Posted: Sat May 24, 2008 2:56 am

30 năm sau chiến tranh, nhiều thay đổi nhưng chưa đủ
May 23, 2008
Trong một bài báo của ký giả Duncan Currie viết trên tờ Weekly Standard trong tuần qua đã nhận định về Việt Nam sau 33 năm chiến tranh. Tác giả cho rằng nếu có một người đến Saigon hay Hà Nội ngày hôm nay, và không biết một tí gì về lịch sử kể từ năm 1970, sẽ cho ngay rằng miền Nam đã thắng cuộc chiến.
Hai thành phố này có tất cả các cửa tiệm thời trang với các nhãn hiệu nổi tiếng của Luân Đôn và Venice, và có nhiều khả năng tồn tại ở thương trường trong nước hơn cả Luân Đôn lẫn Venice. Bài báo viết mặc dù nhỏ hơn Trung Hoa rất nhiều, và do đó ít được quốc tế chú ý đến hơn, Việt Nam đã trở thành một trong nhiều câu chuyện thành công lớn về phát triển kinh tế của thế giới. Trong vòng hai thập niên qua, Việt Nam đã tự chuyển đổi từ một tình trạng đói nghèo vô vọng thành một con cọp Á Châu cường tráng. Giới lãnh đạo có vẻ háo hức muốn khuếch trương nền ngoại thương (Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Mậu dịch Quốc tế hồi năm ngoái), đẩy mạnh các cơ hội đầu tư và hỗ trợ kinh doanh tư nhân. ông Daniel Griswold là một phân tích gia thuộc Học viện Cato Institute cho rằng Việt Nam đang chạy đua để càng ngày càng giống Hoa Kỳ hơn. Trong vài năm vừa qua, ngành công nghệ thông tin đang phát triển nhanh chóng đã đóng một vai trò chính yếu trong việc thu hút nguồn vốn nước ngoài và khích lệ cho việc mở rộng thêm tự do. Theo ông Carl Thayer, một nhà nghiên cứu về các vấn đề Việt Nam ở Đại học New South Wales thuộc Học viện Quốc phòng Úc Đại Lợi cho rằng đi về phía trước Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng, mở rộng, và mở rộng. Việt Nam vẫn còn là một quốc gia đang phát triển với các vùng nông thôn nghèo nàn rộng lớn.
Nhưng sự tiến triển lâu dài của Việt Nam thì đặc biệt khác thường. Mới đây nhất là vào năm 1993 58% dân số còn sống trong cảnh nghèo đói, Ông Malcolm Gillis, chủ tịch hội đồng quản trị Vietnam Education Foundation nói người ta có thể nhìn thấy sự thất bại thê thảm của hệ thống kinh tế tập trung theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Nay thì người dân Việt Nam thích ứng khá tốt với chủ nghĩa tư bản. Dù là khi các gia đình giàu có đi ăn uống ở các nhà hàng sang trọng, các thương gia mua xe cộ đắt tiền, hay những người khá giả đi mua sắm các món đồ xa xỉ, thì cái tính thích tiêu thụ rõ ràng là rất phổ biến, đặc biệt là ở Saigon và Hà Nội, và người Việt Nam bây giờ rất ưa thích nước Mỹ. Hầu hết mọi người Việt Nam đều không có ký ức thật sự về chiến tranh. Nhưng họ cũng nhận biết rằng việc đầu tư của Hoa Kỳ đã giúp đất nước họ như thế nào, trong khi giới trẻ Việt Nam có vẻ rất đam mê nền văn hóa phổ thông của người Mỹ. Cựu đại sứ Burghart từng nhận định rằng hiện bây giờ Việt Nam là một trong những quốc gia ưa thích người Mỹ nhất trong vùng Đông Nam Á. Dù vẫn còn những người cay đắng của chế độ Cộng sản cũ, nhưng đây chỉ là một tỷ lệ rất nhỏ. Ông nói chừng nào mà nhà nước Việt Nam còn tiếp tục là một chế độ độc tài đảng trị ngược đãi các nhà đấu tranh dân chủ, các nhà báo tự do, tín đồ các tôn giáo, và các thành phần dân tộc thiểu số, thì tiến trình tăng cường quan hệ song phương với Hoa Kỳ sẽ còn bị cản trở. Hà Nội biết rõ điều này, và trong những năm vừa qua đã có nhiều bước tiến để làm dịu bớt những mối quan tâm của Hoa Kỳ. Trong cuộc thăm dò về tự do trên thế giới, tổ chức Freedom House đã cho Việt Nam hạng điểm thấp nhất về các quyền tự do chính trị và hạng điểm hàng thứ 3 thấp nhất về tự do dân sự. Hạng điểm sau đưa Việt Nam đứng trên Trung Quốc nhưng đằng sau Mã Lai Á, Tân Gia Ba và Thái Lan. Nói chung thì Freedom House phân loại Việt Nam là một nước không có tư ï do.
Mặc dù phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam rất dũng cảm, nhưng hàng ngũ vẫn còn nhỏ bé. Theo ông Carl Thayer, có một nhóm người đáng kể ở Việt Nam vẫn sợ hãi cái gọi là diễn biến hoà bình, và vẫn còn một cặn bã tư tưởng chưa chịu biến mất. Ông Carl Thayer nhấn mạnh rằng Đảng cộng sản không được thống nhất cho lắm, với một số đảng viên có vẻ thông cảm với sự mở rộng tự do hơn những đảng viên khác. Khi nền kinh tế thay đổi, thì càng ngày sẽ có càng thêm nhiều người gia nhập vào tầng lớp trung lưu và hàng ngũ các nhà tư doanh sẽ tiếp tục lớn mạnh. Ông Thayer lập luận rằng những người này sẽ đòi hỏi có một tiếng nói trong việc đưa ra các quyết định chính trị. Và chế độ không thể từ chối lời yêu cầu của họọ. Trong một bản tường trình mới đây về Việt Nam, một thông tín viên của tờ Economist là ông Peter Collins đã viết rằng ôngay cả khi nhà nước để yên cho một số lớn các ảnh hưởng thâm nhập vào từ bên ngoài, họ vẫn cố giữ độc quyền kiểm soát tất cả mọi thứ về chính trị văn hóa. Cũng như ông Burghardt phải nuối tiếc mà nói rằng việc cải cách chính trị thật sự ở Việt Nam sẽ còn rất chậm chạp.[/align]



