Tạp Ghi

caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »



Image

Chữ Nhẫn


Có tích xưa: Ông Quách-Tử-Nghi, đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu "Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải". Nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn đến hỏi một Hòa-Thượng, vị Hòa-Thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông Quách-Tử-Nghi rằng mầy còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách-Tử-Nghi thấy vị Hòa-Thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm-hầm tím mặt. Lúc ấy vị Hòa-Thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Quách-Tử-Nghi biết rằng: Sự thịnh nộ của công-tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào biển khổ đó....

Ông Quách-Tử-Nghi hồi tâm tỉnh ngộ, bèn chấp tay tạ ơn vị Hòa-Thượng, đã dùng một cách gián-tiếp mà chỉ giáo cho mình. Ôi! Ở đời biết bao nhiêu luồng gió đen, hằng ngày lẩn-quẩn xung quanh mình của chúng ta, nếu chúng ta không hết sức lấy tấm lòng kiên-nhẫn ra chống chỏi, thì cơ hồ thân thể của chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia, có ngày chìm đắm vào trong bể khổ.

Trong Kinh Hoa-Nghiêm có câu rằng: "Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai". Một phen nư giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệt chướng nảy sanh. Trong các kinh sách của Phật, Tiên, Thánh-Hiền hằng ngày dạy nhơn-sanh chữ nhẫn làm đầu, mà con người mơ-màng chưa tỉnh ngộ.

Chúng ta nhận xét qua một trận giông tố, ắt phải có cây ngã, nhà sập, thuyền tàu chìm đắm. Còn người trải qua những cơn thịnh nộ rồi, thường có xãy ra lắm điều tai ương hoạn-họa, khi biết tự-tỉnh ăn-năn thì việc đã muộn rồi.

Vậy mà có nhiều người trải qua biết bao nhiêu lần giông tố, mà cũng không biết kiên-nhẫn chút nào, thật cũng đáng buồn cho đó ..







Hẳn với mỗi cách thể hiện, mỗi cách cảm nhận khác nhau về "Nhẫn." Vào năm 2003, một lần ngồi đợi máy bay, tôi có được một bác cao niên, có rất nhiều năm trên thị trường tài chính quốc tế, giảng giải cho về chữ "Nhẫn." Đại ý, "nhẫn" không phải là chấp nhận thực tại. Đó là sẵn sàng đương đầu, và âm thầm chuẩn bị để vượt qua khó khăn, thách thức, để rồi lại tiếp tục "Nhẫn", lại tiếp tục vượt qua thử thách lớn hơn. Hình ảnh minh họa là những lớp sóng trên đại dương, không ngừng nghỉ, cái sau tiếp nối cái trước, ngọn sóng sau cao hơn và mạnh mẽ hơn ngọn sóng trước..
.
Nhẫn để yêu thương: Gắn kết đời đời
Nhẫn để tìm đường lo toan: An tâm bình sinh
Nhẫn để vẹn toàn: Viên mãn công thành
Nhẫn để tránh tàn sát nhau: Dĩ hoà vi quý

Theo Saga
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Nửa Thế Kỷ Nhạc Sến
Nói đến 'Nhạc sến' là nói đến sự hôn phối của 'sến' với 'âm nhạc' mà ra dòng Nhạc sến. Âm nhạc thì ai cũng đã biết đến món ăn tinh thần có từ ngàn đời, không thể thiếu mà dân tộc nào trên thế giới cũng có. Nhưng 'sến' từ đâu đến và đi về đâu? Cuộc hôn phối ngoạn mục giữa 'sến' với âm nhạc Việt Nam thế nào?

Sến

Từ 'sến' có người cho rằng xuất xứ và biến thể từ chữ 'Ma-ri-sến', một ngẫu hứng của giới báo chí ghép chữ 'Marie' với chữ 'sến' để câu khách cho những bài viết giật gân, những xì-căng-đan vào thập niên 60 ở Sài Gòn. Cũng có giả thuyết cho rằng chữ 'sến' bắt nguồn từ chữ 'sen' để chỉ người nhà quê, quen với ruộng đồng nhưng chiến tranh hay hoàn cảnh gia đình khó khăn bởi chiến tranh đã phải rời bỏ ruộng vườn mà trôi dạt lên thành thị kiếm sống bằng những công việc hạ tiện bởi trình độ hiểu biết khiêm nhường, và thái độ lẫn hành vi quê kệch. “ Sen” thường làm việc nhà cho những gia đình khá giả ở thành phố hay cửa hàng. Từ đó, thành thị xuất hiện một tầng lớp nông dân bị chiến tranh xô đẩy ra khỏi ruộng vườn, trôi dạt vào cuộc sống thị thành ngoài ý muốn.

Để tồn tại, họ tiếp xúc với cuộc sống thị thành, tiếp nhận 'văn hoá tây phương' du nhập ồ ạt vào Việt Nam theo gót chân những đoàn quân viễn chinh và văn hoá tây phương tràn vào Việt Nam nói chung, và Sài Gòn nói riêng trong thập niên 60. Sự tiếp thu văn hoá nước ngoài theo hiểu biết, trình độ kiến thức hạn chế và hoàn cảnh khó khăn của người nông dân miền quê vốn dĩ chất phác thật thà đã tạo ra những hình ảnh dở khóc dở cười nơi thành thị sa hoa nhưng cũng đầy phức tạp. Ví như cô sen thấy cô chủ quần này áo nọ thì bẩm sinh thích làm đẹp của phái nữ trỗi dậy! Thấy cô chủ đi giày cao gót , cô sen cũng tậu một đôi để dành cho dịp về quê ăn tết, thăm gia đình. Thấy cô chủ son phấn thì cô 'Thắm' cũng phấn son... Nói chung là bắt chước người thành thị cho ra vẻ thị thành. Nhưng thu nhập kém nên phải xài loại rẻ tiền cùng với kiến thức hạn chế về thẩm mỹ trong trang phục, nghệ thuật làm đẹp từ (bằng) mỹ phẩm đã biến sự diệu hiền, dễ thương bản chất của cô gái quê nói chung thành những hình ảnh không tỉnh không thành mà sự kết hợp không hài hoà đã để lại ấn tượng không tốt đẹp mấy trong ánh mắt người dân thị thành. Về giao tiếp xã hội cũng không khá hơn, thấy cô chủ ăn nói văn minh là thỉnh thoảng chêm vô tiếng Việt một câu tiếng Pháp, tiếng Anh, hay thơ phú, triết lý phương tây thì cô sen cũng ráng nhớ một câu trong tuồng cải lương nào đó, một lời nhạc hóm hỉnh nào đó để diễn tả ý mình cho nó ‘cao lên ngang tầm thời đại’. (Anh tài xế của ông bà chủ hỏi chị sen hùng cứ dưới nhà bếp: 'Sao không thấy hồi âm?...' lá thơ anh tỏ tình với chị thì chị trả lời cũng bằng âm nhạc cho nó du dương... 'thơ gởi không tốn tiền, hồi âm làm sao thấy!' Họ đã thuộc nằm lòng lời nhạc: 'Sao không thấy hồi âm, thơ gởi đi mấy lần, hồi âm sao không thấy...' của Châu Kỳ. Bản nhạc nói về sự mong tin trong tình yêu đôi lứa, với điệu Bolero nức nở lòng người. Họ không hề có ý xúc phạm, coi thường hay chế diễu âm nhạc hoặc cải lương (là những thứ họ rất thích) Nhưng ở đây, sự vận dụng nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, vào đời sống ở trình độ 'tài xế-cô sen' đã tạo ra những dị biệt trong mắt, bên tai người sành điệu.

Sự hiện diện của tầng lớp lao động này ngày càng đông nơi phố thị theo chiến tranh leo thang, theo đà phát triển hội nhập với văn minh thế giới của thành thị mà họ đã bất đắc dĩ có mặt. Nói một cách khác là một tầng lớp mới đã xuất hiện trong nhịp điệu cuộc sống ở thành thị đã thay đổi nhiều so với thập niên 50 - khi miền Nam thanh bình, cơm no áo ấm trong những năm ngắn ngủi của nền Đệ Nhất Cộng Hoà mà âm nhạc Lam Phương đã ghi lại 'Khúc ca ngày mùa', 'Trăng thanh bình'... Họ bị hạn chế kiến thức và thu nhập so với người thị thành nhưng đã là con người thì ai cũng có nhu cầu về mọi mặt như nhau. Trong đó, nhu cầu về âm nhạc và tình yêu đôi lứa đã làm hao khá nhiều giấy mực của nhạc - văn sĩ thời đó.

'Sến' hội nhập vô đời sống thành thị, ở tầng lớp nghèo. Nhưng không dừng ở đó mà leo thang đến giới cao hơn, những người ở hoàn cảnh khác hơn, khá hơn trong xã hội nhưng họ lại có sở thích ăn mặc cùng ăn nói như con ở (cô sen); nên người ngang hàng biểu thị sự coi thường bằng cách gọi họ là con sen thì ngại (không đúng) vì họ chẳng đi ở cho ai nên gọi trại đi là 'sến' để ngầm nói người ấy không đi làm công việc hạ tiện nhưng ăn nói như người hạ tiện. Một ca sĩ chẳng hạn, ăn mặc diêm dúa hơn những ca sĩ bình thường khác, sẽ được chấp nhận thì lắm người bắt chước và đương sự lên ngôi thần tượng về thời trang, y phục. Ngược lại, mang tiếng...'sến'. Ý ngầm bảo cô ca sĩ đó ăn mặc diêm dúa như con ở. Một ví dụ khác: Người bạn trai tỏ tình với cô gái bằng cách trao một bó hoa kiểu tây phương thì không có gì để nói nhưng anh chàng ‘đến hẹn lại lên’ với mái tóc bóng mượt - ruồi đậu cũng té, tóc mai quéo quéo vô lỗ tai, áo hoa hoè hoa sói, nhận thêm cái răng vàng để khi cười le lói hơn đời thì ngoài cô Ma-ri-sến, chẳng cô gái nào muốn nhận hoa, muốn đi dạo phố, coi ciné với cậu hai lúa.

Còn nhiều thí dụ, ta thấy thoạt tiên từ 'sến' chỉ là danh từ chỉ một thành phần xã hội, cụ thể là tầng lớp đi giúp việc ở thành thị. Tại sao không gọi thẳng là đám con sen, phu xe cho tiện việc vì từ 'sen' có trong tự điển Việt Nam. Có lẽ người Việt quen thói ăn nói vòng vo, bắt người nghe suy nghĩ... mới là người sành điệu, hiểu biết! Nên “sen' nói trại đi thành 'sến', lâu dần thành quen miệng và phổ biến trong xã hội. Ngôn ngữ thời thượng có dùng một từ ngữ khác, mà thỉnh thoảng ta gặp lại trong những tác phẩm văn học cu,õ là 'Liên tử' để chỉ người giúp việc trong nhà. Nhưng từ ngữ này không phổ biến nên chết theo quy luật đào thải tự nhiên của ngôn ngữ trong xã hội.

Đặc biệt của 'sến' là người sến không mặc cảm về sự khác thường của mình như cô tiểu thư thuộc gia đình danh giá nhưng đã khánh tận, phải diêm dúa trong trang phục lỗi thời, giao tiếp hạ lưu để sống còn sẽ khép nép nơi đông người vì sợ người quen cũ trong giới thượng lưu nhận diện thì quê. Khác xa với cô gái nhà quê lên tỉnh thành với đôi guốc mộc, chiếc quần đen, áo bà ba, cái nón lá, ngữ âm quê mùa... 'coon cá gô chong gổ nhải gồ gồ, kiu gột gột”= “ con cá rô trong rổ nhảy rồ rồ, kêu rột rột.' Bỗng một hôm, cô sen về thăm nhà dưới quê trong bộ cánh mới với quần ống loa, áo sơ mi cao cổ như cao bồi Mỹ, giày cao gót lêu khêu trên đường làng, mặt phấn son tri trét, người sực nức dầu thơm tân thời thay cho mùi chanh, mùi bưởi mà cô thường dùng khi xưa. Tiếng hỏi câu chào người quen cũ cũng kiểu cách hơn xưa vì nói năng lắm chữ mù mờ tối nghĩa... , ai thấy chướng mắt mặc ai. Riêng cô rất tự hào về sự 'tỉnh hoá' của mình. Sao lại có thể tự hào về sự diêm dúa trang phục, lai căng ngôn ngữ... Đó là nhận xét của giáo sư xã hội học, khoa học nhân văn. Cô sen chỉ thấy mình hơn bạn bè trang lứa trong xóm cũ, đã là vui rồi. Không tự hào sao được. (Chuyến này về quê, thể nào chả có vài chị em trong xóm nhờ mình dắt lên thành để có cơ hội đổi thay như mình.) Nửa thế kỷ sau, người dân quê không còn chạy giặc súng đạn thì chạy giặc đói nghèo. Lại trỗi lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn còn thê thảm bội phần.

Trong hoàn cảnh xã hội, đất nước có 90% dân số làm nghề nông. Bỗng chiến tranh lan tràn và ngày càng khốc liệt đã xô đẩy những phận đời nông dân lên thành thị làm trò cười cho thiên hạ trong sự rẻ khinh từ khi chữ 'sến' với chức năng danh từ, chỉ một thành phần xã hội đã bị miệng đời lợi dụng dùng chữ 'sến' để miệt thị, khinh khi người khác thì vô hình chung từ ngữ 'sến' đã bị biến thành tĩnh từ miệt thị, chỉ tính cách thấp kém. Dù con người bị xã hội xếp vào thành phần 'sến', mà nguyên gốc là 'sen', không hề đáng khinh như những kẻ rởm đời, có địa vị trong xã hội không chừng! Những người trưởng giả học làm sang thì xã hội nào, thời nào cũng có. Những người thiếu căn bản ngữ pháp tiếng Việt, xài từ ngữ tùy tiện làm cho tiếng Việt trở nên tối nghĩa; sự nhập nhằng danh từ và tĩnh từ ở ngôn ngữ nói trong nước ngày càng phổ biến sau 75.

Trở lại vấn đề, Chúng ta đi mang theo quê hương - có 'sến' theo cùng! Ra hải ngoại, 'sến' vẫn sống hùng sống mạnh ở chợ, hãng xưởng... Lãng mạn không đúng nơi thành lãng nhách, bị gọi là... sến. Tóm lại, sến hay không là chuyện (việc) xảy ra có phù hợp với thời gian, không gian thích hợp cho chuyện (việc) hay không. Sến không mang ý nghĩa rẻ khinh, như người ta vẫn thường nghĩ về nó. Ở môi trường, không gian, thời nào, con người ứng xử tương hợp thì không 'sến'. Trong một vài trường hợp đặc biệt, 'sến' bước ra khỏi một cá nhân. Ví dụ, mọi người đi đám ma đều mặc đồ đen, nhưng lại có một vài người mặc áo đỏ thì bị số đông coi là sến. Không ai quan tâm tìm hiểu đến thiểu số áo đỏ muốn có một kỷ niệm cuối cùng với người quá vãng : vì họ đã cùng người quá vãng mặc áo đỏ trong một dịp đặc biệt nào đó mà bây giờ nhóm áo đỏ của họ vừa mất đi một người bạn. Họ mặc áo đỏ để tiễn đưa người bạn trong nhóm áo đỏ, lần cuối. Tự thân những cái áo màu đỏ không làm cho không khí tang lễ kém phần trang nghiêm, thậm chí mang nhiều ấn tượng về kỷ niệm nhưng chính sự miệt thị thiếu suy xét của đám đông làm cho tang lễ ồn ào.

Xét cho cùng, 'sến' là sản phẩm đặc biệt đã đượïc đẻ ra từ tác dụng trộn lẫn xã hội, từ nông thôn lên đến thành thị, thành từ ngữ chỉ định một tầng lớp người lao động.

Nhạc sến

Với những trình bày ở trên, tóm lại “ sến” là một tầng lớp ra đời trong xã hội chiến tranh leo thang. Sự hình thành giai tầng mới trong xã hội luôn kèm theo những đóng góp và nhu cầu hưởng thụ. Nhu cầu về âm nhạc của thành phần lao động ngày càng lớn trong xã hội phát triển càng đòi hỏi tiếng hát lời ca phù hợp: 'Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng đôi mắt em. Vai em gầy guộc nhỏ. Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh...TCS', lời nhạc xa vời, trừu tượng, khó hiểu như thế này thì làm sao đáp ứng được tâm hồn mộc mạc, đơn sơ của người dân quê trôi dạt lên thành. Người lao động không 'cảm' nổi 'mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao....TCS' Với lối đảo ngữ bí nhiệm trong ca từ của nhạc Trịnh thì người bình dân chào thua. Trái tim đơn sơ nhưng giàu tình tự quê hương và tình người mộc mạc, người nhà quê chỉ tiếp thu những ngôn từ thường dùng, thường ngày trong đời sống tay làm hàm nhai của họ. Những tâm hồn đơn sơ cũng không độc ác được như '... mưa bên chồng có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng... VTA' Dòng nhạc này không thể thuận nhĩ người bình dân, vì cô gánh nước mướn với anh xích lô, hay với anh chạy xe ba gác thấy không thực tế. Họ chỉ hiểu được sự đơn giản như chuyện kể, kể có vần điệu như lục bát, ca dao và ăn khớp với điệu Bolero. Là âm nhạc.

Những người hiền lương, tâm tư đơn giản, tâm hồn chất phác thật thà, họ có đầy đủ những rung cảm trước tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương. Họ thích được nghe, được hát những giai điệu âm thanh, ý nghĩa lời nhạc sát thực với đời mình hơn. 'Thức trọn đêm nay để nhớ thương em, anh nghe tình yêu nhắc nhở êm đềm - nhớ từng nụ cười ánh mắt, tóc em thơm giấc ngủ diệu hiền...'; ' ước gì mình đừng ngăn cách, ước gì nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay...' Người con gái trong tình yêu không trọn vẹn này cũng đau khổ lắm chứ, biết bao kỷ niệm rã rời về tình yêu cũ nhưng không ủy mị, ngoại tình tư tưởng đến khóc thầm như TTKH 'Tôi vẫn đi bên cạnh một người/ Ái ân nhạt nhẽo của chồng tôi/ Mà từng thu chết từng thu chết/ Vẫn thấy trong tim một bóng người.' Cô nhà quê thành thật tỏ bày hơn 'tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang...' Hai nỗi đau dang dở của hai thành phần xã hội cùng dở dang chuyện tình như nhau, nhưng cách thế nào nhân bản hơn? (Xin nhường lời cho những nhà phê bình âm nhạc, nghệ thuật). Trong phạm vi bài viết nhỏ này chỉ đơn phương diễn tả từ cảm nghĩ cá nhân người viết. Chắc không cần màu mè như những nhà ‘trí ngủ’, không nghe không phải là không thích mà sợ người khác nghe mình nghêu ngao một lời nhạc sến thì bị chê bai nên a dua theo những người vọng ngoại, nghe nhạc cổ điển tây phương của Mozart, Beethoven. Đọc 'Cuốn theo chiều gió - Gone with the wind'; 'Doctor Zhivago' để thể hiện ta đây! Thôi thì thời thượng của những chàng tóc dài, quần ống loa. Đối tác của họ là những nường váy ngắn, tóc tém... điên loạn theo phong trào hippy với âm nhạc ngoại quốc Francois Hardy, Sylvie, Vartan, Johny Halliday, Christophe, Art Sulivan... Nhạc do lính Mỹ đưa đến với The Beattle, Lobo, The Three Dogsnight, Bee Gees... Thế hệ đàn anh đàn chị, có bao nhiêu phần trăm thực sự đủ trình độ để cảm thụ văn hoá tây phương qua văn chương, âm nhạc? Bao nhiêu phần trăm vịt nghe sấm, cóc ngồi đáy giếng nhưng không dám thoát ra khỏi phong trào, xu thế thời đại mình cũng chỉ vì sợ mang tiếng 'sến'.

Trở lại với Nhạc dân tộc thì những nhạc sĩ bất tử như Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Từ công Phụng đã có những đóng góp không thể chối cãi cho âm nhạc Việt Nam cận đại nhưng ở dòng nhạc thính phòng, thế giới âm thanh, giai điệu trưởng giả trong âm nhạc nói chung. 'Sao mắt nhung không nuối tiếc khát khao đợi chờ.. .NTM'. Đôi khi bí nhiệm triết học mang màu sắc tôn giáo như 'Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô; với mặt trời lẻ loi... TCS'. Thì cũng có những kẻ 'Ôi, lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ bước chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia bến bờ, đời người như gió qua...' cảm thụ được.

Với những nhạc sĩ ‘chuyên trị nhạc sến’ như Trúc Phương, Mạnh Phát, Duy Khánh, Châu Kỳ, Lam Phương... Họ phải nói là các tiền bối đã kết hợp thành công tân nhạc với giai điệu ngũ cung của đàn tranh, độc huyền cầm. (Nói theo Trúc Hồ là bác Bằng (Anh Bằng) hay dùng quãng sáu của vọng cổ để viết tân nhạc). Từ đó, âm nhạc Việt Nam cận đại có một dòng nhạc phong phú, giàu chất quê hương, tình tự dân tộc và tình cảm lứa đôi mà từ bến xe ra cầu đò đều nghe được. Nếu là con cháu miền Nam thì thể nào trong sâu xa tâm hồn chả lắng đọng một câu hò, khúc hát, câu ca dao đậm đà phong thổ... 'Từ bên này sông Tiền, qua bên kia sông Hậu, mang theo cây độc huyền, với điệu Lục Vân Tiên...' Bây giờ biền biệt chân trời góc bể, 'Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...' nhớ thuở nào còn rù rì với ngoại xấp nhỏ... 'Má ơi, con lấy thợ bào/ khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu'. Chê anh bác sĩ cù lần, thầy cãi ba đía, sĩ phu ưa hit and run... Sợ 'Gió đưa cây cải về trời/ rau răm ở lại chịu lời đắng cay' Người thiếu nữ của ba mươi năm trước, nhìn vô nhà thấy ông thợ mộc già ngồi ho khụ khụ... con cháu đầy nhà, sui gia đầy ải. Mở máy nghe mấy câu nhạc mùi cũng đúng tâm trạng lắm chớ! Nhạc sến vẫn còn tác dụng ở hải ngoại chứ sao không!

Người Nam phần dễ cảm nhận tình tự quê hương, tiếng lòng người sáng tác trong Nhạc sến hơn, vì chân chất như chính lòng mình. Xét về nghệ thuật trong Nhạc sến cũng không phải là dễ, vì triết lý bình dân và tính nghệ thuật dân gian qua Nhạc sến đã trình bày đầy đủ tâm thức phức tạp của giai điệu miền Nam - từ lòng người đôn hậu đến phong thổ hữu tình. Nghe Dạ Cổ Hoài Lang với tiếng hát Hương Lan thì có thua gì nhạc giao hưởng phương tây mà Mozart, Chopin đã để lại cho đời. Nghe triết lý trong Nhạc sến mà nghĩ kỹ thì sến chỗ nào? Nhạc sến hay mình sến? 'Đường thương yêu (đau) đầy ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời, cười ra nước mắt! Xưa trắng tay gọi nhau bằng hữu, giờ giàu sang quên kẻ tâm giao...' Có thể tóm lại là nội dung câu 'Giàu đổi bạn, sang đổi vợ' triết lý xã hội đã sống thọ được ngàn năm trong văn chương truyền khẩu thì tính triết lý đâu phải nhỏ. Khoác cho tiền nhân chiếc áo sến, oan thay!

Giai điệu quê hương trong Nhạc sến chẳng thua bất cứ một dòng nhạc quê hương nào trên thế giới.'Chiều nhìn ra đầu ngõ, bâng khuâng lòng tưởng nhớ dáng xinh xinh một người. Được nghỉ dăm ngày phép, hết hai hôm làm quen, em mới cho mình biết tên...'; 'Tôi ở ngoại ô, một căn nhà nhỏ... gần kề cuối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn...'. Thơ mộng quá! Hữu tình quá chứ?! Đến 'Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê. Anh làm thơ vu quy, khách qua đường lắng nghe, chuyện tình ta đã ghi...' mang vần điệu dân ca nhuần nhuyễn. Thể loại này trong Nhạc sến Việt Nam nhiều đến không tài nào nhớ hết.'Một bước xa rời muôn kiếp ly tan, một cánh thiệp hồng khiến người sang ngang. - Mười hai bến nước thênh thang, từ nay đôi nẻo quan san - Khóc cho đời bạc trắng lửa hồng...' Vần điệu dễ dàng như thơ lục bát, người Việt nào cũng có thể làm thơ lục bát, nhưng lục bát hay thì hiếm lắm! Nhà thơ 'Bất tri tam bách dư niên hậu/ thiên hạ hà nhân khấp Tố Như' để lại tác phẩm 'Kiều' với nhiều câu lục bát trứ danh, trở thành thành ngữ trong giao tiếp xã hội 'mày râu nhẫn nhụi áo quần bảnh bao' là biết ngay loại đàn ông trăng hoa, chải chuốt, Sở Khanh; 'Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ' đã đạt tới chân lý của lòng người... Thì người viết Nhạc Sến đậm đà tình tự cũng cống hiến cho đời triết lý khó chối cãi... 'Đừng trách người ơi! Cuộc sống nổi trôi...' trên dòng vô định của kiếp nhân sinh.

Nhạc sến được viết ra thì phải có những sến nương, sến tử chuyên chở, cõng vác mới tới người nghe được. Vua sến Chế Linh như nhận xét của một sến tử ở địa phương làm rung rinh chai rượu trên bàn tiệc. Ông nói: 'Nghe ông Chế nhả chữ nhỏ trong câu thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ thì thánh cũng không bắt chước được kiểu phát âm tiếng Việt giọng Khờ-Me, nghe khờ căm luôn linh hồn'. Những sến nương cất lên tiếng hát là làm mềm nhũn trái tim người lính mà bài viết sẽ đề cập sau. Tuy nhạc sến không kén người hát người nghe nên đâu cũng có giai điệu mộc mạc, bình dân dễ hiểu của nhạc sến theo chân người bình dân. Mấy người thương binh với xị rượu đế, cây đàn thùng, cặp muỗng ăn hột vịt lộn và một chiều mưa. Họ hát 'Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau.. . nâng ly cà phê, ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều, thu về gió lạnh hoàng hôn, thấy tâm tư dạt dào...' ,ai nghe mà không nghẹn ngào thì không phải người Việt Nam. Vậy, nhạc sến dở chỗ nào mà chê?! Nhạc Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công sơn, Từ Công Phụng... đi vào lòng người bằng triết lý hiện sinh, đôi khi siêu thực thì nhạc sến đi vào lòng người bằng tâm tình chia sẻ. Với lối kể lể tâm tư về những chuyện tình ngang trái, những quê cũ mịt mờ trong khói lửa chiến tranh; quê hương diệu vợi trong kiếp sống tha phương thì ai không nức nở cõi lòng cũng không phải người Việt Nam luôn.

Sinh ra cùng nhạc sến ở Sài Gòn, sống với nhạc sến từ khung cửa sổ nhà hàng xóm vọng sang cùng hương chanh, hương bưởi, chép nhạc sến vô Lưu bút học trò của bạn bè, nghe nhạc sến trên đường tha phương cầu thực, viết về nhạc sến ở nơi cách xa quê hương nửa trái địa cầu. Phải chăng là chữ 'Duyên': 'Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ'. Nghe Tuấn Vũ hát như kể lại đời mình thì sao không mủi lòng xa nhà khi gió xuân lầy bẩy chồi non... 'Khi tôi sinh ra tôi đã mang kiếp con nhà nghèo - Qua bao nhiêu năm không đổi thay lớn lên vẫn nghèo...' Không làm bác sĩ cũng đoán ra được bệnh 'Viêm màng túi mãn tính' thì đúng quá với Việt kiều viết báo rồi, còn gì mà thắc mắc. Tự trong lòng hát ra thì sao ngăn được...'Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn - Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành...' Nghe an ủi dễ tè! Hổng thèm hát ngu ngơ 'dài tay em mấy thuở mắt xanh xao...'; 'ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...'

Trong đời sống hàng ngày ở hải ngoại, một người chê nhạc sến nên coi ca nhạc cứ dành cái remote control để pass qua tiết mục của mấy ông Vũ... Vũ... Một người khác cũng dành cái remote control để pass qua mấy bà Khánh... Khánh... Thử hỏi ai đúng ai sai?! Không có đúng sai gì sất trong âm nhạc vì người hát và người nghe phải cùng 'tần số' thì mới 'kết' nhau. Còn một tần số...phi âm nhạc là cứ đè em nào ít vải coi tới cho đáng tiền mua đĩa. Tạo điều kiện cho những trung tâm thiếu đứng đắn, chỉ tuyển lựa ca sĩ không sợ lạnh. Có lẽ vậy nên nhạc sĩ 'Tôi đưa em sang sông-Nhật Ngân' ngồi ở vị trí Ban giám khảo trong cuộc thi tuyển lựa tài năng của trung tâm Thúy Nga năm 2007 đã phát biểu sau khi thí sinh Quỳnh Vi hát. 'Nghe Quỳnh Vi hát thì những ca sĩ đã có tên tuổi phải tự coi lại mình'. Phải chăng, ông nhắc nhở những lực sĩ cơ bắp, những kiều nữ gợi cảm và cả trung tâm hãy trả lại cho sân khấu ca nhạc tính truyền thống của nó để tôn trọng khán giả và chất giọng tương xứng để tôn trọng tác giả bài hát. Phía khán giả cũng đừng đòi hỏi, yêu cầu quá đáng - những Eva nảy lửa đăng đàn để trình bày nhiều thứ khác hơn giọng hát.

Như vậy, 'sến' đã hình thành và phát triển không ngừng nghỉ với mọi lĩnh vực khác của xã hội. Sến đến từ đâu? Đi về đâu? Số phận của 'sến' ở hải ngoại, có gì khác trong nước? 'Sến' đến tự nhiên theo nhịp điệu cuộc sống. Đi về tương lai rạng rỡ hơn lên so với những lãnh vực khác của xã hội vì xã hội văn minh theo đà phát triển khinh xuất của khoa học kỹ thuật thì bỏ lại sau lưng thật nhiều người dở khóc dở cười.

Ra hải ngoại, chỉ tiếc cho bộ môn Cải lương bị xếp đồng hạng với nhạc sến từ trong nước. Cải lương ở hải ngoại không thịnh hành mấy vì khán giả của bộ môn này đã mai một nhiều. Trong một chương trình ca nhạc do bất cứ trung tâm nào thực hiện ở hải ngoại đều có một màn ca cổ để đáp ứng cho những người già. Khi những người già hiện tại không còn nữa, màn vọng vổ hay tân cổ giao duyên trong một chương trình ca nhạc còn không? Thật đáng tiếc khi Cải lương cũng là một bộ môn nghệ thuật như tất cả những bộ môn nghệ thuật khác, việc xây dựng nhân vật trong Cải lương cũng không khác gì nhân vật trong văn học - có đầy đủ tính thời đại từ ngôn ngữ ứng xử tới hành vi, đạo đức... Nói chung, người còn quan niệm coi Cải lương là lạc hậu, không đáng quan tâm vì nay quan niệm ấy là một sai lầm và đang mỗi lúc chiếm tỷ lệ ít dần đi của người thưởng ngoạn bây giơ,ø từ trong nước ra nước ngoài./.

Phan (Trích Your Friendly Internet Cafe)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Image

Không dấu vết
Những buổi sáng ngồi cà phê ở quán quen, đôi khi tôi bị mất cảm giác về thời gian. Như thể mình đang ngồi trong ngày hôm qua, hôm kia.


Quán vẫn cũ, những bức vách đã tróc lở vôi, và rêu bắt đầu ửng lên một màu xanh, như bộ râu quai nón của một chàng trai vừa cạo qua ngày. Người vẫn cũ, từ cô bé phục vụ tóc nâu đang hỏi anh ơi uống gì nhưng có vẻ chẳng chờ đợi câu trả lời vì đã thuộc lòng sở thích của từng người. Anh bán báo dạo không cần hỏi cũng giúi đúng tờ báo vào tay từng người. Chị bán vé số lượn lờ chờ một cái gật đầu. Bà cụ bán bánh phồng nếp đứng nấn ná vô vọng đợi niềm thương nhớ tuổi thơ, thương nhớ quê mùa của một ai trong đám đông này.

Và mấy anh quen quen ngồi kia là công chức làm việc trong những cơ quan đặt trên con đường này, tôi biết tên từng người, biết cả chuyên môn gì, chức vụ gì, dù chưa lần nào chào nhau. Quán nhỏ, nhìn mặt riết rồi quen, không muốn biết cũng biết, không muốn nghe lóm cũng buộc phải nghe. Nhưng sáng nào câu chuyện tình cờ nghe được từ mấy anh cũng xoay quanh chuyện… nhậu bữa qua. Nó ít nhiều xua tan cái không khí đờ đẫn lười nhác trên dáng họ, nhưng dự báo một sự trống rỗng kỳ dị. Họ hỏi nhau tối qua nhậu ở đâu, với ai, mấy giờ về. Đề tài rộng hơn là món ăn tối qua, loại rượu (hoặc bia) tối qua, chuyện phiếm tối qua, cả… vui buồn của những bà vợ tối qua, và cảm giác cơ thể sáng nay khi đã qua giấc say mèm…

Ngồi một mình chờ bạn tới, tôi hay ước phải chi mấy anh đó nói chuyện về một cuốn sách hay, một bài báo hay vừa đọc, một tin nóng vừa phát trên tivi… để tôi kéo ghế qua ngồi hóng hớt, góp chuyện cho đỡ buồn. Tiếc là cuộc gặp tưởng chừng giản dị đó chưa từng xảy ra. Những trang báo lật nhanh trong tiếng muỗng chạm đáy ly leng keng, nhưng vẻ mặt họ không chút gì quan tâm phiên chất vấn ở Quốc hội sáng nay, chiếc máy bay mất tích, trái đất đang nóng dần lên, băng sẽ tan, châu thổ này sắp ngập trong nước biển… Cũng chưa bao giờ tôi nhìn thấy họ cầm cuốn sách trên tay, có thể họ đọc sách ở nhà, hay trong văn phòng, nhưng sáng nay gặp bạn bè thì họ chỉ khoe, hôm qua đánh trận ở Phượng Vĩ, say quá trời, gọi cho ông mà không được. À, trưa qua có thằng bạn dưới huyện lên xách theo mấy con rắn nước, quần nhau tơi bời, ngủ luôn. Câu chuyện cứ cuốn theo vậy vậy vậy vậy. Và tôi buồn mình ên.

Quá nhiều bạn bè, quá nhiều người quen của tôi đã gởi một phần đời vào những tiệc tùng gọi mời giăng giăng trong thành phố. Nhưng chiếu rượu, quán rượu hoặc quá hời hợt hoặc quá bận bịu, nên đã để đời họ trôi đi, không tăm tích.

Những khi ngó tờ lịch chói chang ngày mới, tôi thường tự hỏi, ngày này năm trước, mình ở đâu, làm gì? Bằng cách đó tôi biết đoạn đời đã qua mình sống như thế nào. Nhưng một năm ròng rã, dồn đếm lại thì chỉ vài ba ngày là nỗi nhớ còn níu lại được. Ừa, ngày này năm trước mình ở Trường Sơn, ruột réo sôi ngồi ngắm bướm bay, ước bướm là… gà để chụp một con đốt lửa nướng ăn cho bớt đói. Ngày này năm trước mình đọc trang cuối cùng cuốn Suối nguồn của Ayn Rand. Ngày này năm trước, người bạn viết già đã nói mình nghe bài học về sự kính trọng chữ nghĩa. Ngày này năm trước, mình trồng cây bằng lăng trước sân nhà… Hàng trăm ngày còn lại, tôi đã không có câu trả lời, bởi nó đã tẻ nhạt trôi đi cùng những công việc nhàm chán, những quán xá những la cà…

Nên những khi ngồi quán, tôi nhìn quanh và nghĩ, ngày này năm trước, những người kia làm gì, ở đâu. Từ những chuyện vãn rời rạc vẳng lại, không hiểu sao tôi nghĩ họ có rất ít câu trả lời…

Đành đổ lỗi cho cái không khí buồn tẻ của tỉnh lẻ, cái nhàm chán của đời công chức, cái vồn vã quyến rũ của những quán rượu… đã làm vụn đi, làm phai lạt những người ta.

Nguyễn Ngọc Tư
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Nghiêng
Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng... Thấy dáng còng còng của người già, thấy cả cái vênh váo của những cô gái trẻ, thấy ánh mắt hiền hoà của bác trung niên...

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng. Đã bao giờ bạn thử nhìn mọi thứ như thế chưa? Đôi khi, nhìn nghiêng cũng thú vị ra trò! Cứ thử xem bạn nhé !

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng...

Sẽ thấy những hàng cây thêm dài ra bất tận, sẽ thấy con đường cong queo như một đường chì vẽ vội, sẽ thấy cái cột điện với những dây nối chằng chịt như quấn them vào nhau, và sẽ thấy bờ đê dài bỗng nhiên bé tẹo…

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng...

Những nhạt nhẽo trở nên yên bình, những xa lạ bỗng thành bình thường , và tiếng cười đôi khi lanh lảnh, cũng thật thà hơn những gì cần biết ..

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy ánh mắt đang cụp xuống suy tư, thấy vầng trán loà xoà tóc che vì thức đêm lắm mụn, thấy lỗ mũi hênh hếch xinh xinh đang sụt sịt khóc.

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy dáng còng còng của người già, thấy cả cái vênh váo của những cô gái trẻ, thấy ánh mắt hiền hoà của bác trung niên...

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy những nỗi buồn của mình va vào nhau sóng sánh, thấy niềm vui cứ dài mãi rồi nhạt nhoà hơn, thấy bình yên như một cây cột điện nằm ngang… Thấy gió vèo qua tai nhưng không táp lên mặt, thấy tóc bay và váy lượn tưng bừng...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tuỳ bút: Phở.. và phở gà.

Image
Đĩa rau sống, ớt xanh và chanh hiện nay thường thấy bày ra ăn với Phở.

Image
Tô phở tái nạm nhỏ hiện nay thường thấy

Bút Xuân.
Ngày xưa, đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhờ thần hiện lên chỉ dẫn mà hoàng tử thứ mười tám Lang Lèo (tên chữ gọi Tiết Liêu) - mồ côi mẹ - chế tác ra được bánh dày và bánh chưng, tượng trưng trời và đất (trời tròn, đất vuông) dâng lên vua cha và được truyền ngôi. Kể từ đó, bánh chưng bánh dày gắn bó với tộc Việt như bóng với hình xuyên suốt chiều dài bốn nghìn năm lịch sử. Bánh chưng bánh dày chính là một trong những nét đặc trưng và truyền thống của Văn hóa Việt.

Điều ấy chứng tỏ trong việc biến chế thức ăn, người đầu bếp phải đem cả cái tinh thần của mình vào và phải thông minh một chút món ăn mới ngon.
Để tạ lại tâm tình người sáng chế cũng như nấu nướng, thực khách cũng phải dùng cả cái tinh thần của mình mà thưởng thức thì mới cảm nhận hết được mùi vị thơm ngon đặc biệt của mỗi món ngon. Bởi vậy cổ nhân chê những hạng người phàm phu tục tử, chỉ ăn cốt lấy no, lấy xong, chứ tuyệt nhiên không thưởng thức được cái phần đặc biệt, phần sâu sắc của món ngon. “Thực bất tri kì vị” để chỉ những hạng người ấy. Ca dao cũng có câu:

Vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu
Rượu ngon uống vội, chè tầu một hơi!

Phàm thức ăn để nuôi sống con người, bất kể là thức ăn của nước nào, giống người nào đều qui về ba chất liệu chính: bột, thịt và rau. Bột như cơm, bánh, khoai, các thứ đã nghiền thành bột; thịt như bò, gà, heo, trừu, tôm, cá và rau là các thứ hoa quả như cà chua, cà tím, dưa, rau các lọai.

Ngoài bánh chưng bánh dày, hôm nay chúng ta đề cập tới một món ăn độc đáo và truyền thống khác: phở. Vâng, phở. Phở rất giản dị nhưng hội đủ ba chất dinh dưỡng cần thiết vừa nói: bột, thịt và rau.

Làm nền cho tô phở là bánh phở trắng phau từ bột gạo đã xay nhuyễn, đem tráng trên nồi hơi thành ra một thứ bánh mềm mại, không dày quá, không mỏng quá, trước khi ăn đem xắt mỏng ra xong lại cho vào súc trong nước nóng khoảng vài chục giây rồi mới đổ ra tô để bánh được nóng và mềm lúc ăn. Thịt thái để riêng từng thứ: Tái là thịt bò tươi còn rịn máu mầu hồng, thịt tái lấy ở cái thăn (filet) con bò nên rất mềm, rất ngọt. Phụ thêm cho đúng khẩu vị khách ăn là chín, nạm, vè, gầu, gân, sụn, sách...,tất cả rải đều trên mặt tô phở. Hành hoa, hành tây và ngò (mùi) đã xắt nhỏ rắc vào, thêm chút tiêu, rồi dùng muôi lớn chan nước dùng đang sôi liu riu nhưng thật nóng lên thịt và bánh, xong bưng ngay cho khách thưởng thức, để riêng vài lát ớt đỏ và vài miếng chanh cắt xéo.

Khách ăn Nam kỳ thì thêm đĩa giá, trụng nước sôi hay để sống; giống như thói quen khi ăn hủ tiếu. Còn khách Bắc kỳ là một đĩa rau diếp xanh tươi cùng với ngò gai, húng quế, húng lủi hay húng cây để thưởng thức cho tô phở thêm đậm đà. Khách Bắc ngày nay nhiều người cũng thích phở có giá trụng và hành trần. Từ ngày di cư vô Nam năm 1954, giá sống với rau “muốn” (không có ‘g’ đấy cô thư kí), rau ôm khắng khít keo sơn, tưởng không gì gắn bó hơn. Tương đỏ đã có từ lâu lắm, người Tầu gọi là “lạp chí chương” có thể thay cho mấy lát ớt. Từ ba chục năm nay, bát phở lại có thêm tương đen, thứ “hoisin sauce” của người Hoa, có chất ngọt. Tuy nhiên những gia vị này là “nhân tâm tùy sở thích”.. Nước béo cũng vậy. Có người đòi cho được vài miếng mỡ nhừ nổi trên mặt thùng nước phở, thêm vài muỗng nước béo ngậy dội vào vài cọng hành hoa tươi xanh. Có người lại dặn đi dặn lại, “nước trong đấy nhé!” Thực là bá nhân bá tánh, “bá nhân bá khẩu”; nhưng các bác bán phở chuyên ngành bao giờ cũng “rất nhũn như con chi chi”, các bác chiều được “tất tần tật”, chẳng làm ai thất vọng.

Lại có những bác phu xích lô, ba bánh, kiếm đồng bạc khó khăn, coi bữa phở như một đại tiệc: Thế nào bác ta cũng phải thủ vào túi áo một nửa xị đế và một khúc bánh mì. Ực một ngụm rượu, đưa cay bằng gắp bánh phở với chút thịt, phải ăn từ từ để ngẫm nghĩ cái ngon, cái thơm, cái bùi, cái béo. Bẻ miếng bánh mì chấm vào nước phở ăn cho đủ no, vì tiền đâu mà gọi tô nữa. Ăn xong, bác bèn lấy làm vô cùng mãn nguyện, xe lăn bánh ào ào!

Trong ba thứ để làm thành tô phở ngon, thứ nào cũng quan trọng: bánh, thịt và nước dùng.

Nước dùng nấu công phu, rất tốn thời gian. Trước hết là xương bò, gồm xương cổ và xương ống đã cưa nhỏ ra đem tẩy sạch (có tiệm tẩy bằng rượu) sau khi ngâm vài giờ trong nước ấm. Những người sợ mỡ ngày nay không thích dùng xương ống vì xương ống cho chất tủy, nhiều cholesterol. Sau đó cho xương vào thùng phở lớn mà ninh lửa liu riu, sôi nhẹ nhẹ vì nếu lửa lớn sôi sùng sục sẽ làm thùng nước dùng đục ngầu, hỏng nồi nước. Vừa ninh như thế vừa phải vớt bọt kĩ cho trong nước, nêm gia vị và gừng để có mùi phở và muối cho vừa miệng. Có hàng phở nói ,nồi nước dùng ninh phải 10 tiếng mới đủ. Lúc đó, lớp mỡ tự động nổi lên trên mặt nồi nước bao lấy mặt như cái vung làm nước phở sôi liu riu mà vẫn thật nóng, không cẩn thận bỏng lưỡi. Những điều này, người viết học hỏi từ các bác bán phở “thân tín” từ hồi còn để chỏm chứ thực tình chưa được đi bán phở bao giờ!

Thịt và bánh ngon nhưng nước dùng không ngon, phở không ngon. Nước dùng ngon, thịt ngon nhưng bánh nát hay cứng quá, phở không ngon. Nước dùng và bánh ngon nhưng thịt dai nhách, nhạt nhẽo, tô phở cũng không ngon. Tất cả đều ngon nhưng phở nguội ngắt, không ngon. Như vậy, bốn yếu tố vừa kể là quan thiết nhất cho một tô phở ngon, một tô phở có phẩm chất cao.
Ăn phở phải ăn thật nóng, càng nóng càng tốt và chính cái nóng làm tăng thêm mùi vị phở vốn đã nồng nàn. Còn chỗ ngồi để ăn và người cùng ăn phở không quan trọng cho lắm, như Tản Đà tiên sinh bàn về món ăn. Phở không cần phải nhà lầu hai, ba tầng mà một góc bàn với bát đũa sạch sẽ, thơm tho là được. Ăn phở cũng không giống như uống rượu thuốc, nhậu thịt rừng, cứ lai rai ba sợi chén chú chén anh từ trưa đến tối. Phở phải ăn nóng, mỗi người một tô, ăn xong nói chuyện cũng chẳng sao!

Về cách nêm gia vị, lại cũng không thể dùng mì chính ở Bắc, bột ngọt trong Nam đánh lừa vị giác thực khách. Bột ngọt (monosodium glutamate) ăn nhiều hại thần kinh và làm cao máu, vì nó chính là một lọai sodium. Ăn xong tô phở buổi trưa, sau mười phút có thể biết ngay là phở đã nêm nhiều bột ngọt: Hai thái dương giật giật như cao máu, thị giác kém, phía ót và đỉnh đầu nhức nhức, người như say say suốt cả buổi chiều.. Khốn nỗi có những quán ăn, vì muốn được khách đã dùng cả bột ngọt nêm vào nước mắm chấm cho thêm đậm đà! Còn nước phở thì khỏi nói!
Nếu bây giờ có một cuộc thi món ăn đặc trưng của dân tộc trên trường quốc tế, mỗi quốc gia đưa ra một món truyền thống tiêu biểu đắc ý nhất thì riêng Việt Nam ta, Bút Xuân xin đề nghị món phở bò.

Quả vây, phở phổ thông đến nỗi hầu như cả nước không có ai là người chưa ăn phở. Nếu thực sự có nhóm người chưa từng ăn phở bao giờ thì tỉ lệ cũng rất thấp so với nhiều triệu người đã từng ít nhất một lần ăn phở : phở bò hoặc phở gà.

Chỉ có điều, chưa ai xác định được phở xuất hiện ở nước ta từ bao giờ và tại sao lại đặt tên cho nó là phở, một danh từ rất bình dân học vụ? Một vài người nại ra món súp của người Pháp có tên là “pot au feu” (pô-tô-phơ), món thịt bò hầm người Pháp hay dùng. Thời Pháp đô hộ nước ta, dĩ nhiên đã có “pot au feu” và khi người Việt đầu tiên ninh thịt bò theo lối pô-tô-phơ, thử cho bánh tráng vào ăn thấy ngon, liền nhái theo chữ “feu” thêm dấu cho đậm đà mà đọc là phở. Đây chỉ là giả thuyết, không có gì vững chắc.

Mỗi món ăn, theo chiều dài lịch sử của chính nó, là những thử nghiệm các chất liệu qua nhiều người và xuyên suốt nhiều thời gian. Không phải tự nhiên ta có món bún bò Huế thơm ngon, cay se,ø ăn hòai mà không chán như hiện nay. Mì Quảng, hủ tiếu, bún thang, bún ốc, tiết canh vịt v.v...cũng theo trình tự khả tín đó, thứ lâu thứ mau, tất cả đã được nấu, nêm, nếm, so sánh, suy nghĩ rất nhiều, kể cả phải đổ đi hàng lọat để chúng thành những món ăn hợp khẩu vị chúng ta ngày nay, lâu không ăn là nhớ, ăn là ăn hoài không chán, bởi cha mẹ đã cho ăn từ hồi còn nhỏ, những mùi vị ấy đã được bộ óc xếp vào trong bộ nhớ lâu dài (long term memory) sau đó chỉ thóang ngửi thấy ở mũi hay tan trên lưỡi là biết liền đích thị ‘bồ tèo’.

Trường phái ấn tượng và siêu thực phán rằng, phở cũng phải qua những giai đọan “gay go” để hình thành như các món ăn khác: Có thể đầu tiên người ta thử nghiệm “pô-tô-phơ” với bột nghệ, thấy ăn không ngon lắm. Rồi bột quế chi, bột thảo quả, bột riềng, nhiều thứ khác kể cả mắm tôm, mắm ruốc, mắm cáy, mắm rươi... Thử mà! Đâu đã biết thứ gia vị nào, chất liệu nào hợp, thứ nào không?

Thực ra, chẳng cần phải nhái pô-tô-phơ mà chúng ta mới có phở. Quí bạn đọc nghĩ coi, ngày xưa, xa lắc xa lơ, cứ mùa Xuân làng vào đám cúng đình, hội Xuân, cả làng, cả tổng ăn chung với nhau một bữa đại tiệc, khắp lượt đàn ông, đàn bà, con nít nên phải ngả trâu, vật bò mới đủ. Thịt thà lạng ra, lóc ra ăn rồi, thế xương làm gì? Của đâu đổ đi? Thế là mấy tay hỏa đầu quân lấy nồi ba mươi hay những cái vạc thật lớn thường dùng để nấu cơm cho binh sĩ, bỏ xương vào ninh cho thật nhừ, tra nước mắm và muối cho vừa miệng. Thế là có một món canh rất ngon, chan vào cơm, người lớn trẻ nít thưởng thức hết mình.

Tiết Xuân còn lạnh, vài cụ Đông y sĩ lại nảy ra ý kiến là cho thêm ít lát gừng cho ấm bụng. Gừng hồi xưa là một vị thuốc thiên nhiên, dùng nhiều trong dân gian. Đau bụng, đầy bụng dùng gừng; tiêu chảy, lạnh bụng dùng gừng; nhức đầu, sổ mũi dùng gừng; mà cảm gió, kinh phong cho đến say rượu, say thuốc, mỏi lưng, đau khớp cũng dùng gừng giã dập ra chưng với rượu trắng thoa bóp trên thái dương, trên cổ, khắp người đồng thời uống một li nước gừng thật nóng. Có người không ăn được tỏi, riềng hay hành nhưng gừng ai cũng thích và coi là thứ nên thuốc. Xương bò hầm nhừ có mùi vị gừng, chắc không có ai chê. Dần dà, người ta không ăn với cơm nữa mà cho bánh tráng vào thử xem sao. Thấy ngon và lạ hơn ăn với cơm; rồi một cụ đông y sĩ nào đó biết rõ dược tính và mùi vị của hồi hương (cánh hồi hình ngôi sao), liền đề nghị cho ít bột hồi vào món thịt bò hầm mà thành ra món phở ngày nay. Dĩ nhiên các tiểu tiết như tái, chín, gầu v.v...thêm hành ngò, húng quế hoặc ngoài gừng và cánh hồi còn có thảo quả, quế chi v.v...là do những người đi sau thêm thắt, sáng kiến mãi ra cho hoàn bị.

Quả phở là món ăn đặc thù, ngoài Việt tộc không dân tộc nào có.

Về cái sự thử nghiệm món ăn, mới đây Bút Xuân đến thăm vài nhà người quen ở Little Saigon, Cali. thấy cả gia đình đang tíu tít ăn pizza chấm với mắm tôm chanh. Trẻ con, người lớn khen nức khen nở, rằng ngon hơn pizza ăn không nhiều. Gia chủ bảo tôi: “Ông thử miếng coi. Rất ngon! Không chừng ông bắt ghiền đó!”

Còn một gia đình khác lấy pizza cuốn bánh tráng, rau sống, rau thơm, chấm nước mắm chua ngọt hay mắm nêm đã pha. Cũng là thử cả đấy! Hễ ngon, hợp khẩu là cứ thế truyền đi khỏi cần quảng cáo, bởi nguyên tắc của ẩm thực là hợp khẩu vị. Không hợp khẩu vị thì nem công chả phượng, sơn hào hải vị cũng không bằng bát canh bầu nấu với tôm khô chan cơm!
Pizza chấm mắm tôm! Đúng là đông tây gặp nhau tay bắt mặt mừng, nên câu:”Đông là đông, tây là tây. Đông tây không bao giờ gặp nhau” của triết gia Ruyard còn phải xét lại.

Thử nấu rồi nếm, cho nhiều người nếm, ghi nhận lấy cái mùi vị của nó, xong lại nấu thứ khác, lại nếm, lại ghi nhớ. Qui trình này chỉ chấm dứt khi mọi người trong “ban nếm” đồng ý thịt bò hầm cho bánh tráng vào khi nó đã được ninh với gừng tươi và cánh hồi, cho một mùi vị đặc biệt thơm ngon lại ấm bụng không món nào trùng hợp. Sau đó thêm hành, ngò, húng quế, chanh, ớt cho tăng mùi vị. Và sau cùng, thịt không hoàn toàn chín mà có tái, có gầu, vè, sụn, sách, gân.. .ăn ngon hơn, bổ dưỡng hơn và thịt dòn hơn.

Cũng có những tiệm phở tự chế gia vị cho mình gồm tiểu hồi, đại hồi, quế chi, hạt ngò khô, tất cả nghiền nhỏ sau khi đã rang lên rồi mới bỏ vào nồi nước dùng. Lại cũng có loại gia vị chỉ dùng thảo quả (tò ho) mà không dùng cánh hồi. Tất cả những mùi vị hỗn hợp đó thích hợp với một số người là do người thích mùi này, kẻ thích mùi kia, không ai giống ai mà tạo ra. Nhưng mùi nào thì mùi, mùi phở phải thơm và hơi nồng một chút cho người ăn cái hương vị ấm áp lúc ăn bát phở, nhất là ăn về mùa lạnh, phở ấy mới được gọi là ngon.

Thời Pháp thuộc, khi nói đến phở là ai ai cũng nghĩ đến phở bò. Mãi sau này, khi dân Hà nội, Hải phòng và các thành phố tản cư đi những vùng thôn quê, vì không có thịt bò nên lấy gà thay thế mà thành ra món phở gà tự bấy đến nay.

Trong dân gian, người ta cũng thấy những câu tục ngữ, thành ngữ sau đây xuất hiện từ rất lâu đời:“Cái quần cháo lòng, cái áo nước súyt.” Nước súyt là nước luộc thịt hay lòng heo, ám chỉ quần áo tồi tàn.

“Hắn đội cái mũ phở”, cái mũ của anh bán phở. Đó là cái mũ phớt (feutre) cũ đội lụp sụp chỉ trông thấy nửa khuôn mặt, nhiều bác bán phở khi xưa thường đội..“Ông ta sợ quá chạy tóe phở”: chạy trối chết, chạy vắt giò lên cổ.

Ngày còn sinh thời thầy mẹ tôi, khi ở Hải phòng, khi ở Hà nội hay Nam định, thứ quà sáng gia đình tôi hay ăn là phở, bởi thầy tôi rất thích phở, có thể nói là ông ghiền phở. Khi rảnh rỗi, thứ bảy chủ nhật, cả gia đình kéo đến tiệm phở, hoặc ở phố hàng Buồm, phố hàng Cót hoặc ở gần ga hàng Cỏ. Khi không rảnh thì gọi những gánh phở đi qua hoặc mẹ tôi sai chị người làm đem cái liễn sứ có vung đậy đi mua phở về cho thầy tôi và tôi. Không phải gặp bất cứ gánh phở nào cũng mua mà chị người làm đã được dặn kĩ là gánh phở bác Sủng hay gánh phở mũ tây (bác bán phở quanh năm đội cái mũ trắng cũ xì) v.v...

Tôi nhớ lúc nhỏ khi bị bệnh ho cảm chẳng hạn, thầy tôi bảo mẹ tôi:“Đi mua cho nó bát phở thật nóng và nhiều hành, uống vài viên thuốc cảm rồi ăn phở, ngủ một đêm, sáng mai là hết.”
Quả vậy, bát phở nóng ăn tóat mồ hôi, ăn xong đã thấy có vẻ khỏi đến 50%, nhờ mấy viên thuốc hay nhờ phở hay nhờ cả hai? Nhưng lần nào bị cảm, phở cũng giúp tôi khỏe lại rất mau. Bữa nào không mua được phở, mẹ tôi nấu cháo thịt bò cho ăn, bỏ nhiều hành, rồi trùm chăn cho mồ hôi tóat ra. Cũng khỏi. Có khi, trước khi được thưởng thức bát phở, phải trùm chăn, xông cho mồ hôi tóat ra đầm đìa. Nồi nước xông hơi lớn để có hơi nhiều trong có hoa hương nhu, lá sả thơm phức. Nhưng chỉ ba thứ đó, phở hoặc cháo, và nồi nước xông là hiệu nghiệm với cảm mà thôi.

Có những người dùng phở để bồi bổ, sau khi bệnh nặng. Họ nói không có gì tốt bằng xương bò hầm lấy nước, thêm chút thịt tái hay chín, dúm bánh nữa là xong một bữa ăn, vừa bổ dưỡng, vừa ngon miệng lại có thể ăn hòai không chán! Những ông nhà văn, nhà báo -nói láo ăn tiền -thức khuya viết bài đưa tòa sọan cho kịp, cũng tự thưởng cho mình và bồi bổ bằng những tô phở tái buổi sáng sớm khi báo vừa phát hành.

Làm bất cứ món ăn nào cũng cần thời gian chuẩn bị và nấu nướng: Hủ tiếu, mì Quảng, mì nước trong Nam, hay hòanh thánh của người Tàu nấu không nhanh hơn nấu phở, có khi lại lích kích hơn. Mì, hòanh thánh, sủi cảo, síu mại là của người Hoa, và hủ tiếu Nam vang bắt nguồn từ Nam vang, hủ tiếu Mỹ tho bắt nguồn từ Mỹ tho (?), những thứ này cũng cần một nồi ninh xương heo lấy nước dùng. Mì và hủ tiếu dùng tôm và thịt heo, có lẽ kém thịt bò của phở về bổ dưỡng. Còn ở Bắc nấu nồi bún thang, bún xáo vịt, bún bung v.v...thời gian nấu ngắn hơn ninh nồi phở nhưng vất vả lích kích hơn vì cần nhiều nguyên liệu hơn phở.

Tóm lại, phở tương đối giản dị trong cách chuẩn bị và cách nấu nhưng lại đạt nhiều tiêu chuẩn về dinh dưỡng và lành mạnh hơn nhiều món ăn khác. Hơn nữa, nhờ có gừng và cánh hồi trong nước dùng, ăn phở mùa Đông sẽ cảm thấy ấm lên, chống chõi với cái lạnh bên ngòai được nhiều hơn; còn mùa Hè phở giúp tóat thêm mồ hôi cho sạch lỗ chân lông, một điều rất cần cho sức khỏe.

Khoảng năm 1950-54, trước trại Đồng Khánh phố Huế Hà nội, cách xa vọng lính Tây gác khỏang hơn trăm thước, có một xe phở không bảng hiệu gì cả, đứng bán ngay trên vỉa hè, dân ăn phở gọi là phở trại Đồng Khánh. Vợ chồng bác bán phở - bác Tí - với một cháu bé gái khỏang mười lăm tuổi và bà cụ già, mỗi ngày đều có mặt trước 5 giờ sáng. Tôi không hiểu giấc sáng sớm đó đã có những ai đến ăn nhưng khỏang 7 giờ tôi tới trước khi đến trường đã thấy cả ba, bốn chục người đang vây vòng trong vòng ngòai gánh phở mà vợ chồng bác Tí, bà cụ và con bé cháu phục vụ không kịp.

Bốn, năm tảng thịt lớn nào tái, chín, gầu, vè, nạm treo lủng lẳng ngay trước mặt bác Tí. Bác Tí chuyên thái, để riêng ra từng thứ trong những cái thố men trắng. Tay bác thái rất đều, không mỏng quá, không dày quá vì mỏng quá ăn lèo tèo không “đã”, dày quá phải nhai nhiều, đâm dai. Bác cũng thạo nhìn thớ thịt mà thái nên thịt không dai, không bị vụn. Những người “chuyên trị” thịt bò đều hiểu rằng thái thịt bò là một nghệ thuật. Tôi không nói ngoa đâu. Như thịt bê thui, miếng thịt thật ngon mà vào tay người không quen thái, cứ thái dọc thớ, nhai mỏi răng không đứt miếng thịt, phải nhếu nháo nuốt cho xong (để thử miếng khác may ra có khá hơn?); thành thử thịt bê non cũng bị mang tiếng là thịt bò già, bò kéo xe, bò gầy.Oan ơi Thị Kính!

Muốn ăn phở trại Đồng Khánh Hà Nội thời đó, thực khách phải tham gia vào việc dọn phở. Còn nếu đứng đó kêu phở suông, chỉ tay năm ngón ông chủ thầu thì đến tối cũng chưa thấy bát phở bưng ra cho mình. Có nghĩa là muốn ăn phải lăn vào bếp đấy các bạn à!

Đầu tiên anh đến cháu bé gái, chìa cái bát vừa lấy ở chồng bát sạch sẽ ra. Cháu gái trụng nắm bánh phở rồi đổ vào bát cho anh. Xong anh bưng bát đến trước mặt bác Tí, nói cho bác ta biết anh thích lọai thịt gì? Vè, gầu, sụn, gân, sách, chín nạm, tái? Bác bỏ thịt, thêm dúm hành ngò, hành tây xong anh lại bưng tô đến chỗ chan nước, xòe tiền ra cho bác gái đứng thu tiền và sau đó bà cụ chan nước vào tô cho anh. Anh bưng tô phở đến cái bàn để ở giữa rắc tiêu, lấy mấy lát ớt tươi xanh hay vài muỗng nhỏ tương ớt cùng vài ngọn húng quế, lấy muỗng đũa xong lựa chỗ nào bớt đông, đứng ăn tô phở vì không có bàn, có ghế gì cả. Ăn xong, anh mang tô, muỗng đến chỗ cháu bé đang rửa. Thế là xong!

Khỏang mười giờ, xe phở hết nhẵn, bác Tí bán khỏang bốn yến bánh mỗi ngày tức khỏang 500-600 tô, ngày nào như ngày ấy, ngày mưa như ngày nắng. Mưa, bác Tí căng tấm bạt nhà binh cột dây vào bốn thân cây me treo lên. Mưa to quá ,bác Tí trú nhờ ở hàng hiên căn nhà đối diện.

Có lần hết khách, tôi đứng nán lại hỏi bác Tí tại sao phở của bác thơm ngon và đậm đà, bí quyết nấu phở chắc là gia truyền chăng? Bác cười bảo, phở ngon cốt ở lựa thịt cậu à. Thịt nào ra thịt đó. Tái ra tái, chín ra chín, nạm ra nạm, gầu ra gầu. Hơn nữa, tôi ninh nồi xương bò rất công phu. Xương nhiều, tẩy rửa sạch sẽ rồi mới ninh, hớt bọt kĩ cho nước trong. Tôi cũng không dùng mì chính vì mì chính ăn lâu ngày có hại. Gia vị phở thì có gia truyền thực đấy để phở có mùi thơm đặc biệt mà không gây mùi bò. Gia vị ấy là một hợp chất đã nghiền thành boat, điều chế rất công phu. Nấu nồi phở là đặt cả vốn liếng hạt cải vào đo,ù chứ không phải chơi. Nấu dở, khách chỉ ăn một lần, lỗ lã vì phải đổ nước dùng, thịt, bánh đi; để đến hôm sau nó chua ra, đến mình không dám ăn thì bán cho ai?

Tôi lại hỏi:“Thế xương ninh nhiều như thế mỗi ngày đổ đi thì cũng tốn nhỉ.”

“Không cậu à, thứ xí quách này dân nhậu bình dân rất ưa. Hai ba nhóm phu xích lô, xe ba bánh, tài xế taxi chuyên thầu món này, dặn đều đều, mỗi ngày vài ba chậu lớn cũng không đủ bán. Tôi cũng gỡ lại được tiền củi, tiền gia vị.”

Sau tháng 9-1954, tôi không còn dịp đến thưởng thức phở bác Tí nữa. Cũng phải đến ba năm sau ngày 30-4-75, khi từ Tennessee về tái định cư ở California, tôi mới lại “dừng bước giang hồ” tại một tiệm phở ở quận Cam. Nhưng quả thực, tôi không tìm lại được cái hương vị ngào ngạt, đằm thắm và nồng nàn tô phở bác Tí ở Hànội khi xưa.

Hồi chiến tranh Việt - Pháp từ tháng 12-1946, gia đình tôi từ Hải phòng chạy ra các miền thôn quê tránh bom đạn. Tôi đã đi nhiều nơi như Kiến an, Thái Bình, Đống Năm, Vân Am, Nam Am, Quảng Yên, Hải dương, Nam định, Kim Sơn, Phát Diệm, Bùi Chu, núi Gôi, Ninh Bình, Điền hộ, Thanh hóa lên cả Cống Thần, Nhật tựu, Chợ Đại, Đồng quan v.v...Dù tản cư tiền bạc ngặt nghèo nhưng hễ mẹ cho vài đồng hoặc đi buôn chung với người chị họ có tí lời là tôi lại nghĩ đến phở mà không thứ gì khác.

Một lần hai chị em đang đói và mệt ở giữa khu phố Đống Năm, chợt nhìn thấy một cái bảng nhỏ đề chữ “Phở”, tôi bảo chị Hân, chị con ông bác họ:“Chị Hân ơi! Em mệt quá rồi mà lại đói nữa. Chị có thấy tiệm phở ở bên kia đường không?”Chị Hân theo ngón tay tôi chỉ, chị kéo tay tôi:“Chị cũng đói, đang nghĩ nên đi kiếm cái gì ăn. Phở là số một với chị.”
Ba cái bàn với ghế rất chững chạc nhưng nhìn cái quầy treo thịt chỉ thấy ba con gà da vàng như xát nghệ. Tôi hơi thất vọng bảo chị:“Có lẽ họ làm phở gà, chị”./.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

LAI LỊCH NGÀY VINH DANH NGƯỜI CHA TẠI HOA KỲ
"FATHER'S DAY"
Phong tục Hoa Kỳ và Bắc Mỹ có hai ngày trong năm dành để vinh danh hai đấng sinh thành đó là người Mẹ và người Cha trong gia đình. Ngày vinh danh Mẹ vào tháng Năm và ngày vinh danh người Cha vào tháng Sáu.

Qua lịch sử văn hóa Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, người ta nhận thấy là dường như tất cả các ngày lễ hội, các phong tục đều trải qua một quá trình từ sáng kiến cá nhân, qua thực hành tập thể, sau đó mới vận động để đến chỗ thành luật lệ của quốc gia. Thật vậy, cũng như sự hình thành Ngày Vinh Danh Me, Ngày Vinh Danh Cha cũng đã phải trải qua nhiều năm mới được Quốc Hội chấp thuận là ngày quốc lễ.

FATHER'S DAY LÀ GÌ?

Đây là một ngày mà những người con trong gia đình bày tỏ lòng biết ơn và yêu kính đối với người cha qua một số nghi lễ như cầu nguyện, thăm viếng và tặng quà. (Trường hợp khó khăn thì gửi thiếp và quà).

Xin tạm gọi là “Ngày vinh danh Cha”. Ngày lễ gia đình này đã được nhiều quốc gia thực hiện. Tại Hoa Kỳ và Canada Ngày vinh danh Cha được ấn định vào ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng sáu.

Do đó, Father's Day năm nay nhằm Chủ Nhật 21-6-2009.

FATHER’S DAY CÓ TỪ BAO GIỜ?

Cho đến nay thì Father’s Day đã trở thành một tục lệ mà từ cuối tháng năm các cơ sở kinh doanh đã quảng cáo rùm beng trên truyền hình, báo chí, giới thiệu các món quà mà con cái có thể dâng tặng cho cha trong ngày lễ để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu thảo…Thế nhưng không phải bỗng nhiên mà người ta có một mỹ tục như thế. Ngày Vinh danh và Biết ơn Cha của Hoa Kỳ đã trải qua một quá trình.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NGÀY FATHER'S DAY Ở MỸ

a/ Bà Sonora Louise Smart Dodd Tổ Chức Lễ Vinh Danh Thân Phụ: Ông Williams Jackson Smart.

Năm 1909, sau khi nghe một lời thệ nguyện trong ngày Vinh Danh Mẹ, bà Sonora Louise Smart Dodd của thành phố Spokane, tiểu bang Washington, đã nảy ra ý tưởng dành một ngày đặc biệt để vinh danh người cha. Lúc đó bà ta muốn vinh danh thân phụ của bà là ông William Jackson Smart, một người cha đã tận tụy hi sinh vì con. Ông Smart quá vợ năm 1898. Ông đã ở vậy, mười một năm một mình lo nuôi dạy sáu đứa con nên người có ích cho gia đình và xã hội. Bà mời thân nhân và bạn hữu đến dự lễ Vinh Danh Thân Phụ bà để họ cùng chia sẻ lòng biết ơn của con đối với người cha đã tận tụy vì con. Buổi lễ đã thành công và gây được sự chú ý của nhiều người.

b/ Gửi Thỉnh Nguyện Thư Lên Quốc Hội.
Sau khi làm lễ vinh danh thân phụ mình, bà Dodd đã gửi một thỉnh nguyện lên Quốc hội đề nghị chấp nhận ngày Vinh Danh Cha là quốc lễ. Hội đồng mục vụ Spokane và Hội Đàn Ông trẻ Thiên Chúa giáo tại địa phương đã ủng hộï thỉnh nguyện này.

Qua những nỗ lực vận động của bà Dodd và những đoàn thể ủng hộ đề nghị này, thành phố Spokane đã cử hành lễ Vinh Danh Người Cha đầu tiên vào ngày 19 tháng 6 năm 1910. Nhưng phải mất nhiều năm và với rất nhiều đề nghị xin biến ngày Vinh Danh Cha thành một ngày lễ chính thức của quốc gia. Một thời gian dài đề nghị này mới được đưa ra Quốc Hội thảo luận. Cuối cùng, vào năm 1972, Tổng Thống Richard M. Nixon đã ký sắc luật chấp thuận Father's Day là một ngày quốc lễ. Quá trình vận động là 62 năm kể từ khi khởi xướng.

Nghi thức trong ngày Vinh Danh Cha cũng giống như trong Ngày Vinh Danh Mẹ nghĩa là các con đến nhà thờ cầu nguyện cho cha mình rồi trở về tặng quà cho cha trong một bữa ăn thân mật. Không có loài hoa dành riêng cho Ngày của Cha. Đây là một mỹ tục hiện đang được nhiều con em người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ noi theo và đã đem lại nhiều niềm vui cho các đấng sinh thành.

Người Việt Nam theo truyền thống rất trọng chữ Hiếu, tức là lòng yêu thương và tôn kính Cha Mẹ. Nhưng tại sao Việt Nam không có một ngày ấn định cho việc thực hành sự báo Hiếu?

Theo một số nghiên cứu xã hội học, thì sở dĩ người Việt không ấn định một ngày riêng dành cho Cha và Mẹ, là vì trong hoàn cảnh sinh hoạt tại Việt Nam, khi cha mẹ già yếu không có sự cấp dưỡng của chính phủ, họ luôn luôn cần có sự chăm sóc nuôi dưỡng từng ngày của các con. Do đó, cha mẹ cao niên thường ở chung với con cái. Theo đúng đạo làm con, đạo hiếu, các con phải lo phụng dưỡng cha me thường xuyên, chứ không phải chỉ một ngày trong nămï… có lẽ vì đó mà Việt Nam không có một ngày riêng dành cho việc tỏ lòng biết ơn cha hay mẹ như tại Hoa Kỳ, là nơi có hoàn cảnh sinh hoạt hoàn toàn khác với Việt Nam: tịa Mỹ con cái phải đi làm, đi học với những thời biểu rất chặt chẽ, thì giờ nhàn rỗi rất hiếm, chỗ ở của cha mẹ thường riêng tư, có khi rất xa chỗ ở của con cái… không thể có nhiều thời gian rãnh rỗi để thường trực lo cho cha mẹ, cho nên, cần có một ngày nhất định trong năm để con cái được nhắc nhở và chuẩn bị thời gian về với cha hay mẹ ít nhất mỗi năm một lần nếu ở nơi quá xa.

Ngày Vinh Danh Cha của Hoa Kỳ là một mỹ tục, một sự nhắc nhở tập thể về lòng hiếu thảo, nó có tác dụng làm cho con cái nhớ đến công ơn cha mẹ…Đây là một phong tục rất tốt đẹp.

NGUYỄN CHÂU (San José, CA)

Ca dao về Cha Mẹ

Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
*
Chàng về thiếp chẳng cho về
Thiếp nắm vạt áo thiếp đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba
Chữ Trung thì để phần cha
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình

*
Ngó lên trên trời cặp chìm đang đá,
Ngó về hạ thú cặp cá đang đua
Thôi thôi anh hãy lui về
Xây lăng thờ mệ, chạm chùa thớ cha.

*
Nhất Mẹ, nhì Cha, thứ ba bà Ngoại!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

CÁI TÔI


"Tại sao một người Việt Nam làm việc tốt hơn một người Nhật, nhưng 3 người Việt Nam cùng làm một công việc thì hiệu quả lại kém xa rất nhiều so với 3 người Nhật cùng làm công việc đó"

Vấn đề này là thực tế, vậy tại sao và do đâu? Hẳn các bạn cũng biết một trong số nguyên nhân dẫn đến "nghịch lý" đó, đó chính là CÁI TÔI trong mỗi cá nhân! Một CÁI TÔI chỉ biết thừa nhận giá trị của bản thân mình mà không chịu thừa nhận đến giá trị của những người khác!

Nếu bạn ở trong một tổ chức người VN có nhiều người giỏi, tôi xin chúc mừng bạn vì có nhiều cơ hội để học hỏi! Nhưng cũng xin chia buồn với bạn vì ở đó khó có một đội ngũ làm việc thực sự, bởi họ không biết sử dụng tôi của mình. Ngoại trừ, ở đó có một nhà lãnh đạo thực thụ để liên kết và định hướng cho những cá nhân xuất sắc đó. Có điều để có một nhà lãnh đạo như vậy thật không dễ dàng!

Vốn để sống theo đúng nghĩa trong cuộc đời này, ai cũng cần một cái tôi để khẳng định mình tồn tại. Để biết cách tôn vinh bản thân và những người xung quanh. Tôn vinh giá trị cuộc sống hàng ngày. Nhưng bằng đấy ưu điểm thì hầu như lại trở thành nhược điểm! Và đã từng, tôi là như thế: một con người có chút ngạo mạn, có chút bất cần và đôi khi khinh khỉnh! Để rồi có một dịp một ngày tôi phải khóc vì những quãng thời gian tôi uổng phí cho những "trò hề lố bịch" của những kẻ rỗng tuếch bịp đời! Tôi mới hiểu cái TÔI đích thực, một cái TÔI trong cá nhân không hề bị biến mất khi hòa mình với cuộc sống xung quanh, một cái TÔI rất đỗi bình thường và không có chút gì đặc biệt. Nhưng vẫn là một cái TÔI không hề bị pha tạp, một cái tôi khao khát học hỏi và chia sẻ với mọi người.

Và khi CÁI TÔI đó không chỉ biết cách tôn vinh bản thân mình mà còn biết tôn vinh giá trị của những người xung quanh thì chắc chắn "3 người VN sẽ giỏi hơn 3 người Nhật khi làm cùng một công việc". Lúc đó hẳn 3 người sẽ tìm thấy được mục tiêu chung để đồng lòng đồng sức cùng đẩy một chiếc xe, thay vì mỗi người kéo một hướng!

Xin hãy bắt đầu thay đổi cuộc sống này bằng chính những tư tưởng, hành động của từng người.

Để hiểu rằng "Đời chỉ thay đổi khi chúng ta cùng thay đổi".

Tôi đang làm những việc đó khi bên cạnh tôi không chỉ có nhiều người bạn để chia sẻ mà còn có rất nhiều thầy để tôi noi theo!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Cuộc Gặp Gỡ Thú Vị

Trần Khải Thanh Thủy

Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và ông Bernd Musch-Borowska.
Trong cơn mưa đổ sầm sập, đến mức “phố uốn thành dòng sông uốn quanh”, ngập nửa bánh xe, tôi bỗng nhận được cú điện thoại gọi đến. Nhấc ống nghe lên, tôi nhận ra tiếng một người ngoại quốc gọi tên mình bằng chất giọng đặc biệt ấn tượng: Tràn Khại Than Thụy.

Với thứ tiếng Anh vay mượn của tôi từ ngót nghét 30 năm trời nay, cho dù được cứu vớt trong 9 tháng 10 ngày ở tù, cũng không cứu tôi ra khỏi dòng ngôn ngữ mà người đầu dây gọi, trong khi tôi yêu cầu ông ta nói tiếng Việt, thì ông ta “no, no” hoài và khó khăn lắm tôi mới hiểu được ông ta tên Bernd, muốn gặp tôi trong vòng một tiếng nữa.

Chưa biết ra khỏi nhà bằng cách nào trong cảnh mưa trắng trời, trắng đất như thế này, thì đầu dây lại có tiếng nói. Lần này là tiếng người Việt nói tiếng Nam... Chỉ vẽ vòng quanh vài phút mới hiểu rằng ông Bernd đang ở Sài Gòn, vì vậy cuộc gặp đành ấn định vào ngày mai, khi ông bay ra Hà Nội.

Đặt ống nghe xuống, tôi thở phào nhẹ nhõm, cũng may ông đang ở Sài gòn, nơi chợt nắng, chợt mưa, rồi chợt tắt, nếu không, cả tôi và ông đều chỉ còn cách ngồi trong nhà nhìn trời mà khóc theo mưa, vì Hà Nội (dù đã từng tăng trưởng kinh tế tới 8,5 %, chỉ đứng sau các thành tựu kinh tế của Trung Quốc!), đã làm gì có xe lội nước? Ngay cả nút giao thông Kim Liên -nơi hầm chui cơ giới hiện đại nhất Việt Nam vừa được khai thông một tiếng đã bị ngập, người và xe máy, ô tô, lóp ngóp đi trong mưa, ướt lướt thướt như chuột lột, thì những nơi khác, do người dân “thực” được từ thời Pháp thuộc, cách đây gần trăm năm, bị xuống cấp trầm trọng, còn ngập đến mức nào?

Cuối cùng một ngày chờ đợi cũng qua nhanh, tôi cùng chị bạn đi ta xi đến khách sạn Sophia - plaza- cạnh Hồ Tây, để gặp ông theo lời hẹn.

Vừa tiến vào tiền sảnh của khách sạn, giữa lúc chúng tôi lúng túng chưa biết vào bằng cách nào vì không đem theo chứng minh thư, và điện thoại của ông có thể không gọi được, ông đã tiến ra, cao lêu đêu và nụ cười rạng rỡ, bất giác làm tôi nhớ lại nhận định của một học giả: “Nụ cười là phương tiện giao tiếp duy nhất không cần phiên dịch , ngôn ngữ”.

Nhờ nụ cười cởi mở và cái bắt tay lịch thiệp của ông mà chúng tôi lập tức quen nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trong căn phòng nhỏ của khách sạn, nơi cửa kín, phòng sang, ông tự nói về mình: ông là Bernd Musch-, giám đốc đài phát thanh ARD tại Đức, chuyên đặc trách về khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong chuyến đi này, ngoài việc quan tâm đến con người và đất nước Việt Nam, điều mà ông cần phản ánh bằng tiếng Anh và tiếng Đức trên đài ARD- là vấn đề nhân quyền của Việt Nam, vì vậy ông muốn gặp một số nhân vật tiêu biểu trong hàng ngũ đâu tranh chống lại chế độ cộng sản, những người mà ông biết - luôn là nạn nhân của sự độc tài phi nhân- như vợ ông- một cư dân Ba Lan -phải tị nạn sang Đức, và bị cấm trở lại quê hương khi đảng cộng sản Ba Lan còn chưa sụp đổ.

Câu hỏi đầu tiên ông đặt ra cho tôi là:

Bà cảm nhận thế nào về việc luật sư Lê Công Định bị bắt. Việc bắt khẩn cấp một luật sư như Định có phải là điều cần thiết như nhà nước cộng sản công bố không?

Tất nhiên, tôi khẳng định sự hèn nhát, dối trá, bạc nhược của nhà nước này, sợ tất cả những tiếng nói trung thực, những đảng phái manh nha hình thành, những lãnh đạo trẻ tuổi, nhiệt huyết, có tầm vóc, uy tín, theo phương án: “Bóp chết gà từ trong trứng”. Huống hồ một người học giỏi, tài cao, có tâm với đất nước như Định: Sẵn sàng từ bỏ tất cả danh vọng, tiền tài, địa vị để đi theo tiếng gọi của con tim, để đấu tranh cho một nền pháp lý thực sự tự do, dân chủ ở Việt Nam. Trong cảnh “tranh tối tranh sáng”, nhà cầm quyền cộng sản đã lợi dụng bóng tối độc tài để bắt Định khi ánh sáng dư luận còn chưa kịp gối đầu lên thay thế.

Có vẻ như hài lòng với câu trả lời của tôi qua cách phiên dịch của chị bạn đi cùng, ông gật gù rồi quay sang đặt câu hỏi:

- Tôi nghe nói trước đây bà đã từng bị bắt

- Vâng tôi nhớ lại thời điểm hơn hai năm trước, ngày 21-4-2007 để trả lời:

Tôi bị bắt trước ngày 30-4 chín ngày, một ngày nhạy cảm của dân tộc tôi, khi chính quyền cộng sản xua quân vào lấn chiếm Miền Nam, để lại vết thương sau 34 năm còn rỉ máu...

Trong tù họ đối xử với bà ra sao ?

- Như tất cả các tù thường phạm khác. Rất tồi và vô cùng tệ hại. Điều này tôi xin khẳng định rõ ràng vì đã chứng kiến những nhà tù ở Đức qua Net hoặc trên sách báo . Vẻn vẹn 15 kg gạo, 15 kg rau, 15 kg củi, 3 lạng thịt và nửa ký cá một tháng. Không được quyền sử dụng giấy bút, không được phép gọi điện thoại, hoặc gặp gỡ thân nhân trong cả thời gian dài. Trong khi chỗ ở vô cùng chật chội, tối tăm. Người ít là 60cm, người nhiều là 2m, còn thông thường là 80 cm. Tất nhiên bị coi là những công dân hạng bét, cần phải cải tạo tư tưởng chống đối, tiến bộ, tránh lây nhiễm trong cộng đồng, nên chúng tôi còn phải chịu cả áp lực về tinh thần và bản thể:

Thiếu thốn, đói rét, chất lượng cuộc sống chỉ là một sự hành hạ triền miên, ăn cơm cục, uống nước đục, toàn thân phù nề, ngứa ngáy vì thiếu chất và thiếu khí. Chỉ thời gian và sự ô nhiễm là thừa ứ, nên ai cũng mắc chứng bệnh phù thũng và ngứa ngáy khắp người, đặc biệt là vùng kín.

Tại sao bà lại dấn thân vào con đường nguy hiểm này?

Vì chúng tôi không thể sống quỳ, cha ông chúng tôi là những thế hệ cộng sản đầu tiên, đã bị đảng lừa trắng mắt, trắng tay, nên chúng tôi phải vùng lên để cùng nhau xoá bỏ những đam mê, bưng bít, những dối trá, lọc lừa, để con cháu chúng tôi không bị độc tài đè đầu, cưỡi cổ, không bị tiêm nhiễm tư tưởng Hồ Chí Minh, quốc tế cộng sản, học thuyết Mác Lê- thọc huyết loài người.

Bà có điều gì lo ngại cho sức khoẻ cũng như sự đàn áp của chính quyền không?

- Về cơ bản, chúng tôi chấp nhận, coi nỗi đau của dân tộc là nỗi đau của mình. Đã dấn thân vào con đường lớn của tương lai, của hội nhập toàn cầu, là phải biết chấp nhận sự thiệt thòi, hy sinh. Biết ủ đau thương trong hiện tại để sinh nở cái oai hùng cho tương lai con cái sau này, đưa tiền đồ dân tộc ra khỏi vòng luẩn quẩn, tăm tối. Hơn nữa bên cạnh tôi luôn có cả một hàng rào nhân ái bao bọc, trước mắt là 3 triệu đồng bào hải ngoại , nhưng hiện tại và sắp tới sẽ là tất cả những con người có lương tri tại quốc nội.

Ngừng lại để thưởng thức vị sinh tố ngay trước mặt, cũng là giành thời gian để chị bạn chuyển ngữ, thấy ông Bernd vẫn tỏ ý lắng nghe, tôi tiếp tục bày tỏ quan điểm của mình:

- Nếu đấu tranh công khai trực diện tôi không sợ, vì tôi biết mình đang đi theo lẽ phải của cha ông, đi bằng niềm tin của gần 7 tỷ người trên thế giới , nhưng tôi rất coi thường những trò hạ đẳng, bẩn thỉu, đê tiện do nhà nước cộng sản nghĩ ra. Cụ thể, suốt 3 tháng vừa rồi, nhà tôi tràn ngập văn hoá đảng- gồm chuột chết, xác nhuyễn thể, xương động vật thối ngâm trong dầu bẩn, đặc biệt là phân người.

Không tin vào sự thực này, Bernd nhíu mày - những nét nhăn sâu vạch ngang vầng trán:

- Thật ư? ai là kẻ gây ra cho bà những hiểm hoạ kinh khiếp này;

Quyền lức đỏ và xã hội đen, thưa ông. Nói chính xác hơn đó là những kẻ nghiện ngập, nợ án, được công an thuê đến theo chủ trương lớn của đảng, thông qua các nghị quyết CP- nghị quyết chính phủ - nghị quyết c...phân v.v Cho đến ngày 4-5, chủ trương này mới tạm dừng lại mà chưa biết đảng còn tiếp tục ra chỉ thị CP nào nữa không?

Gật gù, tư lự, đôi mắt xanh luôn linh hoạt chuyển động trên sống mũi cao, cương trực, ngài Bernd phá tan bầu không khí mát lạnh do điều hoà nhiệt độ trong phòng bằng một câu hỏi nóng :

- Bà viết bài bằng cách nào, các tác phẩm trong nước của bà có được sử dụng không?

- Tất nhiên là không, 18 tác phẩm của tôi in trong nước bị phong toả, bị thu hồi và trả về không thương tiếc từ tất cả các đại lý lớn nhỏ trong số 31 tỉnh thành cả nước, và hiện tại còn không dưới vài nghìn cuốn bị “tù” oan như vậy... còn bản thân tác giả bị bôi nhọ, bóp méo thành suy đồi đạo đức, làm tay sai cho lưu vong phản động hay các thê lực thù địch ở nước ngoài.

12 trong số 18 tác phẩm xuất bản tại Quốc nội từ 1989- 2004 bị trả về.

Trong lúc chị bạn dịch, tôi nảy ra một ý nghịch ngợm, một sự liên tưởng so sánh, thú vị: Nếu hôm nay công an biết tôi đến đây để gặp ông, thì lập tức ông cũng sẽ trở thành thế lực thù địch đối với họ, như tất cả đồng bào tôi ở hải ngoại, hay những vị dân biểu các nước thích can thiệp vào nội bộ Việt Nam, mong muốn nhà nước độc tài phải sửa đổi luật lệ, chính sách, mở đường cho tự do nhân quyền ở Việt Nam.

Đôi mắt xanh biếc của ông lập tức ánh nên những nét cười tinh nghịch, pha lẫn nét trầm buồn tế nhị, ông thú nhận:

Ở Việt Nam, tôi đang trải nghiệm lại những giây phút trước đây, khi vợ tôi còn là một thiếu nữ Ba Lan chống lại đảng độc tài, luôn bị công an rình rập theo dõi, và bản thân tôi hôm nay cũng phải nói dối người ...tháp tùng mình là tôi bị đau lưng, không đi đâu cả, để có thể bố trí gặp bà vào giờ phút muộn mằn này. Chính vì anh ta tin là thật, nên 9 giờ kém tôi mới được tự do mời các bà đến đây, hỏi chuyện.

Câu chuyện xoay sang một hướng mới, vui vẻ và nóng hổi tính thời sự, không kém phần hài hước:

Từ ngày thêm được chữ” nhà” dân chủ, mỗi chúng tôi phải chấp nhận “cưới” thêm dăm bảy chú khuyển áo vàng bên cạnh. Ngay khi nhận thiếp mời họp mặt hoặc cưới xin ai đó , chúng tôi đều giao nhiệm vụ cho nhau, ngày ấy ngày nọ mỗi người phải dắt theo 5,7 chú để đám cuới thêm phần rôm rả, trong cưới, ngoài canh

Chỉ ra phía ngoài khuôn cửa, ông Bernd làm điệu bộ nhún vai, lè lưỡi, lắc đầu, điệu bộ rất hài hước, tự nhiên:

- Nếu anh ta không tin tôi mà bỏ đi, thì bây giờ có lẽ chúng ta cũng đang trong cảnh như vậy.

Chừng như không yên tâm, khi ông đột ngột thay đổi điểm hẹn và giờ giấc qúa nhiều lần, ông hướng cái nhìn tò mò , thương cảm về phía tôi , bày tỏ:

Còn hôm nay thì sao, bà ra khỏi nhà bằng cách nào, có bị “cá” bám theo không?

- À, tôi cười phá lên vui vẻ, niềm vui hiện rõ trên nét mặt:

Bao giờ cũng vậy, mỗi khi thực hiện một công việc quan trọng nào đó, tôi lập tức phải sang nhà mẹ đẻ, từ đó mới thay hình đổi dạng để ra đi. Hôm nay cũng vậy, tôi mặc quần lửng, áo cộc tay, đi giày thể thao coi như tập thể dục. Trước đó chồng tôi đi xe máy đến nhà đón chị bạn, và tiện thể quẳng bộ đồ, cùng giày dép của tôi sang bà ngoại..Sau đó chúng tôi ra đường bắt ta xi, chỉ đạo cho họ đi vòng vèo một chút để đánh lạc hướng công an (nếu có) , cuối cùng tấp xe vào tận tiền sảnh... Còn lúc về thì không quan trọng, bởi khi đó sự đã mười mươi rồi, ngoài việc hậm hực họ chẳng còn làm gì được nữa.

Mở bóp ra lấy ra 100.000 tiền hồ, Ngài Bernd bày tỏ sự ái ngại với những việc làm không mấy văn minh của chính quyền cộng sản đặc biệt là tầng lớp công an, rồi ngâp ngừng đưa tiền vào tay tôi để trả tiền ta xi.

Ồ không không, tôi cười lớn, giải thích: - Ngài từ xứ tự do, nơi con người làm chủ nên xa lạ với cách hành xử của công an Việt Nam, còn chúng tôi giáp mặt cùng sự độc tài, đè nén, bất công, nên quen rồi, điều quan trọng là chúng tôi hân hạnh được gặp ngài, để phản ảnh rõ nét vấn đề nhân quyền của Việt Nam, để qua hệ thống Đài phát thanh của ngài cũng như hàng chục, hàng trăm hãng truyền thông tại Hải ngoại, trên thế giới cùng tố cáo việc làm “nhân đạo gấp triệu lần tư bản “cho dân và vì dân của họ” , để đến một ngày nào đó độc tài phải cúi đầu trước dư luận quốc tế vì tội vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam.

Bần thần nghe tôi nói, ngài Bernd bộc bạch,

Tôi mong sao Việt Nam sẽ sớm đi theo con đường của Ba Lan.

Tất nhiên tôi khẳng định: - Chế độ cộng sản đang ở giai đoạn tan rã cuối cùng. Hiện tại ngôi nhà độc tài phải đương đầu với bao nhiêu biến động, từ lạm phát, tăng giá, biên giới, hải đảo, bô xít Tây nguyên, dân oan, lao động xuất khẩu v.v vì vậy đã để lại bao nhiêu vết rạn nứt trên thân nhà...Người dân cũng càng ngày càng mất niềm tin vào một chính thể chỉ chuyên cho dân cái đói khổ, dối trá, vì dân mà ra sức cướp bóc, nên sự tồn tại cũng chẳng còn bao lâu nữa. Toàn bộ trụ đỡ ngôi nhà bây giờ chỉ còn là của một chính đảng thối nát, một phe phái đi ngược lại với quyền lợi của 80 triệu dân mà thôi, trụ sao nổi với sức mạnh, triều cường của khối đoàn kết công -nông cả trong và ngoài nước.

Hoàn toàn mất đi sự vui vẻ ban đầu , vẻ mặt ngài Bernd tràn ngập sự uư tư:

Đúng thế!

...Kết thúc phần chủ đề ngoài luồng, tôi buồn bã chốt lại:

Vì thế tôi mong ước ra khỏi tình trạng này. Còn hiện tại ngôi nhà của chúng tôi không chỉ đơn thuần là nơi trú ngụ, nuôi dưỡng tâm hồn tình cảm của mình và những đứa con mà còn có thêm một chức năng chiến lược vô cùng quan trọng nữa, là...nơi nhốt mình. Thậm chí không được ra chợ mua thức ăn, không được đến đón con ở trường, không được gặp mẹ đẻ...Bị canh 24/24 tiếng, đêm nằm nghe rõ tiếng giầy lộp cộp của các chú công an , tiếng ho hắng, chuyện trò, xen lẫn tiếng gầm gừ, ăng ẳng của anh em nhà họ khuyển, tiếng nguyền rủa độc địa :” Mẹ kiếp, vì mấy đồng lương mà nhục hơn chó”, cả hơi thuốc khét lẹt của những chú chấn hai cho phả vào tận trong nhà qua khe cửa hẹp...

Nhìn đồng hồ đã gần 10 rưỡi, trong khi ông giám đốc đã có dấu hiện mệt mỏi do cả ngày di chuyển chờ đợi trên máy bay, đánh lạc hướng cơ quan an ninh, chúng tôi quay lại chủ đề chính, nhằm phục vụ cho bài viết sắp tới, cũng là một trong phần việc của chuyến xâm nhập thực tế này

Bà có sử dụng inter net không? Có bị gây trở ngại gì phía nhà cầm quyền không ?

Có chứ, đó là phương tiện tối ưu nhất giúp tôi có thể buôn lậu chữ nghĩa qua biên giới, sau nhiều lần bị bắt tại quán Nét, bị tịch thu phương tiện làm việc. Cụ thể từ ngày 16-8-2006 tôi bị cắt nét, cắt điện thoại di động, điện thoại bàn liên tục, bị tràn vào nhà thu liền 4 máy vi tính, 2 máy scan, hàng chục ổ USB chứa đầy dữ liệu và hàng nghìn lá đơn của bà con dân oan

- Họ lý giải như thế nào về việc làm này? Mục đích họ làm như vậy để làm gì ?

Với kẻ độc tài thì không có mục đích nào khác nhằm chặn đứng những tiếng nói trung thực, làm ảnh hưởng tới sự tự tung tự tác của họ. Vì vậy họ làm tất cả để bao vây kinh tế, để triệt tiêu nguồn sống, triệt tiêu mầm phản kháng trong mỗi nhà dân chủ, đấu tranh, theo đúng quan điểm của họ từ trước tới nay: “Theo thì sống, chống thì chết”. Khi gà chưa gáy sáng, đánh thức những trái tim lầm lạc, thì trong bóng đêm, ma quỷ luôn nói rằng “việc làm của chúng tao là đúng, là tuân thủ luật pháp, là chủ trương của nhà nước độc quyền này”

- Công an có thể làm những việc khủng khiếp như vậy sao- tràn vào nhà đọc lệnh, cướp bóc? Bernd nhướn cặp mắt xanh biếc dưới đôi lông mày bạc lên hỏi:

Vâng, vì đặc thù của nhà nước cộng sản Việt Nam là chỉ đào tạo ra những công cụ thừa hành, công cụ kiếm tiền một cách ngu trung, không đào tạo ra những con người biết suy nghĩ, cân nhắc đúng, sai, phải, trái,

Trong lúc ngài giám đốc mắt tròn mắt dẹt, tôi nói thêm:

- Mỗi nhà dân chủ chúng tôi bị cả trăm công an ký sinh sống bám vào để đục khoét tâm huyết, bản thể , để chúng tôi hoàn toàn gục ngã ý chí, còn những kẻ ký sinh trùng này thì ăn no bẫm xác trên những đồng thuế của toàn dân Sợ ông chưa hiểu, trong khi chị bạn vẫn cố gắng bám sát những ý tưởng của tôi để truyền đạt lại, tôi nói cụ thể hơn:

Trường hợp anh Đỗ Nam Hải, mỗi tháng “giúp” công an tiêu tốn 100 triệu đồng. Nơi nào đồng tiền không sinh lợi thì nơi đó bị coi là nguyên nhân của lạm phát. Đợt đổ “ bô xít phân tươi “ vào cửa nhà tôi cũng vậy, tốn kém lên tới cả vài chục triệu, vì hễ tiến hành đổ là phải cử người canh hai đầu ngõ ngăn cấm người qua lại để kẻ kia khệ nệ bê “tư tưởng Hồ Chí Minh đổ vào”. Tiền thuê kẻ nợ án, nghiện hút, tiền nuôi bảo vệ, tiền bồi dưỡng cán bộ chiến sĩ công an làm nhiệm vụ canh gác, tiền mua ổ khoá, xích sắt, xô thùng, bình hộp, khẩu trang , bao tay v.v ròng rã suốt ba tháng trời, tất cả đều được tính thành ngày công, chiến tích trong chiến dịch “trấn áp tội phạm phản động, chống Đảng, bác “ để nhận tiền thi đua khen thưởng

Không thông tỏ tiếng Anh, không biết chị bạn dịch cụm từ “công an Việt Nam là những vật thể ký sinh sống bám trên lưng những nhà dân chủ, cũng như tầng lớp lãnh đạo đảng là những ký sinh trùng nguy hiểm sống bám trên cơ thể 80 triệu người Việt Nam” như thế nào, mà ngài Bernd cười lớn, tỏ ra rất thích thú, nhắc đi nhắc lại cụm từ này, rồi cả hai quay ra trao đổi bằng tiếng anh, quên cả tôi đang ngồi trơ khấc bên cạnh

Trước khi chia tay, nhớ lại kỷ niệm cũ với ngài dân biểu Na Uy Piter Get Mark, tôi liền vui vẻ kể lại:

Tôi hy vọng sáng mai ông vẫn ở lại khách sạn này, không vì gặp tôi mà sáng sớm bị công an vào tận phòng ngủ gõ cửa cảnh báo: “ Chúng tôi đã biết tất cả mọi việc làm của ông, đề nghị ông rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng nữa, nếu không buộc chúng tôi phải dùng biện pháp mạnh”

Đáp lại, ông bảo:

Biết Việt Nam là một nước nguy hiểm cho những người tôn trọng nhân quyền, nên tôi chỉ ở lại dăm ngày, sau đó sẽ bay sang Sanhgapore, nơi tôi có một studio ở đó.

Singapore? Tôi hỏi lại đầy ngạc nhiên thích thú vì lẽ Singapore là một nước nhỏ nhưng giàu hơn Việt Nam cả trăm lần, nơi được coi là thu nhập cao nhất nhì khu vực Đông Nam Á, cũng là nơi có môi trường xanh sạch đẹp nhất, trại tù ít nhất, tỷ lệ tham nhũng ít nhất, trái ngược hoàn toàn với Việt Nam, cái gì cũng xấu nhất do toàn thể hệ thống lãnh đạo Cư Nhứt , nên đi đâu cũng nghe bà con đặt vè ...

Xe chạy chầm chậm, đầu tôi ngổn ngang bao nhiêu ý nghĩ, nhất là câu vè của bà con Miền Nam đang tràn lan trên mạng, mà tôi chỉ dám chỉnh sửa lại đôi chữ cho phù hợp niêm luật và thêm vào hai câu cuối cho tròn mạch nghĩ:

Việt Nam hạng nhứt ai ơi
Nhứt cư - như cứt bạn thời biết chưa?
Ăn cướp, ăn cắp, dối lừa
Quan to, chức lớn, mứa thừa, loạn luân...
Chỉ thương cái gọi là dân
Quanh năm suốt tháng làm thân phận rùa

Nhìn thành phố chuyển về đêm trong ánh sáng muôn hồng nghìn tía, bên cạnh nhạc sập xình từ các quán ăn nhà hàng là những người lao động mặt mày bệch bạc, nhợt nhạt vì kiếm ăn, mệt nhọc đẩy những chiếc xe lăn tự chế, trên chỏng chơ nồi niêu xoong chảo, bát đĩa ấm chén, bàn ghế sứt sẹo, vênh váo... tôi chợt nhớ lại câu nói hôm trước đã nhờ Lê thị Công Nhân dịch cho nhà báo Na Uy và hôm nay lại là nhà báo Đức- qua người dịch vô cùng thương quý, thân thiết với em, đó là: “Việt Nam là một tấm áo ngủ sặc sỡ nhưng bên trong đầy những rận” .

Hà Nội 21-6-2009
Trần Khải Thanh Thuỷ
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image


Hải Sản Việt Nam

Nguyễn Ðạt Thịnh
Vietnam Net ngày 29 tháng Sáu phổ biến tin “Sởn da gà với công nghệ chế biến mực tươi”; bản tin viết ngày 29/6, đoàn kiểm tra liên ngành Hà Nội bất ngờ kiểm tra khu chợ thủy sản tươi, sống, nằm trong khuôn viên chợ bán sỉ Long Biên, khám phá ra phương pháp “làm trắng mực” mà Vietnam Net gọi là “kinh hoàng”.

Đoàn kiểm tra liên ngành gồm cảnh sát môi trường, thanh tra y tế, thanh tra Y tế dự phòng, chi cục thủy sản Hà Nội và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đến kiểm soát 2 ki ốt 05- G2B của ông Lê Công Thắng và ki ốt 08- G2B của bà Lê Thị Núi có khoảng gần chục công nhân đang ngâm và làm trắng hơn 500 kí mực tươi chuẩn bị đem ra thị trường tiêu thụ.

Mực “tươi” đông lạnh có giòi không chỉ tươi mà còn sống, còn bò lúc nhúc.

Kiểm soát những thùng mực đang làm dở, đoàn kiểm tra phát hiện có thùng đã bắt đầu bốc mùi thối và có giòi, bọ. Những thùng mực này rỉ ra một thứ nước sền sện màu vàng, mùi khăm khẳm, những hiện tượng tố giác phòng đông lạnh không đủ lạnh.

Theo lời khai của các công nhân, mực đông lạnh lấy từ trong kho ra sẽ được bóc sạch, cho vào thùng có chứa nước rồi đổ nửa cân muối, 1/3 cây đá và khoảng 1/4 lít hóa chất hydrogen peroxide vào ngâm trong vòng 1 tiếng.

Sau đó mực được rửa sạch, đóng vào thùng xốp coi như vừa nhập về tươi sống đem tiêu thụ trên thị trường.

Máy quay được sử dụng trong trường hợp nhiều hàng, công nhân không làm xuể và chỉ dùng với loại hàng hóa quá kém về chất lượng. Ðoàn kiểm tra yêu cầu mở kho đông lạnh, một vài máy quay ly tâm vẫn đang làm việc. Máy quay làm việc bên trong phòng đông lạnh làm mất khí lạnh. Tắt máy đi một thời gian khá lâu, dung dịch trong máy vẫn sủi lên thứ bọt trắng như xà phòng.

Những thùng mực “tươi” xuất cảng đề năm 2005.
Số mực ở chợ bán sỉ Long Biên sau khi sơ chế được các thương lái chở thẳng đến các nhà hàng và các chợ nhỏ trên địa bàn thành phố tiêu thụ; phần khác được xuất cảng.

Người tiêu thụ ngay trong quốc nội mà còn phải ăn loại “mực tươi” này thì hàng đông lạnh xuất cảng được chế biến còn tệ đến mức nào? Từ lâu nay nhiều người đã nghi ngại không dám dùng thực phẩm xuất cảng từ Việt Nam sang. Tuy nhiên, chúng ta có thể không ăn hải sản Việt Nam, nhưng còn nước mắm?

Những chai nước mắm 3 cua, 5 mực, 7 cá, in nhãn sản xuất tại Thái Lan, nhưng trước khi vô chai, đóng nhãn, nước mắm làm tại đâu? Dù có thật sự làm tại Thái Lan thì mức độ vệ sinh có sạch hơn hải sản “made in Việt Nam” không? Hay cũng vẫn do người Thái gốc Hoa, bà con của người Việt gốc Bông sản xuất?

Dù không ăn mực và mọi thứ hải sản xuất cảng từ Việt Nam, chúng ta vẫn còn có nhiều thứ hải sản khác để ăn, kể cả những hải sản Hoa Kỳ; nhưng cái khổ là chúng ta không thể bỏ được vị nước mắm.

Có giải pháp nào giúp chúng ta ăn nước mắm vệ sinh hơn không?

Tôi nghĩ vùng bờ biển Vịnh Mễ Tây Cơ có rất nhiều ngư phủ Việt Nam sinh sống; và những chiếc ghe cào tôm cuả họ, cứ mỗi 2 tiếng đồng hồ là kéo lưới lên với khoảng 2 tấn hải sản mắc lưới, trong đó họ chỉ chọn lấy khoảng 100 pao tôm, còn bao nhiêu lùa trở xuống biển, vì cá không bán được.

Nếu một vài thương gia khai thác nghề làm nước mắm tại đây, thì chắc chắn nước mắm Việt Nam made in USA sạch sẽ, vệ sinh theo đúng tiêu chuẩn Hoa Kỳ sẽ bán chạy như tôm tươi, bán khắp thế giới, và có thể xuất cảng về Việt Nam nữa. Vì ăn những sản phẩm được bảo đảm chế biến sạch sẽ vẫn là nhu cầu của mọi người, kể cả người Việt quốc nội.

Nguyễn Ðạt Thịnh
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Thằng Chồng Việt Kiều Của Tôi


Những ai phải trải qua cay đắng mới biết giá trị đích thực của cuộc sống. Tôi cũng vậy. Hạnh phúc, tiền bạc, danh vọng, và bộ mặt đã làm tôi như quay cuồng.
Cũng chỉ vì “lấy chồng Việt Kiều” và “có rể Việt Kiều” đã làm cho “thằng chồng Việt Kiều” của tôi điêu đứng và tôi suýt bỏ rơi anh ta khi mới bắt đầu qua đây.
Có lẽ tôi quá cay đắng nhưng tôi đã hối hận rất nhiều.Tôi vốn ở Biên Hòa, được cho là xinh đẹp từ nhỏ.
Tôi được gia đình cưng chiều nhưng không có hư đốn. Tôi vào được Đại Học Sư Phạm nghành Anh Văn và học xong.
Trong thời gian làm kiếp sinh viên, gia đình tôi đi xuống và lam lũ. Tôi trở
thành sinh viên nghèo phải bươn chãi kiếm sống vì gia đình tôi không thể chu cấp
mọi chi phí.

Ở xóm, có nhiều người lấy chồng Việt Kiều và có tiền xây nhà cao ráo. Ai cũng
nói tôi có học và có sắc tại sao không kiếm được chồng Việt Kiều cho gia đình đỡ
khổ. Cuộc sống khốn khổ như vậy khiến cho tôi nghĩ đến chuyện “lấy chồng Việt
Kiều” để cưu mang gia đình.

Tôi nghĩ đơn giản như vậy, chính vì đơn giản đó đã làm hại một người, đó là
thằng chồng Việt Kiều của tôi.

Với ý nghĩ đơn giản, tưởng rằng ở nước ngoài ai cũng ăn sung mặc sướng dễ kiếm
ra tiền. Tôi có đọc sách báo thì thu nhập trung bình hàng năm của người Mỹ là 24
ngàn đô-la. Nếu thằng chồng làm 24 ngàn đô-la thì mình xin 6-7 ngàn có sao đâu.

Nhưng thánh thần ơi, đó là thu nhập, chưa tính thuế, tiền xăng, ăn uống, chi
tiêu, nhà cửa, điện nước,…

Cái ý nghĩ ngu xuẩn chỉ cần 6-7 ngàn mỗi năm đó lan truyền vào gia đình tôi và
gia đình tôi tưởng bở và thật.

Cũng chính vì tôi có sắc và có thân hình đẹp nên tôi kiếm được một thằng Việt
Kiều hiền lành nhưng có chút khờ trong những Việt Kiều về thăm.

Hắn hồi ở Việt Nam chỉ học tới lớp 9, sau đi làm phụ hồ, và theo gia đình đi Mỹ
theo diện HO. Qua đó hắn chỉ biết đi làm. So về trình độ học vấn thì chênh lệch
với tôi do đó khó nói chuyện. Tôi biết không hạp lắm nhưng giả nai để được đi
Mỹ.

Tôi nhanh chóng trao sự trinh tiết cho hắn và bắt hắn phải chịu trách nhiệm và
cưới. Hắn hứa cưới. Tôi ra giá là trước khi tôi qua Mỹ thì gia đình tôi cần 20
ngàn đô để xây nhà mua xe (vì nhà tôi ọp ẹp và không có xe gắn máy).

Hắn trở lại Mỹ, và gởi tiền đều đều, hắn làm gì tôi không quan tâm vì tôi chẳng
yêu, thấy tiền là tôi thích. Tôi cố gắng học cho xong 4 năm đại học để phòng khi
không qua được Mỹ thì tôi có bằng cấp và dạy học Anh Văn cũng có tiền.

Khi nhà cửa tôi xây xong, xe có 2 chiếc thì hắn về. Trông hắn tiều tụy và ốm sau
2 năm và tôi cũng vừa tốt nghiệp Đại Học. Đám cưới tổ chức linh đình. Gia đình
tôi nở mặt nở mày với hàng xóm.

Trong khi chờ đợi qua Mỹ, tôi học thêm đủ thứ nghề từ thêu may đến vi tính, uống
tóc đến móng tay,… Hắn chu cấp vài trăm đô mỗi tháng.

Khi đến Mỹ tôi thật sự thất vọng. Thằng chồng tôi ốm yếu và bịnh hoạn. Tôi biết
sự thật là sau khi gặp tôi, hắn làm 2 việc để có tiền gởi theo yêu cầu tôi. Mỗi
ngày hắn chỉ ngủ được 4 giờ. Cuối tuần làm thêm. Nhà thì ở nhà mướn chứ không
như tôi nghĩ là nhà riêng có bãi cỏ đẹp. Xe hơi thì xe cà tàng cũ xì chứ không
bóng lộn như tôi thấy ở tỉnh ủy tỉnh Đồng Nai.

Tôi lúc đầu nghĩ rằng hắn lừa dối tôi để được tôi nên tôi giận quá bỏ hắn qua
người dì. Hắn sụp đổ tinh thần và vào bịnh viện tôi chẳng cần quan tâm. Tôi luôn
nghĩ cuộc sống của hắn ở Mỹ phải tốt, phải như thiên đường….. Nào ngờ chỉ là dân
lao động nghèo nàn không biết Anh Văn.

Dì tôi nói là nếu không trở lại sống với hắn thì về Việt Nam vì nếu tôi bỏ hắn
thì tôi bị trục xuất. Dì tôi không dám chứa chấp tôi sợ liên lụy. Dì tôi cho tôi
10 ngày suy nghĩ.

10 ngày đó tôi tìm hiểu cuộc sống ở Mỹ. Tôi thấy ai cũng cố gắng đi làm để có
tiền chứ không dễ hái ra tiền. Khác với ở Việt Nam là làm việc ở đây dù tiền ít
vẫn không bị đói. Môi trường sống tốt hơn, học hành miễn phí, có biết tiếng Anh
xin làm dễ hơn,…

Tôi nghĩ về thằng chồng tôi không yêu nhưng lấy chồng vì tiền. Tôi dần dần thấy
tội nghiệp hắn. Vì mê sắc đẹp tôi mà hắn phải hao tổn sinh lực làm 2 việc để có
hơn 24 ngàn đô-la gởi về cho tôi trong lúc bản thân hắn chẳng có gì.

Tôi dần dần động lòng trắc ẩn thằng chồng không yêu. Tôi thấy tội nghiệp quá. Đã
tốn sinh lực kiếm tiền cho tôi và sau đó bị tôi bỏ đi. Tôi ứa nước mắt ân hận.

Sau một tuần tôi trở lại và xin lỗi. Những giọt nước mắt hạnh phúc trong thân
hình tiều tuỵ của hắn làm tôi thêm đau lòng. Tôi thề với Trời Phật tôi không bỏ
hắn và sẽ lo cho hắn.

Tôi dễ dàng kiếm việc và hắn nghỉ 3 tuần dưỡng sức vì mới ra viện. Tôi ráng bươn
chãi thêm việc cuối tuần để hòng giúp hắn có tiền mua xe khác và cho tôi một
chiếc xe cũ nào đó vì sống ở Mỹ thiếu xe không thể xin việc làm tốt hơn.

Tôi giải thích cho gia đình tôi hiểu và tôi chỉ sẽ chu cấp 100 đô mỗi tháng mà
thôi. Gia đình tôi dĩ nhiên không hiểu và giận tôi và nói rằng tôi đi Mỹ bị Mỹ
hoá không biết lo cho gia đình. Tôi thấy 100 đô đủ rồi, gia đình tôi kiếm thêm
chứ làm sao tôi phải nuôi chồng và nuôi 6 người bên Việt Nam.

Hắn từ từ hồi phục nhưng do lao lực quá nên lúc nào cũng ốm ốm và không có sung
sức. Cuộc sống tình dục vợ chồng rất thưa thớt vì hắn yếu sức. Tôi muốn có con
với hắn để hắn yên lòng vì thế tôi và hắn phải nhịn 6 tháng để hòng hắn có đủ
sức lực theo lời bác sĩ.

Trời Phật thương tôi và tôi có thai. Hắn hạnh phúc và sức khoẻ dần dần tốt hơn.
Do có vốn tiếng Anh, tôi có việc trong ngân hàng và lương khác. Hắn chỉ đi làm
việc nhẹ và tôi ghánh vác mọi thứ. Tôi chỉ mong hắn khoẻ mạnh trở lại chứ trong
gia đình ai đi làm chính cũng vậy thôi.

Con tôi ra đời khoẻ mạnh, tôi mừng khôn xiết, người mừng vui hơn tôi là hắn.

Giờ gia đình tôi ổn định. Tôi làm việc có lương gấp 3 lần chồng vì chồng chỉ lao
động bình thường và khó lòng vươn lên vì trình độ bị giới hạn. Tôi dần dần có
được hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng, cũng như được thoả mãn tình dục do
chồng tôi hồi phục được sức khoẻ.

Tôi đã sai và sửa sai.

Hy vọng các chị muốn lấy chồng Việt Kiều hiểu rõ hoàn cảnh của ông chồng tương
lai để tránh nhiều chuyện đau lòng nơi xứ người.


laychongvietkieu’s blog
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Vụng về cũng thể hằng nga..


Trước kia, tôi cứ tưởng chỉ có người phương Đông mới thích: " Em là người đầu tiên đến với anh, đầu tiên cho anh " cái đầu tiên" và là người đầu tiên cho anh biết thế nào là chén thuốc đắng...."
Nhưng ở Mỹ lâu tôi mới thấy Người Mỹ rất khoái món " đầu tiên" .
Đấy là lý do một dòng họ Obama đến từ một xứ Phi Châu khỉ ho cò gáy, một nơi chó ăn đá gà ăn muối đã trở thành " thực phẩm" của miệng thích cái khoản " đầu tiên" này:
- Là người Da đen đầu tiên làm Tổng thống Hoa Kỳ/

- Là người Da đen đầu tiên đã thay đổi cái " gu" về mầu sắc của cả Thế giới.
Trong thời gian tranh cử. Anh em HNPD chúng tôi đã không ngớt dè bỉu, thậm chí "đặt điều" để nói xấu về ông. Đến khi ông đắc cử. Hú hồn, chợt nhớ đến sự trừng phạt của nhà nước CS, khi báo chí vượt hàng rào vào vùng đất cấm mà đảng đã vạch ra, trong đó có cá nhân và đời tư của các tên lãnh đạo..

Cái khoái của cuộc sống Tự do là thế...Ai muốn yêu, ghét ai thì cứ việc, muốn chửi cha của Obama là thằng mọi này mọi nọ cũng được..muốn kéo bè kéo đảng đến Tòa Bạch cung chửi kiểu bắt gà cũng được. Nhưng nếu anh làm cản trở lưu thông, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người khác là anh vẫn bị còng..

Thế nên hàng ngày chúng tôi vẫn tìm những mặt tốt của Obama để post lên web, vẫn tuân thủ, thậm chí vẫn mong rằng ông Hắc Tổng thống này sẽ làm tốt công việc mà đại đa số dân Mỹ đã phó thác cho ông ...

Nhưng, sự hậm hực lúc đầu về ông đâu có thể dễ tan một sớm một chiều..

Thời gian trăng mật dành cho Ông đã hết quẹn rồi...Thất nghiệp thì càng ngày càng tăng. Cái kế hoạch bảo hiểm y tế có từ thời Clinton đã được ông làm mồi câu khi tranh cử, ngày càng giống như chuyện cái gân gà thời mà Dương Tu thời Tam Quốc bị chém … Rồi chính sách Ngoại giao với khẩu hiệu " đối thoại để hiểu nhau" của ông càng ngày càng giống như tấm bình phong che đậy sự yếu kém; Bắc Triều tiên đang giỡn mặt, Iran trong cơn hồng thủy của lòng phẫn uất đối với chính quyền độc tài, đang như cơn hải triều sắp phá tan cái đê quá khích. Lúc ấy, chỉ cần một câu nói cương quyết của ông thì cái thế của Iran bây giờ có thể đã khác. Nhưng, ông lại tạt gáo nước lạnh vào nó với những câu bình loạn chẳng giống ai...Còn, Trung Quốc một mặt thì công khai xâm lấn đe dọa các nước gần, một mặt thẳng tay súng để máu nhuộm Đỏ Tân Cương...Ông cũng cứ giả lơ, giả điếc...

Lý do có bài viết ngắn này vì hôm nay..có một bản tin đăng trên đài VOA về sự càng ngày uy tín ông Obama càng xuống...

Ngày xưa, Lưu Bị vốn xuất thân từ anh bán chiếu. Đến khi qua Kinh Châu bị Tôn Quyền ( qua kế của Chu Du ) đem bả vinh hoa phú quý ra nhử mà suýt quên đường về..

Chuyện chiếu trên chiếu dưới trong giai cấp lãnh đạo ở Mỷ không phải không có, hồi Bush Cha làm phó cho TT Regan chưa bao giờ được mời một bữa cơm riêng..
Ông Obama tài thì chưa biết nhưng nơi xuất thân của ông cũng chẳng cao quý gì...Khi lên cầm quyền ...Ông cho cái Air Force One nhào lộn trên nhà dân để chụp hình, thuê mấy cái phi cơ để đưa bạn bè qua NewYork chè chén (để thực hiện một lời hứa với vợ ), ..Chỉ cần nhớ đến hương vị của một mùi thịt rán mà vợ chồng con cái đáp máy bay về tận Chicago...
Cứ tha hồ mà hưởng cái phong lưu của giai cấp mới cho bõ lúc phong trần..
Để chấm dứt bài ngắn này. Tôi chỉ biết chép miệng
Vụng về cũng thể Hằng nga
Trăm khôn ngàn khéo chẳng qua mục đồng !

Chú Cuội
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Đầu Gối Tay Ấp
Tác Giả: Trịnh Tiến Nhất

Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1. Cảnh nghèo
Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi .

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”.
Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”.

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.
Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

2. Cười xót xa
Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.
Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...
Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”.

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường...”
Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:
“Chị ơi, em yêu chị!”.
Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

3. An ủi nhỏ nhoi
Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.
Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.
Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:
“Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”.
Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?
Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.

Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.
Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”.
Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

4. Kiếp này
Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.
Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.
Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!
Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.
Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.
Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”.
Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?
Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

5. Xin lỗi
Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.
Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:
“Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”.
Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:
“Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”.
Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.


6. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa
Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.
Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:
“Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.
Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Chuyện Phiếm Về Lệnh Hồ Xung !


Lệnh Hồ Xung (令 狐 沖, Lìnghú Chōng) là tên một nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung, xuất hiện trong bộ tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ. Lệnh Hồ Xung có sở trường sử dụng kiếm thuật với bí kíp Độc cô cửu kiếm và là một trong những nhân vật được nhiều người yêu thích nhất trong các nhân vật chính trong các tiểu thuyết của nhà văn Kim Dung.

Lệnh Hồ Xung vốn là một đứa trẻ mồ côi lang thang, được vợ chồng Nhạc Bất Quần (chưởng môn phái Hoa Sơn khi đó), Ninh Trung Tắc đem về nuôi nấng dạy dỗ và trở thành đại đệ tử khai sơn của Nhạc Bất Quần. Lệnh Hồ Xung có trí thông minh tuyệt vời, cùng với tính tình phóng khoáng thích tự do nhưng lại rất kính trọng vợ chồng Nhạc Bất Quần. Lệnh Hồ Xung có một tính cách đặc biệt là ham uống rượu, yêu rượu như tính mạng mình. Nhờ tính tình phóng khoáng, Lệnh Hồ Xung đã kết thân với rất nhiều kỳ nhân dị sĩ giang hồ.

Lớn lên cùng con gái của vợ chồng Nhạc Bất Quần là Nhạc Linh San, Lệnh Hồ Xung đã yêu nàng và mơ được cùng sánh đôi với Nhạc Linh San. Nhưng sau nhiều biến cố, Nhạc Linh San đã yêu Lâm Bình Chi khiến Lệnh Hồ Xung chán nản, thất tình. Khi lưu lạc giang hồ, chàng đã yêu Nhậm Doanh Doanh, con gái của Nhậm Ngã Hành - giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo. Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh đã trở thành một trong những cặp đẹp đôi nhất, có kết thúc đẹp nhất, cùng nhau ngao du giang hồ, ngày ngày tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.

Mở đầu tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung xuống núi Hành Sơn theo lệnh của Nhạc Bất Quần, vô tình can thiệp bọn Thanh Thành tứ tú khi chúng làm chuyện xấu và kết oán với phái Thanh Thành. Sau đó, Lệnh Hồ Xung lại xả thân cứu Nghi Lâm, tiểu sư thái phái Hằng Sơn khỏi bàn tay dâm ô của Điền Bá Quang nên bị thương nặng và bị La Nhân Kiệt ám hại bị thương gần chết. Đây là khởi nguồn của một tình yêu câm lặng của ni cô Nghi Lâm với anh chàng lãng tử này. Sau đó, may được Khúc Dương và Nghi Lâm dùng thuốc chữa, Lệnh Hồ Xung đã bình phục, và vô tình cứu được vợ chồng Lâm Chấn Nam khỏi tay Mộc Cao Phong và nhận di ngôn của ông truyền cho con mình là Lâm Bình Chi về việc không luyện Tịch tà kiếm pháp.

Trở về Hoa Sơn, Lệnh Hồ Xung bị Nhạc Bất Quần phạt (do vi phạm nhiều môn quy) phải ở trên đỉnh Ngọc Nữ phong để sám hối. Ở trên đó, vô tình Điền Bá Quang đến giao đấu muốn mang Lệnh Hồ Xung đi, và đã tạo ra cơ duyên cho Lệnh Hồ Xung gặp được thái sư thúc tổ của mình là Phong Thanh Dương, và được ông truyền cho bí kíp kiếm thuật thượng thừa Độc cô cửu kiếm, đánh bại Điền Bá Quang.

Khi trở lại Hoa Sơn, Lệnh Hồ Xung đã dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại cuộc nội loạn của phe kiếm tông (Phong Bất Bình, Thành Bất Ưu..) nhưng lại vô tình bị Thành Bất Ưu ám hại bị thương. Đào cốc lục tiên sáu người đã xé xác Thành Bất Ưu sau đó dùng sáu luồng chân khí trị thương cho chàng, vô tình lại hại chàng, khiến Lệnh Hồ Xung bị nội thương nặng, mất hết nội lực và có nguy cơ mất mạng. Thầy trò Nhạc Bất Quần lo ngại Đào cốc lục tiên nên để lại Lệnh Hồ Xung cùng Lục Đại Hữu còn mình dẫn học trò lên Tung Sơn chất vấn Tả Lãnh Thiền. Nhạc Linh San lấy trộm bí kíp Tử hà thần công của cha cho Lệnh Hồ Xung luyện để cứu mạng nhưng chàng đã không luyện và vô tình rơi vào cái bẫy giương sẵn của Nhạc Bất Quần: Lục Đại Hữu bị giết, Tử hà thần công bí kíp bị đánh cắp và đổ oan cho Lệnh Hồ Xung. Đặc biệt khi Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm lần lượt đánh bại Phong Bất Bình và 15 cao thủ bịt mặt (do phái Tung Sơn sắp đặt) khi đã mất hết nội lực càng khiến cho Nhạc Bất Quần thêm nghi ngờ chàng đã trộm Tịch tà kiếm pháp.

Khi lưu lạc giang hồ, Lệnh Hồ Xung tình cờ quen Nhậm Doanh Doanh bày tỏ tấm lòng chân thật của mình với sư phụ, tình yêu trong sáng với tiểu sư muội Nhạc Linh San khiến cho Doanh Doanh thầm yêu chàng. Qua Doanh Doanh, hàng loạt kỳ nhân dị sĩ giang hồ đã kết thân và tìm cách chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung nhưng không thành, thậm chí sự kém hiểu biết về y thuật của họ càng làm cho bệnh của Lệnh Hồ Xung thêm nặng và có nguy cơ mất mạng. Doanh Doanh đã xả thân đem chàng lên Thiếu Lâm tự chấp nhận tùy cho Thiếu Lâm xử trí mình, còn phái Thiếu Lâm sẽ đem Dịch cân kinh cho Lệnh Hồ Xung luyện để cứu mạng chàng (lúc đó Lệnh Hồ Xung bị mê man bất tỉnh). Khi tỉnh lại, biết tin Nhạc Bất Quần đã đuổi mình ra khỏi phái Hoa Sơn, chàng đã đau lòng từ chối xuống núi. Trên đường đi, chàng đã kết thân với Hướng Vấn Thiên, cùng Hướng Vấn Thiên qua lại giang hồ, dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại Giang Nam tứ hữu, vô tình cứu Nhậm Ngã Hành đang bị giam dưới hắc lao Tây Hồ, vô tình luyện Hấp tinh đại pháp và hết bệnh. Khi lang thang giang hồ, Lệnh Hồ Xung đã bí mật giải cứu phái Hằng Sơn, cùng các vị sư thái Hằng Sơn lật bộ mặt gian trá hiểm ác của phái Tung Sơn với âm mưu tiêu diệt Hằng Sơn.

Sau đó, Lệnh Hồ Xung dẫn đầu quần hùng lên Thiếu Lâm tự cứu Doanh Doanh, trên đường đi đánh bại Xung Hư, đạo trưởng phái Võ Đang, lên Thiếu Lâm tự và chứng kiến cái chết của hai vị sư thái phái Hằng Sơn, nhận lời di ngôn của họ làm chưởng môn phái Hằng Sơn. Cũng ở tại Thiếu Lâm tự, Lệnh Hồ Xung vô tình dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại Nhạc Bất Quần. Xuống núi, chàng giúp Nhậm Ngã Hành tiêu diệt Đông Phương Bất Bại, giành ngôi giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo, nhưng từ chối đề nghị gia nhập giáo phái này để trở về tiếp nhiệm chưởng môn Hằng Sơn sau khi đính ước với Doanh Doanh. Sau khi chấn chỉnh lại phái Hằng Sơn, được sự động viên của Phương Chứng đại sư (phái Thiếu Lâm) và Xung Hư (đạo trưởng phái Võ Đang), Lệnh Hồ Xung đã nhận ra âm mưu của Tả Lãnh Thiền phái Tung Sơn và quyết ngăn cản âm mưu thao túng Ngũ Nhạc kiếm phái của hắn. Nhưng ở đại hội hợp nhất, Lệnh Hồ Xung vì tình riêng đã tự chịu thua Nhạc Linh San, đồng thời bị nàng đâm trọng thương, để ngôi đứng đầu rơi vào tay Nhạc Bất Quần sau khi Nhạc Bất Quần dùng Tịch tà kiếm pháp đánh bại Tả Lãnh Thiền. Trên đường về Hằng Sơn, khi ngầm theo dõi giúp đỡ vợ chồng Lâm Bình Chi, Nhạc Linh San, chàng chứng kiến Lâm Bình Chi giết chết Dư Thương Hải, Mộc Cao Phong và cả Nhạc Linh San. Sau đó, Lệnh Hồ Xung buộc phải quyết đấu với Nhạc Bất Quần để cứu Doanh Doanh, và lại lần thứ hai dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại Nhạc Bất Quần, nhưng rồi sau đó cũng lại chứng kiến cái chết đau lòng của Ninh Trung Tắc, sau khi bà hiểu ra bộ mặt thật của chồng bà là Nhạc Bất Quần.

Khi trở lại Hằng Sơn, Lệnh Hồ Xung giúp vợ chồng Bất Giới hòa thượng (cha đẻ của Nghi Lâm) đoàn tụ, nhưng phát hiện ra Nhạc Bất Quần đã bắt cóc toàn bộ các sư thái Hằng Sơn, cả hai đuổi theo lên Hoa Sơn và bị lạc nhau trong hậu động bít kín. Cả hai đoàn tụ nhau sau khi tiêu diệt bọn Tả Lãnh Thiền có âm mưu giết các anh hùng trong bóng đêm. Thoát khỏi động, cả hai lại bị Nhạc Bất Quần đặt bẫy bắt, sau đó lại may mắn thoát chết nhờ Nghi Lâm giết chết Nhạc Bất Quần, và cũng qua đó họ hiểu ra Nhạc Bất Quần chính là kẻ giết các vị sư thái Hằng Sơn.

Đoạn cuối, Nhậm Ngã Hành tuyên chiến với Hằng Sơn, Lệnh Hồ Xung trở về cùng võ lâm chống lại âm mưu tiêu diệt võ lâm của Nhậm Ngã Hành và được bầu làm minh chủ, được biết rằng Phong Thanh Dương vẫn âm thầm giúp đỡ mình. Phương Chứng đại sư đã phá lệ ngấm ngầm truyền Dịch cân kinh cho chàng để thoát khỏi sự hành hạ của các luồng chân khí trong người, cùng quần hùng chuẩn bị đặt bẫy thuốc nổ giết Nhậm Ngã Hành. Tuy nhiên, Nhậm Ngã Hành đã vô tình chết do chính các luồng chân khí mà mình hút được. Doanh Doanh lên làm giáo chủ, trở lại giảng hòa với các môn phái, đem lại hòa bình võ lâm, rồi truyền chức giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo cho Hướng Vấn Thiên. Sau đó cùng Lệnh Hồ Xung kết hôn, ngày ngày cùng nhau tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.

(Theo Wikipedia)

Tiếu ngạo giang hồ

Tiếu ngạo giang hồ đọc mấy chương
Thấy bao nhân vật của đời thường
Mưu thần chước quỷ cầu danh lợi
Khẩu phật tâm xà mộng bá vương
Ngậm máu phun người mồm ố bẩn
Giấu tay ném đá nghệ am tường
Đôi đàng hắc bạch nào hơn kém
Cửu kiếm tung hoành trấn bốn phương

Ái Hoa
14/5/2009


... TH cũng phái chiện nầy lắm nên nhào dzô liền nè anh AH

Lệnh Hồ Xung

Bốn phương Ngũ Nhạc phái xưng hùng
Nhất kiếm uy thần tọa chính trung
Dũng phục quần ma nơi hiểm địa
Tài thu cường tặc chốn lâm cùn
Thiện lương cười khẩy câu quyền thế
Hiệp nghĩa xem thường miếng đỉnh chung
Tà chánh ai người không cảm mến
Hoa Sơn lãng tử Lệnh Hồ Xung

Thiên Hùng
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Mèo tự đi xe buýt

Một con mèo tại Anh đã đi lại bằng xe buýt suốt 4 năm qua. Nó đã trở thành vị khách quen thuộc của nhiều tài xế.

Image
Chú mèo Casper trên chuyến xe buýt số 3 tại thành phố Plymouth. Ảnh: Telegraph.
Casper, chú mèo 12 tuổi, thường đón chuyến xe buýt số 3 của hãng First Bus tại thành phố Plymouth, hạt Devon vào lúc 10h55 sáng. Sau đó nó đi hết lộ trình dài 18 km rồi trở về nhà. Trong lộ trình đó, kéo dài khoảng một giờ, chiếc xe đi qua một di tích lịch sử, một căn cứ hải quân, trung tâm thành phố và nhiều khu vực ngoại ô.

Giờ đây những tài xế lái owr tuyến số 3 đã quen với sự có mặt của Casper. Họ luôn chú ý tới chú mèo để đảm bảo rằng nó xuống đúng điểm dừng.

Susan Finden, 65 tuổi, là chủ của Casper. Bà cho biết Casper luôn biết mất khỏi nhà nhiều giờ trong ngày. Trước kia Finden không biết nó đi đâu. Mãi tới gần đây các tài xế xe buýt mới nói với bà rằng Casper bắt xe của họ để dạo quanh thành phố.

"Ban đầu tôi không tin Casper có thể làm việc đó, nhưng sau đó tôi tận mắt chứng kiến nó đứng chờ ở trạm xe buýt ngay cạnh nhà rồi nhảy lên xe. Trước kia tôi thường đi lại bằng xe buýt số 3. Có lẽ Casper đã theo dõi tôi và bắt chước. Con mèo này quá nhanh nhẹn so với tuổi của nó. Casper thích ngồi ở hàng ghế cuối", bà nói.

Rob Stonehouse, một trong những tài xế lái xe buýt số 3, kể: "Con mèo đó thường cuộn tròn thân ở hàng ghế sau cùng. Nó nhảy lên xe rất nhanh mỗi khi cửa mở. Đôi khi nó len lỏi dưới chân hành khách nhưng chưa bao giờ gây phiền toái".

Casper đã di chuyển khoảng 32.000 km bằng xe buýt trong 4 năm qua. Một phát ngôn viên của hãng First Bus cho hay, hãng đã yêu cầu các tài xế trông nom hành khách chưa bao giờ trả tiền này.

Minh Long (theo Telegraph)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

Phương pháp giử gìn sứ khỏe
theo sự chỉ dẩn của Chú Sĩ (hay Bác= uncle)


Bệnh nhân:

- Thưa BS tôi nghe nói tập thể dục cho tim giúp mình sống thọ hơn, có phải không ạ?
BS: Thượng Đế cho mỗi người 1 trái tim chỉ có thể đập tổng cộng bao nhiêu nhịp đó rồi sẽ hư. Đùng tốn hơi tập thể dục. Tập thể dục làm cho tim đập mạnh hơn, nhanh hơn, chẳng khác gì anh nói tôi muốn cho xe tôi bền hơn bằng cách rú ga dọt mạnh. Muốn sống lâu hơn hả? Cứ ngủ nghê không vận động gì sất.

Bệnh nhân: Tôi có nên ăn bớt thịt và thêm nhiều rau trái không?
BS: Anh phải nhớ điều này, bò ăn cái gì? Cỏ và bắp. Cỏ và bắp thuộc loại gì? Rau và ngũ cốc, phải không? Vậy thì ăn thịt bò chẳng phải là một phương cách hữu hiệu và chí lý để chuyển rau vào cơ thể anh chứ là gì? Cơ thể cần ngũ cốc ư? Thì ăn thịt gà. Thịt bò cũng là nguồn thực phẩm tốt từ rau lá xanh, vì bò ăn cỏ. Vậy thì 1 miếng thăn heo cũng đủ cung cấp 100% năng lượng cần thiết cho cơ thể trong ngày rối, bớt thịt là làm sao?

Bệnh nhân: tôi có nên giảm liều rượu uống mỗi ngày không?
BS: không, không nên. Rượu vang làm từ trái cây. Rượu brandy làm từ rượu vang nguyên chất, có nghĩa là nước được chắt ra khỏi trái cây để làm rượu, chỉ còn lại cốt tốt của trái cây, cho nên anh lại càng hưởng được các chất bổ nguyên chất của hoa qủa khi uống brandy. Bia cũng vậy, làm từ ngũ cốc.

Bệnh nhân: Làm sao để tính tỉ lệ cơ thể và mỡ (body/fat ratio)?
BS: Hừm, nếu anh chỉ có 1 cơ thể và 1 lượng mỡ thì tỉ lệ 1/1, còn như nếu anh có 2 cơ thể và 1 lượng mỡ thì tỉ lệ là 2/1 vv và vv…, giản dị thế thôi.

Bệnh nhân: ăn đồ chiên xào nhiều qúa cũng không tốt phải không BS?
BS: Nãy giờ tôi nói anh có nghe không? Đồ chiên xào ngày nay dùng dầu rau cải (vegetable oil), vậy thì làm sao ăn nhiều đồ chiên bằng dầu mà lại hại cho anh?

Bệnh nhân: tập thể dục vùng bụng như hít đất giúp cho bụng nhỏ lại phải không?
BS: Không, không là không! Khi một bắp thịt nào đó vận động nhiều qúa, nó sẽ to ra. Nếu anh muốn bụng to thì cứ tập thể dục bụng.


Bệnh nhân: Ăn kẹo chocolate cũng không tốt phải không?
BS: Điên à? Chocolate làm từ cocoa beans, cũng một loại rau, sao lại không tốt?

Bệnh nhân: Bơi lội cũng giúp cho thân hình mảnh dẻ?
BS: Nếu bơi lội giúp cho thân hình mảnh dẻ, anh hãy nhìn mấy con cá voi rồi giải thích cho tôi nghe coi.


Hãy nhớ rằng:
“Cuộc đời không phải là một cuộc hành trình tới nấm mồ một cách an toàn trong một cơ thể đẹp đẽ, mà là đi tới đó một cách chếnh choáng, chân thấp chân cao, một tay chai Chardonay một tay hộp kẹo chocolate, thân thể được tận dụng tối đa, và miệng thì la lên “WOO HOO một cuộc hành trình đáng nhớ”

VÀ…..
Cho những ai lúc nào cũng căn đo những thứ mình ăn, sau đây là những gì sưu tập được về dinh dưỡng và sức khỏe:
1. Dân Nhật ăn ít mỡ và ít bị bịnh tim hơn dân Mỹ.
2. Dân Mễ ăn nhiều mỡ và ít bị bịnh tim hơn dân Mỹ.
3. Dân Tàu ít uống rượu vang hơn dân Mỹ và ít bị bịnh tim hơn dân Mỹ.
4. Dân Ý uống nhiều vang hơn dân Mỹ và ít bị bịnh tim hơn dân Mỹ
5. Dân Đức uống nhiều bia, ăn nhiều xúc xích với mỡ và ít bị bịnh tim hơn dân Mỹ

KẾT LUẬN: ăn gì uống gì cũng chẳng hề hấn gì, hình như nói tiếng Anh mới làm chết người.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests