Page 14 of 39

Posted: Tue Jan 03, 2012 1:52 am
by khieulong
Cao Tần, thơ người di tản buồn
Nguyễn Mạnh Trinh
Cao Tần Là một thi sĩ xuất hiện một cách bất ngờ trong thời điểm vô cùng đặc biệt. Lúc đó, là những năm đầu kế tiếp sau cuộc di tản của mấy trăm ngàn người Việt lưu lạc sang xứ người. Trong hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc sống xa lạ, khởi đi từ những nỗi niềm mang theo, văn chương ở hải ngoại đã nảy mầm từ những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau một cuộc đổi đời. Cao Tần là một nhà thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là một nhà thơ nổi bật nhất trong thời kỳ ấy. Vốn là một nhà văn đã thành danh ở Việt Nam và cũng là một ký giả có lối viết phiếm luận sắc bén, thơ Cao Tần đã được để ý từ những bài thơ đầu tiên.

Năm 1977, gần hai năm sau ngày 30 tháng tư năm 1975, trên tờ báo Bút Lửa có đăng mấy bài thơ của một thi sĩ danh tánh lạ hoắc ký tên Cao Tần. Những bài thơ ấy mới xuất hiện đã nổi bật ngay và gây một hiện tượng xôn xao cho độc giả. Nhiều người liên tưởng tới như những bài thơ của T.T Kh. đã tạo thành một nghi vấn cho văn học Việt Nam mà còn mù mờ chưa rõ ràng .Quả thực những bài thơ trên Bút Lửa ấy đã gây kinh ngạc cho độc giả. Mãi về sau này, mới biết Cao Tần là bút danh của nhà văn Lê Tất Điều hay nhà báo Kiều Phong, một người đã là một cây bút quen thuộc của hai mươi năm văn học miền Nam…

Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông. Di cư vào Nam năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975. Trước khi di tản ông là một nhà giáo và cũng là một ký giả ở Sài Gòn. Đã xuất bản truyện dài Đêm Dài Một Đời đã đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, và các tập truyện ngắn Khởi Hành, Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc, Phá Núi, Người Đi, Những Giọt Mực.

Lý do mà những bài thơ đầu tiên mang tên Cao Tần được chú ý thật là giản dị. Bởi tâm sự của Cao Tần khi làm thơ cũng là tâm trạng chung của những người Việt di tản lúc ấy. Với ngôn ngữ vừa bi hùng vừa tha thiết, diễn tả lại một tình trạng tâm lý của những người còn xa lạ với cuộc sống mới và tiếc nuối những tháng ngày của cuộc đời xưa cũ. Lúc ấy, một nền văn học lưu vong đang dần dần hình thành. Ở những ngoái nhìn quá khứ và băn khoăn từ những bước chân đi đến tương lai. Ai mà chẳng cùng chung suy tư và ở những câu thơ Cao Tần lại gợi lên từ tâm cảm yêu nước nhớ nhà và ngôn ngữ mẹ đẻ đã thành thân yêu vô cùng trong những ngày bắt đầu tạo dựng một cuộc sống mới ở xứ người..

Có lẽ hồi trước 1975, nhà văn Lê Tất Điều cũng không làm thơ và sau này khi loạt thơ Cao Tần chấm dứt ông cũng ngưng làm thơ. Tại sao ông chỉ làm thơ trong khoảng thời gian đó?

Có lẽ chỉ có một mình tác gỉa mới có thể trả lời câu hỏi khó này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA do Mặc Lâm thực hiện thì ông giải thích

“Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều..”

Nhà văn Võ Phiến có viết đại ý là Cao Tần làm thơ như người kể chuyện và đó chính là một yếu tố để thơ ông gần gũi với cuộc sống hơn và tạo sự chú ý của độc giả.

Trong bài đề tựa tập thơ Cao tần do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, nhà văn Võ Phiến nói rằng thơ của Cao Tần kết cấu như truyện và là những truyện ly kỳ nữa nên gợi được sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc. Và ông nêu ra vài thí dụ bài thơ Kho tàng kể về chuyện của một anh chàng tị nạn Cù Lần..

Nội dung của bài thơ cũng chỉ là một anh chàng tị nạn lúc nào cũng kè kè bên mình một cái túi không một phút nào rời xa. Bạn bè tưởng là anh chàng biển lận nên đè anh ta xuống để mở cái túi bí mật kia ra. Và cũng chẳng có gì ngoài một lạng vàng, chiếc khăn tay và những danh thiếp cũ. Nhưng là cả một kho tàng của một người di tản và nhắc lại người và cảnh đã xa. Vàng thì nhắc đến người mẹ:

“.. miệng túi mở ra kho tàng rơi tung toé
một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ
một đứa hét “vàng này thằng em bé
không mại đi mày tính để đem thờ
“Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục
ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô
còn cục này tàn đời ông cóc bán
lúc lên đường bà cụ dúi tay cho”


Còn khăn tay thì nhắc đến người vợ bây giờ đã xa cách ngàn trùng:

“ ..một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt
mầu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh

“ giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt

“ Khăn vợ tao trao ngày khoác áo nhà binh”


và những tấm danh thiếp, ôi những tấm giấy làm nhớ lại những tên đường những tên người đã vào xa xưa:

”đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ
những tên người tên tỉnh đã xa xưa
những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ
những đường quen không trở lại bao giờ

…Với danh thiếp những tên đường đã đổi
những số nhà chớp mắt đã tang thương
những chốn hẹn ngàn năm không trở lại
những tên đời tơi tả khắp quê hương.”


Đọc xong bài thơ này chúng ta thấy thế nào?

Phải nói là rất xúc động anh Trinh à! Nhưng có khi chỉ cảm thấy thôi chứ diễn tả ra cái hay thế nào thì khó lắm. Phải có một lúc , đợi xúc cảm lắng xuống thì dễ dàng để thất bài thơ này độc đáo ra sao..

Chúng tôi cũng như những độc giả khác, chỉ cảm thấy rung động thôi và cũng phải loay hoay suy nghĩ để may ra có thể tìm được những điều mà mình cho là tâm đắc và tuyệt diệu. Bài thơ sống động quá với những ngôn ngữ đời thường mô tả những cuộc đối thoại chuyên chở được ý tình mà tác giả muốn đề cập đến. Có một chút diễu cợt nhưng chỉ là cảm giác thoáng qua để thay vào đó là sự thương camû. Chỉ một túi nhỏ tầm thường của người di tản vỏn vẹn có thế mà sao lại coi như một kho tàng vô gia được ? . Bởi vì những vật thể này không còn đơn thuần là vật thể nữa mà nó chứa đựng cả một trời quê hương và nhắc lại những người thân đã xa và những nơi chốn đã khuất biệt. Câu chuyện kể bằng thơ chỉ giản dị như thế nhưng lại gây ra sự xúc động đến vô bờ cho người đọc. Bởi nó đánh động đến tâm sự chung nên đầy ắp những chia sẻ…

Một bài thơ khác mà nhà văn Võ Phiến nhắc đến như một bằng chứng đơn cử cho lập luận của mình. Như bài” Ta làm gì cho hết nửa đời sau”.Hình như đã có nhiều người lưu vong thốt lên lời nói đó mỗi khi bị ray rứt vì chuyện nước chuyện non..

“Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
gánh sơn hà toan chất thử lên vai
chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
dọn tinh thần cưa nhẹ đỡ vài chai..”


như trong một cơn đồng thiếp, một chàng hào hùng;

“một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
nay đất khách léo lê đời rất nản
ta tính sẽ về vượt suối trèo non

sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động
những hùm thiêng cựa móng thét rung trời
và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy
và cờ bay trên đất nước xinh tươi..”


Và một chàng khác,thì lại muốn làm tượng thần tự do hỏa thiêu thân xác chính mình để làm đuốc soi đường cho những oan hồn bị trầm luân trong đáy nước bao la:

”Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
thần tự do giờ đứng ở nơi nào?
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao

Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh
Ta tiếc gì năm chục ký xương da
Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
những oan hồn ai bỏ giữa bao la”


Và kết cuộc, chỉ là một cơn say, một tỉnh dậy giữa nỗi buồn của những người thấy mình

bất lực giữa thế thời, mộng ước lớn mà bàn tay thì qúa nhỏ:

”..sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau.”


Thật là cảm khái. Thật là cay đắng với những nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời lớn lên và trưởng thành trong những nghiệt ngã của đất nước chiến tranh. Thực trạng sao buồn quá! Câu hỏi như một tiếng than…Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…Những thân phận lưu vong. Những nỗi niềm nhược tiểu.

Mỗi người tị nạn đều mang theo những kỷ niệm trong ký ức. Có những người vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Có những buồn phiền . có những ray rứt. Nhà thơ Cao Tần có bài thơ nào diễn tả tâm trạng ấy trong nhiều bài thơ. Chúng ta thử đọc bài thơ Chốn Tạm Dung xem. Bản thân tôi đã sống ở đây ba chục năm, thế mà có lúc cũng có những nỗi niềm trống vắng như thế.Thơ nói lên tâm cảm của những người nhiều khi thấy mình bơ vơ giữa cuộc sống và kỷ niệm của nơi chốn xưa của đời sống cũ vẫn cứ bàng bạc hiện hữu:

“nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi
buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc
sau lưng sương ngập cao lưng trời
trước mặt thông sầu reo đáy vực

bắt đầu ngày bằng một chút vui
hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch
bài ca quen bỗng chợt quên lời
chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi

tiếng Việt trong ta ngày bỗng héo
hồn Việt trong ta ngày mỗi khô
dốc mở như đời ta trước mặt
sương kín như đời ta năm xưa..”


Một ngày qua một ngày. Ra đi khi lúc vừa mờ sáng và trở về khi phố đã lên đèn, khúc ca sầu xứ mãi mãi ám ảnh. Trải qua bao nhiêu cuộc đổi dời. Bao nhiêu là nỗi muộn phiền . bao nhiêu là ray rứt. Người tị nạn có một mẫu số chung, của khởi hành đi vào cuộc đời mới với tất cả năng lực của mình nhưng vẫn canh cánh bên lòng nhớ mong về quê hương đất nước:

“chiều về lên dốc thân tơi tả
một quả hoàng hôn phủ kín trời
mình mới ngoi lên ngày đã ngả
đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi

giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn
còng lưng gánh nốt đời lưu lạc
nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.”


Cái độc đáo của thơ Cao Tần là dùng những ngôn từ thật sống động , những ngôn ngữ tạo nhiều hình ảnh như: kỷ niệm còm“, như “quả hoàng hôn”, như “mất khơi khơi”. Xử dụng những ngôn từ ấy thành thơ chinh là một dụng công để thi ca có máu huyết xương thịt của đời sống thực, của suy nghĩ thực…

Người tị nạn tuy hôi nhập vào dòng chính nhưng vẫn còn ám ảnh bởi quê hương cũ của đất nước xưa. Có một lúc nào thơ Cao Tần biểu lộ tâm cảm ấy .

Đọc bài thơ Cảm Khái chúng ta nhận ra ngay lập tức.Tấm thẻ căn cước , tờ chứng chỉ tại ngũ nhắc lại một thời xa xưa.Một cách hóm hỉnh pha lẫn đau xót,tác gỉa nhận thấy hình như những tấm hình trên căn cước đều lam nhem xấu xí , không biết có phải là số phận tiền định xui khiến như vậy:

“hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
tên chụp hình như một lão tiên tri
triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
cùng đến một ngày gãy đổ phân ly

nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ
chợt nhớ câu thơ Gãy cánh đại bàng
ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
muôn anh hùng phút chốc hóa tang thương..”


và những câu cảm khái mà chúng ta trong những ngày lưu lạc thường hay thấm thía:

“Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám
người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
mày lang thang đất lạ đến bao giờ

Oâi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Oâi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ.”


Có người nhận xét rằng mỗi bài thơ của Cao Tần đều mang theo một thông điệp gửi gấm cho người cùng cảnh ngộ và gửi trả lại quê hương. Trong hai mươi bài của tập Thơ Cao Tần, hình như hầu hết các bài đều diễn tả được một tâm sự đặc thù của người bỏ xứ ra đi.

Thư Quê Hương là

“Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
anh sẽ đọc đất trời ta đã thở..”


Chuyện Thần Tiên là:” Ta muốn điều chi cuối đời lưu lạc

Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta

‘”hãy đem hết những đổi đời tan tác
gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”


Chiều Bát Phố la

”Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố
Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau
Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ
Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu

Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ
Khi đi có chào may bớt xót xa
Ơi xóm mưa ơi có khi nào đổi kiếp
Tôi về thành chim hót trước hiên nhà.”


Mai Mốt Anh Về là:

”nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
Ông anh hùng ông cứu được quê hương
Ông sẽ mở ra ngàn lò cải tạo
Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm
Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”


Và còn nhiều bài thơ khác với những ý tưởng khác, thông điệp khác. Giở từng trang thơ, để thấy những ngôn ngữ linh hoạt, những chữ lóng, những ngôn từ dân giã, tất cả làm nổi bật một phong vị có lúc như diễu cợt, có lúc như ngông nghênh, mà có lúc là tình cảnh “ở ngoài cười nụ ở trong khóc thầm”. Người tị nạn đã trải qua những đoạn đời, đã qua nhiều nghịch cảnh, sẽ thấy thấm thía biết bao nhiêu với tâm cảm người thơ. Nếu nói thơ Cao Tần là biểu hiện sống động một thời kỳ của người Việt di tản đầu tiên thì cũng chưa đầy đủ mà phải nói rằng thơ Cao Tần đã làm hồi sinh lại một thời đại văn học lưu vong ở hải ngoại. …

Posted: Wed Jan 04, 2012 4:58 am
by khieulong
Image

Đêm Giã Từ Hà Nội
Mai Thảo

Phượng nhìn xuống vực thẳm.
Hà Nội ở dưới ấy.

Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.
Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.
Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.
Phượng nhìn xuống lòng đường. Trong bóng tối, mặt nhựa lầm lì không nói gì. Những hình cây đổ nghiêng trên những tấc đất đá câm nín. Bí mật dàn ra những bề phẳng, những đường dài như một dòng sông ngăn chia hai bờ, và Phượng đã đứng ở bên này mà nhìn sang một bờ bến bên kia. Bên kia có Hà Nội. Bên này có anh. Có tập thể. Có những bạn đường. Có một chuyến đi về Hà Nội.
Chung quanh chỗ Phượng đứng, những tảng bóng tối đã đọng lại trên bờ đường như những bờ hầm hố. Nhìn xuống, Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao. Anh nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.
Anh nhớ đến Thu. Thu cũng còn ở dưới ấy, trong Hà Nội. Cái mái nhà cũ kỹ bên kia, chính là mái nhà Thu, lại cũng chính là ở bên ấy, Thu sẽ đến với anh, ở bên này. Từ một mái nhà của Hà Nội đêm nay, đến bờ đường anh đứng, chỉ có một đoạn ngắn, nhưng Phượng biết rằng đêm nay, nó chứa đựng tất cả ý nghĩa của một đoạn đời. Và Thu, Thu phải đặt cả đời Thu vào một chuyến đi, thì Thu mới vượt được đoạn đường ngắn ngủi ấy, và Thu mới sang được với anh. Như anh, như hàng nghìn hàng vạn con người Hà Nội đêm nay, Thu sẽ ở lại hay sẽ vượt lòng biên giới cũ. Giữa những phút giây Hà Nội đang rắn lạnh lại trong chuyển đổi chính thể đã bắt nguồn, đứng bên này đường, Phượng mới cảm thấy rằng ở bên kia Hà Nội, Thu đã ở thật xa anh. Cái cảm giác ớn lạnh mỗi khi anh đứng trước một dòng sông lại nổi lên. Con sông biên giới đêm nay lại hình như con sông Hồng chảy qua một bờ Hà Nội. Trong Phượng, sóng lòng của chuyển dịch chưa kịp nổi lên mà những ngọn sóng của dòng sông cũ đã nổi dậy. Âm thanh oà oà. Lòng đêm Hà Nội chứa đựng những tiếng đổ vỡ đang xô chen trong bóng tối đặc quánh.
Qua bóng tối, Phượng nhìn thấy những hình khối của Hà Nội bên kia: một cửa ô đoạ đầy. Một hàng mái cũ. Những lớp phố phường sa đoạ. Những ánh đèn nhạt tái trên những bờ tường câm đen. Bóng tối chính thể đổ xuống làm nghiêng ngả những sự kiện này.
Bên kia, Hà Nội vẫn đang lặng lẽ đổi màu. Người Hà Nội dựng cửa tắt đèn để mà đổi thay trong bóng tối. Phượng thấy thương Hà Nội. Thương những người Hà Nội. Những người còn ở lại dưới những hàng mái cũ kỹ kia vì những vướng bận đau khổ.
Đêm khuya dần. Từ một cửa ô, Hà Nội bắt đầu ngây ngất dấy lên những ngọn gió núi rừng thổi về. Gió rừng hoang về qua cửa ô, đi thẳng vào tâm can của người Hà Nội. Ngọn gió tiền phong này đến trước chính thể, đang lọt dần qua cửa ô Yên Phụ, Kim Liên như một điển hình của hoang lạnh rộng lớn. Cả Hà Nội run lên, tê đi. Trước phút bỏ đi mà Phượng cũng như giá buốt cả cơ thể. Hà Nội đã bắt đầu đón nhận ấn tượng. Ngày mai, Phượng ở miền Nam rồi, Hà Nội sẽ phải còn đón nhận những sự kiện, những con người bên ngoài. Sau ấn tượng hoang vắng đêm nay, sẽ là sự thật tàn nhẫn ngày mai. Nhưng chỉ đón nhận ấn tượng, Phượng cũng đủ thấy Hà Nội không còn gì. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Bên kia như Đêm. Như Bóng tối. Như Sa đoạ. Như Tù đày.
Trên đầu Phượng, những ngọn lửa nhìn xuống. Ấy là những con mắt đau yếu của một Hà Nội không ngủ. Những ánh lửa tròn, nhợt nhạt, bé nhỏ, bị giam chặt giữa bóng tối. Phượng nghĩ đến những vì sao xa xôi đứng chết ở một góc trời cũ. Hệ thống ánh sáng Hà Nội đã hết bay múa. Bóng tối dềnh lên những đường lung linh. Từng điểm lửa gục đổ. Đêm nay, Phượng chỉ còn mong chúng có đủ ánh sáng để soi đường cho Thu đến được với anh. Phượng chỉ còn mong có thế thôi. Vì anh biết ngày mai những điểm lửa ấy sẽ không sáng nữa. Hà Nội sẽ không sáng nữa.
Buổi chiều, hồi năm giờ, gặp Thu ở cuối nhà Thuỷ Tạ, anh đã nhắc Thu đến một ngả đường. Đúng hơn đến một chuyến đi. Anh lại nhắc cả Thu đến một hạn định: Hôm nay là ngày cuối cùng người ta được tự do rời khởi Hà Nội.
Phượng bảo người yêu: “Hôm nay đã là ngày chót rồi, Thu ạ! Mười hai giờ đêm nay, chuyến xe cuối cùng sẽ đi qua cầu Long Biên. Anh sẽ đi chuyến ấy. Việc lớn việc nhỏ, anh đã thu xếp tạm yên cả rồi. Chưa yên hẳn, nhưng cũng đành vất bỏ hết. Việc đi khỏi Hà Nội trước hạn định cần hơn. Anh sẽ đến đợi em ở đầu phố tối hôm nay. Chúng mình sẽ cùng vào trong Nam”.
Phượng nói vắn gọn có thế. Bao nhiêu lần gặp trước, kể từ ngày có hiệp định chia đôi, anh và Thu đã bàn với nhau nhiều. Bàn đi bàn lại, nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra sao cả. Vấn đề chỉ mới giải quyết xong về phần anh thôi. Trước sự lựa chọn một thái độ và trước những mưu toan xây dựng một cuộc sống tay đôi ở bên kia vĩ tuyến của hai con người cùng gắn bó đến những cái cao đẹp của đời sống, những gió bão của chiến thời ở đây lại có thêm những thảm trạng của đất nước bị chia rẽ. Sự ngăn chia đến cả từng cuộc đời. Đất nước ngăn cách làm hai miền, thì những cuộc đời cũng chia về hai phía. Như đêm và ngày. Bên này, bên kia. Biên giới oán thù dựng lên ở giữa.
Cho đến nay, Thu vẫn chưa quyết định. Thời hạn được ấn định cho di chuyển trong khu vực Hà Nội cứ vợi mãi trong phân vân lưỡng lự của người thiếu nữ. Phượng cũng hiểu cho người yêu. Anh khác, Thu khác. Cuộc sống mấy năm gần đây của anh trong Hà Nội cứ an định một chỗ, chỉ một ngụm gió nổi lên là cũng đủ đưa anh ra ngoài cửa ô. Di chuyển là một cần thiết cho đời sống của Phượng trong ngày cũ, bây giờ lại là một hành động của tự do. Cứu cánh của người Hà Nội hôm nay nằm trong sự thoát khỏi phố phường cũ.
Nhưng Thu, Thu chỉ là một người đàn bà. Vây quanh lấy đời Thu, Phượng cũng đoán thấy không biết cơ man nào là những sợi dây nối kết cuộc đời của Thu với Hà Nội. Như lúa với đất. Đi khỏi được, ít ra Thu cũng phải cắt đứt được bằng hết những sợi dây ấy. Chúng là những rễ lớn rễ con đã bám chặt lấy đời Thu từ tuổi thơ. Trên mái tóc suối chảy của người thiếu nữ, bóng dáng một mái nhà cổ kính đổ xuống. Những nếp nhăn trên trán người mẹ. Những sợi tóc bạc trắng của người cha. Đi thoát được mái nhà cũ, hành động của Thu sẽ là một hành động quyết liệt. Nó đòi hỏi nhiều đau khổ, nhiều mất mát. Lòng người vẫn phải rách nát vì những đau khổ, những mất mát ấy.
Phượng biết thế, nên người anh hùng cũng không giục giã người yêu. Mặt khác, anh muốn rằng trước thử thách này, Thu sẽ hành động, sẽ quyết định một mình. Như một con người tự do hành động và quyết định. Phượng vẫn thường có quan niệm rằng chính kiến của con người như một thứ hướng đi, tuỳ theo sự lựa chọn chân trời riêng. Đối với Phượng trái đất này có hàng triệu ngả đường thì con người cũng có hàng triệu hướng đi, trên đó đua nở những hoa cỏ cùng là rung động những tình cảm của người trước cuộc sống. Thảy đều mênh mộng, không bến bờ. Nhẹ thoáng như không khí. Bay múa như nắng.
Nếu không, thì trái đất không còn là trái đất nữa. Con người không còn là con người nữa.
Mấy ngày gần đây, Hà Nội của Phượng đã hết nắng. Hà Nội đã thiếu không khí, thiếu hơi thở. Bên kia tả ngạn Hồng Hà, bên này năm cửa ô, ngay trong nội tâm Hà Nội, những sự kiện mới mai đây sẽ về ngự trị trên Hà Nội đã như những tảng bóng tối mịt mùng dâng lên. Bóng núi bóng rừng chấp chới. Tim phổi người choáng váng, rức buốt. Những mạch đời ngừng nghỉ. Những màu sắc lộng lẫy nhất cũng nhạt tái lần lần.
Trên những sân ga, bến tàu, từ những trạm hẹn, những con người có sẵn thái độ như Phượng đã hướng vào chuyến đi. Những cuộc đời như đời Thu, rách nát vì mâu thuẫn, giờ phút này đang trải qua một cuộc tranh đấu quyết liệt với bản thân. Chúng là những miền còn tranh tối tranh sáng. Sau hết, là những người ở lại. Ở lại với Hà Nội. Vì hoàn cảnh vướng bận.
Chưa bao giờ Phượng lại cảm thấy Hà Nội chứa đựng nhiều khía cạnh, nhiều thời gian tính đến thế. Đứng trước cuộc đổi đời, Phượng va chạm với những con người đang lựa chọn để nắm lại trong dĩ vãng hay đi vào tương lai. Từ một bản hiệp định chia đôi, chói lên những phút giấy thử lửa. Thái độ của từng người phân định dần mãi. Như thế cũng hay. Lại hơn. Đằng nào cũng một lần.
Từ ngày Hà Nội thay đổi sắc thái, Phượng thấy cái việc giã từ Hà Nội của anh không đến nỗi sầu thảm như anh tưởng. Nhìn sang một lớp sự kiện còn nằm lại bên kia, đêm nay, Phượng, trong một cảm thông cụ thể, như đã sờ mó thấy trên đầu ngón tay cái lành khoẻ rộng lớn của một khối đời anh sẽ dựng lên sau chuyến đi. Dựng lên bằng niềm tin. Trong tập thể. Niềm tin này, riêng đêm nay, đã đốt cháy được hộ Phượng những sợi dây gắn bó với đời cũ. Với bên kia. Với Hà Nội. Theo anh, Hà Nội cũng không còn gì. Những người như anh lên đường đã mang theo Hà Nội vào chuyến đi.
Thanh toán cho xong được những chua xót lúc đầu, lòng người đi vậy là đã ổn định.
Duy có một vấn đề là Thu. Đối với Phượng, Thu đi hay Thu ở lại, việc ấy đã ra ngoài cái lãnh vực thường rất bé mọn của tình cảm. Anh yêu Thu, qua những rung cảm của tình yêu, còn có những nỗi niềm hết sức bao la, hết sức sâu nặng của con người anh gửi đến một người bạn cùng đường. Thêm Thu tập thể thêm đông, và đời Phượng cũng vui thêm trong xây dựng.
Chiều xuống dần. Hai người yên lặng bước đi. Buổi chiều cuối cùng ở lại Hà Nội, Phượng chỉ còn tìm thấy ở Thu một sự kiện lành mạnh gần gụi, khi mà tất cả những sự kiện khác đã sa đoạ, đã đổi màu.
Anh nhìn Thu: Mái tóc dài chảy xuống một bờ vai gầy. Hàng mi nghiêng nghiêng. Và con mắt sâu đen của Thu thì nhíu lại trong suy nghĩ. Phượng nhìn lâu lâu vào đôi mắt ấy, tận trong, đôi mắt u uẩn hình như đang thăm dò một ngả đường, trong đêm tối. Anh không biết Thu đang nghĩ ngợi gì. Nhưng anh đoán Thu đang đau khổ nhiều. Trong nội tâm người thiếu nữ cũng đang có những sự kiện vừa nằm xuống, vừa chìm lặn, cùng một lúc với những sự kiện đang đi lên, đang sinh thành. Bóng tối và ánh sáng chấp chới trên những mâu thuẫn chưa ổn định. Trong Thu đã có một ngả đường? Cháy một niềm tin? Đường mũi dài, đôi môi trang nghiêm của Thu in lên một nền nhờ xanh của sương mù, của buổi chiều. Bên kia, thấp thoáng những hàng cây, những mái nhà Hà Nội.
Một lát yên lặng. Phượng châm một điếu thuốc.
Thu nói với anh: “Em thì em cũng định đi rồi. Một phần vì Hà Nội. Cơ sự đã xảy ra thế này, cũng chẳng ở được nữa. Một phần vì em không muốn xa anh. Xa nhau, biết đến bao giờ mới gặp lại? Em sợ thay đổi lắm. Nhưng anh cũng biết, còn gia đình em đấy! Thầy me em già rồi. Me em đang đau nặng. Thầy em thì chỉ biết có lũ chậu hoa cây cảnh. Hồi này ông cụ chán đời cứ thở dài suốt ngày”.
Phượng hỏi Thu:
“Thầy me không bằng lòng cho Thu đi ư?”
“Không, thầy me em bằng lòng. Chính vì thế mà em phân vân. Anh hiểu cho em chứ?”
Phượng cúi đầu không nói gì. Hai người lại yên lặng bước đi. Phượng nhìn đồng hồ. 7 giờ 35. Anh bảo bạn:
“Thôi, anh đưa Thu về. Đêm nay, trên đường tới trạm di chuyển, anh sẽ đi qua nhà em. Em về nhà nghĩ lại đi. Cố thu xếp xem có được không?”
Thu đáp, tiếng nói bé nhỏ:
“Vâng, em sẽ cố gắng thu xếp. Dù sao, anh cũng đến, anh nhé!”
Hai người chia tay. Và Phượng, đúng 11 giờ đêm, đã xách va ly đến đợi Thu ở đây, bên này đường. Bên kia là Hà Nội.
Đêm Hà Nội càng về khuya càng lạnh buốt. Mặt nhựa loáng ướt. Những ánh đèn lu xanh một màu xanh hoang vắng trong sương. Trước mắt Phượng con đường Trần Nhật Duật chạy dài, một đầu phố nhạt nhoà mất hút về phía chân cầu Long Biên. Vắt qua lòng sông Hồng, những ánh lửa nơi chân cầu đổ về một hướng Gia Lâm. Gia Lâm, Phượng nghĩ đến những vùng cỏ tối bên ấy, nơi phi trường. Lát nữa anh sẽ vượt Hồng Hà, tới phi trường và ở đó, anh sẽ giã từ Hà Nội.
Lòng Phượng lắng đọng lại trong suy tưởng, trong đợi chờ. Những ý nghĩ nhẹ thoáng nhất cũng đều có những sắc thái rất mênh mông. Nhãn giới Phượng bắt gặp những hình khối của Hà Nội đang ngược đường về trong dĩ vãng, và lòng Phượng thì đã thơm rồi, những nhành hoa của xây dựng trên luống đất tương lai. Ngày mai, anh đi khỏi, tập thể xa rồi, Hà Nội sẽ ra sao? Những con người ở lại Hà Nội sẽ ra sao? Trong đêm giã từ, ba mươi sáu phố phường đi dần vào những tầng lớp của ký ức. Nhìn Hà Nội, Phượng bỗng liên tưởng tới những thành phố khác của thế giới, của thời đại. Hán Thành, Bá Linh. Những thủ đô đổ nát vì chiến tranh, bây giờ lại chứa đựng những ấn tượng buồn thảm của chia cách, hờn oán. Bên này, bên kia. Giã từ Hà Nội. Những con người cúi đầu. Một khung cửa đen câm. Những ngả đường ngoại thành hoang vắng. Những hàng mái đau yếu. Thu, Thu của anh.
Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng. Năng lực đấu tranh của con người nằm trong những cạnh khía bay múa ấy.
Cái ý nghĩ cuối cùng của Phượng, gửi đến Thu. Anh nhìn sang bên kia đường. Vẫn không thấy gì. Có lẽ Thu đã ở lại. Phượng nhìn đồng hồ: Chiếc kim dạ quang chỉ đúng mười hai giờ đêm. Phượng cúi xuống nhấc va ly, bước đi.
Sau lưng anh, bống có tiếng gọi nhỏ: “Anh!”.
Phượng quay lại. Đôi mắt anh sáng lên trong tối. Từ bên kia bờ đường, từ bên kia Hà Nội, một bóng người bé nhỏ đang vượt lòng đường đi sang anh. Thu. Bóng Thu xiêu xiêu vội vã. Một thoáng, Thu đã đứng bên cạnh anh. Đôi mắt Thu còn ngấn lệ. Phượng đỡ lấy va ly Thu.
Tiếng Thu vang lên trong đêm Hà Nội:
“Em được đi rồi. Cả thầy me cũng đi nhưng đi sau.
Và kéo tay Phượng.
“Chúng mình đi đi thôi anh ạ!

Hà Nội - 100 ngày, sau hiệp định Genève

Posted: Fri Jan 06, 2012 12:36 am
by thienthanh
BÀ TOÀN BÁNH CUỐN

Ngồi trên máy bay, bà Toàn biết rõ rằng lúc này lòng bà vô cùng thanh thản. Bà đã và đang quyết định một việc vô cùng quan trọng cho cả một gia đình, cho cả một hạnh phúc mà bà đã chắt chiu xây dựng từ mấy chục năm. Đã mấy tháng rồi bà Toàn đau khổ và buồn bã lắm. Bà âm thầm chịu đựng, không dám mở lời than thở với ai, vì bà biết có than cũng chẳng thay đổi được hoàn cảnh mà không chừng lại còn rắc rối thêm.

Bà đau khổ vì ông Toàn, chồng bà thay lòng đổi dạ sau hơn ba chục năm tình nghĩa. Mấy tháng rồi, từ khi người em trai ông, chú Phong, gọi điện thoại báo tin mẹ ông bịnh nặng, muốn có ông bên cạnh thì bà vội vàng lo chuyến đi cho ông và ông thì tất tả mua vé về Việt Nam lo thuốc men cho bà cụ. Bà Toàn chỉ biết câu chuyện bắt đầu từ đấy và đau khổ từ đấy nhưng những gì trước đó bà lại chẳng haỵ
*
Nguồn lợi chính để sống của gia đình bà là cửa hàng bánh cuốn. Bà phải lo tráng bánh để cung cấp cho khách nên không theo chồng về thăm mẹ chồng bịnh được ,nhưng để làm tròn phận làm dâu, bà không tiếc tiền, bà đưa cho ông một số lớn và mua sắm mọi thứ cần thiết rồi nhờ người con lớn, Thông, chở bố ra máy bay. Trước khi đi, bà không quên dặn tới dặn lui:
- Đường xá xa xôi, máy bay đi cả mười mấy tiếng đồng hồ, em lo lắm, về đến nhà, bố gọi ngay cho em nhá.( bà Toàn có thói quen hay gọi chồng bằng bố như bày con của bà)
- Yên tâm, anh sẽ gọi ngay cho em biết tình trạng của má.
Sau hơn hai ngày chờ đợi, tiếng chuông điện thoại reo và Thúy, cô con gái út đưa cho bà điện thoại:
- Mẹ, có phôn của bố nè mẹ.
Bà Toàn vồ lấy chiếc điện thoại trên tay con:
- Bố về đến nhà lúc nào vậy ? sao không gọi ngay, em mong qúa. Mẹ như thế nào rồi ?
Giọng ông Toàn còn ngái ngủ:
- Anh về chiều hôm qua nhưng đến nhà thương thăm mẹ liền. Xong, về nhà mệt qúa, ngủ đến bây giờ mới gọi em được. Tình trạng mẹ bết lắm mà thuốc men ở đây bịnh nhân thường không được hưởng qui chế thuốc như bịnh nhân cán bộ. Muốn có thuốc, phải có tiền. Muốn gặp bác sĩ cũng phải có hai loại quà, một cho y tá và một cho bác sĩ. Quà không gì tốt và quí hơn tiền. Cần thay tấm trải giường hay lau phòng cho sạch cũng phải có tiền dúi vào tay bác lao công, nếu không thì bẩn thỉu kinh khủng lắm. Tóm lại, cái gì cũng phải tiền.
Nghe chồng nói, bà Toàn thở dài:
- Cũng phải chịu vậy thôi anh ạ. Cầu xin bề trên cho cửa tiệm của nhà mình đắt khách thì chúng ta vẫn lo cho mẹ được. Anh đừng hà tiện qúa mà mẹ không được săn sóc tử tế thì tội nghiệp. À, tình trạng mẹ thế thì chừng nào anh về nhà?
- Cái cô này .... mới chân ướt chân ráo đặt đến đây tối hôm qua, nay cô đã hỏi chừng nào về...Tôi đâu biết tình trạng mẹ như thế nào đâu mà nói trước.
Bà Toàn cười:
- Bố hay nhỉ, em chỉ hỏi có thế mà gắt như mắm ấỵ Thôi được, mình cứ lo cho mẹ đi. Nhớ gọi cho em thường. Chừng nào cần thêm tiền thì nói cho em hay. Vợ chồng chú Phong ra sao ? mấy đứa bé lớn lắm hả anh? Chúng nó có thích quà bố mang về không ?
Ông Toàn dịu lại:
- Đã bảo là về anh đến nhà thương thăm mẹ liền rồi về nhà ngủ. Chợt tỉnh anh gọi cho em, chưa có thì giờ gặp mấy đứa con chú Phong nên quà cáp vẫn còn kia...
- Thôi, cái gì cần trước thì lo trước. Vài hôm nữa đưa quà cũng được. Nhớ nói em thăm vợ chồng chú Phong nhé ... À, nhưng mà em dặn này, bố có đi chơi với bạn chút chút thì đi chớ đừng đi bia ôm bia ấp, tắm hơi tắm hướng ,cà phê cà pháo gì đấy nhé....
Ông Toàn cắt ngang:
- Lại rắc rối ! Về chủ đích là chỉ lo cho me.. Chính cô cũng hối tôi về, thế mà vừa về có hai ngày cô đã hỏi han răn đe đủ thứ. Sao cô không cùng về với tôi để giờ cô lắm chuyện...
- Thì em có nói gì đâu, chỉ dặn anh thế thôi mà. Thôi em bận, anh đi thăm mẹ nhớ nói em bận cửa hàng không về được và chúc mẹ mau mạnh nhé.
Bà Toàn cúp máy rồi lẩm bẩm một mình:
- Cái ông này lúc này làm sao ấy, đổi tính đổi nết đến khó chịu. Nói có thế thôi mà gắt ầm lên.
*
Ấy, với bà Toàn ông vẫn theo sách lược ồn ào đàn áp. Nghĩa là mỗi khi nói chuyện với bà, ông không muốn bà đi sâu vào chi tiết việc gì ông muốn giấu hay khi biết mình trái hoặc đuối lý ông thường làm bộ gắt toáng lên để chặn đứng bà tại chỗ. Bản chất một người đàn bà Việt Nam có giáo dục, bà Toàn dịu dàng, hiền, chịu đựng và yêu chồng nên lúc nào cũng nhường nhịn. Nhất là từ tháng tư năm 1975, sau một thời gian dài đi tù cộng sản, ông Toàn sang Mỹ theo diện H.O. và không thích ứng với hoàn cảnh xã hội Hoa Kỳ nhanh như bà nên ông có nhiều mặc cảm. Bà Toàn thì sau khi cùng chồng con đến quê hương mới, bà thấy vùng bà ở có nhiều người Việt nên bà đã nhờ Nhạn, người em gái sang tị nạn từ năm 75 giúp lo mọi thủ tục cần thiết để bà mở cửa hàng bánh cuốn. Bà lấy tên ông đặt cho tên tiệm. Thế là bà thành bà Toàn Bánh Cuốn. Bà Toàn Bánh Cuốn kiêm đủ mọi chân trong cửa hàng, chủ yếu là trong bếp. Ông Toàn trở thành ông Toàn Bánh Cuốn nhưng là người thâu ngân của tiệm và lo việc bên ngoài. Bà tráng bánh rất ngon, mềm và dai, ai ăn cũng nhớ. Nghề này bà học được ở một bà cô họ trong khoảng ông Toàn đi tù cải tạo.

Nhờ trời, bánh bà tráng ngon, ông tiếp đãi khách vui vẻ lịch thiệp nên tiệm bánh cuốn Toàn chẳng bao lâu mà chật khách. Bà phải mướn thêm vài người trong bếp và một người phụ chạy bàn với ông. Chỉ vài năm, ông bà mua được nhà, xe cho mình và các con. Con ông bà ba người, một người mới lập gia đình năm ngoái, còn hai người đang học đại học. Thái và Thúy rất ngoan, đi học về là đến cửa hàng tiếp tay với bố mẹ. Thế là bà Toàn Bánh Cuốn trở thành nguồn cung cấp tài chính, căn bản và dĩ nhiên là quan trọng trong gia đình. Ông Toàn tuy nhàn nhã với chân giữ két của tiệm nhưng đôi khi không giấu được mặc cảm thua kém sự nhanh nhẹn và tài xoay trở của bà. Bà biết thế nên càng thương chồng hơn. Càng thương chồng, bà càng nhịn, có khi bà thấy bà nhịn ngay cả lúc ông trái be trái bét.
*
Ngưng nói chuyện với bà, ông Toàn bỏ điện thoại lên chiếc bàn con cạnh đầu giường rồi quay sang ôm người đàn bà nằm bên cạnh. Đào đang lim dim ngủ, cô đưa một tay ôm ngang bụng ông và rúc đầu vào nách nũng nịu:
- Gớm, mới đi có hai ngày mà nhớ bả rồi hả. Gọi gì mà gọi sớm thế, còn nói chuyện lâu nữa. Coi chừng em giận à nha. Ông Toàn ôm chặt thân thể trẻ của Đào:
- Gọi giờ này thì bả mới rảnh. Cũng phải gọi để bả khỏi nghi chứ em. Bả mà nghi, bả mò về đây thì chúng ta mệt đó.
- Hứ, có anh mệt chứ em sức mấy mà mệt. Anh sợ bả qúa thì anh về đây làm chi ?. Giờ em mới biết vì anh sợ bả qúa nên mấy năm rồi anh chẳng giải quyết được gì ráo. Em chờ đợi hết nổi rồi. Còn thằng Tú nữa, tuy không là con anh nhưng nó yêu thương anh như cha ruột. Nó ước ao được khoe với bạn bè là nó cũng có cha như mấy đứa trẻ cùng tuổi của nó anh thấy hông?. Tội nghiệp thằng nhỏ mới bốn tuổi đầu, nó nghĩ anh là ba nó thật. Bộ anh không thương nó và không thấy nó vui mừng ôm lấy anh khi đón anh ở phi trường hay sao chớ .
Ông Toàn hôn lên tóc người đàn bà dỗ ngọt:
- Anh dừng lại hết công chuyện để về với em, em không thấy sao ? Đừng trách anh làm không khí mất vui đi. Lúc nào anh cũng cố gắng tìm cách hợp thức hoá tình trạng chúng mình để đưa em và thằng Tú qua đó với anh. Vì lo cho em, mỗi tháng anh gởi tiền cho em ăn xài đầy đủ, em không thấy đó là tình yêu và sự cố gắng của anh à ?
Đào dịu giọng:
- Ừ thì anh có gởi tiền đầy đủ thật nhưng em muốn được chính thức làm vợ anh kià. Em muốn lúc nào cũng được ở bên anh, pháp lý và tình cảm. Em yêu anh và cần anh, anh không thấy hả ?

Nghe Đào nói yêu ông, cần ông, được làm vợ ông là điều hạnh phúc nên nàng lúc nào cũng muốn được ở bên ông, ông hài lòng, sung sướng . Tự ái của người đàn ông được vuốt ve tới cùng.. Ở Mỹ, vợ ông tuy giỏi giang tần tảo thật nhưng bà có bao giờ nói là cần ông đâu. Lúc nào bà cũng tất tả quay cuồng với công việc chứ nào có ngó ngàng gì đến ông . Cả năm sáu năm nay, từ ngày bà là nguồn cung cấp chính và duy nhất của gia đình thì ông thấy ít khi nào bà ngồi lâu với ông để nói bà yêu ông, cần ông như Đào thủ thỉ với ông thế này, thậm chí, nhiều khi bà như quên cả có ông hiện diện. Có lẽ tại bà là nguồn thu nhập chính trong gia đình nên bà coi thường ông. Chính ông còn phải lãnh lương của bà nữa kia mà. Gọi là lãnh lương chứ mỗi ngày ông lấy năm bảy chục một trăm thì bà đâu có kiểm soát được. Hơn nữa, bà tuyệt đối tin chồng, tối đến, sau khi đóng cửa tiệm, bà dọn dẹp thì ông đếm tiền. Sau đó ông đưa cho bà bao nhiêu thì bà biết chừng ấy. Ông tiêu tiền thoải mái, muốn mua gì bà không cản nên có bao giờ bà nghĩ chồng mình phải lấy giấu riêng. Tiền giấu bà, ông không dám xài mà gom lại, tháng tháng gởi về cho Đào.

Vì ông Toàn còn mẹ ở Việt Nam, bà Cụ không đi Mỹ khi ông bảo lãnh mà chỉ muốn ở lại với người con út, chú Phong, nên mỗi năm ông đều về thăm bà Cụ một lần. Ông thường đi một mình vì bà Toàn là người tráng bánh. Ở tiệm Bánh Cuốn Toàn , bánh ai tráng cũng không ngon bằng bà nên nếu vắng bà là vắng khách.


Cửa tiệm là nguồn lợi thâu thu duy nhất của gia đình, có trăm thứ phải chi và có hai người con đang học đại học nên cả tuần bà chỉ dám nghỉ ngày thứ haịi.


Mới tháng Sáu ông về thăm mẹ xong thì tháng Tám mẹ ông đau. Bà cụ tuổi già nên đau ốm không tránh được. Nhưng sự đau ốm của bà cụ không nặng như cú điện thoại ông nhờ em ông gọi để báo tin cho vợ ông tuần trước. Trước đó, khi chú Phong gọi ông báo tin mẹ đau, ông bảo chú rằng:
- Mẹ già rồi như ngọn đèn trước gió, nghe tin mẹ đau anh muốn về thăm nhưng ngặt mới về vài tháng trước, bây giờ anh tự ý về chắc chị không vui. Hay là chú gọi chị nói là mẹ đau, mẹ muốn gặp anh cho anh dễ bề ăn nói với bà ấy nhé.

Thế là ông Toàn được vợ lo cho chu đáo từng món quà cho chuyến đi và tiền lo thuốc cho mẹ chồng rất trọng hậu. Người đi đón ông ở phi trường không là chú Phong mà là Đào. Lý do chỉ vì Đào giận dỗi, đòi bỏ ông đi lấy chồng, nếu ông không về ngay để giải quyết chuyện tình của họ nên ông mới có chuyến đi không định trước nàỵy.


*
Hơn ba năm trước, trong một dịp về thăm mẹ, ông đi chơi với ngươì bạn và quen Đào ở tiệm cà phê. Đào còn trẻ lại xinh đẹp. Đào biết ăn nói và biết nhõng nhẽo, biết liếc mắt đưa tình. Gặp Đào , ông mê Đào ngay và đề nghị Đào nghỉ làm ở tiệm cà phê để ở nhà săn sóc thằng Tú, con của Đào và ông sẽ gởi tiền về hàng tháng cho Đào tiêu dùng. Đào đồng ý với đề nghị của ông, cộng thêm lời hứa hẹn là sẽ thu xếp chuyện nhà để chính thức cưới Đào đem nàng đi Mỹ. Từ ngày quen Đào, ông cảm thấy đời có ý nghĩa và thấy mình trẻ lại. Vì thế, ông chăm về thăm mẹ lắm, ông bảo với bà là cụ gìa rồi, nay mai ai biết lúc nào nên có khi một năm ông về đến hai lần, dù mỗi lần chỉ vài tuần.


Cuộc tình giữa ông và Đào êm ả với số tiền một ngàn đô la mỗi tháng gởi về cho Ðào và những lần ông về thăm ngập quà ngoại quốc.


Ở không cả năm, Đào nhớ lại không khí sống động ở tiệm cà phê nên ghé chơi. Chị Năm, chủ tiệm mừng rỡ, rủ Đào đi làm lại. Đào bằng lòng làm cuối tuần và do đó, Đào quen một chàng Nhật Bản. Anh chàng Nhật này trẻ hơn ông Toàn, có việc làm tại VN, Nếu Đào lấy được hắn, với số lương kia, cuộc sống của Đào phong lưu hơn vài bậc. Có nhà đúc, có xe hơi, có người giúp việc. Nhưng vì chưa chắc chắn với anh Nhật và còn chút tình với ông Toàn nên Đào gọi điện thoại cho ông về ngay để giải quyết chuyện của hai người. Ông Toàn về Việt nam ở với Đào nhưng cuối tuần thì Đào viện cớ phải đưa con về ngoại nên ông Toàn đến ở nhà Phong. Bà Toàn ở Mỹ, vẫn cặm cụi tráng bánh, chẳng biết chuyện gì, ngoại trừ chuyện gởi thêm tiền cho ông đến hai lần để ông ... lo cho mẹ đang đau yếu.

Thấm thoắt ông Toàn về Việt Nam đã gần hai tháng. Càng ngày ông lại càng thưa gọi về nhà. Mỗi khi gọi bà, ông có mặc cảm tội lỗi. Ông biết rất rõ việc ông làm là rất không phải với bà nhưng khi bà hỏi chừng nào ông về và sức khoẻ của mẹ chồng ra sao thì ông lại nói quanh co không đầu không cuối. Bà Toàn thấy lạ nhưng vì tin chồng, bà không muốn gọi chú Phong để hỏi, sợ làm mất mặt ông. Nhân tiện có cô Nhạn, em gái bà về ăn đám cưới đứa cháu bên chồng cô, bà Toàn nhờ cô lại thăm mẹ chồng đau nên mới lòi ra cớ sự.

Câu chuyện đổ bể, không còn giấu được. Ông Toàn như người ngồi trên lửa. Một mặt bà Toàn giận không tiếp điện thoại và ba đứa con ông gọi trách hờn khóc lóc. Một mặt Đào đay nghiến hăm dọa đi lấy chồng, ông Toàn cứ rối cả lên, không biết giải quyết cách nào cho ổn. Làm sao ông có đủ can đảm để nói thật với Đào về hoàn cảnh gia đình ông. Bởi ông biết khi ông nói ra, hình ảnh đẹp đẽ của ông trong Đào sẽ tan biến hết. Đó là sự thật mà ông sợ vô cùng. Đào chỉ biết ông là chủ nhà hàng ăn, có mực thu nhập khá cao qua cách ông tiêu xài rộng rãi với Đào. Mỗi tháng ông gởi cho Đào cả ngàn đô để Đào ăn xài thoả thích chứ đâu có hiểu rõ là tiệm bánh cuốn hoàn toàn do công sức của bà. Rời bà và tiệm bánh cuốn ra, ông kiếm ở đâu ra cho đủ tiền nuôi sống bản thân ông và mỗi tháng gởi cho Đào. Vì thế, ông có về nhưng chả giải quyết được gì.

Từ khi biết chuyện, bà Toàn không gởi thêm tiền cho ông nữa. Tiền cạn, Đào nhắc :
- Chừng nào anh mới đi về bên đó thu xếp với bà ấy cho xong để còn lo cho em hả ? Em cho anh thời hạn là ba tháng. Sau ba tháng ấy, anh không lo xong chuyện thì anh đừng gặp em nữa.


Ở bên Đào đã gần ba tháng rồi, ông cũng muốn " về lại bên ấy " như lời Đào nói lắm nhưng về bằng cách nào đây. Bà Toàn thì không bảo ông về, các con ông cũng không gọi ông về mà mỗi lần nói chuyện chỉ kể công lao vất vả của mẹ và trách móc ông bội bạc.

Nhưng Đào không chờ đến ba tháng như cô cho ông thời hạn mà từ khi biết ông khan tiền Đào lạnh lùng ra mặt. Hình như sự thông minh của Đào đã cho cô biết thực lực về nguồn tài chánh của ông. Vì thế, Đào không cần giấu giếm nữa, một buổi chiều ông thấy Đào trang điểm thật đẹp, mặc áo đầm đắt tiền và đi chơi tới gần sáng mới về. Ngay đó, ông và Đào gây lộn và ông đã chua xót đau đớn đến bàng hoàng khi Đào nói thẳng với ông:
- Em nói thật cho anh biết, em đã trên tuổi ba mươi. Em cần có một mái ấm gia đình, cần một người chồng trẻ như em, có đủ điều kiện , đủ khả năng để lo cho em về mọi mặt. Anh, nói anh đừng buồn, chưa chắc anh đã có đủ khả năng lo cho em đâu. Số tiền một ngàn đô anh cho em mỗi tháng đó, nhiều thật nhưng với em, vẫn không đủ cung cấp cho em một đời sống thoải mái như em mong muốn. Lại nữa, anh có vợ. Với vợ anh, anh không dứt khoát được thì làm sao mà em chờ đợi được. Em nghĩ, lúc này là lúc chúng ta nên thành thật với nhau và dứt khoát chia tay. Thôi, anh hãy về với vợ con anh đi và em sẽ nhận lời người khác. Nói thật với anh, tối nay em đi chơi với anh ấy, anh ấy đã cầu hôn với em và em đã nhận lời.


Vừa nói, Đào vừa chìa tay ra. Một chiếc nhẫn kim cương lấp lánh trên ngón tay áp út.

Ông Toàn cảm thấy hoa mắt. Toàn thân ông đóng băng như bị ngâm vào nước đá. Một cảm giác tê tái, thua cuộc giống như cảm giác ông bị cán bộ cộng sản nhục mạ lúc ở trong tù. Giận qúa, không kềm nổi, ông vung tay tát mạnh vào mặt Đào. Đào ngã chúi, cô khóc và chu chéo ầm lên. Công an khu vực ập đến còng tay ông đưa đi nhốt ở trụ sở công an phường trước hàng chục con mắt tò mò bu lại.


Được tin, Phong đến gặp ông. Nhờ có một tên công an vẫn theo đuổi con gái, Phong lãnh được ông về nhưng cũng phải chi cho cả bọn hai ngàn đô cho trắng chuyện. Về đến nhà Phong, ông Toàn ngã bịnh.
*
Phong vừa đi làm về thì tiếng chuông điện thoại reo:
- Chú hả chú ? Cháu chào chú ạ. Chú có biết bố cháu ở đâu không chú. Cháu gọi bố cà hai tuần mà bố không bắt máy.

- Thúy đó hả. Bố đang nằm nghỉ trên lầu. Mấy tuần rồi bố đau Thúy ạ.
Giọng Thúy hốt hoảng:
- Bố cháu đau sao hở chú ? Nặng hay nhẹ ? cháu có thể nói chuyện với bố cháu không?
- Được chứ, Thuý chờ, chú đem phôn vào phòng cho bố.

Cầm phôn, giọng ông Toàn đầy nước mắt:
-Thúy đó hả con. Mẹ có khoẻ không? Mẹ giận bố lắm hả ? Tôị nghiệp mẹ. Bố ân hận qúa con ạ. Càng nghĩ bố càng thấy mình qúa nông nổi và có lỗi với mẹ với các con nhiều. Cũng tại bố cứ nằm mãi trong cái vỏ ốc của mình nên bố đã mặc cảm với sự thành công của mẹ. Mẹ thì bận tối ngày lo sinh kế cho cả nhà, bố không cảm thông cho mẹ mà lại cứ nghĩ mẹ coi thường bố, không còn yêu thương bố như ngày xưa. Bởi thế....khi gặp người nói ngon, nói ngọt, đưa bố lên mây, bố thoả mãn tự ái, bố đã lầm lẫn u mê.....Thôi, con nói với mẹ, bố xấu hổ lắm, bố không dám nhìn mặt mẹ và các con nữa đâu. Bố ở lại đây với bà nội. Khi nào bà nội trăm tuổi, bố sẽ tính sau....

- Muộn rồi, bố. .... Tuần trước chú Phong phôn cho mẹ xin lỗi việc chú nghe lời bố mà gọi mẹ báo tin bà nội cần bố về bên cạnh. Chú nói, nếu chú không gọi bố, thì nay đã không có chuyện xảy ra, và bố đã không bị công an bắt nhốt....Chú giấu không cho bà nội hay chuyện sợ bà nội buồn...

- Con nói không đúng lắm đâu. Chuyện xảy ra từ hơn ba năm nay rồi chứ không phải vài tháng trước. Việc công an bắt nhốt bố chỉ là kết quả của sự lầm lạc của bố mà thôi. Chú không có lỗi. Người có lỗi trong vụ này chỉ là bố. Bố ân hận lắm. Nằm đây, bố suy nghĩ rất nhiều. Bố nhớ thương mẹ và các con vô cùng. Nhưng như bố đã nói, bố ân hận lắm, các con tha lỗi cho bố và bố nhờ con nói lại với mẹ là bố xin lỗi mẹ. Bố xấu hổ lắm, không còn đủ tư cách để gặp lại mẹ và các con nữa đâu....

- Muộn rồi, bố...bố... không có thể ....

Cửa phòng xịch mở, bà Toàn bước vào phòng. Ông Toàn tưởng mình nằm mơ. Chiếc phôn rơi khỏi tay. Như một phản xạ, ông đưa hai tay ra đón lấy bà.
Bà Toàn ngã vào vòng tay chồng. Ông Toàn ôm chầm lấy vợ trong niềm thương yêu và hối hận. Một phút im lặng. Bà cảm thấy xúc động như ngày ông ôm bà lần đầu. Những giọt nước mắt lặng lẽ trào trên má hai người. Ông nâng mặt bà, dùng tay lau những dòng nước mắt trên đôi má đã có vết nhăn và ông cúi xuống hôn lên đó. Bà ngước nhìn ông mỉm cười rồi cùng ngồi xuống:

- Anh ạ, Lúc dì Nhạn nó gọi về nói anh có bồ bên này, em giận lắm, tính trả tự do cho anh đi luôn. Nhưng khi chú Phong gọi phôn xin lỗi và nói hết những gì anh tâm sự với chú thì em suy nghĩ suốt đêm. Em thấy mình có lỗi phân nửa trong việc anh làm. Lỗi của em là em đã vì công việc mà quên đi rằng em còn là người bạn đồng hành của anh nữa. Quên đi rằng đời sống ngắn ngủi và em dù vẫn bên anh nhưng đã để anh cô đơn một đoạn đường. Vì thấy mình có lỗi nên em thu xếp công việc, đóng cửa một tuần để về thăm mẹ và tìm anh. Cũng may mà cô Đào có tính thẳng thắn và dứt khoát chứ không thì cũng khó xử cho chúng ta. Từ nay, mỗi năm em sẽ đóng cửa tiệm hai tuần, dành thì giờ cho riêng các con và cho anh.
À này, nhà mình có tin vui, ông bà Chung hai tuần trước đã đến thăm và xin hỏi con Thúy cho thằng Mẫn. Em nói với họ là chờ anh về thì làm lễ đính hôn. Như vậy, lễ đính hôn sẽ vào trước Tết. Tết này, có thêm chàng rể tương lai, chắc nhà mình vui lắm anh nhỉ ... Mà anh này, em đói lắm. Thôi, anh dậy tắm rửa cho khoẻ rồi mời gia đình chú Phong đi ăn với chúng mình xong tất cả cùng đi thăm mẹ.

Có lẽ đây là lần thứ nhất, từ sau tháng Tư 1975, ông Toàn làm theo lời vợ mà không một tiếng cằn nhằn...

Ngô Minh Hằng

Posted: Thu Jan 12, 2012 5:44 am
by khieulong
Món nợ đầu xuân

Phạm Hồng Ân

Chợ xã bắt đầu vắng tanh. Người ta vội vã thu xếp hàng hóa, tất bật về nhà để kịp chuẩn bị đón Tết. Hôm nay là ba mươi. Ngày giao thừa. Ngày tống cựu nghinh tân. Gia đình nào nghèo nhất cũng phải có dĩa trái cây, dĩa mứt, hoặc vài lát bánh tét đặt lên bàn thờ. Giờ này, cái đồng hồ quán cà phê chú Tửng chỉ đúng ba giờ trưa. Thế mà, con đường làng đã rợp bóng người. Trai thanh gái tú ăn mặc bóng loáng, kéo nhau đi lũ lượt.

Chỉ có tôi, vẫn còn đứng đây. Giữa khu chợ thưa thớt, với xấp vé số dày cộm. Hôm nay đài Cửu Long. Cái đài khốn kiếp, tuần nào cũng có lô độc đắc vô tay cán bộ. Còn dân, sáng mua chiều vứt. Tội nghiệp, họ cầm đồng tiền chắt chiu để mua những tờ giấy lộn, chết tiệt.

Chiều qua, thằng con tôi đã cảnh cáo:

- Cửu Long là cõng lu. Nặng chình chịch. Ba coi chừng “ôm” đó! Lãnh in ít thôi ông ơi!

Mẹ, nó còn nhỏ, nên ăn chưa no lo chưa tới. Nó chưa biết chi về tục lệ ông bà. Chiều ba mươi Tết, khạp gạo phải đầy tràn. Nước nôi phải lai láng. Tệ lắm, cũng phải có một phong bánh in cúng ông bà, vài cây pháo chuột để đốt đì đạch đón giao thừa chào mừng năm mới. Lãnh in ít thì lấy đách chi mà ăn. Lấy cái gì làm tiền để mua gạo, mua bánh.

Từ Ðây về nhà, tôi nhẩm đếm sẽ leo hết 14 cây cầu khỉ chênh vênh chập chùng. Sẽ lội qua 4 ấp : Phú Bần, Phú Kiệt, Phú Keo và Phú Hàn. Xấp vé số, ít ra cũng vơi hơn phân nửa. Bọn trẻ đang có tiền lì xì. Chúng muốn lấy hên cuối năm. Ở đây, trong cái chốn đồng không mông quạnh này, chúng chỉ còn cách thử thời vận bằng đánh bạc hoặc mua vé số cầu may. Rồi, tôi sẽ lời chút tiền. Trở về căn chòi mục nát ở Phú Hàn, cạnh bờ ao cá tra của chị hai Rớt, thắp nén nhang đầu năm tưởng tiếc ông bà. Rồi, vợ chồng con cái sẽ quây quần bên mâm cơm đạm bạc, ôn cố tri tân, tính toán chuyện tương lai.

- Anh bán vé số ơi, vào đây cho em mua vài vé…

Một cô bé thấp thoáng trong sân vườn. Vạt áo bà ba màu hoàng yến phất phới như đôi cánh nàng tiên nào đó trong huyền thoại.

- Anh lựa hộ dùm em 10 vé, cầu may…

Tôi trao 10 vé cho nàng. Những con số đen đủi, lăn quay một cách hèn hạ trên bàn tay mượt mà, mềm mại của cô bé.

- Em tên Út, con của Tám Bòn, bà con bên vợ với anh đây…

Căn nhà mái ngói trong đám mía đường tịch mịch này đây, bỗng vươn ra, lớn dần, và nhào lộn trong trí nhớ tôi. Hôm ở tù về, vợ tôi có dẫn đến, giới thiệu với cậu tám – một người chủ vườn trung niên, từng lưu lạc khắp nơi trong thời chiến tranh còn ác liệt.

- Ồ, chào cô. Tôi có đến thăm cậu tám một lần, nhưng không gặp cô…

- Em dạy học ở Mỹ Tho, mới về.

- Ồ…thì ra cô…là giáo chức…Rồi, về chơi…chừng nào cô trở lại lớp học?

- Em trốn luôn. Giáo chức…vức cháo dài dài…Em không còn tinh thần phát huy nghề nghiệp nữa…

Tôi ngậm ngùi. Khuôn mặt Út bỗng mập mờ hư ảo trước mắt tôi. Ðó là một khuôn mặt trái soan thanh tú, chỉ tội có nốt ruồi phá tướng nằm vắt ngang môi trên, dưới cánh mũi phập phồng. Thế rồi…nàng sẽ như tôi. Sẽ về vườn làm cỏ, lội mương, chôn cuộc đời son trẻ vào các vũng nước ao tù.

Trong số khách hào phóng mua vé số tôi mỗi ngày, Tư Ðà là một thanh niên có những nét đặc biệt. Hắn thường đến nhà tôi vào lúc gà gáy sớm, lúc sương còn ướt đầm ngọn cỏ. Hoặc khi trời tối mịt, khi bóng đen trùm phủ ấp Phú Hàn, chỉ có ánh đuốc của hắn lập lòe bùng cháy trong đêm.

Hắn đến để rút dăm tờ vé số chết tiệt, rồi ngồi bó gối cùng tôi uống trà, rung đùi kéo những hơi thuốc rê mịt mù sương khói. Ðôi khi, trong cơn mưa dai dẳng buồn nẫu ruột, hắn cắp nách xị đế chạy tìm tôi, rồi hái quách trái bưởi non làm “mồi”, hai anh em ngồi lai rai đến khuya lơ khuya lắc.

Tư Ðà sinh ra và lớn lên tại Phú Hàn. Và chỉ biết có đồng ruộng, con trâu, cùng cỏ cây hoa lá. Ðến tuổi thanh niên, người ta dí vào tay hắn cây AK, rồi đẩy hắn ra bờ sông làm du kích ấp. Tội nghiệp, suốt thời gian đi du kích, hắn chỉ biết trốn chui trốn nhủi trong những căn hầm hôi hám, khi máy bay hoặc tàu thủy của lính Cộng Hòa thi nhau tăng hỏa lực đì đùng. Cứ bị dồn vào chiến cuộc như thế, hắn không có điều kiện cắp sách đến trường, nên dốt đặc cán mai, một chữ i tờ lận lưng cũng chẳng có. Chiến tranh chấm dứt, khi tiếp xúc với đủ thành phần trong ấp Phú Hàn, Tư Ðà cảm thấy thua thiệt. Hắn bắt đầu đau khổ, chán đời, mượn rượu tiêu sầu. Rồi…tìm đến tôi – một kẻ bị đời chán – bầu bạn giải khuây.

Sáng mồng một tết năm nọ, tự dưng, hắn mang đến tặng tôi một gói Samit đầu lọc. Hút thuốc rê khét lẹt đã lâu, bỗng dưng có Samit như bắt được vàng, tôi vội hít vào tận phổi những hơi khói thơm lừng, sảng khoái đưa tâm trí mình về cõi mê hoang, quên mất Tư Ðà đang lúng ta lúng túng mở đề câu chuyện.

- Anh sáu, tui…tui…có chuyện…nhờ anh…

Tôi rung đùi, từ tốn rót tách trà “quạu” cho hắn :

- Chuyện gì? Cứ nói. Bạn bè nhau, khách sáo chi nữa, ông bạn?

Hắn hồi hộp ngó láo liên xung quanh, rồi e dè kề sát tai tôi :

- Tui…nói, anh đừng cười. Tui…tui…thương…cô Út, con Tám Bòn…

Tôi chưng hửng, ngó hắn từ đầu đến chân, từ chân lên đầu.

- Thì…cứ việc tỏ tình. Biểu lộ cho nàng biết tình yêu của mình.

Mắt hắn đỏ hoe, cuống quít nhìn tôi một cách thiết tha :

- Anh hút Samit thêm đi. Rồi…suy nghĩ, viết dùm em lá thư tỏ tình. Anh thông cảm, giúp…em…

Những ngụm thuốc Samit làm tôi hưng phấn, thoải mái tinh thần. Mùi thuốc ngọt lịm, thơm phức…cứ thoang thoáng xung quanh – gây nên cảm giác ngất ngây chất ngất. Gần mười năm qua, tôi đã làm bạn với thuốc rê. Ôi, những sợi thuốc rê đen mun và hăng hắc, hút với giấý nhựt trình chỉ ngửi được mùi giấy khét lẹt. Vậy mà nó cũng kích xúc, cũng tê mê, giải phá cơn sầu. Cám ơn Tư Ðà, người mang đến cho tôi gói samit tuyệt vời giữa chốn khỉ ho cò gáy này.

- Dễ thôi. Tôi viết dùm anh…bây giờ.

Thế rồi, lá thư tình được tôi nắn nót một cách lãng mạn. Tôi “cóp” nguyên xi bài Tình Tuyệt Vọng của nhà thơ trữ tình Pháp Lamartine, được nhà văn Khái Hưng dịch lại bằng lời Việt. Tư Ðà hồi hộp thay tôi sang tận Phú Keo bán vé số. Hắn đột nhập vào đám mía đường tịch mịch, khẩn thiết mời mọc Út mua số, rồi ấp a ấp úng trao lá thư tình.

Vài ngày sau, giữa lúc tôi đang ngồi xếp bằng dưới chiếu, tẩn mẩn ghi lại kết quả xổ số từ radio – Tư Ðà thình lình xuất hiện. Hắn hí hửng đưa cho tôi xem lá thư hồi âm, rồi choàng vòng tay qua vai tôi, biểu lộ lòng biết ơn trìu mến.. Nét chữ mềm mại con gái khiến tim tôi se lại. Hàng loạt kỷ niệm học trò hiện ra miên man, dắt tôi trở lại thời áo trắng xa xưa. Không cầm lòng được, tôi dẹp radio sang một bên, cầm bút viết ngay dòng chữ hồi âm. Thế rồi, thư qua thư lại, thư lại thư qua…ròng rã gần hơn năm trời. Cho tới một hôm, đúng ngay ngày ấp Phú Hàn đồng loạt quết bánh phồng đón tết. Giữa tiếng thình thịch thình thịch vang rân khắp xóm làng, Tư Ðà vui vẻ đến nhà tôi, trịnh trọng trao tấm thiệp cưới với nụ cười rạng rỡ. Như vậy, bắt đầu từ hôm nay, tôi đã chấm dứt nhiệm vụ của một kẻ se duyên. Cầu mong mối tình Tư Ðà và Út trọn đời gắn bó.

Chẳng hiểu hạnh phúc có thật sự đến với cặp tình nhân này hay không? Chỉ biết, khi tôi sắp sửa đi Mỹ, Út vội vã đến tìm tôi, rồi nhanh nhẹn lôi tôi ra phía hàng cam xanh um trĩu trái.

Ðêm ấy cũng là đêm giao thừa. Nhà nào nhà nấy đều đốt đèn thắp nhang đỏ rực cả khu ấp. Dưới bóng tối vây quanh của vườn cam, trong ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn nhà tôi hắt ra, tôi thấy những giọt nước mắt lả tả rơi não nề trên khuôn mặt Út.

- Có phải những lá thư năm xưa, chính anh là tác giả…Anh viết hộ cho Tư Ðà phải không?

Tôi quính quáng, nghẹn lời :

- Ơ…ơ…

- Anh hại em, hại cả một đời. Tư Ðà không xứng với em. Anh ta mù chữ, dốt tính toán, chẳng giúp cho em được chi hết…

Tôi xót xa nhìn Út, khuôn mặt trái soan mập mờ, lung linh một cách tội tình.

- Ơ…ơ…Anh xin lỗi…

Út úp mặt vào hai bàn tay khóc rấm rức. Bờ vai nhô lên, rung rinh như một cánh buồm trên sóng nước. Ðột nhiên, nàng cất tiếng, quát lớn vào tai tôi :

- Anh ác lắm, tàn nhẫn lắm !…

Rồi vụt bỏ chạy như điên, khuất dần trong bóng đen mịt mùng của ấp Phú Hàn.

Cho tới giờ này, ở phương trời viễn xứ xa lạ, tôi vẫn luôn bị dày vò, vẫn ân hận mãi về chuyện se duyên lá lay này.

Phạm Hồng Ân
San Diego, 5/12/2000

Posted: Fri Jan 13, 2012 4:33 am
by khieulong
Chiếc xe tang trắng và vụ sinh niệm Mai Thảo (1927-1998)

Viên Linh

1. Chiếc xe tang màu trắng:

Nhà văn Mai Thảo từ trần vào lúc 3 giờ sáng ngày 10 tháng 1, 1998 tại bệnh viện Fountain Valley, quận Cam,
và được an táng tại nghĩa trang Peek Family đường Bolsa thành phố Westminster vào ngày 17 tháng 1
trong một tang lễ trang trọng, với hơn 300 thân hữu, thân nhân, đưa tiễn.

Image
Khởi Hành số 10, 1997: Số báo tưởng niệm Mai Thảo khi Mai Thảo còn sống.

Sinh tại vùng biển muối Văn Lý, Nam Ðịnh vào ngày 8 tháng 6 năm 1927, ông thọ 71 tuổi, và vì không lập gia đình, chiếc xe tang đưa ông đi là một chiếc xe tang màu trắng. Những người yêu thơ chứng kiến cảnh ấy hẳn nhớ tới một bài thơ của Nguyễn Bính khóc nàng trinh nữ yểu mệnh ở Hà Nội xưa kia: “Có một chiếc xe màu trắng đục / Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi / Mang đi một chiếc quan tài trắng / Và những vòng hoa trắng lạnh người.”

Không, đám tang Mai Thảo, pháp danh Minh Tâm, không buồn, không ảm đạm như thế. Ông không vướng bận thê nhi. Hồi ở Sài gòn, mấy năm làm Tạp chí Sáng Tạo, ông cư ngụ ngay trong tòa báo, số 133B đường Ký Con, di chuyển bằng một chiếc xe hơi thùng, là một trong những nhà văn đầu tiên đi xe hơi. Sau này làm các báo Kịch Ảnh, Nghệ Thuật, ông thuê một căn gác phía sau Cà Phê Chiều Tím, di chuyển bằng xe xích lô đạp. Một hai người đạp xích lô thường xuyên cho tác giả “Ðêm giã từ Hà Nội” trở thành quen biết người viết bài này, vì hôm thì Mai Thảo quên trên xe hộp thuốc Con Mèo loại 50 điếu, loại hộp tròn bằng sắt; hôm thì đến đón “ổng,” mà ổng bỏ tòa soạn đi đâu chưa về. Lúc ấy Mai Thảo là chủ nhiệm tờ Nghệ Thuật, tôi làm thư ký tòa soạn, tòa báo chỉ vỏn vẹn một căn phòng thuê của Thư Lâm Ấn thư quán, số 233 đường Phạm Ngũ Lão Sài gòn, bên hông ga xe lửa của thành phố. Chính ở đây một buổi chiều thân mẫu nhà văn tới thăm con, ngồi rất lâu, chỉ nói đi nói lại một hai câu, nhằm ý giục ông con trai lấy vợ. Cụ nói, ông con trai vẫn viết. Lâu lắm mới nói: Thôi cụ về đi mà. Cũng chính ở đây một ông già đạp xích lô kể với tôi rằng hôm qua ông suýt chết vì chở Mai Thảo đi chơi Chợ Lớn trong cả buổi chiều. “Mà cậu biết đường sá Chợ Lớn chớ? Ðường lát gạch không hà. Mà lát nghiêng, sống gạch vừa nhọn vừa gằn, chứ nó có lát mặt gạch bằng phẳng cho mình đâu?” “Mà cậu biết không, đâu phải một mình ông ngồi trên xe? Nặng ơi là nặng. Cái cô Cậu biết rồi chứ gì?” “Tôi kể cho mình cậu nghe thôi nhe.”

Tôi gật đầu nghe ông kể.
2. Sinh niệm:
Rời chùa Huệ Quang trên đường Magnolia, xe chạy về hướng Nam. Chương trình buổi sáng của nhà văn Mặc Thu và tôi là sau khi tới dự lễ phát tang thân mẫu nhà văn Tưởng Năng Tiến, chúng tôi sẽ đi thăm Mai Thảo. Những ngày gần đây tác giả “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” không được khỏe. Từ căn phòng nhỏ trên lầu 2 của khu chung cư Christian Home trên đường Bolsa, anh đã phải dọn xuống tầng dưới, để khỏi phải leo 20 bậc thang mỗi khi lên xuống. Cửa phòng anh từ mấy tháng nay cũng không khóa nữa, để mỗi khi bạn bè tới thăm viếng, anh khỏi phải ngồi dậy ra mở cửa. Một tiếng gõ. Cứ vào. Chia tay ra về, cứ tự động khép cửa lại, chủ nhà khỏi phải ngồi dậy ra đóng. Lê Long Ðĩnh xưa kia ngọa triều thế nào không rõ, bây giờ biết rõ Mai Thảo ngọa triều ra sao. Mà triều đình nhà văn những ngày lưu vong, một tờ Văn đã trao cho Tả thừa tướng Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo không còn sống cái không khí hưng vượng của Sáng Tạo hay Nghệ Thuật nơi quê nhà. Quân binh dù vậy vẫn xếp hàng dọc theo mé Long sàng, có các ông Scott, Walker, ông Martell, ông Napoleon, ông Daniels, hết thảy đều sẵn sàng cung phụng cho tới tận đáy lòng chung thủy.

Nhân có anh Mặc Thu mới từ Việt Nam qua, Mai Thảo bảo tôi khui một chai Martell mới, ai đó vừa cho. Ba chúng tôi cụng ly. Anh Mặc Thu, tác giả cuốn sách rầm rộ quảng cáo hồi 1954 ở Sài Gòn, thành viên của Nhật báo Tự Do hồi ấy, đã bàn với tôi từ trước, bảo Mai Thảo: “Làm một số Khởi Hành đặc biệt về Mai Thảo nhé.” Im lặng.

Tại miền Nam các tạp chí văn chương ra một số báo đặc biệt tưởng niệm một nhà văn quá cố là chuyện rất thường. Sáng Tạo từng ra số đặc biệt tưởng niệm nhà thơ Quách Thoại. Tạp chí Văn từng ra các số tưởng niệm Ðinh Hùng, Tchya Ðái Ðức Tuấn, Lê Văn Trương; Tuần báo Khởi Hành từng tưởng niệm Song Linh và các nhà văn chết trẻ; Tạp chí Thời Tập từng ra số tưởng niệm Tam Ích, v.v. Tôi trình bày với Mai Thảo: Anh ra đi chúng tôi cũng sẽ làm số Tưởng Niệm, nhưng lúc đó anh đâu có đọc được? Ðâu biết anh em viết gì về mình? Vậy tại sao không làm một số Tiền Tưởng Niệm? Một số tưởng niệm trong khi nhà văn còn sống? Sinh Niệm. “Ông đi rồi thì cũng phải làm, - tôi nói - Chi bằng làm trước cho ông đọc chơi.”

“Làm thì làm.” Mai Thảo nói.

Mặc Thu và tôi nhìn nhau gật đầu. Thế là tháng 8 năm 1997, Khởi Hành số 10, số “Sinh Niệm Mai Thảo” ra đời. Mai Thảo đã nằm trên giường bệnh ở bệnh viện Fountain Valley, hai tay cầm tờ báo đọc những bài anh em viết về mình, “coi như” mình đã chết.
Image
Viên Vinh và Mai Thảo, 1982.

Ðây có lẽ là tờ báo đầu tiên trong làng báo ra số Tưởng Niệm một nhà văn khi nhà văn còn sống sờ sờ! Ngoài bìa đề: Sinh Niệm Mai Thảo. Dưới tấm hình đẹp trai của Mai Thảo. Ðề: (Mai Thảo (1927- ...)

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng khi đọc tờ báo, đã nổi giận với tôi: “Các ông tàn nhẫn quá!”

Tôi im lặng cho bạn bớt giận. Số báo lạ thường ấy có bài của những người sau đây:

Mặc Thu: Những ngày cuối của Mai Thảo ở Sài Gòn.

Phan Tấn Hải: Với nhà văn Mai Thảo.

Viên Linh: Mai Thảo Riêng Tây.

Và thơ, ý kiến về Mai Thảo của: Tạ Tỵ, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Hoài Phương, Nguyễn Ðạt. Chân dung Mai Thảo của CHÓE.
3 .Ngày giỗ Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý năm 2012: Ðọc lại một đoạn thơ Mai Thảo viết cho tác giả bài này:
“Pulau Besar, 14.1.1978

Viên Linh thân,

Ðã viết ngay cho ông khi mới tới đất Mã, chỉ vài ngày sau khi được đưa tới trại Pulau Besar này. Mong thư ông từ 2 tuần nay, hôm qua là ngày phát thư cho toàn trại, nhận được 2 thư ông cùng một lúc, mừng lắm. Tôi rời Sài Gòn, một mình, ngày 4 tháng 12 năm 1977, nằm ở một vùng biển tới đêm 6 tháng 12 thì ra khơi trên một tàu đánh cá, và sau 7 ngày đêm trên biển thì dạt vào một vùng biển Mã Lai Á, tiểu bang Trengganu. Ði thoát sang tới đây, mong gặp các bạn một mặt, nhưng mặt khác ngày nào cũng nhìn và nghĩ ngược đường trở về... Cho tôi gửi lời thăm cô ấy và tụi nhỏ.

MT.”

Posted: Mon Jan 23, 2012 8:14 am
by khieulong
Hồn Sài Gòn trong từng món đồ cũ
Trịnh Cung
Chúng ta - mỗi người Sài Gòn cũ, dù là lưu vong ở xứ người hay đang lưu vong ngay trên quê hương mình, cũng đều rất giống nhau ở nỗi niềm hoài cổ luôn muốn tìm lại một thời đáng yêu, một thời huy hòang, kiêu hãnh và những năm tháng đầy bi tráng đã qua, như một cách để quên đi cái hiện tại đang làm mình hư hao, chết mòn.

Image
“Con Ốc Sên,” gốm xưa, thuộc dòng gốm Lái Thiêu của miền Nam Việt Nam
mà tác giả tìm thấy trên vỉa hè Sài Gòn. (Hình: Trịnh Cung)

Một trong những con đường đưa tôi về lại, dù chỉ là phút giây, với “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!” thời chưa bị đổi chủ thay tên đó chính là những món đồ cũ, những ngôi nhà cũ, những con đường cũ, những hàng quán cũ, những bài ca cũ và cả những con người cũ, còn rơi rớt lại sau trận đại hồng thủy 1975.


Đã 36 năm trôi qua, một quãng thời gian đủ để những người “chiến thắng” vùi chôn, xóa sổ sạch mọi vết tích tồn tại của “đồng bào” thù địch khỏi tầm mắt. Và chút Sài Gòn ít ỏi còn sót ấy, tất nhiên, cũng đang trên con đường bị họ triệt tiêu hoặc đang tự triệt tiêu mình trên lộ trình già nua, hư hỏng của thời gian.

Image
Hủ gốm Cây Mai -Sài Gòn, trong bộ sưu tập của Trần Tiến Dũng. (Hình: Trịnh Cung)

Vui sướng và đau buồn – hai trạng thái trái ngược nhau ấy là những cảm xúc thường bắt gặp mỗi khi tôi đối diện với chúng đây đó trên các nẻo đường Sài Gòn. Khi là một ngôi nhà kiểu Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 19 vốn từ lâu đã là biểu tượng cho cái đẹp Sài Gòn nay bị đập phá để xây một cao ốc mới; khi là một bình gốm Cây Mai – Chợ Lớn như những kiều nữ nằm chờ khách trong những tủ kính của khu phố đồ cổ Lê Công Kiều; có khi là một chiếc máy nghe nhạc Akai đang ủ rũ , héo hắc với cuộn băng Sơn Ca 7 trong xó góc của một tiệm bán đồ cũ trên đường Âu Cơ.


Văn hào Dostoievski từng nói “Cái Đẹp cứu chuộc thế giới.” Tôi vốn cả tin vào lời các vĩ nhân và luôn rất muốn tin vào lý tưởng đẹp đẽ đó. Nhưng trong hòan cảnh Việt Nam bây giờ, có thể tin vào chân lý đó không, khi nhiều người Sài Gòn cũ đã phải chứng kiến cảnh những hàm cá mập sắt khổng lồ của những chiếc máy ủi máy xúc cạp nát từng mảng những di sản kiến trúc cổ, quật ngã những cây cổ thụ trăm năm tuổi của công viên Mê Linh thuộc khu nhà Bộ Giáo Dục VNCH để thay vào đó một cao ốc thương mại chuyên bán hàng hiệu mà bộ vó kiến trúc của nó như một gã khổng lồ vai u thịt bắp, vừa cực kỳ thô thiển vừa dương oai tự đắc!


Rồi nạn nhân bị hành quyết tiếp sau đó: khu nhà Eden, địa chỉ văn hóa bậc nhất của Sài Gòn không chỉ vì vẻ đẹp kiến trúc thời thuộc địa và sự phồn thịnh về thương mại, mà hơn hẳn, nó là một icon văn hóa - chính trị của Sài Gòn với những thương hiệu lớn như cà phê Givral, nhà sách Xuân Thu, rạp Ciné Eden, cà phê La Pagode,…? Đó là còn chưa nói đến những điều to tát hơn thế nhiều. Thật vậy, khu Eden này còn là một địa chỉ lịch sử Việt Nam từ thời Tiền Thuộc Địa cho đến trước cái chết oan nghiệt của chế độ Việt Nam Cộng Hòa bởi người CSVN.
Image
Tượng Phật Bà Quan Âm cầm giỏ dâu, gốm Biên Hoà, trong bộ sưu tập
của Trần Tiến Dũng. (Hình: Trịnh Cung
Có lẽ đạo diễn Phillip Noyce là người đã tiên thị được và cảnh báo về cái chết tòan diện của Sài Gòn cũ sẽ xảy ra trong một tương lai gần khi ông lấy khu phố gồm có tòa nhà Eden, khách sạn Continental và Nhà Hát Thành Phố để tái hiện lại cảnh chính trị bất ổn của Sài Gòn thời những năm 40 thế kỷ trước trong phim “Người Mỹ Trầm Lặng” (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh, Graham Greene). Đây là sự kiện văn hóa hiếm có sau cùng của khu đất-vàng-lịch-sử này.


Mỗi ngày tôi đều nghe đâu đó tiếng gọi từ những con đường Sài Gòn như thể tiếng gọi của một cuộc hẹn hò tình tứ, hoặc như thể là tiếng kêu cứu của một tòa kiến trúc cũ, của từng gốc cây cũ đang bị xóa sổ mà cũng không biết rồi ngày mai sẽ đến biểu tượng cho Cái Đẹp Sài Gòn cũ nào sẽ đến phiên phải chịu chung một số phận tiêu vong? Ôi, Cái Đẹp cứu rỗi thế giới nhưng nó đang từng ngày bị hạ sát ở chốn nhỏ nhoi này, thưa Ngài Dostoievski!


Lịch-sử-chiến-thắng giết lịch-sử-chiến-bại là như thế, và tất nhiên, nó đang tiếp tục con đường của nó trên đất nước này. Tôi, ở đây, những người Sài Gòn cũ đang ở đây hằng ngày, bị dạy cho bài học đau đớn này mỗi khi đi qua những đống đổ nát hoặc những tòa nhà mới mọc vừa sừng sững thô lỗ vừa cực kỳ ngạo mạn mà đành bụng bảo dạ: “Thôi hết thật rồi!”


Tuy nhiên, liệu người ta có thể thủ tiêu hết tất di sản của Sài Gòn cũ? Di sản Sài Gòn cũ đâu chỉ là những ngôi nhà, những công viên, những quán cà phê, những hiệu sách, những gallery,…? Trở lại cát bụi chỉ là số phận của những di sản vật thể không thể tháo chạy thóat thân khỏi cuộc truy nã trường kỳ của kẻ chiến thắng luôn thấm nhuần tư tưởng “diệt tận gốc,” nhưng những thứ thuộc về “linh hồn Sài Gòn cũ” thì có thể bức hại dễ dàng thế không? Những bản nhạc cũ đang phục sinh; những bức tranh của danh họa Sài Gòn đang được tìm mua; những tác phẩm văn học và tạp chí xuất bản ở Sài Gòn trước 1975, như Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn… hầu như vắng bóng tại những hiệu sách cũ vì sự ưa chuộng của nhà sưu tập; những tác phẩm gốm của các lò như Cây Mai-Chợ Lớn, Lái Thiêu-Bình Dương, Biên Hòa sản xuất trước 1975, đang được sưu tầm như báu vật; ngay cả những máy hát đĩa than và máy nghe nhạc hiêu Akai của Nhật cũng không dễ tìm thấy. Điều khá lý thú là những của hiếm ấy nay lại thường được những tay chơi ở Hà Nội, những người đã một thời từng luôn mồm chửi bới miệt thị văn hóa Sài Gòn-VNCH là đồi trụy, là nô dịch, tìm mua, đặt hàng với giá đắt đỏ. Đây mới là câu trả lời chính xác cho sự hiển linh của linh hồn văn hóa Sài Gòn cũ.


Và như thế, tôi đã trở thành một “fan” của những món đồ cũ ấy. Trong những lần lang thang qua các cửa hàng đồ cổ, tôi luôn dừng lại rất lâu trước những bình gốm Cây Mai men xanh với những họa tiết đắp nổi hình cành hoa, chim thú; trước những sản phẩm gốm Lái Thiêu với men màu da lươn độc đáo và những bình, tượng Phật Quan Âm với kỹ thuật rót khuôn bằng thach cao, một kỹ thuật gốm học được từ trường phái gốm Pháp rất hòan hảo. Trong một lần như thế, bất ngờ tôi bắt gặp một tượng gốm thuộc dòng Lái Thiêu già (cách gọi để phân loại tuổi gốm của dân chơi gốm), nó có hình con ốc sên, đang nằm phơi nắng trên vỉa hè phố Lê Công Kiều. Tôi thích quá nhưng không mua nổi với giá người bán đưa ra. Tôi bỏ đi nhưng không đi xa đươc, đành phải quay lai để ôm được nó về nhà bằng tất cả số tiền còn trong túi. Về đến nhà, tôi đặt con ốc sên ấy trên bàn viết bên cửa sổ phòng khách và hạnh phúc ngắm nó. Nó như cũng long lanh hạnh phúc nhìn tôi, hơi chút bùi ngùi như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Và buổi chiều hôm đó, tôi đã cao hứng dành cho nó một bài thơ…


Gặp Lại Ốc Sên


Tao đã rửa nhớt của mày bằng muối
Ướp mày bằng ngũ vị hương
Nấu mày trong ống bơ
Ăn mày những ngày đói ở trại tù sĩ quan ngụy Xuân Lộc
Tao ăn mà sợ sợ
Hỏi thằng tù bác sĩ:
Có sao không Hải?
“Chỉ chậm chạp qua đời…”
Đói nên không dám ói


36 năm rồi
Tao chưa chết
Để gặp lại mày
Trên vỉa hè phố đồ cổ Lê Công Kiều chiều nay
Đời mày phơi nắng dầm mưa bao lâu rồi
Mày đến từ lò thiêu Biên Hòa, Cây Mai hay Lái Thiêu không ai còn biết
Nay mày rụng hết tai mù hết mắt miệng hết mở
Cũng như tao hồi đó hay sao
Thằng bán mày chắc cũng không mấy được no
Mua bán chầm chày may rủi
Từ những gánh ve chai
Từ những cái túi lấm la lấm lét

Cái số mày với tao
36 năm không chết còn gặp lại nhau
Trong một chiều hiếm khi
Tao phải đưa mày về nhà

Và thằng bán mày chiều nay có bữa lai rai.

TRỊNH CUNG

Posted: Wed Jan 25, 2012 5:42 am
by vuphong

Image

Mùa xuân và khoảng lặng


"Về thôi em tuyết đã buốt bàn chân,
Gió thông thốc trên làn da tím tái
Phiên chợ cuối tuần chẳng người qua lại
Về đi thôi còn kịp đón giao thừa…“


(Phạm Thế Năng, Berlin, Đức)

Vậy là đã hai cái tết tôi phải đón xuân một mình, giữa cái không khí lạnh lẽo của mùa đông châu Âu cộng với nỗi cô đơn hoang vắng của cõi lòng mình... Ảnh minh họa: AFP

Tôi lặng lẽ cầm cuốn sổ tay có ghi bài thơ tôi viết cách đây hai năm trong một buổi chiều của mùa đông giá buốt, sẽ sàng đặt lên bàn thờ trước di ảnh người vợ quá cố của tôi, người mà tôi suốt đời không bao giờ quên, người đã cùng tôi lặn lội khắp hang cùng ngõ hẻm cuả vùng nông thôn nước Đức để mưu sinh mà lòng như trĩu nặng, hai hàng nước mắt tự nhiên lăn xuống nóng hổi trên gò má và tràn lên đôi môi mặn chát. Vậy là đã hai cái tết tôi phải đón xuân một mình, giữa cái không khí lạnh lẽo của mùa đông châu Âu cộng với nỗi cô đơn hoang vắng của cõi lòng mình. Tôi thắp 3 nén hương, cố nén nỗi đau đang giằng xé trong lòng, thì thầm trước di ảnh vợ như thủa nào còn ở bên nhau... "Em à, em có biết không, quê mình bây giờ đã là giao thừa rồi đấy. Vậy là một cái tết nữa lại đến rồi. Năm nay đã là năm thứ hai chúng mình không được gần nhau, không có em anh buồn vô cùng. Tết này anh cố lùng mua được túi hành Việt Nam và muối chua để em về thưởng thức, cái món em vẫn thường ao ước mỗi độ xuân về mà anh vẫn chưa kiếm được. Sang năm chúng mình sẽ cùng đón tết ở Việt Nam. Anh sẽ đưa em về cùng anh để em bớt lạnh lẽo…"

Tôi nói với vợ mà như tự trách lòng mình. Trong khói hương nhạt nhoà nhìn vào đôi mắt vợ tôi, tôi như cảm thấy em đang mỉm cười độ lượng và hy vọng rằng ở cõi xa xăm kia em sẽ thông cảm cho nỗi dằn vặt của tôi bởi đã hai năm tôi chưa mang được em về với mẹ và chưa trọn lời hứa với em và với chính lòng mình.

Thắp hương cho vợ xong tôi lặng lẽ kéo ghế ngồi sát bên cửa sổ, ngoài trời tuyết lại rơi dày, phủ trắng trên những cành bạch dương trơ trọi và chiếc ghế băng không người. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi mạnh làm những bông tuyết bay giữa không trung vắng lặng xua tan đi cái sự tĩnh mịch cuả vùng quê nước Đức. Châm điếu thuốc hít một hơi thật dài tôi bần thần nhớ lại cái buổi chiều định mệnh (cũng là buổi tối 30 tết Việt Nam) của hai đứa chúng tôi.

Sang Đức được 4 năm, chúng tôi yêu nhau và đến với nhau bằng một cái đám cuới giản dị theo kiểu nửa Tây nửa Ta. Công việc của hai đứa chúng tôi là tự kinh doanh bán hàng quần áo ngoài chợ. Vợ tôi chăm chỉ tiết kiệm, không quản ngại nắng mưa hay bão tuyết. Là người sinh ra và lớn lên trong một gia đình không mấy khá giả nên em luôn sống giản dị chan hoà. Nhiều lúc tôi hay đùa em là em giản dị quá nên cái ước mơ cuả em cũng giản dị. Cho đến ngày này cách đây hai năm, em nói với tôi rằng nếu vậy hôm nay em thử ước mơ thật giản dị xem anh có đáp ứng được không nhé. Và em nói với tôi năm nay chúng mình đón một cái tết thật Việt Nam, em muốn có có đủ “dưa hành thịt mỡ bánh chưng xanh“. Tôi cười và nói với em rằng "Chuyện vặt! Năm nay giao thừa vào ngày phiên chợ, mình sẽ nghỉ sớm để cùng nhau vào khu trung tâm giao hàng cuả người Việt, anh sẽ mua cả mấy cân dưa muối cho em đỡ thèm".

Khoảng 3 giờ chiều chúng tôi bắt đầu dọn hàng, vừa dọn tôi vừa ngẫu hứng đọc cho em mấy câu thơ mà có lẽ lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng em biết được ông chồng yêu quí của em cũng biết làm thơ:

…Về thôi em tuyết đã buốt bàn chân,

Gió thông thốc trên làn da tím tái

Phiên chợ cuối tuần chẳng người qua lại

Về đi thôi còn kịp đón giao thừa…

Em cười rộ và nói rằng "thơ con cóc mà nghe cũng hoàn cảnh phết". Ôi tiếng cười của em thật hồn nhiên làm sao. Nó như phá tan đi cái ảm đạm cuả buổi chợ vắng lặng hắt hiu. Chúng tôi dọn xong hàng thì trời tuyết rơi dày, hai đứa lên xe và phóng về hướng trung tâm thành phố. Tuyết rơi mỗi lúc càng dày thêm, chiếc gạt nước xua liên hồi nhưng cũng không sao đuổi hết những bông tuyết cứ lao vào kính xe như đám ong vỡ tổ. Tôi bắt đầu thấy tay lái mình chệch choạc và chiếc xe cứ thế trôi đi trong tuyết trắng bồng bềnh. Trong sự mất bình tĩnh, tôi chỉ biết co chân đạp phanh theo phản xạ và trong tích tắc cả chiếc xe chất đầy quần áo và ô, sạp văng đi trong tiếng thét thất thanh của vợ.

Tôi tỉnh dậy khi quanh mình quấn trắng băng và chằng chịt những dây, vừa lờ mờ nhìn thấy cô y tá tôi vội hỏi thăm tình hình sức khỏe cuả vợ, cô ấy nói rằng vợ tôi hiện đang điều trị, tôi cứ yên tâm. Tuy vậy ruột gan tôi cứ như bị ai đang cấu xé, tôi có linh tính cái gì đó chẳng bình thường trong câu nói cuả cô y tá kia.

Tôi lại thiếp đi mệt mỏi, sáng hôm sau tỉnh dậy tôi nhận ra vợ chồng người bạn thân của chúng tôi nhà cách mấy cây số đang ngồi cạnh mình. Vừa nhìn thấy tôi chị vợ không nín được xúc động đă bật khóc và thế là tôi lại thiếp đi trong cái nỗi đau cùng cực của cả thể xác lẫn tinh thần. Chẳng biết tôi đã chết đi sống lại bao lần như thế cho đến ngày tôi khỏe hẳn và xuất viện.

Những ngày tháng tiếp theo với tôi thật sự khủng khiếp. Tôi trở thành kẻ cô đơn lạc lõng với thương tật vĩnh viễn mất sức lao động, sống mòn mỏi nơi đất khách quê người. Vết thương cơ thể và nỗi đau tinh thần như càng hành hạ tôi cứ mỗi độ xuân về. Tôi quyết tâm năm sau sẽ hoàn thành thủ tục xin hồi hương và đưa di cốt người vợ yêu thương cùng với đứa con chưa kịp biết cất tiếng chào đời về với quê hương đất mẹ để mỗi năm tết đến em tôi không còn phải mơ ước một cái tết có đủ thịt mỡ dưa hành và để chính tôi không phải đớn đau mỗi khi đón giao thừa mà trong khói hương kia thiếu đi cái hương vị giản dị quê nhà mà tôi đã hứa với em…

Ngoài trời tuyết vẫn rơi, ba nén nhang trên bàn thờ vợ tôi đã cháy hết khi nào. Tôi lặng lẽ đi nằm…

Berlin giao thừa 2012.
Phạm Thế Năng

Posted: Thu Jan 26, 2012 2:54 am
by hoanghoa

Image

1000 viên bi !

Càng lớn tuổi, tôi càng thấy thích thưởng thức những buổi sáng Thứ Bảy. Có lẽ là do bầu không khí yên lặng, tĩnh mịch cùng với việc là người đầu tiên thức dậy, hay cũng có thể là do niềm vui khi không phải đi làm. Dù sao đi nữa, vài giờ đầu của sáng Thứ Bảy luôn luôn mang lại cho tôi những cảm xúc thích thú nhất.

Cách đây vài tuần, vào một buổi sáng Thứ Bảy, tôi ngồi thưởng thức ly cà phê còn bốc khói, đọc báo và nghe radio. Từ radio đang phát ra một giọng nói vô cùng ấm áp, hấp dẫn, chất giọng vàng của một người đàn ông đã đứng tuổi đang nói với một ai đó tên là Tom về câu chuyện một ngàn viên bi gì đó...
Tò mò, tôi ngừng đọc báo và lắng nghe ông nói. "Này Tom, hình như anh đang rất bận với công việc của anh thì phải. Tôi chắc rằng họ trả lương cho anh cũng khá lắm phải không, nhưng thật không đáng nếu anh cứ phải luôn luôn vắng nhà và xa gia đình vì công việc như vậy. Không thể tin được một người trẻ tuổi như anh lại cứ quần quật làm việc mỗi tuần từ 60 đến 70 tiếng để trang trải mọi thứ. Thật đáng tiếc anh đã không tham dự được buổi biểu diễn của con gái anh”.

Ông tiếp tục, "để tôi kể cho anh nghe điều này anh Tom ạ, một điều đã giúp tôi ý thức về những gì ưu tiên trong cuộc sống của mình”. Và ông bắt đầu giải thích lý thuyết của ông về “một ngàn viên bi”.

"Anh biết không, một ngày nọ tôi đã ngồi làm thử một bài toán nhỏ. Mỗi người trung bình sống được khoảng 75 năm. Tôi biết cũng có người sống thọ hơn và cũng có người chết sớm hơn nhưng trung bình, người ta sống được khoảng 75 năm”.

"Sau đó, tôi nhân 75 năm đó với 52 tuần thì ra con số 3900, là tổng số ngày Thứ Bảy mà mỗi người có được trong cả cuộc đời của họ. Này anh Tom, hãy tập trung và lắng nghe, tôi đang dẫn giải đến phần quan trọng rồi đây”.

"Phải đến năm 55 tuổi tôi mới biết suy nghĩ về mọi việc kỹ càng như vậy”, ông tiếp tục, "và cho tới lúc đó, tôi đã sống qua hơn 2800 ngày Thứ Bảy của đời mình.

Và nếu tôi sống được đến năm 75 tuổi, tôi sẽ chỉ còn được hưởng khoảng 1000 ngày Thứ Bảy nữa mà thôi”.

"Và rồi tôi đi tới một cửa hàng đồ chơi, mua tất cả những viên bi họ có, và phải đi tới ba cửa hàng tôi mới mua được đủ 1000 viên bi cho mình. Tôi đem chúng về nhà, bỏ vào chiếc hộp nhựa lớn, ngay cạnh chỗ tôi thường ngồi. Từ đó, khi mỗi ngày Thứ Bảy qua đi, tôi lại lấy một viên bi ra và ném bỏ đi”.

"Tôi nhận ra rằng, khi nhìn số lượng những viên bi trong hộp ngày càng giảm dần, tôi đã biết tập trung hơn cho những điều thật sự quan trọng trong cuộc sống. Không gì thức tỉnh bằng việc nhìn thời gian còn lại trên trái đất của mình cứ ngắn dần và nó sẽ giúp bạn biết ý thức về những ưu tiên của mọi việc”.
"Bây giờ, tôi sẽ nói cho anh Tom nghe một điều cuối cùng trước khi tôi ngừng cuộc trò chuyện này của chúng ta để đưa người vợ yêu quý của tôi đi ăn sáng.
Sáng nay, tôi đã lấy viên bi cuối cùng ra khỏi chiếc hộp. Tôi hình dung nếu tôi có thể giữ nó cho tới sáng Chủ Nhật hôm sau nữa thì tức là Chúa đã ban cho tôi thêm một chút thời gian để được ở lại bên những người thân yêu…

"Thật tốt khi được trò chuyện với anh, anh Tom ạ, tôi mong anh sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu của anh và tôi cũng hy vọng, một ngày nào đó sẽ gặp lại anh. Chúc buổi sáng tốt đẹp!”.

Không một tiếng động khi ông ấy kết thúc cuộc trò chuyện. Tôi nghĩ ông ấy đã khiến tất cả chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Sáng hôm đó, tôi đã định làm một số việc, nhưng rồi, tôi quyết định chạy lên lầu, đánh thức vợ tôi bằng một cái hôn.

"Dậy thôi em yêu, anh sẽ đưa em và các con đi ăn sáng”.

"Có chuyện gì đặc biệt hả anh?”, vợ tôi hỏi với một nụ cười.

"Không, không có gì đặc biệt cả”, tôi nói, "Chỉ vì đã lâu lắm rồi hai vợ chồng mình không có thời gian với nhau và với các con. À, trên đường đi mình dừng lại ở cửa hàng đồ chơi một chút nhé, anh cần mua một vài viên bi”.

Posted: Thu Jan 26, 2012 5:53 am
by thienthanh
Nhạc Sĩ Nhật Ngân (1942-2012)

Nguyễn Tài Ngọc
http://www.saigonocean.com/trangNguyenT ... angNTN.htm


Chủ Nhật vừa rồi sau một ngày Thứ Bẩy nhộn nhịp với gia đình anh chị, cháu trai, gái đến thăm viếng nhân dịp Tết, sáng sớm tôi xem mail thì thấy anh Lê Hân báo tin là anh Nhật Ngân đã mất vào ngày Thứ Bẩy 21-01, hưởng thọ 70 tuổi.

Mấy tháng trước tôi đã định bụng viết một đôi dòng về những bản nhạc của anh Nhật Ngân vì tôi thích nhiều bài của anh ấy. Nhạc của anh thuộc loại “siêu phàm”, rất nhiều bài điệu nhạc hay, dễ nhớ, và lời nhạc của anh chất phác, bình dị. Là người viết văn thơ, tôi không thích sự bóng bẩy, cầu kỳ trong cách hành văn. Chính vì sự tương đồng này mà tôi muốn viết vài dòng về nhạc của anh. Chần chờ mãi, bây giờ anh đã đột ngột ra đi.


Anh Nhật Ngân là bạn của anh Lê Hân, người sáng lập ra SaigonOcean.com. Lần đầu tiên tôi gặp anh Nhật Ngân là qua anh Lê Hân, ba năm về trước. Chúng tôi gặp nhau ở tiệm phở Thăng Long trên đường Bolsa.
Image
Phở Thăng Long, trái sang phải : anh Nhật Ngân, anh Lê Hân, chị Châu (vợ anh Hân), anh Anh, chị Giao (vợ anh Anh), Cẩm Loan (vợ tôi)
Tôi không nghe nhạc, ngoại trừ những ca sĩ nổi tiếng trước 1975 và hai nhạc sĩ ai cũng biết là Phạm Duy và Nhật Trường, tôi không biết ai là ai trong giới âm nhạc. Vì thế khi anh Lê Hân giới thiệu anh Nhật Ngân, tuy rằng sau này tôi mới khám phá ra là một nhạc sĩ nổi tiếng viết hơn 200 bài nhạc, lúc bấy giờ khi bắt tay chào hỏi, tôi thật sự không biết anh ấy là ai.


Khi khám phá ra là tôi không biết anh là ai, anh Nhật Ngân mới hỏi tôi:
-Ngọc có biết bài “Tôi đưa em sang sông” không?
Thì tôi trả lời ngay:
-Em biết chứ. Bài đó nổi tiếng, ai cũng biết.
-Bài “Qua cơn mê”?
-Em cũng biết bài đó. Em nhớ ngày xưa cô Băng Châu hát.

Image
Anh Nhật Ngân và vợ chồng tôi
-“Một mai giã từ vũ khí”?
-Em biết bài này. Ngày xưa cạnh nhà em có ông này gọi là ông Trọng bán tem, sáng Chủ Nhật nào ông ta cũng bật magnétophone to thật to cho cả xóm cùng nghe. Ông ta có chừng năm cuộn nhạc, một trong đó là bài “Một mai giã từ vũ khí”, thành ra ông ta cứ phát đi phát lại bài này.
- “Mùa xuân của mẹ”?
-Không biết. Nghe tựa thì em không biết, bài đó hát ra làm sao?
Anh ấy mới hát hai câu đầu:
- Mẹ ơi hoa cúc hoa mai nở rồi. Giờ đây đời con đang còn lênh đênh….
-Ồ, thế thì bài này em cũng biết chứ.
-Anh là tác giả những bài anh vừa kể cho Ngọc.
Tôi vừa nghe anh nói thì xấu hổ cho chính mình, vừa gặp một đại nhân tài trong lãnh vực âm nhạc Việt Nam mà tôi lại khù khờ không biết.



Tôi gặp anh vài lần sau nữa ở tiệm cà-phê Factory ở góc Brookhurst và McFadden. Anh giải thích cho tôi là anh em nghệ sĩ hay tụ tập sáng Thứ Bẩy và Chủ Nhật ở quán cà phê này. Một lần anh giới thiệu cho tôi nhạc sĩ Trần Trịnh, một ông già râu tóc bạc phơ ngồi uống cà-phê với anh (viết đến đây tôi mới chợt nhớ ra là có một cô, em một cô bạn của tôi, dùng một chữ gọi tôi, già còn hơn là ông già: ông tiên với mái tóc bạc trắng!). Trần Trịnh là bạn thân ngày xưa viết nhạc với Nhật Ngân, hai người lấy bút hiệu là Trịnh Lâm Ngân: Trịnh là Trần Trịnh, Ngân là Nhật Ngân, và Lâm là Lâm Đệ. Tôi nhớ không rõ, hình như anh nói với tôi anh Lâm Đệ là con trai của ông chủ một hãng đĩa nhạc hay sao đó.
Image
Xa xa bên tay phải là tiệm cà-phê Factory

Ai gặp anh Nhật Ngân lần đầu tiên sẽ có cảm tình với anh ngay: người Bắc, dễ tính, dễ hòa đồng, tính nết xuề xòa. Nói chuyện với anh sẽ thấy ngay lý do tại sao lời nhạc của anh có bản chất chân thật: nó phản ảnh con người của tác giả.

Lời nhạc của anh tuy đơn sơ nhưng nó thấm nhuần đến tận cùng của trái tim. Tôi nhớ những năm đầu tiên sống trên nước Mỹ, nghe bản nhạc “Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh” mà tôi thán phục tác giả không cần dùng bom đạn, không cần dùng xe tăng, máy bay, không cần dùng bao nhiêu sư đoàn thiện chiến để cho đối phương biết đâu là hư, đâu là thực:

Nếu tôi có được phép thần thông,
tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài Gòn năm năm về trước
để cho anh thấy được
anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh.



Không ai thoát qua vòng lẩm cẩm của tình yêu. Năm 18 tuổi, ở Đà Nẵng, khi gia đình cô gái Nhật Ngân yêu gả cô ta cho một gia đình có chức phận hơn mình, anh viết một bản nhạc bày tỏ vết thương lòng, sau này trở thành nổi tiếng, "Tôi Ðưa Em Sang Sông":


Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền ?
Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân.
Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa.
Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.



Cũng như bao nhiêu người trai trẻ trong tuổi chiến chinh, anh gia nhập quân đội. Xa nhà, xa người thân, miệt mài trong chinh chiến, nỗi nhớ thương sâu đậm mẹ ở nhà một mình khiến anh sáng tác vài bài khá nổi tiếng nhớ thân mẫu:



Mẹ ơi con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân đã đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn
Dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên Mẹ là mùa xuân thôi


(Mùa Xuân Của Mẹ)

và người yêu của mình:

Xin hiểu tình yêu, trong thời chiến chinh này mấy người mơ ước cho tròn.
Càng khổ càng đau, thì tình yêu càng sâu khi dắt đưa nhau về bến.
Ngăn cách bây giờ, cho mai mốt sum vầy không thấy thẹn cùng sông núi.


(Người Tình Và Quê Hương)


Thế nhưng cho dù có yêu mẹ, yêu người tình đến đâu, bài nhạc nào của Nhật Ngân cũng đặt nghĩa vụ , bổn phận yêu nước, sát cánh với đồng đội trên hết:

Vì đời khổ đau anh góp một phần xương máu.
Đôi cánh tay này anh hiến trọn cho tình quê.
(Người Tình Và Quê Hương)
Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà


(Mùa Xuân Của Mẹ)

Ngày xưa khi tôi còn bé, tôi cứ tưởng là quốc gia nào cũng đánh nhau như Việt Nam. Sinh trưởng trong một quốc gia khói lửa điêu tàn với cơ hội tử vong rất gần gũi cho những người cầm súng, Nhật Ngân cũng như bao nhiêu người khác mơ ước đến một ngày quê hương thanh bình:


Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi
Ngoài con tim héo em ơi !
Xin trả lại đây, bỏ lại đây
Thép gai giăng với lũy hào sâu
Lỗ châu mai với những địa lôi
Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ
(Một mai giã từ vũ khí)

Một mai qua cơn mê,
Xa cuộc đời bềnh bồng
Tôi lại về bên em
Ngày gió mưa không còn
Nên đường dài thật dài,
Ta mặc tình rong chơi

(Qua cơn mê)

Buổi sáng hỏi mây trời đi hoài có rõ
Con đường nào, con đường nào dẫn một ngày vui
Ngày vui đó bầy chim sáo rủ nhau về xây tổ
Mưa sẽ về, mưa sẽ về cho đá đơm bông


(Ngày đá đơm bông)

Bố mẹ tôi là người miền Bắc, nhưng tôi sinh trưởng ở SàiGòn. Cái chất phác, mộc mạc, thật thà của người miền Nam ảnh hưởng tôi rất nhiều nên tuy rằng hấp thụ văn hoá phong phú của miền Bắc từ bố tôi, khi viết văn thơ, nhất là thơ, ý tưởng và câu văn của tôi không bóng bẩy, trau chuốt, khách sáo. Trái lại, nó đơn giản, bình dị, vắn tắt. Đây là lý do mà nhiều bài nhạc vợ tôi cho là “Sến”, tôi lại rất thích nghe. Trong lời nhạc của anh Nhật Ngân, tôi thích anh ấy ở điểm này. Lời nhạc anh ấy rất giản dị nhưng khi nghe, một người hấp thụ ngay nó đến từ tâm lòng chân thật của người viết, và dĩ nhiên, anh Nhật Ngân lại có khả năng hiếm có là biến lời thành nhạc rất bắt tai, dễ nhớ, dễ hát.


Rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng viết nhạc tình. Tài năng của anh Nhật Ngân đa dạng hơn. Ngoài nhạc tình, anh viết nhạc bày tỏ tình cảm mình đến mẹ, đến đồng đội, đến quê hương, đến xã hội, đến nơi anh sinh trưởng. Nghe nhạc của anh, một người có thể hình dung tác giả là một người hiền từ, thật thà, có sao nói vậy, có lòng đam mê quê hương và đồng hương của mình.
Đó là anh Nhật Ngân mà tôi đã hân hạnh được quen biết.


Nguyễn Tài Ngọc

Posted: Fri Jan 27, 2012 2:21 am
by hoanghoa
Du khách phàn nàn chuyện nghỉ mát của Kate Middleton

CARRIBEAN ISLAND (ABC NEWS) - Trong khi công nương Kate Middleton và gia đình đang tận hưởng những ngày nghỉ thần tiên
trong một lâu đài tráng lệ với giá thuê $23,000/tuần,
thì những cư dân và khách du lịch xung quanh quần đảo này nổi giận vì những luật lệ giới hạn để bảo vệ cho cuộc nghỉ mát rất riêng tư của cô.

Image
Công nương Kate Middleton. (Hình: Ian Gavan/Getty Images)

Thật vậy theo tờ Daily Mail Reports, công ty Mustique là công ty chuyên lo về những chuyến nghỉ mát đắt tiền trên đảo Carribean đã đặt ra những luật lệ cấm đoán các khách du lịch khác để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cô Kate và gia đình cô.

Có rất nhiều khách du lịch đã phàn nàn về chuyện giới hạn những phương tiện được cho mướn hay là các chiếc xe dùng chạy trong sân đánh golf, thông thường thì chúng được dùng một cách thoải mái để có thể chạy khắp nơi xung quanh đảo đó, và bây giờ thì rất phiền phức phải qua hệ thống bảo vệ nghiêm ngặt trước khi được phép đi vào những địa điểm được xem là lý thú của vùng đảo.

Cô Kate Middleton đi cùng với cha mẹ cô là ông bà Michael và Carole, ngoài ra còn có các anh chị em của cô cũng tháp tùng theo. Họ xuất phát từ Luân Ðôn, ngồi ghế thượng hạng (First class) trên chuyến bay đường dài của hãng Bristish Airways, chuyến bay đã đưa tất cả mọi người rời khỏi phi trường Gatwick của Luân Ðôn.

Gia đình của Kate là chủ nhân của một công ty chuyên lo về những kế hoạch nghỉ dưỡng của giới nhà giàu, họ là những khách du lịch thường xuyên đến vùng đảo này, theo tin cho biết thì gia đình này đang tìm mua một khu được gọi là khu nghỉ dưỡng ở đó, cô Kate và chồng cô ta, túc là hoàng tử William đã từng du lịch sang xứ này năm 2006 khi đó họ còn là cặp bồ với nhau thôi.

Ngày nay những luật lệ khắt khe, những giới hạn không cần thiết đã gây ra nhiều sự bực dọc sau khi Kate chính thức “buộc” dây tơ hồng với hoàng tử của hoàng gia Anh và kể từ đó mỗi lần cô bay sang vùng đảo này để nghỉ dưỡng là có thêm rất nhiều phiền toái xảy ra.

“Thật sự cũng không hoàn toàn là bạn được hưởng thụ 100 phần trăm khi bạn chi ra những món tiền lớn để cho những chuyến đi chơi vào một nơi chốn đắt tiền nhất như vùng đảo này,” một cư dân của đảo Carribean nói như thế.

Theo nguồn tin đáng tin cậy cho biết công ty Mustique đã bỏ thêm nhiều tiền để chi cho vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt và dĩ nhiên họ phải thảo luận với các cận vệ của Kate.

“Còn nhớ hai năm trước, gia đình của Kate Middleton lúc đó chỉ là một thường dân mà thôi, rất thường dân,” Dickie Arbiter, cựu tùy viên báo chí của nữ hoàng Anh nói với ABC news như thế.

“Rồi Kate làm đám cưới với William, kể từ đó họ được 'dựa hơi' hoàng gia,” ông nói tiếp.

Hàng rào bảo vệ càng thắt chặt thêm, ít nhất trước một tuần khi hoàng tử William bay sang để cùng gia đình bên vợ tiếp tục cuộc nghỉ dưỡng đó.

Theo tờ People Magazine Reports thì hiện nay William là phi công lái trực thăng cho đội tìm kiếm và cứu người, căn cứ được đặt tại Anglesey, Wales.

Cũng theo tạp chí này, chuyện William đi nghỉ dưỡng cùng với “bà xã” và gia đình bên vợ phải được sự chấp thuận cũng như dời chuyển lịch công tác của anh ta trong quân đội.

Cả hoàng cung cũng như công ty Mustique đều không có ý kiến gì về chuyện đi nghỉ mát của Hoàng gia. (Ð.T.)

Posted: Sun Jan 29, 2012 6:30 pm
by quaichao
Người ăn trưa trong xe

Trang Châu

Ðiều khó khăn cho tôi trong dự tính bước đi một bước nữa là sợ bị lợi dụng. Tôi sợ đàn ông đến với tôi không vì tình mà vì quyền lợi của họ. Góa chồng vào tuổi 45 quả là một điều bất hạnh. Tôi không còn trẻ để nhờ cậy vào nhan sắc. Nhan sắc không phải tôi không có nhưng tôi sợ cái có đó không bền. Hình như càng lớn tuổi thời gian đi càng nhanh. Châu, đứa con gái duy nhất của tôi đã lập gia đình và ra ở riêng. Tương lai của hai vợ chồng chúng nó được bảo đảm với nghề dược sĩ của Châu và nghề kỷ sư của chồng nó. Yên tâm về phần con cái, tôi chỉ còn lo cho tôi. Chồng tôi thình lình qua đời sau một cơn đau tim mặc dù anh mới 53 tuổi. Có lẽ anh quá lao lực và bị căng thẳng trong nghề nghiệp của anh. Chồng tôi là một y sĩ gây mê. Anh trực gác liên miên ở nhà thương. Có lần anh than thở với tôi rằng nghề của anh phải đi sớm về muộn, phải vào bệnh viện sớm để sửa soạn cho bệnh nhân ngủ và chỉ về sau khi bệnh nhân tỉnh dậy mà không bị biến chứng. Tôi là một người vợ chỉ biết sống cho chồng, cho con. Có một chút thì giờ rảnh rỗi, tôi làm đại lý cho một hảng du lịch, bán vé máy bay ăn huê hồng. Một cách cho qua thì giờ, thêm có chút tiền túi. Chồng chết, con ra ở riêng, còn lại một mình tôi trong căn nhà 5 phòng ngủ, tọa lạc trong một khu sang trọng của thành phố. Sau một năm gậm nhấm nỗi cô đơn, khi sự phiền muộn theo thời gian có phần nào vơi đi, tôi lấy lại được bình tỉnh, phân tích hiện tại và suy nghĩ về một hướng đi cho tương lai mình. Tôi không còn ở cái tuổi nôn nả tình yêu hay rạo rực thể xác. Nó chưa mất nhưng nó cần được khơi dậy. Người đàn ông tôi cần vẫn là một người đàn ông có chiều sâu như chồng tôi. Trước tiên, tôi cần sự cảm thông, sau đó thì cho nhau chút gì còn lại của tuổi trẻ. Ðến với tôi phải là một người đàn ông hoàn toàn tự do, tuy giàu nghèo đối với tôi không phải là một vấn đề. Phân tích xong nhu cầu của mình, tôi thấy tình hình không khó mà cũng không dễ. Không khó vì điều kiện của tôi không quá đáng ; không dễ vì đàn ông hợp với lứa tuổi của tôi mà còn tự do e đếm được trên đầu ngón tay trong cái thành phố không quá ba chục ngàn người Việt cư ngụ nầy. Mà khi có, chắc gì họ là người đang chờ đợi ở tôi giống những gì tôi đang chờ đợi ở họ ? Tìm kiếm thì tôi vẫn tìm kiếm nhưng gặp được hay không tôi tin ở số trời.

Khi chồng tôi còn sống, chúng tôi hay tham dự những buổi tiệc có văn nghệ khiêu vũ tại tư gia của bạn hữu. Chúng tôi thích nhảy, dù không nhảy giỏi và thường chúng tôi nhảy với nhau. Thỉnh thoảng bạn bè cũng lôi chồng tôi ra sàn nhảy với những điệu disco hay twist, anh cũng lúc lắc cặp giò, ngoáy mông, trước tiếng vỗ tay cổ võ của bạn hữu vì chồng tôi là người nổi tiếng nghiêm nghị, nhưng là một vẻ nghiệm nghị được quí mến vì anh rất nhã nhặn. Trong hai vợ chồng, tôi là người xã giao bặt thiệp hơn anh. Sau khi chồng tôi mất được sáu tháng, nể vài cặp bạn thân, tôi tham dự mấy buổi họp mặt. Nhưng sau đó tôi quyết định né tránh. Tôi phải né tránh vì dường như mọi sự có vẻ thay đổi. Trong những buổi họp mặt có đôi có cặp, người đàn bà một mình như tôi, trở nên lạc lỏng. Những người vợ, bây giờ có vẻ như không muốn chồng họ mời tôi nhảy và một số ông chồng trở nên ngập ngừng trong cách cư xử với tôi. Tôi tự nhiên trở nên một thành phần bị để ý. Mặc dù từ trước tôi vẫn được xem là một người đàn bà bặt thiệp nhưng đứng đắn. Góa chồng, sự đứng đắn của tôi bị thử thách, sự bặt thiệp của tôi trở nên một đe dọa. Cả môn thể thao mà tôi thích là golf, bây giờ tôi cũng thôi chơi. Thôi là vì đám bạn đàn ông của tôi ngày trước trở nên săn đón hơn, đó là điều tôi vừa sợ vừa không muốn vì ông nào cũng có vợ. Tôi có cảm tưởng đàn ông có vợ hay không có vợ, trước một người đàn bà có nhan sắc và một mình, đều không phải là những người mù. Họ đều có mắt để nhìn và cái nhìn nào cũng muốn chiếm cảm tình dù cảm tình đó không biết sẽ đi đến đâu, có thể càng xa càng tốt. Cái nhẩn cưới nơi tay họ, khi cần tiến tới họ sẽ tháo gở hoặc coi như một cái bùa hộ mệnh khi cần rút lui. Bởi thế, bước đi một bước nữa, tìm được một người đàn ông ở vào lứa tuổi 45 như tôi, dù có nhan sắc, dù giàu có, không phải là một việc đơn giản mà phải nói là một chuyện rủi may.

Tôi không phải loại đàn bà cần đàn ông đến độ phải la cà các hộp đêm để tìm kiếm những gặp gỡ mang lại thú vui chốc lát. Tôi chọn những nơi chốn thanh lịch hơn. Ði nghe hòa nhạc hay những buổi trình diễn của ca sĩ ngoại quốc danh tiếng. Xuất hiện những nơi chốn đó, tôi đưa cái tôi sang cả nhất của tôi ra. Trang phục đắt tiền hợp thời trang, xe Mercèdes. Ở đó tôi gặp Hiến, một luật sư. Anh nói anh vừa ly dị vợ. Hiến xấp xỉ tuổi tôi. Tôi nhận xét gì về Hiến sau hai lần đi ăn tối với anh ? Anh có vẻ chú ý nhiều về những gì tôi đang có hơn là những gì tôi đang cần. Anh mau mắn đề nghị tiến tới sống chung. Tôi thấy Hiến là một người đàn ông lanh lợi, cái lanh lợi hình như dành hết chỗ cho sự thành thực. Tôi thấy rõ anh không đến với tôi vì tình yêu. Phần tôi, cũng may tôi không bị hoa mắt trước cái vẻ hào hoa của Hiến.
Châu, con gái tôi bắt đầu lo lắng cho cuộc sống đơn chiếc của tôi. Mấy hôm trước sinh nhật của tôi, nó gọi điện thoại mời tôi đi ăn tối với nó. Nó nói :
- Chỉ có hai mẹ con mình thôi.
Tôi vui vẻ nhận lời. Mỗi khi Châu mời tôi và nói ‘‘chỉ có hai mẹ con mình thôi ’’ là tôi biết nó có ý muốn hỏi ý kiến hay tâm sự gì với tôi. Trong tiệm ăn, ngồi đối diện với Châu, nhìn ánh mắt yêu đời của nó, tôi biết con tôi đang hạnh phúc. Tôi mừng thầm cho con tôi. Trong khi uống cà phê Châu hỏi tôi giọng buồn buồn :
- Mẹ tính ở vậy hoài sao ? Mẹ có biết là mẹ còn trẻ không ?
Tôi âu yếm đặt tay mình lên tay con :
- Mẹ cũng đang tìm kiếm đây. Ngặt một điều mẹ chưa thấy ai bằng ba con cả.
- Con sợ mẹ sẽ cô đơn hoài nếu mẹ chờ đợi một người đàn ông như ba.
Ðến phiên tôi buồn bã:
- Mẹ đâu đòi hỏi phải bằng ba con. Nhưng ít nhất tim mẹ phải có chút rung động. Chắc con cũng biết, tìm cho ra một người đàn ông mà tim mình rung động vì họ, và tim họ cũng rung động vì mình, ở vào lứa tuổi của mẹ, không phải dễ.
- Mẹ có đòi hỏi người đàn ông phải là một người có nghề nghiệp tương đương với nghề của ba không ?
- Không nhất thiết, nhưng cần có kiến thức.
- Mẹ có đòi hỏi người đàn ông phải giàu có không ?
- Không nhất thiết, nhưng không thể là một người đàn ông ăn không ngồi rồi.
Tôi có cảm tưởng con tôi là nhân viên của một văn phòng xe duyên đang thăm dò ý kiến của tôi. Tôi nhìn nó hiền từ hỏi :
- Chắc con có ý định giới thiệu mẹ cho một ông nào ?
Châu cười úp mở :
- Có mà không.
- Sao lạ vậy con ?
- Có là vì con thấy một người mà con nghĩ có thể hợp với mẹ, không là vì con không quen ông ấy.
Tôi cười :
- Con không quen ông ấy thì làm sao con giới thiệu cho mẹ ?
- Con thấy để mẹ tìm hiểu. Nếu mẹ đi cái siêu thị gần condo của tụi con ở vào trưa thứ bảy khoảng 12 giờ, mẹ sẽ thấy ông ấy ngồi trong chiếc xe Toyota Tercel màu xanh nhạt, đậu ở parking. Ông ấy vừa ăn trưa vừa đọc sách.
Tôi ngạc nhiên nhìn Châu :
- Con nghĩ gì mà có ý định khuyên mẹ tìm cách làm quen một người đàn ông khá kỳ cục? Hết chỗ ăn trưa lại ngồi trong xe mà ăn trưa?
- Con cũng không hiểu nữa. Mấy tuần nay con có cảm tưởng mỗi trưa thứ bảy ông đến đó như để chờ gặp ai. Lạ lắm. Nhưng điều khiến con chú ý là cuốn sách ông cầm trong tay. Lúc nào cũng chỉ có một cuốn sách ấy. Cuốn Nhà Tiên Tri của Khalil Gibran, cuốn sách con biết mẹ rất thích vì có lần mẹ nói với con mẹ đọc đi đọc lại cuốn sách đó bao nhiêu lần mà vẫn không thấy chán. Cho nên khi thấy ông ấy ngồi trong xe với cuốn sách đó, tự nhiên con nghĩ đến mẹ. Con đoán ông ấy cũng cỡ tuổi ba, khuôn mặt xương xương, người cũng mảnh khảnh như ba nữa.

Trên đường lái xe về nhà, nghĩ đến chuyện Châu đề nghị tôi tìm hiểu người đàn ông ăn trưa trong xe, tôi vừa cảm động vừa buồn cười. Cảm động vì sự lo lắng của con gái tôi dành cho tôi, buồn cười vì ý muốn ngộ nghỉnh của nó. Nó quên mất người đàn ông kia có thể đã có gia đình. Duy có cuốn sách làm tôi phân vân. Người thích nội dung cuốn Nhà Tiên Tri ắt phải có tâm hồn giống tôi. Và sự tò mò đã lấn lướt.

Tôi nhận ra dễ dàng chiếc Toyota Tercel màu xanh nhạt còn mới ngay giữa bãi đậu của siêu thị. Hai bên chiếc Tercel chỗ đậu còn trống. Tôi lái chiếc Pontiac màu ve chai cũ kĩ của tôi, đậu phía bên trái chiếc Tercel. Trời tháng sáu nắng đẹp và nóng. Tôi ăn mặc bình thường như một người đi chợ. Một chiếc quần tây màu đen, một chiếc sơ mi mỏng tay dài màu vàng nhạt. Tôi cố ý để cuốn Nhà Tiên Tri của tôi nằm phía trên hộp đựng găng tay. Nếu chú ý, người ngồi ở phía tay lái ở xe bên kia có thể thấy được cuốn sách. Tôi mở cửa xe, đeo cái xắc tay lên vai, đóng cửa xe, rồi mặt nhìn thẳng phía trước làm như không để ý đến người chung quanh, bước thong thả vào siêu thị.
Châu cho tôi biết đối tượng tôi đang tìm hiểu vừa ăn trưa vừa đọc sách chừng một tiếng là đi. Tôi sẽ ở trong siêu thị, đi loanh quanh, mua lặt vặt sao cho hết một tiếng đồng hồ mới trở ra xe. Tôi suy luận, nếu đối tượng của tôi nhìn thấy cuốn Nhà Tiên Tri của tôi, tôi cũng sẽ trở nên đối tượng tìm hiểu của ông ta và chắc chắn ông ta sẽ chờ tôi. Tôi tự dặn lòng lúc trở ra sẽ quan sát kỹ người đàn ông và nếu thấy đúng là mẩu người tôi có thể có cảm tình tôi sẽ sẵn sàng tạo điều kiện cho một sự làm quen.

Rời siêu thị, bước chân tôi bỗng dưng chậm lại, tim tôi đập mạnh vì chiếc Tercel màu xanh vẫn còn nằm ở bãi đậu và hơn thế nữa, người đàn ông đứng tựa cửa xe mình, tay cầm một cuốn sách có vẻ như đang chờ ai. Tôi có thể nghĩ mà không sợ lầm ông ta đứng chờ tôi. Tôi hết sức làm ra vẻ tự nhiên, tiếp tục bước. Tôi thấy người đàn ông rời chỗ đứng đi vòng phía sau xe tôi tiến về phía tôi. Tôi nhìn ông nghiêm trang nhưng tươi tỉnh. Ðúng như Châu đã tả, người ông dong dỏng cao, khuôn mặt chữ điền xương xương, mang kính cận. Mái tóc rậm lấm tấm muối tiêu với một mảng xỏa xuống trán. Ông có dáng dấp của một nghệ sĩ hay của một ông giáo sư dạy văn chương hay triết. Tự nhiên tôi mỉm cười với ông ta. Người đàn ông tiến lại gần tôi cúi đầu chào :
- Xin lỗi bà, bà có phải là bà Mai Hương ?
Tôi ngạc nhiên đến nghẹn thở :
- Vâng, phải. Nhưng thưa … làm sao ông biết tên tôi ?
- Dạ Hạnh nói với tôi. Hạnh nói với tôi: ‘‘anh hãy đến siêu thị nầy vào mỗi trưa thứ bảy, thế nào anh cũng gặp một người đàn bà có cuốn Nhà Tiên Tri như anh. Bà ấy tên Mai Hương’’. Tôi đến đây đã ba lần, lần thứ tư nầy thì gặp được người mang cuốn Nhà Tiên Tri. Hạnh đã tiên đoán đúng.
Thoáng nghĩ đầu tiên của tôi là con gái tôi đã dàn dựng nên cảnh gặp gỡ nầy. Tôi nghĩ nó đã cho người đàn ông nầy biết trước tên tôi, biết tên cuốn sách tôi thích đọc và có thể nó đã dấu tên thật của nó mà lấy tên Hạnh. Tôi hỏi chận đầu người đàn ông :
- Có phải cô Minh Châu đã cho ông biết tên tôi ?
Ðến lượt người đàn ông ngơ ngác :
- Thưa bà cô Minh Châu nào ? Tôi không được biết, tôi chỉ biết Hạnh cho tôi biết tên bà.
- Hạnh nào thưa ông ? Tôi không quen biết một ai tên Hạnh cả.
Chừng như đoán được vẻ ngại ngùng trong câu hỏi của tôi, giọng người đàn ông trở nên trấn an :
- Vâng, bà không thể biết Hạnh. Hạnh đã mất cách đây 25 năm. Nhưng cách đây gần hai tháng Hạnh đã báo mộng cho tôi trước cuộc gặp gỡ với bà.
oOo

Chúng tôi ngồi trong một quán nước mặt hướng ra bờ sông. Nắng bên ngoài gay gắt, nhưng gió từ mặt sông thổi lên làm dịu mát da mặt. Tóc tôi phất phơ bay, tóc của người đàn ông cũng lòa xòa trên trán. Ông không buồn đưa tay vuốt, mắt xa xăm nhìn ra mặt nước lao xao những gợn sóng. Tôi có cảm tưởng ông đang tập trung tư tưởng, sắp xếp lại dĩ vãng để trình bày với tôi câu chuyện báo mộng của người đàn bà tên Hạnh, một câu chuyện kỳ bí khiến tôi tò mò đến bạo dạn nhận lời mời của ông đến ngồi uống nước ở quán nầy để nghe tiếp câu chuyện, dĩ nhiên sau khi tôi đã cân nhắc, đánh giá sự chân thật của ông.

- Thưa bà, tôi tên Chung. Người đàn bà tên Hạnh, cách đây 25 năm là người yêu của tôi. Chúng tôi là mối tình đầu của nhau. Chúng tôi là cặp tình nhân thuộc loại cấp tiến thời đó. Chúng tôi quan niệm rất rộng rãi về quan hệ luyến ái. Nói trắng ra là chúng tôi đã gần gũi nhau trước khi nghĩ đến hôn nhân. Cả Hạnh và tôi đều say mê cuốn Nhà Tiên Tri của Khalil Gibran. Hôm báo mộng Hạnh nói với tôi : ‘‘Gặp bà Mai Hương anh hãy đọc cho bà nghe đoạn văn mà chúng mình thích. Em biết bà Mai Hương cũng thích đoạn văn đó’’. Tôi xin tạm ngừng kể để đọc cho bà nghe đoạn văn mà chúng tôi thích, xem có đúng với đoạn văn mà bà cũng thích không. Ðó là đoạn nhà tiên tri nói về hôn nhân : ‘‘Các ngươi hãy yêu thương nhau nhưng đừng biến tình yêu thành một chướng ngại cho nhau. Hãy để tình yêu như một vùng biển động giữa đôi bờ tâm hồn các ngươi. Kẻ nầy hãy rót đầy ly kẻ kia nhưng chớ bao giờ uống chung một cốc. Hãy chia nhau phần ăn nhưng chớ bao giờ ăn chung một mẩu bánh. Hãy cho nhau trái tim mình nhưng đừng trở nên kẻ canh giữ tim nhau.’’

Tôi xanh mặt. Ðúng là đoạn văn tôi thường mang ra đọc cho chồng tôi nghe. Chúng tôi rất hợp ý về triết lý hạnh phúc lứa đôi mà Khalil Gibran nêu lên. Không những chỉ hợp ý mà chúng tôi đã sống theo lời Khalil Gibran khuyên. Chúng tôi chia xẻ cho nhau tròn đầy nhưng mỗi chúng tôi vẫn là một cá thể riêng biệt. Chúng tôi cho nhau trái tim mình nhưng không bao giờ canh giữ trái tim nhau. Chúng tôi tin tưởng nhau tuyệt đối. Chúng tôi đã đạt được hạnh phúc tròn vẹn trong chia xẻ và niềm tin. Bởi thế sự ra đi đột ngột của chồng tôi làm tôi mất thăng bằng tâm thể đến tột độ. Khi tôi nói với con tôi, tôi chưa gặp được ai như cha nó, không hoàn toàn có nghĩa là tôi chưa gặp được người đàn ông nào khác có địa vị như chồng tôi mà còn bao hàm ý nghĩa chưa gặp được người chia xẻ cái quan niệm hạnh phúc lứa đôi như chúng tôi từng chia xẻ với nhau. Cho nên tôi bàng hoàng trước đoạn văn trích dẫn của người đàn ông tên Chung.

- Tình yêu của Hạnh và tôi gặp trở ngại lớn. Nhà tôi nghèo, nhà Hạnh giàu. Khi biết Hạnh yêu tôi, gia đình nàng cấm cản kịch liệt, nhất là cha nàng, một viên chức lớn trong chính quyền thời bây giờ, nghiêm khắc và độc đoán. Bị ngăn cấm liên lạc với tôi, Hạnh đi tìm cái chết, không một lời báo trước, bằng một liều thuốc ngủ cực mạnh. Hạnh được chôn cất vội vã và bí mật, không một lời cáo phó trên báo. Cha Hạnh coi nàng là một vết nhơ của gia đình. Nhưng Hạnh đã trở thành một viên ngọc quí trong tâm hồn tôi. Từ đó đến nay tôi sống một mình nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, chưa bao giờ tôi cảm thấy cần một người đàn bà cho đời sống mình vì lúc nào tôi cũng cảm thấy có Hạnh bên cạnh.

- Tôi muốn đi về.
Ông Chung đứng lên theo.
- Nếu bà không ngại, tôi xin đưa bà đi xem mặt Hạnh.
Thật tình tôi cảm thấy ngài ngại nhưng không hiểu sao tôi không thốt ra được lời từ chối. Hai bàn chân tôi như có một ma lực nào đó nhấc từng bước bắt tôi bước theo chân người đàn ông. Khi xe ông Chung rời bãi đậu, tôi liếc nhìn ông thì lạ lùng sao tôi bắt gặp ánh mắt và nụ cười rất hiền y hệt như của chồng tôi.

Ông Chung cư ngụ trong một khu condo đắt tiền. Cổng vào có người gác, một thang máy dành riêng cho hai condo, có đường hầm nối liền các condo đến một tiểu siêu thị. Tôi thắc mắc ông Chung làm nghề gì mà có khả năng tài chánh để có thể mua cái condo sang trọng nầy. Condo của ông Chung ở tầng thứ mười. Tôi biết ở xứ lạnh, condo ở tầng càng cao giá càng đắt vì có được cái nhìn bao quát và hưởng được nhiều ánh mặt trời. Ông Chung mời tôi ngồi ở phòng khách. Bộ xa lông bằng da màu nâu sẫm còn thơm mùi da mới. Ông pha mời tôi một ly nước suối rồi ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện. Ông nói như để giải bày:
- Chắc bà ngạc nhiên về đời sống vật chất của tôi. Những gì tôi có hiện nay đều là của Hạnh. Khi Hạnh chết, cha mẹ nàng đã bí mật dấu trong quan tài nàng một hộp vàng và kim cương coi như là một nơi dấu của kín đáo. Cha mẹ nàng bị thảm sát trong Tết Mậu Thân 68. Mộ nàng sau đó bị để hoang phế. Hạnh báo mộng cho tôi biết về kho tàng dấu trong quan tài và bảo tôi gấp gấp đi bốc mộ nàng. Tôi đã rời miền Nam bằng phi cơ quân sự Hoa Kỳ, một tuần trước khi miền Nam mất năm 75. Bà muốn biết hiện tôi làm nghề gì ? Một nghề bình thường thôi. Giáo sư dạy toán cho một trường trung học. Một ông giáo dạy trung học thì đi xe Toyota Tercel là phải rồi. Ðó là tất cả cuộc đời tôi cho đến giờ phút này. Bà là người đàn bà đầu tiên tôi mời lên chỗ ở của tôi. Vì Hạnh muốn như thế. Về phía bà tôi có thể được biết gì không ?
- Tôi góa chồng được hơn một năm nay. Minh Châu, con gái tôi, là người đã gián tiếp giới thiệu ông cho tôi. Con tôi biết cuốn sách gối đầu giường của tôi là cuốn Nhà Tiên Tri. Nhà nó ở gần cái siêu thị nên khi thấy ông đến đó đậu xe ăn trưa với cuốn Nhà Tiên Tri bên cạnh, nó lấy làm lạ nên nói cho tôi hay. Thú thật tôi cũng tò mò muốn biết ông là ai mà cũng thích đọc cuốn Nhà Tiên Tri như tôi. Về nghề nghiệp, tôi làm đại lý cho một hảng du lịch bán vé máy bay ăn huê hồng, một nghề tay trái làm cho vui. Nghề chính của tôi là nội trợ lo cho chồng cho con. Nay chồng mất, con đã có gia đình, nên tôi coi như đang thất nghiệp.

Ông Chung nhìn tôi với ánh mắt trìu mến :
- Tôi nghĩ tất cả đều do Hạnh sắp đặt. Tôi nghĩ Hạnh có cảm tình với bà.
Tôi nghe lành lạnh ở sống lưng, khi nghĩ hồn người chết tên Hạnh có thể nhập vào tôi. Không biết sau đó tôi có còn là tôi nữa hay không ? Tôi sẽ yêu người đàn ông tên Chung kia bằng thể xác và tâm hồn tôi hay người đàn bà tên Hạnh sẽ mượn thể xác tôi để yêu người tình cũ của mình ?
- Bây giờ xin mời bà xem hình của Hạnh.
Tôi cảm thấy rờn rợn muốn thối lui. Nhưng khi bắt gặp cái nhìn bao bọc của ông Chung tôi thấy an tâm. Tôi đứng lên theo ông đi vào một phòng ngủ nhỏ. Trong phòng chỉ vỏn vẹn một chiếc giường đơn, phủ ra mền màu xanh nhạt. Trên đầu giường, hình một thiếu nữ chụp bán thân được lồng kính trong một khung gỗ cũng sơn màu xanh nhạt. Tôi hơi giật mình vì người trong hình tuy rất trẻ nhưng có nét hao hao giống tôi, nhất là nụ cười. Tôi nói khẻ với ông Chung :
- Chị ấy có nụ cười rất tươi.
Ông Chung cũng chăm chú nhìn bức hình rồi thì thầm :
- Hạnh không cười khi chụp bức hình nầy.
Tôi lạ lùng nhìn kỹ bức hình một lần nữa, rõ ràng người trong hình đang nhìn tôi cười. Tôi nghe tay chân mình lạnh toát.
- Xin mời bà ra ngoài hiên ngồi uống nước ngắm trăng. Hôm nay trăng trung tuần rất tròn.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây nhìn vừng trăng tròn chưa lên cao còn thấp thoáng trong rặng thông. Bầu trời trong vắt đầy tinh tú lấp lánh. Ông Chung bưng ra một cái khay trên có hai ly nước cam và một đĩa bánh bông lan. Ông đặt khay trên cái bàn con ngăn đôi hai cái ghế, rồi ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh. Tôi không ăn bánh chỉ uống từng ngụm nước cam. Ông Chung lên tiếng trước, giọng trầm trầm :
- Bà thấy Hạnh cười với bà, tôi nghĩ Hạnh đã chọn bà.
- Nghĩa là chị ấy sẽ nhập vào tôi ?
- Có thể.
- Lúc ấy tôi sẽ ra sao ?
- Tôi nghĩ một trong hai trường hợp nầy có thể xảy ra : Hoặc hồn Hạnh nhập vào bà, bà sẽ là Hạnh, bà sẽ đối xử với tôi như Hạnh đã đối xử với tôi ngày trước. Hoặc Hạnh xem như đã kiếm được cho tôi một người xứng đáng thế chỗ của Hạnh và Hạnh sẽ rời bỏ thế gian này để đi vào cõi vĩnh hằng. Chúng ta hãy chờ xem. Bà có đói không ? Tôi sẽ đi làm bánh mì thịt nguội. Ðó là món ăn thường xuyên của Hạnh và tôi, thời chúng tôi kín đáo gặp nhau, nằm bên nhau nhai bánh mì trên căn gác trọ của tôi.

Tôi không đói lắm nhưng cũng không từ chối đề nghị của ông Chung. Tôi đang chìm trong bầu không khí huyền bí bao quanh. Tôi vừa bị lôi cuốn, vừa sợ. Nhưng vẻ trầm tỉnh của ông Chung khiến tôi phần nào an dạ. Tôi có cảm tưởng ông cố ý giữ một khoảng cách giữa ông và tôi, tôi có cảm tưởng như ông đang chờ đợi một sự việc gì sắp xảy ra.

Ông Chung bưng ra một đĩa đựng hai ổ bánh mì thịt, mỗi ổ được cắt đôi. Nghe ông mời tôi tự nhiên thấy đói. Tôi cầm nửa ổ bánh mì đưa lên miệng cắn một miếng. Ổ bánh mì tỏa ra một mùi thơm thoang thoảng như mùi hương dạ lý làm tâm trí tôi lâng lâng. Giọng ông Chung lại trầm trầm bên tai tôi :
- Mỗi đêm khi có trăng tròn tôi hay ra ngồi đây một mình. Cứ mỗi lần trăng lên cao tỏa ánh sáng vào cửa sổ của phòng Hạnh, người tôi lúc đó như mê đi và tôi thấy Hạnh hiện ra trò chuyện với tôi. Nàng tiên đoán những gì sắp xảy ra cho tôi và hướng dẫn tôi cách ứng xử. Hôm nay tôi tin sẽ xảy ra một sự việc khác thường, không những liên quan đến tôi mà liên quan đến cả bà, nhưng tôi linh cảm là một biến đổi tốt.

Tôi ăn hết nửa ổ bánh mì thì vừng trăng tròn lên cao tỏa ánh sáng mờ dịu vào cửa sổ phòng của Hạnh. Tôi thấy ông Chung ngả đầu vào thành ghế, mắt nhắm nghiền như một người đang bị thôi miên. Bỗng một vệt sáng dài thoát ra từ cửa sổ phòng Hạnh, xẹt qua đầu tôi, rồi như một ánh sao băng vun vút bay lên. Tôi mở lớn mắt theo dõi cho đến khi không còn phân biệt được đâu là vệt sáng đâu là ánh sao trên bầu trời. Tôi quay mặt nhìn sang ông Chung. Ông tỉnh lại không biết từ lúc nào, ngồi im ngắm tôi với nụ cười hiền hậu. Tôi nhìn ông, bỗng thấy đối diện với mình là một khuôn mặt thân thương quen thuộc như từ lâu đời. Tôi đưa tay qua nắm tay ông :
- Ði vào đi anh, em lạnh.
Bước ngang qua phòng Hạnh, chúng tôi ghé mắt nhìn vào. Bức hình treo trên đầu giường biến mất. Ông Chung, mắt ngấn lệ, tay nắm chặt tay tôi, miệng thì thầm: ‘‘Cám ơn Hạnh!’’

Trang Châu

Posted: Fri Feb 03, 2012 5:38 am
by khieulong

Image

Chai dầu gió

Phạm Hồng Ân
Nhân ngày giỗ mẹ

Vừa tan sở,tôi dzọt thẳng lên Santa Ana cho kịp dự buổi họp mặt đồng hương Cà Mau. Hôm qua, thằng Kiên – bạn học cũ – đã gọi điện thoại nhắc nhở trước:

- Kỳ này, mày phải đến dự nghe thằng quỷ! 40 năm rồi không gặp, bạn bè không thể đoán nổi mặt mày bây giờ dài ngắn thế nào? Con Thùy Nhan nó nhắc mày hoài. Nó nhớ những bài thơ si tình mày làm tặng nó lúc còn đi học…

40 năm xa cách, kể từ năm 1968, tôi rời Cà Mau lên Sài Gòn và không trở lại nữa. Năm đó, cầm mảnh bằng tú tài II trên tay, mỗi đứa trôi dạt mỗi nơi. Ðứa tiếp tục đại học. Ðứa đi lính. Ðứa lấy chồng. Ðứa chui vào mật khu… Cho đến năm 1975, miền nam biến động, chúng tôi hoàn toàn mất tích nhau luôn. Vậy mà, trên cái đất Mỹ xa lạ này, sau 40 năm, chúng tôi lại hội ngộ nhau với đàn con cháu dài thòng như các toa xe lửa.

Những năm trước, năm nào cũng vậy, tôi cứ tìm cách từ chối lời mời họp mặt của Kiên, bởi nhiều lý do chính đáng. Tôi qua Mỹ quá muộn, quá muộn khi tuổi đời chồng chất, nên mặc cảm không còn cơ hội vươn lên như các bằng hữu qua trước. Rồi nghề nghiệp, rồi tài sản… cũng chẳng có gì. Trong lúc bạn bè đã làm nên sự nghiệp. Ðứa kỹ sư, đứa giám đốc, đứa chuyên viên, đứa chủ tiệm… Ðứa nào đứa nấy đều có nhà cao cửa rộng, xe trước xe sau mới toanh bóng loáng.

Năm nay, thằng Kiên nhất định gặp tôi cho bằng được. Nó gọi điện thoại hết ngày tới đêm. Rỉ rả, dặn dò đủ thứ. Nói riết, rồi tôi cũng xiêu lòng. Ðịnh bụng, thử đi một chuyến xem sao?

Cuộc họp mặt được tổ chức ấm cúng ở nhà thằng Hiển. Tất cả không muốn ra nhà hàng. Vì ở đó, phần nào, giảm bớt sự tự do. Và thức ăn, quanh đi quẩn lại, cũng chừng ấy thôi, thưởng thức riết rồi cũng chán phèo. Vợ chồng Hiển khéo léo chọn những bà nội trợ tài giỏi nhất trong đám phu nhân Cà Mau. Các thức ăn quê hương đậm tình dân tộc được lên chương trình gửi đến tận tay mỗi người. Nào: canh chua cá bông lau, cá kho tộ, bún nước lèo, cua lột lăn bột, lẩu lươn… và thêm hàng chục các thức ăn chơi khác mà công tử Bạc Liêu đã từng lịch lãm nếm qua thời xa xưa.

Vòng vo lên xuống một đoạn, tôi cũng mò ra nhà Hiển, sau khi cặp mắt muốn nổ đôm đốm vì quá chăm chú đếm từng bảng số nhà. Nhà Hiển khang trang, có khoảnh sân trước xinh xắn, bao bọc bởi những loài hoa hương sắc lộng lẫy. Một gã đàn ông đầu bạc trắng đang giang rộng vòng tay đón tôi trước cổng.

- Ê! Phải mày không Ân? Tau, Kiên đây!

Tôi nhìn chăm chăm thằng Kiên. Ðầu bạc trắng. Da đồi mồi. Mặt nhăn như mặt khỉ. Trời ơi! Thằng Kiên lóc chóc của 40 năm về trước thật sao? Tôi ôm chầm Kiên, nước mắt tự dưng ứa ra.

- Mày là thằng quỉ Kiên? Thay hình đổi dạng quá! Gặp ngoài đường, chắc hai đứa làm ngơ, không nhận nhau được đâu?

- Mày cũng vậy. Ngày xưa ốm nhom ốm nhách. Bây giờ thù lù và chậm chạp như một lão già nghiện rượu.

Kiên đưa tôi vào nhà giới thiệu từng người. Nếu không nhờ cái tên, tôi sẽ không bao giờ nhận ra được ai. Thời gian như một tay họa sĩ độc ác, dùng nét cọ của tạo hóa, chấm phá những sắc màu xấu trên từng chân dung của con người. Tôi ngỡ ngàng khi gặp lại Thùy Nhan. Nàng cũng tàn phai nhan sắc, bèo nhèo như một cánh hoa tả tơi trước gió chiều. Nhưng lối nói trêu cợt, vẫn là nét đặc trưng của Thùy Nhan, mãi mãi không đổi thay.

- Thi sĩ đây ư? Người luôn luôn xức dầu gió bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông đây ư?

Thằng Kiên chen vào:

- Nó đấy! Cái thằng lúc nào cũng kè kè chai dầu gió trong người đấy!

Cả nhóm nhìn tôi cười vang. Những kỷ niệm học trò chợt ùa về trong mỗi người.

Thùy Nhan không tha:

- Ngày xưa, nếu Ân không có mùi dầu gió, có thể Thùy Nhan đã trở thành người nâng khăn sửa túi cho Ân lâu rồi.

Thằng Hiển và mọi người cùng ồ lên:

- Tại sao? Tại sao?

- Vì những bài thơ tình của Ân. Những bài thơ não nuột và bi ai quá cỡ thợ mộc. Nó đã đụng vào trái tim của Thùy Nhan.

Mọi người chọc ghẹo:

- Thế thì bây giờ… Nếu không còn mùi dầu gió, trái tim của hai người có sẵn sàng hòa chung một nhịp chưa?

Thùy Nhan luống cuống. Cô tiểu thư kiêu hãnh ngày xưa không ngờ bạn bè lại quay ngược mũi chỉa, chỉa vào nàng. Thằng Kiên chỉa thêm:

- Trước khi qua Mỹ, thằng quỉ sứ này đã vứt bỏ chai dầu lạc hậu nơi xó xỉnh nào bên Việt Nam rồi, phải vậy không Ân?

Tôi cúi đầu không nói, lặng lẽ moi từ túi quần ra chai dầu Nhị Thiên Ðường, nhẹ nhàng đặt lên bàn ăn. Mọi người cùng ồ lên, trố mắt nhìn chai dầu, rồi nhìn tôi lắc đầu. Thùy Nhan đắc chí, ôm bụng cười ngửa nghiêng.

- Trời ơi! Giờ này mà còn mang kè kè trong mình chai dầu bệnh hoạn. Mình đưa hai tay lên đầu hàng. Hết ý kiến rồi Ân ơi!

Tôi lại cúi đầu, ôn tồn nói với bạn bè, và cũng như nói với chính mình:

- Chai dầu gió, đối với tôi như một báu vật, một tài sản tinh thần mà Mẹ tôi đã thiết tha để lại cho tôi.

Thằng Hiển xoay tròn một vòng.

- Báu vật? Mày có điên không Ân? Chai dầu này ở đây chỉ đáng giá vài đồng bạc.

Tôi lại cúi đầu, buồn bã nhìn từng người bạn.

- Thôi, sau tiệc, tôi sẽ kể cho các bạn nghe vì sao tôi coi chai dầu như báu vật. Bây giờ, trước khi nhập tiệc, chúng ta hãy nhắc và tưởng tiếc đến các bạn vắn số đã nằm xuống thời gian qua.

Nhóm Cà Mau lần lượt nhắc lại cái chết hào hùng của các bạn thơ: Dạ Linh Phương (Nguyễn văn Ðắc), Chu Thiên (Cao văn Chiến), Trầm Uyên Mỵ (Tăng quang Minh), Diễm Ca Hồng (Lý Cá Hai), Huỳnh Thiên Lượng, Nguyễn văn Tuấn… Ðặc biệt, bạn thơ Chu Thiên đã tình nguyện xung phong vào Lực Lượng Ðặc Biệt, từng nhảy toán nhiều lần ra Bắc, và đã gục ngã ở một nơi nào đó trong sào huyệt địch. Trầm Uyên Mỵ nằm xuống trên đỉnh Tô Châu, trên tay còn cầm bài thơ viết dở dang cho người tình. Gần đây nhất, tại Washington D.C., bạn thơ Giang Hữu Tuyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Hoa Thịnh Ðốn Việt Báo đã đột tử vì căn bệnh hiểm nghèo.

Bữa tiệc vơi dần. Nhưng bạn bè vẫn còn ngồi đó đông đủ. Họ chưa muốn vội chia tay. Họ muốn ôn kỷ niệm, cố níu kéo nhau để giữ lại thân tình. Họ cũng muốn tôi kể lại báu vật chai dầu gió. Vâng, hãy để quá khứ quay về, quay về một cách tự nhiên…

Ngay từ lúc ra đời, tôi đã là một thằng bé èo uột, khó nuôi. Mẹ tôi tất tả ngược xuôi, chạy thầy chạy thuốc khắp nơi để mong tôi thoát khỏi bệnh tật. Tôi lớn lên như một cọng cỏ tong teo, chỉ cần chút gió nhẹ thổi qua là đã muốn ngã quỵ. Chạy tây y không xong, Mẹ tôi lại chạy qua đông y, rồi thầy bùa, thầy pháp… Tôi được trao thẳng cho ông thầy pháp làm con nuôi, được đặt tên riêng là Săng Mây. Nghe Mẹ kể lại, mỗi lần tôi khóc nhè, ông thầy đặt tôi lên chiếc bàn cao lêu nghêu, rồi hô phong hoán vũ, dùng roi mây đập tứ tung xung quanh, miệng không ngớt lâm râm án nị cà ra nà… Nhưng thật lạ thay, sau một thời gian làm đệ tử thầy, bệnh tình tôi đã mười phần thuyên giảm còn ba. Tôi không còn khóc đêm nữa. Các bệnh yếu ớt vặt vãnh cũng bớt đi, chỉ khi nào tiết trời thay đổi, tôi mới bị cảm lạnh mà thôi. Có lẽ, khi nhìn thấy bộ mặt vằn vện và thái độ hung dữ của ông pháp sư, các virus trong người quá sợ hãi, nên đã ngã lăn ra chết queo. Lớn lên một chút, khi tôi biết nói, và bước chân vào tiểu học, Mẹ tôi mới phát giác ra tôi bị đau bụng đêm. Thế là, chai dầu gió được gắn liền với đời tôi , ngay từ lúc đó.

Thập niên 50, thị xã Cà Mau nhỏ xíu như một cái bánh bao. Ngôi chợ thấp lè tè. Ði vòng vo vài ba phút đã hết các con đường. Ba tôi là một công chức trong sở cảnh sát tỉnh. Ba giỏi tiếng Pháp. Lúc trẻ đã có một thời làm thông ngôn cho người Pháp. Ngược lại, Mẹ tôi học rất ít, chữ viết nguệch ngoạc, và làm toán bằng cách tính nhẩm theo các đầu ngón tay. Vậy mà những bài vỡ lòng đầu tiên , kể cả cuốn giáo khoa thư… Mẹ tôi đã dạy tôi thuộc làu, trước khi bước chân vào lớp học. Tôi còn nhớ chai dầu nhị thiên đường màu nâu sẫm, mùi nồng cay, nhưng ấm áp một cách an lành. Lần nào cũng vậy, sau khi mặc vào bộ đồng phục học trò, Mẹ vén áo tôi lên, xoa dầu vào rún, rồi vào hai bên thái dương, xong cẩn thận bỏ chai dầu vào túi quần tôi, âu yếm nói :

- Con giữ chai dầu, đừng làm mất. Tuy nó nhỏ nhoi, đơn sơ – nhưng là thần hộ mạng cho con, cho mọi người đấy! Khi ra ngoài trời, con nhớ xoa dầu vào hai bên thái dương, xoa dưới cổ và phía sau ót để ngừa cảm mạo thương hàn. Khi đau bụng, xoa vào rún. Khi té, trặc chân tay, xoa vào các vết trặc. Sau này lớn lên, Mẹ sẽ chỉ cho con các huyệt đạo, để lỡ gặp tai ương, con có thể tự cứu mình, cứu người.

Thật vậy, nhờ chai dầu gió, cơn đau bụng đêm oằn oại của tôi đã dịu đi và mất hẳn. Tôi cũng vơi dần những cơn cảm mạo khó chịu mỗi khi trái gió trở trời. Tôi lướt qua tuổi thiếu niên, rồi tuổi thanh niên vùn vụt đến. Tôi đi khắp chốn, đến Cần Thơ thi tú tài, lên Sài Gòn vào đại học. Chỗ nào, nơi đâu… chai dầu gió của Mẹ tôi cũng được cẩn thận nằm trong túi quần.

Năm 1970, chiến tranh bùng nổ khắp miền nam. Tôi chán học, tình nguyện vào lính. Ngày vào quân trường, Mẹ tôi bùi ngùi tiễn tôi lên đường. Nhà nghèo, hành lý mang theo chẳng có gì đáng giá. Nhưng khi xách lên tay, tôi chợt có cảm giác nằng nặng.

- Mẹ ơi! Tối qua Mẹ đã cho con tiền rồi. Hôm nay Mẹ lại để gì nằng nặng trong túi con thế này?

- Có mấy lố dầu nhị thiên đường Mẹ mua cho con, để dành mà phòng gió sương cảm mạo. Con thường đau bụng, nhớ mổi tối xoa vào rún trước khi đi ngủ. Các bạn lính của con, ai trúng gió trúng sương, con làm phước cạo gió và xoa dầu vào các huyệt đạo cứu họ.

Tôi rưng rưng nước mắt nhìn Mẹ. Tự dưng tôi muốn chùn bước, muốn quay trở lại mái nhà thân yêu, muốn ngã vào vòng tay ấm áp của Mẹ, bỏ ý định đi lính. Nhưng… quay trở lại… để làm gì? Ðể tiếp tục sống bám vào những ly cà phê Mẹ bán từng đồng từng cắc hay sao? Năm 1963, nền đện hất cộng hòa xụp đổ, quyền lực tập trung vào tay các Tướng lãnh tự xưng là Cách Mạng. Tổng Thống bị giết, kéo theo các viên chức thân cận bị trù dập hoặc bị cầm tù. Ba tôi là một trong những viên chức thân cận của nền đệ nhất cộng hòa phải bỏ việc chạy trốn. Ông chạy trốn khắp nơi và cuối cùng đành vĩnh viễn bỏ vợ và các con ở lại Cà Mau. Từ đó, gia đình tôi bắt đầu suy sụp. Và một tay Mẹ buôn gánh bán bưng, nuôi các anh em tôi đều học hết bậc trung học.

Chai dầu gió theo tôi trôi giạt các chiến trường. Nó theo tôi bồng bềnh ra Phú Quốc, lăn lóc về Hà Tiên, đêm đêm nằm trên duyên tốc đỉnh đếm các cụm mây lang thang ngang các hòn đảo lạ lùng. Ðêm đêm xoa dầu vào bụng, mùi dầu nồng nồng cay cay trộn lẫn với tình Mẹ cao thượng, làm lòng tôi chợt ấm áp vô cùng. Ðêm đêm, mùi dầu như ngọn lửa thiêng xua tan đi giá lạnh, sưởi nóng tâm trạng cô đơn bệnh hoạn của tôi một cách diệu kỳ. Rồi có một lần, tôi chưa kịp đem chai dầu gió làm phước cứu đồng đội, thì tôi là người ngã quỵ trước tiên giữa cơn bão điên cuồng thổi băng qua Bắc Ðảo. Duyên tốc đỉnh nhỏ bé không có y tá đi theo, chỉ có những dụng cụ cứu thương sơ sài. Ðồng đội phải xúm lại hô hấp nhân tạo, rồi dùng chai dầu của tôi cạo gió, xoa bóp các huyệt. Và thật là kỳ lạ, mùi dầu nồng nàn cộng với mùi tình Mẹ ấm áp đã đánh thức tôi dậy, tiếp tục chuyến viễn du cuộc đời.

Tháng 4 năm 1975, nền đệ nhị cộng hòa tan rã. Như một định mệnh – tương tự trường hợp Ba tôi ngày trước – tôi và đồng đội lần lượt vào các trại tù. Lần này, số phận gia đình tôi bi thảm hơn nhiều. Người anh thứ tư mất tích vĩnh viễn trên đường rút quân của sư đoàn II bộ binh. Các anh em khác chịu chung cảnh ngộ cá chậu chim lồng. Mẹ tôi chạy loạn tứ tung, cuối cùng về Chương Thiện tá túc với người chị bà con, trông ngóng từng đứa con thất lạc trở về. Tôi gặp Mẹ tôi trong màn nước mắt ngậm ngùi. Tôi ôm thân xác còm cõi của Mẹ vào lòng mà tưởng chừng hàng nghìn đớn đau đang gặm nhấm trái tim mình. Gia cảnh của chị tôi cùng chịu chung số phận khổ đau. Cái bàn thờ giữa nhà khói nhang còn nghi ngút, bên cạnh là di ảnh cháu tôi, vừa được gia đình thương tiếc đặt lên. Cách đây vài hôm, ở sân vận động Cần Thơ, việt cộng đã xử bắn một nhóm quân nhân (họ cho là phiến loạn), trong đó có đứa con đầu lòng của chị tôi.

- Mẹ ơi! Chị ba đang gặp cảnh đau buồn. Gia đình mất hết công ăn việc làm. Mẹ ở đây, làm sao sống được?

- Con đừng lo. Mỗi ngày Mẹ làm bánh, bưng đi bán từng nhà. Người ta thấy Mẹ lụm cụm, họ thương tình… mua sạch trơn.

Nói xong, Mẹ nhìn tôi, âu yếm nở nụ cười thật tươi trên đôi môi khô héo. Tôi biết Mẹ cố gắng trấn an tôi, chớ thời buổi bây giờ bữa đói bữa no, thiên hạ làm gì có tiền để mua bánh Mẹ hàng ngày.

- Mẹ ơi! Ngày mai con sẽ về Mỹ Tho trình diện cải tạo. Không biết thời gian trong đó bao lâu? Có lẽ chỉ ngắn hạn thôi. Mẹ ở lại bình an và gắng giữ gìn sức khỏe nha Mẹ! Khi có dịp, con sẽ biên thư đều đều về cho Mẹ.

- Ði đâu, lên rừng hay xuống biển, con cũng nên nhớ để chai dầu trong túi hộ thân và làm phước cứu người nha con! Mẹ chỉ cho con các huyệt đạo căn bản, con còn nhớ không? Ðây, khi gặp ai ngất xỉu, dù ngất xỉu vì bất cứ trường hợp nào, con cố gắng đặt họ nằm thẳng người ra, bình tĩnh dùng kim châm vào nhân trung, rồi khéo léo nặn máu của bệnh nhân ra. Vài giây sau, nếu họ vẫn bất động, con tiếp tục châm kim vào mười đầu ngón tay, và cũng nặn máu ra như huyệt trên. Chậm lắm là vài phút sau, họ sẽ tỉnh dậy. Chiều nay, Mẹ sẽ tìm cho con 1 số dầu, mang vào trại tù để phòng ngừa bệnh hoạn nha con!

Hành trang vào tù của tôi vỏn vẹn chỉ có cái mùng nhà binh, một tấm drap làm mền, vài bộ đồ cá nhân và những lố dầu lỉnh kỉnh của Mẹ, Nhưng nặng nề nhất, trong trái tim tôi đã mang theo tình thương bao la của Mẹ, tình yêu của người vợ trẻ và đứa con trai dễ thương chỉ vừa tròn 6 tháng tuổi. Vào tù, tôi học thêm khoa châm cứu từ người bạn tù rất thân. Chúng tôi lấy dây điện thoại cắt rời ra để làm những ngọn kim châm cứu dã chiến. Từ đó, chúng tôi thay phiên nhau đi khắp trại tù làm phước cho những tù nhân đau yếu, bệnh tật. Khi cứu giúp ai, hình ảnh bác ái của Mẹ tôi chợt hiện ra hiền hậu trong tim, khiến cõi lòng tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Ðiều làm xót xa nhất, mà mãi cho tới giây phút này tôi vẫn còn xốn xang, ray rức – đó là hình ảnh Mẹ tôi lội nước thăm nuôi ở trại tù Cai Lậy, lúc trận lụt năm 1978 là trận lụt lớn nhất lịch sử, so với các trận lụt từ trước tới nay trên đồng bằng sông Cửu Long. Năm đó, lụt lớn, lũ tràn đầy. Nước dâng ngập đường đi. Nước leo lên quốc lộ 4. Nước đẩy các sam tù ngửa nghiêng theo sóng. Tù nhân suốt ngày dầm mình dưới nước: chống, đỡ, buộc, rịch… các cột kèo sắp bị sức nước cuốn phăng. Ban đêm, trèo lên mái sam phơi gió phơi sương, ngủ chung với rắn, rít, chuột, dán… Ngày, nước dâng đến đỉnh cao nhất lại là ngày thăm nuôi. Nơi cao ráo nhất là con lộ nằm trước cổng trại tù. Vậy mà Mẹ tôi đứng đó, nước đã mấp mé khỏi bụng. Mẹ ướt loi ngoi từ bao giờ. Có lẽ dầm nước lâu rồi, nên Mẹ mới đánh bò cạp, toàn thân run lẩy bẩy. Chiếc xuồng kế bên chất đầy bao bị thăm nuôi của thân nhân. Họ đứng xung quanh xuồng chờ đợi tù nhân ra gặp mặt. Họ là những người vợ trẻ chắt chiu nuôi chồng. Dù sao họ vẫn còn khỏe mạnh, chỉ có Mẹ tôi là già yếu đang run rẩy chờ con trong dòng lũ giá lạnh. Thế mà khi gặp tôi, Mẹ vẫn nở nụ cười phúc hậu trên đôi môi đã xanh mét. Cái bao thăm nuôi của Mẹ ngoài các thức ăn khô và mớ thịt chà bông hảo hạng, còn có món quà nặng nhất – là những chai dầu gió và những lời nhắn nhủ đậm đà. Không, tôi đã quên một điều, món quà nặng nhất là tình thương sâu thẳm của Mẹ đang đầy ắp trong cái bao thân yêu này.

Rồi 6 năm nặng nề trôi qua, nhốt chán, họ cũng thả tôi ra trại tù. Bơ vơ không cửa không nhà, đành theo vợ về quê cuốc giồng trồng khoai sống tạm qua ngày. Mẹ tôi lại lên thăm đều đều. Lần thăm nào Mẹ cũng nhét vào túi tôi mấy chai dầu và các thức ăn khô đủ loại. Rồi có một hôm, nhân dịp tết nguyên đán, cả nhà quây quần bên nhau đón giao thừa. Ông anh vợ tôi quá chén, say bí tỉ. Sáng hôm sau, cả nhà đều thức dậy, nhưng chỉ riêng anh tôi vẫn còn nằm im trong phòng. Ðến trưa, cửa phòng vẫn khép kín. Một nỗi vắng lặng trùm phủ xung quanh. Cả nhà hoảng hốt, tông cửa vào. Anh tôi đã nằm bất động từ lúc nào, tay chân lạnh ngắt như ướp nước đá, phía dưới đất có một đàn kiến đang đua nhau bò lên thân thể anh. Người ta vội la to. Cả nhà chạy gọi y tá và các thầy đông y trong xóm. Y tá làm hô hấp nhân tạo. Các thầy đông y bắt mạch, cạo gió, cắt giác…đủ thứ. Cuối cùng, họ bó tay, ngậm ngùi chia buồn với chủ nhà:

- Thôi, thằng hai đã yên phận rồi. Cả nhà hãy gạt buồn đau để lo cho nó đi!

Vợ tôi vừa chùi nước mắt vừa tức tốc chạy ra giồng khoai kiếm tôi:

- Anh ơi! Anh ơi! Về mau, về mau. Anh Hai mất rồi.

Tôi quăng vội cây cuốc vào góc chuối, la lên:

- Sao? Ðêm qua ảnh còn cụng ly với tui kia mà?

- Về mau. Ở đây mà còn đôi co trăng với sao chi nữa?

Tôi phóng một mạch về đến nhà. Nhảy thẳng lên giường áp tai vào ngực anh tôi. Tôi nghe trái tim đập thoi thóp, thoi thóp. Lồng ngực còn âm ấm, có nghĩa là anh tôi chưa thật sự về với ông bà. Tôi lật đật móc chai dầu ra, và réo to lên:

- Ðưa dùm tui cái kim may , mau lên. Anh hai chưa chết đâu. Còn nước còn tát bà ơi!

Hình ảnh phúc hậu của Mẹ tôi chợt hiện ra. Những lời nhắn nhủ bác ái của Mẹ chợt văng vẳng bên tai. Ðây, huyệt nhân trung. Tôi xoa dầu vào huyệt, châm mạnh. Tôi kiên nhẫn dùng hai đầu ngón tay bóp mạnh vào chỗ vừa châm. Bóp, nặn. Nặn, bóp… lúc lâu – một giọt máu bầm đen mới trồi lên khỏi huyệt. Tôi chùi máu, đợi chờ. Cả nhà nín thở nhìn vào anh không chớp mắt. Có người nức nở cầu nguyện. Có người đau đớn, khóc than. Năm phút, mười phút trôi qua… Anh tôi vẫn bấtđộng. Tôi nhào xuống hai bàn tay, kéo những đầu ngón tay đặt ngửa lên đùi mình. Rồi xoa dầu. Rồi châm kim thẳng vào. Rồi nặn máu thật mạnh. Mười đầu ngón tay nhô lên mười giọt máu hồng. Tôi chùi máu, xoa dầu… rồi tiếp tục nặn máu. Năm phút, mười phút trôi qua… Anh tôi vẫn bất động. Cả nhà tuyệt vọng, ngã gục xuống, than khóc. Nhưng, như có một phép mầu kỳ diệu, hai bàn tay của anh tôi bỗng dưng ngo ngoe, cử động. Rồi toàn thân anh tôi lăn nghiêng qua một bên. Lúc đó, khuôn mặt anh tôi nhăn nhó, mắt mới hé mở, và miệng mới bắt đầu thì thào:

- Ôi, ôi! Ðau mình quá! Cho tôi xin miếng nước uống đi!

Cả nhà reo vang, mừng rỡ. Cả nhà kéo lại, vây quanh anh tôi bóp tay nắn chân, cười nói huyên thiên. Họ đã quên tôi. Họ không biết tôi đang ôm hôn chai dầu gió với niềm hạnh phúc dâng tràn.

Năm 1993, diện HO lan rộng. Tôi đành chia tay với Mẹ, cùng với vợ con sang Mỹ lập nghiệp. Ðất lạ, người mới, cộng với nền văn minh cực thịnh của một cường quốc nổi tiếng, tôi sợ bơ vơ và lạc lõng ở nơi đó vô cùng. Tôi cũng không đem được Mẹ tôi theo để khi hoạn nạn có nhau, để khi khổ đau còn có tình thương Mẹ an ủi, đắp bồi. Trước khi gia đình tôi lên đường, Mẹ tôi từ Chương Thiện về Bến Tre chơi với chúng tôi vài tháng. Trong vài tháng này, Mẹ xử dụng tất cả tài năng về gia chánh mà Mẹ đã học hỏi từ ngày còn thiếu nữ, mỗi ngày một món ăn ngon để gia đình tôi bồi dưỡng. Mẹ sợ, khi qua Mỹ, tôi sẽ không còn dịp được thưởng thức những đặc sản quê hương. Mẹ lo cho con dâu, cho cháu nội từng manh quần tấm áo, như vá lại những mảnh rách, khâu lại từng chiếc mùng, chiếc mền…

Ngày tiễn ra phi trường, Mẹ cứ lấy khăn quàng vai chậm lên mắt. Lúc này, nhìn kỹ, tôi đã thấy Mẹ lụm cụm và già yếu lắm rồi. Nhưng Mẹ vẫn giả vờ vui vẻ, cười nói huyên thiên để tôi an tâm lên đường.

- Ðêm qua, Mẹ đã nhét vào túi xách con những lố dầu Nhị Thiên Ðường. Qua bên đó, nhớ giữ bên mình, phòng khi trái gió trở trời. Bà con đồng hương, hay dân bản xứ cũng vậy, hễ ai mắc bệnh dọc đường dọc xá, con làm phước cứu họ. Xài lâu, gần hết dầu, nhớ biên thư cho Mẹ. Mẹ sẽ tìm cách gửi dầu qua cho con. Nhớ nha!

Lời Mẹ dặn, tôi vẫn ôm theo trong lòng. Chai dầu gió, tôi vẫn kè kè trong túi. Tôi mang chai dầu đi khắp bốn phương, dong ruổi qua các tiểu bang, làm việc trong nhiều hãng xưởng. Mỗi sáng sớm đến sở làm, trời lạnh căm, trước khi lái xe đi, tôi mở chai dầu xoa lên mũi, xoa lên thái dương, xoa trước cổ, xoa sau ót…như lời Mẹ tôi căn dặn từ thuở ấu thơ đến giờ. Khi mùi dầu bay lên nồng nàn và ấm áp, tự nhiên hình ảnh bác ái của Mẹ hiện ra một cách tin yêu, khiến hạnh phúc bỗng dưng trào dâng, xua tan đi cái giá lạnh rét mướt của mùa đông xứ người. Và ở đây, nơi đất Mỹ xa lạ, tôi cũng đã từng cứu được một đồng nghiệp người Mễ tên Daniel, khi tên này bị một cú “sốc” bởi cholesterol ngã quỵ trên sàn máy.

Mãi đến năm 2001, tôi mới trở lại Việt nam thăm Mẹ. Lúc này, Mẹ tôi đang nằm bệnh viện vì chứng suy tim trầm trọng. Người ta dành cho Mẹ tôi một căn phòng nhỏ đủ để kê chiếc giường cá nhân, và một lối đi hẹp dành cho bác sĩ đến khám bệnh. Anh tôi trải chiếu xuống lối đi đó, mỗi đêm, săn sóc và canh chừng Mẹ tôi. Tôi đến khi Mẹ còn say ngủ. Tội nghiệp, chưa đầy 10 năm, Mẹ tôi đã thay hình đổi dạng một cách rất đau lòng. Ðó là một cụ già da bọc xương, nằm co quắp, tay chân rút lại như tấm hình nộm. Tôi sửng sờ nhìn Mẹ, nước mắt tự nhiên tuôn tuôn, không kiềm chế được.

- Mẹ ơi! Con về bên Mẹ đây này! Mẹ có nhận ra con không?

Mẹ tôi từ từ mở mắt ra, nụ cười méo xệch nở trên đôi môi héo hắt. Mẹ đưa cánh tay khẳng khiu về phía tôi, nước mắt trào ra.

- Mẹ nói đi, con nghe. Trong người Mẹ bây giờ thế nào? Có khỏe không?

Mẹ tôi mở miệng định nói, nhưng không thể nói được. Hình như hàm Mẹ tôi bị cứng và hệ thống thanh quản có vấn đề. Mẹ chỉ còn biết nhìn tôi, gật gật đầu. Tôi mở túi xách lôi ra vô số thuốc men, nào là : thuốc bổ, thuốc dưỡng tim, thuốc đau nhức, sữa ensure, sâm đại hàn … Mẹtôi nhìn vào số thuốc lỉnh kỉnh, lắc đầu buồn rầu. Tiếng anh tôi phía sau vọng lại:

- Mẹ không còn nhai được nữa em ạ! Nuốt cũng rất khó khăn. Bác sĩ cho uống viên thuốc chỉ lớn bằng đầu đũa, anh phải tán ra thành bột, rồi pha nước, đút từng chút cho Mẹ uống.

- Thế… bác sĩ không có cách nào khác sao?

- Họ nói, chỉ có cách cho Mẹ ăn thức ăn lỏng và đút từ từ thôi.

Mẹ tôi trở mình, vói tay lên đầu giường, cầm lấy chai dầu gió đưa ra trước mặt tôi. Như một tín hiệu thân thương, tôi cũng móc chai dầu gió từ túi quần đưa thẳng trước mặt Mẹ.

- Mẹ đừng lo. Con luôn luôn vâng lời Mẹ. Báu vật này con mãi giữ bên mình. Con vẫn làm phước cứu người trong lúc nguy khốn.

Mẹ tôi gật đầu, cười trọn vẹn. Rồi Mẹ ngoắc tôi đến gần, lần tay xuống gối móc ra một gói giấy nhỏ. Tôi nhận gói giấy, tò mò và hồi hộp mở ra. Ðó là một tờ giấy được xé ra từ cuốn tập học trò. Mẹ tôi đã viết đầy trên đó, rồi cẩn thận xếp nó lại làm sáu làm bảy, giấu trong lần gối. Tôi run run trải tờ giấy ra, chăm chú đọc từng dòng. Thằng bảy mượn 3 chỉ vàng, thằng Út mượn 300 đô, vợ thằng bảy mượn 200, con Xuân mượn 500, chồng con Ðông thế chiếc xe đạp lấy 200… Toàn bộ số tiền thằng Ân gửi về cho Mẹ từng đợt, tụi nó đã hỏi mượn và chưa ai trả cho Mẹ.

Trời ơi! Có thật sự anh em, họ hàng tôi đã nghèo nàn đến thế sao? Những lần tiền tôi gửi về giúp Mẹ, lần lượt rơi vào tay của họ mất rồi. Mẹ tôi , ôi! người Mẹ đã có tấm lòng bao la như biển cả.

Gần một tháng bên Mẹ, những đồng đô la của tôi vung ra tứ tung… vẫn không làm sức khoẻ của Mẹ tôi khả quan hơn. Thất vọng, tôi đành phó thác cho số mệnh, trở về Mỹ tiếp tục công ăn việc làm. Một tháng sau, Mẹ tôi mất. Dù chuẩn bị trước chuyện buồn sẽ xảy ra, nhưng tôi vẫn rời rã khổ đau, không làm được việc gì suốt mấy tháng trời. Mẹ tôi mất đi, hình như chưa thật sự an tâm nhắm mắt. Ðám táng cử hành rất kỳ lạ. Người chị tôi theo Phật giáo, chị rước một ông sư về tụng kinh siêu thoát cho Mẹ tôi. Còn ông anh tôi theo Tin Lành thì mời Mục sư về cầu nguyện cho Mẹ sớm về cõi Thiên Ðàng. Hai bên chống cự, phản đối nhau quyết liệt. Không bên nào chịu nhường bên nào. Họ sợ linh hồn Mẹ tôi vất vưởng phiêu linh, lạc mất lối về. Tôi gọi điện thoại cho chị tôi giải thích và đưa ra một ý kiến công bình. Từ năm 1980, Mẹ theo đạo Tin Lành. Mẹ đã làm lễ Báp Têm và xức dầu Thánh rồi, chị hãy để cho Mục Sư cử hành đám táng cho Mẹ đi.

Chai dầu gió luôn luôn nằm trong túi quần tôi. Tôi mãi khư khư giữ nó cho đến giờ phút tôi trở về cát bụi. Mặc ai phản đối, mặc ai trêu chọc, nó vẫn luôn là Thần Hộ Mệnh cho tôi, cho gia đình tôi, và cảc ho những ai không may gặp hoạn nạn dọc đường.

Phạm Hồng Ân
Escondido, 23/01/2011

Posted: Sat Feb 11, 2012 12:32 am
by hoanghoa
Đứa Con Dâu

Tác giả: Tràm Cà Mau
Bà Năm rất hãnh diện vì Tâm, đứa con trai học hành chăm chỉ. Tâm tốt nghiệp bằng bác sĩ y khoa, thực tập tại bệnh viện sắp xong, và chuẩn bị đi làm việc.

Tâm thường ôm đàn, búng tưng tưng và hát nghêu ngao. Tâm thường lập đi lập lại những câu hát ca ngợi “người em gái” nào đó. Lời rất dịu dàng, êm ái. Bà Năm nghe Tâm hát mãi, nói rằng:
“Em gái của anh, thì anh la mắng, nạt nộ, sai làm chuyện nầy, bảo làm chuyện kia, còn bắt phạt, bắt quỳ. Còn em gái người ta, thì bốc lên thấu tận trời xanh.”
Tâm trả lời yếu đuối:
“Bài hát mà má. Thì rồi em Hương nhà mình, cũng sẽ được mấy anh con trai dại dột khác, bốc lên thấu trời xanh thôi.”
“Sao anh không bốc em của anh lên một chút, cho nó vui, sung sướng. Có hơn là đi bốc thiên hạ không?”

Bà Năm thường làm hết mọi việc trong nhà ngoài ngõ. Anh con trai chưa bao giờ mó tay vào làm bất cứ chuyện nhỏ nhặt nào trong gia đình nầy, từ rửa chén bát, hút bụi nhà, sứa cái bóng đèn đứt dây, cắt cỏ, quét lá trong vườn. Anh như một người khách thuê khách sạn, trong ngoài, mọi sự đã có người khác lo.

Một buổi sáng chủ nhật, bà Năm thấy Tâm đem máy ra, cắt cỏ sân trước. Bà ngạc nhiên, há hốc miệng đứng nhìn đứa con trại đang hì hục, vụng về đẩy chiếc xe cắt cỏ. Xưa nay, anh chưa hề đụng đến việc nhà. Anh đã quen thói. Có nhờ được anh cũng khó khăn, và chưa chắc đã làm. Anh cứ lần khân mãi, rồi quên việc người khác nhờ. Hôm nay bà thấy Tâm cắt có cẩn thận, cắt đi, cắt lại, nghiêng đầu nhìn ngắm mãi, cho đến khi vừa lòng mới thôi. Bà Năm đứng chống nạnh, âu yếm nhìn con:
“Sao hôm nay Tâm giói thế? Cắt cỏ giúp cho bố mẹ. Lại cắt cẩn thận, cắt đẹp nữa!”
Tâm nhìn mẹ cười, và nói tỉnh bơ:
“Tuần trước, Lam ghé đậy chơi, thẩy cỏ cao, bảo con sao không cắt cho đẹp vườn .”
“Lam là ai?”
“Là bạn gái của con”
Bà Năm hừ một tiếng nhỏ tức tối. Con của bà sinh ra, nuôi nấng, thưong yêu, bà nhờ không được, bà nói không nghe, thế mà cái con Lam nào đó, mới mở miệng một tiếng, thì nó lại răm rắp làm. Trong lòng bà, bỗng thấy không ưa cái con Lam kia. Bà cảm thấy hơi buồn.
Sáng chủ nhật, bà pha cà phê cho chồng, và pha luôn cho Tâm một ly. Bà biết hai bố con đều ghiền, buổi sáng không có ly cà phê thì xem như mở mắt không ra.
Thấy anh con trai không buồn động đến ly cà phê thơm, bà hỏi:
“Sao con không uống liền đi, để nguội mất ngon, hương thơm cà phê bay đi hết.”
“Thôi, con không uống cà phê nữa má à. Con đang tập bỏ cà phê.”
“Sao vậy ?”
“Lam bảo con bỏ cà phê! Uống cà phê không tốt.”
Nghe con nói, mà bà điên tiết, muốn lộn máu lên.
Lam là đứa nào, có quyền lực gì, mà làm cho thằng con trai cưng, thương yêu của bà răm rắp tuân lời? Bà thưong con, muốn cho con vui, bà ra lệnh:
“Uống đi. Mę đã pha ra rồi. Đừng uống quá nhiều thì thôi, chứ vừa phái, cà-phê cũng tốt cho sức khỏe.”

Anh con trai cưng của bà, đánh trống lảng, rồi bỏ lên lầu, không đụng đến ly cà phê bà đã pha. Bà Năm bực bội, quậy ly cà phê và uống từng ngụm nhỏ. Bà nói với chồng:
“Thằng Tâm nhà mình thê mà dại gái. Cha mẹ nói cho rát họng, thì không nghe, cái con nhỏ vất vơ nào đó, nói cái gì, thì nó răm rắp nghe theo như kinh điển. Thiệt là bực. Con mình sinh ra, dạy dỗ, nuôi nấng, mà nó không xem mình bằng...”
Ông chồng bà cắt ngang:
“Thôi bà ơi. Nó cũng đã lớn rồi, khi mới yêu, thì ai cũng vậy, mai mốt sẽ khác. Bà có nhớ không, hồi xưa khi tôi mới yêu bà, tôi cũng nghe theo bà răm rắp ...”
“Bây giờ thì ông không thèm nghe theo tôi bất cứ chuyện gì nữa. Lại còn nat nộ, gầm gừ.”
“Có chứ, khi nào bà nói đúng thì tôi nghe theo, chứ bà sai, mà bắt tôi theo sao được? Ngay cả bà nội tôi, nếu nói sai, thì tôi cũng phải thưa lại cho đúng, chứ huống chi là vợ?”
“Ừ, bây giờ anh có tôi rồi, thì xem thưởng nhé!”
“Vẫn quý vợ như thường. Nhưng đúng sai, phải làm cho ra lẽ.”
Một lần bà thấy Tâm không hót tóc theo kiểu cũ, lối tóc xửng ra như rễ tre, mà hớt lối mới trông gọn gàng, lịch sự hơn. Bà khen Tâm. Tâm nói rằng Lam không thích kiểu tóc cũ. Nghe mà bà giận, bực mình. Nhưng bà công nhận kiểu tóc mới, con bà trông đàng hoàng hơn.
Mấy tuần sau, khi Hương đi chơi về, báo cho bà Năm biết:
“Mẹ ơi. Con gặp anh Tâm đang bưng thức ăn cho khách tại tiệm Hưong Bình. Anh còn cắt rau, nhặt tôm, phụ bếp nữa.”
“Mẹ không hiếu con nói gì.”
“Tiệm của bố mẹ chị Lam ấy mà! Anh ấy đến đó làm việc, lấy điểm với ông bà già chị Lam.”

Bà Năm nhăn nhó mặt mày, thở dài, thất vọng nói:
“Tiền bạc nó đâu có thiếu. ở nhà thì chưa bao giờ rửa cái bát. Chưa bao giờ nấu nồi nước sôi giúp mẹ. Chắc cũng làm không công. Thế mà, thế mà ...”
Ngay tức thì, bà kêu Hưong lái xe cho bà đi xem mặt mũi cái con Lam kia ra thế nào, mà sai khiến được ông con cưng của bà như vậy. Bà Năm hầm hầm đi theo con gái, miệng mím lại. Hương dặn bà đừng vào tiệm, đi ngang qua bên ngoài dòm vô thôi. Hai mẹ con lấm lét rình mò, đi qua tiệm nhiều lần. Khi được nhìn thẩy mặt đứa con gái tên Lam, bà càng giận hơn. Trở lại nhà, bà bứt rứt, đi lui đi tới, chờ anh con trai cưng về. Bà sẽ cho một trận tơi bời cho đã giận. Khi Tâm về nhà, chưa kịp thay áo, đã bị bà Năm gào to :
“Khôn nhà dại chợ, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Việc nhà không đụng móng tay vào, ra ngoài thì làm mọi không công cho thiện hạ. Học hành cho giỏi, đỗ đạt bằng cấp nầy nọ, mà vẫn cứ ngu dại như thưởng”

“Thưa mẹ, mẹ nói gì?”
“Thằng ngu! Cái con Lam đó, xấu xí, da ngăm, trán ngắn, mắt hí, mũi xẹp, miệng móm, ngực lép, mông teo. Đã ăn phải bùa mê thuốc lú của nó chưa, mà đi làm mọi cho gia đình nó? Nếu nó đẹp đẽ, nghiêng nước nghiêng thành, mà mê nó, thì không nói làm chi. Xấu xí như vậy, mà cũng mê muội, mới tức chứ. Cha mẹ nói thì không nghe, lại nghe lời đứa con gái vất vơ đó. Tưởng cành vàng, lá ngọc, con vua, cháu chúa chi cho cam, con nhà tiệm ăn...”
“Mẹ đừng kỳ thị. Mẹ từng nói với con, nghề nào cũng quý. Sao bây giờ mẹ chê nghề tiệm ăn? Mẹ thấy Lam xấu, mà con thấy đẹp thì sao? Tùy theo khiếu thẩm mỹ của mỗi người”
Bà Năm cười chán nản, và chê nhạo. Lặp lại một lần nữa, cái nhận xét của bà vê cô Lam:
“Ừ, cái khiếu thẩm mỹ của anh lạ lắm, đen đủi, trán ngắn, mắt hí, mũi xẹp, miệng móm, người lép kẹp, là đẹp, đẹp lắm. Hà ha ha ...”
“Nhưng tổng hợp tất cả lại, thì nhìn rất có duyên mẹ à. Con gái, có duyên thì thu hút và hấp dẫn hon đẹp. Con không cần vợ đẹp. Mấy cô đẹp, thì kênh kiệu, vác cái mặt lên, đòi hỏi đủ điều, và tham vọng không bao giờ ngừng. Họ khó khăn, họ tưỏng đâu có cái đẹp, là có quyền hành như bà hoàng. Lấy mấy cô nầy làm vợ, mệt lắm, và chưa chắc đã được lâu bên.”

Bà Năm há miệng ra vì ngạc nhiên, nhìn ông con trai của bà chòng chọc. Bà nói:
“Khiếp, ăn nói như cụ già tám mươi. Ai dạy cho anh những điều đó? Thôi, anh đã khôn đến vậy, thì mẹ chịu thua.”
“Thì ba mẹ vẫn thường nói vậy, và kinh nghiệm riêng của con cũng thấy thê.”
Thương và cưng con, bà không muốn con bà thương ai hơn, nghe lời ai hơn là nghe lời bà. Cái ác cảm với cô Lam không làm sao vơi được trong lòng bà.
Những khi Tâm mời Lam về nhà chơi, bà Năm cố tình làm mặt lạnh nhạt, và để lộ ra rằng, bà không ưa cô.

Bà còn nói bóng gió xa gần rằng, đàn bà không có ngực, sau nầy khó nuôi con. Đàn bà vòng mông nhỏ, sinh con khó, hiếm muộn. Lam vẫn vui vẻ, bình thường, làm như không biết bà Năm đang ám chỉ cô. Thấy thái độ của mẹ, Tâm không đám đem Lam về thăm nhà thường xuyên.

Ông Năm khuyên vợ rằng:
“Bà càng tỏ ra chống đối, thì chúng nó càng khắng khít. Tình yêu là một thứ kỳ cục, càng có nhiều trắc trở, thì càng nhiều nồng nàn, cháy bỏng. Tình yêu xuôi chèo thuận mái quá, thì cũng không bền. Bà cứ để cho chúng nó tự do tìm hiểu nhau, đừng gây trắc trở, khó khăn, mà sau nầy có hậu quá không tốt, con dâu nó xa lánh gia đình chồng, và mình cũng mất con luôn.”
Bà Năm cũng hiểu thế. Nhưng cái ghét bỏ cô Lam vẫn tiềm tàng trong lòng bà. Có lẽ tại vì Tâm nghe lời cô nầy răm rắp, mà không nghe lời bà, là người mẹ đã dành hết yêu thưong cho con. Nó coi người khác quan trọng hơn bà. Ông Năm nói rằng, việc chi mà ganh tị tình thưong ? Khi còn trẻ, thì ganh với bà mẹ chồng, bây giờ thành bà mẹ chồng, thì lại ganh với con dâu. Cứ cái vòng luẩn quẩn quay đi quay lại mãi, không được gì, mà chỉ gây thêm sứt mẻ, lộn xộn. Dân Á đông, thì mẹ chông nàng dâu lục đục. Dân Âu Mỹ, thì mẹ vợ và con rể không ưa nhau. Có cà ngàn câu chuyện chế diễu bà mẹ vợ do các ông viêt ra. Như chuyện diễu về ông Adam, thủy tổ loài người, bảo rằng ông nầy là người đàn ông sung sướng nhất, vì ông không có một bà mẹ vợ.
Dù cho bà Năm có bóng gió, nói xấu cô Lam đến mấy, anh con trai cưng của bà vẫn không suy suyển cái tình si dành cho cô nầy. Bà mẹ có dàn cảnh, giới thiệu cho anh bao nhiêu cô gái khác, đep hơn, anh cũng không màng liếc mắt đến. Bà Năm cán răng chấp nhận cho Tâm cưới cô Lam. Bà tiếc rằng, từ nay những bà bạn có con gái đến tuổi cặp kê, hết o bế bà, bót nồng nàn, tử tế như xưa.

Sau đám cưới, bà Năm xuống nước năn nỉ Tâm khoan dọn ra riêng. Anh con trai không trả lời dứt khoát, và cho biết tùy theo ý kiến của vợ. Bà Năm phải nói thẳng với cô con dâu rằng, nếu các con khoan dọn ra riêng, thì sẽ tiết kiệm được một số tiền, mua nhà sớm hơn, và tốt hơn. Cô con dâu vui vẻ trả lời rằng, nếu ba mẹ cho chúng con ở chung trong thời gian đầu, thì chúng con mừng lắm, được ba mẹ cho ở, cho ăn, và gia đình sum vầy, thì vui hơn là tách biệt ra. Câu nói của đứa con dâu làm bà mát ruột.

Sau thời gian đầu bỡ ngỡ, đứa con dậu dần dần thích nghi với sinh hoạt của gia đình. Ban đầu, bà Năm nghĩ rằng, lại phái hầu ha thêm một “cô nương” nữa. Bà không ngại, miễn sao giữ anh con trai cưng của bà lại trong gia đình là được. Mỗi khi cô con dâu tự ý làm giúp cho ông bà việc gì, bà Năm nói nhỏ với chồng: “Cô dâu nầy, ưa làm màu lắm.” Ông chồng bà trả lời: “Thà có đứa con dâu làm màu, còn hơn là đứa ngang ngạnh, không coi ai ra gì.”
Nhiều buổi sáng rất sớm, bà nám nghe tiếng thở phì phò, tiếng huỳnh huỵch ngoài phòng khách, bà tưởng hai vợ chồng anh con trai đang làm trò khỉ. Một lần bà hé cứa nhìn xuống lầu, thấy Tâm và Lam đang múa tay, múa chân tập thể dục. Bà lắc đầu. Con trai bà, chưa thấy tập thế dục bao giờ, nay vì vợ mà tập. Bà cho rằng, con trai mà nghe lời vợ quá, cũng không tốt. Bà thử múa tay, uốn éo thận mình theo các cử động của hai người, bà nghe khoái cảm trong bắp thịt, xương cốt, và tiêu tan bớt rất nhiều mỏi mệt. Không lâu sau đó, nhiều buổi sáng, bà tập thể dục theo con, Và cả ông Năm cũng tham gia. Trong phòng khách buổi sáng, theo tiếng hô của Lam, bốn người nhịp nhàng múa tay chân, hít thở trong vòng hai mươi phút trước khi ăn điếm tâm và đi làm việc. Mỗi sáng thứ bảy, chủ nhật, Tâm lái xe ra công viên rất sớm, cùng cha mẹ và vợ, chạy bộ vòng quanh sân cỏ, hít thở không khí trong lành, tập những động tác uyển chuyến.

Sau đó, cùng đi ăn sáng. Bà Năm cảm thấy, nhờ có đứa con dâu mà tình mẹ con của bà gần gũi hơn, sau bao nhiêu năm gần như gián đoạn, kế từ ngày anh bước vào tuổi mười tám, hai mươi.

Hai ông bà Năm trở nên mê cái món cháo gạo lức, nấu đặc rền, ăn với cá nục kho khô, rướn cong, mặn, có tiêu ớt. Ăn vào buổi sáng, do cô con dâu nấu. Ban đầu bà Năm cười cái món ăn nầy của người nhà quê. Nhung cô dâu nói rằng, đây là món ăn vua chúa, chứ không phải món nhà quê. Sử sách có chép rõ, các ông vua triều Nguyễn rất khoái ăn cháo trắng buổi sáng. Ông bà Năm cũng phải công nhận ăn cháo vừa ngon, vừa tốt cho sức khỏe, bớt được chất béo, chất đưòng.

Mỗi buổi chiều, bà Năm về nhà trước con dâu chừng nửa giờ. Bà vào bếp chuẩn bị, cắt rau, cắt thịt. Cô con dâu vất xong cái cặp vào phòng, chạy vội xuống bếp, phụ mẹ chồng sửa soạn cơm tối. Thời gian đẩu, cô phụ làm các việc lặt vặt, chỉ làm những chuyện mẹ chồng sai bảo. Có cô con dâu phụ bếp, dù không phụ được gì nhiều, nhưng bà Năm thấy vui, tự ái của bà không bị tổn thưong. Bà có thể hầu chồng, hầu con, chứ không muốn mang tiếng làm mọi cho cả con dâu. Nhìn thấy cô con dâu vui vẻ, hát hò trong khi làm bếp, bà cũng vui lây. Thì ra, cô làm với tấm lòng, với sự chia xẻ, chứ không phái miễn cưỡng. Cô con dâu múa dao lia lịa, cắt hành, cắt rau, ót, nhanh như các anh đầu bếp tàu chiếu trên truyền hình. Thỉnh thoáng, cô con dâu đề nghị bà Năm nấu món ngon cho cá nhà, ăn chơi cho vui, ăn chơi ngon hơn ăn thật, cô lãnh trách nhiệm nấu các món nầy. Cô nấu phở, bún bò, cháo lòng, hủ tiếu, bánh canh, bún riêu, mỗi chiều ăn một món thay cơm. Cà nhà vui vẻ hơn, ông Năm nói rằng, nấu ở nhà ngon như thế nầy, thì đi tiệm làm gì. Bà Năm học thêm được những bí quyết nấu ăn của cô dâu, và cộng thêm kinh nghiệm cũ, bà nấu càng ngon hon. Bà mời bạn bè chồng đến, trổ tài nấu nướng.

Nhiều người khen và khuyến khích bà ra mở tiệm ăn. Bà con, bạn bè đòi hùn vốn mở tiệm. Bà Năm sung sướng và quyết định thôi việc, ra làm kinh doanh. Trong một bữa ăn, cô con dâu nói với ông bà:
“Dì Chính báo rằng, nếu mình ghét ai thậm tệ, muốn trả thù, thì cứ đem tiền cho mượn, xúi họ mở tiệm ăn, cho họ khổ, bỏ ghét. Làm tiệm ăn, khách ít thì lo, khách đông thì khổ, làm một ngày mười sáu, mười tám giờ cũng không hết việc. Nắng cũng lo, mưa cũng lo. Cực lắm, đầu bếp cũng cực, phụ bếp cũng cực, chủ tiệm còn cực hon. Dì Thu bạn của mẹ con mở tiệm phở, bị ông đầu bếp bóp cổ, phải kêu cánh sát can thiệp. Ông đầu bếp mệt và cực quá, mà dì thì quá lo lắng, thúc hối, hỏi han. Ông nổi khùng, bóp cổ dì. Bố mẹ con, lỡ mở tiệm, không lui được nữa, cực lắm lắm, ông bà mệt quá, gây gổ nhau hoài. Nếu mẹ muốn mở tiệm ăn, thì hãy suy nghĩ cho kỹ lại. Ít nhất cũng giả vờ đi làm công cho thiên ha, phụ bếp hoặc làm đầu bếp vài ba tháng cho biết đá biết vàng rồi quyết định.”

Nghe con dâu nói, bà sợ hoảng hồn. Không dám ra làm kinh doanh nữa.
Nhiều hôm, cô con dâu hớt hải chạy về kêu bà Năm thay áo quần ra xe đi gấp, xuống phố mua hàng với cô. Vì hàng hạ giá, chỉ còn một hôm nữa là hết hạn. Cô ríu rít khoe rằng có người mách cho biết, hàng hạ xuống trên bảy mươi lăm phần trăm, không mua uống lắm. Bà vui vẻ ngồi bên đứa con dâu, cô vừa lái xe vun vút trên xa lộ, vừa nói chuyện vui vẻ. Khi vào tiệm, cô ép bà thử áo nầy, thử váy kia, tíu tít. Rồi cô con dâu dành trả tiền mua áo quần cho mẹ chồng. Để bà khỏi thắc mắc, cô nói:
“Tiền nầy do anh Tâm làm ra, mẹ có quyên xài. Anh Tâm sẽ rất vui, khi biết mẹ dùng tiền nầy.” Sau đó, hai mẹ con rủ nhau đi ăn, ngồi nói chuyện trong quán, và mua thức ăn về cho cả nhà.

Mỗi năm đến ngày sinh nhật của bà, ông Năm đưa cả gia đình ra tiệm ăn gần nhà. Như để trả nợ quỷ thần, để bà khỏi cằn nhằn, than vãn, kêu rêu. Vì ông nghĩ rằng, sinh ra là khổ, sao lại phải mừng. Thắp cho bà mấy cây nến to, mỗi cây tương trưng cho năm mười tuổi, không dám thắp nhiều như đám cháy rừng, sợ bà buồn. Năm nay cô con dâu xin được tổ chức sinh nhật cho mẹ chồng.

Chính tay cô làm cái bánh lớn. Trang hoàng nhà cửa, và viết thiệp mời bà con. Thức ăn do cô đặt tại các tiệm mang về. Bà con đông đảo tham dự, cười nói, vui tươi.

Khoảng thời gian giữa tiệc, có tiếng gõ cửa, một cô vũ công múa bụng xuất hiện. Ðầu cô cài lông công, mang sắc phục sặc sỡ theo lối Trung đông, toàn người lóng lánh như có dát kim cương. Tiếng nhạc trối lên eo éo, thanh sắc, cao. Cô vũ công uốn người, lắc mông, bụng chuyển động xoay tròn không ngừng. Ông Năm chăm chú, ngồi há hốc miệng ra mà xem, đến nỗi một giải nước bọt bò ra từ miệng ông lúc nào mà ông không hay.
Bà Năm thấy vậy, tức mình phát vào lưng ông một cái thật mạnh, ông giật mình hốt hoảng quay qua nhìn bà, và cười cầu tài. Tối đó, bà Năm giận chồng, và giận luôn cá cô con dâu, bày trò bậy bạ.

Có lần bà Năm giận ông chồng, ngồi khóc. Cô con dâu đến ôm bà, vuốt ve và hôn lên trán bà mà an ủi. Cô kéo bà đứng dậy, rủ bà lên San Francisco chơi. Hai mẹ con đi bộ long rong qua chợ phố tàu. Khi đã mỏi chân, cô con dâu cùng bà vào quán cà phê, ngồi ở dãy bàn dọn trên lề đưòng cùng uống trà, ăn kem. Ngồi nhìn thiên hạ qua lại. Cô con dâu nói:
“Ngồi đây, đôi khi cũng thấy tâm hồn thư giãn. Nhìn cái tất bật của thiên hạ, thây cái nhàn nhã của mình, rồi biết quý cái hạnh phúc đon sơ mà mình đang có.”
Bà Năm cũng thấy vui vui, và quên bớt đi cái giận hờn ông chồng. Cô dâu nói với bà:
“Trời có khi nắng khi mưa, vợ chồng có khi vui, khi buồn. Rồi mọi sự đều qua. Khi nào buồn, con đem mẹ đi chơi, giải trí. Hôm nào hai mẹ con mình rủ nhau đi xem chóp bóng, khuya mới về, để cho các ông ớ nhà chờ, và đói một bữa chơi. Như vậy, các ông mới biết quý cái không khí ấm áp của bữa cơm bình thường mỗi ngày trong gia đình.”

Mỗi buổi sáng, ông Năm đều nhắc rằng, nhờ có cái máy cà phê áp suất do cô con dâu mua tặng, nên ông có cà phê ngon mà uống. Ðến sở khỏi phái tốn tiền mua cà phê bên góc đường.

Nhiều hôm cô con dâu mua thức ăn ngon bên ngoài đem về. Ríu rít nói là cô ăn ngon quá, mua về cho cá nhà ăn cho vui. Không cần ăn ngon hay dở, nghe thế là bà Năm đã cảm động. Xưa nay, con bà, chồng bà, chưa hề thấy ngon mà mua về cho bà.
Sau một thời gian ở chung với cô con dâu, đi đâu, bà Năm cũng khoe là bà có thêm một đứa con gái, có thêm một người bạnthân để tâm sự khi vui buồn. Bà nói thêm, từ ngày anh con trai có vợ, gia đình thấy vui vẻ, hạnh phúc và thưong yêu nhau hơn. Bà khen anh con trai khôn ngoan và khéo chọn bạn trăm năm. Bà không còn chê cô dâu là trán ngắn, mắt hí, miệng móm nữa.

Một hôm đã khuya, bà Năm thức giấc xuống lầu uống nước, thẩy có bóng người thấp thoáng ở sân sau nhà, bà ghé mắt nhìn. Trăng vầng vặc trái ánh vàng xuống khắp vườn. Bà thẩy Tâm quàng tay qua vai vợ ngồi tựa ngửa, chân gác lên ghê. Bà nghe tiếng thì thầm:
“Đôi khi thấy mẹ anh thương, và bênh em, làm anh phát ghen lên. Em làm gì mà mê hoặc được mẹ anh đến thế?”
Tiếng cô con dâu trong trẻo đáp lại:

“Thương yêu và thông cảm. Ðem hết tấm lòng mình ra mà đãi người, rồi sẽ được đáp lại bằng tấm lòng. Nhờ em biết thưong yêu ba mẹ anh như ba mẹ ruột, thì ông bà mới thưong yêu em như con ruột. Em có thêm một ông bố, một bà mẹ, một cô em, có thêm nhiều tình thương. Từ đó, vợ chồng mình hòa thuận hon, thưong yêu nhau hon, và lâu bên hơn, hạnh phúc hơn.”
Bà Năm len lén trở lại phòng, chép miệng và nghĩ rằng, bà đã già một đời mà còn ngu dại, cứ ganh ghét với gia đình chồng, ganh ghét với con dâu. Bọn trẻ con ngày nay, có nhiều đứa khôn nứt hạt./.


Trích trong "Hương cố nhân"
Tràm Cà Mau.

Posted: Sat Feb 18, 2012 4:47 am
by thienthanh

Image
Việt Dũng Một Nghệ Sĩ Với Tài Năng Vượt Bực
Tiểu Sử:

Tên thật: Nguyễn Ngọc Hùng Dũng
Ngày sinh: 8 tháng 9 năm 1958
Nơi sinh: Sài Gòn, Việt Nam

Những trường đã theo học: Lasalle Taberd (Sài Gòn), Wood River High School (Nebraska), University of Nebraska at Omaha (UNO), University of Houston (Texas).
Nhạc khí sử dụng: Piano, Guitar

Sở thích: Âm nhạc
Màu ưa thích: Màu đen, màu xanh
Con số ưa thích: 13
Thức ăn ưa thích: Hải sản và các thức ăn khác.
Môn thể thao ưa thích: Thich xem football trên truyền hình .......

***

Suốt ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mane dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.

Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này,
mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca:

... “Thuyền trôi xa ... về đâu ai biết ? Thuyền có về ...ghé bến tự do ? Trời cao xanh ... hay trời oan nghiệt Trời có buồn ... hay trời vẫn làm ngơ ?...

... Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ ...?”

Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò. Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương.

Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt
Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v.. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.

Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm
thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ.

Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield. Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng,
được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây:

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay ... Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày ...

Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ....

Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình ...”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.

Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.

Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v...Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến
gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này.

Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên
Hiệp Quốc...Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon. Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở
Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood ...VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư. Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh ...cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung ... Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn
Phụng .v.v...Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.

Bốn năm sau( 1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang...Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn
cầu bất cứ lúc nào. (http://www.levanduyet.net/cgi-bin/yabbS ... oBolsa.com)

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông
(Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v.

Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh
Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem...

Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương ...

Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau:

“Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của nhữNg rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm. Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá
trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995)

Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là:

Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004

Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.

Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005)

Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita.

Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi ....

Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện ...Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là
luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới" (phát hành 27/2/2004), "Tiếng Hát Trái Tim" (thu hình 20/3/2004), "Mùa Hè Rực Rỡ 2005" (thu hình 22/7/2005). Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”( phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều
chết ra đi tìm tự do ngày xưa.

Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 "Vinh Danh Nhật Trường" và Asia 51 "Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến" ... đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người
càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Duy-Khiêm

Posted: Thu Mar 01, 2012 7:56 pm
by tramthaiha
Đá Mòn Nhưng Dạ Chẳng Mòn
Tiểu Tử
Vợ chồng tôi dọn về ở trong cái làng nhỏ này đã hơn ba tháng. Mấy đứa con của chúng tôi nói : ỡ Ba má già rồi mà ở trong Paris đâu có tốt. Nội cái không khí ô nhiễm cũng đủ làm cho ba má bịnh lên bịnh xuống hoài ữ. Vậy là chúng nó kiếm mua một cái nhà ở xa Paris . . .

Nhà có đất chung quanh, có mấy cây pomme, mấy cây cerise. Hồi dọn về là đầu mùa xuân , mấy cây đó trổ bông màu hường màu trắng đầy cành. Ở mấy nhà hàng xóm cũng vậy, hoa nở rộ hầu như cùng một lúc, nên trông thật là đẹp mắt.

Biết là mùa xuân nhờ hoa nở và chồi non, chớ thật ra thời tiết ở Pháp mấy năm gần đây đi . . . trật lất. Mùa xuân mà cứ tưởng như mùa thu, cứ mưa lất phất rồi hết mưa là trời đổ sương mù. Cứ như vậy kéo dài đến bây giờ, theo trong lịch, là đã đầu mùa hè mà vẫn còn nghe lành lạnh !

Hôm nay tự nhiên trời bỗng trở nắng. Nắng thật ấm, thật trong. Người ta vội vã mang đồ ra phơi đầy sân : quần áo, drap, mền . . . Đủ màu sắc, đủ cỡ, coi vui nhộn như một ngày lễ !

Tôi cũng thấy phấn khởi, bèn rủ nhà tôi đi chơi một vòng. Bởi vì từ ngày dọn về đây, ngoại trừ những lúc phải ‘xẹt’ ra tiệm thịt, lò bánh mì, hàng rau cải v.v. . . chúng tôi cứ ru rú ở trong nhà vì thời tiết xấu. Nhà tôi không chịu đi, nên tôi đi mình ên . . .

Làng này tuy nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ. Ở đâu cũng thấy trồng bông : dọc theo vỉa hè, ở các ngã ba ngã tư, mặt tiền nhà phố . . . Giữa làng là một nhà thờ nho nhỏ nằm trên một vuông đất cao hơn mặt đường gần một mét, cũng trồng đầy bông.

Chảy ngang qua làng là một con suối nhỏ, rộng độ mươi thước, chui dưới cây cầu đá rối uốn khúc quanh quanh trước khi rời làng xuôi về phía dưới. Hai bên bờ suối là hai con đường tráng xi-măng chạy dọc theo hai hàng cây. Rải rác, có mấy băng gỗ đóng thô sơ, nhưng vẫn nằm giữa những lùm bông đầy màu sắc. Có nơi, không hiểu sao người ta đặt băng gỗ nằm cạnh bờ nước giống như làm chỗ ngồi cho người đi câu !

Tôi ngồi xuống một cái băng cạnh bờ nước. Vì không nằm dưới tàn cây nên ở đó đầy nắng. Tôi đốt điếu thuốc rồi nhìn quanh : chẳng có ai hết. Nhớ lại, dân trong làng chỉ đổ ra đường vào ngày chủ nhựt, bởi vì ngày đó nhóm chợ lộ thiên và lại là ngày phải đi Lễ nhà thờ. Còn ngày thường thì chỉ có mấy ông già bà già đi khệnh khạng trên hè phố hay dọc bờ suối khi nào trời tốt. Hôm nay, trời tốt đó chớ, nhưng sao chẳng thấy ai đi. Tự nhiên, tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng . . . Lại nhìn quanh, chỉ thấy xa dưới kia là gác chuông nhà thờ một mình đứng cao lêu nghêu !

Con suối không sâu, nước trong nhìn thấy đáy. Dòng nước chảy nhanh nhanh. Khi gặp mấy tảng đá lớn, nước bắn lên trắng xóa coi thật sinh động, nhìn không chán.

Lòng suối đầy đá cuội tròn tròn. Cũng có những cục đá to nhưng chẳng có viên đá nào còn góc cạnh. Viên nào cũng nhẵn thín.

Nhìn nước chảy, nhìn đá mòn, tôi bỗng nhớ đến hai câu chót của bài học thuộc lòng thuở nhỏ :

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. . .

Hai câu thơ đó không có gì hết, vậy maụ nó làm tôi ứa nước mắt ! Không phải nó chỉ nhắc tôi thời thơ ấu, thuở học vui học buồn bằng quyển ỡ Quốc Văn Giáo Khoa Thư, mà nó còn nhắc tôi một cái gì sâu đậm hơn là kỷ niệm, một cái gì to rộng mênh mông hơn là không gian thời gian, một cái gì mà trong cuộc đời lưu vong này tôi vẫn mang mểnh trong tâm tư, giống như một chất ma túy : nó nhắc tôi quê hương, cái quê hương xa cách ngàn trùng !

Tính ra, tôi bỏ xứ ra đi đã hơn hai mươi bốn năm. Một phần tư thế kỷ ! Trôi nổi đó đây với nhiều âu lo dằn vật, thêm tuổi đời cứ chồng chất mãi lên. . . nên ký ức bị xói mòn theo năm tháng. Đến nỗi chuyện gì xảy ra hôm tuần rồi, hôm tháng trước. . . có khi không nhớ ! Vậy mà hình ảnh của quê hương vẫn còn nằm nguyên đâu đó ở trong lòng, với những kỷ niệm vụn vặt của năm sáu chục năm về trước ! Chỉ cần một chất xúc tác là nó bật lên rõ rệt, không thiếu một chi tiết, làm như mình đang sống trong đó mới hôm qua hôm kia. . . Tình yêu quê hương sao mà kỳ diệu như vậy được ?

Nơi tôi sanh trưởng cũng là một cái làng nho nhỏ. Nó không ngăn nắp sạch sẽ, không được trang hoàng bằng những bông hoa đầy màu sắc như ở đây. Cũng không có con suối nhỏ chảy ngang để hai bờ được nối với nhau bằng cây cầu đá. . .

Làng tôi nằm bên tả ngạn một con sông lớn, quá lớn nên thấy cái làng như nhỏ xíu ! Con sông đó có cái tên chẳng chút gì ‘văn chương’ : sông Vàm Cỏ. Trong làng chỉ có một con đường tráng nhựa : đó là đường liên tỉnh, cũng còn được gọi là ‘con lộ cái’ nối xóm trên xóm dưới. Ngoài ra, toàn là đường đất mà tiền thân của chúng nó là những con đường mòn, nối xóm Nhà Máy, xóm Lò Heo qua xóm Lò Gạch, xóm Chùa ... Cho nên những con đường trong làng đều chạy cong cong quanh quanh !

Làng tôi cũng có chợ nhà lồng, ngày nào cũng nhóm, nhưng chỉ nhóm có buổi sáng. Nằm cạnh chợ là ‘Nhà Việc’, nơi . . . làm việc của những ‘nhà chức trách’ trong làng. Xế xế về phía con lộ cái là trường tiểu học với hàng rào cây bông bụp, lá xanh um láng mướt.

Làng tôi không có nhà thờ nhưng có một ‘kiểng’ chùa nằm trên một khu đất cao, có rào tre xanh chung quanh. Hồi tôi còn nhỏ, thấy cũng nằm xa dân chúng, vắng vẻ u tịch (hồi đó, tôi ít dám đi ngang qua đó một mình vì . . . sợ ma ! ) Về sau, dân chúng càng ngày càng đông, nhà cửa cứ xây cất tiếp nối nhau kéo dài ra hướng chùa, rồi ‘đi’ xa hơn về phía con lộ cái. Vì vậy, chùa bị lọt trũm giữa khu nhà dân, không còn biệt lập như trước.

Nhà cửa trong làng nhỏ lớn gì cũng có hàng rào. Phần nhiều là hàng rào cây xương rồng và cây bông bụp (cũng gọi là bông lồng đèn) Xương rồng cũng trổ bông lai rai, hoa trắng nõn nà mỏng manh như lụa, khác hẵn với thân cây mang đầy gai góc ! Còn bông bụp thì cứ nở thè lè đỏ cây. . .

Đó ! Làng tôi đó ! Quê trân ! Chẳng chút màu mè. Vậy mà sao tôi vẫn thương.

. . .Thương những con đường đất mà hai bên là bờ cỏ may. Đến mùa, cọng cỏ may đưa bông lên tua tủa tím ngắt, chỉ chực bám đầy ống quần nào bất chợt đi ngang.
. . .Thương những đoạn đường quằn, mùa mưa nước ngập phải xăn quần tém áo để đi qua, trong lúc trẻ con một lũ ở truồng nằm lăn chập chũm, tóe nước nhau cười vui như hội.
. . .Thương bờ sông Vàm Cỏ với những cây dừa trồng không thẳng hàng, cũng không chia đều khoảng cách, giống như ‘mạnh ai nấy trồng’ ! Mấy cây dừa đó, nằm quá gần bờ nước nên rất nhiều cây thiếu đất để giữ gốc, chúng nằm dài ra phía sông cách mặt nước độ một đôi thước rồi uốn mình đưa ngọn đứng thẳng lên cao. Vậy mà cũng đơm bông kết trái ! Trẻ con thường trèo lên đó để phóng xuống nước nô đùa lặng hụp, và dân ở dọc bờ sông hay đem mền chiếu ra vắt lên đó để phơi.
. . .Thương con đường lên chùa có hai bờ tre xanh lả ngọn giao nhau làm cho con đường giống như một cái hang mát rượi. Ở đó, mỗi trưa đứng bóng, những người dọn hàng từ chợ về nhà thường dừng chân núp nắng, và chiều chiều đường vắng cũng thấy thẫn thơ một cặp gái trai . . .
. . .Thương cả cây phượng nằm bên bờ đường trước nhà ông Cả. Thân nó to bằng ba người ôm, gốc rễ lấn luôn ra mặt đường. Ai đi qua cũng phải bước vòng để tránh ! Đó là cây phượng độc nhứt ở trong làng. Không biết ai trồng và tại sao lại trồng ở đó ? Chỉ biết hằng năm vào mùa thi là cây trổ hoa đỏ trời. Sau đó là hoa rụng đỏ đất.
. . .Và còn thương nhiều thứ nữa, kể biết bao giờ cho hết !

Nhà tôi ở trong Xóm Mới. Gia đình tôi nghèo. Cha tôi trồng rau cải, mẹ tôi hằng ngày gánh xôi ra ngồi bán ngoài chợ. Cha mẹ tôi chỉ có hai đứa con trai : tôi và thằng Cu, nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Cha tôi chết bịnh hồi mẹ tôi sanh thằng Cu . . .

. . .Nhớ hoài, thời tôi học tiểu học. Sáng nào, sau khi húp tô cháo với miếng đường thẻ, tôi ôm cặp đựng sách vở mà ông nội tôi làm bằng giấy dầu để khỏi bị ướt nước mưa, đi theo mẹ tôi ra chợ. Vì phải đem thằng Cu theo - lúc đó nó được hơn hai tuổi - mẹ để nó ngồi trong một cái thúng, gióng ở đầu đòn gánh phía trước, còn lá chuối, xôi, nhưn, dừa nạo v.v... vồn trong một thúng gióng ở đầu sau. Mẹ gánh như vậy mà bước chân đi sai sải. Đòn gánh nhún lên nhún xuống làm thằng Cu khoái lắm. Lâu lâu, mẹ đổi vai, đầu đòn gánh nhún xuống hơi sâu và tưng lên hơi cao làm anh ta cười hắc hắc để lòi bốn cái răng cửa nhỏ xíu. Những lúc đó, anh ta thuờng gọi tôi để khoe : ‘Hai ! Hai ! Coi nhè ! Coi nhè !’.

Tôi học chỉ có buổi sáng. Mẹ tôi bán ở chợ cũng vậy. Trưa, chợ tan sớm hơn trường học, mẹ gánh thằng Cu đến ngồi đợi tôi dưới cây trứng cá gần cổng trường. Thấy tôi ra, thằng Cu đứng lên, vừa nhảy tưng tưng trong cái thúng vừa la : ‘Hai ! Hai !’. Anh ta ở truồng - lúc nào cũng ở truồng - bên trên bận áo bà ba vải đen của bà nội may cho, đầu đội cái nón hình chóp bằng lá chuối mẹ xếp rồi ghim bằng cọng chân nhan . . . Mẹ đưa tôi gói xôi (đã thành lệ, ngày nào mẹ cũng chừa cho tôi một gói) tôi ngồi xổm cạnh mẹ, vừa ăn vừa đút cho thằng Cu. Ăn xong, tôi chạy qua bên kia đường xin một gáo nước ở nhà thầy giáo Hiển, rồi mang cho ba mẹ con uống (vì trong trường chỉ có một lu nước, không đủ cho đám học trò nên thầy Hiển đặt trước nhà thêm một lu. Vào giờ ra chơi, học trò bu qua đó đông như kiến) Uống xong, mẹ gánh thằng Cu bước đi thông thả, tôi lon ton chạy theo song song . . .

Hồi đó, vì phải chạy lúp xúp nên có lần tôi nhìn xuống bước chân của mẹ, coi mẹ đi cách nào mà mình cứ phải chạy theo lúp xúp ! Mẹ đâu có bước lẹ, mẹ bước đều. Mẹ đi chân không, mỗi bước chân của mẹ giậm xuống làm tung lên một chút bụi đường. Tôi nhìn chỉ thấy có như vậy. Bây giờ, hơn sáu chục năm sau, ngồi ở trời Tây này, tôi đâu cần nhìn mà sao vẫn thấy được - thấy rõ - hai bàn chân của mẹ. Hai bàn chân to bề ngang, mấy ngón chân chè bè không bao giờ xếp lại được. Hai bàn chân xấu xí đó chưa từng đụng tới đôi giày đôi dép. Hai bàn chân chỉ biết có đôi guốc dong khi rửa chân đi ngủ, hay khi đi dự dám giổ, đám tang . . . Hai bàn chân đó đã bám lấy đất để đứng vững một mình nuôi hai thằng con, hỏi sao không chè bè cục mịch cho được ?
Tôi bồi hồi nhớ lại lần tôi lau rửa đôi bàn chân của mẹ . Đó là hồi mẹ tôi mất sau một thời gian dài nằm bịnh ở nhà thương ( Mẹ ngã bịnh từ ngày hay tin thằng Cu chết trận ở Đắc Lắc… ) Tôi lau chân mẹ lần đó là lần đầu và dĩ nhiên cũng là lần cuối cùng . Tôi lau gót chân nứt nẻ . Tôi lau lòng bàn chân chai mòn . Tôi lau những ngón chân tròn cứng như những hòn sỏi . Tôi lau chân mẹ bằng suối nước mắt và bằng tất cả sự thận trọng như khi lau một món đồ thật là trân quí…

Tôi đốt điếu thuốc, thở một hơi khói dài. Lại nhớ hồi học lớp nhứt, có hôm tôi bắt chước bạn bè lén hút thuốc. Mẹ tôi thấy được, lôi tôi vào nhà bắt đứng khoanh tay để ‘hỏi tội’ : ‘Hai !
Ai cho mầy hút thuốc, hả ? Ai dạy mầy hút thuốc, hả ? Mầy bắt chước ai, nói tao nghe coi ? Mới có bây lớn đó mà bày đặt hút thuốc !’. Rồi mẹ chụp cây chổi chà dựng gần đó : ‘Tao phải đánh mầy cho mầy chừa’. Mẹ vừa nói ‘Chừa nè !’ vừa đập cây chổi lên đít tôi thật mạnh. Cứ mỗi một câu ‘Chừa nè ! ‘ là một phát chổi. Mẹ đánh một lúc rồi liệng cây chổi, trèo lên bộ ván, ngồi co chân, rút cái khăn rằn đấp lên mặt khóc. Tôi đứng chết điếng, nghe mồ hôi chảy dài theo xương sống, không thấy đau ở đít mà đau ở đâu trong lòng. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi làm cho mẹ tôi khóc. Tôi mếu máo, rặn ra mấy tiếng : ‘Dạ . . . con xin chừa . . .’

Vậy mà lớn lên, khi ra đời, tôi đã . . . không chừa ! Tôi tập tành hút thuốc hồi tôi đi lính, bởi vì ‘ở tiền đồn trời khuya đêm lạnh, ta chia nhau điếu thuốc ấm lòng’. . . Mỗi lần về phép, chẳng bao giờ tôi dám hút ở nhà vì trận đòn chổi chà thuở nhỏ vẫn còn đeo theo ám ảnh ! Tôi hút ngoài đường . . .


Một hôm, đang đứng hút thuốc với mấy thằng bạn cùng xóm, bất thần mẹ tôi đi qua. Tôi vội vã liệng điếu thuốc xuống đất. Mẹ tôi dừng lại, mỉm cười : ‘Mầy làm cái gì vậy, Hai ? Mầy lớn rồi chớ bộ còn con nít sao. Bây giờ, mầy có hút thuốc, tao cũng đâu có bắt mầy chừa !’ Rồi bỏ đi một nước !

Mẹ tôi như vậy đó. Quê mùa mộc mạc như làng của tôi, vậy mà tôi vẫn thương. Tôi thương, đâu cần mẹ tôi phải đẹp, quê hương tôi phải sang. Tôi thương, vì tất cả đều gắn liền với tôi từ thuở tôi ra chào đời. Tôi đã quen thở, quen sống trong vòng tay của mẹ, giữa lòng quê hương ; đã lớn lên trong cái thật thà chân chất đó. Cho nên hình ảnh của mẹ, của quê hương đã ghi sâu vào lòng tôi đến độ khi thiếu vắng, tôi thương tôi nhớ. Và tình thương đó vẫn chưa thấy mòn, mặc dầu bây giờ tôi đã ngoài bảy mươi . . .


Mặt trời đã lên cao. Thấy có vài người hứng nắng bên bờ suối. Tôi đứng lên đi về nhà mà miên man nghĩ : ‘Những hình ảnh mà mình vừa gợi lại khi nãy sao mà dễ thương như vậy. Mình phải viết ra để cho nó có chỗ đứng bên ngoài ký ức, cho các con các cháu của mình thấy và hiểu tại sao hơn hai mươi bốn năm sống trên đất Pháp, cha và ông của chúng nó không nói ‘thương nước Pháp’ mà cứ nhắc hoài người mẹ đi chân đất và cái làng quê mùa không có đến hai con đường tráng nhựa !‘

Vào nhà, tôi đi thẳng lại bàn viết. Vợ tôi chắc đang nấu bếp nên nghe phất ra thơm phức mùi thịt kho tiêu. Tôi lấy xấp giấy trắng, không cần đốt điếu thuốc, không cần hớp mấy ngụm nước trà để trợ hứng. Bởi vì cái hứng đang ở ngay trong tôi, căng đầy . . .
Tôi cầm bút nắn nót viết cái tựa bằng chữ hoa : ‘đá mòn nhưng dạ chẳng mòn’ . . .