Page 113 of 180

Posted: Sun May 25, 2014 2:17 am
by khieulong
'Giàn khoan 981 là cơ hội để thoát khỏi Trung Cộng'
Saturday, May 24, 2014 2:26:10 PM

Phỏng vấn Giám Mục Nguyễn Thái Hợp

Hà Giang/Người Việt

LTS - Việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu Haiyang 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Ðông
khiến người Việt ở khắp nơi ưu tư về chủ quyền đất nước. Ðức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh,
chủ nhiệm câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, và là chủ biên cuốn“Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông,” chia xẻ nhận định của ông
về tình hình Việt Nam, qua cuộc phỏng vấn với phóng viên Hà Giang, tại tòa soạn nhật báo Người Việt chiều 23 Tháng Năm.

Image
Giám Mục Nguyễn Thái Hợp trong cuộc phỏng vấn tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 23 Tháng Năm, 2014. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Hà Giang (NV): Kính chào Ðức Giám Mục, xin ông vui lòng giới thiệu mục đích và những sinh hoạt tiêu biểu của câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Câu lạc bộ của chúng tôi là một câu lạc bộ nhỏ, quy tụ một số anh em trí thức công giáo, để hoạt động về vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục những gì liên quan đến cuộc sống của đất nước hôm nay. Qua những năm dài hoạt động, chúng tôi có tương giao rất nhiều với giới trí thức bên ngoài cũng như Công Giáo. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề nóng bỏng, được gọi là “nhạy cảm” ở Việt Nam, chẳng hạn vấn đề Biển Ðông, là vấn đề mà chúng tôi đề cập qua hai cuộc tọa đàm, và hiện giờ cũng đang chuẩn bị có một cuốn sách khác về Biển Ðông.

NV: Giám Mục có thể nói qua về nội dung cuốn sách “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông?”

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” là cuốn sách thứ hai chúng tôi nghiên cứu về vấn đề Biển Ðông. Cuốn sách này quy tụ một số tác giả trong và ngoài câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, một số người là người công giáo, một vài người là đảng viên cộng sản, chẳng hạn như Tiến Sĩ Ðinh Hoàng Thắng, nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, rồi có Thạc Sĩ Hoàng Việt hiện thời là giảng viên tại đại học luật và nhà nghiên cứu độc lập Phạm Hoàng Quân. Sở dĩ cuốn sách mang tựa đề “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” là vì “Công Lý và Hòa Bình” là danh hiệu của một ủy ban trực thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, mà tôi hân hạnh là chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban đó. Sách là tập hợp của nhiều nghiên cứu với mục đích đòi công lý cho Biển Ðông bằng giải pháp hòa bình, có nhiều lãnh vực từ lịch sử đến địa lý đến pháp lý quốc tế.



NV: Theo giám mục, tại sao Trung Quốc lại mang giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam vào thời điểm này, và họ làm thế vì có âm mưu gì?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Theo tôi nghĩ thì Trung Quốc đã dự đính từ lâu, và chọn một thời điểm rất thích hợp để kéo giàn khoan vào đó. Bởi vì theo biến cố Ukraine, khi mà Âu Châu đang phải đối phó với Nga, và khi mà Nga cũng phải dựa vào Trung Cộng để có thể có một vị thế tương đối khá trước Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và khi mà Mỹ cũng đang vướng ở Ukraine, và Mỹ cũng ở một giai đoạn nợ nần khắp nơi, và chính sách ngoại giao đang trong tình trạng bị suy giảm, hơn nữa ở trong nước thì Việt Nam đang mừng lễ 60 năm chiến thắng Ðiện Biên (Phủ) rồi mừng ngày 30 Tháng Tư, thì chính lúc đó là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc kéo giàn khoan đến vào trong lãnh hải Việt Nam. Và tại sao kéo một giàn khoan mà không đưa một tàu chiến đến? Ðưa một tàu chiến đến thì nó mang tính cách tấn công một cách lộ liễu. Còn nếu giàn khoan mà đóng ở đó thì cũng là sự hiện diện của Trung Quốc ở đó rồi, thành thử ra người ta vẫn nói là người Tàu rất thâm, trong vấn đề này ta thấy người Tàu đã chuẩn bị để thực hiện kế hoạch đại Hán của họ từng bước nhỏ theo chiến thuật “tằm ăn dâu.”

NV: Rất nhiều người Việt ở hải ngoại, và ở trong nước nữa, ngạc nhiên với phản ứng của nhà cầm quyền Hà Nội trước việc Trung Quốc mang giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chẳng hạn như là việc cho người dân đi biểu tình, ngay cả để cho tình trạng bạo loạn xảy ra, và những lời phản đối rất gay gắt. Theo giám mục thì đây có là một sự kiện đánh dấu một thay đổi nào đó?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Có rất nhiều điều mà người ta vẫn suy nghĩ và tỏ thái độ không bằng lòng hay là phản kháng về chính sách của nhà cầm quyền đối với Biển Ðông. Có lẽ từ trước đến nay giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc vẫn kết nghĩa như là anh em và quá tin ở “4 tốt và 16 chữ vàng.” Chính vì vậy vẫn tin tưởng nơi “người anh” láng giềng phương Bắc, nhưng mà bây giờ cháy nhà mới ra mặt chuột, vụ giàn khoan này mới giúp nhà cầm quyền nhận rõ hơn đâu là cái thực tâm, đâu là cái tham vọng của Trung Quốc để thực hiện chương trình đại Hán của họ. Và người ta cũng bất mãn về vấn đề là trước nay khi mà có biểu tình về Biển Ðông thì những người yêu nước đó bị đàn áp dã man, mà lại quá hòa hoãn với Trung Quốc. Bây giờ trong một vài lần thì lại cho phép biểu tình, nhưng mà sau đó lại cấm. Chính sách đó vẫn chưa tìm thấy cái nhất quán. Hy vọng rằng với lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về thái độ cương quyết đối với Trung Quốc, đó là một bước đặc biệt để Việt Nam ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc chăng.
Sách “Công Lý và Hòa Bình trên Biển Ðông” do câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2013.
(Hình: Nhân Phạm/Người Việt)

NV: Trước nhiều đe dọa của chính quyền cũng như báo chí Trung Quốc hô hào phải đánh Việt Nam, phải dạy cho Việt Nam một bài học, ông Nguyễn Tấn Dũng nói rằng Việt Nam vẫn cương quyết bằng mọi cách bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam, suy diễn theo kiểu bình dân thì là muốn đánh thì cứ đánh đi, chúng tôi cũng chẳng sợ. Giám mục nhận định gì về câu nói này?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Trước nay thì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một số phát biểu về Biển Ðông mà một số người rất đắc ý. Chính chúng tôi cũng đã trích dẫn hai ba lần những lời phát biểu khác nhau về Biển Ðông của ông. Nhưng rồi sau đó lại thấy là hành động trên thực tế đi ngược với những lời phát biểu đó. Tôi hy vọng và tôi ước mong rằng nhân vụ giàn khoan này thì những lời phát biểu của ông, mà được rất nhiều người tán đồng, sẽ trở thành một định hướng để hành động, và ước mong rằng chính phủ của Việt Nam sẽ có những kế hoạch để thực hiện những lời phát biểu đó. Nếu được như vậy cũng là điều may cho dân tộc.

NV: Tuy nhiên, thưa giám mục, ông Nguyễn Tấn Dũng là người duy nhất có những lời phát biểu rất mạnh mẽ về quan điểm của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền, còn những người còn lại trong bộ chính trị, chẳng hạn như ông Nguyễn Phú Trọng thì nhất định không nói gì cả. Ðiều đó cho chúng ta thấy gì?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Tiền nhân ta vẫn có câu “nhất ừ, nhì làm thinh,” thì làm thinh cũng có một ý nghĩa nào đó. Cái làm thinh này trong một giai đoạn rất là quan trọng của đất nước, phải chăng đó cũng là một dấu chỉ có sự khác biệt về quan điểm, có sự bất đồng ý kiến, và bất đồng ý kiến về những vấn đề rất quan trọng, là vấn đề sống còn của đất nước, tôi cũng thấy một số người nói như vậy.

NV: Sự kiện Trung Quốc mang giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam được đánh giá khác nhau. Có người thì lo rằng mất nước đến nơi rồi, người khác lại cho rằng đây là một biến cố có lợi cho Việt Nam, trước tiên là đốt tan 16 chữ vàng, và nếu Trung Quốc đánh Việt Nam thì dư luận quốc tế với Trung Quốc rất bất lợi, giám mục nghĩ sao?

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Tích cực hay tiêu cực thì cũng do cái nhìn, cũng do bối cảnh. Tôi không phải là một thầy bói, mà cũng không phải là một nhà tiên tri. Tôi chỉ thấy rằng giàn khoan 981 là một cái tát tai vào dân tộc Việt Nam. Ðó là một sự kiện rất đau thương, nhưng mà rất có thể đó cũng là một điểm đặc biệt tạo ra cái đổi mới, cái khởi đầu nào đó cho Việt Nam. Nhiều người hy vọng rằng, biết đâu nhờ biến cố đặc biệt đó mà Việt Nam lấy lại cái thế chủ quyền độc lập của mình, thoát khỏi vòng tay Trung Cộng.

NV: Cảm ơn Giám Mục đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn này.

Posted: Tue May 27, 2014 1:34 am
by dailien
Kiện Trung Cộng, chưa đủ

Ngô Nhân Dụng
Người Việt đầu tiên qua đời trong cuộc xâm lăng mới của Cộng sản Trung Quốc vào năm 2014 là bà Lê Thị Tuyết Mai. Chính quyền Sài Gòn chỉ tiết lộ nội dung sáu “biểu ngữ viết tay” của vị nữ Phật tử pháp danh Ðồng Xuân, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hiện đang bị cấm hoạt động. Các ước nguyện của bà cũng là ý kiến của toàn dân Việt Nam hiện này, “Yêu cầu đoàn kết đập tan mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, Yêu cầu Trung Quốc rút khỏi biển Việt Nam,” vân vân.

Chính quyền cộng sản đã phỉ báng người quá cố khi nói rằng bà “tự thiêu vì cuộc sống bế tắc và để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.” Nêu lý do “cuộc sống bế tắc” là một hành động vô liêm sỉ, hạ thấp giá trị hành động yêu nước của bà Lê Thị Tuyết Mai. Họ còn giấu không cho biết nội dung của biểu ngữ thứ bảy, nhưng chúng ta có thể đoán được bà mẹ 67 tuổi này muốn nói gì.

Chúng tôi ước mong người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài không theo gương bà Lê Thị Tuyết Mai. Hàng trăm người Tây Tạng ở Trung Quốc đã tự thiêu đòi quyền tự chủ và bảo vệ văn hóa dân tộc trong một năm qua, nhưng vẫn chưa đạt kết quả nào cụ thể. Hành động tự thiêu chỉ có hiệu quả khi nhắm đánh thức lương tâm của những con người còn nhân tính. Chính quyền cộng sản không động tâm trước các hành động hy sinh đó. Như Thánh Gandhi đã nói, các cuộc tuyệt thực của ông để phản đối chính quyền Anh quốc chỉ có tác dụng vì họ cũng là những con người. Người ta không thể tranh đấu theo lối đó khi phải đương đầu với những con rắn. Chính quyền cộng sản giống như những con rắn, không mang những tình cảm tự nhiên của loài người.

Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam đối đầu với Trung Cộng trong thế kỷ 21 này sẽ kéo dài, và chúng ta cần sử dụng các phương pháp đấu tranh có hiệu quả và ít hao tổn mạng sống. Ba tuần trước, mục này đã đề nghị chính quyền Cộng sản Việt Nam hãy kiện Cộng sản Trung Quốc trước tòa án quốc tế. Ðây là hành động đầu tiên để giành lẽ phải về phía dân tộc Việt. Cả thế giới sẽ thấy việc Trung Cộng đem giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng biển của nước ta là sai luật biển quốc tế; vì không một quốc gia nào được quyền khai thác một vùng biển còn đang tranh chấp. Trung Cộng khăng khăng nói họ đang tìm dầu ở hải phận nước họ, người Việt Nam phải chứng minh rằng điều đó không đúng sự thật. Chỉ có việc kiện trước một tòa án quốc tế mới chứng tỏ được rằng họ nói sai sự thật.

Thứ Năm vừa qua, ông Nguyễn Tấn Dũng đã nói trong một hội nghị ở Manila rằng chính quyền Cộng sản Việt Nam đang xem xét các biện pháp đối phó với Trung Cộng, trong đó có việc đưa vụ này ra trước tòa án quốc tế. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt khi nghe lời tuyên bố này; vì nội dung được đưa ra với lời lẽ có tính cách nửa chừng. Nguyễn Tấn Dũng không nói đang hay sắp nộp đơn kiện Trung Cộng, như chính phủ Philippines đã làm vào năm ngoái, xin tòa tuyên bố bất hợp pháp ý kiến của Trung Cộng coi tất cả vùng biển trong “Ðường Chín Ðoạn” thuộc vào nước Trung Hoa. Việt Cộng đã từ chối không ủng hộ Philippines trong hành động này. Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ nói việc thưa kiện là một trong các phương cách đối phó. Liệu ông ta có dám nộp đơn kiện Trung Cộng hay không, đó là một câu hỏi lớn.

Năm ngoái, Nguyễn Tấn Dũng đã từng nói công khai rằng mọi việc ông làm đều do đảng Cộng sản quyết định, bảo sao ông làm vậy. Ngay trong việc điều hành nền kinh tế đưa tới chỗ suy đồi, thất thoát hàng chục tỷ đô la ông ta cũng không nhận trách nhiệm về phía mình. Cho nên, quyết định kiện hay không kiện, sau cùng sẽ phải được đảng Cộng sản Việt Nam công bố. Cho tới hôm nay, ba tuần lễ sau khi giàn khoan HD-981 xâm nhập biển nước ta, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn hoàn toàn theo đường lối cũ, tức là chỉ trông vào việc năn nỉ đàm phán tay đôi với Trung Cộng. Chỉ có áp lực mạnh mẽ của toàn dân Việt Nam mới khiến Việt Cộng phải thay đổi chính sách, không coi Trung Cộng là “đồng chí anh em” với họ nữa.

Nhưng cuộc tranh chấp về giàn khoan HD-981 sẽ không chấm dứt khi Việt Nam thưa kiện. Trung Cộng sẽ từ chối không tham dự vào bất cứ phiên tòa quốc tế nào, cũng như họ đã báo trước sẽ không ra trước tòa án đối diện với Philippines. Việc thưa kiện sẽ chỉ có tính cách tượng trưng, nhắm giành lấy lẽ phải trong dư luận thế giới. Tấn công vào dư luận, nước ta và Philippines chỉ hy vọng giảm bớt các hành động xâm lấn hung hăng của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Nhưng hoàn cảnh nước ta và Philippines khác nhau rất nhiều.

Tranh chấp giữa Trung Cộng và Philippines nằm trong phạm vi địa dư và số lượng tài nguyên nhỏ, chỉ liên quan đến mấy bãi đá ngầm. Trung Cộng tìm cách giành chủ quyền trên các đảo san hô đó, nhắm vào danh nghĩa nhiều hơn là quyền lợi trước mắt. Giàn khoan HD-981 nhằm vào vùng biển có giá trị lớn hơn. Việc đưa một giàn khoan tới tìm dầu lửa đi xa nằm trong một chiến lược lớn, không giống như việc đưa mấy tàu đánh cá tới hải phận Philippines.

Cộng sản Trung Quốc đã tính toán rất kỹ từ nhiều năm qua, trước khi đưa giàn khoan qua xâm lấn biển Việt Nam. Từ 1950, Mao Trạch Ðông đã vạch ra kế hoạch đưa người Trung Hoa tới tất cả các nước vùng Ðông Nam Á. Các đảng cộng sản ở Mã Lai, Indonesia, vân vân, đều do cán bộ của Mao sách động. Việt Nam là đầu cầu bắc vào vùng này, nên được Mao chú ý nhiều nhất. Biển Ðông của nước ta là một mục tiêu chiến lược hiển nhiên mà các triều đình Trung Quốc nhòm ngó. Việt Cộng nhắm mắt tin vào tình đoàn kết “quốc tế vô sản” nên mắc bẫy Trung Cộng. Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình chỉ thừa kế chính sách lấn chiếm mà Chu Ân Lai đã khai mào, khi cho đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Năm đó, phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa trong Hội Nghị Bốn Bên thi hành Hiệp Ðịnh Paris đã đề nghị hai miền Việt Nam cùng lên tiếng phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, nhưng phái đoàn Bắc Việt đã từ chối. Sau hội nghị Thành Ðô, 1990, Trung Cộng càng nắm chắc đảng Cộng sản Việt Nam trong tay trong âm mưu chiếm đoạt Biển Ðông. Chiến lược lâu dài của họ theo kế lấn chân từng bước một, năm 1974 chiếm Hoàng Sa, năm 1988 chiếm một phần Trường Sa; năm nay họ bắt đầu chương trình khai thác dầu khí.

Giàn khoan HD-981 lớn bằng một sân đá bóng, đã được Trung Cộng kiến tạo trong nhiều năm, tốn hàng tỷ đô la Mỹ. Ðây là một công trình kỹ thuật mà Bắc Kinh rất hãnh diện. Nguyễn Phú Trọng đã được đưa tới coi giàn khoan này khi công trình còn đang thực hiện; mà không hề nghĩ ra rằng Trung Cộng đang cho coi cái thòng lọng sẽ tròng vào cổ nước Việt Nam. Khi Bắc Kinh di chuyển cái giàn khoan vĩ đại này, rời vùng biển ngoài khơi Hương Cảng xuống quần đảo Hoàng Sa, họ thực hiện bước đầu tiên trong giai đoạn chiến lược mới. Họ không chỉ muốn tìm dầu mà còn cốt đánh dấu, chứng tỏ vùng biển này là “ao nhà” của họ. Dù sau này họ có rút giàn khoan đi nơi khác, nói rằng ở đó không có nhiều dầu lửa bõ công khai thác, thì họ đã ngang nhiên dựng một cột mốc để thế giới nhìn nhận tất cả quần đảo Hoàng Sa thuộc vào lãnh hải Trung Quốc. Lần này họ tới ngoài khơi Quảng Ngãi, lần sau họ có thể sẽ tiến xuống phía Nam. Cứ như vậy, họ muốn đặt dân tộc Việt Nam và cả thế giới trước những sự kiện “đã rồi.” Người Việt có câu tục ngữ “Ðể lâu cứt trâu hóa bùn.” Ðó là chủ trương lấn ép của Bắc Kinh trong vùng Biển Ðông. Họ có thể thực hiện âm mưu này trong một thời gian lâu dài, nửa thế kỷ hay một thế kỷ. Họ biết rằng nếu việc giao thương đường biển qua vùng này không bị gián đoạn thì các nước khác, từ Mỹ, Ấn Ðộ, đến Nhật Bản không thấy có lý do nào khiến họ phải can thiệp. Vì dù tài nguyên dầu khí nằm dưới đáy biển dù thuộc quốc gia nào thì cũng như nhau. Trái với lối suy nghĩ nặng về tình cảm, lưu cữu từ thời Chiến Tranh Lạnh, nước Mỹ không có nhu cầu ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc. Hai nước vẫn có thể buôn bán với nhau, chỉ cần Trung Cộng không làm cho hệ thống thương mại quốc tế bị đình hoãn trong vùng Biển Ðông. Mà điều này thì Trung Cộng luôn sẵn sàng bảo đảm với Mỹ.

Cho nên, khuynh hướng trông cậy vào nước Mỹ với hy vọng ngăn cản Trung Cộng là một ảo tưởng, trong nhiều thứ ảo tưởng khác. Khi Ðô đốc Samuel Locklear tuyên bố ở Manila rằng tình trạng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Cộng rất nguy hiểm, ông ta chỉ nói một sự thật, chứ không hề tỏ ý muốn giúp Việt Nam chống Trung Cộng. Ông nói người Mỹ muốn hợp tác với Việt Nam nhiều hơn, nhưng nói rõ hơn, rằng Việt Nam chỉ là một trong nhiều quốc gia mà Mỹ muốn hợp tác. Ông nói rõ ràng: “Chỉ có người Trung Quốc can ngăn được người Trung Quốc,” chứ không phải người Mỹ hay các nước khác.

Cũng vậy, khi cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates nói rằng các nước Ðông Nam Á cần đoàn kết với nhau lên tiếng chống lại sự xâm lược của Trung Quốc; thì đó cũng chỉ là một lời khuyến cáo; không có gì ràng buộc chính phủ Mỹ.

Cho nên, người Việt Nam không nên trông cậy vào bất cứ quốc gia nào, kể cả Mỹ, Nhật Bản hay Ấn Ðộ, trong cuộc chiến đấu chống Trung Cộng xâm lăng trên biển, đảo. Chỉ có người Việt Nam có thể cứu được nước Việt Nam.

Khi Cộng sản Trung Quốc tính chiến lược lâu dài nhằm xâm chiếm đảo, biển của nước ta, chúng ta cũng phải tính kế hoạch lâu dài. Việc đưa đơn kiện Bắc Kinh trước tòa án quốc tế chỉ là một bước đầu mà thôi. Người Việt còn phải thi hành nhiều biện pháp ngắn hạn khác song song với việc thưa kiện.

Một việc có thể làm ngay là trả đũa Trung Cộng về mặt kinh tế. Chấm dứt các hợp đồng khai thác tài nguyên của các công ty Trung Quốc; trong đó có các mỏ bô xít mà ông Nguyễn Tấn Dũng từng đề cao là một chương trình lớn của đảng Cộng sản. Phải ngăn chặn các mạng lưới buôn lậu qua biên giới ngay lập tức; đồng thời, chấm dứt chế độ ưu đãi các nhà thầu Trung Quốc, họ đang đấu thầu 90% các dự án lớn ở nước ta. Phải trục xuất các công nhân Trung Hoa bất hợp pháp ở nước ta mà theo bộ Lao Ðộng,Thương Binh, Xã Hội, số lao động bất hợp pháp này lên đến 80 ngàn người.

Cắt đứt các quan hệ kinh tế bất bình đẳng này có thiệt hại cho người Việt Nam hay không? Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên giáo sư kinh tế học ở Ðại Học Laval, Québec, Canada thì việc chấm dứt quan hệ kinh tế với Trung Quốc chỉ giảm bớt khoảng 15 đến 20 tỷ đô la trong tổng sản lượng của Việt Nam. Ông Hùng so sánh với con số lỗ lã của các tập đoàn Vinalines, Vinashin cũng lên tới vài chục tỷ, để kết luận rằng người Việt Nam có thể chịu đựng được những thiệt hại khi ngưng giao thương với Trung Cộng. Hiện nay mỗi năm dân Việt mất 20 tỷ đô la vì mua hàng Trung Quốc nhiều ơn bán sang Tàu. Chấm dứt dòng máu chảy ra đó sẽ tạo cơ hội cho giới kinh doanh trong nước Việt Nam được phát triển nhanh hơn.

Phải coi những hành động trên đây chỉ là những đòn trả đũa ngắn hạn, để phản đối sự kiện giàn khoan HD-981. Trong dài hạn, phương pháp duy nhất để dân tộc Việt Nam có thể ngăn chặn kế hoạch bành trướng của Bắc Kinh là phải phát triển một nền kinh tế thị trường thực sự, không bám theo Trung Cộng cải tổ kinh tế nửa vời. Chỉ khi nào lãnh vực kinh doanh tư nhân được tự do phát triển, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, bãi bỏ các độc quyền kinh tế dành cho đảng viên cộng sản, thì dân ta mới tiến lên được.

Muốn thực hiện được công cuộc cải tổ kinh tế triệt để đó, cần phải xóa bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản. Chỉ khi nào dân chúng Việt Nam được tự do dùng lá phiếu quyết định vận mạng đất nước, với các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập đảng chính trị, lập công đoàn độc lập, thì toàn dân mới có thể đoàn kết để chống quân xâm lược. Khi nước Việt Nam bắt đầu tiến trình dân chủ hóa thì người dân Trung Hoa trong lục địa cũng phấn khởi hơn, họ sẽ đòi được sống dân chủ. Khi nào nước Trung Hoa thành dân chủ thì việc thương thuyết các vấn đề biển, đảo sẽ đi theo những con đường hợp lý và ôn hòa hơn.

Chúng ta có thể đoán trước khi tự thiêu bà Lê Thị Tuyết Mai cũng nghĩ rằng muốn chống Trung Cộng xâm lăng thì việc đầu tiên cần làm là dân chủ hóa nước Việt Nam. Tấm biểu ngữ thứ bảy của bà chắc ghi những đòi hỏi xóa bỏ điều 4 trong Hiến Pháp, chấm dứt chế độ độc tài đảng trị, để toàn dân Việt Nam được hưởng quyền sống xứng đáng làm người. Có lẽ vì thế mà chính quyền cộng sản đã giấu diếm nội dung của biểu ngữ này.

Posted: Wed May 28, 2014 5:24 am
by tramthaiha
Image

Nguyễn Tấn Dũng: Hoạt đầu chính trị

Vũ Đông Hà

(Danlambao) - Giữa bản đại hòa tấu toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, nên hòa hay bại râm rang khắp dãi đất còng lưng chữ S, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhảy lên sân khấu... Manila hướng về đất tổ cất giọng sơn hà nguy biến, nên hòa hay kiện. Bên này mảnh đất hình chữ S lắm lừa nhiều ma, rầm rầm tiếng vỗ tay hưởng ứng ca ngợi Thủ tướng muôn năm - thiếu điều tung hô tổng thống Nguyễn Tấn Dũng muôn năm.

Nhớ lại:

Ngày đăng quang Thủ tướng đăng đàn đóng vai một lãnh đạo cấp tiến - không dẹp được tham nhũng tôi sẽ từ chức. Trên mảnh đất lắm lừa, nhiều con ma vỗ tay rộn ràng, báo lề đảng chém gió mát cả mùa hè. Hai nhiệm kỳ sau Thủ tướng trở thành thủ lãnh một bầy sâu lổm ngổm đầu bờ cuối bụi của hệ thống ký sinh trùng mang tên nhà nước.

Còn nhớ:

Những ngày Tiên Lãng. Suốt một tháng dài báo lề đảng được bật đèn xanh cho chửi thoải mái, chửi như chưa bao giờ được chửi đám quan lại cộng sản Hải Phòng cướp ao cá Đoàn Văn Vươn. Cả nước phẫn nộ chắc còn hơn sóng biển Đông bao quanh giàn khoan của khựa. Cựu chủ tịch nước, đại tướng, thái thượng hoàng Lê Đức Anh đích thân đăng đàn dọn bãi cho Thủ tướng. Một tháng sau, thủ tướng xuất hiện với những cái tít to đùng trên báo đảng tiền hô hậu ủng: Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng yêu cầu làm rõ..., Tiên lãng - Kỳ vọng của thủ tướng, Uy tín của Thủ tướng tiếp tục được nâng cao, Người dân Tiên Lãng cám ơn thủ tướng...

Và thủ tướng cất cao tiếng hát của loài lừa: "Chính quyền Tiên Lãng đã sai từ đầu tới cuối về quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế, việc thực thi cưỡng chế, cách ngụy biện cho những sai lầm, sự vô cảm trước nỗi khổ của người dân, sự quanh co khi phải đối diện với sự thật."

Mãnh đất lắm lừa nhiều ma vỗ tay vang dội từ thành xuống xã. Báo lề đảng chém gió mát cả nước. Mát cho đến lúc Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ vào tù - người 5 năm, kẻ 2 năm. Và Đỗ Hữu Ca - tên trùm băng đảng Hải Phòng trong chiến dịch "đốt phá chòi nuôi cá" - được thăng hàm Thiếu tướng.

Và cứ thế, còn nhiều lắm... trong suốt 2 nhiệm kỳ ngồi ghế Thủ, Nguyễn Tấn Dũng với một đội ngũ tiếp thị nhà nghề học được từ thị trường và chính trị phương tây đã sử dụng phương thức chụp thời cơ hoặc tạo thời cơ để khi lòng dân bất mãn cùng cực và có sẵn vài con tốt nhỏ đang bị dư luận căm phẫn, ông ta xuất hiện và hành xử như một "minh quân" hay một nhà lãnh đạo "biết điều".

Khi biển đông dậy sóng và lòng người bất mãn ông đem hải quân VNCH, chính quyền VNCH ra để vuốt trong phiên họp Quốc hội 25/11/2011.

Giữa lúc tình trạng vi phạm nhân quyền leo thang, nhiều blogger bị bắt giam bởi điều 258, thương lượng TPP đến hồi nóng bức, ông gửi thông điệp đầu năm (1) kêu đọi "đảng ta" phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ngày 2 tháng 5 năm 2014 vừa qua, Tàu cộng xâm lược Việt Nam bằng giàn khoan HD-981 cộng với hơn 130 tàu đủ loại. Cả nước người người phẫn nộ. Những cuộc biểu tình độc lập của dân, biểu tình có tổ chức của đảng, biểu tình có đốt phá, cướp của, giết người của thế lực đen trong đảng bùng nổ. Thủ tướng im lặng như tờ cho thời cơ chín mùi. Cứ để cho những tên ngu dốt như Phùng Quang Thanh mở miệng cóc chết “Đảng, Chính phủ và quân đội Việt Nam cực kỳ coi trọng phát triển đoàn kết và hữu nghị với Trung Quốc, quân đội Việt Nam sẽ không áp dụng hành động làm phức tạp tình hình, sẵn sàng cùng với Trung Quốc duy trì trao đổi về các vấn đề liên quan...” thì khi xuất hiện, phát biểu của thủ tướng sẽ ngời sáng như minh châu trời đông.

Ngày 21 tháng 5, tại Diễn đàn Kinh tế Thế Giới tổ chức ở Manila, thời đã chín và cơ đã mùi, thủ tướng xuất hiện, lên án Tàu cộng (2):

“Từ ngày 01/5/2014 đến nay, Trung Quốc đã sử dụng hơn 130 tàu, có cả tàu quân sự và máy bay bảo vệ để hạ đặt giàn khoan dầu vào vị trí sâu hơn 80 hải lý trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Đây là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết. Hành động này của Trung Quốc đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.”

Ông đã dùng buổi phỏng vấn của hãng thông tấn AP để phát biểu:

“Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Hai câu này được trích dẫn nhiều nhất bởi báo lề đảng và những người ca tụng ông Thủ tướng của đảng.

Tuy nhiên, hãy nhớ lại phát biểu của ông tại diễn đàn an ninh Đối thoại Shangri-La vào năm ngoái khi ông gián tiếp lên án Trung Quốc:

“Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ biển Hoa Đông đến biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, trước hết là an ninh, an toàn và tự do hàng hải đang gây quan ngại sâu sắc đối với cả cộng đồng quốc tế. Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”

và lời khẳng định của Thủ tướng:

“cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta.” (3)

cũng từng đã được tung hô vàng trời.


Ông đã thực sự làm gì trong vai trò Thủ tướng sau gần một năm tuyên bố tại Shangri La trước cái gọi là “biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”?

Câu trả lời: HD-981.


Nó không còn là một biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương hay đòi hỏi phi lý. Nó là một hành vi xâm lược cụ thể, trắng trợn, ngang nhiên của Tàu cộng.

Nhiều người đề cao phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng tại Manila. Tuy nhiên, hãy nhìn kỹ lại:

1. Bất kỳ một nhà ngoại giao hạng bét nào trên thế giới, chưa nói đến thủ tướng quốc gia, đều phải phát biểu như ông Dũng về hành vi xâm lược đối với quốc gia của họ, tương tự như Tàu cộng xâm lược Việt Nam bằng giàn khoan HD981. Toàn bộ sự việc đã được hàng ngàn blogger viết đến trong suốt gần 3 tuần ông im lặng. Và họ nói chính xác, đúng với bản chất của vụ việc hơn nội dung phát biểu của ông Thủ tướng - “Đây là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên tham gia ký kết. Hành động này của Trung Quốc đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.” Họ nói đơn giản: Đây là hành vi xâm lược của Tàu cộng; đây là đe dọa nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam.

2. Bất kỳ người lãnh đạo nào cũng phải nói quốc gia của họ mong muốn có hòa bình, hữu nghị, phải bảo vệ chủ quyền bằng mọi giá và không đánh đổi chủ quyền bằng “hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. Không có một nhà ngoại giao hạng tồi và vô liêm sỉ nào tuyên bố ngược lại tinh thần trên.

Tuy vậy, Thủ tướng được nhiều người hoan nghênh vì ông làm đánh vào được tâm lý của nhiều người dân Việt Nam:

- Lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN hèn mạt không dám mở miệng nói lên một sự kiện xâm lược mà cả thế giới đều biết. Bây giờ chỉ có ông Dũng bừng sáng như một tên chột trong một đám mù.

- Gián tiếp gửi thông điệp ông “có gì thì gì đi nữa” nhưng không phải là một kẻ thân Tàu, không phải là người sẵn sàng đánh mất chủ quyền vì “quốc sách nô lệ 16 vàng 4 tốt”; và bây giờ chuyện độc tài, tham nhũng là chuyện nhỏ, chuyện cứu nước mới là đại cục.

Nhưng người ta vô tình hay cố tình xem nhẹ, phớt lờ, bỏ qua những phát biểu sau đây - mới là những “thông điệp chiến lược” của một chính trị gia hoạt đầu gửi đến “đối tượng” cần nhắn gửi:

“Chúng tôi kiên định và kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.”

“Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác. Đây là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam.”

“Việt Nam không bao giờ đơn phương sử dụng biện pháp quân sự, không bao giờ khơi mào một cuộc đối đầu quân sự, trừ khi bị bắt buộc phải tự vệ.”


Đây mới là thông điệp thể hiện "chính sách hành động" của chính phủ CHXHCN.

Đây mới là thông điệp làm hài lòng quân xâm lược: nó muốn nói gì thì nói để củng cố địa vị chính trị bản xứ của chúng, nhưng cái lỏi phải “đồng lòng cùng chính phủ... Bắc Kinh”.

Kết hợp 3 câu trên sẽ thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - đằng sau những phát biểu ngoại giao, mị được một số người Việt Nam lẫn ngoại quốc - đã đặt Việt Nam vào ngỏ cụt hiểm nghèo:

- Nhất định không chống trả cho dù 1 giàn khoan hay 10 giàn khoan hoặc bất kỳ một sự chiếm đóng nào của Tàu cộng trừ khi Tàu cộng nỗ súng trước và Việt Nam chỉ bắn trả để tự vệ. Thế nên mới có màn bắn nhau ướt đẫm cả biển Đông.

- Nhất định đặt Việt Nam vào thế một nước nhỏ, lẻ loi đơn độc đối đầu với một cường quốc xâm lăng khổng lồ là Tàu cộng. Đơn phương đồng nghĩa với vô phương.

- Đặt Việt Nam vào đúng thế trận chiến lược của Tàu cộng: biến chủ quyền của Việt Nam thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của Tàu cộng và sau đó cùng lắm thì kiện tụng về một sở hữu quyền “chưa rõ của bên nào”. Kết quả tệ nhất đối với Tàu cộng: vùng đất, biển của Việt Nam trở thành vùng “chủ quyền chung” của hai nước để cùng khai thác. Với một đất nước có nhiều tài lực, nhân lực như Tàu cộng, với chính sách đổ tiền, đổ người vào để khai thác, định cư, an sinh lập nghiệp... vài chục năm sau vùng chủ quyền chung đó sẽ trở thành chủ quyền riêng không chối cãi của Tàu cộng.

Nếu tình báo Hoa Nam muốn làm một cuộc đảo chánh Ba Đình thì con lừa này sẽ được chọn làm tổng thống, là lãnh tụ được lòng nhiều ma trên mảnh đất bên kia biên giới là nhà, lắm lừa nhiều ma này.

Con đường chúng ta đi

Tình trạng cực kỳ đen tối của đất nước ngày hôm nay không đến từ bối cảnh của một quốc gia nhỏ, trong đó chính phủ cùng với nhân dân qua nhiều năm tháng đã một lòng tìm mọi cách để chống lại một nước xâm lược to lớn. Ngược lại, nó là kết quả của gần một thế kỷ đến từ một tập đoàn cai trị được ra đời nhờ bàn tay của bà mụ Tàu cộng, hoạt động theo Tàu cộng, sinh tồn nhờ Tàu cộng và nô lệ cho Tàu cộng. Nguyễn Tấn Dũng - một đảng viên cộng sản leo lên được chức thủ tướng là một trong những kẻ trung thành nhất của tập đoàn nô lệ ngoại bang đó. Ông ta là một trong những đầu não của bộ máy cai trị “hèn với giặc và ác với dân” này.

Trước tình trạng hiểm nghèo của tổ quốc, chỉ có những người muốn đất nước độc lập, hòa bình, tự do nhưng không muốn sướt một móng tay, chảy một giọt máu mới đặt niềm tin vào những kẻ cai trị độc tài, tham nhũng, mị dân đứng ra bảo vệ đất nước và chiến đấu cho sự sống còn của đất nước. Những người như Điếu Cày, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Đinh Nguyên Kha, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Bùi Thị Minh Hằng... đã không đặt niềm tin, hy vọng vào những kẻ đó. Hàng ngàn người xuống đường biểu tình yêu nước trong những năm qua không thể nào đặt niềm tin, hy vọng vào một hoạt đầu chính trị đã ra công văn và chỉ thị cho công an trấn áp mọi nỗ lực phản đối quân xâm lược, cấm đoán, đánh đập, bắt giam người biểu tình yêu nước chỉ vài ngày trước khi cánh màn nhung chính trị mị dân ở sân khấu Manila được kéo ra.

Con đường trước mặt chỉ có chông gai và thử thách. Không còn chọn lựa nào khác đối với dân tộc Việt Nam sau bao năm tháng bị cai trị bởi một đảng độc tài và nô lệ ngoại bang.

Con đường ấy không phải là lần đầu tiên mà đất nước hơn 4000 năm phải dũng cảm tiến bước và chấp nhận những đớn đau, mất mát, hy sinh để thực sự sống còn trong độc lập và danh dự. 750 năm về trước đã có con đường ấy - con đường mang tên: Diên Hồng.


Vũ Đông Hà

Posted: Sat May 31, 2014 4:46 pm
by vuphong
Thủ đoạn mập mờ Friday,

Ngô Nhân Dụng


Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam - có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt - trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa...”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ ... trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy ... trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

Posted: Sun Jun 01, 2014 6:02 am
by dailien
'Nhường Trung Quốc mỗi tấc đất, là mất đi vĩnh viễn' -
(Phỏng vấn Tiến Sĩ Peter Navarro)

LTS: Việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, và chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, khiến người Việt Nam khắp nơi sôi sục, và tranh chấp Biển Đông thêm căng thẳng. Sự kiện này có ý nghĩa và tạo ra những tác động gì, tại sao Trung Quốc lại có hành động cả quyết như vậy trong lúc này. Tiến sĩ Peter Navarro, chuyên gia về Trung Quốc, giáo sư đại học University of California, Irvine, tác giả hai cuốn sách bán chạy "The Coming China Wars," và "Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action" chia xẻ nhận định của ông, qua cuộc phỏng vấn do Hà Giang thực hiện.


Tiến Sĩ Peter Navarro giải thích về hiểm họa Trung Quốc trong buổi hội thảo ra mắt cuốn sách "Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action", tại Beckman Center, Irvine, ngày 7 tháng Sáu, 2011. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Hà Giang (NV): Theo nhận định của tiến sĩ, tác động của việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu vào vùng biển Đông thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam là gì, và tại sao Trung Quốc lại chọn thời điểm này?


Tiến sĩ Peter Navarro: Trung Quốc đã hiếp đáp Việt Nam kể từ khi chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và bắn giết biết bao người dân Việt Nam vô tội trong trận chiến đẫm máu tại bãi Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, năm 1988. Càng lớn hơn và càng mạnh hơn, Trung Quốc càng ngang nhiên tiến chiếm những gì họ có thể tước đoạt từ những quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn như Việt Nam. Trung Quốc sẽ cướp đi của người dân Việt Nam cả quyền đánh bắt cá lẫn khối dầu khí tự nhiên. Điều tồi tệ nhất là các nhà lãnh đạo và phương tiện truyền thông Trung Quốc luôn luôn đưa ra những tuyên truyền giả mạo rằng Trung Quốc là một quốc gia yêu chuộng hòa bình. Trên thực tế, Trung Quốc là một quốc gia chuyên hiếp đáp những nước yếu.


NV: Ngoài việc lên tiếng phản đối và yêu cầu Trung Quốc lập tức “ngừng ngay tất cả các hoạt động bất hợp pháp” và “thu hồi các giàn khoan” ở vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, chính phủ Việt Nam có thể làm được gì, và nên làm gì, thưa tiến sĩ?


Tiến sĩ Peter Navarro: Việt Nam cần phải thuyết phục và liên kết mật thiết với các nước khác trong khu vực cũng như Hoa Kỳ để tạo thành mặt trận thống nhất chống lại một Trung Quốc tham lam. Việt Nam cần tìm mọi cách sử dụng lực lượng quân sự, trong lúc bất ngờ, giữa đêm khuya, nếu cần thiết, để phá hủy các giàn khoan mà Trung Quốc ngang nhiên mang vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hãy làm thế để cho Trung Quốc phản ứng, rồi thế giới sẽ thấy rõ Trung Quốc là một mối nguy hiểm lớn như thế nào cho hòa bình trong khu vực.


NV: Việc làm được Việt Nam cho là "bất hợp pháp" và "xân lấm chủ quyền một cách nghiêm trọng" này của Trung Quốc sẽ gây ảnh hưởng gì đến những quốc gia trong vùng?


Tiến sĩ Peter Navarro: Qua đường lưỡi bò chín đoạn, Trung Quốc đã từng tuyên bố và hành xử như thể toàn bộ Biển Đông là “ao nhà” của họ. Mỗi tấc đất biên cương, mỗi hải lý biển đảo nhường cho Trung Quốc là mất đi vĩnh viễn. Tất cả các nước trong vùng đều bị ảnh hưởng, đều là nạn nhân của chính sách xâm lược hung hăng của Trung Quốc.

NV: Trước tình hình này, Hoa Kỳ có nên tỏ thái độ, và nếu có thái độ, thì phải phản ứng như thế nào?

Tiến sĩ Peter Navarro: Hoa Kỳ không thể can thiệp trừ khi Việt Nam yêu cầu được giúp đỡ. Mời Hoa Kỳ thiết lập các căn cứ quân sự và hải quân sẽ là một bước đầu tốt cho việc kiềm chế sự xâm lăng của Trung Quốc.


NV: Cảm ơn giáo sư đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn.

Posted: Mon Jun 02, 2014 8:43 pm
by khieulong


Image

Tướng họ Phùng là một tướng hèn nhát nhất trong lịch sử nước Nam

Nguyễn Nghĩa 650

(Danlambao) - Nhiệm vụ chính trị của quân đội là đảm bảo sự bất khả xâm phạm của bầu trời, lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Đây không phải là nhiệm vụ từ trên trời rơi xuống. Đây là nhiệm vụ tự nhiên phải thực hiện, từ khi xã hội loài người tổ chức thành các quốc gia riêng biệt.

Ở xã hội phong kiến, khi luật sức mạnh là luật cơ bản trong quan hệ giữa các quốc gia thì quân đội là lực lượng nòng cốt của mọi quốc gia.

Trong thời buổi loạn lạc, sự hưng vong của một quốc gia phụ thuộc vào tính tinh nhuệ của quân đội. Tính tinh nhuệ, được huấn luyện thuần thục, tinh thần quyết chiến của binh lính là những yếu tố có tính quyết định kết quả của một trận đánh, của một cuộc chiến tranh.

Mà binh lính tuần thục, có tinh thần chiến đấu hay không phụ thuộc vào người tướng cầm quân.

Việt Nam ta giữ được nước từ thủa khai thiên lập địa, 4000 nghìn năm trước, đến hôm nay, là nhờ có địa hiểm, và tại những thời điểm chống ngoại xâm, bao giờ cũng xuất hiện các tướng tài, những vị tướng cầm quân hết lòng vì tổ quốc.

Kìa xem lịch sử Việt Nam, từ Bà Trưng, Bà Triệu, những nữ nhi mà lòng căm thù quân xâm lược cháy bỏng đến hôm nay:

"Ta muốn cưỡi một cơn gió mạnh, chém cá kình ở Biển Đông, để dân Việt khỏi phải lầm than, đắm đuối".

Ta hãy đọc lại những vần thơ sang sảng khí phách Việt Nam của Thái Uý Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt :

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm,
Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư”.

(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong cảnh đất nước đang sắp bị giặc Thát- Mông xâm lược, "...nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Lại ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham khôn cùng; còn khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, nhằm vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau", đã Hịch cho các tướng sĩ nhà Trần:

"Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng."

Đến như cha con Hồ Qúy Ly "chính sự phiền hà", làm lòng dân li tán, mà khi giặc nhà Minh ngấp nghé đất Việt, còn muốn có "trăm vạn tinh binh để sống mãi với kẻ thù một trận", Hồ Nguyên Trừng còn khảng khái: "Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo".

Lê Lợi , Nguyễn Trãi thì canh cánh một lòng cứu nước:

"Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ."

Quang Trung Hoàng Đế thì sảng khoái đánh giặc Mãn Thanh, trước hết là đánh kẻ thù của văn minh Việt Nam:

Đánh cho để tóc dài,

Đánh cho để răng đen,

Đánh cho chúng trích luân bất phản,

Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,

Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Thế mới biết rằng trước giặc mạnh, lòng yêu nước của người làm tướng phải cháy bỏng, phải truyền được ngọn lửa nóng bỏng này đến từng người lính trong những lời hịch của mình.

Việt Nam ta hôm nay đang là một quốc gia trên bán đảo Đông Dương này, là nhờ đất Việt đã có những người con anh tuấn, yêu nước như vậy.

Nhưng thật cũng chớ trêu của lịch sử, trong những ngày giặc Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 vào lãnh hải Việt Nam, một vị tướng 4 sao, một người đứng đầu Bộ quốc phòng Việt Nam, một tổng chỉ huy Hải, Lục, Không quân Việt Nam lại qùy gối trước TQ, lại rụt cổ trước TQ, lại phát biểu vô trách nhiệm tại Diễn đàn an ninh Shangri-La 5/2014, trước tình hình vận mệnh dân tộc ngàn cân treo sợi tóc:

"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi."

"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng".

Ông Thanh, tôi sẽ không nhắc lại lời ông phát biểu tại Quốc hội vài năm trước, khi ngư dân Việt Nam bị TQ o ép, đánh đập trên lãnh hải Việt Nam.

Hôm nay, tôi nói thẳng với điều này:

Câu phát biểu của ông là câu phát biểu của một đại tướng hèn nhát, của một Lê Chiêu Thống, một Trần Ích Tắc chứ không phải câu phát biểu của 1 người thống lĩnh quân đội Việt Nam suốt 4 nghìn năm luôn cự giặc Tầu, và luôn chiến thắng chúng.

Giặc đã vào nhà, ăn cướp của cải Việt Nam tại lãnh hải 200 hải lý, mà ông còn nhận giặc làm cha thì ông quả là một vị tướng bán nước vô liêm sỉ.

Hàng ngày, các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam đang đương đầu với lũ lính TQ hung bạo, đang bị bọn TQ phun những vòi rồng nước áp xuất, như những quả đạn thép đập vào người.

Tầu, thuyền của họ đang bị những con thú TQ chủ ý đâm cho tan, vỡ, để mong họ làm mồi cho cá mập.

Những con thú xâm lược TQ này là "gia đình" của tướng Phùng ư?

Các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam đang đối mặt với cái chết để bảo vệ lãnh hải Việt Nam.

Các chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam cần một ngọn lửa yêu nước, sưởi tan những gian nguy trên Biển.

Họ cần một lời lên án bọn xâm lăng từ vị tướng của họ.

Những chiến sĩ Cảnh sát Biển sẽ rất đau lòng khi thấy người chỉ huy của họ nhận giặc làm anh em.

Thế hóa ra những nguy hiểm, gian truân của họ là vô ích.

Thế hóa ra lòng yêu nước của họ chỉ đáng so sánh với xích mích trong "gia đình" ông Phùng.

Ông Phùng đã thỏa hiệp với giặc Tầu trên xương máu của họ.

Hãy đưa ông ta lên tầu Cảnh sát biển ra giàn khoan HD 981 để ông ta thấy những người trong "gia đình" của ông ta là những con người như thế nào?

Tướng họ Phùng là tướng không khí phách, hèn nhát nhất lịch sử Việt Nam.

Không bảo vệ được bất khả xâm phạm của lãnh hải Việt Nam, ông Phùng thật đáng bị cách chức.

Posted: Thu Jun 05, 2014 2:05 am
by quangminh
Trung Quốc vẫn lấn lướt, thế giới khó ngăn

Võ Long Triều

Quyết định đặt giàn khoan HD-981 trong vùng biển của Việt Nam, Trung Quốc đã toan tính sẽ gặp phản ứng dây chuyền.
Thế giới bất bình, lo ngại, phê phán gắt gao, thậm chí còn đe dọa và chuẩn bị đối phó. Những điều đó chắc chắn Bắc kinh đã có dự trù.
Một khi đã khẳng định và xác quyết chủ quyền của mình trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì sẽ không vì phản ứng,
dù gắt gao hay chiếu lệ, của thế giới mà Trung Quốc e ngại phải rút lui.

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel (trái) và Bộ Trưởng Quốc Phòng Nhật Itsunori Onodera,
tại Thượng đỉnh Quốc phòng Shangri-La, Singapore. (Hình: AP/Photo)


Làm như vậy Bắc Kinh sẽ mất hết uy tín và danh dự của một cường quốc có tham vọng trở thành giàu mạnh nhứt về kinh tế và quân sự, thay Mỹ áp đặt một trật tự mới cho sinh hoạt chính trị thế giới. Ðó là chủ trương của chiến lược gia Ðặng Tiểu Bình từ năm 1991. Ông đã công khai đặt việc hiện đại hóa quân sự lên hàng ưu tiên số một. Ông đã bí mật tăng ngân sách quốc phòng ngoài sự hiểu biết và tưởng tượng của Tây phương. Ông được toàn dân sùng kính mãi cho đến ngày nay. Ban lãnh đạo hiện thời của Trung Quốc đang theo đuổi và từng bước thực hiện chiến lược của Ðặng Tiểu Bình.

Ðặt giàn khoan trong vùng biển Hoàng Sa, Trung Quốc biết chắc Việt Nam sẽ không dám phản ứng vì há miệng mắc quai. Ngoài ra Việt Nam còn là một đồng đảng vệ tinh “tốt” của Trung Quốc, nếu không muốn nói là chư hầu. Cộng Sản Bắc Việt không hề liên kết quân sự với bất cứ một quốc gia nào từ khi mới thành lập, ngoại trừ làm tay sai cho cộng sản Liên Xô và Trung Quốc với “nghĩa vụ quốc tế” là cộng sản hóa miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, v.v... Hai quan thầy của Việt Nam là Liên Xô, và Trung Quốc luôn luôn đối đầu với các quốc gia tư bản Tây phương suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh.

Vậy thì bây giờ ai sẵn sàng bênh vực cho một chư hầu Cộng Sản Việt Nam bị quan thầy Cộng Sản Trung Quốc áp bức. Vả lại Tổng Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vừa mới tuyên bố tại Shangri-La: Quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và sự xung đột trên biển Ðông chỉ là “mâu thuẫn gia đình”!

Theo một chuyên gia người pháp, về Trung Quốc và Việt Nam, ông Laurent Guédéon, cho rằng trong toàn bộ cuộc khủng hoảng này, Trung Quốc đã thắng vì họ đã làm được những gì họ muốn trên biển Ðông. Với cách nhìn của ông Guédéon thì đây là chiến thắng của Trung Quốc về mặt chính trị lẫn về mặt ngoại giao. Bởi vì từ năm 1974 Hoàng Sa đã chịu sự trực tiếp quản lý của Trung Quốc, nên một khi họ đưa giàn khoan vào vùng này rồi nếu có rút đi thì chủ quyền của họ đối với vùng này vẫn không thay đổi. Ðiều quan trọng hơn là một hành động thử nghiệm phản ứng của các nước láng giềng với Việt Nam và của Hoa Kỳ.

Sở dĩ Nhật Bản và Philippines lên tiếng ủng hộ Việt Nam vì họ cũng là nạn nhân đồng cảnh ngộ, nên thừa cơ hội, tố cáo Trung Quốc lộng hành. Hai quốc gia này cũng biết chắc Trung Quốc không dám động tới mình vì có đồng minh Hoa Kỳ công khai tuyên bố sẽ bảo vệ nếu họ bị tấn công.

Tóm lại Trung Quốc đang cần tài nguyên khổng lồ dưới đáy biển Hoàng Sa và Trường Sa để vương lên thành cường quốc số một, trong khi Hoa Kỳ đang yếu dần vì hai trận chiến Afganistan và Iraq.

Dù vậy mặc lòng ngày 29 tháng 5, 2014, Tổng Thống Barak Obama vẫn tuyên bố tại học viện quân sự West Point: “Mỹ sẵn sàng đáp trả, hành động gây hấn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng trên biển... Mỹ cần phải dứt bỏ chính sách đứng ngoài cuộc và quân đội Mỹ phải chuẩn bị cho những cuộc khủng hoảng... Những hành động gây hấn trong khu vực dù ở miền Nam Ukraine hay biển Nam Trung Hoa, hoặc bất cứ nơi nào khác trên thế giới, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến các đồng minh của chúng ta và có thể lôi cuốn quân đội chúng ta can dự.” Ông Obama còn nói thêm, “Tôi muốn nhắc lại một nguyên tắc mà tôi đã đặt ra từ khi nhậm chức tổng thống: Hoa Kỳ sẽ sử dụng quân đội, đơn phương nếu cần thiết, nếu cần cho lợi ích cốt lõi của chúng ta.” Ông cả quyết Mỹ sẽ lãnh đạo, tuy nhiên sẽ dựa trên “hành động mang tính tập thể” với đồng minh.

Ngày 30 tháng 5, 2014, bộ trưởng quốc phòng 3 nước Nhật Bản, Australia và Mỹ đưa ra một tuyên bố chung phản đối mưu đồ có mục đích thay đổi hiện trạng bằng vũ lực.

Tại Shangri-La ngày 1 tháng 6, 2014, tổng trưởng Quốc Phòng Mỹ ông Chuch Hagel xác định quan điểm của Tổng Thống Obama. Ông Hagel nói: “Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã thực hiện các hành động đơn phương, gây mất ổn định và đòi hỏi chủ quyền ở biển Ðông. Mỹ sẽ không làm ngơ khi các nguyên tắc cơ bản của trật tự quốc tế bị thách thức.”

Những lời tuyên bố rõ ràng, mạnh dạn của tổng thống và bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ khiến Trung Quốc phải giật mình lo ngại và phản ứng qua lòi tuyên bố của Trung Tướng Vương Quang Trung, phó tổng tham mưu trưởng quân giải phóng Trung Quốc, rằng: “Những lời phát biểu trên đây chứa đầy sự bá quyền, khiêu khích, đe dọa, một sự hăm dọa hoàn toàn không mang tính xây dựng, hơn nữa lại công khai chỉ trích đích danh Trung Quốc. Những kiểu cáo buộc này là hoàn toàn vô căn cứ, không có lý lẽ.” Tướng Vương Quang Trung công khai tố cáo hai nước đồng minh Mỹ-Nhật đã cùng nhau khiêu khích Trung Quốc...

Trong khi đó Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe chiếm diễn đàn Shangri-La, đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Châu Á, còn gọi là Ðối Thoại Shangri-La lần thứ 13, Ông Abe tuyên bố: “Nhật Bản sẽ đóng vai trò và chủ động lớn hơn trong việc duy trì hòa bình tại Châu Á và thế giới. Nhật Bản và đồng minh Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác cùng ASEAN trong việc thúc đẩy hòa bình tại khu vực.” Ông so sánh những hành động của Trung Quốc ở biển Ðông và việc Nga xâm chiếm bán đảo Crimea, ông cho rằng tình hình giống như trước khi xảy ra Thế Chiến Thứ Nhứt.

Ngoài ra ông cho biết Nhật Bản sẽ đào tạo 250 người Philippines, Indonesia và Malaysia về việc bảo vệ bờ biển. Ðồng thời ông Abe đang thúc đẩy việc chỉnh sửa điều 9 Hiến Pháp Nhật Bản cho phép Tokyo thực hiện quyền tự vệ tập thể và hỗ trợ quân sự cho các nước cần sự giúp đỡ khi bị tấn công. Báo chí Trung Quốc tố cáo thủ tướng Nhật Bản làm loạn ở Châu Á.

Có thể nhận xét một bên là tổng thống Mỹ nói, sẽ “hành động mang tính tập thể” với đồng minh. Một bên khác thủ tướng Nhật tuyên bố, sẽ đóng vai trò và chủ động lớn hơn trong việc duy trì hòa bình tại Châu Á và thế giới. Phải chăng là hai cường quốc Mỹ-Nhật đã thỏa thuận chia nhau vai trò gìn giữ an ninh hòa bình trên thế giới. Nhật Bản là tai mắt và sức mạnh kềm chế Trung Quốc ở Á Châu, Mỹ và đồng minh Âu Châu phụ trách việc đối đầu với Nga, một phần tử chính của công sản Liên Xô còn sót lại. Cái thế của đồng minh Mỹ Nhật ở Á Châu còn có thêm sự hỗ trợ của Ðại Hàn, Úc Châu và Ấn Ðộ.

Riêng phần Trung Quốc chuẩn bị đương đầu với Mỹ chỉ còn cách kết hợp với Nga là đồng minh cộng sản ngày trước. Ðể chứng minh tình hữu nghị đó và đồng thời cũng tỏ cho thế giới biết Nga-Tàu là một, ngày 26 tháng 5, 2014, Bắc Kinh cùng với Moscou diễn tập quân sự chung trên biển Hoa Ðông, bắn đạn thật.

Tình hình chính trị quốc tế ngày nay cho thấy hai khối đối đầu nhau không còn là Hoa Kỳ và Liên Xô như thời Chiến Tranh Lạnh trong thế kỷ 20, mà chiến tranh lạnh, hay có thể nóng, trong tương lai sẽ xẩy ra giữa hai tập đoàn Mỹ-Nhật đương đầu với Nga-Tàu, đang giành nhau quyền áp đặt một trận tự thế giới mới cho thế kỷ 21.

Posted: Tue Jun 10, 2014 5:52 am
by dailien
Mất nước là chết

Sương Quỳnh -

Sáng nay 8-6-2014 các bạn trẻ khoảng 10 người tổ chức nhặt rác ở công viên Tao Đàn - SG, công việc này các bạn trẻ đã âm thầm làm cách đây vài tháng với mục đích làm sạch môi trường và nâng cao ý thức người dân đừng xả rác. Mình đến thì các bạn đã bắt đâu. Hôm nay nhóm “nhà đài” xin nghỉ, thế nhưng đã có một loạt “phó nhòm” tự nguyện thay thế và "truyền hình không trực tiếp” quay phim.

Nhóm mình 3 người, mình, Duy và một cậu bé khỏang 10 tuổi tên Minh. Rất vui là đi đến đâu cũng có người nhìn theo với con mắt vui vẻ, thiện cảm chào hỏi và cám ơn rất chân thành. Tuy nhiên đến góc nào cũng có AN chìm và nổi theo rất sát.

Một lúc sau, có 3 nhân viên bảo vệ xuất hiện, một ông đi theo nói: "Khu vực công viên đã có người thu dọn rác, đề nghị các chị không làm nữa”. Người dân ngồi quanh đó rất ngạc nhiên với lời nói của nhân viên bảo vệ, họ chăm chú nhìn.

Tôi trả lời: Chúng tôi nhặt rác là tự nguyện, làm sạch mội trường và nâng cao ý thức cho người dân đừng xả rác, sao lại cấm? Vả lại quyền chúng tôi thì chúng tôi cứ làm, luật pháp nào cấm nhặt rác?

Ông này không trả lời được, đành chạy xe về phía hai người kia. Đến cuối công viên thì gẫn như nhóm gặp nhau đầy đủ, thấy cũng đã xong việc, chúng tôi đi ra hướng cửa nơi gửi xe. Một nhân viên bảo vệ lại gần tôi nói vẻ thanh minh: Các chị đừng nhặt rác nữa, không người ta khiển trách chúng tôi không làm vệ sinh sạch sẽ, thông cảm đi, chúng tôi làm thế cũng vì cơm gạo cả thôi. Vả lại ngăn cấm các chị như thế này là lệnh trên, chúng tôi phải chấp hành thôi.

Tôi nhìn ông này cười đầy thông cảm và nói: Anh có biết tiền các anh lãnh là tiền thuế của dân không? Vậy, dù đúng là vì cơm gạo áo tiền thì cũng hãy vì dân mà phục vụ chứ. Hãy nghĩ rằng chúng ta là đồng bào của nhau thì phải giúp nhau chứ?

Tôi nhìn thẳng vào mắt anh này đầy cương quyết. Anh bảo vệ này lặng thinh, tôi vỗ vỗ vào vai anh ta mấy cái như lời nhắc nhở, rồi đến chỗ các bạn trẻ đang tập trung gom rác đi vứt và cất dụng cụ.


Lúc này bỗng xuất hiện một bạn gánh một gánh những bình thủy đựng nước trà xanh và trái cây tới, chúng tôi vui mừng cười reo. Nhóm nhân viên bảo vệ lúc này đã lên tới 5 người đứng gần đó quay phim chụp hình và ngăn cản bạn này không cho để gánh nước xuống cho chúng tôi uống. Bắt đầu lớn tiếng với nhau, bạn này rút ngay hai bảng viết chữ: “ MẤT NƯỚC LÀ CHẾT” “ NƯỚC NHÀ KHÔNG BÁN - chỉ mời lấy thôi” và nói: Tôi có buôn bán gì đâu, sợ mọi người làm mệt bị mất nước thì tôi mang đến cho mọi người uống đỡ khát chứ có làm sao?

Rồi 2 -3 người bảo vệ xúm lại đòi tịch thu mấy biểu ngữ, bắt bạn này về văn phòng. Bạn “Mất Nước Là Chết” kiên quyết: Mấy từ này có gì là phản động? là nhạy cảm? Các ông trả lời tôi xem nào?

Một sự giằng co quyết liệt. Tôi nói: các anh muốn mời hay muốn bắt phải có giấy tờ đàng hoàng, Các anh có tư cách gì mà bắt?

Cuộc “kéo co” mất khoảng 5-10 phút, có cả một bác gái và một vài người xung quanh xúm vào giúp và nói: Người ta mang nước vô uống chứ bán buôn gì mà đòi bắt?

Bác này đẩy bạn “Nước Nhà Không Bán” đi ra phía đường. Cuối cùng thì “cả cụm” phải sang bên kia đường nghỉ mệt và uống nước. Nhiều người dân cũng vây quanh và xin nước uống và góp chuyện.

Một bác trai khoảng hơn 60 tuổi nói chuyện với chúng tôi rất sôi nổi: Mấy bảo vệ này hết chuyện làm rồi đi làm cái chuyện ruồi bu. Tôi thấy chị nói “ bắt phải có giấy tờ” là đúng. À! Hóa ra bác này đã theo dõi sát chúng tôi từ bên kia đường kia đấy, bậy giờ theo luôn sang đây góp chuyện. Bác ấy nhìn mấy chữ viết trên biểu ngữ nói: “có gì mà phản động với mấy từ này? Nghĩa trắng hay nghĩa đen đều đúng, chỉ có bọn bán nước mới thấy biểu ngữ này là “phản động”.

Chúng tôi vui quá khi thấy dân hiểu cả, tay rót nước mời, miệng kể chuyện bà con bị cướp đất đói khổ, ngư dân bị đâm chìm tàu, bị bọn Tàu nó cướp, nó giết trên vùng biển của mình, tại sao không lo an ninh cho đất nước cho dân, mà lại đi đuổi những người nhặt rác và làm việc tốt cho xã hội? NHỞ.

Tất cả đi về khi quá nhiều bảo vệ và AN “chìm chìm” đứng canh. Mình đi về, mặc dù trời rất nắng, vậy mà vẫn cứ thích lượn phố nọ sang phố kia lung tung rồi mới về đến nhà. Chắc cũng “dở người” rùi.

Sương Quỳnh
Facebook

Posted: Wed Jun 11, 2014 4:42 am
by thienthanh
Vụ giàn khoan: TQ tố cáo VN ra LHQ

BBC - Trung Quốc đã đưa tranh cãi với Việt Nam xung quanh việc họ đặt giàn khoan trên Biển Đông ra Liên Hiệp Quốc hôm thứ Hai ngày 9/6, hãng tin Mỹ AP tường thuật từ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York.

Theo đó, Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội ‘xâm phạm chủ quyền’ của họ và ‘cản trở một cách phi pháp’ hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Trung Quốc.

Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Vương Minh đã gửi ‘thư bày tỏ lập trường’ của họ về hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông đến Tổng thư ký Ban Ki-moon hôm 9/6 và yêu cầu người đứng đầu tổ chức này cho lưu hành đến tất cả 193 quốc gia thành viên của Đại hội đồng.

Trong văn bản này, Trung Quốc nói đã có bốn công dân Trung Quốc ‘bị giết hại dã man’ và hơn 300 người bị thương trong các cuộc bạo loạn ở Việt Nam.

Lá thư cho biết Công ty dầu khí Hải dương quốc gia Trung Quốc đã có các hoạt động thăm dò địa chất ở khu vực này trong vòng 10 năm qua và việc đưa giàn khoan ra đây chỉ là ‘sự tiếp tục công việc thăm dò thường xuyên’ và giàn khoan này ‘nằm hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc’.

Bắc Kinh nói Hà Nội đã cản trở hoạt động của giàn khoan ‘một cách phi pháp và cưỡng ép’ với việc điều tàu có vũ trang ra khu vực và đâm tàu Trung Quốc.

“Việt Nam cũng triển khai người nhái và các thiết bị hoạt động dưới nước ra vùng biển này và thả xuống biển rất nhiều chướng ngại vật bao gồm lưới cá và các vật trôi nổi,” lá thư viết.

Văn bản lên án các hành động của Việt Nam ‘đã xâm phạm chủ quyền Trung Quốc’, ‘đe dọa nghiêm trọng đến các công dân Trung Quốc đang làm việc trên giàn khoan và vi phạm luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển’.

Trung Quốc cũng đưa ra nhiều dẫn chứng chứng minh quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa ‘là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc mà không có bất kỳ tranh chấp nào’.

AP đã tìm cách gọi cho phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và phát ngôn nhân của nước này để hỏi về phản ứng nhưng không có ai trả lời.

Trước đó, phái bộ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã gửi thư cùng công hàm lên Tổng Thư ký Ban Ki-moon để phản đối giàn khoan và các tàu hộ tống của Trung Quốc ‘trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam’.

BBC

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam ... o_un.shtml

Posted: Mon Jun 16, 2014 4:39 am
by thienthanh
Theo ‘đảng quang vinh,’ lâm nguy vận nước
J.B. Nguyễn Hữu Vinh (Blog RFA)


Theo dõi các sự kiện hơn một tháng qua, kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, người ta thấy ở đó có đủ sắc thái bi hùng, kiêu hãnh, bạc nhược, hèn hạ và hài hước... Có những điều người ta ngờ ngợ từ lâu, nay bạch hóa trước ánh sáng, có những điều người ta lấp lửng từ lâu, nay huỵch toẹt trước thiên hạ, có những điều người ta lên án, bàn luận âm thầm từ lâu, nay người ta kết luận công khai.

Tất cả cho thấy nhiều điều mà câu hò xứ Nghệ xa xưa đã nói: “Rằng qua cơn hoạn nạn, mới hiểu tận lòng nhau.”

Cơn hoạn nạn

Ðất nước Việt Nam đang trải qua một cơn hoạn nạn khốc liệt.

Cơn hoạn nạn bắt nguồn từ một nền chính trị độc đảng, độc trị độc tài vẫn tồn tại trên đất nước này đã quá lâu, gây bao nhiêu hệ lụy và đã tự chứng tỏ mình không đủ khả năng đưa đất nước đi lên theo chiều tiến bộ mà thậm chí ngược lại. Dù vẫn luôn tự vỗ ngực xưng xưng là đỉnh cao trí tuệ nhân loại là đội quân tiên phong nhưng họ đang đi vào một cuộc khủng hoảng chính trị toàn diện. Ở đó, họ chứng tỏ sự khủng hoảng lớn về tư tưởng, lý luận và nhân sự.

Gần một trăm năm ru ngủ dân tộc này đi theo “con đường ánh sáng của đảng” về Thiên đường Chủ nghĩa Xã hội. Với cái lý thuyết huyễn hoặc rằng là Chủ nghĩa Xã hội sẽ thắng CHTB ở năng suất lao động, rằng là CHTB là đêm trước của Chủ nghĩa Xã hội, rằng là Chủ nghĩa Xã hội là khoa học của mọi khoa học và ở đó không có người bóc lột người... rồi hô hào nào là “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội, hoặc “Ði tắt, đón đầu” v.v... Ðể rồi cuối cùng muốn về số 0 lại phải một quá trình dài sau đó. Nay thì các đời tổng bí thư nói huỵch toẹt là cái Chủ nghĩa Xã hội mà luôn được vẽ ra một cách công phu, tốn kém và ảo tưởng đẹp đẽ kia ấy, nó chưa rõ ràng là đầu cua tai nheo nó ra sao, mà “sẽ dần dần sáng rõ” (Nông Ðức Mạnh) hoặc “Ðến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” (Nguyễn Phú Trọng). Thế nhưng, họ vẫn quyết không từ bỏ việc đưa cả dân tộc này làm vật thí nghiệm, một loại thí nghiệm mà cả loài người đã vứt bỏ 1/4 thế kỷ nay bởi chắc chắn sẽ thất bại.

Không chỉ khủng hoảng về tư tưởng, lý luận, đảng CS hôm nay khủng hoảng nặng nề về nhân sự. Ðã 2/3 thế kỷ đảng xây dựng “con người mới XHCN”, lớp người hôm nay lãnh đạo đất nước, đều là lớp người đã ưỡn ngực tự hào là “thế hệ Hồ Chí Minh, là con cháu bác Hồ.” Thế nhưng, tham nhũng từ những con sâu, nay là một bầy sâu, tha hóa từ là hiện tượng cá biệt, đã trở thành hiện tượng bình thường và thậm chí là phổ biến với “một bộ phận không nhỏ” dù đảng không muốn nói thẳng ra là phần lớn. Vì thế, ngay cả chân thủ tướng lãnh đạo chính phủ với nhiều những sai lầm, bao hậu quả, cuối cùng khi bị đặt vấn đề từ chức đã chỉ thẳng vào mặt Ðảng mà rằng: “Tôi không biết, đảng bảo làm thì tôi làm.” Hết chỗ nói.

Cơn khủng hoảng chính trị đã đẩy sự tín nhiệm của người dân vào lực lượng tự xưng này đến cuối đường hầm.

Và khi sự tín nhiệm của người dân xuống thấp nhất, thì ngón đòn bạo lực được sử dụng để thể hiện bản chất cái gọi là “chuyên chính vô sản” rõ nét nhất. Bạo lực xảy ra tràn lan trong xã hội, nhiều nơi côn đồ kết hợp công quyền để đàn áp người dân. Một xã hội luôn được tự ca ngợi ổn định, hòa bình, hạnh phúc đến tận... thứ 2 thế giới, nhưng người dân luôn khủng hoảng lòng tin vào mọi mặt cuộc sống.

Bắt nguồn từ tư duy lãnh đạo, một nền kinh tế Việt Nam què quặt, phụ thuộc và lâm vào miệng hố của sự mất ổn định. Nguồn gốc sâu xa từ một thể chế chính trị độc tài cộng sản đã dẫn nền kinh tế theo đường lối “kinh tế Thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa” chẳng giống ai. Ở nền kinh tế XHCN đó, không những đã không “tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn” như họ thường dạy dỗ rêu rao trong cái bộ môn Kinh tế Chính trị Mác-Lenin. Ngược lại, lực lượng lao động được sử dụng chỉ 30% tổng số nhân lực bộ máy, phần còn lại 70% ăn bám, đó chính là sản phẩm của chế độ kinh tế thị trường XHCN đã đưa lại hậu quả khủng khiếp cho nền kinh tế mà không một nguồn lực nào cáng đáng nổi.

Cơn hoạn nạn cũng bắt nguồn từ nạn thâm thủng ngân sách do tham nhũng, phá hoại và đặc biệt là những dự án bởi “Chính sách lớn của đảng” đã để lại những hậu quả khủng khiếp không chỉ cho kinh tế, môi trường, an ninh quốc phòng mà trực tiếp tác động đến đời sống người dân. Ðến mức Việt Nam đã phải đào khoáng sản thô bán vẫn lỗ mà vẫn cứ bán.

Ở các nước xung quanh, những sự kỳ thị người Việt diễn ra ngày càng nhiều. Người Việt thuộc thế hệ Hồ Chí Minh ở nước ngoài đã thi nhau “lập thành tích” trong các vụ vi phạm pháp luật nước sở tại và tạo nên những hình ảnh đáng xấu hổ trong con mắt bạn bè, trong các vụ việc làm ăn, đầu tư và cuộc sống với nạn trộm cắp, đĩ điếm, thiếu văn minh, lịch sự tối thiểu.

Trên thế giới, trước con mắt anh em, bạn bè, vị thế của Việt Nam dần dần tụt xuống hàng cuối về các chỉ tiêu tự do, nhân quyền. Hàng năm, thế giới phải nhắc nhở nhà nước VN cần tôn trọng các quyền cơ bản của con người của chính người dân đất nước mình. Công dân Việt Nam được sử dụng như những con tin cho chính nhà nước đổi lấy các hoạt động làm ăn, hội nhập.

Và trong cuộc khủng hoảng không lối thoát đó của những người cộng sản, thì đất nước lâm vào một cơn hoạn nạn mới: Nạn xâm lăng từ Phương Bắc.

Kết quả là khi Việt Nam lâm nạn, ngoảnh đi, ngoảnh lại trước sau thì nhà nước Việt Nam không có một bạn bè, đất nước cô đơn giữa những nguy biến.

Ðảng “quang vinh” - nguy vận nước

Nạn xâm lấn, và bành trướng của ngoại bang phương Bắc có từ ngàn đời nay, nó cũng như bão, như lũ lụt, như nắng hạn mưa rào, nghĩa là cứ đến mùa lại đến. Cái tâm địa bành trướng của người Phương Bắc cha ông ta đã nói lại cho con cháu rõ xưa nay, mỗi người dân Việt đã ngấm vào máu vào thịt, rằng nó cũng như dịch bệnh, cứ sơ hở là nó cắn. Cũng chính vì thế mà dòng máu trung dũng chống xâm lăng từ phương Bắc đã được lưu truyền và luôn chảy trong huyết quản người Việt xưa nay, chưa bao giờ nguội tắt.

Ðiều tệ hại nhất, là “đảng lãnh đạo” đã xác định kẻ thù của đất nước, dân tộc này là bạn “16 chữ vàng và 4 tốt” của mình. Ðây chính là nguyên nhân chính đã tạo nên cơn đại hoạn nạn của đất nước hôm nay. Chính thái độ, cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam thời gian qua đã thể hiện một điều: Trong giai đoạn này, những bi đát, gian nan của vận nước càng tăng lên gấp bội.

Không chỉ hôm nay, mà giai đoạn gần đây, những hành động của đảng Cộng sản và nhà nước CSVN đối với Trung Quốc chỉ thể hiện thành công một điều: Sự lệ thuộc, khiếp nhược đến hèn hạ. Mọi hành động, giao tiếp giữa hai quốc gia độc lập đã bị biến dạng đến thảm hại. Trong khi bọn bành trướng ngày càng lộng hành, ngang ngược đối với thể diện đất nước, đối với lãnh thổ của Tổ quốc, thì đảng luôn chỉ đạo ngậm miệng làm thinh. Chẳng những thế, tất cả những tiếng nói của người dân thể hiện sự ưu tư trước hiện tình đất nước, trước tương lai và nguy cơ của lãnh thổ của Tổ quốc, đều được Ðảng ưu tiên xếp vào thế lực thù địch.

Cũng dưới sự “lãnh đạo tuyệt đối của Ðảng CSVN,” người dân dần dần được đưa vào con đường nô lệ Trung Quốc về kinh tế, văn hóa và chính trị.

Mọi thứ hàng hóa tiêu dùng đều là Trung Quốc chi phối, từ miếng thực phẩm, từ món hàng tiêu dùng cho đến tấm bản đồ in hình lưỡi bò treo trong phòng các quan chức... tất cả đều được Trung Quốc cung cấp. Hàng hóa tràn ngập với đầy đủ độc tố để làm suy kiệt giống nòi ta về thể lực và tinh thần.

Về mặt văn hóa, báo chí, tivi tràn ngập phim Tàu, tin Trung Quốc. Báo chí đưa tin Trung Quốc cứ như đưa tin nhà mình. Thậm chí, tờ báo Ðảng Cộng sản còn để bản tin ghi rõ Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc. Trong khi tờ báo viết về biển đảo Việt Nam thì phải đình bản, người in áo chống đường lưỡi bò, người biểu tình yêu nước thì vào tù. Trong khi lịch sử Việt Nam cố tình bị quên lãng, xuyên tạc, những chi tiết lịch sử liên quan đến bọn xâm lăng bị biến tướng, bóc gỡ, che giấu một cách nhục nhã. Học sinh Việt Nam dần dần quên lịch sử Việt Nam để nhớ lịch sử Tàu.

Người dân Việt Nam không thể quên những năm tháng tủi hổ, chỉ cần nhỡ miệng, chỉ cần mặc chiếc áo có dòng chữ Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, chỉ cần viết, nói về biển, đảo của Tổ quốc, thì y như rằng có chuyện với bộ máy công an “còn đảng, còn mình.” Nhẹ, thì phiền toái, đánh đập, bắt giữ, nặng thì vào trại giam.

Về mặt thể diện quốc gia, đón Tập Cận Bình, đảng đã cho gắn thêm một ngôi sao chư hầu trên lá cờ Tàu Cộng. Ðiều này làm ngỡ ngàng cả đất nước, cả dân tộc... Người dân, dù đã chứng kiến sự hèn hạ của cả bộ máy nhiều lần cũng không thể ngờ được não trạng nô lệ đã đến mức đó.

Có thể nói, chưa có giai đoạn lịch sử nào, đất nước Việt Nam, người dân Việt Nam chịu nhục nhã bởi thái độ đê hèn trước ngoại xâm của những người tự xưng lãnh đạo đất nước như thời gian qua, họ tưởng vậy là sẽ được yên với quan thầy. Miệng lưỡi tuyên truyền của họ là “Việc biển đảo đã có đảng và nhà nước lo.” Nhưng chưa hết, bọn cướp có bao giờ chùn tay, bọn bành trướng có khi nào dừng lại.

Dù dã tâm xâm lược của kẻ thù đã rõ, hành động xâm lăng của kẻ thù đã diễn ra khốc liệt hết sức ngang ngược và bạo lực thì những người tự xưng là lãnh đạo, là trí tuệ, là sức mạnh “bách chiến bách thắng” đã thể hiện sự khiếp nhược của mình, luôn mồm gọi kẻ thù là bạn, là anh em, là đồng chí, là bạn vàng... nhằm tiếp tục ôm chân quân xâm lược.

Khi Hoàng Sa, một phần Trường Sa đang nằm dưới gót giày quân xâm lược Phương Bắc, những người dân tưởng nhớ đến các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vi lãnh thổ thiêng liêng đảng đã cho phá đám bằng mấy đứa công an cầm loa và “cắt đá” bằng một bầy đàn bà nhảy đầm trước tượng tiền nhân và bao trò mạt hạng hèn hạ khác...

Khi những người yêu nước còn trong tù, những màn đấu tố người yêu nước còn chưa ráo mực, chưa hết những tiếng vang chói tai của những con nộm rơm lên án người yêu nước, thì nhà nước đang lo mải miết đi “cưỡng chế, thu hồi” đất đai, tài sản của nhân dân từ ngàn đời nay để lại bằng những biện pháp bạo lực và bất nhân.

Khi lãnh thổ Tổ quốc bị xâm lược, còn nằm dưới gót giày quân xâm lược, thay vì động viên toàn dân toàn quân chung sức chung lòng bảo vệ non sông, thì đảng kêu gọi quân đội trung thành với đảng và chống “diễn biến hòa bình.” Thậm chí đưa quân đội đi “chống diễn biến hòa bình,” đi cưỡng chế đất đai của dân cho đảng.

Thậm chí, khi giặc hung hãn vào tận nhà, cắm giàn khoan, đâm thủng tàu bè của lực lượng chấp pháp VN, giết chết ngư dân trên biển Việt Nam, sau một tháng đã có gần 30 cố gắng đàm phán từ phía Việt Nam, tất cả đều bị Trung Quốc bỏ ngoài tai. Ðến mức đó, đảng vẫn cứ ngậm thinh và bộ trưởng Quốc Phòng vẫn kiên quyết “không để xảy ra xung đột.” Thương thay cho ông ta, việc xảy ra xung đột không nằm ở ý muốn của ông ta và cái đảng CS của ông. Cách duy nhất để không phải xung đột, chỉ có trói tay để tự xin hàng khi giặc đến.

Khi mà đất nước VN đang có một bộ máy cai trị đã rệu rã, ươn hèn và bạc nhược. Khi mà tình trạng đất nước đã vào tình trạng: “Trong ngoài lục đục, trên dưới không yên, thiên hạ bất đồng, nhân tâm ly tán.” Bọn bá quyền biết và thấy rõ cơ hội vạn năm có một đã đến. Có lẽ chưa bao giờ việc thực hiện mộng bá quyền Ðại Hán có điều kiện thuận lợi như giai đoạn hiện nay.

Và vận nước đã nhanh chóng chuyển qua giai đoạn mới: Tổ quốc bị xâm lăng.

(Hà Nội, ngày 12 tháng 6, 2014)

Posted: Wed Jun 18, 2014 7:57 am
by hoanghoa
Image

Suy tư nhân ngày mất của anh hùng Nguyễn Thái Học –
Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng


Nguyễn Chí Đức
-



... Nếu vào những năm 1946 kể cả Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… những người yêu nước mà không theo quan điểm của Cộng Sản nếu còn sống cũng sẽ bị thủ tiêu nếu không họ sẽ bị khống chế, triệt hạ chỉ còn có cách vào Nam mà thôi. Nếu họ ở lại miền Bắc thì bắt buộc phải vào các hội đoàn do Đảng Lao Động (ĐCSVN) dựng lên hoặc giả phải chết dần chết mòn trong đau khổ vì không thể thực hiện tâm nguyện, hoài bão của mình cho dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên lịch sử không bao giờ có chữ “Nếu”!

Chỉ vì muốn “Độc bá” mà ĐCSVN không những tàn độc với các đảng phái yêu nước khác mà ngay trong đồng chí của mình cũng tàn độc không kém kể từ khi ĐCSVN ra đời năm 1930 cho đến nay. Điều này lịch sử đã chứng minh qua các sự kiện và hi vọng sẽ còn được tiếp tục bạch hóa qua những cựu ủy viên BCT, TW của ĐCSVN phản tỉnh đứng về dân tộc...

*

Cách đây 2 tuần, một người bạn tên là Nguyễn Tiến Nam nhắn tin cho tôi biết ngày 17-6 là ngày mất của nhà cách mạng, anh hùng Nguyễn Thái Học. Không rủ được ai, cuối tuần tôi dong duổi xe máy lên thành phố Yên Bái chủ đích đến viếng khu lăng mộ Nguyễn Thái Học. Thật ra thì tôi cũng đi qua Tp.Yên Bái vài lần nhưng chỉ là đi ngang qua trên lộ trình thăm thú đó đây ở những địa danh, khung cảnh nên thơ, hùng vĩ của miền Tây Bắc Việt Nam.

Thành thực mà nói nếu Tiến Nam không nhắc nhở thì tôi cũng không biết, nhưng không phải chỉ có mình tôi lãng quên mà phần lớn mọi người ít ai chú ý, đặc biệt dân ở Yên Bái cũng không có tổ chức lễ lạt, cũng chỉ là một ngày bình thường như bao ngày mà thôi.

Cũng thành thực mà nói hiện nay ở Việt Nam trong sinh hoạt chính trị chỉ duy nhất có đơn đảng hoạt động là ĐCSVN, nếu đa đảng chắc chắn tôi sẽ nộp đơn xin gia nhập đảng phái nào có thiên hướng quốc gia. Không những thế nếu có điều kiện, sức khỏe tôi sẽ đi vận động (chiêu hồi) những anh-em là đảng viên ĐCSVN nhưng có tư tưởng dân tộc mạnh mẽ cùng tham gia. Cố nhiên đến lúc đó những đảng phái dân chủ, xã hội, những liên đoàn bảo vệ quyền lợi của các nhóm đối tượng người lao động cũng sẽ xuất hiện, những hội đoàn cải cách xã hội có màu sắc tôn giáo cũng sẽ có chỗ đứng để phát huy ảnh hưởng.

Lần giở những trang lịch sử về cuộc đời của anh hùng Nguyễn Thái Học, người sáng lập và là Đảng Trưởng của Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) phải nói Ông là người rất có hùng tâm-đại chí, cương cường quả cảm, tình cảm yêu nước mãnh liệt, có viễn kiến mặc dù đang tuổi thanh niên. Cố nhiên vì nhiều lý do như nhân sự, tổ chức không chặt chẽ, bối cảnh trong nước – quốc tế chưa thuận lợi, nôn nóng gấp gáp cho nên cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo đã thất bại khiến cho nhân sự của Đảng này bị tổn thất lớn và cuối cùng đã bị Việt Minh thanh toán trong vụ án Ôn Như Hầu vào tháng 7/1946 kể từ đây vai trò chính trị của VNQDĐ đã hoàn toàn chấm dứt ở miền Bắc. Không riêng gì VNQDĐ mà một số lãnh tụ đảng phái/tôn giáo yêu nước vào giai đoạn đó cũng bị mất tích một cách đầy bí ẩn.

Cách đây mấy năm, 1 người bà con của tôi là đảng viên ĐCSVN có nhận xét đáng nhẽ ra lịch sử Việt Nam phải có 1 người tầm cỡ như cụ Phan Bội Châu/Phan Chu Trinh làm lãnh tụ, tổng thống thì dân tộc sẽ giảm bớt nạn binh đao, đất nước đã phú cường, thực sự dân chủ từ lâu rồi. Nhưng tôi có nhận xét khác: nếu vào những năm 1946 kể cả Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… những người yêu nước mà không theo quan điểm của Cộng Sản nếu còn sống cũng sẽ bị thủ tiêu nếu không họ sẽ bị khống chế, triệt hạ chỉ còn có cách vào Nam mà thôi. Nếu họ ở lại miền Bắc thì bắt buộc phải vào các hội đoàn do Đảng Lao Động (ĐCSVN) dựng lên hoặc giả phải chết dần chết mòn trong đau khổ vì không thể thực hiện tâm nguyện, hoài bão của mình cho dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên lịch sử không bao giờ có chữ “Nếu”!

Chỉ vì muốn “Độc bá” mà ĐCSVN không những tàn độc với các đảng phái yêu nước khác mà ngay trong đồng chí của mình cũng tàn độc không kém kể từ khi ĐCSVN ra đời năm 1930 cho đến nay. Điều này lịch sử đã chứng minh qua các sự kiện và hi vọng sẽ còn được tiếp tục bạch hóa qua những cựu ủy viên BCT, TW của ĐCSVN phản tỉnh đứng về dân tộc.


Sở dĩ tôi tóm lược sơ sơ những gì tôi hiểu/phân tích về lịch sử VNQDĐ ở trên vì hiện nay điều này vẫn được thể hiện một cách bàng bạc đâu đó nhưng những điều mà tôi được biết sau đây:

Dò hỏi một số người dân địa phương một cách ngẫu nhiên, tôi được biết trước đây Việt Kiều (hậu duệ của các tiền bối VNQDĐ) muốn mang tiền về xây dựng khu lăng mộ, công viên tưởng niệm Nguyễn Thái Học và các đ/c của VNQDĐ bị xử chém cho khang trang hơn nhưng chính quyền không đồng ý. Trong khi chính quyền chẳng màng huặc giả không có tiền xây dựng, trùng tu công viên cho hoành tráng, thậm chí không có lời giới thiệu lịch sử để học sinh tìm hiểu nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, bất khuất của các tiền nhân. Lăng mộ – Tượng đài Nguyễn Thái Học chỉ là nơi hữu ích cho dân chích choác, xì ke ma túy tác túc vào ban đêm.

Còn chỗ mà anh hùng Nguyễn Thái Học bị chém lại ở một nơi khác, chỉ là 1 cái miếu nhỏ đơn sơn nằm trong khuôn viên của một Cty Chè nào đó, sau lưng cái miếu là nhà thờ Yên Bái. Thế hệ trẻ Việt Nam sau này rồi sẽ lãng quên những anh hùng như Nguyễn Thái Học mà thay vào đó là những thần tượng ngoại quốc như các nam/nữ ca sĩ xinh đẹp K-Pop của Hàn Quốc, các nam/nữ người mẫu chân dài đầy quyến rũ, sành điệu-hàng hiệu nhưng cũng đầy bạc nhược về bản lãnh và kiến thức Việt Nam. Nguyên nhân sâu xa không phải lỗi của thế hệ trẻ nhưng là lỗi tại ai?

Một số người dân có hiểu biết do tìm hiểu lịch sử hoặc do cha mẹ là dân thổ địa ở Yên Bái thì họ hiểu Nguyễn Thái Học là một nhà cách mạng, một anh hùng dân tộc chứ không chỉ thuần túy là một Liệt Sĩ thông thường như nhiều đài tưởng niệm Tổ quốc ghi công các liệt sĩ mà chủ yếu là quân nhân của QĐNDVN.

Buồn cười nhất là tôi có hỏi 1 người đàn ông "Nếu Nguyễn Thái Học thành công thì sao nhỉ?". Anh này nửa đùa nửa thật nói "Nếu thành công thì Việt Nam giờ phải như Hàn Quốc, Đài Loan rồi. Cũng chẳng có Hồ Chí Minh nữa!"

Gây chú ý một cách thích thú cho tôi là một bia đá có dòng chữ:


“Đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ” – Louis Aragon, Nhà thơ Cộng Sản Pháp

Thật trớ trêu tác giả lại là một người Cộng Sản Pháp nhận xét thay cho dân tộc Việt Nam. Thật cay đắng làm sao điều này vẫn có giá trị thời sự, duy chỉ có khác biệt trước đây chính quyền thực dân Pháp bịt miệng dân tộc Việt Nam thì ngày nay chính quyền Cộng Sản Việt Nam bằng cách này hay cách khác đã-đang-và sẽ bóp cổ chính dân tộc mình trước họa ngoại xâm của Tàu Khựa trên các mặt quân sự, kinh tế, văn hóa. Dân tộc đã phải khốn khổ, mòn mỏi chịu đựng hi sinh để ĐCSVN đứng trên vũ đài lịch sử nhưng ngày nay một vài kẻ/nhóm cầm đầu trong ĐCSVN thao túng chính phủ, quốc hội đã mạt sát, dẫm đạp lên chính nhân dân của dân tộc mình.

Chúng mày hãy đi chết đi! Nhưng dân tộc này vẫn bất khuất tồn tại!

Quả thật, ĐCSVN – Đảng mà tôi hiện nay đang là thành viên đang tự chết dần chết mòn (chưa sụp đổ) bởi 2 lẽ:

- Làm thui chột tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam

Cái mà những kẻ cầm đầu trong ĐCSVN muốn níu kéo chẳng qua vì quyền lợi ích kỷ của thiểu số rất nhỏ trong nội bộ. Tôi đã bỏ công chú ý trong nhiều năm và kết luận tình yêu quê hương, đất nước của những nhà lý luận, tư tưởng, tuyên giáo của CSVN rất yếu ớt, nhạt nhòa phản ảnh rõ nét qua những bài lý luận, khẩu ngữ của họ khi phát biểu. Chán ngắt và hô hào suông trái ngược với thực tế đang diễn ra!

- Xa rời với mục tiêu lý tưởng của cộng sản

Không còn tha thiết bảo vệ quyền lợi của nông dân, công nhân, ngư dân; Không còn sôi sục đấu tranh vì bất công xã hội mà do chính hệ thống chính trị của ĐCSVN gây ra cho nhân dân. Cái này rõ như ban ngày, chẳng cần đến những người quan tâm đến xã hội, chính trị, những trí thức/luật sư phải lên tiếng chỉ cần ngẫu nhiên hỏi bất kì một người dân lao động bình thường như bác xe ôm, bà bán hàng rong, anh thợ cắt tóc… sẽ phản ảnh suy tư, tình cảm của người dân đối với Chế độ cầm quyền hiện nay như thế nào.

Cố nhiên trong quá khứ và hiện nay có rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt trong ĐCSVN tuy nhiên họ không đại diện cho những bông hoa tươi thắm do Cộng Sản sản sinh. Tự thân họ là những tinh hoa, bất khuất, anh dũng của dân tộc Việt. Họ đứng trong hàng ngũ của ĐCSVN thì tốt đẹp và có lợi cho Đảng chứ kì thực ĐCSVN không và không thể đào tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, sống vô vụ lợi cho nhân quần, xã hội. Đặc biệt chính ĐCSVN làm thui chột tình yêu quê hương, đất nước, làm tha hóa không những các thành viên cao cấp và hàng triệu đảng viên thường mà làm băng hoại toàn xã hội. Ai mới chuẩn bị gia nhập ĐCSVN đều đầy hoài bão, nhiệt huyết, tâm hồn trong sáng như chỉ một thời gian sau tất cả (bao gồm cả tôi) ít nhiều đều bị tha hóa, chán nản, bị nhồi sọ, bị ám ảnh bởi quyền lực tuyệt đối mà sinh ra tàn độc, thủ đoạn với đ/c của mình nói riêng và dân tộc nói chung.

Một phiến đá khiến tôi không khỏi suy tư đối với những ai đang quan tâm đến vận mệnh dân tộc hiện nay.

Câu thơ “Chết vì tổ quốc Chết vinh quang” mà Nguyễn Thái Học đọc tại pháp trường khi thực dân Pháp xử chém ngày 17/6/1930 thể hiện khí phách can đảm của người anh hùng hy sinh cho đất nước, toát lên thần thái của người tử tù hiên ngang đón nhận cái chết trước mặt kẻ thù. Câu thơ đó cũng làm tôi liên tưởng đến bài thơ “CHẾT” của cụ Phan Bội Châu:

Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.

Tất nhiên thời buổi này đất nước đã thống nhất trọn vẹn thì việc quả cảm hi sinh mạng sống của mình để giành độc lập cho dân tộc là không cần thiết. Dù muốn hay không chúng ta phải thừa nhận công lao và hi sinh của những người Cộng Sản tiền bối đã là tác nhân cuối cùng giành độc lập cho dân tộc, mặc dù như trên tôi đã viết có những việc tàn độc đối với những đảng phái yêu nước khác. Nhưng với quan điểm chính thống của người theo chủ nghĩa dân tộc, với tôi những ai/tổ chức nào đã có công trong việc đánh đuổi ngoại xâm sẽ được lịch sử và người dân tưởng nhớ đời đời. Những ai hoạt động chính trị có ý định tuyên truyền nhằm bôi nhọ, phủ nhận công sức, hi sinh của những người CSVN đời đầu nhằm đề cao tính chính danh của mình theo kiểu “đạp người xuống nhằm tôn mình lên” là những kẻ không lương thiện trong chính trị.

Tuy nhiên không vì thế mà ĐCSVN cứ ngồi lì mãi trên ngai vàng, ăn mày dĩ vãng vào hào quang quá khứ nếu thế có khác chi các triều đại phong kiến khác cũng đánh đuổi quân xâm lược và trị vì cho đến khi suy yếu huặc bị ngoại bang xâm lược, rồi lại tiếp tục một chu trình mới. Trong khi ĐCSVN lúc nào cũng ra rả tuyên truyền về cách mạng, về văn minh, về dân chủ, về tự do.

Còn đối với những người quan tâm đến thời sự, chính trị của Việt Nam thì sao?

Tôi có cảm giác những người muốn thay đổi xã hội hiện nay cho tốt đẹp hơn có lẽ cũng đang lâm vào tình trạng bế tắc, chán nản, chờ thời theo kiểu "trí thức trùm chăn nhưng vẫn vểnh tai nghe ngóng". Tôi nghĩ về trình độ chuyên môn, khả năng phân tích của họ có thừa nhưng bản lãnh dấn thân nhập cuộc thì còn khiêm tốn. Cố nhiên cũng có những nhà hoạt động về dân chủ, trí thức dân thân đã từng phải ngồi tù, bị sách nhiễu nhưng họ không đại diện cho tất cả giới trí thức của Việt Nam đông đến hàng vạn người.

Những người tốt trong ĐCSVN nhất là những thành phần đã về hưu, ít nhiều đã có cống hiến cho chế độ cũng chỉ có thể phản biện suông mà không tác động vào những đối tượng cầm quyền là bậc hậu bối, có khi họ đành phải khuất mắt trông coi, nhắm mắt làm ngơ trước những tiêu cực. Còn những vị đang cầm quyền, tại chức thì thôi đừng mất công phân tích làm gì, TIỀN mới là động lực chính của họ. Có những công việc tưởng như giúp dân, giúp nước nhưng bản chất chỉ là những công việc nghề nghiệp chuyên nghành, sâu xa động lực chính cũng họ chỉ là TIỀN và TIỀN mà thôi.

LỜI CUỐI: Thực sự bài viết của tôi cũng hơi lan man, việc ca ngợi anh hùng Nguyễn Thái Học cũng bằng thừa vì hiển nhiên ai cũng biết nhưng qua bài viết này tôi mong rằng những người quan tâm đến chính trị, xã hội đặc biệt là các trí thức đang còn tại vị, làm việc trong các công sở, xí nghiệp, cao hơn là quan chức trong Chính Phủ/Quốc Hội, những sỹ quan trong các lực lượng vũ trang hãy can đảm và suy tư đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết quyền lợi của phe nhóm, tổ chức đảng (bất luận là đảng nào). Chỉ cần mỗi người can đảm, hi sinh bằng 1/10 anh hùng Nguyễn Thái Học có khi sẽ tác động lớn đến sự biến chuyển của đất nước mạnh mẽ. Mong rằng đến một lúc nào đó khi chúng ta nhìn lại, chúng ta sẽ thấy quyết định của mình là đúng và tự hào vì điều đó huặc sẽ ôm hận thiên thu vì hèn nhát, bạc nhược để rồi dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam vào vòng cương tỏa của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt đó là TÀU KHỰA.

Nguyễn Chí Đức

Posted: Fri Jun 20, 2014 2:27 am
by quangminh
Ngõ Phất Lộc: từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió

Ghi nhận của Ðoàn Thanh Liêm
Ngõ Phất Lộc là một con hẻm nhỏ thuộc Phường Hàng Buồm ở thành phố Hà Nội , gần với chợ Bắc Qua phía bờ sông nơi có cầu Chương Dương qua bên phía Gia Lâm. Ngõ có tên này là do một ông họ Bùi từ làng Phất Lộc thuộc tỉnh Thái Bình ra Hà Nội làm ăn và định cư tại đây từ rất lâu. Vì thế mà hiện còn có một nhà thờ tổ dòng họ Bùi tọa lạc trong con hẻm này.

Mới đây, qua cuộc phỏng vấn của nhà báo Hà Giang từ nhật báo Người Việt với Người Buôn Gió (NBG, tên thật là Bùi Thanh Hiếu) vừa từ bên nước Ðức qua thăm viếng California, bà con độc giả mới được anh cho biết mình chính là dân cư ngụ đã lâu tại Ngõ Phất Lộc. Mà đây lại cũng là “một nơi chứa chấp nhiều giới giang hồ hảo hán, dân số khoảng vài ngàn người” (nguyên văn trích từ bài phỏng vấn).

Cái tên Phất Lộc này làm tôi nhớ lại chuyện nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã từng sống với gia đình trong suốt thời niên thiếu ở đây vào thập niên 20-30 của thế kỷ XX - như cụ đã ghi trong bộ hồi ký gồm 3 cuốn được xuất bản tại Mỹ từ cuối thập niên 80.

Lại nữa, trong cuốn sách “Việt Nam - Cội Nguồn Cuộc Chiến” vừa được ra mắt công chúng mới đây, tác giả là Ðại Tá Hà Mai Việt cũng đã ghi lại chuyện của một người cư ngụ tại ngõ Phất Lộc đã đập tan cái lộc bình cổ từ thời Nhà Minh trước lúc phải di tản khỏi Hà Nội vào cuối năm 1946 lúc khởi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp.

Như vậy, cái tên Ngõ Phất Lộc càng làm cho tôi thêm chú ý đến địa danh này ở Hà Nội , mặc dù tôi đã sống tại thành phố này trong mấy năm trước năm 1954 để theo học tại Trường Chu Văn An, thì hình như mình chưa có lần nào ghé qua ngõ hẻm này.

Kể từ sau năm 1975, tôi lại có duyên gặp gỡ quen biết khá thân thiết lâu ngày với cụ Nguyễn Hiến Lê (1912-1984). Cụ Lê là một nhà văn có danh tiếng được sự mến chuộng của rất đông bà con độc giả ở miền Nam từ các thập niên 1950, 60, 70.

Và vừa mới đây vào cuối Tháng Năm 2014, nhân tham dự Tĩnh Hội của Họp Mặt Dân Chủ tại San Jose California, tôi lại có dịp sống chung mấy ngày tại cư xá sinh viên của đại học San Jose State University với anh bạn trẻ NBG hiện đang sinh sống tại nước Ðức, nên đã có nhiều thời giờ chuyện trò trao đổi với nhân vật hiện là một blogger rất được bà con tìm đọc những bài viết về các chuyện thời sự thật dí dỏm mà sâu sắc này.

Thành ra, tại cái Ngõ Phất Lộc đó ở Hà Nội , tôi quen biết cả hai người là cụ Nguyễn Hiến Lê hồi trước và bây giờ là anh bạn Người Buôn GióÔ -dù hai người này chưa bao giờ gặp gỡ quen biết nhau. Anh Hiếu sinh năm 1972 ở ngoài Bắc, tức là sinh sau cụ Lê đúng một con giáp 60 năm. Mà cụ Lê thì sinh sống tại miền Nam từ năm 1934 cho đến khi qua đời ở Sài Gòn năm 1984. Nhưng giữa hai người có một sự tương đồng khác nữa mà tôi xin được trình bày với quý bạn độc giả trong bài ghi ngắn này.

I. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê: Sự chuyển biến về nhận thức chính trị sau năm 1975.

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp lớp cán sự Công Chánh, thì ông Nguyễn Hiến Lê được bổ nhiệm làm chuyên viên kỹ thuật cho Sở Công Chánh tại miền Nam. Sau khi hồi cư về lại Sài Gòn vào năm 1950, thì ông chọn nghề dạy học và viết văn để sinh sống, chứ không trở lại nghề làm công chức như thời kỳ trước năm 1945 nữa.

Tuy không hề tham gia hoạt động chính trị với một tổ chức nào, nhưng trong suốt mấy chục năm sinh sống trong vùng quốc gia ở miền Nam, thì ông Lê lại có thiện cảm với chế độ của Việt minh ở ngoài Bắc hơn. Ông chê bai giới lãnh đạo miền Nam vì chuyện tham nhũng thối nát mà lại tỏ ra quá lệ thuộc vào người Pháp và nhất là vào người Mỹ.

Thế nhưng, sau thời gian sống dưới chế độ cộng sản kể từ năm 1975, thì ông Lê phải trực tiếp chứng kiến quá nhiều chuyện chướng tai gai mắt và còn được nghe các người bạn từ ngoài Bắc vào cho biết bao nhiêu điều tệ hại bất nhân thất đức ở ngoài đó. Vì thế mà ông đã không thể nào mà còn giữ được cái cảm tình đối với người cộng sản như trước đây được nữa. Ông đã trung thực ghi lại khá chi tiết những sự việc này trong cuốn hồi ký mà khi xuất bản ở trong nước, người ta đã cắt hết đi những đoạn mô tả sự xấu xa tồi tệ của chế độ cộng sản ở miền Nam sau năm 1975.

Trong 8 năm từ 1976 đến 1984, gần như tháng nào tôi cũng đến nhà của cụ Lê tại đường Kỳ Ðồng Sài Gòn để thăm hỏi và chuyện trò tâm sự với ông. Có lần vào khoảng năm 1978-79, tôi còn gặp cả cụ Ðào Duy Anh ở nhà ông nữa. Vì là chỗ quen thuộc thân tình, nên cụ Lê trao đổi chuyện trò tâm sự với tôi rất thoải mái. Cụ nói, “Các bạn của tôi ở ngoài Bắc vào cho biết trong chỗ riêng tư mấy anh lãnh đạo cộng sản họ ngấm ngầm kèn cựa, sử dụng đủ thứ đòn phép để kiềm giữ nhau, mà còn ra mặt nói xấu lẫn nhau, chẳng còn giữ thể thống tôn ti trật tự gì cả. Họ chỉ có cái tài đóng kịch, giả dối bịp bợm đối với người dân mà thôi. Thật là một chế độ tàn tệ đồi bại nhất trong lịch sử nước mình vậy đó!”

Lần khác, cụ Lê còn nói với tôi, “Tôi thật lấy làm tiếc cho thế hệ của những người trí thức như ông đang vào lứa tuổi 45-50 với cái sở học chuyên môn vững chắc và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn đã nhiều năm - mà lúc này không có đất dụng võ, không hề được chính quyền cho phép làm một công việc nào cho xứng đáng với tài năng và thiện chí của mình. Ðó là điều thiệt thòi không những cho từng người, mà còn là sự phí phạm cho cả toàn thể quốc gia nữa. Vì thế, tôi thành thật có lời khuyên ông là nếu có thân nhân ở nước ngoài bảo lãnh cho việc xuất ngoại định cư, thì ông nên đem cả gia đình đi ra khỏi cái xứ sở tồi tệ này, để mà có chỗ thi thố tài năng kiến thức của bản thân mình và nhất là để cho lũ con lũ cháu có được một tương lai tươi sáng bảo đảm tốt đẹp hơn...”

Rõ ràng là hồi trước năm 1975, vì không được thông tin đày đủ nên ông Nguyễn Hiến Lê đã có sự nhận định sai lạc về người cộng sản qua phong trào kháng chiến chống Pháp ở miền Nam hồi những năm 1945-50. Nhưng sau 1975, vì phải sống dưới chế độ cộng sản, nên ông đã “tỉnh ngộ” mà nhận ra được cái bản chất tàn ác mọi rợ gian dối của cộng sản. Và ông đã có một thái độ dứt khoát khi viết ra những nhận định thật chính xác của mình về chế độ này. Cuốn hồi ký của nhà văn danh tiếng này ở miền Nam đích thật là một chứng từ trung thực và khả tín - tài liệu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giới lãnh đạo cộng sản là những kẻ cực kỳ ngoan cố, cuồng tín và giả dối.

Rất tiếc là do bệnh hoạn, cụ Lê đã không sống lâu hơn để còn tiếp tục cống hiến cho hậu thế những công trình văn hóa tốt đẹp, vì ông đã lặng lẽ từ giã cõi đời vào cuối năm 1984, lúc mới được 72 tuổi.

II. Người Buôn Gió: Từng là “dân anh chị bụi đời”-mà nay lại trở thành người cầm bút góp phần tranh đấu cho tự do, dân chủ.

Tuy hoàn toàn khác biệt so với ông Nguyễn Hiến Lê về hoàn cảnh sinh sống, blogger Người Buôn Gió cũng đã có sự chuyển biến dứt khoát về ý thức chính trị vào lúc đứa con đầu lòng của mình được sinh ra đời. Anh đã thẳng thắn bộc bạch tâm sự của mình với ký giả Hà Giang như sau:

“...Cuộc sống của tôi cũng có lúc sống bằng nghề đâm thuê chém mướn, đòi nợ thuê, cũng có lúc cờ bạc, thậm chí là trộm cắp... Nhưng mà tôi sinh ra ở cái khu phố như thế, thì tôi cũng làm theo, tôi không tiếp xúc được với xã hội bên ngoài, với xã hội văn minh và lớp người trí thức, mà tôi chỉ biết sống trong đấy thôi, và tôi trở thành một người cũng ‘xuất sắc’ trong cái đám lưu manh ấy...

Khi vào bệnh viện, các bác sĩ người ta bảo đưa tiền hối lộ thì người ta sẽ chăm sóc cho vợ con tôi...Nói tóm lại hối lộ rất là nhiều, từ y tá đến bác sĩ, ai cũng nói đến tiền. Họ hỏi, thì tôi cứ đưa tiền ra.

Tôi từng cầm dao tôi đi chém người ta để tôi lấy tiền, thì tôi hình dung việc của tôi với việc ông bác sĩ ấy cầm dao mổ, tôi bàng hoàng nhận ra là có khi họ cũng giống như mình. Tôi thấy sự tàn nhẫn của họ có khi còn xuất sắc hơn tôi!

Nghĩ thêm, thì thầy giáo, rồi công an cũng như thế, cả xã hội nó như thế...”

Vì có suy nghĩ như thế, nên anh đã tỉnh ngộ và từ bỏ cái xã hội của “giới lưu manh anh chị bụi đời” và tìm cách góp phần vào việc cải thiện môi trường xã hội để cho con của mình có thể sống một cuộc đời an lành tốt đẹp hơn. Và anh đã nhiều lần tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và nhất là viết nhiều bài chỉ trích những biểu hiện tiêu cực tệ hại trong xã hội với một giọng văn hết sức dí dỏm trào phúng. Ðiển hình là trong tác phẩm “Ðại Vệ Chí Dị,” NBG đã sử dụng bút pháp thật khôn khéo với nhân vật, địa danh xa xưa mà ám chỉ đến những chuyện thực tế trước mắt thời nay trong xã hội cộng sản ở nước ta - khiến cho độc giả nào cũng hiểu được và khoái trá thông cảm đến tán thưởng cái lối phê phán tinh tế của tác giả đối với chế độ tham nhũng thối nát đày dãy những bạo hành giả dối của người cộng sản.

Phát biểu trước công chúng trong khuôn khổ cuộc Họp Mặt Dân Chủ tại thành phố San Jose, California, vào cuối Tháng Năm mới đây, blogger NBG cũng đã xác nhận rằng mình đang cố gắng để góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội - làm sao cho thế hệ của đứa con mình có thể được sống thoải mái tự do hơn nơi quê hương đất nước mà mọi người đều có lòng nhân ái chân thật. Và anh cho biết đã nhận được sự đồng thuận và khích lệ của nhiều bà con - nhất là của giới trẻ ở trong nước và cả ở ngoài nước - đối với những bài anh viết trong vòng 7-8 năm nay.

Mà còn hơn thế nữa, NBG hiện đang được vị thị trưởng thành phố Weimar ở nước Ðức cấp phát cho một học bổng để theo học thêm về truyền thông báo chí tại đây trong vòng một năm. Weimar chính là một trung tâm văn hóa nổi tiếng của nước Ðức và của cả Âu Châu nữa - với những cư dân là trí thức nghệ sĩ lừng danh như Goethe, Schiller, Liszt v.v... Cộng Hòa Weimar thiết lập năm 1919 sau khi nước Ðức bại trận trong thế chiến 1914-18 là một biến cố lớn trong lịch sử hiện đại của Âu Châu.

Trong dịp trao đổi với NBG ở San Jose, tôi có nói với anh đại khái như sau, “Qua những bài viết của anh, tôi nhận thấy là tác giả đã tìm thấy một con đường xây dựng xã hội theo chiều hướng rất tiến bộ và tích cực - và rõ rệt là cái lối viết phê phán xã hội thật cụ thể, dí dỏm mà sâu sắc của NBG đã được đa số bà con ưa chuộng đánh giá cao. Vì thế, tôi khuyên anh bạn trẻ nên tìm cách kéo dài thời gian nghiên cứu học tập bên nước Ðức là nơi có nền văn hóa học thuật tư tưởng phát triển vào bậc nhất trên thế giới - để mà bồi dưỡng thêm cho cái vốn liếng sở học của mình hầu nâng cao giá trị trong sáng tác văn học sau này...” Nghe vậy, NBG tỏ vẻ đăm chiêu và tuy anh không nói sẽ quyết định thế nào, nhưng tôi có thể cảm nhận được là có khả năng là anh sẽ tiếp tục ở lại nước Ðức để mà học hỏi và luyện tập thêm hầu trau dồi kiến thức và tay nghề viết văn viết báo của mình.

Cũng như đối với nhiều blogger khác, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đã mở cả một chiến dịch bôi nhọ NBG, đưa ra những “tiền án, tiền sự” của một dân “giang hồ bụi đời” như anh - nhằm hạ uy tín của con người đang được số đông quần chúng ưa chuộng theo dõi các bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet.

Nhưng bà con ta vẫn có lòng bao dung thông cảm, xuất phát từ lời khuyên dậy trong đạo Phật rằng, “Người đồ tể buông đao thì lập tức trở thành Phật.” Mà Bùi Thanh Hiếu đã dứt khoát từ bỏ giới “giang hồ lưu manh bụi đời” từ nhiều năm nay rồi - vì thế không một con người lương thiện nào mà lại cứ đi moi móc cái quá khứ đã bị chôn vùi đó của anh nữa. Do đó mà chẳng còn ai đếm xỉa đến những chuyện thêu dệt tung hỏa mù của cái đám “dư luận viên” tay sai của công an cộng sản nữa đâu.

Tóm tắt lại, chỉ với hai nhân vật điển hình là “Nguyễn Hiến Lê và Người Buôn Gió” của Ngõ Phất Lộc ở Hà Nội, thì khu vực xã hội dân sự của nước ta rõ ràng đã tạo ra được một thành tích thật nổi bật quý báu cho công cuộc xây dựng xã hội liên tục từ thế kỷ XX qua thế kỷ XXI hiện nay vậy.

Posted: Mon Jun 23, 2014 7:18 pm
by nguyenvsau
Image


Trận đấu giữa đội tuyển ĐCS Việt Nam và đội tuyển ĐCS Trung Quốc

Uyển Thi
(Danlambao)


Một khoan hai khoan lại ba khoan
Trọng Dũng Hùng Sang đã muốn hàng
Khoan bốn khoan năm mà đến tiếp
Trọng Sang Hùng Dũng trốn vào hang
Trong lúc cả thế giới đang hướng về Bzazil để xem world cup, lợi dụng sơ hở của đội tuyển ĐCS Việt Nam đang kèn trống đón ông Dê Khiết Trì đến để 'dậy dỗ' thì đội tuyển ĐCS Trung Quốc (1) đã âm thầm chơi đểu, đưa thêm một cầu thủ vào sân chơi Biển Đông mang tên dàn khoan Hải Nam 9. Theo ghi nhận của các tờ báo quốc tế như BBC, trang Danlambao.... Thì rất có thể trong vòng hai đến ba tuần tới đội tuyển CS Trung quốc sẽ tăng số lượng cầu thủ ở Biển Đông lên đến 4 hay năm cầu thủ gì đó, mục đích chạy vòng vòng để đội CS Việt Nam bám theo rồi 2 đội bắn súng nước, nhằm che đi cái xấu xa của đảng CS đang trên đà tuyệt chủng.

Thị trường cá cược ở Anh đã thống kê, những cuộc đối đầu giữa 2 đội tuyển ĐCS Việt Nam và ĐCS Trung Quốc thì luôn kết thúc với phần thua thuộc về phía ĐCS Việt Nam. Thậm chí, nhiều bình luận viên còn đưa ra bằng chứng bán độ của đội CS Việt Nam bằng một bản công hàm có chữ ký của cầu thủ Phậm Văn Đồng.

Tuy nhiên, trong hơn một ngàn năm qua, thống kê cho thấy đội tuyển Nhân dân Việt Nam có thể thua trong một cuộc chiến, nhưng xét cả trận chiến thì đội tuyển Nhân dân Việt Nam chưa từng thất bại bao giờ trước kình địch Bành Trước Trung Quốc. Dựa vào thông số trên thị trường cá cược London đã đưa kèo đội tuyển Nhân dân Việt Nam chấp đội CS Trung Quốc 5/0, những người am hiểu về trận đấu giữa hai đội đã đặt cược cả về tài, kể cả người gốc Hoa đang định cư khắp thế giới, chỉ một số ít là đặt sỉu và đảng viên CS Trung Quốc thì chỉ bắt sỉu.


Gác qua thị trường cá cược chúng ta tìm hiểu một ít về đội tuyển hai nước, huấn luyện viên Tập Cận Bình từ khi lên nắm đội tuyển CS TQ để dẹp đi những chỉ trích của những người bất đồng chính kiến trong nước và quốc tế về Tây Tạng, Tân Cương... Đồng thời nhằm đánh lạc hướng dư luận, anh Tập tỏ ra rất hung hăng. Ông ta liên tục gây hấn với tất cả các đội tuyển trong khu vực.

Để đối phó với Nhật và Mỹ đang quay lại châu Á, anh Tập liên minh với Nga bằng những hợp đồng khí đốt trăm tỷ đô, sau đó thách thức Mỹ bằng việc khéo dàn khoan hờ đờ 981 đến thềm lục địa của VN để cướp dầu chỉ là cái cớ, chứ thằng Mỹ nó biết tỏng chẳng có dầu bởi nó đã thăm dò cả nửa thế kỷ trước rồi. Nếu có nó đâu bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho bầy quỉ đỏ.


Dã tâm của HLV Tập Cận Bình là muốn uống cạn Biển Đông, lè cái lưỡi bò liếm sạch tôm cá mục đích quản lý để thu phí tàu bè qua lại để lấy thuế đường biển và đường không. Nhưng dã tâm đó làm sao qua mắt được Huê Kỳ và các nước Phương Tây? Chẳng ai dại gì im lặng, để rồi sau đó phải bỏ tiền đóng thuế cho một giấc mơ bành trướng của anh Tập bao giờ, vì thế tại cuộc họp gờ 7 các nước phát triển đều ủng hộ ĐT Nhân dân Việt Nam nên đã làm cho huấn luyện viện Tập càng thêm tức khí, tờ báo Hoàn Cầu của Trung Quốc nói: anh Dê Khiết Trì qua Việt Nam để huấn thị đứa con hoang đàng chứ đâu phải đàm phán, thế mà HLV tự phong Trọng lú lại tưởng bở đưa ra yêu sách này đòi hỏi nọ? Với dã tâm và tình hình hiện tại chắc chắn Trung Cộng quyết ăn thua đủ họ sẽ đánh mà không đàm.

Lược sơ qua đội tuyển CS Việt Nam kể từ năm 2011 khi anh Lú lên nắm đội tuyển, anh hết chỉnh lại đốn biết bao lần, nhưng đội tuyển vẫn mạnh ai nấy đá trên bảo dưới không nghe. Nội bộ bán độ cho Tàu khựa, tham nhũng tràn lan mà ngay bản thân HLV Trọng cũng đã từng tham gia đi đêm với đối thủ ký kết những thỏa thuận ngầm, nhưng bù lại trận đấu lại diễn ra trên sân của Việt Nam nên cơ hội chiến thắng là không hề nhỏ.

Tại Philippines, Thủ tướng Ếch của Việt Nam đã mở đầu cho chiến dịch chống lại đội CS Trung Quốc bằng những phát biểu được cho là cứng rắn "không đánh đổi chủ quyền bằng tình hữu nghị viển vông"

Khi về nước tướng Ếch đã bị HLV Trọng Lú chửi cho tơi bời hoa lá cành, nhưng đã phóng lao thì phải theo lao nên ông kéo bè kết phái đưa người nhái người dơi ra Biển Đông chạy lòng vòng chơi bắn nước chơi, để gọi là bảo vệ biển đảo.

Từ khi thấy đội CS Trung Quốc đưa thêm cầu thủ Hải Nam 9 vào sân chơi, Huê Kỳ không thể ngồi yên, hôm kia đại sứ Huê Kỳ ở VN tuyên bố có thể gỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam(2) nếu có được tên lửa hành trình Tomahawk thì mấy cái dàn khoan kia chỉ là mục đích tập đá cho đội tuyển Việt Nam mà thôi.

Nhưng Huê Kỳ đâu chịu bán vũ khí sát thương cho một nước cộng sản mà không đi kèm điều kiện, thà để hết hạn đổ ra biển còn hơn. Để quyết chí sử dụng bằng được vũ khí Huê Kỳ, Ếch và đảng đang chết đành gật đầu lia lịa, khi cử phái đoàn sang LHP điều trần UPR nhân quyền 2014 đã đồng chấp nhận 80% đề nghị nhân quyền (3) trong số 227 điều thì chấp nhận 182 điều.

Cộng sản xưa giờ vẫn thế, ký cứ ký nhưng thực hiện họ đã từng ký kết với HLQ nhiều đến nỗi không thể đếm hết được kể cả với chính phủ VNCH, chính TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã nói "đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhì kỹ những gì cộng sản làm". Tôi chưa tin, không tin và chẳng bao giờ tin cộng sản cả còn các bạn thì sao?

Không biết CS Việt Nam đã chấp nhận điều gì nhưng hôm nay tại Việt Nam ngày 22/06/2014 lần đầu tiên tôi vào trang danlambao, VOA... mà không phải leo tường lửa. Mừng thì có mừng nhưng chỉ là tạm thời thực sự tôi cứ nghĩ hay là mấy thằng trực máy cản tường lửa do coi bóng đá thức đêm thua độ nên ngủ quên.

Trở lại trận đấu giữa đội CS Việt Nam và đội CS Trung Quốc, nếu Đội Việt Nam mà không do cái đảng đang tuyệt chủng này lãnh đạo thì đội tuyển TQ có đông quân, mưu mô đến đâu cũng sẽ thảm bại nặng nề. Bởi Trung Quốc đã duy trì chế độ một con nhiều thế hệ nên những anh lính chỉ là những cậu ấm, cô chiêu được thế hệ ông bà nội ngoại và cha mẹ nuông chiều nên không có được nhuệ khí khi lâm trận. Vậy muốn giữ nước chúng ta chỉ cần đập chết bọn hán gian từ nội bộ trung ương đảng và tự do nhân quyền thì thằng Trung Quốc có bà đầu sáu tay cũng sẽ mãi là người chiến bại.

Uyển Thi
danlambaovn.blogspot.com

Posted: Thu Jun 26, 2014 4:47 pm
by khieulong
Nước Mỹ có thể mất bất cứ lúc nào
Hôm đến thăm tòa soạn báo Người Việt (California), một chị trong Ban biên tập hỏi mình:

“Cảm tưởng của anh từ khi sang Mỹ?”, mình trả lời luôn:

-Tôi có cảm giác như nước Mỹ mất bất cứ lúc nào.

Mọi người tròn mắt hoảng sợ, chờ mình giải thích. Không phải mình rủa cho thằng đế quốc này nó chết đi đâu, nhưng nói có cơ sở hẳn hoi nhé.

Nguy cơ của nước Mỹ bắt đầu ngay từ khâu tuyên truyền. Ai đời một quốc gia to tổ bố mà cái tên chỉ nhõn một chữ: Mỹ. Ít ra, phải có mỹ từ nào đó đi kèm như “Nhân dân” trong quốc hiệu Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, “Dân chủ” trong Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên hoặc “Xã hội chủ nghĩa” trong Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứ.


Không có những chữ ấy đã đành, còn không có cả mục tiêu, kiểu như hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” nữa. Sợ cộng sản chế giễu à? Thì cứ hô lên, thiên hạ không tin thì cũng có vài thằng tin. Vài thằng còn hơn không. Sợ không phấn đấu được à? Thì cứ nói đại, còn dân không giàu, nước không mạnh, cũng chẳng có độc lập, không có tự do hạnh phúc thì đã chết ai. Hình như người Mỹ chẳng biết đến câu: “điều gì không đúng, nói mãi rồi người ta cũng tin”


Ở các đường phố Mỹ, người ta không biết trương lên các băng rôn điện tử như “Nước Mỹ muôn năm”, “đảng (đảng gì nhỉ, hi hi) quang vinh muôn năm” hay “Tổng thống Washington sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Cờ Mỹ chỉ treo ở công sở, không chịu mang cắm phần phật ra hai bên đường để nhắc nhở đây là nước Mỹ bao giờ.


Thời gian mình ở Mỹ, cả 3 buổi sáng, chiều, tối, không làm việc thì cũng giao tiếp nên thường xuyên long nhong trên đường. Mặc dù trước khi sang đây mình ra sức hình dung nhưng không tránh khỏi những điều lạ, nó chẳng giống như môi trường quen thuộc mình đã sống. Vì thế, mình càng lo cho nước Mỹ.

Đất nước gì mà ngay cả thủ đô cũng chẳng thấy mống cảnh sát nào, cứ như là một vùng đất hoang không có ai quản lý vậy. Lúc anh lái xe chở mình từ sân bay về chỗ ở, chỉ thấy xe hơi là xe hơi. Dân cứ thế lái, chẳng có ai chỉ đường, phân luồng hay giám sát giao thông. Mình căng mắt ra nhìn vào lề đường với hy vọng túm được chú cảnh sát nào đó đang núp lùm. Nhưng hỡi ôi, cây thì nhiều nhưng toàn là cây thưa lá, thì núp ở đâu. Mãi rồi cũng thấy có một chỗ khuất. Mình nhắc khéo anh lái xe:

-Chầm chậm thôi anh, coi chừng lùm cây, chú ý cảnh sát…

Anh quay sang mình 1 giây như không hiểu gì rồi lại chăm chú vào tay lái.

Mãi rồi quen. Đúng là ở Mỹ, họ không cho cảnh sát đứng đường thật. Mà không cho đứng đường thì làm gì có thu nhập thêm. Không có thu nhập thêm thì làm sao khuyến khích được sự tận tụy của nhân viên cộng lực. Cảnh sát sẽ sinh ra trễ nải với công việc thì bảo vệ chế độ làm sao. Lẽ ra phải có chính sách kích thích họ sao cho ngày nghỉ cũng tranh nhau đi làm nhiệm vụ, lăm le trực thay đồng nghiệp khi đồng nghiệp mới chỉ nhức đầu, sổ mũi. Chiến sĩ không có thu nhập thêm thì lấy chi cống nạp, sếp tiêu bằng cái gì ngoài lương, chỉ đạo phá án làm sao mà sáng suốt được. Ở Việt Nam, ấy chết, nói nhầm, ở nước khác á, điều một cảnh sát ra đứng đường sếp thu ít ra cũng dăm nghìn đô. Tiêu hết, sếp lại “luân chuyển cán bộ”, thu thêm. Thế mới biết Mỹ to xác nên ngờ nghệch, làm sao nghĩ ra được những cái mẹo ấy.

Cảnh sát đã vậy, còn tình hình dân phòng cũng không khá hơn. Vào các khu thương mại và ở cả những chỗ hàng quán quây ra vỉa hè nữa, chẳng thấy dân phòng vung vẩy dùi cui đuổi chợ. Mà lực lượng này cần gì phải trả lương, vì nó tự trang trải được. Nó đói thì bắt trứng lộn, trái cây mà ăn, khát thì bắt coca, pepsi mà uống, no rồi thì chia nhau mang về cho vợ tuồn sang chợ khác. Hôm nào dân sợ quá, không dám bày hàng ra, không có thu nhập gì thì cũng giải quyết được khâu oai, tăng cường nỗi sợ hãi từ dân đối với Chính phủ. Không nuôi dưỡng lực lượng này, nếu có biến xảy ra thì huy động sao đây. Cái đám lúc nhúc ấy, nếu sử dụng vào việc dẹp biểu tình, giải tán đám đông, cưỡng chế đất cũng được việc đáo để đấy.

Mình nhập cảnh vào Mỹ cũng chẳng ai thèm để ý. Ít ra, mình cũng từ nước cộng sản sang nước đế quốc. Cộng sản với đế quốc là kẻ thù của nhau, một mất một còn. Mặc dù kiểm tra an ninh rất kỹ, không phát hiện ra vũ khí, vật dụng kim loại nhưng làm sao biết đầu óc mình đang nghĩ gì. Lẽ ra, ngay từ sân bay, họ phải cho người theo dõi xem thằng cha Việt cộng ấy hành tung ra sao, ẩn náu ở đâu, móc nối cấu kết với thế lực thù địch nào chứ.

Hai ngày đầu tiên, mình được bố trí ở một nhà ngoại thành. Chủ nhà giành cho mình một phòng riêng, đầy đủ tiện nghi. Mỗi lần ra khỏi phòng, mình chỉ khư khư tấm hộ chiếu như lá bùa hộ mệnh, lại còn kẹp sẵn hai tờ 20 đô la vào nữa, phòng khi công an hay tổ trưởng dân phố đến hỏi thì nhanh nhảu trình ngay để gây thiện cảm.

Chiều tối, mọi người đến chơi đông lắm. Nhưng mình miệng vẫn nói chuyện còn lòng dạ thì không yên. Nhớ hôm nhà mình tụ tập đông người, nhờ có “tai mắt của nhân dân” mà bọn chúng biết Thúy Nga đang ở đây nên mới mai phục đánh cho một trận nhừ tử, gãy cả chân khi mới ra khỏi nhà mình chừng dăm phút. Nghĩ thế, thỉnh thoảng mình lại ra ngoài nhìn quanh xem có thấy hàng xóm rình rập gì không. Khách đến chơi, ô tô để đầy phía trước tức là rất bất thường, không rình thì phí cả cơ hội. Phát hiện thấy một phần tử người nước ngoài đang ẩn náu ở đây mà trình báo, nếu không được thưởng thì cũng tăng thêm uy tín với chính quyền chứ lị. Nơi mình sống, nhà nào có người làm cán bộ chính quyền, công an, hay dân phòng thì tự hào và yên tâm lắm, khối người nhờ vả. Nếu không có thì tìm cách quen thân. Nhà mình không thân được ai nên đành chịu.

Cuối cùng, mình lén chốt chặt cửa lại nhưng thỉnh thoảng vẫn đánh mắt ra phía ngoài, chỉ sợ công an đến kiểm tra đột xuất. Nghĩ lại hôm 25/9/2013 công an phá cửa nhà mình xông vào bắt Phương Uyên rồi bắt luôn cả 9 người khác mà kinh hãi đến tận bây giờ. Nhỡ ra công an Mỹ lấy lý do kiểm tra hộ khẩu, xông vào bắt mình nện cho một trận rồi tống lên máy bay áp giải về Việt Nam thì hỏng hết việc, chưa ra trận mà đã thành tù binh.

Khách đã về hết, chỉ còn mình với chủ nhà. Lúc này đã 10 giờ nhưng không thấy anh có vẻ gì lo đến việc khai báo lưu trú. Định nhắc, lại sợ anh cho mình là nhà quê. Mình đành gợi ý khéo bằng cách tỏ ra rằng mình có rất thể là đối tượng cảnh sát quan tâm để anh đừng quên việc trình báo, mình bảo:

-Ngày xưa tôi có 5 năm ở chiến trường…

Có vẻ như anh chẳng để ý gì, mình tỏ ra nguy hiểm hơn:

-Tôi ra trận, đánh nhau hăng lắm, cũng được mấy danh hiệu dũng sĩ.

Nhưng anh chỉ bảo:

-Từ chiều đến giờ, mải nói chuyện, anh chưa ăn, tôi làm cái gì cho anh ăn nhé.

Mãi rồi mình cũng biết, ở đây không có qui định khai báo tạm trú lưu trú gì ráo trọi. Tóm lại, hộ chiếu của mình chỉ phải chìa ra mấy lần khi xuất, nhập cảnh, ngoài ra chẳng ma nào thèm hỏi đến. Quản lý lỏng lẻo thế này, làm sao tránh khỏi thế lực thù địch trà trộn vào dân phá hoại cơ chứ.


Tuy vậy cái dở nhất của nước Mỹ là làm cho dân nhờn. Quốc hội gì mà ai ra vào tùy thích, tránh sao khỏi mất thiêng. Lại còn rồng rắn mang theo mỗi người cốc cà phê hay nước uống vào nữa chứ. Đi cũng uống, ngồi cũng uống, mỏi tay thì để cả lên bàn toàn tài liệu quan trọng, chẳng ra cái vẻ uy nghiêm của cơ quan quyền lực cao nhất nước gì cả. Không có hàng rào cảnh sát gườm gườm, đầy sát khí mỗi khi thấy ai có vẻ dân thường mon men đến gần. Mình ra vào nhà Quốc Hội mấy lần, chỉ thấy họ kiếm tra xem những thứ mang theo có gì có thể gây ra nguy hiểm thôi chứ không kiểm tra giấy tờ xem là ai, quan hay dân thường, có ai là đối tượng theo dõi không, chủ quan đến thế là cùng.

Buổi đầu, mình cứ nem nép đi theo mấy cháu, thấy chúng nó vào đâu, mình mới dám vào. Sau quen dần, mình xông khắp nơi, vào cả phòng tổng thống cầu nguyện, đứng ở nơi tổng thống tuyên thệ nhậm chức chụp ảnh, chụp chán rồi nằm khèo lên đi văng hóng cái không khí thoáng đãng, chẳng thấy ai thèm nhắc nhở.

Hôm điều trần ở quốc hội, khi một ông nghị phát biểu, mình thấy bà Sanchez đứng nép sang một bên vui vẻ chờ đến lượt mình như học sinh chờ lên bảng. Nghe nói bà có nhiều người giúp việc, thế mà không có đứa nào chạy đi bê ghế xun xoe đặt vào mông bà. Nếu ở ngoài trời chắc cũng chẳng đứa nào chịu cầm ô che. Hình như đám giúp việc chẳng hãi bà tí nào, chẳng sợ bà đuổi việc hay sao ấy.

À, còn ở Hollywood, dân chúng nặn cả tượng tổng thống đương nhiệm bằng sáp mới táo tợn chứ. Obama đứng, cười nhăn nhở, chìa tay ra cho ai muốn bắt thì bắt. Nhạo báng lãnh tụ còn cách nào hơn nữa không, hỏi sao dân không nhờn. Mình bắt tay chụp hình xong liền xoa đầu gã một cái để thử phản ứng nhưng không thấy cảnh sát nào chạy đến xốc nách dong đi.


Tóm lại, ở Mỹ, hệ thống chuyên chính vô sản, à quên, chuyên chính… tư sản tê liệt, không phát huy tác dụng, quan và dân như cùng một lứa, thậm chí quan còn sợ dân, khổ hơn dân. Đó là điểm yếu chết người của nước Mỹ. Nếu không biết làm cho dân sợ thì sao tránh khỏi chuyện biểu tình không theo định hướng, rồi cứ đà này, dần dần dân chúng lật nhào chế độ lúc nào không biết ấy chứ.

21/6/2014

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Posted: Fri Jun 27, 2014 2:41 am
by quangminh
Trợ lý ngoại trưởng Mỹ: 'Trung Quốc tự hủy hoại vị thế quốc tế'

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á cho rằng hành động cưỡng ép của Trung Quốc để thực thi yêu sách chủ quyền trên biển
không chỉ làm gia tăng căng thẳng mà còn hủy hoại vị thế của nước này trên trường quốc tế.
Chiến hạm Trung Quốc đến Hawaii tập trận / Trung Quốc phát hành bản đồ nuốt trọn Biển Đông

Image
Ông Daniel Russel, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á. Ảnh: AP


"Kiểu hành động đơn phương của Trung Quốc tại những khu vực nhạy cảm và tranh chấp đang làm gia tăng căng thẳng và hủy hoại vị thế quốc tế của Trung Quốc", AP dẫn lời ông Daniel Russel, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á, hôm qua nói trong một phiên điều trần quốc hội.

Ông Russel chỉ trích những hành động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông khiến các nước láng giềng "cảnh giác", và cho rằng tình trạng này là "dễ hiểu". "Trung Quốc, với tư cách một cường quốc đang trỗi dậy, cần kiềm chế hành vi với tiêu chuẩn cao. Việc cố tình coi nhẹ những biện pháp ngoại giao và biện pháp hòa bình khác trong việc xử lý bất đồng và tranh chấp, thay vào đó cưỡng ép về kinh tế và ngoài thực địa là hành động gây bất ổn, nguy hiểm", ông Russel cho hay.

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ đưa ra quan điểm này hai tuần trước cuộc gặp cấp cao ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Hai nước sẽ thực hiện đối thoại chiến lược và kinh tế cấp cao vào tháng 7 này.

Trung Quốc hồi đầu tháng 5 làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông sau khi đặt giàn khoan Hải dương 981 sâu trong vùng biển thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Hành vi này vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Bắc Kinh còn có tranh chấp lãnh thổ với các đồng minh của Mỹ như Philippines, Nhật, làm dấy lên quan ngại về một cuộc giao tranh quân sự có thể làm rung chuyển những nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng trong khu vực. Dù Mỹ không phải là bên tuyên bố chủ quyền, Washington nói họ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì giao thông và thương mại mở tại những vùng biển này.

Trọng Giáp