Page 124 of 180

Posted: Sat Jun 20, 2015 7:20 pm
by dailien
Nỗi bẽ bàng của ông vua không ngai họ Tập
Bùi Tín
(Blog VOA)

Ðầu Tháng Sáu vừa qua, mối quan hệ Mỹ-Trung bỗng nổi cơn sóng gió, gây xôn xao dư luận quốc tế.

Nhân vật nổi bật trong sự kiện thời sự chấn động này là ông Vương Kỳ Sơn, đương kim ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị Ðảng CS Trung Quốc gồm 7 người, trên chóp bu của Bộ Chính Trị có 25 người, là cơ quan lãnh đạo cao nhất, nhóm vua tập thể của Ðảng CSTQ.

Vương Kỳ Sơn là ai? Theo giới báo chí Hồng Kông, tuy ông Vương đứng hàng thứ 6 trong số 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính Trị, nhưng trên thực tế ông là nhân vật số 2, chỉ đứng sau Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Tập Cận Bình.

Hiện ông là bí thư Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung ương Ðảng CSTQ, là cánh tay phải của ông Tập trong chiến dịch “diệt hổ đập ruồi” truy lùng tham nhũng ở Trung Quốc.

Ðã hơn 2 năm nay ông Vương lãnh đạo cơ quan có quyền lực không hạn chế nói trên. Cơ quan này có thể xông vào mọi nơi, bắt giam mọi công dân, xem xét mọi hồ sơ, điều tra và truy tố mọi nghi can, bất kể người đó là ai, “không có một ngoại lệ nào,” ngụ ý là kể cả ông Giang Trạch Dân, từng là nhân vật số 1 của Ðảng CS và được coi là bất khả xâm phạm trong hơn 10 năm trước đây.

Báo Hồng Kông kể rằng ông Vương đã sờ gáy hơn 20 vạn đảng viên quan chức, tất cả đều điêu đứng, đến độ có người kêu lên rằng “thà gặp con quỷ còn hơn là phải gặp lão Vương!” Ông Chu Vĩnh Khang, một cựu ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị, trùm sỏ ngành dầu khí, rồi trùm sỏ ngành an ninh, hét ra lửa một thời, vừa bị kết án tù chung thân trong một phiên xử kín ở Thiên Tân.

Từ Tháng Năm, theo lệnh của ông Tập, Ðại Sứ Quán TQ ở Washington đặt vấn đề để ông Vương sẽ đến làm việc chính thức tại Hoa Kỳ với danh nghĩa là “phái viên đặc biệt của chủ tịch nước” trong tháng 7 tới, để giải quyết một loạt vấn đề quan trọng trong quan hệ 2 nước, cũng là chuẩn bị tốt cho chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của ông Tập đã được ấn định vào Tháng Chín năm nay.

Phía TQ dự trù những gì cho chuyến làm việc của ông Vương với phía Hoa Kỳ?

Có nhiều vấn đề cực kỳ hệ trọng. Theo dự đoán của giới báo chí Anh và Pháp, ông Vương sẽ yêu cầu phía Mỹ hỗ trợ đắc lực cho chiến dịch “diệt hổ, đập ruồi và săn cáo” đang được mở rộng để truy lùng số viên chức đảng viên CSTQ hiện đang trốn tránh với tài sản cực lớn trên đất Hoa Kỳ. Về chuyện này phía TQ đã trao cho phía Hoa Kỳ danh sách đen có 1,000 ngàn tên. Phía TQ hy vọng các cơ quan an ninh tình báo CIA, FBI, các cơ quan tư pháp, các ngân hàng Hoa Kỳ sẽ hợp tác với Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung Ương Ðảng CSTQ của ông Vương để truy lùng tội phạm, bổ sung hồ sơ, cung cấp và trao đổi tài liệu, thu hồi đến mức cao nhất tài sản bị thất thoát bởi các quan chức tham nhũng và thân nhân, bộ hạ của họ. Ðược biết số nghi phạm trốn chạy khỏi TQ đông đảo nhất là sang Hoa Kỳ, rồi đến Canada và Úc, tiếp nữa mới đến Tây Âu, Thụy Sĩ và Nga. Phía Trung Quốc hy vọng chuyến đi của ông Vương sẽ dẫn đến việc ký kết thỏa thuận hợp tác dẫn độ các nghi phạm hình sự giữa 2 nước, thỏa thuận mà Trung Quốc đã ký với 21 nước chủ yếu là các nước Châu Á, nhưng chưa ký với Hoa Kỳ, Canada, Úc và các nước Châu Âu. Trong chiến dịch “săn cáo” 6 tháng qua, đã có 500 nghi phạm bị giải về Trung Quốc với tài sản trên 3 tỷ đô la - đây chỉ là một con số nhỏ so với thực tế.

Phía Trung Quốc còn hy vọng rằng qua chuyến đi của ông Vương và qua chuyến đi của ông Tập sau đó, mối quan hệ giữa các cơ quan tình báo, an ninh, tòa án của 2 nước sẽ được cải tiến rõ rệt, giúp Trung Quốc nâng cao vị thế quốc tế của mình và có được nhiều nguồn thông tin quý hiếm và chuẩn xác mà Trung Quốc đang cần và Hoa Kỳ có thể đang biết rõ.

Mọi người đều biết Tháng Hai năm 2912, trùm công an Trùng Khánh là Vương Lập Quân đã chạy vào Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ xin cư trú chính trị, mang theo vô số tài liệu tuyệt mật và khai báo không biết bao nhiêu điều cơ mật cho phía Hoa Kỳ, đặc biệt là những tin tức về thâm cung bí sử Bắc Kinh trong 20 năm qua, liên qua đến các phe nhóm của Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Tăng Khánh Hồng, Từ Tài Hậu, Giang Trạch Dân. Vương bị phía Hoa Kỳ trao cho TQ. Theo báo Anh Financial Times (2/6), chính Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden đã giao tận tay Tập Cận Bình một số tài liệu do Vương Lập Quân nộp tại lãnh sự quán Hoa Kỳ. Theo dư luận Hồng Kông, chắc phía Hoa Kỳ còn giữ lại một số tài liệu hê trọng, vì mối quan hệ Mỹ-Trung chưa đạt đến độ thân hữu.

Báo Hồng Kông Phượng Hoàng (7/6) còn nêu lên tên một nhân vật bí hiểm hiện nay mà ông Vương đang truy lùng, đó là Lệnh Hoàn Thành, em ruột của Lệnh Kế Hoạch nguyên chánh văn phòng của TƯ Ðảng CS TQ, tay chân thân tín nhất của cánh Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Giang Trạch Dân. Lệnh Kế Hoạch đã bị bắt. Lệnh Hoàn Thành được biết hiện đã thay tên đổi họ, trốn tránh ở đâu đó trên đất Hoa Kỳ, với rất nhiều tài liệu chính trị tuyêt mật, tài sản khủng, vô giá. Có nhiều khả năng phía Hoa Kỳ không thể thả lỏng cho nhân vật này, nhưng hiện họ chỉ nói rằng “không biết gì về nhân vật này có còn trên đất Mỹ hay không.”

Ðùng một cái, đầu Tháng Sáu, các báo Anh và Hồng Kông vừa kể cũng như báo Pháp le Monde (4/6) và Want China Times (8/6) của Ðài Loan cùng cho biết chuyến đi làm việc ở Hoa Kỳ của ông Vương “không thành, bị hoãn không thời hạn, có thể bị hủy bỏ.” Bắc Kinh cố làm ra vẻ không có gì quan trọng, nhưng các báo quốc tế đều lên tiếng bình luận. Báo Pháp Le Monde cho rằng phía Mỹ đã có nhiều phản ứng bất lợi cho chuyến đi Hoa Kỳ của ông Vương Kỳ Sơn. Trước hết ông Vương không có một chức vụ gì trong chính quyền nhà nước. Phía Mỹ không có một quan chức nào tương đương để tiếp và làm việc đúng nghi thức và luật pháp. Ông ta chỉ đại diện cho Ðảng CS, một đảng độc quyền chính trị, phản dân chủ. Hơn nữa những chiến dịch chống tham nhũng không có cơ sở luật pháp nghiêm minh, dân chủ, chỉ là phe cánh đấu đá tranh quyền, dưới chiêu bài “chống tham nhũng.” Các cuộc điều tra, truy tố, xử án đều mù mờ, không có luật sư, không có báo chí tự do, không có quan sát quốc tế. Cái gọi là Ban Kiểm tra Kỷ luật của Trung ương Ðảng CSTQ chỉ là một tổ chức “đảng trị,” mang tính chất cưỡng bức, độc đoán, đứng trên luật pháp, không phản ánh lòng dân và cán cân công lý. Ngay việc xử ông Chu Vĩnh Khang cũng không công khai, không luật sư bào chữa, không một nhà báo quốc tế nào tham dự, với lời kết tội đã cùng bộ hạ tham nhũng 14 tỷ đô la, cũng khó tin được là chuẩn xác.

Ông Tập Cận Bình bị một cú bẽ bàng quốc tế, bị nhận diện là một ông vua CS không ngai, tự cho mình và cánh tay phải họ Vương có quyền sinh sát tùy tiện mọi thần dân trong một triều đình lạc lõng. Chiến dịch chống tham nhũng ầm ỹ được quảng cáo om sòm, bị một đòn quốc tế khá đau.

Báo Anh và báo Pháp còn cho rằng những nhân vật mang bản chất “đảng trị” như ông Vương, hoặc như các quan chức cầm đầu các cơ quan đàn áp khác của Ðảng CSTQ như Ban Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung Ương Ðảng, chánh án Tòa án TƯ, bộ trưởng Tư Pháp do Ðảng CS cử ra trong bộ máy toàn trị đều là những người chà đạp luật pháp, đàn áp người lương thiện, phải bị coi là những “nhân vật không được hoan ngênh” (persona non grata), có tên trong danh sách đen, phải bị tẩy chay không cho nhập cảnh vào các nước dân chủ-pháp quyền. Ðó là những bàn tay nhuốm máu người dân lương thiện, nhuốm máu những chiến sĩ dân chủ trong nước, thế giới dân chủ không thể bắt tay họ, kết bạn, hợp tác với họ.

Nhân câu chuyện ông Vương Kỳ Sơn bị lỡ chuyến tàu bay đi Washington và ông Tập Cận Bình bị một cú bẽ bàng tủi hổ này, cũng xin nhắn về Hà Nội để các ông Trưởng Ban Kiểm Tra TƯ Ðảng Ngô Văn Dụ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình, Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường, hay cả Trưởng Ban Tuyên Giáo Ðinh Thế Huynh - nhân vật nhà báo đi đầu trong công tác chống tự do ngôn luận, xin quý ông chớ tính chuyện đi sang thăm hay làm việc tại các nước dân chủ, vì tên các vị có thể đã nằm trong danh sách đen những nhân vật “nổi tiếng về đảng quyền,” chống nhân quyền và dân quyền, những bàn tay không sạch sẽ, ở Pháp người ta gọi là “les gens sans foi - ni loi” - những kẻ vô đạo đứng ngoài luật pháp, lưu manh chính trị, không ai trong thế giới dân chủ muốn bắt tay, kết bạn. Cộng đồng người Việt biết rõ những bàn tay nhơ bẩn ấy.

Nỗi bẽ bàng của 2 ông Vương và Tập rất đáng để các ông trên đây suy ngẫm.

Posted: Fri Jun 26, 2015 4:52 am
by vuphong
Tổng thống Mỹ yêu cầu Trung Quốc làm giảm căng thẳng trên Biển Đông
Thursday, June 25, 2015 3:13:03 PM

WASHINGTON 25-6 (NV) .- Tổng thống Barack Obama nêu quan ngại của Mỹ về các vụ tin tặc liên quan đến nhà cầm quyền Trung Quốc
đánh cắp dữ liệu của chính phủ, các công ty Mỹ và các hành vi ngang ngược trên biển.

Image
Tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp phái đoàn Trung Quốc tham gia 'Đối thoại Chiến lược Kinh tế Mỹ-Trung' tại Washington ngày 24/06/2015.
(Hình: AFP/Getty Images)
Buổi chiều ngày Thứ Tư 24/6/2015, tổng thống Barack Obama thúc giục Trung Quốc hãy có các hành động cụ thể làm giảm các căng thẳng trên biển Hoa Đông cũng như Biển Đông khi ông tiếp phái đoàn cao cấp Trung Quốc ở Tòa Bạch Ốc.

Phái đoàn Trung Quốc gồm hai phó thủ tướng Uông Dương và Lưu Diên Đông cùng Ủy viên Quốc Vụ Viện Dương Khiết Trì đến Hoa Thịnh Đốn dự “Đối thoại kinh tế và chiến lược Mỹ-Trung”.

Trước khi được tổng thống Obama tiếp, theo tin tức tường thuật, phái đoàn chính quyền Trung Quốc đã nghe nhiều lời chỉ trích từ phía Hoa kỳ về các vấn đề từ tin tặc đánh cắp dữ liệu đến ngang ngược trên biển, gồm cả hai vùng Hoa Đông và Biển Đông trong các cuộc đối thoại.

Đối thoại kinh tế và chiến lược Mỹ-Trung diễn ra đúng lúc có cuộc tập trận thường niên CARAT giữa các lực lương Mỹ và Phi Luật Tân diễn ra tại một khu vực phía tây đảo Palawan, cách Bãi Cỏ Rong mà Trung Quốc đang chiếm giữ chừng 85 hải lý. Cũng trong dịp này có các chuyến bay tập huấn tuần tra chung giữa phi cơ của hải quân Nhật và Hải quân Phi Luật Tân trong nhu cầu cứu nạn trên biển.

Theo tin của thông tấn Reuters, các cuộc họp Mỹ-Trung vào các ngày 22 đến 24-6-2015 đã không thu hẹp các bất đồng ý kiến về tin tặc và căng thẳng Biển Đông. Trong cuộc họp báo sau cuộc đối thoại, Ngoại trưởng John Kerry lập lại quan điểm Hoa Kỳ muốn duy trì quyền tự do giao thông trên biển và trên không ở vùng Biển Đông.

Ông Kerry bày tỏ lo ngại Bắc Kinh có thể có kế hoạch thành lập một vùng cấm chung quanh các đảo nhân tạo đang được Trung Quốc xây dựng ở trong vùng biển Trường Sa như họ đã từng làm tại khu vực biển Hoa Đông, nơi đang tranh chấp quần đảo Senkaku với Nhật Bản.

Trong cuộc họp báo, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì, người điều hành chính sách ngoại giao của Bắc Kinh, lập lại điều Bắc Kinh vẫn tuyên bố là Trung Quốc «cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia». Đồng thời ông này kêu gọi Hoa Kỳ nên có thái độ « công bằng và khách quan » về chuyện tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông.

Theo báo tài chính Wall Street Journal, cuộc đối thoại Mỹ – Trung diễn ra trong sự nghi kỵ lẫn nhau giữa hai bên. Phía Mỹ lên án các vụ tấn công trên mạng nhắm vào hàng triệu công nhân viên chức và các doanh nghiệp Mỹ mà báo chí Mỹ dựa vào một số nguồn tin cáo buộc có bàn tay của nhà cầm quyền Bắc Kinh ở đằng sau.

Tuy không trực tiếp lên án Bắc Kinh, nhưng Ngoại trưởng Kerry nói tới những «thiệt hại nghiêm trọng” đối với kinh tế Mỹ do các vụ xâm nhập bất hợp pháp vào máy tính cá nhân hay đánh cắp thông tin gây nên.

Tin tức cho hay Bộ trưởng Tài chính Jacob Lew trong cuộc họp hôm 23/06/2015 không vòng vo khi cho rằng Bắc Kinh đã đứng đằng sau các vụ « đánh cắp thông tin từ lĩnh vực kinh tế đến tin học và cả các dữ liệu mật » của các tập đoàn Hoa Kỳ. Trong khi đó ông Dương Khiết Trì nhắc nhở phía đối tác Hoa Kỳ nên «căn cứ vào những sự việc cụ thể».

Theo hãng thông tấn AFP, cả phía Mỹ và Bắc Kinh đều nhìn nhận có những bất đồng và khác biệt. Dù vậy họ cho rằng sẽ cố gắng cải thiện và tránh đối đầu trong các vấn đề bất đồng đó, kể cả an ninh mạng và tự do hàng hải. (TN)

Posted: Tue Jun 30, 2015 9:58 pm
by dailien
Hội Nhà Báo Độc Lập lên án vụ đàn áp ông Phạm Chí Dũng
Monday, June 29, 2015 4:17:32 PM

SÀI GÒN (NV) .- Hội Nhà Báo Độc Lập tại Việt Nam ra một bản tuyên bố phản đối nhà cầm quyền Việt Nam
đã liên tiếp khủng bố sách nhiễu, đe dọa ông Phạm Chí Dũng, chủ tịch của hội này.

Image
Nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập tại Việt Nam bị nhà cầm quyền CSVN khủng bố liên tiếp hai ngày 25 và 26/6/2015.
(Hình: Internet)



“Trước nguy cơ bị nhà cầm quyền đe dọa và có thể dẫn tới đàn áp nhằm xóa sổ IJAVN - một tổ chức xã hội dân sự mặc nhiên được hiến định trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và 2013, các nhà báo độc lập của IJAVN lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành động sách nhiễu, đối xử thô bạo và có thể tiến tới bắt giam của Công an TP.HCM đối với không chỉ Chủ tịch IJAVN Phạm Chí Dũng trong thời gian qua mà còn có thể xảy ra với một số thành viên IJAVN trong thời gian tới.”

Bản tuyên bố của Hội Nhà Báo Độc Lập tại Việt Nam công bố hôm Thứ Hai 29/6/2015 viết như vậy sau khi trình bày các sự việc xảy ra từ đầu Tháng 6-2015 đến nay đối với ông chủ tịch hội là Phạm Chí Dũng.

Theo bản tuyên bố nói trên, ông Phạm Chí Dũng đã bị Công an cưỡng bách giữa đường, bắt đi “làm việc” liên tiếp hai ngày 25 và 26/6/2015. Trước đó, ông đã từ chối “giấy triệu tập” của Công an hỏi về ông Nguyễn Quang Lập, một nhà văn có blog rất nổi tiếng là “Quê Choa”. Ông Lập cũng đã bị bắt giam, thẩm vấn mấy tháng rồi thả ra.

Tuy nhiên, như được kể lại trong bản tuyên bố, những gì ông Phạm Chí Dũng bị tra gạn về ông Nguyễn Quang Lập chỉ là cái cớ để bị thẩm vấn. Mục đích chính của Công an là tra khảo ông về những bài viết của ông trên mạng, trên báo chí hải ngoại và nội dung của tờ báo mạng “Việt Nam Thời Báo” của Hội Nhà Báo Độc Lập, cũng như đe dọa ông.

“Mặc dù lý do làm việc của Cơ quan ANĐT là về vụ án Nguyễn Quang Lập, nhưng hầu hết các câu hỏi thẩm vấn đều xoáy vào IJAVN, trang web của hội này là Việt Nam Thời Báo và các bài viết trên báo nước ngoài của tác giả Phạm Chí Dũng. Cơ quan ANĐT đòi hỏi trang web Việt Nam Thời Báo phải ngừng hoạt động”, bản tuyên bố viết.

Bản tuyên bố của Hội Nhà Báo Độc Lập cho hay, từ cuối năm 2013 sau khi tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam và thành lập IJAVN đến nay, Nhà báo Phạm Chí Dũng liên tục bị cơ quan công an tổ chức theo dõi, tịch thu hộ chiếu cấm xuất cảnh, ngăn chặn không cho ra khỏi nhà, gần 20 lần bị triệu tập, một số lần bị bắt giữ trái phép.

“Những động tác triệu tập, đối xử thô bạo, nội dung thẩm vấn và hành vi sách nhiễu khác của Cơ quan ANĐT trong thời gian qua khó có thể được hiểu khác hơn là nhằm mục đích muốn loại trừ IJAVN và vai trò chủ tịch IJAVN của Nhà báo Phạm Chí Dũng, bất chấp thiện chí của IJAVN là phản biện ôn hòa với nhà cầm quyền về chính sách và và việc thực hiện chính sách để cùng hỗ trợ người dân, đặc biệt là người nghèo trong xã hội.”

Bản tuyêt bố viết như thế và cho rằng các hành động của Công an tại Sài Gòn là “bằng chứng rõ ràng về việc Nhà nước Việt Nam đã rất thiếu tôn trọng những cam kết của họ trong vai trò một thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc.”

Tổ chức trên kêu gọi các chính phủ, tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước quan tâm dân chủ và nhân quyền, cùng các tổ chức truyền thông hãy có biện pháp thiết thực để hỗ trợ IJAVN trong hoàn cảnh bị đàn áp nặng nề hiện nay.

Nhà báo Phạm Chí Dũng được xem là nhà quan sát về chính trị có tiếng ở Việt Nam. Ông cộng tác viết bài, trả lời phỏng vấn của hầu hết các đài phát thanh quốc tế Việt ngữ như RFI, BBC, VOA và RFA. Riêng trên báo Người Việt, ông thường có bài viết nhận định về tình hình Việt Nam cả trên Nhật báo mỗi Thứ Hai hàng tuần và trên Người Việt Online.

Phạm Chí Dũng sinh năm 1966, ông từng là nhà báo, là hội viên Hội Nhà văn thành phố Sài Gòn và từng là đảng viên cộng sản. Ngày 5 tháng 12 năm 2013, ông Dũng làm đơn xin ra khỏi đảng, vì cho là:"Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân."

Ngày 04 tháng 7 năm 2014, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tuyên bố thành lập và ông Phạm Chí Dũng được bầu làm chủ tịch. Khái niệm thành lập hội bắt nguồn từ Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) là thành viên chủ chốt. Tổ chức đó sau khi thành hình năm 2007, ông Nguyễn Văn Hải bị truy tố và tổ chức này tan vỡ.

Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Auskar Surbakti của đài ABC TV 24 Australian vào ngày 28 tháng 7-2014, Ông chủ tịch hội NBĐLVN Phạm Chí Dũng nói : "Nếu họ có tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam thì họ không cần phải lập hội này. Hội này gồm những người mà muốn có tiếng nói độc lập, muốn chỉ trích những chính sách sai lầm của chính phủ."

Hồi năm ngoái, nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng 5, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Paris, lần đầu tiên đã công bố danh sách « 100 anh hùng thông tin » năm 2014, gồm các nhà báo và blogger ở 65 quốc gia trên thế giới. Trong số ba người Việt Nam được vinh danh có ông Phạm Chí Dũng.

Chỉ còn vài ngày nữa là tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng sang chính thức thăm nước Mỹ, một biến cố chưa từng có tiền lệ. Hoa Kỳ thường xuyên đả kích chế độ Hà Nội không tôn trọng nhân quyền mà bản phúc trình hàng năm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về nhân quyền tại Việt Nam phổ biến tuần qua là một bằng chứng cụ thể.

Người ta tin rằng cải thiện nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam là những gì ông tổng thống Mỹ Barack Obama không quên nói với ông Nguyễn Phú Trọng khi ông này bước chân vào Tòa Bạch Ốc.

Việc chế độ Hà Nội vẫn bạo tay đàn áp các người bất đồng chính kiến, bất chấp chính hiến pháp và luật lệ của chế độ, chứng tỏ CSVN không coi những sự phản đối của thế giới có thể thúc đẩy họ tôn trọng nhân quyền trên thực tế. (TN)

Posted: Fri Jul 03, 2015 4:39 pm
by hoanghoa


Chứng khoán Trung Quốc thiệt hại gấp 10 lần GDP Hy Lạp


Chỉ trong 3 tuần, giá trị các cổ phiếu trên sàn chứng khoán nước này giảm gần 2.400 tỷ USD, tương đương 10 lần GDP của quốc gia vừa bị tuyên vỡ nợ.

Trong khi thị trường chứng khoán châu Âu và Mỹ đang đi ngang chờ cuộc trưng cầu dân ý có thể quyết định số phận của Hy Lạp
vào cuối tuần này thì chứng khoán Trung Quốc lại lao dốc.
Đà giảm kéo dài suốt 3 tuần và giá trị vốn hóa đến nay giảm 2.360 tỷ USD, gấp gần 10 lần GDP năm ngoái của Hy Lạp.

Chỉ số Shanghai Composite hôm qua đã lần đầu tiên trong 2 tháng rơi xuống dưới mốc 4.000 điểm,
nhà đầu tư liên tục bán tháo và nghi ngờ hiệu quả các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ. Từ đỉnh đạt được giữa tháng 6, chỉ số này đã mất 24%.
Hôm qua, cứ một mã tăng lại có 15 mã giảm, dẫn đầu là cổ phiếu các ngành công nghiệp, năng lượng và hàng hóa.



Image

Chứng khoán Trung Quốc giảm mạnh từ giữa tháng 6, so với Euro Stoxx 50 của châu Âu và S&P 500 của Mỹ.


Bản chất đóng kín của thị trường tài chính Trung Quốc đang khiến cả thế giới mới chỉ quan sát mà chưa hề nhận ra nó sẽ có ảnh hưởng lên thị trường nước mình.

"Điều đang diễn ra tại Trung Quốc sẽ có hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều so với tác động mà Hy Lạp có thể mang lại trong vài tuần hoặc vài tháng tới. Khi chứng khoán Trung Quốc mất đà, nhu cầu trên khắp nước này sẽ bị ảnh hưởng. Việc này sẽ khiến cỗ máy tăng trưởng của toàn cầu thập kỷ qua gặp trục trặc. Tình hình này nghiêm trọng không kém Hy Lạp, nhưng lại rất khó nhận ra vai trò quyết định của nó với kinh tế toàn cầu", Frederic Neumann - trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tế châu Á tại HSBC cho biết.


Image
Vốn hóa trên thị trường Trung Quốc từng lên 10.000 tỷ USD giữa tháng 6.


Các nhà kinh tế học cũng chưa tìm ra có mối liên quan nào giữa các biến động trên thị trường chứng khoán và nền kinh tế nước này. Một khảo sát gần đây của Bloomberg cũng cho thấy giới phân tích còn đang trong cãi liệu những biến động này có ảnh hưởng lên tăng trưởng của Trung Quốc hay không.

Nếu Trung Quốc mở cửa thị trường vốn, những diễn biến này chắc chắn sẽ gây tác động lên các nhà đầu tư từ London, New York đến Tokyo. Nhưng hiện tại, rõ ràng những điều này chưa thể thu hút sự chú ý như Hy Lạp.

(theo Bloomberg)

Posted: Sat Jul 04, 2015 6:44 am
by buikiem
Mỹ Không Thể Nhịn TC

Vi Anh
Hai bản phúc trình chống đối nhau này được ban hành vài ngày sau khi các quan chức cấp cao Mỹ và Trung Quốc mở các cuộc đàm phán thường niên ở Washington.

Trung Cộng là một siêu cường mới trổi dậy. Thói cưỡng bức các nước nhược tiểu và chư hầu của vua chúa Trung Hoa đã thâm căn cố đế trong suy nghĩ hành động của gới thống trị. Thời CS chuyên chính hơn vương quyền, thòi cưỡng bức thành bản tánh của Trung Quốc phát tiết ra trong suy nghĩ và hành động đè đầu các nước nhỏ để vươn lên. Hành động cưỡng bức của TC ở Biển Đông đe dọa hòa bình, ổn định, vi phạm tự do hàng hải, hàng không ở Á châu Thái bình dương. Đã đến lúc Mỹ phải hành động nếu không Mỹ là nước bị thiệt hại nhiều nhứt về vật chất lẫn tinh thần.

Một, TC là hiện thân của chế độ chuyên cưỡng bức các nước nhỏ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, TC đã trổi dậy thành siêu cường thế giới với nền kinh tế và ngân sách quốc phòng hạng nhì thế giới. Thay vì tìm cách vươn lên bằng ảnh hưởng và uy tín của một cường quốc đóng góp cho hoà bình, ổn định, thịnh vượng, tiến bộ của cộng đồng thế giới, thì TC tìm cách vươn lên theo thói quen hằng cữu của các vua chúa Trung Hoa bằng cách cưỡng bức các nước nhược tiểu.

Vua chúa Trung Hoa từ thời lập quốc xưa kia đã năng thần thượng tôn Hán tộc, coi các dân tộc chung quanh là man di, mọi rợ. TH tiêm nhiễm thói hư tật xấu muốn làm bá chủ và các nước là chư hầu, chuyên dùng cưỡng bức để thống trị các nước nhỏ xung quanh. Thời CS độc tài đảng trị CS còn nghiệt ngã, bạo ngược hơn thời chuyên chế vua chúa TH nữa. Nên thói nào tật nấy, CS Trung Quốc ra tay cưỡng bức các nước là chuyện thường không có gì khó hiểu.

Chủ Tịch TC Tập cận Bình của Đảng Nhà Nước TC là một người Hán sống trong giấc mơ Trung Hoa bá chủ, một hoàng tư đỏ của một trong «Bát đại nguyên lão» khai nguyên chế độ TC. Ông hành động theo phản ứng có điều kiện Hán Cộng là chuyện không có gì lạ. Dự án mở «Con Đường Tơ Lụa Trên Biển», bung ra hướng đông, nam, dùng tiền cho vay cưỡng bức chánh trị, mua như giựt tài nguyên của các nước Đông Nam Á, Trung Á, Phi châu và Nam Mỹ, và lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB), để vươn lên là chuyện người lãnh đạo Hán Cộng cảm thấy phải làm vì động lực thôi thúc tim, óc của họ.

Các nước nhược tiểu nào lỡ lọt vào vòng TC được chỉ có ba, nhưng muốn thoát ra thì thiệt hại quá lớn nên khó mà “Thoát Trung” về kinh tế lẫn chánh trị.

Trong Hội nghị trung ương về đối ngoại hôm 28 và 29/11/2014, Tập Cận Bình không dấu diếm, Đảng Nhà Nước thông qua các chính sách kinh tế «hy vọng làm cho số phận của các quốc gia mới nổi dậy và thịnh vượng ở châu Á - đang ngày càng tăng lên - phải lệ thuộc vào Trung Quốc với tư cách đại cường. Đồng thời khiến Hoa Kỳ phải đứng bên lề trong tương lai khu vực».

Hai, Biển Đông là mô thức tiêu biểu về bành trướng bằng cưỡng bức của TC. TC là một chế độ không có một bằng cớ lịch sử, pháp lý nào trên một số biển đảo của Nhựt, Phi, VN, Mã Lai, Brunei. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Anthony Blinken tuyên bố tại Trung tâm An ninh Mỹ mới do báo PhilStar loan tải mới đây, nếu Trung Quốc trình đủ bằng chứng pháp lý và lịch sử cho thấy nước này sở hữu các quần đảo trên biển Đông thì Washington sẽ ủng hộ Bắc Kinh 100%. Nhưng đùng một cái TC cưỡng bức công luận đơn phương tuyên bố đảo Senkaku của Nhựt là Điếu Ngư của TC, Bãi Cạn Scarborough của Phi, Hoàng sa, Trường sa của VN là của TC. TC cưỡng bức chữ nghĩa gọi đó là “tranh chấp biển đảo”, một mặt lên giọng giả đạo đức là kêu gọi giải quyết song phương. Mặt khác TC cưỡng bức bằng hành động, ngang ngược, thô bạo, lập thành phố, xây cất đồn bót, tự tiện vẽ và công bố bản đồ trực thuộc vào tỉnh Hải Nam của TQ. TC tung hết đoàn tàu này tới đoàn tàu kia, đủ loại nào hải quân, hải giám, tàu đánh cá nghi trang có vũ khí ra kiểm soát, ra lịnh cấm đánh cá, bắt, bắn tàu của các nước ra khỏi ngư trường ngàn đời của các nước láng giềng. Cho tàu thăm dò, khoan dầu khí, tài nguyên dưới đáy biển vào vùng dặc quyền kinh tế của các nước.

Các nước nhỏ la làng lên và phản đối. Mỹ chuyển trục quân sự về vùng này nhưng tuyên bố không đứng về phía bên nào trong các cuộc mà TC “dụng danh để đạt quả” gọi là các “tranh chấp biển đảo.”

Được đằng chân, lần đằng đầu, TC lập vùng cấm bay gọi là nhận dạng phòng không. TC chạy theo kim đồng hồ xây cất đảo Hoàng sa, bồi lắp các đảo nhân tạo của Trường Sa thành Vạn lý Trường Thành bằng cát ở Biển Đông, và toan lập vùng nhận dạng phòng không trên không phận. Coi như TC chà đạp quyền tự do hàng hải, hàng không quốc tế ngay ở hành lang con dường hàng hải huyết mạch của thế giới từ Eo Biển Mã Lai đi lên bắc Thái bình dương. Nơi mỗi năm gần 5.000 tỷ hàng hoá Mỹ và đông minh di chuyển qua đường này. Mỹ cho tàu và máy bay tuần tra thăm dò, Hải Quân TC công khai lên tiếng xô đuổi. Mỹ quyết không nhượng bộ. Bộ Trưởng QP Mỹ tuyên bố Mỹ tiếp tục cho máy bay, tàu đi đến bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép.

Ba, nếu Mỹ lơ là trước hành động TC cưỡng bức có tăng không có giảm ở Biển Đông, thì Mỹ sẽ là nước bị thiệt hại vật chất lẫn tinh thần nặng nhứt. Chính Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken vào ngày 26/06/2015 là một nhân viên chánh phủ, nhân vật số hai của Bộ Ngoại Giao Mỹ mới đây nhứt đã quả quyết các hoạt động bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo rầm rộ mà Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông, là «mối đe dọa cho hòa bình và ổn định». Ông coi việc làm đó của TC như những gì Nga đã đang làm ở Crimea và Miền Đông Ukraine.

Đây là lúc thời cơ, địa lợi, nhơn hoà gì cũng thuận lợi cho Mỹ hành động ngăn chận TC ỷ nước lớn hiếp nhỏ, cưỡng bức chiếm cứ biển đảo ở Biển Đông, chà đạp quyền tự do hàng hải, hàng không quốc tế. Về quân sự, hải và không quân TC quá yếu, chỉ bằng ¼ của Mỹ. Kinh tế TC chưa nuôi nổi một cuộc chiến tranh vùng chống Mỹ. TC đang cô đơn tận cùng cây số trong vùng Á châu Thái bình dương. Còn Mỹ đã quá sẵn sàng cho hai ba mặt trận. Liên minh Mỹ, Nhựt, Úc rất chặt chẽ. Bây giờ chỉ cần Mỹ bày binh bố trận là TC xìu liền vì TC biết đánh với Mỹ hiện thời TC sẽ từ chết tới bị thương.

Ở đâu quân đội Mỹ cũng phải sẵn sàng đội hình chiến đấu. Mỹ đã chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương rồi. Thì cứ bung trục ấy ra cùng với các đông minh và đối tác, thành đội hình chuẩn bị chiến tranh để củng cố hòa bình do TC gây xáo trộn. Tập trung hải lực Á châu Thái bình dương về Biển Đông. Mở đội hình kiểm soát sát và chặt qua các cuộc tuần tra, các cuộc tập trân thường trên không, trên biển, chứng tỏ sự hiện diện của lá chắn Mỹ để các nước nhỏ trong vùng lên tinh thần.

Triệt để bảo vệ tự do hàng hải, hàng không, luật pháp quốc tế về biển, chống mọi vi phạm của TC ở hiện trường, trên ngoại giao, ở diển đàn vùng và LHQ. Chống lập trường đơn phương của TC không cho các nước hoạt động quân sự bên trong vùng 200 hải lý khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, dù tính từ đất liền hay từ các đảo. Chống lập trường TQ đòi lãnh hải 12 hải lý tính từ các bãi đá ngầm./.(VA)

Posted: Sun Jul 05, 2015 5:57 am
by hoanghoa

Từ Độc Tài Nguyễn Văn Linh Đến Độc Quyền Nguyễn Phú Trọng

Phạm Trần

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 – 1/7/2015, Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã công khai tái khẳng định sẽ tiếp tục độc tài, độc đảng và độc quyền cai trị như ông Linh đã vạch ra.

Chủ trương này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang đưa ra bằng lời nói và bài viết có cùng lập trường nhất quyết không từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản và chống đa nguyên đa đảng. Tuy nhiên cả hai người lại không có bất cứ lời nào lên án Trung Quốc đang biến 7 bãi đá chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo để sinh sống và căn cứ quân sự ở Biển Đông, có lẽ vì sợ gây phiền não cho vong linh người qúa cố ?

Điều này dễ hiểu vì Trung Quốc coi ông Nguyễn Văn Linh là người có công với Bắc Kinh tại Hội nghị bí mật Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc trong hai ngày 3-4 Tháng 9 năm 1990.

Ông Linh đi Thành Đô cùng với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng để bàn chuyện nối lại bang giao với Tổng Bí thư, Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Tại Thành Đô, theo các giới Ngọai giao của Việt Nam thời bấy giờ như cố Thứ trưởng Ngọai giao Trần Quang Cơ và Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì ông Linh đã chấp nhận 3 đòi hỏi quan trọng của Giang Trạch Dân để được tái lập quan hệ ngọai giao. Ba điều kiện đó là: Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Kampuchia và đồng ý một giải pháp chính trị không loại phe Khmer đỏ thân Trung Quốc; công khai chỉ trích và cam kết thay đổi chính sách thân Liên Xô trước đó của Tổng Bí thư tiền nhiệm Lê Duẩn; cất chức Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng độc lập với Trung Quốc và loại ông khỏi Bộ Chính trị.

Vì các văn kiện Thành Đô, kể cả tài liệu quan trọng được gọi là Kỷ Yếu Hội nghị do Lý Bằng sọan cho ông Linh ký kết với phiá Trung Quốc chưa được bạch hóa nên không ai biết ông Linh còn cam kết dành cho Trung Quốc những đặc quyền đặc lợi nào khác.

Chỉ biết những việc sau đây đã xẩy ra từ sau Hội nghị Thành Đô:

- Đảng nghiêm cấm không cho tổ chức kỷ niệm hay nhắc đến cuộc chiến xâm lược qua biên giới Việt Nam của quân Trung Quốc từ 1979 đến 1987.

- Không đòi lại những phần đất, khỏang gần một ngàn cây số vuông đã bị mất vào tay Trung Hoa sau cuộc chiến biên giới, trong đó có nhiều điểm cao chiến lược, tiêu biểu như điểm cao 1509 mà Trung Hoa gọi là Laoshan (Lão Sơn hay Núi Đất) và Gỉa Âm Sơn (điểm cao 1250) ở tỉnh Hà Giang (trước là Hà Tuyên).

- Ngăn chặn mọi nỗ lực tưởng niệm hay tuyên dương 74 chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu chống quân Tầu xâm lược Hòang Sa tháng 1/1974. Không có hành động đòi lại mà chỉ biết nói đi nói lại ”Hoàng Sa là của Việt Nam”.

- Chỉ cho tổ chức rất hạn chế và cục bộ để tưởng nhớ đến 64 chiến sỹ quân đội nhân dân đã bỏ mình trong trận chiến bảo vệ biển đào Trường Sa năm 1988, nhưng không có hành động nào nhằm lấy lại lãnh thổ đã mất.

- Sách lịch sử của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nói rất sơ sài về những biến cố lịch sử này.

- Việt Nam cũng đã để mất 2/3 thác Bản Giốc và chịu nhận đường biên giới hai nước nằm ở phiá nam Ải Nam Quan, thay vì phiá bắc Ải này, căn cứ theo Hiệp định biên giới trên đất liền ký ngày 30/12/1999. Như vậy Ải lịch sử Nam Quan nay nằm bên phiá Trung Quốc.

Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ từng tham gia đàm phán với Trung Quốc nói: “Căn cứ vào các tư liệu có giá trị pháp lý theo Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ mà Việt Nam và Trung Quốc ký năm 1993, thì rõ ràng đường biên giới tại khu vực này luôn nằm về phía nam Ải Nam Quan, chứ không phải đi qua Ải Nam Quan theo tiềm thức của người Việt Nam. Như vậy không có chuyện Việt Nam đã nhường Ải Nam Quan cho Trung Quốc như nhiều người suy diễn theo cảm tính và dựa vào những thông tin thiếu khách quan, không có giá trị pháp lý.” (trích Việt Nam Express, 31/01/2015)

Tuy nhiên, ông Trục đã quên rằng sách sử Việt Nam đều đã từng nói “nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu” ?

- Ngoài mất mát trên đất liền Việt Nam còn đồng ý ký 2 Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hợp tác Nghề Cá với Trung Quốc năm 2000 có nhiều bất lợi cho Việt Nam, theo quan điểm của một số chuyên viên của Qũy nghiên cứu Biển Đông.

Các chuyên viên biển đảo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài của Qũy này cho biết: “Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. (Trích bài viết “Đàm phán Việt - Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ” ngày 24/02/2014)

Nguyên Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Dy Niên cho biết: “Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích Vịnh”.

Như vậy, phiá Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46%, hay khỏang 8,205 cây số vuông, theo ước tính của Qũy Biển Đông.

HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN

Đáng chú ý là trong Hiệp định này, Việt Nam đã đồng ý “hợp tác cùng phát triển” với Trung Quốc ở vùng biển này, và nay cả ở khu vực bên ngoài vịnh Bắc Bộ. Nội dung này phù hợp với chủ trương cốt lõi của Trung Quốc từ thời Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được tái khẳng định bởi Tập Cận Bình năm 2013, theo đó Trung Hoa luôn luôn coi Biển Đông là “biển của ta, gác tranh chấp để cùng khai thác”!

Việc Trung Quốc tự nhận chủ quyền trong hình Lưỡi bò chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông là một bằng chứng.

Dù Trung Quốc không giấu diếm tham vọng, nhưng vào ngày 11/10/2011, tân Tổng Bí thư đảng CSVN khoá XI Nguyễn Phú Trọng vẫn vội vã sang Tầu họp với Tổng Bí thư-Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Hồ Cẩm Đào để tái cam kết 6 điểm về “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”. Tại Bắc Kinh, ông Trọng đã đồng ý “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này.” (điểm 5)

Sau chuyến đi của ông Trọng, phiá Trung Quốc tiếp tục áp lực Việt Nam phải mau chóng thi hành những cám kết đã ký qua các chuyến qua lại của lãnh đạo hai nước, trong đó có các chuyến đến Việt Nam của Thủ tướng Lý Khắc Cường, Ủy viên Quốc vụ viện phụ trách biên giới-biển đảo Dương Khiết Trì và của Ngoại trưởng Vương Nghị.

Diễn biến mới nhất là chuyến sang Tầu của ông Nguyễn Phú Trọng từ ngày 7 đến 10 tháng 4/2015 để gặp Tồng Bí đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình, trước khi ông Trọng thực hiện chuyến đi lịch sử sang Hoa Kỳ gặp Tồng Thống Barrack Obama, dự kiến từ ngày 07 đến 09 tháng 7/2015.

Tại Bắc Kinh, theo tin Việt Nam Thống tấn xã thì hai bên tái khẳng định: “ Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển.”

Sau đó, khỏang 2 tuấn lễ trước ngày ông Trọng đến Hoa Thịnh Đốn, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh lại đi Bắc Kinh họp với Ủy viên Quốc vụ Quốc vụ viện Dương Khiết Trì, từ ngày 17-19/06/2015, trong khuôn khổ của Phiên họp lần thứ 8 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc.

Ngoài Dương Khiết Trì, ông Minh còn gặp Thủ tướng Lý Khắc Cường và Bộ trưởng Ngọai giao Vương Nghị để hai bên cam kết “không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt - Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”

Tuy cam kết như thế, nhưng phiá Trung Quốc đã và đang làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp với các hoạt động bành trướng lãnh thổ và chiêm đóng biển đảo của Việt Nam.

Đáng chú ý là không thấy ông Minh đề xuất Trung Quốc phải ngưng ngay lập tức việc xây dựng các đảo nhân tạo, thiết lập các cứ quân sự ở Biển Đông, hay đòi chấm dứt các cuộc tấn công tầu cá Việt Nam.

Bởi vỉ, theo Cục Kiểm ngư Việt Nam thì “nhiều tàu cá của ngư dân ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bị một số lượng lớn tàu cá vỏ sắt của Trung Quốc liên tiếp đâm uy hiếp và đe dọa. Trong đó, riêng tại Quảng Ngãi, Trung Quốc đã uy hiếp, tấn công 23 tàu cá của ngư dân.” (theo Thông tấn Xã Việt Nam (TTXVN) ngày 30/06/2015)

Cùng thời gian này, nhiều tầu cá Trung Quốc đã công khai xâm nhập sâu vào vùng biển Việt Nam để đánh bắt nhưng chỉ bị cảnh cáo, xử phạt hành chính và xua đuổi đi nơi khác.

Việc làm này của phiá Việt Nam trái ngược với các vụ tấn công, đánh ngư dân và tịch thu tài sản tầu cá Việt Nam của các tầu hài giám Trung Hoa.

Tại sao Việt Nam lại yếu mềm và sợ Trung Quốc trước ngày ông Trọng đi Mỹ như thế thì chỉ có lãnh đạo và nhà nước Việt Nam mới có thể trả lời được.

- Phía Việt Nam còn bị “mắc họng” khó nói với thế giới vì sao năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hòang Sa và Trường Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà (miền Bắc) cũng không hề lên tiếng phản đối khi quân Trung Quốc chiếm Hòang Sa từ tay Quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1974. Do đó báo chí Trung Hoa trong những ngày cuối tháng 6/2015 đã gia tăng chỉ trích Việt Nam đã quên những cam kết qúa khứ và thay đồi lập trường sau ngày thống nhất đất nước năm 1976.

- Song song với những việc làm tréo cẳng ngỗng khó hiểu này, Đại tướng Lê Đức Anh, trong chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, đã phạm lỗi lầm lịch sử tại mặt trận Trường Sa năm 1988, khi ông ra lệnh cho binh sỹ bảo vệ đá Gạc Ma không được nổ súng chống lại quân Tầu khi chúng xâm lược và chiếm 7 bãi đá. 64 binh sỹ của Việt Nam đã bị quân Tầu giết hạ trong cuộc chiến “bị bó tay” này !

Vì vậy ông Anh đã được phiá Trung Hoa sử dụng làm quân cờ đi đêm với Đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội, qua mặt Bộ trưởng Ngọai giao Nguyển Cơ Thạch, để phối trí đưa phái đòan Nguyễn Văn Linh đi Hội nghị Thành Đô dàn xếp chuyện Kampuchia theo những điều kiện của Trung Hoa.

Sau Hội nghị Thành Đô, ông Đỗ Mười, người năng nổ nhất trí với phiá Trung Quốc, sau ông Nguyễn Văn Linh, đã lên làm Tổng Bí thư khoá đảng VII và Đại tướng Lê Đức Anh được tưởng thưởng chức Chủ tịch nước khiến Trung Hoa hả dạ cười tươi.

Vì vậy, trước những nhượng bộ chính trị làm mất thể diện quốc gia và tư cách lãnh đạo của các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh ở Thành Đô, ông Nguyễn Cơ Thạch đã thốt lên câu nói lịch sử: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự."

Lời cảnh giác của ông Nguyễn Cơ Thạch đã dẫn chứng trong 2 Hiệp định biên giới và Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam của thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khoá đảng VIII). Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) thì ông Mạnh lại nghe theo lời đường mật của Trung Quốc cho họ vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên mà hiệu qủa kinh tế còn rất mờ mịt.

Theo tài liệu của Bách khoa Tòan thư mở thì Tiến sỹ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, khẳng định: "Dự án bô-xít Tây Nguyên vừa lỗ nặng, vừa gây ô nhiễm đến môi trường cả trước mắt và lâu dài". Cũng theo ông Trường thì "Nhà đầu tư TKV (Tập đòan Khoáng sản Việt Nam, Vinacomin), đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường "bao cấp" không tính phí tài nguyên môi trường, Bộ GTVT "hỗ trợ" tuyến đường vận chuyển (bằng tiền ngân sách), Bộ Công Thương dự trù "biếu không" nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 để phục vụ cho dự án bô-xit...Tất cả các công trình nói trên là tiền ngân sách, thực chất là tiền thuế của dân, cần phải hết sức thận trọng, suy tính sử dụng cho có hiệu quả vì nợ công đã đến mức báo động đỏ."

Theo ước tính của một số chuyên gia thì tổng số tiền lỗ của mỗi năm ít nhất là 33 triệu.

Đó là “thành tích” lệ thuộc Tầu của ông Nông Đức Mạnh, sau 10 năm cầm quyền (1992 -2001).

CHUYỆN BÂY GIỜ

Với bối cảnh lịch sử và những hệ lụy xẩy ra sau đó cho Việt Nam từ sau Hội nghị Thành Đô trong 30 năm qua các thời đại Nguyễn Văn Linh (khoá đảng VI), Đỗ Mười (khoá VII),Lê Khả Phiêu (khoá VIII), Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) cho đến ông Nguyễn Phú Trọng (khoá đảng XI), Việt Nam tiếp tục bị Trung Quốc xỏ mũi kéo đi phiêu lưu để kiệt quệ cả nhân lực và tài lực.

Đó là hậu qủa của lời cám ơn Giang Trạch Dân của ông Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 khi ông ca ngợi quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc là “vừa là đồng chí vừa là anh em” như ông Hồ Chí Minh đã nói, căn cứ theo Tác gỉa Trung Quốc Trương Thanh,lúc đó là Vụ phó Vụ Á châu 1 Bộ Ngoại giao Trung Quốc, người tham dự hội nghị. (Tài liệu của chuyên gia về Trung Quốc Dương Danh Dy, BBC, 23/10/2014)

NGUYỄN PHÚ TRỌNG-TRẦN ĐẠI QUANG


Vậy mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn văn kỷ niệm 100 năm ngày sinh tại quê hương Hưng Yên của ông Nguyễn Văn Linh sáng ngày 30/06/2015 đã không ngớt ca ngợi lập trường kiền trì chủ nghĩa Cộng sản thân Trung Quốc của ông Linh và coi đó như khuôn vàng thước ngọc để bảo vệ quyền lực cho đảng.

Ông Trọng lập lại lời Nguyễn Văn Linh nói rằng: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng ta... Chẳng lẽ bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam lại đem trao vào tay những lực lượng đưa đất nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, con đường chắc chắn không thể bảo đảm độc lập thật sự cho dân tộc, tự do hạnh phúc thật sự cho tuyệt đại đa số nhân dân"

Ông cũng không quên đọc lời ông Linh qủa quyết: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo. Chúng ta phải đấu tranh chống những luận điệu và thủ đoạn đả kích, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ phía những thế lực thù địch, những kẻ cơ hội

Đồng chí kịch liệt phê phán quan điểm đòi "đa nguyên, đa đảng". Đồng chí nói: "Trong điều kiện nước ta, không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động... hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.”

Khi ông Trọng mượn lời Nguyễn Văn Linh để nói vào thời điểm đảng CSVN chuẩn bị Đại hội đảng XII chính là ông muốn nói với đảng viên và người dân về chủ trương lạc hậu và phản dân chủ của những người cầm quyền bây giờ.

Quan điểm độc quyền cai trị của đảng CSVN và chống đa nguyên đa đảng, chống bầu cử dân chủ tự do đã được ông Trọng nói trắng ra mà không cần biết nhân dân và cán bộ đảng viên có còn muốn nghe theo hay không.

Nhưng tại sao ông Trọng lại phải mượn những lời sặc mùi bảo thủ Cộng sản của ông Linh để hù họa người dân vào lúc giặc ngọai xâm Trung Quốc đã vào bên trong ngôi nhà Việt Nam từ Biển Đông đến đất liền ?

Phải chăng ông muốn gửi một thông điệp cho người bạn láng giềng Trung Quốc Tập Cận Bình biết để yên tâm ông sẽ không thay lòng đổi dạ trong chuyến đi Hoa Kỳ gặp Tổng thống Obama trong những ngày sắp tới ?

Song song với diễn văn của ông Trọng là bài viết của Đại tướng Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang được báo đảng CSVN phổ biến có tựa đề “Tiếp tục giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước”.

Bài viết cũng chỉ nhằm ca tụng quan điểm chính trị quyệt đôi trung thành với chủ nghĩa Cộng sản và chống đa nguyên đa đảng của Nguyễn Văn Linh.

Ông Quang viết: “ Đồng chí kịch liệt phê phán những tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, không phù hợp với cách mạng nước ta, nhất là quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, đòi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng chí kiên quyết khẳng định: “Trong điều kiện nước ta không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.”

Ám chỉ đến tình trạng “tự diễn biến, tự chuyễn hóa” trong nội bộ đang đe dọa sự sống còn của đảng, ông Quang đã mượn hòan cảnh dao động của đảng viên thời Nguyễn Văn Linh cầm quyền (1986-1991), đúng là lúc Nhà nước Cộng sản sụp đổ ở Nga và các nước Cộng sản Đông Âu để quyết tâm giữ vững lập trường.

Ông viết: “Lập trường, quan điểm rõ ràng, dứt khoát, không khoan nhượng của Trung ương Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vừa quyết tâm đổi mới đến thắng lợi, vừa kiên định tuyệt đối nguyên tắc cách mạng trong cuộc đấu tranh với những biểu hiện dao động, cơ hội, hữu khuynh của một số người trong và ngoài Đảng đã kịp thời chỉnh đốn về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên, đẩy lùi âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chống chủ nghĩa xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề để sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục phát triển.”

Nhưng sau 17 năm ngày ông Linh qua đời (1998), tình hình thế giới đã thay đổi, thế giới Cộng sản đã tan biến và những con người Cộng sản ở Việt Nam và Trung Quốc cũng đã nhìn ra ánh sáng của dân chủ và tự do cần thiết cho đời sống con người như thế nào.

Nhưng ông tướng Công an đã tát nước theo mưa với ông Trọng để mượn lời Nguyễn Văn Linh mà cao rao: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn” ….Cũng không có lý do gì để chúng ta phải “lùi lại” giai đoạn dân chủ nhân dân, mà lịch sử đã vượt qua. Nếu có những việc của giai đoạn trước chưa làm xong hoặc chưa làm tốt thì chúng ta tiếp tục giải quyết nốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng tại sao người cầm đầu Bộ Công an, lực lượng bảo vệ đảng thứ hai sau Quân đội phải lên giọng quyết liệt bảo vệ chủ nghĩa Cộng sản và bảo vệ đảng đến tận răng như thế vào lúc này?

Phải chăng Công an cũng đang “tự diễn biến” và “tự chuyền hoá” như Quân đội và một số không nhỏ cán bộ, đảng viên?

Hay Trần Đại Quang cũng muốn chuyển một tín hiệu qua biên giới cho Công an Trung Quốc để họ yên tâm trước chuyến Mỹ du lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ? -/-

Phạm Trần

(07/015)

Posted: Wed Jul 08, 2015 6:20 am
by nguyenvsau
Biển Đông: Cần giữ nguyên trạng hay phải thay đổi?

Nguyễn Hưng Quốc
Liên quan đến các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Đông, một số giới chức Việt Nam, trong đó, gần đây nhất là Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, và Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn, Phó chủ tịch Quốc Hội, thành thực nhìn nhận là họ không thể chiếm lại được những gì đã mất vào tay Trung Quốc. Một số người còn nói thêm: Nếu đời nay chúng ta không lấy lại được thì con cháu của chúng ta sẽ làm việc đó.

Trên các diễn đàn xã hội, rất nhiều người phê phán một cách gay gắt luận điệu ấy. Họ cho nói vậy là hèn, là nhục, thậm chí, là bán nước. Họ nêu đích danh những người phát ngôn để chửi. Tôi thông cảm với những sự phẫn nộ ấy. Nhưng tôi cho những lời kết án cũng như chửi rủa ấy là đổ oan. Lý do là không phải chỉ có những người ấy mới có cách suy nghĩ như vậy. Thật ra, đó là cách suy nghĩ chung, hơn nữa, là chính sách chung của cả giới cầm quyền Việt Nam hiện nay.

Dĩ nhiên, giới cầm quyền hiếm khi nói thẳng ra như vậy. Nói như vậy chẳng khác gì một lời tuyên bố đầu hàng. Nhưng chỉ cần chú ý một chút, chúng ta sẽ nhận ra ngay điều đó. Chính sách của Việt Nam đối với Biển Đông là gì? Rất khó biết được bởi chưa có ai trình bày một cách công khai, hệ thống và cụ thể cả. Nhưng trong những lời phát biểu đây đó, chúng ta bắt gặp một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề trên Biển Đông: “giữ nguyên trạng” và “không làm phức tạp hoá” vấn đề để có thể dẫn đến xung đột vũ trang.

Trong mấy cách diễn tả trên, quan trọng nhất là nhóm từ “giữ nguyên trạng” (status quo). Trong bài “The South China Sea: Defining the ‘Status Quo’”, Andrew Chubb cho đó là từ được nhiều quốc gia lặp đi lặp lại nhưng đó cũng là một từ rất mơ hồ với những cách nhìn và cách nghĩ có khi khác hẳn nhau. Giới chức cao cấp của Mỹ cũng như các quốc gia quan tâm đến tình hình Biển Đông, trong đó, có cả Úc, thường kêu gọi các quốc gia liên hệ ở Biển Đông đừng “làm thay đổi nguyên trạng qua các hình thức bạo lực hoặc cưỡng ép”. Giới lãnh đạo Nhật và Philippines cũng vậy: Họ cũng phản đối các nỗ lực đơn phương làm thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo trên Biển Đông và biển Hoa Đông. Điều đáng ngạc nhiên là chính Việt Nam cũng tham gia vào giàn đồng ca ấy bằng những lời kêu gọi các nước tự kiềm chế, đừng làm phức tạp hoá vấn đề bằng cách thay đổi “nguyên trạng” trên các bãi đá và các rạn san hô ở Biển Đông.

Tại sao các nước khác kêu gọi “giữ nguyên trạng” thì được mà Việt Nam thì không?

Trả lời câu hỏi này không khó. Với Nhật, “giữ nguyên trạng” là hòn đảo Senkaku/Điếu Ngư vẫn thuộc về họ; với Philippines, là bãi cạn Scarborough và một số hòn đảo và bãi đá ở Trường Sa vẫn thuộc về họ; với Malaysia, là bảy bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa vẫn thuộc về họ; với Đài Loan, đảo Ba Bình và bãi Bàn Than vẫn thuộc về họ. Ngay với Trung Quốc, quốc gia duy nhất đòi thay đổi cái gọi là “nguyên trạng” ấy bằng cách không ngừng tìm cách cải tạo các bãi đá và rạn san hô thành đảo nhân tạo cũng như âm thầm mưu toan lấn chiếm thêm các hòn đảo khác, cũng muốn “giữ nguyên trạng” ở một địa điểm: quần đảo Hoàng Sa.

Còn Việt Nam? Yêu sách “giữ nguyên trạng” của Việt Nam thực chất là thừa nhận hai điều: thứ nhất, Hoàng Sa là của Trung Quốc; và thứ hai, các hòn đảo và bãi đá ở Trường Sa mà Trung Quốc chiếm cứ từ Việt Nam vào năm 1988 cũng thuộc về Trung Quốc.

Nói cách khác, lập trường của chính phủ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông là: Một, từ bỏ ý định đòi lại Hoàng Sa cũng như các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam. Hai, họ chỉ muốn ngăn chận xu hướng bành trướng thêm của Trung Quốc qua các việc: (1) cải tạo các bãi đá và rạn san hô thành đảo nhân tạo; (2) trên cơ sở các hòn đảo nhân tạo ấy, đòi mở mở rộng chủ quyền trên lãnh hải mà cụ thể nhất là hợp thức hoá con đường lưỡi bò (hay con đường chín đoạn); và cuối cùng (3), hợp thức hoá vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò ấy.

Lập trường ấy, thật ra, không phải hoàn toàn sai. Trong hoàn cảnh và với tương quan lực lượng hiện nay, cần thực tế để nhận ra một điều: Việc chiếm lại Hoàng Sa và các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam là một điều bất khả. Việt Nam không thể làm được điều đó. Mà cũng không có quốc gia nào, kể cả Mỹ, có thể giúp Việt Nam làm được điều đó. Trong bài “Serenity in the South China Sea”, Gareth Evans, cựu Ngoại trưởng của Úc, nhấn mạnh: Mỹ cần phải chấp nhận một thực tế là, với những sức mạnh về kinh tế và quân sự hiện nay, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc trong khu vực và cái thời mà Mỹ làm bá chủ duy nhất ở vùng châu Á – Thái Bình Dương đã qua rồi. Ông cũng nhấn mạnh thêm: Mỹ không có cách gì có thể ngăn chận được việc Trung Quốc cải tạo các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa và sau đó, quân sự hoá các hòn đảo ấy. Điều Mỹ có thể làm là ngăn chận việc nhân danh các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc tuyên bố mở rộng chủ quyền trên lãnh hải chung quanh chúng, từ đó, hợp thức hoá con đường lưỡi bò chiếm đến 80% toàn bộ diện tích của Biển Đông.

Điều Mỹ không thể làm được, Việt Nam lại càng không có sức để làm. Tuy nhiên, việc từ bỏ ý định đòi lại Hoàng Sa và các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam vẫn là một tính toán sai lầm. Sai về phương diện pháp lý: Nó mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các thực thể ấy. Nhưng quan trọng nhất là sai về phương diện chính trị: Nó giảm sức ép đối với Trung Quốc để Trung Quốc rảnh tay nhắm đến việc thực hiện các ý đồ mới của họ trên Biển Đông.

Bởi vậy, theo tôi, dù trên thực tế, chúng ta không thể lấy lại Hoàng Sa và một số hòn đảo tại Trường Sa, chúng ta vẫn cứ phải lớn tiếng đòi hỏi điều đó để cả thế giới biết rõ dã tâm xâm lược và bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông để từ đó, chúng ta mới có thể tập hợp được thế liên minh và sự hợp tác của các quốc gia khác trên thế giới trong trận chiến đối đầu với những âm mưu xâm lấn mới của Trung Quốc.

Posted: Sat Jul 11, 2015 5:45 am
by nguyenvsau
Việt Nam có thật sự xoay trục sang Mỹ không?
Võ Long Triều
Ðáp lời mời của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trên đường sang Mỹ. Phi cơ Việt Nam Airline chở ông và phái đoàn Việt Nam đáp tại phi trường quân sự Andrew lúc 8 giờ sáng ngày 6 tháng 7 năm 2015. Quan chức Hoa Kỳ ra đón tiếp ông Trọng là các ông Scot Marciel, quyền trợ lý ngoại trưởng, Cục Trưởng Cục Lễ Tân Peter Selfridge, và đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius.

Tại sao ngày nay Nguyễn Phú Trọng muốn được mời sang thăm Mỹ? Bởi vì đứng trước bối cảnh chính trị trong vùng Á Châu, với động thái hung hăng ngày càng ngang ngược của Trung Quốc, Việt Nam tìm đường liên minh với một cường quốc nào, hay phe nhóm quốc gia nào, có đủ khả năng và thế lực, có thể làm giảm tham vọng của Bắc Kinh, cường quốc đó là Mỹ. Cho nên chuyến đi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ nhằm mục đích tìm sự hợp tác quân sự song phương với Hoa Kỳ. Ngược lại Mỹ cũng cần kết thân với một Việt Nam đang tranh chấp quyết liệt chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Ðông, khi Hoa Kỳ xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương.

Những lời đường mật của Trung Quốc luôn nhắc nhở 16 chữ vàng và 4 cái tốt trở thành vô nghĩa đối với các đảng viên thân Bắc Kinh. Họ đã thức tỉnh, nhóm lãnh đạo bảo thủ nhận thấy đàn anh cùng chí hướng và tư tưởng đang chủ trương thôn tín Việt Nam. Mặt khác hướng về Tây phương cũng là yêu cầu của một nhóm trí thức đảng viên cao cấp chủ trương từ lâu, và nay dư luận quần chúng đã công khai phát biểu qua cuộc khảo sát của trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy có 69% người Việt Nam được hỏi trả lời rằng, quan hệ thương mại với Mỹ quan trọng hơn là với Trung Quốc. Và 89% người Việt Nam nói được gia nhập Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là điều rất tốt cho đất nước. Trong bối cảnh đó báo Washington Post tiết lộ, chính quyền Obama cho biết Hà Nội bày tỏ nguyện vọng tăng cường quan hệ kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ và Tổng Thống Obama đã đáp ứng mong đợi đó. Phải chăng do ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Thành Ủy Hà Nội, người được Nguyễn Phú Trọng tin cẩn, đã đến Mỹ ngày 21 tháng 7, 2014 để vận động cho ông Nguyễn Phú Trọng được mời và được tiếp đón một cách đặc biệt khi ông thăm viếng Hoa Kỳ. Sau đó ngày 20 tháng 3, 2015, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang lại sang Hoa Kỳ nên giới quan sát quốc tế cho đó là “một bước đột phá trong quan hệ Mỹ-Việt.”

Tiến Sĩ Jonathan London, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Việt từ Hồng Kông nhận định với VOA rằng: “Chúng ta đang chứng kiến hai nước cựu thù Hoa Kỳ và Việt Nam đã cùng nhau đi đến một nơi có quyền lợi của cả hai bên.” Lord Palmerston nổi tiếng vì đã từng nói: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, chúng ta cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chúng ta chỉ có các lợi ích vĩnh viễn.” Ngày nay Việt Nam và Hoa Kỳ đang theo đuổi lợi ích của mình. Xưa nay vì lợi ích các đồng minh hay kẻ thù cũng đã thay đổi lập trường. Phải chăng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ-Trung Quốc đang đổi thay. Người ta còn nhớ năm 1972 trước khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon được long trọng tiếp rước tại Bắc Kinh, Chủ Tịch Trung Quốc Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Kẻ thù ngày trước cũng có thể trở thành người bạn ngày hôm sau.” Liền các bảng khẩu hiệu chống “Ðế quốc Mỹ là kẻ thù số một của đất nước ta,” treo dán đầy đường lần lượt biến mất.

Giáo Sư Alexander L. Vuving thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương tại Honolulu còn so sánh chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Nixon năm 1972 đã “mở một cuộc diện mới” trong tam giác quan hệ Liên Xô-Trung Quốc-Mỹ. Ngày nay ông nghĩ chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ mở ra một cuộc diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ. Trong khi đó Giáo Sư Carl Thayer viết bài “Việt Nam xoay trục sang Mỹ” đăng trên trang web the Diplomat, nhận định rằng: Việt Nam có thể coi Hoa Kỳ là một đối tác đáng tin cậy, theo ông Thayer thì sự đánh giá này sẽ được đưa vào các văn kiện chính sách chiến lược quan trọng được soạn thảo và sẽ được đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII thông qua.

Tuy nhiên vẫn có người cho rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách lật đổ chế độ thông qua việc khai thác vấn đề nhân quyền tự do tôn giáo như một đòn bẩy thúc đẩy việc biến đổi Việt Nam thành một nền dân chủ đa đảng. Ðiều đó Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VNEpress: “Hai nước Việt-Mỹ đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẽ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặt biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau.”

Nghi lễ Tổng Thống Obama và Phó Tổng Thống Joe Bidentiếp đón Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong ngày 7 tháng 7, 2015 tại phòng Bầu Dục Nhà Trắng, mang ý nghĩa biểu tượng và trọng thị, mặc dù ông Trọng không phải là nguyên thủ quốc gia. Như vậy cũng là một cách Mỹ công khai chấp nhận đảng Cộng Sản Hà Nội là nhà cầm quyền chính thức của Việt Nam.

Hai bên đã có các cuộc thảo luận thẳng thắn về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Tổng Thống Obama nói, dù Hoa Kỳ và Việt Nam còn khác biệt về học thuyết chính trị nhưng hai nước đang làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác trong các lãnh vực y tế, khí hậu và các vấn đề khác. Riêng Nguyễn Phú Trọng công khai tiết lộ hai bên trao đổi về những vấn đề vướng mắc như đàm phán và ký kết TPP, nhân quyền, tình hình diễn biến mới trên Biển Ðông và hai bên đồng ý thúc đẩy mối quan hệ toàn diện trong nhiều lãnh vực đặc biệt an ninh và quốc phòng.

Trong cuộc tiếp xúc với báo chí hai vị, Tổng Thống Obama và Nguyễn Phú Trọng, xác nhận sự hợp tác toàn diện, đặc biệt ông Nguyễn Phú Trộng nói rõ ràng với Tổng Thống Obama một cách rất tự nhiên thành thật: “Quá khứ chúng ta không quên, nhưng tương lai do chính chúng ta xây dựng.” Một cách xác định ý muốn Việt-Mỹ sẽ bắt tay xây dựng tương lai. Vậy ông Trọng cố tình quên 16 chữ vàng của Trung Quốc, “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai,” hay là như người Tây phương có câu nói mỉa mai “thành thật tiếp nối” (sincérité successive). Rồi đây ông sẽ trả lời với Trung Quốc như thế nào hay là Việt Nam đã dứt khoát xoay trục về Mỹ Quốc?

Hai vấn đề chủ yếu đối với Việt Nam là được gia nhập TPP, và hợp tác quốc phòng song phương nhằm chống lại sự đàn áp của Bắc Kinh. Nhưng khúc xương khó nuốt là nhân quyền. Cho dù Nguyễn Phú Trọng có hứa hẹn để cho cuộc thảo luận với Tổng Thống Obama được tốt đẹp. Thì vấn đề nhân quyền này vẫn phải được Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng mổ xẻ, kiểm điểm lại và sẽ kềm hãm, hoặc cấm đoán. Bởi vì một khi có quyền tự do ngôn luận, có quyền biểu tình phản đối ôn hòa, có quyền tự do hội họp, có quyền đình công, v.v... thì đảng sẽ mất một phần lớn quyền toàn trị.

Ðã có lần ông Chủ Tịch Nguyễn Minh triết, từng hứa hẹn với Tổng Thống George W. Bush tháng 6 năm 2007, rằng Việt Nam sẽ cải thiện nhân quyền, nhưng khi ông về Việt Nam thì nhà nước do ông lãnh đạo đàn áp nhân quyền mạnh bạo hơn. Trước khi ông Triết đi Mỹ, Việt Nam đã thả nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Vũ Bình do yêu cầu từ phía Mỹ để chứng minh Việt Nam trên con đường tôn trọng nhân quyền. Nhưng sau đó họ bắt lại nhiều người hơn. Lần này trước khi Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, Hà Nội cũng đã thả Ðiếu Cầy Nguyễn Văn Hải do chính Tổng Thống Obama đích thân kêu gọi phải thả từ lâu.

Cho nên ngườii ta có thể hình dung trong cuộc đàm phán về việc gia nhập TPP, Việt Nam có thể cam kết một số điều thuận cho phái đoàn Mỹ và Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Nhưng sau đó Hà Nội có giữ lời cam kết hay không? Ðó lại là vấn đề khác, một vài quan chức Mỹ nghĩ rằng chúng ta phải chờ xem. Từ trước đến nay sự tráo trở, mưu mẹo, chối bỏ lời cam kết là thói quen trắng trợn của Cộng Sản.

Tóm lại, Việt Nam đứng trước hiện tình chính trị phải đương đầu với sự đe dọa của Trung Quốc, nhiều tiền, mạnh thế lực quân sự, lắm mưu mẹo nên Hà Nội không có con đường nào khác là phải đổi mới tư duy, phải tìm đường hợp tác với Mỹ, Trong trường hợp đó Việt Nam sẽ phải cải thiện nhân quyền, chế độ sẽ cởi mở hơn, và thêm một lần nữa phải “đổi mới để sống còn.” Hay là chuyến đi này của Nguyễn Phú Trọng chỉ có mục đích tạo uy thế cho cá nhân và phe nhóm của ông trong kỳ đại hội đảng lần thứ 12 mà thôi. Nếu quả thật như vậy thì sẽ vô cùng bất hạnh cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

Posted: Mon Jul 13, 2015 4:55 am
by tankhoasinh
Việt Nam có thật sự xoay trục sang Mỹ không?

Võ Long Triều
Ðáp lời mời của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trên đường sang Mỹ. Phi cơ Việt Nam Airline chở ông và phái đoàn Việt Nam đáp tại phi trường quân sự Andrew lúc 8 giờ sáng ngày 6 tháng 7 năm 2015. Quan chức Hoa Kỳ ra đón tiếp ông Trọng là các ông Scot Marciel, quyền trợ lý ngoại trưởng, Cục Trưởng Cục Lễ Tân Peter Selfridge, và đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius.

Tại sao ngày nay Nguyễn Phú Trọng muốn được mời sang thăm Mỹ? Bởi vì đứng trước bối cảnh chính trị trong vùng Á Châu, với động thái hung hăng ngày càng ngang ngược của Trung Quốc, Việt Nam tìm đường liên minh với một cường quốc nào, hay phe nhóm quốc gia nào, có đủ khả năng và thế lực, có thể làm giảm tham vọng của Bắc Kinh, cường quốc đó là Mỹ. Cho nên chuyến đi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ nhằm mục đích tìm sự hợp tác quân sự song phương với Hoa Kỳ. Ngược lại Mỹ cũng cần kết thân với một Việt Nam đang tranh chấp quyết liệt chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Ðông, khi Hoa Kỳ xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương.

Những lời đường mật của Trung Quốc luôn nhắc nhở 16 chữ vàng và 4 cái tốt trở thành vô nghĩa đối với các đảng viên thân Bắc Kinh. Họ đã thức tỉnh, nhóm lãnh đạo bảo thủ nhận thấy đàn anh cùng chí hướng và tư tưởng đang chủ trương thôn tín Việt Nam. Mặt khác hướng về Tây phương cũng là yêu cầu của một nhóm trí thức đảng viên cao cấp chủ trương từ lâu, và nay dư luận quần chúng đã công khai phát biểu qua cuộc khảo sát của trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy có 69% người Việt Nam được hỏi trả lời rằng, quan hệ thương mại với Mỹ quan trọng hơn là với Trung Quốc. Và 89% người Việt Nam nói được gia nhập Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là điều rất tốt cho đất nước. Trong bối cảnh đó báo Washington Post tiết lộ, chính quyền Obama cho biết Hà Nội bày tỏ nguyện vọng tăng cường quan hệ kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ và Tổng Thống Obama đã đáp ứng mong đợi đó. Phải chăng do ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Thành Ủy Hà Nội, người được Nguyễn Phú Trọng tin cẩn, đã đến Mỹ ngày 21 tháng 7, 2014 để vận động cho ông Nguyễn Phú Trọng được mời và được tiếp đón một cách đặc biệt khi ông thăm viếng Hoa Kỳ. Sau đó ngày 20 tháng 3, 2015, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang lại sang Hoa Kỳ nên giới quan sát quốc tế cho đó là “một bước đột phá trong quan hệ Mỹ-Việt.”

Tiến Sĩ Jonathan London, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Việt từ Hồng Kông nhận định với VOA rằng: “Chúng ta đang chứng kiến hai nước cựu thù Hoa Kỳ và Việt Nam đã cùng nhau đi đến một nơi có quyền lợi của cả hai bên.” Lord Palmerston nổi tiếng vì đã từng nói: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, chúng ta cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chúng ta chỉ có các lợi ích vĩnh viễn.” Ngày nay Việt Nam và Hoa Kỳ đang theo đuổi lợi ích của mình. Xưa nay vì lợi ích các đồng minh hay kẻ thù cũng đã thay đổi lập trường. Phải chăng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ-Trung Quốc đang đổi thay. Người ta còn nhớ năm 1972 trước khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon được long trọng tiếp rước tại Bắc Kinh, Chủ Tịch Trung Quốc Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Kẻ thù ngày trước cũng có thể trở thành người bạn ngày hôm sau.” Liền các bảng khẩu hiệu chống “Ðế quốc Mỹ là kẻ thù số một của đất nước ta,” treo dán đầy đường lần lượt biến mất.

Giáo Sư Alexander L. Vuving thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương tại Honolulu còn so sánh chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Nixon năm 1972 đã “mở một cuộc diện mới” trong tam giác quan hệ Liên Xô-Trung Quốc-Mỹ. Ngày nay ông nghĩ chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ mở ra một cuộc diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ. Trong khi đó Giáo Sư Carl Thayer viết bài “Việt Nam xoay trục sang Mỹ” đăng trên trang web the Diplomat, nhận định rằng: Việt Nam có thể coi Hoa Kỳ là một đối tác đáng tin cậy, theo ông Thayer thì sự đánh giá này sẽ được đưa vào các văn kiện chính sách chiến lược quan trọng được soạn thảo và sẽ được đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII thông qua.

Tuy nhiên vẫn có người cho rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách lật đổ chế độ thông qua việc khai thác vấn đề nhân quyền tự do tôn giáo như một đòn bẩy thúc đẩy việc biến đổi Việt Nam thành một nền dân chủ đa đảng. Ðiều đó Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VNEpress: “Hai nước Việt-Mỹ đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẽ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặt biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau.”

Nghi lễ Tổng Thống Obama và Phó Tổng Thống Joe Bidentiếp đón Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong ngày 7 tháng 7, 2015 tại phòng Bầu Dục Nhà Trắng, mang ý nghĩa biểu tượng và trọng thị, mặc dù ông Trọng không phải là nguyên thủ quốc gia. Như vậy cũng là một cách Mỹ công khai chấp nhận đảng Cộng Sản Hà Nội là nhà cầm quyền chính thức của Việt Nam.

Hai bên đã có các cuộc thảo luận thẳng thắn về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Tổng Thống Obama nói, dù Hoa Kỳ và Việt Nam còn khác biệt về học thuyết chính trị nhưng hai nước đang làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác trong các lãnh vực y tế, khí hậu và các vấn đề khác. Riêng Nguyễn Phú Trọng công khai tiết lộ hai bên trao đổi về những vấn đề vướng mắc như đàm phán và ký kết TPP, nhân quyền, tình hình diễn biến mới trên Biển Ðông và hai bên đồng ý thúc đẩy mối quan hệ toàn diện trong nhiều lãnh vực đặc biệt an ninh và quốc phòng.

Trong cuộc tiếp xúc với báo chí hai vị, Tổng Thống Obama và Nguyễn Phú Trọng, xác nhận sự hợp tác toàn diện, đặc biệt ông Nguyễn Phú Trộng nói rõ ràng với Tổng Thống Obama một cách rất tự nhiên thành thật: “Quá khứ chúng ta không quên, nhưng tương lai do chính chúng ta xây dựng.” Một cách xác định ý muốn Việt-Mỹ sẽ bắt tay xây dựng tương lai. Vậy ông Trọng cố tình quên 16 chữ vàng của Trung Quốc, “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai,” hay là như người Tây phương có câu nói mỉa mai “thành thật tiếp nối” (sincérité successive). Rồi đây ông sẽ trả lời với Trung Quốc như thế nào hay là Việt Nam đã dứt khoát xoay trục về Mỹ Quốc?

Hai vấn đề chủ yếu đối với Việt Nam là được gia nhập TPP, và hợp tác quốc phòng song phương nhằm chống lại sự đàn áp của Bắc Kinh. Nhưng khúc xương khó nuốt là nhân quyền. Cho dù Nguyễn Phú Trọng có hứa hẹn để cho cuộc thảo luận với Tổng Thống Obama được tốt đẹp. Thì vấn đề nhân quyền này vẫn phải được Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng mổ xẻ, kiểm điểm lại và sẽ kềm hãm, hoặc cấm đoán. Bởi vì một khi có quyền tự do ngôn luận, có quyền biểu tình phản đối ôn hòa, có quyền tự do hội họp, có quyền đình công, v.v... thì đảng sẽ mất một phần lớn quyền toàn trị.

Ðã có lần ông Chủ Tịch Nguyễn Minh triết, từng hứa hẹn với Tổng Thống George W. Bush tháng 6 năm 2007, rằng Việt Nam sẽ cải thiện nhân quyền, nhưng khi ông về Việt Nam thì nhà nước do ông lãnh đạo đàn áp nhân quyền mạnh bạo hơn. Trước khi ông Triết đi Mỹ, Việt Nam đã thả nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Vũ Bình do yêu cầu từ phía Mỹ để chứng minh Việt Nam trên con đường tôn trọng nhân quyền. Nhưng sau đó họ bắt lại nhiều người hơn. Lần này trước khi Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, Hà Nội cũng đã thả Ðiếu Cầy Nguyễn Văn Hải do chính Tổng Thống Obama đích thân kêu gọi phải thả từ lâu.

Cho nên ngườii ta có thể hình dung trong cuộc đàm phán về việc gia nhập TPP, Việt Nam có thể cam kết một số điều thuận cho phái đoàn Mỹ và Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Nhưng sau đó Hà Nội có giữ lời cam kết hay không? Ðó lại là vấn đề khác, một vài quan chức Mỹ nghĩ rằng chúng ta phải chờ xem. Từ trước đến nay sự tráo trở, mưu mẹo, chối bỏ lời cam kết là thói quen trắng trợn của Cộng Sản.

Tóm lại, Việt Nam đứng trước hiện tình chính trị phải đương đầu với sự đe dọa của Trung Quốc, nhiều tiền, mạnh thế lực quân sự, lắm mưu mẹo nên Hà Nội không có con đường nào khác là phải đổi mới tư duy, phải tìm đường hợp tác với Mỹ, Trong trường hợp đó Việt Nam sẽ phải cải thiện nhân quyền, chế độ sẽ cởi mở hơn, và thêm một lần nữa phải “đổi mới để sống còn.” Hay là chuyến đi này của Nguyễn Phú Trọng chỉ có mục đích tạo uy thế cho cá nhân và phe nhóm của ông trong kỳ đại hội đảng lần thứ 12 mà thôi. Nếu quả thật như vậy thì sẽ vô cùng bất hạnh cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

Posted: Sat Jul 18, 2015 2:44 am
by thienthanh
Báo Nga nói về sự sụp đổ của chứng khoán Trung Quốc

Phong Minh
( HOA TỰ DO )

Image

“…Chúng ta sẽ sớm nghe thấy những lời nói trấn an của các quan chức Trung Quốc và được chứng kiến sự “bình thường hóa” giao dịch
trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Những hậu quả nghiêm trọng nhất có thể sẽ xảy ra vào mùa Thu này. “Thiên tử” đã tới hạn…”
- Chuyên gia Nga dự đoán kinh tế Trung Quốc nhất định sẽ suy thoái và người Nga không nên trông đợi vào chỗ dựa như vậy.

Báo chí Nga những ngày qua rất quan tâm tới biến động trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Một trong những bài báo đáng chú ý có tiêu đề “Sự sụp đổ của Trung Quốc. Kết thúc của một kỳ tích” được đăng trên trang mạng Svpressa.ru ngày 6/7 vừa qua.

Bài báo được nhiều trang mạng lớn của Nga đăng lại. Nhưng điều đáng chú ý hơn là không hiểu vì lý do gì mà sau đó bài báo này lại bị gỡ khỏi trang chủ Svpressa.ru. Xin lược dịch nội dung để quý bạn đọc tham khảo quan điểm của một chuyên gia Nga về những biến động của thị trường chứng khoán Trung Quốc, xa hơn là nền kinh tế Trung Quốc và tác động tới nước Nga:

Trong những tuần qua, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã bị rúng động. Cần phải thẳng thắn rằng sự giảm điểm của chỉ số Shanghai composite bắt đầu từ giữa tháng 6/2015 không phải là sự điều chỉnh mà là sụp đổ toàn diện. Từ mốc hơn 5.100 điểm, chỉ số này lao dốc xuống chỉ còn trên 3.600 điểm, giảm khoảng 30%.

Đã có nhiều cuộc tranh luận về nguyên nhân và hậu quả của sự sụp đổ này. Những nguyên nhân quen thuộc được nêu lên như sự mất cân đối về cơ cấu, sự phát triển quá nóng của thị trường hay hiện tượng bong bóng trên thị trường bất động sản. Cũng có ý kiến cho rằng nguyên nhân là do chiêu trò của giới đầu cơ hoặc việc rút vốn ồ ạt liên quan tới các vấn đề ở châu Âu với một từ “kinh hoàng” là Hy Lạp.

Sự hoảng loạn ngày càng gia tăng và việc phân tích sự hoảng loạn đó trên thị trường chứng khoán Trung Quốc là điều cần thiết.

Kết luận đầu tiên có thể rút ra là nếu không có các vấn đề trong thực tại nền kinh tế Trung Quốc thì trên thị trường chứng khoán sẽ không xảy ra “cơn bão” mạnh như vậy. Vậy thì nguồn gốc của cuộc khủng hoảng thị trường ở Trung Quốc là như thế nào?

Ngày từ năm 2012, một báo cáo phân tích đã được viện chúng tôi (tác giả) công bố ở Nga mang tên “Những mâu thuẫn của kinh tế Trung Quốc: sự xuống dốc và kết thúc của một kỳ tích”. (Tác giả giải thích thêm rằng báo cáo do chính tác giả chủ biên).

Báo cáo này nêu rõ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc không phải là giai đoạn chuyển đổi sang tốc độ tăng trưởng tự nhiên. Trung Quốc đang đón chờ sự suy giảm sản xuất và chấn động chính trị.
Image
Nguồn cung bất động sản trở nên "thừa mứa" ở Trung Quốc
Báo cáo kết luận rằng Trung Quốc cần thay đổi mô hình kinh tế và nếu không làm vậy sẽ không thể tiếp tục phát triển, đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc không thể trở thành đầu tàu mới của nền kinh tế thế giới mà ngược lại đang kéo chìm bị kéo chìm xuống.

Vì cố gắng duy trì tăng trưởng, chính quyền Trung Quốc đã tạo ra những bong bóng tín dụng và cả bong bóng công nghiệp trong nền kinh tế. Sự tăng trưởng theo chiều rộng của Trung Quốc đã hỗ trợ cho nền sản xuất nguyên liệu và máy móc trên thế giới. Tuy nhiên, điều đó lại không thể tạo ra ở Trung Quốc những động lực kinh tế mới đối với thế giới mà chỉ làm kiệt quệ tài nguyên của nước này.

Trong giai đoạn 2010-2012, Trung Quốc không hề tạo ra bất kỳ lĩnh vực mang tính cách mạng nào, không sản xuất ra loại hàng hóa nào mới về mặt nguyên tắc. Trên tất cả, Trung Quốc hiện phụ thuộc vào người tiêu dùng châu Âu và Bắc Mỹ.

Sự suy giảm thu nhập thực tế của người lao động ở các quốc gia nằm ở trung tâm chủ nghĩa tư bản thế giới đã gây khó khăn cho nền kinh tế Trung Quốc từ năm này qua năm khác và ngày càng tiêu cực hơn. Trong bối cảnh đó, không nên mù quáng mà tìn vào những con số thống kê của Trung Quốc bởi nước này luôn tô điểm cho những kết quả kinh tế.

Cơ sở của “kỳ tích” kinh tế Trung Quốc là sự thống nhất của một hệ thống “trấn áp” cứng rắn cùng với nguồn lực lao động giá rẻ khổng lồ. “Năng lượng cơ bắp” là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc hiện đã không thể đảm bảo giảm giá thành sản phẩm.

Sự suy yếu của đồng euro, đồng rúp, đồng Bảng Anh trong năm 2014 là những tin tức “không mấy dễ chịu” đối với nền sản xuất Trung Quốc.

Tác giả bài báo một lần nữa nhắc tới bản báo cáo được công bố năm 2012 đã nhấn mạnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa kết thúc. Làn sóng thứ hai của cuộc khủng hoảng này trong năm 2014 đã tác động tới hàng loạt quốc gia, trong đó có Brazil, Nga và Nam Phi.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng và tăng trưởng! Và dường như không chú ý tới thực tế này. Điều đó tạo ra nguy cơ biến Trung Quốc trở thành chiếc “máy khuếch đại” cuộc khủng hoảng trên toàn cầu và nguy cơ đó nay đang dần trở thành hiện thực.

Sự sụp đổ trên thị trường chứng khoán của Trung Quốc chính là dấu hiệu đầu tiên.

Hậu quả nghiêm trọng nhất chính là sự sụt giảm giá nguyên liệu toàn cầu, trong đó có mặt hàng quan trọng như dầu thô, hiện đang dao động ở mức 55-65 USD/thùng. Điều đó đã được dự đoán trước khi người Nga tuyên bố nền kinh tế Trung Quốc nhất định sẽ cứu được nước Nga.

Chính vì vậy, Nga phải tự giải quyết cuộc khủng hoảng của chính mình. Trung Quốc có thể sẽ không còn là một chỗ dựa nữa bởi nền kinh tế của nước này chắc chắn sẽ chuyển từ giảm tốc sang giai đoạn suy thoái. Sự mất cân đối ở Trung Quốc đã tồn tại từ lâu.
Image
Nền kinh tế Nga đang gặp rất nhiều khó khăn do dầu thô
và đồng rúp mất giá
Trung Quốc không có đủ nguồn nguyên liệu trong nước trong khi nhu cầu ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2010-2011, chính quyền Trung Quốc vẫn cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng không chịu thay đổi mô hình. Kết quả là sự dư thừa nhà ở, trong khi việc xây dựng đường xá và bán xe ô tô cũng chỉ dựa trên các khoản vay chứ không phải dựa vào thu nhập của người dân.

Sự tăng trưởng hình thức này đã che giấu lạm phát thực sự. Trong giai đoạn 2012-2014, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc bắt đầu chậm lại và hiện đang “bốc mùi” không hề dễ chịu chút nào.

Bên cạnh đó, làn sóng rút vốn khỏi Trung Quốc trong 4 năm qua đang thu hẹp khả năng của thị trường nước này. Sau đợt suy giảm 2008-2009, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã không thể phục hồi. Từ năm 2011, tiếp tục diễn ra sự sụt giảm song tới đầu năm 2014 vẫn không thể tăng mạnh trở lại. Giờ đây, khi thị trường đang trên đà sụp đổ thì rõ ràng càng có nhiều công ty nước ngoài muốn rời bỏ Trung Quốc hoặc thu hẹp sự hiện diện của họ trong nền kinh tế này.

Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở Trung Quốc là không thể tránh khỏi và nó sẽ trở thành yếu tố đưa nền kinh tế toàn cầu sang giai đoạn thứ hai của cuộc khủng hoảng. Vấn đề chỉ là nó sẽ diễn ra ngay sau khi thị trường chứng khoán Thượng Hải sụp đổ, hay là chúng ta sẽ được chứng kiến sự ổn định của nó khi chính quyền Trung Quốc kiểm soát tình hình thêm một thời gian.

Và suy nghĩ rằng “kỳ tích Trung Quốc” là chỗ dựa cho nước Nga cần phải chấm dứt!

Tác giả bài báo kết luận rằng nửa cuối mùa Hè này sẽ trôi qua với sự “nổi bật” của Trung Quốc. Những sự kiện ở đất nước này sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều thứ và không khó để dự đoán.

Việc cắt giảm sản xuất công nghiệp ở Trung Quốc sẽ đánh mạnh vào giá cả trên thị trường nguyên liệu. Sự suy giảm thương mại cũng sẽ tác động mạnh tới các đối tác “đại dương” của Trung Quốc như Australia và New Zealand. Khu vực Trung Á, các thị trường châu Âu, châu Mỹ cũng sẽ chịu thiệt hại và tất nhiên là cả các nhà xuất khẩu của Nga.

Tuy nhiên, hiện vẫn còn quá sớm để đưa ra kết luận. Chúng ta sẽ sớm nghe thấy những lời nói trấn an của các quan chức Trung Quốc và được chứng kiến sự “bình thường hóa” giao dịch trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Những hậu quả nghiêm trọng nhất có thể sẽ xảy ra vào mùa Thu này. “Thiên tử” đã tới hạn và sẽ suy thoái.

Posted: Sun Jul 19, 2015 1:46 am
by thienthanh
Phải nói trước với Tập Cận Bình

Ngô Nhân Dụng
Sau khi hai chiến hạm thuộc Hạm Ðội số 7 Hải Quân Hoa Kỳ vừa hoàn tất một đợt tuần tra tại Biển Ðông, ngày 14 Tháng Bảy, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying, 华春莹) đã phản đối, cảnh cáo rằng “tự do hàng hải không có nghĩa là đem chiến hạm và chiến đấu cơ của một nước đi vào lãnh hải và không phận của một quốc gia khác.”

Hôm qua Ðô Ðốc Scott Swift, tư lệnh Hạm Ðội 7, nhân gặp gỡ các nhà báo Phi Luật Tân đã nói như để đáp lời bà Hoa Xuân Oánh. Ông nói thẳng rằng những hòn đảo nhân tạo Trung Cộng mới xây dựng trong vùng Trường Sa vẫn là nơi còn đang tranh chấp giữa các nước, đối với chính phủ Mỹ chúng không thuộc nước nào. Vì vậy, hoạt động của Hải Quân Mỹ trong vùng đó không bị giới hạn: “Tôi không thấy trong viễn tượng quân sự có một thay đổi nào về các hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương.” Phải có chỉ thị từ cấp trên trong chính phủ Mỹ ông Swift mới dám nói cứng rắn như vậy. Ông nói thêm: “Chúng tôi luôn luôn sắp sẵn để đối phó với mọi tình huống, chỉ chờ khi nào tổng thống quyết định.”

Ðô Ðốc Swift trấn an các nhà báo Phi Luật Tân rằng Mỹ sẽ đưa thêm các chiến hạm khác tới vùng này, ngoài bốn chiếc đang có mặt, trong đó chiếc USS Fort Worth vẫn đóng ở Singapore và vừa mới đi qua khu vực Trường Sa. Hải Quân Mỹ đang đặt thêm 52 chiến hạm thuộc loại dùng vũ khí tối tân nhất, một số sẽ được điều động tới vùng biển Ðông Nam Á.

Nước Mỹ đứng trung lập về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh đến quyền tự do thông thương trên biển. Hôm qua, Ðô Ðốc Swift xác định: “Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã trình bày ý kiến rõ ràng là chúng tôi không ủng hộ việc sử dụng vũ lực và áp chế.”

Dùng vũ lực áp chế, đó chính là chủ trương của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong vùng Biển Ðông nước ta. Năm 1974, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa do các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tử chiến bảo vệ. Năm 1988 lại đánh chiếm thêm nhiều đảo ở Trường Sa, Hải Quân Việt Nam được lệnh không kháng cự.

Trong mấy năm qua, Trung Cộng còn thách thức dân Việt với nhiều hành động áp chế khác. Sau khi đem giàn khoan Hồ Cẩm Ðào-981 tới thăm dò dầu lửa ngay trong vùng biển nước ta khiến dân Việt Nam phẫn nộ, Trung Cộng đem tới 113 chiến thuyền, đánh phá thuyền của dân Việt đi đánh cá. Gần đây nhất, Trung Cộng đã bước qua một lằn ranh giới khi xây dựng các hòn đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm, xây phi trường và đóng quân, trực tiếp đe dọa bờ biển Việt Nam. Ðó là một thách thức công khai xem sức chịu đựng của dân Việt tới đâu.

Vào thế kỷ 11, vua quan nhà Tống bên Tàu đã khiêu khích dân Việt, nhưng cũng không tàn tệ đến như vậy. Chính quyền Khai Phong chỉ sai hai tỉnh Quảng Tây và Quế Châu tập luyện binh sĩ, chuẩn bị lương thảo, vẽ bản đồ và làm bản kê khai về địa thế, dân số, và tài nguyên nước Ðại Việt. Triều đình nước ta đã phản ứng trước, bằng một cuộc hành quân tấn công qua biên giới, cướp phá rồi rút về.

Triều đình Tập Cận Bình nuôi tham vọng lớn hơn nhà Tống, và ỷ vào sức mạnh quân sự áp đảo đối với nước ta, cho nên đã hung hăng áp chế hơn nhiều. Trước khi ông Tập Cận Bình sang Việt Nam như đang dự tính, phải nói trước cho ông biết rằng: Tính nhẫn nhục của dân tộc Việt Nam có giới hạn. Nếu những người đang nắm quyền ở nước ta không dám nói điều đó, người dân phải lên tiếng.

Việt Nam phải trình bày trước cả thế giới một cách công khai, nói rõ ràng các sự kiện Trung Quốc đã đánh chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mới xảy ra chưa đầy nửa thế kỷ. Cho nên dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận quân đội Trung Quốc có mặt tại các hòn đảo đó! Việc tăng cường binh lực, xây thêm căn cứ trên các hòn đảo chiếm đoạt bất hợp pháp càng không thể chấp nhận. Hãy hỏi chính quyền Trung Cộng rằng nếu Nhật Bản đưa một tiểu đội hải quân tới đồn trú tại Senkaku, hay Ðiếu Ngư Ðài, thì thái độ của người dân Trung Quốc sẽ ra sao?

Việt Nam phải cho ông Tập Cận Bình mình sẽ tiếp tục phản đối các hành động xâm lược trên một cách mạnh mẽ, với các biện pháp cụ thể. Việc làm ôn hòa trước tiên là chính thức phản kháng trên các diễn đàn và thưa kiện tại tất cả các tòa án quốc tế về những hành động thôn tính của Trung Cộng trong các năm 1974 và 1988. Từ trước đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám nói gì về các cuộc xâm lăng này, thậm chí còn cấm dân Việt Nam không được bày tỏ tình yêu nước trong những ngày kỷ niệm. Tại sao Phi Luật Tân chỉ bị đe dọa mất mấy bãi đá ngầm mà chính phủ họ đã nộp đơn kiện Trung Cộng trước tòa án trọng tài thế giới ở Den Haag, Hòa Lan; còn Việt Nam đã mất bao nhiêu hòn đảo từ 40 năm qua mà không hề chính thức, công khai đòi lại?

Thái độ chịu nhục của đảng Cộng Sản Việt Nam khiến cho các nước khác coi đó là những “sự đã rồi” đã được dân Việt chấp thuận. Ðã đến lúc phải xóa bỏ hình ảnh nhục nhã đó trong dư luận thế giới, nhất là chính phủ các cường quốc và các nước trong vùng. Dù nước ta không thể đưa quân tới chiếm lại các hòn đảo đã mất, như chính Trung Quốc cũng không đem quân đội chiếm lại Ðiếu Ngư Ðài, nhưng cần phát động khắp nước những cuộc biểu tình “Ðòi Hoàng Sa! Ðòi Trường Sa!” Cứ tiếp tục như vậy cho cả loài người biết ý chí của dân Việt ra sao; và cho Trung Cộng biết không thể bước tới nữa. Người Việt bây giờ sẽ không làm như Lý Thường Kiệt, nhưng sẵn sàng dùng vũ khí bảo vệ ngư dân hành nghề kiếm sống.

Những hành động phản kháng của dân Việt là cách duy nhất có thể kiềm chế chiến lược thôn tính của Trung Cộng trong vùng biển Ðông Nam Á. Lâu nay, Bắc Kinh vẫn theo đuổi chiến lược leo thang từng bước trong cả vùng. Thành lập huyện Tam Sa. Ðưa hải quân tới tập trận tại chỗ. Ðưa giàn khoan dầu tới giữa hải phận Việt Nam. Xây dựng thêm các hòn đảo nhân tạo, lập các phi trường và căn cứ quân sự. Từng bước một, mỗi bước đều được tính toán trước, có trình tự, bài bản. Họ hoàn toàn kiểm soát tình hình, dự đoán trước phản ứng của các nước khác để đối phó. Họ gây tình trạng căng thẳng, rồi tạm ngưng cho mọi người quên đi, rồi lại gây căng thẳng tiếp. Họ tự coi có thể kiểm soát được mọi tình huống. Ðặc biệt là đối với Cộng Sản Việt Nam thì khả năng kiểm soát của họ coi như hoàn toàn.

Giới lãnh đạo Trung Cộng còn đang tập sự đóng vai cường quốc; còn đang học tập. Các chiến lược gia của họ không học được một bài học mà hai siêu cường Nga Xô và Mỹ đã tỉnh ngộ ra trong “cuộc chơi Chiến Tranh Lạnh,” nếu dùng hình ảnh “lý thuyết trò chơi” (game theory). Bài học rất quan trọng là: Không thể leo thang mãi được. Leo thang có lúc rất nguy hiểm. Ðối thủ của mình trong cuộc chơi có thể có những phản ứng bất ngờ. Khi đó, cuộc chơi sẽ diễn biến không thể tính toán trước, đưa tình trạng căng thẳng tới chỗ không ai kiểm soát được nữa.

Thái độ của chính phủ Mỹ thay đổi rõ rệt từ khi Trung Cộng xây dựng các phi trường quân sự trên các hòn đảo nhân tạo. Họ đã đưa pháo đài bay, xuất phát từ Guam, và chiến hạm đi từ Singapore đi qua vùng biển này. Ðô Ðốc Swift đã nhắc lại lập trường của chính phủ Obama, và ông chỉ còn chờ lệnh của ông Obama hay người kế vị, sẵn sàng đối phó “với mọi tình huống.” Ðây là một thông điệp mà Bắc Kinh phải nhìn ra, phải tiếp nhận bài học cũ: Leo thang có lúc rất nguy hiểm! Chính phủ Mỹ đã vạch ra một lằn ranh cho Trung Cộng thấy họ không nên bước qua.

Cộng Sản Việt Nam có dám gửi một thông điệp tương tự hay không? Ðâu là lằn ranh định giới hạn hạn cho chính sách leo thang của Trung Cộng?

Trong Tháng Chín năm nay, Tập Cận Bình sẽ qua Washington gặp Barack Obama. Họ sẽ kiểm điểm lại những thỏa thuận giữa hai người trong cuộc gặp gỡ ba năm trước. Có thể đoán ông Obama sẽ vạch ra một lằn ranh về hành động của Trung Cộng tại Biển Ðông; nếu bước qua thì tình hình sẽ khó kiểm soát. Ông Obama không hề thấy nước Việt Nam có ấn định một lằn ranh như vậy hay không. Vì vậy, trước khi ông Tập Cận Bình qua Mỹ, nếu chính quyền Việt Nam không làm gì thì người dân Việt Nam phải hành động. Phải cho chính quyền Trung Quốc biết dân Việt cũng có một lằn ranh giới của sự chịu đựng nhục nhã. Ðể ông Obama tham khảo!

Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình qua thăm Mỹ, về rồi đưa quân qua đánh Việt Nam. Người ta hiểu rằng họ Ðặng được Mỹ hứa trước sẽ làm ngơ. Năm nay, sau khi Tập Cận Bình qua Mỹ về, nếu Bắc Kinh thêm một hành động tàn ác nữa trong vùng Biển Ðông, thế giới có thể tưởng rằng Mỹ đã biết trước hay không? Chính phủ Mỹ có phản ứng quân sự nào nếu Trung Cộng bắn, đốt một trăm thuyền đánh cá và tàn sát các ngư phủ Việt Nam hay không? Mỹ có đem tàu chiến tới ngăn cản nếu Trung Cộng đưa thêm vài giàn khoan vào hải phận Việt Nam hay không? Trung Cộng sẽ biện hộ rằng những vụ đó không gây một trở ngại nào cho đường hàng hải quốc tế, là điều nước Mỹ quan tâm! Nếu chính quyền Việt Nam không tự bảo vệ cho dân mình, biển đảo nước mình, thì ai quan tâm đến?

Tháng Tư vùa qua, ông Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh thề “duy trì đại cục quan hệ” giữa hai nước. Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh cũng sang để “nhất trí ‘kiểm soát tốt’ các bất đồng trên Biển Ðông” với Trung Cộng. Tức là vẫn “bốn tốt” như cũ. Ðược điểm tốt nhất là Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh. Qua nước Tàu, ông than rằng nhiều người dân Việt Nam ghét Trung Quốc là xấu, là nguy hiểm. Mới nhất, Phó Thủ Tướng Trương Cao Lệ (Zhang Gao, li张高丽) mới qua Hà Nội, gặp Nguyễn Tấn Dũng rồi tuyên bố hai đảng Cộng Sản tiếp tục “đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển lành mạnh, ổn định, lâu dài!” Tức là vẫn như cũ.

Khó lòng chờ đợi đảng Cộng Sản Việt Nam làm bất cứ cái gì. Cho nên, dân Việt Nam phải tự hành động, báo trước cho ông Tập Cận Bình biết sức nhẫn nhục của mình có giới hạn.

Posted: Sun Jul 26, 2015 5:39 am
by dailien
Ngả mũ với 'thi hài' Phùng Quang Thanh

Ngô Nhân Dụng
Trong cuốn Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể lần đầu từ Hà Nội vào Sài Gòn ông chứng kiến một cảnh khiến ông suy nghĩ: Một đám tang đi qua, một thanh niên đứng bên đường dừng chân lại, bỏ mũ, cúi đầu. Lâu lắm Trần Đĩnh mới được thấy cảnh đó, dấu hiệu của một xã hội biết giáo dục trẻ em.

Trước năm 1954 trẻ em ở Hà Nội vẫn được dậy cử chỉ đó: Dừng chân, ngả mũ, để tỏ lòng kính trọng thi hài người đã chết. Vì vậy, khi viết về chuyện Tướng Phùng Quang Thanh đã chết hay chưa chết, đang gây dư luận sôi nổi, tôi xin theo lời các thầy giáo, huynh trưởng dạy mình từ thuở bé. Xin bỏ mũ trước. Nếu ông đã qua đời tôi cũng không thất lễ.

Trước khi nghe tin ông Phùng Quang Thanh tạ thế, nhà báo Phạm Chí Dũng đã nhận xét trên Người Việt rằng những tin tức trong vụ ông đi chữa bệnh quá nhiều mâu thuẫn. Báo chí nhà nước Việt Nam đăng hình Tướng Phùng Quang Thanh chụp với bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, nhưng không loan tin tướng Thanh nói chuyện gì, ông làm gì ở Pháp. Phạm Chí Dũng nhận xét trong cả tháng qua, “Trên báo Nhân Dân và đặc biệt Quân Đội Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, người ta không thể tìm ra dấu vết hiện diện của viên tướng bốn sao.” Và, “Cùng với sự thay đổi đồng loạt hai cấp tướng tư lệnh và chính ủy của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô vào đầu Tháng Bảy, 2015, tức chỉ ít ngày sau khi tướng Phùng Quang Thanh - người chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp khối đơn vị vài chục ngàn quân này - bị MIA.” MIA nói về các quân nhân mất tích, không tìm thấy xác.

Ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn Đức Deutsche Presse-Agentur (DPA) loan tin ông Thanh đã qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou vào tối hôm đó; họ dựa vào một nguồn tin của một nhân viên Bộ Quốc Phòng. Ngày hôm sau, Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng Tham Mưu Trưởng nói với các báo trong nước rằng tin này sai. Tướng Võ Văn Tuấn xác định, “...tôi gọi điện thoại cho đại tướng Phùng Quang Thanh vào chiều 19 tháng 7. Đại tướng nói chuyện nghe giọng rất thoải mái...” Hôm sau, hãng DPA làm tin mới, cho biết chính quyền Việt Nam đã cải chính rằng Tướng Phùng Quang Thanh còn sống. Nhưng hãng thông tấn này không viết một lời nào phủ nhận tin đã viết hôm trước. Bản DPA tin mới còn nói thêm rằng họ nhận được tin ông qua đời “từ bệnh viện,” để người đọc thấy chắc chắn hơn.

Tướng Võ Văn Tuấn dùng các báo nhà nước để cải chính bản tin của DPA. Nhưng tại sao không cải chính một cách mạnh mẽ, rõ ràng hơn? Tin ông bộ trưởng Quốc Phòng một nước còn sống hay đã chết là một tin khá quan trọng. Nếu sai, đáng lẽ chính Bộ Quốc Phòng phải cải chính, trong một cuộc họp báo; ít nhất cũng làm một bản thông cáo chính thức. Báo trong nước chỉ thuật lời Tướng Võ Văn Tuấn mà không kèm theo một bài phỏng vấn đầy đủ để được nghe ông trả lời rất nhiều thắc mắc trong dư luận cả tháng nay. Đúng như nhà báo Phạm Chí Dũng kết luận, đây là một “Thất bại của hệ thống tuyên giáo đảng.” Cả Đảng Cộng Sản bị mất mặt vì lúng túng ném ra những thông tin chậm trễ, mơ hồ, trái nghịch, chỉ trong câu chuyện một người “mất tích” không biết chết hay sống.

Nhưng “hệ thống tuyên giáo đảng” bị tội oan. Cảnh “tang gia bối rối” diễn ra do nhiều nguyên nhân phức tạp, ngoài khả năng của các ông bà tuyên giáo. Người sống bên ngoài cũng thấy trong vụ này tất cả Đảng Cộng Sản đang lúng túng, có thể nói cả nhóm lãnh đạo đang “kẹt cứng.” Chắc họ không biết phải “xử lý tình huống” cách nào, cho nên đành lộ cảnh tang gia bối rối, mất mặt cũng đành chịu.

Guồng máy tuyên truyền của đảng phơi bày tình trạng lúng túng này. Mạng Infonet và báo Một Thế Giới cho biết Tướng Võ Văn Tuấn đã “khẳng định” rằng hãng tin DPA đã “xin đính chính.” DPA không hề đính chính; cho nên, hoặc ông Võ Văn Tuấn nói dối, hoặc có người ra lệnh các báo trên nói dối. Thông tấn xã của nhà nước còn trâng tráo hơn, viết một điều hoàn toàn sai sự thật, “DPA đã cải chính về sức khỏe Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh.”

Các thủ đoạn che đậy, gian dối, “cả vú lấp miệng em” trên đây đã tập huấn lâu đời. Thói quen nói láo đã thấm vào xương tủy Đảng Cộng Sản từ thời còn làm báo in thạch bản ở trong hang. Nhưng đem dùng thủ đoạn đó trong thời đại Internet, năm 2015, chỉ khiến người ta khinh. Bởi vì nếu Đảng Cộng Sản muốn chứng tỏ ông Phùng Quang Thanh còn sống thì họ chỉ cần trưng ra một tấm hình ông đang cầm trên tay tờ báo Le Monde xuất bản ngày 19 hay 20 Tháng Bảy - dù ông đủ sức khỏe đọc được báo hay không! Giản dị hơn nữa, là nhờ vợ con ông lên tiếng cải chính với hãng DPA - mà theo tin của nhà nước thì gia đình ông đã qua Paris săn sóc ông từ tháng trước. Tại sao cả gia đình không ai nói một câu nào khi cả nước bàn tán không biết chồng, cha của họ đã chết hay chưa? Họ đâu phải người rưng nước lã?

Không ai trong Đảng Cộng Sản cải chính theo cách giản dị này. Lý do vì nó nằm ngoài khả năng cả đám người cầm quyền. Họ không thể làm gì được. Hoặc vì ông Thanh đã qua đời rồi. Hoặc vì gia đình ông không cộng tác. Hoặc cả hai.

Nhưng nếu Tướng Phùng Quang Thanh thật đã mãn phần thì tại sao guồng máy Đảng Cộng Sản lại phải lúng túng che đậy, để người dân coi càng khinh, càng ghét như vậy?

Người ngoài không biết đủ các tin tức trong đảng của họ với nhau, cho nên chúng ta chỉ có thể suy diễn, dựa trên các sự kiện được tiết lộ.

Một điều ai cũng biết là trong cuộc tranh giành quyền lực chuẩn bị đại hội đảng sang năm, họ đang đấu đá nhau tận mạng. Riêng ông Phùng Quang Thanh và người con, một đại tá chủ tịch nhiều công ty, đã bị lôi lên mạng phơi bày đủ các trò lạm quyền, tham nhũng làm giàu. Ông Thanh cũng bị gắn cho nhãn hiệu một người “thân Trung Quốc.”

Ở Việt Nam, muốn chửi ai thì cứ bảo người đó theo đuôi Trung Cộng. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng ai trong Đảng Cộng Sản dám cưỡng lại Trung Cộng. Toàn thể Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị Trung Cộng thao túng từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến giờ; không ai có thể ngoi lên ghế lãnh đạo nếu cưỡng lại. Nước Việt Nam bị Trung Cộng lấn áp đủ mặt: kinh tế, quốc phòng, chính trị, ngoại giao. Nguyễn Tấn Dũng mới lên chức thủ tướng đã dâng cho Trung Cộng món quà Bô Xít. Trương Tấn Sang qua Tàu ký thỏa ước hợp tác đủ trăm ngành không thiếu thứ gì. Từ khi Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng thì hầu hết các món thầu lớn đều lọt vào tay các công ty Trung Cộng, đường sá, phi trường, hầm mỏ tới điện lực. Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh chưa ai lập được những công trạng đáng khen thưởng như vậy.

Tất cả Đảng Cộng Sản Việt Nam “thân Trung Quốc,” không anh nào thoát được, nếu muốn sống. Họ tranh giành nhau các chức quyền trong đảng; nhưng không thể bước ra ngoài vòng giới hạn Bắc Kinh vẽ ra. Nằm trong cái giọ đó, các con cua tha hồ chen chân đạp lên nhau. Lâu lâu có anh được phép nói những lời bất kính với thiên triều cho dân chúng xì hơi. Không sao, miễn khi làm việc anh cứ làm theo ý các cố vấn. Lâu lâu có anh lại nói một lời nịnh bợ, vì cả Bộ Chính Trị đang lo bị thiên triều “hiểu lầm.” Trò phân biệt hai phe, “thân Trung Quốc” và “chống Trung Quốc” là một ảo tưởng bày ra để ru ngủ dân chúng. Nhiều người cũng thích được ru ngủ, vì nghe sướng tai hơn sự thật. Họ có thể tự an ủi rằng trên đầu mình không phải chỉ toàn những thằng bán nước ngồi.

Vì vậy, các vụ đánh Phùng Quang Thanh trên mạng gần đây hoàn toàn do tranh giành quyền lực ở bên trong đảng với nhau. Nếu ông Thanh qua đời vì bệnh nan y thì cuộc giành giựt này vẫn tiếp tục, chắc còn gay go hơn. Bởi vì một người chết đi để lại nhiều thứ mà những người còn sống sẽ được dịp chia nhau. Nhiều đám tang từng bị trì hoãn, chỉ vì họ không biết chia chác di sản ra sao. Xác Tề Hoàn Công để thối trong cung, vì ba ngàn năm trước bên Tàu chưa có phòng lạnh.

Trong số di sản ông Thanh để lại, nếu ông qua đời, có các chức vụ ông đã giữ và tài sản ông nắm trong tay. Những người còn sống chưa “nhất trí” được với nhau sẽ chia chác ra sao. Tướng Phùng Quang Thanh rất nhiều quyền, Bộ Chính Trị, quân ủy, chính phủ; ông còn được coi là người giàu nhất nước Việt Nam, chỉ thua Nguyễn Tấn Dũng. Ông ký giấy mua các thứ vũ khí, máy bay, chiến hạm, tầu ngầm, vân vân. Công nghệ quốc phòng Nga nổi tiếng là bao giờ cũng hậu tạ các khách hàng. Ông giành toàn quyền sử dụng đất đai của quân đội hay được quân đội trưng dụng, rộng bát ngát khắp nước và nằm trên nhiều địa điểm kinh tế “chiến lược.” Nhiều khu đã được thương mại hóa hay biến thành cư xá sang trọng, con trai ông thường trúng thầu. Những tài sản này trị giá nhiều tỷ Mỹ kim, còn tiếp tục sinh lợi hàng thế kỷ nữa, chưa biết ai sẽ hưởng.

Trong các xã hội bình thường có luật pháp thì gia đình ông Phùng Quang Thanh sẽ được hưởng gia tài của ông. Nhưng xã hội Việt Nam không bình thường, từ cách tạo dựng tài sản, thủ đắc cho tới sử dụng tài sản. Đây có thể là một lý do khiến gia đình ông, nhất là những người đang ở Paris bên cạnh ông, trong mấy ngày qua không cộng tác với bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản. Họ chưa biết Đảng Cộng Sản sẽ chia cho họ thế nào khi ông Phùng Quang Thanh ra đi, hay đã qua đời rồi. Đảng Cộng Sản cũng chưa trả lời dứt khoát được, vì ngay việc phân chia giữa họ với nhau cũng chưa ngã ngũ. Việc chia nhau di sản quyền và tiền ông Phùng Quang Thanh để lại cũng liên quan đến tất cả những cuộc mặc cả khác, trước khi đảng họp đại hội năm tới. Dù sao, khi nào được tin ông Phùng Quang Thanh qua đời chúng tôi sẽ ngả mũ lần nữa, cầu nguyện và mừng ông thoát được cõi ta bà đại hội này.

Posted: Wed Aug 05, 2015 2:05 am
by quaichao
Nước cờ sai lầm ở biển Đông
đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Sự nôn nóng cùng dã tâm "nuốt trọn" Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay "tháo xích" cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh - Nhật Bản.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Diễn biến mới nhất ở Biển Đông

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.

Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa...

Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.

Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.

Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe - một người được Mỹ ủng hộ - lên làm Thủ tướng Nhật Bản.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.

Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.

Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối "quốc nhục" 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.


HỘI ĐỒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI (CFR), MỸ



Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: "Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường."

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là "chiến trường chính" của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.

Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã "đuổi" được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” ('Tao guang yang hui' Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.

Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.

Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần "ngay và luôn".

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành "vùng nóng", có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.

Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.

Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông - một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới - cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh "bóp méo" là thách thức, tuyên chiến.

Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc "giãy lên như đỉa phải vôi".

Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay "tuần tra" trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.

Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.


theo Đại Lộ

Posted: Thu Aug 06, 2015 7:45 pm
by trinhham


Tính chính trị của tin đồn

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, hầu như lúc nào cũng có tin đồn này nọ. Mới nhất và có lẽ cũng hấp dẫn nhất là các tin đồn liên quan đến đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Việt Nam. Thoạt đầu, người ta đồn ông Thanh bị ám sát ở Paris; sau đó, đồn ông chết vì bệnh ung thư phổi. Tin đồn lan rộng và lan mạnh đến độ hãng thông tấn DPA của Đức cũng tin là thật khiến đại diện Bộ quốc phòng phải lên tiếng cải chính. Đến lúc ông Thanh bay từ Pháp về Việt Nam, được chụp hình và đăng báo, người ta vẫn không tin: so sánh chiều cao và gò má của người trong bức ảnh với các ảnh cũ của Phùng Quang Thanh, người ta cho đó chỉ là người giả. Rồi Phùng Quang Thanh xuất hiện trong chương trình văn nghệ “Khát vọng đoàn tụ” được phát hình trong cả nước, người ta vẫn khăng khăng cho đó chỉ là người giả. Chưa hết. Sau khi ít nhiều nhìn nhận ông Thanh còn sống, người ta lại tung ra tin đồn khác: ông Thanh bị quản thúc tại trụ sở Bộ quốc phòng! Gắn liền với tin đồn ông Thanh bị quản thúc là tin đồn về các vụ đấu đá trong nội bộ giới lãnh đạo Việt Nam, chủ yếu giữa phe thân Tàu và phe thân Mỹ.


Nhớ, cách đây năm bảy tháng, người ta cũng từng đồn đãi rất nhiều về khối lượng tài sản kếch sù của Phùng Quang Thanh và con trai của ông, đại tá Phùng Quang Hải: Cả hai có cả hàng chục biệt thự ở Việt Nam, hơn nữa, còn có cả biệt thự ở Mỹ nữa.

Tất cả những tin đồn ấy có gì xác thực không?

Thật ra, câu hỏi ấy có thể áp dụng cho tất cả các loại tin đồn chứ không chỉ nhất thiết dành cho các tin đồn chung quanh Phùng Quang Thanh. Tin đồn, tự bản chất, là một thứ diễn ngôn (discourse) gắn liền với thông tin nhưng lại không phải là thông tin chính thức. Tin đồn nào cũng dựa trên một số sự kiện cụ thể nhưng nó đưa ra một tự sự (narrative) và một cách diễn dịch khác với các tự sự và diễn dịch chính thống, hay nói theo chữ của Prashant Bordia và Nicholas DiFonzo, trong bài “Problem Solving in Social Interactions on the Internet: Rumor As Social Cognition” (2004), là một “diễn trình giải thích tập thể” (collective explanation process). Bởi vậy, tin đồn chỉ đặc biệt nở rộ khi các tự sự và diễn dịch chính thống không có hoặc không đủ hoặc không đáp ứng được sự tò mò của quần chúng. Nhận định này giải thích tại sao, dù tin đồn hiện hữu khắp nơi và mọi lúc, chúng chỉ thực sự phổ biến ở những nơi các nguồn tin chính thức và chính thống hoặc ít ỏi hoặc bị xem là đáng nghi ngờ. Nói cách khác, tin đồn bộc phát mạnh mẽ ở những nơi thiếu tính minh bạch nhất, nghĩa là, ở những nơi thiếu dân chủ nhất.

Trong ý nghĩa như thế, ngay cả những tin đồn ấy chỉ là đồn thổi, không bám vào một sự kiện chính xác nào cả, vẫn có thể đúng: Nếu chúng không đúng ở sự kiện thì chúng cũng đúng ở ý nghĩa vì chúng phản ánh được những mơ ước âm thầm của quần chúng. Không phải ngẫu nhiên mà đọc những bài viết liên quan đến các tin đồn về cái chết của Phùng Quang Thanh bao giờ chúng ta cũng bắt gặp có sự hả hê nào đó của những người loan tin hoặc bình luận. Ông Thanh có thể không chết: điều này chứng tỏ tin đồn là sai. Nhưng ngay cả như vậy, có một yếu tố vẫn đúng: rất nhiều người mong ông chết. Sự mong ước này không xuất phát từ những ác ý chung chung mà chủ yếu xuất phát từ điểm: người ta cho là ông thân Trung Quốc, hơn nữa, là tướng mà lại có thái độ sợ hãi và hèn hạ trước Trung Quốc.

Tin đồn không những gắn liền với sự thiếu minh bạch mà còn gắn liền với những thời điểm bị khủng hoảng. Thời thái bình an lạc, không ai cần chú ý đến tin đồn làm gì. Thời mọi người chia sẻ với nhau những niềm tin mãnh liệt vào tương lai, người ta cũng không thèm mặn mà với các tin đồn. Chỉ những lúc người ta bị khủng hoảng về niềm tin, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, sắp xảy ra, người ta mới bám víu vào các tin đồn. Tin đồn, như thế, có chức năng trám vào những khoảng trống trong lý trí của quần chúng. Điều này giải thích tại sao không phải chỉ có quần chúng bình dân mới bị lôi cuốn bởi các tin đồn. Ngay cả giới trí thức cũng vậy: đối diện với các tin đồn, óc phê phán cố hữu của họ rất dễ bị tê liệt. Họ cũng theo dõi, cũng tiếp tay phát tán, và một cách âm thầm, tận trong vô thức, cũng tin vào các tin đồn ấy.

Với hai đặc điểm nêu trên, từ xưa đến nay, tin đồn bao giờ cũng gắn liền với chính trị hoặc có ý nghĩa chính trị. Những người cầm quyền hoặc những người có tham vọng cầm quyền, thường sử dụng tin đồn để tự huyền thoại hoá mình hầu thu phục nhân tâm. Mà không phải chỉ có giới làm cách mạng hay làm chính trị. Ngay cả trong giới văn nghệ sĩ cũng như những người được gọi là nhân vật của cộng đồng (public figures), nhiều người cũng thích dùng tin đồn để tự huyền thoại hoá mình như vậy. Tất cả những thứ chúng ta gọi là “giai thoại” hiện nay, thoạt kỳ thuỷ, đều là những tin đồn.

Tin đồn không những có chức năng xây dựng, nó còn có chức năng phá hoại, hay, nói chính xác hơn, chức năng giải hoặc (demystification): Nó làm cho người ta tin vào câu chuyện và khi tin vào câu chuyện, không còn tin vào các huyền thoại được những người có quyền lực nuôi dưỡng. Có thể nói nếu tin đồn bùng phát rộng rãi nhất vào những thời điểm có khủng hoảng, chúng không có chức năng giải quyết khủng hoảng, chúng chỉ làm khủng hoảng trầm trọng thêm; và bằng cách đó, chúng có thể dẫn tới những sự thay đổi.

Với chức năng giải hoặc, tin đồn là một thứ vũ khí của những người yếu. Yếu thì bao giờ cũng là yếu. Nhưng khi những người bị cho là yếu đó là một đám đông, họ lại trở thành một sức mạnh. Quá trình lan rộng để những người yếu ấy trở thành đám đông tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng ở vào thời điểm hiện nay, có một yếu tố vô cùng thuận lợi: internet.

Xưa, phương thức tồn tại chủ yếu của tin đồn là truyền miệng từ người này sang người khác; sau, ngoài truyền miệng, các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng góp phần quảng bá tin đồn. Hiện nay, phương tiện chính là internet; trên internet, hình thức chính là các trang facebook: ở đó, số lượng người đọc rất đông và mức độ lan truyền cũng rất mau lẹ đến độ một số học giả ví chúng giống như bom (rumor bomb).

Đó là lý do tại sao gần đây các nhà nghiên cứu về chính trị học bắt đầu quan tâm đặc biệt đến ý nghĩa của các tin đồn vốn trước chỉ lôi kéo được sự chú ý của các nhà tâm lý học và xã hội học.

Posted: Fri Aug 07, 2015 4:18 am
by dailien
Image

Thần kinh khốn nạn.

Đó là hệ thống thần kinh mới, vừa được Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam tìm ra sau khi ông Vũ Đức Đam, trên cương vị Phó thủ tướng ký thế cho Thủ tướng chính phủ quyết định chấp thuận cho UBND thành phố Sơn La kinh phí 1.400 tỷ để xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh trong thành phố.

GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được dẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Họ túng đói và lê lết như những con thú hoang trong khi chính phủ của ông Vũ Đức Đam đang phải đối phó với nợ công, phải ăn xin tứ phương từ Mỹ với miếng bánh TPP, từ Trung Quốc với những khoản vay thắt cổ, từ Nhật với ODA dễ nuốt và ngay cả từ Việt kiều hải ngoại với câu chữ không biết hổ thẹn là gì, lại bỏ ra 1.400 tỷ xây một hình tượng đang mục nát trong trái tim quần chúng.

Với những sự thật không thể chối cãi ấy câu hỏi đặt ra tại sao chính phủ lại tiếp tục ký những quyết định trái với lòng dân, trái với lương tri của con người mà bất cứ một chính phủ, một nhà độc tài nào cũng đều tránh né?


Chỉ có thể xem đó là những thái độ khốn nạn. Sự khốn nạn lâu ngày thành nếp nghĩ, thành cách hành xử quen thuộc. Việc coi thường luân thường đạo lý trong huyết quản đã tạo nên một loại gene mới trong cơ chế cộng sản. Loại gene ấy biến thành hệ thần kinh chủ đạo, từ tư duy cho tới phản ứng, nó nằm song song với các hệ thần kinh khác như buồn, vui, giận, ghét. . . hệ thần kinh khốn nạn chỉ khác ở chỗ, nó tự đứng riêng và tự đánh bóng hay tôn tạo chính mình. Nó phản ứng với hệ thần kinh bình thường một cách bất bình thường. Khi nhân dân đói nó cho là nhân dân đủ ăn và GDP của họ ngày một cao hơn. Khi trẻ em thiếu trường, thiếu lớp nó cho đấy chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong tổng thể phát triển của đất nước. Khi người dân phản ứng vì

bị đẩy vào đường cùng nó cho là sự xúi giục của bọn phản động và phản ứng của nó không kém bất cứ cách hành xử côn đồ nào.

Thần kinh khốn nạn tự nghĩ ra những kịch bản chỉ có trong giấc mơ của những kẻ sở hữu nó. Nhân dân vẫn yêu thương Hồ chủ tịch và họ có như cầu nhìn tượng của ông thay cơm. Nhân dân hãnh diện khẳng định ông là ánh sáng dẫn họ trên con đường….vạn dặm! Nhân dân sáng suốt tin rằng ông là ngôi sao không hể tắt và có ông thì người dân sẽ thấy đời đáng sống biết dường nào.

Một trong những người sở hữu thần kinh khốn nạn, Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Sơn La cả quyết rằng: “sau khi xây dựng tượng đài, Sơn La sẽ có cơ hội quảng bá về du lịch. Đây sẽ là điểm đến thú vị cho người dân đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Hiện, Sở cũng đang nâng cấp nhà tù Sơn La và một số địa danh văn hóa khác”.

Nếu chú ý người dân sẽ lo sợ vô cùng khi tượng đài được xây dựng song song với việc nâng cấp nhà tù. Tham quan hay vào đó nằm nếu chống đối đề án thì có gì khác nhau?

Trần Bảo Quyến cho rằng: “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”.

Đúng, nó không hề là một đề án lãng phí. Nó không lãng phí mà là phá hoại. Phá hoại tới tận đáy cái nền của nhân bản. Tiêu diệt những gì ít ỏi còn lại trong lòng người dân đối với hình ảnh Hồ Chí Minh. Người miền núi vốn không được học hành tử tế họ chỉ biết ông Hồ là người cha già dân tộc theo tuyên truyền của bộ máy Đảng. Sau gần một thế kỷ người cha ấy chia cho đám con ruột là quan lại triều đình xây dựng những công trình để tư túi trên các đề án khốn nạn. Chỉ cần thông minh một chút là họ biết mình bị bóc lột, bị chà đạp tới xương khi con cái họ quần không có mà mặc, gia đình họ không có gạo đủ ăn phải lê lết trên những con ruộng bậc thang, đẹp thì có đẹp nhưng leo trèo trên ấy để kiếm từng hạt lúa thì người Kinh đã bỏ chạy từ xưa.

Chỉ tiếc một điều đồng bào miền Tây Bắc không mấy người có hệ thần kinh khốn nạn như quan đầu tỉnh Trần Bảo Quyến và do đó họ không thể tự bào chữa cho mình lý do họ quá yêu bác Hồ nên nhà nước cần phải dựng tượng của ông cho họ ngắm thay cơm.

Con cá gỗ còn tạm dùng để đánh lừa mình chứ tượng ông Hồ to quá mà lại làm bằng đá thì làm sao đem vào mâm cơm của họ để mà chấm, mà mút cho chén bắp trong bữa ăn thường nhật đậm đà hơn một chút?


Blog Cánh cò