Page 121 of 180

Posted: Fri Mar 13, 2015 2:35 am
by vuphong
Sự thay đổi trong cán cân quyền lực tại Việt Nam


Nguyễn Hưng Quốc

(Nguồn: VOA

Mới đây, trên tờ East Asia Forum ngày 5 tháng 3, Lê Hồng Hiệp, chuyên viên nghiên cứu tại Institute of Southeast Asia Studies,
có một bài viết khá hay về sự thay đổi trong cán cân quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam.

Theo Lê Hồng Hiệp, trước đây, quyền lực chính trị tại Việt Nam chủ yếu nằm trong tay một cá nhân (Hồ Chí Minh và/hoặc Lê Duẩn), sau,
chuyển sang Bộ Chính Trị (dưới thời các tổng bí thư từ Trường Chinh đến Nông Ðức Mạnh), và gần đây, chuyển sang Ban Chấp Hành Trung Ương đảng.

Image
Nguyễn Tấn Dũng (trái) có vẻ đang nắm trong tay Ban Chấp Hành Trung Ương của đảng CSVN. (Hình: Getty Images)



Có mấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi này: Một, vào tháng 10, 2012, khi Bộ Chính Trị định kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng vì những thất bại của ông trong lãnh vực kinh tế, Ban Chấp Hành Trung Ương đã bác bỏ, cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng được xem là vô tội. Hai, vào tháng 3, 2013, khi Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ vào Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đã lại bác bỏ và, thay vào đó, bầu hai người khác, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân. Và ba, vào tháng 1, 2015, lần đầu tiên Ban Chấp Hành Trung Ương đã bỏ phiếu tín nhiệm các ủy viên trong Bộ Chính Trị. Kết quả cuộc bầu cử, cho đến nay, vẫn không được công bố chính thức, tuy nhiên, theo trang blog Chân Dung Quyền Lực, ở đó, Nguyễn Tấn Dũng được nhiều phiếu tín nhiệm cao nhất (152 phiếu), trên Trương Tấn Sang (149 phiếu), và cao hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng, đứng hạng thứ 8, với 135 phiếu.

Với các sự kiện ấy, Lê Hồng Hiệp cho rằng, nếu xem cấu trúc quyền lực trong hệ thống chính trị tại Việt Nam như một hình tam giác thì ở trên cùng là Ban Chấp Hành Trung Ương, dưới một chút là Bộ Chính Trị, và dưới nữa là tổng bí thư. Cấu trúc này không thể hiện xu hướng dân chủ tại Việt Nam, bởi vì, thay đổi theo cách nào, mọi quyền lực cũng đều nằm trong tay đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, nó thể hiện được cán cân quyền lực trong nội bộ đảng. Ðiều này đã có nhiều người nhận ra: trong lịch đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam, chưa có tổng bí thư nào bất lực như Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng chưa có một thủ tướng nào có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng.

Có thể nói, sự thay đổi đột biến trong cán cân quyền lực của Ban Chấp Hành Trung Ương gắn liền với sự lớn mạnh trong vai trò thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng đối với Ban Chấp Hành Trung Ương lớn hơn hẳn các ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng hoặc Trương Tấn Sang. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các thành viên trong Ban Chấp Hành Trung Ương là các cán bộ lãnh đạo địa phương hoặc trong guồng máy hành chính trung ương: ở cả hai nơi, quyền bổ nhiệm cũng như quyền phân phối ngân sách đều chủ yếu nằm trong tay Nguyễn Tấn Dũng. Thứ hai, Nguyễn Tấn Dũng cũng có quan hệ chặt chẽ với cả Bộ Quốc Phòng lẫn Bộ Công An, nơi trước đây ông từng lãnh đạo, mà hai bộ này chiếm đến 15 phần trăm tổng số ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương đảng.

Với ảnh hưởng to lớn trên Ban Chấp Hành Trung Ương như vậy, khả năng Nguyễn Tấn Dũng trở thành tổng bí thư trong kỳ đại hội đảng vào năm 2016 tới không phải là xa vời hay bất khả. Nếu Nguyễn Tấn Dũng trở thành tổng bí thư, một trong những phó thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay sẽ lên làm thủ tướng. Lúc ấy, cán cân quyền lực, theo tôi, lại quay ngược lại thời trước: Tổng bí thư sẽ có quyền lực cao nhất. Tuy nhiên, dù cao đến mấy, quyền lực của tổng bí thư cũng sẽ không cao bằng Hồ Chí Minh hay Lê Duẩn thời trước vì họ phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của mấy trăm người trong Ban Chấp Hành Trung Ương đảng. Nhưng dù sao lúc ấy tổng bí thư cũng sẽ có quyền lực hơn hẳn Nguyễn Phú Trọng hiện nay.

Vấn đề là: những sự thay đổi về cán cân quyền lực cũng như cấu trúc quyền lực như vậy có lợi hay có hại cho đất nước?

Câu trả lời, theo tôi, là vừa lợi vừa hại.

Hại, trước hết, vì quyền lực của đảng trên quyền lực của thủ tướng, tức trên bộ máy hành chánh, càng lớn, xu hướng độc tài càng có nguy cơ phát triển mạnh. Ðó là những gì đã xảy ra và đã kéo dài trong nhiều thập niên dưới quyền của Lê Duẩn, ở đó, các thủ tướng, kể cả Phạm Văn Ðồng, đều là những con rối trong tay tổng bí thư và Bộ Chính Trị, chứ không có một quyền lực gì cả.

Hại nữa vì nó tiếp tục duy trì thế đứng của đảng như một thứ siêu quyền lực, đứng trên và đứng ngoài luật pháp, ở đó, mọi ước mơ thay đổi và dân chủ hóa đều dễ dàng bị dập tắt.

Tuy nhiên, khi quyền lực nằm hẳn trong tay một người, và nếu người đó có óc cấp tiến, có ý muốn thay đổi theo hướng dân chủ hóa thì ý muốn ấy rất dễ biến thành hiện thực. Nó khác với tình trạng hiện nay khi quyền lực bị phân tán, người này chỉ đứng trên người kia một chút, làm bất cứ điều gì người ta cũng phải nhân nhượng và thỏa hiệp với nhau, cuối cùng, không có một chính sách tiến bộ hay mạnh mẽ nào có thể thực hiện được cả.

Theo tôi, ở Việt Nam hiện nay, có hai điều cần nhất: Một là dân chủ hóa; và hai là, một nhà lãnh đạo thực sự mạnh. Không có nhà lãnh đạo mạnh, sẽ không có gì thay đổi cả.

Tuy nhiên, như đã nói, đất nước chỉ thực sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, nếu, và chỉ nếu, nhà lãnh đạo mạnh ấy cũng đồng thời là một người sáng suốt, có quyết tâm xây dựng đất nước và theo đuổi làn sóng dân chủ hóa. Liệu Nguyễn Tấn Dũng có phải là một người như thế?

Posted: Sun Mar 15, 2015 3:46 am
by nguyenvsau
Thảm họa từ sân sau cửa hậu
Bùi Tín (Blog VOA)

Gần đây, nhiều bài viết và phỏng vấn từ trong nước làm rùm beng về một định nghĩa mới của khái niệm “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,” cho rằng đây là một định nghĩa mới mẻ, sáng tạo, rất nên thảo luận rộng rãi để áp dụng vào cuộc sống.

Cái định nghĩa mới ấy là gì? Là: “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Việt Nam trong thời kỳ hiện đại và hội nhập quốc tế,” lấy ra từ dự thảo văn kiện Ðại Hội XII, chưa được công bố chính thức cho toàn đảng và toàn dân tham gia góp ý.

Ðó là một định nghĩa dài dòng, lòng thòng hơn trước, có thêm 2 chữ “Việt Nam,” thêm các chữ “vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật của kinh tế thị trường” và thêm, “phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trong thời hiện đại và hội nhập quốc tế.”

Cái định nghĩa này kéo dài ra như để có vẻ làm dáng, cao xa, thông thái hơn, nhưng thật ra vẫn còn hoàn toàn tù mù, mơ hồ như cũ, vì nó không hề cho biết nội hàm của khái niệm “xã hội chủ nghĩa” là gì, nó là cái chi chi? Xin nhắc lại nhận định của ông bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư Bùi Quang Vinh: “Cái định hướng XHCN làm gì có thật trong thực tế mà cứ mất công đi tìm?” Ý kiến xác đáng này vẫn không hề được giải tỏa trong cái định nghĩa lòng thòng mới, có vẻ kinh điển và sáng tạo.

Còn có nhiều vấn đề không kém phần hệ trọng. Khi còn sống, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã chỉ ra một trong những điều nguy hiểm tệ hại nhất. Ðó là những cán bộ của đảng CS vừa được phân công nắm chính sách, lại chính những người đó lại được giao cho trách nhiệm điều hành việc kinh doanh các tổng công ty và công ty kinh doanh của nhà nước. Ðó là cái nguy cơ “vừa đá bóng vừa thổi còi,” lý do chính làm cho cả nền kinh tế và nền tài chính hỗn loạn. Ông Kiệt nói rõ đây là kinh nghiệm sinh động do ông Lý Quang Diệu trình bày kỹ càng qua kinh nghiệm sống của Singapore.

Ông Kiệt cho rằng các bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, vụ trưởng, v.v... là những người chuyên nắm chính sách, quản lý việc thi hành chính sách không được kiêm nhiệm làm kinh doanh trong các tổng công ty hay các ngân hàng của nhà nước. Nếu làm ẩu, lẫn lộn chức năng như thế sẽ làm chính sách không nghiêm, bị méo mó, kinh doanh bị hỗn loạn, nhà nước, công quỹ, ngân sách, nghĩa là tiền của nhân dân sẽ bị tổn thất, mất mát quy mô lớn vào túi các quan tham.

Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thay Ðỗ Mười làm thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, sau đó là Phan Văn Khải, người miền Nam được đào tạo từ Liên Xô cũ. Từ năm 1989 đã có Ủy ban Nhà Nước về hợp tác và đầu tư của chính phủ để chỉ đạo công tác hợp tác và đầu tư với nước ngoài. Tháng 6 năm 2005, ông Khải ký Quyết Ðịnh 151, thành lập tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước - SCIC - State Capital Investment Corporation. Thảm họa kinh tế tài chính ngày càng lớn của đất nước ta bắt đầu từ đây, theo đúng dự báo của ông “thầy” Lý Quang Diệu, trúng theo mối lo lớn của ông Kiệt, đúng lúc khi nguồn FDI và ODA bắt đầu chảy vào dồi dào.

Trong ban chỉ đạo, điều hành SCIC do thủ tướng chỉ định đều là các chức sắc của chính phủ và các bộ, gồm các phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng các ngành kinh tế tài chính. Từ đó, các vị này vừa làm chức vụ quản lý chính sách ở cổng trước, ở “công đường,” ăn lương to của nhà nước do “tay cầm chính sách, tay cầm chủ trương,” còn ở cổng sau, cổng hậu, còn gọi là sân sau, là tham gia cái gọi là “điều hành kinh doanh” bằng vốn ê hề của nhà nước, tức là của nhân dân, để được ăn chia lãi lớn, lãi nhỏ, ăn chia “hoa hồng,” tiền thưởng khi mỗi dự án được thông qua và thực hiện, trong khi đất nước có dăm bảy ngàn dự án lớn nhỏ có giá trị vài chục tỷ đôla mỗi năm. Hàng trăm phong bì nặng nhận từ cổng hậu, sân sau mỗi tháng cho mỗi vị có thể dự đoán là gấp trăm lần lương chính. Nó được chia cho những ai? Cho các vị trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, UƯy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng, Tổng Thanh Tra Chính Phủ, trưởng Ban Kiểm Toán của nhà nước... do bộ tứ cao nhất của quyền lực đồng thuận điều phối phân chia. Chả thế mà có vị ở trong cuộc lớn tiếng cho rằng “đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường”! Do đó mà rất nhiều công ty quốc doanh lãi thật nhưng lỗ giả, luôn thực hiện 2, 3 bản báo cáo, kế toán, thống kê khác nhau, 1 cho bản thân lưu giữ (tuyệt mật), 1 cho cấp trên (mật), 1 nữa cho hồ sơ công khai được cấp trên duyệt.

Ðây là cuộc tham nhũng công khai, “hợp pháp,” cuộc ăn cắp khổng lồ của “nhà nước nhân dân,” của “đảng CS của dân, do dân, vì dân,” được che đậy kín đáo, không lộ liễu như những cuộc cướp đất của các cường hào cộng sản ở khắp nơi, tệ hại không kém.

Chính đây là lý do tại sao tài sản của các quan chức CS tham nhũng lại kinh khủng đến vậy, như Nông Ðức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Trần Văn Truyền, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Trường Tô, Trần Ðại Quang, Dương Chí Dũng, Phạm Quý Ngọ,... đều lớn gấp bội các nhà điền chủ Nam bộ xưa, các đại địa chủ và tư bản thời Pháp.

Ở một nước nhà nước pháp quyền như ở Pháp, các chức vụ quản lý nhà nước về hành chính không được lẫn lộn, trà trộn với chức vụ kinh doanh của các công ty nhà nước. Các tổng giám đốc các công ty quốc doanh điện lực, hơi đốt, đường sắt, xây dựng nhà cửa, công trình giao thông... đều được các bộ giám sát, thanh tra, kiểm tra kỹ theo luật và luật pháp rất nghiêm mật, người đá bóng không được cầm còi, kẻ cầm còi không được đụng vào bóng. Khi xảy ra trường hợp lẫn lộn như thế, pháp luật sẽ can thiệp ngay, họ gọi đó là trường hợp “xung đột lợi ích” (conflit d'intérêt) - nghĩa là theo lợi ích chung thì cá nhân bị thiệt, nhưng theo lợi ích riêng thì nhà nước bị thiệt. Do đó anh muốn là nhà kinh doanh thì không được tham gia nắm chính sách nhà nước, nếu muốn nắm chính sách thì không được tham gia kinh doanh vốn của nhà nước, sẽ làm rối loạn xã hội, thiệt hại cho đất nước, bất công lan tràn, xã hội không thể yên ổn, thanh bình.

Thật là nẫu cả ruột khi thấy trên sân khấu chính trị nước nhà, đảng CS vẫn cứ vừa đá bóng vừa thổi còi, không giống ai. Ðảng nắm tuốt, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngôn luận, kinh doanh, thanh tra, kiểm tra. Thảm họa của dân tộc chính là ở đây.

Posted: Wed Mar 18, 2015 12:28 am
by tiendung
Vị khách cồng kềnh của Tòa Bạch Ốc

Bùi Tín

[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... ái-lan.jpg[/img]
Tiến sĩ giấy Trọng lú và ngòi nổ Ba đình ở Thái Lan
Trong và ngoài nước đang bàn tán về chuyến “Mỹ du” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể diễn ra trong năm 2015 này. Đã có lời mời chính thức của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Trong bài phát biểu của khi trình quốc thư trước Tổng thống Obama mới đây, Đại sứ Phạm Quang Vinh cũng nhắc đến chuyện này. Chuyến đi được hai bên đánh giá là quan trọng do năm nay có kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ giữa 2 nước (1995-2015), cũng là năm có hy vọng sẽ đạt thỏa thuận về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước.

Thế nhưng sự việc lại không đơn giản, vì ông Nguyễn Phú Trọng là một vị khách cồng kềnh, làm cho ông chủ Tòa Bạch Ốc lúng túng, khó xử. Đây là một vấn đề phức tạp và lý thú.

Từ trước đến nay, chưa có Tổng Bí thư nào của đảng CS Việt Nam đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh sau khi nắm chính quyền, các Tổng Bí thư Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh rồi đến Nguyễn Phú Trọng đều chưa đặt chân lên đất Mỹ. Sắp đến ông Trọng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên của đảng CS Việt Nam sang thăm chính thức nước Mỹ.

Vậy thì nước Mỹ sẽ tiếp đón ông Trọng theo nghi thức nào, theo kiểu cách lễ tân nào?

Khi ông Trọng sang thăm chính thức Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, ông được tiếp đón như người lãnh đạo cao nhất, còn hơn nguyên thủ quốc gia, chủ tịch nước, vì là cùng chung một chế độ CS. Tổng Bí thư ở nhà khách sang trọng nhất, ngồi xe sang nhất với hai hàng xe môtô hộ tống, được mời duyệt đội quân danh dự, có 21 phát đại bác chào mừng, được mời tiệc quốc yến. Với Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước như Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, những nghi thức như thế là bình thường.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng thì lại khác: ông là Tổng Bí thư nhưng không kiêm Chủ tịch nước. Ông cũng không hề được ủy nhiệm bởi một cuộc bầu cử dân chủ nào mà chỉ do nội bộ đảng của ông ta bầu lên. Vì vậy, ông chủ Tòa Bạch Ốc có phần lúng túng, khó xử về nghi thức tiếp đón ông Trọng. Không phải nguyên thủ quốc gia, ngang vai với Tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ không có lễ đón, không có duyệt binh, không có 21 phát đại bác, không có quốc yến, mọi thứ sẽ rất giản đơn. Sẽ không thể có chuyện mời ông khách cồng kềnh này đến thăm và nói chuyện với Quốc hội Mỹ; cũng rất khó có chuyện ông Trọng được mời nói chuyện trước các học giả, các nhà kinh doanh hay nhà báo quốc tế, như nhiều vị khách khác.

Theo ông Carl Thayer, nhà nghiên cứu ở Học viện Quân sự Úc, Tổng thống Barack Obama đã tỏ ý sẽ không tiếp ông Trọng trong Phòng Bầu dục, nghĩa là phòng làm việc chính, tiêu biểu cho quyền lực Nhà nước của Hoa Kỳ, nơi Tổng thống Mỹ làm việc với các trợ lý thân tín nhất và tiếp các các nhà lãnh đạo quốc tế thân thiết nhất.

Tuy chưa đến Hoa Kỷ, ông Trọng đã có những kỷ niệm khá u ám với Châu Mỹ. Tháng 4/2012, trong chuyến thăm chính thức Cuba, ông Trọng đã đến Trường đảng cao cấp phổ biến “kinh nghiệm chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-Lênin ở Việt Nam”, một mưu toan tuyên truyền vụng về, lạc điệu, không phải lúc, ngay sau khi Fidel Castro công khai tuyên bố “Cái mô hình hiện nay của Cuba (tức mô hình CNXH kiểu Mác-Lênin) không còn thích hợp”. Báo chí Cuba hoàn toàn không nói tới nội dung của buổi đăng đàn vô duyên ấy trong khi báo Nhân Dân được lệnh đăng toàn văn - lại thêm một trò vụng về hớ hênh nữa.

Ngay sau đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự trù đi thăm chính thức Brazil từ 12 đến 15/4/2012, theo lời mời của Tổng thống Brazil Dilma Rousseff (thuộc đảng Công nhân cánh tả thân CS), nhưng ngay chiều 11/4, khi ông Trọng vừa kết thúc cuộc nói chuyện ở Cuba, phía Brazil ra thông cáo cho biết hoãn cuộc đi thăm của đoàn ông Trọng mà không cho biết lý do và cũng không nói hoãn đến bao giờ. Cán bộ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết trong lịch sử quan hệ quốc tế, chưa bao giờ Hà Nội bị một vố bất ngờ và mất thể diện đến như vậy.

Như vậy là đoàn cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu với cả một bộ sậu gần một trăm người với 2 chuyên cơ Nhà nước, có các Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, Trưởng Ban đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân cùng nhân viên tùy tùng tiu nghỉu quay về nước, không rõ sự cố gì đã xảy ra.

Có ý kiến cho rằng Tổng thống Obama không muốn tiếp ông Trọng trong phòng làm việc chính thức. Đây là quyền của chủ nhà. Lại còn chuyện ông Trọng có sẽ đi thăm địa phương nào khác ở Hoa Kỳ hay không? Có sẽ gặp các nhà kinh doanh Mỹ hay không, khi ai nấy đều biết quan điểm của ông Trọng là đề cao vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước, dành ưu tiên cho kinh tế quốc doanh, trái ngược với nền kinh tế Hoa Kỳ?

Đây sẽ là cuộc gặp giữa hai con người của hai chế độ trái ngược nhau - một chế độ độc đảng toàn trị lẻ loi còn sót lại của lịch sử thế kỷ XX, và một chế độ dân chủ nhuần nhuyễn không ngừng phát triển qua hơn 2 thế kỷ. Một chế độ sinh ra từ đầu súng, từ “cướp chính quyền” rồi khư khư giữ chặt lấy không chia sẻ cho ai trong suốt 70 năm, và một chế độ cứ 4 năm lại để cho toàn dân sát hạch qua lá phiếu tự do của cử tri. Một chế độ có tự do báo chí, tự do ngôn luân, tụ do tôn giáo, tự do kinh doanh thuần thục, và mộ chế độ không có tự do báo chí, không có tự do tôn giáo, không có nhân quyền. Một chế độ có tam quyền phân lập, kiểm soát, kiềm chế nhau, mọi sự công khai, minh bạch trước nhân dân, công luận, và một chế độ độc đảng nắm giữ hết các quyền trong tay Bộ Chính trị, giải quyết mọi sự trong bóng tối, sau lưng nhân dân, với một Quốc hội bù nhìn, công cụ của đảng.

Hai con người trái ngược nhau như nước với lửa ấy có gì lý thú để trao đổi với nhau, khi mà Tổng thống Obama đã coi nhà báo Nguyễn Văn Hải Điếu Cày cùng bạn bè có chí hướng dân chủ là đáng khen, đáng phục, đáng tôn trọng, thì ông Trọng cho tất cả là tội phạm, là suy thoái, là phản động, nguy hiểm, cần loại bỏ.

Do đó, từ nay cho đến khi cuộc tiếp đón diễn ra, sẽ còn lắm chuyện phải bàn, nhất là để việc ký TPP hiện vẫn còn gay go nan giải, thiện chí của phía Việt Nam vẫn còn phải được thử thách trong thực tế.

Cũng không loại bỏ khả năng việc xảy ra ở Brazil 2 năm trước, khách mời Nhà nước chưa đến nhà, cổng đã bị đóng sầm lại, cuộc chào chia tay diễn ra trước khi tay chưa kịp bắt, do sự cách biệt hai bên còn quá xa vời. Khi trên báo Nhân Dân vẫn còn réo “đế quốc Mỹ” ra để xỉ vả, còn đầy các khái niệm “chống đế quốc Mỹ xâm lược” trên các sách dạy sử.

Còn biết bao nhiêu chuyện thiết thực phải làm để kỷ niệm thật sự có ý nghĩa 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, để hội nhập quốc tế thuận lợi, sâu sắc, để còn có thể đón Tổng thống Mỹ sang thăm hữu nghị Việt Nam trong năm 2015 - một năm sẽ có nhiều chuyển động có ý nghĩa, như mọi người dân yêu nước, yêu dân chủ đang phấn đấu và mong đợi.

Posted: Fri Mar 20, 2015 6:08 am
by thienthanh
.....Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đọan này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền gỉa dối này.....

40 năm chân tướng xâm lược bị lật ngửa


Phạm Trần
Ban Tuyên giáo Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động chiến dịch tô hồng điểm phấn cho “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)”, nhưng lại không giấu được cái đuôi xâm lược miền Nam Việt Nam.

Bằng chứng này ghi trong Nghị quyết 15 xác định “mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam “ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) lần thứ 15 (mở rộng) họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến 22-1-1959.

Đề cương tuyên truyền ca ngợi Nghị quyết đã: “Xác định rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ chiến lược của cách mạng hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam; định hướng và động viên nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh, tạo ra phong trào Đồng khởi (1959 – 1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, làm tan rã hàng loạt bộ máy của ngụy quyền ở các thôn, xã.”

Nhưng đâu là lý do khiến miền Bắc Cộng sản (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) có quyết định phải thực hiện cuộc “cách mạng miền Nam”?

Nghị quyết 15 bịa chuyện: “Do lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhân dân ta chỉ mới giải phóng được miền Bắc. Ở miền Nam chưa được giải phóng, đế quốc Mỹ đã lấn dần và hất cẳng thực dân Pháp, tập hợp các thế lực phản động, sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ để khôi phục và duy trì ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Nhân dân miền Nam ngày càng lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do. Vì vậy, nhân dân miền Nam còn phải tiếp tục làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh đổ ách thống trị đế quốc và phong kiến, chủ yếu là đánh đổ chế độ Mỹ – Diệm.”

Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đọan này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền gỉa dối này. Nhân dân miền Nam từ 1954 đến thời điểm ra đời của Nghị quyết 15 tháng 01 năm 1959, dù có bị hạn chế một số quyền do tình trạng an ninh, chưa bao giờ “lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do” như đồng bào miền Bắc trong thời gian này.

Càng phỉ báng lịch sử hơn khi Nghị quyết viết rằng: “Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ….
Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn cản sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.”

Ai xâm chiếm ai thì phương châm đề ra trong Nghị quyết 15 “củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam” đã lột mặt nạ ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.

Để biện minh cho hành động hiếu chiến, đẩy dân tộc hai miền Bắc-Nam vào nội chiến nồi da xáo thịt, Nghị quyết đã hô hào: “Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà.”

Nhưng gây chiến với miền Nam để làm gì và cho ai thì Nghị quyết 15 đã để lộ chân tướng tay sai khi khẳng định rằng: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á.”

Nghị quyết viết: “Vấn đề thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta trước hết là vấn đề đấu tranh giữa dân tộc ta chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, đồng thời cũng là vấn đề đấu tranh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng tranh thủ giữ vững hoà bình được lâu dài thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng cường mau chóng lực lượng của mình về mọi mặt trên toàn thế giới, càng làm suy yếu mau chóng thế lực của chủ nghĩa đế quốc. Chủ trương của Đảng ta giữ vững hoà bình ở Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình, chủ trương ấy gắn liền với chủ trương chung nói trên của phe xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng miền Bắc không “thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình” mà đã nhận lệnh và vũ khí, lương thực của Liên Xô-Trung Cộng để xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Thực tế này đã phản ảnh trong câu nói lịch sử ô nhục của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.” ? (theo Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích)

Như vậy đã rõ ràng Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa II, đứng đầu bởi Hồ Chí Minh thời bấy giờ đã ngụy tạo ra đủ điều để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

Chẳng hạn như họ viết trong Nghị quyết 15 rằng: “Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối….Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam….Thành phần cốt cán trong chính quyền đó gồm những phần tử phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh, côn đồ và phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, do gia đình và phe cánh họ Ngô cầm đầu.”

Tưởng bằng đó lời bịa đặt chưa đủ, Nghị quyết 15 còn đặt điều vu khống thêm: “Chính quyền đó là một chính quyền độc tài hiếu chiến. Nó là công cụ xâm lược của đế quốc Mỹ, đế quốc cầm đầu các lực lượng hiếu chiến trên thế giới hiện nay; đồng thời, nó cũng mang nặng tính chất phục thù của giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ ở miền Bắc nước ta. Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại.”

MẶT TRẬN TAY SAI

Đáng lẽ ra những chữ “độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại” phải dành cho đảng CSVN mới đúng với lịch sử.

Nhưng có bao giờ người Cộng sản Việt Nam dám nhìn thẳng vào mặt dân để thừa nhận họ đã nhân danh người dân miền Nam để giết hại đồng bào từ sau Hiệp định chia đôi đất nước 1954 ?

Bằng chứng là họ đã ghi vào Nghị quyết 15 việc thành lập một “Mặt trận riêng cho miền Nam” do họ chỉ huy để tiến hành cuộc chiến cho ngọai bang Nga-Tầu. Vì vậy mà cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 để sau đó bị bức tử không kèn không trống vào ngày 31 tháng 01 năm 1977, hai năm sau kết thúc chiến tranh ngày 30/04/1975.

Nghị quyết 15 biện bạch: “Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước là nhiệm vụ chung của toàn Đảng và toàn dân ta. Nhưng vì nhiệm vụ cơ bản của mỗi miền khác nhau, cho nên nhiệm vụ, tính chất, thành phần Mặt trận ở mỗi miền có chỗ khác nhau. Vì vậy, cần có Mặt trận riêng cho miền Nam.

Cách mạng Việt Nam ở miền Nam hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cho nên Mặt trận ở miền Nam hiện nay có tính chất dân tộc dân chủ, nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và phong kiến. Thành phần của nó bao gồm bốn giai cấp trong nhân dân miền Nam (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc) và những nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm cơ sở, và do Đảng ta lãnh đạo.”

Bàn tay chủ động gây ra cuộc chiến dài gần 21 năm ở miền Nam Việt Nam của đảng CSVN còn được xác nhận trong phần kết luận của Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Trung ương 15.

Báo cáo viết: “Hội nghị Trung ương lần này quyết định đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam, sẽ soi sáng phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam, tăng thêm tin tưởng và ý chí phấn đấu anh dũng của các đảng bộ miền Nam tiến lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình.

Toàn Đảng ta sẽ vô cùng phấn khởi, vì Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 14 đã đề ra nhiệm vụ ba năm cho các đảng bộ miền Bắc, và Hội nghị Trung ương mở rộng lần này quyết định về đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam.”

MÁU ĐỔ CHO AI?


Cuộc nội chiến Việt Nam mới do người Cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân miền Nam bắt đầu từ đây.

Nhưng cho đến nay, sau 40 năm kết thúc chiến tranh, không có thống kê nào có thể xác nhận có bao nhiêu quân và dân người Việt của hai miền Nam-Bắc đã chết.

Tài liệu của Bách khoa tòan thư (mở) viết rằng: “Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.”

“Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:

Theo tài liệu của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (của CSVN) có:
1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác) ; 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

* 250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích
* 1.170.000 bị thương

Bấy nhiêu con người, nhưng đã có bao nhiêu ao máu để do lường cho tội ác của chiến tranh do đảng CSVN chủ động bắt nguồn từ Nghị quyết 15 năm 1959?

Tổn thất con người Việt Nam của cuộc nội chiến “ý thức hệ” Cộng sản cuồng tín và vô nghĩa này đã có bao giờ khuấy động được con tim chai đá và những khối óc mù lòa của lãnh đạo CSVN trước lịch sử ?

Đấy là chưa kể đến tổn thất của Quân đội CSVN và thường dân trong 4 cuộc chiến sau ngày 30/04/1975: biên giới phía bắc Việt-Trung 2 lần (1979-1987); Tây Nam Việt-Kampuchea (1975 đến 1978) và Cuộc xâm chiếm Kampuchea của quân Việt Nam (từ 7/1/1979 đến 1989).

Trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của quân Trung Cộng vào Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Riêng tổn thất xung đột với quân Khmer đỏ của Pol Pot từ 1975 đến 1989 được chia ra 2 giai đọan:

Giai đọan 1, từ các cuộc đột kích tấn công qua biên giới của quân Khmer đỏ vào các vùng lãnh thổ Tây nam (Tây Ninh-Châu Đốc-An Giang-Hà Tiên-Phú Quốc) sau 30/04/1975 đến các cuộc giao tranh cấp sư đòan trên lãnh thổ Việt Nam kết thúc tháng 12/1978.

Giai đọan 2, bắt đầu từ cuộc tấn công chiếm đóng Cao Miên của Việt Nam từ tháng 1/1979 đến năm 1989. Lý do Việt Nam phải rút quân theo đòi hỏi của Bắc Kinh để được tái lập quan hệ ngọai giao Việt-Trung sau 11 năm gián đọan vì cuộc tấn công qua biên giới Việt Nam năm 1979 của 600,000 quân Trung Cộng.

Tuy nhiên cái gía máu xương người Việt mà đảng Cộng sản Việt Nam phải trả cho cuộc chiến với người láng giềng Khmer đỏ, một thời là đồng minh trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng hòa, qúa cao.

Tài liệu trên Bách khoa tòan thư (mở) ghi lại như sau:

- Từ 1977 tới trước tháng 12-1978: Khoảng 3.000 chết, 5.500 bị thương.

- Từ tháng 12-1978 tới tháng 1-1979: 8.000 chết hoặc bị thương.

- Toàn cuộc chiến (tới năm 1988, bao gồm cả thời kỳ chiếm đóng Campuchia) : từ 10.000 tới 15.000 quân nhân chết và
30.000 bị thương.

Tính chung ước lượng có 55.300 người chết hoặc bị thương (kể cả dân thường) từ năm 1977 tới tháng 10-1989

Tài liệu cũng ghi lại: Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới.

Việt Nam đã gửi 180.000 quân để hỗ trợ khoảng 20.000 quân KNUFNS ( Kampuchean National United Front for National Salvation, Cộng hòa Nhân dân Kampuchia) để đánh tan quân Khmer đỏ của Pol Pot.

Nhưng thật oái oăm, Vương quốc Kampuchia ngày nay do nhà vua Norodom Sihamoni, con của cựu hoàng Norodom Sihanouk , trị vì nhưng quyền hành nằm trong tay Thủ tướng Hun Sen, một người không giấu diếm là “bạn thân thiết của Trung Quốc” và luôn luôn ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam!

MẮT MÙ LỊCH SỬ


Với bối cảnh lịch sử chiến tranh bắt nguồn từ Nghị quyết 15 của đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam ở hai miền đất nước Bắc-Nam đã chìm đắm trong máu lửa gần 21 năm.

Nhưng đau thương chồng hơn núi cao của dân tộc sau 40 năm vẫn chưa lành thì Đề Cương “kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)” của Ban Tuyên giáo Trung Ương lại chỉ muốn “bới đống tro tàn tìm máu đổ”!

Một trong những phô trương khơi dậy hận thù dân tộc của Đề cương viết rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn mới.

Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.”

Ai cũng biết, nhất là nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu và các Tư lệnh chiến trường Trị-Thiên của Quân đội nhân dân, có trên 5,000 thường dân vô tội đã bị lính Cộng sản giết hay hành quyết, kể cả chôn sống trong các hố tập thể từ đêm Giao thừa Tết Mậu thân (ngày 31 tháng 1 năm 1968).

Trong 28 ngày giao tranh trong thành phố, quân Cộng sản địa phương đã được lực lượng chính quy của miền Bắc yểm trợ ra sao và ai đã nhúng ta vào máu dân lành Huế thì hàng ngàn nhân chứng và thân quyến các nạn nhân đã kể hết với lịch sử. Chỉ có những kẻ không dám đối diện với sự thật đã được phơi bầy mới tìm cách che đậy.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh, khi xẩy ra trận Mậu Thân mới có 15 tuổi (Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1953 tại xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) nên có lẽ ông không thấu được nỗi đau của dân xứ Huế khi bản Đề Cương ca ngợi “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968” là bước ngoặt mở đầu cho chiến thắng cuối cùng ngày 30/04/1975 của đảng CSVN.

Điều thứ hai Đề cương tuyên truyền nói không thật khi viết rằng: “khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị – xã hội ổn định; độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững…”

Trước hết khi nói về “đại đòan kết dân tộc” thì Ban Tuyên giáo Trung ương có biết nỗ lực “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người dân hai miền Nam-Bắc sau 40 năm vẫn chỉ bằng mặt mà chưa bằng lòng?

Trách nhiệm chưa hàn gắn được vết thương chiến tranh phải đến từ hai phiá, nhưng đảng CSVN hãy sờ lên gáy xem đã đòan kết nhân dân được đến đâu hay chỉ gây chia rẽ, hận thù thêm bằng những chủ trương, chính sách kỳ thị, phân biệt “kẻ thắng người thua”?

Đảng cũng cần bình tĩnh dò xét xem những hành động bắt bớ tùy tiện, vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản của người dân, kể cả tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do biểu tình, lập hội và tự do tôn giáo đã được thực thi đúng đắn như quy định trong Hiến pháp chưa?

Thứ hai, xã hội ổn định làm sao khi mỗi ngày Việt Nam có ít nhất 30 người chết vì tai nạn lưu thông và tình hình tội ác xã hội càng ngày càng nhiều, trẻ hoá và tinh vi, luân thường đạo lý bị đảo lộn?

Hãy đọc: “Theo nhiều nghiên cứu và thống kê của cơ quan chức năng, trong hơn 5 năm trở lại đây, mỗi năm nước ta có khoảng 10.000 vụ án, với hơn 15.000 đối tượng phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên. Đây thật sự là con số đáng báo động về tình hình trẻ hóa tội phạm. Số vụ vi phạm pháp luật do tội phạm vị thành niên gây ra cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, cũng như bộc lộ sự manh động và liều lĩnh. Không chỉ là những vụ trộm cắp, cướp giật, hành hung mà còn rất nhiều vụ án giết người cướp của, hoặc do thù hằn mâu thuẫn cá nhân. Thậm chí còn có cả những vụ án mà những “cậu nhóc” sử dụng công nghệ cao, mạng Internet, điện thoại di động để lừa đảo, tống tiền nhiều người.” (Trích báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30/01/2015)

Về chuyện Mại dâm ở Thanh phố Hồ Chí Minh thì Ban Tuyên giáo nên đọc báo Việt Nam Express viết ngày 15/9/2014: “Kết quả điều tra thống kê cho biết ở thành phố lớn nhất nước có khoảng 5.500 tiếp viên nữ bị nghi bán dâm tại cơ sở kinh doanh và 200 người bán dâm nơi công cộng.

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 của UBND TP HCM, trong những năm qua, tình hình tệ nạn mại dâm tại địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức kinh doanh trá hình, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, gây nhiều bức xúc trong cộng đồng dân cư.
Thành phố cho biết, hoạt động mại dâm diễn ra không chỉ bằng hành vi giao cấu giữa kẻ mua và người bán tại khách sạn hoặc một số nhà hàng, vũ trường, karaoke mà phổ biến là các hành vi khiêu dâm, kích dục tại các điểm kinh doanh cà phê, tiệm hớt tóc, gội đầu, xông hơi, cạo gió, giác hơi, spa…”

Gần đây, thành phố tiếp tục xuất hiện một số đường dây mại dâm “gái gọi hạng sang” với những người xưng danh là diễn viên, người mẫu tham gia bán dâm với giá hàng nghìn USD, đồng thời hoạt động mại dâm nam, mại dâm đồng tính nam, mại dâm có yếu tố nước ngoài và xuất cảnh ra nước ngoài bán dâm ngày càng gia tăng. Cá biệt, tại một số cơ sở spa có biểu hiện hoạt động mại dâm đồng tính của giới “gay”.

Ngày 04-03-2013, mạng báo Zing.VN viết về tệ nạn này ở Hà Nội: “Tại Hà Nội, thời gian gần đây, thành phố đã rất mạnh tay xử lý các tụ điểm “nóng” về hoạt động mại dâm. Tuy nhiên, qua khảo sát ở nhiều tuyến đường, tình trạng gái đứng đường mời gọi khách làng chơi vẫn không giảm. Đoạn đường Phạm Văn Đồng qua xã Cổ Nhuế và xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm chỉ dài khoảng 1km nhưng có hàng chục tụ điểm mại dâm. Các cô gái công khai đứng xếp hàng trước cửa quán, tràn cả ra đường mời gọi, chèo kéo khách làng chơi. Cũng trên đường Phạm Văn Đồng, đoạn gần công viên Hòa Bình, cứ tối đến, gái mại dâm lại tụ tập ở bãi đất trống để chờ khách. Ở khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, hoạt động mại dâm tại ngõ 107 Nguyễn Chí Thanh (quận Đống Đa) diễn ra rất tấp nập. Chỉ cần có khách gọi, tài xế xe ôm kiêm bảo kê sẽ kẹp 3 – 4 gái mại dâm, phóng với tốc độ kinh hoàng để đưa “hàng” đến các quán bar, karaoke, vũ trường, nhà nghỉ. Nhiều “phố vẫy” khác ở Hà Nội cũng hoạt động nhộn nhịp, công khai, gây nhức nhối dư luận những năm gần đây, như: đường Nguyễn Trãi gần chợ Phùng Khoang (huyện Từ Liêm), đường Giải Phóng gần bến xe Giáp Bát, khu vực Cố Thổ (xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai), xã Tây Mỗ (Từ Liêm)”

Về tình trạng nghiện ngập, một tài liệu phổ biến ngày 5/11/2014 viết: “Theo đánh giá của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm tình hình sản xuất, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ, số lượng, số loại ma túy bị cơ quan chức năng bắt giữ ngày càng tăng. Việc buôn bán ma túy ngày càng tăng kéo theo tình trạng gia tăng số lượng người sử dụng loại chất cấm này.

Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý (trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều). Kết quả thống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 người). Những năm gần đây số người nghiện ma túy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6% (Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000 người nghiện).

Người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn. Người nghiện cũng đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức, người lao động…
Trong số người nghiện ma túy: 96% là nam giới, 4% là nữ giới, 74% ở độ tuổi 18-35, có 1% dưới 18 tuổi. Người nghiện sử dụng heroin là 72% và có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin (ATS) ngày càng gia tăng (2,5% năm 2005, 14,5 % đến tháng 9/2014). Tại một số địa phương, tỷ lệ học viên trong Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội (Trung tâm) đã từng sử dụng ma túy tổng hợp cao như: Đà Nẵng 74%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%.”

Với một xã hội đen tối như thế thì làm sao mà “ổn định” được? Đấy là chưa kể đến tình trạng suy đồi đạo đức trong giới trẻ và lãnh đạo đang ngày một lên cao trong nhiều lĩnh vực.

Quốc nạn tham nhũng, nặng nhất là tình trạng tham nhũng vặt thì đông hơn dịch cào cào châu chấu từ thành phố về nông thôn. Đảng đã thất bại. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói ông cũng rất khó chịu khi thấy tham nhũng vặt lộng hành.

Ông nói với cử tri Hà Nội: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi , như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu.” (ViệtnamNet, 27/09/2013)

Cuối cùng là câu tuyên truyền “độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững” của Ban Tuyên giáo trong Đề cương kỷ niệm 40 năm ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Độc lập thì có những “chủ quyền quốc gia” ở Biển Đông bây giờ đang do Việt Nam hay Trung Quốc “qủan lý giúp” ở Quần đảo Hòang Sa?

Một vùng biển lớn khác bao quanh 8 bãi đá, quan trọng nhất là Gạc Ma,của quần đảo Trường Sa bị Trung Cộng đánh chiếm ngày 14/03/1988, đã được Bắc Kinh tân tạo thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa thì ai đang làm chủ ở đó?

Vậy ông Đinh Thế Huynh và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể nói rõ hơn cho dân biết, thay vì chỉ biết tuyên truyền nhảm như viết trong Đề cương mà mang tội với lịch sử.

Nếu không thì dù có tô son điểm phấn bao nhiêu, ý nghĩa của “Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” cũng vô nghĩa.

Phạm Trần

Posted: Mon Mar 23, 2015 2:34 am
by lengoi
Biển Đông 'sân nhà' của Bắc Kinh, việc gì sẽ xảy ra?
Sunday, March 22, 2015 6:06:00 PM

Võ Long Triều
Trong cuộc hợp báo ngày 8 tháng 3, 2015 tại Bắc Kinh, trả lời những sự chỉ trích về việc Trung Quốc xây lấp các bãi đá và lập căn cứ quân sự trên quần đảo Trường Sa, Ngoại Trưởng Vương Nghị tuyên bố, “Trung Quốc có quyền hợp pháp làm bất cứ điều gì trên lãnh thổ và sân sau của mình.”

Ông Vương Nghị còn mỉa mai, chúng tôi không giống như một số quốc gia khác đã xây dựng bất hợp pháp trong nhà của kẻ khác, chúng tôi không chấp nhận những lời chỉ trích từ các quốc gia đó. Phải chăng lời ám chỉ trên đây cố tình nhắn gởi Mỹ quốc. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã từng công khai chỉ trích, “Hoạt động cải tạo rộng lớn của Trung Quốc ở Biển Đông khiến các nước láng giềng lo ngại Bắc Kinh đang củng cố vị thế để thống trị khu vực đang tranh chấp.”

Báo chí thế giới loan tin Biển Đông là “nhà” và “sân sau” của Trung Quốc. Lập tức Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông tại Học Viện Quốc Phòng Australia, sửng sốt nói rằng, “Lời phát biểu của Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn, vừa phản lịch sử,” ông Carl Thayer cho rằng chính Trung Quốc là nước chiếm đóng nhà của người khác.

Điều đáng ngạc nhiên là nhà cầm quyền Hà Nội còn im hơi lặng tiếng trước sự khẳng định ngang ngược của Vương Nghị!

Nhìn lại quá khứ, Trung Quốc nuôi dã tâm chiếm trọn Biển Đông khi biết được dưới lòng đại dương này chứa một kho tàng vô giá. Do đó Ngày 19 tháng 1, 1974 Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 25 tháng 10, 1978 Đặng Tiểu Bình đề nghị với Thủ Tướng Nhật Bản Takeo Fukuda cùng chung khai thác vùng đảo Senkaku thuộc tranh chấp chủ quyền Trung-Nhật. Tháng 6, 1986 Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel nên gác tranh chấp Trường Sa để tiếp cận và khai thác chung.

Từng bước Trung Quốc vừa đe dọa, dụ dỗ, đánh chiếm, đàm phán với mục đích sẽ chiếm trọn Biển Đông...Trong thời kỳ tranh chấp, ngày 14 tháng 3, 1988 Bắc Kinh chiếm các bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma của Việt Nam. Tháng 11 năm 2007 Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, cấm đánh bắt cá, đâm chìm ngư thuyền Việt Nam, bắt ngư phủ, cướp đoạt tài sản. Báo chí Trung Quốc còn tung tin để hù dọa sẽ đánh chiếm Việt Nam trong vòng một tuần lễ. Trong khi đó Bắc Kinh luôn mồm nhai đi nhai lại 16 chữ vàng và 4 cái tốt nhưng vẫn cắt dây cáp tàu khảo sát dầu khí Việt Nam. Năm 2014 Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough của Philippine. Chính sách dụ dỗ “cùng khai thác đôi bên đều có lợi” là bài hát Trung Quốc ca không ngừng với đề nghị đàm phán song phương.

Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, Vương Quán Trung nói tại diễn đàn đối thoại Sangrila năm 2014, ông cho rằng chiếu theo lịch sử, các quần đảo nằm trong vùng 9 đoạn còn gọi là chữ U hay lưỡi bò, thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ 2000 năm, trước khi có Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển. Thứ nhất, lời phát biểu phi lý, bởi vì Công Ước Liên Hiệp Quốc có giá trị cho tất cả các quốc gia hội viên kể từ khi ký ban hành. Thứ hai, bản đồ nguyên gốc do thủ tướng Đức tặng cho chủ tịch Trung Quốc, là của nhà khoa học người Pháp Jean-Baptiste Bourguigon d'Anville vẽ thời vua Càn Long năm 1735 không bao gồm đường chữ U. Về sau, đời nhà Thanh, bản đồ do Hoàng triều trực tỉnh toàn đồ in năm 1904 chỉ ghi cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Sở dĩ Trung Quốc chần chờ, khi dùng khi thẳng, khi đàm phán, khi lấn áp, là để mua thời gian với mục đích quan sát, nghiên cứu thái độ và lực lượng đối trọng của Mỹ và đồng minh, Bắc Kinh cân nhắc khả năng “xoay trục” của Hoa Kỳ. nghiên cứu những sự kiện xảy ra tại Iraq, Afganistan, hoạt động của nhà nước Hồi Giáo cực đoan, sự kiện Nga lấn áp Ukraine, sát nhập Crimea, các vấn đề đó làm cho Mỹ bị kiềm chân, trói tay. Đồng thời cho phép Trung Quốc nhận định, dù chưa phải là cường quốc hùng mạnh nhất thế giới nhưng hiện tại chắc chắn không có một quốc gia nào đủ khả năng đối chọi với Bắc Kinh. Và càng chắc chắn hơn nữa sẽ không có một nước nào chấp nhận hy sinh để bảo vệ quyền lợi của một đệ tam quốc gia khác vì lý tưởng, không vì quyền lợi của chính mình. Tình hình chính trị thế giới cho phép Trung Quốc thấy rõ đã đến lúc, đúng thời cơ để khẳng định chủ quyền trên toàn diện Biển Đông, là nhà và sân sau của chính mình.

Như vậy phải kết luận theo quan điểm của đại văn hào người Pháp De la Fontaine, “Lý lẽ của kẻ mạnh lúc nào cũng thắng.”

Việc gì sẽ xảy ra?

Từ nay các quy tắc ứng xử DOC không còn giá trị gì nữa, các cuộc đàm phán để đạt quy tắc ứng xử COC với điều kiện ràng buộc, càng trở thành vô nghĩa. Trừ khi các cuộc đàm phán và kết quả COC phải theo đúng ý kiến do Bắc Kinh quyết định.

Hội nghị lần thứ 9 cấp bộ trưởng Quốc phòng của 10 nước thành viên Hiệp Hội ASEAN đã công bố một thông cáo chung ngày 17 tháng 3, 2015, nhấn mạnh hai điều thách thức mà ASEAN quyết tâm đương đầu là tham vọng biển đảo của Bắc Kinh và Thánh Chiến Hồi Giáo đang tuyển mộ thanh niên của cá nước trong vùng. Xét về tham vọng của Trung Quốc khó mà thay đổi bằng thương lượng ngoại giao, càng không thể thay đổi bằng chiến tranh vì không nước nào sẵn sàng khai chiến với Trung Quốc kể cả Hoa Kỳ. Vậy sự quyết tâm đương đầu của ASEAN chỉ là hoa lá cành làm cho bản văn công bố không quá khô khan trống rỗng. Còn vấn đề thánh chiến thuộc phạm trù tâm linh của mỗi cá nhân không quan hệ nhiều với chính trị. Vậy bản công bố chung chỉ là hành động chiếu lệ mà thôi.

Mặc khác tạp chí The Diplomat của Nhật Bản nhấn mạnh hai điểm tự do lưu thông trên biển và trên không của bản công bố, bởi vì hàng hóa và năng lượng xuất nhập của Nhật Bản rất quan trọng. Vấn đề lưu thông thủy lộ Trung Quốc đã từng công bố sẽ không cản trở. Dĩ nhiên với hậu ý khi nào “Giấc mơ Trung Quốc” trở thành hiện thực nghĩa là trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, chừng đó sẽ có trật tự thế giới mới do Trung Bắc Kinh áp đặt. Biết đâu chừng đó tàu bè qua lại sân sau của Trung Quốc phải nộp thuế? Còn việc nhận dạng phòng không hiện thời chỉ là hành động thử lửa, nôm na là thử phổi Hoa Kỳ và đồng minh thôi. Sau thông báo về điều kiện nhận diện, lập tức hai chiếc B52 của Mỹ bay qua mà không cần thông báo, Trung Quốc vẫn im tiếng cười thầm không bình luận.

Tác giả Gregg Easterbrook viết trên tở New York Times ngày 9 tháng 3, 2015, cho rằng hải quân Mỹ mạnh hơn tất cả hải quân các quốc gia trên thế giới cộng lại. Và các chuyên gia quân sự Mỹ không cần lo sợ về hải quân của Trung Quốc. Đáp trả bài viết của Easterbrook tờ Thời Báo Hoàn Cầu của Trung Quốc viết: Trung Quốc Không cần phải xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh. Chỉ cần 1 trong số 1,000 tên lửa chống hạm bắn trúng tàu sân bay của Mỹ đủ gây tổn hại nhuệ khí và trang thiết bị của hải quân Mỹ. Tờ báo khẳng định hải quân Trung Quốc có khả năng làm tê liệt sự tự do hàng hải của Mỹ trên Biển Đông. Phải chăng Thời Báo Hoàn Cầu cho rằng các bãi đá và đảo do Trung Quốc chiếm đống và xây dựng cơ sở quân sự vũng chắc, là những hàng không mẫu hạm không thể bị bắn chìm, là lực lương hùng mạnh đối đầu với hải quân Mỹ?

Riêng Nhật Bản lo ngại trước sự công khai bành trướng của Bắc Kinh trên Biển Đông, nên Tokyo âm thầm củng cố quan hệ với hai nước Philippine và Việt Nam. Nhật tuyên bố ủng hộ các nước Đông Nam Á duy trì tự do hàng hải và hàng không trong khu vực. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng rằng, “Nhật Bản nên hành động và phát biểu cẩn trọng về vấn đề Biển Đông.” Chuyên gia Ian Storey của viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore nói: Nhật sẽ bất chấp quan ngại của Bắc Kinh và sẽ đẩy mạnh hợp tác quân sự với Việt Nam và Philippines nhằm tăng cường sự hiện diện của mình trong khu vực.

Tóm lại nói riêng về Việt Nam, thái độ của Hà Nội đối với Trung Quốc, hèn nhát từ những năm tháng khởi đầu bị lấn áp. Hành động cấm đoán và đàn áp dã mang dân mình phản kháng giặc Tàu xâm lăng. Lãnh đạo cấp cao không cho phép hải quân nổ súng khi giặc tàu bắn giết 64 quân nhân và chiếm Gạc Ma năm 1988. Quân đội nhân dân và công an chỉ bảo vệ chế độ và cướp đất của nhân dân, không bảo vệ lãnh thổ quốc gia và dân chúng, đặc biệt ngư dân. Tổ quốc và nhân dân ghi nhận Đảng Cộng Sản đã dâng toàn vẹn lãnh hải quốc gia cho giặc Tàu. Lịch sử lưu truyền muôn đời Đảng Cộng Sản bán nước cho Tàu cộng.

Ngoài ra trên đất liền Hà Nội còn dâng Cao Nguyên cho Trung Quốc khai thác Bauxite bất chấp phản đối của chuyên gia và tướng lãnh về tai hại kinh tế và chiến lược. Hà Nội cho mướn rừng 50 năm ở biên giới phía Bắc. Cho mướn đất và biển ở Vũng Áng, Hà Tỉnh 70 năm. Và còn bao nhiêu công dân Trung Quốc xâm nhập hợp pháp không cần giấy tờ, chúng lập làng xã riêng biệt trên đất Việt như tại bản xứ Trung Quốc. Nhà cầm quyền Hà Nội đang âm mưu bán đúng dân tộc mình cho Trung Quốc. Tại sao nhân dân “muốn biết” nội dung thỏa hiệp Thành Đô mà nhà cầm quyền không dám công bố? Tôi đã viết bài hỏi, “Chừng nào Việt Nam trở thành khu tự trị của mẫu quốc Bắc Kinh? Hình như sắp có giải đáp trong tương lai gần.

Posted: Wed Mar 25, 2015 10:06 pm
by tiendung

Bốn Mươi Năm Trôi Qua….


Hướng Dương txđ
Tháng Tư Đen lại sắp đến làm cho chúng ta lại hồi tưởng những sự kiện khốn nạn của lịch sử cận đại của đất nước:


1. Tìm hiểu nguyên nhân Miền Nam xụp đổ.


Ai cũng biết lý do tại sao Miền Nam xụp đổ, lý do tại sao bọn côn đồ Hà Nội lại “chiến thắng vẻ vang”.

Có phải tại bọn Cộng Sản Hà Nội biết tổ chức giỏi quân đội của chúng, như Dương Thu Hương huyênh hoang với phái viên đài Á Châu Tự do hay không (xin đọc bài phỏng vấn “40 Năm: Nhìn lại về Ngôn Từ” của phóng viên Tường An)? Có phải Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa không đủ tài năng, lòng can đảm và kinh nghiệm chiến đấu nên đã “thua trận” hay không?

Theo tôi hiểu thì “Không.” Trăm lần “Không”. Ngàn lần “Không”.

Lý do giản dị là bởi vì “Đế quốc Mỹ” bỏ rơi “bọn Ngụy”: chúng hèn hạ rút quân đi nhanh chóng, chúng “Việt Nam Hóa” chiến tranh bằng miệng, chúng rút lui mà dã tâm cắt viện trợ quân sự làm cho quân đội Miền Nam không còn đạn để bắn, bom để thả, săng để bay hay để chạy tàu chiến. Nói thẳng ra thì Mỹ cũng đểu, cũng khốn nạn không thua gì Cộng Sản. Vì quyền lợi của Mỹ, chúng đã đơn phương thoả hiệp với Bắc Kinh, chấp nhận những điều kiện mà bọn Tầu Phù đòi hỏi là rút quân và bỏ rơi Miền Nam Việt Nam để cho Miền Nam Việt Nam chết một cách điêu đứng.

Bởi vì trong khi Trung Cộng và Liên Số tiếp tục gia tăng khủng khiếp viện trợ quân sự cho Miền Bắc, đổ vào Miền Bắc đủ loại đạn dược súng ống và vũ khí tân kỳ (xe tăng, máy bay, hoả tiễn, và bom đạn) thì Mỹ chơi “Ngụy” bằng cách không tân tiến hoá quân đội VNCH, không cho thêm bom đạn để tiếp tục chiến đấu bảo vệ cái “cựu” “tiền đồn của Thế giới Tự Do.” Thậm chí tên đầu xỏ ma giáo Kissinger ký đại trên cái Hiệp Định Ngừng Chiến Paris trong đó có cái khoản qui định rằng quân hai bên Bắc Nam Việt Nam phải ở đâu ở đó, nếu quân Bắc Việt đánh quân Miền Nam thì quân đội Mỹ sẽ trở lại can thiệp, máy bay Mỹ lại trở lại đánh bom quân phỉ Cộng. Hắn dư biết rằng khoản này chỉ nhằm lừa bịp phe Việt Nam Cộng Hòa để cho phe Việt Nam Cộng Hòa đặt bút ký vào cái hiệp định khốn nạn đó, để rồi ở đó mà chờ chết, trong khi phe Cộng sản tha hồ mà hả hê, vì chúng đã biết trước rằng đó chỉ là một sự hù dọa chơi. Quan thầy Trung Cộng đã cho bọn Việt Cộng biết rằng “đế quốc Mỹ” “một đi là không trở lại”, sau cái hiệp định Paris “định mệnh” đó chúng mày cứ tha hồ đánh chém, tha hồ tấn công, tha hồ giết cả dân lẫn quân để trả thù, bọn “ngụy” bị bó tay bó chân rồi, chỉ còn con đường là chém vè, rồi sẽ tới lúc chúng phải đầu hàng….

Ghi Nhận của Vương Hồng Anh Tác Giả “Những Ngày Cuối VNCH”:

...Tình hình chính trị quân sự Việt Nam Cộng Hòa 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 71 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm. Khi Mỹ đã rút gần hết chỉ còn 24,200 người trong năm 1972 thì Việt Nam phải một mình gánh vác chiến trường với tiền viện trợ ngày một bị cắt giảm. Năm 1973 viện trợ quân sự là 2,1 tỷ, năm 1974 chỉ còn 1,4 tỷ, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó 300 triệu để trả lương cho nhân viên Phòng Tùy Viên Quân Sự (DAO) của Mỹ.


Theo bài “Trận Ban Mê Thuột Tháng 3-75” của tác giả Trọng Đạt:

Tình hình chính trị quân sự VNCH năm 1975 rất là bi đát. Năm 1967 quân phí tại Việt Nam là 20 tỷ Mỹ Kim, năm 1968 lên 26 tỷ, năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 1971 rút xuống còn 12 tỷ mỗi năm vì Mỹ đang rút quân. Khi nửa triệu quân đồng minh đã rút đi, VNCH phải một mình gánh vác tất cả chiến trường với tiền viện trợ bị cắt giảm từ cuối 1973 mỗi năm 50%.

Việc cắt giảm đưa tới tình trạng thê thảm, theo tiết lộ của cựu Đại tướng Cao Văn Viên, trong cuốn Những Ngày Cuối Của VNCH (NNCCVNCH) trang 86, 87. Hậu quả là năm 1974 không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay vì thiếu nhiên liệu, giảm số giờ bay yểm trợ, huấn luyện 50%, thám thính giảm 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Hải quân cũng cắt giảm hoạt động 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ.

Đạn dược chỉ còn đủ đánh tới tháng 4 /1975, năm 1972 ta xử dụng trên 69 ngàn tấn đạn một tháng, từ tháng 7/1974 đến tháng 3/1975 ta chỉ còn xử dụng khoảng 19 ngàn tấn một tháng hoả lực giảm 70%. Tháng 2/1975 chỉ còn đủ đạn tất cả các loại súng cho 30 ngày, tháng 4/1975 chỉ còn đủ đạn đánh trong khoảng hai tuần (Sách đã dẫn trang 92)

Theo sử gia Bill Laurie, cấp số đạn súng lớn như đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly.. năm 1975 đã bị cắt giảm trên 90% . Theo Tướng Cao Văn Viên vì thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, giang thuyền, máy bay …nằm ụ chờ rỉ sét. Thiếu thuốc men, số tử vong tăng cao, tinh thần xuống thấp.

Suốt 18 năm (1955-1973) cái “quân đội tự hào bách chiến bách thắng” (lời nói khoe khoang của ls Lê Công Định trong bài “Trận Đánh Ban Mê Thuật 40 Năm trước”) không làm được nên cơm cháo gì, đánh đâu thua đấy, nướng hai ba triệu thanh niên Miền Bắc vào lò lửa Chiến Tranh “Dải Phóng”, tại sao bỗng nhiên chúng lại “đaị thắng” cái trận mà Lê Công Định huyênh hoang là “trận đánh đẹp và hiểm hóc bậc nhất của lịch sử thế giới hiện đại”. Thử hỏi nếu Quân đội Miền Nam vẫn tiếp tục được Mỹ hỗ trợ trong cuộc chiến, viện trợ về mặt quân sự tương xứng với viện trợ mà bọn Bắc Việt được từ Liên Xô và Trung Cộng, nếu quân đội Miền Nam vẫn còn đầy đủ khả năng vũ khí đạn được thì dù cho Việt Cộng có đánh chiếm được BMT thì chúng có giữ được không? Tại sao chỉ từ sau khi Mỹ cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam thì bọn Bắc quân mới hung hăng con bọ xít? Có phải tại quan thầy Tầu phù và Liên Sô của chúng một mặt vội vã đổ súng ống đạn dược, xe tăng, dầu hỏa, máy bay, hỏa tiễn vào cho chúng lên tinh thần, mặt khác xúi chúng “cứ đánh đi” vì địch nay đã bị bó tay? Chẳng khác gì hình ảnh một tên lưu manh côn đồ đánh nhau với một thư sinh hai tay đã bị chói chặt!

Chính bọn bộ đội ngơ ngác đi vào Saigòn cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao chúng lại có thể đặt chân lên được lãnh thổ “địch”, chúng đâu ngờ được chúng đã “chiến thắng”, chẳng qua chỉ vì Dương Văn Minh đã bỗng nhiên ra lệnh cho quân lính buông xúng, “ai đâu ở đó” trong khi lòng người chiến sĩ anh hùng VNCH vẫn còn muốn chiến đấu đến cùng. Cho đến bây giờ vẫn chưa ai hiểu được chuyện này, vì vào cái thời điểm đó người ta đã nói tới chuyện di chuyển tất cả binh đội về Vùng 4 để cố thủ, chờ thời phản công. Chắc chắn nếu Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn cao Kỳ và các tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp hàng đại tá không hèn hạ trốn đi thì tính thế đã có thể đổi khác. Nếu toàn thể mọi người đồng lòng, đồng tâm kiên quyết chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh, thì lịch sử đã có thể không bi đát như thế. Đàng này các người lãnh đạo, các tướng lãnh đã đào ngũ thì thử hỏi quân lính còn lòng đâu mà chiến đấu?

Chưa kể đến những người dân ở Miền Bắc, những kẻ đã trông mong một ngày nào đó quân Miền Nam sẽ Bắc tiến để giải phóng họ khỏi vòng nô lệ, khỏi cuộc sống cơ cực cả về vật chất và tinh thần, cho đến ngày 30-4-75 họ vẫn ngơ ngác, thẫn thờ, không hiểu tại sao Miền Nam lại xụp đổ chứ không phải là Miền Bắc, không hiểu tại sao bọn Bắc Cộng lại dành được “Cuộc Đại Thắng Mùa Xuân.” Chính họ, khi gặp lại bà con ở Miền Nam, đã hỏi tại sao lại có cái chuyện ngược đời như thế? Và họ suýt soa, “nếu Mỹ chỉ đánh bom thêm vài ngày nữa thôi thì có thể đỡ khổ cho họ không?” Khi được hỏi tại sao thì họ nói cho biết rằng “Bắc Việt đã sẳn sàng đầu hàng.” Lý do đơn giản là vì họ làm sao biết được rằng đế quốc Mỹ đã đi đêm với Bắc Kinh và đã tán tận lương tâm quyết định bỏ rơi Miền Nam. Trong khi đó thì dân Miền Nam đã nhìn thấy mối nguy ngay từ ngày tên Kissinger – hay tay tổng thống Mỹ nào đó tôi không còn nhớ tên, hình như là Nixon? - mở miệng chửi những nhà lãnh đạo Miền Nam là “sons of the bitch.”

Giờ đây định mệnh của Miền Nam đã an bài từ lâu. Nhưng khi nghe những tên “Cộng Sản lưu vong” hay “Cộng Sản bất đồng chính kiến với Cộng Sản” mở miệng bầy tỏ cảm tưởng về sự xụp đổ của Miền Nam, chúng ta vẫn còn thấy “tức anh ách.” Chẳng hạn như lời của Dương Thu Hương khi được hỏi về “Quốc Hận” thì lại móc méo: “Về phiá những người miền Nam mà gọi là «Quốc Hận» thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao? Tại sao lại là «Quốc hận?» Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ. Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ cho cả 2 nơi: Miền Nam Việt Nam và Miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không? Cái đó phải xét lại.” (xem bài phỏng vấn của Tường An ghi nhận trên đây)

Để trả lời cái “théch méc” tại sao này thì cần phải viết nguyên một bài dài nói về lịch sử cận đại của hai nước, nêu bao nhiêu là lý do để so sánh tình thế của hai nước, những yếu tố chiến lược về mặt chính trị và đia dư, những mưu đồ của phe Cộng Sản, đặc biệt là của Liên sô và nhất là Trung Quốc, v…v…Tạm thời tôi chỉ nói tới một nguyên do: Đó là vì Việt Nam có Hồ chí Minh, một tên gian ác mưu mô quỉ quyệt hơn tất cả những tên mưu mô quỉ quyệt khác trên thế giới - kể cả Machiavelli, Hitler, Mussolini, Stalin, Lenin, Mao Trạch Đông… Chính vì tham vọng cướp chính quyền của Hồ Chí Minh và bè lũ tay sai mà nước Ta mới khốn khổ điêu linh. Sau khi nuốt được một nửa nước, đầy đọa một nửa số người dân ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh còn muốn nuốt luôn cả Miền Nam, đầy đọa luôn cả dân tộc Việt Nam. Hồ chí Minh chủ trương xâm lược Miền Nam từ trước Hiệp Định Genève nên cài sẵn người ở Miền Nam, chỉ chờ cơ hội ra tay.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh không ngo ngoe gì được vì chính quyền Ngô Đình Diệm mạnh, cứ tên Cộng Sản nào lòi mặt ra là bị chém đầu hay bị đầy ra Côn Đảo. Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt về mặt chính trị nên ông biết rằng nếu để quân đội Mỹ vào Việt nam thì Hồ Chí Minh có cớ để kêu gọi, động viên lòng yêu nước của dân chúng khích động họ tham gia một cuộc chiến tranh chống ngoại bang, chống “Đế Quốc Mỹ” - như trước đó có cuộc chiến chống thực dân Pháp vậy. Khốn nỗi Mỹ giết ông Diệm rồi ồ ạt đổ quân vào Miền Nam gây tai họa cho Miền Nam từ đó.

Nếu như Mỹ chỉ viện trợ quân sự và cố vấn cuộc chiến – như Trung Cộng và Liên Sô đã làm ở Miền Bắc - cứ để quân dân Miền nam tự lo công cuộc bảo vệ lãnh thổ thì tất yếu đã khác, đã không có cái ngày 30-4-75 và không có cái “ngôn từ” “Quốc Hận” để cho Dương Thu Hương lộng bàn, cho ý kiến vớ va vớ vẩn...

2. Tìm Hiểu Hậu Quả Hiện Tại

A. Về phương diện kinh tế, 40 năm sau khi bọn Cộng Sản cướp được Miền Nam, nền kinh tế cả nước vẫn chỉ là “phồn vinh giả tạo”- danh từ mà bọn chúng ngày xưa dùng để nói về Miền Nam Tự Do. Nhìn bề ngoài thì coi bộ đồ xộ, nhà cửa cao ốc, thương xá, khách sạn, casinos, đường xá cầu cống mới xây, coi bộ xôm trò nhưng chẳng qua đó là công trình của những quốc gia đổ tiền vào nước ta để làm ăn buôn bán kiếm lời – tôi gọi là bọn tư bản lỏi như Đài Loan, Đại Hàn, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan… - Chẳng qua bọn tư bản này giờ đây có thể đổ tiền vào Việt Nam để hút máu người dân lao động Việt nam là vì bọn Cộng Sản Hà Nội là một lũ ăn hại đái nát, trong 40 năm qua chúng chẳng làm được một cái gì nên hồn, chỉ biết ăn của đút, ăn chơi xả láng, bịp bợm, lừa gạt nhân dân và làm đầy tớ cho quan thầy Trung Cộng của chúng. Thử hỏi những nước tư bản lỏi đó vào những năm đầu của thập niên 70 có hơn được Miền Nam Việt Nam hay không? Nếu bọn Hà Nội không xâm lăng được Việt Nam Công Hòa - tức là nếu Đế Quốc Mỹ không cúp Viện trợ quân sự cái rụp – thì Việt Nam Cộng Hòa ngày nay có thua gì Nam Hàn hay không?

Sau 40 năm tức là gần một nửa thế kỷ, cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã làm được cái gì nên trò hay chưa? Đã có tiềm năng kinh tế vững mạnh hay chưa? Kỹ nghệ nặng có những gì? Đã làm ra được xe tăng tàu bò, phi cơ, tầu chiến lớn, đã chế được bom đạn súng ống hay chưa? Đã sản xuất được xe hơi, bình bịch, máy bay, trực thăng, du thuyền, đã tự làm được một con đường, một chiếc cầu, những máy móc dùng trong kỹ nghệ nhẹ hay chưa? Hay vẫn phải nhập cảng hết mọi thứ từ nước ngoài? Thậm chí đã tự chế ra được một chiếc tủ lạnh, một chiếc máy giặt, một chiếc computer, một chiếc máy cầy, một chiếc xe gắn máy chưa? hay chỉ biết lắp ráp những bộ phận mang từ nước ngoài vào? Hàng xuất cảng của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bao gồm những gì? Toàn là sản phẩm nông nghiệp và sản phảm gia cộng như quần áo vải vóc, giầy dép, máy vi tính…và dầu thô (thậm chí không lọc được đủ dầu xài - có một nhà máy Dung Quất (?) nhưng không biết có làm được trò chống gì hay không, một nhà máy thứ là tên Nghi Sơn bắt đầu xây năm 2013, không biết đã xong chưa? - nên vẫn phải nhập cảng bạc tỷ Mỹ Kim xăng dầu. Nghe nói tiền thu vào từ việc bán đầu thô không đủ để nuôi cái guồng máy công an nhân dân khổng lồ hạng nhất thế giới, không biết đúng sai thế nào?

Sau 40 năm thống nhất đất nước, tự nhận là đỉnh cao trí tuệ của loài người, mà CHXHCNVN vẫn phải ngửa tay đi xin tiền (đi ăn mày) viện trợ để cho mới đây Thủ tướng Úc chửi cho vào mặt tên thủ tướng Dũng, nói rằng xin tiền là để cố gắng một ngày nào đó tự túc tự cường chứ không phãi để cứ đi ăn máy truyền kiếp! Nghe thế mà tên Dũng nhe răng ra cười, thật không biết nhục là gì!

Theo thống kế tìm được trên Internet thì CHXHCN Việt Nam nhận được từ 1988 tới hết năm 2004 46 tỷ Mỹ kim tiền Đầu Tư Trực Tiếp từ Nước Ngoài (FDI), Riêng cho năm 2007 FDI là 21.3 tỷ Mỹ kim và chỉ nửa năm 2008 FDI cũng đã là 31.6 tỷ Mỹ Kim! Những số tiền FDI này dùng những làm gì, bố ai biết, nhưng chắc chắn một phần không nhỏ chui vào túi các tên Đại Hạm tai to mắt lớn trong “Đảng ta” - Chứ nêu không sao chúng lắm tiền đến thế - chúng có tài sản từ trăm triệu đến bạc tỷ!

Số tiền nợ nước ngoài của CHXHCN Việt Nam tính cho tới năm 2004 là trên 16 tỷ Mỹ Kim – bi giờ đã gấp 2 chưa không biết và biết trả tới đời nào đây?

Tiền trợ giúp (cho không) có tên là tiền Trợ Giúp Phát triền Chính Thứ (ODA: Official Development Assistance) từ 1999 cho tới năm 2004 là 26 tỷ Mỹ Kim, và từ 2006 tới 2010 ODA theo dự trù là từ 14 cho tới 15 tỷ Mỹ Kim (chu choa, tha hồ mà chấm mút!)

Thôi nói sơ sơ thế thôi chứ nói hết phải vài chục hay vài trăm trang!

B. Về phương diện Xã Hội, 40 năm sau ngày “Đại Chiến Thắng Mùa Xuân” (eo ơi ghê quá!), xã hội ta ngày càng suy đồi, số người bất lương ngày càng nhiều (xem bài phiếm “Con Đường Xưa Em Đi - Phạm Hoài Vũ”) sự xa đọa cùa xã hội lên tới mức cùng cực, hút sách, ăn chơi đàng điếm, chỗ nào cũng làm tiền, nếu cần cả bằng thân thể người phụ nữ (để hở hang, thậm chí lõa lồ), tham nhũng thối nát lan tràn từ chóp bu trở xuống, gian tham lộng hành công khai không sợ sệt, xã hội vô pháp luật, giết người như ngóe, trộm cắp cướp bóc đầy rẫy, làm ăn lường gạt gian lận miễn sao kiếm được càng nhiều tiền càng hay, dùng đủ mưu mô quỷ quyệt để bóc lột lường gạt mọi người, lòng người gian dối, không còn biết thành thật là gì, vô học thức, chửi bậy chửi xéo không ngượng miệng, bán hàng thì vô tâm sẵn sàng đầu độc người tiêu thụ cho chết cũng tỉnh bơ miễn sao tiền vào được trong túi…..

Về phương diện Văn Hóa, con người ngày càng trở nên vô văn hóa, mặt cứ trơ trơ ra không còn biết tự hổ thẹn, không còn lương tâm, sĩ diện, lý trí, không còn biết văn minh hay lẽ phải, không còn tinh thần dân tộc. Văn Hóa lai căng, du nhập tả pín lù từ khắp thế giới, không còn gì là thuần túy Việt Nam, từ chiếc áo dài cải biến thành đủ mọi thứ áo, thành cái váy Âu Tây, thành cái xường xám của ba tầu cái, cho đến những món ăn thức uống, bài hát phim xi nê thì bắt chước ba tầu hay đại hàn, nhật bản. Văn chương thì không ra văn chương, viết thì dùng những tiếng mọi rợ - mà không biết là mọi rợ - nói thì nói rặt một thứ giọng the thé mà dám cả gan nói là giọng Hà Nội. Ngu muội dốt nát mà không biết là ngu dốt, mặt cứ câng câng ra vẻ ta đây! Tất cả những thứ này là tàn tích của cái văn hóa rừng rú cùa giống “cán ngố” vô học mở miệng ra là chỉ biết Bác và Đảng. 40 năm trôi qua mà nhìn mặt là biết ngay cán ngố, mở miệng ra là biết ngay giống khỉ trong rừng mới chui ra, mặc dù giờ có đô la hàng xấp, ăn bận theo thói văn mình, ăn xài hàng “xỉn”, đồ ngoại Pháp Nhật Mỹ…. hành động cử chỉ vẫn vô văn hoá, ăn nói vô văn hóa, thậm chí tiếng cười cũng vô văn hóa. Chẳng thế mà đi ra xứ ngoài không dám ngửng mặt lên, ai hỏi không dám nhận là người Việt Nam. Bước chân ra tới xứ người vẫn tưởng mình còn ở Việt Nam, vẫn giữ những thói xấu, vẫn ăn cắp, vẫn không biết mắc cở, vẫn chen lấn, giant ham để cho người ngoại quốc phải canh chừng, phỉ nhổ chửi cho vào mặt. Đi tới xứ nào cũng khoái buôn lậu để dễ kiếm tiền lời, khoái trồng cần xa ma túy để kiếm tiền cho nhanh, khoái lập bang lập đẳng để dễ lộng hành…


C. Về phương diện Giáo Dục: Nhà nước CHXHCN Việt Nam không coi trọng giáo dục lý do chính là vì những người lãnh đạo cái “đảng và nhà nước” CS đó đều thất học, không có ai là có giáo dục. Ấy thế mà những “giống khỉ từ trong rừng ra” giờ đây “trưởng giả học làm sang” đứa nào cũng ra vẻ ta đây là ông này bà nọ nên đứa nào cũng trưng bằng TS, nhưng đó chỉ là cái thứ bằng giả, cái miếng giấy để tự lòe chính mình và lòe thiên hạ - khốn nỗi thiên hạ đâu có đứa nào ngu, thiên hạ ở cái CHXHCNVN này đếu lưu manh như nhau nên biết tẩy của nhau, có đứa nào lại đi tin “thủ trưởng” vô học mà có bằng thật được? Mời đọc: Uả! Ông Chưa Tiến Sĩ Hả? Sao Không Làm Một Cái? - BS Đỗ Hồng Ngọc

Với tiền các nước ngoài cho thì CHXHCN Việt Nam cũng xây cất nhiều trường mới trông vẻ ra trò lắm, nói theo từ Việt Cộng thì “ra vẻ hoành tráng lắm”. Nhưng vấn đề là các thầy cô các trường đó có ra trò không, chương trỉnh giáo dục có ra trò không, sách vở có ra trò không? Khi mà mọi thứ trong cái ngôi trường với bề ngoài đẹp đẽ lại không hay không đẹp không tốt thì học sinh đương nhiên cũng đâu có vững tâm, đâu có hứng thú để mà học tập cho đến nơi đến chốn? Khi mà Bác và Đảng vẫn còn muốn tạo ra những con người “hồng hơn chuyên” thì làm sao đất nước tiến lên cho được? Chẳng trách gì giới trẻ chỉ muốn học cho lẹ, cố lấy cái bằng, cho dù có phải gian lận khi đi thi hay mua nó khi cha mẹ có tiền, để rồi lăn xả vào đời với cái ý muốn, sự thúc dục trong đầu là kiếm tiền, kiến tiền càng nhiều, càng mau càng tốt, để hưởng đời. Làm sao mà có được những công dân tốt, có lòng yêu nước, yêu dân tộc được khi mà giáo dục không có nhằm mục đích dậy dỗ con người trở thành công dân tốt? Trong cái xã hội bất lương, trong một nền giáo dục không cần biết tới, không giảng dạy luân lý đạo đức - trừ “đạo đức Bác Hồ, tên dâm dục khoái hôn lưỡi con nít” -, thì làm sao có được những con người tốt, lương thiện?

Đáng buồn hơn nữa là những người làm công việc giáo dục (dạy dỗ con em, cai quản trường học, viết sách dạy con nít… ) trong cái CHXHCN Việt nam lại tỏ ra vô giáo dục. Mời xem cho biết;

· Sách Nhi Đồng CHXHVN nhảm nhí:

· Cô giáo rượt đánh và dọa chém nữ sinh trong lớp

· Giáo dục Việt Nam xếp hạng sau cả Campuchia

· Hiệu trưởng bị bắt vì chứa gái mại dâm


D. Về phương diện Chính trị: Ngày xưa, tôi đã ngây thơ tưởng rằng bọn Cộng Sản chúng nó muốn làm cách mạng thực sự nên mặc dù không ưa cái lý thuyết Mác xít vì thấy nó vô lý trăm điều, chúng nó nói tới cái thế giới đại đồng nơi đó tất cả của cải vật chất là của chung, ai cũng như ai cũng được hưởng đồng đều, ai cũng sung sướng, cũng no bụng, cũng có đầy đủ trong cuộc sống, không còn giai cấp, không còn bóc lột, chỉ còn là những con người sinh sống hòa đồng với nhau, thương yêu nhau… Mặc dù nghĩ thấy những điều thuyết Mác xít kể ra đó chỉ là hoang tưởng (chimérique), chỉ là những lời bịp bợm để lừa những con người “cùng khổ với nhau” (paria) tức là giai cấp vô sản công nông đã bị thực dân (Pháp) bóc lột lao động và đầy đọa, nhưng vì còn trẻ, không ưa bọn thực dân – bây giờ già đầu cũng vẫn không ưa bọn thực dân đế quốc -, nên tôi cũng hơi cả tin. Tôi cứ nghĩ rằng bọn Cộng Sản, mặc dù chúng nó tàn bạo ác độc, giết người như ngóe, nhưng chúng nó yêu nước yêu dân, chúng muốn “đấu tranh chống ngoại xâm”, muốn hành xử theo cái châm ngôn của bọn chúng “không gì quí hơn độc lập tự do”, muốn đem hòa bình cơm no áo mặc cho toàn dân, v…v…

Đến khi chúng cướp được Miền Nam, coi tất cả người dân Miền Nam là “ngụy”, là kẻ thù của chúng, đưa hàng ba bốn trăm ngàn người đi vào nhà tù: chúng bịp nói rằng đi “cải tạo” 10 ngày rồi cho về với gia đình để rồi tất cả đề phải ở tù bao nhiêu năm dài, có người tới 13, 14 năm trời dòng dã, tựa như những nhà tù Gulag thời trước của Liên xô. Những người không bị đi tù thì chúng cướp của cải vàng bạc châu báu, nhà cửa… - thậm chí chúng cướp cả những bà vợ của những người bị đi tù - rồi đuổi đi ra khỏi thành phố - đi “kinh tế mới” … Thời đó nhìn ngoại hình của bọn chúng, quả thật chúng là một lũ đười ươi mới ở rừng chui ra, thấy chúng mọi rợ vô học, ăn nói như một lũ vẹt, ngu dốt mà không biết là ngu dốt… Từ đó tôi mới nhận thứ được rằng chúng chỉ là một lũ đi ăn cướp, chẳng cách mạng cách moi gì hết. Mục đích chính của bọn Cộng Sản là cướp chính quyền để hưởng thụ cá nhân, để vinh thân phì gia. Cái xã hội không giai cấp mà chúng nó nói luôn miệng hóa ra chỉ là một xã hội lưỡng giai cấp, một giai cấp gồm bọn cầm quyền và một giai cấp gồm toàn thể những người dân bị trị. Hóa ra chúng đã trở thành một bọn thực dân mới, dùng sức mạnh để cai trị toàn dân, dùng bạo lực để nô lệ hóa con người và kiểm soát cả nước. Chúng dùng tuyên truyền để ngu muội hóa con người… hầu dễ cai trị, chúng dùng mọi thủ đọan để nắm giữ quyền bính, sẵn sàng bắt cầm tù bất cứ ai đối kháng với chúng.

40 năm qua trôi qua, bọn Cộng sản ngày càng lộng hành, ngày càng kiêu căng, ngày càng ngoan cố. Chúng coi thường sức mạnh của toàn dân, tha hồ cưỡi đầu cưỡi cố người dân, chúng cứ quan liêu, cứ ăn cắp, cứ ăn cướp, cứ thối nát, cứ khoe của, cứ huyênh hoang tự phụ ra vẻ ta đây. Nhưng lịch sử phải xoay vần, thời thế phải biến chuyển, không gì tồn tại mãi mãi, sớm muộn gì thì chúng cũng phải chết, chết thảm thương, chết cả lò nhà chúng nó, chết như thể bị chu di tam tộc… Bằng cách này hay cách kia, chúng sẽ phải đền tội, chúng sẽ bị luật pháp trừng trị về những tội tầy trời mà chúng đã gây ra. Chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Kết Luận:

Bốn mươi năm qua dân tôi đã ấp ủ trong lòng một niềm hy vọng, hy vọng được thấy một ngày vui trở lại trên quê hương, ngày thấy lá cờ vàng thân thương phất phới trên nền trời đất Việt từ Bắc chí Nam, nghe lại bài quốc ca yêu mến trổi lên khắp nơi, thấy trăm ngàn tram vạn, triệu triệu nụ cười tươi, hớn hở nở trên khuôn mặt đồng bào tôi.

Bốn mươi năm qua dân tôi đã sống với sự cay đắng, uất hận, căm thù, buồn khổ.

· Cay đắng vì Miền Nam chúng tôi đã oan ức bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn bởi một “đồng minh” phe “Thế Giới Tự Do”

· Uất hận vì thấy kẻ tự nhận là Đồng Minh phản bội lại lời hứa, để rồi thấy bọn CS ngu dốt huyênh hoang tuyên bố chiến thắng trong khi Miền Nam không có được cái khả năng đánh những trận quyết liệt và đành phải chấp nhận số phận khốn nạn, uất hận vì thấy bao nhiêu tên phản bội, bao nhiêu tên hèn trong hàng ngũ những chiến sĩ VNCH, những chiến sĩ oai hùng đã từng vinh quang bảo vệ quê hương, bảo vệ dân tộc và nền tự do của Miền Nam Tự Do trong gần 20 năm trời

· Căm thù bọn Cộng Sản gian manh đã lừa dối dân ta, chúng độc ác giết hại cả mấy triệu người dân, một bọn ăn hại đái nát, chỉ biết vinh thân phì gia, không đếm xỉa gì đến quyền lợi của đất nước… Chúng đã bán đất bán biển cho kẻ thù của dân tộc ta, chúng phản bội đất nước, phản bội đồng bào ta, chúng đã gây những tội tầy trời, chúng sẽ bị lịch sử phán xét.

· Buồn khổ vì chỉ thấy thất vọng và thất vọng, vì thấy tương lai của quê hương và đồng bào yêu dấu mịt mờ lại càng mịt mờ hơn. Bọn Việt Cộng giờ đây đã bám rễ sâu chắc, chúng ngày càng củng cố quyền lực bằng mưu lược, bằng tuyên truyền, bằng bạo lực. Càng ngày chúng càng nhiều tiền nhiều của, càng ngày chúng càng ăn cắp và giầu có hơn. Giờ chúng có mãnh lực của đồng tiền nên càng ngày càng nhiều ngưới theo chân chúng, chống lại những người có lòng yêu nước chân chính. Thật buồn khi thấy vận đen vẫn còn, đất nước thân yêu vẫn chìm trong bóng tối, người dân Việt Nam vẫn khốn khổ, còn khốn khổ hơn cả khi xưa khi mức chênh lệch giầu nghèo không quá lớn như ngày nay.

Tuy nhiên dân tôi vẫn cố giữ niềm tin, vẫn cố nuôi niềm hy vọng. Một ngày vinh quang sẽ phải tới, cuộc giải phóng khỏi vòng áp bức sẽ phải xẩy ra, Tự Do Dân Chủ, quyền sống hạnh phúc của con người không thể không đến. Nhất định là như thế….

Hướng Dương txđ

Posted: Fri Mar 27, 2015 1:15 am
by vuphong
Qua trùm công an Trần Đại Quang:
CSVN chuyển động mạnh, vừa lòng Mỹ!


TRÙM CÔNG AN VNCS THĂM MỸ VÀ LHQ
Trùm công an VNCS đã kết thúc chuyến công du 6 ngày, 4 ngày ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn và 2 ngày ở New York. Nguồn tin Mỹ ở thủ đô HTĐ cho bản báo biết: Trần Đại Quang thành công! Đại thành công. Chưa một cấp bộ trưởng nào được đón tiếp nồng hậu, đậm đà như tay trùm công an này. Trần Đại Quang là một Đại tướng công an chuyên nghiệp, đi từ cấp cơ sở, Thiếu úy leo lên đến 4 sao, Thân cận của Thủ Dũng, đàn em ruột của Lê Hồng Anh, Đại tướng Công an, hiện là Ủy viên thường trực Ban Bí thư, Bộ Chính Trị Cộng Đảng VN. Năm nay, Quang 60 tuổi, người tỉnh Ninh Bình. Tôi xem tivi, Quang vào loại đẹp trai, có duyên, tướng diện, cốt cách rất tốt, vượt xa các lãnh tụ CS từ thời Lê Duẫn đến nay. Quang nói tiếng Anh lưu loát, vượt xa “trí thức bần cố nông” Nguyễn Sinh Hùng.

Image
Trùm CA Trần Đại Quang và Giám đốc FBI James Comey

Image
Với Bộ trưởng bộ Nội an Hoa Kỳ, ông Jeh Charles Johnson

Vẫn theo tin HTĐ, Trần Đại Quang đã được “cơ cấu” thay Trương Tấn Sang làm chủ tịch nước vào Đại hội Đảng thứ XII-2016. Chắc không phải. Chuyến công du HTĐ và New York của Quang đã được ủy nhiệm rộng quyền của một thủ tướng. Theo một nguồn tin khác từ Hà Nội cho biết, Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước trong trường hợp Dũng vẫn được lưu dụng ở Đại hội thứ XII. Và chắc là được.

Hiện nay, Thủ Dũng là nhân vật mạnh nhất VNCS. Trần Đại Quang có triển vọng làm Thủ tướng. Cứ theo tướng diện và phong cách, Quang còn vượt lên nữa. Vừa đến thủ đô Mỹ, sau bữa ăn trưa, Quang đến bộ ngoại giao hội đàm với Phó Bộ trưởng, vẫn quanh quẩn vấn đề nhân quyền VN. Mỹ đã gõ đúng cửa!
Image
Hội đàm với Bộ Nội an Hoa Kỳ


Image
Hội kiến với TNS John McCain
Đàn áp nhân quyền là nghề của công an mà Quang đã có kinh nghiệm gần 40 năm. Hôm sau, Quang thăm viếng và hội đàm với hàng loạt viên chức thẩm quyền cao cấp bậc nhất của Mỹ: Giám đốc FBI, bà Cố vấn HĐANQG, Bộ trưởng Bộ Nội An Hoa Kỳ và TNS John McCain, Chủ tịch UB Quốc phòng Thượng viện cùng 2 nhà lập pháp khác. Trong 4 ngày ở HTĐ, báo chí mô tả ông Trùm hội họp liên miên “tối tăm mặt mũi” nhưng rất phớn phở như đi thăm một nước đồng minh “tối huệ quốc”! Không gặp trục trặc nào. Đâu đâu cũng bật đèn xanh “về phía Mỹ”! Hai ngày ở New York, dù là Bộ trưởng, Quang đã được quyền Chủ tịch ĐHĐ LHQ tiếp đón. Sau đó đi thăm phụ tá Tổng thư ký LHQ, vẫn là những vấn đề như ở HTĐ. VNCS đã chuyển hướng tuy từ từ “nhưng bạo dạn và mạnh”. Tin được bao nhiêu? Xin “wait and see”.

HÀ NHÂN VĂN

Posted: Sat Mar 28, 2015 5:09 am
by dailien
Việt Nam là quốc gia 'thiếu minh bạch'


HÀ NỘI (NV) - Kết quả một cuộc khảo sát do tổ chức World Justice Project (WJP) thực hiện cho thấy,
Việt Nam đứng hạng 86/102 quốc gia về mức độ minh bạch.

Image
Trước nay, quản lý-phân bổ-sử dụng ngân sách ở Việt Nam vẫn không được
công khai, thiếu minh bạch nên vừa lãng phí, vừa thiếu hiệu quả.
(Hình: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)

WJP công bố kết quả cuộc khảo sát vừa kể sau khi thăm dò ý kiến dân chúng của 102 quốc gia. Tại Việt Nam, WJP đã thăm dò ý kiến của 1,000 người, cư trú ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn.

Dựa trên ý kiến của dân chúng về: Mức độ công khai những thông tin liên quan đến chính quyền và luật pháp, sự đáp ứng quyền được cung cấp thông tin, sự tham gia của các tổ chức dân sự, cơ chế đáp ứng các khiếu nại của dân chúng, WJP tiến hành xếp hạng.

Theo đó, ba quốc gia dẫn đầu về sự minh bạch của chính quyền là: Thụy Điển, New Zealand và Na Uy. Ba quốc gia mà sự minh bạch của chính quyền bị xếp hạng chót là Myanmar, Uzbekistan và Zimbabwe.

Trong bảng xếp hạng vừa kể, Việt Nam xếp thứ 86/102 trên bình diện toàn cầu. Ở bình diện châu Á, sự minh bạch của chính quyền Việt Nam được xếp hạng 11/15. chỉ hơn Trung Quốc, Mã Lai, Campuchia và Myanmar. Trước nay, chính quyền tại Việt Nam phải minh bạch hơn đã là yêu cầu của nhiều người, nhiều giới tại Việt Nam.

Hồi tháng 11 năm ngoái, sáu tổ chức tại Việt Nam từng gửi kiến nghị, yêu cầu minh bạch về ngân sách, đúng vào thời điểm Quốc Hội Việt Nam đang thảo luận, chuẩn bị cho việc thông qua Luật Ngân Sách mới.

Đứng đầu các tổ chức đồng ký tên trong kiến nghị vừa kể là OXFAM Vietnam (chi nhánh của OXFAM - một liên minh của 15 tổ chức quốc tế có chi nhánh tại 98 quốc gia, hoạt động nhằm tìm giải pháp khắc phục nghèo đói, bất công. Những tổ chức còn lại bao gồm: Trung Tâm Hành Động Phát Triển Vì Cộng Đồng (ACDC), Trung Tâm Nâng Cao Năng Lực Cộng Đồng (CECEM), Trung Tâm Phát Triển Và Hội Nhập (CDI), Trung Tâm Hỗ Trợ Giáo Dục Và Nâng Cao Năng Lực Cho Phụ Nữ (CEPEW), Nhóm Hợp Tác Thúc Đẩy Quản Trị Và Cải Cách Hành Chính Công (GPAR).

Kiến nghị vừa kể được cho là có sự hỗ trợ của Ủy Ban Tài Chính-Ngân Sách thuộc Quốc Hội Việt Nam, hoàn tất sau khi đã tham vấn ý kiến của hơn một ngàn người dân và 500 viên chức ở các tỉnh: Bắc Giang, Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Ngoài việc yêu cầu minh bạch về ngân sách, kiến nghị nhấn mạnh rằng, chính quyền Việt Nam cần thực hiện nghĩa vụ giải trình và các biện pháp để dân chúng có thể tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách.

Kiến nghị cho rằng, Luật Ngân Sách mới phải minh định về việc công khai ngân sách. Nội dung và cách thức công khai phải giúp dân chúng có thể hiểu để tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách. Đặc biệt là phải bảo đảm sự thuận tiện trong việc tiếp cận thông tin.

Sáu tổ chức gửi kiến nghị, đề nghị Luật Ngân Sách mới phải có các quy định cụ thể về quyền tham gia trực tiếp và gián tiếp của dân chúng trong vấn đề phân bổ ngân sách.

Luật Ngân Sách mới cũng cần minh định quyền tham gia giám sát của dân chúng trong việc quản lý, sử dụng ngân sách. Đồng thời phải xác định các hình thức xử lý đối với việc vi phạm nghĩa vụ công khai ngân sách và trách nhiệm giải trình về ngân sách.

Dựa trên kết quả tham vấn ý kiến dân chúng và viên chức, sáu tổ chức soạn - gửi kiến nghị cho rằng, thời gian vừa qua, việc quản lý, sử dụng ngân sách của chính quyền Việt Nam chưa hiệu quả, chưa phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của dân chúng, chưa tạo điều kiện cho dân chúng tham gia vào các hoạt động liên quan đến quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách.

Thông tin về quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách của tất cả các cấp chính quyền còn thiếu minh bạch, chỉ mang tính hình thức. Cách cung cấp thông tin, nội dung thông tin về ngân sách vừa thiếu, vừa khó hiểu.

Qua một cuộc khảo sát mà sáu tổ chức vừa kể thực hiện trong năm ngày trên hai tờ báo điện tử là VietNamNet và VnExpress thì có 95% cho rằng phải công khai dự thảo chi ngân sách ở tất cả các cấp. 96% yêu cầu công khai tất cả các khoản chi thường xuyên. 96% yêu cầu danh mục nợ công.

Bởi thiếu minh bạch, lãng phí trong sử dụng ngân sách vượt ngoài sự tưởng tượng của nhiều người.

Cuối năm 2013, chế độ Hà Nội công bố một thống kê về việc sử dụng ngân sách để đầu tư vào các “dự án trọng điểm.” Theo đó, chỉ trong vòng mười năm, Việt Nam đổ tiền xây 20 cảng biển quốc tế, 22 phi trường (có 8 là phi trường quốc tế), 267 khu công nghiệp (trung bình một tỉnh có 4 khu công nghiệp), 18 khu kinh tế ven biển, 28 khu kinh tế cửa khẩu, 1,757 dự án trong các lãnh vực giao thông, thủy lợi và di dân.

Tổng vốn đầu tư cho tất cả các “dự án trọng điểm” ấy ngốn hết khoảng 444 ngàn tỷ đồng và gần như toàn bộ các “dự án trọng điểm” đều bỏ hoang sau khi hoàn tất. (G.Đ)

Posted: Sun Mar 29, 2015 12:42 am
by dailien

Image

Tạm biệt cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser

Lãnh tụ chống cộng kiên cường của Thế Giới Tự Do - Vĩ Nhân của nước Úc - Đại Ân Nhân của người Việt tỵ nạn cộng sản



Hữu Nguyên

( huunguyen@saigontimes.org)
​Thứ Sáu, 20 tháng 3, cả nước Úc bàng hoàng xúc động khi hay tin, cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser, Nhà lãnh đạo chống cộng kiên cường của Thế Giới Tự Do, Vĩ Nhân của nước Úc và là Đại Ân Nhân của người Việt tỵ nạn cộng sản, đã qua đời, hưởng thọ 84 tuổi. Thứ Sáu, 27 tháng 3, lễ Quốc Táng tiễn đưa Ông về cõi vĩnh hằng đã được cử hành trọng thể tại Scots' Church, Melbourne, trong niềm thương tiếc vô hạn của hơn 3000 người hiện diện trong, ngoài nhà thờ, cùng hàng chục triệu người trên khắp nước Úc.

Tham dự lễ Quốc Táng, ngoài thân nhân, bằng hữu, còn có Thủ Tướng Tony Abbott, lãnh tụ đối lập Tanya Plibersek, các cựu Thủ Tướng John Howard, Paul Keating, Julia Gillard; cùng đông đảo chính giới tiểu bang, liên bang, và truyền thông.
Image
Cộng đồng người Việt tại Úc tham dự lễ tang trước khuôn viên nhà thờ Scott’s để nói lời chào tạm biệt đến”vị cha già” Malcolm Fraser.
​Đặc biệt, đại diện CĐNVTD Liên Bang Úc, Tiểu Bang Victoria cùng đông đảo người Việt từ nhiều tiểu bang trên nước Úc cũng về tham dự trong nỗi đau xót, tiếc nuối, được thể hiện qua những tấm banners thật lớn của CĐNVTD, với những dòng chữ: YOU ARE FOREVER IN OUR HEARTS - REST IN PEACE OUR "FATHER" AND "SAVIOUR" - FAREWELL TO OUR TRUE CHAMPION OF HUMANITY: MR. FRASER... Nhiều người Việt ôm di ảnh cựu Thủ Tướng Fraser trong lòng cùng quốc kỳ Úc, Việt hai bên, đã xúc động không cầm được nước mắt... Theo dõi lễ Quốc Táng qua truyền hình, nhiều gia đình người Việt đã bùi ngùi thổn thức vừa nhớ lại những thảm kịch trên đường tỵ nạn, vừa biết ơn Thủ Tướng Fraser và chính phủ, nhân dân Úc đã cưu mang giúp đỡ trong những ngày tháng đầu định cư...


Tham gia đảng Tự Do khi chủ nghĩa cộng sản bành trướng cùng với tội ác, mới ở tuổi ngoài 20, Malcolm Fraser đã tuyên bố: Chủ nghĩa CS chỉ dành cho người máy; nó không bao giờ phù hợp với tự nhiên và con người. Đắc cử Dân Biểu liên bang năm 1955 khi mới 25 tuổi, cựu Thủ Tướng Fraser đã sớm có niềm tin vững chắc: Chủ nghĩa cộng sản, dưới bất cứ hình thức nào, cũng là hiện thân của cái ÁC và là hiểm hoạ cho nhân loại. Vì vậy, Thế Giới Tự Do phải có bổn phận hoá giải chủ nghĩa cộng sản bằng mọi cách, kể cả bạo lực.

Khi CS Hà Nội xua quân xâm lăng Miền Nam, Dân Biểu Fraser là một trong những người tích cực hậu thuẫn chủ trương ngăn chặn làn sóng Đỏ, của Thế Giới Tự Do, do Hoa Kỳ lãnh đạo. Ông cũng sáng suốt cho rằng, để có thể ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa CS một cách hữu hiệu, Úc cần gia tăng ngân sách quốc phòng và mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và Đông Á. Với đường lối chủ động chống cộng và tầm nhìn chiến lược về Chiến Tranh Lạnh, năm 1966, Ông được bổ nhiệm làm Tổng Trưởng Quân Lực Úc (Minister for the Army), và năm 1969, làm Tổng Trưởng Quốc Phòng Úc, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành quân đội Úc tham chiến chống CS Hà Nội xâm lăng, bảo vệ tự do cho Miền Nam.

Ngày 11 tháng 11 năm 1975, khi cuộc khủng hoảng hiến pháp Úc đi đến bế tắc, Tổng Thống Đốc John Kerr tuyên bố bãi nhiệm Thủ Tướng Gough Whitlam của đảng Lao Động; và Malcolm Fraser, trong tư cách lãnh tụ Liên Đảng, trở thành Thủ Tướng Úc lâm thời. Ngay sau đó, trong cuộc bầu cử liên bang vào tháng 12.1975, Ông đã lãnh đạo liên đảng Tự Do-Quốc Gia (Liberal-Country) đạt được chiến thắng vẻ vang nhất trong lịch sử nước Úc, giành được 91 trong số 127 ghế tại Hạ Viện, mở đường cho Ông, vị Thủ Tướng thứ 22 của Úc, tiếp tục chiến thắng thêm hai nhiệm kỳ, tạo điều kiện thuận lợi cho chính phủ Liên Đảng ổn định và phát triển quốc gia qua một loạt cải cách quan trọng về kinh tế, quân sự, văn hoá, ngoại giao. Đặc biệt, trong chính sách đất đai cho Thổ Dân, Ông đã thành công thông qua Aboriginal Land Rights Act vào năm 1976; trong chính sách đa văn hoá, năm 1977, Ông cho thành lập Hội Đồng Sắc Tộc Sự Vụ (Australian Ethnic Affairs Council), với vai trò cố vấn chính phủ về đường lối quốc gia; và năm 1980, Ông cho thành lập đài phát thanh đa ngôn ngữ SBS, đáp ứng nhu cầu thông tin văn hoá của các cộng đồng sắc tộc tại Úc.

Tại buổi lễ khánh thành đài SBS, Ông đã khai mở một xu hướng mới vô cùng quan trọng trong chính sách đa văn hoá của quốc gia, qua lời tuyên bố: "Chúng ta từng quan niệm, muốn trở thành một người Úc thực sự yêu nước Úc, chúng ta phải cắt bỏ mọi ràng buộc với tổ quốc quê hương của mình. Nghĩ như vậy là sai và luôn luôn sai". Ông cũng khẳng định, sự đa dạng của một xã hội đa chủng tộc không hề tạo nên sự phân hoá; trái lại, sự phân hoá chỉ bắt nguồn khi sự đa dạng chủng tộc bị xã hội ruồng bỏ và áp bức.

Sau khi giã từ chính trường vào tháng 5 năm 1983, Malcolm Fraser tiếp tục giữ những chức vụ quan trọng trong những tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, và luôn luôn ủng hộ chính sách Đa Văn Hoá của Úc, thẳng thắn phê phán chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc One Nation của Pauline Hanson, đồng thời phản đối đường lối, chính sách thiếu nhân đạo đối với người tỵ nạn của chính phủ liên bang, dù là Lao Động hay Tự Do. Chính thái độ thẳng thắn và độc lập của Ông đã tạo nên những rạn nứt ngày càng trầm trọng giữa Ông và đảng Tự Do, để rồi năm 2010, Ông quyết định ra khỏi đảng.

​Một trong những thành công quan trọng nhất khiến Thủ Tướng Malcolm Fraser và cả nước Úc tự hào, là chính sách tiếp nhận và định cư 56,000 người Việt tỵ nạn cộng sản, trong thời gian từ 1975 đến 1982. Quyết định của Thủ Tướng Malcolm Fraser khi đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng trăm ngàn người Việt tỵ nạn được Úc chấp nhận cho định cư suốt thời gian 10 năm sau. Vì vậy, đông đảo người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc đã âm thầm coi Ông như một Đại Ân Nhân.

Trong tấm lòng ngưỡng mộ đặc biệt dành cho Đại Ân Nhân Malcolm Fraser, nhiều người Việt tỵ nạn đã không đồng ý với những nhận định trong bài viết, "Malcolm Fraser was no saint for Vietnamese refugees", của ký giả Greg Sheridan, đăng trên nhật báo The Australian ngày 26 tháng 3 vừa qua. Trong bài báo, ký giả Sheridan đã đưa ra những bằng chứng cho thấy, vào thời đó, Thủ Tướng Malcolm Fraser và chính phủ của Ông đã có những chính sách và lời tuyên bố chống lại việc định cư người Việt tỵ nạn. Sau này, dưới áp lực của Hoa Kỳ và các quốc gia vùng Đông Nam Á, Thủ Tướng Malcolm Fraser mới đồng ý thay đổi chính sách, tiếp nhận ồ ạt người Việt tỵ nạn.

Tuy những bằng chứng trong bài báo là khả tín và lý luận hợp lý, nhưng ký giả Sheridan đã đánh giá Thủ Tướng Malcolm Fraser thuần tuý trong cương vị của một chính trị gia: Nhiều lúc phải nói và phải làm những điều Thủ Tướng Malcolm Fraser không muốn nói, không muốn làm. Trái lại, bằng trái tim mẫn cảm và kinh nghiệm của những nạn nhân cộng sản, người Việt tỵ nạn hiểu Thủ Tướng Malcolm Fraser là một Lãnh tụ chống cộng kiên cường của Thế Giới Tự Do, luôn luôn đồng cảm và sẵn sàng làm tất cả những gì Ông có thể làm cho người Việt tỵ nạn CS. Đó là lý do khiến 2000 người Việt tỵ nạn đến thẳng nước Úc bằng thuyền đã được Thủ Tướng Malcolm Fraser chấp nhận cho định cư. Hiểu như vậy nên đông đảo người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc luôn luôn âm thầm ấp ủ hình ảnh Thủ Tướng Malcolm Fraser trong lòng và coi Ông như một Đại Ân Nhân.

​Hôm nay, tạm biệt Đại Ân Nhân, một trong những lãnh tụ chống cộng kiên cường của Thế Giới Tự Do, người Việt tỵ nạn cộng sản đều thầm hiểu, mọi vòng hoa, mọi nghi lễ, mọi giọt nước mắt, mọi sự thương tiếc... dành cho Ông, chỉ thực sự có ý nghĩa, khi nào người Việt tỵ nạn CS còn tiếp tục đi theo con đường chống cộng của Ông với niềm tin son sắt của Ông: Chủ nghĩa cộng sản, dưới bất cứ hình thức nào, cũng là hiện thân của cái ÁC và là hiểm hoạ cho nhân loại.

Hữu Nguyên

Posted: Mon Mar 30, 2015 7:42 pm
by bobinh
Image

Niềm tin và đam mê

Cao-Đắc Tuấn

- Niềm tin và đam mê là hai ý tưởng liên hệ với nhau trong cuộc sống thực tế. Niềm tin cho ta một đường hướng và mục tiêu rõ rệt, và giúp ta tạo ra hành động cụ thể. Đam mê gia tăng cường độ của hành động này và giúp đạt được mục tiêu một cách hữu hiệu. Trong cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ, bạn nên tạo ra đam mê để nung nấu niềm tin bạn và để đạt mục tiêu nhanh chóng, thí dụ như trong việc ký thư ngỏ cho Chiến dịch Vận động Nhân quyền 2015.

*

Niềm tin và đam mê là đề tài nghiên cứu của nhiều triết gia tôn giáo. Soren Kierkegaard, một triết gia tôn giáo Đan Mạch nổi tiếng, cho rằng niềm tin là một hành động, và hành động này là bước nhảy của đam mê (Moran, 112). Sự liên hệ giữa niềm tin và đam mê cũng nhận được nhiều chú ý. Nhiều triết gia thần học nghiên cứu mối liên hệ này dưới ảnh hưởng của tôn giáo và khoa học (Xem, thí dụ như, Coakley 2012).

Với nhiều người, niềm tin và đam mê chỉ là hai khái niệm hoặc ý tưởng thực tế liên quan đến cuộc sống và không nhất thiết dính líu tới tôn giáo hoặc triết lý cao xa. Thí dụ, tác giả Phan Châu Thành (2015) viết một bài rất hay về niềm tin vay mượn trong ngành giáo dục. Trong bài này, tôi sẽ nói về niềm tin và đam mê trong bối cảnh cuộc sống thực tế, và lấy thí dụ về chiến dịch vận động nhân quyền 2015.

Ý nghĩa của niềm tin:

Niềm tin (faith) là sự tin tưởng không thắc mắc mà không cần chứng minh hoặc bằng chứng. Nên chú ý là niềm tin trong tôn giáo không có cùng định nghĩa như vậy (Reagan). Niềm tin phải có đối tượng. Bạn phải đặt niềm tin vào cái gì. Thông thường, ta kh̀ông cần phải nói ra khía cạnh của đối tượng mà chỉ nói đến đối tượng. Thí dụ, bạn nói, "Tôi có niềm tin vào Thượng Đế," và không cần phải nói chi tiế́t, "Tôi có niềm tin vào lòng bao dung/ sức mạnh vô bờ/ sự thông thái/.../ của Thượng Đế."

Niềm tin có thể đúng hoặc sai, sáng suốt hoặc mù quáng, thật sự hoặc giả tạo, vô vị lợi hoặc trục lợi. Giá trị của niềm tin có tính cách tương đối và tùy vào mỗi người. Thí dụ, đối với người tranh đấu cho tự do dân chủ, niềm tin vào đảng cộng sản Việt Nam là niềm tin mù quáng và sai lầm. Ngược lại, người trung thành với cộng sản thường kết tội niềm tin vào tự do dân chủ là niềm tin giả tạo và trục lợi.

Niềm tin không nhất thiết liên quan đến một khái niệm trừu tượng hoặc cái gì to tát cao cả. Nó có thể cỏn con, cụ thể, hạn hẹp, ích kỷ. Bạn có thể có niềm tin vào đấng Thượng Đế tối cao, vào tình thương yêu nhân loại, vào lòng can đảm của con người, vào công lý của một xã hội tự do dân chủ. Bạn cũng có thể có niềm tin vào sự bền bỉ của chiếc xe cũ kỹ của bạn, vào tài nấu ăn của bạn, vào tình yêu với người phối ngẫu, vào sự thanh bình của một buổi chiều tà.

Niềm tin không nhất thiết vĩnh cửu hoặc bất khả xâm phạm. Nó có thể bị tan vỡ, hao mòn, suy kém. Nó có thể gia tăng, mạnh mẽ dần dần.

Niềm tin có thể đến hoặc hiện hữu từ nhiều nguồn: tự nhiên hoặc sẵn có, hấp thụ qua giáo dục hoặc hướng dẫn, có được qua kinh nghiệm, và có được qua suy luận.

Trong cuộc sống, hầu như ai cũng có, hoặc từng có, niềm tin. Niềm tin có thể được coi là động lực giúp ta tranh đấu, vật lộn với đời. Nó cũng có thể được coi là mục tiêu, giúp ta tìm đường hướng thích đáng. Niềm tin thường liên kết với hành động thể hiện niềm tin đó. Thí dụ, bạn có niềm tin vào tình người, và do đó, bạn đối xử với mọi người với lòng chân thật, nhân ái, và bao dung.

Ý nghĩa của đam mê:

Đam mê (passion) là một cảm xúc, tình cảm, hoặc một sự kích động mãnh liệt với nhiệt tình và thích thú. Chữ "mê" hàm ý một sự "không kiểm soát," "không điều khiển," "không cưỡng lại," "không tự chủ," hoặc "không ý thức," tạo ra bởi một yếu tố nào đó. Thí dụ như: mê gái, mê cờ bạc, mê man bất tỉnh, mê mệt, mê muội, mê hoặc, v.v... Chữ "đam" hàm ý "mang vào," "bỏ bê," "lăn xả vào." "Đam" hàm ý một hành động cố tình. Đi với "mê," "đam" làm gỉảm hoặc làm mất đi ý nghĩa "không tự chủ," "không ý thức" của "mê" mà thay vào đó, hoặc biến nó thành, mức độ mãnh liệt của lòng nhiệt thành hoặc tình cảm.

Đam mê có thể dùng cho một hoạt động tốt như đam mê học hành hoặc cho một hoạt động xấu như đam mê cờ bạc. Ý nghĩa tốt hay xấu tùy vào các chữ dùng liên hệ, hoặc nội dung cả câu.

Đam mê có thể hiện hữu tự nhiên hoặc được tạo ra do yếu tố bên ngoải. Đam mê tự nhiên được tạo ra một cách tự nhiên và không do một ảnh hưởng nào, tuy nó có thể cần một kích động khởi đầu. Thí dụ, tôi mê làm thơ, viết văn, ca nhạc, vẽ, đọc sách từ nhỏ một cách tự nhiên, và không có ai ảnh hưởng hoặc xúi giục tôi. Đam mê tạo ra do một yếu tố bên ngoài đến từ một tiến trình có ý định, do ảnh hưởng bên ngoài thí dụ như ý chí, suy luận. Cũng như niềm tin do suy luận, đam mê có thể được tạo ra bằng cách dùng suy luận, lý trí. Khi một hành động đang diễn ra (thí dụ do bởi niềm tin), bạn có thể tạo đam mê cho hành động đó bằng cách gia tăng phẩm chất hoặc số lượng của hành động.

Tuy nhiên, vì đam mê liên quan đến tình cảm và tâm hồn, dùng suy luận hay lý trí để tạo ra đam mê không thể gượng ép. Một khi bạn ghét làm chuyện gì, cho dù bạn có niềm tin vào sự tốt đẹp của nó và bạn sẵn sàng làm chuyện đó, bạn không thể dối lòng mà thích làm chuyện đó. Thí dụ, bạn có niềm tin vào đi làm kiếm tiền (thay vì đầu tư, buôn bán kinh doanh) để có cuộc sống thoải mái, nhưng bạn rất ghét mỗi ngày phải dậy sớm, bị kẹt xe hàng ngày, vào văn phòng phải đối diện với công việc ngập mặt, đã thế còn phải đối phó với tên xếp lúc nào cũng hoạnh họe. Bảo rằng bạn dùng suy luận hoặc lý trí để tạo ra đam mê cho chuyện đi làm hàng ngày như vậy quả là có phần gượng ẹp và giả tạo. Đương nhiên bạn vẫn đi làm hàng ngày cho niềm tin đó, nhưng bạn không đi làm với đam mê.

Liên hệ giữa "niềm tin" và "đam mê":


Niềm tin ngụ ý mục tiêu, động lực, trong khi đam mê mô tả cường độ của một hành động, hoạt động, hoặc hành vi. Dưới khía cạnh thực tế trong cuộc sống, mọi niềm tin đều dính líu đến hành động vì bạn không thể có một niềm tin mà không có hành động thể hiện cái niềm tin đó. Do đó, niềm tin và đam mê được liên hệ với nhau qua hành động biểu hiện niềm tin. Tùy vào hành động đó, đam mê có thể quan trọng hay không cần thiết.

Dưới một khía cạnh khác, niềm tin có thể được coi là sản phẩm của lý trí và đam mê là kết quả của tâm hồn. Mối liên hệ lý trí-tâm hồn này có thể tương tự như ý của Kierkegaard về bước nhảy của đam mê (Moran, 112).

Không phải hành động nào cũng cần phải có cường độ mạnh mẽ mới đạt được mục tiêu. Đam mê có thể giúp cho hành động có hiệu quả hơn, nhanh hơn, ít tốn kém hơn, hoặc đạt được mục tiêu huy hoàng hơn. Bù lại đam mê có thể đòi hỏi thì giờ chuẩn bị, năng lực, và có thể gây ra tác dụng tiêu cực trên người khác.

Có sự khác nhau giữa hoàn thành một việc và hoàn thành việc đó với hứng khởi hoặc đam mê. Kết quả của hai việc có thể sẽ như nhau, nhưng ảnh hưởng của tiến trình làm việc đó trên chính bạn khác nhau.

Thí dụ, bạn có thể thức cả đêm cặm cụi học bài, và sau đó hiểu thấu đáo bài giảng của thầy. Nhưng bạn coi đó như là một gánh nặng phải đối phó. Ngược lại, nếu bạn có đam mê, bạn cũng có thể thức khuya cả đêm, nhưng không phải để ráng trút bỏ gánh nặng, mà để "thưởng thức" học bài.

Hai việc đó khác nhau ở chỗ nào? Trả lời: Chúng khác nhau một trời một vực.

Với ý tưởng trút bỏ gánh nặng, bạn có thể cảm thấy thoải mái là đã trả xong nợ, nhưng sau đó, bạn sẽ có những bài học kế tiếp và những bài học này tiếp tục là những gánh nặng. Bạn sẽ phải thu hết can đảm, và lập lại mọi cố gắng và nỗ lực để trút bỏ gánh nặng cho những việc sau. Trí tuệ và cơ thể bạn bị căng thẳng, và dễ bị ngã quỵ. Bạn có thể trút được gánh nặng bây giờ, nhưng chưa chắc bạn làm được chuyện đó cho những lần sau. Dần dà, bạn có thể mất nghị lực, và niềm tin của bạn suy giảm, để cuối cùng, bạn chịu không nổi và quyết định bỏ học.

Với ý tưởng "thưởng thức" học bài, bạn sẽ vui vẻ thức đêm học. Bạn có thể vừa huýt gió vừa giải một bài toán, nghe nhạc trong lúc cặm cụi vẽ một biểu đồ, hoặc nhấp nháp ly cà phê trong lúc đọc sách. Những hành động đó làm bạn quên đi sự mệt nhọc, đầu óc bạn được sáng suốt, vì bạn không phải lo lắng là có sẽ trút được gánh nặng hay không. Vì không bị căng thẩng bởi nỗi lo sợ trút bỏ gánh nặng, tinh thần và cơ thể bạn được thoải mái, và bạn có thể hoàn tất việc nhanh hơn.

Do đó, thực hiện một hành động phục vụ cho niềm tin với đam mê luôn luôn đem lại kết quả tốt đẹp hơn là không có đam mê.

Câu hỏi quan trọng là ta có thể tạo ra được đam mê không?

Như trình bày ở trên, nếu bạn đã ghét làm chuyện gì (cho dù bạn có niềm tin về chuyện đó), thì bạn không thể cố tạo ra một đam mê giả tạo để làm chuyện đó. Cái giả tạo chỉ càng làm bạn khó chịu bực bội, và còn tạo ra căng thẳng tinh thần và vật chất, còn tệ hơn là bạn không có đam mê. Bạn không thể nào tự dối lòng mà ca hát hoặc huýt gió trong lúc bị kẹt xe (nếu bạn thiệt là ghét bị kẹt xe), hoặc tươi cười chào đón, hỏi han tên xếp với mặt như con heo mà bạn rất ghét. Không phải lúc nào bạn cũng cần có đam mê để làm một chuyện mà bạn ghét (dù bạn có niềm tin mạnh mẽ). Bạn có thể cho nó một cơ hội để thử xem bạn có thay đổi được không, nhưng bạn không thể tiếp tục giả tạo mãi mãi.

Tuy nhiên, nếu bạn không ghét làm chuyện đó, và tuy bạn chưa thích làm chuyện đó, bạn có thể biến cái "không ghét và chưa thích" đó thành "đam mê," để tạo lửa cho hành động của niềm tin bạn. Tất cả chỉ tùy vào sức mạnh của lý trí và suy luận. Dưới khía cạnh này, niềm tin và đam mê có thể tương tác lẫn nhau để càng lúc càng lớn mạnh.

Nếu bạn có niềm tin, dù chỉ mới khởi đầu, và bạn "không ghét và chưa thích" hành động cho niềm tin đó, thì bạn nên tự cho mình một cơ hội để bạn phát huy nỗi đam mê cho niềm tin đó. Vì chỉ có cách đó, bạn mới có thể hiểu con người của bạn. Ngoài ra, bạn sẽ có dịp thử lại hoặc đánh giá niềm tin của bạn. Nếu bạn không thể tạo được đốm lửa đam mê, bạn vẫn có thể giữ niềm tin và tiếp tục theo đuổi con đường phục vụ cho niềm tin đó.

Thế nào là tự cho mình một cơ hội?

Đó là tự tạo cho mình sự đam mê trong hành động phục vụ niềm tin. Khác với giả tạo, bạn không đóng kịch để làm ngược lại ý thích (hoặc đúng hơn, ý ghét) của bạn, vì bạn "không ghét và chưa thích" hành động đó. Tự tạo cho mình một cơ hội là tạo ra nhiều hành động khác nhau hoặc gia tăng cường độ hành động mình phục vụ cho niềm tin.

Hãy tạo đam mê cho chính bạn trong chiến dịch Nhân quyền 2015:

Lấy một thí dụ điển hình trong chiến dịch Vận động Nhân quyền năm 2015. Bạn đọc những bài viết, nghe những lời kêu gọi, và xem những khúc phim vận động. Bạn có niềm tin vào chiến dịch đó, tuy niềm tin đó không mãnh liệt lắm, nhưng đủ để cho bạn quyết định ký lá thư ngỏ với niềm tin là sẽ có được 100.000 chữ ký vào khoảng tháng 5, 2015.

Hành động đó là một hành động bình thường như mọi người khác hưởng ứng lời kêu gọi hoặc ủng hộ phong trào dân chủ. Có thể chiến dịch sẽ đạt được 100.000 người ký. Có thể không. Việc đạt được 100.000 người ký thực ra không ảnh hưởng nhiều về các hoạt động dự trù như biểu tình, tọa kháng, thắp nến. Con số 100.000 đặt ra chỉ là một con số cho là lớn đủ để tạo "khí thế" cho chiến dịch hoạt động trên đường phố.

Chúng ta không thể tiên đoán được sẽ có bao nhiêu người ký. Chúng ta có niềm tin, nhưng niềm tin không bảo đảm thực tế. Chính vì tính chất không tiên đoán được tương lai mà chúng ta phải cố gắng tối đa trong hiện tại để không ân hận về sau.

Để phát huy chiến dịch mạnh mẽ, bạn phải tạo đam mê cho hành động phục vụ niềm tin của bạn. Chỉ có chữ ký một mình bạn không đủ.

Làm cách nào?

Có rất nhiều cách, tùy vào khả năng và tình trạng bạn (thí dụ, trong nước hay hải ngoại). Điểm chính yếu là bạn phải kêu gọi tích cực mọi người tham gia vào việc ký tên. Bạn nên kêu gọi gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, thân hữu xa gần tham gia vào việc ký lá thư ngỏ. Robin Dunbar, một học gỉả người Anh nổi tiếng về nhân loại học, đưa ra con số 150 là số người trung bình mà một người có thể duy trì liên hệ xã giao ổn định (Wikipedia 2015). Con số này được đưa ra vào thập niên 1990 và hiện nay có thể cao hơn. Gallup cho biết mỗi người Mỹ có khoảng 9 người bạn thân, không kể họ hàng (Carroll 2004). Nếu mỗi người chúng ta tận dụng việc truyền bá kêu gọi tới tất cả những người ta quen biết vừa đủ, và ai cũng làm như vậy, tổng số người dần dà biết đến chiến dịch này sẽ lên thật cao. Với con số Dunbar, ta có thể đạt được hàng triệu, hàng chục triệu trong một thời gian ngắn của vài tuần. Cho dù với con số của Gallup, chúng ta có thể đạt được hàng trăm ngàn, hàng triệu trong vòng một hai tháng.

Bạn có thể nghĩ ra đủ mọi sáng kiến để tạo lửa cho đam mê của bạn. Đốm lửa đam mê đó sẽ kích động những người khác để họ tham gia và có thể tạo đam mê cho chính họ. Cho dù có người không ký, ít nhất bạn cũng khiến họ ý thức và biết về chiến dịch.

Bạn hãy chuyển e-mail bạn nhận được từ Change.org sau khi bạn ký tới mọi người trong danh sách địa chỉ e-mail của bạn. Nếu bạn nằm trong một nhóm nào đó, thí dụ như Yahoo group, Google group, nhóm cựu học sinh hoặc sinh viên, bạn nên chuyển thư với link của Change.org tới mọi người trong nhóm. Nếu bạn không muốn người ta biết bạn ký, vì bất cứ lý do nào đó, bạn vẫn có thể chuyển e-mail nói về chiến dịch và link dẫn tới Change.org tới mọi người, như bạn đã làm khi bạn chuyển e-mail về câu đùa giỡn, câu chuyện tiếu lâm, hình ảnh đẹp, tin tức hay, v.v.

Nếu bạn có facebook, bạn nên truyền bá trên facebook. Nếu bạn là sinh viên học sinh, bạn có thể kêu gọi sinh viên học sinh Việt Nam trong trường, tổ chức các cuộc họp mặt, thuyết trình. Nếu bạn là phụ huynh, bạn nên nói con em tích cực tham gia và kêu gọi bạn bè tham gia.

Với các bạn ở hải ngoại, bạn có nhiều cơ hội và phương tiện để hun đốt ngọn lửa đam mê mà không cần phải tham gia một hoạt động đoàn thể hoặc cộng đồng, nhất là những nơi có đông người gốc Việt. Bạn hoặc con cháu bạn có thể tổ chức kêu gọi tại các nơi đông người Việt Nam qua lại, như các địa điểm thương mại (nhà băng, chợ búa, v.v...). Bạn có thể in ra hàng trăm giấy kêu gọi, truyền đơn, và phân phát hoặc cài trên xe mọi người. Bạn có thể dùng dịp này để dậy dỗ con cháu bạn giá trị của tự do ngôn luận, dân chủ, đam mê, nguồn gốc Việt Nam, và "fighting for a cause." Có thể bạn sẽ phải bỏ ra một chút ít tiền, nhưng bạn nên coi đó là những đóng góp từ thiện.

Với niềm tin, ta có thể thành công.

Với niềm tin và đam mê, ta có thể đạt thành công to tát hơn, mau lẹ hơn, và có hiệu quả hơn.

Hãy để ngọn lửa đam mê bùng cháy trong niềm tin mạnh mẽ.

Cao-Đắc Tuấn
danlambaovn.blogspot.com

Posted: Thu Apr 02, 2015 4:15 am
by thienthanh
Một chính khách lớn và một người thầy xấu

Nguyễn Hưng Quốc

Mở đầu bài viết tưởng niệm Lý Quang Diệu đăng trên báo The Washington Post, Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ, người được xem là tổng công trình sư về chính sách đối ngoại của Mỹ thời chiến tranh lạnh, nhận định: “Lý Quang Diệu là một vĩ nhân” (Lee Kuan Yew is a great man). Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair, cho Lý Quang Diệu là lãnh tụ sắc sảo nhất mà ông từng được gặp (the smartest leader I ever met). Tổng thống Mỹ Barack Obama cho Lý Quang Diệu là một “người khổng lồ đích thực của lịch sử”, “một hình ảnh truyền thuyết của châu Á trong thế kỷ 20 và 21”.

Những lời khen ấy xuất phát từ ba sự kiện: Thứ nhất, từ góc độ cá nhân, Lý Quang Diệu bao giờ cũng chứng tỏ là một con người thông minh và sâu sắc đủ để chinh phục sự ngưỡng mộ của những người gặp ông và trao đổi với ông. Thứ hai, với tư cách một lãnh tụ, ông đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc biến Singapore từ một hòn đảo nhỏ, nghèo nàn và lạc hậu, một cựu thuộc địa của Anh và là một trong những địa phương khiêm tốn trong Liên bang Malaysia, trở thành một quốc gia tiên tiến và giàu có, có thu nhập trên đầu người cao hơn hẳn Malaysia và cả nước Anh. Thứ ba, với tư cách một chính khách, Lý Quang Diệu đã có những ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi thế giới. Mặc dù người ta không gắn sau tên ông chữ “ism”, kiểu chủ nghĩa Lý Quang Diệu (Lee-ism) như người ta từng làm với Reaganism hay Thatcherism, nhưng giới nghiên cứu chính trị đều đồng ý Lý Quang Diệu có một quan niệm riêng, một chiến lược riêng trong việc xây dựng và phát triển đất nước khác hẳn các chính khách khác. Chiến lược ấy được rất nhiều nhà lãnh tụ rải rác trên thế giới ngưỡng mộ và bắt chước.

Với những ảnh hưởng ấy, Lý Quang Diệu được xem là một bậc thầy có tầm quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21. Tư cách bậc thầy ấy thể hiện qua hai khía cạnh chính: Một là những chính sách cụ thể mà Lý Quang Diệu sử dụng một cách hữu hiệu để xây dựng Singapore thành một cường quốc và hai là những chiến lược ông sử dụng để xây dựng bộ máy cai trị tại đất nước của ông. Ở khía cạnh thứ nhất, nói theo lời của Thủ tướng Anh David Cameron, Singapore là một trong những “câu chuyện thành công vĩ đại” (one of the great success stories) của thời hiện đại. Ở khía cạnh thứ hai, nói theo lời Tổng thống Obama, “không ít lãnh tụ thuộc thế hệ này cũng như các thế hệ trước xin những lời khuyên của ông” trong vấn đề cai trị.

Ở cả hai khía cạnh vừa nêu, bậc thầy Lý Quang Diệu để lại những di sản vừa tốt vừa xấu.

Tốt ở nhiều điểm: Ông mang lại niềm tự tin cho nhiều lãnh tụ về quá trình xây dựng đất nước của họ sau những thời gian dài chiến tranh hoặc lệ thuộc; ông khuyến khích mọi người quan tâm đến lãnh vực giáo dục cũng như chính sách chiêu hiền đãi sĩ trong quá trình hiện đại hoá đất nước; ông nêu bật lên tầm quan trọng không thể thay thế được của một nền quản trị minh bạch và hiệu quả; ông nhấn mạnh đến việc bài trừ tham nhũng; ông dạy người ta tinh thần thực tế và thực dụng, không bám víu một cách mù quáng và nô lệ vào các lý thuyết hay các thứ chủ nghĩa, đặc biệt chủ nghĩa cộng sản, v.v…

Nhưng di sản xấu của Lý Quang Diệu cũng không ít.

Thứ nhất, ông tạo nên một mô hình phát triển nguy hiểm.

Trước, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều cho dân chủ là một trong những tiền đề tiên quyết của phát triển. Sự thành công của chủ nghĩa tư bản, ở lãnh vực kinh tế cũng như chính trị, cao hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội vốn cuối cùng bị sụp đổ vào đầu thập niên 1990, là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản có tự do hơn. Tính chất tự do và dân chủ của chủ nghĩa tư bản không phải chỉ xuất phát từ những nguyên tắc nhân quyền chung chung mà còn xuất phát từ một thực tế: chúng khuyến khích óc sáng tạo và tinh thần cạnh tranh lành mạnh của mọi người, một nhân tố quan trọng để đất nước càng ngày càng tân tiến và thịnh vượng.

Sau, với sự thành công của Singapore, người ta thấy có một khả năng lựa chọn khác: một đất nước có thể tiến bộ vượt bậc mà không cần phải dân chủ hoá. Người ta gọi đó là một nền “độc tài mềm” (soft dictatorship) hoặc “chủ nghĩa tư bản chuyên chế” (authoritarian capitalism) mà Singapore là một tấm gương tiêu biểu nhất.

Điều đó giải thích tại sao lãnh tụ của rất nhiều quốc gia độc tài tìm đến với Lý Quang Diệu, xem Lý Quang Diệu như một cố vấn đáng tin cậy. Một trong những người ấy là Đặng Tiểu Bình. Cuối thập niên 1970, sau cái chết của Mao Trạch Đông và sau khi đánh dẹp “bè lũ 4 tên”, Đặng Tiểu Bình xem Singapore như một mẫu mực ông noi theo để vừa có thể hiện đại hoá Trung Quốc vừa có thể giữ được tính chất độc tôn của đảng cộng sản như điều Lý Quang Diệu đã làm với đảng Hành Động Nhân Dân của ông. Để học bài học của Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình đã gửi hàng chục ngàn cán bộ các cấp sang Singapore học tập. Ông cũng mời Lý Quang Diệu sang thăm Trung Quốc cả hang chục lần. Ngày Lý Quang Diệu qua đời, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố khen ông là một “chính khách có ảnh hưởng độc nhất ở châu Á và là một nhà chiến lược kết tinh được những giá trị đông phương và một viễn kiến mang tính quốc tế”. Ảnh hưởng của Lý Quang Diệu trên Trung Quốc lớn đến độ có người cho ông chính là “cha đẻ của Trung Quốc hiện đại” (“Lee Kuan Yew: The Father of Modern China?”)

Ngoài Đặng Tiểu Bình và các lãnh tụ khác ở Trung Quốc, Lý Quang Diệu còn có một số người khác rất ngưỡng mộ ông và muốn noi theo gương của ông, trong số đó, đáng kể đầu tiên là Vladimir Putin, người đã tặng cho Lý Quang Diệu một huân chương danh dự để bày tỏ sự tôn kính đối với những đóng góp lớn lao của Lý Quang Diệu trên phạm vi thế giới. Ở Georgia, Mikhail Saakashvili cũng xem Lý Quang Diệu như một thần tượng, sách của Lý Quang Diệu được dịch, in, lưu hành và đọc như những cuốn kinh thánh. Ở Ukraine, Viktor Yanukovych cũng rất sùng bái Lý Quang Diệu và xem Singapore như một mô hình để xây dựng đất nước của ông.

Nói một cách vắn tắt, ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ Trung Quốc đến Nga và một số quốc gia cựu cộng sản khác đều xem Singapore như một bài học lớn, ở đó, người ta, một mặt, có thể phát triển, mặt khác, vẫn tiếp tục duy trì một nền chính trị hà khắc, trên sự thống trị của một đảng duy nhất.

Di sản nguy hiểm thứ hai của Lý Quang Diệu là ông tạo cho người ta cái ảo tưởng là có những nền văn hoá thích hợp với dân chủ và có những nền văn hoá thì không. Nền tảng quan trọng nhất trong lý thuyết về chính trị của Lý Quang Diệu là quan niệm về các giá trị châu Á (Asian values) vốn, theo ông, khác hẳn với văn hoá Tây phương. Nếu ở Tây phương, người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân thì ở châu Á, người ta đề cao tinh thần tập thể; ở Tây phương, người ta khuyến khích óc cạnh tranh; ở châu Á, người ta tìm kiếm sự đồng thuận. Với những khác biệt ấy, ở Tây phương người ta cần tự do và dân chủ, ở châu Á, người ta có thể hài lòng với một chế độ chính trị nhắm đến việc xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và giàu có.

Quan niệm này của Lý Quang Diệu giúp các chế độc độc tài hoặc bán độc tài ở châu Á cũng như ở Đông Âu biện hộ cho các chính sách độc đoán của họ. Nhiều học giả cho quan niệm của Lý Quang Diệu và huyền thoại Singapore đã có ảnh hưởng tai hại đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, ở đó, chế độ độc tài có thể tiếp tục độc tài hoặc chế độ vừa mới thoát khỏi độc tài cộng sản lại quay sang một chế độ độc tài kiểu mới.

Nói Lý Quang Diệu là một chính khách giỏi nhưng lại là một người thầy xấu là vậy.

Posted: Sat Apr 04, 2015 2:19 am
by MatVit
Image

Chúng ta sẽ về


Leo lên đỉnh gần trời phơi nắng gội
Bước thấp cao tìm lại thuở dựng cờ
Khua mái đẩy vẫy vùng con sóng vội
Ngày đứng lên xẻ núi lấp sông hồ

Bao người trẻ mang gươm mài lịch sử
Ngất ngưởng đi ôm hoài bão ngập trời
Đêm lửa cháy kinh thành mù mịt vỡ
Ta vào rừng chặt gỗ vượt biển khơi

Rồi trăm năm một tấm lòng sỏi đá
Ôm lời nguyền về lấy lại quê hương
Hồn dân tộc ngậm ngùi trời đất lạ
Trọn lời thề dù nát thịt, tan xương

Hồ trường tay rót tràn sao chẳng mỏi
Môi nhấp cuồng chưa từng nhập cơn say
Hồn chất ngất nhìn nhà ai vương khói
Tiếng cha già nhắn gọi tít trời mây

Dấu năm tháng tóc sương chừng đã bạc
Trắng đôi tay vẫn một dạ sắt son
Rủ nhau về dựng những mùa Xuân khác
Mặc thời gian dù nước chảy đá mòn.



Lê Hải

Posted: Tue Apr 07, 2015 5:21 am
by nguyenvsau
Hai sự kiện không dễ gì rửa sạch
Tô Văn Trường
Hai sự kiện ở hai miền đất nước khác nhau về hình thức nhưng đều dẫn đến một phản ứng tức thì, gay gắt của người dân, đó là việc chặt cây xanh ở Hà Nội và lấp sông xây nhà ở Đồng Nai.

Người dân Hà Nội tự nhiên thấy hàng trăm cây xanh to lớn, đẹp đẽ bị đào bới, chặt bỏ. Cảm giác đầu tiên của họ là bàng hoàng, xót xa, sau đó là phẫn nộ khi biết lý do của việc làm đó được những người có trách nhiệm giải thích một cách “tỉnh queo”! Việc chặt cây xanh ở Hà Nội đã bị đình chỉ nhưng hậu quả là người dân mất lòng tin vào năng lực quản trị của những người lãnh đạo thành phố.

Tương tự như vậy ở Đồng Nai, người ta cũng ngang nhiên lấp sông (nói cho chính xác là lấn sông) xây nhà để kinh doanh dịch vụ dưới cái tên mỹ miều là “Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai.”

Diễn biến của dự án này khá phức tạp trong khi Mạng Lưới Sông Ngòi Việt nam (VRN) đề nghị rút giấy phép dự án thì chính quyền Đồng Nai cho rằng, trước khi bắt tay làm dự án phát triển đô thị ven sông, đã nghiên cứu, đánh giá những ảnh hưởng và thực hiện đầy đủ các bước quy định, phù hợp với quy hoạch và các quy định của pháp luật. Đồng thời đã có sự xem xét chấp thuận, thống nhất của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Đồng Nai.

Sơ lược đôi nét chính về dự án

Hệ thống lưu vực sông Đồng Nai liên quan đến 11 tỉnh thành trong khu vực. Sông Đồng Nai (chỉ có phần nhỏ thuộc Campuchia) được coi là con sông nội địa dài nhất của nước ta đi qua thành phố Biên Hòa, rồi chia làm 2 nhánh ôm trọn vùng đất Cù Lao Phố.

Dự án “Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai” được khởi công vào tháng Chín, 2014, với tổng vốn đầu tư hơn 3,200 tỷ đồng với các hạng mục chính như: bờ kè, công viên, dãy nhà phố, cao ốc văn phòng, khách sạn, trung tâm thương mại... Dự án có chiều dài 1.3 km; đoạn xa nhất lấn ra ngoài sông Đồng Nai khoảng hơn 100m.

Theo Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đồng Nai quy hoạch chi tiết 1/500 của phường Quyết Thắng được tỉnh phê duyệt năm 1997, có thể xây dựng kè lấn sông mà không ảnh hưởng nhiều đến dòng chảy, không tạo nút thắt gây ảnh hưởng giao thông và thoát lũ. Năm 2008, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Đồng Nai ký hợp đồng với Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam để đánh giá tác động dòng chảy theo mục tiêu kè lấn sông. Sau một năm nghiên cứu, đánh giá đã kết luận việc chỉnh trị bờ trái sông Đồng Nai nằm giữa cầu Hóa An và cầu Ghềnh, sẽ không ảnh hưởng đến vùng dự án và khu vực lân cận.

Đến nay, dự án thực hiện đầy đủ thủ tục phê duyệt quy hoạch chi tiết, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, chấp thuận đầu tư, cấp giấy phép xây dựng và đang được thực hiện đúng tiến độ được duyệt.

Luận cứ khoa học

Bất kể một dòng sông nào thì vận động của nó đều tuân theo 1 quy luật đặc thù: đó là quy luật về hình thái. Trong toán học, để có một kết quả tích số là 100, ta có thể có vô số phép nhân có nghĩa. Nhưng để có một lòng sông ổn định có diện tích mặt cắt ngang 100m2 thì chỉ có một cặp duy nhất về trị số chiều rộng sông và độ sâu dòng chảy (ví dụ là 50m x 2m) là bảo đảm cho lòng sông đó ổn định được dưới tác động của một chế độ dòng chảy nhất định mà thôi.

Người ta không thể cưỡng bức dòng sông tuân theo sự sắp đặt chủ quan của con người. Chỉnh trị sông cũng như dạy thú dữ làm xiếc, nếu dạy theo 1 phương pháp khoa học, thì con thú có thể được thuần phục làm trò để mua vui cho mọi người, nhưng nếu dạy thú theo 1 phương pháp trái quy luật của thú thì nó có thể quay lại trả thù con người, thậm chí trả thù rất tàn bạo. Những ví dụ để minh chứng cho điều đó đã có rất nhiều trong thực tế.

Sông Đồng Nai đã được hình thành từ ngàn năm, hình thái của nó trên mặt bằng, trên mặt cắt ngang, trên mặt cắt dọc đã được định hình theo nguyên tắc hình thái ổn định động để phù hợp với các điều kiện về dòng chảy, địa chất, địa hình tại chỗ. Sự thay đổi hình thái tại 1 vị trí nào đó sẽ kéo theo một phản ứng dây chuyền về bờ đối diện, về thượng lưu, và cả về hạ lưu.

Đoạn lấn bờ sông Đồng Nai nằm ở bờ lõm của sông, tức là ở phía có chủ lưu áp sát, ở đó sông sâu, nước xiết, mọi tác động đều tạo ra phản ứng rất nhạy cảm. Điều chỉnh lại đường bờ sẽ là cho lưu tốc phân bố lại theo phương ngang, kéo theo sự biến hình mặt cắt ngang, tức là dẫn đến sự sạt lở mạnh mẽ bờ đối diện.

Tác động trực tiếp nhất là làm thay đổi tỉ lệ phân lưu giữa 2 nhánh sông tại Cù Lao Phố. Điều đó, sẽ ảnh hưởng tức khắc đến an toàn của các cầu Rạch Cát, Hiệp Hòa ở đầu lạch trái, nghiêm trọng hơn là an toàn của Cầu Ghềnh, cầu Bửu Hòa ở đầu lạch phải. Tất nhiên, biến động có thể xẩy ra là lạch trái có thể bị lấp, lạch phải mở rộng, đào sâu thêm, đấy là chưa kể đến việc ảnh hưởng thoát lũ do thu hẹp mặt cắt sông vv...Không có mô hình tính toán thủy lực dù là 1 chiều - 2 chiều hay mô hình vật lý nào có thể phản bác được các lý lẽ nói ở trên.

Sai lầm không thể biện minh

Sông Đồng Nai là con sông liên tỉnh, có Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai. Quản lý lưu vực sông là trách nhiệm chủ yếu của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường và Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn.

Có ý kiến cho rằng dự án này đã vi phạm quy định hành lang thoát lũ theo Luật Đê Điều. Khách quan, nhận xét lý lẽ này không thuyết phục vì trong phạm vi dự án không có đê. Sai lầm lớn nhất, không thể biện minh của dự án chính là vi phạm Luật Tài Nguyên nước đã được Quốc hội khóa 13 phê duyệt năm 2012.

Khoản 22, Điều 2 ghi rõ “Hành lang bảo vệ nguồn nước là phần đất giới hạn dọc theo nguồn nước hoặc bao quanh nguồn nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.”

Khoản 5, Điều 9, các hành vi bị nghiêm cấm, “Khai thác trái phép cát, sỏi trên sông suối, rạch, hồ chứa, khai thác khoáng sản, khoan đào, xây dựng nhà cửa và kiến trúc công trình và các hoạt động khác trong hành lang bảo vệ nguồn nước gây sạt lở bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng uy hiếp hành lang bảo vệ nguồn nước đến sự ổn định an toàn của sông, suối, kênh rạch, hồ chứa.”

Nếu lãnh đạo tỉnh, bộ phận tham mưu, doanh nghiệp và cả nhà khoa học chịu khó đọc và hiểu Luật Tài Nguyên Nước thì chắc chắn không ai dám phạm luật để tiến hành nghiên cứu và xây dựng dự án này!

Tôi cũng vừa mới đọc báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai, quy mô 8,4 ha” phải nói làm công phu, nhiều luận cứ dựa trên tính toán mô hình nhưng các tác giả quên rằng nội dung mới chỉ đánh giá tác động do xây dựng ở bề mặt, bỏ qua phần cốt lõi là không làm động môi trường do lấn sông và thay đổi mặt cắt ướt dưới lòng sông. động môi trường cũng không có các biện pháp giảm thiểu do tác động xấu gây ra. Đây không phải là báo cáo theo đúng nghĩa động môi trường của dự án, mặc dù đã được Hội Đồng Khoa Học thông qua.

Mặt khác, theo quy định báo cáo động môi trường thuộc phạm vi của tỉnh phê duyệt nhưng chỉ khi công luận lên tiếng thì địa phương mới nộp báo cáo ĐTM và quyết định phê duyệt cho Bộ Tài Nguyên & Môi Trường.

Dự án đã được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh phê duyệt đầu tư, quy hoạch 15 ha nhưng dự án thực hiện chỉ 8,4 ha, trong đó 7,2 ha (hơn 90%) là san lấp mặt nước sông Đồng Nai. Lý do nêu ra là không đủ vốn, nên xin và được duyệt dự án trên phần diện tích 8,4 ha gần như không phải đền bù của 15 ha đã được quy hoạch.

Tại sao việc đầu tư dự án làm phát sinh yêu cầu phải di dời vị trí trạm bơm lấy nước cấp cho sinh hoạt ra phía sông lại do nhà nước đầu tư (60 tỷ đồng) chứ không phải bằng tiền của dự án (tiền của chủ đầu tư)?

Như vậy, dự án thực hiện, phần diện tích còn lại của quy hoạch càng trở nên xương xẩu, khó mà tin rằng sẽ được nhà đầu tư khác tiếp tục đầu tư vì hiệu quả kém. Nếu sau này lại do nhà nước đầu tư thì rõ ràng đây là trò móc túi tinh vi v.v...

Lời kết

Về mặt khoa học kỹ thuật còn có thể tranh luận nhưng chiểu theo đúng Luật Tài Nguyên Nước thì rõ ràng dự án đã vi phạm vào hành vi nghiêm cấm không được làm (Khoản 5 - Điều 9).

Từ sự kiện chặt cây xanh ở Hà Nội đến việc lấp sông Đồng Nai làm dự án đều thể hiện “lỗ hổng” trong tư duy và năng lực quản trị của chính quyền địa phương dù mức độ có khác nhau nhưng đều là vết nhơ không dễ gì rửa sạch!

Posted: Tue Apr 07, 2015 7:14 am
by tiendung



NHÌN LẠI 40 NĂM QUỐC HẬN


Ý Dân
Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu 40 năm Quốc Hận không những của nhân dân miền Nam VN mà là của toàn dân Việt.

Nhìn lại những diễn tiến kể từ khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm được miền Nam VN vào ngày 30-4-1975 thì toàn dân phải sống dưới một chế độ độc tài đảng trị, mọi quyền tự do căn bản bị bóp nghẹt, đời sống của hàng triệu người dân lâm vào cảnh đói nghèo, sinh mạng thì luôn bị công an đe dọa. Trong khi ấy thì lãnh thổ và lãnh hải của đất nước lần lượt bị rơi vào tay của Trung Cộng.

Sau khi chiếm được miền Nam do lệnh của quan thầy Trung Cộng và Liên Xô, bọn lãnh đạo đảng CSVN thay vì nghĩ đến tình đồng bào, vì tương lai của đất nước nên hợp tác cùng nhân dân miền Nam kiến thiết đất nước sau 20 năm chiến tranh điêu tàn thì bọn chúng lại ra tay trả thù và đầy đọa hàng triệu quân dân cán chính của miền Nam VN. Chúng lùa quân dân cán chính miền Nam vào các trại tù khổ sai từ Nam đến Bắc từ vài tháng cho đến hàng chục năm lao tù.Đồng thời cày nát bao ngôi mộ của các tử sĩ của QLVNCH. Hậu quả làm tan nát bao gia đình, giết hại bao nhân tài và tạo sự hận thù giữa người dân và bọn lảnh đạo ngày càng thêm sâu đậm.

Quá chán ngán chệ độ vô nhân CSVN, hàng triệu người Việt cả miền Nam và miền Bắc liều mình vượt biên, vượt biển đi tìm sự tự do tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hành trình đi tìm sự tự do nầy đầy đau thương và nước mắt. Hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên biển Đông. Người sống sót thì phải chịu đói khát,bị cướp bóc và nhiều phụ nữ Việt bị bọn hải tặc hãm hiếp đến chết.

Càng ngày toàn dân Việt ở trong nước và hải ngoại thấy rõ bộ mặt thật của bọn lãnh đạo đảng CSVN. Họ chỉ là một bọn cướp, một bọn tay sai của Trung Cộng. Chúng cướp đất của dân oan, thi hành chế độ công an trị, tuyên truyền dối trá, tước đoạt mọi quyền tự do chính trị, quyền tự do tín ngưỡng ,quyền tự do phát biểu của người dân .

Trái với lời tuyên truyền của chủ thuyết Cộng Sản , lớp công nhân, thợ thuyền, nông dân được xem là lực lượng nồng cốt của chế độ Cộng Sản thì ngày càng bị bọn lãnh đạo bóc lột và lâm cảnh nghèo túng. Sự kiện nầy gây nên cảnh thương tâm cho bao thiếu nữ Việt phải bị đưa đi làm lao nô các nơi và chịu sự nhục nhã làm nô lệ tình dục cho các ngoại kiều.

Trong khi ấy,các cấp lãnh đạo CSVN từ trung ương đến cấp địa phương do tham nhũng mà tài sản của bọn chúng lên đến hàng trăm triệu hay hàng tỷ mỹ kim tạo thành một tầng lớp tư bản đỏ sống xa hoa .

Quê hương VNì không may bị một bọn học vấn dốt nát lãnh đạo,vì theo đuổi một chủ thuyết Cộng Sàn không tưởng, lỗi thời và nhất là làm tay sai cho Trung Cộng mà đất nước càng ngày càng bị thụt lùi, lâm vào cảnh chậm tiến và có cơ bị mất nước.

Ngày nay, hàng triệu người dân Việt đã thấy rõ bộ mặt thật bán nước của tập đoàn lành đạo CSVN. Từ Công Hàm bán nước do Phạm Văn Đồng ký vào năm 1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên quần đào Hoàng Sa. Các hiệp ước do cấp lãnh đạo CSVN ký vào các năm 1999 , 2000 đã dâng cho Trung Cộng hàng trăm dặm lảnh hãi và lảnh thổ của đất nước. Ngày nay Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc đã thuộc về Trung Cộng. Đặc biệt , đảng CSVN lại đê hèn đàn áp những cuộc biểu tình của người dân đòi Trung Cộng phải hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho VN thì lại im lặng trước những sự đánh đập các ngư dân VN cùng sự xâm lấn của Trung Cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vua Napoleon của Pháp đã nói: "Một quốc gia cần có một dĩ vãng tự hào, một hiện tại kiêu hãnh và một tương lai hy vọng " . Dân tộc Việt Nam với một quá khứ oai hùng do công lao dựng nước và giữ nước của tổ tiên. Thế nhưng kể từ khi Hồ Chí Minh cùng bọn lãnh đạo đãng CSVN lên cầm quyền tại Bắc Việt vào năm 1945 và sau ngày 30-4-1975 đã đem đất nước vào cảnh nộ lệ ngoại bang, nhân dân lâm vào cảnh bần cùng và mất hết quyền tự do. Chính vì thế mà hiện tại ,VN phải lâm vào cảnh đen tối và tương lai của đất nước thì vô vọng.

Thật là chí lý và thắm thiết khi người dân đã đặt hai câu vè khi bọn CSVN thay đổi hai con đường Công Lý bằng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do của Sàigòn thành đường Đồng Khởi như sau:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Một đất nước không còn nền Công Lý và mọi người dân bị tước đoạt mọi quyền Tự Do thì quả thật là một tai họa. Ngày 30-4-1975 không là một ngày Giải Phóng như bọn CSVN tuyên truyền mà chính là Ngày Quốc Hận của toàn dân Việt vậy./

Ý DÂN

Posted: Wed Apr 08, 2015 6:33 am
by thienthanh
Biết cười, cũng cần biết nhục
Ngô Nhân Dụng
Dân Hà Nội đang truyền miệng một bài đồng dao (bài hát của trẻ em) mở đầu bằng mấy câu:

“Hay nói ầm ĩ là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu là con chó vện
Nhanh hơn cả điện là chặt cây xanh
Giải thích loanh quanh: Ủy Ban Thành Phố
Họp báo nhí nhố là lão Quốc Hùng
Ăn nói như khùng là anh Tuyên Giáo

Bài này không ghi tên tác giả (Khuyết Danh), xuất hiện trên Facebook của Nguyễn Lân Thắng. Hai câu đầu là thơ Trần Ðăng Khoa, dân Hà Nội theo truyền thống Ba Giai (Nguyễn Văn Giai) đã đặt thêm, thành một bài dài, vừa đọc cho nhau nghe vừa sửa chữa thành nhiều bản. Xin trích dẫn mấy đoạn sau để đồng bào khắp bốn biển năm châu được nghe tiếng cười của người Hà Nội:

Hứa rồi bội ước: Tấn Dũng mồm to
Nhắm mắt gật gù: Mấy quan nghị gật
Như con lật đật là mấy thằng dân
Mặt méo mày nhăn là người lao động

Mồm to, miệng rộng: Ðám dư luận viên
Thay đổi triền miên: Luật và quần lót
Làm xấu nói tốt: Báo cáo hàng năm
Nói như thằng hâm là anh Hùng hói

Sợ Tàu hỏi tội, là Phùng Quang Thanh
Lạy giặc làm anh, là lão Trọng Lú
Chén anh chén chú, là đám quan tham
Ngớ ngẩn quanh năm là Ban Tư Tưởng

Ăn nằm vất vưởng là cụ dân oan
Suốt ngày khóc than là bà mất đất
Ngai vàng ngây ngất, Tổng Mạnh về hưu
Vẽ vượn, bày hươu “Hội đồng lú lẫn”

Dân nghèo mạt kiếp, nhờ đảng tiên phong
Suốt ngày long nhong, làm thuê các nước...
Chỉ một mơ ước, đủ ăn hàng ngày
Cho hết kiếp này, cuộc đời ông chủ.

Tuy bài đồng dao trên xuất hiện ở Hà Nội nhưng phong cách lại giống mấy bài “hát lô tô” rất quen thuộc với người miền Nam. Trong Nam vẫn có lối đặt vè, như:

Nghe vẻ nghe ve - Nghe vè Quản Rớt,
Mặt tuồng ăn ớt - Làm bộ hơi lanh,
Nghe hơi tiêu hành - Lò mò đi tới.
Làm tuồng khách quới - Mà chẳng ai ưa,
Uống rượu say sưa - Tiền không nhứt điếu.
Bây giờ mới hiểu - Là đứa bãi buôi,
Làm chức lôi thôi - Là Hương Quản Rớt.

Những câu vè này để lại cái tên “Quản Rớt” cho đời sau biết đến, cũng như bài “đồng dao” mới ở Hà Nội sẽ lưu truyền những tên tuổi “bãi buôi” mới như (Nguyễn) Tấn Dũng, Trọng Lú (Nguyễn Phú Trọng), “Như người khác cõi, là lão Tấn Sang,” rồi tới Tổng Mạnh (Nông Ðức Mạnh), Hùng hói (Nguyễn Sinh Hùng) Phùng Quang Thanh, phó chủ tịch thành phố Nguyễn Quốc Hùng, cùng toàn thể cái Hội đồng lú lẫn (Hội đồng lý luận) chuyên nói hươu nói vượn!

Trào phúng là cách người yếu thế tấn công bọn cường quyền. Vì ngôn ngữ là vũ khí duy nhất trong tay dân đen, đứng trước dùi cui và còng số 8. Trong câu nói hàng ngày, người dân đặt ra bao nhiều từ ngữ mới, cách nói mới, tất cả đều là phản ứng chống lại những lời lẽ văn hoa, đao to búa lớn, trịnh trọng, hùng hồn tràn ngập các bài diễn văn, nghị quyết, cương lĩnh của bọn cầm quyền. Những cách nói năng dùng “ngôn ngữ bất hợp pháp,” đặc biệt khi giới trẻ nói với nhau, chủ ý phá phách cả những quy tắc văn phạm, “xé rào” các tiêu chuẩn từ vựng, cho thấy thái độ đối nghịch và phản kháng của người dân trước “ngôn ngữ quan quyền.”

Chúng ta có thể làm bảng “từ vựng phản kháng” của những tù nhân cải tạo trong Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, của giới giang hồ trong tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương, để nghiên cứu “ngôn ngữ phản kháng” trong thời đại họ viết. Dân chúng chán ngấy thứ “văn đóng hộp” trên các tờ “báo đảng” vẫn mô phỏng “văn báo cáo” của công an hoặc các “văn chỉ đạo” của Ban Văn Hóa Tư Tưởng. Chế độ độc tài nào cũng có cái vẻ mặt “nghiêm nghị của các con thú.” Người Ðức dùng thành ngữ “tierischer Ernst” bởi vì họ thấy các loài vật đều có vẻ mặt nghiêm trọng, lúc nào chúng “nghiêm và buồn,” không cười bao giờ cả!

Những bài vè chế nhạo băng đảng cầm quyền cho thấy dân khí đã lên cao, người ta không còn sợ hãi nữa. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu. Mấy chữ “Lạy giặc làm anh” gợi lại tên bài phú “Lạy đá làm anh” của Phan Bội Châu (Bái thạch vi huynh). Ðầu thế kỷ 20, cụ Phan đã nhận xét trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng của tình trạng dân khí thấp: “Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết.” Hai triệu chứng này, hiện giờ đã “thuyên giảm.” Khi thấy cả ngàn gốc cây bị “tàn sát man rợ,” người Hà Nội biết môi trường sống bị phá hoại, một trình độ hiểu biết cao hơn trước. Chấn Dân Khí tức là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Người ta dám đi biểu tình, dám lên tiếng phản đối, tức là bệnh sợ hãi đã nhẹ bớt. Cho nên bài đồng dao còn tố cáo:

Tàn sát man rợ: chủ trương cấp trên
Kiểm điểm liên miên là thằng cấp dưới
Tiền bỏ đầy túi là các quan to
Chịu trận ốm o, mấy anh tẹp nhẹp

Phan Bội Châu cũng mô tả dân khí thấp kém vào 100 năm trước: “...người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Một cách cụ thể hơn: “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.” (Chó nước Thục sủa mặt trời, chó nước Việt sủa tuyết).
Làm sao để chấn hưng dân khí? Cụ Phan nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “(Quan lại) Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.” Phan Bội Châu coi chống tham nhũng, hối lộ là phương tiện. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ.

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức” là hai phương thuốc để phục hồi khí phách dân Việt! Việc thứ nhất là phần người dân. Việc thứ hai là phần quan lại. Việc thứ hai khó hơn. Một chế độ do súng đẻ ra, tồn tại nhờ còng số 8, rất khó “bớt lệnh áp bức!” Người Việt đã biết đây là một chế độ “Hèn với giặc, ác với dân,” cho nên không thể ngồi đó chờ họ “bớt lệnh áp bức!”

Nhưng dân Việt Nam có thể “phản kháng bất bạo động” bằng cách từ chối mọi đòi hỏi hối lộ, bắt đầu bằng dưới lên. Từ chối không hối lộ trong cuộc sống hàng ngày, thà mất thời giờ cái lý, cãi luật chứ không chịu nhục nhã! Muốn cổ động được một phong trào như vậy, trước hết người ta phải nhìn ra rằng hối lộ không phải chỉ là một “chi phí” được tính bằng tiền. Hối lộ là một mối nhục. Chấp nhận phải hối lộ là một thái độ hèn hạ, nhục nhã. Ðưa tiền hối lộ là một hành động hèn hạ, nhục nhã. Không hối lộ mới là người có liêm sỉ.

Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.

Phan Bội Châu viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư ở Huế, mượn tên đảo Lưu Cầu, Riu Kiu, vì số phận dân họ cũng giống dân Việt Nam thời đó. Lưu Cầu vốn là một vương quốc độc lập, không giống dân Nhật. Quốc gia này bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị nhập vào từ năm 1879, đổi tên thành quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay. Người Việt Nam rất xấu hổ trước mối nhục mất nước, nhưng bây giờ còn phải biết cảm thấy nhục nhã khi phải cúi đầu dưới một chế độ tham nhũng khinh dân, nước vẫn còn mà như đã mất rồi!