Page 122 of 180

Posted: Fri Apr 10, 2015 5:57 am
by nguyenvsau
Bên thắng cuộc

Nguyễn Ngọc Ngạn


Trong đợt lưu diễn văn nghệ đầu năm nay ở vài thành phố bên Mỹ, trùng hợp có một tờ tạp chí và một đài phát thanh hỏi tôi cùng một câu: Nhìn lại 4 thập niên vừa qua, 1975-2015, sự kiện gì đối với chú là quan trọng nhất?

Câu này dễ trả lời! Thế giới biến đổi từng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Nhưng riêng đối với tôi thì biến cố lớn nhất trong 40 năm qua là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống cộng sản toàn cầu. Nó mở ra một kỷ nguyên hòa bình mới, kết thúc chiến tranh lạnh, giảm thiểu tối đa các vũ khí chiến lược, tiết kiệm bao nhiêu tiền của và xương máu mà nhân loại đã đổ ra từ ngày có phong trào cộng sản. Cần hình dung lại hàng triệu người đã chết thảm ở Siberia thời Stalin, trong cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông, rồi cải cách ruộng đất và sửa sai thời Hồ Chí Minh trên đất Bắc, cũng như đánh tư sản và tù cải tạo tại miền Nam sau 1975. Chưa kể chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiểm điểm lại những đau thương ngút trời gần một thế kỷ vừa qua, người ta mới thấy hết được niềm hạnh phúc khi đế quốc cộng sản sụp đổ, mà sự sụp đổ ấy không do tác động trực tiếp của thế giới tự do, mà do chính nội bộ của đảng viên và của quần chúng các nước xã hội chủ nghĩa dấy lên. Theo tôi, đó là sự kiện vĩ đại nhất của nhân loại trong 4 thập niên vừa qua!

Hà Nội 1973

Từ ngày ra hải ngoại, tôi vẫn mang trong đầu một điều tiếc nuối: Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia cuối cùng trên thế giới bị lọt vào tay Cộng Sản. Giả như đồng minh Hoa Kỳ không bỏ cuộc giữa đường, Miền Nam Việt Nam chỉ cần cầm cự thêm vài năm nữa, chắc chắn tình hình đã đổi khác.

Đến khi cộng sản toàn cầu sụp đổ, tôi lại cho rằng, sự sụp đổ ấy bắt nguồn sâu xa từ chiến tranh Việt Nam. Tôi tin như thế, nhưng dè dặt không dám viết ra vì sợ có người sẽ bảo là tôi chủ quan. Mãi đến khoảng năm 2005, tôi tình cờ đọc được cuốn sách của một tác giả người Mỹ, tôi mới cảm thấy an lòng và hết sức vui mừng vì có người đồng ý với suy nghĩ của tôi.

Tiếc là giờ này tôi không có cuốn sách ấy trong tay, vì hôm đó trong khi chờ chuyến bay ở phi trường, tôi tạt vào tiệm bách hóa Hudson News tính mua đại một tờ tạp chí nào đó để lên máy bay xem cho qua thì giờ, thì thấy có cuốn sách viết về Vietnam War nên vội lấy xuống. Tôi mới chỉ đọc được 2 trang của phần mở đầu thì chuyến bay thông báo boarding mà người xếp hạng ở quầy tính tiền đông quá, tôi đành bỏ lại cuốn sách trên kệ.

Ngồi trên phi cơ, tôi nhớ lại lập luận của tác giả cho rằng: Chiến tranh Việt Nam là cuộc chạy đua võ trang, hay đúng hơn là cuộc chạy đua tiêu tiền, giữa hai khối tư bản và cộng sản. Cuộc chạy đua ấy tuy kết thúc dở dang vì Hoa Kỳ bỏ cuộc, nhưng cũng đủ để làm khối cộng sản kiệt quệ về tài chánh, không vực dậy nổi, dẫn đến sự sụp đổ 15 năm sau!

Điều này tôi tin là đúng. Hồi mới sang Canada, năm 1979, tôi đọc một bài viết trong tờ Financial, nói rằng: Chiến tranh Việt Nam đã làm đồng dollar Mỹ mất giá và gây nên tình trạng lạm phát nặng nề. Lúc ấy tôi nghĩ: Mỹ giàu như thế mà còn điêu đứng vì chiến tranh Việt Nam, thì huống chi các nước cộng sản vốn quanh năm èo uột về kinh tế!

Quả thực đúng như vậy! Trong chiến tranh, người dân các nước Cộng Sản tạm quên cái đói khổ. Nhưng hết chiến tranh rồi, cái sai của chế độ và cái yếu của lãnh đạo tất nhiên phải lộ ra, không thể nào che đậy được. Lấy lý do gì để giải thích với nhân dân, sau bao nhiêu năm nhịn ăn cung ứng cho chiến trường, rồi bây giờ lại càng đói khổ hơn khi hòa bình trở lại!

Từ những “bức xúc” thực tế ấy, lãnh đạo Cộng Sản bất đắc dĩ phải đưa ra khẩu hiệu “đổi mới”, khởi đầu ngay tại Liên Xô từ năm 1985. Nói “bất đắc dĩ” là bởi vì trong thế giới Cộng Sản, bất cứ ai đề xuất một ý tưởng khác với những giáo điều cứng rắn của Đảng thì lập tức bị gán cho cái tội “xét lại” hoặc “phản Đảng” và thường đưa đến hậu quả thân tàn ma dại. Điều này chắc chắn ai cũng đã biết qua kinh nghiệm mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, Bên Thắng Cuộc của Huy Đức v.v… chúng ta đã thấy được phần nào những thanh trừng nội bộ rất cay đắng của Đảng Cộng Sản qua những vụ án mà họ gọi là “xét lại”, chẳng hạn như vụ Hoàng Minh Chính. Hoàng Minh Chính là một đảng viên kỳ cựu, hoạt động cùng thời với anh em Lê Đức Thọ. Năm 1945 ở Hà Nội, nhạc sĩ Văn Cao tham gia Việt Minh, công tác trong đội ám sát. Chính Hoàng Minh Chính đã đưa súng cho Văn Cao đi giết những đảng viên Quốc Dân Đảng bị Việt Minh vu cho tội thân Nhật. Hơn 30 năm sau, Hoàng Minh Chính mới tỉnh ngộ, nhìn thấy nhu cầu phải cải tổ để cứu đất nước. Nhưng ý kiến của ông đụng vào những bức tường bảo thủ kiên cố nên ông bị truy bức, kéo theo bao nhiêu người khác mà phe bảo thủ muốn nhân dịp này tiêu diệt.

Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, thấy nông dân làm hợp tác xã không có hiệu quả vì cha chung không ai khóc, cơm nhà chúa múa tối ngày, cứ rềnh rang vác cuốc ra đồng đủ 8 tiếng rồi về, thu hoạch không năm nào đủ chỉ tiêu. Ông mới nghĩ ra sáng kiến là cho nông dân làm khoán. Làm nhiều ngày hay ít, chăm hay lười, không cần biết, miễn là nộp đủ số thóc quy định! Sáng kiến này tuy thực tế và có lợi cho Nhà Nước nhưng bị coi là đi lạc đường nên bí thư tỉnh ủy bị kỷ luật và cách chức! Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải là một ủy viên trung ương Đảng, thế mà còn bị trừng phạt vì một sáng kiến cá nhân, huống chi người dân thường, ai dám phát biểu ý kiến!

Vậy mà sau 10 năm kết thúc chiến tranh, giữa lúc phe bảo thủ còn đang thống trị toàn Đảng, thì Trường Chinh đã phải công khai hô hào đổi mới. Ai cũng biết Trường Chinh là lãnh tụ cộng sản kỳ cựu bên cạnh Hồ Chí Minh, một lý thuyết gia tiền phong của Đảng và là người chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại Miền Bắc, giết hại biết bao nhiêu nông dân cũng như đảng viên. Nói cách khác, Trường Chinh vẫn được coi là một thành trì kiên cố nhất của Đảng. Thế mà chính Trường Chinh phải thay đổi lập trường thì đủ biết hoàn cảnh Việt Nam sau chiến tranh thê lương như thế nào! Trần Bạch Đằng viết trong bài “Dám Rẽ Ngoặt Trong Tư Duy” như sau:
“Mùa Thu năm 1985, thành quả của bao nhiêu năm chắt chiu của nước ta bỗng chốc sụp đổ qua sai lầm trong điều chỉnh giá cả và đổi tiền. Thế là toàn Đảng toàn dân “khởi đầu bằng sự khởi đầu”! Bác Trường Chinh tìm lối thoát trong cảnh cực kỳ rối ren… Bác kiên trì sự nghiệp đổi mới, đổi mới triệt để và toàn diện… Bác dũng cảm điều chỉnh lại tư tưởng của mình…”!
Nói “dũng cảm” bởi vì khi đề xuất ý kiến đổi mới tức là đụng chạm mạnh đến những vùng đất cấm kinh niên của Đảng, những nhân sự suốt đời cố chấp mà chỉ có người tầm cỡ như Trường Chinh, lúc ấy ngoài 70, mới dám lên tiếng!

Sau khi Trường Chinh mất, Trần Bạch Đằng viết:
“Thưa anh Năm Trường Chinh! Tiễn anh, chúng tôi ân hận vô cùng: Không đổi mới nhanh như anh ao ước!… Tôi tin, nếu quả còn cuộc sống ở thế giới khác sau khi người ta chết, thì những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, cũng sẽ mở rộng vòng tay đón Bác Năm Trường Chinh…”.

Ý nói: Cuối đời Trường Chinh đã thấy cái sai của mình, xin các oan hồn bị đấu tố trước đây, nếu gặp lại Trường Chinh ở thế giới bên kia, hãy tha cho Trường Chinh, đừng xúm lại hỏi tội!
(Ghi chú: Trần Bạch Đằng nguyên là Bí thư Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Bạch Đằng và Võ Văn Kiệt là tư lệnh tiền phương, chỉ huy lực lượng Việt cộng đánh vào nội thành Sài Gòn).

“Đổi mới” thật ra là một bản tuyên ngôn đầu hàng tư bản! Bởi vì: Cốt lõi của Cộng Sản là kinh tế chỉ huy, là mậu dịch quốc doanh, là kiểm tra hộ khẩu, là hợp tác xã, là mỗi tháng xếp hàng lĩnh 16 ký gạo! Một khi đã chuyển sang cơ chế thị trường tức là đã chào thua thế giới tự do rồi!
Kiệt quệ về kinh tế đã đành, người Cộng Sản còn mất hết niềm tin vào những lý tưởng mà họ được dạy dỗ trước đây.

Lùi lại hồi đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Cộng Sản là một cái gì mới mẻ, hấp dẫn rất nhiều người trí thức ở thành thị. Nó hấp dẫn bởi về mặt lý thuyết, nó đề cao lý tưởng công bằng xã hội, xóa bỏ bất công bằng đấu tranh giai cấp. Lúc ấy, quả thực tư bản còn quá nhiều khuyết điểm, chủ nhân bóc lột công nhân, công đoàn chưa thành hình, chế độ lao động hà khắc, không được luật lao động bảo vệ. Ở nông thôn thì phong kiến áp bức đến tận cùng. Do thực tế ấy, người ta dễ dàng bị lôi cuốn theo Cộng Sản dù chưa hiểu CS là gì. Đã thế, cộng sản lại ra đời đúng lúc phong trào giải phóng các dân tộc bị trị lên cao trên toàn cầu, nhất là sau Đệ nhị Thế chiến. Cộng Sản khôn khéo đem chiêu bài chống ngoại xâm để lôi kéo quần chúng, điển hình là biết bao nhiêu người đã theo Hồ Chí Minh, đâu phải vì thích Cộng Sản mà vì muốn đứng vào hàng ngũ đánh Pháp. Đến khi Cộng Sản thắng rồi thì đã quá muộn, họ không rút chân được nữa!

Thế giới tư bản thì càng ngày tự điều chỉnh để trở nên hoàn thiện, trong khi cộng sản dừng chân tại chỗ, hết chiến tranh là lộ ra hết khuyết điểm. Khi Liên Xô và Trung Cộng công khai thù nghịch nhau, khi Việt Cộng xâm lăng Miên Cộng (Khờ-Me Đỏ), khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vào đầu năm 1979 – nghĩa là gà cùng một mẹ mà chém giết nhau không nương tay – thì cái lý tưởng “thế giới đại đồng” và “chung sống hòa bình” giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn ý nghĩa gì nữa! Cứ nhìn Trung Cộng, người ta thấy ngay cái tình hữu nghị môi hở răng lạnh của hai nước Cộng Sản nó cay đắng như thế nào! Lời dạy của Đảng trở thành trò hề, làm thất vọng tất cả những ai từng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Ý nghĩ giã từ chủ nghĩa xã hội vì vậy càng ngày càng lan rộng trong đầu nhiều đảng viên, chỉ chờ cơ hội là bùng phát!

Từ khi các nước Đông Âu và nhất là Liên Xô sụp đổ, thế giới không còn ai nhắc đến Cộng Sản nữa. (Chắc chỉ còn cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn bám lấy ma Cộng Sản để hù dọa hoặc chụp mũ nhau mà thôi!). Hai chữ “Cộng Sản” chỉ còn là một tì vết của lịch sử, đã lùi hẳn vào trong dĩ vãng, không còn là mối bận tâm cho nhân loại. Nó đã trở thành chuyện cổ tích, người bỏ Đảng mỗi ngày một đông. Trước mắt thế giới, kẻ thù mới bây giờ là Terrorist, là ISIS, là những nhóm quá khích không nhân tính, chứ kẻ thù cũ là Cộng Sản giờ này là hết hẳn đất đứng.

Dĩ nhiên cũng còn vài nước vẫn bám lấy danh hiệu Cộng Sản nhưng thật ra họ không còn mang chất cộng sản như xưa. Họ bám chỉ vì quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm mà họ phải bảo vệ mà thôi. Bắc Hàn và Cuba thì đói khát quanh năm, không đáng bàn đến. Trung Cộng thì tư bản hóa trước cả Việt Cộng. Cụ thể, ngày nay nếu phải đối phó với Trung Quốc thì hoàn toàn không phải là đối phó với một nước cộng sản mà là một đế quốc có chủ trương bá quyền.

Việt Nam cũng thế! Giờ này người ta chống Việt Nam không phải là chống một nước cộng sản mà là chống một chính quyền độc tài, độc đảng, chà đạp nhân quyền giống như nhiều nước độc tài khác trên thế giới.
Trong chế độ Cộng Sản đích thực, chỉ cần có vài mẫu ruộng đã ra pháp trường đấu tố, chỉ cần làm chủ một cửa tiệm hạng trung đã bị đánh tư sản, hoặc vào tù hoặc đi vùng kinh tế mới, chứ làm gì có những cán bộ đảng viên sở hữu những dinh thự nguy nga và ôm hàng tỉ hàng triệu dollars như hiện nay ở Việt Nam! Các cấp lãnh đạo Trung Quốc cũng thế! Có những quan chức phải dành riêng ra hẳn một căn nhà mới đủ chỗ chứa vàng và tiền mặt thì cộng sản ở điểm nào!

Nói tóm lại, trên thế giới ngày nay không còn nước nào áp dụng lý thuyết Cộng Sản đúng nghĩa. Tất cả đều đã đầu hàng tư bản, chạy theo tư bản, nhưng gắng gượng nên câu khẩu hiệu: “Áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!” Họ ngượng ngùng nói thế khi chính họ cũng biết rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có cơ chế thị trường! Tư bản thúc đẩy sản xuất và cải thiện sản phẩm bằng tự do cạnh tranh! Cộng Sản thúc đẩy sản xuất bằng tuyên truyền, bằng chỉ thị và bằng giấy biểu dương! Khác nhau như nước với lửa, không thể kết hợp được. Cho nên, như tôi đã nói ở trên, người cộng sản một khi đã áp dụng cơ chế thị trường tức là đã bỏ cuộc, là giã từ hẳn chủ nghĩa của mình rồi! Chỉ cần để ý một chút, chúng ta thấy ngay ngày nay họ không còn tự hào khoe khoang về lý tưởng của họ như thuở trước. Những câu khẩu hiệu một thời họ hãnh diện nêu cao như “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân”, hoặc “Chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ loài người” giờ này chính họ đã lặng lẽ xóa đi. Hai chữ “vô sản” là đặc trưng của chế độ, ngày nay cũng đã biến mất! Đấu tranh giai cấp để tiến đến công bằng xã hội thì không thể áp dụng được nữa bởi giai cấp giàu nhất bây giờ gồm toàn đảng viên! Chả nhẽ họ tự đấu tố chính mình! Chẳng những thế, trong nước đang có dư luận một ngày gần đây Đảng Cộng Sản sẽ đổi tên, bỏ hẳn hai chữ “Cộng Sản” đã lỗi thời vì quá nhiều khuyết điểm! Nhưng dù có đổi tên mà vẫn duy trì lề lối cũ, vẫn độc tài và thường xuyên vi phạm Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc thì thế giới vẫn tiếp tục lên án và người dân vẫn tiếp tục đấu tranh. Bởi mục tiêu tối hậu không phải chỉ là xóa đi hai chữ Cộng Sản, mà là kiến tạo một quốc gia tự do, dân chủ và phú cường, để Việt Nam có thể hãnh diện đứng ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới.

Tổng kết lại, nhìn lại 4 thập niên vừa qua, nếu chỉ chú ý đến cái mốc kết thúc chiến tranh năm 1975 ở Việt Nam, thì người ta gọi Miền Bắc là “bên thắng cuộc”. Nhưng nếu mở tầm mắt rộng hơn, nhìn sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!

Nguyễn Ngọc Ngạn
Tháng 4/2015

Posted: Sat Apr 11, 2015 6:42 am
by thienthanh

Nguyễn Phú Trọng đã đầu hàng Tập Cận Bình


Phạm Trần

- Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thất bại ngay trong ngày đầu trong chuyến thăm Trung Quốc từ 7 đến 10 tháng 4 khi ông phải chấp nhận mọi đòi hỏi ở Biển Đông của Chủ tịch Nhà nước- Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình.

Đây là lần đầu tiên ông Trọng sang Bắc Kinh kể từ sau ngày Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 do họ đặt vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để tìm kiếm dầu từ 2/5 đến 15/7/2014.

Trái với chuyến sang Bắc Kinh lần thứ nhất từ 11 đến 15/10/2011, lần này ông Trọng còn đem theo 4 Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh là những người có triển vọng được lên cấp trong Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII, dự trù được bầu vào tháng 1/2016.

4 Ủy viên Bộ Chính trị gồm Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch Quốc hội; Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trần Đại Quang, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.

Có tin đồn đoán ông Trọng đem họ theo để giới thiệu với ông Tập Cận Bình như là nhóm lãnh đạo mới đồng thời cũng thông báo về quyết định của riêng ông tại Đại hội đảng XII. Có tin nói ông Trọng, 72 tuổi vào năm 2016 sẽ rút lui để nhường chỗ cho một Tổng Bí thư trẻ hơn.

Ông Trọng có làm như thế hay chỉ biết lắng nghe ông Tập Cận Bình thuyết giảng về hợp tác toàn diện, kể cả vấn đề Biển Đông, giữa hai đảng và hai nhà nước trong 2 giờ đồng hồ thì các bài tường thuật của báo chí đôi bên đã chứng minh như thế.

Trong thời gian có cuộc khủng hoảng giàn khoan HD 981, Bộ Chính trị 16 người do ông Trọng đứng đầu đã không ủng hộ ý kiến đòi Quốc Hội ra một Nghị quyết lên án hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc.

Điều này dễ hiểu vì ông Trọng là người thân Trung Quốc, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh.

Việc này cũng giải thích tại sao mà ông Tập Cận Bình và nhà nước Trung Quốc đã đón tiếp ông Nguyễn Phú Trọng như một Quốc trưởng tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh chiều 7/4 (2015).

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) viết: “Đoàn môtô long trọng hộ tống xe của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiến vào khuôn viên Đại lễ đường. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cùng nhiều lãnh đạo Trung Quốc đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bước lên bục danh dự; quân nhạc cử quốc thiều Việt Nam và Trung Quốc. Lễ đón diễn ra trang trọng với 21 phát đại bác chào mừng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng duyệt đội danh dự và chứng kiến Đội danh dự diễu hành.”

Liệu cuộc đón tiếp linh đình này có làm cho ông Nguyễn Phú Trọng bị choáng ngợp để quên rằng khi Trung Quốc thi hành chỉ thị “bảo vệ chủ quyền biển” là quyền lợi cốt lõi của ông Tập Cận Bình thì Bắc Kinh đã khởi công biến các đá ngầm chiếm của Việt Nam ở Trường Sa tháng 3 năm 1988 thành các đảo nhân tạo trong khi Thế giới tập trung theo dõi diễn biến vụ Giàn khoan HD 981.

Hình ảnh của báo chí Đài Loan (Want China Times, 02/09/2014) và Tây phương (Google Earth, DigitalGlobe, IHS Jane's Defense ngày 20 tháng 11 năm 2014) cho thấy quân đội và công nhân Trung Quốc đã làm việc ngày đêm để biến ít nhất 6 bãi đá ngầm Gạc Ma (Johnson South), Ga Ven (Gaven), Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross), Tư Nghĩa (Hughes), và Én Đất (Eldad) thành các đảo. Ngoài Én Đất, tất cả bãi đá trên đều được giới chức Trung Quốc ấn định "ngày sinh" cụ thể vào tháng 7. Duy nhất còn lại đá Xu Bi chưa bị biến thành đảo.

Trung Quốc cũng đang bồi đắp nhiều khu vực trong vùng tranh chấp với Phi Luật Tân ở hai bãi Macclesfield (Macclesfield Bank) và bãi cạn Scarborough hay đảo Hoàng Nham Scaborough mà Bắc Kinh gọi chung là Trung Sa quần đảo​.

Theo tài liệu của Bách khoa toàn thư (mở) thì: “Macclesfield là một bãi ngầm dạng rạn vòng hoàn toàn chìm dưới mặt nước biển Đông. Bãi ngầm này nằm cách quần đảo Hoàng Sa 75 hải lí (139 km) về phía đông, ở vào khoảng giữa của đường hàng hải từ bờ biển miền Trung Việt Nam đến phía bắc đảo Luzon của Philippines.

Tên gọi của bãi ngầm xuất phát từ sự kiện tàu Macclesfield của Anh khám phá ra bãi này vào năm 1701.

Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi Macclesfield.”

Trong khi đó, bãi Scarborough (đảo Hoàng Nham) nằm cách bờ tây đảo lớn của Philippines 230 km và cách Trung Quốc hơn 800 km về phía bắc.

Trung Quốc đã kiến thiết đường bay, bến cảng và đồn binh trên các đảo nhân tạo mới ở Trường Sa. Trong số này có Gạc Ma nằm trên đường tiếp vận từ Việt Nam ra Trường Sa trong khi Chữ Thập chỉ cách cảng Cam Ranh và sân bay Đà Nẵng khoảng 400 cây số. Các máy bay Trung Quốc có thể uy hiếp hay tấn công quân Việt Nam ở Trường Sa dễ dàng hoặc đánh thẳng vào Việt Nam trong vài giờ vì đã dự trữ sẵn nhiên liệu tiếp tế trên các đảo nhân tạo này.

Thảo luận gì?

Như vậy đe dọa quân sự của Bắc Kinh đối với Việt Nam đã rõ ràng nhưng không thấy phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam hay Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam, VOV) tháp tùng ông Trọng nhắc đến khi tường thuật về nội dung cuộc thảo luận giữa hai Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt-Trung.

Báo chí Trung Quốc, tiêu biểu như Tân Hoa Xã (Xinhua) và Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (China International Radio, CRI) cũng không nói gì đến vấn đề đang gây chú ý không những cho Việt Nam hay các nước trong khu vực Đông Nam Á mà cho cả Thế giới.

Ông Tập Cận Bình không nói đến chuyện Trung Quốc tái tạo các bãi đá thành đảo để dành chủ quyền ở Biển Đông là điều tất nhiên, nhưng khi Tổng Bí thư đảng CSVN né tránh thì không thiếu gì người Việt Nam muốn biết mục đích ông sang Bắc Kinh để làm gì cho tốn tiền của dân?

Nếu ông Trọng đi Bắc Kinh chỉ để chứng kiến cấp thừa hành ký 7 văn bản thỏa thuận hợp tác giữa hai Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan hai nước thì thật lãng phí.

Trong số các văn kiện đã ký đáng chú ý gồm:

- “Hiệp định về hợp tác dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;”

- “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020;”

- “Điều khoản Tham chiếu Nhóm công tác hợp tác tài chính tiền tệ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc;”

- “Thỏa thuận về các vấn đề về thuế đối với Dự án thăm dò chung tài nguyên dầu khí tại vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tài chính nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Bản tin tiếng Việt của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Hoa (CRI) viết về vấn đề xung đột ở Biển Đông: "Hai bên nhấn mạnh cần phải quý trọng và gìn giữ tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam phát triển bền vững. Hai bên còn đồng ý cùng nhau nỗ lực, kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, cùng giữ gìn hòa bình và ổn định trên Nam Hải…"

"…Tổng Bí thư Tập Cận Bình chỉ rõ, hai bên cần tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo hai Đảng và hai nước, cùng nhau kiểm soát tốt các bất đồng trên biển, giữ gìn đại cục của quan hệ Trung-Việt và hòa bình, ổn định trên Nam Hải.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tán thành và cho biết, hiện nay hai nước Việt Nam-Trung Quốc đều đang dốc sức cho sự nghiệp vĩ đại xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đều kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đều đang thúc đẩy cải cách và đổi mới toàn diện, hơn lúc nào hết đều cần phải tăng cường hợp tác hữu nghị cùng có lợi, giải quyết thỏa đáng các bất đồng, cùng nhau tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam coi trọng cao độ phát triển quan hệ hữu nghị bền vững và ổn định với Trung Quốc, đây là chính sách ưu tiên và lâu dài của Việt Nam, là sự lựa chọn chiến lược.”

Rõ ràng hai bên không nói gì đến những chuyện đã và đang xẩy ra tại vùng biển Trường Sa.

Theo tin của Việt Nam (TTXVN và VOV) thì: “Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) và sớm đạt được "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh xây dựng COC là một phần quan trọng để giải quyết vấn đề trên biển. Trung Quốc đang cùng ASEAN bàn bạc nhiều lần để xây dựng COC.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015.”

Những chuyện này không có gì mới mà chỉ lập lại những điều hai bên Việt-Trung đã viết trong các văn bản họp giữa hai Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Lý Khắc Cường của Trung Quốc tại cuộc họp tại Milan, Italy ngày 16/10/2014, bên lề Hội nghị cấp cao ASEM-10 (The Asia–Europe Meeting, ASEM).

Và tại các cuộc họp giữa Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì với Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hà Nội tháng 10/2014.

Cũng như trong chuyến đi làm việc hai ngày tại Trung Cộng từ 26 đến 27/08 (2014) của đặc phái viên Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã không đem chút thắng lợi nào về cho Việt Nam.

Cũng nên biết, chính Trung Quốc là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay ở Biển Đông khi họ tự vi phạm "Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông" (DOC) ký tại Nam Vang (Kampuchia) ngày 04 tháng 11 năm 2002 giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Hoa.

Và cũng chính Trung Quốc đã tìm mọi cách trì hoãn thương thuyết "Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông" (COC), trong đó có lý do chính là chỉ đồng ý đối thoại trực tiếp với các nước có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh, thay vì Quốc tế hóa hay nói chuyện Biển Đông với ASEAN như một khối.

Do đó, việc lập lại những chuyện “ai cũng biết rồi khổ lắm nói mãi” về hứa hẹn của Bắc Kinh đối với DOC và COC trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình chiều ngày 7/4/2015 chẳng qua chỉ nhằm kéo dài sự từ chối nói chuyện nghiêm chỉnh để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của phía Trung Hoa mà thôi.

Cam kết của ông Nguyễn Phú Trọng với ông Tập Cận Bình đồng ý “thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trong năm 2015” cũng toàn là chuyện hai nước đã thảo luận nhưng chưa dứt điểm trong suốt 2 năm qua.

Lý do vì Trung Quốc luôn luôn muốn phần hơn về mình và ép Việt Nam phải “vì đại cuộc quan hệ vừa là đồng chí vừa là anh em” và vì “phương châm 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt” (“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" mà chấp nhận yêu cầu “gác tranh chấp để cùng khai thác” của Trung Quốc.

Lập trường “gác tranh chấp cùng khai thác”, đúng ra, theo lời của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 là “biển của ta, hãy gác tranh chấp để cùng khai thác”.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa, Chủ tịch nhà nước Tập Cận Bình cũng đã lập lại chủ trương này tại phiên họp ngày 30/11/2013 với Bộ Chính trị.

Ông ta nói: “Trung Quốc phải kiên trì phương châm "chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác" để thúc đẩy các hoạt động hợp tác hữu nghị cùng có lợi.” ( Báo Giáo dục Việt Nam, 01/08/2013)

Họ Tập đưa ra lập trường này sau khi ông và Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) hoàn tất chuyến công du ngoại giao cổ võ thân thiện với một số nước quan trọng trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) gồm Nam Dương, Mã Lai Á, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam.

Chủ trương “hợp tác cùng phát triển” giữa Trung Cộng và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế biên giới; giao thông đường bộ giữa hai nước; các dự án kinh tế có lợi cho Trung Cộng trong nội địa hai miền Nam và Bắc Việt Nam và hợp tác trên biển đã được hoàn tất trong chuyến thăm “vắn tắt” Việt Nam 2 ngày từ 13 đến 15/10/2013 của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường (Li Keqiang).

Ở giữa hay ra bên ngoài?

Như vậy, những gì được lập lại giữa ông Trọng và Tập Cận Bình về việc khai thác chung ở “vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ” là ở đâu nếu không phải là ở Biển Đông?

Vậy có gì khác với thỏa hiệp ký kết giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 20/06/2013 tại Bắc Kinh?

Hồi đó một “thỏa hiệp mới được phía Việt Nam gọi là “gia hạn” và “sửa đổi” lần thứ 4 hợp tác giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation, CNOOC), thì diện tích tìm kiếm chung sẽ mở rộng từ 1541 cây số vuông lên thành 4076 cây số vuông. Và hiệu lực của Thỏa thuận Thăm dò Chung có hiệu lực đến hết năm 2016.”

Khi đó ông Đỗ Văn Hậu- Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã giải thích về nguồn gốc của thỏa thuận giữa hai nước như thế này: “Theo Quy định tại Điều 7 của Hiệp định Việt Nam- Trung Quốc về Phân định Lãnh hải, Vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (ký ngày 25/12/2000 và có hiệu lực từ ngày 20/6/2004), nếu có các mỏ dầu khí vắt ngang qua Đường Phân định, hai nước sẽ cùng nhau hợp tác khai thác chung.

Từ năm 2005, Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết và thực hiện Thỏa thuận Khung về hợp tác dầu khí trong Khu vực Thỏa thuận Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả thực hiện Thỏa thuận Khung, Thỏa thuận Thăm dò chung Việt Nam- Trung Quốc trong Khu vực xác định Ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa Petrovietnam và CNOOC ngày 6/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 2/1/2007, sau khi được Chính phủ hai nước phê chuẩn.”

Khi nói về “hợp tác cùng phát triển” ở vịnh Bắc Bộ dựa theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ hai nước ký ngày 25/11/2000 thì cũng có sự “khác biệt rất quan trọng” giữa Tuyên bố chung Hà Nội ngày 15/10/2013 và lời tuyên bố sau đó của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường.

Tuyên bố chung viết: “Hai bên nhất trí tăng cường chỉ đạo đối với các cơ chế đàm phán và tham vấn hiện có, gia tăng cường độ làm việc của Nhóm công tác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này và trong năm nay khởi động khảo sát chung ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để thực hiện nhiệm vụ đàm phán của Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nhanh chóng thực hiện các Dự án hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển như Hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ…”

Tuy nhiên sau đó ông Lý Khắc Cường được Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency) của Bắc Kinh tường thuật trong bản tin tiếng Anh ngày 16/10/2013 viết rằng: “The cooperation of maritime exploration will be primarily focused on the Beibu Gulf, and later extended to further areas, Li said, adding that the bilateral drive is to tell the region and the world that the South China Sea has to be a peaceful and tranquil area.

Both China and Vietnam have the wisdom to properly handle their differences and prevent the South China Sea issue from disrupting the overall cooperation, Li said.”

(Tạm dịch: “Hợp tác trên biển sẽ tiên khởi tập trung vào khu vịnh Bắc Bộ, và SAU ĐÓ MỞ RỘNG QUA CÁC KHU VỰC KHÁC, theo lời ông Lý thì sự hợp tác song phương này nhằm chứng minh với các nước trong khu vực và thế giới thấy rằng vùng biển Nam Trung Quốc sẽ là khu vực hòa bình và an toàn. Trung Quốc và Việt Nam cùng có thiện chí giải quyết những khác biệt và ngăn chặn vấn đề biển Nam Trung Quốc làm phương hại đến sự hợp tác toàn diện của hai nước.”).

“Khu vực khác” mà Trung Cộng nhắm tới không phải là vùng biển Trường Sa của Việt Nam thì ở đâu?

Phải chăng đó là lý do các bản tin của báo chí Việt Nam đã xác nhận vấn đề Biển Đông vẫn còn gai góc cho cả hai nước Việt-Trung trong cuộc họp Nguyễn Phú Trọng-Tập Cận Bình?

TTXVN tường thuật từ Bắc Kinh chiếu 7/4 (2015): “Bên cạnh đó, hai Tổng Bí thư cũng cho rằng quan hệ hai nước cũng có giai đoạn khó khăn, hiện nay một số lĩnh vực hợp tác giữa hai nước chưa đi vào thực chất, hiệu quả chưa cao; trở ngại lớn nhất chính là sự tin cậy chính trị chưa cao, chủ yếu là do bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông, tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến phức tạp, cả hai nước đều đang đứng trước nhiều cơ hội to lớn nhưng thách thức cũng không nhỏ. Để tranh thủ được thời cơ, đối phó hiệu quả với thách thức, hơn bao giờ hết hai Đảng, hai nước cần tăng cường hợp tác hữu nghị, xử lý thỏa đáng bất đồng, cùng tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để tập trung hợp tác, phát triển đất nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, của cộng đồng khu vực và quốc tế.”

Nhưng “tin cậy chính trị chưa cao” và "bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông" giữa hai nước Việt-Trung là ở chỗ nào mà hai ông Trọng và Tập Cận Bình không muốn cho dân hai nước biết, hay đó là cách nói có ngụ ý trách móc, đỗ lỗi thất bại cho Việt Nam của riêng Tập Cận Bình?

Vì vậy mà bài viết tiếng Anh của Tân Hoa Xã (Xinhua) từ Bắc Kinh ngày 7/4 (2015) đã trích lời họ Tập nói rằng: “Xi said China and Vietnam are facing both new opportunities and challenges as the international situation is undergoing complex and profound changes He suggested the two parties, as well as the two countries, boost high-level interactions to find out new solutions to their problems and new ideas to advance the bilateral relationship in a sustained way.”

(Tạm dịch: "Chủ tịch Tập nói Trung Quốc và Việt Nam đang phải đồi phó với cơ hội cũng như thử thách trong khi tình hình quốc tế càng ngày càng phức tạp và thay đổi không ngừng. Do đó, ông đề nghị hai đảng cũng như hai nước phải tăng cường hợp tác để tìm ra giải pháp mới cho những vấn đề quan hệ hai nước, cũng như những sáng kiến mới để phát triển quan hệ song phương bền vững.”)

Nhưng đằng sau lời lẽ ngoại giao mềm mỏng này của họ Tập đã khiến ông Trọng có phản ứng ra sao?

TTXVN viết: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lâu dài và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.”

Nhưng làm sao mà nhân dân Việt Nam có thể “phát triển ổn định, bền vững quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc” khi Bắc Kinh không ngừng lấn chiếm biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông và khống chế Việt Nam về mặt kinh tế, chính trị và ngoại giao?

Ấy thế mà ông Trọng vẫn có thể hồ hởi hợp ca với Tập Cận Bình: “Mối quan hệ láng giềng hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng nhiều thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước; là tài sản chung quý báu của hai Đảng và nhân dân hai nước, cần luôn được trân trọng, giữ gìn và không ngừng kế thừa, phát huy.”

Nếu là đồng chí, là anh em thì tại sao Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố ngày 8/3 rằng: “Trung Quốc đang tiến hành xây dựng đảo nhân tạo cần thiết trong khu vực chủ quyền và điều này không gây ảnh hưởng đến ai. Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác tiến hành xây dựng trái phép trong khu vực của người khác. Chúng tôi chỉ xây dựng đảo ngay trên sân nhà của chúng tôi”.

Vương Nghị đã nói như thế bên lề kỳ họp thường niên của Quốc hội ở Bắc Kinh để trả lời câu hỏi về việc Trung Hoa đang tái tạo 6 đá ngầm chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa thành các đảo.

Thông cáo chung nói gì?

Lập luận nhuộm máu thực dân và bá quyền của Vương Nghị có khác với những lời nói mềm mỏng nhưng đầy ẩn ý của Tập Cận Bình với ông Nguyễn Phú Trọng không, hay phía Việt Nam, nạn nhân của người phương Bắc hàng nghìn năm, vẫn còn mơ hồ như đã viết trong Thông cáo chung Việt Nam-Trung Quốc, phổ biến ngày 8/4/2015, 2 ngày trước khi ông Nguyễn Phú Trọng kết thúc chuyến thăm?

Trong số 9 điểm có nội dung phấn khởi và tin tưởng như hai nước chưa hề có chuyện gì xẩy ra, những điểm sau đây đáng chú ý:

“Hai bên nhất trí cho rằng chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới."

Có thành công “tốt đẹp” không khi mà ông Trọng phải đồng ý với những đỏi hỏi của Tập Cận Bình, bằng chứng như:

“Hai bên bày tỏ vui mừng trước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của mỗi nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đặc trưng của mỗi nước là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Hai bên sẽ tiếp tục nỗ lực, học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và sự nghiệp cải cách, mở cửa của Trung Quốc phát triển về phía trước, không ngừng tạo sức sống mới cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Đây là một kết luận sai lầm và nguy hiểm cho quyền làm chủ đất nước của người dân Việt Nam, bởi vì lợi ích của Trung Hoa chưa hẳn sẽ đem lại phúc lợi cho nhân dân Việt Nam. Và khi đảng CSVN không dám để cho dân tự quyết về tương lai chính trị của mình vì ngày nào Trung Quốc còn duy trì Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản thì Việt Nam vẫn còn phải kiên định với Mác-Lênin thì chậm tiến và tụt hậu sẽ tiếp tục chận đường tiến về phía trước của dân tộc.

Điểm sai lầm khác là khi Thông cáo chung đã đồng hóa quan niệm về láng giềng khi viết rằng: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng quan trọng của nhau, nhất trí cho rằng hai nước có chế độ chính trị tương đồng, có con đường phát triển gần gũi, có tiền đồ vận mệnh tương quan, sự phát triển của nước này là cơ hội quan trọng cho nước kia… Hai bên nhấn mạnh, Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì nỗ lực thực hiện tốt phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, luôn nắm vững phương hướng phát triển của quan hệ Việt - Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung không ngừng phát triển lên phía trước…”

Để rồi ông Nguyễn Phú Trọng phải hứa: “Sớm ký "Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực Thác Bản Giốc" và "Hiệp định về quy chế tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân"; cùng duy trì bảo vệ sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới. Phát huy tốt vai trò của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt - Trung; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng cửa khẩu biên giới hai bên, nâng cao mức độ mở cửa hợp tác của các cửa khẩu biên giới hai nước. Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh/khu biên giới hai bên, thúc đẩy cùng phát triển khu vực biên giới hai nước."

Những thỏa hiệp này được khai thác từ Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt - Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999, cơ bản đã gây bất lợi mất đất, mất 2/3 thác Bản Giốc và Mục Nam Quan đã có trong sách sử Việt Nam hàng ngàn năm.

Những cam kết của ông Trọng chỉ xác nhận một lần nữa sự nhượng bộ không cưỡng lại được của Việt Nam Cộng sản trước áp lực của Tập Cận Bình.

Sau cùng nhưng quan trọng là vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Bản Thông cáo chung không nói lên được điều gì để ông Nguyễn Phú Trọng có thể bảo đảm rằng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông đã được vẹn tòan và buộc Trung Quốc phải ngưng ngay việc lấn chiếm ở Trường Sa.

Nội dung phần này không có gì mới hơn những điều Tác giả bài này (Phạm Trần) đã trình bầy ở phần trên, ngoại trừ hai bên tiếp tục lập lại nhất trí làm những việc chỉ có lợi cho Trung Hoa: “Thúc đẩy hoạt động của Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ trong năm nay.”

Như vậy, nếu bảo chuyến đi Trung Hoa 10 ngày của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “thành công tốt đẹp, góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, lành mạnh vì lợi ích căn bản của nhân dân hai nước” là hoàn toàn nói ngoa. -/-

(04/2015)

Posted: Mon Apr 13, 2015 6:40 am
by thienthanh
Image


NỖI ĐAU CỦA CẢ DÂN TỘC: CUỘC CHIẾN NAM – BẮC PHÂN TRANH


Phạm Đình Nhiên
Tại hội nghị Genève Thụy Sĩ ngày 20-7-1954 nước Việt Nam bị phe tư bản và cộng sản chia đôi lấy sông Bến Hải làm gianh giới . Miền Bắc thuộc khối Nga Tàu, miền Nam là Mỹ Pháp . Cuộc chiến tranh lạnh giữa Tư Bản và Cộng Sản kéo dài gay gắt từ ngay sau thế chiến thứ II và ba nước nằm trong lằn ranh tranh chấp ấy bị chia đôi là Đức , Triều Tiên năm 1945 và Việt Nam năm 1954 . Trên bàn cờ quốc tế bấy giờ, Đông – Tây Đức, Nam – Bắc Triều Tiên, Nam – Bắc Việt Nam nằm trên tuyến đối đầu và rất dễ biến thành những con tốt thí cho cuộc chiến tranh lạnh nếu những người lãnh đạo không có bản lãnh, khôn ngoan, không biết nhìn xa, trông rộng, nhất là không có lòng yêu nước sẽ dễ dàng bị ngoại bang lung lạc, sai khiến .

Tuy trong cùng hoàn cảnh phân chia nhưng dân tộc Đức và Triều Tiên không bị thảm cảnh nồi da xáo thịt như Việt Nam . Miền Bắc Triều Tiên trải qua ba đời cai trị tàn bạo của triều đại cộng sản nhà họ Kim (Kim nhật Thành, Kim jong Il, Kim jong Un) cũng không gây ra cuộc chiến giữa 2 miền Nam – Bắc sau khi cuộc chiến Trung Cộng và Mỹ chấm dứt năm 1953 . Hiện nay Nam Triều Tiên là nền kinh tế đứng hàng 11 thế giới .

Hai miền Đông – Tây Đức thay vì gây ra cảnh nồi da xáo thịt thì cả hai đều lo kiến thiết đất nước bị tàn phá tan hoang trong thế chiến thứ 2 thành 2 nền kinh tế vững vàng . Đông Đức Cộng Sản có đời sống cao nhất trong khối Cộng Sản , vượt trên cả Liên Xô . Sau 44 năm bị phân chia, dân tộc Đức thống nhất hoàn toàn chi trong 1 buổi tối, không tốn 1 viên đạn, không một người chết, không một ngôi nhà, một mảnh vườn bị tàn phá . Đó là tối 9/11/1989 khi bức tường Berlin, biểu tượng của sự chia cắt, sụp đổ .

Dân tộc Đức thực hiện cuộc thống nhất kỳ diệu: không có kẻ chiến thắng, không có kẻ chiến bại : chỉ có một dân tộc Đức hợp làm một, một dân tộc Đức thống nhất !
Trong khi đó dân tộc Việt Nam chịu nỗi bất hạnh của hơn 10 triệu tấn bom đạn đổ lên đầu, không biết bao nhiêu xe tăng, thiết giáp, máy bay, hoả tiễn, đại bác từ phía cộng sản và tư bản quần thảo, bắn phá gần 20 năm trời gây biết bao tàn phá , chết chóc ở cả Miền Nam lẫn Miền Bắc .
Trước hết nói về số người chết, dù là miền Bắc hay Miền Nam, thì tất cả đều là người Việt, con dân nước Việt . Máu , thịt đổ ra ở miền nào thì cũng là máu thịt Việt Nam ! Có bao nhiêu triệu người Việt Nam chết trong cuộc chiến tương tàn này ?

Kẻ thắng là chính quyền Cộng Sản từ khi chấm dứt chiến tranh đến nay chưa bao giờ dám công bố tổng số người chết trong cuộc chiến vì 2 lý do: thứ nhất, nếu công bố tổng số con số người chết rõ ràng thì cuộc chiến thắng của họ trả bằng cái giá xương máu quá đắt của dân tộc Việt Nam; thứ hai, họ không dám đứng ra nhận trách nhiệm về cuộc tiến quân vào miền Nam mà nếu biết nhìn xa, trông rộng, nếu có tấm lòng thương đến giống nòi, đất nước thì phải giữ yên 2 bờ chiến tuyến bị bắt buộc phân chia, rồi chờ cơ hội thuận tiện xum họp Nam Bắc một nhà .

Dân tộc Đức đã làm như thế và dân tộc Triều Tiên rồi cũng sẽ làm như thế !
Cố Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà Thương Thích huyền Quang từng nói đảng Cộng Sản Việt Nam giết chết 10 triệu người từ năm 1945 đến sau khi tàn cuộc chiến 1975, trong đó có gần 1 triệu chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất .

Ông Nguyễn minh Cần, cựu phó Chủ Tịch Hànội hiện đang sống ở Nga, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 25.2.2015 ước lượng cuộc chiến tranh tương tàn Bắc – Nam vừa qua “gây chết chóc 6 triệu người hay thậm chí còn lớn hơn .”

Từ điển Bách Khoa Wikipedia viết số người thiệt mạng trong chiến tranh Việt Nam từ 3 tới 5 triệu người, hàng triệu người bị tàn tật . Về thường dân có từ 900 ngàn tới 4 triệu người, trong đó 2 triệu ở miền Bắc và 2 triệu ở miền Nam . Tài liệu của Wikipedia không đáng tin cậy : Thứ nhất, con số ước lượng từ 900 ngàn tới 4 triệu có khoảng cách quá xa . Thứ hai, đã nói từ 900 ngàn tới 4 triệu mà lại nói 2 triệu ở miền Bắc và 2 triệu ỏ miền Nam là không hợp lý .

Căn cứ vào số bom đạn, số vũ khí tối tân có khả năng tàn sát lớn, trận địa mở rộng khắp miền Nam từ miền núi tới đồng bằng, từ thành thị tới nông thôn kéo dài tới gần 20 năm và sự tàn sát không nương tay thì con số do cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang và ông Nguyễn minh Cần đưa ra hợp lý hơn .

Những người bị buộc phải trực tiếp cầm súng giết hại lẫn nhau ở hai miền là bao nhiêu ?
Miền Bắc theo sách lược chiến tranh toàn diện, tức động viên toàn bộ nhân vật lực, ở thôn làng vắng bóng thanh niên . Phụ nữ bị động viên vào dân quân, thanh niên xung phong hay lao động các nông trường . Thiếu niên 16, 17 chưa đủ tuổi Đảng cho vay để bắt đi bộ đội vào miền Nam .
Ở miền Nam thanh niên lớn lên 18, 19 tuổi là bị bắt lính, trừ những người còn đi học . Nhưng sổ lính chờ sẵn nếu thi rớt là bị gọi ngay :

Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà làm đĩ nuôi con .
Khi nào con lớn con khôn,
Nhắc con làm lễ chiêu hồn cho anh ! (Ca dao)

Sao lại làm lễ chiêu hồn ? – Lễ chiêu hồn ngày xưa dành cho những người chết không lấy được xác như đắm đò, té xuống sông bị dòng nước cuốn đi, lên rừng bị cọp tha xác mầt, linh hồn vơ vẩn không biết đường về nên người ta lập đàn chiêu hồn trên bờ sống, nơi mé rừng (để gọi hồn) .

Ở đây người “chinh phu”nghĩ rằng trong tình trạng chiến tranh khốc liệt như thế mong gì ngày trở về :” Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “( Vương Hàn) . Xác phơi nắng, phơi sương ngoài đồng hoang, rừng sâu, núi thẳm lấy “ ai mạc (vẽ hình để thờ), lấy ai gọi hồn”CPM .
Không biết ở miền Bắc có những câu ca dao tương tự không ?
Từ Nam chí Bắc không nhà nào, không thôn xóm nào không có người chết trận .
Con số những thanh niên ở cả 2 miền Nam – Bắc bị bắt buộc cầm súng giết nhau là bao nhiêu ?

Sau năm 1975, người ta tổng kê được 3.608.863 khẩu súng bộ binh của miền Bắc và 1.900.000 khẩu súng bộ binh của miền Nam do Liên Xô, Trung quốc, các nước Đông Âu và Mỹ, Pháp chế tạo, cung cấp , chưa kể đại bác, hoả tiễn, máy bay, xe tăng, thiết giáp . . . . Như vậy ở miền Bắc ít nhất có 5 triệu người cầm súng và miền Nam ít nhất là trên 3 triệu vì những người bị chết, bị thương, quá tuổi được giải ngũ súng lại trao cho người khác . Tất cả có khoảng 8 hay 9 triệu người Việt Nam cầm súng bắn giết nhau !
Số tổn thất của miền Bắc : Theo tài liệu “Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước (1954-1975) của nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia đã xuất bản thì tống số bộ đội chết trận là 1.100.000, kể cả 300ngàn không lấy được xác và 600 ngàn bị thương hay bị bệnh . Theo tài liệu mới nhất của Bộ Lao Động-Thương Binh Xã Hội thì:

-Cho đến năm 2012 cả nước qui tập được: 937.000 hài cốt liệt sĩ (*)
-Trong 2 năm 2013 và 2014 tìm thêm được: 90.000 hài cốt nữa .
-Số hài cốt liệt sĩ chưa kiếm được là : 214.000
——————————
Tổng cộng : 1.241.000 người chết .

Con số này không đáng tin cậy vì từ xưa đến nay chính quyền Cộng sản không bao giờ thành thật, người ta không dại gì đưa ra con số tổn thất lớn lao có hại về chính trị, dư luận bất lợi và nhất là trách nhiệm trước lịch sử .
Phần quân đội Mỹ, họ ước đoán giết khoảng 500.000 bộ đội (10 đổi 1), quân đội miền Nam giết khoảng 400.000 . Con số này có lẽ là con số bộ đội bị giết trong thời gian quân Mỹ tham chiến (1965-1974), còn thời gian trước đó từ 1957,1958 đến 1965 là bao nhiêu ? – Ít nhất cũng từ 500.000 đến 700.000 nữa chưa kể con số chết khi vượt núi rừng Trường sơn vào Nam : “ cứ 10 người lính thì chỉ 5 – 6 người tới Miền Nam còn lại bị chết vì bệnh sốt rét, rắn cắn, kiệt sức hay tai nạn” .(Vi Wikipedia) . Như vậy số binh sĩ Miền Bắc chết trong trận chiến khoảng 2 triệu người hay hơn nữa .

Số tổn thất của Miền Nam : Lewy dẫn tài liệu lưu trữ của Bộ Quốc Phòng Mỹ là 220.357 binh lính tử trận từ 1965 đến 1974, nhà sử học R.J. Rummel ước tính cao nhất là 316.000 tử trận . Số liệu của Bộ QP Mỹ chỉ ghi từ khi quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam 9 năm, non nửa thời gian cuộc chiến và có lẽ chỉ ghi sự tổn thất của lực lượng chính qui, không ghi các lực lượng bán quân sư như Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát và lực lương dân sự như cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, các viên chức Xã, Ấp . Chỉ riêng con số các viên chức Xã, Ấp ở miền Nam bị ám sát, bắt cóc thủ tiêu, theo Giáo Sư Sử Học Phạm cao Dương, đã lên tới khoảng 150.000 người bị giết hại do chính sách khủng bố của chính quyền Cộng Sản suốt cuộc chiến gần 20 năm trời .

Trong 1 cuộc khảo sát tại kho Lưu Trữ Hồ Sơ của Nha Hưu Bổng Cấp Dưỡng Bộ Cựu Chiến Binh ở Saigòn cuối năm 1973, chúng tôi ghi nhận có khoảng 1.050.000 hồ sơ cả cấp dưỡng và hưu bổng, trong đó hồ sơ Hưu Bổng (cho lính về hưu) chiếm 150.000, còn lại 900.000 là hồ sơ Cấp Dưỡng cho vợ con tử sĩ (quân chủ lực, bán quân sự, dân sự) . Như vậy số người chết vì chiến trận hay liên quan xin cấp dưỡng là 900.000 người . Nhưng chúng ta nhớ là ở Miền Nam phần lớn gọi thanh niên từ 18 đến 25 tuổi vào quân đội, hầu hết những người này lúc bị bắt đi lính chưa lập gia đình nên khi tử trận không có hồ sơ cấp dưỡng . Con số đó là bao nhiêu ?

Theo tôi nghĩ ít nhất là 400.000, 500.000 người .
Số dân chúng chết vì chiến tranh : Người dân là nạn nhân trực tiếp của chiến tranh theo hai nghĩa : Nghĩa thứ nhất, chết do kẹt giữa 2 lằn đạn hoặc bị oanh kích, pháo kích, bị trúng mìn,bị truy đuổi trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quốc lộ 14 ; chết vì bị nghi ngờ theo Việt Cộng, bị tra tấn, đánh đập cho đến chết, chết trong tù; chết vì bị nghi ngờ làm do thám, làm anten cho Quốc Gia là bị giết, bị thủ tiêu . Vào những năm 1960-1970 người dân Saigòn tới Bình Chánh, Nhà Bè câu cá bị nghi là do thám nhiều người bị bắt mất tích ( mang đi thủ tiêu ), một phóng viên của báo Tự Do phụ trách mục phóng sự “Thăm Dân Cho Biết Sự Tình” bị bắt mất tích ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long … . Giết lầm hơn thả lầm . Nghĩa thứ hai là đói khát khổ sở, không có ăn (bộ đội còn không đủ ăn -Vi Wikipedia), không có thuốc men, vì sưu cao thuế nặng cho chiến tranh nên nghèo đói, nghĩa vụ lao động nặng nhọc phát bệnh mà chết (miền Bắc); nhà cửa, ruộng vườn bị tàn phá, lang thang đói khổ phát bịnh mà chết (Miền Nam) . Tất cả dân chúng chết trong cuộc chiến Nam – Bắc phân tranh là bao nhiêu ?

Không có con số thống kê . Từ Điển Vi Wikipedia ước lượng cả 2 miền là 4 triệu .
Ôi những con số ! Những con số !
8,9 triệu người Việt Nam cầm súng bắn giết nhau trong gần 20 năm trời !
2 triệu lính Miền Bắc bị giết .
1 triệu rưỡi lính Miền Nam bị giết .
4 triệu người dân bị giết !
Núi xương sông máu !
Bao nhiêu tấm khăn tang?
Bao nhiêu dòng nước mắt ?
Bao nhiêu cô, quả ?
Bao nhiêu nhà cửa, ruộng vườn bị đốt cháy, bị tàn phá ?
Bao nhiêu con đường bị đào bới, bị đặt mìn và bao nhiêu chiếc xe bị nổ tung ?
Bao nhiêu cây cầu bị ném bom, bị đặt mìn giựt sập ?

Ai phát động hay bị bắt buộc phát động cuộc chiến ?
Ai đưa 430.000 quân Trung quốc tới Việt Nam ?
Ai đưa 500.000 quân Mỹ tới Việt Nam ?
Ai trao tay xe tăng T 54 – M48, máy bay T28, F5 – Mig19, Mig21, Sơn pháo 130 ly, hoả tiễn 122 ly – đại pháo 155 ly,175 ly , AK47 – AR15 – dao găm, lưỡi lê, mìm bẫy cho người Việt Nam giết hại lẫn nhau ?

Lịch sử đang và sẽ chỉ ra những người phải chịu trách nhiệm trong cuộc tàn sát vừa qua . Sự kết tội hay nêu tên người này, người khác không phải là mục đich của chúng tôi, chúng tôi chỉ nêu lên cái thảm họa tang tóc, bi đát mà dân tộcViệt Nam phải gánh chịu .

Tội ác của họ, tên tuổi của họ sẽ bị lịch sử ghi lại muôn đời; con cháu họ – cũng giống như con cháu Trấn ích Tắc, Mạc đăng Dung, Lê chiêu Thống . . . – ngàn đời phải mang tiếng xấu của cha ông họ để lại .
Cuộc chiến Nam – Bắc phân tranh đẫm máu này, sau cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh, là những trang sử đen tối nhất, đáng ghê tởm, đáng trách nhất của lịch sử Việt Nam .

Ước mong rằng con cháu chúng ta mai sau nhìn vào những tấm gương đáng nguyền, đáng trách của người xưa để tránh những thảm cảnh đau đớn cho dân tộc .

Phạm đình Nhiên
Cước Chú : (*) Báo Quân Đội Nhân Dân Online thứ 6, ngày 03/01/2001 cho biết 900.000 hài cốt liệt sĩ đã được qui tập .

Posted: Fri Apr 17, 2015 3:36 am
by dailien
Sóng Gió Biển Đông

Trần Khải
Căng thẳng Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh hay không? Và nếu chiến tranh, sẽ ở mức độ nào? Đó là những suy nghĩ của các chiến lược gia về một viễn ảnh đáng ngại.

Trong khi đó, bản tin Indo-Asian News Service cho biết rằng Ngoại Trưởng Úc Châu Julie Bishop hôm Thứ Hai 13-4-2015 tuyên bố rằng Úc muốn là “một đối tác chọn lựa cho an ninh về năng lượng của Ấn Độ” và với hai nước cùng chia sẻ “quan điểm tương tự” về tham vọng lãnh thô của Trung Quốc và về quyền lãnh hải không bị ngăn trở, họ có thể làm việc chung nhau để đưa ra Bộ Luật Ứng Xử ở Biển Đông.

Ngoại Trưởng Bishop sẽ thương thuyết với Ngoại Trưởng Ấn Độ Sushma Swaraj vào Thứ Ba.

Nghĩa là, Úc nói thẳng, rằng TQ tham vọng Biển Đông, rằng Úc và Ấn Độ nên hợp tác để bảo đảm quyền lưu thông hàng hải và buộc các nước tuân theo Luật Ứng Xử Biển Đông.

Trong khi đó, bản tin VOA ghi lời một phát ngôn viên của hải quân Indonesia hôm thứ Hai nói nước này muốn tập trận quân sự thường xuyên với Mỹ gần nhóm đảo Natuna dân cư thưa thớt, một khu vực ở Biển Đông gần nơi mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Phát ngôn viên Hải quân Indonesia Manahan Simorangkir cho biết đây là cuộc tập trận chung thứ hai mà Indonesia thực hiện với Mỹ trong khu vực và có kế hoạch tổ chức cuộc tập trận này vào năm sau, cũng như mong muốn cuộc tập trận trở thành sự kiện thường niên.

Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia tuần trước nói với hãng tin Reuters rằng ông sẽ tới nhóm đảo Natuna ở ngoài khơi bờ biển tây bắc của Borneo để hoàn tất kế hoạch nâng cấp những cơ sở quân sự nhỏ bé.

Bản tin VOA viết:

“Các quan chức Indonesia cho biết cuộc tập trận chung với Mỹ và kế hoạch tăng cường quân lực ở Natuna không đáp lại bất kỳ mối đe dọa cụ thể nào.

Tổng thống Indonesia tháng trước nói rằng những tuyên bố chủ quyền chính của Trung Quốc đối với đa số vùng biển tranh chấp là không có cơ sở pháp lý theo luật quốc tế, nhưng Jakarta muốn giữ vị thế là "nước điều giải công tâm" trong một trong những tranh chấp lãnh thổ gai góc nhất của châu Á.

Dù Indonesia không phải là một nước đòi chủ quyền ở Biển Đông, quân đội Indonesia đã cáo buộc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một số phần của Natuna trong "Đường Chín Đoạn," là ranh giới mơ hồ được sử dụng trên bản đồ của Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tới khoảng 90 phần trăm Biển Đông.” (ngưng trích)

Một bản tin khác cuả VOA có tựa đề “Chuyên gia Nga: Moscova muốn VN trở thành cửa ngõ của Nga vào ASEAN” trong đó ghi nhận:

“Nga đang tìm cách củng cố hơn nữa các quan hệ sẵn có với Việt Nam, và coi Hà Nội là một trong các đối tác chiến lược chủ yếu của Moscova tại Đông Nam Á.

Đó là tựa đề một bài viết đăng trên tờ báo Nga Russia Beyond the Headlines, số ra hôm nay. Tác giả bài báo cho rằng trong bối cảnh các cường quốc thế giới đang tranh giành ảnh hưởng trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Moscova cũng tìm cách củng cố chỗ đứng đã có tại Việt Nam để mở ra một cánh cửa vào các nước ASEAN. Muốn thực hiện kế hoạch của mình, Nga đang đẩy mạnh các quan hệ thương mại với Hà nội, lên tới 10 tỉ đôla trong 5 năm tới, chủ yếu qua các dự án phát triển hợp tác trong các lĩnh vực: hạt nhân, năng lượng và công nghệ quân sự.

Tác giả bài báo là Giáo sư Vladimir Kolotov, Giám đốc Ban Lịch sử Viễn Đông thuộc Đại Học St. Petersburg. Ông nói một cuộc cạnh tranh ráo riết đã bùng nổ mới đây để tranh giành ảnh hưởng tại Việt Nam, trong bối cảnh các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Nam Trung Hoa, tức Biển Đông, trở nên gay gắt hơn giữa Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Philippines...”(ngưng trích)

Mặt khác, một bản tin của RFI có tựa đề “Philippines: Trung Quốc phá hoại rạn san hô ở Biển Đông” cho thấy súng chưa nổ, thiệt hại đã thấy rõ rồi.

RFI viết:

“Philippines hôm nay 13/04/2015 tố cáo, Trung Quốc đã gây thiệt hại lớn lao cho môi trường tại Biển Đông qua việc xây dựng các đảo nhân tạo trên các đảo đá ngầm đang tranh chấp, tiêu hủy các rạn san hô có diện tích rộng gấp ba lần Vatican.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines, ông Charles Jose tuyên bố: «Việc xây dựng của Bắc Kinh đã phá hủy các đảo san hô có diện tích khoảng 300 mẫu Anh, gần gấp ba Thành Vatican, gây thiệt hại kinh tế hàng năm đối với các quốc gia ven biển ước tính khoảng 100 triệu đô la. Các hoạt động quy mô của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đã gây ra các thiệt hại to lớn không thể phục hồi được cho đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái tại Biển Đông».

Ông Charles Jose còn tố cáo Bắc Kinh dung dưỡng các hành động xâm hại môi trường của các ngư dân Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough, vùng biển phong phú hải sản mà Trung Quốc giành được quyền kiểm soát từ tay Manila từ năm 2012....”

Khó là vậy. Chưa nổ súng, đã thấy mất 100 triệu đôla.

Tới khi nổ súng, chưa biết bản đồ mới sẽ bị vẽ ra sao.

Posted: Sun Apr 19, 2015 6:19 am
by khieulong
Viêt Cho Tháng Tư

Image
Dòng người chen chúc trên những chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn trước khi thành phố thất thủ.
Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có.

Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.

Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius…”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm….Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự….”

Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự “nguy hiểm” của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm “mục đích biện minh cho phương tiện”, nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.

Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan… Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ “formidable” mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa “arousing fear”(gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với “terrorise” (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là “khủng bố”. Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một “đối thủ ghê gớm” như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.

Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng “làm cho sợ hãi” của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các “trận đánh” của đội Biệt động Sài Gòn như: “trận đánh” tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, “trận đánh” cư xá Brinks…; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những “trận đánh” như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống….Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là “quân giải phóng”.

Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người “nằm vùng” gọi là “trận đánh” gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ…. Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy “Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks”. Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là “trận đánh” sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ “nguy hiểm”, “ghê gớm” .

Ngoài cái cách thể hiện “formidable” như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại !

Để rồi sau cái ngày “thống nhất” ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về “công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng” vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người “có học” ở Việt Nam.

Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù…phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị…chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào “mục đích biện minh cho phương tiện”. Chúng ta biết rằng, tính chính đáng của phương tiện phụ thuộc vào sự thích nghi và mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.

Kết quả là, “sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước” đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước “giải phóng” hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?

Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Hay như Lê Duẩn từng nói : “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại”. Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.

Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày “giải phóng”, giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.

Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm.

Chỉ e…. Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là “chủ trương nhất quán”, là “ưu tiên hàng đầu” như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.

Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạc, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao?

Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.


Huỳnh Thục Vy

Posted: Tue Apr 21, 2015 6:42 am
by khieulong
Nguyễn Tấn Dũng phải lùi bước

Ngô Nhân Dụng
Trong cuộc biểu tình tại tỉnh Bình Thuận làm kẹt xe dài gần 50 cây số trên quốc lộ số 1, người dân đã dùng tới “bom xăng” ném vào đám “công an cơ động.”

Ðây chỉ là những chai đựng xăng, đốt lửa, không gây thương tích nếu không ném trúng người; mà chắc những người ném cũng không cố ý ném trúng ai cả. Nhưng hình ảnh lửa bùng cháy loang ra trên mặt đường vào lúc chập tối, giữa tiếng reo hò của hàng ngàn người dân Bình Thuận, sẽ tạo ra những ảnh hưởng lớn trong các cuộc biểu tình phản kháng sau này. Bởi vì dân Việt Nam đang chứng kiến phong trào phản kháng cường quyền đang biến chuyển mỗi ngày một quyết liệt hơn.

Người dân Việt đã hết sợ Ðảng Cộng Sản, hết sợ từ lâu rồi, cho nên dân oan mới dám tổ chức biểu tình phản kháng. Anh Ðoàn Văn Vươn đã bước qua một lằn ranh giới khi một thân một mình dám kháng cự cả tập đoàn cường quyền gian ác, dù anh chỉ có những vũ khí thô sơ nhất. Bây giờ đồng bào xã Vĩnh Tân huyện Tuy Phong, Bình Thuận đã tự biến thành một một ngàn, hai ngàn Ðoàn Văn Vươn.

Một thay đổi quan trọng khác là nguyên nhân gây ra phong trào phản kháng của người dân xã Vĩnh Tân. Ðồng bào không nổi lên vì bị cướp đất như ở Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, Văn Giang tỉnh Hưng Yên, phường Dương Nội quận Hà Ðộng, vân vân. Nỗi phẫn uất của dân Bình Thuận là không khí, không khí ô nhiễm mỗi ngày họ phải hít thở.

Cuộc biểu tình ở xã Vĩnh Tân có thể mở đầu một phong trào mới: Ðòi quyền được sống trong một môi trường lành mạnh, nước và không khí phải sạch sẽ! Ðáng lẽ ra phong trào này phải bắt đầu từ các thành phố, như Sài Gòn, như Hà Nội. Vì đó là nơi người dân phải sống nhiều nhất với bụi và rác, cống rãnh ngập lụt vào mùa mưa, rau xanh và trái cây nhiễm độc, chưa kể tai nạn xe cộ giết người không khác gì bệnh dịch. Nhưng có thể nói bà con xã Vĩnh Tân đã được người Hà Nội kích thích với những cuộc biểu tình chống chặt cây. Người Hà Nội mới chỉ thấy mất một ngàn gốc cây trong mấy ngày mà đã phải hành động. Dân xã Vĩnh Tân không lẽ cứ chịu hít khói độc, hít bụi than, sống giữa những đống chất phế thải của nhà máy phát điện do Trung Quốc thiết kế; đã kêu khóc mấy tháng trời mà không ai thèm đoái hoài! Những cuộc biểu tình ôn hòa của dân Hà Nội đã buộc chính quyền phải thay đổi chính sách. Người dân Vĩnh Tân thấy họ không thể cứ cúi đầu chịu nhục mãi.

Nhưng trong chuỗi dây chuyền các cuộc phản kháng của dân Việt Nam cuộc đình công vào cuối tháng ba tại Sài Gòn có ý nghĩa lớn hơn nữa. Cuộc đình công của 70,000 công nhân hãng Pou Yuen đánh dấu một biến chuyển quan trọng trong phong trào lao động ở nước ta, sẽ ảnh hưởng tới cả những phong trào nhân dân phản kháng thuộc những lãnh vực khác. Trong vụ này, người nắm quyền cao nhất là thủ tướng chính phủ phải chịu thua và lùi bước.

Cuộc đình công lớn nhất, đạt kết quả nhanh nhất ở Việt Nam từ trước đến nay diễn ra tại công ty Pou Yuen (Bửu Nguyên) vốn Ðài Loan. Nhưng điều đáng nói nhất là cuộc đình công này không nhắm những mục tiêu quen thuộc của phong trào công nhân, như lương bổng, điều kiện làm việc. Các công nhân Pou Yuen đứng đậy để đòi hỏi Ðảng Cộng Sản phải sửa một đạo luật mới được Quốc Hội thông qua vào năm ngoái. Và cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng đã chịu thua, hứa sẽ ra lệnh sai Quốc Hội bù nhìn sửa lại luật theo đòi hỏi của công nhân.

Các công nhân làm việc trong các cơ xưởng của người ngoại quốc đều phải đóng thuế bảo hiểm xã hội, giống như người đi là ở các nước Âu Mỹ đóng Social Security. Tiền đóng góp được đưa vào một quỹ để đầu tư sinh lời. Trước đây, khi các công nhân nghỉ việc, họ có quyền rút hết số tiền “để dành” này, không cần phải chờ tới lúc về hưu mới lãnh dần dần - giống như ở Canada hay ở Mỹ. Năm ngoái, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã làm luật mới, không cho phép các công nhân nghỉ việc được rút hết tiền ra, mà phải chờ tới lúc về hưu. Tất cả các công nhân đều thấy họ bị “bóc lột;” nhưng phải chờ tới 70,000 công nhân của Pou Yuen đứng ra phản kháng thì vấn đề mới được công khai nêu ra trước dư luận.

Anh chị em công nhân tại hãng Pou Yuen không đòi hỏi cho quyền lợi của riêng họ, mà cho tất cả các công nhân Việt Nam đang đóng thuế bảo hiểm xã hội.

Tại sao họ không chấp nhận một chế độ bảo hiểm cho giống như giới lao động ở các nước Âu Mỹ?

Thứ nhất, vì tiền mất giá với nạn lạm phát kinh khủng. Rút được tiền ra ngay chắc chắn tốt hơn là gửi cho cái quỹ của nhà nước, chờ năm, mười năm sau mới được rút, dù nó hứa sẽ sinh lợi. Thứ hai, quỹ bảo hiểm xã hội nằm trong tay Ðảng Cộng Sản thì gửi tiền cho nó giữ cũng giống như trao trứng cho ác. Cả cái Ðảng Cộng Sản là một đảng mafia. Ðảng mafia ở các nước khác chỉ khai thác các sòng bài, các lầu hồng hay buôn lậu. Ðảng Cộng Sản Việt Nam khai thác tất cả tài nguyên của đất nước. Trong đó ít người để ý tới tiền tiết kiệm của người dân trong các ngân hàng, tiền đóng vào các quỹ y tế, xã hội, hưu bổng của dân. Những thứ quỹ này là “món bở” lớn nhất, do Nguyễn Tấn Dũng nắm trong tay, toàn quyền sử dụng và chia chác.

Bình thường, người dân Việt Nam không để ý tới những thứ quỹ như vậy, vì không thấy chúng can dự trực tiếp tới đời sống hàng ngày của mình. Nhưng trong tay bọn tham quan thì đó là những kho vàng mà chúng là những kẻ được Ðảng Cộng Sản trao cho hết chìa khóa, ha hồ mở cửa chia chác với nhau. Năm ngoái, trong khi Quốc Hội bù nhìn thảo luận về dự luật bảo hiểm xã hội mới, nhiều đại biểu có lương tâm đã tố cáo ban quản trị quỹ đem tiền đầu tư vào những nơi khả nghi, nhiều rủi ro. Người dân có thể nổi cơn bất bình khi thấy một việc xây cây cầu hay một con đường bị rút ruột. Họ có thể tức giận khi thấy công ty Vinashin làm mất hàng tỷ Mỹ kim trong mấy năm, nợ như chúa Chổm phải lấy công quỹ trả. Mà tiền bạc chạy đi đâu không ai biết! Nhưng rất ít người nhìn thấy một đạo luật thay đổi quỹ bảo hiểm xã hội cũng có thể giúp bọn mafia kiếm hàng tỷ đô la, kiếm đều đều từ năm này sang năm khác! Vai chính trong truyện và phim God Father (Bố Già) đã nói về anh con rể luật sư, “Một tay sát thủ cầm súng không bằng một thằng sách cặp biết dùng luật.”

Nhưng anh chị em công nhân Pou Yuen đã nhìn ra, và đã phản kháng. Bố Già Nguyễn Tấn Dũng chịu thua. Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu đám nghị gật phải họp nhau sửa lại điều 60 trong đạo luật, cho phép người lao động có thể rút tiền ra một lần chứ không phải chờ đến lúc về hưu.

Ðiều đáng chú ý là anh chị em công nhân Pou Yuen không đòi hỏi những quyền lợi trước mắt, nhưng đã nhìn xa. Họ buộc nhà nước Cộng Sản phải thay đổi cả một đạo luật. Từ trước đến nay chưa một cuộc vận động nào ở nước Việt Nam đạt được một mục tiêu như vậy. Ðiều này có ý nghĩa chính trị rất lớn.

Cho nên Luật Sư Lê Thị Công nhân nhận xét, “Ðây là một bước tiến đáng mừng của người công nhân lao động. Họ đã nhận thức cao và thái độ ứng xử rất tích cực. Phải nói rằng họ đã bắt đầu quan tâm hơn đến những vấn đề chính trị. Chính trị là làm luật mà! Các công nhân biết xuống đường ngay khi có những thay đổi từ bên trên; chứ không đợi cho đến khi nó trực tiếp ảnh hưởng đối với cá nhân của từng người.”

Trong vụ đình công vừa qua, chúng ta còn thấy thái độ đồng tình của ban giám đốc và chủ nhân xí nghiệp Pou Yuen. Các công ty đặt hàng với Pou Yuen như Nike và Adidas cũng vậy. Họ đã chấp nhận cho 70,000 công nhân ngưng việc, biểu tình trong khuôn viên xí nghiệp suốt mấy ngày trước khi tràn ra đường. Giới tư bản, giới lao động, và tầng lớp quản lý chuyên nghiệp đều là nạn nhân của một đảng mafia, đều bị chúng nã tiền hối lộ, sách nhiễu, bóc lột như nhau! Ðây là lúc có thể cất lời kêu gọi mọi người cùng đoàn kết chống một kẻ thù chung, là đám cướp ngày!

Ðồng bào xã Vĩnh Tân, Bình Thuận chắc cũng đã theo dõi cuộc tranh đấu của công nhân hãng Pou Yuen. Thành công của anh chị em công nhân Pou Yuen cũng giống như kết quả mà dân Hà Nội đã dạt được khi ngăn cản kế hoạch “ăn cây” của băng đảng tay chân Nguyễn Phú Trọng. Mỗi cuộc phản kháng thành công sẽ kích thích cho mọi người ý thức về các quyền lợi của chính mình đã bị Ðảng Cộng Sản tước đoạt. Rất mừng thấy khí thế của dân Việt Nam đang lên, Ðảng Cộng Sản đang lùi từng bước một.

Posted: Mon Apr 27, 2015 6:35 am
by thienthanh
Nhân sĩ, trí thức cảnh báo: 'Trung Quốc lũng đoạn, uy hiếp VN'
Thursday, April 23, 2015 3:47:59 PM

HÀ NỘI (NV) .- Giới nhân sĩ trí thức gồm phần lớn là đảng viên nhiều tuổi đảng và nổi tiếng vừa lên tiếng khuyến cáo chế độ Hà Nội
có các quyết định đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết.


Image
Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng (thứ hai bên trái) và chủ tịch TQ Tập Cận Bình (bên phải) gặp mặt giới thanh niên nam nữ
khi ông Trọng thăm Trung Quốc hôm 7/4/2015. (Hình: China Daily)



Trong một bức thư dài đề ngày 18/4/2015 mới thấy phổ biến trên một số diễn đàn thông tin điện tử Internet, 42 nhân sĩ trí thức đưa ra một số nhận định về mối quan hệ Việt -Trung, thúc giục giới lãnh đạo CSVN cảnh giác với chủ trương bá quyền bành trướng của Trung Quốc nhưng núp dưới vỏ bọc “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” để “thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp” Việt Nam.

Hành động của Trung Quốc được nhìn thấy “không chỉ xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải mà còn thâm nhập và gây hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội” đối với nước Việt Nam, theo bức thư người ta thấy có đứng tên nhiều nhân vật như tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, giáo sư Hoàng Tụy, giáo sư Tương Lai, Kha Lương Ngãi, GM Nguyễn Thái Hợp, Cao Lập, bà Nguyễn Kim Chi, Huỳnh Kim Báu,...

Bức thư nói trên nhắc nhở những người lãnh đạo đảng CSVN về các hành động Trung Quốc dựa thế bá quyền nước lớn không tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên biển Đông trong khi các lãnh tụ hai nước gặp nhau thì hớn hở hô hào “duy trì đại cục quân hệ Việt – Trung và hòa bình ổn định Biển Đông”.

Nhưng trong thực tế thì vẫn cứ ào ạt xây dựng các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa và mở rộng các căn cứ ở quần đảo Hoàng Sa bất chấp sự phản đối của Việt Nam.

“Bằng những gì đã và đang diễn ra, chúng tôi, cũng như tất cả những người Việt Nam có lương tri từng hiểu rõ những mưu toan thâm độc của giới cầm quyền Bắc Kinh, làm sao có thể tin vào những lời đường mật trong Thông cáo về “Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc”, thúc đẩy hợp tác thực chất trên các lĩnh vực giữa hai nước đạt tiến triển mới” như Thông cáo viết.” Bức thư của 42 nhân sĩ nhắc nhở.

Vì vậy, bức thư khuyến cáo rằng “Càng thiết tha với tình hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai nước bao đời sống cạnh nhau, càng phải cảnh giác vạch trần những thủ đoạn nham hiểm, những lời lừa mị, bịp bợm của giới cầm quyền Băc Kinh hiện nay nhằm mua chuộc, thao túng một số người quá mơ hồ về những hứa hẹn viển vông “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” muốn dựa vào Trung Quốc để củng cố quyền lực đang nắm giữ.”
Image
Tàu cảnh sát biển Việt Nam đối đầu với các lực lượng Trung Quốc ở phía nam quần đảo Hoàng Sa ngày 14/5/2014 vì vụ giàn khoan HD 981
dò tìm bất hợp pháp trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. (Hình:HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)



Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng vừa đi Bắc Kinh hồi đầu Tháng Tư và rất có thể sẽ sang Mỹ vào Tháng Năm này nhân dịp hai nước làm lễ kỷ niệm 20 năm thiết lập bang giao.

Bức thư kêu gọi giới lãnh đạo đảng CSVN, nhân cơ hội đặc biệt này, “Vượt qua thách thức để tạo ra một bước đột phá, bứt khỏi sự kìm kẹp, áp lực nặng nề trong “quỹ đạo” của Trung Quốc, hay khiếp nhược đầu hàng trước những dụ dỗ, mua chuộc hoặc uy hiếp, đe doạ của giới cầm quyền hiếu chiến Băc Kinh để tiếp tục chìm sâu vào khủng hoảng, sụp đổ niềm tin, khiến cho đất nước lạc hậu và lạc điệu với thời đại. Trở thành thành viên của TPP là một cái mốc có ý nghĩa để đất nước ta đón lấy vận hội mới.”

Muốn làm được điều đó, bức thư khuyến cáo “Phải trên một nền tảng mới với luật chơi mới, dám chấp nhận cái giá phải trả cho một bước chuyển mình, nền kinh tế Việt Nam mới có điều kiện để tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới. Cũng trên nền tảng ấy, những vấn đề khác tuy sẽ còn gay go, song mới có lực thúc đẩy để thực hiện. Hy vọng rằng ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đáp ứng được mong mỏi ấy, thể hiện được ý chí mạnh mẽ ấy của cả dân tộc khi ông thực hiện chuyến công du đến Mỹ sắp tới.”

Trước các vấn đề thời sự đặc biệt quan trọng của quốc gia, giới nhân sĩ, trí thức và đảng viên nhiều tuổi đảng và nổi tiếng của đảng CSVN, thường là những người lớn tuổi và nằm ngoài guồng máy công quyền, từng đưa ra nhiều khuyến nghị với đảng và nhà nước CSVN những năm qua. Tuy nhiên, tất cả đều bị bỏ ngoài tai. (TN)

Posted: Tue Apr 28, 2015 6:37 am
by thienthanh
Nhận diện đao phủ bức tử Việt Nam
Nhà văn Võ Thị Hảo,
viết từ Hà Nội
2015-03-25
Trích từ nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/blog/vo-t ... 15918.html

“Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ.”-Albert Camus.
TQ tuyên bố chủ quyền ở VN

Hiện vẫn còn một nước tên là Việt Nam nhưng cái tên chưa đủ để minh chứng rằng nước chưa mất. Việt Nam bây giờ cũng như một cây cổ thụ ngàn năm tuổi đang bị lưỡi cưa máy đốn hạ, lá trên cây dù chưa rụng hết nhưng dưới gốc thì thân gỗ đã bị xẻ làm muôn mảnh đem bán để ghép thành cái tràng kỷ kê chỗ ngồi cho nhiều nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Đám người này đã sốt sắng dâng lên đám đầu lĩnh Trung Quốc bữa đại tiệc với món chính là máu thịt của đất nước Việt Nam.

Chi tiết quan trọng nhất khiến người ta nghi ngờ rằng VN đã mất chủ quyền lãnh thổ vào tay TQ đã thể hiện trong một sự kiện chấn động khiến thế giới sửng sốt và bất bình nhưng nhà cầm quyền VN thì im lặng chấp nhận.

Tại cuộc họp báo ngày 8/3/2015, ông Vương Nghị - Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã lớn tiếng tuyên bố với thế giới rằng việc TQ xây các đảo đá trên biển Đông là xây trên sân nhà của họ và chỉ trích kịch liệt những ai phản đối hành vi này của TQ. Và cái phần mà TQ khẳng định là „sân nhà“ ấy, lại đang là lãnh hải của VN có lịch sử từ lâu đời và đã được công ước quốc tế đương nhiên thừa nhận.

Tuyên bố trên của TQ gây bàng hoàng và phẫn nộ cho những người công tâm và am hiểu lịch sử vấn đề. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về biển Đông tại Học viện Quốc phòng Australia khi trả lời phỏng vấn của RFI đã không che giấu sự bất bình: “Tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc thấy ý kiến của Ngoại trưởng Trung Quốc đưa ra vài hôm trước ngày kỷ niệm 27 năm cuộc tấn công của Hải quân Trung Quốc vào tàu hậu cần Việt Nam ở khu vực quan Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) ngày 14/3/1988. Nhận xét của ông Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn.”

Dù liên tục lấn chiếm VN từ biên giới đến biển đảo, nhưng đây là lần đầu tiên TQ dám ngang ngược tuyên bố biển Đông là sân nhà. Việc TQ xây dựng những chuỗi đảo nhân tạo trên lãnh hải VN rõ ràng là hành động xâm lược, là bàn đạp để TQ thôn tính VN.

Trước sự xâm lược trắng trợn đó, trách nhiệm tối thiểu của nhà cầm quyền VN là phải lập tức phản đối mạnh mẽ trước hết trên lĩnh lực ngoại giao, đồng thời vận dụng các lực lượng quân sự, chính trị , sức mạnh quốc tế để buộc TQ trả lại chủ quyền lãnh thổ.

Nhưng sự ngược đời đã xảy ra. Sau tuyên bố của Vương Nghị, đến tận hôm nay VN vẫn không lên tiếng phản đối. Càng lạ lùng hơn là cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao VN dự định tổ chức vào ngày 12/ 3/2015, ba ngày sau tuyên bố của TQ lại bị xóa bỏ.

Lộ trình đao phủ bức tử VN


Trước sự im lặng chấp nhận của VN, TQ đã nuốt trọn phần còn lại của con mồi. Phần đầu đã được tiêu hóa xong từ những năm trước đây, khi những nhà cầm quyền VN từ cấp địa phương tới Trung ương đã hăm hở giao đất rừng dọc biên giới mà hầu hết là những vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng cho TQ thuê và quản lý tới 50 năm theo phương thức người TQ tha hồ tung tác trong đó.

Thiếu tướng Nguyễn Kim Khoa - chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội cho biết trên báo Đất Việt ngày 18/6/2014 : Qua khảo sát ở một số nơi, đã thấy có 19 dự án được các địa phương cấp phép cho thuê tới khoảng 398.374 ha đất rừng dọc biên giới Việt - Trung, đặc biệt là những vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. (Trong khi đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ báo là 10 tỉnh).

Mức giá mà VN cho TQ thuê đất rừng biên giới rẻ mạt đến mức không tưởng tượng nổi: nhiều nơi TQ chỉ phải trả 2,75 đ cho mỗi mét vuông đất mỗi năm! (Theo đại biểu QH Trần Việt Hưng(Hòa Bình) – báo Thanh niên đưa tin ngày 12/6/2010)

Nhận định của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng thực sự các cấp chính quyền đã bán rừng và dồn đất nước VN vào tình trạng tự sát, khiến VN mất đi vùng lãnh thổ quan trọng nhất về quốc phòng an ninh.

Mặc dù vậy, cho đến nay không một ai phải chịu trách nhiệm về những hành vi có thể coi là bán nước và phản quốc này.

Cùng trên lộ trình các cấp chính quyền VN để ngỏ cửa cho những kẻ xâm lược VN, họ còn tạo điều kiện đặc biệt dễ dàng cho người TQ vào kinh doanh, sản xuất, trốn thuế, thuê đất trồng lúa, rau quả, thuê mặt nước nuôi tôm cá... lập những đặc khu TQ như ở Vũng Áng – Hà Tĩnh và nhiều nơi. Song song với những chính sách về chính trị, ngoại giao và quốc phòng, an ninh, những chính sách về kinh tế thương mại đã giết chết nền sản xuất của VN và biến VN thành thị trường tiêu thụ hàng rởm và hàng độc hại của TQ. Không những nền kinh tế chính trị và văn hóa của VN bị bức tử mà cả VN đang bị biến thành một bệnh viện khổng lồ trong đó chen chúc những người dân đang chết dần mòn vì hóa chất độc hại của TQ.

Trong tình thế ấy, thay vì bảo vệ đất nước và nhân dân, nhà cầm quyền VN đã liên tục dùng mọi lực lượng từ văn hóa tư tưởng, báo chí truyền thông tới công an và côn đồ để ngăn chặn, vu cáo, mạt sát, khủng bố, đánh đập, bỏ tù, bao vây về kinh tế, cắt cả nguồn sống của những ai dám bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ tự do dân chủ và phản đối TQ xâm lược. Đến các cuộc dâng hương tưởng niệm những người đã hy sinh trong những cuộc chiến bảo vệ đất nước chống TQ tàn sát cũng bị nhà cầm quyền cho các lực lượng công an, dân phòng, dư luận viên và côn đồ ngăn cản.

Với những hành động có hệ thống, nhất quán trong nhiều năm như vậy, dư luận có quyền nhận định rằng nhà cầm quyền VN đã có quyền lợi chung với đám đao phủ TQ đang bức tử đất nước VN.

Để dẹp tan dư luận, Bộ trưởng quốc phòng VN – lại có những hành động bất chấp sự thật, trách nhiệm và và lương tâm khi khẳng định rằng “quan hệ Việt Trung vẫn phát triển tốt đẹp” và coi việc xâm lược của TQ chỉ là “mâu thuẫn gia đình”. Hơn thế nữa, Ngày 31/12/2014, vị này còn lớn tiếng răn đe và kết tội rằng người VN ghét TQ là một việc nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước cũng như quan hệ giữa hai quốc gia. (theo tinphapluat.com)

Dù không muốn thừa nhận sự thật đau lòng, người VN cũng không thể không nhận thấy dù cái tên VN còn đó, nhưng hồn nước thì đã bị nhiều nhà cầm quyền cộng sản làm tay sai cho TQ giẫm đạp mỗi ngày. Tung hoành trên mảnh đất này là dòng máu phản trắc đớn hèn đã được tiêm vào động mạch của vô số nhân vật trong các bộ máy quyền lực. Đó thực sự là đám tay sai của TQ, núp dưới chiêu bài Đảng cộng sản VN, lấy chủ nghĩa Mác Lê nin và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa mà nhân loại đã lên án là tội ác chống lại loài người làm bức màn sắt che cho những tham vọng, quyền lợi nhóm, để chĩa họng súng độc tài vào người dân, biến VN thành một “nhà tù” khổng lồ đàn áp bất cứ ai dám phê phán, ngăn cản con đường bán nước của chúng.

Người VN trong tình thế đó, là những con gà bị trói chặt, dao đã kề cổ. Ai cam tâm im lặng, chịu đi nhặt cơm thừa canh cặn, tung hô khen ngợi đám tay sai bán nước, tiếp tay cho bọn xâm lược, hoặc tiếp tục vắt kiệt máu mỡ mình nuôi bộ máy cầm quyền phè phỡn trên xương máu nhân dân thì sẽ được tồn tại.

Nhưng thế có phải là cuộc sống con người?

Người VN đã tê dại. Đã lạc mất linh hồn, Đến mức số đông đã mặc kệ mọi sự, cam chịu dao kề cổ và trong khi đang kê chiếc cổ gầy dưới lưỡi dao đao phủ , người VN cũng tương tự nhà cầm quyền của họ, chỉ dám mơ tới một con dao đao phủ cùn hơn để cứa cổ mình lâu chết hơn, chứ không dám mơ tới việc phải làm gì để thoát khỏi lưỡi dao ấy. Không ít người do không am hiểu tình hình nên đã trở thành độc ác, đứng về phía đao phủ bức tử VN, a dua mạt sát những dân oan hoặc những đồng bào đã không quản nguy hiểm đấu tranh cho quyền lợi của đất nước và cho cả chính họ.


Mất nước là bởi nhà cầm quyền VN
Image
Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.
TQ thực sự rất ngang ngược, tham lam và đã dùng nhiều thủ đoạn đối với loài người trên thế giới này. Không ngẫu nhiên khi có nhiều tài liệu khoa học thống kê, phân tích về những thủ đoạn thâm hiểm, tàn bạo của nhà cầm quyền cộng sản TQ và một trong những cuốn sách rất nổi tiếng đã được xuất bản mang tên “Chết bởi tay Trung Quốc” của hai giáo sư kinh tế học Perto Navarro và Greg Autr đã cảnh báo loài người về những tham vọng và hiểm họa mà TQ mang tới để các nước đối phó.

VN “đã chết bởi tay TQ”! Nhưng khốn khổ khốn nạn ở đây là cái chết do VN tự chuốc lấy. Chết chỉ vì nhà cầm quyền cộng sản đã bằng mọi giá, thà hy sinh lãnh thổ, danh dự, đất nước, nhân dân chứ không chịu mất Đảng, mất thể chế cộng sản.

Họ yêu Đảng, yêu Mác Lê nin, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đến thế kia ư?

Hoàn toàn không. Ở trong bộ máy, họ biết quá nhiều hành vi bỉ ổi độc ác của nhau và của thứ chủ nghĩa này. Họ gắn bó chẳng qua thể chế ấy, chủ nghĩa ấy là một cỗ xe bọc thép mang vũ khí hạng nặng bảo vệ hữu hiệu nhất cho băng cướp tham nhũng tha hồ lừa bịp và cướp bóc người dân. Thế giới đã chứng minh cỗ xe cộng sản càng lăn đi càng chất chồng tội ác. Sự sợ hãi bị mất tất cả đã khiến nhà cầm quyền gắn với thể chế cộng sản như mạng sống. Họ đã lựa chọn con đường hy sinh đất nước và nhân dân để giữ chế độ độc tài nhằm bảo vệ cho giai cấp thống trị tha hồ cướp bóc.

Đó cũng là điều mà TQ đã rất khôn ngoan tận dụng để thao túng đám cướp bóc này. Đám này còn rất sốt sắng thực hiện mưu đồ nhập VN vào TQ trong năm 2020 theo như cam kết của Hội nghị Thành Đô 1990. Tham vọng vĩ cuồng mang hơi hướng Mao Trạch Đông của Tập Cận Bình cộng với và sự nôn nóng muốn rảnh tay nên giao đất sớm cho TQ của đám bán nước VN, nay đã về đích trước 5 năm so với kế hoạch?!

Albert Camus nói: “Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ”. Khi nhà cầm quyền hoặc người VN đứng về phía đao phủ , thì chính họ đang hái quả trên ngọn cây nhưng lại dùng lưỡi cưa xẻ nát thân cây đã dung dưỡng họ.

Xét những động thái khác thường qua tuyên bố của TQ và sự im lặng chấp nhận của VN, dư luận không thể không nhận ra VN đã nằm gọn trong cái mõm tham lam của TQ. Cánh tay của nước Mỹ dù mạnh nhưng đã bị khước từ bởi chính nhà cầm quyền VN không những chỉ đứng về phía đao phủ mà còn là tay trong cho đao phủ. Nước Mỹ và khối các nước văn minh hiện giờ chỉ còn chứng kiến những cú đong đưa cầu lợi của VN đang được điều khiển bởi đầu não TQ mà thôi.

Nhưng chính TQ cũng đang phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trong tương lai gần bởi chính những khối ung thư nội bộ của họ. Sự phát triển nôn nóng bất chấp danh dự và thủ đoạn của nền kinh tế TQ đương nhiên sẽ mau chóng phá vỡ cái vỏ chật chội lạc hậu của thể chế chính trị phi tự nhiên theo ý thức hệ cộng sản đã bị loài người tẩy chay. Việc cộng dồn những tội ác chống lại loài người mà nhiều thế hệ nhà cầm quyền TQ đã làm với người dân của họ và thế giới cũng sẽ đến ngày “tức nước vỡ bờ”, chưa kể những chấn động mạnh mẽ của cuộc tranh giành quyền lực phe nhóm đang diễn ra dưới vỏ bọc “đả hổ diệt ruồi” tại TQ.

Sự sụp đổ ấy đương nhiên sẽ kéo theo sự tan vỡ bi thảm trong một ngày không xa của thể chế cộng sản VN đã tự nguyện nộp mình vào tay TQ thay vì thức thời đón nhận những cơ hội của Cách mạng Nhung VN, tự cải cách thể chế, đồng hành với quyền lợi của toàn dân tộc.

Và dẫu nước VN có mất về tay TQ, những người gắng gỏi vì đất nước và người dân VN không tuyệt vọng. Cuộc đấu tranh đòi thoát khỏi thể chế cộng sản để cứu nước, đem lai toàn vẹn lãnh thổ, dân chủ, tự do và nhân quyền cho người VN dù khó khăn nhưng là một cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ. Nhà cầm quyền không bao giờ có thể tiêu diệt hết được những người yêu nước yêu công lý và yêu tự do.

Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội

Posted: Fri May 01, 2015 12:27 am
by khieulong
Image

Nhân ngày 30/4: Những món nợ không sao trả nổi

Bùi Tín

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày 30/4, Bộ Chính trị Đảng CSVN chủ trương tổ chức kỷ niệm trọng thể «Ngày toàn thắng», «Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước», với những diễn văn cao ngạo đầy mỹ từ sáo rỗng, cờ quạt màu mè, trống kèn ầm ỹ, duyệt binh lên gân, pháo bông lóe mắt.

Tất cả chỉ để phủ lấp tình trạng bi thảm của một đất nước lạc hậu về mọi mặt: giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, khoa học kỹ thuật chậm tiến, xã hội đầy bất công, đảng cầm quyền đầy sai lầm và tội lỗi trước dân tộc và nhân dân, với cả một lớp cường hào CS ngang nhiên ăn cắp tài sản quốc gia để trở thành tầng lớp địa chủ CS, tư sản mại bản CS vượt rất xa các đại điền chủ - tư bản lớn nhất thời Pháp thuộc.

Tình hình bi thảm của đất nước chứng minh Đảng CSVN không còn có một lý do chính đáng nào để tiếp tục cầm quyền, tiếp tục tàn phá đất nước. Bảy mươi năm trước, nhân lúc đất nước bị bỏ trống - thực dân Pháp bị phát xít Nhật đảo chính, rồi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh - Đảng CSVN đã nổi dậy cướp chính quyền, từ đó giữ chặt quyền lực cai trị cho riêng mình, không qua một lá phiếu tín nhiệm nào của công dân. Chữ «cướp chính quyền» do chính đảng CS dùng không biết bao nhiêu lần trong các văn kiện chính thức đã nói lên tính chất «cướp», không đàng hoàng, không hợp chính nghĩa của họ từ hồi đó.

Nếp cai trị độc đoán của Đảng CSVN là dùng Cương lĩnh chính trị cùng các Nghị quyết của đảng qua các cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị để cai trị đất nước. Hiến pháp chỉ là văn kiện thứ yếu phụ thuộc Cương lĩnh của đảng, Quốc hội chỉ là công cụ dân chủ giả hiệu của đảng với 90 % đại biểu là đảng viên. Đây là một chế độ đảng trị lỗi thời, lạc lõng lẻ loi ở thế kỷ thứ XXI khi thế giới đã bước vào kỷ nguyên Dân chủ từ thế kỷ XVIII.

Nhân dân VN ngày càng hiểu rõ tình trạng thật sự của đất nước, đòi phải thay đổi hẳn hệ thống cai trị hiện tại, nhân dân phải được quyền tự do đầy đủ của công dân, quyền tự do bầu cử, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do lập hội đã được ghi trong Hiến pháp. Các quyền này đã bị hạn chế, cắt xén, phủ định bởi đảng cầm quyền.

Hiến pháp là luật gốc, không một đạo luật hay quyết định nào được đi ngược lại bất cứ điều khoản nào đã được ghi rõ trong Hiến pháp. Nhiều nước lập ra Viện Bảo hiến, hay Hội đồng Bảo hiến để bảo vệ triệt để Hiến pháp. Một món nợ lớn của Bộ Chính trị với dân ta là đã dùng nội dung hướng dẫn thi hành luật để phủ định nhiều điều Hiến pháp đã cho phép. Như Hiến pháp công nhận quyền biểu tình, vậy mà một Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lại tự cho mình quyền cấm nhân dân biểu tình bảo vệ cây xanh của thành phố. Đây là một quyết định vi hiến, phải bị coi là vô giá trị. Món nợ dân chủ - nhân quyền của Đảng CSVN với toàn dân ta là món nợ lớn nhất, cấp bách nhất.

1

Nếu nói đến những món nợ của Đảng CSVN với nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua thì thật sự không sao kể ra hết được. Nợ thì phải trả. Đó là lẽ công bằng của cuộc sống. Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 chỉ xin kể thêm những món nợ cơ bản nhất.

Với hàng mấy triệu lượt chiến sỹ QĐND được đảng kêu gọi nhập ngũ để vào Nam chiến đấu, với hứa hẹn của đảng là hy sinh mạng quý của mỗi người là xứng đáng để tổ quốc hoàn toàn độc lập, xã hội sẽ ấm no, hạnh phúc. Với hy vọng ấy hàng triệu thanh niên đã lao vào khói lửa, sẵn sàng sinh Bắc tử Nam, để đến nay xã hội lạc hậu, nhân dân nghèo khổ so với các nước xung quanh đến thế này ư? Để bọn bành trướng lấn lướt láo xược đến thế này ư? Bộ Chính trị làm sao trả được món nợ cực lớn này khi vong linh của hàng triệu liệt sỹ hiện về chất vấn. Họ thường thắp hương trước đài liệt sỹ mà không hề cảm thấy có tội lỗi với hương hồn các liệt sỹ đã bị họ lừa dối.

Với nhân dân miền Nam nước ta, món nợ lớn của Đảng CSVN là ở điểm then chốt như sau. Trong Hiệp định Geneve (tháng 7-1954) và Hiệp định Paris (tháng 1-1973) chính quyền CS Hà Nội đã cùng các bên long trọng cam kết «tôn trọng quyền dân tộc tự quyết» được ghi rõ trong Hiến chương của Liên Hiệp Quốc, cam kết «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam», bảo đảm «nhân dân mỗi miền có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị không có sự can thiệp của bên ngoài», cam kết «không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực». Hiệp định Paris còn quy định «ngừng bắn tại chỗ», «các bên không nhập thêm vũ khí vào vùng đóng quân của mỗi bên», «thay thế vũ khí hư hỏng có kiểm soát quốc tế, theo tỷ lệ một đổi một». Cam kết trên đây không những là cam kết với nhân dân miền Nam, mà còn với nhân dân cả nước, và là cam kết chung với cả cộng đồng quốc tế. Nhưng họ đã chủ trương vi phạm ngay từ trước khi ký kết.

Đảng CSVN đã phản bội lời cam kết này trước hết và và nghiêm trọng hơn hết là với nhân dân sống ở miền Nam, kể cả hàng triệu nhân dân miền bắc đã di cư vào Nam, bỏ phiếu bằng đôi chân 20 năm trước, rồi tiếp đó lại phải lao ra biển thành «thuyền nhân». Món nợ này đối với đồng bào ta ở miền Nam là rất lớn, vì đây là nạn nhân trực tiếp của cuộc xâm lăng phi pháp, là nạn nhân bi thảm của sự cam kết giả dối tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, rồi cam kết hão về hòa hợp, hòa giải dân tộc, lại còn hứa hươu hứa vượn về thành lập Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc với 3 thành phần ngang nhau ở miền Nam, và cam kết quan hệ 2 miền Bắc - Nam sẽ «không bên nào
cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào». Thảm kịch «tù cải tạo» là một món nợ cực lớn nữa đối với đồng bào ở miền Nam nước ta.

Ngay trước mắt, đối với toàn dân là món nợ của Bộ Chính trị về chống tham nhũng quyết liệt, về thảo ra Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu Dân ý, Luật về lập Hội, rồi cải cách thể chế chính trị và kinh tế, sửa đổi các điều khoản mơ hồ trong bộ Luật hình sự như đã hứa hẹn với trong nước và thế giới.

Xem ra Bộ Chính trị vẫn đủng đỉnh, bình thản, mặc cho tình thế rất khẩn trương, quan hệ trong đảng rất căng thẳng, nhất là đối với đảng viên trí thức mà khá đông có tâm và có tầm hơn hẳn các ủy viên Bộ Chính trị, mặc cho tâm lý xã hội đang chuyển biến theo hướng tự do dân chủ, với hàng loạt biểu hiện mới: «Tôi không thích đảng CS!», «Tôi muốn biết sự thật», «Chúng ta là Một».

Họ thản nhiên vì với thời gian cầm quyền họ tha hồ đục khoét thêm cho các phe nhóm lợi ích riêng tư. Họ thản nhiên vì ỷ lại vào sự chống lưng của của Thiên triều Bành trướng TQ giàu tiền của, chỗ dựa tinh thần vật chất mà họ mù quáng tin vào sự vững mạnh trường cửu.

Ngày 30 tháng 4 năm nay phải là ngày tính sổ nợ lưu cữu của Đảng CSVN với toàn dân, với nhân dân cả 2 miền Nam - Bắc, đều là nạn nhân của đường lối cai trị toàn trị thâm hiểm đầy bạo lực và sai lầm của đảng.

Vui vẻ gì, tự hào gì, vẻ vang gì cho Đảng CSVN khi tội lỗi chất chồng như thế, những món nợ kinh hoàng đến thế để mà bày vẽ duyệt binh với pháo hoa. Nếu là một tổ chức chính trị lương thiện, Đảng CSVN ắt phải tủi hổ sâu sắc để tạ tội với toàn dân về những tội lỗi nặng nề kéo dài lê thê trong 70 năm qua.

Posted: Sun May 03, 2015 12:46 am
by vuphong
30 Tháng Tư, lo trước về tương lai

Ngô Nhân Dụng
Chúng ta không thể tránh được, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm lại chợt nhớ về quá khứ. Niềm tưởng nhớ thường có trong một ngày giỗ. Mà 30 Tháng Tư đúng là một ngày giỗ. Ngoài những vị tướng chỉ huy tử tiết, như Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Lê Nguyên Vĩ, Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn, còn biết bao nhiêu các binh sĩ, sĩ quan khác cũng đã chết để bày tỏ khí tiết trong cùng một ngày. Có vị sĩ quan cảnh sát, Ðại Tá Nguyễn Văn Long đã chọn công viên Lam Sơn làm nơi thể hiện lời nguyền chết vinh hơn sống nhục. Nhiều vị sĩ quan, công chức, đã về nhà, cùng chết với gia đình. Chúng ta hướng về tất cả những anh hùng liệt sĩ đó trong ngày giỗ tập thể hôm nay.

Và nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa. Trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có nhiều nhóm quân nhân (Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, vân vân) đã quyết định cùng chết với nhau. Họ đứng khoác vai nhau, tự sát bằng những trái lựu đạn. Họ đã lựa chọn cùng nhau thể hiện tình “đồng sinh đồng tử, huynh đệ chi binh” một lần cuối cùng, trước khi tan hàng vĩnh viễn.

Chúng ta biết những chiến binh này có thể lựa chọn cách khác. Họ có thể chiếm cứ bất cứ ngôi nhà nào bên đường, lấy đó làm nơi tử thủ. Họ có thể bắn cho hết những viên đạn cuối cùng trước khi bị bên địch hạ sát. Giống như những người lính Nhật sau cùng trong trận Iwo Jima, lấy mạng đổi mạng. Nhưng vào giây phút tuyệt vọng nhất của đời mình, những người chiến binh này vẫn chứng tỏ họ vẫn sống nền đạo lý ngàn năm của dân tộc. Họ không muốn lôi kéo thêm những người lính khác phải chết với mình. Dù vừa mấy giờ phút trước đó, nhìn chỉ thấy đó là quân địch. Vì một tấm lòng từ bi vẫn chảy trong dòng máu Việt, các chiến sĩ này đã thấy: Cha mẹ, vợ con những người lính vô danh bên kia chắc cũng đang ngóng chờ ngày họ sống sót trở về. Nhớ lại những hành động tự sát tập thể trong giây phút tuyệt vọng đó, chúng ta chợt hiểu lời nguyện mà cha ông đã để lại: “Ðem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo). Chúng ta đều có thể hãnh diện về hành động tự sát của những người lính Việt Nam Cộng Hòa này.

Các thế hệ sau phải làm gì để những người đã chết đều không ai chết uổng? Những con người tuẫn tiết đó đều chết trong khi chiến đấu bảo vệ quyền sống trong tự do dân chủ của người Việt ở miền Nam. Từ năm 1975 đến nay mấy thế hệ vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu thiết lập một chế độ dân chủ tự do trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến nhiều bạn trẻ còn non nớt hay sinh sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, ở trong Nam hay ngoài Bắc, đang dấn thân trên con đường đó. Họ xứng đáng là những người nối dõi khí tiết hào hùng của các tiền nhân. Những người như Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ðắc Kiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến, Việt Khang, vân vân, bị đánh đập, tù đày, gia đình bị dọa nạt, đàn áp, có bà mẹ đã tự thiêu chết; chỉ vì họ đòi phải cho dân tộc Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Các bạn trẻ này đã thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc; và cũng theo đuổi chí nguyện của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, và những những tử sĩ hy sinh ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Trong ngày 30 Tháng Tư nhìn lại 38 năm qua, chúng ta vui mừng vì cuộc vận động tranh đấu cho dân chủ tự do ở nước ta hiện ngày càng tiến mạnh hơn và nhanh hơn. Ðảng Cộng Sản đang trên đà tan rã, không thể nào tránh được. Giáo Sư Ðào Văn Dương, một người đã hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, thường nói với các học sinh cũ đến thăm cụ: “Các anh chị sẽ thấy, chế độ Cộng Sản sẽ chết trước mình.” Viễn ảnh đó không còn xa xôi nữa. Chế độ Cộng Sản đang trong giờ hấp hối. Cái chết này thực sự bắt đầu từ năm 1975. Ðó là thời điểm những mà những thủ đoạn lừa gạt tinh vi nhất của đảng Cộng Sản bắt đầu bị lộ diện; và càng ngày càng đưa họ xuống dốc.

Từ năm 1945, đảng Cộng Sản đã núp dưới chiêu bài dân tộc để lôi cuốn nhân dân. Họ núp dưới danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước” để đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết. Trong khi mục tiêu chính của họ là bành trướng một chủ nghĩa, một chế độ chính trị. Công cuộc bành trướng đó do Nga Xô và Trung Cộng lãnh đạo; còn nuôi tham vọng sau khi chiếm được toàn thể Việt Nam rồi sẽ nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á rồi lan khắp Châu Á và thế giới. Ðảng Cộng Sản đưa dân tộc Việt Nam ra hứng bom đạn trong cuộc tranh chấp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Họ có vẻ hãnh diện về vai trò tiên phong này. Lê Duẩn nói: “Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc.” Năm 1976 Phạm Văn Ðồng tới một hội nghị các nước Á Phi còn dạy chính phủ các nước khác rằng họ chưa thực sự độc lập, chưa thoát khỏi chế độ thực dân. Ông nói: “Chỉ khi nào theo chủ nghĩa xã hội thì mới thực sự độc lập,” khiến các người tham dự rùng mình.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể dùng chiêu bài yêu nước như trước nữa. Không thể dùng khẩu hiệu “chống Mỹ” để biện minh cho các chính sách độc đoán và sai lầm làm dân ngày càng nghèo đói. Ðảng Cộng Sản để lộ bộ mặt thật của họ, là một guồng máy chuyên chế, tham nhũng và bất lực trước các vấn đề hiện đại hóa đất nước. Người dân Việt cũng có dịp so sánh hai chế độ ở miền Nam và Bắc, trước năm 1975. Nhiều nhà trí thức miền Bắc nhìn thấy những dấu vết của một xã hội tự do ở miền Nam, mặc dù chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn dễ thở hơn ở miền Bắc. Một cậu bé năm đó 13 tuổi ở Thanh Hóa, sau cũng nhận ra khi nói “Giải phóng” thì phải thấy chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc! Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Thiệu bảo: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói...” Sau năm 1975 người đầu tiên nhìn ra lời đó đúng, là ông Trương Như Tảng, một Việt Cộng thứ thiệt. Thấy rồi, ông ta cũng tìm đường vượt biên. Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản ở Âu Châu càng giúp người Việt Nam thấy rõ cả của chế độ mà Hồ Chí Minh đã gây dựng lên theo kiểu mẫu ông học ở Nga Xô chỉ tàn hại đất nước. Nhưng chưa bao giờ dân Việt Nam chán ngán và thù ghét chế độ cộng sản như bây giờ. Ðúng vào lúc chế độ đó đang lúng túng. Không những không biết lần mò ra đường nào để giữ cho đời sống kinh tế của nhân dân phát triển, mà họ còn không biết có cách nào để giải quyết những tranh chấp quyền lợi bên trong với nhau.

Nhưng chúng ta phải lo lắng trước, khi nhìn thấy tình trạng đảng Cộng Sản tan rã. Không thể đứng chờ và chứng kiến, không lo lắng. Những liệt sĩ Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn đã được huấn luyện với khẩu hiệu: “Lúc bình an phải lo trước cơn nguy biến sẽ tới” (cư an, tư nguy). Bây giờ là lúc thể hiện châm ngôn đó.

Chế độ Cộng Sản thế nào cũng tàn tạ. Giống như một trái cây chín rồi, tự nó sẽ rụng. Giới thanh niên, trí thức trong cả nước đang rung cây cho trái rụng càng sớm càng tốt. Ðiều đáng ưu tư của dân tộc bây giờ không còn là lo chấm dứt chế độ tham nhũng bất công đó. Ðiều cần lo ngay tự bây giờ, là sau khi chế độ này tàn thì dân tộc Việt Nam xây dựng lại đất nước ra sao?

Trước hết, làm sao cho tiến trình dân chủ hóa được thực hiện mà không vấp phải những chướng ngại, như đã từng diễn ra ở nhiều nước đã trải qua kinh nghiệm chuyển từ độc tài hay chuyên chế sang chế độ dân chủ? Trong múc này tuần trước, chúng tôi đã trình bày trường hợp Bulgaria, một chế độ Cộng Sản đã “tự đảo chính,” một ngày sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ðảng Cộng Sản đã sửa Hiến Pháp, chính họ xóa bỏ điều số một (giống như điều bốn trong Hiến Pháp Việt Nam bây giờ) giành độc quyền cai trị cho đảng. Họ tự đổi tên, tổ chức bầu cử tự do, và thắng cử. Ở Rumania cũng vậy, chính các lãnh tụ Cộng Sản đã giết vợ chồng Nicolae Ceausescu để chạy theo các cuộc cách mạng 1989 ở Ðông Âu. Nhưng họ đã hành động chỉ để cướp lấy ngọn cờ cách mạng, để duy trì cả hệ thống quyền hành và tiếp tục trục lợi.

Thủ đoạn “tiếm danh nghĩa cách mạng” và “tiếm quyền cai trị” đã từng được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng lành nghề, trong năm 1945. Nhưng đó cũng chỉ là một, trong nhiều mối nguy mà tiến trình dân chủ hóa có thể vướng mắc, cần phải biết để tránh vết xe đổ. Tại một nước đã chuyển từ độc tài quân phiệt sang dân chủ tự do như Chile, tiến trình dân chủ hóa đã bị cản trở trong 15 năm vì ngay từ đầu các nhà tranh đấu dân chủ đã nhượng bộ quá nhiều khi thương thuyết cuộc chuyển giao quyền hành với Tướng Augusto Pinochet. Tại những nước như Nga, Ukraine, tiến trình dân chủ hóa vụng về, để cho một số người tập trung các nguồn lợi kinh tế vào trong tay. Những nhà tư bản độc quyền này đã dùng tiền bạc chi phối và “tiếm vị” thao túng cả guồng máy nhà nước. Ngay tại những nước dân chủ hóa thành công nhất, như Ba Lan và Tiệp Khắc, thái độ “dửng dưng với chính trị” của những nhà lãnh đạo như Walesa, Havel, đã tạo ra một khoảng trống chính trị khiến nhiều vấn đề của quốc gia không được giải quyết sớm bằng các định chế và thủ tục dân chủ. Một hậu quả dễ thấy nhất, là nước Tiệp Khắc đã phải chia đôi, thành Cộng Hòa Tiệp và Slovac, mặc dù vào lúc quyết định chia đôi đó, dân chúng cả hai miền đều muốn giữ thể chế liên bang (trên 54% ở cả hai vùng).

Dân chủ hóa là một con đường đầy trông gai, một dòng sông có nhiều mỏm đá ngầm. Ngày 30 Tháng Tư này, chúng ta cần suy nghĩ ngay về vấn đề đó, để chuẩn bị tương lai một nước Việt Nam tự do dân chủ. Ðó là một cách đền ơn nghĩa những người đã chết trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trong khi đang tranh đấu bảo vệ một mảnh đất tự do của nước Việt Nam.

Posted: Tue May 05, 2015 3:21 pm
by dailien
Nguyễn Phú Trọng bị báo Đức xếp cùng với Kim Jong-un
trong danh sách 5 tên kẻ thù nguy hiểm nhất của Internet


Image
Von links: Nguyen Phu Trong, Gurbanguly Berdimuhamedow, Kim Jong-un, Isayas Afewerki und Bashar al-Assad (Foto: AFP, dpa Picture-Alliance, AP/dpa, AFP/KCNA via KNS)
CTV Danlambao - Nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế, khi blogger Điếu Cày được Tổng thống Hoa Kỳ đón tiếp tại toà Bạch Ốc thì tờ báo Đức BILD đã xếp Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng vào bảng phong thần 5 kẻ thù nguy hiểm nhất của internet - Welttag für freie Presse - Das sind die schlimmsten - Feinde der Freiheit.

Nguyễn Phú Trọng cũng là người... theo đuôi blogger Điếu Cày được gặp gỡ Obama, nhưng chưa biết sẽ gặp như thế nào. Chỉ biết rằng Điếu Cày đã ngồi bên cạnh Obama trong tư thế của một nhà tranh đấu cho tự do ngôn luận và Nguyễn Phú Trọng sẽ mang tư thế ngang hàng với Kim Jong-un về việc bịt mồm người dân để đến Washington.

5 tên lãnh đạo và là kẻ thù nguy hiểm nhất của internet mà BILD lập danh sách là: Nguyễn Phú Trọng của nước CHXHCN Việt Nam, Kim Jong-un của Bắc Hàn, Gurbanguly Berdimuhamedow của Turkmenistan, Isayas Afewerki của Eritrea và Bashar al-Assad của Syria.

Trong phần trình bày về Nguyễn Phú Trọng BILB đã mô tả tình trạng tại Việt Nam như sau: Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mặc dù tự do ngôn luận được xác nhận bởi Hiến pháp, nhưng bất kỳ sự chỉ trích chính phủ nào và các vấn đề về dân chủ, cải cách đều là điều cấm kỵ. Hiện nay hơn 30 blogger và hai nhà báo đã bị cầm tù và bị quy tội "lật đổ nhà nước".

Nguyen Phu Trong (Vietnam): In der sozialistischen Republik Vietnam gibt es laut Verfassung zwar Meinungsfreiheit, doch wird jede Kritik an der Regierung verfolgt, Themen wie Demokratie und Reformen sind tabu. Derzeit sind mehr als 30 Blogger und zwei Journalisten inhaftiert, ihnen werden Vorwürfe wie „Umsturz des Staates“ gemacht.

Nguồn:

Welttag für freie Presse | Das sind die schlimmsten
Feinde der Freiheit
BILD zeigt die Staatschefs, die das Recht auf freie Meinungsäußerung mit Füßen treten

http://www.bild.de/politik/ausland/mens ... .bild.html

Posted: Wed May 06, 2015 3:18 am
by vuphong
Dân chủ là luật pháp

Ngô Nhân Dụng
Cuốn truyện tựa đề Tiểu luận về Nhìn sáng (Ensaio sobre a Lucidez, xuất bản năm 2005) của nhà văn Bồ Ðào Nha José Saramago mở đầu với cảnh một phòng đầu phiếu, ở thủ đô một xứ tưởng tượng.

Trời mưa to, bão lớn, không thấy dân đến xếp hàng chờ đợi bỏ phiếu như các năm trước. Ông trưởng phòng phiếu chờ đại diện của các đảng chính trị tới đông đủ, tất cả yên vị, đúng giờ mở cửa, theo luật định, ông ký bản văn chính thức cho dân vào, rồi bảo ông thư ký phòng phiếu đem ra dán ngay trước cửa, vẫn theo luật định. Ông thư ký nói rằng với tình trạng mưa, bão thế này, bản thông cáo dán lên trong một phút sẽ bị mưa ướt nhèm và bị gió cuốn đi, dán làm gì vô ích. Ông trưởng phòng hỏi ý kiến đại diện ba đảng, gồm có đảng hữu phái, đảng tả phái, và đảng đứng giữa, viết tắt là dhp, dtp và ddg, theo lối Saramago viết. Ba vị đại diện ba đảng chính trị đồng ý có thể niêm yết bảng thông cáo trong nhà, tại một chỗ ai cũng thấy. Ông đại diện dhp yêu cầu điều này phải được ghi vào biên bản cuộc bỏ phiếu, để tránh sau này có người khiếu nại rằng việc tổ chức bầu cử bất thường vì không theo đúng từng chữ trong luật lệ. Sau đó, ông trưởng phòng mời ba vị đại diện vào phòng bỏ phiếu, cho thấy không có gì bất thường, rồi ông mở các thùng phiếu cho cả ba vị coi, chứng nhận mỗi thùng đều trống, trong sạch, vô nhiễm, không có lá phiếu nào để sẵn trong đó. Theo đúng luật bầu cử, ông trưởng phòng bỏ lá phiếu đầu tiên, rồi đến các nhân viên của ông, sau đó là ba vị đại diện ba đảng chính trị làm bổn phận công dân của họ. Sau đó, họ về chỗ ngồi chờ các cử tri đội mưa tới bỏ phiếu.

Trong đoạn mở đầu, Saramago nhắc đến những chữ “theo đúng luật lệ” nhiều lần. Tuy viết cuốn truyện để chế nhạo một cuộc bầu cử tưởng tượng, ở một nước tưởng tượng, nhưng tác giả không quên nhấn mạnh rằng trong một thể chế dân chủ, tất cả phải làm đúng luật, đúng từng chữ. Nhất là trong việc bầu Quốc Hội, tức là chọn những người làm luật để cai trị dân.

Chúng ta thường nói tới hai chữ Dân Chủ với niềm thành kính, coi đó là một giá trị cao cả, một lý tưởng mà loài người đã tranh đấu nhiều thế kỷ mới thành, mà hàng tỷ người hiện nay vẫn còn chưa được hưởng, trong đó có người dân Trung Quốc và Việt Nam. Vì vậy, người Việt Nam đang tranh đấu đòi dân chủ, coi đó là một khát vọng lớn lao, từ thời Phan Châu Trinh, hơn một thế kỷ nay nước ta vẫn chưa đạt được.

Nhưng không nên nhìn chế độ dân chủ như một lý tưởng trừu tượng. Trước hết, nên quan niệm thể chế tự do dân chủ như tập hợp của một số “luật chơi dân chủ.” Giống như đá bóng cần có luật thì cuộc chơi mới hay; cuộc sống tập hợp trong xã hội cần những luật lệ buộc người tham dự phải tuân thủ.

Luật chơi hoàn toàn do những người tham dự đặt ra, đồng ý với nhau, thi hành một cách bình đẳng, không phân biệt, như vậy là dân chủ.

Cuộc vận động dân chủ hiện nay đang ngày càng mạnh hơn, biểu hiện dưới nhiều hình thức. Nhiều khi đồng bào đang đòi dân chủ, dù không nhắc đến hai chữ đó. Ðồng bào Bình Thuận biểu tình phản đối các nhà máy điện gay không khí ô nhiễm. Dân Khánh Hòa biểu tình chặn xe trên quốc lộ để phản đối việc nạo vét luồng lạch lấy cát tại Cam Ranh khiến nguồn nước ô nhiễm làm tôm, cá nuôi trên bè bị chết sạch. Ðồng bào Ninh Thuận kéo nhau đi phản đối xưởng muối đưa nước mặn vào ruộng. Ðó chính là những vận động đòi dân chủ.

Bởi vì chỉ khi nào có chế độ dân chủ thì những hành động gây ô nhiễm mới được ngăn chặn, trước khi xảy ra. Chỉ trong chế độ dân chủ thì những người nắm quyền mới lo soạn ra những luật lệ bảo vệ cuộc sống lành mạnh cho những người dân bình thường, vì chính trị gia nào cam kết bảo vệ môi trường sống sẽ được dân bầu lên. Nếu họ chỉ nói suông mà không biến lời cam kết thành luật lệ thì dân sẽ phản đối, kỳ sau họ sẽ thất cử. Trong chế độ độc tài thì người cầm quyền chỉ cần vận động cấp trên trong đảng của họ, không cần giành lá phiếu của dân. Cho nên họ cũng không bận tâm làm luật bảo vệ không khí, bảo vệ nước, cho dân được sống lành mạnh và no đủ.

Những luật lệ bảo vệ môi trường chỉ là những “luật chơi” nho nhỏ trong xã hội. Một chính quyền độc tài nếu khôn ngoan và thương xót dân một chút cũng có thể viết ra những luật lệ bảo vệ môi trường. Nhưng trong một xã hội tự do dân chủ thì người ta không cần biết người đang nắm quyền hoặc sẽ nắm quyền là ai, có thương dân hay không. Nhưng biết chắc một điều, là dù ai cầm quyền thì cũng phải làm theo ý nguyện cụ thể của dân. Thí dụ, soạn những luật lệ bảo vệ không khí và nước.

Người dân không quan tâm đến những khẩu hiệu lớn lao được các ông lớn hô to trong các bài diễn văn. Họ chỉ chú ý đến đời sống hàng ngày, trước mắt. Ðồng bào Bình Thuận không cần biết các ông ấy hứa “tiến lên chủ nghĩa xã hội” là thế nào (mà chính các ông ấy cũng không biết nó ra thế nào). Nhưng họ biết nếu tiến lên chủ nghĩa xã hội là mỗi ngày thở không khí đầy bụi than thì họ không chấp nhận. Cũng giống như hàng ngàn nông dân không chấp nhận bị cướp đất ruộng để hiến cho tư bản đỏ, chia lời. Cũng giống như vậy, dân Hà Nội không chấp nhận người ta chặt đốn hàng ngàn cây trong thành phố, coi mấy triệu dân như một lũ người mù, hoặc ngu đần không biết giá trị của cây xanh.

Làm cách nào để tránh khỏi cảnh những người cầm quyền khinh dân, làm hại dân như thế? Nhiều người sẽ trả lời rằng phải lật đổ bọn người đang cầm quyền, thay thế họ bằng những người tử tế hơn.

Nhưng làm cách nào để những người mới sẽ làm những việc tốt hơn?

Chỉ có một cách là chính người dân nắm quyền chọn những người cai trị họ, bằng lá phiếu tự do. Khi những người cầm quyền luôn luôn biết rằng quyền hành của mình là do dân trao cho, chứ không phải là nhờ được cấp trên trong đảng chia chác và ban phát, thì họ sẽ hành động khác. Họ sẽ đặt ra những luật lệ bảo vệ môi trường vì biết nhu cầu thiết thực của dân. Họ không chờ đến khi dân đau khổ quá phải kéo nhau đi biểu tình, ném đá, ném chai xăng, thì mới “sửa sai.” Rồi mai mốt lại sai, rồi lại sửa tiếp.

Cho nên áp dụng chế độ dân chủ giống như phòng bệnh, chứ không chờ có bệnh thì mới chữa. Căn bệnh làm mục nát xã hội nước ta hiện nay là tham nhũng. Chống tham nhũng không bằng phòng tham nhũng. Muốn ngăn ngừa tham nhũng ngay từ gốc thì phải thiết lập quyền bỏ phiếu tự do của người dân.

Sau những cuộc biểu tình ở Hà Nội, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận thì người dân có được bảo đảm là sau này sẽ không còn những vi phạm giống như vậy nữa hay không? Không có gì bảo đảm cả. Ðời sống chỉ được bảo đảm khi có những luật lệ rõ ràng bắt buộc người nắm quyền bính phải thi hành. Ai làm sai sẽ bị khiển trách hoặc trừng phạt. Vì sợ bị phạt, người ta sẽ phải tuân theo luật lệ, ai từng lái xe đều biết như vậy.

Cuộc sống trong xã hội dân chủ do luật lệ quyết định, không cần chờ ý kiến của “lãnh đạo!” Ðó là khác biệt căn bản giữa dân chủ và cộng sản. Chế độ Cộng Sản theo mô hình Xô Viết không coi luật pháp là quan trọng. Năm 1927, vị chủ tịch đầu tiên của Tối Cao Pháp Viện Liên Xô tuyên bố rằng: “Cộng sản là sự thắng lợi của Chủ Nghĩa Xã Hội trên tất cả luật pháp.” E.B. Kashukanis, một luật gia được trọng dụng dưới thời Stalin, nói, “Trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tiến bộ, chính sách và kế hoạch được dùng thay cho luật pháp.” Cộng Sản Việt Nam thi hành đúng đường lối Stalin, cũng không cần luật pháp, lấy chính sách của đảng thay thế cho luật pháp. Ðảng Cộng Sản bắt đầu thay đổi từ khi tư bản hóa nền kinh tế, vì không thể có thị trường nếu không có luật lệ. Nhưng trên căn bản, họ vẫn coi luật pháp chỉ là những dụng cụ để thi hành chính sách của đảng. Ðảng vẫn ngồi trên đầu luật pháp.

Trong tương lai, khi xây dựng thể chế dân chủ, chúng ta cần xây dựng một xã hội pháp trị làm nền móng. Trong xã hội đó, không ai, không một người, một lớp người hay một tổ chức nào ở trên luật pháp. Tất cả mọi người phải được đối xử bình đẳng trước pháp luật.

Ðồng bào Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận đã đi biểu tình đòi ngăn chặn những hành động phá hại môi trường sống. Nếu quen với lối sống dân chủ, tự do, đồng bào sẽ đòi đảng Cộng Sản phải thiết lập hoặc thay đổi những luật lệ bảo vệ môi trường, chứ không chỉ đòi họ thay đổi hành động đã làm. Muốn cải thiện đời sống, phải thay đổi luật lệ chứ không thể chỉ thay đổi từng quyết định của những người cầm quyền. Giống như anh chị em công nhân hãng PouYuen tại Sài Gòn đình công đòi thay đổi luật hưu bổng xã hội.

Khi xã hội có luật lệ và ai cũng được đối xử bình đẳng trước pháp luật thì chuyện người nào, đảng nào đang nắm quyền không quan trọng nữa. Bởi vì, ai có quyền trong tay cũng phải tuân thủ luật pháp. Dân chủ tự do nghĩa là nếu người nào làm sai luật người dân có quyền thay thế. Nền tảng của chế độ dân chủ là Luật, bởi vì tất cả chế độ chỉ gồm những “luật chơi” bảo đảm mọi người được tự do, bình đẳng. Cho nên, ngay những trang đầu cuốn tiểu thuyết của Saramago, ông mô tả mối quan tâm lớn của các nhân vật trong một phòng đầu phiếu, là làm đúng luật, đúng từng li từng tí một.

Trong sách trên, José Saramago, giải Nobel văn chương năm 1998, kể chuyện một cuộc bầu cử rất đặc biệt trong cuốn truyện Tiểu luận về Nhìn sáng (bản tiếng Anh dịch gọn là Seeing - Nhìn). Cuốn này tiếp theo một tiểu thuyết khác, Tiểu luận về Mù, Ensaio sobre a cegueira, đã được dịch là Mù, Blind. Nếu quý vị chưa đọc tiểu thuyết Nhìn, thì xin tiết lộ: Sau ngày bầu cử được mô tả trong chương đầu, kết quả kiểm phiếu cho thấy hơn 70% dân thủ đô bỏ phiếu trắng. Chính phủ tổ chức lại một cuộc bỏ phiếu khác. Kết quả, hơn 80% dân bỏ phiếu trắng! Tất cả đều theo đúng “luật chơi.”

Posted: Fri May 08, 2015 1:50 am
by tiendung
Image

TC Vô Tình Giúp Nhựt Vươn Lên

Vi Anh

Hành động Trung Cộng [TC] giành giựt biển đảo Senkaku của Nhựt, kết quả đâu chưa thấy, cái thấy rõ là TC đã vô tình giúp Nhựt vươn lên về quân sự, thoát khỏi vòng kim cô của hiến pháp gọi là chủ hoà do Mỹ áp đặt sau khi Mỹ thắng Nhựt trong Thế Chiến 2.

Hai thập niên qua TC phải ép “giá lương tiền”, bán rẻ mồ hôi của đồng bào lao động, bòn vét tài nguyên của quốc gia dân tộc của Trung Quốc để thu hút đầu tư ngoại quốc vào TQ, sản xuất hàng bán rẻ tiền cho các nước, biến TQ thành xưởng sản xuất hàng rẻ tiền của thế giới. Nhờ thế TC trổi dậy thành siêu cường kinh tế hạng nhì, chiếm chỗ của Nhựt. Mạnh vì gạo bạo vì tiền, TC bành trướng ra biển Á châu Thái binh dương, giành giựt biển đảo của một số nước.

Nhật Bản, Trung Quốc, Giải thích Hiến pháp, Quyền tự vệ tập thể, Điều 9 Hiến pháp, bành trướng lãnh thổ, biển Đông, Hoa Đông, Senkaku, Điếu Ngư, Abe

Nhựt lợi dụng chiến lược bành trướng biển đảo của TC ở Á châu Thái binh dương để vươn lên về quân sự, đó là một quyền lợi quốc gia tạo lại thế đứng Nhựt là đại siêu cường quân sự trên thế giới. Nói gì thì nói giàu mạnh về kinh tế mà yếu về quân sự, cứ dựa dẫm vào nước khác về quân sự thì không thể là một đại siêu cường được.

Chính vì nhờ TC gây hấn giành giựt biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương, muốn giánh thế hải thượng của Mỹ, mà Mỹ mới để cho Nhựt có quân đội, có bộ quốc phòng, tăng quân số và hiện đại hoá quân đội. Mỹ cần Nhựt trong liên minh Á châu Thái Binh dương, Úc, Ấn, Nam dương, Phi luật tân, VNCS để phòng chống, bao vây TC, theo binh thơ của Trung Hoa mãnh hổ nan địch quân hồ. Nhờ vậy Nhựt được cùng Mỹ chiến đấu bất cứ nơi nào trên thế giới và giúp cho Nhựt có thể viện trợ quân sự cho các nước bạn thể theo chiến lược “phòng vệ tập thể” của Nhựt mà Mỹ đã đồng ý và khuyến khích để chia xẻ gánh nặng với Mỹ.

Cao điểm của thành công này của Nhựt thấy rõ trong chuyến công du Mỹ của Thủ Tướng Shinzo Abe. Mỹ cần Nhựt trong chiến lược chuyển truc quân sự về Á Châu Thái Bình dương, như Mỹ cần Việt Nam làm tiền đồn chống CS ở Đông Nam Á thời Chiến Tranh Lạnh. Mỹ dành cho Thủ Tướng Abe một danh dự như đã dành cho Tổng Thống Ngô đình Diệm của Việt Nam Cộng hoà, là Quốc Hội Mỹ mở phiên họp khoáng đại lưỡng viện để nghe TT Abe đọc diễn văn.

Liên minh Mỹ Nhựt siết chặt này sẽ tạo một cơ hội bằng vàng cho TT Abe của Nhựt trở thành một “quốc gia bình thường” không bị kềm kẹp bởi điều khoản chủ hoà của Mỹ bên thắng trận áp đặt suốt 70 năm rồi. Quan trọng nhứt là Nhựt có thể trở thành đầu tàu, máy kéo kéo kinh tế các nước Á Châu Thái Bình dương, sau khi TC tạo nhiều khó khăn cho Nhựt, Nhựt phải dời ra khỏi TQ, hướng các công ty sang VN, Thái, Nam dương.

Chẳng những Mỹ, TT Obama nồng nhiệt thân thiết tiếp kiến TT Abe mà Quốc Hội với Cộng Hoà đa số đều muốn phát huy liên minh Mỹ-Nhựt vững mạnh hơn nữa. Dân chúng Nhựt cùng thế. Dân chúng Nhựt qua hai cuộc bầu cử Thượng và Hạ Viện đã dồn phiếu cho Đảng Dân Chủ Tự do của Ô. Abe chủ trương tăng cường việc bảo vệ bờ cõi giang sơn gấm vóc. TT Abe qua lá phiếu có giá trị trưng cầu dân ý hai lần, được dân chúng uỷ nhiệm bảo vệ an nguy cho Tổ Quốc. TT Abe với sự đồng ý gần như tuyệt đối của Quốc Hội, đưa ra nhiều thay đổi về Quốc Phòng thích hợp với tình hình mới do TC giành giựt biển đảo gây ra.

Nhựt là nước mà Mỹ muốn hay không muốn cũng là đồng minh trụ cột trong liên minh các nước Á châu Thái Bình Dương đối phó với TC đang bành trướng, nhờ tiềm lực kinh tế đệ tam siêu cường của Nhựt và thế lực ngoại giao mạnh của Nhựt như Đức ở Âu châu. Nhựt có thể viện trợ, mua bán vũ khí cho VN, VN tránh khỏi lịnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ.

Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới, đồng minh thân cận có hiệp ước bảo vệ quân sự cho Nhựt, đóng vai chất xúc tác và hậu thuẫn cho một liên minh đối đầu với TC. Nhựt đệ tam siêu cường thế giới đóng vai hành động, kết hợp, điều hợp các nước Á châu Thái bình dương thành liên minh hỗ trợ các quốc gia trong vùng bảo vệ an ninh trên không và trên biển. Trong một phiên họp thượng đĩnh của ASEAN, trước mặt cả trăm mấy phái đoàn đại diện các nước dự khán, trong đó có Mỹ, TC, Nhựt, Úc và mười hai nước ASEAN, Thủ tướng Nhựt Abe với tư cách là khách mời chỉ đạo, long trọng tuyên bố Nhật và Hoa Kỳ đã sẵn sàng thắt chặt hợp tác với Úc và Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN. Nhựt “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. "Chính phủ Nhật ủng hộ mạnh nỗ lực của Philippines” và "Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại. Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ". TT Nhựt còn công bố Nhựt viện trợ vô thường, sắp chuyển giao cho Philippines, một trong những quốc gia nghèo trong vùng, 10 tàu tuần duyên và VN 5 chiếc để tăng cường khả năng tự vệ. Và Nhựt cũng đưa chuyên viên Hải quân đến lo bão trì. Đó là một bước tiến mới do tình hình mới của Nhựt so với hiến pháp hiếu hoà không cho phép Nhựt có quân đội và đưa quân ra ngoại quốc. Thủ Tướng Nhựt nhấn mạnh “Indonesia cũng sắp nhận được ba tàu tuần duyên tương tự và Việt Nam cũng có thể được hỗ trợ như hai nước.”

Nhựt là nước Á châu tây phương hoá trước nhứt, biết học hỏi sữ dụng kỹ thuật của Tây Phương và trở thành hùng cường. Chính những nhà ái quốc VN như Ô Phan bội Châu, Kỳ ngoại Hầu Cường Để có thể nói là tiền bối của Ô Hồ chí Minh cũng chủ trương “Đông Du” đi Nhựt tìm đường bài phong, đả thực, giành lại độc lập, tự do cho VN. Chính Ô Hồ chí Minh dù là CS cũng cung kính trong những lãnh tụ Đông Du này.

Nhựt có tiền cừu hậu hận với TQ và TC. Một tấc biển, một tấc đất của Tổ Quốc Nhựt, Nhựt cũng không nhường. Một chữ, một lời trong công văn, trong hiệp ước liên quan đến đất nước, Nhựt cũng không nhượng. Tin Reuters và đài phát thanh RFI của Pháp có lần phổ biến, Nhựt xóa bỏ chữ hữu hảo đối với Trung Quốc trong quyển Sách Trắng mới nhứt về Viện trợ Phát triển ODA của Nhựt. Sách Trắng về ODA của Nhựt ấn bản 2013 là tài liệu chánh thức của Bộ Ngoại Giao Nhật Bản công bố vào ngày 21/02/2014. Trong tài liệu phổ biến tổng quát trong ngoài nước này, Bộ Ngoại Giao đã xóa bỏ hoàn toàn từ ngữ hữu hảo mà Bộ đã từng được dùng trước đây để mô tả tính chất quan hệ song phương Nhật-Trung.

Nói tóm lại TC tốn rất nhiều nhân tài vật lực để tranh giành biển đảo của các nước Á châu bình dương. TC đã vô tình giúp cho Nhựt liên minh chặt chẽ với Mỹ hơn và các nước chẳng những ở Á châu Thái binh dương mà ở Ấn độ dương như Ấn độ, ở Nam Thái bình dương như Nam dương, Úc, Tân tây Lan, có quân đội và quân đội đưọc ra nước ngoài, được viện trơ quân sự cho các nước. Và quan trọng nhứt là được Mỹ hậu thuẩn cho Nhựt trở thành nước điều hợp liên phòng Á châu Thái bình dương gồm nhiều nước Ấn, Úc, Nam dương, Phi, VN. Có thế nói TC làm, Nhựt hưởng, Nhựt vươn lên./.(Vi Anh)

__._,_.___

Posted: Sat May 09, 2015 4:44 pm
by tiendung
Có những niềm đau ... bây giờ mới nói
(VienDongDaily.Com - 01/05/2015)
Từ hiệp ước Thành Đô xin sát nhập Việt Nam vào Trung quốc, rồi cắt đất biên giới giao cho chúng, tới ký hiệp ước khai thác Bauxit để đem hằng trăn ngàn công nhân Trung Quốc vào VN.
Nhân ngày 30 /04 /2015,
Có những niềm đau ... bây giờ mới nói

PHƯỢNG VŨ


Hôm nay một ngày đặc biệt, 30/04/2015, ngày kỷ niệm 40 năm "nước mất nhà tan,” tôi thức giấc trong một tâm trạng nao nao khó tả. Ngồi check email nhận được 1 video clip từ cô bạn bên Úc gửi qua, tựa đề “Ngày Quốc Hận 30/4 tại Saigon,” tôi vô cùng ngạc nhiên và cảm phục khi thấy một nhóm phụ nữ khoảng chục người cầm biểu ngữ , cầm loa đứng giữa lòng thành phố Saigon mạnh miệng hô to “Đả đảo chế độ cộng sản tàn ác, cướp nhà, cướp đất của dân.”

Một chị cầm micro bước xuống đường oang oang tố cáo tội ác cộng sản một cách hăng hái hiên ngang. Một số các bà má đứng phía sau cầm biểu ngữ cũng hăng hái hô to rất nhiều lần: “Đả đảo đảng cộng sản tham nhũng hà hiếp nhân dân” rồi giơ cao tấm băng rôn với hàng chữ thật to: “30/4 ngày uất hận của người dân miền Nam.” Đúng là người dân miền Nam đang “bật ra” niềm đau và nỗi phẫn uất chôn giấu trong lòng đã bao năm nay hầu tiếp nối truyền thống bất khuất của cha ông:

"Đừng sợ nữa bóng đêm đe dọa. Đừng sợ nữa khi ta sóng dâng cho nước vỡ bờ
Đừng sợ nữa, hỡi ai phẫn nộ. Đừng lùi bước, hãy tung sức bật..."(PVH)

Đó là hình ảnh sống động về cuộc biểu tình tự phát ngay tại Saigon vào ngày 30/4/2015. Các chị đã mạnh dạn cất lên tiếng nói phẫn uất từ trái tim mình giữa thanh thiên bạch nhật, giữa dòng xe cộ đặc nghẹt của Saigon. Các chị quả xứng đáng là con cháu các bậc nữ lưu xưa:

“Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời
Dòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái tim”

Trong dòng xe cộ, nhiều tiếng còi được bóp vang lên để ủng hộ tinh thần can đảm của các chị, một số thanh niên dừng xe lại, chạy xuống tới gần lấy Ipad, Iphone ra để chụp hình quay phim. Đúng là thời nào Việt Nam vẫn có những người con anh hùng coi thường hiểm nguy...
Sáng nay tôi đi nhà thờ tham dự thánh lễ cầu nguyện cho quê hương Việt Nam nhân ngày 30/4. Trong bài giảng linh mục đã chia sẻ những cảm nghiệm gian nan khốn khó trong cuộc vượt biên bằng đường bộ, lội rừng băng suối với bao nhiêu hiểm nguy chồng chất. Có khi cả tuần không có cái gì ăn cũng như nước uống, đành phải tự lấy nước tiểu của mình để uống cầm hơi nhưng vẫn phải kiên quyết đi để tìm Tự Do. Nhìn về viễn ảnh Việt Nam sẽ lọt vào tay Tàu cộng, cha nhắc lại ý kiến của ông Ngô đình Nhu với tầm nhìn xa, trông rộng của một nhà chiến lược: “Khi nào nền Đệ Nhất Cộng Hòa này sụp đổ, miền Nam sẽ từ từ lọt vào tay miền Bắc cộng sản. Roi sau đó cả đất nước Việt Nam sẽ rơi vào tay Trung Cộng.” Thực tế ngày nay cho thấy các đời tổng bí thư CSVN lần lượt sang Tàu để ký những hiệp ước, mật ước dâng đất đai cho phương Bắc. Từ hiệp ước Thành Đô xin sát nhập Việt Nam vào Trung quốc, rồi cắt đất biên giới giao cho chúng, tới ký hiệp ước khai thác Bauxit để đem hằng trăn ngàn công nhân Trung Quốc vào VN.

“Việt nam còn hay đã mất
Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta” (VK)

Trước năm 1975 ông Lý Quang Diệu đến thăm Saigon và mơ ước không biết bao giờ Singapore được như Saigon. Còn bây giờ CSVN mơ không biết bao giờ VN được như Singapore? Tôi thấy lời bài hát Du Ca năm xưa sao như vẫn còn ứng dụng cho hôm nay, vì chỉ có con đường đó thì Việt Nam mới có thể vươn lên lớn mạnh được:

“Dậy mà đi, dậy mà đi
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi"

Đây đó khắp mọi miền đất nước, đồng bào đã bắt đầu đáp lời mời gọi "Dậy mà đi" Chúng ta người Việt Nam khắp nơi hãy cùng nhau nuôi dưỡng niềm tin:

"Còn hồn Việt Nam là còn niềm tin
Còn người Việt Nam sẽ có ngày quang vinh”

Buổi trưa tôi đến phố Bolsa tham dự lễ tưởng niệm 40 năm Quốc Hận (1975 - 2015) được tổ chức nơi tượng Đức Trần Hưng Đạo, người đã ba lần đánh thắng quân xâm lược phương Bắc. Cầu xin Ngài linh thiêng phù hộ cho dân Việt chúng con vẫn giữ gìn được giang sơn gấm vóc cha ông để lại.
Khi chúng tôi đến nơi cử hành lễ Tưởng Niệm thì đã thấy bà con tụ tập rất đông đảo. Nhiều anh chiến sĩ mặc quân phục VNCH, đặc biệt các chị cố giữ truyền thống xưa trước 75, mỗi lần tham dự các nghi lễ long trọng đều mặc áo dài. Nhiều chị còn thêm khăn quàng cổ màu cờ VNCH thật tươi sáng!
Khi nghi lễ chào cờ bắt đầu, mọi người đứng nghiêm chỉnh hát Quốc Ca và cùng nhìn lên lá cờ vàng tổ quốc thân yêu, phía dưới có dải khăn tang đen, được kéo lên 1/2 chừng, tượng trưng cho lá cờ rũ trong ngày đại tang của dân tộc Việt Nam( 30/4).

Lần đầu tiên nhìn lên lá cờ vàng với dải băng tang đen ở dưới, lòng tôi chợt nhói đau khi nhớ tới em trai tôi đã hy sinh anh dũng trong trận đánh oanh liệt cuối cùng giữa binh chủng Dù và bộ đội Bắc Việt ở Khánh Dương - Khánh Hòa. Điều đau buồn là em đã không có được một chiếc áo quan để phủ lá cờ tổ quốc lên trên với hàng chữ "Vị quốc vong thân" như bao nhiêu chiến sĩ khác. Các đồng đội em kể lại, các chiến sĩ Dù đã chiến đấu anh dũng gây thiệt hại nặng nề cho đối phương, nhưng vì số lượng phía địch đông gấp mấy lần quân ta, nên em đã can trường ở lại bắn chặn để các binh sĩ dưới quyền rút đi và chiến đấu tới giây phút cuối cùng, quyết không đầu hàng. Vì vậy em đã "chết mất xác" trong trận chiến oai hùng cuối cùng đó. Mỗi lần hát tới câu Du Ca

"Ta thà chết chớ không hề lui
Quyết không hề phản bội quê hương"

Lòng tôi lại quặn đau khi nhớ tới em. Mùa hè đỏ lửa 71 em đang học đại học, lệnh tổng động viên được ban hành, em cùng bạn bè lên đường “trả nợ núi sông”. Em đã tự chọn cho mình binh chủng hào hùng nhất thời đó: Binh chủng Nhảy Dù. Em đã sống, chiến đấu, và "ra đi" xứng đáng với tư cách của một "Người Hùng Nhảy Dù". Chị hãnh diện và tự hào về em, "Thiên thần mũ đỏ" yêu quý của chị! Thời điểm em 'hy sinh” tôi đang ở Nha Trang chỉ cách Khánh Dương có vài chục km mà nào có hay biết gì! Khi vợ chồng tôi di tản từ Nha Trang vào Saigon, sau một chuyến đi bị cướp sạch và đầy kinh hoàng, vừa bước chân vào nhà má tôi đã chạy ra ôm chầm lấy tôi mà khóc nức lên: “Em con đã chết mất xác ở Khánh Dương rồi con ơi!” Tôi nghe mà đầu óc quay cuồng, hai chân không đứng vững nổi!

Hôm nay nhìn lên lá cờ thân yêu với dải khăn tang đen tôi chợt nhớ tới em tôi và nhớ tới biết bao nhiêu người đã hy sinh anh dũng cho tổ quốc thân yêu như 5 vị tướng đã tuẫn tiết vì không muốn đầu hàng cộng sản sau ngày 30/4. Chúng ta phải sống làm sao để xứng đáng với sự hy sinh cao quý của họ?
Trong khi nghi lễ tưởng niệm tiến hành tôi thấy một chị mặc bộ đồ đen, nhẹ nhàng đi tới từng người xin phép cài lên áo chiếc nơ tang đen. Hành vi của chị nhỏ bé nhưng thật ý nghĩa, vì ngày hôm nay ra về trên áo ai cũng có chiếc nơ đen để tang cho tổ quốc chúng ta vào ngày bị “'bức tử” 30/4/75. Trên sân khấu Đại tá Cổ Tấn Minh Châu đang ngậm ngùi kể lại:
-Sau 30/4 khi đoàn chiến hạm VNCH tới hải phận Phillipines thì họ không cho vào và yêu cầu phải hạ cờ VNCH xuống. Sau đó lễ nghi chào cờ lần cuối để hạ cờ xuống! Mọi người trên các chiến hạm nước mắt chảy ròng, vì không biết có còn bao giờ được nhìn thấy lá cờ thân yêu đó tung bay lần nữa.
Nhưng hôm nay chúng ta ngẩng cao đầu hãnh diện vì lá cờ Việt Nam Cộng Hòa đã tung bay khắp nơi trên thế giới, những nơi có người VN tị nạn. 40 năm trước chúng ta đến đây nghèo xơ xác, bơ vơ đói khổ, 40 năm sau chúng ta tự hào con cháu chúng ta đã đạt những thành tựu rỡ ràng nơi xứ người trên mọi lãnh vực. 40 năm trước chúng ta ngỡ ngàng, sợ sệt nói một câu tiếng Mỹ không rành, 40 năm sau chúng ta đã có 40 dân cử gốc Việt tham gia dòng chính của xứ Mỹ

Kết thúc buổi tưởng niệm, mọi người xuống đường làm một cuộc diễn hành ngắn để cùng thể hiện quyết tâm cao:

"Hãy Đoàn Kết Lại! Tháng Tư Đen! Xin ngước mặt nhìn tới. Tới tương lai, tới quê hương vời vợi"

30/4 /15 là ngày 30/4 đặc biệt vì giữa thủ đô Saigon cũ (trong nước) và thủ đô tị nạn Saigon nhỏ (ngoài nước) đồng loạt có những cuộc xuống đường biểu hiện quyết tâm chung: cùng muốn chấm dứt chế độ độc tài cộng sản đang thống trị trên quê hương chúng ta:
“Tháng Tư ơi, hơn 80 triệu người
Như một người, phải thành công mới thôi!” (P.D.)

Phượng Vũ
( 30/4/2015)

Posted: Mon May 11, 2015 5:43 am
by MatVit
Ông Nguyễn Phú Trọng 'đang yếu thế?'

Phát biểu khi tiếp xúc cử tri cuối tuần này của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng không rõ ông nhắm vào đối tượng cụ thể nào, nhưng có vẻ cho thấy 'ông đang yếu thế', theo nhà quan sát từ Canada.

Hôm 09/5/2015, truyền thông Việt Nam trích dẫn lời của ông Nguyễn Phú Trọng tại một cuộc tiếp xúc cử tri ở Quận Ba Đình, Hà Nội, trong đó ông Trọng nói:

"Ngăn kẻ cơ hội vào Trung ương không đơn giản" và "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?".

Bình luận về các phát ngôn này, hôm thứ Bảy từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh, Giáo sư bán thời gian tại Khoa Luật Dân sự, Đại học Ottawa, cho rằng đây là cách nói của 'người đang yếu thế'.

Nhà quan sát cho rằng tương quan lực lượng trong nội bộ Đảng Cộng sản trước kỳ Đại hội Đảng lần thứ 12 hiện đang cho thấy ông Tổng Bí thư và 'phe cánh' của ông 'suy yếu' và 'kém thế' so với ông Thủ tướng chính phủ và 'phe quyền lực' của Thủ tướng.

'Kẻ thua cuộc'

Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng đang có dự kiến trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam gộp lại hai chức vụ Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước làm một.

Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng chỉ những người 'thua cuộc' mới hay 'nói nhiều' và 'nói lớn lên', đồng thời cho từ sâu xa, các phát biểu nói trên, mặc dù không tường minh 'nhắm vào đối tượng nào' cho thấy ông Trọng có thể lo lắng về vị thế đang lên của Thủ tướng đương kim.

Nhà quan sát cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới việc thâu tóm một lúc hai ghế quyền lực là 'Tổng bí thư' và 'Chủ tịch nước' và do đó đã đang có những động thái vận động mà rõ rệt nhất là bài diễn văn hôm 30/4/2015 vừa qua.

Theo nhà luật học, trong bài diễn văn này, ông Dũng đã nhắm vào việc lôi kéo những người 'ở phe đảng' và ra chỉ dấu với họ rằng: "nếu các anh không đi với tôi, thì các anh sẽ thành người thua cuộc".

Theo ông Vũ Đức Khanh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa bao giờ rõ ràng khi nói về những thành phần được gọi là "kẻ cơ hội" và nhà quan sát nói nếu phe đảng 'đã mạnh' hơn các phe khác, thì trong các kỳ Hội nghị trước, các đảng viên, cử tri và quần chúng đã biết được, chẳng hạn như, "Đồng chí X" là ai.

Gần đây, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những thông điệp nhắm tới vai trò của quân đội, trong đó ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh 'không được phi chính trị hóa quân đội' và 'quân đội phải trung thành với Đảng Cộng sản."

Trong khi đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11, những người chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng đã đặt ra vấn đề về "tiêu chuẩn" nhân sự lãnh đạo Đảng, trong đó nhấn mạnh "chọn lãnh đạo không tham vọng quyền lực", một khái niệm mà tới nay dường như chưa được rõ nội hàm và đối tượng nhắm tới lắm, theo giới quan sát.