Page 125 of 180

Posted: Sat Aug 08, 2015 5:58 am
by hoanghoa

Đất nước của những tượng đài vô cảm


Nguyễn Văn Tuấn


[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... 400-tỷ.jpg[/img]
Phác thảo tượng đài Sơn La 1.400 tỷ

Tượng Đài Chồn ...


Tượng đài ai đặt tại đường
Sát nhân, dâm tặc ... bốn phương chê cười
Vậy mà cái lũ đười ươi
Tôn là sư tổ của người Việt Nam

Bây giờ xây được cứ làm
Dịp may chấm mút gã tham nào từ
Dân tình biết rõ thực hư
Người xô, kẻ bứng loại trừ quỷ ma

Xưa nay vẫn vậy đó mà
Chồn ma thí dụ gần xa một ngày
Luật trời giải xóa nạn tai
Đồng tan đá bể kịch hài... hết bi .

Muôn dân nước Việt cười khì
Nhìn xem chồn cáo ... tranh đi ...vào mồ
Chia xương xẻ cốt lão hồ
Làm bùa chuộc tội ... bi bô: "lỡ lầm" !!!



Hàng loạt địa phương có dự án xây dựng tượng Hồ Chí Minh (1). Có thể xem đây là một phong trào. Phong trào xây thêm tượng vốn đã quá nhiều ở đất nước này. Nhưng ý nghĩa của phong trào này là gì thì không ai rõ. Chỉ có thể giải thích rằng phong trào này xuất phát từ ý tưởng kinh doanh hình tượng lãnh tụ, và như thế là một sự khinh thường người dân đóng thuế.

Tôi có cảm tưởng rằng Việt Nam là một nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Đi từ thành phố đến tỉnh lẻ và làng xã, hầu như chỗ nào cũng có một vài tượng đài. Có nơi có hàng chục tượng lớn nhỏ đủ kiểu. Ví dụ như Hà Nội đã có hơn 30 tượng đài, và người ta đang lên kế hoạch xây thêm hơn 30 tượng khác từ nay đến 2020. Sẽ rất thú vị nếu biết con số thống kê về tượng đài trên cả nước, nhưng với con số trung bình 20 tượng đài/tỉnh, tổng số tượng đài rất có thể lên đến con số hàng ngàn.

Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta từ xưa đã rất quan tâm đến tượng, nhưng ý nghĩa thì không giống như kiểu xây tượng đài ngày nay. Ngày xưa (trước 1975) ở miền Nam cũng có (tuy không nhiều) tượng đài, nhưng đa số là tượng của các anh hùng dân tộc. Chúng ta đã biết ở Sài Gòn có những bức tượng nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn, Thánh Gióng, bên cạnh những tượng Phật Thích Ca và Chúa Jesus. Còn ở Rạch Giá có tượng Nguyễn Trung Trực rất nổi tiếng, nghe nói sau 1975 bị "cách mạng" cho xe tải đến kéo sập, nhưng không sập và thế là còn tồn tại đến ngày nay. Người dân xem tượng là cái gì linh thiêng, để tôn thờ; nếu không tôn thờ thì cũng là nơi để tỏ lòng kính trọng. Do đó, dù là đơn giản được cấu trúc bằng đất sét, nhưng không ai dám phá các tượng.

Ở miền Nam sau 1975 thì các tượng đài theo kiểu XHCN mới bắt đầu xâm nhập các miền quê và tỉnh lẻ. Sau 1975, các tượng đài trở thành đối tượng để ngắm nhìn là chủ yếu, chứ không phải để thờ phượng. Hồi còn nhỏ, tôi chưa biết cảm nhận được cái đẹp của những bức tượng đó; phải đến sau 1975 có dịp so sánh với các bức tượng theo motif XHCN (sẽ nói sau) tôi mới thấy cái thẩm mĩ và dân tộc tính của những bức tượng trước 1975.

Cái đặc điểm chủ yếu của các tượng đài Việt Nam là liên quan đến các sự kiện và nhân vật "cách mạng." Phổ biến nhất có lẽ là tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính đến nay đã có 31 tỉnh thành xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, và sẽ có 58 tượng Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng từ nay đến 2030. Đi đâu cũng thấy ông, lúc thì giơ tay chào ai đó, lúc thì mặc cái áo khoác hờ hững, lúc thì nhìn ra sông (như tượng ở Cần Thơ), lúc thì nhìn chằm chằm vào người đối diện, lúc thì ôm trẻ em, v.v. Nói chung là ông xuất hiện khắp nơi và dưới vài kiểu cách. Kế đến là những nhân vật từng là đồng chí hay đàn em của ông. Một số khác là các tượng đài ghi lại một sự kiện xảy ra trong thời chiến tranh, và những tượng này không phải ai cũng biết và hiểu. Nhưng nhìn chung, các tượng đài sau này được dựng lên chủ yếu là để ngắm nhìn, thỉnh thoảng làm nơi chụp hình, chứ không phải là các tượng đài cho sự tôn kính và thờ phượng.

Một đặc điểm nổi bật sau này là rất ít những tượng đài liên quan đến các nhân vật trong lịch sử trước "cách mạng". Tượng Lê Lợi ở bùng binh Cây Gõ đã bị cho "ra đi" không trở lại. Ngoài một số ít tượng đài mà Việt Nam Cộng hòa để lại (như tượng Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn -cũng sắp ra đi-, Thánh Gióng, v.v.) tượng của các anh hùng thời xưa đều bị thay thế bằng các đồng chí của cụ Hồ hay các sự kiện liên quan đến “cách mạng”. Có thể xem sự phân bố tượng đài vừa là một cách tuyên truyền, mà cũng là một cách xem thường và ngạo mạn với lịch sử.

Có thể nói rằng hầu hết các tượng đài “cách mạng” khá thô kệch và thiếu tính dân tộc. Tôi không phải là nhà điêu khắc, nên không biết phân tích sao cho có hệ thống; tôi chỉ biết nói lên cảm nhận cá nhân mà thôi. Cảm nhận của tôi là các bức tượng do các nhà điêu khắc Việt Nam thiết kế mang tính xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nói trắng ra là bắt chước. Bắt chước Tàu, bắt chước Nga. Chẳng hạn như hình dưới đây cho thấy cách thiết kế tượng chủ tịch Hồ Chí Minh theo kiểu giơ tay là bắt chước theo tượng của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành. Các loại tượng khác cũng thế. Vì bắt chước các nước vốn là thủ đô của tuyên truyền, nên các tác phẩm tượng đài của Việt Nam không có tính nghệ thuật cao, nếu không muốn nói là lai căng.

Chẳng những lai căng, mà còn rất thô và rất phi dân tộc tính. Rất nhiều bức tượng nhìn cứ như là những viên đá sắp xếp lại cho có thứ tự, chứ không có hồn. Thử nhìn và so sánh hai bức tượng Trần Hưng Đạo dưới đây sẽ thấy. Thử so sánh bức tượng Trần Nguyên Hãn hay tượng Thánh Gióng và bức tượng gì mà có mấy người chụm lại chung quanh những tảng đá màu trắng ở Sài Gòn sẽ thấy rất khác (xem hình). Một bên là thanh thoát và gần gũi, một bên là nặng chịch, dữ tợn. Hay hãy so sánh với bức tượng "Thương tiếc" (2) trong nghĩa trang Biên Hoà (nay đã bị giật sập) các bạn sẽ thấy tôi so sánh không quá đáng. Còn các nhân vật trong tượng đài XHCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.

Hay có khi họ tạc tượng Lý Thái Tổ (ngoài Hà Nội) thì lại trông giống một ông vua Tàu nào đó, như Tần Thuỷ Hoàng! Bức tượng Lý Thái Tổ còn làm cho ông già đến tuổi 60 trong khi ông dời đô về Thăng Long mới 36 tuổi. Có thể nói rằng những công trình tượng đài đang ngự trị ở Việt Nam ngày nay, dưới cái nhìn của một người bình thường, là những hình tượng thô kệch, xa lạ, vô hồn, phi dân tộc, và lai căng.

Các tượng đài ở Việt Nam còn rất kém chất lượng. Chẳng đâu xa, mới đây bức tượng lớn mới được khánh thành gọi là “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” bị hư hỏng do… sét đánh. Bức tượng ở Quảng Ninh trị giá 25 tỉ đồng khi bị sét đánh mới tiết lộ chất lượng chẳng ra gì. Tượng Phật mới xây thì bị sập. Ngay cả tượng đài ở Điện Biên Phủ (41 tỉ đồng) cũng cùng chung số phận bị hư hỏng dù chỉ mới khánh thành, thậm chí còn bị rút ruột 30%. Nói chung là bất cứ tượng đài hoành tráng nào do Việt Nam xây đều có vấn đề về phẩm chất.

Chính vấn đề phẩm chất đặt câu hỏi lợi ích đằng sau phong trào xây dựng tượng Hồ Chí Minh. Người ta phải hỏi ông cụ Hồ đã có quá nhiều tượng trên khắp nước, lí do gì để xây thêm cho ông. Chẳng có lí do nào thuyết phục cả, ngoài lí do lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Ai cũng biết ở Việt Nam có xây dựng là có “chia chác”, có lại quả (kickback), hay nói trắng ra là có tham nhũng. Xây càng nhiều, lại quả càng cao, như một bài báo rất sinh động vừa phản ảnh (3).

Thật ra, nhìn toàn cảnh, phong trào xây tượng Hồ Chí Minh chỉ là một nhánh trong phong trào bao quát hơn. Đó là phong trào xây dựng viện bảo tàng, Văn Miếu, và đài tưởng niệm. Có lẽ khởi đầu là mấy đền thờ của những nhân vật như Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, v.v. dần dần lan sang đền thờ của ba má ông cụ Hồ. Sau đó là trào lưu xây viện bảo tàng, có khi lên đến hàng vạn tỉ đồng. Sau viện bảo tàng là đến văn miếu, dù người chủ trương xây chưa biết thờ ai! Sau văn miếu, như chúng ta thấy là đến tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả là một dòng chảy về xây dựng, nó y chang như trào lưu bên Tàu, nơi mà tượng đài và khu du lịch được xây dựng rất nhiều.

Tôi đếm sơ qua những tượng đài và đền miếu xây trong thời gian gần đây (ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, v.v.) thì số tiền bỏ ra đã hơn 1300 tỉ đồng (tức khoảng 65 triệu USD). Ngay Sơn La đòi xây tượng Hồ Chí Minh với cái giá 1400 tỉ đồng thì không ngạc nhiên ai nghe tin cũng sốc. Càng sốc hơn khi Sơn La là một trong những tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam, với tỉ lệ nghèo là 64%. Thật ra, các tỉnh vừa kể đều là những tỉnh nghèo hay rất nghèo. Ví dụ như Hà Giang và Điện Biên có tỉ lệ nghèo lên đến 71%. Nghèo mà đòi xây tượng nghìn tỉ đồng thì người bình thường nhất cũng nghĩ đến cái lợi ích đằng sau việc xây tượng.

Điều đáng nói là những lợi ích đó đã làm mờ mắt những người có quyền chức. Tại sao họ lại nghĩ đến việc xây tượng đài trong khi đất nước còn nghèo và người dân còn đói. Như Quảng Nam, mới xây xong tượng đài hoành tráng là ngay sau đó phải đi xin viện trợ gạo để cứu đói. Nghệ An và Hà Tĩnh cũng thế, cũng xin gạo trong khi có những dự án lớn nhằm vinh danh những người trong gia đình của ông cụ Hồ! Tại sao các quan chức không cảm thấy động lòng khi một em bé 10 tuổi ở Hà Tĩnh vì đói quá mà phải chết trên đường từ trường học về nhà (5). Đừng nói một cách vô cảm rằng đó là trường hợp cá biệt. Phong trào xây tượng đài nó chẳng những thể hiện cái tâm của các quan chức có vấn đề, cái tầm của họ quá thấp, mà còn thể hiện một sự ngạo mạn của họ trước những người dân nghèo đóng thuế để nuôi dưỡng họ. Những tượng đài như Sơn La đang có dự án xây dựng, nếu thực hiện, chỉ có chức năng chính là lưu lại cho đời sau một chứng tích của một trào lưu vô cảm từng một thời ngự trị trên đất nước này.

Posted: Wed Aug 12, 2015 4:20 pm
by dailien

Image

Tượng đài nghìn tỉ: Con số mà biết nói năng

Tỉnh Sơn La vừa ra nghị quyết thông qua đề án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh tại thành phố Sơn La. Điều đáng nói, dự án có tổng mức đầu tư khoảng 1.400 tỉ đồng.

Dự án được xây dựng trên diện tích khoảng 20ha, trong đó tượng Hồ Chí Minh cao từ 5 - 8m, quảng trường có sức chứa 20.000 người, đền thờ Hồ Chí Minh, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, bảo tàng tổng hợp… dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2019.

Truyền thông trong nước thời gian qua đưa tin về những con số “khủng” cho các dự án như: 11.000 tỉ đồng xây bảo tàng lớn nhất Việt Nam; 1.475 tỉ làm đường khu tưởng niệm Chu Văn An; tượng đài mẹ Việt Nam 411 tỉ đồn;, Văn Miếu 271 tỉ đồng ở Vĩnh Phúc; tượng phật 500 tỉ và mới đây nhất là dự án tượng đài Hồ Chí Minh lên tới 1.400 tỉ.

“Khi thông tin Sơn La sẽ xây dựng công trình tượng đài 1.400 tỷ, người dân tất cả mọi nơi rất bức xúc. Nhiều người trong số
họ và ngay cả bản thân tôi đã từng dè xẻn chi tiêu, từng lăn lộn ở khắp vùng Tây Bắc để đi làm từ thiện, chúng tôi không thể không phẫn nộ trước sự vô trách nhiệm của chính quyền Sơn La.

Nhà hoạt động xã hội Nguyễn Lân Thắng.

Đối lập với những con số đầu tư trên là những khoản nợ không kém phần “khủng”: Nợ quá hạn nước ngoài hơn 310 triệu USD, nợ công Việt Nam có thể lên đến 60% GDP, trung bình một người Việt Nam gánh 950 USD nợ công.

Trong tình hình Việt Nam còn nghèo, thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, thì những nhu cầu cơ bản sẽ thiết thực hơn những bức bức tượng chỉ để ngắm mà không thể ăn. Vì vậy, đã có không ít ý kiến phản đối dự án này và họ đã bắt đầu chiến dịch chụp ảnh cùng thông điệp phản đối dự án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh.

Nhà hoạt động xã hội Nguyễn Lân Thắng, một trong những người đứng ra kêu gọi đăng ảnh phản đối dự án trên, đã chia sẻ với VOA Việt ngữ: “Sơn La là một trong các vùng kinh tế nghèo đói bậc nhất Việt Nam. Hàng năm nhà nước phải cứu trợ rất nhiều cho Sơn La. Chính vì vậy tôi cực lực phản đối việc đầu tư xây dựng quần thể tượng đài Hồ Chí Minh ở Sơn La và kể cả ở nơi khác trong tương lai vì đây là dạng công trình không thiết thực đến đời sống nhân dân”.
Image
Anh Nguyễn Lân Thắng chụp ảnh cùng thông điệp phản đối dự án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh.
Chia sẻ thêm về những bức xúc của mình, anh Thắng cho biết, “trong khi tại các vùng ngoại vi vẫn đang rất thiếu trường học, bệnh viện, trạm y tế, thiếu đường giao thông nông thôn cùng các công trình phụ trợ khác phục vụ đời sống người dân thì trụ sở các cơ quan đảng, chính quyền cùng các đoàn thể đã rất nguy nga trong khi Sơn La không phải vùng kinh tế phát triển hay công nghiệp lớn”.

“Với những bất cập trên, việc xây tượng đài nghìn tỉ vô hình chung sẽ tiếp tục đặt gánh nặng lên nền kinh tế vốn đã yếu ớt của Việt Nam. Tất cả những việc đầu tư này cuối cùng sẽ lại đánh lên đầu người dân thông qua các loại thuế, phí”, anh Thắng nói với VOA Việt Ngữ. “Khi thông tin Sơn La sẽ xây dựng công trình tượng đài 1.400 tỷ, người dân tất cả mọi nơi rất bức xúc. Nhiều người trong số họ và ngay cả bản thân tôi đã từng dè xẻn chi tiêu, từng lăn lộn ở khắp vùng Tây Bắc để đi làm từ thiện, chúng tôi không thể không phẫn nộ trước sự vô trách nhiệm của chính quyền Sơn La”.

Dù vấp phải ‘bão’ dư luận cho rằng, Sơn La là tỉnh nghèo, xây dựng tượng đài với tổng vốn đầu tư lớn như vậy là lãng phí, quan chức Sở Văn hóa – Thể Thao và Du lịch tỉnh này được báo chí trích lời nói rằng “đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được”.


Rất nhiều người phản đối, rất nhiều người lên tiếng. Và tôi tin là mọi việc chi tiêu công lãng phí vô tội vạ như hiện nay sẽ buộc phải chấm dứt nếu phản ứng của quần chúng đủ mạnh. Đấy là tiền thuế của chúng tôi, chúng tôi phải kiểm soát

Anh Nguyễn Lân Thắng nói.

Cũng trong thời điểm này, truyền thông trong nước đưa tin về việc Việt Nam sẽ còn xây dựng tiếp khoảng 58 quần thể tượng đài Hồ Chí Minh trên khắp cả nước từ nay đến năm 2030.

Anh Thắng không ngần ngại chia sẻ: “Qua phản ứng của dư luận trong vài ngày gần đây thì dân đã khác. Rất nhiều người phản đối, rất nhiều người lên tiếng. Và tôi tin là mọi việc chi tiêu công lãng phí vô tội vạ như hiện nay sẽ buộc phải chấm dứt nếu phản ứng của quần chúng đủ mạnh. Đấy là tiền thuế của chúng tôi, chúng tôi phải kiểm soát”.

Một trong những người bức xúc với việc xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, Giáo sư Ngô Bảo Châu, người đã từng có nhiều chia sẻ rất thẳng thắn về những bất cập tại Việt Nam, viết trên trang Facebook cá nhân:


“Số tiền này đủ để xây toàn bộ các điểm trường, các ký túc xá cho Sơn La và các tỉnh miền núi. Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1.400 tỉ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Khi gõ cụm từ khóa “chương trình từ thiện” trên công cụ tìm kiếm Google đã có khoảng 1.040.000 kết quả trong vòng 0,40 giây, điều đó cho thấy rất nhiều đơn vị, cá nhân đang từng ngày từng giờ kêu gọi đóng góp làm từ thiện, chia sẻ với đồng bào miền núi nói riêng và người dân nghèo cả nước nói chung.

Đó là những tấm lòng ngày đêm trăn trở với khó khăn mà người dân nghèo đang phải đối mặt.

Có thể nói, việc vung tiền cho những dự án không thiết thực khi thông tin thiên tai hoành hành tràn ngập mặt báo mấy ngày nay đã như một cú đánh trực diện vào những tấm lòng trăn trở với Việt Nam.


http://www.voatiengviet.com/content/tuo ... 02510.html

Posted: Sat Aug 15, 2015 5:20 am
by dailien
Nhựt, Việt, Phi, Mã Liên Minh Chống TC
Vi Anh
Một tình cờ đầy ý nghĩa lý thú. Hai nước Nhựt Bổn ở Đông Bắc và Việt Nam ở Đông Nam Thái Bình dương, cả hai Thủ Tướng, Thủ Tướng Nhựt là Shinzo Abe và Thủ Tướng VN là Nguyễn tấn Dũng có cùng một ý nghĩ là phát triển đối tác chiến lược, liên minh với các nước Á châu Thái bình dương bị TC xâm lấn biển đảo, như Phi luật tân, Mã lai để chống TC.

Nhựt là nước lên tiếng mạnh mẽ và hành động cụ thể nhứt trong việc liên minh chống TC. Rõ rệt và mới mẻ nhứt là trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa kết thúc hôm 06/08/2015, Nhựt tố cáo TC đã xây đắp khu quân sự ở Biển Đông. Nhựt tiếp lời với Phi và tiếp viện trợ tặng không cho Phi 3 chiếc phi cơ tuần tra loại Beechcraft TC-90 King Air Planes để quốc gia này tăng cường năng lực giám sát hải phận của mình.

Nhật đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Phi từ năm 2011, và trong những năm gần đây quan hệ Nhật-Phi lại càng thêm chặt chẽ, đặc biệt trong lãnh vực quốc phòng. Hai bên đã ký kết thỏa thuận về việc chuyển giao kỹ thuật và thiết bị quốc phòng, tăng cường đào tạo và tập trận song phương và đa phương. Phi còn chuẩn bị cho phép Nhật đặc biệt sử dụng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phi, điều cho đến nay chỉ được Manila dành cho Mỹ.

Nhật cũng đã đồng ý cung cấp 10 chiếc tàu tuần duyên mới cho Philippines và sẽ tặng thêm ba chiếc phi cơ TC-90 có hệ thống radar giám sát mặt nước và không trung, giúp Manila phản ứng kịp thời khi đảo đá do Philippines kiểm soát ở Biển Đông bị Trung Quốc đe dọa.

Còn VN là nước mất nhiều biển đảo nhứt vào tay TC. Tuy VN còn là chế độ CS, nhưng người đứng đầu Nhà Nước là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đã tranh thủ phát triển đối tác chiến lược với Nhựt khá lâu rồi. Ông đã nhiều lần công du Nhựt mở đường liên minh quân sự với Nhứt sau khi đã phát triển đối tác chiến lược với Nhựt.

Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang đã công du Nhựt và ký kết họp tác này, Tổng bí Thư Đảng CSVN vừa công du Mỹ, xích lại gần Mỹ, thì Nhựt cũng đã mời Ông công du Nhựt.

Và đối với Phi là nước bị TC giành giựt biển đảo như VN, trong khi TC làm hùm, làm hổ đưa giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế VN, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng bay ngay qua Phi, gặp Tổng Thông Phi vận động phát triển đối tác chiến lược, tìm đồng minh chống TC. Phi là quốc gia nằm trong liên minh cót lõi với Mỹ và Nhựt. Khi VN liên minh quân sự được với Phi, Phi hay VN bị TC, hai nước chiếu hiệp ước quân sự giúp nhau, thì Mỹ có hiệp ước liên minh phòng thủ với Phi, có lý do nhập cuộc chống TC.

Phi là nước bị TC lấn chiếm bãi cạn Scarborough và Phi là nước lôi TC ra toà trọng tài của Liên hiệp Quốc. VN lên tiếng thừa nhận thẩm quyền của toà trong nội vụ, và VN xin toà xem xét quyền lợi VN khi phán quyết, tức là một hình thức gián tiếp dự sự trong vụ Phi khiếu kiện TC.

Báo chí Philippines cho biết Việt Nam và Philippines đang thảo luận về các chi tiết cho một quan hệ «đối tác chiến lược», vốn đã được hai bên đồng ý về nguyên tắc hồi đầu năm, để đối phó với những hành động ngày càng lấn lướt của Trung Quốc trên Biển Đông.

Mới đây, 07/08/2015, TT Nguyễn tấn Dũng đích thân bay sang Mã lai á (Malaysia) vận động phát triển đối tác chiến lược với nước này. Trong hai ngày công du Malaysia Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng cùng với Thủ Tướng Mã lai Najib Rajak ký kết văn kiện nâng cấp quan hệ song phương lên hàng đối tác chiến lược.

Trước dó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng công du Úc trong hai ngày 17-18/03/2015. Hai bên sẽ củng cố thêm quan hệ Đối tác Toàn diện và tiến đến việc nâng quan hệ hiện nay lên thành Đối tác Chiến lược trong tương lai.

Và TT Nguyễn tấn Dũng cũng nhiều lần đi Ấn độ, được Ấn giúp tăng cường hải quân, bán vũ khí cho VN, và thăm dò dầu khi với VN, bất chấp lời hăm doạ của TC. Ấn còn cho VN vay lãi suất ưu đải 100 triệu USD để mua tàu và hỏa tiễn Bhramos của Ấn. Ấn là nước có tiền cựu hậu hận với TC trong thời Chiến tranh Lạnh.

Thủ Tướng Nhựt ở Đông Bắc, Thủ Tướng VN ở Đông Nam Thái bình dương còn liên kết, kết họp với một liên minh lớn, rộng, mạnh hơn gồm có Mỹ, Úc, Ấn, và Nam dương sắp tham gia để ngăn chận TC.

Việc nâng cấp quan hệ giữa Mã lai Á và VN đặc biệt quan trọng vì tạo điều kiện cho hai nước này tạm gác tranh chấp chủ quyền song phương trên Biển Đông để phối hợp đối phó với các yêu sách chủ quyền quá đáng của Trung Quốc.

Việc liên minh của Nhựt, Việt, Phi, Mã thành một vòng chiến lươc, chiến thuật chống TC sát TC từ bắc chí nam Đông Thái bình dương là một trở ngại lớn đối với TC. Cả thế giới thấy TC ỷ lớn hiếp nhỏ, TC là nước xâm lấn biển đảo của các nước láng giềng. TC rơi vào thế bất lợi mà chính binh thơ của Trung Hoa đã khuyên cần tránh: mãnh hổ nan địch quân hồ. Chưa bao giờ TC cô đơn như trong thời gian bành trướng, xâm lấn các nước Á châu Thái bình dương.

Tin mới nhứt, thông tấn xã Pháp AFP cho biết Mỹ còn đưa vào Biển Đông một liên minh mang tên Chương trình Đối tác Thái Bình Dương (Pacific Partnership), một tổ chức hợp tác đa phương do Hải quân Mỹ chủ xướng có quy mô lớn nhất Á châu. Tổ chức này sẽ cho tàu vận tải cao tốc, đa năng vừa tuần tra hải chiến, vừa quân vận là USNS Millinocket thuộc loại tối tân nhất của Mỹ ghé cảng Đà Nẵng, trong hơn 10 ngày từ 17 đến 28/08/2015. Báo mạng The Diplomat của Nhật cho biết Pacific Partnership sẽ mời Việt Nam là một trong 7 nước được Mỹ mời tham gia vào chương trình Đối tác Thái Bình Dương năm nay. Ngoài Việt Nam, chương trình cũng đã diễn ra ở Philippines và sẽ được tổ chức ở các đảo quốc Fiji, Papua New Guinea, Kiribati, Micronesia và Quần đảo Solomon. Chương trình Đối tác Thái Bình Dương năm 2015 này bao gồm một lực lượng đến từ Pháp, Úc, New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc và Timor-Leste.

Một nước nhỏ bắt tay với một nước lớn để bảo vệ giang sơn gấm vóc là một việc làm họp tình hợp lý. Cùng một mối lo, các quốc gia dân tộc liên minh, đoàn kết nhau để giải quyết là một việc làm đúng đắn. Trong hiện tinh TC xâm lấn biển đảo của VN, nếu nhà cầm quyền CSVN vận động liên minh với Mỹ là đúng, đi với Nhựt là đúng. Cứ đeo theo TC là mất đảo, mất biển, rồi sẽ mất nước, là mất tất cả. Lúc này là thời cơ này vô cùng thuận lơi cho VN đi với Mỹ và các nước Á châu Thái bình dương để chống TC xâm lấn VN./.(Vi Anh)

__._,_.___

Posted: Sat Aug 22, 2015 3:25 am
by vuphong
Chúng ta yếu đi vì sự đố kỵ

Huỳnh Thục Vy
Chính quyền CSVN thực hiện nhiều phương cách khác nhau để chia rẽ những người đấu tranh nhằm tiêu diệt phong trào đối kháng dần dần. Họ cố gắng tìm ra điểm yếu của từng người trong chúng ta mà vận dụng mọi chiêu thức để đánh vào điểm yếu đó. Nếu những người đấu tranh không thấu hiểu bản chất của các cách thức chia rẽ đó, chúng ta sẽ nghi ngờ nhau, khinh rẻ nhau, xa cách nhau....

Nếu gia đình bạn lục đục vì lý tưởng của bạn, họ không ủng hộ con đường bạn chọn. An ninh sẽ biết, họ sẽ tích cực tác động để mâu thuẫn nhỏ trở nên lớn đến mức không thể cứu chữa. Họ có thể vừa đe doạ, vừa hứa hẹn với những người thân không ủng hộ bạn, để đẩy họ đến chỗ nhận thức sai lệch rằng: bạn chính là vật cản cho tương lai gia đình. Vậy là bạn sẽ bị chính gia đình mình cô lập, đủ mệt mỏi và đau khổ để hạn chế bớt việc dấn thân tranh đấu.

Nếu gia đình bạn đang nghèo túng, họ tìm mọi cách để triệt tiêu mọi cách kiếm sống của bạn và người thân. Họ sẽ tìm đến chỗ làm của người thân (tất nhiên, bạn đã mất công việc từ lâu) để gây áp lực: im lặng nếu không muốn chết đói. Họ sẽ tìm đến quậy phá chỗ kinh doanh của gia đình bằng nước thối, bằng các chuyến viếng thăm đột ngột của côn đồ...Vậy, bạn và con cái bạn đủ đói để im lặng.

Nếu gia đình bạn không chia rẽ, cũng không nghèo túng, họ sẽ tìm đến láng giềng của bạn. Đội ngũ chính quyền địa phương, bộ đội, dân phòng, công an xã phường đủ sức để tạo hiềm khích, ganh ghét giữa gia đình bạn và xóm giềng. Bạn nên nhớ, nếu người ta muốn đám đông căm ghét Đức Phật hoặc Chúa Jesus, họ vẫn có thể làm rất hiệu quả, huống chi bạn là người trần mắt thịt với đầy đủ sự bất toàn.

Nếu bạn giàu có, họ sẽ phá huỷ sự nghiệp đang lên của bạn. Nếu bạn có nhiều bạn bè thân thiết, họ có thể tìm gặp từng người bạn ấy để cho họ biết sự được mất khi quan hệ với bạn. Nếu bạn là đàn ông đào hoa như bao người đàn ông đào hoa khác, họ sẽ khiến bạn bị tố cáo vì lừa...tình. Nếu bạn là mẹ đơn thân, có những đứa con khác cha, họ sẽ đập bạn bằng những lời rao giảng về luân thường của...phụ nữ Á đông. Nếu bạn là một thanh niên mới lớn, có một cô bạn gái, và bỗng một hôm phát hiện ra cô ta đang dựa vào mối quan hệ với bạn để tiếp cận một cách bất chính với những thân hữu của bạn; bạn bỏ cô ta, vậy là dư luận viên sẽ vu cho bạn làm cô ta có thai rồi bỏ rơi. Nếu bạn từng kết hôn hai lần, họ sẽ cho côn đồ đánh bạn để lại thương tật suốt đời, rồi rêu rao rằng bạn bị đánh ghen vì cướp chồng người khác. Nếu bạn không có vấn đề gì lớn trong cuộc sống nhưng lại không có bằng đại học, họ sẽ chế nhạo bạn là đứa thất học, dốt nát, biết gì mà đấu tranh. Nếu bạn là tu sĩ, họ sẽ bôi nhọ bạn có quan hệ bất chính với...gái, vân vân và vân vân.

Thế nhưng, trong khi mỗi người đấu tranh chúng ta bác bỏ rất tích cực những lời thoá mạ của dư luận viên đối với chính mình, thì cùng lúc, chúng ta lại tin vào những lời bôi nhọ nhắm vào các anh chị em đấu tranh khác. Có vấn đề gì đó rất lớn ở đây! Trong khi chúng ta đang là nạn nhân của dư luận viên, chúng ta lại lập bè nhóm để công kích anh chị em đấu tranh của mình dựa trên những lời bôi nhọ của dư luận viên! Chúng ta rất thân thiết với những kẻ sỉ vả người anh chị em của mình không tiếc lời, cho đến khi tên đó quay lại đả kích chính chúng ta. Chúng ta cần xem lại mình!

Trong khi nhiều anh em xung quanh bạn bị an ninh cồn đồ đánh để lại thương tật cả đời mà bạn không bị; khi nhiều anh chị em bị bao vây kinh tế mà bạn vẫn có công việc kiếm ra tiền; khi nhiều anh chị em bị cấm xuất cảnh mà bạn có thể đi du lịch; khi nhà của nhiều người bị đổ mắm thối, nước bẩn mà nhà bạn vẫn sạch sẽ; bạn đã tự hài lòng vì mình "khác biệt với đám đông cực đoan kia"; bạn nghĩ an ninh họ không cư xử với bạn như thế vì bạn ở "đẳng cấp khác"; bạn tự cho là mình thông minh, ôn hoà, an ninh ở tỉnh bạn có văn hoá hơn an ninh tỉnh khác...cho đến khi chính bạn bị đổ mắm thối vào nhà, bị cấm xuất cảnh, bị đánh đập...

Thật, chính sách đàn áp người bất đồng chính kiến là thống nhất từ trung ương đến địa phương. Bản chất của công an an ninh là những tay côn đồ bảo vệ chế độ vì tương lai và quyền lợi của chính họ. Không có sự khác biệt lớn giữa tỉnh này và tỉnh khác. Sự khác biệt lớn ở đây chính là: bạn nghĩ mình khác biệt, hay đúng hơn là đặc biệt hơn người khác. Xin hãy nghĩ về những đau đớn, vất vả mà những anh chị em của mình phải gánh chịu trước đây, khi bạn kinh qua những: đánh đập, chửi bới, mắm thối nhé.

Để tạm kết bài viết, tôi xin đưa ra một ví dụ: trong nhà tôi, cả ba, em trai tôi và tôi đều là người bất đồng chính kiến. Nhưng ba tôi bị đánh hai lần: một lần bị gãy xương ức bởi công an huyện Thường Tín, Hà Nội; một lần bị công an Quảng Nam đánh nứt xương sườn số 6 bên phải. Em trai tôi bị công an Quảng Nam đánh dập miệng, bị công an Sài Gòn bóp cổ, đánh đập đến nỗi cả tuần không nuốt cơm nổi. Còn tôi cho đến nay vẫn bình an vô sự. Tôi có nên nghĩ mình thông minh, ôn hoà hơn ba và em trai mình? Tôi có nên kết luận công an "có văn hoá" với tôi hơn người thân của tôi? Thoáng qua, bạn sẽ thấy các hành động của lực lượng công an an ninh rất thất thường và vô nguyên tắc; nhưng không, họ không giỏi gì khác nhưng chắc chắn họ được huấn luyện rất kỹ để gieo rắc nghi ngờ, sợ hãi và sự đố kỵ lên anh chị em chúng ta. Vậy nên chúng ta cần thận trọng hơn nhiều.

Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ, 19/8/2015

Posted: Sun Aug 23, 2015 4:30 am
by thienthanh
Trọng tâm Biển Đông nổi bật trong chiến lược biển mới của Mỹ

Trọng Nghĩa

Image
Tiêm kích F/A18 Hornet của Hải quân Mỹ trên không phận Biển Đông (ảnh wikipedia)
Ngày 21/08/2015, Bộ Quốc phòng Mỹ chính thức công bố tài liệu mang tựa đề Chiến lược an ninh hàng hải ở Châu Á Thái Bình Dương, phác họa những đường nét quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm bảo đảm an ninh tại vùng biển Châu Á. Dù cũng đề cập đến Biển Hoa Đông, nhưng rõ ràng là chiến lược biển mới của Mỹ đặt trọng tâm vào việc đối phó với các hành vi quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông.


Trong một cuộc họp báo tại Washington, ông David Shear, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đặc trách Châu Á-Thái Bình Dương đã xác định ba trục chính trong chiến lược mới đó : (1) kiên trì dấn thân và tiếp tục sử dụng ngoại giao và các định chế đa phương để bảo vệ quyền tự do lưu thông và tiếp cận các vùng biển Châu Á ; (2) tập trung bảo vệ quyền tự do sử dụng các vùng biển, ngăn chặn xung đột và các hành vi cưỡng bức ; (3) phát huy việc tuân thủ pháp luật và chuẩn mực quốc tế.

Sau khi nhắc lại quan điểm từng được tuyên bố của Washington, theo đó Mỹ không thiên vị ai trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ một lần nữa khẳng định là Hoa Kỳ « có lợi ích trong việc đảm bảo sao cho tranh chấp chủ quyền được giải quyết một cách hòa bình, không thông qua xung đột hay cưỡng chế ». Mối lo ngại của Hoa Kỳ tuy nhiên đang tập trung ở Biển Đông, khi ông David Shear nêu bật mối quan ngại của Mỹ về sự kiện Trung Quốc bồi đắp đảo nhân tạo ở Trường Sa và quân sự hóa các nơi này.

Trong bối cảnh đó, theo Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Washington sẽ duy trì một sự hiện diện quân sự cần thiết, đủ khả năng bảo vệ lợi ích của Mỹ cũng như của đồng minh và đối tác trong khu vực, chống lại các mối đe dọa tiềm tàng. Trên tinh thần đó, Hoa Kỳ đang tăng cường lực lượng quân sự trong vùng để trở thành một lực lượng răn đe, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Theo ông David Shear, Bộ Quốc phòng Mỹ không chỉ chuyển qua Châu Á các phương tiện tối tân nhất, mà lại còn trải đều các phương tiện đó trên toàn khu vực.

Con chủ bài trong các phương tiện tối tân đó là hạm đội tàu chiến tuần duyên LCS (Littoral Combat Ship), loại chiến hạm nhỏ nhưng linh hoạt, với hỏa lực hùng hậu, được thiết kế để thực hiện nhiệm vụ tại những vùng nước nông ven bờ, đặc thù của Biển Đông : 4 chiếc sẽ được triển khai ngay tại Singapore, phụ trách trực tiếp Biển Đông, 4 chiếc khác sẽ được dùng làm lực lượng dự bị, sẵn sàng tung ra khi cần thiết.

Một hàng không mẫu hạm mới, chiếc USS Ronald Reagan sẽ qua thay thế chiếc George Washington, và trong vòng năm năm sắp tới, Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương sẽ có thêm một chiếc tàu đổ bộ tấn công mới, USS America, trong lúc thêm hai tàu khu trục Aegis được gửi đến túc trực tại Nhật Bản. Không quân cũng sẽ được tăng viện bằng loại chiến đấu cơ F-22 và F-35 tối tân hơn, không kể đến loại oanh tạc cơ chiến lược B-2 và B-52, và 47 chiếc phi cơ tuần thám đời mới P8 A Poseidon, có gắn thủy lôi. Lực lượng Thủy quân lục chiến túc trực trong vùng cũng sẽ được trang bị loại máy bay lên thẳng V-22.

Sau cùng, khu vực cũng sẽ có thêm các loại tên lửa hiện đại phóng đi từ chiến hạm hoặc phi cơ, cùng với các hỏa tiễn tầm xa có độ chính xác cao, trong đó có loại JASSM-ER và một loại tên lửa hành trình chống hạm tầm xa mới. Với các phương tiện răn đe đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vai trò người bảo vệ ổn định và quyền tự do hàng không và hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông.

Hôm thứ Năm, 20/08/2015, như để nhắc nhở Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã khẳng định trở lại là Hoa Kỳ vẫn sẽ tiếp tục các hoạt động quân sự bên trong và chung quanh Biển Đông : « Phi cơ và chiến hạm Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như vẫn làm ở mọi nơi khác trên thế giới ».

Posted: Tue Aug 25, 2015 2:30 am
by dailien

Đằng sau cái gọi là sự ‘nhục nhã’


Lê Diễn Đức
Đồng hành cùng với cơn sốt trong kỳ thi tuyển vào đại học năm nay tại Việt Nam là hình ảnh một cử nhân cầm biển xin việc đứng giữa đường.

Cái tít của bài “Cầm biển đứng giữa đường xin việc: Nhục nhã thay cho một cử nhân” trên báo nhà nước đã bị dư luận xã hội chỉ trích mạnh mẽ.

Tấm biển mà người thanh niên cầm có nội dung: “Tôi vừa tốt nghiệp, tôi đã là bố. Tôi cần một công việc để mua sữa cho con. Bạn cần tuyển tôi...”

Người thanh niên đó là Phùng Đức Ninh (sinh năm 1990, quê Lương Tài, Bắc Ninh), vừa tốt nghiệp cử nhân trường đại học Điện Lực.

Việc cầm biển xin việc đứng đường chẳng có gì là nhục nhã cả, cùng lắm chỉ thể hiện sự bất lực, bế tắc của anh ta trong bối cảnh xin việc khó khăn hiện nay ở Việt Nam.

Một đại diện doanh nghiệp tại Hà Nội động lòng có ý muốn tuyển dụng Ninh, viết cho tờ Đời Sống & Pháp Luật:

“Chúng tôi biết đến trường hợp của bạn Phùng Đức Ninh sau khi đọc bài viết trên báo Đời Sống & Pháp Luật. Bản thân tôi rất khâm phục ý chí và nghị lực của Ninh. Dám nghĩ, dám làm, bỏ qua sĩ diện bản thân để tìm việc làm nuôi sống bản thân và gia đình. Đó là điều doanh nghiệp chúng tôi cần ở một nhân viên.”

“Tại sao nhiều người lại chỉ trích cậu ấy, Ninh hành động vì cuộc sống tương lai của mình, vì cô con gái mới sinh đang cần có sữa. Nhiều kẻ vì tiền mà bất chấp tất cả, nhưng Ninh đâu có làm điều gì vi phạm, bạn ấy không đáng bị lên án. Bạn ấy phải là người được ca ngợi”- người đại diện doanh nghiệp nói thêm.

Bộ Lao Động, Thương Binh & Xã Hội vừa công bố mới đây rằng, riêng ba tháng đầu năm 2015, cả nước có 1,159,800 người thất nghiệp, tăng 114,200 người so với cùng kỳ 2014, trong đó, có đến gần 300,000 người có trình độ đại học, trên đại học và cao đẳng chuyên nghiệp. [1]

Phùng Đức Ninh chỉ là một trong hàng trăm ngàn trường hợp khác ấy!

“Chạy” học

Chỉ trừ một số rất ít con nhà giàu được học ở các trường quốc tế, bắt đầu từ tiểu học, cha mẹ đã méo mặt “chạy” trường học cho con, thậm chí nếu không tận dụng được sự quen biết thì phải hối lộ.

Cho đến hết trung học, tốn bao nhiêu công sức và chi phí đóng cho trường và thầy cô, cầm cái bằng tốt nghiệp trung học để thi được vào đại học quả là một chặng đường đầy gian an khổ cực.

Nhiều “phụ huynh căng thẳng, bơ phờ, dầm mưa, thức đêm, xếp hàng chờ đợi, quay cuồng lo lắng để học sinh có thể bước chân vào một trường đại học.”

Mùa thi tuyển năm nay như “một trận đánh lớn” (lời Bộ Trưởng Giáo Dục Phạm Vũ Luận) mà người đại bại là học sinh và gia đình, mệt mỏi đến phờ phạc, nhếch nhác, chen chúc nhau nơi thu nhận hồ sơ của các trường, thậm chí có phụ huynh đã thuê xe cấp cứu chạy hơn 350 km từ Hà Tĩnh ra Hà Nội để rút hồ sơ xin học cho con.

Giáo Sư Võ Tòng Xuân đã nhận xét: “Chưa bao giờ có cuộc tuyển sinh lạ lùng nhất không thể tìm thấy nơi nào trên quả địa cầu này ngoài Việt Nam. Tuyển sinh đại học, cao đẳng 2015 sẽ đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như là một cơn hãi hùng không những đối với thí sinh và phụ huynh ăn ngủ không yên, tốn bạc triệu đi tới đi lui xem kết quả tạm thời và chờ đợi rút hồ sơ... mà còn đối với hội đồng tuyển sinh của các trường cao đẳng và đại học phải làm việc không nghỉ.” [2]

Chất lượng học

Trong thập niên đầu của thiên niên kỷ, thời ông Nguyễn Thiện Nhân được Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, các trường đại học Việt Nam mọc lên như nấm. Nhận được giấy phép mở trường đại học giống như nhận được giấy phép xây một ngôi nhà. Tất cả đều phải có chi phí bôi trơn. Từ đây đẻ ra không ít trường đại học ra đời mà cơ sở vật chất không có gì, lực lượng giáo viên thiếu trầm trọng.

Các trường đại học quốc doanh vốn chất lượng đã tệ hại, không một trường nào có vị trí trong Top 500 của thế giới, bằng cấp không được quốc tế thừa nhận. Nói chi đến các trường tư! Thế nhưng, như cái cối xay thịt, từ các trường đại học hàng nằm vẫn cho ra hàng trăm ngàn sản phẩm có bằng cấp như ai, thậm chí cả thạc sĩ, tiến sĩ.

Hoàng Xuân Hiển, kỹ sư cơ khí Đại Học Bách Khoa Hà Nội, tốt nghiệp năm 2009, đề nghị vận động chiến dịch “đốt bằng,” viết trên trang Facebook của mình:

“Đa số chung ta đang sai lầm cơ bản về việc học, đặc biệt là học đại học! Học mà không biết học để làm gì, học chỉ để thi đỗ, thi đỗ chỉ để lấy bằng.

Tôi có cơ hội được tiếp xúc với nhiều sinh viên, đa phần khi tôi hỏi em thích ra trường làm gì hoặc đam mê của em là gì họ đều không có câu trả lời, hoặc trả lời rất mung lung.

Thực tế cho thấy, đa phần sinh viên hiện nay ra trường không biết làm gì! Một số chọn đi học... thạc sĩ, tiến sĩ... Thế nên số thạc sĩ, tiến sĩ của Việt Nam mới khủng khiếp nhất trên thế giới!”

Đấy là nói chuyện chất lượng đào tạo. Chất lượng học tập và tiếp thu kiến thức của sinh viên đại học ra sao. Tờ Tuổi Trẻ cho hay:

“Chỉ mất một ít tiền là có người đi học giùm, mất thêm một ít tiền nữa có ngay người đi thi giùm. Chuyện học thuê, thi hộ (học giả, thi giả) đã hợp pháp hóa cho những người không cần học hoặc học không đến nơi đến chốn vẫn có được tấm bằng thật 100%.

Chỉ cần khoảng hai triệu đồng, một sinh viên không cần học và thi nhưng vẫn đảm bảo có điểm đậu môn học nhờ dịch vụ học thuê, thi hộ nhan nhản hiện nay.” [3]

“Chạy” việc

Dùi mài kinh sử để có bằng đại học trong tay mà kiếm được việc làm là cả một hoạn lộ. Một số ít người học khá thực sự thì nhảy vào các doanh nghiệp tư nhân. Số còn lại tìm cách chui vào cơ quan nhà nước.

Một người làm quan cả họ được nhờ là hiện tượng phổ cập ở Việt Nam. Nếu không là con cháu các quan chức hoặc thân hữu, thì con đường xin việc coi như mù tịt.

Bài “Bổ nhiệm kiểu con ông cháu cha” trên tờ Người Lao Động ngày 15 thang 8, 2015 đã phản ánh phần góc tối của tình trạng này:

“Bằng nhiều cách, người ta sẽ tận dụng cài cắm người thân vào nơi làm việc để làm lợi riêng cho mình:

Hơn 10 năm qua, kể từ khi lên nắm quyền tổng giám đốc Công Ty Môi Trường Đô Thị Đà Nẵng, ông Phạm Minh Thắng đã đưa con, rể, anh em ruột và cả phía sui gia nắm giữ các vị trí chủ chốt tại các phòng ban và xí nghiệp trực thuộc, biến công ty nhà nước thành công ty gia đình.” [4]

Một cách hiệu quả hơn trong việc chạy việc là chi tiền.

Trong một xã hội mà con người nhắm mắt lao vào đồng tiền, bất chấp tất cả, cái gì cũng có thể mua được, “nếu không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền,” chạy việc làm cũng không thoát khỏi quy luật ấy.

Tờ VietNamNet.vn viết rằng:

“40% nhân viên không lưu thiếu chuẩn và những vụ lừa chạy việc sân bay. Người ta nghe quá nhiều về những vụ xin việc bằng ‘cửa hậu’ để vào làm việc tại sân bay. Chưa có bằng chứng nào cho thấy đây là hiện tượng có thật, nhưng những vụ lừa đảo xin việc vào sân bay càng nhiều càng khiến người ta bất an vì tin đồn đó có bao nhiêu % là sự thật.” [5]

“Dư luận đồn đoán, muốn có việc làm ở ngân hàng, khổ chủ phải “chạy việc.” Những “suất” việc làm được rao giá công khai trên các diễn đàn online với mức từ 50 triệu đồng trở lên tùy theo công việc.

Có người “hốt hoảng” khi biết chi phí môi giới lên tới 500 triệu đồng để có được một “ghế nóng” ở một ngân hàng có tiếng tăm.” [6]

Bạn Diệu Hương tâm sự trên BBC Việt ngữ:

“Để trở thành nhân viên hải quan cảng Hải Phòng hưởng mức lương tối thiểu 1,115,000 VNĐ một tháng, Đạt, sinh viên tốt nghiệp ngành quản lý đã chấp nhận bỏ ra 900 triệu, người được hỏi cũng xác nhận rằng con số này có thể dao động từ 900 triệu đến 1 tỷ 200 triệu VNĐ, trước khi theo học nghiệp vụ, ‘tùy vào mối quan hệ với các lãnh đạo trong ngành.’

Anh cho hay, ‘nhân viên hải quan có cơ hội tiếp xúc nhiều với hàng hóa’ sẽ có thêm ‘các nguồn thu khác’ nên người muốn làm ngành này cũng phải ‘đầu tư cao hơn’ khi khả năng ‘thu hồi vốn’ là ‘trong tầm tay.’

Hay như trường hợp của Thư, dù đã qua vòng phỏng vấn, cũng vẫn phải nộp 200 triệu để được vào làm kĩ thuật viên Tập Đoàn Dầu Khí hưởng lương 30 triệu một tháng hay Bình bỏ ra 400 triệu để làm việc ở phòng kế toán.” [7]

Kết

Từng ấy thứ “chạy” gian truân đứng đằng sau cái gọi là sự “nhục nhã” mà tờ báo nọ gán cho anh thanh niên cầm biển xin việc đứng đường.

Sự nhục nhã ấy nên dành cho hệ thống giáo dục đào tạo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới là đúng!

***
[1]: http://petrotimes.vn/cu-nhan-that-nghie ... 07126.html
[2]: http://vtc.vn/giao-su-vo-tong-xuan-mot- ... 567881.htm
[3]: http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20150819 ... 54600.html
[4]: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bo ... 216142.htm
[5]: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/208825/ ... n-bay.html
[6]: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/106180/ ... -dong.html
[7]: http://www.bbc.com/vietnamese/forum/201 ... _dieuhuong

Posted: Thu Aug 27, 2015 6:43 am
by quangminh
‘Cướp’

Bùi Tín

(Nguồn: VOA)
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 được Ðảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) gọi là ngày Cách Mạng Tháng Tám, còn là ngày Tổng Khởi Nghĩa, cũng là “ngày cướp chính quyền về tay nhân dân.”

Trong các văn kiện chính trị từ đó đến nay, chữ “cướp chính quyền” được lặp đi lặp lại rất nhiều lần, trong sách vở, báo chí, qua lời ông Hồ Chí Minh, qua các bài viết của các ông Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp... còn lưu giữ, không sao kể hết.

Tại sao lại dùng chữ “cướp”?

Theo định nghĩa của từ điển, chữ “cướp” có hàm ý xấu. “Cướp là lấy, tước đoạt của cải của người khác, không phải của mình.” Người ta thường nói “kẻ cướp,” “bọn cướp,” “lũ cướp,” “đồ ăn cướp”... “Ăn cắp” và “ăn cướp” thông thường có cùng nghĩa, nhưng ăn cướp chỉ ra hành động hung dữ, bạo lực, phạm pháp cao hơn, mang tính chất lên án, khinh bỉ hơn.

Có lẽ chính vì vậy mà những năm gần đây, từ “cướp chính quyền” không còn được dùng nhiều, phổ biến như trước.

Tuy vậy lúc này cũng cần đặt vấn đề nghiên cứu sâu thêm sự kiện lịch sử này để gọi cho đúng tên. Tổng Khởi Nghĩa hay Cách Mạng Tháng Tám, hay Cướp Chính Quyền?

Gọi sao cho đúng, cho chính xác?

Gọi là cách mạng trước hết là không chính xác. Cách mạng là một cuộc thay đổi chế độ trong đấu tranh quyết liệt, thường có bạo lực chống đối, giằng co nhau, có đổ máu, như cách mạng ở Pháp, ở Hoa Kỳ mà ông Hồ Chí Minh đã dẫn ra trong bản Tuyên ngôn Ðộc lập ngày 2 tháng 9, 1945.

Biến cố gọi là Cách Mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam hoàn toàn không đổ máu, không có đấu tranh giằng co bằng bạo lực quyết liệt. Chính quyền thực dân Pháp đã bị phát xít Nhật lật đổ ngày 9 tháng 3, 1945 trong một cuộc đảo chính nhẹ nhàng. Trước đó cả Ðông Dương thuộc Pháp đã đầu hàng phát xít Ðức, Việt Nam trở thành thuộc địa của nước Pháp thua trận đã đầu hàng phát xít, cho nên bị khối Ðồng minh xếp vào loại bị quân Ðồng Minh là quân đội Anh và quân đội Trung Hoa Dân Quốc vào chiếm đóng để giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng Ðồng Minh. Quân đội Trung Hoa vào miền Bắc, quân Anh vào miền Nam.

Việt Nam trở thành đất trống về quyền lực cai trị, chính phủ Trần Trọng Kim vừa thành lập được 6 tháng còn non yếu, tuy về danh nghĩa đã giành được nền độc lập từ tay phát xít Nhật đã buông súng đầu hàng Ðồng minh. Do sức ép của quần chúng xuống đường theo lời hiệu triệu của Mặt trận Việt Minh do đảng CS Ðông Dương tổ chức ra, Vua Bảo Ðại thoái vị nhanh chóng, bày tỏ niềm vui “từ bỏ ngai vàng để trở thành một công dân tự do.”

Sau 70 năm, nhìn lại không thể gọi biến cố đó là Cách Mạng Tháng Tám. Gọi vậy là “ngoa ngôn,” là “đại ngôn,” vì “cách mạng” là phải thay đổi hẳn chế độ cai trị, đổi mới hoàn toàn bản chất chế độ, đem lại dân chủ, tự do cho mọi công dân, quyền tự do bình đẳng trong kinh doanh, cốt lõi là tự do ngon luận, tự do báo chí.

Ðiều mỉa mai khổng lồ là sau 70 năm cai trị, Ðảng CSVN đã nói không biết bao nhiêu lần về cách mạng, về đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mô hình kinh tế, chính trị, về cải tiến, về thay đổi... nhưng trong cuộc sống thực tế, chế độ hiện nay kém xa thời phong kiến về sở hữu tư nhân về ruộng đất, kém xa thời thực dân về hàng loạt lĩnh vực như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, về nền tư pháp độc lập, về vị trí hệ trọng trong xã hội của các nhà báo độc lập và các luật sư độc lập trong việc thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh.

Biết bao chuyện “thay mà không đổi,” “đổi mới hóa ra đổi cũ,” “cải tiến hóa ra cải lùi,” càng hô hào tiến lên đất nước càng lạc hậu thêm.

Càng đi lên chủ nghĩa xã hội lại càng lún sâu trong bùn lầy của chủ nghĩa tư bản hoang dã, rừng rú, thành chế độ Mafia đỏ quái gở vô luật pháp, vô đạo đức, vô nhân tính.

Nhân bàn về những từ “Cách mạng,” “cướp Chính quyền,” nếu suy cho rộng, nghĩ cho sâu, nói rõ sự thật đầy đủ, không sợ mất lòng ai, như nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An dám nói thẳng băng rằng “Bộ Chính Trị hiện nay là một kiểu vua tập thể,” đội lốt dân chủ do dân, vì dân.

Cần nói rõ, nói thật, nói cho đúng thì 70 năm về trước, lãnh đạo Ðảng CSVN đã khôn khéo cướp công của nhân dân, lợi dụng lòng yêu nước, khát khao độc lập của toàn dân để thỏa mãn tham vọng quyền lực CS vô hạn của mình, từ đó cướp luôn cuộc sống tự do về mọi mặt của nhân dân, từ tự do chính trị, tự do kinh tế, tự do tôn giáo, tự do kinh doanh, tự do đi lại, xuất nhập cảnh của nhân dân, suốt trong 70 năm dài đã qua. Một chế độ tệ hại hơn thời phong kiến, thực dân về mọi mặt.

Ðại Hội XII là dịp tốt nhất để Ðảng CSVN nhận ra sự thật, lỗi lầm kinh khủng ấy, trả lại cho toàn dân, toàn xã hội quyền tự do chính trị, tự do bầu cử, tự do kinh doanh, tự do biểu tình và lập hội.

Không dám làm như thế, lãnh đạo CSVN hiện nguyên hình là một lũ cướp ngày, một băng đảng Mafia đỏ bất lương vô đạo, cô lập giữa thế giới văn minh, sẽ bị sự phẫn nộ xung thiên của nhân dân ta quét sạch, như nhân dân Ðông Ðức, Ba Lan, Tiệp, Bulgaria, Tunisia, Ai Cập, Ukraine... đã thực hiện trong các cuộc cách mạng đổi đời, giành lại quyền sống tự do về mọi mặt trong độc lập dân tộc và trong quyền sống làm người.

Posted: Mon Aug 31, 2015 6:08 am
by quangminh
Báo Mỹ: Washington sẽ trừng phạt Trung Quốc vì tấn công mạng

Tờ Washington Post ngày 30/8 cho biết chính quyền Tổng thống Obama đang soạn thảo một gói các biện pháp trừng phạt kinh tế
chưa từng có tiền lệ, nhắm vào các công ty và cá nhân Trung Quốc, trục lời từ hoạt động đánh cắp bí mật thương mại từ Mỹ.

Image
Tòa nhà của một đơn vị quân đội Trung Quốc tại Thượng Hải, nơi từng bị công ty an ninh mạng Mỹ cáo buộc là địa chỉ thực hiện
các vụ tấn công qua mạng nhắm vào Mỹ (Ảnh: AFP)


Theo tờ báo này, đây sẽ là những biện pháp trừng phạt chưa từng có tiền lệ, nhằm đáp trả việc Bắc Kinh thực hiện các vụ tấn công qua mạng để đánh cắp bí mật thương mại của Mỹ, giúp công ty Trung Quốc hưởng lợi.

Hiện giới chức Mỹ chưa quyết định liệu có công bố các biện pháp trừng phạt này hay không, nhưng quyết định cuối cùng dự kiến sẽ sớm được đưa ra, có lẽ là “trong vòng 2 tuần tới”, một số quan chức giấu tên khẳng định với Washington Post.

Việc ban bố các biện pháp trừng phạt sẽ cho thấy sự mở rộng đáng kể các phản ứng công khai của Washington trước làn sóng ngày một lớn các vụ tấn công qua mạng vì mục đích gián điệp kinh tế do tin tặc Trung Quốc thực hiện, bài báo nhận định.

Giới chức Mỹ khẳng định tin tặc Trung Quốc đã đánh cắp nhiều loại thông tin, từ bản thiết kế nhà máy điện hạt nhân tới mã nguồn của các chương trình tìm kiếm, và thông tin mật về quan điểm trong đàm phán của các công ty năng lượng Mỹ.

Thông tin trên xuất hiện vào đúng thời điểm đặc biệt nhạy cảm với hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, khi Chủ tịch Tập Cận Bình dự kiến sẽ lần đầu có chuyến thăm cấp nhà nước tới Mỹ trong tháng 9.

Hai nước hiện đã bất đồng trong một loạt vấn đề, trong đó có những va chạm trên biển tại Biển Đông và nỗ lực của Trung Quốc hòng phá giá đồng nhân dân tệ, trong bối cảnh thị trường chứng khoán nước này lao dốc.

Nhưng khả năng các lệnh trừng phạt được ban bố gần kề với chuyến thăm Mỹ của ông Tập cho thấy giới chức Washington đang giận dữ ra sao trước các vụ đánh cắp thông tin qua mạng dai dẳng, bài báo nhận định.

Nếu các lệnh trừng phạt được ban bố, đây sẽ là lần đầu tiên một chỉ thị được Tổng thống Obama ký ban hành hồi tháng 4 được áp dụng, vốn cho phép đóng băng tài sản tài chính và các bất động sản, ngăn chặn các giao dịch thương mại với các cá nhân và tổ chức nước ngoài dính líu đến các vụ tấn công phá hoại hoặc gián điệp kinh tế thông qua mạng máy tính.

Nhà Trắng hiện từ chối bình luận về các biện pháp trừng phạt cụ thể, nhưng một quan chức cấp cao tiết lộ: “Như tổng thống đã nói khi ký ban hành chỉ thị cho phép sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế chống lại những kẻ hành động nguy hiểm qua mạng, chính quyền đang theo đuổi một chiến lược toàn diện để đối phó với những kẻ như vậy.

Chiến lược đó bao gồm các biện pháp ngoại giao, công cụ chính sách thương mại, các cơ chế thực thi pháp luật, và áp đặt trừng phạt các cá nhân và tổ chức tham gia vào những hoạt động nguy hại lớn, được thực hiện qua không gian mạng”.

Theo các quan chức Mỹ, Trung Quốc không phải nước duy nhất tiến hành tấn công các mạng máy tính để chiếm đoạt bí mật thương mại và hỗ trợ nền kinh tế nước mình, nhưng là nước tích cực nhất. Theo báo cáo của Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) hồi tháng trước, các vụ gián điệp kinh tế đã tăng 53% trong năm qua, và Trung Quốc đứng đằng sau hầu hết các vụ việc.

“Các lệnh cấm vận sẽ phát đi hai thông điệp”, một nguồn tin khác trong chính phủ Mỹ được Washington Post trích dẫn. “Nó sẽ là tín hiệu gửi tới Bắc Kinh rằng chính phủ Mỹ sẽ bắt đầu đáp trả hoạt động gián điệp kinh tế. Đồng thời nó là tín hiệu gửi tới khu vực tư nhân rằng chúng tôi sát cánh cùng họ. Nó sẽ khẳng định với Trung Quốc rằng chúng ta không thể chịu đựng thêm”.

Theo Washington Post

Posted: Sat Sep 05, 2015 6:09 am
by trinhham
70 năm sau Cách Mạng Tháng Tám
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Ðầu tháng 9 này, chắc chắn giới lãnh đạo và giới truyền thông Việt Nam sẽ làm ầm ĩ về những thành tựu họ đã đạt được trong suốt 70 năm kể từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này, chúng ta cũng nên nhìn lại vấn đề công và tội của đảng Cộng Sản đối với đất nước.

Công lớn nhất và đáng kể nhất của đảng Cộng Sản là cuộc kháng chiến chống Pháp, kéo dài 9 năm, kết thúc với trận đánh oanh liệt tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954, chấm dứt ách đô hộ kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp. Dĩ nhiên, người ta có thể cho đó là thành tích của cả dân tộc chứ không hẳn của riêng đảng Cộng Sản. Người ta cũng có thể phản biện lại: ngay trong điều gọi là công trạng này đã có mầm mống của tội ác qua việc đảng Cộng Sản loại trừ những người yêu nước không phải cộng sản hoặc chống lại cộng sản. Tuy vậy, nhìn chung, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản trong việc mang lại độc lập cho Việt Nam.

Ðiều đáng tiếc là công trạng vừa nêu cũng là công trạng duy nhất mà đảng Cộng Sản đã mang lại cho đất nước. Kể từ trận Ðiện Biên Phủ trở đi, với tư cách đảng cầm quyền độc tôn ở miền Bắc, và sau đó, kể từ năm 1975, trong cả nước, đảng Cộng Sản vấp phải hết sai lầm này đến sai lầm khác, sai lầm nào cũng đẫm máu, và vì tính chất đẫm máu ấy, sai lầm biến thành tội ác.

Trước hết, đảng Cộng Sản hoàn toàn sai lầm trong việc gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm ở miền Nam. Ðã đành mục tiêu khá chính đáng: thống nhất đất nước. Nhưng, như lịch sử gần đây chứng minh, để thống nhất đất nước, người ta không nhất thiết phải chọn biện pháp chiến tranh. Ðông Ðức và Tây Ðức, sau mấy chục năm phân hóa, đã được thống nhất một cách hòa bình. Nam Hàn và Bắc Hàn không may mắn như vậy, cho đến nay, vẫn còn chia cắt, nhưng sự chia cắt ấy cũng không phải là một bất hạnh bởi vì ít nhất một nửa nước, Nam Hàn, cũng được sống một cách sung sướng và đầy tự hào với nền kinh tế phát triển vượt bực. Ðảng Cộng Sản Việt Nam, do thiếu kiên nhẫn và phần nào, cũng do hiếu chiến, đã chọn biện pháp bạo lực để thống nhất đất nước, dẫn đến hậu quả là một cuộc chiến tranh kéo dài với khoảng ba triệu người, ở cả hai miền, bị giết chết một cách thảm khốc và những chấn thương trong tâm lý, cho đến bây giờ, bốn mươi năm sau, vẫn còn khiến nhiều người nhức nhối.

Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, đảng Cộng Sản lại vấp phải một sai lầm nghiêm trọng khác: Thay vì hòa hợp và hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù, hàn gắn các vết thương do cuộc chiến tranh kéo dài mang lại để mọi người an tâm xây dựng lại đất nước, họ lại lập ra các trại cải tạo để giam nhốt và hành hạ những người thuộc phe thua cuộc, hơn nữa, còn có những chính sách kỳ thị nặng nề đối với dân chúng miền Nam, khiến cho đến nay, bốn mười năm sau, các vết thương chia rẽ vẫn còn sâu hoắm.

Có thể kể thêm vô số các sai lầm khác của đảng Cộng Sản, trong đó, nổi bật nhất là các chính sách cải cách ruộng đất làm cả chục ngàn người bị chết, các chính sách chống xét lại đẩy hàng ngàn người vào cảnh tù đày, các chính sách đánh tư sản mại bản và ép dân đi kinh tế mới khiến hàng chục ngàn người lâm vào cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, hai sai lầm và cũng là tội ác lớn nhất của đảng Cộng Sản là: Một, làm nền kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ và hai, làm băng hoại nền văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Trước hết, về kinh tế, hầu như ai cũng biết, vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, kinh tế Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, khá cao so với các quốc gia trong khu vực. Dạo ấy, Sài Gòn vẫn được xem là “hòn ngọc Viễn Ðông,” niềm mơ ước của nhiều quốc gia khác. Vài năm sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Hiện nay, tình trạng khá hơn một chút, nhưng Việt Nam vẫn chỉ thuộc quốc gia có thu nhập vào loại trung bình thấp.

Mới đây, trong cuộc hội thảo về kinh tế do Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư Việt Nam tổ chức vào ngày 28 tháng 8, các chuyên gia đều thừa nhận Việt Nam thua kém hẳn các quốc gia khác ở Châu Á. Với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng 2000 Mỹ kim hiện nay, Việt Nam chỉ bằng Philippines năm 2010, Indonesia năm 2008, Thái Lan năm 1993, Malaysia năm 1988 và Hàn Quốc năm 1982. Nói cách khác, “GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn Quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.” Người ta cũng tiên đoán nếu mức phát triển kinh tế hiện nay không được cải thiện, khoảng cách nêu trên sẽ càng ngày càng lớn. Hơn nữa, Việt Nam còn có nguy cơ bị Campuchia và Lào qua mặt.

Chuyện kinh tế và phát triển rất dễ thấy, tuy nhiên, theo tôi, lầm lẫn - đúng hơn, tội ác - nghiêm trọng nhất của đảng Cộng Sản là phá hoại văn hóa Việt Nam, một yếu tố trừu tượng và mơ hồ, khó nhận biết, nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách sống cũng như quan hệ giữa người với người. Các cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 làm phá nát quan hệ hàng xóm vốn là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc. Các cuộc phê bình và tự phê bình làm cho không ai còn tin ai được nữa. Các nỗ lực phá hoại sự hình thành của xã hội dân sự làm cho con người càng ngày càng trở thành vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Các hành động trấn áp những người yêu nước, đặc biệt trong các phong trào chống Trung Quốc, khiến mọi người đâm ra dửng dưng trước số phận của đất nước. Hậu quả của tất cả của những điều vừa kể là con người càng ngày càng trở nên ích kỷ, và hậu quả của sự ích kỷ này là con người càng ngày càng độc ác hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các tội ác trong xã hội càng lúc càng trở thành phổ biến.

Những sự tụt hậu về kinh tế có thể được khắc phục nếu không phải trong vài năm thì cũng vài chục năm, nhưng những sự đổ vỡ trong văn hóa và đặc biệt trong đạo đức và quan hệ giữa người với người thì rất khó hàn gắn và để lại rất nhiều di hại, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế cũng như tiến trình dân chủ hóa của đất nước. Hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng cả đến những nỗ lực chống lại các âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Ðó mới chính là điều đáng lo sợ nhất.

Posted: Tue Sep 08, 2015 12:54 am
by khieulong

Mỹ: Tăng Cường Quân Lực Ở Biển Đông Để Chống TC

Vi Anh

Bộ Quốc Phòng Mỹ vừa mới công bố Chiến lược An ninh Hàng hải vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Chiến lược mới, tích cực tiến tới gồm 3 mục tiêu: “bảo vệ tự do hàng hải, răn đe xung đột và các hành vi cưỡng bức, và cổ vũ cho việc tôn trọng luật pháp và các chuẩn mực quốc tế". Không còn cái kiểu lơ lững con cá vàng, tỏ ra vô tư, trung lập, không đứng về phía bên nào trong các tranh chấp biển đảo của các nước nữa.

Giáo sư Andrew Erickson, thuộc Trường Hải Chiến Mỹ (US Naval War College) đã phân tích kỹ trên báo Wall Street Journal 24/08/2015, cho đó là một bước tích cực của Mỹ, nhưng không đủ sức ngăn chận dã tâm của TC. Theo Ông, ưu điểm của chiến lược mới này, là Mỹ nói lên rõ tầm quan trọng các con đường hàng hải quốc tế, đặc biệt tại Ấn Độ Dương, Biển Đông và Biển Hoa Đông đối với các lợi ích của Mỹ. Mỹ dẫn chứng rõ ràng và cụ thể bằng tài liệu cho các nước thấy những tiến bộ vượt bực của Hải quân TC có thể gây bất ổn trong vùng biển Á châu Thái binh dương. Tiêu biểu như TC hiện có nhiều tàu nhất Châu Á, với 303 tàu chiến các loại, hoàn toàn áp đảo 202 tàu chiến cộng lại của Nhật Bản, Indonesia, Việt Nam, Malaysia và Philippines. Điểm mạnh thứ ba của chiến lược của Mỹ là đưa ra những bằng cớ rõ rệt, cung cấp dữ liệu cụ thể về tham vọng đất đai và công trình quân sự hoá của TC ở Biển Đông, con số rõ rệt đã tạo ra thêm 2.900 mẫu Anh so với Việt Nam chỉ có 80 mẫu, Malaysia 70 mẫu, Philippines 14 mẫu, và Đài Loan 8 mẫu.

Ngoài ra, chiến lược này cũng cho thấy một cách cụ thể sự cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực, quyết tâm thực hiện chiến lược chuyển trục sang Châu Á trước năm 2020 bằng cách chuyển khí tài sang vùng Thái Bình Dương, gia tăng sự hiện diện của Mỹ, tăng cường các cuộc diễn tập quân sự và xây dựng khả năng hàng hải của các nước đối tác.

Nhưng theo Gs Erickson chiến lược mới của Mỹ cũng có một số điểm chưa quyết liệt cần thiết, còn quá rụt rè, không đi đủ xa như tìm cách tỏ ra khách quan bằng cách dùng những ngôn từ không rõ ràng, cho rằng tất cả các bên đều có lỗi, dù cho Trung Quốc là nước có cách hành xử tiêu cực nhất, chiếm biển đảo của các nước nhiều nhứt, chiếm một cách ngang ngược, táo bạo, không một bằng cớ lịch sử, pháp lý, đạo lý nào. Theo Ông lẽ ra Mỹ «đi xa hơn và nói rõ là đường 9 đoạn của Bắc Kinh không có cơ sở về luật pháp quốc tế», Mỹ phải bắn đi tín hiệu cho Trung Quốc hiểu là Mỹ sẽ sẵn sàng va chạm để đối phó với một loạt hành vi tiêu cực của Trung Quốc như đã từng có trong những năm gần đây. Ông nhấn mạnh Mỹ cần quyết liệt hơn với Trung Quốc, cần có chính sách cụ thể hơn nữa để buộc Bắc Kinh phải trả giá cao cho hành động sai trái của họ.

Bên cạnh tờ Wall Street Journal, ngày 25/8 tờ báo gối đầu giường của những chính khách và chiến lược gia Mỹ ở Washington DC, là tờ Washington Post có tung ra một bài bình luận khuyến cáo TC: Trung Quốc phải thận trọng hơn ở Biển Đông. Nếu để xung đột xảy ra trong Biển Đông, hậu quả tai hại sẽ xảy ra cho thương mại thế giới, nhưng tai hạị trầm trọng nhứt là cho TC, trên phương diện xuất cảng và nhập cảng của nền kinh tế Trung Quốc.Bài xã luận có liên hệ tới việc Bộ Quốc phòng Mỹ công bố chiến lược an ninh hàng hải mới hồi tuần trước, để chống lại các hành vi khiêu khích của Trung Quốc ở Á Châu-Thái Bình Dương. Tờ báo nói rõ rằng phúc trình của Ngũ Giác Đài được soạn thảo do yêu cầu của quốc hội Mỹ, và những hành động của Trung Quốc chắc chắn sẽ mang lại hậu quả, mặc dù chưa biết được các cuộc thử lửa sẽ diễn ra như thế nào, nhưng điều chắc chắn là chúng sẽ đến.

Song song với công luận của các chiến lược gia và báo chí, là hành động bày binh bố trận của các tư lịnh lực lượng Mỹ ở Thái bình dương với các nước đồng minh trong vùng Á châu Thái bình dương.

Trước nhứt là Phi luật tân, một đồng minh của Mỹ bị TC lấn chiếm biển đảo, và đã đâm đơn kiện TC ra toà án Liên hiệp Quốc. Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris đích thân đến Manila, cam kết duy trì ổn định khu vực Biển Đông, hỗ trợ Phi đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Mỹ hứa tăng cường theo dõi các diễn biến trực tiếp ở Biển Đông, cung cấp thêm hoạt động do thám và giám sát, cung cấp máy bay, tăng phi vụ và hải hành tuần tra để giám sát một chiếc tàu dân sự của Philippines thường đưa hàng tiếp tế ra bãi Cỏ May.

Hải quân Mỹ sẽ gia tăng tập trận hải quân trong vùng cả về chất lẫn về lượng ở Biển Đông với mục tiêu răn đe sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Cho đến nay, Hoa Kỳ thường xuyên tập trận chung với Philippines, và gần đây, đã không ngần ngại diễn tập gần khu vực Biển Đông nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh với quy mô rầm rộ.

Mỹ tăng cường hải lực, hạm đội tàu chiến tuần duyên LCS (Littoral Combat Ship), loại chiến hạm nhỏ nhưng linh hoạt, với hỏa lực hùng hậu, được thiết kế để thực hiện nhiệm vụ tại những vùng nước nông ven bờ, đặc thù của Biển Đông: 4 chiếc sẽ được triển khai ngay tại Singapore, phụ trách trực tiếp Biển Đông, 4 chiếc khác sẽ được dùng làm lực lượng dự bị, sẵn sàng tung ra khi cần thiết.

Điều hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan hiện đại hơn qua thay chiếc George Washington. Thêm tàu USS America vào vùng biển Dông, thêm hai tàu khu trục Aegis được gửi đến túc trực tại Nhật Bản.

Tăng cường không lực, điều thêm chiến đấu cơ F-22 và F-35 tối tân nhứt, tăng viện lực lượng cơ hữu trong vùng gồm nhiều oanh tạc cơ chiến lược B-2 và B-52, và 47 chiếc phi cơ tuần thám đời mới P8 A Poseidon, có gắn thủy lôi. Cấp trực thăng V- 22 cho Lực lượng Thủy quân lục chiến túc trực trong vùng. Không bỏ việc phong thủ không phận, Mỹ đưa thêm hỏa tiễn tầm xa có độ chính xác cao, trong đó có loại JASSM-ER và một loại hoả tiễn hành trình chống hạm tầm xa mới. Với các phương tiện răn đe đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vai trò người bảo vệ ổn định và quyền tự do hàng không và hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông.

Với Chiến lược An ninh hàng hải vùng Á Châu-Thái Bình Dương mới rất tích cực, với việc tăng cường quân lực và vũ khí để phòng chống TC như vậy trên vùng biển Á châu Thái bình dương, với việc chính phủ Mỹ đang chuẩn bị những biện pháp chế tài kinh tế trước đây chưa từng có nhắm vào các công ty và cá nhân Trung Quốc được hưởng lợi từ việc đánh cắp bí mật thương mại của Mỹ, người ta thấy Thái bình dương có thể không còn thài bình trong những tháng năm tới. Đó là lỳ do chiến lược gia Mỹ đòi hỏi Mỹ phải quyết liệt hơn và báo chí Mỹ khuyến cáo TC phải thận trọng.

Còn VNCS hầu như bất động trước việc TC đưa giàn khan nước sâu vào vùng trùng lấp đặc quyền kinh tế VN để thăm dò 2 tháng nay. TC đã làm xong trên một mỏ dầu. TC sắp dời đi đến một vùng khác gần đó và tuyên bố tiếp tục thăm dò 2 tháng nữa. VNCS không phản đối bằng tuyên bố hay đưa tàu cảnh sát ra ngăn chận như như kỳ rồi. Công nhân VN không có biểu tình chống TC như kỳ trước. Mỹ hoàn toàn không lên tiếng chống TC như kỳ trước Thượng Viện ra nghị quyết yều cầu TQ rút. Điều này cho thấy Hà nội vẫn theo đuôi TC. Mỹ không can thiệp về chủ quyền biển đảo của VN, Mỹ chỉ tranh đấu cho tự do hàng hải, hàng không Mỹ coi là quyền lợi quốc gia của Mỹ. Quyền lợi của Mỹ đối với TC ngàn lần lớn hơn đối với VN. Hai nước Mỹ, TQ nương nhau, chia xẻ quyền lợi. Tập cận Bình sắp công du Mỹ, tháng 9 nay./.(Vi Anh)

Posted: Thu Sep 10, 2015 3:39 pm
by nguyenvsau
‘Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!’

Ngô Nhân Dụng

Xin lỗi quý vị độc giả, phải nhìn thấy những chữ nặng nề trong tựa đề trên đây. Tám chữ đó người viết không đặt ra mà trích từ một lá thư công khai của ông Ngô Bảo Châu, một nhà toán học Việt Nam lỗi lạc được thế giới công nhận.

Ðộc giả Người Việt khi đọc tin đảng Cộng Sản ở tỉnh Sơn La, Việt Nam, tính đem 1,400 tỷ đồng (gần 70 triệu đô la Mỹ) ra làm khu công viên dựng tượng Hồ Chí Minh, nhiều người, ở trong và ngoài nước đã phản ứng bằng những lời lẽ nặng nề, thậm tệ hơn nữa. Nhưng những lời Giáo Sư Ngô Bảo Châu viết trên trang Facebook của ông đáng chú ý, vì ông chưa bao giờ tỏ ra phẫn nộ dùng lời lẽ như vậy khi bầy tỏ ý kiến về các vấn đề chung. Ông sinh ra và lớn lên trong chế độ Cộng Sản ở miền Bắc. Không thể gọi ông là người “chống Cộng,” nghĩa là bài bác chủ nghĩa Cộng Sản hay chống chế độ độc tài đảng trị. Ngược lại, ông vẫn thường cộng tác với chính quyền trong các dự án giáo dục; ông cũng không hay phản bác những chính sách của đảng Cộng Sản.

Lần này, ông Ngô Bảo Châu nổi giận có lý do. Ông viết: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1,400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”

Hàng ngày, đồng bào ta ở Hà Nội, Sài Gòn hay Hải Phòng, Ðà Nẵng cũng có thể nổi giận nói như vậy khi chứng kiến cảnh các đại gia ăn tiệc với những chai rượu giá hàng ngàn đô la đổ ra như nước lã, trong khi những đứa trẻ gầy còm, đen đủi, quần áo rách mướp, đang lê la ngoài phố, không được đi học. Nhưng rất ít người đứng ra nói lớn những lời phẫn nộ như ông Ngô Bảo Châu: Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!

Tại sao người ta không nổi giận, không phản kháng? Bởi vì họ đã nhìn thấy những cảnh đó nhiều quá rồi! Họ đã quen rồi, đã từng nói nhiều rồi mà không thấy hiệu quả nào hết. Có lẽ con số 1,400 tỷ đồng, 70 triệu đô la nó kích thích tình lân mẫn và đức liêm sỉ của mọi người mạnh hơn. Nhìn con số đó, người mẫn cảm nghĩ ngay tới những trẻ em “ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang” để so sánh, vì các em bé này có khi không được một đô la để sống mỗi ngày.

Nhiều nơi trong nước mình mỗi người dân đang sống với lợi tức dưới một đô la một ngày; hàng triệu người như vậy. Theo thống kê của nhà nước, Sơn La là một tỉnh nghèo bậc nhất. Tỷ lệ chính thức năm 2013 cho biết trong tỉnh có 27% các gia đình sống trong cảnh “nghèo.” Chữ “nghèo” đóng ngoặc kép ở đây được định nghĩa theo tiêu chuẩn nhà nước. Năm 2008, người dân thành thị sống với lợi tức là 370 nghìn đồng một tháng; dân nông thôn là 290 nghìn đồng một tháng được coi là “chuẩn nghèo.” Trong những năm từ 2011 tới 2015, một hộ nghèo ở nông thôn được định nghĩa là gia đình có mức thu nhập bình quân từ 400 ngàn đồng mỗi người một tháng trở xuống. Ở thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500,000 đồng một tháng hay thấp hơn.

Như vậy thì 27% các gia đình sống trong tỉnh Sơn La đang sống với mức lợi tức dưới 20 đô la một tháng. Sơn La có hơn một triệu 200 ngàn dân, thì 325 ngàn đồng bào đang sống với dưới 70 xu Mỹ mỗi ngày. Hai tỉnh bên cạnh, Ðiện Biên và Lai Châu còn thảm hơn. Tỷ lệ nghèo ở Lai Châu trên 27%, còn Ðiện Biên cao hơn 35%.

Người ta thường không tin các con số thống kê của các chế độ Cộng Sản, từ Liên Xô, Trung Cộng cho tới Cuba. Muốn thẩm lượng tính chất xác thực của các số thống kê trên, quý vị có thể đặt câu hỏi: Tỷ lệ nghèo ở các thành phố lớn là bao nhiêu? Ðọc thống kê của nhà nước, ta thấy liệt kê các “địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp hoặc không còn hộ nghèo” là: Thành phố Hồ Chí Minh (0%), Bình Dương (0%). Coi như cả tỉnh Bình Dương, cả thành phố Sài Gòn không có nhà nào “nghèo” hết, kể cả những gia đình sống trên lề đường. Có ai muốn tin các con số đó không? Các thành phố lớn và tỉnh tiếp theo có Ðồng Nai (0.66%), Thành phố Ðà Nẵng (0.77%), Bà Rịa-Vũng Tàu (0.,95%), Hà Nội (1.01%). Quý vị ở các địa phương trên có thể biết rõ hơn. Các số thống kê của nhà nước xưa nay vẫn đáng nghi ngờ.

Cho nên có thể đoán số người thuộc “chuẩn nghèo” ở Sơn La còn đông hơn, có thể hàng nửa triệu, và số thu nhập của họ còn thấp hơn, có thể chỉ tới nửa mỹ kim mỗi này. Một gia đình năm có thể phải sinh sống với lợi tức 3 đô la một ngày!

Những người Việt Nam mỗi ngày đang được ăn no, ở khắp thế giới, nghĩ đến những con số trên không khỏi rớt nước mắt. Nhất là trong số đó có các trẻ em.

Ngô Bảo Châu nghĩ tới những em “ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang.” Nghĩ như vậy, lại nghĩ tới số tiền 70 triệu đô la phung phí, trong lòng không nổi giận thì không phải là người. Ðúng là một lũ “Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!” Khi nghĩ tới các em, lại nhớ thời tôi ở tuổi các em bây giờ, 5 tuổi, 7 tuổi, tôi đã sống trong cảnh “ăn không đủ no, áo không đủ ấm” thật sự. Ðầu thời kháng chiến, gia đình tôi ở Cầu Ðất, Thái Nguyên. Có lúc mẹ đi xa cả tháng bị kẹt đường xe lửa hỏng, không về nhà được. Chị lớn của tôi năm đó 14, 15 tuổi thấy nhà hết gạo, đi vay gạo hàng xóm không ai có sẵn; chị đã đi bắt cua cả ngày đem ra chợ bán lấy tiền mua gạo và mua ngô (bắp) nuôi hai đứa em trai lên chín và lên ba. Em bé được ăn cháo, anh và chị ăn bắp. Chị em tôi may mắn không đến nỗi “sinh hoạt như lũ thú hoang” là nhờ thời đó có giáo dục gia đình. Nhờ làng xóm chung quanh vẫn còn sống trong nền nếp tinh thần cha ông để lại, chưa bị phá tan hoang như sau này. Việt Nam bây giờ nhiều em sinh hoạt như lũ thú hoang. Vì có khi ngay cả cha mẹ các em đã sống hoang dã rồi, không ai giáo dục con cái. Sau khi chiến tranh đã chấm dứt hơn 40 năm, vẫn thế.

Nhìn con số 70 triệu đô la, quả là một khoản tiền lớn. Ðó lại là tiền công quỹ, có thể đem dùng vào nhiều việc ích lợi cho dân. Ai cũng phải hỏi tại sao không đem tiền công quỹ đầu tư vào những hoạt động kinh doanh tạo công việc làm ăn cho dân bớt nghèo đi?

Người lãnh đạo tỉnh Sơn La mới giải thích rằng việc xây dựng tượng đài là “ước nguyện thiêng liêng của cấp ủy, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và nhân dân, vân vân.” Tất nhiên, ước nguyện của bấy nhiêu ông bà có chức, có quyền, có súng, thì phải thắng ước nguyện của hơn 300 ngàn người sống với dưới một đô la một ngày! Ông Cầm Ngọc Minh, chủ tịch tỉnh Sơn La nói về con số 1,400 tỷ đồng mới bảo rằng “Không nên đặt vấn đề đắt rẻ.” Ông lại còn than thở, “Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng tôi.”

Thiệt thòi trước mắt là mất cơ hội rút ruột. Ở Việt Nam người ta biết từ 30% đến 45% chi phí khi thực hiện các dự án được bỏ vào túi các viên chức. Không xây dựng tượng là mất toi 30 triệu đô la. Thiệt thòi! Thiệt thòi cho chúng tôi quá! Cho nên không riêng tỉnh Sơn La, trên toàn quốc còn có 58 dự án xây dựng tượng đài, trong 14 năm nữa! Cứ mỗi vụ rút ruột được 30 triệu đô la, tổng số sẽ lên tới 1,740,000, 000 đô la!

Ðọc con số hơn tỷ rưỡi đô la này, thấy lớn. Nhưng thực ra cũng “chưa lớn” bởi vì phải chia cho rất nhiều quan chức, chia rải ra đến 14 năm trường. Chúng ta sẽ không thấy nó lớn, khi so sánh với những vụ tiền chạy đi mất tích ở cấp cao hơn. Một vụ Vinashin thôi, chỉ trong mấy năm đã thấy bốn tỷ đô la tiền nợ nước ngoài bay đi đâu mất để đến nỗi hết tiền trả nợ! Vì vậy, khi cả nước kêu lên về dự án phung phí 70 triệu đô la, bộ máy đảng và nhà nước ở trên cùng cũng không dám ngăn lại! Các anh đã nuốt mấy tỷ đô la ngon lành, đến lượt lũ chúng tôi chỉ ăn có bạc triệu anh lại dám ngăn cản à? Ðến đại hội đảng anh có cần phiếu của lũ chúng tôi không? Thế là im thin thít!

Giáo Sư Ngô Bảo Châu giữ tinh thần hoài nghi khoa học, đặt giả thuyết lũ người đem 1,400 tỷ đồng ra xây dựng để rút ruột là bọn “Hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”

Người dân Việt thì đã biết rõ từ lâu rồi, không có nghi ngờ gì nữa. Từ trên xuống dưới, chỉ toàn một lũ khốn nạn.

Posted: Sun Sep 13, 2015 3:45 am
by dailien

Sợ Tầu là bệnh hay lây

Hùng Tâm

Hoa Kỳ sợ Tầu quá mạnh rồi quá yếu

Quãng ba chục năm trước, nước Mỹ xôn xao vì sức mạnh kinh tế Nhật Bản, đến nỗi trong xã hội đã nổi lên phong trào “Bài Nhật.” Ngày nay, người ta đang thấy tái diễn một phản ứng tương tự, là bệnh “Sợ Tầu.”

Vào đầu thập niên 1980, người Mỹ thấy kinh tế Nhật phát triển quá mạnh, tư bản Nhật tràn ngập Ðông Á đã ào ào chảy vào Hoa Kỳ như thác lũ. Giá nhà đất của một quận của thủ đô Tokyo còn cao hơn giá đất của cả tiểu bang California. Xe hơi Nhật chạy như mắc cửi trên xa lộ Mỹ, với ưu điểm đẹp rẻ bền lại ít tốn xăng. Doanh nghiệp Nhật mua các phim trường, bất động sản và cả biểu tượng văn hóa Hoa Kỳ là Rockefeller Center ở New York. Người ta bình luận về sức mạnh Nhật Bản, viết truyện và dựng phim về âm mưu mờ ám của tư bản Nhật. Ðây đó có người treo xe Nhật lên rồi lấy búa nện cho tan tành....


Sau đó là lịch sử: kinh tế Nhật bị khủng hoảng từ năm 1991, đến tuần qua mới có vài chỉ dấu tạm gọi là khả quan mà không bền. Ở giữa là sáu đợt suy trầm mà chưa chắc là “ba mũi tên cải cách” của chính quyền Shinzo Abe đã có thể đảo ngược nổi. Nhưng dư luận Hoa Kỳ đã hướng nỗi lo qua chuyện khác.

Nói tắt về bối cảnh thì sau gần chục năm lo sợ kinh tế Trung Quốc sẽ bắt kịp Hoa Kỳ khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 và kinh tế của Tầu vượt Nhật năm 2010, ngày nay dư luận Mỹ lại sợ nạn trời sập bên Tầu sẽ văng miểng vào kinh tế Mỹ. Sẽ tìm hiểu về cái bệnh “Sợ Tầu” này.


Trung Quốc cất cánh


Từ 15 năm nay, sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO với sự đồng ý của Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu giật mình vì sự xuất hiện của một cường quốc kinh tế mới. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Âu thành hình năm 1992 và khối Euro ra đời vào năm 2000, thiên hạ mới chú ý đến nền kinh tế Hoa lục có một tỷ 300 triệu dân, theo kinh tế thị trường từ năm 1980 và có đà tăng trưởng cao. Sau khi là thành viên WTO, nền kinh tế đó hội nhập vào luồng giao dịch toàn cầu với mũi nhọn là xuất cảng các mặt hàng chế biến với giá rất rẻ và thu về một kho ngoại tệ vĩ đại.

Sự thật là sau 30 năm hoang tưởng của Mao Trạch Ðông từ 1949 đến 1978 làm mấy chục triệu dân thác oan, Ðặng Tiểu Bình mới tiến hành kế hoạch “cải cách và khai phóng kinh tế” từ đầu năm 1979. Khi ấy, Bắc Kinh áp dụng chiến lược phát triển của các xứ Ðông Á đã theo kinh tế thị trường từ trước, như Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan và Singapore. Nhưng khác với các mẫu mực Ðông Á là lấy tiêu thụ làm sức mạnh, chiến lược Trung Quốc lấy đầu tư làm lực đẩy cho sản xuất và sản xuất nhiều và rẻ thì tìm sức kéo ở xuất cảng.

Trung Quốc không phát minh ra chiến lược ấy nhưng có ưu thế là dân số cao, nhân công nhiều và rẻ được giải phóng khỏi chế độ tập trung kế hoạch nên đạt mức tăng trưởng trung bình là gần 10% trong ba chục năm. Với sức tăng trưởng đó thì mỗi bảy năm sức nặng kinh tế của xứ này lại nhân đôi, làm nhiều người Mỹ gọi là sự kỳ diệu và báo hiệu một “Thế kỷ 21 của Trung Quốc.”

Họ không thấy trào lưu tương tự ở các nước Ðông Á đi trước, khi ấy được ca tụng là “tân hưng,” với phẩm chất tăng trưởng cao chứ không tệ hại như Trung Quốc. Sau đó các nước này còn chuyển lượng thành phẩm và thoát khỏi hiện tượng “bẫp sập của lợi tức trung bình” để tăng trưởng thấp hơn nhưng người dân có mức sống cao bằng khối công nghiệp hóa tiên tiến trong thể chế dân chủ.

Cụ thể thì theo một công trình nghiên cứu vào Tháng Năm vừa qua của Ngân Hàng Dự Trữ Hoa Kỳ tại khu vực Minneapolis, lợi tức trung bình một đầu người của Trung Quốc đã từ 1,300 đô la vào năm 1980 tăng đến 7,700 đô la vào năm 2010: tăng 500% trong 30 năm (năm 2010 đó là khi sản lượng kinh tế Tầu vừa vượt Nhật Bản). Nếu chỉ nhìn vào Trung Quốc thì đấy là sự kỳ diệu. Nhưng ngày nay dân Nhật, Nam Hàn hay Ðài Loan lại giàu gấp bội, với lợi tức đồng niên cho một người là hơn 36,000, hơn 28,000 hay hơn 22,000. Ðó là nhìn vào không gian.

Nhìn theo trục thời gian thì có một trào lưu chung là sau thời tăng trưởng cao như khi một phi cơ mới cất cánh, các nước đó bước vào thời kỳ bay ngang, hay “bằng phi,” với đà tăng trưởng thấp hơn. Nhật cất cánh từ 1951 và Nam Hàn từ 1954 và sản lượng một đầu người tăng mạnh trong mấy thập niên đầu rồi chậm dần. Của dân Nhật thì khởi đầu là 6.1% một năm rồi 5.4% vào thập niên 1970, rồi chỉ còn 2.2% từ thập niên 90. Nam Hàn cũng thế, sản lượng một đầu người tăng 8.5% một năm trong thập niên 80, rồi 5.8% trong 10 năm kế, và từ quãng 2000 về sau thì chỉ còn 3.8%. Trường hợp Trung Quốc cũng không khác và họ đang bước vào thời trì trệ, nhưng với lợi tức trung bình một năm vẫn ở dưới 10 vạn đồng và lạc quan lắm thì năm 2030 sẽ bằng 32,8% của dân Mỹ hoặc quãng 2061 thì mới bằng được phân nửa của dân Mỹ.

Phi cơ hạ cánh vào thời đình trệ

Sau khi Trung Quốc cải cách kinh tế thì thế giới ngợi ca việc đổi mới là có ý nghĩa lịch sử.

Nếu so với nhiều quốc gia đã theo quy luật của thị trường cho tự do hơn, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan hay Ấn Ðộ sau này, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc chẳng là phép lạ. Nó còn được thổi phồng như cơ quan nghiên cứu độc lập của Mỹ là Conference Board vừa lượng định lại sau nhiều năm khảo sát công phu. Một cách cụ thể thì trong 25 năm, đà tăng trưởng thực của Trung Quốc thấp hơn số chính thức đến hơn một phần tư, là tăng quãng 7.5% một năm thôi, cho nên thật ra kinh tế của xứ này chưa có sức nặng như người ta nghĩ.

Ði vào chi tiết thì trong 35 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã qua ba giai đoạn cất cánh tuần tự.

Trước hết về phẩm thì họ giải tỏa cho dân được làm ăn cho nên từ cái đáy của sự bần cùng nên kinh tế dễ bật dậy. Về lượng là nhà nước chủ động dùng đầu tư làm lực đẩy, đến khi đụng vào giới hạn của cơ chế kinh tế từ bảy tám năm trước thì yêu cầu cải cách được đặt ra. Nhưng năm 2008, thế giới lại bị Tổng Suy Trầm và Bắc Kinh sợ suy thoái nên hoãn cải tổ mà ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Khi đó, tư bản ứ đọng từ khối Âu-Mỹ-Nhật bị đình trệ chảy về Châu Á để tìm mức lời cao hơn. Nhờ vậy mà khi thế giới bị trì trệ thì Trung Quốc vượt lên và qua mặt Nhật Bản từ năm 2010, đấy là giai đoạn thứ ba.

Nhưng cũng do đó mà Trung Quốc tích lũy thêm yếu tố bất ổn và đang gây mối sợ khủng hoảng cho Hoa Kỳ.

Vắn tắt thì cái nhân khủng hoảng bên trong đã có, cái duyên ngày nay khi khối công nghiệp hóa, trước hết là Mỹ, muốn tăng xuất cảng, giảm mức bơm tiền, hút lại lượng tiền đã bơm ra và sẽ nâng lãi suất. Khi ấy, kinh tế Trung Quốc bị rủi ro lớn, là điều có thể xảy ra từ năm tới.

Thật ra từ Tháng Ba năm 2007, tổng lý Quốc Vụ Viện là Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nêu ra bốn nhược điểm kinh tế là “không ổn định, không cân đối, không phối hợp và không bền vững.” Ðáng lẽ ông phải nêu thêm một cái không nữa là không công bằng. Ba năm sau, Tháng Sáu năm 2010, người lên làm thủ tướng ngày nay là Phó Thủ Tướng Lý Khắc Cường cũng viết trên tạp chí “Cầu Thị,” cơ quan lý luận của Trung Ương Ðảng và của Trường Ðảng, rằng công cuộc phát triển của họ “tạo ra một cơ cấu kinh tế phi lý” và “ngày càng thấy rõ chiều hướng thiếu phối hợp và không vững bền.” Khi ấy các lãnh tụ khác như Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào sắp mãn nhiệm và Tổng Bí Thư Tập Cận Bình sẽ lên thay cũng đều phát biểu như vậy.

Nghĩa là lãnh đạo xứ này thấy ra vấn đề từ đã lâu mà không cải cách được cho tới ngày hạ cánh.

Hạ cánh bấp bênh


Y hệt như về Nhật Bản ba chục năm trước, nhiều người không thấy ra các vấn đề của Trung Quốc.

Nền kinh tế này nén tiêu thụ để lấy đầu tư làm lực đẩy mà đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước kém năng suất lại là chính nên mới gây lãng phí. Số đầu tư ấy lấy tiết kiệm rất cao của dân mà đền bù rất rẻ nên gây ra bất công. Nhờ sản xuất ồ ạt bằng mọi giá, Trung Quốc có thể xuất cảng rẻ, là công xưởng cho thế giới, và giúp nhà nước độc quyền thu về một lượng ngoại tệ kỷ lục có lúc lên tới bốn ngàn tỷ đô la làm dân Mỹ hãi sợ vì trong đó có hơn ngàn tỷ là cho Mỹ vay. Bất trắc lớn là trong cơ chế ấy, các đảng viên cán bộ cao cấp của khu vực nhà nước và ở địa phương thì làm giàu dễ nên ủng hộ chiến lược cũ và cản trở việc cải sửa với lý do là sợ giảm đà tăng trưởng.

Thế rồi vì đà tăng trưởng nhờ đầu tư mạnh bắt đầu giảm và kinh tế toàn cầu bị suy trầm nên hãm đà tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc cho nên kể từ năm 2008, lãnh đạo ồ ạt bơm tiền kích thích sản xuất. Tín dụng quá rẻ, lại dồn vào thành phần kinh tế nhà nước và đảng bộ địa phương nên thổi lên bong bóng đầu cơ trong tình trạng nợ quá sức trả. Trong khi đó, tư doanh mới là lực lượng tạo ra việc làm nhờ tiểu doanh thương thì không dễ vay tiền từ hệ thống chính thức, họ phải vay gián tiếp qua thị trường chui, hay tín dụng ngoại ngạch, shadow banking, với lãi suất cắt cổ và chỉ có thể hoàn trả nếu đầu cơ theo lối chụp giựt đầy rủi ro. Hậu quả là kể từ 2008, kết số nợ của các cấp nhà nước công và tư nhân đã tăng hơn sản lượng cả năm, bên trong có nhiều khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Mà xấu đến cỡ nào thì không ai đoán biết được.

Vì vậy, ngày nay, Hoa Kỳ cũng lại Sợ Tầu. Nhưng là nỗi sợ ngược: Sợ kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề, hoặc hạ cánh tan tành rồi sẽ bị khủng hoảng tài chánh vì gánh nợ.

Kết luận ở đây là gì?



Nền kinh tế đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ là Nhật Bản đã bị khủng hoảng từ năm 1991 mà kinh tế Hoa Kỳ không bị ảnh hưởng nặng. Ngày nay, nếu mà nền kinh tế hạng nhì là Trung Quốc có bị khủng hoảng thì hậu quả kinh tế cũng chẳng đáng ngại.

Nhưng hậu quả chính trị lại khác, vì Nhật Bản là đồng minh của Mỹ mà Trung Quốc thì không.

Ðấy mới là chuyện đáng lo và đáng theo dõi khi Mỹ-Hoa có thượng đỉnh vào cuối Tháng Chín này.

Posted: Wed Sep 16, 2015 6:03 am
by khieulong
Image



Thảm Trạng Di Dân Âu Châu


Vũ Linh
...những xung đột đã có từ cả ngàn năm nay trong vùng này...

Dân tỵ nạn ta quá quen thuộc với những hình ảnh tàn khốc nhất do chiến tranh tạo ra. Ba chục năm chiến tranh đã khiến chúng ta chai đá rất nhiều. Dù vậy, bức hình một bé trai ba tuổi nằm chết, gục mặt xuống bãi biển Âu Châu chắc chắn đã gây xúc động mạnh. Đó là bức hình chấn động lương tâm nhân loại, bất kể bảo thủ, cấp tiến, Mỹ hay Tàu, trắng hay đen. Một bức hình không cần chú thích diễn giải, nhưng mang nhiều ý nghiã hơn tất cả mọi lời bàn.

Nó biểu tượng cho một thảm họa xưa hơn trái đất: người dân vô tội trốn chạy chiến tranh bằng mọi giá.

Chuyện trốn chạy chiến tranh không xa lạ gì đối với dân Việt chúng ta. Mùa Xuân kinh hoàng của 1975 đã chứng kiến hàng trăm ngàn người trốn chạy bị chết trên Cao Nguyên, trên Đèo Hải Vân, trên bãi Sơn Trà,... Dân tỵ nạn bên Âu Châu bây giờ ít nhất cũng không bị quân CS đuổi theo xả súng bắn loạn đả vào đám đông. Chưa nói đến cảnh cả trăm ngàn người lênh đênh trên những con thuyền ọp ẹp, nhắm mắt ra khơi mà không biết đi đề đâu.

Nhìn thấy cảnh di tản bên Âu Châu ngày nay, ai cũng thấy ba câu hỏi lớn nhất: tại sao, phải làm gì và rồi sẽ ra sao.

TẠI SAO

Không kể thời thượng cổ cách đây mấy chục ngàn năm mà chúng ta chẳng biết gì nhiều, kể từ 4-5000 năm gần đây, ta đã thấy chiến tranh tại đây. Từ tranh chấp giữa các đế chế Ai Cập và Ba Tư, đến thời Hy Lạp với đại đế Alexander, rồi thời La Mã với Julius Ceasar, đến thời Thập Tự Chinh, rồi đế quốc Ottoman, qua thời các đế quốc Âu Châu tranh dành đất đai và ảnh hưởng, các cuộc chiến dành độc lập, rồi đến lịch sử cận đại với cuộc chiến sống còn giữa Do Thái và Ả Rập. Cuối cùng là cuộc “thánh chiến” của Hồi giáo cực đoan.

Đúng như cựu thủ tướng Anh, Winston Churchill, đã nói, “chiến tranh là trạng thái bình thường, hoà bình mới là tai nạn”.

Việc vùng này là vùng bất ổn rất dễ hiểu nếu nhìn vào bản đồ thế giới.

Đây là ngã ba giữa Âu, Á và Phi Châu. Nhân loại thời ăn lông ở lỗ xuất phát từ Phi Châu thật, nhưng phải nói là văn minh nhân loại thực sự xuất phát từ Trung Đông, từ Ai Cập qua Iraq ngày nay. Hai con sông lớn, Nile và Tigriss là hai bầu sữa đầu tiên của nhân loại. Ngày nay, từ Âu qua Á, từ Á qua Phi, đều phải đi qua vùng này. Một vùng đất chiến lược sinh tử. Là ngã ba trộn chấu của ba sắc dân Âu, Á và Phi.

Cũng là thánh địa của ba tôn giáo lớn là Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Cho dù ba tôn giáo này có gốc gác rất gần nhau khiến người ta có cảm tưởng là cả ba đều cùng một xuất xứ, cùng cha mẹ, nhưng rồi tranh cãi qua bao đời, bao kiếp, đưa đến huynh đệ tương tàn khốc liệt nhất.

Ngày nay, Trung Đông là vùng lửa đỏ cháy rừng rực khắp nơi, từ Libya qua Pakistan, từ Thổ Nhĩ Kỳ xuống Sudan.

Nhiều người đổ cho Mỹ và Tây Phương phải chịu trách nhiệm.

Những người chống TT Bush sẽ đổ lỗi cho ông đã tạo ra bất ổn -destabilization- khi mang lính Mỹ đi đánh Afghanistan và nhất là Iraq. Vì tính phe phái, họ nhắm mắt không nghĩ đến chuyện Hồi giáo quá khích đã đánh Mỹ trước, từ năm 1993 dưới thời TT Clinton chứ không phải từ 9/11. Năm 1993, Nữu Ước bị đặt bom, nhưng TT Clinton không trừng phạt cũng chẳng phòng ngừa, đưa đến 9/11. TT Bush không muốn sai lầm lần thứ hai, quyết định trừng phạt (Afghanistan) và phòng ngừa (Iraq).

Trước khi TT Bush đánh hai xứ này thì Trung Đông ổn định thật. Nhưng cái ổn định này là giả tạo hoàn toàn. Vì đó là ổn định trong gông cùm của các chế độ độc tài tàn bạo nhất, từ Libya với Khaddafi, đến Syria với các tổng thống cha truyền con nối họ nhà Assad, qua tới Iraq của Saddam Hussein, Iran của các Ayatollah cuồng tín, Pakistan của quân phiệt, và Afghanistan của các mullah Taliban tàn ác nhất. Một cuộc ổn định chính trị trên xác hàng trăm ngàn người dân vô tội.

Những người chống TT Obama sẽ nhắc nhở thời của ông cũng là thời khủng bố ISIS lớn mạnh như thổi vì sự yếu đuối của Mỹ. Họ cũng sẽ nói nếu TT Bush có tội tạo bất ổn khi loại Saddam, thì TT Obama cũng có tội tạo bất ổn tại Libya khi can thiệp giết Khaddafi. Ít ra Bush có lý do loại Saddam vì sợ vũ khí giết người tập thể. Obama chẳng có lý do gì giết Khaddafi. Một điểm nữa cũng cần phải nhắc. Bush tạo bất ổn tại Iraq, nhưng cũng cố gắng tìm cách xây dựng lại Iraq, tuy thất bại. Obama tạo bất ổn tại Libya, rồi mau mắn tháo chạy ngay, bỏ mặc đám phiến quân Libya tiếp tục giết nhau cho đến ngày nay.

Chiến tranh tàn khốc đã đẩy hàng triệu người đi tìm an bình. Hiện nay, có hai làn sóng di dân chính: một từ Syria và Iraq, trốn tránh quân ISIS, chạy qua Thổ Nhĩ Kỳ, rồi từ đó, tràn qua Hy Lạp và vùng Balkans bên Âu Châu, tìm cách chạy qua Đức và các nước Bắc Âu. Có thể nói đây là làn sóng tỵ nạn, nạn nhân của việc Bush đánh Iraq. Làn sóng thứ hai từ Libya vượt biển Điạ Trung Hải qua Ý và Hy lạp, rồi đi lên Tây Âu, mỗi ngày cả ngàn người vượt biển. Đây có thể nói là làn sóng tỵ nạn, nạn nhân của việc Obama đánh Libya.

Thật ra, nếu nói trách nhiệm thì chính phủ các nước Syria, Iraq và Libya có trách nhiệm phải bảo vệ dân của họ. Nhưng các chính quyền này thực tế đang... lo đánh nhau, chính là thủ phạm tạo ra tình trạng chiến tranh khiến thiên hạ phải trốn chạy.

Tuy nhiên, cũng phải nói Mỹ và các cường quốc Tây Âu cũng đã có trách nhiệm rất lớn. TT Bush đánh Iraq và TT Obama đánh Libya, cả hai cùng tạo bất ổn, cùng đánh với các đồng minh Âu Châu. Người tám lạng, kẻ nửa cân, khỏi tranh cãi ai tội nặng hơn ai làm chi cho mệt.

Bây giờ, sau khi quậy nồi cháo heo lên, vì nhát gan, cả Mỹ lẫn Tây Âu đã thủ cẳng, đứng ngoài nhìn cuộc chiến đẫm máu tiếp diễn tại Trung Đông, nhìn TT Assad giết hàng trăm ngàn dân bằng bom hoá chất, nhìn ISIS cứa đầu hàng trăm ngàn dân khác, nhìn các phe phái giết nhau loạn xà ngầu ở Libya.

Những đệ tử của TT Obama vỗ tay hoan hô chính sách không xiá vào chuyện thiên hạ của ông tổng thống Nobel Hoà Bình. Bây giờ không còn lính Mỹ chết, chỉ có mấy tên Hồi giáo cuồng tín giết nhau, cho chúng chết bớt là vừa. Nếu bây giờ ta chấp nhận lý luận này thì cũng có nghiã ta hoan nghênh Mỹ bỏ Nam VN thôi. Vì đây cũng là lý luận của khối cấp tiến ngày trước khi muốn tháo chạy khỏi VN. Mỹ rút, lính Mỹ hết chết, chỉ còn lại mấy tên Việt giết nhau, kệ chúng.

Ở đây, cũng phải nói thêm là dĩ nhiên một số lớn trốn chạy chiến tranh, nhưng cũng có một số không nhỏ thuộc loại “tỵ nạn kinh tế”, đi tìm một chỗ sống và làm ăn khá giả hơn. Cái hình em bé trai gục chết trên bãi biển, thật ra có mặt trái không đẹp lắm. Bố mẹ em là dân gốc Syria thật, nhưng đã sống lâu năm tại Thổ Nhĩ Kỳ rồi. Anh bố muốn lợi dụng cơ hội, chạy qua Đức … làm lại bộ răng mới! Trước có bộ răng mới, sau hy vọng ở lại, có việc làm lương cao hơn. Vì bộ răng mà cả vợ lẫn hai con đều chết thê thảm.

.

PHẢI LÀM GÌ?

Các cường quốc Âu Mỹ là những quốc gia ổn định, phú cường, là giấc mơ thu hút cả thiên hạ, đó không phải là cái tội. Và họ tuyệt đối chẳng có trách nhiệm phải cứu giúp, mang dân nghèo khổ của cả thế giới về nước của họ để họ cong lưng đóng thuế nuôi khối tỵ nạn. Các ông Trung Đông đánh nhau chị choé từ đời này qua kiếp nọ, vì đủ mọi lý do, từ chính trị đến tôn giáo, đó là lỗi, là trách nhiệm của các ông.

Nói trách nhiệm cứu giúp về lý thì đúng vậy. Nhưng nếu nói về tình thì khác. Nếu mấy ông nhà giàu có dư thừa tiền bạc và khả năng, thì các ông cũng nên giúp những người nghèo khổ, cho phải đạo làm người. Nhung lụa đùm khố rách. Cho dù có trách nhiệm hay không.

Trong cái tình đó, dĩ nhiên cũng có cái lý. Khi các nước Âu Mỹ viện trợ các nước nghèo, cũng chẳng phải vì nhân đạo không đâu, mà để giúp dân nghèo khá hơn, có thêm ít tiền mua sản phẩm của các nước giàu, mua xe hơi, tv, tủ lạnh, computer,..., đều là sản phẩm của các nước giàu. Đồng thời giúp cho các nước nghèo khá hơn một chút cũng là giúp giảm bớt mâu thuẫn xã hội, cái lò sản xuất những chủ thuyết cực đoan nhất, từ đó đưa đến bất ổn chính trị và chiến tranh.

Các quốc gia Tây Âu và các cường quốc khác đất rộng, tiền nhiều, người ít ngoài Âu Châu, như Mỹ, Canada, và Úc Châu, đều cần phải...”làm một cái gì” để giúp những nạn nhân khốn khổ của chiến tranh Trung Đông ngày nay, không cần biết ai lỗi ai phải. Một đại cường như Mỹ có nhận thêm một hai triệu người thì cũng chỉ là chuyện “muỗi đốt gỗ”. Nhật là cường quốc, nhưng hết đất rồi. Trung Cộng và Nga thừa đất, nhưng bảo đảm không một anh tỵ nạn nào xin đi Tân Cương hay Siberia.

TT Obama quyết định nhận 10.000 người tỵ nạn Syria là một bước tiến đúng hướng vì ông không có lựa chọn nào khác. Nhưng nghe như trò đùa. Trong khi Đức dự tính nhận 800.000 người mà Mỹ nhận 10.000 thì thật khó ăn nói với thế giới. Cái tư thế “lãnh đạo thế giới” có còn không? Ông Nobel Hoà Bình chỉ làm được vậy thôi sao? Dù muốn hay không, dù biện giải cách nào thì cũng phải nhìn nhận các TT Bush và Obama có trách nhiệm lớn nhất cho những gì đang xẩy ra tại Trung Đông.

Ứng viên tổng thống Scott Walker của Cộng Hoà chống việc nhận thêm dân tỵ nạn sau khi Mỹ đã nhận 1.500 người từ Syria (tính cho đến nay). Đây là thái độ ích kỷ, thiển cận, dựa trên tính toán đa số cử tri Mỹ trắng sẽ không muốn chấp nhận dân Trung Đông. Ông viện cớ Mỹ đã chi 4 tỷ đô giúp dân tỵ nạn rồi. Đây là cách nhìn kiểu tư bản Mỹ, chỉ thấy tiền không thấy gì khác, chẳng cần biết tình người, mà cũng chẳng thấy về lâu về dài, khối dân tỵ nạn đó sẽ đóng góp lại bao nhiêu tiền, bao nhiêu thuế, bao nhiêu nhân tài cho nước Mỹ.

Ngày xưa, khi bàn về chuyện nhận dân tỵ nạn VN, các ông Jerry Brown, Joe Biden chống đối vì lo ngại Mỹ tốn tiền rước một đống rác thối vào nhà. Đó cũng là quan điểm chung của khối Dân Chủ thời đó.

Công bằng mà nói, không phải ông bà chính khách Dân Chủ nào cũng vậy. TNS cấp tiến nhất, Ted Kennedy, đã đứng đầu tầu, tích cực vận động các đồng chí để Mỹ nhận dân tỵ nạn Việt. Ông làm gương, nhận một trẻ em mồ côi VN làm con nuôi. Nhờ sự tích cực của ông mà cuối cùng quốc hội đã chấp nhận đề nghị nhận dân tỵ nạn VN của TT Ford. TNS Joe Biden phản đối, tẩy chay không bỏ phiếu (mai này, nếu cụ Biden có ra tranh cử tổng thống, cử tri tỵ nạn ta nên suy nghĩ ba phút trước khi bỏ phiếu cho cụ nhé!).

Cuối cùng thì ngày nay, họ đã thấy tuyệt đại đa số cái đám rác này đã đóng góp rất lớn cho nước Mỹ, từ ông tướng nhẩy dù cho đến các thanh niên gốc Việt hy sinh trên chiến trường Iraq/Afghanistan, từ các khoa học gia đến các doanh gia thành công nhất. Bãi rác Bolsa –thật sự trước 75 gần như là bãi rác- đã trở nên khu phố phồn vinh không thua gì bất cứ khu phố Mỹ nào khác. Dân tỵ nạn ta đã trả đầy đủ món nợ với nước Mỹ cả vốn lẫn lãi sau khi họ giúp ta lập lại cuộc đời tại đây.

Tại sao ông Walker không nghĩ dân tỵ nạn Syria và Libya, nếu giúp họ lập lại cuộc đời tại đây, cuối cùng thì họ cũng sẽ đóng góp lớn cho cái quê hương thứ hai này của họ? Không khác gì dân tỵ nạn chúng ta.

.

RỒI SẼ RA SAO?

Tình hình Âu Châu hiện nay rối bù, chẳng ai biết phải làm gì, rồi sẽ ra sao. Dân Âu Châu bối rối, phân vân, lưỡng lự. Một mặt hoảng sợ trước làn sóng dân Ả Rập tràn qua, mặt khác day dứt vì tình người. Các chính quyền Âu Châu cũng gãi đầu gãi tai không biết phải làm gì.

Cái đau đầu đầu tiên là tình trạng kinh tế Âu Châu nói chung không sáng sủa lắm. Gồng gánh thêm cả triệu di dân sẽ tạo thêm khó khăn chồng chất.

Giải quyết như thế nào những khó khăn cụ thể nhất thời như mang họ đi đâu, định cư cách nào, tốn bao nhiêu tiền. Một nước với nền kinh tế như Hy Lạp sẽ chết tức thời. Ý và Tây Ban Nha sẽ gặp khó khăn tầy trời. Nhưng Đức thì dư thừa tiềm năng nhận cả triệu người nữa. Bà thủ tướng Merkel đã trích ngay 6 tỷ đô trong ngân sách để chu cấp việc định cư dân tỵ nạn. Đây chỉ là số tiền đầu, sơ khởi.

Ngày xưa, Tây Đức bất ngờ “lãnh buá” khi bức tường Bá Linh xụp đổ, gánh ngay cả chục triệu dân Đông Đức nghèo sơ xác về nuôi. Hai thập niên sau, nước Đức vẫn là cường quốc mạnh nhất Âu Châu.

Các vị lãnh đạo Âu Châu cũng đau đầu về tình hình xã hội về lâu về dài.

Ngày nay, ai cũng nhìn thấy số dân gốc bắc Phi và trung đông tại Âu Châu, có thể đã quá nhiều, nhất là tại những xứ “thiên đường” nhất nhưng cũng là nhỏ nhất như Đan Mạch, Hòa Lan và Bỉ. Tại Pháp, một vài khu vực của các tỉnh lớn nhất như Paris, Lyon, Marseilles, đã hầu như trở thành tiểu quốc Ả Rập hay thuộc điạ của Maroc hay Algerie.

Cái khổ là những khối dân này không chịu hòa nhập, vẫn giữ nếp sống, văn hoá, khẩu vị ăn uống, ngôn ngữ, và nhất là tôn giáo gốc của mình. Từ đó đưa đến không biết bao nhiêu xung đột giữa khối di dân này với dân bản gốc.

Nhưng đây cũng không phải là chuyện đau đầu lắm. Hầu hết các thành phố lớn ở Âu Châu đều đầy di dân gốc bắc Phi hay Ả Rập, nhưng chẳng khi nào có đánh giết gì nghiêm trọng. Trong quá khứ, ta đã thấy dân gốc bắc Phi vùng ngoại ô Paris biểu tình, đốt xe, v.v..., nhưng thực tế là nổi loạn vì lý do kinh tế, khi khoảng 40%-50% giới trẻ ở đây thất nghiệp, bực mình, nổi loạn. Dĩ nhiên họ không chết đói vì được Nhà Nước Pháp nuôi rất kỹ, nhưng ở không ăn trợ cấp mãi cũng mất nhân cách, bực mình, nổi cơn điên nên chống đối. Họ nổi loạn chẳng phải vì lý do tôn giáo hay sắc dân.

Cái đau đầu lớn hơn nữa là ai cũng sợ các nhóm khủng bố ISIS, Al Qaeda,... sẽ trà trộn vào đám dân tỵ nạn, sau này sẽ khuấy động cộng đồng tỵ nạn này, hay không chừng thi hành những vụ tấn công cảm tử chống các chính quyền Âu Châu. Việc thâm nhập này hầu như chắc chắn đang xẩy ra và các xứ Âu Châu đang bù đầu tìm cách chống đỡ. ISIS huyênh hoang hù dọa đã có 4.000 tay súng được gửi qua Âu Châu. Chỉ là phóng đại lố bịch. Dù vậy vài trăm tên xâm nhập là chuyện rất có thể. Ta cũng không nên quên bên Âu Châu, mua súng đạn, thuốc nổ chế tạo bom không phải dễ, không có chuyện cả ngàn tên khủng bố mua bom đạn như mua quần áo.

Bà Ann Coulter, một bình luận gia cực hữu, chống lại việc nhận dân tỵ nạn Trung Đông vào Mỹ, đưa ra danh sách 4-5 tên khủng bố đã giết dân Mỹ từ sau 9/11. Từ ngày đó tới nay, Mỹ đã nhận cả trăm ngàn dân tỵ nạn từ Somalia, Sudan, Iraq, Afghanistan, tổng cộng có cả triệu dân Hồi giáo Trung Đông đang sống ở Mỹ. Chỉ có 4-5 tên khủng bố thì đúng ra, không phải là cái gì ghê gớm làm phiền giấc ngủ của bà.

Dĩ nhiên khủng bố len lỏi là một tai hoạ khó tránh. Nhưng không thể vì vài trăm tên khủng bố mà nhắm mắt trước cảnh khổ của cả triệu người khác. Khủng bố thắng nhờ... khủng bố tinh thần thiên hạ. Chúng ta không thể chịu thua, run sợ, đầu hàng khủng bố dễ dàng như vậy.

Phát ngôn viên Nhà Trắng tuyên bố phải trực diện căn gốc của vấn đề, tức là phải giải quyết những xung đột chính trị và tôn giáo tại Trung Đông trước thì mới giải quyết được nan đề tỵ nạn. Đây là chuyện kiếm cớ qua lý thuyết mộng tưởng. Chẳng thể nào ai có thể giải quyết được những xung đột đã có từ cả ngàn năm nay trong vùng này. Cho dù có làm được thì cũng cần thời gian vài ba chục năm là ít. Trong khi khối dân tỵ nạn sống chết từng ngày, không thể chờ các chính khách cãi nhau cả chục năm được.

Cho dù cả thế giới chẳng có lỗi gì, chẳng phải là thủ phạm gây ra cảnh tang thương cho đám dân tỵ nạn, nhưng trách nhiệm lo cho họ là trách nhiệm của cả nhân loại, cho dù chỉ vì lý do nhân đạo. Các cường quốc Âu Châu và nhất là Mỹ có dư thừa tiềm năng lo cho họ, và cần lo cho họ nhiều hơn nữa, cho dù sẽ gặp ít nhiều khó khăn kinh tế, xã hội nội bộ.

Đối với dân tỵ nạn ta, ngày xưa, ta cần được nước Mỹ cho tá túc, bây giờ ta đã thành công dân Mỹ, không lẽ ta hoan hô việc đóng cửa không cho dân tỵ nạn khác vào? (13-09-15)

Vũ Linh

Posted: Fri Sep 18, 2015 4:12 pm
by khieulong

Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?


Image
Công ty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án.
14.09.2015

Tháng 6/2006, Bộ Kế hoạch - Đầu tư chính thức cấp giấy phép đầu tư cho dự án khu du lịch và giải trí quốc tế đặc biệt tại Đà Nẵng cho Công ty Silver Shores, một Cty Mỹ ở California, tổng vốn đầu tư 160 triệu USD.

Với hai giai đoạn đầu tư, Cty TNHH Đầu tư và Phát triển Silver Shores, pháp nhân thực hiện dự án, được giao ngót 1km dọc theo bờ biển Sơn Trà – Điện Ngọc, nay là đường Võ Nguyên Giáp. Nếu tính khoảng cách trung bình từ đường Võ Nguyên Giáp đến bờ biển là 300m thì diện tích đất mà chủ đầu tư được giao phải lên tới 30ha.

30ha đất, chạy dọc theo 1km bờ biển, toạ lạc ở trung tâm một thành phố quan trọng bậc nhất như Đà Nẵng, đối diện với sân bay Nước Mặn… rõ ràng đây là một địa điểm hết sức nhạy cảm về an ninh - quốc phòng.

Ngay từ giai đoạn khởi công, dự án này đã có nhiều khuất tất, mờ ám, khiến dư luận rất lo ngại. Tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát đều do nhà thầu Trung Quốc đảm trách. Người Việt Nam không được phép bén mảng vào trong khu vực thi công; ô tô của người Việt Nam chở vật liệu xây dựng cho công trình cũng phải dừng lại và đổ hàng ở cổng. Các toà nhà được đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không phải xây bằng gạch thường.

Image
'Tiểu quốc' Silver Shores của Đại Hán ở Đà Nẵng (ảnh: Lê Anh Hùng)

Hiện nay, “nhà đầu tư” Silver Shores đang thực hiện giai đoạn hai của dự án. Và, giống như giai đoạn 1, tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát cũng đều do người Trung Quốc đảm trách. Nhà thầu thi công là Cty TNHH Hoa Tây Tứ Xuyên, một Cty con của Cty Hoa Tây Trung Quốc
Image
Cty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án

Image
Người Trung Quốc đang làm gì bên trong bức tường rào và cánh cổng im lìm trên khu đất mặt biển dài 1km và rộng 30ha ngay trung tâm Đà Nẵng?

Không chỉ là chủ đầu tư của dự án hết sức nhạy cảm nói trên, Cty Silver Shores còn nhắm đến nhiều vị trí nhạy cảm khác mà báo chí đã nêu: tham gia góp vốn vào dự án khu nghỉ dưỡng World Shine trên đèo Hải Vân (nay đã tạm dừng trước sự phản đối gay gắt của dư luận); xin thực hiện dự án tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu vực bán đảo Sơn Trà (1 trong 3 vị trí phòng thủ quan trọng nhất khu vực Đà Nẵng là Hải Vân – Sơn Trà – Phước Tường), dự án “Khu ký túc xá cho nhân viên Silver Shores” (nằm giữa hai trận địa pháo phòng không của thành phố), dự án “Khu phức hợp bến cảng du thuyền trên sông Hàn” tại khu vực cảng cá Thuận Phước (cũ) thuộc phường Thuận Phước (quận Hải Châu), dự án “Tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu bán đảo Sơn Trà và mở rộng phạm vi du thuyền 20 hải lý”, dự án “Chuyên canh rau sạch” tại thôn Cẩm Toại Tây (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang; nằm trên đường rút lui chiến lược quốc phòng), v.v.
Image
Một trong những khách sạn của người Trung Quốc nằm đối diện khu du lịch Silver Shores trên đường Võ Nguyên Giáp, Đà Nẵng
Image
Hai bên con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, đang dần trở thành một “đặc khu Trung Quốc”
Những người lái xe taxi trước sòng bài cho chúng tôi biết, các khu đất đối diện với khu du lịch và sòng bài Silver Shores bên kia đường Võ Nguyên Giáp đều đã được bán cho người Trung Quốc. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành một khu phố Tàu, hay đúng hơn là một “đặc khu Trung Quốc” giữa lòng thành phố Đà Nẵng.

Đến đây thì có lẽ ngay cả những ai ngây thơ nhất cũng phải đặt câu hỏi: Vậy Silver Shores là Cty của Mỹ hay của Trung Quốc?

Theo trang Bizapedia và trang BusinessesCalifornia thì Silver Shores Ltd. được thành lập ngày 22/11/2004 tại California; địa chỉ: 1440 142Nd Ave,, San Leandro Ca 94578; hiện đã giải thể. Trụ sở chính của Cty: Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Trang California Corporates cho biết Silver Shores Ltd. được đăng ký thành lập ngày 22/11/2004; địa chỉ: 1440 142Nd Ave,, San Leandro Ca 94578; Cty mẹ là Silver Shores Ltd., tại địa chỉ Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Theo trang AMFIBI thì Cty Silver Shores Ltd. ở California có doanh thu hàng năm từ 725.000 – 750.000USD, với số nhân sự dao động từ 1–4 người.

Trang Buzzfile cho biết nhân sự của Silver Shores Ltd. gồm… 2 người.

Như vậy, có thể khẳng định Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ) là một Cty ma của Trung Quốc, không điện thoại, không email, không website, và đã biến mất sau khi hoàn thành “sứ mạng” của mình.

Việc các ông chủ Tàu cố che dấu lai lịch Trung Quốc của Silver Shores rõ ràng là để dễ bề nhắm đến những vị trí nhạy cảm về an ninh - quốc phòng ở Đà Nẵng nhiều năm qua.

Chưa hết, mặc dù từng thành lập chi nhánh ở Mỹ và là chủ đầu tư của những dự án hàng trăm triệu USD ở Việt Nam, song Cty Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông lại không có website riêng cũng như bất cứ thông tin gì trên mạng. Thông tin duy nhất mà chúng tôi tìm thấy liên quan đến cái tên Silver Shores tại Hồng Kông nằm ở trang Hong Kong Company List và trang Hong Kong Company Directory; nhưng đây lại là Silver Shores International Limited., chứ không phải Silver Shores Ltd., và thời điểm đăng ký thành lập là ngày… 26/9/2013. Thông tin đó được hai trang mạng trên lấy từ chuyên trang Integrated Companies Registry Information System (Hệ thống Thông tin Đăng ký Doanh nghiệp Hợp nhất) nằm trong website của Companies Registry (Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp) thuộc Đặc khu Hành Chính Hồng Kông:
Image
Ảnh chụp thông tin về Cty “Silver Shores International Limited” trên website của Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp Hồng Kông

Như vậy, Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông (Trung Quốc), Cty mẹ của Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ), cũng là Cty ma nốt. Đằng sau chúng rõ ràng là những bàn tay đạo diễn mờ ám.

Điều tra nguồn gốc một Cty không phải là điều gì đó quá khó khăn, nhất là với một bộ máy quản lý nhà nước khổng lồ, một lực lượng “an ninh nhân dân” hùng hậu mà năng lực điều tra thuộc loại “hàng đầu thế giới” như ở Việt Nam. Vậy nên việc nhà chức trách Việt Nam dễ dàng để lọt lưới một Cty ma, và dĩ nhiên chưa bao giờ hoạt động trong những ngành đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và năng lực quản lý như khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài, là điều hết sức khó hiểu.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Ai là đã “rước” một Cty Trung Quốc trá hình và mờ ám vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng? Quan trọng hơn, hiểm hoạ mang tên “Silver Shores” kia cần phải được ngăn chặn và loại trừ như thế nào?
_________

Ghi chú:


Silver Shores nhận được sự ưu ái đặc biệt không chỉ của chính phủ mà cả lãnh đạo Tp Đà Nẵng.

Dự án này được giao đất sử dụng trong vòng 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai 2003.

Ngày 14/4/2014, trong buổi làm việc với Đảng bộ, chính quyền Tp Đà Nẵng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét để Đà Nẵng mở rộng thêm bàn chia bài ở khu du lịch quốc tế Silver Shores.

Tháng 9/2012, trong một buổi làm việc với Cty Silver Shores, ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng đã “đề nghị UBND Tp Đà Nẵng tổ chức một cuộc họp liên ngành thuế, tài chính và UBND Thành phố, nhằm tìm ra hướng giải quyết tốt nhất” cho khoản nợ thuế lên tới 28 tỷ VNĐ của Silver Shores. Người đứng đầu Tp Đà Nẵng thậm chí còn phát biểu: “Các ngân hàng cứ yên tâm cho Silver Shores vay tiền để họ triển khai thật tốt giai đoạn II. Khi Dự án hoàn thành thêm 1.000 phòng, kết hợp với khu vui chơi có thưởng, khách du lịch sẽ ào ào kéo đến chơi, nghỉ dưỡng…thì sợ gì thiếu tiền để trả.”

Khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài là những ngành kinh doanh có tính đặc thù rất cao. Vì vậy, đằng sau các dự án đầu tư trong các lĩnh vực này thường là những thương hiệu lớn với bề dày kinh nghiệm lâu năm thì mới có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

Xem ra, giống như dự án Formosa Hà Tĩnh, một doanh nghiệp Trung Quốc chưa từng sản xuất thép lại được giao một phần lãnh thổ bằng 1,2 lần diện tích Macao ở vị trí cực kỳ xung yếu trong 70 năm để… sản xuất thép, “vũ khí cạnh tranh” quan trọng nhất của Silver Shores ở Việt Nam cũng chính là những quan chức hoặc đã bán linh hồn cho quỷ, hoặc đã mờ mắt vì tiền.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Lê Anh Hùng


Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Posted: Mon Sep 21, 2015 6:47 am
by vuphong
Image

Những người Việt tỵ-nạn rất ngây thơ, dễ tha-thứ và chóng quên !!!

Nhớ lại ngày nào, những loạt pháo-kích vội vàng không cần trúng mục tiêu, rơi vào thành phố, những vụ đặt chất nổ nơi chốn đông người và được tính toán cẩn thận để càng chết nhiều càng tốt !!! Thảm-trạng năm Mậu-thân, đại-lộ kinh-hoàng của mùa hè đỏ lửa. Kẻ tự nhận mình là giải-phóng quân, đã giải-phóng biết bao nhiêu là mạng sống của thường dân vô-tội trong đó có biết bao nhiêu là đàn bà và con trẻ. Ngày chiếm được miền Nam, những người CS đã lấp liếm che dấu tất cả những hành động bất nhân của họ trong thời chiến, tận dụng tất cả phương tiện và quyền lực của kẻ thắng trận để bôi bác và đổ hết tội lỗi lên đầu lũ bại binh.

Hoà bình tới, hàng hàng lớp lớp người chiến bại bị lường gạt đưa hết vào trại tập-trung, và bao nhiêu người đã bỏ mạng nơi thâm sâu cùng cốc ?

Bao nhiêu gia đình tan nát, thất-lạc tứ tán, bỏ thây trên biển cả khi cái gọi là nhà nước nhân dân toa rập bán bãi vượt biên để lột hết vàng của dân, tiền thì cơ-quan quyền-lực nhà nước cấu-kết chia nhau, dân nếu may mắn còn được cái quần xà lỏn đến bến bờ tự đo thì để đế-quốc nó nuôi. Để bào chữa cho hành động vô nhân này là một chiến dịch bôi bác người tị nạn nào là ‘‘ôm chân đế-quốc, một lũ bồi bếp, lưu-manh đĩ điếm, mê bơ thừa sữa cặn….’’

Ngày mà chế độ đổi tiền lần đầu, lúc đó tôi còn trốn chui trốn nhủi khi thì ở trong ruộng rẫy miền Phương-Lâm, lúc thì chuồn về Sàigòn. Từ sáng đến gần trưa, xe phóng thanh đi vòng khu phố lải nhải yêu cầu đồng-bào làm ăn buôn bán bình thường, đừng nghe tin đồn thất thiệt là có đổi tiền. Đúng 12 giờ trưa cũng chiếc xe đó thông báo giới nghiêm và thể thức đổi tiền trên cả nước. Có cái chính-phủ nào trên trái đất này có thể làm một chuyện chó má như thế, trừ nhà nước xã-hội chủ-nghĩa Việt-nam !!! Mỗi gia đình chỉ được đổI 200 $ (một đồng tiền ‘‘giải phóng’’ phải trị giá bằng 500 lần tiền ‘‘ngụy’’ cơ, và như các bạn đã thấy sau này tiền phỏng giái mất giá ra sao !). Mỗi nhà chỉ có hai trăm mà sao, sau vài tháng ‘‘tiền giải phóng’’ dầy dặc mọi nơi ? Xin thưa là nhà nước nhân dân phát cho cán-bộ, cơ-quan vô tội vạ để đám này vơ-vét hết của cải trong Nam, hàng họ trong Nam kìn kìn chở ra miền Bắc xã-hội chủ-nghĩa giầu đẹp. Dân miền Nam bị nhà nước nhân dân vớt đẹp cú đầu-tiên. Sau đó là đánh tư-sản mại-bản, tư-sản dân-tộc, thật là đủ trò ma mãnh.


Ngày đặt chân xuống tầu vượt biên, trăm người như một thề không đội trời chung với CS. Sang được vùng đất tự đo cuộc sống đầy đủ, ít nhất là không chật vật vì miếng cơm, manh áo, các quyền tự đo được phục hồi, nỗi tức giận từ từ biến đi và rồi người tỵ nạn quay trở lại với những tình cảm, những quyến luyến một thời của quê hương đã mất… Những con cáo già ở Bắc bộ phủ tâm-lý hơn ai hết đã nghĩ trước đến vấn đề này, họ hiểu rằng thời gian rồi sẽ qua đi, mọi chuyện sẽ trôi vào dĩ vãng và rồi đám người Việt quốc-gia nặng đầu óc uỷ-mị tiểu tư sản này rồi cũng sẽ quên cả thù cha, nợ nước và lại lần lượt chui vào bẫy lớn, bẫy nhỏ do đảng và nhà nước giăng ra.

Lịch-sử đã chứng minh điều đó, những lầm lỡ của cha anh, chúng ta lại đang bắt đầu lập lại. Chính-sách của CS là luôn luôn bịp bợm, họ tự nhận họ là hạng cùng đinh và dùng bất cứ mưu thần chước quỷ nào cũng được miễn là đạt được mục đích. Cứu cánh bện minh cho phương tiện đó là bài học nhập môn của họ. Có một hiệp-ước nào họ ký kết mà được thi hành nghiêm-chỉnh đâu ? Quân, cán chính của VNCH hiểu rõ điều này hơn ai hết. Họ luôn luôn áp dụng phương cách tẩy não, không nghe cũng bắt phải nghe, nghe hoài, nghe mãi cũng lọt lỗ tai và biến thành cái phải, chứng cớ là chúng ta có vài vị H.O đờ đờ, đẫn đẫn, ăn nói theo lập-trường CS và thời gian tính : để lâu cứt trâu cũng hoá bùn để hoá giải những hận thù do họ tạo ra. Và than ôi, người Việt quốc-gia trong vòng lẩn quẩn lại như một bầy thiêu thân lăn xả trở vào. CS rất là ngoan cố lúc nào cũng giải thích mọi sự kiện bằng lập luận hiện tượng và bản chất, và bất cứ cái gì xấu xa, đê tiện của họ cũng chỉ là hiện tượng mà thôi, còn bản chất thì rất tốt, và của đối phương thì dứt khoát hoàn toàn ngược lại. Giáo điều này dẫn đến sự bịp bợm không tránh khỏi của chế đô…

Sau ngày ‘‘phỏng giái’’, vào khoảng 77, 78 tôi có bà chị họ lấy một ông chồng tập kết, vào Nam để tiếp thu. Anh Chương, tên ông này đã từng được ưu đãi cho du-học bên Trung-cộng, khi vào Sàigòn được cấp một căn biệt thự ở đường Yên Đổ, có hai xe Peugeot 504 (tịch thu của người di tản) với tài xế và cận vệ. Bà chị thấy tôi đói rách thì thương, tuần nào cũng mời cậu em lên ăn cơm để bồi dưỡng một cách kín đáo, kiểu Bắc-kỳ. Riết rồi cũng thân thiết, lúc đó Việt-nam đói khổ lắm, bột mì, khoai lang và bo bo là tiêu-chuẩn của dân-chúng hàng ngày. Nhà anh Chương lúc nào cũng cơm gà, cá gỏi, rượu Martell, thuốc 555 mù-mịt. Một hôm trong bữa cơm, nói chuyện về lao động xã-hội chủ-nghĩa ở trường của mấy đứa nhỏ. Anh Chương la con : ‘‘Tụi bay phải đi lao động để biết rằng người nông dân cực khổ ra sao khi làm ra lúa gạo !’’. Mấy bữa sau, tôi thắc-mắc với bà chị về chuyện ấy, bà nói : ‘‘Ối dào, có mặt cậu thì ông ấy nói thế chứ đời nào ông ấy để con ông ấy đi !!!’’ - Trong nhà mà còn bịp nhau như thế há chi người ngoài ! Tôi trốn đi thoát giữa năm 78. Đến năm 80 tin nhà cho biết ông anh rể tập kết của tôi được gọi lên làm việc với cấp trên, vài hôm sau người nhà được thông báo lên nhận xác, lý do đương sự tự tử chết. CS thanh toán nhau như vậy là chuyện thường tình.

Sau ngày miền Nam mất vào tay CS, dân chúng nghe chế độ tuyên-truyền về sự hy-sinh của miền Bắc trong cuộc chiến, hột gạo cắn làm tư, một cho dân miền Bắc, một cho miền Nam và hai phần cho Lào và Miên. Họ quên một điều là tổng bí-thư của họ đã từng tuyên-bố là Việt-nam đánh Mỹ là đánh cho ông Liên-sô, ông Trung-quốc và thật sự gạo tiếp-tế cho cả miền Bắc và các chiến trường là của Trung-cộng chứ miền Bắc không khi nào có thể tự túc về lúa gạo (chúng ta bắt được bao nhiêu kho gạo trên đường Trường-sơn với hàng chữ Tầu : ‘‘Cộng hoà nhân dân Trung-hoa’’ ? vào sâu trong chiến trường phía Nam thì toàn gạo của miền Nam do hậu cần thu mua, có khi là gạo Thái-lan do Mỹ mua viện trợ cho miền Nam lúc đó, và lọt vào tay bọn ăn cơm quốc-gia thờ ma CS, chứ gạo nào của miền Bắc như Vẹm tuyên truyền !) Khi đó Nga và Trung-cộng có lý do chiến-lược để thúc giục VC làm cho thế giới có cảm tưởng Mỹ là kẻ gây hấn và sa lầy ở VN. Và Lê Duẩn, tên tội đồ khát máu của dân tộc đã trực tiếp xác nhận mình là kẻ đánh thuê cho quyền lợi của quan thầy.

Miền Nam ơi, CS vào Nam là để giải-phóng cái dạ dầy họ thôi, họ thèm khát cái vựa lúa miền Nam để nuôi sống cả nước, đó là cái nhìn chiến-lược. Nhìn lại mà xem, những gì xuất-cảng bây giờ toàn là của miền Nam, từ dầu thô, lúa gạo, tôm cá, trái cây đến cà-phê, cao-su, cho đến ngoại tệ mạnh là Mỹ-kim cũng do những người đã từng liều chết ra đi với đại đa số là ở miền Nam, giờ đây vì tình riêng (hoặc quyền lợi riêng hay thú vui đê hèn riêng) mang về tới tấp để gián tiếp phụ lực cho chế độ tồn tại. Ai giúp ta khi tự ta không giúp ta lại còn tiếp tay với quân thù.

Nhiều người nói với tôi ‘‘giờ đây tụi nó không phải là CS nữa rồi, về VN anh muốn làm gì thì làm miễn là đừng đụng tới chế độ’’. Họ vẫn chưa hiểu gì về CS, lùi một bước để tiến ba bước là chiến-thuật của CS từ xưa tới nay và họ đã áp dụng rất nhiều lần, chỉ có chúng ta là mau quên!


Tôi theo dõi báo chí của họ (để biết ta biết địch chứ ngôn từ, tin tức của bọn báo-chí quốc doanh thì toàn là một chiều và chán phè), cách đây vài tháng, họ tăng phụ cấp cho giới lãnh đạo ngành công-an và mới đây thăng cấp cả chục tướng công-an một lần. A, thì ra là thế, họ dùng công-an để kềm kẹp dân, chống đỡ cho chế độ. Cả miền Nam ngày xưa trong thời chiến, với bọn nằm vùng nhung nhúc mà cũng chỉ có hai tướng cảnh-sát, chế độ tự- nhận là của dân mà phải duy trì một lực lượng công-an mấy lần hơn trong thời bình, thì chúng ta có bị họ bịp nữa không ? Chẳng lẽ cứ 10 người dân lại cần một công-an canh chừng? Chế độ CS trên lý-thuyết là không cần đến cảnh-sát, công-an và cơ-quan công-quyền, họ tự mâu-thuẫn lấy họ hay là họ lại bịp nữa rồi !!! Marx và Angels có sống lại thấy trò láo khoét của đồ đệ chắc cũng phải đội quần.

Có người khi qua lại đây trở thành cái loa tuyên-truyền không công cho chế độ Nào là VN thay đổi nhiều lắm, nhà cao tầng, xa-lộ, cầu cống xây dựng mọi nơi… Họ có hiểu đâu những gì của đất nước đảng đã bán đắt, bán rẻ cho ngoại nhân để đổi lấy đời sống phè phỡn cho đám công thần CS và lũ con cháu họ, chứ đại đa số dân ‘‘vô-sản’’ thì giờ đây vẫn hoàn bần cố, cái này CS gọi là phồn-vinh giả tạo đó quý vị ạ !

Ngày xưa chính thể Cộng-hoà xây một cái cầu cho dân, sau đó lại phải nuôi một trung đội nghĩa-quân không sản-xuất để canh gác cái cầu đó. VC cũng có vài thằng du-kích không sản-xuất, bắt dân chứa chấp và nuôi dưỡng rồi rình rập để phá cái cầu, rồi một ngày, cây cầu cũng bị phá sập, thử hỏi thiệt hại biết bao nhiêu cho công quỹ quốc-gia, giờ đây ai phá của họ ?

Chỉ đáng ngạc nhiên là đã hơn 35 năm qua mà họ chỉ mới xây dựng được có bấy nhiêu mà đa số lại do tiền của ‘‘tư bản dẫy chết’’ ngoại quốc giúp đỡ !!! Cách đây khoảng chục năm, đã có bao nhiêu Việt kiều mang hết tiền dành dụm về đầu-tư vào nhà đất ? CS chờ cho vào rọ cả lũ, xong thay đổi luật lệ làm bao nhiêu người khóc dở, mếu dở. Bao nhiêu doanh gia làm ăn lớn với CS rồi cũng bỏ của chạy lấy người? Tù hay Tiền lựa cái nào, hỡi đám Vịt cừu ngây thơ?

Hết nhà thờ, đến chùa chiền; hết sư đến cha đến soeur lũ-lượt qua Mỹ quyên góp tiền của về xây nơi thờ tự, cho to hơn, đẹp hơn. Việc rất tốt để đẹp đạo, đẹp đời nhưng chỉ khổ cho con chiên, tín đồ bên này làm mửa mật ra để đóng góp, con chiên, tín đồ bên kia há miệng mắc quai ( chùa chiền, nhà thờ như thế thì đương nhiên là phải hạnh-phúc, no cơm ấm áo, tự do tôn-giáo chứ! (kêu ca cái nỗi gì?).Rốt cuộc chỉ có nhà nước CS là có lợi, được cả mọi bề, họ bịp được ta và bịp được cả thế-giới !

Mỗi khi có thiên-tai trong nước, người Việt khắp nơi mủi lòng thương đồng-bào khốn-khổ, quyên góp tiền bạc gởi về mua gạo củi cứu đói, trong khi đó chính-phủ nhân dân chứa gạo đầy trong kho chờ lên giá để xuất-cảng, và chỉ giúp đỡ nhỏ giọt cho người của họ (gia đình có chính sách) ! Thử suy-nghĩ như thế này nhé : Ta chí thú làm ăn, nhịn tiêu xài hoang phí để nuôi con cái nên người, có gia đình lối xóm, rượu chè, bài bạc, điếm đàng, con cái bỏ đói, bê tha. Thương mấy đứa nhỏ, ta muốn cho món quà, tấm bánh, nhưng bố mẹ chúng hoạnh hoẹ bắt ta ép đủ điều, phép tắc, thưa gửi này kia thì mới cho vào nhà và đòi tự tay phân phát cho mấy đứa nhỏ, bởi vì ti-tiện thay, họ có con yêu, con ghét và muốn dùng quyền lực đó để ban phát ân-huệ. Rồi của người, phúc ta dân đen nào có biết? Lo cho dân như vậy thì thằng bé lớp nhì cũng lập chính-phủ được cần gì đến đỉnh cao trí-tuệ ! ‘‘Cái gì mà CS yếu kém thì họ càng to mồm !’’ và tốt nghiệp đại-học mở (học đại ! Tổng bí thư là anh hoạn lợn ‘‘thiến heo’’ ngồi chồm hổm trên đầu cả nước thì học hành làm gì cho mệt ! Cứ theo bác, theo đảng bịp bợm hô-hào đ ấ u tranh giai-cấp, để những thằng dại nó ôm bom chết banh xác cho Tổ-quốc ghi công, rồi khi đoạt được chính-quyền mình sẽ trở thành giai-cấp bóc lột, tàn bạo gấp mười lần hơn!!!) Cho tới bây giờ, giao dịch với thế-giới văn-minh, đảng mới nhận thức ra là đảng dốt thật, chỉ giỏi đi ăn cướp mà thôi. Bởi vậy khi họ ban hành chính-sách, vuốt ve Việt kiều là họ sửa soạn làm thịt Vịt cừu đấy . Chiến-lược đã thay đổi nên bồi bếp, lưu manh đĩ điếm nay trở thành khúc ruột ngàn dặm không rời, họ cần tiền và trí-tuệ của Viêt-kiều để củng cố cho chế độ vô nhân của họ, để họ còn ngồi mãi trên ghế quyền lực, chứ bạn đau ốm, ăn tiền già không chút lận lưng, trở về với tình trạng y như ngày bạn ra đi thử xem họ có hoan hỉ đón tiếp bạn không ?

Những ‘‘việt kiều’’ lỡ sa vào vòng lao lý, nhà nước ‘‘nhăn răng’’ (nhân dân) chối đây đẩy đâu có nhận về !!! Họ không là khúc ruột ngàn dặm à? Ruột cũng có khúc thối, khúc thơm chứ ??? Dân khoẻ thì nhà nước bóc lột sức lao động, khi đau ốm, đói khổ thì thân nhân ở nước ngoài nuôi. Thuốc men gởi về theo diện nhân đạo mà không đút lót thì cũng nằm mốc trong kho.

Chết thằng nào chứ CS chắc chắn là không chết, và họ cũng chẳng dại gì mà thay đổi. Cứ như thế này mãi muôn đời, nếu chúng ta vẫn cố tình không muốn hiểu biết dã tâm của họ ...

Những người tỵ nạn rất ngây thơ vẫn là những con ong, cái kiến tầm thường và đần độn, gián tiếp mang công sức ra củng cố cho chế độ mà họ đã từng kinh tởm, và đã phải liều chết bỏ nơi chôn nhau cắt rốn mà đi, vào những ngày này, hơn bốn chục năm về trước.