Page 13 of 180

Posted: Sat Jun 28, 2008 5:53 am
by thienthanh
Hiện tượng và Bản Chất Cộng Sản
Qua Vai Trò Dương Thu Hương


Tôn Nữ Hoàng Hoa
Trong những ngày gần đây cả Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và vùng phụ cận rất bận rộn về việc phản đối phái đoàn Việt Gian CS Nguyễn Tấn Dũng đén Houston để vận động đầu tư, Do đó chúng tôi cũng rất bận rộn trong công việc biểu tình phản đối sự hiện diện của Việt Cộng tại đây nên chưa có cơ hội mạn đàm về lá thư cuả bà Dương Thu Hương với tiêu đề Thư Gởi Anh Chân Tín, LM Phan Văn Lợi và chú Nguyễn Khắc Toàn và trong đó bà DTH có nhắn nhủ những người trong nước rằng:

(Trích) bây giờ chắc anh em trong nước đã hiểu vì sao tôi tuyên bố rứt khoát ly khai với "Cộng Đồng Hải ngoại".

Trước khi mạn đàm về vai trò Dương Thu Hương và tại sao phần đông người Việt Quốc Gia tại Hải ngoại không chấp nhận hiện tựợng Dương Thu Hương cuả CS xin mời qúi vị theo dõi những ý kiến thô thiển cuả chúng tôi góp ý về vấn đề :

Hiện tượng và bản chất cuả CSVN

1. Hiện tượng Hồ Chí Minh giai đoạn lừa bịp thứ nhất cuả Việt Minh Cộng Sản đối với dân tộc Việt Nam.

Khi nói đến hiện tượng tức là chúng ta hay nghĩ về mưa nắng bão lụt vân vân và vân vân nhưng với chiêu bài lừa bịp cuả Việt Cộng thì chúng đào tạo hiện tượng rồi lập đi lập lại để trở thành bản chất. Như trường hợp Hồ Chí Minh. Hiện tượng Hồ Chí Minh đựợc Nga Sô dàn dựng để đem về VN để xây dựng một chủ nghiã ngoại lai trên một đất nước đã có 4000 năm văn hiến trong tinh thần nhân bản.

Hiện tượng Hồ Chí Minh đã được một nhóm thiểu số CS lúc bấy giờ lập đi lập lại để trở thành bản chất lãnh tụ CS qua những huyền thoại cứu nước, huyền thoại cha già dân tộc, huyền thoại "Bác Hồ" yêu trẻ thơ. Những huyền thoại qua "thần tượng" Hồ Chí Minh đã lần lượt đi qua những chiêu bài lừa phỉnh dân tộc như Kháng Chiến Chống Pháp và Đánh Mỹ cứu nước.

Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh sau khi lợi dụng lòng yêu nước cuả dân tộc VN trước vận mệnh đau thương cuả dân tộc qua gót dày đô hộ cuả Pháp để dàn dựng một xã hội chủ nghiã CS trên đất nước VN và đã không ngần ngại dẹp bỏ Đảng Lao Động CS vào thời điễm 1946 để được Pháp giao quyền bảo hô. Sau 90 ngày thành lập Chính phủ Liên Hiệp Hồ Chí Minh đã ra tay chém giết không biết bao nhiêu người Quốc Gia rồi giải tán Chính Phủ Liên Hiệp để trở về bản chất CS ngoại lai.

Khốn nạn nhất là vụ Hồ Chí Minh đã ra lệnh tàn sát hết người Quốc Gia nhất là vụ tàn sát VN Quốc Dân Đảng rồi lại bắt tay với Pháp để bọn thực dân Pháp tiếp tay giết sạch người QG qua sự việc Hồ Chí Minh đã ký Hiệp Định Sơ Bộ vào tháng 3 năm 1946 cho phép Pháp đổ bộ lên Bắc Việt

Hiện tượng HCM thành lập chính phủ liên hiệp rồi giải tán chính phủ Liên Hiệp sau 90 ngày là chiến thuật cuả Hồ Chí Minh để bảo vệ Chiến Lược CS.

2. Hiện tượng Hồ Chí Minh và tập đoàn CS bắc Việt lừa bịp dân tộc VN lần thứ hai qua chiêu bài Chống Mỹ Cứu Nước

Ai cũng biết ở miền Bắc trong giai đoạn thập niên 50 thanh thiếu niên VN đã bị VC tẫy não bằng một chủ nghĩa ngoại lai đi từ giai cấp vô sản nông dân trong nhiệt tình và ngu xuẩn đã phá nát cơ đồ VN trong công việc làm tay sai cho Nga Sô và Trung Cộng nhuộm đỏ Nam VN để bành trướng thế lực bá chủ hoàn cầu cuả chủ nghĩa CS.

Sự lừa bịp này đã làm cho người dân miền Bắc hụt hẫng khi hăm hở vào miền Nam "giãi phóng " đã chứng kiến một đời sống văn minh tự do dân chủ tại miền Nam

3. Hiện tượng đổ mới cở trói lừa bịp dân tộc VN lần thứ ba qua chiêu bài Đổ Mới

Cho đến giai đoạn này dù CSVN có sở trường lừa bịp và tuyên truyền cách nào đi nữa thì cũng khó mà nhồi sọ dân tộc VN về những chiêu bài yêu nước kháng chiến chống pháp và đánh Mỹ cứu nước được nữa.

Thập niên 80 dân chúng VN đi vào con đường kiệt quệ phải ăn bo bo qua ngày. Người dân lúc bấy giờ mới nhận thức được sự khổ đau của mình qua mấy chục năm dưới ách CS.

Để cứu nguy cho Đảng CS chúng đã đưa ra chiến thuật đổi mới trong đó có đổi mới cởi trói văn nghệ và phong trào dân chủ "Cuội " ra đời.

Nhấp nhô trên dòng sông phản tỉnh tại VN. Đa số người Việt QG khó có sự chấp nhận trên chiêu bài phản tỉnh cuả một số đảng viên CS hiện nay. Tại sao?

Không phải tại người Việt hải ngoại không chấp nhận qúi vị mà chính qúi vị những hiện tượng phản tĩnh cuả qúi vị đã tự đánh qúi vị ra khỏi vị trí phản tĩnh cuả mình để trở thành "phản tĩnh cuội" như hiện tượng Hoàng Minh Chính, hiện tượng Dương Thu Hương.

Chúng tôi thông cảm cho Dương Thu Hương cũng như Phạm Thị Hoài đã được lớn lên và giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa mà trong đó được tẫy não bằng chủ nghĩa ngoại lai và thần tượng Hồ Chí Minh qua sự nhồi sọ anh hùng chủ nghĩa cá nhân , cũng như triệt để thi hành chỉ thị cuả Đảng.

Do đó đối với những người này nhất thiết phải có một lãnh tụ một thần tượng thì cuộc đấu tranh mới có ý nghiã. Cá nhân chúng tôi không phê bình sự hiểu biết cuả qúi vị khi dòng tư tưởng của qúi vị đã bị uốn nắn trên bản chất nhồi sọ chuả chủ nghĩa CS.

Đối với người Việt Quốc Gia đã may mắn hơn qúi vị đã không bị nhồi sọ bằng bất cứ chủ nghĩa ngoại lai nào và cũng không bị tẫy não qua những ngày học tập khắt khe do đó chúng tôi không dặt vấn đề anh hùng cá nhân hay hình thức thần tượng mà chúng tôi tin tưởng vào Team Work . Rồi từ team work đó chúng tôi có sự đóng góp ý kiến dân chủ để hình thành một Team Leader.

Chúng tôi thông cảm cho hai vị DTH và Phạm Thi Hoài sống trong ống thì chỉ nhìn thấy ống dài . Nhưng chúng tôi không đồng thuãn với qúi vị khi qúi vị lấy tư tướng cuả chiếc ống dài để làm thước đo trong tập thể hải ngoại rồi vung vít chê trách và biếm nhẽ Cộng Đồng hải ngoại.

Đối với cá nhân chúng tôi bà Dương Thu Hương có quyền phản tĩnh nhưng thấp thoáng trên hình thức phản tĩnh đó bà DTH vẫn còn hoài niệm và ca tụng Hồ Chí Minh :

Trích trong lá thư bà Dương Thu Hương gởi cho anh Chân Tín LM Phan Văn Lợi và chú Nguyễn Khắc Toàn khi nói về Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh là một nhân vật mang nhiều nghi án. Rất nhiều bí ẩn liên quan tới cuộc sống riêng cũng như con đường chính trị cuả ông ta. Để kết luận một vấn đề quan trọng, thời gian và sự nỗ lực cũng chưa đủ , phải có cơ may tức là những cảnh huống, những mối quan hệ đặc biệt mới có thể dò tìm được sự thật. Những người nghiên cứu về ông ấy mấy chục năm nay chưa lên tiếng thì những người đấu tranh cho dân chủ đừng kết luận vội vã khi chưa bỏ đủ công sức và thời gianđể tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Chưởi cho sướng miệng thì không thuyết phục được ai. Nhất là khi đại bộ phận dân chúng chưa chuẫn bị tinh thần để căm ghét ông ấy (hết trích).

Qua đoạn văn trên DTH đã tỏ ra vênh váo lên án những ai kết tội Hồ Chí Minh và đã tự mình quay ngược dòng sông dân chủ để trở về điễm khơỉ hành cuả xã hội chủ nghĩa ngày nào.

Đã không những binh vực cho tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh bà DTH lại mượn ông Steve Young để mạnh miệng chưởi bới sự sinh hoạt chính trị cuả Cộng Đồng hải ngoại là chính trị Salon là bát nháo. Rồi tuyên bố Lực Lượng đấu tranh trong nước là chủ yếu có nghĩa là lực lượng đấu tranh này chỉ thay đổi CS chứ không "bát nháo" như Cộng Đồng hải ngoại đòi thay thế mạnh miệng chưởi bởi nhưng không thuyết phục được ai vân vân và vân vân.

Bà Dương Thu Hương sinh năm 1947 ở Thái Bình, Dương Thu Hương đi thanh niên xung phong trong cuộc chiến Việt Nam và sau đó đã trở thành đảng viên cuả đảng CSVN.

Qua chiêu bài Đổi Mới cuả CSVN. Bà DTH được người Việt QG biết đến Qua tác phẫm Thiên Đường Mù để trở thành Hiện tượng phản tĩnh mà bà DTH phải bỏ ra trên 30 năm cuộc đời mới thấy thiên đường CS là thiên đường mù .

Nhưng qua lá thư hôm nay với những cảm xúc hận thù biểu lộ cũng như cảm nghĩ ca tụng và binh vực Hồ Chí Minh bà DTH đã hiện rõ bản chất CS đã được che đậy hở hang trên hiện tượng phản tĩnh cuội cuả bà.

Quan niệm cuả người Việt Quốc Gia là xây dựng chứ không hủy diệt như người CS. Họ có thể chấp nhận cho gái giang hồ hoàn lương nhưng họ không thể chấp nhận để gái hoàn lương giãng giãi cái nghĩa đạo đức cho con gái nhà lành.

Bà DTH chưa bao giờ được Cộng Đồng hải ngoại chấp nhận bà là một thành phần cuả Tập Thể Người Việt Quốc Gia chống CSVN thì bà lấy tư cách gì mà tuyên bố vung vít là "Rứt Khoát ly khai với Cộng Đồng hải ngoại"

Có lẽ vì phải ẫn núp quá lâu trên hiện tượng mà bà không còn đủ kiên nhẫn nhấp nhô mãi trên dòng sông phản tĩnh. Do đó bà đã tự quay ngược dòng sông dân chủ mà trở về bản chất CS cuả mình.

Cũng không sao. Từ nay Cộng Đồng Hải Ngoại đã không còn mất thì giờ phải phân vân trước hiện tượng DTH. Vai tuồng nào cũng phải có hồi kết thúc để hạ màn.

Chỉ tiếc rằng bà DTH đã không đủ kiên nhẫn và can đãm để đóng trọn vẹn vai tuồng cuả mình... qua hiện tượng phản tĩnh Dương Thu Hương để trở về bản chất Vẹm cái cuả một thiên đường CS ngày nào.

Tôn Nữ Hoàng Hoa

Posted: Sun Jun 29, 2008 3:34 am
by khieulong
Cử tri Mỹ sẽ chọn thế nào?

Ngô Nhân Dụng

Bốn tháng nữa người Mỹ sẽ chọn hoặc một trong hai nghị sĩ, John McCain và Barack Obama cho một người làm tổng thống. Cả thế giới đang chăm chú theo dõi. Người ta sẽ chứng kiến chế độ dân chủ diễn ra trước mắt. Dân chủ, Tự do, nhưng khái niệm trừu tượng, sẽ thể hiện trong thực tế, với tất cả những cái đẹp và cái xấu, cái hay cái dở, những cảnh đáng khâm phục hoặc đáng chê bai. Nhưng rõ ràng là các cử tri Mỹ sẽ lựa chọn, không ai có thể chối cãi được.

Những người muốn giữ chế độ độc tài của họ thường dè bỉu thể chế tự do dân chủ, tố cáo rằng trong thực tế dân chúng không được chọn, vì đã có người khác chọn cho họ rồi. Người ta bảo ai có nhiều tiền sẽ thắng cử, như vậy tức là các anh nhà giầu chọn, đám dân nghèo không được chọn thực mà chỉ đóng trò trong hình thức mà thôi. Họ cũng nói các nhà chính trị chuyên nghiệp trong mỗi đảng chọn ứng cử viên trước rồi mới đến lượt dân, chứ không phải người dân bình thường được chọn. Chúng ta đã thấy cả hai luận điệu gièm pha đó đều sai. Trong quá trình lựa chọn ở nước Mỹ một năm qua, các cử tri Mỹ đã phá vỡ hai “huyền thoại” này.

Nói chuyện tiền và thế lực chính trị. Năm ngoái, trong đảng Dân Chủ bà Hillary Clinton có một ngân sách tranh cử vượt trên ông Barack Obama rất xa. Bà được những người mạnh nhất trong đảng ủng hộ, những người giầu nhất trong đảng ủng hộ. Ai cũng nghĩ bà chắc chắn sẽ thắng mọi đối thủ. Cuối cùng, những người ủng hộ đảng Dân Chủ cho thấy họ đã chọn dù đi ngược lại với những tay đầu sỏ trong đảng về thế cũng như về tiền. Ông Obama được một triệu rưỡi người góp tiền, đa số góp những món tiền nhỏ dưới 200 đô la, trong khi phần lớn những người ủng hộ bà Clinton góp đến mức tối đa theo luật định, 2,300 đô la. Có thể nói ông Obama là người của đại chúng, và ông đã thắng.

Trong đảng Cộng Hòa cũng vậy. Năm ngoái giờ này Nghị Sĩ John McCain ở tình trạng tuyệt vọng. Quỹ tranh cử của ông gần cạn vì những người ủng hộ đảng Cộng Hòa đa số không tin ông. Nhiều người ghét ông vì lập trường không cực đoan như họ muốn. Dư luận mặc nhiên cho là ông sẽ phải rút lui, trong khi các đối thủ của ông nhận được thêm nhiều tiền hoặc tự bỏ ra nhiều tiền để vận động. Nhưng sau cùng, ứng cử viên ít tiền nhất và bị các người đầu sỏ trong đảng chê bai nhất đã thắng, và thắng rất sớm.

Chúng ta trông thấy trước mắt “quyền lựa chọn” của cử tri trong những cuộc bầu sơ bộ của hai đảng chính trị lớn nhất ở Mỹ. Những huyền thoại vẫn dùng để chỉ trích chế độ dân chủ đã tan vỡ. Bọn độc tài, những kẻ thù của chế độ dân chủ, không thể gièm pha được.

Ðiều lý thú trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm nay là không ai đoán chắc được người nào sẽ thắng trong 4 tháng nữa. Các cuộc nghiên cứu thăm dò dư luận hiện cho thấy ông Barack Obama đang dẫn trước ông John McCain hàng chục điểm. Nhưng chúng ta nhớ lại là giờ này năm ngoái bà Clinton cũng đang dẫn trước ông Obama, Thống Ðốc Romney cũng đang dẫn trước Nghị Sĩ McCain với những khoảng cách xa không khác. Phải đến lúc cử tri bỏ phiếu mới biết ai thắng ai thua. Cuộc tranh cử có những khúc quanh bất ngờ, chứng tỏ người dân bỏ phiếu đã sử dụng quyền lựa chọn của họ. Trong 4 tháng sắp tới, ban vận động của 2 ứng cử viên tổng thống sẽ tranh tài, sẽ chinh phục lòng tin của các cử tri, và sẽ vận dụng các thủ tục bầu cử bằng chiến thuật khéo léo nhất.

Chiến thuật vận động rất quan trọng để gây ảnh hưởng trên kết quả sau cùng. Ông Obama thắng bà Clinton không phải chỉ vì con người ông có sức lôi cuốn mạnh, hay vì lập trường của ông cấp tiến hơn. Một yếu tố quan trọng giúp Obama là ngay từ đầu ban vận động của ông đã chú trọng tới các tiểu bang bầu theo lối “họp bàn” (caucus); trong khi bên bà Clinton họ lơ là bỏ qua, khi họ tỉnh ngộ thì đã quá trễ. Trong cuộc bỏ phiếu Tháng Mười Một này, các ban vận động sẽ phải chú ý tới lá phiếu cử tri đoàn các tiểu bang chứ không phải chỉ lo tranh thủ lá phiếu trực tiếp của mọi người dân. Một ứng cử viên có thể được nhiều phiếu nhưng vẫn thua những lá phiếu của cử tri đoàn nếu chiến thuật vận động không chọn đúng mục tiêu ở từng tiểu bang.

Nhưng trước hết, chính các cử tri sẽ chọn, ai thắng ở tiểu bang nào mới chiếm được cử tri đoàn ở tiểu bang đó. Vậy cử tri ở Mỹ sẽ chọn như thế nào? Người ta sẽ bỏ phiếu chọn “con người” của ứng cử viên hay chọn cả một đảng để đưa lên cầm quyền? Dân chọn chương trình tranh cử, chủ trương đường lối mà mỗi ứng cử viên trình bày, hay chọn một người vì cùng mầu da, cùng tôn giáo, hoặc gốc gác giống mình? Việc lựa chọn của các cử tri rất phức tạp, chính vì thế các “cuộc đấu” dân chủ cũng phức tạp. Phân tích sức mạnh hai đội banh để tiên đoán kết quả trận đấu giải Euro 2008 còn dễ hơn tiên đoán kết quả cuộc bầu cử năm 2008 ở Mỹ. Các ban vận động của các nghị sĩ John McCain và Barack Obama cũng đang phân tích “động cơ tâm lý” khi bỏ phiếu của cử tri từng tiểu bang nước Mỹ. Họ chuyên môn làm việc này nhưng cũng không biết trước được hết tâm lý những người sẽ đi bỏ phiếu.

Có những người đã chọn sẵn, rất khó lay chuyển. Nhiều người chỉ chọn ứng cử viên cùng mầu da với mình, nhiều người chỉ thích các ứng cử viên gốc cùng tiểu bang với mình nếu không cũng phải ở cùng miền Nam hay miền Bắc (hai miền trong thời nội chiến ở Mỹ giữa thế kỷ 19!) Những người đó thì không ứng cử viên nào thay đổi ý kiến được, mặc dù trong một xã hội dân chủ trưởng thành thì số người này không đông.

Phần lớn các cử tri chọn lựa ứng cử viên mà họ thích, họ phục, họ đồng ý hoặc cùng chia sẻ những giá trị như mình. Cũng có người chọn theo lối tiêu cực, họ ghét ai thì bỏ phiếu cho đối thủ của người đó. Có người không bỏ phiếu cho người cùng đảng với mình, hoặc ngồi nhà không đi bầu, để “trừng phạt” đảng của họ. Họ hy vọng rằng ứng cử viên đảng mình thua thì 4 năm sau đảng sẽ phải chọn một ứng cử viên vừa ý mình hơn. Năm nay hiện tượng này có thể diễn ra. Nhiều người đảng Dân Chủ sẽ không đi bỏ phiếu cho ông Obama, chờ cho ông ấy thua, đến năm 2012 sẽ ủng hộ bà Clinton ứng cử lần nữa. Nhiều người trong đảng Cộng Hòa có thể tẩy chay ông McCain vì ông không chống hôn nhân đồng tính quyết liệt như họ chẳng hạn. Họ mong lần sau đảng Cộng Hòa có chọn ứng cử viên tổng thống thì phải chọn người giữ lập trường quyết liệt về tôn giáo, xã hội.

Một câu hỏi sẽ được nêu lên là nếu có những cử tri đi bầu mà chọn lựa với thành kiến không thể lay chuyển, hoặc tham dự việc bỏ phiếu một cách tiêu cực như trên, thì “cuộc đấu dân chủ” còn ý nghĩa hay không? Nói cách khác, những cử tri “cực đoan” vì thành kiến hay vì lập trường chính trị, họ có khiến cho các cuộc bỏ phiếu mất ý nghĩa hay không?

Câu hỏi này cũng giống như hỏi về quy tắc cạnh tranh trong kinh tế thị trường vậy. Có những người chọn uống thứ bia mà chúng ta chê là nhạt phèo, hay đắng ngắt. Nhưng nếu có một số đông chọn nhãn hiệu nào thì thứ bia đó vẫn bán được. Không phải vì thấy có những người uống bia chọn “rất ngu” mà chúng ta sẽ quyết định không cho thị trường ruợu bia được cạnh tranh tự do nữa, để mình hay đảng mình độc quyền bán một thứ bia mà thôi!

Trong trường chính trị cũng vậy, có những khuynh hướng gọi là “bên lề” (marginal) nho nhỏ nhưng rất cứng đầu, mọi người không hiểu nổi, coi họ là những “bọn ngu dốt” hoặc “gàn dở!” Nhưng chúng ta không thể vì họ có mặt mà không áp dụng một thể chế cho phép những người khác, cho mọi người được phép lựa chọn! Một quy tắc trong cuộc sống tự do dân chủ là phải tôn trọng “những người ngu, người gàn” ít nhất là ngu và gàn dở hơn mình!

Trong thực tế, khi tính kết quả những cuộc bầu cử tự do thì lá phiếu của những nhóm người gọi là “ngu gàn” đó triệt tiêu lẫn nhau. Anh gàn cực hữu bỏ phiếu ngược lại với anh ngu cực tả, cuối cùng lá phiếu của những anh này sẽ làm cho lá phiếu của những anh kia trở thành vô hiệu. Và chính đám đông tỉnh táo, trung dung, có suy nghĩ trước khi bỏ phiếu, chính họ sẽ quyết định ai đắc cử.

Nói như vậy không có nghĩa là cuộc bỏ phiếu nào trong chế độ dân chủ tự do cũng mang lại kết quả tối hảo. Không bản hiến pháp nước nào viết ra điều này, nhưng ai cũng ngầm hiểu. Là người dân trong một nước dân chủ có một “quyền hiến định” là quyền lầm lẫn khi bỏ phiếu. Tuy không viết điều đó ra nhưng các bản hiến pháp dân chủ đều ghi sẵn những điều khoản để đối phó với trường hợp dân lỡ chọn sai. Người ta có thể truất phế những chính trị gia đã đắc cử, nhưng tối thiểu họ có thể chờ 4 hay 5 năm sẽ có dịp bầu ứng cử viên khác, đảng khác. Thể chế dân chủ không phải là thần dược chữa trị tất cả các vấn đề của xã hội loài người. Nhưng nó bảo đảm xã hội không phải chịu hậu quả của những lầm lẫn kéo dài bất tận, như trong những chế độ độc tài! Khi một đảng độc tài sai lầm thì dân cũng không có quyền sửa! Hơn thế nữa, dân không có quyền bàn đến việc sửa chữa!

Posted: Mon Jun 30, 2008 12:22 am
by vuphong

Image

Nhân ngày ra mắt phim về Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tại Houston
Tác giả: Nguyễn Phước Trang


Bài nói chuyện của Ông Nguyễn Phước Trang
Nhân ngày ra mắt phim về Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy tại Houston ngày 7 tháng 6 năm 2008


Kính thưa toàn thể quý vị,

Trước tiên chúng tôi cảm ơn Ban Tổ Chức đã cho chúng tôi cơ hội để ngỏ niềm hân hoan, khi biết có người đã tận tâm thực hiện DVD “Thân Thế và Sự Nghiệp của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy”.
Ðây là một tác phẩm mà Câu Lạc Bộ Ðằng Phương và anh Trần V. Thư đã dâng hiến tâm cơ, công lao, tổn phí, để sưu tầm và dựng lại bằng những hình ảnh trung thực về Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Nếu tin rằng có giao cảm tâm linh, chắc Giáo Sư đã chọn Câu Lạc Bộ Ðằng Phương; rồi phù trợ anh chị em (đặc biệt anh Trần V. Thư), giải tỏa những khó khăn, vượt qua những trở ngại để thực hiện tác phẩm đang có hôm nay. Nguyện cầu Giáo Sư tiếp tục phù trợ anh chị em, ngỏ hầu tác phẩm này được hoàn thành mỹ mãn.
Hầu hết những tình tiết quan trọng đều được trình bày mạch lạc, rõ ràng, khi quý vị xem qua tác phẩm giá trị này.
Tiếp theo, chúng tôi cũng cảm ơn Ban Tổ Chức dành cho mươi phút để nhắc lại sơ lược Vài Ghi Nhớ Quan Trọng về GS Nguyễn Ngọc Huy mà được tôi biết từ năm 1970.

A. Chúng tôi cảm phục Giáo sư Huy vì Ông có cái nhìn thật xa:
1- Năm 1970, tại trường Chỉ Huy Tham Mưu ở Ðà Lạt, trong một dịp thuyết trình về Hiến Pháp Việt Nam, GS Huy có nói:
“Dưới chế độ dân chủ miền Nam hiện nay, dù chưa hoàn hảo, nhưng chúng ta còn sống được. Nếu cộng sản chiếm trị miền Nam, chúng ta không có đất sống”.
Ngay hồi đó, những quân nhân, như anh Liêu Quang Nghĩa và tôi, không chấp nhận ý niệm miền Nam bị cộng sản chiếm trị. Nhưng chỉ 5 năm sau, biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đã cho thấy: Ða số dân Việt hai miền Nam Bắc lầm than. Riêng ở miền Nam, một số lớn bị giam cầm trong các trại giam. Một số lớn hơn bị đọa đày ở các vùng kinh tế mới. Và hằng triệu người không có đất sống phải lưu vong để tránh hiểm họa cộng sản.
2.- Từ cuối năm 1979, GS Huy thường dặn dò: “Tình hình có nhiều thay đổi, người quốc gia phải đổi phương thức tranh đấu. Thời kỳ tranh đấu võ trang qua rồi; bây giờ chúng ta dùng nhơn quyền làm vũ khí đấu tranh ôn hòa, phù hợp với tình hình thế giới đang muốn quên chiến tranh”.
Không tin hay không đồng ý với Giáo Sư, một số đồng chí của GS đã sang Thái Lan chủ trương mua vũ khí, tổ chức đấu tranh võ trang; nhưng việc không thành. Sau đó, còn vài tổ chức võ trang khác … cũng không thu kết quả khả quan hơn!!!
3.- Vào khoảng thời gian này (năm 1980), anh chị em thắc mắc: đồng bào trong nước bị kềm kẹp áp bức, khó mong có ngày vùng dậy. GS Huy nhắc nhở anh chị em: “Rồi sẽ có một ngày, dân Việt không còn sợ cộng sản nữa, lần hồi đứng lên, như việc đã từng xảy ra ở các nước Ðông Aâu”.
Sự kiện diễn tiến ở quốc nội gần đây, cho thấy “đúng như GS đã tiên liệu”
4.- Năm 1981, trong một dịp ghé lại Houston, GS gặp anh em trong một quán nhỏ đường Little York cách xa lộ 45 chừng nửa dặm. Nhân dịp này, anh em cùng bàn về quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân”. GS cười bảo: “Chắc chắn sẽ có một ngày, họ tấn công bài Quốc Ca chúng ta đang hát. Gặp trường hợp đó, anh em sẽ lập luận như thế nào?”
Quả nhiên, giữa năm 1987, tức 6 năm sau, tờ Lửa Việt cho đăng bài “Vài Suy Nghĩ Về Bài Quốc Ca Của Chúng Ta” do Thái Chính Châu gởi đến; sau đó, cho đăng tiếp bài “Bàn Tiếp Về Quốc Ca” của Nông Anh Ngọc. Cả hai đồng chủ trương thay thế bài “Tiếng Gọi Công Dân”.
Nhờ đã được GS chuẩn bị tinh thần, nên chiến hữu của Giáo Sư ở Houston đã lập tức phản ứng: bằng bài “Quốc Ca Việt Nam Tại Hải Ngoại” (Triều Dương) trên tờ Tự Do Dân Bản cơ quan ngôn luận của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam; và bài “Quốc Ca Việt Nam và Lính Việt Nam ở Hải Ngoại” (Long Tuyền) trên báo Chuông Việt ở California do mũ đỏ Bùi Ðức Lạc chủ biên.
Và chính GS đã lên tiếng về việc này cũng trên tờ Chuông Việt trong bài: “Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam”. Bài này được xem như bài sau cùng trên Chuông Việt để bảo vệ quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ và quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân”.

B. Chúng tôi cảm phục Giáo sư Huy vì Ông có đường lối tranh đấu rõ ràng:
Ông không tham dự bất cứ hình thức “Chánh phủ lưu vong” hoặc “hòa hợp hòa giải” nào được đề xướng ở hải ngoại.
Ðể tranh đấu xây dựng Dân Bản - Tự Do- Ðộc Lập - Hòa Bình và Trung Lập cho Việt Nam, Ông vận động thành lập ba tổ chức:
1.- LMDCVN ở hải ngoại để yểm trợ cuộc đấu tranh ở quốc nội.
2.- Phong Trào Thống Nhứt Dân Tộc & Xây Dựng Dân Chủ ở Việt Nam để trực diện đấu tranh chống chế độ cộng sản Hà Nội.
3.- Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do để làm áp lực chánh trị với chế độ Hà Nội khi cần.

C. Chúng tôi cảm phục Giáo sư Huy vì Ông có lập trường dứt khoát : được gom ngắn gọn trong 2 chữ “NĂM KHÔNG”:
1.- Không công nhận chế độ cộng sản
2.- Không tiếp xúc
3.- Không liên lạc
4.- Không thương thuyết
5.- Không hợp tác
(Lập trường này được trình bày minh bạch trên Tự Do Dân Bản, cơ quan ngôn luận của LMDCVN, số 46 ngày 01/12/1989 8 trang 73 - 81)

D. Chúng tôi cảm phục Giáo sư Huy vì Ông là một vị lãnh đạo nhu hòa, nhân hậu, đầy tình nghĩa:
Nhờ gần gũi Ông, tôi có dịp nhìn nét mặt đôn hậu đầy tình thương của Ông khi: cùng Ông đến phân ưu với tang quyến một đồng chí từ trần (anh Phạm Ðăng Cường), đến bịnh viện thăm một chiến hữu vừa giải phẩu tim (anh Liêu Quang Nghĩa). Ðang bị bệnh nan y, Ông vẫn cười nói với anh Nghĩa: “Những người cang cường bộc trực, thường bị đau tim. Những người ôn nhu nhẫn nhịn hay bị ung thư.”
Trong đoàn thể, Ông luôn dặn dò anh chị em “khi có tranh chấp ý kiến, nên hòa nhã nhường nhịn lẫn nhau, để còn dịp gặp lại, và hợp tác sau này; vì đường tranh đấu còn dài.”
Ðối với các đoàn thể bạn, GS dặn anh chị em phải giữ thái độ thân thiện; tùy hoàn cảnh, cùng làm những việc mà hai bên đồng ý. Nếu gặp việc không đồng ý, thì “việc ai nấy làm” không tham dự, không chỉ trích.

E. Chúng tôi thương Giáo Sư vì nghiệp dĩ của Ông: Bởi Ông thường thấy xa thời cuộc hằng chục năm, trước nhiều người. Do đó, Ông thường nhận lãnh nhiều bình phẩm phũ phàng, mà Ông vẫn bình tâm nhẫn nhịn.

F. Và quan trọng hơn hết, chúng tôi quý trọng Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy vì Ông ấp ủ “lý tưởng xây dựng một nền dân chủ pháp trị trên toàn cõi Việt Nam”. Theo tình thế năm 1964, đảng Tân Ðại Việt được thành lập. Với chủ trương này; Giáo Sư đã khai triển chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn trong bộ “Dân Tộc Sinh Tồn Chủ Nghĩa Quốc Gia Khoa Học”. Năm 1969, khi Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến được thành lập, do Giáo sư Nguyễn Văn Bông làm Chủ Tịch, Giáo sư Huy đã cộng tác với “chủ trương xây dựng một nền dân chủ pháp trị tại miền Nam Việt Nam”.
Ông mất sớm, gần 18 năm (28/07/1990), nhưng sự nghiệp của Ông còn lưu lại lâu dài. Những người hiểu Ông vẫn mến thương Ông. Những cộng sự viên của Ông còn nhớ công lao của Ông trên đường phụng sự lý tưởng. Con đường Giáo sư đi rất thẳng và hạn định ranh giới rõ ràng. Con đường Giáo Sư tự vạch ra cho chính Giáo Sư và đoàn thể là con đường chánh nghĩa, phụng sự dân tộc, quên mình, không vụ lợi, nên khô cằn và trống vắng.
“Lý tưởng xây dựng một nền dân chủ pháp trị trên toàn cõi Việt Nam” vẫn có giá trị cho một nước Việt Nam tương lai không cộng sản với năm Tiêu ngữ: Dân Bản - Tự Do- Ðộc Lập - Hòa Bình và Trung Lập.
Lập trường NĂM KHÔNG của Ông vẫn có giá trị cho những người “cương quyết theo gương Ông” trên con đường phục vụ Quốc Gia. Ðối với những người này, dù nhiều hay ít, trên đường tranh đấu, vẫn hiển nhiên “có dáng dấp uy nghi của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy ” trước mặt, sau lưng, bên cạnh họ.
Khi xem DVD “Thân Thế và Sự Nghiệp của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy” những bạn đồng hành của Ông ngày xưa, có thể sẽ được gợi lại nhiều kỷ niệm dọc đoạn đường của chính mình, trong thời kỳ đen tối mà đất nước phải trải qua; hay có thể nhìn thấy người bạn già thời trước (Giáo Sư Huy) còm cỏi xác thân; nhưng “vẫn độc bộ, kéo hành trang, đi đây đi đó không ngừng”; và mỗi khi cần thiết, lại đăng đàn, hoạt bát thuyết trình.
Khi xem DVD “Thân Thế và Sự Nghiệp của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy” những chiến hữu của Ông có thể nhớ lại những lời dặn dò tâm huyết đầy thương mến. Khi có anh em hành động thiếu cân nhắc, Ông chỉ cười bảo: “mấy chú là những Ðoàn Dự xử dụng Lục Mạch Thần Kiếm chưa rành”; hoặc khi biết đoàn viên quên công tác, Ông vẫn ôn tồn: “anh em là những con cọp thiệt vừa ngủ dậy mới vươn vai”.
Riêng đối với tôi, từ ngày 16 tháng 3 năm 1989, khi Giáo Sư lâm trọng bệnh, Ông đã giao bớt cho tôi, một phần lớn công việc giấy tờ hành chánh, mà Ông đã lặng lẽ cáng đáng một mình, nhiều năm qua. Lời dặn: “Chú cứ vậy mà tiếp tục”, khiến tôi lặng lẽ tuân hành công tác văn phòng hành chánh, của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, mà Giáo Sư đã tin cậy giao phó, suốt 4 năm 9 tháng cho đến ngày 10 tháng 12 năm1993, ngày tôi chánh thức từ nhiệm, hơn ba năm sau khi Ông mãn phần. Ngay đến bây giờ, đối với riêng tôi, lời dặn trên, như còn vang vọng quanh đây.
Tha thiết ước mong, khi xem DVD “Thân Thế và Sự Nghiệp của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy”, những anh chị em thuộc thế hệ trẻ, nhiều khả năng, đầy tâm huyết hơn chúng tôi, sẽ tiếp nhận “lý tưởng xây dựng một nền dân chủ pháp trị trên toàn cõi Việt Nam” của Giáo sư; để tranh đấu và xây dựng một nước Việt Nam tương lai không cộng sản. Chắc anh chị em nhìn thấy Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là một tấm gương hi sinh cao cả, trọn vẹn, của một chiến sĩ kiên trì: thân xác gầy gò tiều tụy vì bịnh hoạn, nhưng vẫn tiếp tục lao mình vào cuộc đấu tranh, đòi dân chủ tự do, cho đất nước Việt Nam, đến hơi thở cuối cùng.
Xin chân thành cảm tạ quý vị đã chú ý lắng nghe.
Trân trọng kính chào.

Nguyễn Phước Trang

Posted: Mon Jun 30, 2008 1:27 am
by thienthanh
Image

Tin được người CS?
Tác giả: Nguyễn Anh
Bạn có tin được người CS không?

Quyển sách chỉ khoảng chừng 100 trang mà tôi đã được đọc ít nhất cũng gần 30 năm. Tôi viết lại theo trí nhớ, dĩ nhiên là đã quên đi rất nhiều. Đôi khi cũng có thể tôi viết theo ý tưởng của ai ở quyển sách nào đó mà tôi đã từng đọc qua. Lẫn lộn này cộng với ý nghĩ của tôi cũng không là điều ngạc nhiên.

Riêng quyển sách mầu đỏ, có tựa đề mầu đen ngay giữa trang bìa của một bác sĩ người Úc (mà tôi cũng quên luôn tên) viết, đề tựa quyền sách tôi cũng chỉ nhớ đại ý là: “Bạn có tin được người CS không?” và ông khẳng định là ông ấy tin tưởng tuyệt đối vào người CS (CS). Tác giả cũng rất tin tưởng vào tấm lòng nhiệt tình và trung thành của các đảng viên đảng CS, và chính ông cũng tuyệt đối tin vào cái xã hội, nếu được thực hiện đúng như những gì họ vẽ ra và hứa hẹn, một xã hội thật tuyệt vời dưới trần thế này

Khởi đầu tác giả phiền trách những người không tin vào người CS là sai lầm, là không hiểu gì CS cả! để chứng minh cho lập luận của mình, ông đưa ra một ví dụ rất cụ thể và hấp dẫn như thế này:



Có một người ngoại quốc mới đến thăm nước Mỹ lần đầu tiên và được mời đi dự khán một trận túc cầu Mỹ (Football). Ông kể: khởi đầu, hai đội ra sân ông thấy mỗi bên có đâu chừng 10 hay 11 người gì đó, đứng theo thế hàng ngang, mang nón như là nón sắt của binh sĩ khi ra trận tiền, có cả mặt nạ che mặt, mặc áo giáp, đôn vai, độn ngực, độn lưng trông không khác gì các ông tướng thời trung cổ, chỉ hơi khác là họ không cầm vũ khí. Suốt cả trận đấu, nhìn mặt ông ta rõ ra là chẳng có gì hứng thú cả, măt cứ thộn ra giữa đám người điên cuồng la hét điếc cả tai, khi thấy một anh cầu thủ chộp được quả banh cà-na, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng về phía cuối sân, đằng sau anh một đám người cũng cuống cuồng đuổi theo anh ta, người thì bảo vệ, người thì chặn đầu, chặn ngang cố dành lại quả banh của cầu thủ đang ôm cứng quả banh trong tay.

Khi anh ta mang quả banh đến cuối sân, cả cầu trường như muốn bể ra vì được rất đông người đứng dậy la hét om xòm, hoan hô anh, còn anh ta thì lại làm phật lòng mọi người một cách xấc xược là đập ngay quả banh xuống đất, rồi lắc lư thân hình, ngoáy đít, ngoáy mông, ưỡn ẹo đi như một anh đồng tính. Sau đó phe anh ta được thưởng cho đá quả banh một lần vào khung thành của đối phương. Tức cười nhất là mỗi lần phe có banh trong tay, họ lại chụm đầu vào nhau thì thào bàn tán, rồi người thì chổng mông, người thì quỳ gối xuống cầu nguyện, xong họ dàn hàng ngang ra chổng mông lên trời, mắt láo liêng, miệng thì bi bô la hét “hắt hắt” bất thình lình một anh ném trái banh cho bạn mình, thế là cả bọn cắm đầu cắm cổ chạy bán sống bán chết bảo vệ cho anh ôm quả banh chạy vê hướng khung thành của địch thủ, thường thì anh ta không xuông xẻ để mang banh đi, không bị húc vào bụng vào lưng thì cũng bị nắm chân, túm áo rất là hung bạo, khi bị vật ra sân, anh ta còn bị một núi người nằm chồng chất trên người anh ta …Nghe nói đã có người bị gãy cổ chết, có người bị bại liệt vì tranh nhau quả banh này. Nước Mỹ cứ khoe là giầu sang phú quý mà chỉ có quả banh da có đáng bao nhiêu mà không cho mỗi người một trái mà cứ phải tranh nhau một trái banh giữa sự chứng kiến của hàng mấy chục ngàn người, không biết xấu hổ.


Mọi người nhìn CS cũng giống như ông ngoại quốc nhận xét, phê bình và chê bai môn football của Mỹ. Tác giả cuốn sách nhận xét như vậy. Nhưng ai đã biết luật chơi football và đã từng coi môn này rồi thì sẽ chết mê, chét mệt môn thể thao này còn hơn là mê tình nhân. Chủ nghĩa cũng mê hoặc như vậy, có khác chăng là mục tiêu, một bên làm cho mọi người thoải mái trong lúc tham dự, và dư âm của hạnh phúc vẫn còn trong tim, trong nụ cười, còn cái kia chỉ là thiên đường ảo, và trên con đường kiến tạo thiên đường này thì chỉ thấy đầy máu và nước mắt.

Các bạn quý mến, trong quá khứ, các bạn hẳn không thiếu người say mê Jane Fonda, Joan Baez, Picasso, quý trọng Bertrand Russell, André Gide... và còn vô số những người bạn yêu quý trong giới nghệ sĩ, văn sĩ, học giả, trí thức, thầy cô, anh hùng, bạn bè, những người này đã từng say mê điên cuồng vì chủ nghĩa CS. Trong một chương sau ông bác sĩ này gọi những người kể trên là bạn đồng hành của chủ nghĩa CS. Những người bạn đồng hành này là những nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho suốt cuộc chiến đấu bằng những vũ khí và phương cách tàn độc nhất cho tới khi người CS đạt được mục đích.

Vậy những người bạn đồng hành này là ai? Người bạn đồng hành này chính là những người nổi tiếng, những vị anh hùng, người được kính trọng, ưa chuộng nằm ở bên đối thủ của CS. chính những người này cũng không hề biết họ đang bị CS lợi dụng. CS khai thác triệt để ưu điểm của những người này, và giúp đỡ, cung cấp phương tiện cho họ thực hiện những ước mơ, lý tưởng của mình. CS dùng những thành quả của người bạn đồng hành trở thành phương tiện tranh đấu của họ. Jane Fonda là quân cờ của phe phản chiến. Phản chiến là một phần chiến lược của CS. Mục đích làm suy yếu và phá sản ý trí tranh đấu của đối thủ. Kết quả vợ chồng Jane Fonda là những tên phản quốc của nước Mỹ. Những nhóm biểu tình chống chiến tranh VN, chống chính quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu; Thời VNCH, dân biểu, linh mục, sư sãi, sinh viên v.v… vô tình hay cố ý đã là những bạn đồng hành của CSVN.

Trận chiến quanh năm suốt tháng, biểu tình chống đủ thứ tại Little Saigon (Orange County) hay cuộc xuống đường vĩ đại ở San Jose đòi cho bằng được Saigon Nhỏ là thành quả bất chiến tự nhiên thành cho CSVN. Bởi vì kết quả kỳ bầu cử ngày 3 tháng 6 vừa qua, tất cả 4 ứng viên VN đều rớt xuống đài một cách thê thảm. Người nghị viên VN duy nhất tại đây sau khi đáo hạn sẽ không có người Việt đại diện tại thành phố đông dân Việt nhất trên toàn thế giới ngoài nước việt Nam. Cùng lúc cộng đồng VN tại đây bị phân hóa, chia rẽ về vụ này. Những người này quay ra tranh cãi nhau còn hơn là ăn thua với kẻ thù . Bao nhiêu thời giờ, nhân lực, tài chánh chỉ dùng để cho phe ta đánh phe mình. Kẻ thù dấu mặt, dấu tên ngu gì đưa mặt cho quý vị đấm. Các cơ quan truyền thông mạnh nhất của người Việt hải ngoại đang lần lượt bị truy sát không nương tay. Đại sứ CSVN tại Washington, D.C. và Tổng Lãnh Sự tại San Francisco chỉ cần gửi báo cáo cho Hà Nội về những thành quả của họ, mà nhà nước CSVN đã đề ra chỉ tiêu, họ đã đạt được trên mức chỉ tiêu 200%. Sau khi người CS đã đạt được mục đích rồi thì bạn đồng hành phải biến ngay lập tực. Nếu bọn này không muốn thân bại danh liệt vì phe ta phản công hay bị tử vong dưới tay của người bạn dấu mặt ẩn danh. Làm sao mà bạn đồng hành không say mê cuồng nhiệt cho được, khi bạn được họ giải thích là bạn đã được hứa hẹn là con người phải được sống trong một xã hội dân chủ, tự do không có cảnh con người ức hiếp, hành hạ con người, lợi dụng con người, nhất là ở các nước dân chủ, tự do như phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ.

Còn với người dân trong chế dộ XHCN thì CS giải thích rất đơn giản là bạn chỉ cần làm theo năng lực và sẽ hưởng theo nhu cầu, bạn sẽ không có bất cứ một chính phủ nào điều hành quốc gia của bạn cả. Bạn sống trong một đất nước không hề có giai cấp nào cao hơn giai cấp nào, không giầu không nghèo, không sang, không hèn, không ai hơn kém ai cả. Dân làm chủ đất nước, chỉ có một giới kém cỏi nhất, đó là ĐCS - nhà cầm quyền điều hành đất nước - thay mặt cho dân là làm đầy tớ mà thôi, các bạn sẽ trở thành những đỉnh cao trí tuệ của loài người, là trái tim bác ái của nhân loại, tuyệt vời quá, phải không bạn? Họ (những người tin và yêu CNXH, và nhất là chủ nghĩa CS) đã nhắm mắt lại, tẩy bộ não cho tuyệt nọc những ý nghĩ riêng tư, ôm bom vào lòng, thẳng tiến tới phía của địch mà tiêu diệt cho bằng hết. Vì họ tuyệt đối tin vào cái xã hội tương lai sáng ngời chính nghĩa mà người chủ trương đã vẽ dùm cho họ, mà họ đã dược huấn luyện từ khi mới chập chững biết đi, giống như các cảm tử quân người Hồi giáo quá khích tin rằng sẽ được cả chục gái đồng trinh (hay trai tân) phục vụ trên cõi của thánh Allah sau khi anh (chị) ta ôm bom phóng vào đám dân vô tội đang đi làm, đang học hành, hay đang họp chợ.

Nếu CS còn đang tranh dành để mưu tính cướp cho bằng được chính quyền của một chủ nghĩa, một chính thể nào khác, hay của dân bầu ra, họ ( người CS) cam kết rằng họ chắc chắn sẽ thắng vì họ nhất quyết trường kỳ chiến đấu, nếu đờì họ chưa đạt được kết quả, thì đời con, không thì đời cháu sẽ tiếp nối, họ quyết tâm huấn luyện hàng trăm năm cho đám thanh niên con cháu, môt hoặc nhiều thế hệ theo con đường căm thù giai cấp đang nắm giữ chính quyền, bởi vì công nhân và nông dân (giai cấp mà họ tự phong cho họ là đại diện) là những thành phần nòng cốt của xã hội, giai cấp chiếm đa số trong xã hội đang bị vắt kiệt thân xác để cung phụng cho cái đám chủ nhân giầu sang độc ác, sa đọa kia. Cho dù có đói khát, khổ nhục cỡ nào họ (những người CS) cũng phải đi tới đích. Họ thề sẽ cướp được những gì họ muốn cướp bằng tất cả mọi phương tiện mà họ có. Nếu cần họ sẽ nhận luôn các chí nguyện quân của các nước khác; Và nếu cần cho sự chiến thắng họ cũng sẽ trả bằng mọi giá. Kể cả làm bạn với kẻ thù (truyền kiếp). Họ quan niệm rằng không có bạn hay thù muôn đời mà chỉ có giai đoạn và vì quyền lợi nhất thời, miễn là phải có sự trung thành tuyệt đối và nhiệt tình với đảng CS là đủ. Ngoài ra các lời hứa khác cũng chỉ là phương tiện cần phải có trong giai đoạn. Nếu cần họ hy sinh đời họ cho đời con, nếu vẫn chưa đạt được thì tiếp tục cho đời cháu. Họ hô hào tất cả thế giới nơi đâu có áp bức thì hãy can đảm vùng lên lật đổ chính quyền sở tại về cho đảng CS và chỉ cho những ai là đảng viên đảng CS, bởi vì những kẻ nào không là đảng viên của đảng này đều là kẻ thù cần phải tiêu diệt hết, kể cả những người chủ trương hòa bình, bất bạo động.

Chủ nghĩa này chê các tôn giáo là thuốc phiện chỉ biết vẽ vời hão huyền, ru ngủ con người, không thực tế và không tưởng, viễn ảnh thiên đường hay niết bàn chỉ là sản phẩm của những kẻ buôn thần bán thánh, cần phải tiêu diệt tận gốc để tránh cho con người bị mê hoặc trở thành những người u mê, mù quáng. Nhưng vì nhận thấy con người quả là có ngu si thật, và cả đần độn nữa , đã không thấu hiểu nổi sự nguy hai này nên CS tự đứng dậy nhận trách nhiệm và làm bổn phận xây dựng và bảo vệ hạnh phúc cho con người XHCN, họ đã cho các đảng viên xâm nhập vào các tổ chức này lái họ sang con đường tôn giáo phải phục vụ cho đảng CS. CS đã thực hiện bằng cách cho các giai cấp tu sĩ do họ đào tạo tách rời các tôn giáo này ra khỏi hệ thống tôn giáo chính thống nguyên thủy.

Đối với các thành phần không chịu hợp tác với CS thì họ dùng các biện pháp ly gián, chia rẽ dựa trên căn bản lợi nhuận và quyền lực mà chi phối để gây rối loạn và tự diệt lẫn nhau. Nếu vẫn không có kết quả thì chính tay họ sẽ thủ tiêu, truy diệt bằng bất cứ thủ đoạn nào, muợn tay của bạn đồng hành, bạn bè, thân nhân, tạo ra những vụ thóa mạ, gièm pha, xỉ nhục, chụp mũ đối thủ bằng mọi giá miễn sao loại đối thủ ra khỏi vòng chiến.

Trên thượng tầng kiến trúc của CS (Ban Chấp hành Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng) sẽ đưa ra đường lối, mở các lớp huấn luyện, đặt để nhân lực cho các cán bộ trung kiên hiểu rõ mục tiêu cao cả của CS đối với giai cấp của họ, cứ vậy mà xuống dần tới các tầng lớp nhân dân. Chính những người này đã tuyệt đối tin tưởng vào một xã hội “ưu việt” này, nên họ mang hết tấm lòng thành thật, nhiệt tình mà kiến tạo cho bằng được cái xã hội còn đẹp hơn cả thiên đường và niết bàn trên cái thế giới đầy dẫy những bất công này. Bạn hãy nhìn vào tấm lòng của họ, vào những hành động, lời nói của họ, bạn không thể không lây được cái lòng nhiệt tình và đam mê về viễn tượng vì hạnh phúc tràn đầy cho nhân loại, ngay kể cả đôi khi hoặc (có thể) nhiều lúc họ nói dối còn thành thật hơn cả người thành thật, hành động tàn ác dã man một cách rất vô tư, vô lự, giống như một thánh nhân đang thực hiện hạnh bồ tát. Tôi (lời của tác giả) cũng không thể phủ nhận lòng tốt và thiện tâm thiện chí của các bạn đồng hành của CS và những con người vô can trong trận chiến sống còn của CS với các lực lượng đối kháng. Bạn không tin vào sự trung thành và lòng nhiệt tình của các đảng viên CS thì cũng như ông khách ngoại quốc xem trận tranh tài của banh cà-na ở Mỹ, mà ông ta đã nghĩ rằng, chẳng hiểu tại sao đám người ngu xuẩn này lại dành nhau quả banh này cho tới khi hết hơi, đến thương tật này với mục đích gì, chẳng lẽ chỉ là giỡn chơi vớ vẩn thế hay sao?

Tác giả người Úc này quả cũng vớ vẩn thật, so sánh một môn thế thao với một chủ nghĩa, xem về hình thức thì cũng khá giống, nhưng nội dung thì thật là… Hình như ông ấy có lý thật đấy, phải không bạn?


Bạn không thể không công nhận với tôi là ngay từ ngày mới nở ra từ quả trứng, bạn nuôi con gà ở trong ống tre, đến đúng thời kỳ đủ lớn, bổ ống tre ra, bạn sẽ thấy con gà của bạn không giống con gà được nuôi dưỡng theo tự nhiên, đúng không bạn? Con gà bạn nuôi trong ống tre sẽ trụi lông, cặp cánh bó sát vào thân nhỏ như hai miếng xương nhô ra ngoài thân thể, hai chân đỏ hỏn bé xíu như đầu đũa, co quắp vào dưới bụng, tiếng kêu thì khào khào chẳng giống con thú nào cả, con gà không đi được, còn tệ hơn là gà què, không bay được, một đống thịt trắng phau nằm ỳ một chỗ, tóm lại tuyệt đối không làm được gì cả, kể cả nhiệm vụ truyền giống, nhanh như gà. Giống gà này được sản xuất theo đơn đặt hàng của nhà hàng đặc biệt “gà ống tre”. Nhìn thấy đồng chủng biết bay, biết chạy, biết bới đất tìm thưc phẩm, biết làm tổ đẻ trứng, ấp cho đến ngày nở ra con, biết xòe đôi cánh cho các con chui vào ẩn nấp, ngước mỏ lên trời chống trả lại với cú vọ, diều hâu khi đòi ăn thịt con nó. Dĩ nhiên con “gà ống tre” này nếu biết suy nghĩ một tý thì chắc chắn nó sẽ nghĩ khác với đồng chủng của nó, cũng sẽ què quặt, ù lỳ, đần độn, bạc nhược như chính thân thể của nó. Cũng có thể nó cho rằng đồng chủng của nó thừa đôi cánh và cặp chân không chừng. Bạn đừng đòi hỏi con gà sinh ra lớn lên chỉ với mục đích cung cấp cho nhà hàng “gà ống tre” làm chuyện bình thường. Chính bầy “gà ống tre” này có muốn làm những việc bình thường nhất cũng không được. Chúng ta không thể không tin vào những khuyết tật nhân tạo này được.

Riêng tôi, người viết bài này tuyệt đối tin vào những gì người CS đã nói, đã làm. Họ rất thành thật với tất cả khả năng sẵn có, với trái tim và lòng nhiệt tình, ngay cả việc họ nói dối một cách rất chân thành. Họ được học lừa dối người và lừa dối chính mình. Chủ nghĩa xã hội (hay CS) nuôi dưỡng, giáo dục đảng viên theo kiểu “gà ống tre” kia mà.

Phải chăng câu nói của cũng khá nổi tiếng Lenin, “Nhiệt tình cách mạng cộng với dốt nát bằng sự phá hoại” là một chân lý?

Posted: Tue Jul 01, 2008 1:32 am
by thienthanh
30 năm trước: Câu hỏi ai thắng ai
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên



Trong cuộc chiến tranh Việt Nam dài đăng đẳng hơn 15 năm, ngoài năm 1975 không thể nào quên, năm 1968 là một năm không thể nào không nhớ. Sau năm 1975, trong mười năm “cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”, ngoài năm 1975 vẫn còn đậm nét trong ký ức mọi người, bốn năm năm sau đó cũng là những năm tháng không thể nào quên. Vào thời đó, người ta hay nói về đấu tranh giữa hai con đường, và “thực chất của cuộc đấu tranh cách mạng” là giải quyết vấn đề “ai thắng ai”. Những người ở miền nam dù sao cũng đã may mắn hơn những người miền bắc. Ở miền bắc, người ta chỉ biết có độc đạo. Ở miền nam, họ biết rõ cả hai con đường, một con đường trước 1975 và một con đường hun hút thời hậu chiến. Nhưng khi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải tiến hành Đại hội VI để ban hành đường lối “đổi mới kinh tế”, ít nhất là một phần của câu hỏi “ai thắng ai” đã được trả lời một cách căn bản. Phần còn lại, lịch sử đòi hỏi thời gian. Điều an ủi, nếu không phải là tự hào, của những người miền Nam trong những “năm tháng không thể nào quên” này là không những cuộc sống của miền nam đã có sức mạnh của chân lý, mà cả những người miền nam đã đóng vai trò soi sáng những sự thật đó.
Image
Chung cư Thăng Long ở Hà Nội, hình trái và cảnh bên sông Sàigòn,hình chụp tháng 5, 2008.Photo Frank Zeller/ Hoàng Đình Nam /Getty Image.
Có ai còn nhớ?

Người dân Saigon nói riêng và người dân miền nam nói chung có sự bén nhậy mà không bộ máy tuyên truyền nào có thể làm cho người ta lạc hướng. Khi tưởng niệm ông Võ Văn Kiệt trong lễ tang ông tuần trước, đảng, chính quyền và báo chí không nói rõ vai trò độc đáo của ông trong công cuộc vận động đổi mới. Nhưng sự đưa tiễn khá đông đảo mà người dân dành cho ông đã chỉ ra một điều: nhiều người vẫn tin rằng ông hầu như là người lãnh đạo duy nhất ở Saigon thời đó biết rất sớm sự tai hại của mô hình kinh tế “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” từ ngoài bắc áp đặt lên miền nam và hiểu rằng phải hành động để thay đổi một chế độ kinh tế sai lầm, một cơ chế lạc hậu.
Trong những năm đó, nhiều người phải đi “học tập cải tạo”, nhưng đi hay không đi thì tâm trạng của người ở trong và người ở ngoài chẳng khác nhau: sự nôn nao, bất định, chờ đợi một cách mông lung. Ở trong thì “hết ngày dài lại đến đêm thâu”. Những người ở ngoài chẳng muốn làm ăn gì, và cũng chẳng biết làm ăn gì, mặc dù người ta ai cũng phải sống. Người nông dân thì quen dùng phân, dùng thuốc sát trùng, dùng điện… Bây giờ thì cả lúa giống cũng thiếu. Làm ra lúa thì phải bán cho nhà nước, phải cho cán bộ thương nghiệp trưng thu… với giá của nhà nước. Ở các xí nghiệp, vật tư nguyên liệu đều cạn, hoạt động sản xuất tất cả đều theo kế hoạch một đầu: đầu ra thì nhà nước nắm, nhưng đầu vào thì nhà nước không bảo đảm. Không có vào thì làm sao ra để giao nộp cho Nhà nước. Dù cho sản xuất có thế nào, thì chẳng ai chịu trách nhiệm, cuối tháng tài chánh vẫn phát lương – có điều giá nào, lương nấy; giá của nhà nước thì hàng không có, lương của nhà nước thì sống chưa được một tuần.
Kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai khu vực chính: bên trong là quốc doanh và hợp tác, bên ngoài là tư nhân, cá thể (ở giữa có công tư hợp doanh)… Chân trong thì được mua gạo theo tiêu chuẩn giá 40 xu một ký, được mua “nhu yếu phẩm” như nước mắm, nước tương, bột ngọt, mì gói, thịt trứng, rau cải, vải vóc… Người đi học tập vẫn được những lá thư “động viên” của vợ: “Anh đừng lo, em làm cho nhà nước khỏe lắm, được mua đủ thứ cả!”. Đó chỉ là sự thực một nửa sự thực. Đúng là khỏe lắm, chẳng có việc gì làm, nhưng nửa kia của sự thực là nhà nước chẳng có gì để bán, chẳng có gạo, chẳng có “mì chín”, chẳng có nước tương, chẳng có vải vóc gì cả. Những cái nhà nước không có ở những cửa hàng quốc doanh trong chức năng “phân phối lưu thông” lại không thiếu ở thị trường bên ngoài, ngay cả những hàng do nhà nước sản xuất được “tuồn ra bên ngoài”. Ngay cả tiền mặt của nhà nước in ra. Trong lúc đó, thì ngân hàng không có tiền để trả lương cho nhân viên nhà nước, đừng nói đến “tín dụng” tức là những khoản tiền vay để “tái sản xuất” tức để cho nhà máy chạy được bình thường, đối lại với “tái sản xuất mở rộng” tức là đầu tư để tăng sản lượng. Tương đối thì không có gì thiếu ở “thị trường vô tổ chức” (người ta không dùng chữ “chợ đen” vì nó hoạt động công khai giữa ban ngày ban mặt). Đó là thời người người đi buôn, nhà nhà đi buôn. Dù cho ông Đỗ Mười có “ngăn sông cấm chợ”, phụ nữ nào cũng có thể là con buôn đường dài nối liền giang sơn một cõi. Mang tiếng là vô tổ chức, nhưng hàng hóa từ nhà nhà tuôn ra phong phú, dồi dào, đa dạng… đến độ người miền bắc cứ tìm cách nam tiến một chuyến cũng chỉ vì cái “chợ trời” hấp dẫn đó.
Thời đó, người ta hay học tập câu “cái khó ló cái khôn” để kích thích người dân biết sống “vượt qua hoàn cảnh”. Trong thực tế, cái khôn ló ra ở đây chính là “bản năng cơ bản xã hội chủ nghĩa”, tinh thần “du kích” trong kinh doanh, được tóm gọn ở hai chữ “mánh mung”. Người ta thấy đến độ quen thuộc mà chẳng cần phân tích là “hiện tượng” hay “bản chất” sự phổ biến của một văn hóa kinh doanh gian dối, lừa phỉnh, nét đặc thù nhất của đạo đức kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội này, người nào làm cho nhà nước, bác sĩ, thầy giáo, công chức… thì ngày càng bệ rạc, người làm “nghề tự do” thì ngày càng “chợ trời”, rốt cuộc không làm sao “đi hết biển” được để viết “chuyện tử tế”.

Miền Nam đi trước
Ông Nguyễn Văn Linh, một người miền bắc gốc Hải Hưng nhưng hoạt động lâu năm trong nam, là một trong những người lãnh đạo hàng đầu của Cộng Sản ở phía nam, chỉ kém Lê Đức Thọ nhưng chẳng dưới ai, kể cả Phạm Hùng. Ông là bí thư Thành ủy của Thành phố Hồ Chí Minh cho đến năm 1978, sau đó là trưởng ban cải tạo ở phía nam. Khi nghe bài hát của Giải phóng miền nam có câu “Lòng hận thù ngất trời…” thì ông biết công cuộc cải tạo không xong và đề nghị với trung ương chậm lại trong công cuộc cải tạo nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản ở miền nam. Kết quả của thỉnh nguyện này là ông Linh bay ra khỏi chức trưởng ban cải tạo, bay luôn chức ủy viên Bộ Chính trị, và hung thần xuất hiện ở miền nam: ông Đỗ Mười.
Thay ông Linh là ông Kiệt, từ Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố được đưa lên làm bí thư. Ông Kiệt, người Vĩnh Long, dân Nam bộ, đã hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và khu Saigon-Gia Định trong thời chiến tranh cho nên có nhiều điều kiện hiểu được dân tình và cách sống. Ông còn được gọi là anh Sáu Dân hay chú Sáu Dân, vì ai cũng muốn gọi thế để có cảm tưởng mình là chỗ quen biết, thân tình với “anh Sáu”, “chú Sáu”. Từ Phó chủ tịch, ông lên làm chủ tịch rồi bí thư thành phố. Ông có tiếng “đi sâu, đi sát” với mọi tầng lớp quần chúng, từ thanh niên xung phong, bộ đội, đến các cơ sở sản xuất, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, nói chuyện với giới quản lý, với công nhân… Đối với giới trí thức, chuyên viên kinh tế, khoa học tại chỗ, người ta cũng thấy ông có thái độ khác với những người đang nắm đảng, nắm chính quyền bây giờ. “Chú Sáu” chỉ là ủy viên Bộ Chính trị dự khuyết, nhưng còn được người ta biết nhiều hơn “anh Mười” (Mười Cúc, tên gọi của ông Nguyễn Văn Linh) thời đó. Ngoài ông Kiệt ra, có thể kể đến tên ai khác ở chính quyền, ở thành ủy là người sẵn sàng “chia sẻ nỗi đau” của hàng triệu người ở Saigon – như cách nói của ông Kiệt?
Ông Kiệt là người “cách mạng”, muốn thay đổi, nhưng ông vẫn là người của chế độ, phải tùng phục “cơ chế”. Thời đó, người ta hay nói đến “vòng kim cô” của Trung ương. Ở nơi này có đến hai vòng kim cô, là ông Lê Duẩn, tổng bí thư, và Lê Đức Thọ, giáo chủ Richelieu ở chốn cung đình – chưa kể đến ông Trường Chinh, vừa giáo điều vừa Maoist. Sau lưng mỗi ông là cả một đám cận thần đang tranh giành quyền lực để mở rộng thế lực địa phương. Cho nên vấn đề của ông Kiệt không phải đơn giản: phải làm gì để tạo động lực cho kinh tế, và tìm sự ủng hộ đối với những thay đổi.
Đến năm 1979, ở Trung ương với Hội nghị lần thứ sáu của Đại hội IV đã có sự nhìn nhận về sự bế tắc của cơ chế kế hoạch “quan liêu bao cấp” và quyết định miền nam phải đi đầu trong những thử nghiệm cải cách. Ở Trung ương có Nghị quyết 6, Thành phố có Nghị quyết 9, về quyền chủ động kinh doanh và tự chủ tài chánh của cơ sở. Nhưng rõ rệt, các “kinh tế gia” ở Trung ương chẳng có gì để đóng góp cho việc tìm kiếm những thử nghiệm. Từ bao lâu nay, những nhà lý luận kinh điển ở Hà Nội chỉ có học kinh tế Mác Lê-nin như đọc kinh Koran. Tại những hội nghị “khoa học” về triết học hay kinh tế Mac Lênin tại Moscow hay Leningrad, thông thường người Việt chỉ đến để trả bài. Vì bản tính thực tiễn nên chẳng ai mất thì giờ để làm nhà tư tưởng cả. Trong thành phố, Ban kinh tế Thành ủy, và Viện Kinh tế cũng có hàng loạt phó tiến sĩ học ở Nga về, nhưng vì họ không đọc được tiếng Nga cho nên cũng chẳng có ích gì cho việc tăng cường hiệu lực kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa. Huống gì là phải vận dụng những qui luật kinh tế tư bản chủ nghĩa để tăng cường cho kinh tế xã hội chủ nghĩa…
Tháo gỡ, cởi trói
Bởi vậy vào thời đó người ta hay đề cao tinh thần “dám nghĩ dám làm”. Nghĩa là cứ làm đại. Ngứa đâu, gãi đó. Tắc đâu, khai đó. Đối với người dân miền nam, người ta không sợ thử thách, vì khi khuyến khích việc tìm cách tháo gỡ, người ta nói “có sai có sửa”. Chính sách tháo gỡ dần dần trở thành cởi trói. Bắt đầu từ những đơn vị cơ sở. Ví dụ như chuyện ba kế hoạch và ba lợi ích. Các đơn vị có kế hoạch A sản xuất cho nhà nước khi được “rót” vật tư, nguyên liệu, cũng có kế hoạch B làm theo kế hoạch nhưng không được cân đối đầy đủ vật tư nguyên liệu do đó phải tự lo nhập lượng, và kế hoạch C tự lo liệu vật tư nhưng cũng có quyền tham gia vào thị trường, vừa để tận dụng công suất nhà máy vừa để cải thiện đời sống của công nhân, mà người ta gọi là “ba lợi ích”. Ông Võ Văn Kiệt đến với những xưởng dệt, xưởng lắp ráp xe đạp, xí nghiệp cơ khí, và ông “tháo gỡ” bằng cách bảo “các đồng chí cứ làm. Tôi chịu”.
Từ nhu cầu kiếm nguồn vốn và kiếm vật tư nguyên liệu, các đơn vị sản xuất kinh doanh được cho phép một cách “bán chính thức” việc tự huy động vốn – được làm ngơ là vì ngân hàng với chức năng huy động vốn lại chẵng huy động được tiết kiệm của dân, trong khi đó các cơ sở cứ đưa ra những lãi suất hấp dẫn, 5-10% một tháng, để dụ người ta gởi tiền, gởi vàng… Hoạt động thương mãi liên kết trong nước và ngoài nước bắt đầu nổi lên dưới dạng “hàng đổi hàng”. Trong tình hình cấm vận, các Việt kiều có “thành tích yêu nước” nô nức lập công ty để tìm cách đưa hàng “nghĩa địa” chủ yếu từ Nhật về để đổi lấy hàng nông sản chế biến, thủy hải sản… Các công ty ở thành phố muốn có hàng xuất thì phải mua nguyên liệu từ các tỉnh, bằng cách đưa hàng ngoại nhập về, hoặc qua các công ty Việt kiều, hoặc qua thân nhân Việt kiều nhận kiều hối hay quà… Từ đó mà các công ty xuất nhập khẩu ngày càng mọc như nấm. Bắt đầu chỉ là Imexco, Ficonimex (của Ban Liên lạc Công thương của Mặt trận), Generalimex (của Công ty xuất khẩu chế biến thủy hải sản dựa trên thế lực người Hoa Ba Toàn), Cholimex (của quận 5, Chợ Lớn, nhóm Nghiêu Kế Thuật, Phan Chánh Dưỡng), Pharimex (xuất nhập khẩu được phẩm, của Dược sĩ Trần Văn Nhiều). Một “mô hình” nổi bật là công ty Kinh doanh Lương thực của bà Ba Thi, tức Nguyễn Thị Ráo. Bà được phép vượt qua những cơ chế về thu mua lương thực để giải quyết nạn đói ở thành phố, thương mãi hóa ngành kinh doanh này và phá vỡ thế “chia cắt” phân mảnh lâu đời theo kế hoạch trung ương. Khi ông Kiệt khuyến khích việc “cởi trói” cho hoạt động ngân hàng, tín dụng, nội thương, ngoại thương… cho giá cả, tiền lương, dù chỉ là để thử nghiệm, ông tham khảo chặt chẽ với những chuyên viên kinh tế tại chỗ của ông như các ông Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn Văn Diệp…và mạnh dạn nghe họ. Có thể nói rằng ông ít đọc dù cho báo chí trong nước đưa ra tấm hình ông ôm cuốn sách đứng trước một kệ sách lớn ngay hàng thẳng lối như từ lâu chưa có ai đụng đến. Nhưng ông là người rất chịu nghe, không mang bệnh 4 D kinh niên mãn tính thường thấy ở cán bộ (nói dai, nói dài, nói dóc, nói dở).

Khi người ta làm như đánh võ tự do, mạnh ai nấy làm, mà luật lệ, định chế, cơ chế không theo kịp, thì hỗn loạn là chuyện đương nhiên. Người ta làm ồ ạt đến Trung ương phát sợ. Đến các ngành quản lý, thường nằm trong tay cán bộ người bắc, thấy ngợp. Họ được “chi viện vào nam”, nhưng điều tâm niệm lớn nhất của họ chỉ là thu vén cá nhân. Như ông Kiệt có nói: “anh em cán bộ miền bắc thì chẳng hiểu gì, cán bộ ta ở trong nam thì thiếu và ít được đào tạo căn bản”. Cho nên Trung ương Bộ Chính trị phải ra Nghị Quyết 1 để “uốn nắn” những lệch lạc trong công cuộc cải cách cơ chế kinh tế. Nhưng những cửa đê đã mở, nước đã tràn vào từ biển không cách gì ngăn chận được. Người ta bắt đầu nói đến chế độ khoán nông nghiệp ngoài bắc, chế độ bù giá vào lương ở Long An. Tình trạng này ngoài bắc gọi là “trăm hoa đua nở”. Dẫn đến tai họa “Giá Lương Tiền” của hai ông Tố Hữu – Trần Phương năm 1985.

Đó chính là “Đêm trước của Đổi mới”. Đại hội VI của Đảng năm 1986 sẽ khó là một Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới nếu trong năm sáu năm trước đó, người miền nam đã không khẳng định được lịch sử đổi mới là của họ, và bởi họ, dù không phải chỉ cho họ. (HNN)

Posted: Wed Jul 02, 2008 1:39 am
by thienthanh
Image

LS Lê Thị Công Nhân Từ Chối Đi Mỹ
Luật sư Lê Thị Công Nhân, một nhà đấu tranh cho dân chủ VN đang bị CSVN giam cầm ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa, vừa cho biết là đã vừa từ chối đề nghị của cán bộ công an Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) rằng "nếu muốn đi Mỹ thì họ sẽ trả tự do cho cô để đi sang Hoa Kỳ".

Luật sư Công Nhân đã nói với cán bộ CSVN là cô "sinh ra ở Việt Nam, có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".

Cô đã cho mẹ là Bà Trần Thị Lệ biết sự việc này trong dịp thăm nuôi vào ngày 21-6 vừa qua. Bà Lệ đã kể lại với một số cơ quan truyền nước ngoài sau chuyến thăm nuôi.

Theo lời Bà Lệ, Luật sư Công Nhân đã cho bà biết vào ngày 11-6 vừa rồi có những người trên Bộ Công An, cục A 42, xuống làm việc với Công Nhân, họ hỏi Công Nhân có đồng ý đi Mỹ thì chính quyền đồng ý trả tự do cho Công Nhân đi sang bên đó. Công Nhân trả lời là cô không đi với tính cách tỵ nạn, tức bị nhà nước trục xuất, và Ls. Công Nhân nói là cô sinh ra ở Việt Nam thì trong ý nghĩa nào đó muốn đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam. Còn đối với một đất nước dân chủ như Mỹ thì Công Nhân cũng yêu quí và muốn đến nhưng với tính cách là du khách hay học hỏi để mở mang kiến thức; chứ nếu phải đi qua luôn bên đó thì Công Nhân không đi.

Khi công an không thuyết phục được Công Nhân về điều này thì đã dọa rằng "như thế nếu cô không đi Mỹ thì trại giam này sẽ là địa chỉ trường trực của cô".

Tuy nhiên, theo Bà Trần Thị Lệ, những lời đe dọa đã không tác dụng đối với Luật Sư Lê Thị Công Nhân, vì cô đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận. "Đó là tính cách của Công Nhân" Bà nói "Từ khi đi vào con đường đấu tranh thì Công Nhân có xác quyết phải chung vai sát cánh với những nhà đấu tranh trong nước. Tôi không ngạc nhiên về quyết định của Công Nhân". Bà cũng cho biết là Luật sư Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì, và Lsư Công Nhân đã nói với bà Bà là "đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".

Được biết, qua cuộc "đối thoại" về nhân quyền với phái đoàn Hoa Kỳ mới đây ở Hà Nội, do nhiều áp lực từ công luận, công an CSVN đã bắn tiếng cho biết sẽ trả tự do cho những nhà dân chủ được Hoa Kỳ đề c6ạp, trong đó có nữ Luật Lê Thị Công Nhân, nếu những nguời này chấp nhận phải sang Hoa Kỳ sinh sống. Và cũng theo yêu cầu và áp lực của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, vừa qua Hà Nội đã thả một số tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Mới nhất là trường hợp nữ luật sư Bùi Thị Kim Thành được cho ra khỏi bệnh viện tâm thần và được tiến hành thủ tục đưa đi Mỹ định cư.

Posted: Thu Jul 03, 2008 1:26 am
by tranphuongdong
Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản đã chết nhưng bóng ma vẫn còn

Phạm Văn Trội

Trước kia tôi còn học trong trường đại học của Việt Nam thì được rất nhiều thầy giáo dạy tôi về chủ nghĩa cộng sản, để có được chủ nghĩa cộng sản thì phải đi qua nhiều hình thái kính tế xã hội: nào là nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - Phong kiến - chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản và sau đó có thể là chủ nghĩa thiên đường mù ở trần gian... Tôi đọc mãi, đọc mãi các tập sách của ông Mac và Anghen sau đó là tuyển tập của Lê Nin và tôi cố gắng tìm xem các ông này viết về chủ nghĩa xã hội có đoạn nào có cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” hay không. Tôi đi tìm cụm từ đó mà không thấy, sau đó tôi tra từ điển cũng không có, vậy tôi không hiểu các nhà tư tưởng của Việt Nam lấy ra từ đâu... và sau này tôi mới hiểu ra rằng đó là sự chắp vá cho một thể chế chính trị bằng cách đổi mới kinh tế và giữ chặt độc quyền về lãnh đạo chính trị.

-Về kinh tế: khi đã là thị trường thì nó phải theo những nguyên tắc cơ bản của thị trường, những người cộng sản ở Việt Nam muốn cầm lái nền kinh tế, làm theo ý của mình, trong khi đó kiến thức về thị trường lại quá ít ỏi, kinh nghiệm thì nghèo nàn, trình độ quả lý xã hội của cán bộ các cấp non yếu, tệ quan liêu ỉ lại, hách dịch với nhân dân tồn dư quá nhiều và ngày còn ra tăng... đó là chướng ngại vật cho con đường phát triển của kinh tế thị trường, trong khi đó những qui luật của thị trường không được tuân thủ vận hành đúng với bản chất của nó, vì đã có bàn tay của định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi Việt Nam ra nhập WTO thì mọi sự chuẩn bị về con người, trang thiết bị kỹ thuật để bảo vệ mình và cạnh tranh phần còn lại của thế giới là quá yếu kém, vì vậy nền kinh tế Việt Nam luôn bị chao đảo và sẽ còn tiếp tục bị chao đảo cho đến khi nào đi theo đúng qui luật của thị trường và phải biết chấp nhận một nền kinh tế đã và đang yếu kém và phải xây dựng lại từ nền móng vững chắc, đi lên có các nền tảng căn bản.

-Về chính trị: Ðảng Cộng Sản Việt Nam muốn giữ vai trò độc tôn, độc quyền rồi độc đoán, tự cho mình là tài giỏi không trưng cầu dân ý các vấn đề lớn của quốc gia mà tự cho mình cái quyền quyết định vận mệnh dân tộc và cuộc sống của người dân bị phụ thuộc vào nhà nước, khi một số người không chấp nhận với nền chính trị và cung cách quản lý nhà nước thế này, họ nên tiếng thì nhà nước sẵn sàng đàn áp bắt bớ bỏ tù những người có tiếng nói khác biệt. Nhà nước tìm mọi các để quản lý chặt người dân, tìm mọi biện pháp để thu thuế, trong khi các nước dân chủ thì họ đang cố gắng cơi nới cho người dân được phát huy cái quyền vốn có và động viên người dân tham gia quản lý nhà nước. Chúng ta biết là nhà nước sinh ra để phục vụ nhân dân, chứ không phải nhà nước sinh ra để đè đầu cưỡi cổ người dân, và ngược lại nhân dân có trách nhiệm đóng góp xây dựng nhà nước đó để nhằm mục đích bảo vệ các quyền của mình mà không bị ai xâm phạm.

Nguyên tắc đất nước dân chủ khi đi theo kinh tế thị trường, thì nhiệm vụ nhà nước phải phát triển kinh tế và phát huy tối đa dân chủ của người dân nhằm kiểm soát quá trình tăng trưởng kinh tế và các vấn đề an ninh quốc phòng, thắt chặt cơ chế kiểm soát bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không. Cơ chế đó là: xây dựng nhà nước pháp quyền, các đảng phái (tổ chức chính trị) kiểm soát lẫn nhau, phát huy tối đa dân chủ (nhân dân) và các tổ chức độc lập đánh giá.

Nếu nhà nước sinh ra mà không còn mang lại quyền lợi cho người dân và các quyền căn bản thì nhân dân có thể đập bỏ bộ máy nhà nước đó đi, xây dựng lại một nhà nước phục vụ các quyền lợi của mình.

Khi phát triển kinh tế mà người dân không có quyền làm chủ (dân chủ) để kiểm soát và được biết tình trạng quốc gia mình như thế nào, những người lãnh đạo đó làm được những gì và không làm được gì, quốc gia nợ hay không nợ nước ngoài... tất cả những thông tin đó người dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải trình và trình bày với nhân dân. Nhưng trên thực tế người dân Việt Nam hoàn toàn không hề biết mọi chuyện gì đang xảy ra trên đất nước mình, qui chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chỉ là bịp bợm.

Khi tôi phát hiện ra “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tôi lại nhớ tới người thầy giáo tôi có kể một câu chuyện có tiêu đề sáng tạo bánh xe thứ 3: “khi một cuộc đua xa đạp thì ban tổ chức đã chuẩn bị cho các vận động viên của mình một chiếc xe hai bánh, khi cuộc đua bắt đầu thì các vận động viên lên xe và cứ thế đạp, riêng duy nhất còn một người vận động viên ngồi lại hì hục lắp thêm một bánh xe nữa và nghĩ rằng sẽ đi nhanh hơn và an toàn hơn, không ngờ rằng khi nghiên cứu và lắp xong bánh xe thứ 3 thì trên đường đua các vận động viên khác đã về đích còn riêng vận động viên này đạp xe một mình một lối đi, cuối cùng không theo được cuộc đua.”

Chúng ta thấy xe 3 bánh chỉ rành cho những người khuyết tật, có nghĩa là người què cụt, và người què cụt như vậy chỉ đua với những người què cụt khác, làm sao có thể đua với một vận động viên bình thường và cũng rất khó khi vượt đèo.

Với cụm từ “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” phải chăng là sự chắp vá như những người cụt phải đi chiếc xe do mình tự sáng tạo ra để trở cả dân tộc này phải ngồi vào chiếc xe đó?, nền kinh tế Việt Nam sẽ ra sao với cụm từ này? ai là người hưởng lợi khi “định hướng xa hội chủ nghĩa” quyền sinh, quyền sát, quyền tham nhũng...

Tôi cũng khá khen thay cho ai là người nghĩ ra được cụm từ đó để chèo chống, líu kéo sự tồn tại của một thể chế độc tài.Với tôi thì đó chỉ là sự bịp bợm mà thôi, vì bản chất nền kinh tế Việt Nam hôm nay đã đi theo con đường tư bản, chủ nghĩa cộng sản đã chết, bóng ma chuyên chính vẫn còn.





Phạm Văn Trội


Trước kia tôi còn học trong trường đại học của Việt Nam thì được rất nhiều thầy giáo dạy tôi về chủ nghĩa cộng sản, để có được chủ nghĩa cộng sản thì phải đi qua nhiều hình thái kính tế xã hội: nào là nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - Phong kiến - chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản và sau đó có thể là chủ nghĩa thiên đường mù ở trần gian... Tôi đọc mãi, đọc mãi các tập sách của ông Mac và Anghen sau đó là tuyển tập của Lê Nin và tôi cố gắng tìm xem các ông này viết về chủ nghĩa xã hội có đoạn nào có cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” hay không. Tôi đi tìm cụm từ đó mà không thấy, sau đó tôi tra từ điển cũng không có, vậy tôi không hiểu các nhà tư tưởng của Việt Nam lấy ra từ đâu... và sau này tôi mới hiểu ra rằng đó là sự chắp vá cho một thể chế chính trị bằng cách đổi mới kinh tế và giữ chặt độc quyền về lãnh đạo chính trị.

-Về kinh tế: khi đã là thị trường thì nó phải theo những nguyên tắc cơ bản của thị trường, những người cộng sản ở Việt Nam muốn cầm lái nền kinh tế, làm theo ý của mình, trong khi đó kiến thức về thị trường lại quá ít ỏi, kinh nghiệm thì nghèo nàn, trình độ quả lý xã hội của cán bộ các cấp non yếu, tệ quan liêu ỉ lại, hách dịch với nhân dân tồn dư quá nhiều và ngày còn ra tăng... đó là chướng ngại vật cho con đường phát triển của kinh tế thị trường, trong khi đó những qui luật của thị trường không được tuân thủ vận hành đúng với bản chất của nó, vì đã có bàn tay của định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi Việt Nam ra nhập WTO thì mọi sự chuẩn bị về con người, trang thiết bị kỹ thuật để bảo vệ mình và cạnh tranh phần còn lại của thế giới là quá yếu kém, vì vậy nền kinh tế Việt Nam luôn bị chao đảo và sẽ còn tiếp tục bị chao đảo cho đến khi nào đi theo đúng qui luật của thị trường và phải biết chấp nhận một nền kinh tế đã và đang yếu kém và phải xây dựng lại từ nền móng vững chắc, đi lên có các nền tảng căn bản.

-Về chính trị: Ðảng Cộng Sản Việt Nam muốn giữ vai trò độc tôn, độc quyền rồi độc đoán, tự cho mình là tài giỏi không trưng cầu dân ý các vấn đề lớn của quốc gia mà tự cho mình cái quyền quyết định vận mệnh dân tộc và cuộc sống của người dân bị phụ thuộc vào nhà nước, khi một số người không chấp nhận với nền chính trị và cung cách quản lý nhà nước thế này, họ nên tiếng thì nhà nước sẵn sàng đàn áp bắt bớ bỏ tù những người có tiếng nói khác biệt. Nhà nước tìm mọi các để quản lý chặt người dân, tìm mọi biện pháp để thu thuế, trong khi các nước dân chủ thì họ đang cố gắng cơi nới cho người dân được phát huy cái quyền vốn có và động viên người dân tham gia quản lý nhà nước. Chúng ta biết là nhà nước sinh ra để phục vụ nhân dân, chứ không phải nhà nước sinh ra để đè đầu cưỡi cổ người dân, và ngược lại nhân dân có trách nhiệm đóng góp xây dựng nhà nước đó để nhằm mục đích bảo vệ các quyền của mình mà không bị ai xâm phạm.

Nguyên tắc đất nước dân chủ khi đi theo kinh tế thị trường, thì nhiệm vụ nhà nước phải phát triển kinh tế và phát huy tối đa dân chủ của người dân nhằm kiểm soát quá trình tăng trưởng kinh tế và các vấn đề an ninh quốc phòng, thắt chặt cơ chế kiểm soát bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không. Cơ chế đó là: xây dựng nhà nước pháp quyền, các đảng phái (tổ chức chính trị) kiểm soát lẫn nhau, phát huy tối đa dân chủ (nhân dân) và các tổ chức độc lập đánh giá.

Nếu nhà nước sinh ra mà không còn mang lại quyền lợi cho người dân và các quyền căn bản thì nhân dân có thể đập bỏ bộ máy nhà nước đó đi, xây dựng lại một nhà nước phục vụ các quyền lợi của mình.

Khi phát triển kinh tế mà người dân không có quyền làm chủ (dân chủ) để kiểm soát và được biết tình trạng quốc gia mình như thế nào, những người lãnh đạo đó làm được những gì và không làm được gì, quốc gia nợ hay không nợ nước ngoài... tất cả những thông tin đó người dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải trình và trình bày với nhân dân. Nhưng trên thực tế người dân Việt Nam hoàn toàn không hề biết mọi chuyện gì đang xảy ra trên đất nước mình, qui chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chỉ là bịp bợm.

Khi tôi phát hiện ra “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tôi lại nhớ tới người thầy giáo tôi có kể một câu chuyện có tiêu đề sáng tạo bánh xe thứ 3: “khi một cuộc đua xa đạp thì ban tổ chức đã chuẩn bị cho các vận động viên của mình một chiếc xe hai bánh, khi cuộc đua bắt đầu thì các vận động viên lên xe và cứ thế đạp, riêng duy nhất còn một người vận động viên ngồi lại hì hục lắp thêm một bánh xe nữa và nghĩ rằng sẽ đi nhanh hơn và an toàn hơn, không ngờ rằng khi nghiên cứu và lắp xong bánh xe thứ 3 thì trên đường đua các vận động viên khác đã về đích còn riêng vận động viên này đạp xe một mình một lối đi, cuối cùng không theo được cuộc đua.”

Chúng ta thấy xe 3 bánh chỉ rành cho những người khuyết tật, có nghĩa là người què cụt, và người què cụt như vậy chỉ đua với những người què cụt khác, làm sao có thể đua với một vận động viên bình thường và cũng rất khó khi vượt đèo.

Với cụm từ “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” phải chăng là sự chắp vá như những người cụt phải đi chiếc xe do mình tự sáng tạo ra để trở cả dân tộc này phải ngồi vào chiếc xe đó?, nền kinh tế Việt Nam sẽ ra sao với cụm từ này? ai là người hưởng lợi khi “định hướng xa hội chủ nghĩa” quyền sinh, quyền sát, quyền tham nhũng...

Tôi cũng khá khen thay cho ai là người nghĩ ra được cụm từ đó để chèo chống, líu kéo sự tồn tại của một thể chế độc tài.Với tôi thì đó chỉ là sự bịp bợm mà thôi, vì bản chất nền kinh tế Việt Nam hôm nay đã đi theo con đường tư bản, chủ nghĩa cộng sản đã chết, bóng ma chuyên chính vẫn còn.

Posted: Fri Jul 04, 2008 2:22 pm
by tankhoasinh

Image

Ở CHỖ TẬN CÙNG CON NGƯỜI ĐÁNH MẤT LÝ TRÍ

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Mấy tuần nay, câu chuyện HY Phạm Minh Mẫn, TGM Saigon, ra chỉ thị triệt lá Cờ Vàng làm ngỡ ngàng và gây sửng sốt cho mọi người. Sóng gió nổi lên và vấn đề trở thành sôi nổi hơn bao giờ hết. Ông bị dư luận lên án gắt gao. Người không cùng tín ngưỡng tấn công. Con chiên phê phán cũng dữ dội không kém. Có người uất ức chịu không nổi chửi vung xích chó, chửi từ trên chửi xuống: Giáo Hội, Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục. Cả đến Thiên Chúa cũng không từ, bị chửi tuốt luốt hết. Sự thể đau lòng này từ trước tới nay chưa từng xẩy ra, có thể gọi là một thảm kịch, chỗ tận cùng của việc con người đánh mất lý trí.

Kẻ đánh mất lý trí trước hết là HY Phạm Minh Mẫn. Nếu tôi phạm thượng, xin “Đức” Hồng Y tha lỗi cho. Tôi chỉ nói sự thật. Ngày xưa, Galileo bị kết án về luận điểm khoa học của ông: trái đất xoay vòng chung quanh mặt trời. Sau khi chịu khuất phục trong phòng luận tôi của Giáo Hội, bước ra ngoài ông vẫn khẳng định: “Dù thế nào đi nữa thì trái đất vẫn xoay chung quanh mặt trời”. Galileo không nói khác sự thật được. Tôi kính phục tài bác học của ông, nhưng còn kính phục hơn nữa tính trung thực của ông, và xin học đòi ông ở điểm này. Ông HY đã xúc phạm trầm trọng đến lý tưởng và lẽ sống của tập thể cộng đồng tỵ nạn CS. Vì thế ông đã gây ra cái cớ cho người khác xúc phạm đến Đấng Tối Cao người công giáo tôn thờ. Đây là lý do tôi nói HY Mẫn đánh mất lý trí, và là điểm bài viết này nhấn mạnh. Những việc xưa nay ông hồng y Mẫn làm hay nói ra gây dị nghị thì nhiều lắm. Chỉ là dị nghị thôi. Vì vụ triệt cờ này, người ta mới chửi tưới hột sen một cách thê thảm, chửi lên tới tận thiên đình. Tôi dùng chữ “chửi” với nghĩa đen ngòm của nó chứ không phải ngoa ngôn đâu. Xin tạm kể ra mấy việc của ông Hồng Y bị dị nghị làm món ăn chơi mời bà con đọc trước cho biết.

Việc 1 - Năm 2001, Đức Thánh Cha Jean Paul II triệu thỉnh toàn thể các giám mục VN về Roma theo thông lệ Ad Limina. Ngài khuyên các giám mục hãy mạnh dạn ra khơi, can đảm theo gương các tổ tiên tử đạo của mình, và hành động theo phương châm lấy từ trong Kinh Thánh: Của Caesar trả cho Caesar, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng chỉ có thể nói đến như thế thôi, và đây nên hiểu là một lệnh hành động và cách thức Hội Đồng Giám Mục VN nên áp dụng để đối phó với CS. Hồng y Phạm Minh Mẫn làm trưởng phái đoàn, khi về tất có nhiệm vụ truyền đạt lời dậy bảo của người cha chung cho đoàn chiên của Giáo Hội VN. Nhưng ông lờ tịt đi, coi như không có gì. Vì bận rộn, vì già yếu, hay vì lý do gì khiến ông phải dấu béng đi như thế? Nhưng thôi, cũng chẳng nên trăm dâu đổ đầu tằm. Còn có Hội Đồng Giám Mục nữa chứ.

Việc 2 - cả mấy chục “người con gái VN da vàng” lõa lồ đứng bầy hàng cho bọn Hàn, Hán rửa mắt. Chúng sờ, chúng mó, chúng nắn, chúng bóp để chọn hàng. Hình ảnh đó ịn nguyên con trên báo chí khắp thế giới. Đàn ông con trai “Mít” trông thấy chẩy nước miếng và phát ghen với bọn ngoại quốc, nhưng đồng thời cũng cảm thấy đau nhói tim can. Bọn ngoại có tiền, chỉ mấy trăm đô thôi. Mình không có đành chịu. Chuyện xẩy ra ngay tại Saigon. Ông Hồng Y sợ tội không dám liếc mắt vào những thứ tục tĩu dễ thèm đó, hay ông không có thì giờ đọc báo nên không biết. Có phải cho rằng đây là nếp sống văn minh văn hóa mới xã hội chủ nghĩa của ông nên ông thấy không cần phải ngăn chặn. Hoặc ông cho rằng người ngoại quốc lựa vợ kỹ lưỡng như thế để khỏi bị lầm của giả là điều tốt nên cứ để mặc. Có nên truyền bá cách chọn vợ kiểu này cho con chiên bổn đạo của ngài không, thưa Hồng Y?

Việc 3 – Linh mục Phan Khắc Từ đêm đêm ôm vợ, sáng ra nhà thờ tế lễ Thiên Chúa. Có phải ngài Hồng Y cho rằng “cha” Từ như thế mới là điển hình tiên tiến của sứ vụ linh mục thời Giáo Hội được định hướng: vừa làm trọn thánh vụ tư tế, vừa gia tăng sản xuất baby cho Giáo Hội? Một công đôi ba việc. Bổn đạo hỏi nhau “cha” Từ phải hay không phải. Có kẻ trả lời, nếu không phải thì “Đức” Hồng Y đã đá đít “cha” Từ đi chỗ khác chơi từ khuya rồi chứ đâu còn để coi xứ Vườn Xoài Nam nữa? “Đức” Hồng Y xử lý công việc của Chúa ở địa phương ngài như rứa ắt là phải đúng thánh ý Chúa rồi. Cứ nhắm mắt vâng lời là bảo đảm. Chống ngài là chống Chúa, chết sa hỏa ngục.

Việc 4 - Cha Lý bị bắt và bị bỏ tù. Ông Hồng Y bảo: ở xa làm sao tôi hiểu được những nghịch lý trong đời sống của linh mục Lý. Đứa xấu mồm thắc mắc tại sao người lãnh đạo chóp bu như ông Hồng Y mà lại không biết được cái nghịch lý của nhân viên dưới quyền. Chuyện này không phải là nghịch lý sao? Nhưng dù sao nói đi thì cũng phải có nói lại. Thứ nhất, vì ở quá xa, lại ở trong môi trường thông tin bị bưng bít như VN thì ông HY không biết được cái nghịch lý của cha Lý là điều có thể hiểu được. Thứ hai, đức ngài tu hành trong vòng 4 bức tường gạch kiên cố và nhiều lớp “tường thịt” kín mít gió thổi không lọt thì làm sao mà nghe được chuyện thế gian. Ông HY nói có lý quá đi ấy chứ.

Thôi thì cứ cho là những chuyện khác của ông Hồng Y đều là chuyện nhỏ, và đều có lý do để biện bạch. Nhưng chuyện ông định triệt lá Cờ Vàng thì xem ra không thể. Người dân tỵ nạn gìn giữ lá cờ như người công giáo giữ linh hồn của mình vậy. Còn hơn bọn CS ác ôn gìn giữ con ngươi trong con mắt (lời già Hồ) của chúng nữa. Họ tôn trọng và bảo vệ lá cờ như giữ mồ mả tổ tiên. Chuyện đó ông Hồng Y không thể không biết, vì ông ra hải ngoại làm mục vụ xin tiền như cơm bữa. Ông đã đậu PhD về giáo dục của Mỹ, nghĩa là phải giỏi khoa tâm lý lắm. Làm sao nói ông không nắm được tâm lý người tỵ nạn? Hơn nữa lá Cờ Vàng có cái gì không tốt? Chế độ mà lá cờ đó biểu tượng không tốt hơn chế độ hiện tại sao? Hơn hàng vạn lần ấy chứ. Ông Hồng Y đã sống cả hai chế độ. Lương tâm ông có dám phủ nhận sự thật đó không? Vậy thì tại sao ông lại phải triệt hạ lá cờ? Hơn nữa, ông còn miệt thị lá cờ là một thói đời mang tính đối kháng. Thói đời!!! Lời lẽ của nhũng bọn hạ cấp mà được nói ra từ của miệng một vị Hồng Y Giáo Chủ là quá đáng lắm rồi đấy. Ông thử nghĩ xem. Ông đã là đỉnh cao của trí tuệ (có bằng PhD), chẳng lẽ ông không biết người tỵ nạn bảo vệ lá Cờ Vàng và giữ cho nó được tự do tung bay tại những nơi họ sinh sống là có lý do của họ sao? Đâu phải là một thói đời mang tính đối kháng như ông tưởng. Bao lâu lá cờ còn, về mặt chính trị và nhân đạo, người tỵ nạn còn được thế giới biết đến và công nhận là người-Việt-Nam-tỵ-nạn-cộng-sản. Và cũng từ đó, thế giới mới biết và lịch sử mới ghi lại tường tận CSVN là một chế độ thô bạo, tàn ác, và phi nhân tính như thế nào. Nếu lá cờ mất đi, họ sẽ trở thành Việt kiều, tức là người Việt Nam của chế độ chó đẻ (xin mượn tạm chữ của cụ Nghị Sỹ Nguyễn Văn Chúc) cờ đỏ sao vàng sinh sống ở ngoài nước, là thần dân của bọn bán nước tại Bắc Bộ Phủ Hànội. Cái “mark Việt kiều” người tỵ nạn có chết cũng không thèm. Lũ phỉ quyền bán nước xưa nay ra sức tròng vào cổ họ nhưng đừng hòng.

Vấn đề là ở chỗ đó. Thế mà ông HY đáng kính của chúng ta không hiểu hay không muốn hiểu. Nhưng đã muộn rồi. Dù hiểu hay không muốn hiểu, ông đã bước xuống tới chỗ tận cùng của việc đánh mất lý trí rồi. Ông phỉ báng cái biểu tượng cao quí và thiêng liêng nhất của một tập thể, và dùng quyền của một vị chủ chăn tối cao để giết chết nó là một hành động mang tính cách bạo chúa (tyrannic). Tập thể này ngày xưa bị gìm xuống đáy vực thẳm ông HY lúc đó ở đâu. Bây giờ bỗng ông nhẩy xổ ra để làm mục vụ mục viếc gì đó rồi phóng đi cái thơ quái gở kia? Ông có biết không, những kẻ bất hạnh chúng tôi từ cái hố thẳm chỉ còn biết nhìn vào ngọn cờ, chống chọi với mọi thứ kẻ thù để cố gắng sống còn và vươn lên? Ông đã tạo ra một lý do gian trá để triệt hạ một biểu tương nhân bản của những con người cùng khổ nhưng lại rất lương thiện. Làm việc này, ngoài bọn CS phi nhân ra chỉ có ông là người duy nhất, không ai ngu dại làm như thế cả. Môt con người bình thường, có trí khôn bình thường đã đủ hiểu biết để thấy cái lý lẽ sơ đẳng là đụng chạm đến danh dự và lý tưởng của một tập thể đã bị chà đạp và bị đẩy vào bước đường cùng là không nên. Vụ tờ nhật báo Người Việt ở Nam Cali, vụ Trần Trường cũng ở nam Cali tưởng đủ để dậy cho bất cứ ai một bài học kinh nghiệm. Ông HY ắt hẳn phải hơn người bình thường chứ. Những nhà lãnh đạo mang kiếng cận nên thay loại kiếng viễn thị mà mang vào. Triệt lá cờ (mà chắc gì đã triệt được), hiệp thông thì chưa thấy đâu, nhưng trước mắt thì đầy rẫy xào xáo, chia rẽ, đổ vỡ, tan nát, và xúc phạm quá đáng. Hệ quả bi thảm nhất của việc làm của ông là tạo ra tình trạng mất lý trí tồi tệ hơn ông đối với một số người: sự lăng nhục và thóa mạ Thiên Chúa.

Đến đây thì coi như tôi đã có thể có được kết luận về “Đức” HY Phạm Minh Mẫn khả kính của chúng ta rồi. Tôi kết luận như tế này:

* Thứ nhất, không phải một sớm một chiều HY Phạm Minh Mẫn bốc đồng đưa ra quyết định triệt lá Cờ Vàng. Đây chỉ là cơ hội ông cho là thuận tiện để thi hành ý định đã có sẵn. Chiều dài thời gian trong chức vụ lãnh đạo GH của ông đã nói lên điều đó. Cuộc ra quân đầu tiên triệt Cờ Vàng của ông nghe đâu đã thắng lớn. Trong Đại Hội Đức Mẹ La Vang tại Washington DC tháng 6 vừa qua do ông chủ xị đã không có lấy một bóng Cờ Vàng. HY Mẫn mặc áo đỏ “made in Vatican, not made in Hànội”. Con chiên nào dám bảo ông HY thi hành Nghị Quyết 36. Cái chiêu cáo đội lốt dê này của ông thật là thần sầu quỉ khốc. Chúa hẳn cũng phải phục ông.

* Thứ hai, ông đã quên rằng lá Cờ Vàng không phải là của riêng của người công giáo tỵ nạn, mà là của toàn khối người Việt tỵ nạn gồm đủ mọi tôn giáo. Ông lầm lớn rồi.

* Thứ ba, ông vẫn còn ngây thơ tưởng rằng giáo dân tỵ nạn làm bò cho ông vắt sữa thì cũng sẽ dễ dàng làm ngựa cho ông cưỡi. Ông tưởng chỉ cần một lá thư, ông bắt con chiên hạ cờ là con chiên phải hạ cái rụp. Ông ngây thơ quá.

* Thứ bốn, ông đã phạm phải tội đại kỵ là đụng vào chuyện không thể đụng. Thật vậy, triệt lá Cờ vàng là công tác đầu của VGCS trong mưu toan nhuộm đỏ khối người Việt tỵ nạn. Hơn nữa, cờ là linh hồn của khối người này. Hồn mất, cái xác còn sống được sao? Ông triệt nổi sao?

* Thứ năm, ông lãnh đạo mà không tiên liệu phản ứng của dư luận. Ông làm mọi người phẫn uất quạt lại ông, có người quạt lây sang cả Chúa. Tất cả đều do ông mà ra. Có người nói ông bất trí. Tôi nói không. Ông đã học tới tờ cuối cùng của sách thánh hiền phần đời và Phúc Âm phần đạo thì làm sao bảo ông bất trí được. Tôi bảo ông là người đã đánh mất lý trí. Đây là câu kết luận cuối cùng của tôi về ông.

Sau khi kết thúc phần viết về HY Phạm Minh Mẫn để mời ông đọc chơi nhân dịp ông tới làm “mục nát cộng đồng tỵ nạn” ở San Jose, thành phố tôi cư ngụ, tôi xin có vài lời tâm tình gởi tới quí vị tác giả của các bài báo có tính cách lăng nhục Thiên Chúa và với quí độc giả quan tâm. Các bài viết này có bài phê phán Giáo Hội Công Giáo, có bài, thật đáng buồn, báng bổ (blaspheme) cả Thiên Chúa. Nhưng tôi cảm thấy tốt hơn không nên nêu tên tác giả và trích đăng vào đây. Tôi xin lỗi bạn đọc.

Đây là điều khó cho tôi vì phải đụng chạm đến quyền tự do ngôn luận của người khác. Tôi tin rằng nếu tác giả của những bài viết kia đọc bài này, quí vị sẽ thông cảm chuyện bất đắc dĩ này của tôi. Tôi muốn nói với quí vị đó rằng chỉ vì một việc làm sai quấy của một người mà quí vị đã xúc phạm trầm trọng đến tín ngưỡng của nhiều người khác, trong đó có tôi, là chuyện không nên. Tôi xin nói thực tình, tôi không có gì phiền trách quí vị cả. Quí vị viết gì tôi không có quyền cấm cản. Tôi không phản bác, không tranh luận, cũng không biện bạch, mà chỉ muốn chia sẻ một vài ý kiến thô thiển với quí vị và với công luận nói chung trong tinh thần hòa đồng tôn giáo hầu mong giữ được tình đoàn kết trong cộng đồng trước mối lo chung là kẻ thù VGCS. Thù nghịch tôn giáo hoặc chiến tranh tôn giáo là điều đáng sợ nhất không phải cho riêng tôi. Tôi tin rằng dù quí vị không tin Chúa Giêsu nhưng quí vị cũng chẳng thù ghét gì Ngài. Vì thế tôi thiết nghĩ quí vị đã mắc một điểm sai lầm về nhận thức. Đó là quí vị đã đồng hóa Ngài với người đại diên của Ngài ở trần thế. Thiên Chúa vô hình tượng, con người không cảm giác được. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người để chuộc tội muôn dân, người không có đức tin như chúng tôi thật khó cảm nhận được điều đó. Quí vị bôi bác và báng bổ Ngài dù sao cũng là điều không nên. Quí vị chỉ thấy hình bóng Thiên Chúa qua những tấm áo chùng đen, chùng đỏ. Từ lối nhìn phiến diện đó, khi thấy HY Mẫn làm bậy, quí vị kết tội Thiên Chúa. Đó là điều tôi thiết nghĩ không nên. Những vị sáng lập tôn giáo về mặt nhân sinh đều là những người thượng trí và đức hạnh, người trần như chúng ta nên tôn kính. Tôi là người công giáo nhưng tôi vẫn thường cúi đầu bái Phật mỗi khi đi ngang qua tượng Đức Phật.

Tôi biết ngoài CS ra, còn có một loại người chuyên thù ghét Thiên Chúa. Loại người này ở bên Mỹ không thiếu. Tôi không tin quí vị là loại người này. Thỉnh thoảng tôi nhận được e-mail của một vài tổ chức CG Mỹ cho hay có vụ blasphemy. Họ yêu cầu tôi tham gia phản đối hoặc cầu nguyện. Mới đây thôi, ngày 26-6-2008 tôi nhận được e-mail như thế này: Dear Mr. Ha, the production is called Jerry Springer-The Opera in Concert and it will run from June 26-August 3 at the New Stage Collective in Cincinnati. The so-called opera will also be showing at The Studio Theatre in Washington D.C. from July 16-Aug. 10. Please send your e-protest to both theaters right away … (Ông Hà thân mến, tác phẩm có tên là Jerry Springer-- một vở nhạc kịch, sẽ được trình diễn từ 26-6 đến 3-8 trên sân khấu công cộng mới tại Cincinnati. Vở nhạc kịch này cũng sẽ được trình diễn tại hý viện có thâu hình ở Washington DC từ 16-7 đến 10-8. Xin mời ông gởi e-mail phản đối tới hai rạp hát trên ngay …). Phần dưới của e-mail cho biết vở kịch có những scene như chế diễu tượng Thánh Giá, chà đạp Bánh Thánh, mô tả Chúa Giêsu là đứa con giả hình của một tên bạo chúa phát xít trên thiên đình v.v. Đây là sự chống báng tôn giáo do căn tính, tính thù nghịch Thiên Chúa. Vấn đề này tôi không đề cập tới. Tôi chỉ nói đến sự bôi bác và phỉ báng tín ngưỡng bắt nguồn từ vụ triệt hạ lá Cờ Vàng của HY Phạm Minh Mẫn của quí vị.

Tôi đồng ý với quí vị về việc phê bình GHCG, nhưng hoàn toàn phản đối việc quí vị báng bổ Đấng Tối Cao của Thiên Chúa Giáo. Về chuyện tôn giáo, tôi phân biệt rạch ròi lắm. Tôn giáo nào cũng có hai phần là phần đạo và phần giáo hội. Nói theo thầy Nguyễn Đăng Thục là Hình Nhi Thượng và Hình Nhi Hạ. Đạo hay Hình Nhi Thượng ở đây là phần giáo lý và những nguyên tắc hành đạo. Phần này bên nhà Phật gọi là Pháp, thường là những gì rất cao thâm, có khi người trần không hiểu nổi. Việc hành đạo có khi rất khó khăn, khó tập luyện được. Tôi thấp trí và lười biếng nên chỉ đi tìm những cái gì dễ để học và để làm. Tôi theo đạo Chúa là vì con đường tu đạo của Ngài tương đối dễ đối với tôi. Ngài dậy: Muốn theo ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá của mình mỗi ngày mà theo ta. Chỉ có thế thôi. Tôi cho đó là cách dễ dàng nhất đối với tôi để thực hành một tôn giáo. Lý do dễ hiểu thôi. Thập giá của mình mình không vác thì cũng chẳng đẩy cho ai được. Tôi đành phải vui vẻ mà vác. Vì thế tôi theo Chúa. Nếu chỉ nhìn vào giáo hội của Ngài ở trần gian thì có lẽ tôi đã chẳng theo Ngài. Giáo hội chỉ là cái cơ chế để điều hành việc trong tôn giáo. GHCG trong một số giai đoạn lịch sử đã trở nên cường quyền và phát xít. Quí vị nêu lên Sắc Chỉ (Papal Bull) Romanus Pontifex để chứng minh. Vâng đúng, quí vị còn quên, cả Sắc Chỉ Dum Diversas June 18,1452 trước nữa cũng của Giáo Hoàng Nicolas V viết gởi cho vua Alfonso Bồ Đào Nha đều mang tính cường quyền và phát xít. Giáo Hoàng cho phép vua một nước đi thôn tính các nước khác và chinh phục các dân đạo Hồi, dân ngoại đạo và những người không tin (unbelievers) bắt làm nô lệ truyền đời (hereditary). Đáng lên án lắm chứ. Hoàng đế Trung Hoa tự xung là thiên tử được quyền “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”. Khi tiếp nhận chiếu chỉ tru di cửu tộc, cả họ vẫn còn quì lậy “tạ ơn vạn tuế”. Lạ không! Khổng Tử truyền bá cái đạo vua-tôi này. Thời phong kiến, việc như thế được cho là tự nhiên và hợp lý. Ngày nay chẳng ai cho là hợp lý, nhưng vẫn không ai lên án Đức Khổng. “Thời nào kỷ cương đó” là luật tiến hóa của vũ trụ vạn vật. Giáo Hoàng thời xưa với danh hiệu “Successor of the key-bearer of the heavenly kingdom and vicar of Jesus Christ” (kẻ kế vị người mang chìa khóa nước trời và là người đại diện của Chúa), nhiều ông cũng cường quyền như thiên tử Trung Hoa vậy. Nhưng giáo hoàng bị lên án bởi vì giáo hoàng là giáo chủ của một tôn giáo và Giáo Hoàng Nicolas V đã hành động trái với giáolý Phúc Âm của nền đạo được gọi là đạo bác ái. Sự thể cho thấy việc sai lầm lớn nhất của GH Roma là tự biến tôn giáo thành đế chế và làm cho giáo hội trở thành một đế quốc. Hơn thế nữa, triều đình Vatican có lúc còn trở nên tha hóa, sa đọa, và tranh dành quyền lực khó có thể tưởng tượng được. Đại đa số người công giáo không am hiểu bởi vì họ không được học lịch sử của GH nên không biết. Về khía cạnh này, nếu nói rằng GH xử dụng chính sách ngu dân đối với các tín hữu, tôi nghĩ cũng không sai. Ngay Giáo Hội VN cũng chẳng khá gì hơn. Giáo quyền nhiều khi cũng phe đảng. Giáo sĩ vụng trộm càng không thiếu. Truớc kia, trong khi dân quê VN đại đa số nghèo nàn đói khổ thì có thể nói phần lớn các nhà thờ trở thành địa chủ. Mầm mống chia rẽ lương giáo là ở chỗ đó. Thánh Gandhi là người hiểu đạo Chúa rất rõ và kính mến đấng Christ, nhưng tâm trạng của ông cho thấy thế nào, ông nói: “I like your Christ, I do not like your Christians. Your Christians are so unlike your Christ (Tôi mến đức Kitô, nhưng tôi không thích người Kitô giáo, bởi vì họ không giống đức Kitô.)

Tuy nhiên nếu chỉ nhìn vào những mặt tiêu cực đó để phủ nhận tất cả thì không nên. GHCG có những mặt tiêu cực, nhưng những đóng góp của GH về các mặt văn hóa nghệ thuật, hòa bình, xã hội, và nhất là gương sáng đạo đức thì không thể nào nói hết được. Đặc biệt về mặt xã hội và đạo đức, có thể nói không thời nào không có những gương sáng của các con cái của Giáo Hội. Ngay thời đại chúng ta đây, tôi nêu danh tánh Jean Paul II và Mẹ Theresa Calcutta có ai cho là không xứng đáng? Ở VN, nếu HY Phạm Minh Mẫn chạy theo VGCS bán nước thì cũng có TGM Nguyễn Kim Điền chết dưới bàn tay VGCS. Có lũ bốn tên chính ủy Minh, Cần, Từ, Bích thì cũng có nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền: Lý, Lợi, Giải, Chân Tín. Tại hải ngoại, có Trần Công Nghị quốc doanh tha hóa thì cũng có cố tuyên úy Vũ Ngọc Đáng chống cộng hết mình mà tất cả mọi giáo dân Bắc Cali, nhất là các anh em nhẩy dù bất kể lương giáo đều yêu mến. Đàng khác cũng nên lưu ý điều này. Những sai lầm của GH trong quá khứ, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã khiêm nhường xám hối trước mặt Thiên Chúa và xin nhân loại thứ tha. Ông cha ta nói: đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại. Điều đáng tiếc là riêng Giáo Hội VN thì chẳng có dấu hiệu gì tỏ ra xám hối, mà còn càng ngày càng đi sâu vào sai lầm. Và tôi cũng xin mượn lời thánh Gandhi sau đây để kết luận về tình trạng đáng tiếc này: 'God did not bear the cross only 1900 years ago but he bears it today. He dies and is resurrected from day to day.' p 108. The book of Hebrews emphasizes the fact that Jesus died 'once for all. (Chúa không chỉ vác Thánh Giá 1900 trước đây, nhưng ngày nay Ngài vẫn còn phải vác. Ngài chết và sống lại ngày nọ qua ngày kia. “trang 108. Sách Dân Do Thái nhấn mạnh sự kiện là đức Giêsu đã chết một lần cho tất cả”).

Tôi xin kết thúc tâm tình của tôi ở đây với quí vị tác giả của các bài viết tôi đề cập tới và với cộng đồng, và xin đề nghị một vài ý kiến đơn giản như thế này với tất cả: Thứ nhất, tín ngưỡng không thuộc lãnh vực thực nghiêm, không nên tranh luận để tìm đúng sai, hơn thua. Thứ hai, mối tương giao với Thượng Đế, Thần Phật nên nghe lời Khổng Tử dậy: kính nhi viễn chi là hơn. Và thứ ba, đối với các giáo hội (bất cứ tôn giáo nào) nên phê bình sửa sai (nếu thấy sai) mà không nên đạp đổ. Tôi có dậy các con tôi thế này: nếu quả thật không có Thượng Đế thì cũng nên tạo ra Thượng Đế để mà thờ. Bởi vì nếu không có Thượng Đế, con người sẽ trở thành thượng đế. Như thế nguy hiểm lắm. CS là một thí dụ trước mắt, các con đã nhìn thấy rõ ràng.

San Jose, July 2, 2008
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Posted: Sun Jul 06, 2008 1:13 am
by vuphong

Image

Mừng ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7


Dù cho vật đổi sao dời hay thiên hạ có nói gì chăng nữa, thì tới nay Hoa Kỳ cũng vẫn là quốc gia vĩ đại nhất về đủ mọi phương diện kể cả mức thu nhập bình quân đầu người trên 40.000 USD bỏ xa Thụy Sĩ (33.800) , Úc (30.700), Anh (29.600), Nhật (29.400), Ðức và Pháp (28.700)..
Căn cứ vào tác phẩm nổi tiếng ‘ Un Jour De La Vie De L’Amerique ‘ do nhà xuất bản Robert Laffont tại Pháp ấn hành,

tổng hợp từ bài viết của hơn 200 ký giả ngoại quốc và trên 250.000 tấm ảnh độc đáo vô cùng giá trị. Nhờ vậy chúng ta mới có cơ hội hiểu được phần nào về ‘ Một đất nước trong một lục địa ‘ có lảnh thổ rộng lớn tới 9.629.091 km2 (chỉ thua Nga, Canada, Trung Cộng) với tổng sản lượng quốc gia gấp trăm ngàn lần nhiều nước khác trên thế giới. Hiện dân số Mỹ 295.734 triệụ người, đông nhất vẫn là da trắng (chiếm 77% ), da đen (12 %) , gốc La Tin như Y Pha Nho, Bồ Ðào Nha (8%) .. còn lại là thiểu số người gốc Châu Á, Polynésien và Da Ðỏ . Có hơn 73,5% người Mỹ sống tại các đô thị lớn nhỏ . Los Angeles nằm trong tiểu bang California, là một trong những siêu đô thị hiện nay của Hoa Kỳ, xuất phát từ cái tên do người Mễ đặt ‘ El Pueblo De Nuestra Senora Le Reina De Los Angeles De Porcianculal ‘ , hiện có trên 12 triệu dân nói lẫn lộn tiếng Tây Ban Nha và Anh Ngữ. Trong khi đó New York lại là thành phố lớn nhất của Mỹ, cũng là đô thị có nhiều người Do Thái sinh sống nhất trên thế giới, sử dụng tiếng Yiddish (Israel) , loại cổ ngữ chỉ còn xài ở Trung Ðông mà thôi.

Toàn quốc có 15.132 phi trường lớn nhỏ, trong đó Chicago và Dallas Fort Worth được coi là lớn nhất thế giới, cứ 14 giây là có một phi cơ hạ hay cất cánh nhưng có điều kỳ lạ là người Mỹ không thích xuất ngoại bằng máy bay, nên trung bình hằng năm có chừng 15 triệu người ra nước ngoài. Về phương tiện giao thông, Hoa Kỳ đứng đầu thế giới với 6 triệu cây số xa lộ , 150 triệu xe ô tô đủ loại và 30 triệu xe vận tải hạng nặng, xuôi ngược khắp nước hàng ngày, qua vận tốc ấn định từ 88-105 km/giờ.

Kỹ nghệ sản xuất xe hơi của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới cho dù mọi người xài cả xe Nhật lẫn Châu Âu. Thủ đô ô tô của Mỹ là Detroit thuộc tiểu bang Michigan nằm kế Ngủ Ðại Hồ. Một người di dân Pháp tên Antoine De La Mothe Cadillac đã lập ra thành phố này. Vì vậy để tưởng nhớ tới ông, các công ty sản xuất xe hơi của Mỹ, mới đặt tên cho một loại xe đắt tiền nhất do Hoa Kỳ chế tạo là ‘ Cadillac ‘.Tới nay ba đại công ty Géneral Motors, Ford và Chryslev vẫn đứng đầu cả nước và thế giới về mức sản xuất xe, qua sự hổ trợ của nhiều công ty nhỏ . Ngoài ra Hoa Kỳ còn là cường quốc dẫn đầu thế giới về điện nguyên tử, máy bay, máy điện toán, thuốc lá, bắp, thịt bò, than đá..

Tuy người Mỹ sống rất thực tế nhưng hầu hết đều tham gia các công tác từ thiện với số tiền góp và tậng phẩm hằng năm gần 100 tỷ mỹ kim. Tóm lại không có ai dám nói rằng mình biết hết chuyện nước Mỹ vì đời sống ở đây gần như thay đổi từng giây từng phút, khó lòng dự đoán được. Với Người Việt Tị Nạn Cộng Sản qua 33 năm lưu vong, nay đã để lại một dấu ấn tốt đẹp và đậm nét trong những trang sử của Hoa Kỳ. Ðó là sự hình thành các cộng đồng Người Việt Quốc Gia mà biểu tượng là ‘ Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ ‘ đã được nhiều Tiểu Bang công nhận, tại các thành phố lớn như San José, Los Angeles, Houston, Wasington DC, New York.. và nhất là Little Sài Gòn, thủ đô của Người Việt Hải Ngoại..

Tóm lại, người Mỹ không cần biết tới đời tư của bất cứ cá nhân nào khi họ dấn thân vào con đường chính trị, miễn sao các cấp lãnh đạo, mang cho dân chúng có đủ cơm ăn áo mặc, đất nước thanh bình, uy tín của Hoa Kỳ được tôn trong khắp thế giới là đủ rồi.

Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân suốt 200 năm lập quốc : phố xá khang trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Nói chung, dù dân tộc Hoa Kỳ chỉ mới lập quốc nhưng hầu hết đều có lễ nghĩa đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương không biên giới (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), nên đã nhanh chóng thu phục được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.

Người Việt tị nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực. Bởi vậy để đền đáp phần nào tấm lòng nhân đạo mà Hoa Kỳ đã rộng mở , chúng ta phải biết ‘ nhập gia tuỳ tục ‘, làm tốt bổn phận công dân và cố gắng phát huy truyền thống tinh hoa của Dân Tộc Việt, để không hổ danh là con Hồng Cháu Lạc dù đã có quốc tịch Mỹ hay đang sống tạm nơi xứ người.

1 - Ý NGHĨA NGÀY ÐỘC LẬP HOA KỲ 4 THÁNG 7 :

Sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh. Cuối cùng 13 Tiểu Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, cũng đã dành được Ðộc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm. Ðó là ngày 4-7-1776 , lần đầu tiên ‘ BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN ‘được công bố trước quốc dân đồng bào..

Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Ðể tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Ðiển Tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những mẫu tự đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả.. tới nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong dời sống người Mỹ.

Sau này có M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy. Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.

Cùng với chiều hướng Ðộc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là Washington đã phát biểu ‘ Hiệp Chũng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Ðộc Lập. Vậy tai sao chúng ta cần gì phải quay về với Châu Âu hay Luân Ðôn để bắt chước họ ? qua đợi chờ xin xõ phê chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng, cũng chỉ là sự quê mùa, lỗi thời ‘.Hởi ôi nếu các nhà lãnh đạo VN bao đời, có được một phần tư tưởng độc lập như TT Mỹ, thì chắc chắn đất nước chúng ta ngày nay đâu phải đắm chìm trong vũng bùn ô nhục tồi tệ và thua kém nhân loại.

Ðể đổi lấy nền Ðộc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chũng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp thuận Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.

Ðiều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Ðó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tói Ðộc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Ðộc Lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống cá nhân8 và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.. Trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và ba người chỉ mới 20 tuổi.

Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên hệ tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này,hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson.

Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Ðó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới,lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ biết có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa Kỳ mà thôi.

2 - SIÊU CƯỜNG HOA KỲ TRONG THẾ KỶ XXI :

+ Chuyện Dài Súng Ðạn Tại Mỹ ,

Ðến giờ, nước Mỹ vẫn điên đầu về chuyện súng đạn gần như vô phương giải quyết. Súng đạn đã làm ba vị Tổng Thống Hoa Kỳ thiệt mạng. Súng đã giết tập thể nhiều nam nữ học sinh, sinh viên và thầy cô ngay tại nhà trường. Cũng vì súng mà nhiều thanh thiếu niên đã vướng vào con đường tội lỗi mất hết tương lai. Thê nhưng chính quyền tiểu bang lẫn liên bang vẫn bất lực và người Mỹ cứ tiếp tục là nạn nhân của súng.

Ðây là vấn đề được bàn cải nhiều năm qua câu hỏi đặt ra là ‘ từ thuở lập quốc ông cha ta có thích súng hay không ? ‘ Nhiều người đã trả lời là có khi dẫn chứng lời của ông Richard Henry Lee, đã viết vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ‘ Ðể bảo vệ tự do, điều cần thiết là tất cả mọi người phải luôn giữ vũ khí và được dạy cách sử dụng ngay khi còn trẻ ‘.Nhưng theo nhận xét của giáo sư Michael Bellesiles tại Ðại học Emory thuộc thành phố Atlanta, cho rằng người xưa đâu có thích giữ súng đạn, khi ông dựa vào 1000 hồ sơ lưu trữ từ 1765-1850, phân tích qua các bản di chúc phân chia tài sản đã không thấy ai nhắc tới vũ khí như gươm giáo súng đạn vào thời đó.

Còn các tài liệu liên quan tới lịch sử Hoa Kỳ, có nhắc tới những vụ kiểm kê tại tiểu bang Massachusetts là một trong hai trung tâm sản xuất vũ khí của Mỹ vào năm 1840, cho thấy chỉ có 11% dân số có giữ súng đạn. Ðiều này cho thấy người Mỹ thuở lập quốc không mấy người giữ súng đạn trong nhà. Thật ra thời đó súng đạn rất đắt, chỉ riêng tiền mua một khẩu súng trường Mousqueton, tương đương với tiền kiếm được của một nông dân cả năm. Sỡ dĩ súng quá đắt vì lúc đó Mỹ phải nhập cảng từ Anh, Pháp, Ðức. Ngoài ra còn phải tốn tiền bảo trì súng làm bắng sắt nên mau hoen rĩ không xài được. Do đó chỉ có giới trung lưu trở lên mối có tiền sắm súng riêng mà thôi.

Trước khi xảy ra cuộc nội chiến, Hoa Kỳ chỉ có hai lò sản xuất súng đạn tại Harpers Ferry (Virginia) và Springfield (Massachusetts) nhưng không đủ trang bị cho quân đội. Vì vậy năm 1793 quốc hội Mỹ phải mua 7000 khẩu súng trường và năm sau chỉ còn tiền nhập thêm 400 khẩu nữa mà thôi, để trang bị cho quân chính qui. Với các lực lượng dân quân lại càng thiếu thốn, nên phải dùng gươm giáo thay thế. Năm 1808 liên bang đã cấp súng đạn cho dân da trắng khi họ tình nguyện vào đơn vị dân quân tự vệ. Tuy nhiên đó cũng chỉ là lý thuyết vì mãi tới năm 1839, chỉ có các đơn vị ở Massachusetts mới được trang bị vũ khí đầy đủ mà thôi.

Tóm lại việc phát triển súng đạn tại Mỹ bắt đầu từ cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-1865) cũng là thời kỳ đất nước bắt đầu kỹ nghệ hóa. Do đó chỉ trong năm 1864, riêng lò Springfield đã sản xuất tới 600.000 khẩu súng trường, bằng số súng cả nước Mỹ gộp lại trong 70 năm trở về trước. Ngân sách quốc phòng của Bắc quân cũng tăng tới 179 triệu USD (bằng 2,5 tỷ hiện nay) nên tha hồ mua sắm hay sản xuất súng đạn. Nam quân cũng đâu chịu thua, thế là hai phe tha hồ chạy đua phát triển quân sự để dành chiến thắng.

Năm 1865 cuộc nội chiến chấm dứt nhưng chính quyền vẫn không ban hành lệnh thu hồi số súng đạn đã cấp phát . Bởi vậy hầu hết binh sĩ khi được lệnh giải ngũ đã đem vũ khí cá nhân về cất giữ tại nhà. Ðó là lần đại vũ trang cho toàn dân Mỹ với số lượng lên đến vài triệu khẩu, mở đầu cho làn sóng tội lỗi bừng phát vào thời kỳ hậu chiến, mà nạn nhân quan trọng nhất đầu tiên hứng chiu là Tổng Thống Abraham Lincoln. Còn Samuel Colt là tên lái súng đầu tiên của Mỹ trong ngành mua bán vũ khí, dùng tiền bạc hối lộ chính quyền để được luật hợp thức hoá. Ðương sự cũng là nhân vật đã phát sinh nghề vận động hành lang (lobby) của giới buôn bán súng. Tuy vậy việc cho sử dụng súng từ 1870-1880 kể cả vùng Viễn Tây Hoang Dã vẫn chưa chính thức như các cảnh thấy trong phim cao bồi chỉ là thêu dệt quảng cáo. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ , thì bạo lực súng đạn đã xảy ra nhiều nhất tại các thành phố lớn ở miền đông, hơn là tại các trang trại đồng cỏ của giới chăn bò. New York mới chính là thiên đường của những tên sát nhân vì là hang ổ của các tập đoàn Mafia Ý lúc đó chuyên buôn lậu rượu, súng đạn và kỷ nghệ gái điếm.

Tới cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ngày càng có nhiều người giữ súng vì quá rẽ và các điều kiện mua thật dễ dàng, qua nhiều hảng sản xuất vũ khí cũng như sự thay đổi của Hiệp hội súng trường Mỹ (National Rifle Association ố NRA), được thành lập vào năm 1872 và quyết định của quốc hội cho phép quảng bá việc sử dụng súng trường vào năm 1903. Sau đó chính phủ còn đem số súng sản xuất thặng dư tặng cho các câu lạc bộ súng được NRA đở đầu.

Tháng 11- 1963 Tổng thống John F Kenedy bị ám sát bằng súng khiến cho quốc hội phải thông qua luật kiểm soát vũ khí (Gun Control Act) đồng thời cấm mua bán súng qua đường bưu điện. Luật trên được NRA ủng hộ nhưng sau đó lại bị một vài thành viên phản đối như Hanlon Carter (Texas) và cuối cùng đã xóa sổ tổ chức NRA cũ để lập một hội buôn bán vũ khí mới, mà số hội viên vào năm 2000 đã lên tới 2,5 triệu người. Từ đó NRA ngoài việc chống sự kiểm soát việc sử dụng súng đạn của dân Mỹ, mà còn là một đảng phái chính trị, gây nhức nhối cho chính quyền kể cả các vụ ám sát bằng súng mà nạn nhân là tổng thống Reagan và thượng nghị sỉ Brady, tuy cả hai chỉ bị thương không mất mạng.

+ Từ Chuyện In Tiền Tới Hai Vụ Khủng Hoảng Tài Chánh Lớn Nhất Của Mỹ .

Ai cũng biết các đại công ty của Mỹ lừng danh trên thế giới như Coca Cola, Citibank, Ford, Macintosh.. đã làm ra nhiều tiền của cho quốc gia Hoa Kỳ. Nhưng chính Cơ Quan In Tiền (Bureau of Engraving and Printing) viết tắt là BEP , thuộc Bộ Tài Chánh của Liên Bang Hiệp Chủng Quốc, mới là nơi hằng ngày đã in hằng triệu đô la cho khắp thế giới sử dụng.

Nhà in tiền này qua cái tên The Money Factory, tọa lạc tại đường 14 thủ đô Hoa thịnh Ðốn (Washington DC) , mở cửa hằng ngày cho phép mọi người vào tìm hiểu sinh hoạt của BEP, hoàn toàn miễn phí và rất giản dị trong thủ tục kiểm soát an ninh với mọi người. Khách bị ngăn cách bên trong bằng bức tường kính dày và cao đến tận trần nhà. Tóm lại để hoàn thành tờ giấy bạc, nhà in tiền phải trải qua 65 công tác in ấn từ giai đoạn bản kẻm cho tới khi bạc được xếp thành từng bó 100 tờ để phát hành. Theo tài liệu cho thấy nhà in hoạt động từ tháng 8-1862 tới nay chưa hề xảy ra một trường hợp mất mác nào đáng tiếc, tuy các công nhân viên đang ở giữa núi tiền. Tất cả các loại giấy bạc của Hoa Kỳ đều đuợc in tại đây từ năm 1863 và tới nay chỉ còn 6 loại tiền giấy từ 1 ố 100 USD thông dụng mà thôi.

Về việc chọn in chân dung các nhân vật trên tờ giấy bạc do bộ trưởng tài chánh quyết định. Theo đó tờ thấy tờ 1 đồng in hình Tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington. Kế tiếp là TT Thomas Jefferson tờ 2 đồng, TT Abraham Lincoln tờ 5 đồng, Bộ trưởng tài chánh Alexander Hamilton tờ 10 đồng, TT Andrew Jackson tờ 20 đồng, TT Ulysses Grant tờ 50 đồng và cuối cùng là TT Benjamin Franklin tờ 100 đồng có giá trị cao nhất. Ðồng đô la đã gắn liền với đời sống của người dân Mỹ. Ðó là một chân lý như nhận xét của thi hào kiêm triết gia nổi tiếng của Mỹ ‘ Dân Hoa Kỳ rất ít có đức tin , họ chỉ tin vào sức mạnh của đồng đô la mà thôi ‘.

Thứ ba ngày 29-10-1929 có thể nói là ngày đen tối nhất của người Mỹ đối với nền kinh tế đang trong cơn khủng hoảng, nhất là với thị trường chứng khoán. Ngày đó không người Mỹ nào quên được, đã xảy ra lúc 10 giờ sáng thời gian mà thị trường cổ phiếu tại New York mở cửa với tin sét đánh khi chỉ số Dow Jones tụt xuống một cách khủng khiếp: 368-298, giảm 22% . Và ngày đó được gọi là ‘ Ngày Thứ Ba Ðen Tối ‘, làm cho nền kinh tế của Mỹ và thế giới tụt giốc thê thảm, kéo dài hơn 10 năm tới Thế chiến 2 bắt đầu (1939) mới tạm chấm dứt cơn ác mộng. Cũng từ đó tới năm 1954, thị trường chứng khoán Mỹ lại đạt được mức kỷ lục như năm 1929 nhưng sự lo lắng hải hùng của ngày thứ ba đen vẫn luôn ám ảnh đời sống người dân Mỹ

Ngày 19-10-1987 lần nữa sự đen tối lại đến với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Ngày đó, chỉ số Dow Jones tụt 508,32 điểm làm cho cổ phiếu Mỹ rơi vào tình trạng hổn loạn đóng băng, gieo màu tang trắng lên khắp khu phố Wall (New York) , kéo theo sự sụp đổ hàng loạt các thị trường chứng khoán London, Tokyo, Sydney, HongKong, Singapore. Tai họa năm 1929 thật sự đã trở lại với mọi người, chỉ trong chốc lát tỷ phú biến thành kẻ trắng tay như Sam Wolton mất trắng 2,1 tỷ USD và tất cả bất động sản. Tuy nhiên nhờ lúc đó kinh tế Mỹ còn đang phát triển mạnh nên sớm vươn mình trở lại sau cú sốc chết người.

Mới đây 2-7-2008 lần nữa thị trường chứng khoán tại New York cũng đột nhiên sụt điểm thê thảm chưa từng thấy, báo hiệu kinh tế Hoa Kỳ đang đứng trên bờ vực thẳm khủng hoảng vì giá dầu có tăng mà không thấy giảm.Tuy nhiên kẻ thiệt hại duy nhất không phải chỉ có Hoa Kỳ mà còn thêm siêu cường Trung Cộng vì bao nhiêu vốn liếng đều đầu tư vào cổ phiếu Mỹ ngay từ thời kỳ đổi mới kinh tế.

+ BOEING DREAMLINER : Máy Bay Mỹ Bán Chạy Nhất Thế Giới Trong Thế Kỷ XXI

Ngày 8-7-2007 công ty Boeing của Mỹ đã cho trình diện trước công chúng tại tiêu bang Washington kiểu máy bay mới nhất ‘ 787 Dreamliner ‘ qua các kiểu 787-3, 787-8, 787-9 và 787-10. Giá mỗi chiếc hiện nay từ 146 ố 200 triệu USD, công ty dự kiến sẽ sản xuất 2000 chiếc theo đơn đặt hàng trong vòng hai thập kỷ tới.

Ðây là loại máy bay thương mại, có khả năng chở được từ 210-330 hành khách, bay xa hơn 15.000 km. Thân phi cơ được chế tạo bằng sợi carbon composite (50%) và titanium (15%) , coi như loại máy bay chuyên chở hạng trung, tối tân nhất trong thế kỷ 21. Bởi vậy đã có trên 40 công ty hàng không quốc tế đặt mua 642 chiếc thuộc các kiểu 787 , trong số này có hảng Qantas của Úc sử dụng tới 115 chiếc B-787. Ðặc biệt có công ty Air Berlin của Ðức đặt mua 25 chiếc, trị giá hơn 4 tỷ USD.

Ðây là loại máy bay tối tân và ít tốn nhiên liệu nhất so với các loại phi cơ chuyên chở khác. Vì được chế tạo bằng vật liệu nhẹ như sợi carbon composite, aluminium vừa bền lại làm giảm trọng lượng thân máy bay, nên tiết kiệm tới 20% nhiên liệu sử dụng. Nhưng trên hết, B-787 đã đạt được đòi hỏi của ngành hàng không là Giảm Nhiên Liệu và Giảm Bớt Tác Hại Khí Thải Trong Bầu Khí Quyển. Ngoài ra B-787 còn được sử dụng lâu hơn các loại máy bay khác từ 20-30 năm. Về tiện nghi, phòng dành cho hành khách cũng lớn hơn, kể cả ghế ngồi, hành lang di chuyển, cửa sổ, phòng vệ sinh và áp suất trong cabin.. mọi thứ đều vượt xa các loại máy bay khác.

B-787 sử dụng hai động cơ Trent 1000 có trọng lượng 11.900 lb/1c, giúp phi cơ đạt được vận tốc gần 1500 km/h với lực đẩy 150.000 pounds, tương đương với sức mạnh của 1500 chiếc xe hơi 4 máy. Loại động cơ này được công ty Rolls-Royce của Anh đặc chế cho Boeing. Hiện B-787 đã cất cánh với chiếc đầu tiên do hảng máy bay ANA vào tháng 5-2008.

+ Hoa Kỳ : Siêu Cường Quốc Thế Giới Về Sản Xuất Ðiện Nguyên Tử

Tính đến nay, Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới về mức sản xuất điện nguyên tử , qua 113 lò phản ứng (LPU) mà một 1/2 số lượng uranium đang sử dụng trong các nhà máy đều được mua từ các lò phản ứng của các nước cộng hòa cũ của Liên Bang Sô Viết sau khi sụp đổ vào năm 1991. Tuy số lượng nhà máy LPU được giảm từ 111-103 nhưng điện năng sản xuất lại tăng hơn 20%. Hiện chính phủ đang xây dựng các nhà máy mới và sẽ tiêu hủy những nhà máy đã lổi thời trong một nghĩa địa đặc biệt dành nhốt các chất phế thải độc hại.

Là quốc gia tiền tiến, nên từ năm 1960 Mỷ đã xây được nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và sử dụng vào năm 1962. So với các nước tiên phong trong lãnh vực này (Liên Xô 1954, Anh 1956, Phap 1956), thì Hoa Kỳ tới sau nhưng lại là nước có nhiều LPU nhất thế giới 113/441 nhà máy, tổng công suất 98.054/369.374 MW toàn cầu. Những nhà máy điện Nguyên Tử của Hoa Kỳ đều sử dụng hai loại PWR (nước áp lực) và BWR (nước sôi). Tính đến cuối năm 2005, các nhà máy trên thuộc quyền sở hửu của 10 công ty lớn của tư nhân (68%), phần còn lại của chính phủ. Sự thành công lớn nhất trong kỷ nghệ sản xuất điện nguyên tử của Hoa Kỳ, là nâng cao được hiệu suất điều hành các lò phản ứng, cũng như sự bảo dưỡng tuyệt đối tránh được sự thất thoát các chất độc hại giết người, như đã từng xảy ra tại Liên Xô và Nhật vào mấy năm trước. Nhờ vậy điện nguyên tử đã cung ứng được 19% nhu cầu cả nước với điện lực sản xuất năm 2005 lên tới 780,5 tỷ KWH.

Bộ năng lượng Hoa Kỳ là cơ quan tối cao nhất của chính phủ liên bang, điều hành và quản trị LPU. Bộ này cũng phụ trách công tác nghiên cứu để phát triển kỷ nghệ điện nguyên tử tại các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Argone Tây với số nhân viên trên 6000 người, qua mục đích phát triển các nhà máy điện nguyên tử thế hệ IV của Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài ra Mỹ cũng là quốc gia đang sở hửu nhiều vũ khí nguyên tử nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng đã tham gia vào chương trình nguyên tử của LHQ để giúp Liên Bang Nga trong công tác pha loảng độ cao của chất uranium chứa trong 9000 đầu đạn nguyên tử, trở thành độ thấp (LEU) làm nhiên liệu để chạy các nhà máy điện nguyên tử tại nước này

Theo tài liệu mới nhất của Ủy Ban Nguyên Tử Thế Giới (WNA) cho biết Mỹ đang xây dựng thêm 13 LPU với tổng công suất 17.000 MW, do công ty AREWA(Pháp) hợp tác với một công ty Mỹ thực hiện theo kiểu nước áp lực cải tiến của Châu Âu. Về vấn đề tiêu hủy các chất phế thải tại cac nhà máy điện nguyên tử, Hoa Kỳ cũng đã ban hành luật cấm tái tạo các nhiên liệu nguyên tử đã sử dụng và mọi chất phế thải có độ phóng xạ cao. Tất cả được di chuyển đến địa điểm ân định để chôn vào lòng đất vĩnh viễn. Ðể thực hiện công tác này, các công ty điện nguyên tử đã đóng góp hơn 24 tỷ USD. Vào năm 2001 qua quyết định của lưỡng viện quốc hội, chọn khu núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada làm nghĩa địa vĩnh viễn để chôn 70.000 tấn chất phế thải nguyên tử hiện có và sẽ tiếp tục vì khả năng thật sự của khu này lên tới 682.000 tấn.

+ HARVARD, Lò Ðào Tạo Nhân Tài Cho Thế Giới.

Là một trong hàng trăm viện đại học nổi tiếng lâu đời của Hoa Kỳ. Ðây là nơi đã sản sinh cho nước Mỹ 6 vị tổng thống, 35 nhà bác học nhận giải Nobel, 30 người được giải Pulitzer và hàng trăm nhân vật lảnh đạo đủ phương diện khắp thế giới. Trường được thành lập bởi nhóm di dân Thanh Giáo tại thành phố Cambridge tiểu bang Massachusetts vào năm 1636 với mục đích ban đầu là đào tạo các linh mục và luật sư cho cộng đồng giáo dân tại địa phương

Năm 1708 khi John Leverett trở thành viện trưởng trường đại học Harvard mới bắt đầu thêm vào chương trình giảng dạy những môn học ngoài tôn giáo. Trường mang tên một linh mục John Harvard (1607-1638) vì ông đã hiến cho nhà trường nữa phần gia tài khi qua đời.Tính đến nay, trường được 372 tuổi và luôn được người Mỹ gọi là ngôi trường của giới cấp tiến với thành quả đạt được qua mọi lĩnh vực khoa học, kinh tế và chính trị. Các vị tổng thống Hoa Kỳ như Theodore Roosevelt, Franklin D Roosevelt, John F Kennedy.. đều xuất thân từ đây.

Ngoài ra còn các nhân vật khác nổi tiếng của nước Mỹ như Bill Gates, Algore, Henry Kissinger, các nhà văn nổi tiếng Norman Mailer, John Updike.. cũng đều là cựu sinh viên của trường. Nhờ có ngân quỷ khổng lồ trên 11 tỷ đô la, được dùng làm vốn đầu tư cổ phiếu và bất động sản, đem về tiền lời hằng năm cả trăm triệu đô la. Số tiền này nhà trường dùng để nghiên cứu khoa học, chi phí điều hành và trả lương cho các vị giáo sư có tiếng tăm khắp thế giới được mời về giảng dạy cho sinh viên theo học.

Do trên chi phí theo học tại đại học Harvard rất cao so với các đại học khác trên đất Mỹ với số tiền 40.000 USD/1 năm về khoảng học phí, bảo hiểm y tế và ăn ở. Tuy nhiên với các sinh nghèo được miễn học phí lại còn thêm phần học bổng. Vì uy tín của nhà trường quá cao, nên hầu như khắp thế giới nếu có điều kiện, ai cũng muốn có được tấm bằng của Harvard để kiến công lập nghiệp. Hiện trường có hơn 20.000 sinh viên theo học đủ các bộ môn, trong số này luật khoa đã chiếm tới 1/10 sĩ số.

Hơn ba thế kỷ qua mặc cho vật đổi sao dời nhưng nguyên tắc giảng dạy tại đại học này vẫn không thay đổi, bất chấp lợi nhuận vẫn không ảnh hưởng đến nhà trường. Ðiển hình nhất là vụ đạo diễn nổi tiếng của Hollywood Steven Spielberg đã bị từ chối khi muốn mượn trường làm bối cảnh để quay cuốn phim lịch sử về tổng thống Mỹ John Quincy Adams từng xuất thân ở đây, với lý do trở ngại việc học hành của sinh viên. Năm 1998 Harvard xếp hàng đầu trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất của Mỹ.

3 - MỘT VÒNG NƯỚC MỸ NHÂN NGÀY ÐỘC LẬP HOA KỲ 4 THÁNG 7 :

Là một quốc gia rộng lớn có diện tích bao trùm từ bờ Thái Bình Dương sang Ðại Tây Dương mênh mông vô tận. Sông Mississippi cùng với hai hợp lưu là sông Missouri và Red Rock dài 3741 ml hay 6019 km, đứng thứ 4 trên thế giới, sau sông Nile (Bắc Phi-6671 km), Amazon (Nam Mỹ-6300km) và Dương Tử (Trung Cộng-6276km) . Sông chảy từ bắc xuống nam phân chia nước Mỹ làm hai phần, phù sa bồi đắp tạo nên hai tiểu bang mang tên của nó ‘ Mississippi và Missouri ‘.Gọi Hoa Kỳ là một quốc gia trong một lục địa, thật không ngoa chút nào vì sự đa dạng của nó. Nhiều làng xóm khu phố được thiết kế gần như đất tổ của di dân, chẳng hạn như thành phố Quincy (50.000 dân) có nhiều biệt thự kiến trúc theo kiểu Ðức nằm giữa những vườn cây cổ kính. Trong lúc đó ở Alexandria là thành phố nằm cạnh sông Potomac, kế thủ đô Washington thì xây cất theo lối Anh Cát Lợi với tường gạch màu huyết dụ

Ðối với các tổng thống Mỹ khi còn tại chức thì sống trong tòa Bạch Ốc tại Hoa Thịnh Ðốn. Ðây là một tòa nhà đồ sộ có tới 132 phòng, 35 nhà vệ sinh, 3 tháng máy và tất cả những tiện nghi vật chất dành cho các bậc đế vương. Nhưng khi mãn nhiệm thì mạnh ai lo nấy, chẳng hạn như cựu TT Jimmy Carter về sống tại căn nhà riêng của mình mua trả góp từ năm 1960. Nhà của ông nằm kế thị trấn Plaince, tiểu bang Georgia. Ông sống đời giản dị, trong nhà không sắm đồ gì quý báu xa xỉ, còn những vật dụng thường nhật thì tự tay mình làm. Tuy tuổi tác đã cao nhưng TT Carter vẫn hoạt động xã hội không ngừng, để giúp cho những người nghèo, già và tàn tật bất hạnh.

Ðối với TT Ronald Reagan lúc còn sinh tiền, khi tại chức Thống đốc CA và Tổng thống, ông sống trong công thự. Năm 1989 mản nhiệm kỳ ông mua một căn nhà tại thành phố thượng lưu Bel Air thuộc tiểu bang California. Ngôi nhà là một dinh thự nhưng cất theo kiểu thôn quê với 3 phòng ngủ, 4 lò sưởi, 5 nhà vệ sinh và một hồ tắm. Còn TT Bush cha thì về lại cố hương ở Kennebunkport thuộc tiểu bang Maine nằm trên bờ Ðại Tây Dương. Ðây là căn nhà của tổ phụ đã xây dựng từ năm 1902 và được xây dựng thêm nhiều công trình như hồ tắm, sân golf, sân tennis, nhà dành riêng cho khách và một cây cầu nhỏ bắc trên bờ biển. Thú vui của TT Bush là câu cá, đánh golf, lái cano và cầu nguyện trong thánh đường.

Nhưng tệ nhất là cựu TT Bill Clinton. Khi còn tại chức thống đốc Arkansas và TT thì sống trong công thự. Năm 2001 về hưu sống tại ngôi nhà trị giá 1,7 triệu USD tại thành phố Chappaquq tiểu bang New York. Nhà này xây từ năm 1889 có 5 phòng ngủ, 4 phòng tắm, hồ bơi và chuồng ngựa.. Tháng 2-2001 vụ bê bối của Clinton bị bật mí và được báo chí khai thác tùm lum. Thế là bà vợ nổi tam bành, đã quăng hết đồ đạc và đuổi cựu tổng thống hào hoa ra khỏi nhà. Năm 2008 bà Clinton ra ứng cử tổng thống nên hai vợ chồng lại làm lành như trước.

Du hành nước Mỹ, trước hết phải nói tới chốn thần tiên cực lạc không đâu bằng. Ðó là đảo quốc Hạ Uy Di, tiểu bang thứ 50 của Hiệp Chủng Quốc từ năm 1959. Ða số người Mỹ hay du khách ngoại quốc đều ao ước tới Honolulu để nghĩ hè, tắm biển hay hưởng tuần trăng mật, cho dù đây là địa phương có giá sinh hoạt đắt đỏ nhất nước. Tới Honolulu để thăm lại di tích lịch sử về trận hải chiến giữa Mỹ-Nhật ngày 7-12-1941 tại Pearl Harbor mà xác của chiến hạm Arizona vẫn còn nằm yên trong vùng biển Thái Bình Dương, như là nhân chứng của thảm họa chiến tranh, qua cái chết của gần 4000 chiến sĩ đã hy sinh vì nước. Người Việt tị nạn Việt Cộng đã có mặt tại đảo quốc sau tháng 5-1975 khi VNCH bị sụp đổ. Ða số sống bằng nghề lái taxi, làm công nhân khách sạn và buôn bán đủ ngành. Ở đây dời sống thật giản dị hiền hòa, du khách lẫn ngưởi bản địa ai cũng thoải mái trong cách ăn mặc, theo truyền thống Hawaii.

Tháng bảy ở California hình như mặt trời không muốn lặn. Thủ đô điện ảnh Mỹ Hollywood cho tới đầu thế kỷ XXI vẫn nguyên vẹn với nét lập dị thời thượng. Ðó là sự hiện diện của khu rừng trồng toàn một loại cây có gai tên Holly và khắp via hè dọc theo đại lộ Hoàng Hôn, đâu đâu cũng khắc đầy những ngôi sao năm cánh mang tên tuổi của những tài danh nổi tiếng trên màn bạc, sân khấu hay các đạo diễn phim trường. Los Angeles nay là thành phố lớn thứ nhì của Mỹ sau New York. Thành phố nổi tiếng với các vùng phụ cận như Hollywood, Beverly Hill, Chinese Theatre.. và nhất là khu giải trí lừng danh Disneyland, vương quốc của vua phim hoạt hình Walt Disney với nhiều khu giải trí riêng biệt dành cho mọi lứa tuổi.

San Jose là một thành phố nhỏ có nhiều người Việt trú ngụ. Vùng này khí hậu gần giống như Ðà Lạt tạo nên nếp sống thanh bình êm ả nên ai cũng thích, tuy rằng sinh hoạt không náo nhiệt như thủ đô của người Việt ở Little Sài Gòn, miền nam Cali nắng ấm. Kế cạnh San Jose là thành phố San Francisco có hơn 8 triệu dân, nổi tiếng với biển sạch và xanh mát, nơi đã bảo thủ được những chiếc tàu điện của hơn trăm năm trước, chạy bằng dây cáp và đường ray, lại có tiếng chuông khua leng keng mỗi khi tới một nhà ga nào đó

California còn là vùng đất học, vì trong tổng số 12 viện đại học danh tiếng nhất hoàn cầu, thì Hoa Kỳ đã chiếm 8, trong số này có hai của Tiểu bang Cali. Ðiều này cũng dể hiểu vì miền đất này đông dân nhất Hợp Chũng Quốc, với hơn 30 triệu người sinh sống tại đây, lại có một nền kinh tế cao và sung túc, cho nên hệ thống giáo dục được phát triển mạnh nhất nước. Ðó là hai dại học công lập Universite of Calif-Berkeley, thường được viết tắt là UC Berkeley, cùng với đại học tư Stanford, cả hai đều lớn mạnh. Hiện nay UC Berkeley có tới 1500 giáo sư giảng dạy và 30.000 sinh viên + nghiên cứu sinh đang theo học. Tường thành lập từ năm 1868, qua thời gian đã tạo được một bề dầy thành tích, qua hai lãnh vực trí thức và chuyên nghiệp, nhát là sự nghiên cứu khoa học, đã mang về cho trường các giải Nobel danh tiếng về Nguyên tử và tin học.

UC Berkeley còn có lò phản ứng nguyên tử, do chính tiến sĩ J.R.Oppenheimer thực hiện, vì ông chính là cha dẻ cuả quả bom đầu tiên mà Mỹ chế tạo được vào năm 1945. Calif còn có 8 viện đại học khác, cùng có trình độ và tầm vóc ngang hàng với UC Berkeley, họp thành University of Calif (UC ) công lập, do một hội đồng quản trị và điều hành (Regent), đứng đầu là một chủ tịch và nhiều thành viên, trong đó có Thống đốc tiểu bang, cùng với các viện trưởng đại học liên hệ. UC đào tạo đủ trình độ như cử nhân ( Bachelor ố 4 năm), cao học (Master), tiến sĩ (Doctor).. có giá trị văn bằng, chẳng những tại Mỹ mà còn khắp thế giới. Ðiều này đối với các đại học khác tại Calif như UC San Diego, UC Los Angeles, UC Riverside, UC San Francisco, .. cũng không có gì khác biệt, tuy mỗi trường có riêng chuyên môn của mình.

Song song hệ thống đại học công lập của liên bang, còn có hệ thống đại học của tiểu bang Calif (CSU), rãi rác từ nam lên bắc có 23 viện như Humbold, Hayward, Stanislaus, Monrerey Bay, San Diego.. chỉ đào tạo hai ngãch cử nhân và cao học mà thôi, tuy rằng trình độ giảng dạy, giữa hai viên đại học liên bang (UC) và tiểu bang (USC) đều giống nhau. Còn phải kể tới các đại học chuyên môn (College) và cộng đồng (Community College), đều thuộc hệ thống công lập hạng ba.

Trong khi đó các đại học tư nhân được phát triển tự do, bao gồm 30 đại học hổn hợp (University) và Chuyên môn (College), trong số này có 10 trường của các giáo hội Thiên Chúa, Tin Lành và Thanh Giáo như đại học Sacramento, Los Angeles, đại học quốc tế.. nhưng nổi tiếng nhất của hệ thống này, vẫn là đại học Stanford. Viện thành lập năm 1891, hiện có 1400 giảng sư , 14000 sinh viên, 7 phân khoa, được xếp hạng trong 5 viện đại học danh tiếng nhất của nước Mỹ : Harvard, Berkeley, Cal Tech và Massachusetts Institute of Technology (MIT). Viện chuyên đào tạo giáo sư các ngành , giảng dạy tại các trường phổ thông của Mỹ. Tóm lại,trong hệ thống đại học tại tiểu bang Calif, 90% sinh viên là người địa phương, số còn lại từ các tiểu bang khác và ngoại quốc. Người gốc Châu Á theo học chưa tới 3% nhưng chiếm 8% là sinh viên giỏi, trong số này đứng đầu vẫn là người Việt tị nạn, Trung Hoa, Nhât Bản và Nam Hàn.

Về hướng đông Cali là thành phố Las Vagas mệnh danh khắp thế giới ‘ kinh đô của thần đổ bác’. Las Vagas chỉ mới chuyển mình chừng 30 năm trở lại, từ một thị trấn hoang vu nằm giữa sa mạc Nevada cằn khô gíó cháy, chỉ có đá sỏi và tơ trời. Thế mà mà qua bàn tay xây dựng của con người, ngày nay Las Vegas là kinh đô của cờ bạc, giải trí mọi vấn đề tuỳ theo túi tiền ném qua cửa sổ để thử thời vận, sau những ngày làm việc vất vả.

Kế Nevada là tiểu bang Wyoming nổi tiếng với khu bảo tồn đầu tiên của nước Mỹ được thành lập từ năm 1906. Tại đây có ngọn Black Hill với hai hang lớn là ‘ Hang Gió và Hang Ðá Quý’, nhiều mõ vàng nên đã thu hút rất nhiều người khắp nước Mỹ tới đây tìm cơ hội ‘ đổi đời ‘ mà cao điểm là năm 1880. Xa hơn một chút là ngọn núi Tháp Quỷ với huyền thoại về một kho tàng trong lòng núi.

Nằm trong trung tâm khu bảo tồn, núi Ðá Quỷ có hình dáng giống như một gốc cây mục khổng lồ đứng giữa vùng thung lũng sông Bella Fourche. Ðây là một ngọn núi lửa kỳ dị, đã xuất hiện cách đây hơn 100 triệu năm, do khoáng chất phonolite porphyry màu xám đỏ, hòa với đá lửa, pha lê và và đá felspar tạo thành. Vì trải qua thời gian dài bị mưa gió xâm thực nên núi càng ngày càng thấp dần.

Từ xưa địa phương đã xem ngọn núi Tháp Quỹ như một chốn thiêng liêng nên không ai dám léo hánh tới. Tình trạng này đến ngày 4-7-1893 mới có hai người chủ trang trại kế cận tên William Roger và Willard Ripley dùng thang leo lên đỉnh núi và trở thành người đầu tiên chinh phục ngọn núi này. Sau đó nhiều người tới leo núi bằng dây thừng càng lúc càng đông suốt năm, ngoại trừ tháng 6 có lễ hội cúng thần núi.

Theo huyền thoại từ ngàn năm trước, thì trong lòng núi có chứa một kho báu vô giá. Ðối với bộ tộc người da đỏ Kiowa sống gần núi, thường hay nhắc tới câu chuyện bảy cô gái vào rừng hái nấm thì gặp phải đàn gấu săn đuổi. Cuối cùng họ leo lên một hòn đá gần đấy và cầu nguyện thần núi giúp đở mới thoát được tai nạn và biến thành những ngôi sao. Bởi vậy núi mới có tên là ‘ Túp lều của gấu (Bear Lodge) ‘.Về chuyện kho báu cũng phát xuất từ câu chuyện ba người da đỏ từ xa đến đây săn bắn vì không để ý nên lạc đường vào tận chân núi Quỷ . Do đó họ đã vô tình phát hiện được một lối đi ngoằn nghèo dẩn sâu vào một hang động chứa đầy xác người. Cuối hang là một hồ nước mà xung quanh đầy đá và vàng. Ba người trên thu nhặt một phần số vàng và đem dấu kín cho đến khi qua đời mới thố lộ cho những người khác trong bộ tộc. Tuy nhiên vì lòng mê tín sợ thần núi nên cũng chẳng ai dám đá động đến kho vàng trong hang núi Quỷ.

Khi người da trắng đến đây biết được câu chuyện về kho vàng trong lòng núi, đã nhiều lần tổ chức tìm kiếm nhưng không thấy gì và bí ẩn về kho báu trên tới nay vẫn còn là nan đề kể cả khoa học cũng không giải thích được.

Về thành phố Dallas của Tiểu bang Texas để chiêm ngưởng một công trình vĩ đại vô tiền khoáng hậu lớn nhất thế giới của Ðiêu khắc gia kiêm họa sĩ nổi tiếng Robert Summers, sinh năm 1940 tại thị trấn Glen Rose.. Ai cũng biết tiểu bang Texas giàu có hôm nay nhờ hai nguồn lợi ‘ Bò và Dầu Hoả ‘.Bởi vậy không ai ngạc nhiên khi đến thăm Khu Công Viên Quốc Gia Pioneer Plaza rộng chừng 4,2 mẫu Anh, tại trung tâm thành phố, đối diện với Tòa thị chính. Nơi này về trước là vùng đất mang tên Shawnee Cattle Trail là một con đường qua lại của các chàng Cao Bồi Texas và đàn bò của họ từ khi người da trắng đến khai thác miền viễn tây vào năm 1854. Trong công viên có tất cả 39 con bò đúc bằng đồng đen sẩm to lớn như thật. Ngoài ra còn có tượng các chàng chăn bò đang phi ngựa với đầy đủ nón rộng vành, súng đạn, dây nhợ .. mà ta thường thấy trên màn ảnh.

Dallas cũng là nơi mà TT John F Kennedy đã bị ám sát vào tháng 11-1963 tại Dealey Plaza, nơi chốn đã đi vào những trang sử cận đại của Hoa Kỳ. Tháng 6-2008 vừa qua, tiểu bang Texas càng nổi tiếng hơn khi hàng ngàn người Việt Tị Nạn Việt Cộng đã biểu tình phản đối tẩy chay và tố cáo tội ác của tên Việt gian Nguyễn tấn Dũng và đồng bọn khi mon men tới nơi này để tiếp tục lường bịp người và dư luận, hầu tiếp tục duy trì dảng cướp Mafia đỏ đang đô hộ đất nước và dân tộc Việt.

Trước năm 1974, New York có Tòa nhà cao nhất thế giới. Ðó là Empire State Building với 102 tầng, cao 443m, nằm trên Ðại lộ thứ 5 , giữa khu thương mai Manhattan. Ðược hoàn thành bởi các kiến trúc sư Shreve, Lamb và Harnon, thiết kế theo kiểu cách Art-Déco năm 1930. Những bộ phim ghê rợn loại King Kong được thực hiện tại đây.

Từ sau khi Hai Tháp của Tòa Nhà World Trade Center bị 19 tên khủng bố Hồi giáo cực đoan dánh bom tự sát bằng máy bay, vào ngày 11-9-2001, làm chết gần 7000 người và sụp đổ toàn diện, thì Empire State Building lại trở thành tòa nhà cao nhất nước Mỹ. Ðây là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước, khi tới thăm viếng thủ đô tài chánh vủa Hoa Kỳ, với những cảm giác mạnh , khi đứng trên hai đài quan sát tại tầng số 86 và 102., với hệ thống thang máy chuyển động rất nhanh. Ðài quan sát có song sắt bảo vệ ở phía ngoài,để tránh những tai nạn đáng tiếc. Nơi này cũng cấm hôn hít với lý do là nụ hôn sẽ tạo nên hiện tượng điện giật làm chết người. Từ đây du khach có thể chiêm ngưởng được toàn cảnh thành phố, trong phạm vi 120 km khi trời tốt, bằng không từ trên nhìn xuống chỉ thấy mây trắng mịt mùng, khói sương lãng đảng, khiến cho ta có cải cảm giác như đang sống trong ở cõi trên, quên đời quên tất cả.

Theo thống kê, tính từ ngày được khánh thành vào năm 1931 tới nay, đã có hơn 80 triệu du khách tới thăm viếng tòa nhà nổi tiếng này, được xếp vào kỳ quan thứ 8 của thế giới,tốn hết 60.000 tấn thép, 1860 bậc thang dẫn từ dưới đất lên tới đỉnh ở tầng 102, hơn 5000 km đường dây điện thoại, 96 km đường ống dẫn nước và 6500 cửa kính, được lau chùi thường xuyên.

New York có Rockerfeller Center , gồm 19 tòa cao ốc của tỷ phú Rockerfeler chuyên về thương mại, giải trí và buôn bán bất động sản. Ở đây còn có Viện Bảo Tàng Guggenheim là công trình xây dựng của Kiến trúc sư nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới là Frank Lloyd Wright. Còn có Trung tâm tài chánh chứng khoán thế giới Wall Street, nằm trong một dãy phố hẹp, cổ kính New York Stock Exchange (Thị trường chứng khoán NY), được hình thành từ năm 1792, từ 24 Hội viên lên tới 1300 ngày nay. Trên Ðại lộ Broadway náo nhiêt, còn có Trung tâm kịch nghệ nỗi tiếng, thường trình diễn những tác phẩm nổi tiếng của thế giới. Trụ sở Liên Hiệp Quốc một trong những điểm thăm viếng của du khach, nay cũng được hạn chế tối đa để đề phòng khủng bố , sau ngày 9-11-2001

Nhưng niềm tự hào của người dân New York nói riêng và nước Mỹ, vẫn là Tượng Nữ Thần Tự Do, tay cầm ngọn đuốc sáng, để soi đường dẫn lối , cho các đoàn tàu vượt Ðại Tây Dương vào Hải Cảng New York.

Ðây là một trong những biểu tượng vĩ đại nhất của nước Mỹ, được đặt trên Ðảo Bedloe còn gọi là Liberty Island, bên bờ biển New York. Tượng tượng trưng cho sự tự do, liêm chính và lòng nhân ái của người Mỹ khi lập quốc. Với chiều cao từ nền tới bó đuốc là 92,97m và trọng lượng 325 tấn, do Ðiêu khắc gia lừng danh người Pháp trong thế kỷ XIX là Augusste Bartholdiv thực hiện. Ðây là món quà quý giá của nước Pháp , tặng cho người dân Mỹ, , để kỷ niệm Ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4-7. Nhưng vì lúc đó Pháp đang có chiến tranh với Phổ, nên phải giao việc thực hiện tượng cho các hội từ thiện đãm trách.

Vì công trình quá vĩ đại mà ngân khoản của chính phủ trợ cấp có giới hạn, nên công tác phải gián đoạn nhiều lần cũng như mất nhiều thời ginn để tiết kiệm tiền.Vì vậy tới ngày 12-8-1876 chỉ mới hoàn thành xong cánh tay cầm ngọn đuốc của Nữ thần. Ðể tranh thủ thời gian cho kịp, nhà điêu khắc phải đóng thùng gửi trước sang Mỹ, trong lúc tiếp tục những phần còn lại, mãi cho tới tháng 5-1884 mới xong.

Tại Mỹ, dân chúng đã quyên góp được 250.000 USD để xây chiệc bệ đặt Tượng Nữ thần trên đảo Bedloe. Một buổi lễ trọng thể được tổ chức ngày 28-10-1886, để khánh thành pho tượng với sự tham sự đông đảo của đồng bào và các quan chức Chính phủ. Dịp này Ủy Ban Quốc Hội đã để một chiếc hộp màu đỏ, tượng trưng cho niềm tin, được niêm kín, trong đó có Bản Hến Pháp và Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ, dưới chân Nữ Thần Tự Do, như một nhân chứng lịch sử. Tên tuổi của Nhà Ðiêu khắc Pháp ‘ Auguste Bartholdiv được vinh danh. Từ năm 1931, Tượng lại được bảo trì cẩn mật và tô bồi thêm cho xứng đáng với ý nghĩa thiêng liêng. Riêng Bó đuốc trong tay Nử thần, luôn luôn cháy sáng, nhờ một hệ thống ống dẫn dầu cung cấp liên tục.

Hằng năm Tượng Nữ thần đã thu hút du khách muôn phương tới đây chiêm ngưởng. Ði tàu từ đất liền ra đảo và sắp hàng để được thang máy đưa lên tận Vương Miện của Tượng, tha hồ chụp hình, ngắm cảnh. Nếu không muốn chờ đợi, thì tự leo 22 bậc thang để tới chân tượng Nữ thần, để mua những kỷ vật hay vào thăm khu bảo tàng trưng bày những hình ảnh liên hệ tới lịch sử của nước Mỹ.

Mừng ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7 năm nay, cũng như nghiêng mình biết ơn Các đấng Tiền Nhân đã xả thân vì nước, xin có bài thơ gởi tới bạn bè :

Xuân như đã cùng ta đang trẩy hội
Ngày vui chung trên xứ đẹp quê xa
Cõi thần tiên mật ngọt chảy muôn nhà
Làm ai cũng tưởng đầu thai trở lại

Ta tới đây trong hình hài điên dại
Ðêm hải kinh hốt hoảng những âm thừa
Người săn người đang ngả ngựa chào thua
Người gục trước lưởi lê và mũi súng

Ta tới đây hồn xanh xao chết sửng
Tai vẫn vang tiếng chém giết kêu gào
Mắt vẫn đầy khẩu hiệu máu đỏ au
Ðèn phố thị ngỡ hỏa châu rợp sáng

Ta tới đây phận hèn đời tị nạn
Giải khăn sô theo lệ hận chan hòa
Khóc đồng bào gục chết giữa rừng xa
Thương đồng đội phơi thây nơi tù ngục

Ta đến đây cổi già thân gổ mục
Làm lá xanh vàng trước tuổi niên thì
Ngực căng đầy những vết tích âm ty
Da vẫn mặn miền đất quê biển gió

Ta đến đây trong hành trang nổi nhớ
Mang theo em, xóm nhỏ với sân trường
Con sông buồn, lầu nước, cõi quê hương
Và bãi vắng bờ hoang dăm mái rạ

Ta đến đây hồn Việt Nam tơi tả
Bởi hoan hô đã đảo hận miên trường
Bao chục năm non nước ngập máu xương
Nay vẫn đó, nổi nhục hờn huyết hận

Ta đến đây với hai bàn tay trắng
Nhưng không quên những lối bước chân đời
Tết Mậu Thân thây co quắp muôn nơi
Trời Ðại lộ kinh hoàng mùi tử khí

Ta đến đây làm tên hèn mọi Mỹ
Nên bâng quơ say tỉnh khắp hiên người
Bỏ nhà đi vừa tuối chớm bốn mươi
Nay bạc tóc vẫn đầu đường xó chợ

Ngày Ðộc Lập làm ta thêm bở ngỡ
Nhớ quê xa thương nấm mộ mẹ hiền
Xót nồi người trong đói lạnh triền miên
Chuyện buồn kể chắc không ai còn nhớ ..

Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 7-2008
Mường Giang

Posted: Mon Jul 07, 2008 4:38 am
by thienthanh
HIỆN TƯỢNG HỒNG Y PHẠM MINH MẪN


Có lẽ chưa bao giờ tên tuổi của Hồng Y Phạm Minh Mẫn được nhiều người Việt Nam ở khắp nơi đề cập tới bằng nhiều cung điệu khác nhau như trong một tháng qua, kể từ ngày Hồng Y Phạm Minh Mẫn công bố một lá thư gởi cho 3 vị Giám mục Việt Nam đi tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới (ĐHGTTG) tổ chức tại Sydney từ ngày 15 đến 20 tháng 7 năm 2008 sắp tới. Càng gần tới ngày khai mạc ĐHGTTG thì "hiện tượng Hồng Y Phạm Minh Mẫn" càng trở nên nóng bỏng hơn

Có người đã dùng ngôn từ không ra gì với lời lẽ nặng nề để phản đối Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Là một linh mục Việt Nam, tôi rất đau buồn và cảm thấy nhục nhã khi phải đọc những lời lẽ nặng nề mà một số người đã dùng với một chức sắc cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như thế.

Vậy Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã viết những gì trong lá thư nói trên để rồi sóng gió và giông bão nổi lên như thế?

Trọng tâm của lá thư gồm 6 đoạn và dài hơn một trang giấy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã công khai bày tỏ thái độ chống báng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không muốn hình ảnh lá cờ vàng hiện diện trong ĐHGTTG tại Sydney và gọi đó là "sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN" (đoạn 2). Trong đoạn 3, Hồng Y Phạm Minh Mẫn giải thích khá dài dòng về ý nghĩa lá cờ và nhắc lại bài học quí giá mà ngài đã học được từ một vị giám mục quá cố về "Người mẹ VN lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ)..." Lá thư đó, đã được nhiều cơ quan ngôn luận và các diễn đàn điện tử cho in lại cùng với những lời bình luận chung quanh ý nghĩa và giá trị tinh thần của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong tâm trí của đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và để phản đối quan điểm của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong nhận định về lá cờ này.

Lá thư đó đã gây ra nhiều sự chống đối mạnh mẽ từ nhiều phía, từ những người Công giáo và các tín hữu thuộc các tôn giáo bạn, đáng kể nhất là Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đã lên tiếng quan ngại về nội dung lá thư một cách chính thức. Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu còn ra một Tuyên Bố Chung kêu gọi đồng hương bày tỏ lập trường quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong dịp ĐHGTTG tại Sydney. Khi tôi đang viết những dòng này cũng nhận được một bản Tuyên Cáo của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington phản đối lời tuyên bố của Hồng Y Phạm Minh Mẫn và kêu gọi đồng hương mang cờ vàng ba sọc đỏ "dàn chào" Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong thánh lễ dự trù được diễn ra vào chiều ngày 9 tháng 7 tại nhà thờ Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Seatle.

Đứng trước làn sóng chống đối càng lúc càng dâng cao, đặc biệt là thái độ phản kháng một cách quyết liệt tại những nơi mà trong chương trình Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ tới với danh nghĩa làm công tác Mục Vụ, tôi nghĩ là Hồng Y Phạm Minh Mẫn nên xem xét lại việc xuất hiện trong ĐHGTTG ở Sydney. Trong quá khứ đồng bào Việt Nam tị nạn Cộng sản tại Úc Châu đã nhiều lần chứng tỏ sự đoàn kết quyết tâm bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ và không bao giờ khoan nhượng trong việc thẳng tay tẩy trừ những kẻ nào có manh tâm muốn gieo rắc ảnh hưởng của chế độ Cộng sản Việt Nam tại đất nước này.

Vai trò Mục Vụ của Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong những chuyến thăm viếng theo đúng nghĩa là đem an bình và hợp nhất đến cho đàn chiên. Nhưng trong lần tham dự ĐHGTTG sắp tới tại Sydney, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy Hồng Y Phạm Minh Mẫn chẳng những không mang lại được cho đàn chiên Công Giáo tại Úc Châu sự hợp nhất và bình an, mà còn có thể gây ra sự phẫn nộ, chia rẽ và rối loạn trong Cộng đồng người Việt tị nạn tại quốc gia này. Như vậy, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đến Sydney trong dịp đó để làm gì? Nếu vì một lý do nào khác mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn vẫn phải xuất hiện tại ĐHGTTG ở Sydney thì chắc chắn ngài sẽ thất vọng vì "sự cố" mà ngài đã viết trong thơ là "làm tắc nghẽn sự hiệp thông của các bạn trẻ VN" ở ba lần ĐHGTTG trước tại Pháp, Đức và Canada, lần này chắc chắn sẽ được đồng bào tị nạn ở Úc Châu bày tỏ cách dữ dội hơn. Không lẽ khi thấy cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong ĐHGTTG, lúc đó Hồng Y Phạm Minh Mẫn sẽ rời ghế đứng dậy ra về?

Tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ cho dù bị Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho là:"Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng", điều này cũng không có gì khó hiểu. Là một linh mục Việt Nam tị nạn Cộng sản, tôi xin nói rằng đồng bào tị nạn Cộng sản ở Hải Ngoại và ngay cả đại đa số những đồng bào đang phải sống ở trong nước vì hiểm họa Cộng Sản sau biến cố đau thương 30/4/1975, trong tâm tư mỗi người luôn ấp ủ hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đó là linh hồn của Dân Tộc Việt.

Lá cờ vàng ba sọc đỏ là hình ảnh mạnh mẽ nhất mà những đồng bào tị nạn đã may mắn trốn chạy thoát khỏi chế độ độc tài Cộng sản dùng để bày tỏ sự đối kháng chế độ phản dân hại nước và những kẻ làm tay sai cho chúng.

Linh mục NGUYỄN HỮU LỄ

Posted: Thu Jul 10, 2008 12:41 am
by tankhoasinh
Image

Hồng Y Mẫn "Né Tránh" Khắp Nơi
Cộng đồng người Việt T. B. WA phản đối hiệu quả:
Hồng Y Phạm Minh Mẫn vội rời Seattle đi Washington DC
SEATTLE (NVTB). - Buổi lễ kỷ niệm 50 năm chịu chức Linh Mục của TGM Brunett, từ một ngày trước đã gửi email đến báo chí sẽ không có người khách mời như dự liệu đó là: Hồng Y Phạm Mẫn.

Tuy vậy sau những thư phản đối và tuyên cáo, một nhóm giáo dân và đồng hương đã có mặt trước Nhà Thờ Chính Tòa Tổng Giáo Phận Seattle số 710, đường số 9th Ave., lúc 2 giờ chiều thứ Ba 8-7-08 để phản đối, và chỉ nhằm thêm một lần giải thích với quý vị lãnh đạo Công Giáo: Họ bất bình với lời phát biểu của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, và ước mong ông nhìn ra được chuyến công du này thất bại vì đâu?

Nhiều hàng giáo phẩm đã thăm hỏi đoàn biểu tình lịch sự, ôn hòa, và cho biết Hồng Y Phạm Minh Mẫn có âm thầm tới Seattle, và cũng lặng lẽ lên máy bay đi Washington DC trong ngày.

Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, những bản văn, tuyên cáo của Cộng Đồng NVQG/WA và của Ủy Ban Vinh Danh Cờ Vàng VNCH Tiểu Bang WA cùng một số giáo dân, từ Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng và Giáo dân Seattle đã lên tiếng phản đối Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng như chuẩn bị một cuộc biểu tình ôn hòa để bày tỏ thái độ, tìm cách "mở rộng nhận thức" cho một nhà lãnh đạo tôn giáo vốn đã nhận định vừa lòng nhà cầm quyền hiện nay nhưng phật lòng đồng bào hải ngoại, như lời ông Tăng Phước Trọng CĐNgười Việt Quốc Gia Washington, BS Nguyễn Xuân Dũng, chủ tịch Ủy Ban Vinh Danh Cờ Vàng, ông Vũ Tuấn, Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng....

Chương trình của Hồng Y Phạm Minh Mẫn được thông báo hạn chế sẽ: thăm viếng cộng đồng Công Giáo Việt Nam dự trù qua một thánh lễ lúc 6 giờ chiều thứ Tư 9-7-2008, và một buổi "tiếp tân hạn chế" tiếp sau lễ cầu nguyện ở nhà thờ theo thư mời - nội bộ - của Ban Thường Vụ nhưng chương trình đến nay sẽ hủy bỏ vì chương trình đã hoàn toàn thay đổi, tiếp theo Úc, San José, Spokane WA... đều bãi bỏ
Image
Được biết, cuối tuần qua, như chương trình dự định, Hồng Y Mẫn đến làm lễ tại nhà thờ Maria Goretti và St Patrick tại San José vào chiều thứ Bảy 5-7 vừa qua với sự tham dự của giáo dân Việt Nam tại đây, nhưng cuối cùng cả hai buổi lễ nói trên đã bị hủy bỏ vì Hồng Y Mẫn "cáo bệnh" không đến. Tuy đã được thông báo, giáo dân San Josécũng mang theo cờ Vàng đến dự lễ, sẵn sàng giương cao nếu có Hồng Y đến.

Ông Denny O'Leary từ tòa Tổng Giám Mục phổ biến tới báo chí chiều thou Hai 7 tháng 7 , 2008 cho biết: Tòa TGM Seattle xác nhận cho dù Hồng Y Phạm Minh Mẫn có mặt kín đáo tại Seattle nhưng bảo đảm sẽ không xuất hiện trước thánh lễ, và buổi tiếp tân chúc mừng Tổng Giám Mục Alexander Brunett 50 năm theo dự trù, tránh những rắc rối và sự phản đối từ cộng đồng, mà Tòa Tổng Giám Mục đã ghi nhận được liên tục qua điện thoại, điện thư...

Dù vậy một số người vẫn cho rằng các giới lãnh đạo tinh thần cũng cần lắng nghe và nhìn thấy "sự phản đối mạnh" hướng về Hồng Y Phạm Minh Mẫn, vì những lời phát biểu "thiếu thận trọng, minh mẫn".

Posted: Fri Jul 11, 2008 6:12 am
by tranphuongdong
Thư ngỏ gửi hội nghị trung ương 7 (đảng CSVN):
Những sự thật cần nhìn nhận cho thật rõ

Tác giả: Bùi Tín




Cuộc hội nghị trung ương đảng cộng sản lần thứ 7 - khóa X đã bắt đầu sáng 9-7. Do đảng vẫn ôm chặt quyền lãnh đạo đất nước, trách nhiệm của ban chấp hành trung ương lúc này đặc biệt nặng nề.

Theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước, tôi có những lời góp ý ngay thật và xây dựng dưới đây. Đây cũng là lời tâm huyết đối với nhân dân và đất nước của một người không có một tham vọng chính trị cá nhân nào. Mong các vị ủy viên trung ương thành tâm tiếp nhận.

1)- Đất nước ta hiện đã bước vào tình trạng khủng khoảng rồi. Lạm phát rất cao (gần 30%), nhu yếu phẩm tăng giá nhanh, tiền '' đồng'' tụt giá mạnh, nhập siêu mức kỷ lục, chứng khóan rơi 65% trong hơn 1 năm, cuộc sống viên chức, công nhân, bộ đội, học sinh, nông dân sa sút rõ, bất công xã hội khơi sâu, tiếng than vãn vang lên từng hang cùng ngỏ hẻm. Cần bình tĩnh nhìn thật rõ những sai lầm bất cập với tinh thần trách nhiệm cao để sửa gấp những sai lầm lưu cữu.

Cần từ bỏ chiều hướng đổ tại khách quan, tại khó khăn của kinh tế thế giới, tại giá dầu lên cao... Cần từ bỏ thói thổi phồng những thành tựu (như tỷ lệ phát triển vẫn đạt gần 7%, nguồn tài trợ và đầu tư từ ngoài vẫn tăng thêm) để cân bằng với những khó khăn và thất bại; tuy số tiền đầu tư tăng nhưng giải ngân ''nuốt trôi '' rất chậm, vì thiếu nhân lực nghiêm trọng, vì nền hành chính vẫn quan liêu nặng và tham nhũng khủng khiếp.

Cần lưu tâm tiếp nhận góp ý sâu sắc của các chuyên gia kinh tế-tài chính- đầu tư hàng đầu thế giới, nhất là của Đại học Harvard là : đã có khủng hỏang rồi, bắt nguồn từ cơ cấu nền kinh tế, từ các tập đoàn quốc doanh được nuông chiều quá đáng, bung ra vô tổ chức, đặc biệt là từ nền kinh tế ''lưỡng thể '', 2 thân, 2 gốc, thị trường không hẳn thị trường, xã hội không hẳn xã hội.

Các nhà đầu tư, các chuyên gia quốc tế đang nhìn vào cuộc họp này để đánh giá xem lãnh đạo đảng và chính phủ có dám hành động mạnh mẽ đúng hướng hay là vẫn nhập nhằng nửa vời, dùng xoa bóp, thuốc cảm cho căn bệnh đang hiểm nghèo thêm.


2)- Một đề tài hội nghị sẽ đề cập là Tam nông: Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn. Hơn 60 triệu nông dân đang trông chờ. Tín hiệu lớn nhất từ nông dân là: yêu cầu dứt khoát bỏ hẳn chuyện sửa đổi luật đất đai với 8 vấn đề và 60 khoản như đã được chuẩn bị theo kiểu chắp vá cải lương. Hãy trả lại cho Nông dân ngay quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ ngàn xưa, được giữ nguyên dưới thời phong kiến rồi thực dân, bị đảng ngang nhiên tước đoạt sau cải cách ruộng đất bằng cưỡng bức hợp tác hóa. Trong Đổi mới, đảng đã trả lại quyền sở hữu tư nhân cho nhà buôn, cho nhà công nghiệp tư nhân, cho chủ dịch vụ tư nhân, trả lại cho họ quyền sở hữu tư nhân về cửa hàng, xưởng máy, kho hàng, nhà cửa, máy móc, sao không trả lại cho nông dân quyền sở hữu ruộng đất thiêng liêng hợp pháp, điều kiện sống của người nông dân cá thể. Đây là vấn đề sống còn của Nông dân, của Nông thôn và của Nông nghiệp hiện nay. Đặc biệt khi đã vào WTO, theo luật pháp quốc tế, việc này càng cấp bách và đúng đắn, không thể chậm trễ.

Hội nghị hãy biết lắng nghe ý kiến về cuộc sống bi thảm ở nông thôn hiện nay của nhà nghiên cứu xã hội học Tương Lai và lời khuyên của nhà văn Nguyên Ngọc trả lại sòng phẳng quyền sở hữu rừng và ruộng truyền thống cho các dân tộc anh em ở Tây nguyên và Việt bắc .


3)- Hội nghị sẽ bàn đến chính sách của đảng đối với thanh niên và trí thức. Tôi rất hoan nghênh việc làm của một trí thức có tâm huyết đã sao bài Tùy bút chính trị của nhà văn Nguyễn Khải viết trước khi từ biệt cuộc đời, có nhan đề '' Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất'' và mang đến Văn phòng trung ương đảng CS, yêu cầu sao gửi cho mỗi uỷ viên trung ương để hiểu ý nghĩ của người trí thức thật sự lúc này là ra sao. Xin trích ra vài đoạn bản di chúc tâm huyết này:


...'' các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, chính phủ, quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy... Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, không biết xấu hổ...''

...'' một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được hoàn toàn thỏa mãn trong mọi nhu cầu là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loại tương lai ư ? ! ''

...'' quả thật dân tộc Việt nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống!''


Tiếng nói của trí tuệ, của tâm huyết sao mà sót sa, cay đắng. Trong hội nghị này, các ủy viên trung ương hãy bàn kỹ xem việc lật án vụ PMU 18 là đúng hay sai, việc bắt giam các nhà báo từng tố cáo mạnh mẽ tham nhũng là đúng hay sai, việc đàn áp bằng vũ lực thô bạo các nhà giáo, sinh viên đi biểu tình ôn hoà chống bọn bành trướng xâm chiếm lãnh thổ ta là đúng hay sai ? Xin trả lời cho dân, cho công luận, cho thanh niên, cho trí thức thật rõ ràng, dứt khoát.

Cũng cần trả lời cho rõ đảng có còn kêu gọi trí thức văn nghệ sỹ ''hãy tự trọng, đừng bẻ cong ngòi bút'', ''hãy tự cứu lấy mình'', ''không cho phép bất cứ ai xâm phạm quyền tự do sáng tạo của mình'' như hồi khởi đầu chính sách Đổi mới (1964-1988) nữa hay không ? Sao lại có chuyện trở cờ như vậy ?

Hội nghị trung ương hãy khẳng định xem việc cấm tư nhân ra báo và cấm lập hội, cấm tổ chức chính trị ngoài đảng cộng sản có vi phạm các điều khoản ghi rõ trong Hiến pháp về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội của mỗi người công dân hay không ? và xin trả lời hiến pháp có phải là cao hơn luật pháp hay không ? và có phải bất cứ luật nào vi hiến cũng không có giá trị hay không ?


4)- Cuối cùng, về nhân sự, mong các ủy viên trung ương chú ý đến bài viết ngắn, xúc tích của nhà văn Võ Thị Hảo rất có lòng với đất nước và đồng bào mình, có nhan đề '' Bên bờ vực thảm họa, Việt nam cần một Minh Trị ''.

Minh Trị đây tôi hiểu không phải là một ông vua, mà là một lớp lãnh đạo, một nhóm lãnh đạo có tài đức, trong sạch, có công tâm, say mê làm việc cho nhân dân, đất nước, không chút tư lợi, không mảy may vun vén cho cá nhân và gia đình mình. Nhà văn Võ Thị Hảo '' mơ ước sẽ không phải rơi nước mắt vì nhiều Thời Cơ Vàng đã bị bỏ qua '', '' mơ ước sẽ không còn cảnh ra đường là gặp tham nhũng và lưu manh'', '' cần có một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức. Vì đã quá muộn ''. Bài viết ra mắt vài ngày nay, cứ như để gửi thẳng cho cuộc họp trung ương thứ 7 khóa X này, vì vấn đề nhân sự đang trở nên nóng bỏng, cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế-văn hóa-chính trị đang ăn sâu, lan rộng từng ngày, cần một bản lĩnh lãnh đạo khác hẳn kiểu lãnh đạo thấp kém, nhập nhèm, thiếu minh bạch, thiếu công tâm, khá là hủ lậu so với thế giới văn minh.

Một dàn lãnh đạo bất cập, khi tổng bí thư được chính trong nội bộ đảng đánh giá là tài đức chỉ ở dưới mức trung bình trong số 181 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết, mà lại bị ''đôn'' lên do hoàn cảnh, thành nhân vật số 1 của chế độ, thì làm sao mà không nguy nan.

Thời Minh Trị bên Nhật ở vào thế kỷ 19. Gần ta hơn, về cả thời gian và không gian. Có Singapo và Đài loan. Ông Lý Quang Diệu ra tay triệt để chống tham nhũng có bài bản, để không ai dám tham (sẽ bị trị rất nặng), không ai tham nhũng nổi (vì mọi chi tiêu đều công khai, tỷ mỷ, có kiểm soát chặt chẽ), lại không ai cần tham nhũng (vì mức lương đủ tiêu dùng), kèm theo tuyên truyền đạo đức tiêu dùng ở mọi nơi (tiêu sài quá độ, đua đòi tiêu dùng là vô đạo đức, là vô duyên, là lạc lõng). Chỉ 3 năm là quét sạch về cơ bản.

Ở Đài Loan, ông Tưởng Kinh Quốc lên làm tổng thống tự quyết định ngay làm theo lời Cha ông là Tưởng Giới Thạch, tự làm gương sáng cho bộ máy chính quyền, sống thanh bạch, giảm tiệc tùng, chiêu đãi, ở nhà nhỏ, xe bình thường, chỉ nhận 1 phần 5 lương, còn lại hiến tất cho quỹ xã hội, từ thiện; khi ông chết, vợ ông không có tiền để về thăm cố hương bà ở nước Nga. Ông còn không cho em mình, con cháu mình làm quan dưới quyền mình; ông khuyên họ tự lo làm ăn ngoài bộ máy, vì lợi ích chung. Tự ông chỉ đạo thanh tra tài chính chặt chẽ. Tổng thống làm gương như vậy, cả hệ thống chính quyền từ chóp bu đến cơ sở răm rắp, có bộ trưởng nào, có tỉnh trưởng nào dám lơ mơ . Chỉ hơn 4 năm thu nhập của công dân tăng gấp đôi, có thực chất, điều hòa các ngành, các vùng, các cấp, ngành y tế công cộng và ngành giáo dục tiến nhanh và chắc nhất, làm nền cho các bước phát triển toàn diện bền vững kiểu Đông Bắc Á.

Hội nghị trung ương lần này hãy cố tìm kiếm cho ra một nhóm nhân tài kiệt suất như vậy, ở trong trung ương không có thì ở ngoài trung ương, trong nước và cả ngoài nước nếu cần. Hãy mời cả xã hội đề cử.

Chả lẽ vận nước suy vi, người tài đức như lá mùa thu, hay còn ẩn ở đâu đó. Lại thêm một tội nặng của đảng cầm quyền, làm cho đất nước lạc hậu, trì trệ, đến thui chột cạn kiệt cả nhân tài để cứu nước trong thời điểm hiểm ngèo hôm nay.


Xin kính trình toàn thể đồng bào bức thư ngỏ ngắn ngủi này để cùng theo dõi và đánh giá cuộc hội nghị đang diễn ra, bức thư cảnh báo nhóm lãnh đạo, do nặng tình nặng nghĩa với Quê hương Đất nước Thân yêu.


Bùi Tín
Paris 9-7-2008.

Posted: Sat Jul 12, 2008 12:55 am
by khieulong

Image

Giọt nước mắt vì niềm kiêu hãnh: người Việt Nam
Dương Nguyệt Ánh
Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt. Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn ?
Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.

Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.

Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.

Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.

Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.

Ðó là cách trả thù vậy.

Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.

George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam, một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.

Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.

Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.

Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công, chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.

Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.

George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này:

Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.

Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.

Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

Dương Nguyệt Ánh

Posted: Tue Jul 15, 2008 2:31 am
by khieulong
Phải chấm dứt tấn tuồng gian dối

Ngô Nhân Dụng

Coi bài “phát biểu” của ông Nông Ðức Mạnh đọc trước hội nghị trung ương đảng ở Hà Nội hôm Thứ Tư vừa qua, những lời lẽ in đầy bốn trang giấy - chỉ toàn là khẩu hiệu, những khẩu hiệu trống rỗng, không thấy được một ý kiến thành thật hay một đề nghị cụ thể nào cả.

Bài diễn văn của một tổng bí thư đảng Cộng Sản đọc trước một hội nghị ban chấp hành trung ương đảng có tầm quan trọng ngang với những bản thông điệp về “Tình trạng Liên bang” mà các vị tổng thống Mỹ phải đọc trước Quốc Hội mỗi năm. Ðó là dịp để người nắm quyền cao nhất trong một nước trình bày những ý kiến, những chương trình, kế hoạch cho cả nước theo.

Ông Nông Ðức Mạnh chỉ hô những khẩu hiệu. Nội dung bài phát biểu của ông nêu lên bốn điểm, về thanh niên, về trí thức, về nông thôn và nông dân, và về tình hình kinh tế, xã hội trong năm. Nhưng ông chỉ nói chung chung, hùng hồn và rỗng tuếch, tuyệt nhiên không có một kế hoạch cụ thể nào cả. Ðó là một cách lảng tránh, trốn trách nhiệm. Những lời nói hoa hoét mĩ miều không chứa đựng nội dung nào đáng chú ý, đó chỉ là một hình thức nói dối.

Về thanh niên, ông Nông Ðức Mạnh nói những câu như “Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước do đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là xây dựng một thế hệ thanh niên thời kỳ mới có đạo đức, có tri thức, sức khỏe và tư duy phát triển năng động; tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc, của đảng...”

Các thanh niên ở Việt Nam đều biết rằng đảng Cộng Sản không hề “khởi xướng” việc đổi mới. Họ bị buộc phải thay đổi, nếu không thì đi theo số phận của Ceausescu ở Rumani. Trong thực tế thì đảng Cộng Sản đã thất bại trong việc giáo dục. Chưa có một quốc gia nào ở Á Châu bắt học sinh tiểu học phải đóng học phí, chỉ có ở Việt Nam. Ðầu năm nay, ông Nguyễn Thiện Nhân, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục vừa mới thú nhận rằng trong năm rồi có 100 ngàn học sinh phải bỏ học. Niên học 2003-04 có 580 ngàn học sinh bỏ học; niên học 2005-06 có 600 ngàn học sinh bỏ học. Còn về đạo đức, chưa bao giờ tình trạng gian lận thi cử, bằng giả, thi giả tung hoành như báo chí ở Việt Nam tường thuật gần đây. Chưa bao giờ nạn ma túy lan tràn đầu độc thanh niên, phụ nữ phải đi bán thân nhiều như trong chế độ Cộng Sản bây giờ. Ðọc những lời khoe khoang “công ơn đảng” như vậy mà không thấy xấu hổ hay sao?

Ông Nông Ðức Mạnh hô to: “Tương lai của thanh niên gắn liền với vận mệnh và tương lai của dân tộc...” thì điều này đứa trẻ con cũng biết. Nhưng ông nói câu đó để tiếp theo liền một đoạn khác “...vận mệnh và tương lai của dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng!” Nghe đến đó thì phải hãi hùng. Các ông còn muốn tiếp tục “lãnh đạo” cho đến bao giờ mới tha cho thanh niên, tha cho dân tộc?

Ðối với đề tài trí thức, ông Nông Ðức Mạnh cũng “khua chiếc thùng rỗng” y như vậy. Xin phép lạm dụng tính kiên nhẫn của quý vị để trích ra đây vài câu, quý vị có thể vừa đọc vừa cười để giải trí, như khi nghe các em bé nói những lời ngây ngô chúng ta cũng bật cười vậy. Ông Nông Ðức Mạnh nói về đội ngũ trí thức như thế này: “ ... trí thức ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và đang đứng trước những đòi hỏi cao và yêu cầu mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt.” Có điều gì mới lạ hay không? Nhưng ông cũng không quên nói tiếp ngay: “Ðảng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức!”

Gần đây, đảng đã “nâng cao năng lực lãnh đạo” rồi! Ðảng đã bắt giam những luật sư, những nhà báo có ý kiến khác ý lãnh tụ, bắt luôn cả hai nhà báo nổi tiếng chống tham nhũng!

Ðọc vài đoạn như trên đủ thấy tất cả chỉ là những lời lẽ khuôn sáo, trống rỗng! Ðọc vài chữ cũng có thể đoán được cả câu sẽ viết như thế nào, trí óc người đọc và người nghe hoàn toàn không cần phải suy nghĩ! Nếu một học sinh trung học ở Việt Nam kiên nhẫn cắt các bài xã luận của nhật báo Nhân Dân về cùng một đề tài rồi ghép lại, thế nào cũng thành một bài diễn văn tương tự như ông tổng bí thư đảng mới đọc! Có thể còn hay hơn. Những vị phụ trách viết diễn văn cho ông Nông Ðức Mạnh thật sự là thiếu trí tưởng tượng. Hoặc là họ không thể viết điều gì sâu xa hơn, vì trình độ của ông tổng bí thư đảng Cộng Sản chỉ có thể đọc những thứ khẩu hiệu rỗng như vậy. Hoặc là họ cố ý không muốn cho ông nói gì hết, ngoài việc hô những khẩu hiệu quen thuộc, để chính họ được an toàn. Vì những người viết diễn văn không thể bịa ra những điều mà họ biết không chứa trong đầu ông tổng bí thư, cũng không chứa trong đầu trung ương đảng. Cho nên những người viết diễn văn cứ phải tiếp tục cho cậu học sinh lên diễn đàn “trả bài” một bài học thuộc lòng trống rỗng. Khi nói những lời trỗng rỗng như thế tức là nói những lời dối trá.

Nhà văn Nguyễn Khải, rất nổi tiếng trong quân đội miền Bắc với lối viết tiểu thuyết lúc nào cũng theo đúng chính sách của đảng Cộng Sản từng giai đoạn, trước khi từ biệt cuộc đời, đã hối tiếc vì phí phạm tài năng của mình cả đời phục vụ một chế độ dối trá. Ông viết một bài nhan đề “Ði Tìm Cái Tôi Ðã Mất,” trong đó ông nhận xét về ngôn ngữ của các lãnh tụ Cộng Sản như sau: “...các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, chính phủ, Quốc Hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.”

Nguyễn Khải đã nói thẳng, “Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy... Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, không biết xấu hổ...”

Nhấn mạnh đến căn bệnh dối trá nhưng Nguyễn Khải cũng đề cập tới một căn bệnh khác của các lãnh tụ Cộng Sản từ trên xuống dưới, là trốn tránh không nhận trách nhiệm cá nhân. Trong chế độ này, chỉ những lãnh tụ tối cao kiểu Stalin, Mao Trạch Ðông mới dám đứng trước công chúng nhận mình là người chịu trách nhiệm. Và không ai dám phê bình họ. Nhưng lãnh tụ cỡ nhỏ đều lấy nhãn hiệu “tập thể lãnh đạo” để lẩn trốn không chịu trách nhiệm cá nhân. Muốn khỏi chịu trách nhiệm, cứ nói những lời lẽ đại cương, mơ hồ, thời nào nghe cũng đúng, chỗ nào cũng dùng được thành khẩu hiệu đẹp đẽ. Nông Ðức Mạnh không có bản lĩnh được như những Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, lại càng có lý do sợ hãi cúi đầu nấp đằng sau những khẩu hiệu rỗng, cho an toàn!

Nhưng trong tình thế Việt Nam hiện nay, khai mạc một cuộc họp ban chấp hành trung ương đảng với những khẩu hiệu chung chung, mơ hồ như thế, còn cho thấy tình trạng khô cạn về tư tưởng, khô cạn về ý kiến của toàn bộ giới lãnh đạo đảng Cộng Sản. Họ không còn gì để nói với nhau ngoài việc hô các khẩu hiệu. Họ cũng không nẩy ra một sáng kiến nào trước những khó khăn chồng chất do chính họ tạo ra.

Trong bốn trang bài phát biểu của ông Nông Ðức Mạnh không hề thấy nhắc đến chủ nghĩa Mác Lê nin, cũng không đả động tới cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa. Hai chữ được nhắc tới nhiều lần là “Ðổi Mới.” Mà ai cũng biết rằng “đổi mới” tức là đi ngược đường với chủ nghĩa Mác Lê và đường lối chính trị, kinh tế Cộng Sản. Ngoài cái khẩu hiệu “đổi mới” ra, những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam hiện giờ không còn một cái kim chỉ nam nào hết! Và họ biết chỉ còn một nhãn hiệu “đổi mới” có thể bán được, cho nên cứ bám lấy, dù chính họ không biết cái lối đổi mới nửa vời của họ đã dẫn tới những bế tắc, ngay trước mắt.

Vì ngay trong phạm vi chính sách để đối phó với các khó khăn chồng chất hiện nay, bài phát biểu của ông Nông Ðức Mạnh cũng không nói điều nào hết! Ông không hề nhắc đến nạn lạm phát gần 30% một năm; không nói tới tình trạng tê liệt của hệ thống ngân hàng, nỗi hoang mang của giới đầu tư quốc tế; không nói tới cảnh một nước xuất cảng gạo mà dân thiếu ăn; xuất cảng dầu lửa mà xe hàng phải nằm ụ không chạy vì thiếu xăng; không nói tới cảnh chênh lệch giầu nghèo làm cho chính những người tự mình tạo ra của cải trở nên giầu có họ cũng phải hổ thẹn khi nhìn thấy những đồng bào không may đang đói khổ bên mình. Chính các đảng viên Cộng Sản cũng phải hổ thẹn. Ðảng Cộng Sản bây giờ được gọi là “Ðảng của Hồ Chí Minh, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Việt Tiến!”

Trong cả bài diễn văn ông Nông Ðức Mạnh không hề nói đến tình trạng tham nhũng và sự thoái hóa, giật lùi trong việc chống tham nhũng. Nhưng điều đáng thất vọng nhất là trong một phần ba bài nói đến nông thôn và nông dân ông Nông Ðức Mạnh không hề nhắc tới những nỗi oan ức mà nông dân Việt Nam đang phải chịu vì cường hào cướp đất tư và đất công để cung ứng cho tư bản trong nước và ngoại quốc.

Trong một bài đang trên báo Nông Thôn Ngày Nay ra ngày 1 Tháng Tư năm 2008 chúng ta thấy hình ảnh tiêu biểu ở ba thôn trong xã Phù Chẩn ở tỉnh Bắc Ninh, dân chúng đã dùng gạch đá đánh bọn cường hào. Dân ném gạch ngói vào nhà bí thư chi bộ xã, nhà của tất cả bọn lãnh đạo thôn, xóm đều bị dân kéo tới ném gạch. Cứ tối đến là người dân đánh kẻng tập trung lại, các phụ nữ lo tiếp tế gạch ngói vụn, học sinh cấp II và cấp III làm pháo thủ ném gạch. Cảnh sát huyện Từ Sơn phải đem 2 xe với các công an cơ động mặc áo giáp, vác lá chắn, đội mũ bảo hiểm đến tận nhà giải vây cho ông bí thư đảng xã.

Tại sao người nông dân lại nổi giận? Chỉ vì tham nhũng lộng hành. Khi thi hành lệnh giải tỏa ruộng đất của dân để trao cho công ty ViSip (Việt Nam-Singapore) khai thác, thay vì chỉ bán những ruộng đất trong khu thuộc dự án, các cán bộ đã nhân cơ hội giải tỏa hết, để có cớ cướp ruộng của dân. Không những thế, bọn cán bộ cầm đầu các thôn còn tìm ra những mảnh đất công rải rác, đất của thôn xã, nhưng chúng ghi tên các cán bộ làm chủ những mảnh đất đó, để khi bán cho liên doanh ViSip thì các cán bộ đương nhiên được “bồi thường” bỏ túi! Tổng cộng 23 mảnh đất công, diện tích lên tới hàng chục ngàn mét vuông đã được các cán bộ lãnh đạo thôn xã “ăn” hết!

Cảnh xẩy ra ở xã Phù Chẩn tiêu biểu cho cảnh tượng trên toàn quốc: Một nhóm người tự chiếm quyền lãnh đạo, thừa cơ “đổi mới” để bòn rút của cải chung, bỏ vào túi riêng cho mình và đồng đảng cùng hưởng trong khi tìm đường “hạ cánh an toàn” theo lối đồng chí Nguyễn Việt Tiến!

Chúng ta lại có dịp cảm thông với tâm sự của nhà văn Nguyễn Khải vào lúc cuối đời. Ông đã tham dự hai cuộc chiến tranh, đã góp công “xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội” ở miền Bắc rồi đem vào trong Nam. Nhưng lúc cuối đời ông cũng nhận thấy bao công lao của ông chỉ dẫn tới “...một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng; nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được hoàn toàn thỏa mãn trong mọi nhu cầu; là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loại tương lai ư?”

Những lời thành thật, chân tính trong câu hỏi đó có ai nghe hay không? Tất cả mọi người dân và tất cả các đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam có quyền và có bổn phận đặt câu hỏi đó gửi tới ông Nông Ðức Mạnh và tất cả nhóm người thuộc trung ương đảng Cộng Sản. Phải hét vào tai cho họ nghe thấy. Bảo họ phải chấm dứt cái tấn tuồng gian dối mà họ đang trình diễn trong cái hội nghị này và những hội nghị khác, chấm dứt càng sớm càng tốt.

Posted: Wed Jul 16, 2008 1:13 am
by dailien
Nói với em

Tác giả: T. Thái Hòa



Em đã gặp tôi nhiều lần tại Thất Lắng Nghe, Chùa Từ Hiếu, và em cũng đã nhiều lần gọi điện thoại đến tôi để nói về những nỗi băn khoăn của em đối với cuộc sống và em đã từng hỏi tôi rằng sống là gì? Nghe em hỏi, Tôi chỉ im lặng, mỉm cười, thở và bước đi, sau đó tôi lại bước về chỗ ngồi và cùng nói chuyện với em, tôi lại hỏi em rằng, theo em sống là gì ?

Em buột miệng trả lời ngay với tôi rằng: "Sống là lo âu, là sợ hãi, là giành giựt, là đấu tranh, là dối trá, là mạnh được yếu thua, là lập phe, lập nhóm để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho nhau... sống như vậy, em chán ngấy rồi, em không muốn sống nữa, em muốn chết thôi, chết để cho nó khỏe, để khỏi thấy nhiều điều trái tai, gai mắt từ gia đình đến xã hội thầy ạ!"

Nghe em nói, tôi biết trong em có quá nhiều hạt giống bất mãn và khổ đau, và nhìn nét mặt của em, tôi biết em có quá nhiều đêm trằn trọc không ngủ và nhìn em cười, tôi biết trong em ấp ủ quá nhiều nỗi thương đau. Em nói, em không biết em là gì trong tương lai, và ngay cả gia đình cũng như xã hội, em cũng không biết tương lai của chúng sẽ là gì?

Tôi biết trong cuộc sống, em đã có quá nhiều khó khăn và khổ đau. Nhưng thôi, em đừng thắc mắc và nghĩ ngợi nữa, em hãy tập ngồi yên năm, ba phút để thở có ý thức đi, rồi tôi sẽ nói chuyện cho em nghe!

Em ơi, những khó khăn và khổ đau mà em vừa nói, thì ở trong đời này ai mà không có, và ai mà không có một vài lần đã chạm trán như vậy!

Tuy nhiên, cuộc sống không phải chỉ toàn là những khó khăn và không phải chỉ toàn là những thất vọng và khổ đau như em nói, mà còn có mặt của những thuận lợi và của những hạnh phúc và an lạc nữa chứ!

Em cứ suy nghĩ đi, em đã có đôi mắt để tiếp xúc thường trực với ánh sáng, để thấy được những gì mà em cần muốn thấy, thấy được hình ảnh của các bậc thánh thiện, thấy được bàn thờ của tổ tiên, thấy được mặt cha và mẹ, thấy được mặt của anh chị em, bạn bè, người yêu, đồng loại và mọi loài, thấy được con đường để tự đi, thấy được núi cao, biển rộng và sông dài, thấy được chữ nghĩa để đọc những gì em cần muốn đọc, em có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng, và nhìn xa hơn, em có thể thấy được trăng sao lấp lánh từ những cõi không gian vô cùng. Như vậy, những điều kiện thuận lợi để cảm nhận hạnh phúc, vốn đã có sẵn trong em một cách phong phú và kỳ diệu, sao em lại còn trách móc và khổ đau!

Em cứ suy nghĩ đi, em đã có đôi lỗ tai một cách toàn hảo, để em có thể lắng nghe và hiểu những gì mà những người thương yêu của em nói cho em nghe, em có thể nghe được tiếng thác đổ, tiếng suối reo, tiếng sóng vỗ từ biển khơi, tiếng gió thổi, tiếng rơi của mưa và lá, tiếng chim hót, tiếng của giun dế trong đêm khuya, tiếng nói từ những bậc đức hạnh và ngay cả tiếng vỗ một bàn tay của người chứng ngộ. Như vậy, sự có mặt của hai lỗ tai trong đời sống của em là những điều kiện thuận lợi để giúp em có hạnh phúc, vậy tại sao em lại sầu muộn và khổ đau!

Cũng như vậy, em cứ suy nghĩ đi, có phải mũi và miệng là những điều kiện giúp em có hạnh phúc không? Mũi đã giúp em thở, nếu em không thở làm sao em có thể sống, mũi giúp em thưởng thức được các hương thơm, nếu em không có mũi, làm sao em có thể ngửi được hương thơm của muôn vạn loài hoa và dược thảo, hương thơm của hương và trầm và nhất là hương thơm trong đời sống của những người đức hạnh! Miệng lưỡi đã giúp em nói, để tạo ra được những cảm thông giữa mình và người, giúp em hát và ca, giúp em biểu lộ được tiếng gọi quý báu và thân thương nhất là cha ơi, mẹ ơi, anh chị ơi, em ơi, thầy ơi, và ngay cả tiếng gọi cao quý nhất là Phật ơi nữa; Miệng lưỡi giúp em ăn, uống và nếm các mùi vị mỗi ngày, và như vậy, miệng lưỡi cũng như lỗ tai đã giúp em nhiều lắm, em có biết không?

Lại nữa, tôi muốn nói với em rằng, thân thể của em từ đầu mình cho đến tay chân, từ mái tóc cho đến làn da, từ não trạng cho đến các bộ phận trong cơ thể, từ những hạt mồ hôi cho đến những tế bào nhỏ nhặt, không có cái gì là không giúp cho em sống có hạnh phúc, và ngay cả những cái đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi đều là những động tác giúp em có hạnh phúc cả. Nên, em đi được, em đứng vững được, em ngồi vững chãi được, em nằm thảnh thơi được, em co và duỗi được, em thở được, em uống nước và ăn cơm được, em nói, cười và khóc được, cho đến em đi tiểu được, đi đại được, tất cả những cái được ấy, đều là những cái được của hạnh phúc đó em ạ! Những cái được ấy, hiện tại em đang được và được quá nhiều như vậy, nhưng tại sao em lại sống không có hạnh phúc?

Và em ơi, quan trọng hơn nữa, là trong thân thể của em lại có tâm hồn, nếu trong thân thể của em, mà không có tâm hồn, thì em trở thành gỗ đá và mọi sự có mặt của mắt tai mũi lưỡi và thân thể đều trở thành vô nghĩa, vì nó chẳng giúp được gì cho em bao nhiêu, đối với sự cảm nhận cuộc sống.

Nhưng em ơi, tâm hồn của em càng sâu lắng, thì hạnh phúc của em càng cao; tâm hồn của em càng rộng, thì hạnh phúc của em càng lớn; tâm hồn của em càng trong sáng, thì hạnh phúc của em càng xuyên suốt, tâm hồn của em càng bất động, thì hạnh phúc của em càng vững chãi, tâm hồn của em càng đơn giản, thì đời sống của em càng thảnh thơi và không hệ luỵ, và tâm hồn của em càng đi tới với sự toàn giác, thì hạnh phúc của em càng linh hoạt và sống động. Em hãy sử dụng sáu quan năng nhận thức của em với tâm hồn có những trạng thái như thế, và lẽ đương nhiên khi ấy, sáu quan năng nhận thức của em đều là những điều kiện của phép lạ, có khả năng biểu hiện để tạo ra và tiếp nhận muôn ngàn hạnh phúc cho em.

Như vậy, sống không phải như những gì em vừa trình bày và lên án, mà em hãy trở về lại với chính em đi, để em có thể cảm nhận được những gì mà tôi vừa nói với em, để em có thể tiếp nhận được gia tài quý báu của em vốn đã có từ nhiều đời, và từ những thiện căn phước đức nhân duyên, mà cha mẹ, cũng như dòng họ tổ tiên nội ngoại của em, cùng với đất trời đã chung nhau, làm nên hình hài, để hiến tặng cho em và đã cùng em hiện hữu!

Và hôm nay, em đang hiện hữu trong sự sống chết giữa cõi người ta, nên đứng trước sự sống và chết ấy, em

không thể không khắc khoải và suy tư, vì sao? Vì đó là bi kịch, mà con người hết sức sợ hãi.

Nhưng em ơi, em có biết không? Đỉnh cao của sự sống là sự chết và tột cùng của sự chết là sự sống, sống và chết là hai mặt của một sự hiện hữu, chúng chưa bao giờ biệt ly nhau, dù chỉ là một khoảnh khắc em ạ!

Sống là thở, nếu không thở làm sao có sự sống; sống là cười, nếu không có cười, thì làm sao sự sống có thể đâm chồi, nẩy lộc và nở hoa; sống là bước đi, là hành động, là liên tục chuyển dịch, nếu không có bước đi, không có hành động và không có sự chuyển dịch, thì không có sự sống, và sống là thỉnh thoảng em phải ngồi yên lặng, với sự có mặt của ý thức trong sáng, để thở chậm và sâu, nhằm theo dõi các cảm giác, các tri giác, các ấn tượng và tưởng tượng, đang vận hành trong tâm thức, nhằm thanh lọc thân tâm và nhìn rõ lại chính mình em ạ!

Nhưng em ơi! Con người chuyển dịch liên hệ đến vô minh, thì họ sẽ sống trong vô minh. Sống trong vô minh là sống trong sự lo lắng, hận thù, đấu tranh và giành giựt nhau; sống trong vô minh là sống trong sự lập phe, lập nhóm để tranh giành đặc quyền, đặc lợi của nhau, những ai sống như vậy là họ đã sống trong sự lo lắng, khổ đau và chết ở trong sự bất mãn và sầu muộn.

Và nếu sự chuyển dịch của con người liên hệ đến Minh, thì con người sẽ đi và sống trong ánh sáng. Sống trong ánh sáng, thì con người không còn có sự lo lắng và nghi ngờ, con người không còn có sự giành giựt nhau, mà con người biết tìm cách bảo vệ hạnh phúc cho nhau và đưa nhau đi lên đời sống cao thượng, nên con người sống trong sự thảnh thơi và chết ở trong sự an toàn.

Em ơi, phép toán đầu tiên em học để tính, đó là phép toán cộng trừ, nhân chia em ạ! Em có biết không, không có cái cộng nào mà không đi theo với cái trừ và không có cái nhân nào mà không đi theo với cái chia, nghĩa là cộng bao nhiêu thì phải trừ bấy nhiêu, nhân bao nhiêu thì phải chia bấy nhiêu và lại nữa, trong bài toán trừ, nếu mượn mà không trả, đó là bài toán sai hỡi em!

Em hãy nhìn sâu vào bốn phép toán cộng trừ, nhân chia ấy, bằng đôi mắt thiền quán, em sẽ khám phá ra chân nghĩa của sự sống và em sẽ biết ý nghĩa đích thực của sự sống là gì. Em ơi, sống là cộng và trừ, là nhân và chia đó em! Nghĩa là ta cộng bao nhiêu là ta phải trừ bấy nhiêu; ta nhân bao nhiêu là ta phải chia bấy nhiêu. Ta cộng thêm một ngày của sự sống, thì ta cũng trừ bớt đi một ngày của sự sống; ta nhân thêm bao nhiêu ngày của sự sống, thì ta cũng phải chia lại cho bấy nhiêu ngày của sự sống em ạ!

Em ơi, trong lứa tuổi của em, có khi nào em ngồi yên lặng để ngắm trăng chưa, nếu có, thì em đã thấy gì từ mặt trăng và em đã nghe mặt trăng nói gì với em trong mỗi đêm không? Nếu em không nghe, thì ta thay thế mặt trăng để nói cho em nghe nhé!

Trăng mỗi nửa tháng đầu, đều làm theo phép toán cộng, nghĩa là giữa không gian vô cùng, từ mồng một, trăng xuất hiện mơ hồ mà mắt thường ít ai thấy được, rồi mỗi ngày đi qua, đêm về trăng càng lúc, càng hiện rõ, nghĩa là mỗi ngày đêm đi qua là mỗi ngày, mỗi đêm cộng vào đời sống của trăng, khiến trăng càng lúc càng sáng, cái tròn sáng của trăng một cách trọn vẹn xuất hiện giữa đêm rằm, và qua đêm mười sáu, bài toán cộng tròn và sáng của trăng đã tự chuyển đổi thành bài toán trừ, và mỗi ngày đêm đi qua, cái tròn và sáng của trăng tự giảm trừ dần, cho đến đêm ba mươi là dấu hiệu cũng như ánh sáng của trăng hoàn toàn tự triệt tiêu, và giữa không gian vô cùng của đêm ấy, ta chẳng tìm đâu ra dấu tích của trăng.

Như vậy, trăng đã cộng bao nhiêu ngày đêm để soi sáng cho đời, thì trăng cũng phải trừ bấy nhiêu ngày đêm, để trở về với nguyên thể của nó! Và em ơi, nếu trăng chỉ đi theo phép cộng mà không có phép trừ hay không trừ đúng với những gì chúng đã cộng, nghĩa là trăng mọc mà không lặn, trăng tròn mà không khuyết, thì mặt trăng đó là mặt trăng vẽ trên giấy hay đó là một mặt trăng bệnh hoạn giữa không gian và nó chẳng có tác dụng gì trong cuộc sống, hoặc nếu nó có tác dụng, thì nó sẽ gây ra tai họa cho trần gian em ạ!

Và tôi muốn nói tiếp với em rằng, trong đời sống hằng ngày, em thở vào là cộng, em thở ra là trừ. Bài toán cộng, trừ này chỉ đưa tới hạnh phúc và an lạc cho em, khi em biết thở vào bao nhiêu là em phải biết thở ra bấy nhiêu. Em biết không, khi em thiền tập, em thở vào dài là em biết em thở vào dài, khi em thở ra dài là em biết em thở ra dài; khi em thở vào ngắn là em biết em thở vào ngắn, khi thở ra ngắn là em biết em thở ra ngắn; như vậy khi em thở vào dài, thì em phải thở ra dài, khi em thở vào ngắn, thì em phải thở ra ngắn, nếu em thở vào dài, mà em thở ra ngắn, thì em sẽ bị ứ hơi, và khi em thở vào ngắn mà thở ra dài, thì em sẽ bị hụt hơi. Mỗi khi em thở bị hụt hơi hay bị ứ hơi, đều dẫn em đến tình trạng khổ thọ và em sẽ không bao giờ có cảm giác hạnh phúc trong khi em thở. Em chỉ có cảm giác dễ chịu và hạnh phúc, khi nào em biết, em thở vào bao nhiêu, là em phải biết thở ra bấy nhiêu. Nếu em thở vào dài và thở ra dài; thở vào ngắn và thở ra ngắn là khiến cho hơi thở của em không bị ứ hay không bị hụt, bấy giờ em có sự hòa điệu giữa thân thể và hơi thở, cũng như sự hòa điệu giữa thân thể với tâm hồn, chính sự hòa điệu ấy, chúng tạo nên những cảm giác dễ chịu và hạnh phúc trong đời sống của em. Nếu em nắm vững được quy luật này, nghĩa là em nắm vững quy luật cộng và trừ, thì khi em đạt được bất cứ một cái gì trong cuộc sống, em sẽ không bị đánh mất bởi cái đạt được ấy; và khi em bị mất bởi bất cứ một cái gì trong cuộc sống, thì em sẽ không bị cái mất ấy, làm cho em bị khuynh đảo, thất vọng và khổ đau.

Bởi vậy, nếu em chỉ nắm vững nguyên tắc của một bài toán cộng trừ, thì em có thể giải mã được nhiều bài toán bí ẩn khác của cuộc sống!

Em biết không, khi em sinh ra, em không nắm bất cứ một cái gì trong tay em để đến, và khi kết thúc cuộc sống, em cũng chẳng nắm được bất cứ cái gì nơi tay em để đi!

Như vậy, ở trong cuộc sống con người, em không những chỉ biết xây dựng đời sống của em bằng bài toán cọng, mà em còn phải biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán trừ nữa chứ; em không những chỉ biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán nhân, mà em còn phải biết xây dựng cho đời sống của em bằng bài toán chia nữa chứ!

Em biết không, Ngày xưa ở Ấn Độ có một trường phái triết học tên là Samkhyasastra (Số Luận), trường phái này họ nhận thức và đo lường thực tại bằng những con số, và qua những con số mà họ khám phá thực tại, thì nay em cũng vậy, em có thể sử dụng bốn phép toán học cộng trừ, nhân chia, để em khám phá đâu là chân nghĩa của sự sống, nhằm em có thể sử dụng sự sống mà không bị rơi vào bất cứ một sự sai lầm nào cả!

Và tôi muốn nói tiếp với em rằng, cuộc sống của em không phải chỉ có mặt bắt đầu từ khi cha mẹ của em sinh ra và không phải là kết thúc khi em buông bỏ hình hài này, mà cuộc sống của em là một dòng chảy tâm linh liên tục từ vô thỉ đến vô chung, nên không có cuộc sống nào gọi là cuộc sống bế tắc cả em ạ!

Em biết không, cha mẹ của em chỉ là những điều kiện giúp em biểu hiện sự sống mà không thể thay em để sống, sự sống phải chính là em. Và mỗi khi em hết những điều kiện để biểu hiện sự sống, cũng không có nghĩa là bế tắc và cũng không có nghĩa là em đã chết. Tôi muốn nói với em là em không bao giờ chết, vì không bao giờ có cái gọi là chết thiệt. Chết là em tiếp tục sống và tiếp tục biểu hiện trong dòng chảy liên tục của nhân duyên nội hàm, dưới hình thức này hoặc dưới hình thức khác, hoặc ở trong một không gian này hay ở trong một gian khác, mà mắt em quá phàm tục, trí em quá phàm trần, nên em không thấy và không biết đó thôi!

Cũng vậy, này em ơi, mặt trăng đang ẩn khuất ở bắc bán cầu, thì nó đang tỏa sáng ở nam bán cầu, chứ mặt trăng đâu có thực sự là lặn hay chết! Và mặt trời cũng vậy, mặt trời chưa bao giờ bế tắc, mặt trời ẩn khuất ở phương đông thì lại tiếp tục biểu hiện ở phương tây em ạ!

Như vậy, mặt trăng và mặt trời không bao giờ bế tắc, có nghĩa là chúng không bao giờ chết, thì tại sao em lại có chuyện bế tắc và có chuyện chết? Tôi muốn nói với em rằng, em không bao giờ bị bế tắc và em không bao giờ bị chết thiệt, vì em là một phần thân thể của mặt trăng và mặt trời, mà mặt trăng, mặt trời không bao giờ chết, thì cái chết chẳng bao giờ có thực với em. Sự sống và chết của em cũng giống như sự biểu hiện và ẩn tàng của mặt trăng và mặt trời giữa không gian vô cùng, điều đó em có nhận ra, để em vui cười với sự sống và sự chết của chính em trong từng khoảnh khắc không?

Ở đây, tôi cũng muốn nói thêm với em rằng, thân thể của em chỉ là những sự biểu hiện từ nơi dòng tâm thức vô tận của em; thân thể của em hết điều kiện biểu hiện, thì chúng lại ẩn tàng, nghĩa là chúng trở về lại với dòng tâm thức của em, và khi có điều kiện, thì chúng lại tiếp tục biểu hiện, khi hết điều kiện để biểu hiện, thì nó lại ẩn tàng, cứ như vậy, mà thân thể em hết biểu hiện lại ẩn tàng và hết ẩn tàng lại biểu hiện. Thân thể của em ẩn tàng là ẩn tàng trong tâm thức, và biểu hiện là biểu hiện từ tâm thức, nhưng em ơi, tâm thức là không bao giờ chết, nó là một dòng chảy tương tác liên tục bởi những nhân duyên của chính nó.

Bởi vậy, em hãy nhìn lại tâm em, để em có thể thấy rõ thân thể của em từng giây phút trong hiện tại là gì, và em cũng có thể thấy được thân thể của em trong tương lai là gì. Và em hãy nhìn lại tâm em, để em có thể trả lời được những câu hỏi, tại sao em lại thương người này, mà em lại không thương người kia; tại sao đối với người này thì em lại hành sử như thế này, mà đối với kia thì em lại hành sử như thế kia; tại sao em lại có mặt trong gia đình này, mà không có mặt trong gia đình kia; và tại sao em lại sinh ra trong thế giới này, mà em lại không sinh ra ở thế giới kia... tất cả những câu hỏi ấy, em có thể trả lời một cách minh bạch cho chính em, khi em biết nhìn lại tâm em trong sự yên lặng.

Em hãy trở về nhìn sâu vào tâm em bằng đôi mắt thiền quán, với ý chí quyết liệt, với hướng đi cao khiết, với tấm lòng thanh bạch và mở rộng, thì chẳng có khó khăn nào cản được bước chân em, bấy giờ em không còn hờn ai và trách ai, mà tất cả đều giúp em vui sống và thành đạt.

Và lời sau cùng, tôi muốn nói với em rằng, không có ai thương yêu và tạo nên hạnh phúc cho em, bằng chính tâm hồn an lạc của em, mà cũng không có ai ghét em và tạo ra khổ đau cho em bằng chính tâm tư sầu muộn của em. Nên, tôi mong em hãy quay về tìm lại hạnh phúc ở nơi chính tâm hồn của em, mà đừng bao giờ tìm kiếm hạnh phúc ở nơi bất cứ cái gì khác. Và em hãy nên nhớ rằng, không có sự hạnh phúc và an toàn nào được bảo chứng ở nơi chiếc thảm gấm, do người khác đem đến và trải đường cho em đi, và nếu em muốn đi trên chiếc thảm gấm, thì chính em phải tự dệt và tự chọn lấy con đường để trải!

Vậy, hiện tại và tương lai của em là gì, em hãy nhìn sâu vào tâm tư của chính em để tự biết và tự chứng nghiệm lấy, đó là những gì mà tôi muốn tâm sự và chia sẻ với em hôm nay!