Page 116 of 180

Posted: Tue Sep 30, 2014 6:01 pm
by KýCóp
Image

Cuộc Chiến Tranh Mới Của Mỹ

Vũ Linh

...khi máy bay Mỹ đánh bom Syria thì TT Obama bận tham dự hội nghị LHQ về khí hậu...

Sau khi tấm màn được kéo lên và khán giả có dịp nhận diện rõ hình ảnh trên sân khấu, thì sự thật hiện ra: nước Mỹ chính thức bước vào một cuộc chiến mới tại Trung Đông. Chống một đối thủ mới là lực lượng khủng bố ISIS. Trên một lãnh thổ mới là Syria.

Trước hết, phải nói ngay kẻ viết này hoan nghênh quyết định của TT Obama. Cuối cùng thì tổng thống cũng đã quyết định hành động, không thể tiếp tục vùi đầu dưới cát, chối cãi sự thật để tiếp tục khẳng định al-Qaeda đã bị tiêu diệt, các nhóm khủng bố chỉ là tép riu, kiểu các đội bóng rổ trung học.

Nhưng rồi xin tổng thống thứ lỗi, kẻ viết này cũng phải nhận định đây có lẽ là một cuộc chiến lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại, tự cổ chí kim, chứ chẳng riêng gì trong lịch sử hơn hai trăm năm của Hiệp Chủng Quốc Cờ Hoa. Dưới đây là vài điểm đặc biệt khó hiểu.

- Cuộc chiến này là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử nhân loại (hay ít ra cũng kể từ ngày có giải Nobel!) được phát động bởi một người đã từng được giải Nobel Hòa Bình. Từ trước đến giờ, ta thường thấy những người được giải Nobel Hòa Bình là những người cố gắng chấm dứt chiến tranh, cho dù bằng tương nhượng như cựu thủ tướng Do Thái với cựu tổng thống Ai Cập, hay bằng chiến thắng trọn vẹn như Lê Đức Thọ, hay bằng... tháo chạy như Kissinger. Bây giờ Liên Hiệp Quốc được nghe diễn văn của một tổng thống Nobel giải thích tại sao ông phát động chiến tranh.

- Cuộc chiến này là cuộc chiến duy nhất trong lịch sử nhân loại mà vị Tư Lệnh Tối Cao của một bên công khai tuyên bố trước khi lâm trận là sẽ không có một người lính nào của ông tham gia trận chiến, trong khi ông đang cố vận động các quốc gia đồng minh cùng tham chiến làm Lê Lai cứu Chúa, gửi lính của họ đến đánh dùm. Năm xưa TT Johnson cũng đánh bom Bắc Việt ào ạt mà không thả lính Mỹ xuống, nhưng ít ra ông không tuyên cáo trước “không có một đôi giầy lính Mỹ nào chạm đất” –no boots on the ground, và cũng không kêu gọi các đồng minh thả lính đến đánh thế. Hiệu quả của không tập như thế nào ai cũng thấy, khỏi bàn thêm.

- Cuộc chiến này cũng là cuộc chiến đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà một phe “không có sách lược” gì, không biết mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến là gì. Vị Tư Lệnh Tối Cao khi thì tuyên bố mục đích là “tiêu diệt” –destroy- địch, khi thì lại xác định chỉ muốn “hạ cấp xuống một vấn đề có thể quản lý được” –downgrade to a manageable problem. Có thể mục tiêu là muốn tiêu diệt thật, nhưng vì đánh nhau kiểu chân ngoài chân trong, chỉ muốn kiếm cớ tháo chạy, nên lại thòng theo câu “vấn đề có thể quản lý được” để khi cần thiết là có lý do cuốn cờ về tử thủ ở Hạ Uy Di. “Tiêu diệt” thì ai cũng biết nó như thế nào. Nhưng “quản lý được” thì chẳng ai hiểu nghiã là gì, tức là muốn rút thì gọi là “quản lý được rồi”, chưa muốn rút thì nói “chưa quản lý được”. Uyển chuyển đến vậy là hết cỡ.

- Cuộc chiến này cũng hết sức đặc biệt ở điểm dù không có chiến lược tổng quát, nhưng tất cả các mục tiêu quân sự có tính chiến thuật thì lại phải được quyết định từng trường hợp một, tại Tòa Bạch Ốc bởi đích thân tổng thống và ban tham mưu, trong đó không có một người nào đã đi lính tới một ngày, nhưng tất cả đều là chuyên gia tranh cử. Có nghiã là tất cả mọi quyết định sẽ được lấy theo nhu cầu chính trị bầu cử quốc nội, không phải theo nhu cầu quân sự trên chiến trường. Đây cũng là cuộc chiến đầu tiên được mở màn bằng cuộc chiến nội bộ giữa vị Tổng Tư lệnh trong Toà Bạch Ốc và các tướng lãnh trong Bộ Quốc Phòng. Để chính trị nội bộ chi phối một cuộc chiến sinh tử bên kia thế giới có vẻ hình như tréo cẳng ngỗng, nếu không muốn nói sẽ bảo đảm thua trên cả hai mặt trận. Cái gương TT Johnson đích thân chỉ huy các cuộc đánh bom Bắc Việt còn sờ sờ đó.

- Cuộc chiến này cũng là cuộc chiến có một không hai khi toàn bộ lực lượng chiến đấu được đặt dưới quyền của một vị tướng đã về hưu, tướng TQLC 4 sao John Allen, cựu Tư Lệnh chiến trường Trung Đông, chịu trách nhiệm trực tiếp với Bộ Ngoại Giao, chứ không phải Bộ Quốc Phòng. Tư lệnh mặt trận Trung Đông –CentCom- là tướng Lloyd Austin, đóng tại Tampa, bây giờ chịu trách nhiệm trước ông tướng đàn anh đã về hưu.

- Cuộc chiến này cũng có điểm đặc thù quái lạ: Mỹ đang muốn tiêu diệt lực lượng ISIS, ISIS đang muốn tiêu diệt TT Assad mà Mỹ cũng muốn tiêu diệt Assad luôn. Bình thường thì kẻ thù của kẻ thù của ta phải là bạn của ta, nhưng trong trường hợp này, kẻ thù của kẻ thù của ta cũng là kẻ thù của ta luôn.

Tất cả những điểm lạ lùng, “lần đầu tiên” nêu trên xác nhận đây là một cuộc cách mạng toàn diện trong binh pháp, mà cử tri Mỹ đã kỳ vọng –Change We Can Hope For-. Những Clausewitz và Tôn Tử quả đã đi vào lịch sử từ lâu lắm rồi. Bây giờ là thế kỷ thứ XXI, với một Barack Obama như tân Clausewitz hay tân Tôn Tử, với binh pháp quái chiêu thắng hữu chiêu.

Bình luận về cuộc chiến này thật không dễ. Điểm đầu tiên phải hỏi, đây là cuộc chiến mới hay cũ? Địch thủ ISIS hoàn toàn là địch thủ mới lạ, mới xuất hiện trong vòng vài ba tháng nay, trước đây không hề ai nghe nói tới. Lãnh thổ bị đánh bom là Syria, là nước từ trước đến giờ chưa bị dính dáng trực tiếp vào cuộc chiến tại Iraq. Trên lý luận, hiển nhiên đây là cuộc chiến mới toanh. Nhưng Tòa Bạch Ốc giải thích TT Obama lần này ra quân không cần phải “xin phép” quốc hội như vài nhà báo đặt câu hỏi, vì đây là cuộc chiến Iraq tiếp nối, một cuộc chiến đã được cả hai viện quốc hội cho phép năm 2003, theo yêu cầu của TT Bush.

Khi tranh cử những năm 2007-08, ứng viên Obama chỉ trích cuộc chiến Iraq là cuộc chiến chẳng những “ngu xuẩn” mà còn “bất hợp pháp” vì TT Bush đã lừa quốc hội. Bây giờ TT Obama ra trước dân Mỹ và cả thế giới giải thích khủng bố đe dọa cả thế giới, ông có nhu cầu phải tiêu diệt khủng bố, và ông chỉ tiếp nối chuyện TT Bush đã làm không phải là một cuộc chiến mới. Thế thì cuộc chiến của Bush có còn là “ngu xuẩn và bất hợp pháp” nữa không? Hay là chỉ sau khi làm tổng thống 6 năm ông mới nhìn ra cái lý của cuộc chiến của Bush?

TT Obama giải thích lý do phát động cuộc chiến là nhu cầu nhân đạo, an ninh nhân loại, chống khủng bố cuồng tín không biết lẽ phải, không thể điều đình, mà chỉ có thể dùng võ lực để truy diệt, v.v... Nếu không nghe giọng và thấy hình TT Obama, mà chỉ đọc bài viết, thì thiên hạ sẽ tưởng đây là bài diễn văn của TT Bush. Đó là nhận định của báo phe ta Washington Post.

Nói đi nói lại, tóm lại, TT Obama quyết định đánh bom Syria, nếu không phải là một cuộc chiến mới toanh thì cũng là bành trướng rất lớn cuộc chiến của Bush, mà không hề xin phép quốc hội gì hết. Khi biểu quyết cho TT Bush đánh Saddam, quốc hội không hề ghi vô điều khoản tự do thả bom Syria. Khi quốc hội mới đây biểu quyết về chuyện Syria, cũng chỉ cho phép TT Obama viện trợ súng đạn cho những nhóm chống đối Assad được coi như “ôn hòa”, không hề có điều khoản cho phép TT Obama tự do đánh bom trên đất Syria như đất vô chủ.

Thật ra, cuộc chiến Trung Đông, từ Afghanistan đến Iraq chưa bao giờ chấm dứt, cho đến nay vẫn còn tiếp tục, chưa bao giờ ngưng. Nếu có chuyện “chấm dứt” thì chỉ là chấm dứt sự tham gia của Mỹ vì TT Obama đã quyết định tháo chạy, bỏ mặc các đồng minh do chính Mỹ dựng lên trong một cuộc chiến do chính Mỹ phát động, để mặc các chính quyền Kabul và Baghdad tự lo lấy thân. Không khác gì ngày xưa bỏ mặc chính quyền và quân lực VNCH tự lo lấy thân.

Cái điểm khác biệt lớn giữa Miền Nam VN ngày xưa và Trung Đông ngày nay là tại Miền Nam VN, Mỹ có cuốn cờ về nước và VC có chiếm được cả miền nam VN thì Mỹ cũng chẳng sao, vì VC không có ý định cũng như không có khả năng đe dọa tới Hoa Thịnh Đốn. Nghỉ ngơi vài năm cho thiên hạ “quên bớt hận thù” là chúng ta lại có quyền bắt tay lo chuyện áp-phe, cùng nhau kiếm tiền. Chưa phải là tận thế.

Tình trạng Iraq và Afghanistan không như vậy. Nếu khủng bố thắng, sẽ không có chuyện bắt tay nhau kiếm tiền, chúng sẽ tìm cách đánh Mỹ trên đất Mỹ ngay, kiểu như 9/11. Không một tổng thống nào dám để chuyện này xẩy ra lần nữa. Do đó, trước sự suy xụp mau lẹ của chính quyền Iraq, Mỹ không còn lựa chọn nào khác hơn là lại phải trở lại để diệt trừ mối hoạ khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Đúng như TT Bush đã cảnh giác từ năm 2007. Trở lại để đối đầu với một địch thủ lớn mạnh và nguy hiểm hơn xa Saddam hay al-Qaeda. Cũng đúng như TT Bush đã tiên đoán.

Mối đe dọa khủng bố hiện nay rõ hơn ban ngày, ai cũng thấy. Cả thế giới đều thấy. Và TT Obama loan báo sẽ thành lập một liên minh của cả thế giới để chống khủng bố ISIS. Nhưng danh sách các nước đồng minh cũng như sự tham gia của họ được giữ kín, bí mật hoàn toàn. Không ai biết có bao nhiêu nước đồng minh, bao nhiêu tướng tá, quân lính hay máy bay, đại bác “đồng minh” tham gia. Bí mật quân sự. Hay bí mật chính trị?

Thiên hạ lúc đầu chỉ được thông báo là có “rất nhiều nước đồng minh tham dự”. Có thể là một triệu quân đồng minh của 100 nước, hay chỉ 20 quân nhân của 3 nước. Hiểu sao cũng được. Rồi mới đây, trong cuộc tập kích Syria, nếu tin vào sự khoe khoang của Nhà Nước Obama thì thiên hạ được biết có năm nước Ả Rập “yểm trợ” –supported-, trong đó có Ả Rập Saudi, Jordan, và ba tiểu vương Vùng Vịnh, mỗi tiểu vương chắc lớn hơn tỉnh Mỹ Tho một chút! Không ai hiểu rõ “yểm trợ” nghiã là gì. Có thể một máy bay Mỹ cất cánh từ căn cứ Qatar, bay qua không phận Ả Rập Saudi và Jordan để tới Syria cũng đã được kể như là ba nước Qatar, Ả Rập Saudi và Jordan đã “yểm trợ” cuộc chiến của Mỹ. Tích cực hơn thì có thể mấy nước này tham gia theo kiểu gửi hai chiếc phản lực thả bốn quả bom cho có rồi chạy về cũng coi như đã “chung lưng sát cánh” với Mỹ rồi.

Điều đáng nói trong cuộc tập kích Sayria đầu tiên là sự vắng bóng của tất cả các đồng minh Âu Châu, cũng như sự vắng bóng của hai cường quốc Trung Đông là Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ, là hai nước mà TT Obama đã viếng thăm đầu tiên khi mới nhậm chức, đầu năm 2009, để vuốt ve khối Hồi giáo. Cái bóng thiếu vắng quan trọng nhất và cũng có ý nghiã nhất là của Anh Quốc, một đồng minh đã chấp nhận sinh tử với Mỹ trong các cuộc chiến Afghanistan và Iraq trước đây.

Năm xưa, TT Bush tập hợp được một “liên minh” 48 nước để đánh Saddam. Dĩ nhiên, đa số các nước trong “liên minh” cũng chỉ tham gia có tính cách tượng trưng, như Uganda gửi một tiểu đội chẳng ai biết để làm công tác gì, nhưng dù sao cũng có gần 50 nước chính thức ghi danh đăng ký. Danh sách chính thức được công bố hẳn hoi. Nhưng khi đó, thiếu bóng hai đại cường đồng minh Pháp và Đức, thế là truyền thông cấp tiến nhao nhao sỉ vả liên minh cuội, chỉ là ông cao bồi Bush một người một ngựa múa gậy rừng hoang thôi. Bây giờ, TT Obama hùng hổ khoe Mỹ “không chiến đấu một mình”, mà chung lưng sát cánh với các đồng minh. Nhưng “liên minh” của TT Obama cho đến nay chỉ mới thấy vài anh Ả Rập tép riu tượng trưng, mặc dù cũng đủ để CNN ra rả tung hô “lực lượng đồng minh”, -partner nation forces-, và “US and Allies bomb ISIS”, nghe như là mấy chục không đoàn oanh tạc cơ Ả Rập đang đánh vậy.

Cho đến nay, lý do tại sao các đồng minh NATO dè dặt trong việc tham gia không được giải thích cho rõ, truyền thông phe ta im lặng tránh bàn, nhưng có rất nhiều lý do chính đáng.

- Lý do đầu tiên là cơ sở pháp lý quốc tế của chuyện đánh bom Syria không có. Dù sao Syria cũng là một nước độc lập, có chủ quyền. Không được phép của Syria, không tuyên chiến gì với Syria, không có biểu quyết gì tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, tự nhiên đơn phương đánh bom ào ào thì chỉ có Mỹ mới làm thôi, coi công pháp quốc tế như pha. Còn tệ hơn Bush. Năm xưa, Bush đánh Afghanistan và Iraq đều có quốc hội cho phép, và Liên Hiệp Quốc biểu quyết. Bây giờ một mình Hoàng Đế Obama quyết định, xong rồi ra trước Liên Hiệp Quốc lên lớp thế giới phải chống khủng bố tích cực hơn. Cuối cùng thì dưới áp lực mạnh của Mỹ, một vài nước đồng minh NATO rồi sẽ tham gia, nhưng có triển vọng sẽ chỉ giới hạn trong Iraq chứ không đánh Syria.

- Đại đa số các nước chưa tin tưởng lắm vào sự “lãnh đạo” của ông tổng thống Nobel, không có chiến lược mà chỉ có chiến thuật lãnh đạo từ sau lưng. Họ cần có những bảo đảm vững chắc hơn, đề phòng ông tổng thống này lạnh cẳng, tháo chạy bất tử để họ ở lại lãnh đủ.

- Các nước đồng minh NATO chưa chịu nhẩy vào lửa là có lẽ họ thấy rõ sách lược –tạm cho là có sách lược đi- của TT Obama rõ ràng không phải là tiêu diệt ISIS, mà chỉ là ngăn cản không cho ISIS bành trướng quá lớn, có thể xáo trộn hoàn toàn cái thế hiện hữu ở Trung Đông, rồi đe dọa trực tiếp đến an ninh của nước Mỹ. Nếu chỉ là kềm hãm ISIS trong một giới hạn nào đó để khỏi đe dọa an ninh của Mỹ thì một mình Bác Sam lo được rồi, không cần các đồng minh NATO nhẩy vào làm gì khi các nước này đang lo sót vó về những mưu đồ của TT Putin bên Đông Âu. Câu hăm doạ của Putin là có thể chiếm bất cứ thủ đô Đông Âu nào trong vòng hai ngày vẫn còn văng vẳng bên tai.

- Tình hình Trung Đông rối hơn tơ vò. Ai cũng thấy rõ ISIS là khủng bố, là kẻ thù, nhưng ngoài mấy ông ISIS ra, thì không ai rõ ai là đồng minh của ai, ai là kẻ địch của ai. Cách đây không lâu, Mỹ giúp đánh bom giết Khaddafi, thành lập tân chính phủ Libya, bây giờ Mỹ vắt giò lên cổ tháo chạy khỏi Libya. Cách đây không lâu, TT Obama đòi thanh toán TT Assad của Syria, bây giờ lại thông báo cho Assad biết là Mỹ sắp đánh bom ISIS để cứu Assad. Cách đây không lâu, Mỹ đòi thanh toán các giáo chủ cuồng tín Iran, bây giờ lại nghe tin ngoại trưởng Kerry cố vận động hậu thuẫn của các giáo chủ để chống ISIS. Kiếm một xứ khủng bố có khả năng có bom nguyên tử làm đồng minh để diệt một nhóm khủng bố vừa chiếm được vài mỏ dầu hỏa. Tính toán chiến lược của Mỹ quả đúng như TT Obama đã khẳng định: chưa có chiến lược gì hết, đang mò mẫm tìm lối thoát.

- Và lý do cuối cùng, cũng là quan trọng nhất khiến khối NATO dè đặt: đánh bom ISIS tại Syria bây giờ, rồi sao nữa? Đánh bom bao nhiêu lâu? Bước kế tiếp là gì? Nguy cơ tình trạng đổ đốn, chiến tranh tràn lan khắp Trung Đông không thể là chuyện không thể xẩy ra và không đáng quan tâm. Có tin ISIS dự tính trả đũa bằng cách đánh thẳng vào thủ đô Baghdad, mà quân Iraq sẽ không chống đỡ nổi. Vậy thì Mỹ sẽ làm gì? Thả bom phá nát Baghdad để cứu Baghdad? Hay thả dù tướng Lương Xuân Việt xuống để cứu Baghdad?

Sáng ngày 23 tháng 9, cả CNN lẫn báo Washingon Post rầm rộ quảng bá sáng nay TT Obama sẽ ra trước truyền hình công bố chiến lược chống ISIS. Truyền thông háo hức chờ đợi. Cuối cùng thì TT Obama đã có chiến lược. Rồi TT Obama xuất hiện, trong vòng chưa đầy năm phút, chỉ để quảng cáo có tới 5 đồng minh Ả Rập chung lưng sát cánh với Mỹ. Hết. Vẫn chưa có chiến lược hay gì gì khác. Vẫn mò đường.

Trong khi lửa cháy bùng bùng khắp nơi trên thế giới thì TT Obama lo báo động về chuyện... hâm nóng địa cầu. Không phải hâm nóng vì những cuộc chiến đó, mà hâm nóng vì thay đổi khí hậu thế giới trong 15.000 năm nữa. Trong khi máy bay Mỹ đánh bom Syria thì TT Obama bận tham dự hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về khí hậu tại Nữu Ước. Bây giờ nước Mỹ đã vào mùa thu, để xem năm nay mùa đông có ấm áp hơn chút nào không. (28-09-14)

Vũ Linh

Posted: Thu Oct 02, 2014 6:22 pm
by khieulong
Nhìn Joshua Wong, nghĩ về vấn đề lãnh tụ
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Lâu nay, những người quan tâm đến tình hình chính trị thường than thở là điều thiếu nhất, và do đó, cần nhất,
trong quá trình tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam là vấn đề lãnh tụ: Chúng ta chưa có một gương mặt và một tên tuổi nổi tiếng được cả nước
cũng như quốc tế biết đến và ngưỡng mộ như Nelson Mandela ở Nam Phi trước đây hoặc Aung San Suu Kyi ở Miến Ðiện hiện nay.

Image
Joshua Wong (giữa) cùng các bạn phản đối lễ thượng cờ Trung Quốc trong cuộc biểu tình ở Hồng Kông. (Hình: Getty Images)



Ðành là đúng. Hiển nhiên đó là một điều đáng tiếc. Nhưng từ sự đáng tiếc ấy mà đâm ra bi quan lại là một sai lầm. Có hai lý do chính: Một, trên thế giới, trong thời gian vừa qua, xuất hiện một số phong trào tranh đấu cho dân chủ mà không hề có lãnh tụ nào cả (ví dụ tiêu biểu nhất là các cuộc xuống đường lật đổ các chế độ độc tài tại Trung Ðông và Bắc Phi vào đầu năm 2011); và hai, lãnh tụ thường xuất hiện TRONG và VỚI chứ không phải TRƯỚC quá trình tranh đấu. Nói cách khác, chúng ta phải tranh đấu trước, từ đó, sẽ xuất hiện một hoặc một vài cá nhân nổi bật lên đóng vai lãnh tụ thay vì chờ đợi có lãnh tụ rồi mới xuống đường tranh đấu.

Ðằng sau sai lầm ấy là một sai lầm khác: phần lớn chúng ta hình dung lãnh tụ là những tên tuổi lớn, theo nghĩa, một, có tuổi tác; hai, có bằng cấp cao; và ba, được xã hội cũng như quốc tế biết và kính trọng.

Những quan niệm sai lầm ấy không những phổ biến ở những người bình thường mà còn xuất hiện ở cả những nhà hoạt động cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam: Ở họ, tôi thấy nhiệt tình và can đảm thì có thừa, nhưng vẫn có cái gì đó như thiếu tự tin: Họ vừa hoạt động vừa loay hoay chờ đợi lãnh tụ. Nhiều lần, tôi cứ tự hỏi: Tại sao lãnh tụ lại không phải là họ, chính những người đang tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam nhỉ? Nói cách khác, tại sao lãnh tụ lại không phải là một Nguyễn Phương Uyên hay một Ðinh Nguyên Kha hay bất cứ một ai đó nhỉ? Họ trẻ quá hoặc còn thiếu kinh nghiệm quá ư?

Những thắc mắc ấy có thể được trả lời qua kinh nghiệm của Joshua Wong (Hoàng Chi Phong) tại Hồng Kông hiện nay.

Sinh ngày 13 tháng 10, 1996, Joshua Wong có một thân hình khá gầy gò, khuôn mặt hơi choắt, gò má hóp, đôi kính cận dày, trông có vẻ như một học sinh trung học hơn là một sinh viên năm thứ nhất ở đại học.

Khuôn mặt ấy còn trẻ hơn cả Nguyễn Phương Uyên lúc cô xuất hiện với chiếc áo sơ mi trắng trước tòa án tỉnh Long An vào ngày 16 tháng 5, 2013. Trẻ hơn bất cứ một người hoạt động nào được biết đến ở Việt Nam lâu nay. Trẻ đến độ khiến mọi người phải kinh ngạc trước khi khâm phục.

Vậy mà chính người thiếu niên 17 tuổi lại làm cả guồng máy lãnh đạo đông đảo, hung hãn và mạnh mẽ ở Bắc Kinh phải lo lắng. Hệ thống tuyên truyền nhà nước ở Trung Quốc không ngớt vu khống và bôi xấu Joshua Wong. Họ xem anh như một phần tử quá khích, kẻ kích động quần chúng, một nhân vật nguy hiểm của chế độ không những chỉ ở Hồng Kông mà còn ở Trung Quốc nói chung: Ai cũng biết Hồng Kông chỉ là một phần của Trung Quốc, bất cứ phong trào dân chủ nào tại Hồng Kông, nếu thành công, cũng đều có ảnh hưởng dây chuyền đến các địa phương khác trong nội địa Trung Quốc.

Chưa hết, người thiếu niên ấy, mặc dù chỉ mới 17 tuổi, đã có một bề dày tranh đấu nhiều năm, ngay từ năm 2011, lúc Joshua mới 14 tuổi. Ngày ấy, cùng với một người bạn học, Ivan Lam (Lâm Lương Ngạn), Joshua thành lập một phong trào gọi là Học Dân Tư Triều (Scholarism) nhằm tranh đấu chống lại âm mưu chính trị hóa giáo dục của Trung Quốc tại Hồng Kông. Phong trào, với lực lượng nòng cốt trên 300 học sinh và sinh viên, vào năm 2012, tổ chức các cuộc biểu tình có lúc lôi kéo đến 100,000 người tham dự, khiến, cuối cùng, chính quyền Trung Quốc phải bãi bỏ âm mưu nhồi sọ học sinh Hồng Kông ấy.

Suốt mấy năm vừa qua, Joshua Wong không ngừng hoạt động, thường xuyên post bài lên Facebook (với hơn 200,000 người theo dõi thường xuyên), trả lời các cuộc phỏng vấn của giới truyền thông các nơi, hơn nữa, còn viết cả cuốn sách nhan đề Tôi Không Phải Là Anh Hùng (I am not a Hero). Trẻ, nhưng Joshua Wong có khả năng lý luận mạch lạc và chặt chẽ, một khả năng diễn đạt hùng hồn và lôi cuốn, có thể đánh bại nhiều đối thủ lớn tuổi, học thức cao và dày dặn kinh nghiệm chính trị tại Hồng Kông.

Joshua Wong được xem là một “lãnh tụ,” một nhà hoạt động kiểu mới của thời đại liên mạng (wired activist), lúc nào cũng cầm điện thoại di động trên tay để nói chuyện với người này, thuyết phục người khác, viết và post bài lên Facebook. Joshua có những tuyên bố rất ấn tượng, chẳng hạn, “Cải cách chính trị là một vấn đề nòng cốt của mọi vấn đề” hay “Học sinh sinh viên đến đứng ở tuyến đầu của mỗi thế kỷ” hay “Chúng ta tranh đấu cho mục tiêu [dân chủ] mà không cần phân tích khả năng thành công bởi vì nếu nghĩ quá nhiều đến điều đó, bạn sẽ không dám dấn thân làm gì cả.”

Giới quan sát cho một trong những thành công lớn nhất của Joshua Wong là đã thức tỉnh được đông đảo học sinh và sinh viên tại Hồng Kông, những người thường hờ hững và dửng dưng trước các vấn đề chính trị. Nhiệt tình của anh, như một ngọn lửa, làm bùng cháy ý thức dấn thân của bạn bè cùng thế hệ.

Khi các phóng viên bày tỏ sự ngạc nhiên trước tuổi tác của Joshua Wong, anh nói, “Ðúng là không phải là chuyện thường thấy một học sinh 15 tuổi lãnh đạo một phong trào quần chúng chống lại chính quyền một cách hòa bình [...] Chỉ ở Hồng Kông, chuyện ấy mới xảy ra.” Rồi Joshua Wong kể, một cách tự tin, mới rồi, một học sinh 12 tuổi xin tham gia vào phong trào của anh.

Niềm tự hào của Joshua Wong hoàn toàn chính đáng. Nhưng những gì xảy ra ở Hồng Kông cũng có thể xảy ra ở những nơi khác. Kể cả Việt Nam. Ðã đành hoàn cảnh khác, nhưng lòng khao khát dân chủ và ý chí tranh đấu để được sống như một con người thì ở đâu cũng giống nhau.

Posted: Mon Oct 06, 2014 6:33 am
by MatVit
Thời gian không chờ dân Hongkong?

Nguyễn Ngọc Già
(Danlambao) - Chính quyền CS Bắc Kinh đang nuốt lời "một quốc gia, hai chế độ" với mưu toan áp đặt thể chế độc tài toàn trị cho vùng lãnh thổ đã từng là thuộc địa Anh.

Cách Mạng Dù


Một cuộc du hành ngỡ rằng đáng mơ ước, lại do Trung cộng sắp đặt. Trong khi hành khách Hongkong, tất cả đã yên vị, chuyến bay chuẩn bị lăn bánh ra đường băng, đâm đầu xuống... "thiên đường XHCN", may thay, lượng khách khổng lồ kịp thời phát hiện trò lừa đảo bấy lâu họ nghi hoặc, nay có nguy cơ lớn trở thành sự thật và... cuộc đấu tranh diễn ra, như cả thế giới đang chứng kiến. Hình ảnh đó không khác gì toàn bộ con tin đang nằm gọn trong bàn tay bọn khủng bố.


Thật mỉa mai đối với người Hongkong - ngỡ mang thân phận "nô lệ" cả trăm năm - đó là khi trở về "Đất Mẹ" (!), họ lại đầy trăn trở, bất an trước "kiếp người" được..."chăm bẵm" trong "vòng tay ấm áp" của "mẹ Trung Hoa" (!).


Càng mỉa mai hơn cho "quê cha", khi cuộc thăm dò của đại học Hongkong tiến hành vào cuối tháng 12 năm 2012 cho thấy, hơn 70% những người được hỏi nói rằng, họ tự nhận là người Hongkong chứ không phải là người Trung Quốc.

Điều cần nhấn mạnh, gần như người dân ở thế bị động trong quá trình trao trả Hongkong từ Anh Quốc về cho Trung Quốc, cách đây 17 năm. Có lẽ vì thế, "hồn ai nấy giữ", khiến cho khoảng 10% dân số Hongkong đã quyết bỏ xứ sở để đến các quốc gia khác một cách an toàn [1], vì không chấp nhận sống dưới chế độ CS [2].


Giờ đây, đối mặt với hành xử tráo trở từ những người cùng huyết thống, cùng nguồn cội; thật ê chề, số đông người Hongkong - vì lý do này hay lý do khác chấp nhận "gắn bó" cùng "đất tổ" - không chỉ vận động hết những nỗ lực của họ, mà còn phải kêu cứu đến thế giới! Đó là điều cay đắng nhất, cũng dành cho dân Việt trong ngoài nước nghĩ suy và chiêm nghiệm với chế độ toàn trị tương ứng tại Việt Nam, dù ai cũng biết, dân Hongkong được thụ hưởng hàng chục năm thể chế tự do dân chủ, trước khi có nguy cơ biến thành "con người XHCN" - đang đe dọa nghiêm trọng hơn 7 triệu dân.


Không thể tìm được câu trả lời nào khác, ngoài vết thương rát buốt, nhức nhối và ngập tràn ân hận cho tương lai thật gần của dân Hongkong, nếu "Cách Mạng Dù" thất bại.


Cuộc biểu tình lớn nhất đòi dân chủ trong lịch sử Hongkong từ trước đến nay, với lượng người khổng lồ lại khá kỷ luật, cho thấy không thể nào tin được, nếu không có kế hoạch dài hơi, nghiêm túc, được tính toán và dự trù các đối sách cẩn trọng, thông qua những cuộc tập dượt thể nghiệm trước đó.

Nếu không ai lạ lẫm với bản chất lật lọng của CS thì nạn quỵt "nợ chính trị" tại Hongkong chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Do đó, Lương Chấn Anh tuyên bố không từ chức nhưng chấp nhận cử người đối thoại, đó chỉ là kế hoãn binh. Kèm theo đó, sách "dĩ dật đãi lao" [3] dường như được mang ra sử dụng kịp thời (?).

Thời gian không chờ dân Hongkong?

Ngày 3/10/2014, đã xuất hiện những hình ảnh bạo lực trong dòng người biểu tình. Người quan sát có căn cứ để coi đó là hành động quen thuộc từ những tên độc tài toàn trị, đê hèn dựng lên kịch bản. Nó vốn nhàm chán đối với Việt Nam nhiều năm qua. Thậm chí, nếu một vài ngày sắp tới có xuất hiện những chất dơ bẩn ném vào đoàn biểu tình, đánh nguội, xé lẻ, khiêu khích, khủng bố thể xác & tinh thần cá nhân cũng như gia đình những người đầu tàu trong cuộc biểu tình v.v... chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Mới nhất, trang Dân Luận có bài dịch từ Reuters: "Đụng độ ở Hồng Kông bùng phát, người biểu tình đe dọa tẩy chay đàm phán" [4], cho thấy cuộc biểu tình đứng trước nguy cơ khó tránh khỏi bạo động???.

Một nữ sinh viên Hongkong thật ngơ ngác, khi vừa khóc vừa cố gắng bảo vệ rào chắn:

"Đây thực sự có phải là Hồng Kông?" Cô hỏi. "Tại sao Hồng Kông trở nên như thế này?"

Đó là sự "ngây thơ tức tưởi" của giới trẻ Hongkong chưa từng trải qua "tính ưu việt" của "xã hội XHCN", nay đang sững sờ đối mặt với những trò bẩn thỉu nhất của cộng sản. Có lẽ, cho đến lúc thốt lên như thế, chưa bao giờ họ mường tượng ra nổi chế độ CS kinh khủng như thế nào! Rất đau cho dân Hongkong!

Con người, dù ôn hòa nhất, đứng trước những hành vi như các hình ảnh kèm theo, thật khó đủ bình tâm tìm biện pháp khả dĩ để giữ hình ảnh ôn hòa cần có cho cuộc biểu tình nhiều ngày qua? Nếu có, có vẻ nó thật lố bịch, với hình ảnh thánh thiện như "chú nai" với cặp mắt vô tư trước "họng cá sấu"?!

Vấn đề đau đầu là biện pháp đối phó hiệu quả cho đến nay chưa được tìm ra! Vì thế, lực lượng cảnh sát Hongkong sẽ đóng vai trò quan trọng quyết định, khi lực lượng này nghiêng về ủng hộ xu hướng nào. Trong khi ở Việt Nam, không còn gì để bàn luận đối với "lực lượng bạn dân" (!).

Người Hongkong không còn con đường nào khác. Một khi nhượng bộ và thỏa hiệp theo lời dụ dỗ của nhà đương cục, nhất định "sinh mạng dân chủ" của những thân phận từng là "nô lệ Anh quốc" dứt khoát bị kết liễu. Kết liễu hoàn toàn không còn gì cứu vãn.

Thời gian không dành nhiều cho họ. Từ nay cho đến trung tuần tháng 10, chỉ cần tình hình tiếp tục giằng co, gần như người Hongkong khó giành thắng lợi, bởi một trong các tiêu chuẩn quan trọng cho biểu tình thành công là thời gian không được phép kéo quá dài.

Điều đáng ngại nhất, chính là hậu quả sau đó với chủ trương khủng bố ngầm và xé nát lòng dân Hongkong sẽ âm thầm và rỉ rả nhưng rất... quyết liệt như bản chất cộng sản vốn mang.

Người Hongkong sẽ đón nhận "mặt trời đen", cũng như người Việt Nam không muốn nhắc lại lời cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan "Chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đơn thuần rút quân về nhà là xong, vì lẽ cái giá phải trả cho loại "hoà bình" đó là ngàn năm tăm tối cho thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau".

Vì vậy, những luận thuyết về: "tiệm tiến dân chủ", "hòa hợp hòa giải", "đối thoại kiên trì" v.v... trong xu hướng "đấu tranh bất bạo động" hiện nay, có lẽ cần phải được xem xét nghiêm cẩn từ nhiều góc nhìn, ngay trước mắt cho dan Hongkong.

Thời gian không chờ đợi người Hongkong nhiều nữa?!

"Đấu tranh này là trận cuối cùng..."?!

Cầu chúc người Hongkong mạnh mẽ và dứt khoát cũng như mau chóng tìm ra giải pháp trong tình thế nguy nan.

Thế giới dân chủ không thể ngồi im, đừng để quá muộn như Ukraine, Syria v.v... rồi "thong thả" giải quyết hậu quả...

Qủy dữ đang đội mồ sống lại...

Nguyễn Ngọc Già
danlambaovn.blogspot.com

Posted: Thu Oct 09, 2014 7:18 pm
by KýCóp
Không thành công thì cũng thành...

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)

Liên quan đến cuộc biểu tình của thanh niên, sinh viên và học sinh tại Hồng Kông từ hơn một tuần vừa qua, giới truyền thông quốc tế ghi nhận một yếu tố mới: sự mệt mỏi của dân chúng.

Gánh nặng kinh tế đã bắt đầu đè nặng trên vai nhiều người. Việc những người biểu tình chiếm cứ các trung tâm thương mại và các con đường huyết mạch trong thành phố khiến việc đi lại trở thành khó khăn, công việc buôn bán bị đình trệ, số lượng du khách - đặc biệt từ đại lục - giảm hẳn. Từ sự ủng hộ hoặc hờ hững ban đầu, nay, nhiều người đã bắt đầu đổ lỗi cho những người biểu tình. Việc một số tên đầu gấu nhảy vào đánh đập và sỉ nhục những người biểu tình ít nhiều được sự đồng tình của một bộ phận dân chúng nào đó: Họ muốn cuộc biểu tình chấm dứt sớm.

Không những dân chúng mệt mỏi, những người biểu tình cũng bắt đầu mệt mỏi. Nhìn lên màn ảnh tivi, người ta dễ dàng nhận thấy các thanh niên, sinh viên và học sinh đang biểu tình tại Hồng Kông đã bắt đầu uể oải. Sau gần một tuần chỉ sống bằng bánh mì, chuối và nước uống, nhiều người đã có vẻ đuối sức. Họ nằm ngủ vật vạ trên đường. Những tiếng hô khẩu hiệu đã yếu dần. Trả lời các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, một số người tuy vẫn đầy quyết tâm nhưng đã nhuốm mùi bi quan: Họ không tin là chính quyền Trung Quốc sẽ đáp ứng hai yêu sách chính của họ (yêu cầu Trung Quốc bỏ quyết định độc quyền chọn lựa các ứng cử viên cho cuộc bầu cử vào năm 2017 và yêu cầu Ðặc Khu Trưởng Hồng Kông Leung Chun-Ying, kẻ, theo họ, chỉ biết ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Bắc Kinh, phải từ chức).

Trước sự mỏi mệt từ những người biểu tình cũng như của dân chúng ấy, không ai tin cuộc biểu tình sẽ kéo dài lâu.

Nhưng như vậy thì sao? Cuộc biểu tình có thành công hay không?

Tôi nghĩ là không. Giới cầm quyền Trung Quốc, ai cũng biết, thường ít khi nhượng bộ quần chúng. Một phần, đó là tính cách của họ, những người trưởng thành từ cuộc Cách Mạng Văn Hóa vốn nặng tính chất duy ý chí. Phần khác, họ sợ một sự nhượng bộ như vậy sẽ mở đầu cho các cuộc xuống đường biểu tình ở những thành phố lớn trong đại lục.

Không nhượng bộ nhưng có lẽ Trung Quốc sẽ không áp dụng chính sách mạnh tay như ở Thiên An Môn năm 1989. Có bốn lý do chính. Thứ nhất, Hồng Kông hiện nay không phải là Bắc Kinh hơn hai mươi năm trước. Ở Hồng Kông hiện nay, truyền thông vẫn còn khá tự do, số lượng phóng viên nước ngoài vô cùng đông đảo. Bất cứ sự trấn áp hung bạo nào cũng đều được truyền đi khắp thế giới và sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của Trung Quốc. Thứ hai, một sự trấn áp như thế sẽ ảnh hưởng đến một mục tiêu Trung Quốc vẫn muốn theo đuổi: thống nhất Ðài Loan. Sẽ không có ai ở Ðài Loan tin tưởng vào lời cam kết “một nước, hai chế độ” của Trung Quốc nữa. Thứ ba, ý nghĩa và hiệu ứng chính trị ở Hồng Kông khác hẳn với Thiên An Môn: Ở Thiên An Môn năm 1989, nếu chính phủ nhượng bộ, chế độ Cộng Sản toàn trị sẽ sụp đổ; ở Hồng Kông hiện nay, nếu chính phủ nhượng bộ, tất cả đều giữ nguyên trạng như cũ chứ không có gì thay đổi cả. Cuối cùng, thứ tư, thật ra, Trung Quốc cũng không cần phản ứng mạnh. Họ tin là họ sẽ thành công ở một chiến thuật khác, nhẹ nhàng và không chừng hiệu quả hơn: kéo dài thời gian, để đến một lúc nào đó, mọi người đều mỏi mệt và dần dần giải tán. Với họ, đó là chiến thuật bất chiến tự nhiên thành.

Không thành công, nhưng cũng không thể nói là cuộc biểu tình của giới trẻ Hồng Kông thất bại. Không thất bại vì nhiều lẽ.

Thứ nhất, nó thu hút sự chú ý của toàn thế giới về sự bội tín của chính quyền Trung Quốc đối với chủ trương “một quốc gia hai chế độ” mà họ từng cam kết với chính phủ Anh trước năm 1997. Sự bội tín ấy không những gây bất lợi cho Trung Quốc trong việc thuyết phục dân chúng Ðài Loan thống nhất với họ mà còn tác hại đến nỗ lực xây dựng một thứ quyền lực mềm của Trung Quốc.

Thứ hai, nó làm cho dân chúng Hồng Kông nói chung quan tâm nhiều đến người khác cũng như đến tương lai và vận mệnh của chính họ, từ đó, bớt hờ hững trước các vấn đề chính trị. Suốt cuộc biểu tình, người ta để ý là mỗi lần các sinh viên và học sinh bị đàn áp, từ cảnh sát cũng như từ bọn quấy nhiễu, dân chúng lại đổ xô xuống đường tham gia vào cuộc biểu tình nhiều hơn. Một phần vì họ phẫn nộ; phần khác, vì họ tin tưởng đó là cách tốt nhất để “cứu” những thanh niên đang tranh đấu: số đông sẽ mang lại sự an toàn.

Thứ ba, nó tạo nên một hình ảnh rất đẹp về giới trẻ Hồng Kông dưới mắt nhìn của thế giới. Thành công hay không thành công, cuộc biểu tình ở Hồng Kông hiện nay cũng được giới quan sát quốc tế xem là một trong những cuộc biểu tình đẹp và lịch sự nhất trong lịch sử, ở đó, người ta không chỉ biết chống đối mà còn biết bảo vệ những giá trị chung của xã hội. Họ không giẫm lên các bãi cỏ. Họ tự dọn dẹp rác rến, kể cả tàn thuốc lá. Họ lịch sự xin lỗi mọi người về sự phiền toái do cuộc biểu tình gây nên. Họ biết tự kềm chế khi bị các tên đầu gấu đến quấy rối và hành hung.

Cuối cùng, thứ tư, cuộc biểu tình hiện nay là một cuộc tập dượt tốt cho các cuộc đấu tranh cho dân chủ về sau. Hầu hết những người lãnh đạo cuộc biểu tình này đều rất trẻ. Chắc chắn họ học được rất nhiều kinh nghiệm trong cuộc biểu tình lần này. Hơn nữa, cũng qua cuộc biểu tình này, một số trong họ trở thành những tên tuổi lớn, được chú ý trên thế giới, nhờ đó, sau này, bất cứ tiếng nói phản kháng và phản biện nào của họ, cũng đều dễ dàng vang xa, và do đó, có hiệu quả lớn.

Bởi vậy, có thể nói, ngay cả khi không thành công, những người tham gia cuộc biểu tình lần này cũng thành... các nhà dân chủ. Ðó là điều may mắn cho Hồng Kông. Nếu dưới chế độ độc tài, người ta chỉ cần MỘT nhà độc tài, dưới các chế độ dân chủ, để cho vững mạnh, người ta lại cần vô số các nhà dân chủ.

Posted: Sun Oct 12, 2014 7:02 pm
by vuphong

Cô ruột Kim Jong-un xuất hiện trên truyền hình


Cô ruột lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un hôm nay tái xuất hiện trên kênh truyền hình nhà nước trong một bộ phim tài liệu.


Image
Bà Kim Kyong-hui, cô ruột của lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Ảnh: AP


Bà Kim Kyong-hui, 68 tuổi, cô của lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, em gái ông Kim Jong-il, hôm nay một lần nữa xuất hiện trên kênh truyền hình nhà nước trong bộ phim tài liệu được phát lại. Điều này giúp củng cố nhận định cho rằng bà không hề bị loại bỏ khỏi tầng lớp quyền lực của đất nước, bất chấp việc ông Jang Song-thaek, người chồng quá cố của bà, bị hành quyết hồi năm ngoái, theo Yonhap.

Bà Kim đã không xuất hiện trước công chúng từ tháng 12 năm ngoái, sau khi chồng bà bị xử tử với tội danh phản quốc. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy bà trên truyền hình là vào ngày 29/4. Khi đó, đài truyền hình trung ương Triều Tiên phát một bộ phim tài liệu về nỗ lực của ông Kim Jong-un nhằm thúc đẩy sự phát triển của thể thao. Trong phim, bà được phát hiện đứng cạnh cháu trai tại một sân vận động bóng đá.

Những suy đoán về việc cô của ông Kim Jong-un bị tước bỏ quyền lực lan truyền khi đài truyền hình thay thế những cảnh quay của bà trong bộ phim tài liệu khác phát sóng ngày 15/4. Bình Nhưỡng thường thể hiện việc loại trừ những thành viên cấp cao của chính phủ bằng cách xóa bỏ các hình ảnh liên quan đến họ.

Bà Kim Kyong-hui, cựu bí thư cấp cao của đảng Lao động Triều Tiên, hiện tại được cho là đã rút khỏi cương vị của mình do các vấn đề sức khỏe. Hồi đầu tháng, một nguồn thạo tin khẳng định một bác sĩ tim mạch người Mỹ gốc Hàn đã tới Bình Nhưỡng để điều trị cho bà. Động thái này làm gia tăng nghi vấn rằng bà đang lâm vào tình trạng nguy kịch.

Ông Kim Jong-un, hơn một tháng nay, cũng không xuất hiện trước công chúng. Hôm 10/10, tên của ông không có trong danh sách những người tới viếng lăng hai nhà lãnh đạo quá cố họ Kim nhân kỷ niệm ngày thành lập đảng. Ông chưa từng bỏ lỡ sự kiện này kể từ khi lên nắm quyền. Nhiều đồn đoán quanh sự biến mất của ông liên tục được đưa ra từ lúc ông vắng mặt.

Vũ Hoàng

Posted: Thu Oct 16, 2014 2:52 am
by buikiem
Trung Đông: Dân Kurds ở giữa 2 kẻ thù và 3 đối thủ

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt


Dân Kurds đứng ở tuyến đầu trong cuộc chiến đấu của quốc tế chống tổ chức quá khích tự xưng là Nhà Nước Hồi Giáo (IS) ở Trung Đông.

Họ cũng còn đứng về phía chống chính quyền Syria và tuy hiện nay không có xung đột nhưng Kurds vẫn bị Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran hoài nghi dè chừng về chiều hướng tranh đấu muốn ly khai và phân chia lãnh thổ.


Image
Các nữ chiến binh Pershmerga của Iraq Kurdistan, một lực lượng có khả năng chiến đấu hiệu quả chống ISIL

(Hình: Ahmad al-Rubaye-Pool/Getty Images)




Kurds là một dân tộc không tổ quốc đông nhất thế giới với khoảng 35 triệu người, hầu hết sinh sống tại Trung Đông, số còn lại rải rác lưu vong ở nhiều quốc gia trên toàn cầu.

Dân Kurds tập trung trong một vùng diện tích khoảng gần 400,000 km2, được gọi là Kurdistan, với 65,000 km2 trên lãnh thổ Iraq, 190,000 km2 ở Thổ Nhĩ Kỳ, 125,000 km2 ở Iran, 12,000 km2 ở Syria, còn lại ở các nước miền Nam Nga như Armenia, Azerbaijan,... Kurdistan có quy chế bán tự trị trong Iraq nhưng chưa phải ở các quốc gia khác, và từ lâu người Kurds đã tranh đấu võ trang kháng chiến cho điều này và mục tiêu tối hậu của họ là hình thành một quốc gia độc lập.

Năm 2011 dân chúng Syria nổi dậy theo kiểu phong trào cách mạng Mùa Xuân Á Rập chống chế độ độc tài của Tổng Thống Bashar al-Assad. Nhưng cuộc nội chiến Syria tiếp theo đó đi tới những diễn biến hết sức phức tạp, không nên hiểu chỉ đơn giản là một cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ, mà bao gồm nhiều yếu tố tôn giáo, chủng tộc, phe phái chính tri đặc thù của khu vực Trung Đông.

Dân Kurds sống ở miền Bắc Syria đóng một vai trò quan trọng trong cuộc nội chiến, họ đứng về phía các phe phái võ trang nổi dậy, đánh chiếm các thị xã và làng mạc và dựng cờ của đảng PYD (Liên Hiệp Dân Chủ), một đảng chính trị của dân Kurds.

Một số phân tích gia cho rằng Bashar al-Assad có ý chấp nhận tình trạng ấy như một biện pháp trả đũa Thổ Nhĩ Kỳ vì vùng này nằm sát biên giới và dân Kurds nổi dậy trong nước Thổ từ trước vẫn bị đàn áp quyết liệt.

Thủ Tướng Thổ Recep Tayyip Erdogan tán thành việc lật đổ al-Assad và hỗ trợ lực lượng nổi dậy FSA (Quân Đội Syria Tự Do) là một nhóm ôn hoà được Tây Phương ủng hộ. Lúc đó FSA đang nắm thế chủ động trong cuộc nội chiến và giữa FSA với PYD vẫn thường xảy ra xung đột.

Nhưng rồi qua ba năm nội chiến, lực lượng FSA suy yếu dần trước sức tấn công của quân đội chính quyền al-Assad, trong khi những nhóm Hồi Giáo quá khích Mặt Trận Al Nusra, phân bộ của al-Qaeda và Nhà Nước Hồi Giáo ISIL lại nổi lên lớn mạnh. Từ tháng 6 vừa qua ISIL mở cuộc tổng tấn công quy mô đánh chiếm được nhiều vùng ở Syria và Iraq, đồng thời gây nên sự đe dọa sống còn cho dân Kurds vì sự kỳ thị đối với những chủng tộc bị coi là đi ngược lập trường tôn giáo cực đoan của họ.

Chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ đối với Syria và dân Kurds có ảnh hưởng lớn trong tình hình tranh chấp quyết liệt ở Trung Đông. Thủ Tướng Erdogan, bây giờ là Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ, muốn al-Assad phải ra đi nhưng sự kiện ông này vẫn còn tồn tại đã làm lệch lạc những tính toán của Thổ. Các nước NATO, trong đó Hoa Kỳ nắm vai trò quyết định chính, phần nào đồng ý với Nga rằng một nước Syria không có chính quyền sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của những tổ chức Hồi Giáo quá khích và khủng bố. Vì vậy, năm ngoái Hoa Kỳ đã hủy bỏ kế hoạch can thiệp quân sự vào Syria khi chính quyền nước này dùng đến vũ khí hóa học, thay vào đó chấp thuận để Syria trao nạp phá hủy hết vũ khí hóa học và giải quyết vấn đề chính trị bằng đường lối ngoại giao với áp lực quân sự.

Khi Tổng Thống Obama cho lệnh mở chiến dịch không quân đánh ISIL, Thổ Nhĩ Kỳ tỏ ra lưỡng lự trong sự tham gia. Là thành viên Hồi Giáo duy nhất trong NATO, Thổ có những điều kiện tế nhị nhất định trong sự đối đầu với ISIL. Giống như nhiều nước Trung Đông khác, Thổ Nhĩ Kỳ do dự khi phải chống lại một phe phái cùng là Hồi Giáo Sunni dù rằng các hoạt động khủng bố cũng là nguy cơ cho chính mình. Thổ Nhĩ Kỳ cũng lo ngại rằng chống ISIL là giúp cho al-Assad tồn tại và “chiến lược chống ISIL sẽ không thể thành công nếu không tập trung vào mục tiêu thay đổi chế độ Syria.”

Mặt khác, Thổ Nhĩ Kỳ không muốn chấp nhận sự hiện diện của một khu vực dân Kurds tự trị ở Syria ngay cạnh biên giới, sẽ có tác động xấu đối với dân Kurds ở Thổ mà phong trào kháng chiến PKK đã 30 năm chiến đấu đòi tự trị trong lãnh thổ của mình. Điều ấy thể hiện trong cuộc chiến tại Kobani, thành phố do các lực lượng dân Kurds kiểm soát ở Syria từ 2012, đang bị ISIL tấn công vây hãm từ tuần trước và chắc chắn đã thất thủ nếu không có sự can thiệp oanh kích của máy bay Hoa Kỳ. Thổ Nhĩ Kỳ triển khai quân đội và chiến xa đến biên giới nhưng chỉ đứng quan sát mà không trợ giúp can thiệp vào cuộc chiến.

Mùa hè vừa qua, Tổng Thống Massoud Barzani của lãnh thổ tự trị Kurdistan ở Iraq, công khai tuyên bố sẽ vận động tiến tới thành lập một quốc gia độc lập cho dân Kurds. Tiếp đó chiến binh Hồi Giáo ISIL tấn công đánh chiếm nhiều vùng ở Iraq. Lực lượng dân quân Pershmerga của dân Kurds đã kháng cự quyết liệt đẩy lui được ISIL tại nhiều nơi và còn chiếm lại được thành phố Kirkut và vùng phụ cận mà quân đội Iraq đã tháo lui. Kurdistan và Iraq từ năm 2003 đã tranh chấp gay gắt về sự phân chia quyền lợi ở khu vực mỏ dầu lửa Kirkut, đồng thời về quy chế của Kurdistan trong liên bang Iraq.

Tuy vẫn không đồng ý cho dân Kurds tự trị ở Syria hay trong nước mình, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ gần đây lại tỏ ra ủng hộ Kurdistan tự trị ở Iraq. Do đó, mặc dầu bị đe dọa nguy hiểm vì ISIL, cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay lại chính là cơ hội bằng vàng cho dân Kurds gia tăng quyền hạn và tiến tới thành một quốc gia độc lập. (HC)

Posted: Sat Oct 18, 2014 4:42 am
by thienthanh
Tại sao tổng bí thư lại sợ ‘đánh chuột vỡ bình’ vào lúc này?

Kami (Blog RFA)

Gần đây, khi nói về công tác phòng chống tham nhũng, ngày 6 tháng 10, 2014, khi tiếp xúc với cử tri Hà Nội TBT Nguyễn Phú Trọng nói rằng: “Chống tham nhũng đòi hỏi khôn ngoan, cần có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Không phải xới tung lên tất cả, gây mất niềm tin, nghi kỵ lẫn nhau, rối loạn sẽ rất nguy hiểm.” Ðiều này đã khiến cho không ít người từ bất ngờ, đến ngạc nhiên thậm chí hụt hẫng vì thất vọng đối với ông Tổng BT.


Dư luận nói gì?

Phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng đã khiến cho dư luận dậy sóng, đã có nhiều ý kiến và bài viết bình luận về lời phát biểu này với các quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau. Người ta cho rằng cái bình được nói ở đây chính là chế độ hiện tại và Ðảng CSVN. Qua phát biểu của mình, ông Trọng muốn chuyển đi thông điệp tới mọi người rằng: Không thể chống tham nhũng, vì nếu chống tham nhũng một cách triệt để sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ và Ðảng CSVN. Bởi vì ai cũng biết, với cái thể chế chính trị độc đảng lãnh đạo như ở Việt Nam hiện nay, khi mà các thiết chế giám sát cần thiết đảm bảo cho sự minh bạch đều không hề có hoặc bị vô hiệu hóa. Nói như thế có nghĩa là Ðảng CSVN có đặc quyền tham nhũng và sẽ đảm bảo không bị xử lý. Ðó là lý do nhiều người thấy rằng chế độ hiện tại đã khuyến khích và dung túng cho tham nhũng. Phát biểu này được cho là sự thoái lui và thừa nhận của ông tổng bí thư về thực trạng trạng chống tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian qua ở tình trạng “dao sắc không gọt được chuôi,” cụ thể hơn là, một khi đa phần những kẻ tham nhũng đều là cán bộ đảng viên thì bản thân đảng không thể chống tham nhũng, vì đương nhiên tự mình thì không thể chống lại mình được.

Ðiều đó trái hẳn với những gì ông TBT đã từng hứa hẹn và tuyên bố chỉ trước đây 2 năm, đó là “Không có vùng cấm trong việc chống tham nhũng.” Khi ấy toàn đảng dưới sự lãnh đạo của TBT Nguyễn Phú Trọng nêu quyết tâm rất cao trong việc chống tham nhũng. Ban Chỉ Ðạo Trung Ương về phòng, chống tham nhũng đã được chuyển từ chính phủ về trực thuộc Bộ Chính Trị, theo các quyết định của Hội nghị Trung ương 6 - khóa XI (1-15.10.2012). Với lý do ban này để trực thuộc chính phủ là dung túng cho việc “vừa đá bóng, vừa thổi còi.” Sau những vụ bê bối về tham nhũng ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, khi ấy ông Nguyễn Bá Thanh, trưởng Ban Nội Chính TW kiêm phó Ban Chỉ Ðạo Trung Ương về phòng, chống tham nhũng với tuyên bố sẽ “hốt liền” được dư luận chào đón như một người hùng, một ông Bao Thanh Thiên của thời nay. Và không ít người đã đặt niềm tin và hy vọng chống tham nhũng một cách triệt để vào ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Bá Thanh.

Chính vì thế, đánh giá cho rằng đây là việc thừa nhận sự bất lực về công tác chống tham nhũng của TBT Nguyễn Phú Trọng, với tư cách là người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng là đáng quan tâm hơn cả. Người ta cho rằng tuyên bố này là bằng chứng cho việc giơ cờ trắng xin đầu hàng của người đứng đầu Ðảng CSVN đối với đối thủ của mình trong Ðảng, nhất là vào thời điểm của năm cuối cùng mà ông Nguyễn Phú Trọng đảm nhiệm chức vụ TBT.

Cũng cần nói thêm, nhân chuyện ông Tổng BT Nguyễn Phú Trọng vừa kết thúc chuyến thăm Hàn quốc từ ngày 1-4 tháng 10, 2014, với việc bày tỏ không chấp nhận việc CHDCND Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân. Ðây là điều người ta rằng ông Trọng đã quên mất ý thức hệ Cộng Sản để lấy lòng Hàn quốc. Do đó có người đã phải đặt dấu hỏi liệu ông tổng bí thư có cái gì “bất thường” trong chuyến thăm Hàn quốc vừa qua hay không? Hay vì đến lúc này ông cũng “ăn đủ” nên tính đường để tháo thân? Họ nghi ngờ như thế là hoàn toàn có cơ sở, với lý do rằng trong quá khứ, người đứng đầu đảng CSVN đã từng có tiền lệ xấu, đó là việc Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Ðỗ Mười trong chuyến thăm Hàn quốc vào tháng 4 năm 1995, đã nhận quà biếu của nước chủ nhà khoản tiền 1 triệu đô la Mỹ và giữ làm của riêng, thay vì phải nộp lại cho nhà nước theo quy định. Việc này, được biết Ban Kiểm Tra TW nhắc Bộ Tài Chính và Tổng Bí Thư Ðỗ Mười để làm thủ tục thu hồi và sau đó Bộ Tài Chính cho biết thấy khó khăn quá nên cũng đành bỏ qua.


Từ dự luật tăng quyền cho thủ tướng...

Tại phiên họp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội sáng 30 tháng 9, 2014, Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình đã trình bày về Dự thảo Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi). Trong đó có đề xuất thủ tướng với vai trò là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất có quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc thính phủ.

Cụ thể là: quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc thính phủ. Trường hợp khuyết bộ trưởng hoặc thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ tướng được giao quyền bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong khi chờ Quốc Hội phê chuẩn và chủ tịch nước bổ nhiệm. Tương tự, thủ tướng được quyền tạm thời giao quyền chủ tịch UBND tỉnh trong trường hợp địa phương chưa bầu được chức danh này. Thủ tướng cũng có quyền yêu cầu chủ tịch UBND tỉnh đình chỉ, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân cấp dưới, khi không hoàn thành nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao hoặc vi phạm pháp luật...

Việc này được dư luận cho rằng nếu Luật tổ chức Chính phủ này được Quốc Hội phê chuẩn thông qua, thì sẽ là một bước tiến mới quan trọng của thủ tướng trong việc củng cố quyền lực trước Ðại hội Ðảng lần thứ XII vào năm 2016. Vì một khi quyền hành của thủ tướng được được luật hóa cụ thể như vậy thì chức vụ thủ tướng chính phủ từ đây đã được ông Nguyễn Tấn Dũng cho một quyền lực hầu như tuyệt đối. Ðiều này được cho là một chiến lược quan trọng của ông Nguyễn Tấn Dũng trong việc chuẩn bị lực lượng và các điều kiện cần thiết khác cho mình tiến tới chức vụ TBT Ðảng CSVN trong khóa XII sắp tới như dư luận đồn đoán.

Ðáng chú ý là Ðiều 17 trong dự thảo luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi) quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của chính phủ trong quản lý về quốc phòng, trong đó cho phép thủ tướng một số quyền đặc biệt đối với quân đội. Ðiều này đã khiến cho ông Nguyễn Kim Khoa - Chủ nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng An Ninh đã cảnh báo và thấy rằng cần phải xác định rõ vai trò của chính phủ trong vấn đề quốc phòng an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang theo đúng Hiến Pháp. Chứ nếu để chính phủ làm tất cả như Luật Chính Phủ (Sửa đổi) thì không đúng với tinh thần của Hiến Pháp thì sẽ là điều vô cùng đáng ngại.

Khả năng việc Quốc Hội sẽ thông qua dự luật này trong thời gian ngắn là rất cao, vì ai cũng biết Thủ Tướng Dũng đã “nắm” Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và các doanh nghiệp sân sau của ông ta rất chắc trong lòng bàn tay. Kể cả cho dù Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng cũng cố tỏ ra thận trọng khi đặt đặt vấn đề nghi ngờ và cho rằng, “Tờ trình nêu rằng xây dựng thiết chế thủ tướng độc lập. Vậy thủ tướng độc lập với ai? Ðộc lập với chính phủ hay độc lập tương đối trong mối quan hệ với chức trách của thủ tướng?” Thì ai cũng biết là họ đang diễn kịch.

Nếu như tại Hội nghị TW 6 tháng 10, 2012, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chịu áp lực ghê gớm của phe đảng do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, tới mức nhiều người tin rằng ông ta sẽ bị mất chức. Nhưng ngược lại Thủ Tướng Dũng đã vẫn nhận được tới trên 70% phiếu ủng hộ của các ủy viên TW. Khi ấy quyền lực và tiền bạc của Thủ Tướng Dũng cũng đã khá mạnh, song vẫn không thể mạnh bằng thời điểm hiện tại. Do vậy những gì trong thông điệp đầu năm mới năm 2014 của thủ tướng là hoàn toàn có cơ sở có thể thực hiện được và điều đó cho thấy vào lúc này người làm chủ cuộc chơi cũng là ông thủ tướng.


...đến tấm gương ông Nguyễn Bá Thanh

Thông tin về việc ông Nguyễn Bá Thanh trưởng Ban Nội Chính TW bị nhiễm phóng xạ và đang chữa trị tại ở bệnh viện Johns Hopkins Medicine (Baltimore) là nơi chuyên nghiên cứu và điều trị mạnh nhất của Hoa Kỳ về các bệnh do nhiễm xạ gây ra, để ghép tủy trị bệnh về máu do nhiễm xạ hạt nhân đã được truyền thông và báo chí xác nhận. Và việc ngày 3 tháng 10, 2014 vừa qua, ông Nguyễn Bá Thanh không trở về Ðà Nẵng kịp để dự buổi tiếp xúc với cử tri đã cho thấy con đường quan lộ của ông Bá Thanh đã chấm dứt.

Trong lịch sử nội bộ đảng CSVN, cứ mỗi đợt bầu cử, tính toán lại nhân sự, là những lần mà nội bộ CSVN luôn hoảng loạn vì các đòn tấn công cá nhân để triệt hạ nhau, giành vị trí, phe phái v.v... vẫn luôn diễn ra với mức độ hết sức tàn độc. Nên việc họ triệt hạ ông Nguyễn Bá Thanh đang được coi là nước cờ quan trọng của phe chống Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ đại hội đảng lần thứ 12 này là điều dễ hiểu. Vì nếu một khi ông Nguyễn Bá Thanh không còn đủ sức khỏe, thì ông ta không được giữ chức vụ hiện thời và sẽ bị cho về hưu sớm, như thế được coi là đã bị vô hiệu hóa trong việc chống Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Theo báo Infonet cho biết, tại hội nghị giám sát của HÐND TP Ðà Nẵng sáng 8 tháng 10, Trưởng Ban Giải Tỏa Ðền Bù số 1 Nguyễn Văn Tiến cho rằng “việc nợ đất tái định cư là do trước đây tham vọng của anh Nguyễn Bá Thanh rất lớn!” Và cũng theo Infonet thì: “Ðáng ngạc nhiên là không thấy các vị chủ trì hay bất cứ đại biểu nào tham dự hội nghị giám sát sáng 8 tháng 10 bình luận gì về một ý kiến như vậy được nêu ra không chỉ giữa hội nghị mà còn trước toàn thể cử tri Ðà Nẵng (và nhiều nơi khác) thông qua truyền hình trực tiếp.”

Tuy vậy, vẫn theo Infonet thì, “Trong giờ giải lao, khi nghe PV nhắc lại phát biểu của Trưởng Ban Giải Tỏa Ðền Bù số 1 Nguyễn Văn Tiến thì cả Chủ Tịch UBND TP Ðà Nẵng Văn Hữu Chiến lẫn Thiếu Tướng Nguyễn Văn Sơn, giám đốc công an Ðà Nẵng đều nói ngay: “Nói như thế là bậy!” Các vị này cho rằng, ông Nguyễn Bá Thanh làm là đáp ứng nhu cầu của dân và yêu cầu phát triển của TP chứ không phải là làm theo ý thích cá nhân.”

Ðây là điều mà dư luận cho rằng Ban Lãnh Ðạo thành phố Ðà nẵng đã công khai đấu tố để chính thức hạ bệ ông Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư Thành Ủy Ðà nẵng. Và chắc chắn, trong lúc ông Nguyễn Bá Thanh hay các trợ thủ của ông ta còn đang nắm chắc quyền lực, thì người ta cho rằng một người như ông Nguyễn Văn Tiến vì bất cứ lý do gì cũng không dám mở miệng để tố cáo sự lộng hành của ông Nguyễn Bá Thanh như lúc này. Ðiều đó cho thấy thế lực chống ông Nguyễn Bá Thanh đã, đang làm chủ và kiểm soát tình thế ở Ðà Nẵng, nơi được coi là cứ điểm của ông Nguyễn Bá Thanh - một đối thủ nặng ký. Và rất có thể họ là kẻ đứng đằng sau bảo kê cho ông Nguyễn Văn Tiến (!?). Người ta cho rằng, tình trạng như vậy vào lúc này không chỉ xảy ra riêng ở thành phố Ðà Nẵng mà ở hầu hết tất cả các địa phương.


Tổng BT xin hai chữ “bình an”

Từ những sự kiện và phân tích bên trên cho thấy, tất cả mọi người đều cảm thấy có một cái vòi bạch tuộc vô hình đang siết chặt phe đảng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng. Chắc chắn ông Trọng biết điều đó và có lẽ ông Trọng sẽ nghĩ rằng: một kẻ gian hùng cỡ Bá Thanh mà còn bị người ta “tiễn đưa” một cách âm thầm, chết dần chết mòn trong đau đớn và phải chấm dứt sự nghiệp một cách chóng vánh không ai có thể ngờ được. Thì bản thân ông tổng bí thư, đi lên từ một ông giáo làng chuyên về lý luận CN Marx-Lenin thì làm sao có khả năng có thể đứng vững được, chứ đừng nói đến việc chống chọi với thế lực hắc ám trong đảng. Cho nên, có lẽ phương án tốt nhất, khả dĩ nhất bây giờ đối với ông Nguyễn Phú Trọng, ở thời gian còn làm việc chỉ còn hơn một năm sẽ về nghỉ thì xin hai chữ “bình an” là chắc chắn còn hy vọng có tuổi già. Còn ngược lại thì mọi chuyện đều có thể xảy ra đối với ông tổng bí thư mà không khó có thể đoán trước.

Có lẽ đây là câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi, “Tại sao tổng bí thư lại sợ ‘đánh chuột vỡ bình’, hay nói cách khác là giương cờ trắng vào lúc này?”

(Ngày 10 tháng 10 năm 2014)

Posted: Sun Oct 19, 2014 12:50 am
by quaichao
Trên 150 trí thức Đức yêu cầu bà Merkel đòi trả tự do cho Lê Quốc Quân

Thụy My


Image
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Đức Angela Merkel trong cuộc họp báo tại Berlin ngày 15/10/2014.
REUTERS/Fabrizio Bensch

Nhân dịp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng công du Berlin, 158 trí thức Đức vào tuần trước đã gởi thư cho bà Angela Merkel, yêu cầu Thủ tướng Đức lên tiếng đòi trả tự do cho luật sư Lê Quốc Quân, đồng thời đặt vấn đề về việc chính quyền Saigon giải tỏa các cơ sở tôn giáo tại Thủ Thiêm.


Lá thư đề nghị Thủ tướng Đức Angela Merkel nêu ra trường hợp luật sư Lê Quốc Quân khi hội kiến với người đồng nhiệm Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Giáo sư Johannes Kals thay mặt cho tập thể 158 trí thức Đức đề nghị bà Merkel mạnh mẽ yêu cầu chính quyền Việt Nam phải trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho ông Lê Quốc Quân.

Bên cạnh đó, thư của các nhà trí thức Đức cũng nhắc đến nguy cơ chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm bị giải tỏa, cùng với một số cơ sở tôn giáo khác tại đây như Dòng Mến Thánh Giá, thánh đường Công giáo, nhà nguyện Hội thánh Tin Lành.

Bị bắt lần đầu vào tháng 12/2012 với tội danh trốn thuế, đến tháng 2/2014 tòa phúc thẩm Việt Nam đã y án 30 tháng tù cho nhà đấu tranh dân chủ Lê Quốc Quân.

Lá thư nhắc lại các khuyến cáo của chính phủ Đức trong dịp Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 05/02/2014 mà Việt Nam là thành viên. Trong đó có việc trả tự do ngay cho các tù nhân bị bắt giữ tùy tiện, và tôn trọng quyền tự do tôn giáo, hội họp, tự do ngôn luận.

Posted: Fri Oct 24, 2014 1:32 am
by buikiem
Một cái nhìn về vấn đề kiềm chế Trung Quốc
Hà Tường Cát/Người Việt
Hoa Kỳ, siêu cường số 1 thế giới, cần phải có một chiến lược thích ứng để đương đầu với sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc, đang tiến lên tới vị trí cạnh tranh hay vượt qua mình. Chính sách kiềm chế đơn giản đã thành công với Liên Xô trước kia sẽ không có hiệu quả, vì Trung Quốc ngày nay đã hiện diện sâu rộng trong nền kinh tế toàn cầu.

Như vậy phương cách kiềm chế thích đáng nhất là phải đưa Trung Quốc hội nhập vào hệ thống quốc tế và tuân thủ những giá trị của nó. Khéo léo kiềm chế, Trung Quốc sẽ thành bạn của mọi quốc gia. Kiềm chế vụng về, Trung Quốc sẽ là một lực lượng vô cùng nguy hiểm cho sự ổn định và nền hòa bình thế giới.
Image
Trong nhiều mặt sinh hoạt xã hội, Trung Quốc vẫn tiếp tục thể hiện nỗ lực hòa nhập với Tây Phương.
(Hình minh họa: Johanne Eisele/AFP/Getty Images)



Ðể làm được như vậy, Ashley J. Tellis thuộc viện nghiên cứu đối ngoại Carnegie Endowment for International Peace, trong một phúc trình nói rằng Hoa Kỳ cần củng cố vị trí trong cũng như ngoài nước để bảo đảm sự thịnh vượng và vai trò lãnh đạo.

Trong một bài nói chuyện về đề tài này cũng như trong cuốn sách mang tựa đề “Ðùng đợi đến cuộc chiến tranh tới: Một chiến lược cho Hoa Kỳ về phát triển và lãnh đạo toàn cầu,” Ðại Tướng Wesley Clark, cựu tư lệnh NATO và ứng cử viên tổng thống năm 2004, cũng đồng ý rằng để chế ngự Trung Quốc, trước hết Hoa Kỳ cần củng cố chính mình.

Theo Tướng Clark, việc Trung Quốc ngăn chặn và trấn áp đối lập chính trị từ Hồng Kng đến Tân Cương, đồng thời với sư thắt chặt bang giao với Nga, Iran, Bắc Hàn, đã làm tan vỡ giấc mộng của nhiều giới lãnh đạo Tây Phương từ thập niên 1990 rằng “một sự hợp tác xây dựng” cuối cùng sẽ đưa quốc gia đông dân nhất thế giới này đến dân chủ và khai phóng hơn. Thực tế đã đi ngược lại: Trung Quốc tự tin hơn quả quyết hơn và khép kín hơn. 35 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình cải cách nền kinh tế, đảng Cộng Sản Trung Quốc dùng sự phồn vinh vật chất và lý tưởng dân tộc để duy trì tính hợp pháp trong một xã hội chuyển biến.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc dựa trên những tính toán tư lợi không cần tôn trọng chuẩn mực và nghĩa vụ đối với các cơ chế quốc tế. Trung Quốc chỉ chú trọng tới mục tiêu tiến lên vị trí siêu cường hàng đầu thế giới, và trong hướng ấy càng ngày Trung Quốc càng xem Hoa Kỳ như một thế lực cạnh tranh với tiềm năng là đối thủ đáng ngại hơn hết.

Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ trong thập niên 1970, lúc ấy Bắc Kinh muốn Washington là một đối tác chiến lược để răn đe mối đe dọa tiềm tàng từ Liên Xô. Thập niên kế tiếp, Trung Quốc không còn nỗi lo ngại ấy nhưng hãy còn muốn học hỏi nhiều điều từ Hoa Kỳ, đặc biệt là lãnh vực quân sự, cuộc. chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất gây ấn tượng mạnh cho họ.

Trong thập niên đầu thế kỷ 21, Trung Quốc vẫn còn ngưỡng phục Hoa Kỳ nhưng họ đã có niềm tự hào cao hơn. Một lãnh đạo trẻ Trung Quốc trong cuộc nói chuyện với Tướng Clark vào năm 2005, nêu lên nhận định: “Trung Quốc biết rằng Mỹ và Anh là bạn tốt. Anh để Mỹ lãnh đạo thế giới. Trung Quốc cũng muốn Mỹ là bạn tốt và như thế các ông sẽ để cho chúng tôi lãnh đạo thế giới.”

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008 và những hậu quả kế đó, bao gồm cả những tranh chấp trong chính trị, đã làm giảm giá trị của hệ thống nhà nước Hoa Kỳ. Trung Quốc tự hào là vượt qua khủng hoảng không chịu nhiều khó khăn xáo trộn và chế độ của họ không bị trục trặc như hệ thống chính trị dân chủ tự do.

Năm 2011, một cộng tác viên của Tướng Clark cảnh báo rằng Trung Quốc muốn khống chế khu vực Biển Ðông và những đối thủ khu vực, như Việt Nam, nếu không chịu khuất phục sẽ được “dạy cho một bài học.” Cùng lúc người ta thấy Trung Quốc gia tăng phát triển quân sự về lực lượng cũng như kỹ thuật. Các xưởng đóng tàu Trung Quốc hạ thủy hơn 30 chiếc tàu mới trong thời gian từ tháng 10, 2012 đến tháng 4, 2013. Trung Quốc đã có một hàng không mẫu hạm và dự trù tới 2019 thêm 4 chiếc. Không Quân Trung Quốc chuẩn bị nhận máy bay chiến đấu không người lái. Trung Quốc có hệ thống vệ tinh GPS và nói rằng có khả năng bắn hạ vệ tinh GPS của đối phương trong trường hợp chiến tranh.

Thật ra thì Trung Quốc không chủ trương gây xung đột lớn mà muốn thực hiện được mục tiêu bằng sự phối hợp ngoại giao với kinh tế và quân sự chỉ là phương tiện răn đe. Trung Quốc vẫn phải nhìn nhận rằng để lực lượng quân sự của họ lên ngang bằng với Hoa Kỳ sẽ còn phải một thời gian rất dài và họ không nhắm tới mục đích ấy. Mới đây, truyền thông Trung Quốc loan tin là giới lãnh đạo Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc vừa gởi tới các đơn vị một tài liệu vạch rõ 40 điểm yếu kém trong công tác huấn luyện và như vậy chưa đủ điều kiện để thắng trong một cuộc chiến tranh quy mô.

Nhưng Ðức và Nhật đã từng gây nên cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhì do những bế tắc vì tình trạng phát triển kinh tế. Ngày nay nền kinh tế Trung Quốc lớn mạnh hơn gấp nhiều lần và có thể buộc phải giải quyết theo đường lối ấy nếu như tới một lúc nào đó gặp khó khăn không lối thoát và đó hiển nhiên là mối đe dọa cho nền hòa bình thế giới.

Tướng Clark cho rằng Hoa Kỳ không thể hoang tưởng về tương lai chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn. Trong hai thập niên vừa qua, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc nằm giữa hai dường lối “hợp tác” và “chế ngự.” Chiến lược chuyển trục về Châu Á mà chính quyền Obama công bố năm 2011 được coi như một phần của đường lối chế ngự. Ðồng thời TPP, hiệp ước mậu dịch xuyên Thái Bình Dương đang được Hoa Kỳ vận động với 11 nước không bao gồm Trung Quốc. Những việc này sẽ lôi kéo Hoa Kỳ vào những tranh chấp khu vực và có thể buộc phải can dự nếu cần bênh vực Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines hay Việt Nam dù rằng Hoa Kỳ sẽ không tránh khỏi tổn hại.

Tuy nhiên theo Tướng Clark, Trung Quốc có thể không lo ngại sự can thiệp của Hoa Kỳ và đang quan sát tình hinh Ukraine để thẩm định khả năng hành động tại Á Châu. Ông cho rằng nếu Hoa Kỳ tỏ ra yếu kém ở Âu Châu thì sẽ là sai lầm lớn trong sự thi hành chính sách Á Châu.

Cũng theo nhận xét của Tướng Clark, Hoa Kỳ có thể hy vọng là Trung Quốc sẽ đi đến dân chủ và tôn trọng nhân quyền nhưng đó là chuyện lâu dài. Trong ngắn hạn, chúng ta phải chấp nhận Trung Quốc có quyền chọn lựa hệ thống chính trị hợp ý họ. Nhưng Hoa Kỳ cần làm sao để Trung Quốc hiểu rằng nguyên tắc “không can thiệp vào nội bộ của nước khác” mà họ vẫn bảo vệ, không có nghĩa là không tôn trọng những quyền căn bản của con người, những nghĩa vụ quốc tế chung và bổn phận bảo vệ các quy tắc sinh hoạt của những cơ chế sinh hoạt trên thế giới.

Ghi chú:

Ðại Tướng Wesley Clark, hồi hưu sau 34 năm trong quân ngũ, sinh năm 1944, 69 tuổi, hiện nay là một nhà nghiên cứu và cố vấn chính trị ngoại giao. Ông tham dự chiến tranh Việt Nam từ 1969 đến 1970, sĩ quan Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ, bị thương nặng vì trúng 4 phát đạn AK-47 khi đang là đại đọi trưởng chỉ huy binh sĩ trong một trận đánh. Tướng Wesley Clark giữ chức vụ tư lệnh NATO từ 1997 đến 2000 và trong thời gian đó là tư lệnh chiến dịch không quân đồng minh tại Kosovo, Serbia. Năm 2004, Tướng Clark tranh cử ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ, nhưng rút lui sau 14 cuộc bầu cử sơ bộ ở tiểu bang, trong đó ông chỉ thắng tại Oklahoma.

Posted: Thu Oct 30, 2014 2:31 am
by MatVit
Biển cảnh báo trộm cắp in cờ CS Việt Nam tại Nhật

Biển cảnh báo được ghi hẳn bằng tiếng Việt cùng một dòng chữ tiếng Nhật với nội dung: Trộm cắp, Stop. Lao động là vinh quang.
Không những vậy, trên tấm biển này còn vẽ hẳn lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ Việt Nam

Thông tin trực tiếp từ một bạn học viên KYODAI tại Nhật Bản...

Sáng nay, một biển báo mới được dán tại khuôn viên Học viện Matsuyama, thành phố Matsudo, Chiba.

Biển cảnh báo được ghi hẳn bằng tiếng Việt cùng một dòng chữ tiếng Nhật với nội dung: Trộm cắp, Stop. Lao động là vinh quang.
Không những vậy, trên tấm biển này còn vẽ hẳn lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ Việt Nam


Image
Biển cảnh báo trộm cắp in quốc kỳ Việt Nam tại Nhật

Chỉ vì một số thành phần người Việt có những hành động ăn cắp ăn trộm tại Nhật mà làm ảnh hưởng đến nỗi nước sở tại phải đưa ra lời cảnh báo
bằng tiếng Việt và thậm chí còn làm cả biển cảnh báo trộm cắp in quốc kỳ Việt Nam để chỉ đích danh.
Rất nhiều các du học sinh tại đây cảm thấy vô cùng xấu hổ khi thấy hình ảnh này.

Ảnh: Phan Hằng - Học viên Kyodai tại Nhật Bản

Posted: Sat Nov 01, 2014 7:16 am
by khieulong

Image

Nhà mới nhưng trong đó là 'đảng biểu’ hay ‘dân biểu’?

Bùi Tín

Thế là Quốc hội Việt Nam đã có trụ sở mới to lớn, sau 5 năm chuẩn bị và xây dựng. Chưa quyết toán là bao nhiêu nghìn tỷ đồng. Ngày 6/10 Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên đầu tiên tại trụ sở mới trong hội trường nhỏ mang tên Tân Trào; ngày 20/10 phiên toàn thể kỳ thứ 8 khóa XIII họp trong hội trường lớn mang tên Diên Hồng.

Tổng diện tích trụ sở mới rộng 60.000 mét vuông, cao 39 mét, có đường hầm xuyên sang trụ sở Bộ Ngoại giao, xưa là Sở Tài chính thời Pháp thuộc. Ngôi nhà hình vuông, mái giữa hình tròn, có 5 tầng nổi và 2 tầng hầm. Ngoài Hội trường lớn 2 tầng, 600 chỗ ngồi, hội trường nhỏ 200 chỗ, còn phòng họp báo 1 trăm chỗ và 80 phòng họp nhỏ.

Ngoài ra còn tầng ngầm đỗ xe, thang cuốn và thang máy, khu trưng bày di tích trụ sở Quốc hội cũ, khảo cổ học, hệ thống chiếu sáng, âm thanh, truyền hình, điều hòa nhiệt độ, thông khí, phòng cháy, cấp cứu.

Ngay từ buổi khai mạc trụ sở Quốc hội mới từ trong nước đã có những ý kiến vui buồn lẫn lộn. Vui thấy trụ sở mới hoành tráng, bề thế, hiện đại, 2 mặt hướng ra đại lộ Độc Lập và Bắc Sơn, có 2 phòng họp mang tên Tân Trào, Diên Hồng lịch sử, kiến trúc chung nhìn từ trên cao xuống hình vuông với mái tròn, tượng hình của Trời tròn Đất vuông - thiên thời địa lợi, cũng mang hình tượng dân dã bánh chưng và bánh dày.

Thế nhưng có những nỗi buồn sâu đậm. Ngay từ trước hôm khai mạc, bà con công dân thủ đô và các tỉnh đổ về để thực hiện quyền công dân yêu cầu, đề nghị, chất vấn Quốc hội về cuộc mật đàm Thành Đô 25 năm trước, về đất đai bị “thu hồi”, về quyền tư hữu ruộng đất vốn tồn tại tự ngàn xưa, về các vụ án oan, công dân chết và bị đánh dã man trong các đồn công an… đều bị ngăn chặn, xua đuổi rất thô bạo. Các trụ sở tiếp dân đều khóa cửa, gần như thời thiết quân luật. Một chính quyền tự nhận là của dân, do dân, vì dân, một Quốc hội của dân, do dân, vì dân mà xử xự như thế?

Còn ngay ở trong Quốc hội, các nhà báo chen chân khó lọt, không có chỗ ngồi để tác nghiệp, phải ngồi bệt xuống đất trong khi các ghế của đại biểu thì cao rộng, được khoe rằng phải đặt hàng tận bên Tây Ban Nha chở về. Đây là nét đáng buồn cho con người và đất nước VN. Sao không tự làm nổi chiếc ghế ngồi họp cho Quốc hội nước nhà, lại phải nhập xa xôi đến vậy. Chả trách có nhận xét rằng nền công nghiệp VN chưa làm nổi một con ốc vít hiện đại đúng tiêu chuẩn! Chiếc ghế thì như thế, còn hình Quốc huy trong hội trường lớn là điểm trung tâm của cả tòa nhà lại bé nhỏ lúi xùi, bằng gỗ sơn, lẽ ra phải bằng đá quý và bề thế, cân đối.

Nhưng vấn đề mấu chốt quan trọng nhất hiện nay là ở trong tòa nhà chung, tòa nhà của cộng đồng dân tộc VN, như ngôi nhà Rông của cộng động mỗi dân tộc Tây Nguyên, phải là các đại diện xứng đáng, chân chính, thật sự là con người của cộng đồng, đại diện cho cộng đồng, tinh hoa của cộng đồng, tận tụy phục vụ cộng đồng, được cộng đồng xem xét kỹ, cân nhắc lựa chọn kỹ, bằng lá phiếu tự do của từng công dân. Thật là mỉa mai khi chính trong phiên họp này, Quốc hội thông qua đạo Luật về tổ chức của Quốc hội, tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, nhưng không có gì cải tiến so với trước.

Quốc hội khóa này có đại biểu Quốc hội tự nhận là trí thức, giáo sư, lại chửi bới đồng viện của mình là “ngu, thậm ngu”, còn công khai tự nguyện làm cố vấn cho tên độc tài sát nhân Saddam Hussein; có đại biểu đi quốc tế về khoe rằng tận mắt thấy tàu hỏa cao tốc có rất đông các bà nội trợ đi chợ (!), các học sinh đi học hàng ngày (!). Cứ như thật.

Lại có đại biểu xin nghỉ hẳn một phiên họp Quốc hội vì bận xuất ngọai dự buổi trao bằng cho cậu quý tử sắp tốt nghiệp (!). Trong đầu óc đại biểu này lợi ích cá nhân gia đình chiếm trọn chỗ, còn có tý chút nào cho tập thể, cho cộng đồng? Thật tội nghiệp!

Tôi đã vào dự thính họp Quốc hội khá nhiều nước, nhiều nhất là Pháp, Hoa Kỳ, Bỉ, Hà Lan, Canada, cả Philippines, Ấn Độ, Indonesia, Algeria, Ethiopia, Zimbabwe, rồi Argentina ở Nam Mỹ nữa. Tôi mở to mắt khi dự họp quốc hội ở Paris, Washington D.C., Ottawa, New Delhi, rồi hỏi chuyện các đại biểu và người dân thường. Vị trí xã hội của dân biểu lớn lắm, vinh dự lắm mà trách nhiệm, gánh nặng cũng cực lớn. Người dân khi có chuyện riêng là nghĩ ngay đến “ông” hay “bà dân biểu của tôi”. Họ quen coi người đại biểu sau khi họ bỏ phiếu và trúng cử là người nhà của mình. Con cái học hành, vào đời, chọn nghề, kinh doanh thuận lợi, khó khăn, có vụ kiện cáo gì… là họ gọi điện, gõ cửa hỏi ý kiến “dân biểu của mình”. Các dân biểu cũng gọi bà con trong vùng mình đại diện là “cử tri của tôi”, “vùng cử tri của tôi”. Có chuyện gì lớn xảy ra trong vùng là các đại biểu vùng đó quan tâm ngay, có khi có mặt ngay để tìm hiểu, tham gia giải quyết. Tai nạn, cháy nhà, lụt lội, bãi công, thất nghiệp, bệnh truyền nhiễm lây lan, môi trường … luôn là mối quan tâm thường xuyên của các dân biểu và tiếng nói của họ trong xã hội trên báo chí, truyền hình, cơ quan chính quyền luôn có trọng lượng. Đức tính đầu tiên quan trọng nhất của một dân biểu là tính tận tụy cho cộng đồng, phục vụ cộng đồng, là người sống vì cộng động, sống cho cộng đồng, do đó phần lo riêng cho cá nhân mình là tự nguyện giảm bớt, hy sinh vì lợi ích chung.

Việc ứng cử đề cử trong các cuộc bầu cử định kỳ là rất hệ trọng. Từ các đảng phái, hội nghề nghiệp, từ các giới sỹ nông công thương, tổ chức xã hội dân sự đề xuất, giới thiệu, trao đổi, sàng lọc đi lại nhiều lần mới lựa chọn được người đạt tiêu chuẩn, vì người tốt thường kín đáo, khiêm tốn, không ham danh vọng quyền lợi cá nhân. Cử tri có quyền bãi nhiệm dân biểu do mình bầu ra khi đại biểu đó tỏ ra bất xứng, vô trách nhiệm hay phạm pháp. Rõ ràng dân biểu nghị sỹ là nhân vật trung tâm của xã hội dân chủ.

Ở Việt Nam đã thành nếp, cố tật, là ban Tổ chức Trung ương đảng là nơi quyết định lên danh sách chọn toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương đảng, Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc, toàn bộ đại biểu Quốc hội – mà 90% là quan chức đảng viên CS.

Vậy thì gọi là “đảng biểu” hay “dân biểu”? Cách tuyển chọn như thế làm sao tìm cho ra, cho đúng nhân tài!

Các nước hiện đại có cả một nền văn hóa của giới dân biểu, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Những cẩm nang cho dân biểu, tiêu chuẩn mẫu mực cho dân biểu, hồi ký các dân biểu gương mẫu, sáng tác văn học nghệ thuật của giới dân biểu… là tài sản chính trị - văn hóa của đất nước. Một dân biểu Pháp hay viết báo tâm sự với tôi, là dân biểu phải học không mỏi mệt, mọi ngành, trước hết là luật pháp vì Quốc hội là ngành lập pháp, còn cần am hiểu tâm lý, xã hội, am hiểu cả về kinh tế kinh doanh, lại phải biết về quan hệ đối ngoại, về sư phạm, về kỹ thuật truyền thông…

Trụ sở mới Quốc hội VN hoành tráng là điều đáng mừng. Mong rằng trụ sở mới sẽ là ngôi nhà chung mở rộng cửa cho nhân dân vào ra, là không gian mở rộng hơn bất cứ dinh thự nào khắp cả nước, là nơi đón nhân dân vào tham quan, dự các cuộc họp, là nơi giới báo chí tự do trong ngoài nước đến tác nghiệp thoải mái.

Đáng mừng hơn nữa là nếu như trong ngôi nhà cộng đồng này sẽ chỉ có toàn những con người của cộng đồng, là tinh hoa thật sự của cộng đồng, cúc cung tận tụy cho cộng đồng, là “dân biểu” thật sự chứ không phải là “đảng biểu”, tự đảm nhận vai trò “cơ quan quyền lực cao nhất” của đất nước được ghi trong Hiến pháp, không có một cơ quan nào có quyền lực cao hơn, bảo vệ nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, thành quả phát triển được chia hợp lý cho toàn dân thụ hưởng.

Posted: Sun Nov 02, 2014 7:25 am
by vuphong
Image


Giấc mơ? – Hòa giải hòa hợp dân tộc?

Nguyễn Mạnh Trinh

Có nhiều người, cả những nhà văn, có nhận xét rằng ở trong nước đã thay đổi rất nhiều và đó là một chủ trương của những người cầm quyền muốn thoát ra khỏi những trì trệ cho đất nước. Ngay cả trong văn nghệ học thuật cũng có chủ trương như vậy. Và họ dẫn chứng là có những hội nghị Lý Luận Phê Bình văn học đã công nhận một thực tế của văn học Việt Nam và thúc đẩy sự thay đổi: “một số quan niệm cũ không còn phù hợp”, “những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua”, “một số nhà phê bình chỉ quen với những môtíp, mô hình cũ và dị ứng với những biểu hiện mới và lạ. Độ bao quát quá hẹp, nhiều ẩn số văn nghệ đứng ngoài tầm với của giới phê bình”. Và với nghị quyết “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cũng như việc “đối với nhà văn Việt Nam, trước hết và quan trọng nhất trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là giao lưu với các nhà văn, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ người Việt đang sinh sống và hành nghề ở các nước trên thế giới”. Muốn như vậy, phải rời bỏ cái suy nghĩ tư duy địch bạn của thời còn chiến tranh…


Thế mà từ tháng tư năm 1975, một thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ đến bây giờ chừng như vẫn chưa đổi. Đã mấy chục năm trôi qua cuộc chiến vẫn còn những dư âm đau xót. Bao nhiêu là hồi ức, bao nhiêu là những vết thương đau. Không phải với riêng cá nhân một người, mà còn với nhiều người và nói rộng ra, cả dân tộc nữa. Những vết chém của hận thù tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tâm. Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy. Nhất là đối với những người Cộng sản mà câu nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày nào vẫn còn chính xác, “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”.


Tôi nhớ có lần đã phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sỹ với câu hỏi: “Trong văn chương anh nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và hải ngoại? Hoặc giữa người miền Nam và người miền Bắc?”. Và nhà văn nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam, người đã bị cầm tù và biệt giam nhiều năm vì can tội làm “nhà văn” đã trả lời “Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam. Đơn thuần chỉ có vậy! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ánh những gì xẩy ra qua lăng kính cá tính văn chương từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung limh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy…” Với những người mà đảng Cộng sản đã muốn tiêu diệt mà nói như vậy thì không thể kết luận đó là một biểu hiện của hận thù…


Ở trong nước thì Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Cộng sản đã chết, cũng phát biểu, “Ba mươi năm qua, có những bà mẹ ngày thắp hương cho những người con của mình, người là chiến sĩ giải phóng đã hy sinh, người là lính của chế độ Sài Gòn đã tử trận. Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thấu hiểu tâm tình của người mẹ Việt Nam, cùng thắp nén nhang cầu cho linh hồn của những người con của mẹ được siêu thoát…”


Tưởng như thế, nhưng khi đọc trong những tác phẩm mới xuất bản gần đây ở trong nước tôi mới thấy rằng ngay cả những người cầm bút cũng vẫn còn ảnh hưởng cái tư tưởng “địch – ta” khá nặng nề và cái hội chứng thời chiến tranh vẫn còn tồn tại. Mà tư tưởng ấy lại là sản phẩm còn sót lại của một nền văn học cổ võ hận thù tán dương chém giết, sản phẩm của tuyên truyền. Dù có đổi mới tư duy, có nhìn ngắm lại, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong văn chương.


Với những người Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp để cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng định sẵn. Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:


“… Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên: bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với giông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng những ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.


Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự vào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…”


Trở lại với hiện tình Việt Nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, thì đôi khi những nhà văn đã nhìn lại quá khứ chiến tranh và để tự hào vì những kinh nghiệm sống đã có.


Viết về chiến tranh của một thời đã qua đi, những nhà văn trong nước vẫn không qua được cái tâm lý hận thù của một hệ thống tuyên truyền sắt máu đã có sẵn từ một thời gian dài. Những điều được tuyên truyền như ngụy ăn gan uống máu như những loài thú mất nhân tính tới giờ vẫn còn được viết với tâm tư của thời chiến tranh. Nếu đã đọc những tác phẩm đại loại như của Tạ Duy Anh hoặc Hồ Anh Thái và quả tình người đọc đã cảm thấy thật xấu hổ khi có những nhà văn được tạm gọi là tiêu biểu cho văn học trong nước mà lại có giọng văn như thế. Như đoạn trích dẫn từ truyện dài: “Đi Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh:


“…quân ta ào lên, bắt giết, đâm, dẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa hết hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe “thụt” một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giẫy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ…”
và một đoạn khác cũng… kinh dị không kém:


“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận…”


Thế mà sách của Tạ Duy Anh đã được in ở hải ngoại và có nhiều người cho rằng ông là người có tâm tư “thông thoáng” nhất và tác phẩm được coi là có “vấn đề” ở trong nước???
Và trong “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái (hình như là chủ tịch hội nhà văn Hà Nội) cũng ghê gớm tàn bạo không kém:


“Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm dập đẫm máu. Chúng đấm đá anh túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.
Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…”


Tôi tưởng những danh từ như “mụ ngụy cái”, “lũ thám báo”,.. hoặc những chuyện moi tim gan người để ăn nhậu, có lẽ đã mất biệt rồi chứ? Cái văn chương sặc mùi căm thù ấy vẫn còn tồn tại sao? Mà cả với những người cầm bút luôn luôn kêu gọi hòa giải!!!


Nhà văn Dương Thu Hương trong “Tiểu Thuyết Vô Đề” củng biểu lộ sự căm thù đúng y như những nhà văn Cộng sản trung kiên khác. Kể lại những cái chết của những bộ đội nữ bị lính thám báo hãm hiếp hay thái độ hèn nhát của những người lính VNCH khi bị bắt, giọng văn ấy không thể là của một người đã thấy cái phi lý của chiến tranh và cái huyền thoại “chống Mỹ cứu nước” vẫn còn vương vấn. Dù rằng bà cũng hiểu một điều là miền Bắc đã gây ra chiến tranh theo lệnh của Cộng sản quốc tế.


“Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực Cô Hồn gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.


Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những cô chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đây là những người con gái miền bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết. Những cái xác bầm dập méo mó. Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phong lở hay một con cóc chết. Đám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc mắt, hốc miệng. Những von dòi trắng nhờ béo tròn. Chúng trị trên các tử thi ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn của loài dòi bọ.”


Đọc những đoạn trên, đâu có ai tránh khỏi cảm giác lợm giọng. Và, tác giả Tiểu Thuyết Vô Đề có quá tay để tạo thành những hận thù khi nói về những người thua trận. Như vậy, có thể nói chuyện bình thường hòa giải với nhau không? Thời chiến tranh đã qua, những người ở phe chiến thắng có còn bị khích động của cả một chính sách gây căm hờn để dồn toàn lực vào công cuộc chém giết thúc đẩy chiến tranh…


Nhà văn mà còn viết với giọng như thế thì những từ ngữ như “hòa giải, hòa hợp”, hay “hợp lưu, giao lưu” liệu còn ý nghĩa không? Tôi đọc những hàng chữ ấy và thấy hệ thống tuyên truyền quả đã có tác dụng, không phải với giới bình dân mà cả trong văn chương.


Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, Bảo Ninh cũng mô tả một cảnh tượng ghê rợn không kém:
“Kiên hờ hững ngó ra sau. A. Một cái xác. Một cái xác đàn bà trắng hếu, ngực ưỡn dựng lên, chân dang ra như hai lưỡi léo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng hải quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy vũng máu…


Chợt có tiếng xe đỗ, tiếng kéo lê rồi tiếng chân huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp. Đội mũ sắt, có lẽ là lính cao xạ từ trong phòng hải quan đi ra khệ nệ khuân trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa mắt nghếch lên, gã vấp phải cái xác bị xô chúi tới, ngã sấp. Cả đống bia giáng xuống loảng choảng chai vỡ tan, bia óng vàng tuôn lênh láng. Đám lính tăng cười ro. Kiên nhếch mép.


Sượng sùng gã sục “đồ cổ” nhỏm dậy tức tối vò hai nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá tới tấp vào cái vật vừa ngáng chân hắn. Vừa đá vừa rống lên:
“Đ mẹ mầy, con đĩ! Mày ưỡn của nợ ra đây cho chúng nó ngắm à! Mày gài mìn bố mày! Tổ sư mày, cười cái cắc củ! Đứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố mày! Bố mày cứ dọn phắt mày đi!”
Chửi đoạn, thằng cha “Chí Phèo” túm lấy một chân người chết sền sệt kéo lết đi.
Thằng chó má dã man léo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, rồi hự, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng người ta lên.


Xoay lộn mấy vòng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch rồi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu xuống. Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi tay khuỳnh khuỳnh ra dáng người hùng…”


Đi xa hơn nữa, Bảo Ninh, người viết truyện ngắn “305” in trong tập “Lan man khi kẹt xe” đã đổ tội cho cả toàn dân miền Nam cái tội vong bản chạy theo đế quốc mà bỏ lại người thân một cách lãnh đạm vô nhân. Truyện ngắn này kể lại chuyện những người lính lái xe tăng mang số 305 trên đường hành quân đã ghé vào một thị trấn nhỏ vào tháng tư năm 1975. Và nhờ cung cách hiền hòa họ đã làm cho người thiếu phụ ở đó cảm mến. Sau đó cả xa đoàn chết hết chỉ còn sót lại một người trở về thị trấn xưa ghé thăm người thiếu phụ ấy. Giây phút gặp lại anh ta mới biết cả gia đình đã bỏ rơi chị để di tản ra nước ngoài. So sánh gia đình chị và anh bộ đội kia, chị thấy cảm mến anh bộ đội ấy hơn…
Ở thời điểm bây giờ mà còn viết với luận điệu như thế, nào ta anh hùng, địch dã man, ăn tim gan người sống. Cái nếp nghĩ, nếp viết ấy đã ăn sâu vào tâm thức người viết và bao nhiêu năm sau chiến tranh mà vẫn chưa hề thay đổi. Nhà văn Phùng Nguyễn nhận xét khá xác đáng:


“… Có quá nhiều điều luôn rắp tâm kéo nhà văn xuống thấp có khi thấp hơn cả mức độ cho phép. Đó là khi họ, vì một hay nhiều lý do, phải nín thở qua sông, phải viết điều không muốn viết, phải ca tụng những điều không xứng đáng, phải báng bổ điều họ thực sự quý trọng. Họ buộc phải đứng về phía của kẻ mạnh. Nhưng cũng có khi, không phải là luôn luôn vô tình, họ chọn đứng cùng phía với những thế lực đen tối một cách tự nguyện, gieo rắc mầm độc hại xuyên qua việc xiển dương điều trá ngụy. Chính là ở đây, nhà văn trở thành không chỉ là kẻ đồng lõa”.

Câu hỏi là bây giờ, các người cầm bút sẽ phải làm gì để hố ngăn cách nhau được lấp dần đi? cả người cầm bút ở trong nước và hải ngoại? Nhưng xem ra câu hỏi chỉ để mà hỏi. Khi văn học ở trong nước còn là một công cụ để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của chế độ hiện hữu thì còn rất lâu sự phân hóa tạo thành chiến tuyến của thời chiến tranh.

Nguyễn Mạnh Trinh

Posted: Mon Nov 03, 2014 4:32 am
by MatVit


Nghĩ gì nhân vụ trục xuất Điếu Cày qua Mỹ ???


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận
số 206 (01-11-2014)
Một tên vô lại vừa cướp được một món đồ quý giá từ trong kho. Hắn gói ngay món đồ ấy trong mớ giẻ rách để bán vội bán vã cho một ông nhà giàu. Đó là hình ảnh nhà cầm quyền Hà Nội vừa trục xuất blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, một trong những người tù nổi tiếng nhất và được đòi thả nhất tại VN, trong bộ quần áo và đôi dép nhựa xuềnh xoàng khốn khổ. Anh cũng đã phải ra đi lưu đày sang Mỹ đang đêm mà không được một lời từ giã gia đình thân thuộc. Thiệt là đẹp mặt!

Toàn bộ sự việc này khiến cho công luận dấy lên nhiều suy nghĩ liên quan đến nhà cầm quyền Hà Nội, chính phủ Hoa Kỳ và phong trào tranh đấu của người Việt Nam.

1- Nhà cầm quyền Hà Nội.

Trong buổi tiếp xúc báo chí hàng tuần hôm 23-10-2014, phó phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Nhà nước VN đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với Nguyễn Văn Hải và cho phép Nguyễn Văn Hải xuất cảnh đi Mỹ vì lý do nhân đạo” và rằng “tại Việt Nam không có cái gọi là ‘tù nhân lương tâm’” khi bình luận việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gọi ông bằng danh hiệu như thế. Đúng là giọng điệu trâng tráo thường thấy mà nếu không có thì chả phải là cộng sản!

Thật ra, từ lâu ai cũng biết chế độ và các lãnh đạo Ba Đình chưa bao giờ nhân đạo với nhân dân cả, trái lại coi mọi người dân như con cái để thường xuyên lên giọng dạy dỗ (đứa nào cãi là nhốt tù), như con ở để tha hồ hành hạ bóc lột hay đem bán cho thiên hạ (sức dân là vô tận, lời Hồ Chí Minh), như con tin và con bài để mặc cả và trao đổi với quốc tế khi cần đạt được những mối lợi về kinh tế hay chính trị cho riêng đảng (nhất là các tù nhân lương tâm).

Vì thường xuyên thất bại về mặt kinh tế tài chánh mà khủng hoảng nợ công và nợ xấu hiện thời là bằng chứng (do mù quáng đeo đuổi cái học thuyết Mác-Ănghen chết tiệt, do ngu dốt -xét trên quan điểm trị nước- trong việc quản lý điều hành quốc gia và do gian tham ích kỷ một cách vô độ), Cộng sản luôn tìm cách bán đi những gì nó cướp được từ Tổ quốc và Nhân dân. Nào là bán đất liền (như Tây Nguyên, Bình Dương, Vũng Áng…), bán biển đảo (như Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Bắc bộ…), bán tài nguyên (mỏ than, mỏ vàng, mỏ bô-xít…), bán mặt nước (ở những vùng giàu cá), bán bờ biển (tại các địa điểm du lịch), bán đường đi (các tuyến cao tốc), bán rừng phòng hộ…

Rồi là bán dân nghèo qua chính sách xuất khẩu lao động, bán thiếu nữ qua dịch vụ môi giới hôn nhân và bán các tù nhân lương tâm qua các cuộc thương thảo chính trị. Hà Nội đem blogger Điếu Cày trao cho Mỹ mới đây là để đổi lấy súng (mua vũ khí sát thương, để đánh ngoại thù hay bắn nội dân thì chưa rõ) và đổi lấy tiền (gia nhập Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương hầu thoát khỏi vực thẳm suy sụp kinh tế và suy kiệt tài chánh đang đe dọa chế độ). Kiểu cách đem con dân mình đổi chác như thế, trên thế giới này hầu như không nước nào sử dụng cả, vì nó làm sỉ nhục quốc gia, tổn hại quốc thể. Nhưng đối với Cộng sản làm gì có quốc gia và quốc thể!

Việc trục xuất Điếu Cày cũng như nhiều nhân vật khác trước đây ra hải ngoại hay chỉ định cư trú, quản thúc tại gia đối với nhiều nhà đối kháng dân chủ còn chứng tỏ đám lãnh đạo CS không tôn trọng quyền tự do cư trú của người dân. Chính sách trục xuất những người muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia hay xây dựng xã hội ra khỏi đất nước như thế còn vô cùng ngu tối và tai hại cho tương lai của cả Dân tộc. Nhưng đối với Cộng sản, tương lai Dân tộc có đáng gì so với tương lai của đảng! Và dĩ nhiên, sau việc thả một vài người tù như thế, các các luật lệ áp bức của Hà Nội vẫn tiếp tục không thay đổi và kho tù nhân lương tiếp tục được bổ sung thêm hàng!

2- Chính phủ Hoa Kỳ

Phải nói ngay rằng việc cứu các tù nhân lương tâm, đưa họ vừa ra khỏi nhà tù nhỏ vừa ra khỏi nhà tù lớn là quốc gia Cộng sản để sang định cư tại nước Mỹ, điều này tốt thôi, cũng đáng hoan nghênh lắm. Đây là việc mà Hoa Kỳ tùng làm xưa nay đối với hạng tù nhân đặc biệt đó tại các quốc gia độc tài đủ kiểu, cụ thể bên Đông Âu thế kỷ rồi. Mục sư Richard Wurmbrand (1909–2001), một trong những tù nhân lương tâm kiệt xuất tại Rumani (từng bị CS nhốt 14 năm trời), cho biết ông đã bị bán qua Mỹ với giá 10.000 đôla. Nhiều bạn bè ông trong giới chính trị, văn hóa còn bị bán với giá cao hơn nữa (20.000 đôla/đầu người) thời Rumani kinh tế kiệt quệ.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là cứu vài tù nhân khỏi nhà tù nhỏ, để rồi cho Hà Nội có quyền lợi này quyền lợi nọ. Xét như một quốc gia dân chủ hàng đầu và luôn cổ vũ tinh thần dân chủ khắp thế giới, Hoa Kỳ phải thấy rằng cứu toàn thể nhân dân VN khỏi nhà tù lớn tức chế độ CS mới là điều cơ bản. Thật ra đòi hỏi này sẽ có thể chỉ được thỏa mãn với điều kiện phong trào đấu tranh trong nước đủ mạnh và có triển vọng lật đổ chế độ. Điều ấy đã từng xảy ra khi Hoa Kỳ -qua tổng thống Ronald Reagan- mạnh mẽ ủng hộ Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan thập niên 80 của thế kỷ trước vì thấy đó là một lực lượng đấu tranh có thực chất và thực lực mà cuối cùng đã tống cổ đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan (tức đảng Cộng sản) ra khỏi ghế quyền lực (1989), tạo nên vụ sụp đổ dây chuyền các quốc gia Hiệp ước Vác-sa-va, làm chập mạch toàn bộ hệ thống Cộng sản Đông Âu và Liên Xô. (Lech Walesa, thủ lãnh Công đoàn Đoàn kết là một thợ điện!).

Việc Hoa Kỳ giải cứu và bằng lòng với những vụ giải cứu cá nhân đơn lẻ như thế (thay vì đưa ra những biện pháp chế tài mạnh mẽ và hữu hiệu cũng như lấy vấn đề nhân quyền toàn diện như điều kiện bang giao) sẽ đẩy Hà Nội tiếp tục bắt thêm tù nhân để thương lượng, và sẽ gây khó khăn cho phong trào tranh đấu tại VN. Về điều này, thiết tưởng nên nhắc lại lời bà Dương Thị Tân, vợ cũ của anh Điếu Cày, nhân cuộc phỏng vấn của đài Tiếng nói Hoa Kỳ ngày 19-10: “Về mặt cá nhân, về mặt gia đình, tôi đại diện ông Hải gửi lời cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng với cách can thiệp của chính phủ HK thì hầu như họ cứ bật đèn xanh để cho chính phủ VN làm những việc tương tự trong tương lai. Con đường đấu tranh chắc còn gian nan nhiều lắm. Ủng hộ chúng tôi thì phải bằng những cách khác như giám sát, chế tài và làm những việc quyết liệt hơn chứ không phải là mang đi từng người, từng người một. Nhưng trước mắt, về khía cạnh gia đình, tôi có lời tri ân đến chính phủ HK vì đã giúp đỡ một hoàn cảnh rất khắc nghiệt, rất đau thương là thân nhân gia đình tôi thoát khỏi những nơi chốn như vậy. Nhưng về vấn đề chung thì thật sự cũng không mấy vui”.

3- Phong trào đấu tranh của người Việt

Đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước đã hết sức vui mừng vì thấy một tù nhân lương tâm hàng đầu như anh Nguyễn Văn Hải được tự do. Cuộc đón tiếp anh tại phi trường Los Angeles mới đây là bằng chứng. Đó là kết quả vận động lâu ngày và rộng rãi trong đó có sự đóng góp lớn lao của phong trào đấu tranh quốc nội lẫn hải ngoại.

Tuy nhiên, sa đà vào và bằng lòng với những cuộc đấu tranh đòi giải thoát cho người này người nọ khỏi nhà tù nhỏ mà xao lãng cuộc đấu tranh cấp bách và toàn diện là giải thoát toàn thể dân tộc khỏi nhà tù lớn, không khéo lại mắc vào âm mưu của CS. Về điều này, nhà báo Đoan Trang có nhận định trong bài “Đòi quyền ư? Đòi cái gì?”: “Điều đáng nói là giới đấu tranh dân chủ cả trong và ngoài nước đều đi đúng vào hướng mà chính quyền mong muốn: Tất cả đều sa vào những cuộc đấu tranh đòi “free Nguyễn Tiến Trung”, “free Lê Quốc Quân”, “free Điếu Cày”, v.v... tóm lại là vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà xao lãng những vấn đề khác, những vấn đề thực sự là mấu chốt của cải cách chính trị, mà chính quyền luôn tìm cách lờ đi”.

Quả vậy, ngoài việc đấu tranh có tổ chức, có liên kết như các tổ chức chính trị đảng phái và các tổ chức xã hội dân sự trong lẫn ngoài nước đang nỗ lực thực hiện, còn cần đấu tranh có định hướng. Trước hết, đó là đấu tranh và tiếp tục đấu tranh trên bình diện lý thuyết, luật lệ. Chẳng hạn đòi sửa đổi cái Hiến pháp trời đánh thoát thai từ Cương lĩnh đảng mà Quốc hội gia nô với các đảng biểu phê chuẩn hôm 28 tháng 11 năm ngoái. Lúc nó bắt đầu được đưa ra để lấy ý kiến (tháng 11 năm kia), nhiều tổ chức dân sự và tôn giáo đã kiến nghị những nguyên tắc soạn thảo theo tinh thần dân chủ, riêng Khối 8406 còn phản đối nó khi nó tiến dần đến dự thảo cuối cùng (13-11-2013). Nhưng đến nay, xem ra nó được mặc nhiên chấp nhận (vì được nhiều văn bản đấu tranh trích dẫn) thay vì phải bị tiếp tục phản đối hoặc tẩy chay. Rồi phải đòi sửa đổi Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật Đất đai, Luật Giáo dục, Pháp lệnh tôn giáo tín ngưỡng… (Về Pháp lệnh này cùng với nghị định áp dụng nó, Hội đồng Liên tôn tại VN có Bản lên tiếng tẩy chay ngày 4-10-2013). Đòi hủy bỏ tất cả những luật lệ và quy định “siết chặt quản lý” thay vì bảo vệ quyền tự do của công dân, như hàng loạt điều khoản vi phạm nhân quyền và dân quyền trong các bộ luật, pháp lệnh, nghị định, chỉ thị, thông tư… đầy rẫy những điều vi hiến, vô luật pháp, phi lý lẽ… Tuyên bố về quyền tự ứng cử của công dân vừa được bốn hội đoàn dân sự đưa ra (trong đó có yêu cầu xóa bỏ sự bất công hoặc làm rõ giá trị công bằng đối với hai hình thức ứng cử trong văn bản luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, cụ thể điều 34, 35) là một nỗ lực mới trong cuộc đấu tranh trên bình diện pháp lý, luật lệ.

Rồi còn phải đấu tranh cho những lợi ích cụ thể, rõ ràng trước mắt người dân, chẳng hạn quyền tư hữu đất đai, quyền được đền bù công bằng khi bị “thu hồi” ruộng cày đất ở; quyền có môi sinh an lành, được dùng nước sạch, không khí sạch, thực phẩm sạch, không ăn phải đồ ăn độc, uống phải bia rượu giả; quyền có một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, tiến bộ, không gánh phải vô số học phí và phụ phí oằn lưng, chịu phải vô số điều dối trá đầu độc trí óc, thấy phải vô số chuyện xấu xa tàn hại tâm hồn; quyền thoát khỏi thảm trạng lạm phát, gánh nặng nợ công đang đe dọa ngân sách và cuộc sống từng gia đình…

Có đấu tranh cho những điều cụ thể, sát sườn như thế mới mong toàn thể nhân dân, nhất là các giới lao động và trí thức, nhập vào phong trào dân chủ hóa đất nước và xã hội. Vì chính họ là lực lượng cần thiết, mà một khi được các tổ chức tranh đấu hướng dẫn, sẽ trở thành ngọn triều, cuồng phong quét sạch chế độ cộng sản để xây dựng một đất nước mới.

BAN BIÊN TẬP

Posted: Wed Nov 05, 2014 6:44 am
by tramthaiha
Củng cố chế độ Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua dân Mỹ đã bầu lại Hạ Viện và một phần ba các nghị sĩ Thượng Viện. Cuộc bỏ phiếu sẽ thay đổi đời sống chính trị, các chương trình kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới 300 triệu dân trong ít nhất hai năm tới. Nhưng, trừ các ứng cử viên và các người hoạt động chính trị tích cực, 99% người dân nước Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống hàng ngày, không thay đổi. Ngày mai, mọi người đã quên hết những cuộc tranh cãi trong mùa tranh cử. Ðếm phiếu xong, hai người hàng xóm cắm biển trước cửa nhà ủng hộ hai ứng cử viên đối lập sẽ nhổ lên, bỏ vô thùng rác. Gặp nhau họ vẫn chào hỏi như mọi ngày, cuối tuần vẫn có thể cùng đi coi đá banh hay mời nhau ăn tiệm.

Thái độ thản nhiên sau một cuộc bầu cử, cứ vài năm lại diễn ra một lần, cho thấy người dân đã quen với nếp sống dân chủ. Nó khác hẳn với tập quán ở các nước độc tài. Dân chủ chỉ là những “luật chơi” cố gắng đạt tiêu chuẩn công bằng, bình đẳng, cho mọi người được tham gia vào quyết định chọn người cai trị. Những luật chơi này cũng giống các luật chơi đá banh hay đấu vật. Mọi người tham dự cuộc chơi phải tuân theo luật, sau đó ai thắng, ai thua khôn cũng trở về nhà, chuẩn bị trận đấu sắp tới. Tinh thần này được thể hiện ở các nước đã thiết lập chế độ dân chủ lâu đời. Như ở nước Mỹ đã hơn 200 năm, ở Ấn Ðộ hơn 60 năm. Nhưng một nước nhỏ bé ở Bắc Phi, mới lật đổ chế độ độc tài ba năm nay, cũng thể hiện tinh thần dân chủ rất đáng ngưỡng mộ.

Năm 2011, Mùa Xuân Á Rập bắt đầu ở nước Tunisie trước khi lan qua các nước Bắc Phi và Trung Ðông, dân chúng nổi lên lật đổ các chế độ độc tài. Sau ba năm, tại nhiều quốc gia chế độ dân chủ vẫn chưa bền, khiến nhiều người thất vọng. Tại Ai Cập một chính phủ do dân bàu lên bị lật đổ. Quân đội sửa Hiến Pháp, tổ chức bàu cử lại; nhưng hàng ngàn người đã cầm súng nổi loạn. Tại các nước Libya, Yemen và Syria thì sau khi dân nổi dậy là nội chiến.

Dân Tunisie chứng tỏ ngọn lửa hy vọng của Mùa Xuân Á Rập vẫn còn cháy đỏ. Quốc gia nhỏ bé này vừa tiến thêm một bước củng cố thể chế dân chủ còn đang phôi thai; sau ba năm dò dẫm thiết lập các định chế mới. Họ mới đi bỏ phiếu bầu Quốc Hội, một tuần trước dân Mỹ.

Ðây là lần thứ hai dân Tunisie dùng lá phiếu tự do, sau khi lật đổ chế độ độc tài. Họ bầu một đảng mới lên thành lập chính phủ. Việc chọn lựa không dễ dàng vì có đến hàng trăm đảng chính trị tranh cử, trong đó có hai đảng lớn. Ðảng Hồi Giáo Ennahda cầm quyền thua, chỉ giữ được 69 ghế trong số 217 dân biểu trong Quốc Hội sắp họp. Ðảng đối lập Nidaa Tunis (còn viết là Nidaa Tounes) được nhiều phiếu nhất, 85 ghế. Các tỷ số này khác hẳn thời độc tài đảng trị, nhà độc tài Ben Ali lúc nào cũng thắng với tỷ số 99.9%! Người dân ngu nhất cũng thấy chế độ độc tài chuyên chế bao giờ cũng bắt con người sống giả dối, hành động gian trá.

Trong ba năm qua dân Tunisie đã chứng tỏ họ đủ dũng cảm và có khả năng sống tự do, dân chủ. Nói theo lối Phan Châu Trinh, đó là dân khí và dân trí đã cao. Năm 2011, họ nổi lên lật đổ chế độ độc tài, không cần bạo động. Ðược tự do, các đảng phái chính trị bột phát, nhưng các nhà chính trị biết phải hợp tác với nhau mới xây dựng được các định chế dân chủ. Năm nay dân Tunisie thay đảng cầm quyền, hoàn toàn chỉ dùng lá phiếu. Các nhà quan sát ngoại quốc đều tỏ ý thánh phục người dân cũng như cho các nhà chính trị xứ Tunisie.

Có lẽ vì người dân Tunisie trưởng thành cho nên các nhà chính trị cũng phải hành xử với tư cách xứng đáng. Cũng có thể nói nói ngược lại, nhờ các chính trị gia làm gương cho nên dân chúng biết sống trong tinh thần dân chủ.

Trước năm 2011 Ðảng Hồi Giáo Ennahda bị cấm hoạt động. Họ thắng cuộc bầu cử Quốc Hội lập hiến cuối năm 2011, với chủ trương đề cao đạo Hồi, đưa “Thánh Luật” (Sharia) vào làm luật pháp của quốc gia. Trong hai năm, dân chúng thấy chính phủ Ennahda không giải quyết được các khó khăn chung: Kinh tế trì trệ; nhiều người thất nghiệp hơn; giầu nghèo thêm chênh lệch; xã hội lại bất an vì các nhóm quá khích mới nổ dậy. Nhiều người bắt đầu chán, thấy có lẽ sống trong chế độ độc tài như trước lại tốt hơn.

Ðảng Ennahda đã tự ý rút lui; mời các đảng khác tham gia trong một chính phủ lâm thời, chờ quốc hội soạn thảo bản Hiến Pháp mới. Công cuộc lập hiến định làm trong một năm nhưng đã kéo dài hơn hai năm, vì một vấn đề gây mâu thuẫn mạnh nhất là: Có xác định Hồi Giáo là quốc giáo và Thánh Luật Sharia là luật pháp quốc gia hay không? Sau cùng khuynh hướng tách tôn giáo ra khỏi chính trị đã thắng thế. Tháng Giêng năm 2014, Quốc Hội biểu quyết một bản Hiến Pháp dung hòa. Ðảng Ennahda nhượng bộ, Tunisie là một quốc gia Hồi Giáo nhưng không áp đặt Thánh Luật Hồi Giáo Sharia trên tất cả mọi công dân nữa.

Hiến Pháp mới của Tunisie là bản Hiến Pháp dân chủ tự do nhất trong vùng. Bản Hiến Pháp là kết quả của nỗ lực thỏa hiệp giữa các khuynh hướng chính trị và đảng phái đối nghịch, một điều ít thấy trong các nước Hồi Giáo. Trong hai năm, các đảng phái tranh luận trong Quốc Hội, các công dân tự lập những tổ chức tư bàn luận công khai, được thông tin đầy đủ trên báo trên đài. Có thể nói cuộc thảo luận về hiến pháp được toàn dân tham dự và theo dõi. Các tổ chức phụ nữ đòi được bình quyền. Giới trí thức đại học đòi tinh thần tự do trong giáo dục. Quốc Hội lập hiến làm việc 14 giờ mỗi ngày để thông qua từng điểm. Sau cùng, bản Hiến Pháp được 200 phiếu chấp thuận, chỉ có 12 phiếu chống và bốn phiếu trắng. Hiện tượng này đáng ngạc nhiên tại một nước có hàng trăm đảng chính trị trong số 11 triệu dân! Tinh thần hợp tác, xây dựng này khác hẳn bên Ai Cập. Ở đó, một đảng Hồi Giáo lên cầm quyền sau cuộc cách mạng đã dùng đa số trong Quốc Hội thông qua một hiến pháp thiên lệch, đề cao phe đảng, lấn áp các nhóm thiểu số, dân chúng biểu tình phản đối nên cuối cùng bị đảo chính.

Hiến Pháp Tunisie tôn trọng quyền làm người và các quyền tự do căn bản, và công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong các định chế chính trị, một điều lần đầu tiên được ghi vào Hiến Pháp của một quốc gia Á Rập. Khi điều số 45 nói về quyền phụ nữ được thông qua, cả Quốc Hội đã đứng lên vỗ tay.

Dân Tunisie có thể hãnh diện đã thay đổi chính quyền một cách hòa bình; mặc dù hai đảng có chủ trương đối nghịch rõ ràng. Trong một quốc gia với hơn 90% theo đạo Hồi mà Ðảng Hồi Giáo thất cử, đảng chủ trương tách tôn giáo ra ngoài chính trị thắng, sắp lên nắm quyền. Các đảng chính trị tuân theo “luật chơi dân chủ.” Ðảng Ennahda chấp nhận mình thua, khi không còn được đa số dân tín nhiệm. Ông Beji Caid Essebsi, 87 tuổi, đã từng cộng tác với chế độ độc tài cũ, và mới thành lập Ðảng Nidaa Tunis trong năm 2012 để quy tụ những người không đồng ý với chính phủ Ennahda. Tunisie khác hẳn Libya, ở đó đảng Hồi Giáo thua phiếu đã tổ chức đảo chánh, xóa bỏ kết quả bầu cử. Thế là một nước có hai chính phủ, hai bên đang đánh nhau không biết bao giờ mới yên.

Các nhà lãnh đạo đảng Ennahda đã giải thích tại sao họ thua phiếu: Ðảng đầu tiên lên cầm quyền sau các cuộc cách mạng rất dễ làm dân chúng thất vọng. Vì sau một cuộc cách mạng, người ta nuôi kỳ vọng rất cao mà đất nước lại rất nhiều khó khăn mới; không chính quyền nào có thể đáp ứng đầy đủ những ước mong của dân chúng. Trong khi đó, các định chế dân chủ mới thành lập, guồng máy mới chưa thể nào làm việc hữu hiệu như mọi người mong muốn. Vì thế, sau các cuộc cách mạng, đảng chính trị lên nắm quyền đầu tên rất dễ làm cho dân thất vọng. Trước khi kết quả được công bố ở Tunisie, ông Rachid Ghannouchi, lãnh tụ đảng Ennahda đã điện thoại chúc mừng ông Beji Caid Essebsi. Ông Ghannouchi còn kêu gọi các đảng viên tới trụ sở tại thủ đô Tunis “ăn mừng chiến thắng của thể chế dân chủ.” Ông nói: “Cả thế giới Hồi Giáo đang ước mong được sống như người Tunisie chúng ta, vì chúng ta đang được sống tự do.”

Tờ báo tiếng Pháp ở thủ đô, La Presse de Tunisie ca ngợi đảng Hồi Giáo Ennahda có tinh thần thượng võ, “chơi thẳng thắn” (fair play). Dân Tunisie chứng tỏ rằng tất cả các dân tộc đều có thể dấn bước trên đường. Một nhà bình luận trên nhật báo Daily Star ở Lebanon, Rami G. Khouri viết: “Trong lịch sử dân Á Rập chưa bao giờ thấy cảnh dân một nước công khai tranh luận để cùng soạn ra một bản hiến pháp rồi áp dụng ngay. Quốc gia nhỏ bé này đang dẫn đường cho các nước Á Rập khác trên con đường chuyển hóa sang chế độ dân chủ.” Không biết bao giờ dân Việt Nam được người nước ngoài kính trọng như vậy.

Chúng ta có thể so sánh Tunisie với Việt Nam.

Cả hai nước đều bị Pháp chiếm làm thuộc địa vào thế kỷ 19. Cả hai từng tranh đấu giành độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai. Sau khi độc lập cả hai nước đều sống dưới ách độc tài. Tại Tunisie, lãnh tụ Habib Bourguiba nắm quyền trong 30 năm; khi quá già lão mới từ chức, năm 1987. Zine al-Abidine Ben Ali lên vẫn đàn áp những người có ý kiến đối lập, kinh tế trì trệ, xã hội vẫn bất công. Năm 2011, dân Tunisie nổi dậy khai mạc Mùa Xuân Á Rập, và năm nay họ đã đặt nền móng cho một thể chế dân chủ tự do vững vàng.

Dân trí và dân khí người Tunisie không cao hơn so với Việt Nam; mà trên nhiều mặt có thể nói còn kém dân mình. Tunisie là một nước nhỏ, 11 triệu dân. Lợi tức bình quân hơn 4,000 đô la một năm cao hơn Việt Nam, cũng chỉ bằng dân Trung Quốc. Trình độ học thức của dân Tunisie không hơn dân Việt. Tunisie chỉ có 75% người dân biết chữ, mà số đàn bà biết chữ còn thấp hơn nữa (65%). Tại Việt Nam 94% dân chúng và 92% phụ nữ biết đọc biết viết, chứng tỏ dân trí người Việt không thua. Nhìn suốt lịch sử thì chí khí của dân tộc Việt mạnh hơn nhiều. Ða số dân Tunisie bây giờ (hơn 95%) thuộc sắc dân Berber. Giống dân này bị người Á Rập đánh và đô hộ từ thế kỷ thứ bảy, họ từng nổi lên tranh đấu giành quyền tự chủ; nhưng sau cùng họ bị đồng hóa hoàn toàn; nói tiếng Á Rập và theo đạo Hồi. Dân Việt Nam quật cường hơn. Bị người Hán xâm lược để đồng hóa nhưng dân Việt vẫn giữ được tiếng nói, giành lại độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc.

Ngày nay thì người Việt Nam phải noi theo tấm gương của dân Tunisie để học hỏi trên đường dân chủ hóa. Lịch sử cho thấy việc lật đổ một chế độ độc tài không khó; việc xây dựng và củng cố chế độ dân chủ mới là thử thách chứng tỏ một dân tộc đã “thành người lớn” hay chưa. Cuộc tranh đấu xóa bỏ độc tài ở Tunisie đã được cả thế giới ca ngợi. Nhưng công trình xây dựng thể chế dân chủ tại Tunisie trong ba năm qua còn đáng kính phục hơn nữa.

Posted: Thu Nov 06, 2014 8:50 pm
by hoanghoa

Image

Đấu Tranh Qua Truyền Thông

Vi Anh

Truyền thông là danh xưng gọn của truyền thông đại chúng (mass-news media). Cũng như văn học có văn học kinh điển với văn học sử, tác giả, tác phẩm và văn học bình dân với ca dao, tục ngữ, hát đối, túi khôn của một dân tộc nhiều đời, nhiều người, không tên tác giả. Truyền thông dù sanh sau đẻ muộn hơn nhưng phần nào cũng như thế, gồm có báo chí, truyền thanh, truyền hình là truyền thông truyền thống chuyên nghiệp, và blog, web, paltalk, online và các trang mạng xã hội như Youtube, Facebook, Twitter là truyền thông tài tử, dân dã, không chuyên nghiệp, bình dân. Thời đại này là thời đại tin học, khoa học kỹ thuật đã cung ứng những phát minh truyền tải trên Internet khiến bất cứ người bình dân nào cũng có thể làm công việc của một nhà truyền thông, chỉ trong vài giây dùng máy điện thoại di động bấm hình và lời chuyển đi cho khắp thế giới hay biết. Nên truyền thông truyền thống, báo chí, phát thanh, phát hình nào bây giờ cũng mở ra online, và web cùng tên để khán, thính giả góp ý một cách dễ dàng nhờ không gian tin học rộng rãi ngàn lần hơn tờ báo hay thời lượng của phát thanh, phát hình. Và thích ứng này của truyền thông truyền thống cũng là con đường sinh lộ cho truyền thông đại chúng. Thí dụ trên báo Le Monde của Pháp những bài nổi bật muốn mở xem phải trả tiền bằng thẻ tín dụng. Báo Washington Post, tờ báo gối đầu giừơng của chính khách Mỹ cũng thế.
Image
Thành ra, trong tuần lễ đầu đến Mỹ, Anh Blogger Điếu Cày Nguyễn văn Hải có nói khá nhiều trên truyền thông đại chúng có chương trình tiếng Việt. Trên đài VOA, RFA, nào là Anh sẽ kiện VN ra toàn quốc tế, nào là Anh sẽ chỉ rõ những khuyết tật của VN, nào là Anh tiếp tục “đấu tranh bằng truyền thông”.

Về “đấu tranh bằng truyền thông”, “Anh nhận định Anh dù ra nước ngoài như thế này, Anh vẫn không bị tách khỏi môi trường đấu tranh ở trong nước. Anh khẳng định “Bởi vì chúng tôi hoạt động tự do báo chí trên internet mà trên internet thì không có khoảng cách… Ra ngoài hải ngoại, làm việc trên internet thì không có khoảng cách, tôi cũng không nghĩ rằng tôi bị tách khỏi xã hội Việt Nam thì tôi sẽ không hoạt động, không đấu tranh được.”… “Thật ra, ngay sau khi rời khỏi sân bay về đến nhà thì từ ngày hôm đó đến hôm nay chúng tôi đã thực hiện những việc đó là kết nối. Đến hôm nay, chúng tôi đã một nhóm ở đây rồi. Anh em từ Canada sang cũng đã có một nhóm ở đây. Do vậy những chương trình sắp tới tôi đang thảo luận, bàn bạc để tiếp tục làm việc. Tôi là người của hành động nên từ hôm đó đến nay, mặc dù là chưa được khỏe để tiếp xúc với anh em bên truyền thông nhưng chúng tôi đã thực hiện những việc kết nối anh em trong và ngoài nước rồi.”… “Bởi vì trong thế giới phẳng này, trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập, hợp tác và phát triển này thì việc liên lạc, việc đi lại cũng không phải là khó khăn như trước. Do vậy, ở hải ngoại này tôi vẫn cứ làm việc hiệu quả được như thường.”

Trả lời câu hỏi của nhà báo Nam Nguyên của RFA, Anh Blogger Điếu Cày nói: “Đó là câu chuyện truyền thông chúng ta cần phải làm. Với những người đấu tranh dân chủ như chúng ta thì việc cất lên tiếng nói thay cho những người tù mà đã bị bắt vào trong đó là điều rất quan trọng. Chính nhờ truyền thông chúng ta loan tin rộng rãi, đấu tranh mạnh mẽ thì sẽ đưa được tiếng nói của những người tù đến được với những tổ chức quốc tế mà khiến họ phải lưu tâm, khiến họ cũng phải góp tay đấu tranh để yêu cầu những chính quyền độc tài phải thả người của chúng ta ra.”

Qua những ý và lời trên của Blogger Điếu Cày cho thấy đường đi nước bước, hình thức đấu tranh của Anh không khác của người Việt ở hải ngoại đã thực hiện trước Anh hàng chục năm rồi. Sách lược đó họp thời cơ, địa lợi, nhân hoà. Thời cơ bây giờ của người Việt trong ngoải nước là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền; đó là mẫu số chung của người Việt trong quốc nội hay ngoài hải ngoại, của người Việt ở Bắc, ở Trung, ở Nam và ở hải ngoại. Chánh nghĩa đấu tranh đó cũng phú họp với chính trị ngoại giao của cộng đồng Thế Giới Tự do văn minh, đặc biệt là Mỹ. Họp địa lợi – đặc biệt với Anh Điếu Cày vì Blogger Điếu Cày ở trong nước dùng báo mạng, dùng blog chánh trị để đấu tranh. Qua Mỹ là Anh đến được đất lành, thừa mứa phương tiện để phát huy tối đa sở trường, chuyển lửa về quê hương, xứ sở.

Anh có nói ở tù sáu bảy năm, Anh còn lọng cọng sử dụng computer. Nhưng đó là chuyện nhỏ, thước sẽ dạy thầy, cây dạy thợ, on job training, chẳng lo gì ở xứ Mỹ quê hương của computer này. Nhiều thủ tướng, bộ trưởng, tướng lãnh, nghị sĩ, dân biểu VN Cộng Hoà lúc đương thời chưa có môn computer để học, khi làm việc có nhiều nhân viên tuỳ dịch đâu có biết đánh máy. Nhưng khi qua Mỹ không bao lâu cũng học lóm, tập tành cũng rành xài computers.

Anh Điếu Cày mới qua chắn chắn sự hiểu biết của Anh mới hơn, cập nhựt hơn về nguyện vọng của người dân Việt và “ý đồ” của nhà cầm quyền CSVN. Điều đó sẽ giúp cho đồng bào hải ngoại hiểu rõ CS hơn, rõ đồng bào hơn. Anh có thể như con thoi liên kết phong trào đấu tranh giữa trong và ngoài nước.

Anh là nhân chứng sống mới nhứt. Anh có thể chứng tỏ cho đồng bào Việt, nhứt là thế hệ trẻ thấy và thế giới thấy là chế độ CS tuyên truyển dối gạt và dùng khủng bố củng cố tuyên truyền. CS là đại sát thủ Internet, đại sát thủ tự do ngôn luận, tự do báo chí. Các nước văn minh viện trợ, cho vay ưu đãi, giao thương rộng rãi mà không đặt điều kiện nhân quyền VN với CSVN là giúp cho CS thêm phương tiện đàn áp người dân Việt.

Anh là một người tỵ nạn chánh trị như hầu hết người Việt tỵ nạn CS ờ Mỹ. Cùng thành tâm, thiện ý sống và làm việc ở hải ngoại như mọi người trong cộng đồng người Việt tỵ nạn chánh trị trong cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, thì “cảm nghĩ thuộc về nhau” sẽ đến một cách tự nhiên thôi./.(Vi Anh)