. Nguyễn Ðức Quang kể đã đặt bài ca Ðường Việt Nam
trong lúc đang đi, trên con đường từ Ðà Lạt xuống Sài Gòn.

Image
Du Ca Nguyễn Ðức Quang trong một sinh hoạt âm nhạc tại Hoa Kỳ.
Ði một mình, vừa ngắm cảnh núi đồi, làng mạc, vừa hát lên từng câu, sửa, chọn từng tiếng, cho đến khi hoàn thành ca khúc, trên chiếc xe đạp cũ, chiếc xe đi học không phải loại xe leo núi. Vừa đi vừa hát, gọi đúng tên là du ca. “Ði dựng lấy thiên đường! Giống da vàng này là vua đấu tranh!” Bài hát kết thúc như vậy.

Với tốc độ đạp xe của một thanh niên 16, 17 tuổi, chuyến đi chắc phải kéo dài 15 hay 20 tiếng đồng hồ. Ðến khi hát những câu sau cùng này, chắc chàng nhạc sĩ đã thở hào hển, đẫm mồ hôi. Nhưng vẫn nhất định đi dựng lấy thiên đường. Vẫn tự nhận giống dân mình là vua đấu tranh!

Câu chuyện này là tiêu biểu cho nguồn cảm hứng và lối sáng tác của Nguyễn Ðức Quang. Cảm hứng đến trong khi Quang đang sống. Sống thật, sống khỏe mạnh. Sống hết mình và sống cùng với núi sông đất nước, sống giữa bè bạn, quê hương, đồng bào. Sống và sáng tác, đối với Nguyễn Ðức Quang, tuy hai mà một.
Năm 1964 Nguyễn Ðức Quang hát bài “Tôi chót sinh ra làm thân nhược tiểu...” Một người bạn tôi nghe rồi phê bình: Tại sao lại nói “chót sinh ra”? Phải hãnh diện được sinh ra làm người Việt Nam chứ? Nhưng Nguyễn Ðức Quang không phải là một nhạc sĩ “lên gân.” Không tự kiểm duyệt. Không sáng tác theo một lập trường, quan điểm, hay chủ trương giai đoạn nào cả. Không ai được chọn nơi mình sinh ra. Người nghệ sĩ ý thức thân phận một người Việt Nam, một thanh niên lớn lên trong một quốc gia đã bị các cường quốc bắt tay nhau đem cắt đôi, để phân chia ảnh hưởng. Và ý thức số phận đồng bào mình đang giết nhau, quê hương bị chiến tranh đang tàn phá. Ý thức như vậy, nhưng không để thở than, trách móc. Vì cuối cùng, mỗi người sinh ra ở nước Việt Nam đều hãnh diện “chọn nơi này làm quê hương.” Một lựa chọn có ý thức. Rồi ngẩng đầu lên hát “Việt Nam Quê hương ngạo nghễ!” Bây giờ các thanh niên người Việt ở khắp nơi vẫn còn vỗ tay mà hát: “Ta như nước dâng, dâng chẳng có bao giờ tàn! Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang!”

Thế hệ thanh niên lớn lên ở các thành phố trong miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 đều chia sẻ tâm trạng “thân nhược tiểu” này. Một dân tộc vừa giành được độc lập đã bị cắt đôi, kẹp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Và đang được hai khối đó đưa cho khí giới giết lẫn nhau, nhân danh những chủ nghĩa, những thiên đường! Trong khung cảnh đó có hai phản ứng khác nhau.

Nhiều người chỉ thở than, tuyệt vọng, hoặc tìm lãng quên. Nguyễn Ðức Quang có một tâm hồn tích cực, vẫn tìm thấy con đường sống lạc quan, yêu đời. Một phần có thể vì từ thuở nhỏ Quang đã thuộc điều luật thứ 8: Hướng đạo sinh gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi! Nhưng không phải chỉ có thế. Toàn thể con người Nguyễn Ðức Quang ngập đầy sức sống; không còn chỗ nào cho những tình cảm tiêu cực chen vào.

Sống trong cảnh “Xương sống ta đã oằn xuống” Nguyễn Ðức Quang không chịu thua, không buông xuôi, không ủ rũ tìm nguồn vui trong mơ mộng siêu hình. Vì bản chất Quang rất mạnh. Tâm hồn Quang tràn đầy nam tính, nam tính chiếm hết chỗ rồi, không còn chỗ chứa những trạng thái u sầu, ủy mị nữa. Ngay cả khi viết một điệu hát buồn, như khi nhớ đến những “đàn bé em biến đâu rồi, này bé sao không đùa chơi,” thì Nguyễn Ðức Quang vẫn mở đầu bài ca bằng ánh sáng tin tưởng: “Trời sáng tươi đã lên rồi! Trời sáng tươi trong lòng tôi!” Bởi vì “Cặp mắt sâu sau đêm dài, tìm quanh đây một ngày vui!”
Image
Từ trái: Trần Ðại Lộc, Phương Oanh, Nguyễn Ðức Quang, tại Sài Gòn.
Một điều may mắn là con người với bản chất tích cực như Quang lại gặp được một môi trường đúng với bản chất tích cực lạc quan để phát triển dòng nhạc của mình.

Ðúng khi Quang bước vào tuổi 20 thì xã hội miền Nam đang thay đổi. Từ năm 1964, một phong trào thanh niên nổi lên ở các thành phố, họ rủ nhau đi làm công tác giúp đồng bào. Ðặc biệt là những đồng bào ở nông thôn và những nạn nhân chiến tranh. Giúp ích, một khẩu hiệu của Hướng Ðạo, không phải là một hiện tượng mới. Ngay trong những năm 1950, mỗi lần có đám cháy lớn ở Sài Gòn là người ta thấy từng đoàn hướng đạo mặc đồng phục đến tiếp tay các anh “lính cứu hỏa” và giúp đỡ các nạn nhân. Sau đó, các đoàn hướng đạo và học sinh đi xây dựng lại nhà cho các nạn nhân; vật liệu và dụng cụ do bộ Xã Hội cung cấp. Những “công tác xã hội” tự nguyện đó là hình thức cộng tác giữa nhà nước và xã hội công dân, gồm các tổ chức tư hoàn toàn tự nguyện.

Kể từ năm 1964, một phong trào thanh niên bột phát. Người ta thành lập các hội đoàn, đặc biệt là trong giới trẻ, và đặc biệt với mục đích giúp ích. Bắt đầu từ những tổ chức thanh niên trong tôn giáo; rồi tới các hội tự nguyện của học sinh, giáo chức và sinh viên. Rồi những thanh niên thuộc nhiều hội gặp gỡ nhau lập ra từng chương trình chung, như “Liên hội công tác nông thôn.”

Khi bão năm Thìn đánh vào miền Trung vào cuối năm 1964, các hội cùng nhau tổ chức chương trình “Cứu Lụt,” đưa học sinh, sinh viên ra các tỉnh từ Bình Ðịnh ra Quảng Nam. Chính quyền lúc đó là cụ Phan Khắc Sửu, bộ Xã Hội do Bác Sĩ Phan Quang Ðán cầm đầu, họ tiếp các sinh viên, nghe trình bày dự án, rồi tận tâm giúp đỡ mà không đặt một điều kiện nào cả. Không cần bộ máy chính quyền thúc đẩy hay “hướng dẫn,” các thanh niên đi tìm cơ hội phục vụ đồng bào. Những sinh hoạt thanh niên này cần những điệu ca tập thể mới.
Nguyễn Ðức Quang đã trở thành tiếng hát của phong trào này. “Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng, tiếng reo vui rộn trong lòng!... Cùng đi biến ruộng hoang ra lúa thơm!.. Ta đắp bồi cho mẹ cha.”

Rồi tới Chương Trình Hè 65, một tổ chức quy mô trên tất cả 40 tỉnh toàn quốc. Với hàng chục hội đoàn tham dự, huynh trưởng phần lớn là các giáo sư, họ huy động hàng chục ngàn học sinh đi giúp ích. Tất cả mọi người tham dự đều tự nguyện, không ai được thù lao, không ai bị ép buộc. Hoàn toàn đứng ngoài chính quyền, không thuộc một khuynh hướng chiến tranh hay tôn giáo nào (nhưng vẫn bị chính quyền ngầm theo dõi). Chưa bao giờ có một phong trào thanh niên tự nguyện, vô vị lợi, phi chính phủ hoạt động với quy mô lớn như vậy; và khi kết thúc chương trình thì giải tán.

Sang năm 1996, Bộ Giáo Dục đã tiếp tục nuôi dưỡng phong trào này với Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Ðường (viết tắt CPS). Ngoài việc huấn luyện tính khí và phương pháp tổ chức công việc, một mục tiêu chính của các sinh hoạt thanh niên này, là huấn luyện lối sống dân chủ tự do cho thanh thiếu niên. Ðó chính là một phương pháp xây dựng nền tảng cho một xã hội công dân, mà bất cứ quốc gia tự do dân chủ nào cũng cần phát triển.

Chính khi dấn thân trong môi trường những công tác thanh niên tự nguyện đó, Nguyễn Ðức Quang đã có cảm hứng viết những bài ca tập thể mà chúng ta đang hát hôm nay. Khi Quang hát “những nhát cuốc...” thì thật sự Quang đã đi cuốc đất hay sống giữa đám bạn bè đang cuốc đất. Trong khi đổ mồ hôi tại trại công tác tên là “Công trường Cam Lộ” kéo dài mấy tháng ở Quảng Trị Nguyễn Ðức Quang đã hát “Ðường về công trường là đường vào quê hương.” Trong khung cảnh tự do phục vụ đó, người thanh niên yêu đời, tự yêu mình, và yêu đồng bào. Họ ngẩng đầu lên hát Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!

Khi các bạn thanh niên sau này hát lại những ca khúc của Nguyễn Ðức Quang, xin các bạn hãy nhớ những thế hệ đàn anh trong thời gian 1965 đã hát những bài hát đó trong khi đi xây dựng quê hương bằng bàn tay của mình. Hoàn toàn tự nguyện. Hoàn toàn tự do. Không vì lợi, không vì danh, không nhắm đến quyền hành chính trị. Những bài ca của Nguyễn Ðức Quang là tiếng nói của thế hệ thanh niên đó. Ước chi, đó cũng là tiếng nói của các thế hệ thanh niên Việt Nam bây giờ và mai sau. Chúng ta sẽ cùng nhau hát mãi: Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!

Posted: Sat Mar 31, 2012 12:32 am
by khieulong
Image

Tình Khúc Chiều Mưa

Nhạc: Nguyễn Ánh 9
Giọng hát: Lệ Thu


Chiều mưa ngày nào . . . sánh bước bên nhau
Tin yêu rạt rào . . . mộng ước mai sau
Cho ân tình đầu . . . mãi mãi dài lâu
Cho duyên tình đầu đừng có thương đau !
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 tên thật là Nguyễn Đình Ánh, sinh năm 1940 tại Phan Rang. Ông thêm số 9 vào là để kỷ niệm ngày kết hôn.
Trong thời gian học ở Đà Lạt, Nguyễn Ánh 9 đã được nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tác giả của nhiều bài tình ca nổi tiếng như Ai Lên Xứ Hoa Đào, Cho Người Tình Lỡ.... tận tình chỉ dạy và dìu dắt vào thế giới âm nhạc.

Năm 1951, qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 được vào tham gia chương trình Tuổi Xanh của Đài Phát Thanh Sàigòn và Đài Phát Thanh Đà Lạt. Từ đó, Nguyễn Ánh 9 đi khắp nơi biểu diễn dương cầm ở các bar, các nhà hàng nổi tiếng và những ban nhạc thanh niên.

Sau khi đi Nhật về (tháng 8 năm 1970 cùng với Khánh Ly biểu diễn tại hội chợ Osaka , với cảm xúc dạt dào, Nguyễn Ánh 9 viết bài KHÔNG trong vòng một tiếng đồng hồ với những lời lẽ lạ thật mới...), Khánh Ly lấy "Không" thu cho hãng dĩa 45 vòng Tình Ca Quê Hương. Một thời gian ngắn sau đó, Elvis Phương hát lại bài này trong một băng nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh và thu lên truyền hình số 9, thì nhạc phẩm "Không" của Nguyễn Ánh 9 mới thật sự gây được một tiếng vang rầm rộ thêm cảm hứng cho Ông sáng tác những ca khúc mới lần lượt như "Ai đưa em về", "Một lời cuối cho em", "Chia phôi", "Không 2", "Trọn kiếp đơn côi" ... vào cuối năm 1971... Ông đã thật sự bước chân vào sáng tác nhạc.

Cùng thời gian đó, Nguyễn Ánh 9 cộng tác với Khánh Ly và Ngọc Chánh ở phòng trà Queen Bee. Cuối năm 70, Nhạc sĩ Ngọc Chánh mời nữ danh ca Thanh Thúy đóng trụ ở Queen Bee, khi đó thì Khánh Ly về hoạt động ở Tự Do của ông bầu Cường.

Làm ở Queen Bee một thời gian, Nguyễn Ánh 9 về cộng tác Mini Club (đường Nguyễn Du ) cùng với Carol Kim, ban Ba Trái Chuông... Thời gian này, Carol Kim hát thật nức nở đam mê một sáng tác của Nguyễn Ánh 9 "Trọn kiếp đơn côi".

Cuối năm 71, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 về cộng tác cho vũ trường Olympia (đường Lê Lợi) và đến năm 1972, lại về phụ trách chương trình ca nhạc của phòng trà Hồng Hoa.

Thời gian này, Nguyễn Ánh 9 sáng tác thêm 2 ca khúc, đó là "Đêm Tình Yêu" và "Mùa Thu Cánh Nâu" (viết chung với một người bạn tên Hoàng Nhu). Hai bài hát này chỉ được thu mỗi bài một lần duy nhất trong những tác phẩm băng nhạc nghệ thuật của Phạm Mạnh Cương phát hành năm 1972 bằng giọng hát Khánh Ly, về sau này, khoảng năm 1981, TT Diễm Xưa mua lại cuốn master "Thương Một Người" gồm 14 ca khúc chọn lọc với giọng ca Khánh Ly, trong số đó có nhạc phẩm "Mùa Thu Cánh Nâu" rất lãng mạn nồng nàn.

Một thời gian dài sau 75, Nguyễn Ánh 9 tạm ngưng các hoạt động âm nhạc, và sống âm thầm làm một người bình thường, bương chải lao động kiếm sống bằng những nghề khác với chính đôi bàn tay nghệ sĩ của mình.

Năm 1982, Nguyễn Ánh 9 mới chính thức tái ngộ trở lại với thế giới âm nhạc, lại tiếp tục tham gia các chương trình hòa tấu và biểu diễn dương cầm khắp nơi. Nguyễn Ánh 9 còn được mời viết nhạc nền cho một số phim như "Mảnh tình nghiệt ngã", "Mênh mông tình buồn..."

Khoảng thời gian 1989 đến 1992, Nguyễn Ánh 9 không còn sáng tác nhiều. Tình ca của Nguyễn Ánh 9 thời gian đó có bài "Cô Đơn". Nhạc phẩm này được Anh nuôi dưỡng và hoàn tất trong 5 năm. Với "Cô Đơn", ta không còn nghe một giai điệu u buồn như những ca khúc xưa mà là những lời triết lý về tình yêu, hạnh phúc mang tiết tấu nhạc bán cổ điển thật nhẹ nhàng. Bài hát này, đã được Khánh Hà thu băng đầu tiên ở hải ngoại trong cuốn CD "Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào" năm 1992...

Năm 1995, Nguyễn Ánh 9 sáng tác thêm ca khúc "Cho Người Tình Xa" là những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng về một cuộc tình đã dở dang. Năm 1994, Nguyễn Ánh 9 được mời sang Pháp viết nhạc nền cho một bộ phim viết về trẻ em ở Cửu Long của Hội Từ Thiện Pháp và tham gia Hội Sáng Tác Gia Quốc Tế Sacem của Pháp. Nhân đó, Anh đã thực hiện đĩa compact disc độc tấu dương cầm của mình.

Posted: Sun Apr 01, 2012 5:40 pm
by caubennoc

Image

PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ÂM NHẠC

Nguyễn Mạnh Trinh
Có nhiều người cho rằng thơ phổ nhạc không còn chất thơ nguyên thủy nữa bởi vì nhạc sẽ làm giảm đi cái nét thâm trầm sâu sắc mà thơ phải chuyên chở. Một người chủ trương như vậy là nhà văn Tạ Tỵ. Khi được hỏi về những bài thơ phổ nhạc mà có sự ví von là nhạc chắp cánh cho thơ trong đó có bài “Thương về 5 cửa ô xưa” của ông.

Nhưng có nhiều người thì nghĩ khác. Như nhạc sĩ Anh Bằng, người đã phổ hàng trăm bài thơ thì cho rằng thơ phổ nhạc là một nét đặc thù của văn nghệ Việt Nam. Trong khi nói chuyện với tôi ông đã tỏ ra rất trân trọng những bài thơ phổ nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cho rằng đó là một nhạc sĩ phổ thơ hya nhất của âm nhạc Việt nam.

Riêng với tôi, nghe lại những bản nhạc phổ từ thơ của người ca sĩ chủ chốt của ban hợp ca Thăng Long Hoài Bắc, tôi đã bị lôi cuốn vào một thế giới âm nhạc tuyệt vời. Từ những bài thơ nổi tiếng, nhạc đã mở ra thành những thế giới riêng và cất cao lên những cung bậc ngân nga trong tâm não. Thơ Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây) như có phả vào trong nhạc Pham Đình Chương những nỗi niềm sầu xứ riêng của một người yêu quê hương tha thiết. Thơ Thanh Tâm Tuyền (Lệ đá xanh) những câu thơ tự do trúc trắc lại trở thành những cung bậc mượt mà và hình như trong từng nốt nhạc từng lời ca được chọn lọc trong thơ có một điều gì sẻ chia đồng cảm. Với thi ca, nhạc Phạm Đình Chương là bạn đồng hành.

Và mỗi khi buồn, những bản nhạc tình của Phạm Đình Chương đã làm tôi da diết hơn nỗi đau và nhức buốt thêm nỗi nhớ. Tha thiết, lãng mạn, như nghe Nửa hồn thương đau, nghe “Người đi qua đời tôi”, những lời và nhạc quyện vào nhau. Ngân lên. Réo rắt.

Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ tài hoa đã làm phong phú cho gia tài âm nhạc Việt Nam. So với các nhạc sĩ nổi tiếng khác số lượng sáng tác của ông không nhiều lắm nhưng đã có rất nhiều ca khúc đã đi vào cõi bất tử. Nhạc của ông còn có tuổi thọ hơn ông nhiều lần. Những ca khúc đã nổi tiếng đến nỗi thành quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam.

Riêng với cá nhân tôi, mỗi lần nghe lại những bản nhạc như “Sáng Rừng” hay trường ca “Hội Trùng Dương”, tôi lại bồi hồi nhớ đến những ngày xưa lúc mới lên trung học. Ở ngôi trường mà trước đây là chỗ nuôi ngựa của quân đội Nhật sau sửa chữa thành Trung Tâm Học Liệu, nơi chúng tôi đã học hát những bài này với thầy Chung Quân ròng rã những năm đệ thất, đệ lục. Những bài hát đã tạo ấn tượng rất mạnh cho tôi từ ngôn ngữ đến âm điệu. Những bài hát làm tôi yêu mến hơn quê hương đất nước tôi. Tôi nhớ cả lớp tôi chia làm hai bè và những câu hát cứ đuổi theo nhau như lượn sóng ào ạt cuồn cuộn: “… Sóng muôn triền tới sóng xô về tới như muôn tình mới vươn sức người. Bừng giữa đời…” Chúng tôi cứ thế mà hào hứng hát trong cái kích động vô cùng của chuyển khúc nhạc… Thầy Chung Quân, tác giả của ca khúc nổi tiếng “Làng tôi“ thì không hết lời giảng giải với bọn học trò chúng tôi những nét hay ý đẹp của những ca khúc này. Thành ra, tuy tôi chưa gặp mặt bao giờ nhưng lại vô cùng quen thuộc khi nghe nhắc tới tên tuổi của nhà nhạc sĩ Phạm Đình Chương…Hình như trong tiềm thức của tôi, đã có một vóc dáng nhạc sĩ cực kỳ to lớn. Những lờica hằn trong tâm thức và một lúc nào, có chất xúc tác, bùng vỡ cảm xúc như trôi theo suối, theo sông…

Rồi thời gian trôi, tôi lớn lên, vào đại học rồi đi lính, đi tù, rồi vượt biên, rồi lưu lạc xứ người, mãi thời gian khoảng thập niên 80 tôi mới gặp lại ông. Và hình như, cái vóc dáng ngày xưa mà tôi tưởng tượng dường như không sai biệt mấy. Trong một buổi họp mặt văn nghệ ở quán Doanh Doanh của anh chị Thái Tú Hạp, ông hát bản nhạc mới sáng tác phổ từ thơ Du Tử Lê “Đêm nhớ trăng Sài Gòn“ và bản “Hạt bụi nào bay qua “ từ thơ Thái Tú Hạp. Dáng ông cao gầy, nói chuyện có duyên với giọng thật đặc biệt Bắc Kỳ Sơn Tây, mặc dù lúc đó hơi men đã ngấm. Ông hát rất truyền cảm và tạo được những phút giây lắng đọng trước khi chấm dứt làm người nghe ngưng một giây sững sờ trước khi vỗ tay vang dội… Trong tiếng nhạc, có tâm sự tỏ bầy. Trong lời ca, có mênh mông những khung trời quá khứ…

Theo tài liệu của nhạc sĩ Phạm Thành là con ruột ông thì nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Gia đình ông là một gia đình nghệ sĩ, thân phụ ông đánh đàn tranh rất tuyệt trong khi thân mẫu ông chơi đàn bầu cũng rất hay. Thành ra nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả Nắng Chiều đã rất hữu lý khi phát biểu rằng nhạc của Phạm Đình Chương đã biểu lộ được những tinh túy của âm điệu ngũ cung. Sống trong một gia đình nghệ sĩ “nòi “ như vậy thì hấp thụ được những tinh hoa của nguồn nhạc dân tộc tính là chuyện dĩ nhiên. .

Ông bắt đầu học nhạc lý từ khi còn thơ ấu. Lúc mười bẩy tuổi ông đã sáng tác bản nhạc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng“ với lời nhạc trong sáng nhịp điệu vui tươi tới bây giờ vẫn còn nhiều người hát. Thí dụ như Đài phát thanh Little Sài Gòn ở Orange County đã dùng làm bản nhạc khởi đầu chương trình “Chào bình minh“ mỗi buổi sáng.

Thời kháng chiến chống Pháp sau năm 1945, cũng như những chàng trai Hà Nội yêu nước, ông gia nhập vào các đoàn văn nghệ lưu động của Liên khu 4 và Liên khu 3. Ông đi đến nhiều nơi: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên... Thời kỳ này, ông sáng tác những bài hát kích động tinh thần yêu nước, chấp nhận những khó khăn, có bóng dáng của chiến tranh nhưng không hận thù chém giết. Như ca khúc “Được Mùa“ âm điệu vui tươi, chứa chan tình cảm với lòng tin tưởng vào tương lai. Trong khi những bản nhạc cùng thời sáng tác như “Ngày Mùa“ của Văn Cao, “Gánh Lúa “ của Phạm Duy, hay “Dân Ca Lúa Vàng“ của Mặc Thy, thì lời ca tiếng nhạc có bóng dáng của chém giết chiến tranh hơn.

Nhà văn Mai Thảo khi còn sinh tiền hay thường kể về những ngày tháng đầy hào hứng của tuổi trẻ của những thanh niên lớp tuổi ông và Phạm Đình Chương, vai đeo bạc đà tay bút tay đàn rộn rã với sinh hoạt văn nghệ thời kỳ toàn dân chống giặc. Nhà văn Tạ Tỵ trong hồi ký viết về các văn nghệ sĩ mà ông quen biết cũng nhắc đến quán cà phê của gia đình Ban Hợp Ca Thăng Long thuở ấy. Vừa lưu diễn vừa sáng tác, tay đàn tay bút, từ đồng nội đến núi rừng, sinh lực tuổi trẻ và tâm tình yêu nước đã thể hiện trong từng ca khúc của Phạm Đình Chương.

Sau chính sách Cải cách Ruộng Đất và những ngày rèn cán chỉnh quân, bộ mặt Cộng sản dần dần ló dạng, ông và gia đình trở về thành và vào Sài Gòn sinh sống. Ở đây, ông cùng với anh ruột là nhạc sĩ Hoài Trung, chị ruột là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, em ruột là ca sĩ Thái Thanh lập thành Ban Hợp ca Thăng Long. Đôi khi còn tăng cường ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca Thăng Long đã hoạt động liên tục trong một thời gian dài. Có khi trình diễn ở Hà Nội thì đổi tên là Ban Hợp Ca Gió Nam với sự góp mặt của nhạc sĩ Nam Tiến (tức Trần Văn Trạch) Kỷ niệm những ngày lưu diễn này nhạc sĩ Trần Văn Trạch đã nhắc đến và tâm sự nhiều lần trước khi qua đời và coi như một kỷ niệm đẹp trong đời ca hát của người nghệ sĩ lão thành này.

Những ngày ở miền Nam là những ngày sáng tác sung mãn của ông. ‘Ly rượu mừng” bài hát vui tươi tràn dầy mộng ước, là lời chúc rất nhân bản đã trở thành một bài hát mở đầu cho những buổi họp mặt của hầu hết mọi người dòng dã mấy chục năm về sau. Hay “Tiếng dân chài”, theo lời kể của tác giả là một sáng tác từ cảm hứng trên bờ sông Mã khi mục kích sinh hoạt của những người dân chài lưới.
Thời kỳ này Ban Hợp ca Thăng Long nổi tiếng đến nỗi bìa của giai phẩm xuân “Đời Mới” của nhà báo kiêm chính khách Trần Văn Aân có hình ban Thăng Long có hai cô Thái một cô Khánh (Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc) phải in thêm để có đủ số lượng bán.

Là linh hồn của Ban Thăng Long, những sáng tác của ông đã góp phần làm rạng rỡ những thành công vượt bực. Như Sáng Rừng, như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, như Tiếng Dân Chài, như Bài Ca Tuổi Trẻ,
Như Anh Đi Chiến Dịch, như Ly Rượu Mừng, … Những bài hát đã thật quen thuộc đến trở thành một phần đời sống của những người dân ở miền Nam Việt Nam.

Nhưng một gia sản to lớn cuả nhạc sĩ để lại cho âm nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương”. Theo Phạm Thành cho biết thì thời gian sáng tác để hoàn tất là bốn năm dòng dã. Nhiều người đã xếp hạng “Hội Trùng Dương” ngang hàng với những “Trường Ca Sông Lô“ của Văn Cao hay “ Hòn Vọng Phu“ của Lê Thương, những nỗi niềm và những khát vọng của dân tộc được thể hiện. Sáng tác trong thời gian đất nước bị chia đôi, ông muốn nói lên cái tâm tư Bắc Nam là một và những dòng sông rồi cũng xuôi về biển Mẹ. Sông Hồng, với thao thiết âm thanh Quan Họ. Sông Hương, với đồng vọng giọng hò mái đẩy xứ thần kinh. Sông Cửu Long, với tiếng dân ca mộc mạc. Tất cả, trộn lẫn lại để thành tiếng hát đầy tình tự dân tộc và trong sáng. Thấp thoáng trong nốt nhạc, lời ca là sự lạc quan của những người tin tưởng vào tương lai của đất nước.

Năm 1967, ông nhận tổ chức và điều khiển phòng trà Đêm Mầu Hồng (cũng là tên của một ca khúc mà ông phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền). Những sáng tác nổi danh của ông và sự trình diễn điêu luyện của Ban Hợp Ca Thăng Long đã biến phòng trà này một chỗ nổi tiếng nhất và là nơi tụ tập của những nghệ sĩ hàng đầu của đô thành Sài Gòn.

Trong nhạc Phạm Đình Chương, thi ca đóng một vai trò quan yếu. Hình như bắt nguồn từ sự đồng cảm với thi sĩ, nhạc đã tháp cánh cho thơ vút cao. Những vần thơ của Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Quang Dũng, Trần dạ Từ, … trước năm 1975 hay Du Tử Lê, Kim Tuấn, Thái Tú Hạp, … sau năm 1975 ở hải ngoại đã thành những ca khúc có sức lôi cuốn mạnh mẽ và nói lên được tâm tư của thời đại. Thơ, với chất lãng mạn sẵn có, hợp cùng âm điệu của nhạc để thành những nhớ lại từ liên tưởng những cuộc tình, những phận người. Để rồi có sự chia sẻø với suy nghĩ, vớiø ngôn ngữ, với thanh âm, đã mở hướng đi xa đến vời vợi hơn những cửa ngõ này, những chân trời kia…

Nhạc sĩ Vũ Thành đã có lần nhận xét rằng phổ thơ như Phạm đình Chương từ bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa“ của Đinh Hùng thành “Mộng Dưới Hoa“ là việc hình thành một “tuyệt tác đáng phục“. Nhạc sĩ khéo léo phổ toàn bộ bài thơ với một ngôn ngữ óng mượt trữ tình và kỹ thuật chuyển âm tuyệt diệu. Nhất là, chất lãng mạn được giữ nguyên nếu không nói là tăng thêm bội phần.

Một trường hợp khác, ông đã phổ thành công những bài thơ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền. Nhiều nhạc sĩ nhận xét rằng phổ những bài thơ tự do, âm điệu phóng túng, với nhiều vần trắc, như thơ Thanh Tâm
Tuyền không phải là việc dễ dàng. Thế mà, với Dạ Tâm Khúc, với Bài Ngợi Ca Tình Yêu, với Đêm Mầu Hồng, cái ý thơ cảm được nhưng khó diễn tả bằng lời đã được truyền cảm trọn vẹn. Thơ, đi gần tới hơn đối tượng và bằng nhịp điệu lôi cuốn người nghe với nghệ thuật riêng của nhịp cầu âm điệu. Không biết thành công này có phải bắt nguồn từ sự đồng cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ qua mối thâm giao lâu đời chăng?

Biến cố tháng tư năm 1975 khiến ông phải làm nhân chứng cho một cuộc đổi đời. Sống ở Saigòn những năm tháng nghẹt thở rồi sau cùng ông và gia đình vượt biển năm 1979 rồi sang định cư ở xứ người. Đời sống thúc bách của sinh kế không làm ông ngưng sáng tác.

Tâm sự một người lưu lạc chất ngất nỗi niềm khiến cho ông cảm thấy gần gũi với những vần thơ của thi sĩ Du Tử Lê. Những bài thơ như “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển”, ”Đêm, nhớ trăng Sài gòn“, hay “Quê hương là người đó“ được phổ nhạc trong sự chia sẻ ấy. Quê hương mới đây mà đã cách biệt ngàn trùng. Những không gian, thời gian đã xa mất hút nhưng sao còn gần gũi. Tâm sự chúng ta đôi khi khác nhau nhưng vẫn cùng mẫu số. Mẫu số của một thời đại lưu vong.

Có lẽ trong những nhà thơ, Du Tử Lê là người có duyên với các nhạc sĩ nhất cũng như thi sĩ Đinh Hùng thời trước. Gần một trăm bài thơ được phổ nhạc với rất nhiều ca khúc gần như “bất tử“ phải là một hiện tượng trong đời sống văn học Việt Nam.

Nhà văn Mai Thảo đã viết về người bạn tâm giao của mình với dẫn chứng từ những tài năng âm nhạc khả tín:
“… Trên một tầm cao hơn, thuần túy nhạc lý và nhạc tính hơn, những điểm xuất sắc của cõi nhạc, nét nhạc Phạm Đình Chương cũng được những kiến thức có thẩm quyền hết lời khen ngợi. Như một nhận xét tổng quát của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Là đường nét của âm điệu (ligne melodique) cách thế hòa âm, tiết điệu và bố cục từ khúc, mặt nào ở Phạm Đình Chương cũng cao sang, điêu luyện và thuần phục. Cao và sang nhưng không khó không xa rất hợp rất gần với tâm hồn đại chúng. Như một phân tích tóm gọn của nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn là Phạm Đình Chương xử dụng ngũ cung tài giỏi, cấu trúc và kỹ thuật nhạc hiện đại, tiền tiến nhưng vẫn giữ dược âm điệu, yếu tính (essence) và tâm hồn Việt Nam… “

Riêng tôi, qua hơn sáu chục ca khúc cho một khoảng hơn bốn mươi lăm năm sáng tác, tôi đã nhìn thấy rõ một vóc dáng nhạc sĩ lớn. Là người ngợi ca tình yêu, với những ca khúc để đời : Mộng Dưới Hoa, Ngợi Ca Tình Yêu, Người Đi Qua Đời Tôi, Mầu Kỷ Niệm... Là người yêu quê hương, tin tưởng vào tương lai dân tộc, với Tiếng Dân Chài, với Được Mùa, với trường ca Hội Trùng Dương, … Là người lưu lạc tha hương, nhớ về chốn cũ nhà xưa, với Mưa Saigòn, Mưa Hà Nội, với Đêm, Nhớ Trăng Saigòn, với Khi Tôi Chết Hãy Mang Tôi ra Biển, … Là người nhạc sĩ yêu đời mang nghững bài ca tươi thắm với Sáng Rừng, với Trăng Rừng, với Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, … Tất cả, thành một vóc dáng âm nhạc đa diện. Ở mặt nào, cũng là đặc sắc. Ở cõi nào, cũng là khai phá bước chân. Mỗi mỗi, là những hiển lộng nghệ thuật. , những dụng công tinh vi. Âm nhạc và đời sống có những bổ túc để thành một nhất quán cho sáng tác.

Dù nhạc sĩ đã qua đời vào năm 1991, nhưng tuổi thọ của những ca khúc hầu như bất tử sẽ còn dài hơn rất nhiều 62 tuổi hưởng thọ. Đã có những chương trình hát và tưởng niệm cố nhạc sĩ. Đã có những ca khúc được trình bày như một cách thế cảm tạ những công trình mà có người gọi là những bông hoa tô điểm cho đời.

Ngày trước, cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã than thở rằng “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như”. Bây giờ, với những cõi nhạc như Phạm Đình Chương, có lẽ đến vài thế kỷ sau vẫn còn đồng vọng những ca khúc như Hội Trùng Dương hay Mộng Dưới Hoa chăng? Có thể lắm chứ sao không? Đã gần nửa thế kỷ rồi mà lời nhạc vẫn xanh và bóng mát vẫn tỏa cùng trên quê hương mà âm điệu còn vang xa ra trên phần đất mà con dân Việt nam sinh sống trên toàn thế giới !!!

Nguyễn Mạnh Trinh.

Riêng cá nhân tôi, ngòai những bản nhạc kể trên, tôi còn thích bản nhac Đêm Mầu Hồng do Thái Hiền hát

Đôi Mắt Người Sơn Tây, Thái Thanh hát


Hội Trùng Dương, Thái Thanh hát


Ly Rượu Mừng


Nửa Hồn Thương Đau, Thái Thanh hát


Mộng Dưới Hoa

Posted: Wed Apr 11, 2012 5:33 am
by khieulong
Image

NGỤM CÀ PHÊ THÁNG TƯ

Trần Mộng Tú

Ta ngồi một mình
ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
đứt ra từng đoạn.
Tháng tư, tôi ngồi trong quán cà phêStarbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao!

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.
Tháng tư của ba mươi bẩy năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được.

Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.

Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy thất lạc lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình thất lạc ngay chính trên quê mình.

Ngồi một mình với ly cà phê Starbuckstrong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạvới chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.

Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.

Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa
hoa táo hoa lê nở trắng vườn
quê nhà thăm thẳm sau trùng núi
em mở lòng xem lại vết thương



Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cáilaptop.
Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẽ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình.
Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn. Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh… Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.

Trong một tiệm cà phê ở Mỹ. Tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.

Ba mươi bẩy năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn:
Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.

Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương.

Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia.
Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng.

Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận.

Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.

Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.

Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần.

Ba mười bẩy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc….

Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.

Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.

Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.

Anh ạ tháng tư sương mỏng lắm
sao em nhìn mãi chẳng thấy quê
hay sương thành lệ tra vào mắt
mờ khuất trong em mọi nẻo về.


TMT
Tháng 4/2012

Posted: Tue Apr 17, 2012 3:52 am
by quangminh
Vì đó là em
Ở cái tuổi 32, Nguyên đã có nhiều thứ làm người khác ganh tị. Anh cao ráo, dễ nhìn, là chủ của một một công ty 'ăn nên làm ra', có bạn gái xinh xắn và là người mẫu nhiều triển vọng. Mọi thứ thật tốt đẹp và hoàn hảo, đôi khi, Nguyên cũng cho rằng mình được ngôi sao may mắn ưu ái. Cuộc sống sẽ cứ như thế cho đến một ngày cô xuất hiện.

Hôm ấy, Hùng - người bạn thân và là đối tác của Nguyên, hẹn anh ra một quán cafe để bàn về một bản hợp đồng mới. Khi Hùng ra về, Nguyên đứng dậy, cho cái laptop vào cặp để chuẩn bị đi đón cô bạn gái, Trúc Ly. Bỗng, một đôi tay bé nhỏ ôm lấy chân anh, kèm theo tiếng gọi khẽ của một đứa bé:
- Ba... con với mẹ kiếm ba lâu lắm!

Theo phản xạ anh vội xoay người và cúi xuống. Trước mặt anh là một bé gái xinh xắn chừng năm tuổi tóc cài nơ chuột mickey màu hồng nhạt, đôi mắt trong veo ngân ngấn nước đang nhìn anh. Với tình huống bất ngờ chưa gặp như thế này, anh không biết phải làm sao ngoài cách đưa mắt nhìn như tìm kiếm người đi cùng bé. Đúng lúc đó thì cô xuất hiện, cô để vội hai ly kem trên tay lên bàn đi tới gỡ tay bé ra khỏi chân anh và nói với anh:
-Xin lỗi anh, bé nhận nhầm người...

Anh ngước mắt lên nhìn, đó là một người phụ nữ chừng 27 tuổi, ăn mặc giản dị. Qua cử chỉ của cô, dễ dàng nhận ra cô là mẹ của đứa bé. Nhưng điều anh quan tâm là hình như ánh mắt của cô ấy khi nghiêng nghiêng nhìn rất quen. Hình như anh đã gặp ở đâu rồi nhưng nhất thời anh không nhớ ra. Khi anh còn đang lục tìm trong trí nhớ thì cô đã dẫn bé gái đi mất. Mặc cho mẹ kéo đi, bé gái vẫn dõi ánh mắt như một dấu hỏi về phía anh.

Hai tuần sau, vào một ngày thứ bảy rảnh rỗi, khi đang đi siêu thị mua đồ, anh chợt giật mình vì lại bị ôm chân như ở quán cafe. Khi nhìn xuống, anh ngạc nhiên vì vẫn là bé gái xinh xắn ấy cùng câu nói cũ. Và cô cũng xuất hiện sau đó với vẻ mặt ngại ngùng cùng chiếc xe đẩy đồ đang mua dở dang. Nhưng lần này, mặc cô kéo, đứa bé vẫn cố ôm lấy anh. Cô bé vùng vẫy và khóc oà lên khi bị mẹ kéo:
- Con cần ba, con với mẹ nhớ ba lắm! Ba... ba không thương mẹ với con sao?

Trước những cái nhìn tò mò của những người chung quanh, mắt cô long lanh bối rối. Lại ánh mắt quen thuộc đó khiến anh chợt nhớ cần phải hỏi cô vài điều. Để tránh cho cô phải khó xử trước đám đông, anh bước tới, đưa tay ẵm đứa bé lên, nói nhanh là muốn giúp cô và mời cô ly cafe vì anh có chuyện muốn hỏi. Khi ngồi yên vị trong quán, anh nói cô rất quen, anh đã gặp rồi, anh đoán chắc như thế. Những thắc mắc của anh được cô nhanh chóng giải thích:

- Em là Phương, em biết anh tên Nguyễn Hoàng Nguyên. Mười năm trước, vào một buổi chiều, khi đi học về ngang sân vận động của trường đại học kinh tế, vô tình trái banh do anh đá bay trúng vào mặt em khiến em ngã nhào, bể kính mắt và quần áo lấm lem. Anh đã đưa em về xin lỗi ba mẹ em và sau đó mua kính khác đền cho em. Anh không nhận ra em cũng đúng vì bây giờ em dùng kính sát tròng. Đây là con em, bé Yến Oanh được 5 tuổi. Ba bé không còn. Vì anh giống ba bé nên mới có những chuyện xảy ra như thế. Em xin lỗi.

Anh đoán không sai mà, cô đúng là người quen cũ. Anh hỏi thăm thì biết cô đang sống ở một căn nhà thuê nho nhỏ cũng gần khu nhà anh. Cô nói cô trở lại thành phố bởi muốn bé Oanh có điều kiện học hành tốt hơn. Cô mời anh có rảnh thì tới chơi. Lúc ra về, khi trao đổi số điện thoại cho cô, anh muốn nói với cô, "ngày xưa anh rất có ấn tượng với cô. Sau đó, anh có trở lại nhà cô tìm kiếm nhưng người ta nói gia đình cô đã dọn đi nơi khác". Có điều, anh ngập ngừng, lại không dám nói.

Thời gian sau đó, thỉnh thoảng anh vẫn hẹn cô cafe như những người bạn. Bé Oanh luôn được cô dẫn theo và bé vẫn kêu anh là ba như cũ. Anh ngăn cô, cứ để như thế, đừng cấm cản con bé. Cô cười khi nghe anh nói "coi như cho anh cơ hội trải nghiệm thử việc làm cha một đứa trẻ xinh xắn, đáng yêu như thế".

Một buổi chiều, khi đi làm về ngang một cái shop đồ chơi trẻ em, thấy con gấu bông màu hồng rất dễ thương, anh ghé vào mua và tới nhà cô. Khi anh gọi điện thoại, cô nói đang cùng bé Oanh chơi với nhau ở công viên. Anh ra đến nơi thì thấy mẹ con đang chơi trò cầu trượt và cùng cười vang trong buổi chiều nhạt nắng. Anh đứng khựng lại, tự nhiên anh thấy có cái gì đó len vào tim anh, anh thấy cô và bé thật đẹp.

Cả tuần nay, anh mất ngủ vì lô hàng nhập khẩu có vấn đề, phải chờ kiểm tra. Cứ nghĩ tới cái ngày vỡ hợp đồng, phải bồi thường thì anh toát cả mồ hôi. Nguy cơ phá sản lơ lửng trên đầu, chẳng hy vọng gì cứu vãn. Tối hôm đó, ra khỏi công ty, anh thấy sao lòng trĩu nặng, rẽ tay lái, anh chạy xe đến nhà Trúc Ly. Khi anh tới nhà, Trúc Ly đang say sưa hát hò và ăn uống với đám bạn gái. Anh lặng lẽ quay ra, anh không biết phải đi về đâu trong khoảnh khắc buồn phiền này... Anh chợt nhớ tới cô và bé Oanh.

Nghe tiếng chuông, cô chạy ra mở cửa. Bắt gặp anh trong bộ dạng thiểu não như thế, cô không hỏi anh chuyện gì, chỉ lặng lẽ đi nấu bữa ăn tối. Sau bữa cơm, trời đổ mưa tầm tả. Cô nhỏ nhẹ nói với anh, nếu anh không ngại, anh có thể ở lại. Cô biết anh đang gặp khúc mắc. .Khi ba mẹ cô di dân, đoàn tụ với anh trai ở nước ngoài, có để lại cho cô một căn nhà, hiện cô đang cho thuê. Nếu anh đồng ý thì ngày mai cô mang đi thế chấp ngân hàng số tiền đó coi như cô đầu tư vào công ty anh.

Trong khi anh còn đang chần chừ, sợ thất bại thì cô đã động viên anh. Thật ra thì số tiền đó cũng chẳng thể giúp anh giải quyết hết vấn đề hiện tại nhưng nhìn ánh mắt đầy niềm tin của cô, anh thấy mình như được tiếp thêm nghị lực. Tối hôm đó, khi cô kể chuyện "Cô Bé Lọ Lem" cho bé Oanh nghe. Anh nằm trên sofa nhà cô tận hưởng khung cảnh yên bình mà hình như trong cuộc sống của mình, anh thiếu từ lâu lắm! Anh chìm dần vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, anh tới công ty với tâm trạng bình thản, chờ đợi những điều xấu nhất có thể xảy ra. Trưa hôm đó, anh hẹn Trúc Ly đi ăn cơm và nói lời chia tay, mặc cho cô giận dữ và nói là sẽ trả đũa, chẳng bỏ qua như thế cho anh. Khi cô đi rồi, anh cười nhẹ và tự hỏi không hiểu tại sao bao năm qua, anh có thể cùng Trúc Ly làm thành một đôi? Anh hiểu rõ không phải cô yêu thương hay hối tiếc khi chia tay anh vì có khối người săn đón ngoài kia. Cô yêu "cái tôi" của chính mình nên cô không chấp nhận khi người nói lời chia tay lại là anh.

Ngay trong tuần đó, vào một đêm khuya, chuông điện thoại của anh đổ dồn, nhìn thấy số của cô, anh vội vã nghe. Trong tiếng ngắt quãng, cô nói cho anh biết bé Oanh bỗng nhiên đau bụng vật vã, cô đang trên taxi đưa tới bệnh viện và cô thấy sợ hãi. Khi anh tới bệnh viện, nhìn dáng nhỏ bé của cô khi ngồi chờ trước phòng cấp cứu, lòng anh ngập tràn niềm thương xót. Anh không nói gi, lặng lẽ đến ngồi bên cô, nắm bàn tay cô siết nhẹ. Cô tựa đầu vào vai anh khóc nức nở. Đó là lần đầu tiên anh thấy cô khóc.

Không biết có phải ông trời thương anh hay không, một tháng sau, lô hàng của anh được chứng minh không có liên quan hay vi phạm pháp luật. Mọi việc ổn thỏa. Buổi chiều, hết giờ làm việc, anh ghé mua bánh kem cho bé Oanh. Từ ngày bị nhập viện cảm lạnh đến nay, con bé chưa được ăn lại món bánh ưa thích.

Nhớ đến nụ cười của cô và khung cảnh ba người lại ríu rít bên bàn ăn như thời gian qua, anh nhấn ga cho chiếc xe lao nhanh về phía trước. Khi tới nhà cô, mặc cho anh nhấn chuông nhiều lần, căn nhà vẫn tràn ngập trong bóng tối. Anh gọi điện thoại cho cô... không liên lạc được. Anh lo lắng, sốt ruột... đi tới đi lui thì gặp bác hàng xóm bên cạnh, bạn sợ sệt nói:

- Sáng nay có một cô người cao cao, nhìn rất đẹp, đi cùng vài người nữa đến đây. Không biết chuyện gì mà họ đập phá và chửi bới cô Phương là nạ dòng, đi giật người yêu của kẻ khác. Khi lối xóm xúm lại can ngăn, họ mới chịu bỏ đi. Trưa, tôi thấy cô Phương mắt đỏ hoe, kéo vali và dẫn theo bé Oanh. Cô ấy có sang nhà tôi gửi chìa khóa, nhờ tôi nói với chủ nhà là cô ấy không thuê nữa khi hết hợp đồng và nếu gặp cậu thì đưa cho cậu lá thư này.

Không khó khăn để anh đoán biết cô gái ấy là Trúc Ly và đám bạn cơm rượu. Anh thắt lòng khi nghĩ đến cảnh cô phải chịu thiệt thòi khi gặp những người như vậy. Anh nhanh chóng mở bức thư ra đọc ngay. Những con chữ nhảy múa trong mắt anh:

''Khi anh đọc lá thư này, chắc em đi xa rồi. Anh đừng kiếm tìm phí công bởi khi quyết định ra đi, em đã biết làm sao để anh không thể tìm thấy. Em cảm ơn anh trong thời gian qua đã đối xử rất tốt với mẹ con em. Thật ra có một điều em không nói lâu nay. Nếu tình yêu đến từ cái nhìn đầu tiên thì mười năm trước em đã yêu anh rồi, ngốc ạ! Vào ngày đầu tiên anh đá trái banh vào trúng em đấy. Nhưng em nhút nhát không dám nói. Khi ba mẹ em chuyển đi nơi khác, em muốn liên lạc với anh nhưng em mặc cảm vì mình tầm thường và nhỏ bé trong khi anh thì nổi trội và xuất sắc. Bao năm qua, em vẫn âm thầm dõi theo từng bước chân của anh.

Ngày anh đạt danh hiệu là một trong những doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, em đã có mặt ở hàng ghế trong khán phòng với bó hoa. Em muốn chúc mừng anh nhưng em lại lặng lẽ quay ra khi thấy những cô gái xinh đẹp khác ôm chầm lấy anh. Cũng đúng thôi, anh xứng được như thế. Em tầm thường và mờ nhạt thì đâu có lý nào được anh chú ý tới, em chỉ có thế đứng từ xa mà nhìn. Khi biết anh có người yêu là cô người mẫu Trúc Ly, em tuy buồn nhưng vẫn mừng thầm cho anh. Em không di dân cùng ba mẹ bởi trong thẳm sâu con tim, em còn nuôi hy vọng mong manh là ngày nào đó có thể ở cạnh anh dù tư cách là một người bạn.

Còn đây là điều bí mật mà em chưa nói, bé Oanh không phải là con của em. Bé không có cha bởi mẹ bé là một cô gái đáng thương mà em tình cờ biết khi làm tình nguyện viên trong một chương trình đường phố thời còn sinh viên gần ra trường. Mẹ bé bị hậu sản mất đi. Lúc đó, ba mẹ em di dân, em sống một mình nên cũng không bị ràng buộc gi,# em đem bé về nuôi. Khi lớn một chút, bé hỏi về ba thì em lấy những hình ảnh của anh do chính em âm thầm thu thập được, nói ba là anh và đi làm ăn xa. Khi bé lớn, em sẽ dẫn đi tìm ba. Muốn bé như bao đứa trẻ khác, không phải bị mặc cảm về quá khứ nên em không cho bất cứ ai biết chuyện của bé và nhầm đảm bảo bí mật của mình nên em chuyển trở lại thành phố này sinh sống. Sau đó, em dẫn bé đi ăn kem thì vô tình gặp anh trong quán cafe dạo trước. Em không ngờ rằng bé có thể nhận ra anh là người trong bức ảnh và mọi chuyện xảy ra cho đến nay.

Em thừa nhận là em không tốt bởi không nói ra hết những điều này sớm hơn bởi em sợ khi anh biết thì anh không quan tâm đến em nữa. Nhưng hôm nay, em hiểu rồi anh ạ! Tình yêu không bao giờ có cái kết khi chỉ từ một phía, Trúc Ly - cô ấy nói đúng , anh chỉ cảm thấy mang ơn và thương hại, tội nghiệp hoàn cảnh của hai mẹ con em mà thôi. Em còn ở gần anh thì chỉ làm hại anh. Dư luận sẽ cười nhạo anh vì qua lại với một người mẹ đơn thân như em. Anh vốn là thứ em đánh cắp của người khác thì tới lúc em phải hoàn trả lại. Có những giấc mơ thật ngắn nhưng mà thật vui...''.

Mắt anh nhoè đi, anh xếp lá thư lại không đọc tiếp, tự mình thì thầm: ''Giá như anh nói ra với em là anh đã chia tay Trúc Ly. Phải chi em biết anh chưa bao giờ tội nghiệp hay thương hại em. Anh không dám nói ra bởi anh sợ em nghĩ anh thừa nước đục thả câu. Sợ em từ chối và tránh né. Bây giờ anh biết tìm em ở đâu đây?".

Một năm sau, vào buổi tối chủ nhật yên ả ở tỉnh nhỏ. Có một người phụ nữ trẻ dẫn theo đứa con gái, họ ngồi ăn kem trong một quán nhỏ cạnh bờ hồ. Gần đó là chiếc radio đang phát chương trình nhạc yêu cầu buổi tối. Giọng truyền cảm của cô phát thanh viên vang đều đều:

- Sau đây xin mời qúy thính giả nghe ca khúc "Vì đó là em" được yêu cầu bởi anh Nguyễn Hoàng Nguyên gửi cho vợ mình là chị Trần Ngọc Phương kèm với lời nhắn: ''Phương à, bây giờ em với con đang ở đâu vậy? Anh muốn nói với em, anh vẫn chờ em, không phải chỉ một năm mà mười năm hay cả đời này vì anh yêu em".

Trong khi giọng ca sĩ vang lên và mọi người thả hồn theo giai điệu, từng giọt nước mắt trong suốt chảy trên đôi má của người phụ nữ. Đứa bé gái không biết vì sao mẹ khóc, bé hồn nhiên hỏi mẹ:
- Sao mẹ khóc, mẹ nhớ ba hả? Con cũng nhớ ba nữa. Mẹ dẫn con đi gặp ba được không? Con muốn ba mẹ ở chung với nhau như ba mẹ của mấy bạn trong lớp của con.
Cô ôm con vào lòng, khẽ gật đầu.

Sáng thứ hai, khi tan cuộc họp thông lệ đầu tuần, anh trầm ngâm nhìn ra cửa sổ, dưới tán cây có những con chim sâu thoăn thoắt chuyền cành. Anh bâng khâng thầm hỏi bây giờ cô đang ở đâu, có vui không, có biết một năm qua anh tìm kiếm và nhớ cô cháy cả lòng? Nhà cũ của cô, anh đã thuê lại, những lúc nhớ cô, anh tới đó ngồi hàng giờ nhìn đồ đạc mà hình dung cô và con.

"Anh còn cơ hội gặp lại em không, mình có có thể bắt đầu không?"... Chợt điện thoại reo lên cắt ngang dòng suy nghĩ của anh. Một số điện thoại lạ, không có trong danh bạ. Anh bật máy. Đầu dây bên kia im lặng, ngập ngừng chừng mười giây và một giọng nói nhỏ quen thuộc cất lên:
- Em cùng bé Oanh đang ngồi trên xe khách lên thành phố. Chừng một giờ nữa thì tới, anh ra bến xe đón em với con được không?

Sáu tháng sau, vào một ngày nắng đẹp hòa cùng nền nhạc tân hôn dìu dặt, bé Oanh với trang phục thiên thần cùng nụ cười rạng rỡ, tung những cánh hoa hồng đỏ thắm trong chiếc lẵng hoa xinh xắn vào không trung. Phía sau bé là chú rể và cô dâu với vẻ mặt ngập tràn hạnh phúc tiến vào sảnh cưới. Tiếng vỗ tay chào mừng của bạn bè và người thân vang lên.

Hôm nay là... ngày cưới của anh và cô.


Song Nhi

Posted: Fri Apr 20, 2012 6:58 am
by MatVit
Image


Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa
Tác giả: Hòang Ngọc Giao
Tôi biết về ông Đạo Dừa rất ít.
Trước kia, có một dạo tôi hiểu lầm ông. Nói hiểu lầm thì không đúng lắm : Tôi đã đánh giá sự đấu tranh của ông một cách phiến diện, hời hợt. Tôi được biết ông tên Nguyễn Thành Nam, một nhà trí thức tân tiến, đỗ bằng kỹ sư Canh Nông ở Pháp, có tinh thần ái quốc cao. Ông thành tài về nước, không làm việc cho Pháp, dấn thân vào cuộc cách mạng dân tộc. Vào thuở tôi còn mài đũng quần nơi những lớp trung học Pháp, tên tuổi của ông đã lẫy lừng, tương lai rạng ngời hào quang. Người Pháp ở Đông Dương rất ưu đãi dân thuộc địa thông thạo Pháp ngữ. Từ các công sở đến tòa án, hễ ai nói thông được tiếng Pháp kể như nắm được chiếc chìa khóa vàng trong tay, vào cửa nào cũng thông cũng lọt. Huống chi đối với những nhà khoa bảng xuất thân từ những đại học ở "chánh quốc" áo gấm về nước ! Với cái tài ấy, cái thế ấy, giá khéo luồn lọt một tí, làm gì chẳng thừa miếng đỉnh chung ?
Nhưng ông kỹ sư Nam ấy lại không đem cái tài học của ông làm việc cho Pháp. Ông cũng không dùng cái vốn liếng văn hóa Tây phương gây lợi cá nhân, cho có được vợ đẹp con ngoan, cho có trang trại giàu sang trưởng giả, hoặc khai khẩn dinh điền màu mỡ cò bay thẳng cánh... Ông đã rũ bỏ cảnh phồn hoa quyến rũ, dứt lìa văn minh vật chất ông có thể thụ hưởng thừa thãi, để về một cồn vắng... trèo lên ngồi trên ngọn cây dừa mà tu, và thành là ông Đạo Dừa !
Tôi từng nghe mấy người anh bà con, cùng ở Pháp về chuyến tàu với ông, không ngớt bàn tán về hành động ấy của ông:
- Kỹ sư Nam ở Bến Tre tính gì thế ? Toan làm chính trị ? Hay muốn chóng nổi danh ?
- Hắn bất hợp tác với nhà cầm quyền ư ? Chủ trương tranh đấu bất bạo động như thánh Gandhi bên Ấn Độ à ? Bối cảnh chính trị ở Việt Nam khác xa với bên ấy lắm cơ mà !
- Hay hắn lập dị ? Cũng muốn tỏ ra ta đây anh hùng cách mạng ?
Tôi nghe nói mà chán ngắt cho mấy ông anh họ ấy. Họ còn ham thụ hưởng, có dám dấn thân như thế đâu. Cũng có kẻ xu thời, làm chính trị sa lông. Thứ chánh trị không tốn kém gì, không hy sinh nguy hiểm gì, mà lại được tiếng là kẻ thức thời.
Tôi là lớp trẻ vừa trưởng thành, vừa mới hiểu biết, trong thập niên 30-40. Chúng tôi thường thao thức theo tiếng gọi thức tỉnh của hồn nước, của các bậc tiền bối yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ... Và cái chết oanh liệt của các bậc anh hùng Yên Bái Nguyễn Thái Học, Ký Con...đã khơi dậy lòng yêu nước khắp nơi.
Chúng tôi sống trong ký túc xá, giữa bốn bức tường kín học đường, song cũng biết được đại khái những hoạt động của các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ngà... và vô số nhà trí thức Trung Nam Bắc... đã không chạy theo vinh hoa phú quý thuở bấy giờ mà lại dấn thân làm quốc sự. Những quyển sách quốc cấm như Phan Đình Phùng, Con hùm Yên Thế Hoàng Hoa Thám, Giặc Cờ Vàng... được chúng tôi lén lút chuyền tay nhau, nửa đêm chun vào cầu tiêu, xem mê mệt không thôi. Phong Trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục với những tổ chức đưa thanh niên du học nước ngoài, những trường bí mật đào tạo nhân tài đất nước đã nhiều đêm là mộng trắng canh trường của lòng trai háo hức dấn thân vào phiêu lưu của chúng tôi. Chúng tôi không còn lòng học hành nữa. Cái học trong nước, dẫu đến cao đẳng, cũng chỉ để làm nô lệ. Chúng tôi từng chứng kiến, căm hờn và ứa lệ, khi trông thấy đang trong giờ giảng bài, vị giáo sư đáng kính mến bỗng bị lính kính, mật thám Pháp vào lớp, xích tay lại dẫn ra xe ...
Giữa cái buổi giao thời đặc biệt ấy của đất nước, bọn thực dân cai trị cố tình bên trên đè ép xuống, dân chúng ở dưới ngộp ngạt trôi mình, có một số thanh niên Tây học, đâm ra hoang mang mất hướng. Một số bỏ sở làm lương to, đi lên núi Cấm tu hành, hoặc toan luyện bùa phép chống lại súng đạn, hoặc toan tìm hậu duệ các tiền bối kháng Pháp thời xưa ? Một số lại ủy mị hơn, tìm quên lãng hận mất nước trong làn khói phù dung ! Một số tìm đường trốn ra nước ngoài, cố sao móc nối được một anh thủy thủ ngoại quốc có tàu buông neo ở Nhà Rồng, năn nỉ sao cho anh ta thương tình dấu dưới hầm tầu để đi được thoát. Nếu rủi ra khơi rồi mà thuyền trưởng hay được, bất quá hắn xiềng chân lại, chờ đến một bến cảng nào đó thì tống khứ lên bờ, miễn đừng trong thuộc địa của Pháp thôi, là cũng sướng đời rồi ! Tuy không nói nhiều ngoại ngữ, chỉ biết tiếng Pháp rất hạn chế trong thương trường quốc tế, nhưng những thanh niên mạo hiểm vẫn tin tưởng ở sức lực và bàn tay tháo vát của mình để có thể kiếm được cái ăn qua buổi, miễn không ngửa tay xin ăn. Mà dù không kiếm sống được, chết đói xứ lạ là cùng, còn hơn sống nô lệ nơi quê nhà vốn nổi tiếng vựa lúa Châu Á !
Tôi có một số bạn bắt mối được với một bạn thủy thủ tàu buôn Pháp, bọn này đòi 50 đồng mới cho xuống tàu. Ba đứa đều là học sinh, còn trong cảnh cơm cha áo mẹ, làm sao có đến một số bạc to lớn như thế ? Bán cả đồ đạc, quyên góp khắp bạn bè mãi mới được 40 đồng, định sẽ năn nỉ xin bớt, chắc bọn chúng cũng chịu, nhưng khi đem tiền ra bến, hỡi ôi, con tàu buôn hôm nọ đã nhổ neo, ra lòng sông Sài Gòn rồi !
Sở dĩ tôi nói lên việc này là để cùng quý bạn hình dung lại thời điểm ấy của những công dân Việt Nam, như dòng sông Cửu Long đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác, đã ý thức được những việc cần phải làm của người bị trị. Quyền yêu nước không phải ở một người, ở một đảng phái nào. Bây giờ, người ta tha hồ tô hồng, chuốt lục lịch sử đảng họ. Bẻ cong cả lịch sử. Phủ nhận công ơn của những người ngoài đảng ta ! Các văn sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nc thành đạo. Theo họ, họ bảo tu cho đất nước hòa bình, con người thương yêu con người hơn. Chỉ có tình thương yêu mới khai trừ họa chiến tranh. Chỉ có tình thương yêu, mới san sớt đồng đều, mới thông cảm nhau, không cần đấu tranh giai cấp !
Tôi hỏi người đệ tử của ông Đạo Dừa:
- Nghe nói Thầy anh muốn làm người hòa giải ?
- Phải. Cậu Hai yêu nước thương dân, không nỡ nhìn triệu triệu thanh niên ở hai phía bị nướng thiêu trong nạn nồi da xáo thịt. Chiến tranh đã hơn ba mươi năm, dân chúng điêu linh, xã hội tàn hoại, đất nước nghèo khổ lắm rồi, sao người ta lại không chịu ngưng tay ?
- Thấy anh tin là hai bên có thể ngồi lại với nhau?
- Cậu Hai tin ai cũng có lòng yêu nước thật sự. Lòng yêu nước đứng trên quyền lợi của bè cánh, đảng phái.
- Và Thầy anh tin "bác Hồ" sẽ từ bỏ đảng cộng sản? Hay đặt quyền lợi của đảng, của Nga Sô, của Trung cộng ra ngoài để cứu nước cứu dân ?
- Nếu ông Hồ yêu nước, ông phải làm như vậy !
Tôi khẽ thở dài:
- Thầy anh chủ trương tốt, nhưng tình hình chính trị phức tạp lắm, lại thêm lòng dạ tham lam của con người, tham vọng của quốc tế... Không như việc Thầy anh nuôi con mèo chung với con chuột một lồng...
- Thú vật còn biết dung nhau, con người lại không thể sao? Việc nước nhà mình đã đến lúc mình phải tính với nhau, không cần đến anh Mỹ, anh Nga, anh Tàu chen vào nếu họ không có thiện chí giúp đỡ !
- Tôi sợ Thầy anh ôm mãi cái không tưởng ấy. Giá mà thành được như thế, người dân Việt nào lại không thích ?
Về sau, tôi lại nghe tin ông Đạo Dừa trở về Cồn Phụng, tức là cái cồn đất ông trèo lên ngồi trên cây dừa mấy mươi năm về trước. Khi ấy cồn đã có đông dân cư tụ tập. Nhà ở khang trang. Dân tình dễ sống. Có văn hóa. Có tình người. Có trật tự. Có cả mấy người Mỹ tu ở đấy. Ai trông thấy tướng đi lênh khênh của họ trong bộ quần áo bà ba màu vàng may rộng khổ mà vẫn thấy túm bó, với đôi bàn chân đi đất rón rén của họ, đều phải che miệng cười. Nhưng là cái cười đầy thiện cảm, thân ái. Họ gặp ai cũng chắp tay cúi đầu, nói trọ trẹ :
- Chào ông !... Chào bà !... Chào anh !... Chào chị !... Mạnh giỏi !
Nơi Cồn Phụng còn treo một biểu ngữ to Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Đó là một câu sấm xưa từ mấy trăm năm, mà người ta cho là trong bài sấm Trạng Trình, tiên đoán về hậu vận nước nhà. Nhưng không ai hiểu câu sấm ấy ứng vào thời kỳ nào? Sao không đánh nhau mà thành? Và cái thành ấy có lợi cho phe nào? Tôi thầm nghĩ ông Đạo Dừa đưa lên câu biểu ngữ để kêu gọi ngưng chiến.
Nơi bến cồn có đậu một chiếc tàu sắt mà ông Đạo Dừa cho trang trí theo mỹ thuật Việt Nam và đặt tên là thuyền Bát Nhã. Trên con thuyền rộng lớn ấy, nơi phía trước, ông bầy ra nhiều hàng ghế sắt cho du khách ngồi. Nhiều phái đoàn ngoại quốc đến phỏng vấn ông, thu băng, quay phim. Ông ngồi nơi chiếc ghế đặt phía trước, có hai đệ tử đứng hai bên. Chính hai đệ tử nọ trả lời những câu hỏi của khách, thỉnh thoảng ông mới biên vào giấy cho họ phát biểu thêm những chi tiết.
Tôi đến nhằm lúc hết giờ phỏng vấn, nhưng cũng được đệ tử của ông nói về chánh kiến của đạo. Ông nhận ra tôi, chỉ mỉm cười. Nụ cười hiền hòa và thân thiết. Ông vẫn không ngớt tay lẫy những hột bắp, để sau đó tự ông nấu lấy ăn. Trước kia ông chỉ uống nước dừa. Dạo sau này, vì làm việc nhiều, vì đệ tử khuyên lơn, ông mới ăn thêm buổi ngọ (buổi trưa) bằng bắp nấu. Tôi trông thấy ông gầy ốm quá, thân hình nhỏ thó, đôi tay khẳng khiu, mặt thỏn như trẻ nít, song đôi mắt tinh anh sáng rực khác thường. Các phóng viên truyền hình ngoại quốc không ngớt tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục trước một ông già ốm tong teo như cây sậy mà lại có một mãnh lực chịu đựng kiên cường. Tự ông làm ra thức ăn cho ông, tuy rằng đệ tử của ông rất đông. Nếu ông để cho họ phục dịch, chắc họ sung sướng lắm. Nhưng ông chủ trương có làm mới có ăn, ông phải tự tay làm lấy thức ăn cho ông. Nếu ông bị rủi ro nằm bệnh ngày nào, ngày đó ông nhịn đói. Không ai khuyên lơn, năn nỉ ông được một miếng nào. Tôi trông thấy những việc ông làm, lòng vơi bớt đi những thành kiến thắc mắc về ông. Ông thật sự thể hiện tình thương yêu to lớn. Ông xót xa đau đớn khi thấy chiến tranh kéo dài, dân tộc điêu linh tang tóc, đất nước kiệt quệ tài nguyên, lẽ ra có thể làm dân giàu, nước mạnh! Nhưng giữa khi đôi bên say chiến, nhất quyết một được một thua, tiếng gọi hòa bình của ông chỉ là tiếng gào khản trong sa mạc! Rồi đây, Cồn Phụng của ông, nơi ông tạo được một xã hội kiểu mẫu nho nhỏ ấy có được yên? Thân phận của ông và bầy đệ tử rồi sẽ nổi trôi, chìm ngụp thế nào trong cảnh biến loạn tang thương của đất nước ?
Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày uất hận của người Việt tự do ! Cộng sản đã thôn tính được miền Nam Việt Nam, và chỉ qua một thời gian ngắn đã làm cho toàn quốc đói rách và sa đọa hơn bao giờ hết ! Tôi lại gặp ông Đạo Dừa trong ngục thất Cần Thơ. Đầu tiên, tôi trông thấy ông, cũng như tôi, bị liệt kê vào thành phần tối nguy hiểm và bị biệt giam. Tức là nhốt trong co-nét, thùng sắt to tướng đựng đồ viện trợ của Mỹ hồi xưa. Mỗi người một co-nét. Nằm ngồi, ăn uống, ỉa đái -- xin lỗi độc giả -- cũng tại chỗ. Cửa co-nét đóng lại, mình một mình trong tối bưng, trơ trọi và... thối bung ! Không trông thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Không biết ngày tháng, thời khắc. Thỉnh thoảng mới được chúng mở cửa co-nét dọn dẹp vệ sinh. Ôi mừng ơi là mừng. Mừng trông thấy được ánh sáng. Trông thấy những vật cử động sao lạ mắt quá chừng ! Mới biết rằng mình còn sống ở nhân gian !
Bọn cai tù, bọn cán bộ, đối xử rất tàn nhẫn. Chúng ngoài miệng nói khoan hồng mà lòng thâm như rắn độc. Vô cớ cũng chửi rủa hạ nhục. Chúng như thể rửa hờn giai cấp bằng trút lên đầu kẻ sa cơ, thất thế dưới tay chúng. Chúng oán ghét ông Đạo Dừa vô cùng. Chỉ có ổng thản nhiên và coi thường chúng. Chúng càng đọa đầy ông bao nhiêu, ông càng quyết liệt và quật cường bấy nhiêu. Quyết không chịu thua chúng. Và lắm lần hành hạ ông mãi không xong, chúng phải chịu thua ông. Ông phản đối chúng bằng cách gõ cái ca uống nước vào cửa co-nét... xèng xèng... xèng xèng... có khi cả ngày không ngớt tiếng...
Tên lính gác bực mình quát hỏi :
- Làm gì om sòm thế ? Giờ này khuya rồi, làm thế ai ngủ được ?
Tiếng nói chậm rãi và rắn rỏi của ông Đạo Dừa đưa ra sau cửa co-nét:
- Cậu ơi, tôi thương cậu lắm...
- Tôi chả cần ông thương !
- Có ai ngăn trở được tình thương ? Cậu không cần tôi thương là quyền cậu. Còn tôi thương cậu là quyền tôi. Tôi thương cậu chỉ là một kẻ tay sai. Như thiên lôi, lịnh trên bảo đánh đâu là phải làm vậy thôi. Thương cậu chiến đấu mấy năm trời, vào sanh ra tử biết bao lần, rốt cuộc cũng chỉ là anh lính gác, thương cậu chức vụ bé nhỏ quá, không làm sao giải quyết nổi chuyện của tôi ...
- Nhưng ông muốn gì ?
- Thương cậu quá ! Cậu không giải quyết nổi, hỏi làm gì. Cậu kêu người lớn hơn cậu lại cho tôi nói chuyện.
- Giờ này mấy đồng chí cán bộ ngủ cả rồi.
- Tôi thương cậu quá ! Nhưng khỏi cần nói chuyện với cậu.
Ông Đạo Dừa lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ nhịp đều như tiếng mõ hồi một. Mấy người bạn tù gần đấy giật mình thức giấc, thì thầm bảo nhau :
- Cậu Hai lại tranh đấu nữa rồi Bọn quản giáo, cán bộ rồi đây khổ sở với cậu không ít !
Những người bị "học tập cải tạo" bất đắt dĩ ấy tuy phải làm lụng cực nhọc ban ngày, ban đêm cần giấc ngủ cho lại sức, song không phiền hà khi phải thức giấc vì tiếng khua lon của ông Đạo Dừa. Trái lại, họ rất thích cảnh ông Đạo Dừa chống báng lại bọn hung tàn giết người không gớm tay ấy. Chỉ có ông Đạo Dừa mới dám làm, mới không biết sợ, không khuất phục trước uy vũ. Ông gõ lon gọi mãi cho đến khi tên lính canh phải đi gọi tên cán bộ cai tù đến. Tên này quát tháo lên :
- Ông muốn gì ?
Giọng nói của ông Đạo Dừa từ trong co-nét đưa ra, mềm mỏng, ngọt ngào :
- Tôi thương chú cán bộ quá. Thương chú đang ngủ ngon giấc mà bị dựng dậy vì tôi. Nhưng đành phải gọi chú nửa đêm, nửa hôm như thế này là vì tôi bị... bỏ đói !
Bọn quản giáo, thường ngày hay sừng sộ, mắng chửi phạm nhân. Với ai dầu già lão, bạc phơ tóc trắng, chúng cũng gọi là anh, tức là tử tế lắm rồi. Song đặc biệt chúng lại gọi ông Đạo Dừa là ông.
Tên cán bộ bực tức bảo :
- Ai bỏ đói ông ?
- Không bỏ đói tôi, sao không cho tôi uống nước dừa ?
Tên cán bộ mở cửa co-nét, chỉ tay về ổ bánh mì và lon sữa :
- Không có nước dừa nhưng có bánh tây và sữa đây thôi !
- Tôi không ăn những thứ đó. Tôi chỉ uống nước dừa.
Ông trả lời rất quả quyết. Tên cán bộ cầm ổ bánh mì lên xem có bị cắn mất miếng nào hay chăng ? Lại bưng lon sữa xem xét tỉ mỉ. Hắn nghi ông Đạo Dừa giả bộ không ăn, nhưng kỳ thật đã nhấp nháp chút ít rồi giả bộ làm khó. Nhưng ổ bánh mì vẫn y nguyên, cả lon sữa cũng vẫn còn đầy. Mùi bánh và mùi sữa đưa vào mũi hắn, thơm ngon đến nỗi hắn phải nuốt nước bọt đến đánh ực một cái trong cổ họng. Hắn ăn no đầy đủ thế mà thấy ổ bánh và sữa ngọt bùi, béo bổ phải thèm rỏ dãi, thế mà lão già ốm nhom kia lại có gan cóc tía, đã đói rã ruột, vẫn chẳng thèm rớ tới.
Gã dằn ổ bánh mì và lon sữa xuống nền sắt co-nét, sầm nét mặt bảo :
- Ngon bổ thế này mà ông chê. Chả có thứ khác đâu !
Ông Đạo Dừa vẫn ngọt ngào :
- Tôi thương chú cán bộ ! Chú nhỏ chức quá, không giải quyết được vấn đề của tôi. Thương đã làm mất giấc ngủ của chú. Thôi chú về ngủ lại đi. Để tôi gọi cấp trên của chú. Tôi thương chú ít quyền quá !...
Và rồi ông lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ đến sáng vẫn không dứt tiếng. Tên trưởng trại phải đến gặp ông :
- Ông đòi hỏi chuyện ngoài luật lệ của nhà tù.
- Mấy chú bỗng dưng giam cầm tôi, giam cầm hàng ngàn người vô tội, có theo luật lệ nào không ?
- Mấy người có nợ máu với nhân dân. Còn ông là tay sai của CIA.
- Chú có biết CIA là thế nào mà mở miệng ra là buộc tội cho mọi người. Ai làm sở Mỹ là CIA ? Tiếp xúc với người Mỹ là CIA ? Biết tiếng Ăng-lê cũng là CIA ? Học thức một chút cũng CIA. Chỉ có bần cố nông mới không là CIA ? Thế hồi Việt Minh còn ở chiến khu Việt Bắc, có Mỹ trợ lực cho cũng là CIA ? Bác Hồ lúc ấy cũng CIA ?
- Này ông đừng nói bậy mà khốn !... Cứ nói đến việc ông kêu đói. Tại ông chê thức ăn đặc biệt của nhà tù cho ông dùng....
- Ê, không phải à. Thức ăn đó Tín hữu của tôi gởi cho. Tôi thương chú Trưởng trại nói sai. Cố tình bóp méo sự thật. Tín hữu của tôi sợ tôi bị bỏ đói chết nên mới gởi vào cho dừa nước, bánh mì, sữa ... Tôi không ăn bánh mì sữa, chỉ muốn nước dừa thôi. Tôi thương Trưởng trại không giải quyết nổi việc này, thì tôi gọi cấp Đảng ủy của quản giáo vậy!
Và ông lại gõ lanh canh... lanh canh.... Bọn cai tù nghiến răng căm tức lắm mà không làm gì đặng ông. Chúng không muốn ông bị chết đói để khỏi bị mang tiếng. Nhưng ông Đạo Dừa cũng biết như vậy, vẫn kiên trì mà sống. Như thể thi gan luôn cả đến cái chết. Trưởng trại và bọn quản giáo phải họp khẩn cấp. Dừa trái thì có sẵn do đệ tử của ông Đạo Dừa gởi vào, nhưng ai chặt cho ông uống? Lũ răng đen mã tấu chặt đầu người thì sành, nhưng chặt quả dừa đâu có biết ! Chúng đâu dám phát dao cho ông. Nhỡ ông lấy dao rạch bụng tự tử thì sao ? Bàn cãi mãi, chúng mới nẩy ý kiến tìm trong số tù gốc người Bến Tre ra chặt dừa cho ông. Chúng gọi anh NVA ra, bảo đem dừa đến cho ông uống. Anh này ngơ ngác, bảo :
- Tôi có biết chặt dừa đâu ?
- Anh là dân Bến Tre mà không biết chặt dừa ư ?
- Tôi chèo đò. Có vườn dừa đâu mà biết chặt.
Có anh TVT tình nguyện ra. Anh này trước có bán dừa, biết cách thức. Anh chỉ cần dựng đứng trái dừa, bổ ba nhát dao, chặt xéo nơi núm dừa thành tam giác, bật tung núm dừa ra, không một giọt nước sóng sánh ra ngoài. Anh bưng quả dừa đến bên ông Đạo. Tuy anh không phải là đệ tử, anh cũng cung kính bảo nhỏ:
- Cậu Hai uống đi để mà sống.
- Cám ơn em. Tụi này bạo phát, bạo tàn. Qua sẽ không sống đến ngày đó. Qua biết chúng quyết làm cho qua chết. Nhưng thể xác thời chết chứ tinh thần thời không !
Bọn Việt cộng hành hạ ông Đạo Dừa đủ cách. Chúng lôi ông ra để tắm rửa cho ông:
Ông ở dơ quá không chịu tắm rửa, không thay đổi quần áo, hôi hám kinh tởm quá. Lại chí rận, bọ chét cùng mình, lây bịnh nguy hiểm cho cả khám !
Chúng cầm vòi nước xịt vào ông. Nước xịt rất mạnh, làm ông té lăn lốc. Ông cố gắng bò dậy. Lại bị nước bắn tung người đi, lăn cuồng như bông vụ. Ông không hề rên rỉ, than van một tiếng. Vẫn gượng ngồi dậy, lại té lăn. Chúng cười ầm lên. Ông vẫn cương quyết không khuất phục. Bọn tù chúng tôi nhìn ông, xót thương biết mấy, và khâm phục ông không lời nào cho xiết. Ông bao giờ cũng ngẩng cao đầu không cúi luồn. Cả đời ông bị tù đầy cũng lắm, ông sợ gì lũ trẻ ranh muốn giết ông mà khỏi mang tiếng này ! Chả bù trong khám, biết bao kẻ xưa kia giầu sang danh giá, oai quyền hống hách, bây giờ khúm núm sợ sệt trước lũ cán bộ ngu dốt :
- Dạ bẩm thưa cán bộ, em lỡ lầm, lần sau không dám. Xin cán bộ rộng lòng tha thứ một phen.
Một điều dạ thưa, vâng bẩm, khúm núm, sợ sệt, như muốn thun người nhỏ bớt đi. Uốn lưng khòm cong lại, cầu an, tắc trách, thủ phận mình, quên đồng bạn. Lại còn một hạng khác, ti bỉ hơn, cam làm ăng-ten cho thù. Phản bạn, bội tình đồng ngũ, nghĩa bạn bè, để được một lời hứa sẽ cứu xét cho về sớm, hoặc được một vài ân huệ cỏn con... Ôi, điếm nhục !
Tôi nhìn gương can cường của ông mà lại xấu hổ cho mình. Mới bị tù đầy vài bận thôi mà tôi tưởng rằng hãnh diện lắm. Tù Pháp thuộc tôi có ở. Tù Nhật Bổn tôi cũng đã nếm mùi. Rồi lại tù Việt Minh vào măn 1945, lại còn hai năm vướng mắc trong nhà tù của chế độ trước vì chống nạn độc tài tham nhũng nữa ! Nay lại vào khám Cần Thơ, bị liệt vào thành phần biệt giam nguy hiểm, biết chừng nào được ra? So với các bậc cách mạng xả thân tranh đấu thời trước, tôi nào có ăn nhằm gì ?
Trừ lúc ở tù Việt cộng những năm ấy ra, cảnh ngồi tù Nhật Bổn là đáng nhớ nhất. Năm ấy 1942, tôi bị Hiến binh Nhật bắt giam ở "Chambre de Commerce" ở bến sông Sài gòn, sau này là Thượng Nghị Viện của chế độ trước. Vì tội rải truyền đơn chống thực dân, cả Pháp lẫn Nhật, mà bọn Hiến binh nghi tôi là gián điệp Trùng Khánh. Chúng giam vào phòng Thương Mại ấy, hai bên là chỗ giam người có song gỗ chắn trước mặt, chừa một lối đi ở giữa. Mỗi sáng, 7 giờ, tụi Nhật cho chúng tôi đem thùng vệ sinh ra đổ xong lại bưng vào căn phòng giam hẹp của mình. Chúng bắt ngồi xếp bằng, thẳng lưng lên, tay để nơi đầu gối, không được nhúc nhích. Sáng ngồi tới 12 giờ trưa, được nghỉ ngơi cơm nước. Cơm thì được phát một chén gạo Thái Lan dẻo như nếp, có nêm tí muối. Chiều 2 giờ ngồi đến 6 giờ mới được nghỉ ngơi, cơm nước như khi trưa. Tối lại phải ngồi từ 7 giờ đến 9 giờ mới có quyền nằm xuống. Khi ngồi, phải ngồi yên như pho tượng. Nếu mỏi mệt khom lưng, nghiêng quẹo người, hay lệch đầu qua bên là bị một côn gỗ gõ đánh cốp trên đầu như bị sét đánh, tá hỏa tam tinh! Đó là thằng đội Trâu, thân hình trùng trục như con trâu nước, đầu vấn khăn lông trắng, dưới bẹn thắt cái khố, đi qua lại nơi khoảng đường giữa, vai vác cây gậy gỗ tròn và nặng. Nó thường đập chẩy máu đầu tội nhân. Đấy là chỉ trừng phạt sơ sài về tội ngồi không thẳng thắn thôi. Còn khi bọn Nhật tra khảo để lấy lời cung khai thì thật kinh khủng rởn cả tóc gáy. Cứ hai thằng Nhật thân hình như hộ pháp quần một phạm nhân; vật, ném, tung, hứng... nạn nhân của chúng như quả bóng rổ ! Thường thì có máu đổ, nạn nhân chết giấc năm ba phen mới tạm được buông tha cho về khám. Khi ấy tôi còn trẻ, háo động, làm sao ngồi yên tĩnh như thế từ giờ này sang giờ khác được. Nên cũng đã nếm mùi côn gỗ bao nhiêu phen.
Một hôm tôi trông thấy có một con gián bò ở kẹt song gỗ. Tôi mừng như bắt được vàng. Có được một sự sống động dưới mắt. Trông nó chạy tới chạy lui, cũng đỡ buồn trong cảnh hoang lương, tịch mịch. Dầu rằng khít bên đó cũng có nhiều bạn đồng cảnh, nhiều pho tượng sống ! Tôi khi ấy chưa biết trầm tĩnh, nhẫn nhục của người luyện công tĩnh tọa. Dẫu có nén lắm, lòng vẫn xôn xao không định.
Đến nay, trông thấy ông Đạo Dừa nhẫn nại, trầm tĩnh và xem thường bạo tàn, vũ lực của chúng, tôi mới thấy đó làm gương cho mình. Quyết không ủy mị, buồn rầu, khổ đau, rên rỉ dưới bạo tàn. Ông Đạo Dừa bị xịt nước ướt loi ngoi, nằm im trong vũng nước lênh láng, da thâm tím lại. Nhưng một lát sau ông lại lồm cồm bò dậy. Lại ngồi xếp bằng ngay ngắn, ngẩng cao đầu. Trông thấy hình dáng gầy gò, ốm nhom của ông, da bọc trơ xương như cái xác ướp khô mà đôi mắt vẫn linh động, vẫn ảnh hiện tình nhân đạo, vị tha bao la ...
Ông thường chống đối bọn Việt cộng :
- Các anh mà cách mạng cái gì ? Cách mạng gì không biết thương dân, yêu nước, cam làm tay sai ngoại bang. Cách mạng gì mà giam cầm hàng triệu người vô tội ? Làm hằng triệu người tán gia bại sản, tan nát gia đình ? Làm cho sáu mươi triệu đồng bào phải rách rưới đói nghèo, không trông thấy ánh sáng hy vọng nào, một tương lai tốt đẹp nào. Thiên đường hứa hẹn của cộng sản các anh là hố thẳm muôn đời chôn vùi dân tộc !
Bọn chúng giam nhốt ông vào chuồng chó. Đó là một nơi nhỏ hẹp bên vòng rào, có mái thiếc che thấp, có giây chì gai bao quanh. Trước kia nơi đó nhốt chó nên có danh từ chuồng chó. Ban ngày nắng rọi xuống mái thiếc nung nóng như lò lửa. Đêm đêm về, gió khuya lạnh buốt như cắt da. Đến chó ở đấy còn chịu không nổi huống chi con người. Nhưng ông Đạo Dừa vẫn bền bỉ chịu đựng. Mềm dẻo như cây sậy giữa phong ba. Dầu cho cuồng phong, nghịch khí đến đâu, cây sậy tạm thời phải cong, phải ngả nghiêng, oằn oại trước bạo lực đàn áp hung tàn, nhưng không đổ gẫy !
Bọn Cộng sản chỉ muốn ông Đạo Dừa khuất phục chúng, thốt ra lời hứa hẹn với chúng không tranh đấu nữa, không chống đối nữa. Chúng chẳng những buông tha ông, còn cho ông những ơn huệ đặc biệt, hậu hĩ hơn người. Xưa kia, Pháp không mua nổi ông, Nhật không dụ dỗ ông nổi, Việt cộng nào đáng gì để ông nghe theo !
Cuối năm đó tôi bị chuyển trại. Khi đi ngang qua chỗ ông ngồi, tôi khẽ cúi đầu như chuyển lời nói qua tâm tưởng với ông:
- Cậu Hai ráng gượng sống...
Ông mỉm cười nhân hậu. Nụ cười ngậm ngùi vĩnh biệt!
Mấy năm sau, tôi được trả tự do. Không tội gì, mà mất tự do rồi được trả ! Và sau ba chuyến vượt biên cam go, tôi thoát ra được nơi vùng trời tự do. Nhờ vẫn đeo đuổi chí hướng phục quốc, tôi lê một giò qua nhiều nơi Âu, Mỹ, cả Á Châu. Khi đến địa phương nào có trồng cây dừa, tôi bất giác nhìn lên ngọn cây, liên tưởng đến ông Đạo Dừa. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thành Nam hiện ra mờ ảo trước mắt tôi. Gầy gò ốm yếu, tưởng chừng gió thổi cũng bay như ông, ngờ đâu lại có lòng sắt đá kinh người ! Tôi nghe như văng vẳng bên tai những lời nhỏ nhẹ của ông:
- Tôi thương mấy chú lắm, mấy chú Việt Cộng ơi. Mấy chú ngu dại lắm. Mấy chú không biết bạo tàn, bạo diệt ! Chỉ có nhân nghĩa mới trường tồn !
Năm 1988, tôi gặp một người bạn mới vượt biên sang, bảo rằng ông Đạo Dừa đã tịch ! Tôi bỗng nhiên cay xè mắt, đôi giòng lệ tiếc thương chan hòa ... Cộng sản Việt Nam phạm rất nhiều lỗi lầm đối với Quốc gia, Dân tộc, trong đó có sự giết hại nhà chí sĩ hiếm có Nguyễn Thành Nam. Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam là người trí thức cuối cùng đã hạ mình xuống tin tưởng vào thiện chí của Việt Cộng, dẫu sao cũng có lòng xúc động trước cảnh huynh đệ tương tàn... Nhưng ông đã mang mối thất vọng đấy xuống tuyền đài ...

Đến hôm nay, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, có một thiểu số trí thức thơ ngây cụ hoặc hoạt đầu, đang toan luồn lưng, cụp gối hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam bá quyền và ngoan cố. Các vị ấy có biết chăng đang vô tình nối giáo cho giặc ? Cùng a tòng vào tội phản dân, hại nước ? Xin hãy xem gương chiến đấu can cường của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam và vô số chiến sĩ cách mạng đã bị Việt cộng hãm hại chết, để làm đài soi lại lương tâm mình !
Kẻ hèn này, cùng đồng bào trong và ngoài nước, rất mong được vậy lắm thay !


Hoàng Ngọc Giao

Posted: Mon Apr 23, 2012 4:31 pm
by khieulong

Image

BẢN SONATE CHO MỘT NGƯỜI TỬ TẾ, NGÔ ĐÌNH LỆ QUYÊN
Kim Thanh


Tin dữ chuyển đến tôi sáng nay từ một anh bạn phương xa làm tôi rụng rời, như mỗi lần một người quen, già hay trẻ, tại Portland bất ngờ nằm xuống, không kịp nói lời từ giã. Huống chi Ngô Đình Lệ Quyên rời bỏ dương trần lúc 53 tuổi –còn quá trẻ đối với tôi. Trong một phút giây, tôi mong đó không phải là sự thật. Biết đâu ai đó đã đùa dai tung trễ lên mạng ảo một poisson d’Avril, dù tháng tư sắp hết. Đến khi Luật sư Trương Phú Thứ gọi điện thoại kiểm chứng với Ngô Đình Quỳnh và sau đó tôi lên mạng thế giới và có trong tay bài báo bằng tiếng Ý, thì nỗi hy vọng mong manh thật sự tan vỡ và sự đau buồn trong tôi lên tới tột độ.

Bàng hoàng như mất một người thân thuộc. O mon Dieu, mais pourquoi, pourquoi, pourquoi? Tôi thầm hỏi Thượng Đế và cho riêng tôi như một lời thở than, đột nhiên –như năm xưa khi đọc tin chị cô, Lệ Thủy, người bạn trẻ thuộc Nhóm Thanh Sinh Công, đã chết trong một tai nạn xe hơi cũng thảm khốc, cũng bất ngờ không kém– vang lên từ đáy tiềm thức trước nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Mặc dù tôi chưa hề một lần gặp gỡ Lệ Quyên, chưa hề thấy một bức hình nào của cô trước kia, chưa hề một lần nghe nhắc đến tên cô, ngoại trừ trong bản thảo hồi ký của mẹ cô, bà quả phụ Ngô Đình Nhu. Cô rời Việt Nam năm 1963, lúc mới bốn tuổi, một tháng sau khi cha và bác bị thảm sát bởi những bàn tay tanh tưởi mùi máu và mùi đô la, nên những người thuộc thế hệ già chúng tôi không thể biết cô. Chỉ hai hôm nay thôi, tôi mới được biết Lệ Quyên đã nhiều năm đặc trách giúp đỡ những người di dân khắp thế giới trong cơ quan Caritas của thành phố Rome, nơi cô đã sống hơn nửa thế kỷ thầm lặng dấn thân. Và đã chết trong một khoảnh khắc kinh hoàng. Nằm chết cô đơn giữa dòng xe xuôi ngược, giữa dòng đời như thản nhiên đến vô tình. Chết một cách bi thảm, trong vô vàn thương tiếc muộn màng của biết bao người không hiện diện sáng ấy trên đường phố Pontina, Roma.

Chúa ơi, tại sao, tại sao, tại sao? Tôi tự hỏi. Có câu giải đáp nào không cho sự bí ẩn phi lý này? Nếu người bị nạn không phải là con ông Ngô Đình Nhu, cháu Tổng thống Ngô Đình Diệm, em út của Ngô Đình Lệ Thủy sẽ chẳng ai thắc mắc gì. Có người trả lời, bằng cách so sánh dòng họ Ngô Đình với dòng họ Kennedy –cũng chịu nhiều oan trái tương tự. Phần tôi không nghĩ như thế. John F. Kennedy, những đồng lõa Mỹ và tay sai Việt Nam, năm 1963, rõ ràng là thủ phạm trực tiếp hay gián tiếp giết chết ba anh em nhà Ngô, gây ra những xáo trộn, khủng hoảng chính trị, quân sự, để cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của cả Miền Nam, mười hai năm sau. Thủ phạm làm sao có thể đồng hóa với nạn nhân? Rồi nữa, làm sao so sánh ba anh em nhà Kennedy với ba anh em họ Ngô Đình về tư cách và đạo đức cá nhân?

Những người căm ghét chế độ Ngô Đình Diệm, trái lại, ưa trích câu “ác giả ác báo” để giải thích tai nạn xảy ra theo quan niệm tôn giáo, đúng hơn theo thuyết karma (nhân quả) quen thuộc. Tôi cũng không nghĩ như thế. Lệ Thủy, Lệ Quyên, hoặc xa hơn John Kennedy Jr., đã làm gì nên tội, mà bị Trời “phạt” về những lỗi của người lớn, nếu có? Nếu thuyết nhân quả đúng, tại sao Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, hay Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot v.v..., những tên đại gian, đại ác nổi tiếng, đã giết hại biết bao sinh linh lại được chết già an lành, trong khi hàng trăm ngàn nông dân hiền lành, vô tội bị giết oan, chết thảm? Trời quả có mắt thật không? Gần nhất, những Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã nhúng tay sát hại hàng ngàn đồng bào ở Huế mà vẫn còn sống nhơn nhơn. Tại sao?

Mới đây, lần đầu được thấy những bức ảnh của Lệ Quyên, với đôi mắt sâu đen thăm thẳm, nét mặt cương nghị, phảng phất một nỗi buồn xa vắng, tôi chợt nhớ đến dáng vẻ kiêu hãnh và sắc đẹp bi thảm (tragique) tương tự của một nữ tài tử Hy Lạp đóng vai nhân vật Antigone trong phim cùng tên. Antigone (442BC), vở bi kịch bất hủ của nhà soạn kịch Hy Lạp lừng danh, Sophocle, kể những thảm họa phủ xuống Œdipe và gia đình bởi mệnh số khắc nghiệt và độc đoán. Nhân vật Antigone, cũng như Electre, Phèdre của kịch tác gia Euripide, và Hermione, Oreste, Pyrrhus... trong các vở kịch khác nữa mà Racine, thế kỷ XVII văn học Pháp, đã mô phỏng, đều là những nạn nhân của định mệnh nghiệt ngã dành cho con người yếu đuối, bất lực trước thần linh, những thế lực siêu hình, hoặc đam mê tàn bạo. Chỉ có cái chết hóa giải mọi oan nghiệt. “Evil strikes at it down the generations wave after wave, like seas that batter a headland...” (Bất hạnh dập xuống qua các thế hệ theo từng đợt sóng tiếp nối, như biển vỗ vào bờ đất cao...” (Sophocle, Antigone). Trong một bối cảnh khác, thi hào Nguyễn Du há đã chẳng viết cho những hồng nhan bạc phận: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” và về uy quyền tuyệt đối của Trời, thế lực trên cao:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Người Công giáo xem những bất hạnh trên đời là do sự Quan Phòng của Thiên Chúa toàn năng, là thử thách dành cho những người công chính, như ông Job trong Kinh Thánh đã phải chịu trăm bề đớn đau, tủi nhục.

Dù được cắt nghĩa thế nào, cái chết đột ngột của Lệ Quyên làm tôi vừa cảm thương vừa kính phục cô, vừa thấy hãnh diện về cô. Cảm thương, như Thúy Kiều ngày nào bên mộ Đạm Tiên không quen, khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Hãnh diện, vì cô được báo chí ngoại quốc nhắc đến trong tư cách người Việt Nam đến Ý quốc tỵ nạn chính trị từ bé, sau đó giữ chức vụ quan trọng trong Hội Caritas Roma, đã yêu thương, giúp đỡ tha nhân, và hết lòng thờ phượng Chúa. Kính phục, vì dù có bằng tiến sĩ Luật, mà bởi nhất quyết không chịu vào quốc tịch Ý, cô không được đi dạy đại học, và cô cũng chẳng cần. Kính phục, vì tuy lấy chồng người Ý cô vẫn đặt tên con là Ngô Đình Sơn. Một phụ nữ Việt Nam muốn mãi mãi giữ căn cước và bản chất Việt Nam –xin hiểu VNCH. Còn gì cao đẹp hơn? Cũng như mẹ và hai anh, cô chưa một lần nào trở về thăm cố hương bây giờ đang nằm trong nanh vuốt của Hận Thù, của Dối Trá, của Bất Công, của Tàn Bạo. Và cũng như mẹ cô, chưa một lần nói một lời, viết một câu hằn học kết án cá nhân những kẻ đã sát hại cha, bác, chú của mình. Cô đã quên và tha thứ tất cả.

Và như thế, tôi nghĩ rằng, trong bao năm sống kín đáo, khiêm nhường, lặng lẽ như một bóng mờ –không còn ai nhắc đến– giữa chốn bụi hồng lao xao, cô muốn chống lại, hoặc ít ra xoay đổi, định mệnh khắc nghiệt đè nặng lên gia đình, dòng họ, theo cách riêng của cô. Cũng như Antigone, theo cách riêng, khi đúng trước vua Créon, cãi lại lệnh cấm không được ai chôn xác người anh nổi loạn, Polynice, và qua đó, thách đố mệnh trời đeo đẳng trừng phạt gia đình Œdipe, cha nàng. Bị kết án tử hình, nàng ngẩng cao đầu và kiêu hãnh “xem cái chết như một điều tốt khi con người sống giữa bao nhiêu điều bất hạnh, khổ đau...” Những tưởng Ngô Đình Lệ Quyên, từ nay sẽ được giải thoát khỏi lời nguyền của định mệnh.

Ngờ đâu, định mệnh không buông tha. Và một sáng, đã gục ngã. Đầu hàng. Như một nữ nhân vật đích thực trong những vở bi kịch của một Hy Lạp huyền thoại mà tôi đọc say mê từ ngày còn đi học...

Tôi ca tụng và tiếc thương cô biết bao nhiêu cho vừa. Thôi, cô hãy ngủ giấc bình an ngàn năm, tự do từ đây, hỡi Lệ Quyên, Antigone của lòng tôi.

Portland, 17/4/2012
Kim Thanh

Posted: Tue Apr 24, 2012 4:45 am
by khieulong
Thuyền Viễn Xứ

Cám ơn NĐ Martin Đức. Bài viết cho biết lai lịch của bản nhạc nổi tiếng Thuyền Viễn Xứ
và chân dung của co-owner là nữ sị trẻ Huyền Chi thời bấy giờ.
Bài thơ thật hay, thanh thoát đượm nỗi buồn man mác của kẻ giong thuyền ra khơi,
trên sông bao la biết đâu là bến bờ, rộn ràng niềm nhớ cố hương....
Nếu không thì chỉ biết bài hát là của nhạc sĩ Phạm Duy.

H. Thanh

Những bóng hồng trong thơ nhạc

Chiều nay sương khói lên khơi...

Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ của Phạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...

Bạn thân của tôi, nhà báo Trần Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nên trong những lúc ngà ngà cuộc bia thường được đề nghị hát giúp vui (không đề nghị... cũng hát), và hầu như lúc nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”(Thuyền viễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làm xuyến xao tâm hồn người nghe, nói chi được thưởng thức tiếng hát của những danh ca như Thái Thanh, Sĩ Phú.
Image
Bìa bản nhạc Thuyền viễn xứ - Ảnh: H.Đ.N
Bài thơ của một cô gái

Thế nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy ai để ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầu thập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ở miền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổ lớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc: Phạm Duy, thơ: Huyền Chi.

Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một cô gái 18 tuổi:
Ra khơi sương khói một chiều
Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang

Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người

Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
Sau mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa

Lệ nhòa như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi

Hai bờ sông cách biệt rồi
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh
Ngàn câu hát buổi quân hành
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa

Biết bao thương nhớ cho vừa
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên đường... lại đi...
Image
Nhà thơ Huyền Chi năm 18 tuổi - Ảnh: tư liệu
Duyên văn nghệ

Tuy lời thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng...”.

Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.

Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.

Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ sinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).

Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...” (Thuyền viễn xứ).

Hà Đình Nnguyên

Posted: Thu Apr 26, 2012 2:58 pm
by quaichao
Lưu Đức Hoa được mời tham gia 'Iron Man 3'

Thiên vương Hong Kong được mời đảm nhiệm vai diễn bạn thân của "Người Sắt" Tony Stark trong phần tiếp theo của bộ phim bom tấn.


Nam diễn viên vừa giành giải Nam chính xuất sắc tại Giải thưởng điện ảnh Hong Kong 2012 có thể trở thành ngôi sao châu Á duy nhất góp mặt trong đội hình "Iron Man 3" của đạo diễn Shane Black.

Nguồn tin cho biết, ngôi sao điện ảnh Hong Kong được mời vào vai diễn nhà khoa học người Trung Quốc - bạn thân của Tony Stark (Robert Downey Jr thủ vai). Nhân vật của Lưu Đức Hoa sẽ sử dụng những vũ khí công nghệ mới giúp "Người Sắt" chiến đấu với thế lực xấu xuất hiện trong phần ba của siêu phẩm. Người Sắt là một nhân vật thuộc biệt đội siêu anh hùng của hãng Marvel, góp mặt trong bom tấn "The Avengers" sắp ra mắt khán giả Việt Nam vào ngày mai (27/4), một tuần trước khi khởi chiếu tại Bắc Mỹ.
Image
Thiên vương Hong Kong Lưu Đức Hoa. Ảnh: Asian.

Người phát ngôn của hãng Walt Disney cho biết, họ đang thương thảo với ngôi sao 50 tuổi. Cũng theo người phát ngôn của Walt Disney, Lưu Đức Hoa sẽ đồng ý tham gia "Iron Man 3" nếu như anh thu xếp được cả việc đóng phim và chuyện gia đình cùng lúc.

Lưu Đức Hoa và bà xã xinh đẹp người Malaysia Chu Lệ Thiên đang chờ đón đứa con đầu lòng. Xuất hiện trong một sự kiện mới đây, nam diễn viên cho biết, anh đang có một cuộc sống tốt đẹp và từ chối bình luận về những câu hỏi liên quan tới "Iron Man 3". Người quản lý của Lưu Đức Hoa cũng chưa xác nhận việc Thiên vương Hong Kong có tham gia phần tiếp theo của siêu phẩm Hollywood hay không.

"Iron Man 3" của đạo diễn Shane Black dựa trên loạt truyện "Extremis" của Warren Ellis. Phim dự kiến khởi quay tại Bắc Carolina, Mỹ trong tháng 5 tới, trước khi tiếp tục quay một phần tại Trung Quốc cuối mùa hè năm nay. Hãng Walt Disney sẽ phát hành "Iron Man 3" tại Mỹ vào tháng 5/2013. Một nguồn tin mới đây cho biết, Scarlett Johansson xác nhận cô không tiếp tục góp mặt trong "Iron Man 3".

Hoàng Anh

Posted: Fri Apr 27, 2012 2:37 am
by lengoi
Image

May mà có em



Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du. Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Khi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh, nàng đã tình cờ gặp Tân, thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn: “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống.” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.

Theo gia đình, Trang dự lễ mãn Khóa 22 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:

- Quỳ xuống, các sinh viên sĩ quan.

Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.

- Đứng lên, các tân sĩ quan.

Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai, họ đã phải bỏ biết bao tháng ngày gian lao, những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su... ngoài bãi tập.

Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.

Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người - sau khi xin địa chỉ Quỳnh- ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.

Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:

- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.

Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng vì tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer et le temps de mourir” (Một thời để yêu và một thời để chết) mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”

Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang... tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.

Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.

Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.

Lâu lâu, Tân gửi cho nàng gói mè xửng, chiếc nón bài thơ đánh dấu những địa danh chàng đã đi qua. Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.

Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ đại đội trưởng. Lần này, đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá phải trả cho một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt, và phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình, tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:

- Xin lỗi cô tìm ai?
Quỳnh lí nhí:

- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Úy Tân, Đại đội Trưởng.
- Cô là gì của Trung Úy Tân?
- Dạ! Vợ.

Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:

- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.

Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao, khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.

Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:

- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.
Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu nhưng nàng không nhận ra được một tin tức nào của Tân.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975, Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoa; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal, Canada.

Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
Phi cơ ở độ cao, Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:

- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.
Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.

Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.

Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.

Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả, nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.

Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:

- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.

Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.

Tân không còn tin ở mắt mình:
- Có phải Quỳnh của anh đây không?
Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
- Cô này là ai vậy con?
Tân trả lời mẹ trong xúc động:
- Thưa má, Quỳnh bạn con.
Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.

Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.

Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
- Thưa Bác, con ở Canada về. Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười, niềm vui trong ánh mắt:
- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó. Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản... Em lây cu... lây cưa... gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn, nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.

Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào. Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.

Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số. Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.

Quỳnh cũng kể cho Tân nghe, từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời. Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con. Riêng Quỳnh vẫn ở vậy.
“Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.”
Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm. Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát. Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:

“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”

Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm. Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.

Trời thật khuya. Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng. Chiếc giường ngủ trải chiếu bong. Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân. Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.

Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân, Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của nàng. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, và Tân ngắm cảnh Ao Bà Ôm. Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.

Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại, ăn nói hào sảng như ngày nào khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.
Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quý Quỳnh qua cách đối xử phải đạo của nàng! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân, đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.

Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời muốn Tân lấy nàng, Tân đã hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng, trước khi chấp nhận, Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ, có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.

Quỳnh cùng Tân dạo phố, không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.

Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.

Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.

Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
Trong quầy khám hành lý, nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.

Quỳnh mở dây kéo, mọi người đều ồ lên một tiếng ngạc nhiên, khi nhìn vào bên trong lớp lót nỉ đỏ. Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.

- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.

Sau một lúc bàn thảo, họ đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng cuả đám Hải quan. Nàng không thèm để ý, mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường.

Tường Lam

Posted: Mon Apr 30, 2012 6:25 am
by MatVit
KHÔNG DỄ GÌ QUÊN!

Lê thị Hoài Niệm


Nơi tôi ở, bên này bờ Thái bình dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân có hoàn toàn tự do từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “quốc hận tháng tư đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó. Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm thì các tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt. Muốn vậy, hầu hết phải mướn ca sĩ chuyên nghiệp ở Cali về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ quân lục VNCH ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?” hay “lâu đài tình ái” như cô ca sĩ NQ. chẳng hạn. Thật hết ý.

Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về tháng tư đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền trung, miền cao nguyên, những con đường kinh hoàng xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát, (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!).. Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm nhảy dù, điạ phương quân, nghĩa quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy và chạy!!!!. (?)

Người ta còn “sưu tầm” cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe, có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có …bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng ngài đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào …sát nách mà đám binh tướng yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm. Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan…, Hằng năm và hằng năm tiếp nối cũng không bao giờ kể hết chuyện.

Người ta hát những bài Nhớ về Sài gòn, Sàigòn niềm nhớ không tên, Sài gòn vĩnh biệt, nghe cũng buồn ray rứt, dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm đông như… đi chợ. Nhưng sao người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Saì gòn làm gì có trọn…tháng tư đen năm ấy ? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn, sau ngày “ mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận) tuyên bố đầu hàng!

Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh, đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khỏi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mời bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi , hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “ Em ra đi nơi này mất hết! ”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn ..lải nhải, tung hê!

Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là Thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy chính quyền lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng tư, như Nha trang thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “tháng tư đen”.

Ngày đó.

Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban mê Thuột, từ Phú bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày qúa giữa tháng ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.

Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển.

Một vài ngày cuối tháng ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,

Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơí giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang đã có một lớp người mới đến, họ “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ… làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính TQLC” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu hải quân? Chẳng ai dám ra đường nữa, trong số đó có tôi.

Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà con gái sẽ bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi…. tải đạn, nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn …, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên quốc lộ số một. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn, mặc dù cá nhân tôi đã có người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi.

Buổi sáng ngày một tháng tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham mưu, là một trong những thành viên của phái đoàn về Nha trang dự họp với tướng P mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi, cổng đóng, quân cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài, …, may quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một “ông quan lớn”.

Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, dù đã gặp được một người bạn phi công vừa từ Phan Rang hớt ha hớt hải chạy về tìm tôi, “năn nỉ” tôi phải đi di tản theo anh, vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi từ chối! .

Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ “trấn an” ba má và gia đình tôi, rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh quốc cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi biết đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để trấn an chứ họ cũng đâu biết gì hơn…,

Buổi xế chiều, một người anh họ đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Trung vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị thương nhẹ, tìm đường về nhà tôi. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét toáng lên: sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!

Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên: ai có con gái lớn tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó..

Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt dùm chiếc honda 50 phân khối của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, 3 chị em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có mảnh vườn trồng nhiều cây trái, với căn nhà nhỏ.

Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi phóng rất nhanh khi không có vật cản trên xa lộ, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..… và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường.

Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, thì nghe những tiếng kêu tên. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung tâm huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây.

Chia tay với quí anh, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “tháo chạy” mà không biết sẽ ..ra sao ngày sau????

Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda 90 phân khối, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng chẳng mấy ai chịu dừng lại để giúp đỡ người bị thương, có thể chết không chừng(?), đoàn người cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gì. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? hoá ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người…đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Buồn thật!

Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống, mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Nhìn ra đường, đoàn người vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy, đoạn đường này ngoài những khu vườn trồng cây với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng bảy…(?)

Mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền…mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên đường quốc lộ. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và ..chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa …. Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng trên đầu mộ.

Ngày 3 tháng 4, ba tôi vào gọi các con về lại nhà, và ông hú hồn, vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó. Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể …cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để ..hãm hiếp, về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường….Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi…

Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “tháng tư đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố, những chiếc xe kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc, trên xe ngụy trang đầy lá cây xanh, người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn bọn “khỉ rừng xanh” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện ăn mừng chiến thắng (?).

Những giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình, nhất là những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối. Mặc dù người thành phố đã …cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.

Thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng tư đen đúng nghĩa. Thành phố hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập….giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe, đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang…..

Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom thành phố, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ “Mặt trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh ra rả loan tin “quân Mỹ Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Mỹ Ngụy ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “cán bộ xây dựng nông thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi đi, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện, bị “cách mạng dẫn độ” về T.Hoà và “chặt đầu” không chút nương tay, ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để ráp lại cho nguyên vẹn hình hài. Người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội’ bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương.

Dù không dám ra đường, nhưng những người như chúng tôi, cứ khoảng hai giờ chiều là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, hoặc khu Đại điền xin ngủ qua đêm, nhất là những gia đình có “hầm trú ẩn”, vì cha mẹ già sợ bom đạn từ máy bay “Mỹ nguỵ” của đám “giặc lái” trở về thả bom ban đêm, tai bay hoạ gửi chẳng biết đâu mà tránh. Nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Nguỵ” không còn trở lại thăm viếng tặng bom.

Hỡi ơi! Khi …cuốn gói chạy, những người có thẩm quyền đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người “tị nạn” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học vì quả đạn trúng sập căn phòng .

Trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc vì đường vắng đến lạnh người, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp đó thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng…..

Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua, những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của tháng tư đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô phải đến trường, nhưng có lúc chưa đi đến trường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của Mỹ Ngụy tại phi trường Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…” thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng.

Ôi tháng tư đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó, cho đến một ngày cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của phe thắng trận với “đại thắng mùa Xuân”!. Những ngày ăn cơm độn, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu, lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn….., những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….

Houston 30-4-12