Thời Sự, Bình Luân

caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Image

Ông Tổng bí thư của đảng CSVN
lấy tư cách gì để ký Tuyên Bố Chung giữa 2 quốc gia Việt Nam và Thái Lan?

Dân Làm Báo - Trong chuyến đi Thái Lan, ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư của đảng CSVN đã ký một tuyên bố chung Việt Nam - Thái Lan trong đó bao gồm nhiều cam kết giữa 2 quốc gia trên các lãnh vực quan hệ chính trị, hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hóa, khu vực và quốc tế.

Trong Hiến pháp hiện thời của nước CHXHCNVN, không một điều nào quy định tổng bí thư một đảng có trách nhiệm và quyền hạn để thực hiện việc này.

Toàn chương VII, điều 101 Hiến pháp 1992 quy định Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Ông TBT đảng CS trong chuyến đi lãnh bằng Ts Thammasat (nhờ vào sự vận động trước đó của Bộ Ngoại giao) đã ngồi nhầm vào ghế của ông Trương Tấn Sang, lạm quyền Chủ tịch nước và vi phạm hiến pháp quốc gia khi ký bản Tuyên bố chung Việt-Thái.

Tổng Bí Thư - người đứng đầu của một đảng duy nhất luôn tự phong và giành lấy vai trò lãnh đạo muôn năm của đất nước đã ngồi xổm lên Hiến pháp, xem Hiến pháp như mớ giấy vụn thì liệu Hiến pháp này có còn giá trị gì để là văn bản chính trị cao nhất của đất nước mà nhà nước Việt Nam đã và đang tiêu tiền thuế của nhân dân kêu gọi cả nước góp ý, xây dựng?
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Văn kiện đầu hàng

Bùi Tín (Blog VOA)
Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.

Nhân danh chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức Trung Quốc. Ngày 21 tháng 6 ông đã ký với chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, Tập Cận Bình, bản tuyên bố chung rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh nước ta.

Bản tuyên bố chung bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Việt Nam này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác và phố biến đi khắp thế giới.
Mọi người Việt Nam yêu nước không thể không bàng hoàng và phẫn nộ khi đọc kỹ văn kiện nói trên, không thể không nhận định đây là một văn kiện tuyên bố đầu hàng bọn bành trướng và xâm lược phương Bắc.

Chắn chắn cả Bộ Chính Trị 16 người đã được thông báo và đồng tình với bản tuyên bố chung (TBC) thảm hại này.

Ðọc thật kỹ bản TBC, có thể dễ dàng nhận ra nó được phía Trung Quốc khởi thảo và phía Việt Nam hoàn toàn không được đóng góp hay thay đổi gì hết. Bản TBC hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Ðại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến nhà nước Việt Nam Cộng Sản thành một chư hầu của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo Cộng Sản bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực.

Kính mời đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, kể cả các đảng viên Cộng Sản, hãy đọc cho kỹ bản TBC ký chưa ráo mực này.

Ngoài bản TBC dài lòng thòng gồm có 8 điểm, trong đó riêng điểm 3 chứa đựng đến 13 mục quan hệ hợp tác vừa mở rộng vừa ăn sâu, 2 bên còn ký đến 10 văn kiện khác, trong đó có Chương trình hoạt động chung của chính phủ 2 nước, Thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện giữa bộ quốc phòng 2 nước, Thỏa thuận giữa 2 bộ nông nghiệp về đường dây nóng trong nghề đánh cá trên biển, về giám sát chất lượng, kiểm dịch thực vật, Ðiều lệ hợp tác quản lý cửa khẩu trên đất liền, Ghi nhớ về xây dựng các trung tâm văn hóa Việt-Trung, Quan hệ giữa các tổ chức hữu nghị, Hợp tác trong thăm dò dầu khí ngoài khơi vịnh Bắc bộ, v.v...

Trong 13 mục quan hệ mở rộng và ăn sâu, sau khi khẳng định phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt, TBC kể ra một loạt thỏa thuận: Thường xuyên tiếp xúc ở cấp cao đảng, chính phủ, hoạt động của ủy ban chỉ đạo hợp tác chiến lược toàn diện song phương, quan hệ chặt chẽ giữa 2 đảng, 2 ban đối ngoại, 2 ban tuyên huấn, về nghiên cứu lý luận, về xây dựng đảng, quan hệ giữa 2 bộ ngoại giao, giữa các vụ, cục trong 2 bộ ngoại giao, quan hệ giữa 2 quân đội, 2 bộ Quốc phòng, trao đổi về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, trong đào tạo s? quan, trong tuần tra chung ở vùng biên phòng đất liền, hợp tác về thực thi pháp luật, an ninh, về trật tự an toàn xã hội, về an ninh biên giới và cảnh sát biển, thực hiện kế hoạch 2 hành lang 1 vành đai vùng biên giới, hợp tác về năng lượng, giao thông vận tải, đầu tư kinh doanh, hợp tác về văn hóa, khoa học, công nghiệp và thông tin...

Bản TBC còn nhấn mạnh đến mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với 3 tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc - Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông - và đảo Hải Nam.

TBC cũng nói đến hợp tác của Ủy Ban Liên Hợp Biên Giới Việt-Trung để tàu thuyền đi lại tự do trong khu Bắc Luân, hợp tác khai thác du lịch thác Bản Giốc, và cũng không quên nói đến hợp tác đánh cá chung trong vịnh Bắc bộ.

Ðọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy 2 mà một. Hòa nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội. Cứ như ở thời kỳ quan hệ anh em đồng chí bền chặt nhất vậy.

Ðây phải chăng là một cạm bẫy do nhóm lãnh đạo mới của đảng CS Trung Quốc, với Tập Cận Bình cầm đầu, giăng ra để nhử Trương Tấn Sang chui vào tròng. Chiếc bẫy này chắc chắn đã được chuẩn bị rất công phu, và buộc Trương Tấn Sang phải cúi đầu chấp nhận cả gói, không sửa đổi du di gì được dù một ly.

Không hề có một chữ nào về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một yêu cầu nào về việc bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân Vi?t Nam trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái lưỡi bò phạm pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ. Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất, còn hơn anh em ruột thịt.

Ðây có thể là phản ứng có tính toán của nhóm Tập Cận Bình đối với lời lên án của Việt Nam tại cuộc họp Shangri La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua. Tuy chỉ là lời nói bóng gió, không nêu đích danh, nhưng cũng đủ để bị chạm nọc, để mất mặt giữa trường quốc tế và để nổi tự ái giận dữ. Ðó là câu của Thủ Tướng Ba Dũng: “Ðâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”. Ðã nhún nhường, nói xa xôi, nhưng vẫn cay đắng, vì bọn trùm bành trướng luôn kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự coi là yêng hùng trong thiên hạ.

Trung Nam Hải gần đây tỏ ra rất lo ngại khi trí thức và tuổi trẻ Việt Nam cũng như một số đảng viên CS lão thành tỏ rõ ý muốn Việt Nam liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Liên Âu... trước mối đại họa bành trướng Trung Quốc.
Cũng có thể đây là một tính toán thâm độc của Trung Nam Hải, nhưng cũng có thể là một tính toán sai lầm trong cơn hoảng hốt. Họ không tính rằng sự lộ mặt quá lộ liễu là ông chủ của 16 ông vua tập thể ở Ba Ðình là dại dột và nguy hiểm cho họ ra sao. Nước cờ này sẽ đẩy đảng Cộng Sản Việt Nam đang núng thế thụt sâu thêm xuống hố suy thoái, bị lên án mạnh thêm là bán nước cầu lợi riêng, chia rẽ thêm nhóm lãnh đạo vốn đã hiềm khích nhau, kích thích mạnh thêm các cuộc xuống đường quyết liệt chống bành trướng và tay sai của đồng bào ta.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Sài Gòn tự do và hi vọng
(Viết cho ngày SG bị cưỡng bức đổi tên 2/7/1976)

Hiền Sỹ
(Danlambao) - Mỗi một dân tộc, một đất nước nào cũng có những niềm tự hào về nguồn cội riêng mình. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Đi cùng truyền thống chống giặc ngoại xâm xuyên suốt 4000 năm là ý chí vượt lên khó khăn để xây dựng một Việt Nam ngày càng no ấm, giàu đẹp hơn. Trải qua hằng nghìn năm, nhiều triều đại trong lịch sử thì mỗi miền Bắc, Trung, Nam đều có cho riêng mình những nét đẹp, nét độc đáo cho riêng mình trong sự thống nhất về văn hóa của người Việt Nam. Và đại diện cho 3 miền tươi đẹp ấy là Thăng Long (Hà Nội), Huế và Sài Gòn. Tuy là một thành phố mặc dù sinh sau đẻ muộn hơn cả trong 3 thành phố nhưng sự tồn tại trên 300 năm của Sài gòn đã thể hiện ý chí quyết tâm vượt khó để mở mang bờ cõi của cha ông chúng ta.

Cho đến hôm nay, lịch sử của cái tên Sài Gòn đến nay vẫn chưa xác định được chứng tỏ rằng địa danh này là một sáng tạo dân gian trải qua trên ba thế kỷ và đã trở thành quen thuộc, thân thương với người dân Việt Nam nếu lấy thời điểm địa danh Sài Gòn được ghi vào sử sách (tháng 4 năm 1674) coi như ngày sinh thành phố. Các học giả xưa nay đã đưa ra rất nhiều cách giải thích khác nhau, người thì cho chữ Sài Gòn do chữ Prei Kor gốc Khmer, có nghĩa là “Củi gòn”, người thì cho do chữ Tây Cống, mà người Hoa phát âm là “Xây Ngòn”, người thì cho do chữ Đề Ngạn, người Hoa phát âm là “Thầy Nguồn”, v.v... nhưng đến nay chưa có giải thích thỏa đáng được mọi người nhất trí. Tuy nhiên, có một sự thật không thể chối bỏ được là Sài Gòn đã trở thành biểu tượng của ấm no, hạnh phúc và tự do cho Việt Nam trong suốt lịch sử tồn tại của thành phố.

Từ năm 1788, Sài Gòn trở thành nơi buôn bán sầm uất, đông đúc cư dân. Cuối thế kỷ 19, công cuộc đô thị hóa được mở rộng và sang thế kỷ 20 Sài Gòn đã trở thành “Hòn ngọc Viễn Đông”. Lịch sử đô thành Sài Gòn gắn liền với lịch sử Đất Nước. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của mình, Sài Gòn đã là một thành phố mang trong mình tính chất đầy đủ của tính cách người Miền Nam đi mở cõi: Sôi nổi nhưng hiền hòa và chất phác, văn minh gắn liền với tự do. Nói về văn minh và sôi nổi thì cái tên “hòn ngọc Viễn Đông” đã nói lên hết ý nghĩa của Sài Gòn. Đây cũng là lý do trước đây khi nhắc đến Sài Gòn, người Singapore, người Thái... đều nhắc đến trong niềm ngưỡng mộ. Ngoài ra, sự hiền hòa và chất phác chính là bản chất của người dân Nam bộ gắn liền với lịch sử 18 Thôn Vườn Trầu an bình trong niềm vui no ấm.

Để nói về Sài Gòn, người dân còn luôn nhớ tới như một biểu tượng của tự do. Sài Gòn không chỉ tươi đẹp mà còn là cái nôi khai sinh ra hai chính thể cộng hòa đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam cho đến lúc này. Đệ nhất, đệ nhị cộng hòa đã được sinh sôi, nảy nở ngay tại Sài Gòn và chọn Sài Gòn làm trái tim cho một miền Nam tràn ngập tự do và yêu thương. Mặc dù sinh sau đẻ muộn trong hoàn cảnh đất nước loạn ly và nhiễu nhương nhưng những gì một chính thể non trẻ như VNCH làm được đã in dấu trong nhân dân Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung. Cũng chính bởi vậy mà sau 38 năm bị cộng sản đổi tên thành Hồ Chí Minh, đồng bào thì người dân vẫn trìu mến gọi tên “Sài Gòn” trong trái tim.

Sau cái ngày mà bà Dương Thu Hương - một cán binh tham gia đoàn quân từ miền Bắc của cộng sản vào cướp đi sự tự do, no ấm, yên lành của Sài Gòn đã phải thốt lên “Ngày mà kẻ man rợ là kẻ chiến thắng, người văn minh thất bại” thì Sài Gòn bị đổi tên. Một cái tên mang tính lịch sử dân tộc và mang trong mình sự tự hào về ý chí vươn lên của người Việt đã bị hoán đổi thành một cái tên xa lạ của một kẻ rước những thứ chủ nghĩa xa lạ về dày xéo quê hương. Sài Gòn của tự do ngày ấy đã bị mất tên bởi sự áp đặt đến lố bịch của cộng sản. Và cũng chính từ cái giờ phút bị cưỡng bức thay tên thì Sài Gòn đã dân để những Bangkok, Singapore vượt qua. Cũng từ đó, một biểu tượng tự do của dân tộc Việt đã bị cộng sản nhốt lại trong một đất nước tràn ngập nhà tù, thù hận và bất công.

Đường Sài Gòn hai mùa vẫn ngập nắng. Những con đường Sài Gòn nằm im phơi mình lặng lẽ nhưng trong lòng Sài Gòn ngày hôm nay chất chứa bao nhiêu nỗi u buồn, ưu tư của một kiếp làm nô lệ cho những chủ thuyết xa lạ và hoang tưởng. Hãy trả lại tên cho Sài Gòn, vì đó là lẽ phải. Sài Gòn của những con đường như Lê văn Duyệt, Phan Thanh Giản, của những ngôi trường như Petrus Ký, Gia Long sẽ phải trở lại vì nó không thể mang những cái tên vô hồn: “Cách mạng tháng 8”, “Nguyễn Thị Minh Khai” hay “Lê Hồng Phong”. Sài gòn, cái tên đã ăn sâu vào trong máu của người miền Nam. Bà cụ già miền quê móm mém nhai trầu hay hỏi con cháu: “Tết này tụi bây có lên Sài Gòn chơi không bây?”. Các quán xá giờ đây rộ lên tên Sài Gòn: chè Sài Gòn, hủ tiếu Sài Gòn, thậm chí chiếc xe đẩy bánh mì cũng léo nhéo “bánh mì Sài Gòn hai ngàn một ổ”. Sài Gòn là của người Sài Gòn, không phải của ai khác, không chấp nhận bất cứ một cái tên ngoại lai hay một cái tên vô nghĩa nào khác. Đó là Sài Gòn bình dị của tự do, no ấm và cũng chính là niềm hi vọng cho một ngày cái tên Sài Gòn lại trở về với thành phố tràn ngập ánh nắng.

Sài Gòn đã được khai sinh trong tự do, sống trong tự do và là biểu tượng tự do. Sài Gòn cần phải được trả lại tên đúng nghĩa cho sự tự do. Sài Gòn không thể mang tên ai khác, và càng không thể mang tên của một kẻ độc tài. Khi chiếm đóng Liên Xô, Hitler không dám đổi tên thành phố nào. Khi Hồng Quân đánh chiếm Berlin, họ cũng không dám đổi tên thành phố của người Đức. Lịch sử không cho phép làm vậy. Vì vậy không ai có quyền đổi tên Sài Gòn, cũng không ai có quyền gán ghép cho người miền Nam nói riêng và người Việt nói chung những cái tên mà họ không muốn. Hãy trả lại tên cho Sài Gòn để Sài Gòn dù nắng hay mưa, vẫn yêu kiều trong con mắt của người Sài Gòn và bạn bè khắp chốn.

1/7/2013
Hiền Sỹ
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mỹ cân bằng chiến lược làm Trung Quốc tạm hòa hoãn Biển Ðông

Lý Ðại Nguyên
Trước khi đi phó hội với khối ASEAN, Trung Cộng đã triệu Trương Tấn Sang chủ tịch nhà nước Việt Cộng sang Tàu, để đánh bóng tập đoàn Nhà Nước Việt Nam, nhằm thực hiện cuộc Ðàm Phán Song Phương, buộc Việt Nam phải chấp nhận tách vấn đề quần đảo Hoàng Sa mà Trung Cộng đã chiếm ra khỏi mối quan hệ với các cuộc Ðàm Phán Ða Phương về Biển Ðông của khối ASEAN, và không được nhắc tới Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, để cho Trung Cộng dễ dàng áp dụng Luật Biển riêng của họ đối với Việt Nam, như đã áp dụng lấn chiếm ở vịnh Bắc Bộ trước đây.

Trong khi đó, ngày 27 tháng 6, 2013, Vương Nghị, ngoại trưởng Trung Cộng đã nhắc lại lập trường của họ là “không thay đổi” và cảnh cáo “tìm kiếm hậu thuẫn của nước thứ ba để giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông là việc làm vô ích; giải quyết đối đầu chỉ dẫn tới thất bại.” Trên trang nhất của tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trung Cộng ngày 29 tháng 6, 2013 lên án Philippines vi phạm 7 tội tại vùng Biển Ðông và cảnh báo: “Bắc Kinh sẽ trả đũa trong trường hợp Manila tiếp tục khiêu khích.” Ðồng thời chỉ trích Hiệp Hội các nước Ðông Nam Á có thái độ đồng lõa với Philippines. Trung Cộng cũng gay gắt lên án Philippines đã yêu cầu Mỹ can thiệp vào khu vực Á Châu. Nhằm quốc tế hóa hồ sơ Biển Ðông.

Hôm 29 tháng 6, 2013, tại Brunei Darussalam, các nước ASEAN khai mac hội nghị ngoại trưởng hàng năm lần thứ 46, cùng một loạt hoạt động ngoại giao. Hội Nghị Ngoại Trưởng lần này tập trung vào hai chủ đề chính, thúc đẩy tiến trình Xây Dựng Cộng Ðồng Kinh Tế ASEAN vào năm 2015 và Hồ Sơ Biển Ðông. Theo ông Lê Lương Minh, tổng thư ký ASEAN thì: “Các nước trong khối tập trung nỗ lực xây dựng một Cộng Ðồng Năng Lực, Bền Vững vào năm 2015, đẩy mạnh phối hợp và hợp tác giữa ASEAN với các Ðối Tác Ðối Thoại, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chính trị và hợp tác hữu nghị.” Dịp này, ngoại trưởng Philippines, Alber Del Rosario, lên tiếng chỉ trích Trung Cộng gia tăng sự hiện diện của các tàu quân sự và phi quân sự được trang bị vũ khí tại khu vực Biển Ðông. Ðặc biệt là Phạm Bình Minh, ngoại trưởng Hà Nội, đã bất chấp tình hữu nghị Việt Hoa, tuy không dám gọi thẳng tên Trung Cộng ra, nhưng đã khẳng định trước Hội Nghị rằng: “Về vấn đề Biển Ðông là mối quan tâm chung.

Thời gian qua trên Biển Ðông đã xảy ra nhiều diễn biến phức tạp, nhất là các hành động áp đặt yêu sách càng ngày càng tăng và các việc tàu cá Việt Nam bị bắn cháy, hoặc bị đâm trong khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ðiều này trái ngược với luật pháp quốc tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, cũng như tinh thần và nội dung của Tuyên Bố về Ứng Xử của các bên ở Biển Ðông - DOC.”

Ngay sau cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, Trung Cộng đã bị Philippines và Việt Nam lên án việc quân sự hóa tranh giành và áp đặt yêu sách bất hợp pháp ở Biển Ðông. Một cuộc họp cấp bộ trưởng giữa ASEAN và Trung Cộng được tiến hành cùng ngày 30 tháng 6, 2013, Trung Cộng đồng ý tổ chức các cuộc đàm phán chính thức với các nước Ðông Nam Á về Bộ Quy Tắc Ứng Xử - COC, trong kế hoạch xoa dịu các căng thẳng ở Biển Ðông.

Ngoại Trưởng Trung Cộng Vương Nghị và người đồng nhiệm Thái Lan, Surapong Tovichakchaikul, loan báo tin này. Vương Nghị nói: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với ASEAN, và giở bỏ bất cứ trở ngại nào hay sự can thiệp nào trong hợp tác đôi bên về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông CPC.” Trong thông cáo chung của cuộc họp bộ trưởng ngoại giao ASEAN và Trung Cộng cam kết: “Hướng tới việc đạt được bộ quy tắc ứng xử ở Biển Ðông trên cơ sở đồng thuận.” Trung Quốc và ASEAN có quyết tâm và khả năng biến Biển Ðông thành một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác.” Theo dự kiến, các bên sẽ thành lập một nhóm bao gồm các chuyên gia và những nhân vật có tiếng để hỗ trợ cho tiến trình này. Vào tháng 9, 2013, Trung Cộng sẽ chủ trì cuộc họp của giới chức cao cấp các bên để chính thức thảo luận về COC. Hôm 1 tháng 7, 2013, phát biểu với ngoại trưởng các nước ASEAN, trước thềm diễn đàn khu vực, ngoại Trưởng Mỹ John Kerry khẳng định: “Hoa Kỳ rất quan tâm đến các tranh chấp tại Biển Ðông được đề cập và ứng xử của các bên... Hoa Kỳ hy vọng sẽ thấy được những tiến bộ sớm đạt được với một bộ quy tắc ứng xử của các bên, nhằm giúp đảm bảo sự ổn định trong khu vực này.” Ông cũng nói đến quyền lợi của Mỹ trong khu vực, và vì vậy: “Hoa Kỳ cần phải duy trì hòa bình và ổn định, cũng như đảm bảo tự do hàng hải, thông thương trên Biển Ðông.”

Thực ra, Trung Cộng tuy hung hăng dùng sức mạnh vũ lực để đe dọa các nước trong vùng Biển Ðông, nhưng nếu chiến tranh nổ ra giữa Trung Cộng với Philippines, chắc chắn Mỹ phải can thiệp vì Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Phi vẫn còn hiệu lực. Lúc đó thủy lộ huyết mạnh Malacca bị phong toả. Nền kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên là Trung Cộng, vì đó là con đường tiếp tế độc đạo trên biển của Trung Cộng. Cũng chính vì tham vọng muốn con đường huyết mạch này của thế giới làm của riêng mình, nên Trung Hoa đã tự vạch ra đường lưỡi bò chín đoạn, mưu định làm chủ trọn vẹn vùng Biển Ðông. Nhưng nay, Hoa Kỳ đã quay trở lại Châu Á-Thái Bình Dương-Ấn Ðộ Dương, được gọi là xoay trục chiến lược, mang nội dung “Tái Cân Bằng” thế lực. Nghĩa là Trung Cộng bành trướng thế lực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa... đến đâu, thì Hoa Kỳ cũng sẽ cân bằng thế lực đến đó. Tương tự như kế hoạch Domino thời Chiến Tranh Lạnh, buộc chính nước Mỹ và Liên Xô phải chạy đua vũ trang cho tới khi một bên phải đứt hơi, và Liên Xô đứt hơi.

Kế hoạch tái cân bằng lần này, thuộc loại Chiến Tranh Mềm, tự Mỹ đã có sẵn một nguồn vũ khí tối tân, khổng lồ, vô địch, vượt trội, luôn luôn phát triển, không còn bị đặt vào thế phải chạy đua vũ trang, mà buộc Trung Cộng vào thế phải chạy theo vũ trang. Trung Cộng càng tăng cường tự thổi mình lên ngang tầm quân sự với Mỹ, càng hung hăng bành trướng xâm lấn các nước láng giềng, thì cả Trung Cộng các nước chung quanh cũng phải gia tăng mua vũ khí của Mỹ, của Nga, của Âu Châu. Thế nhưng kế hoạch Chiến Tranh Mềm này, không nhằm tiêu diệt đối phương, mà buộc đối phương phải biết điều, chấp nhận cuộc chơi sòng phẳng, hợp pháp, tôn trọng lẫn nhau, không gây hấn và bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Vì nếu, Trung Cộng có gồng mình lên để chạy theo vũ trang, thì cũng lệ thuộc vào việc mua khí tài và vũ khí từ bên ngoài. Có lẽ Bắc Kinh đã nhận ra sự thật phũ phàng đó, nên ngoài miệng thì vẫn để cho báo đảng nói năng lung tung, nhưng trong thực tế đã phải tạm thời thỏa hiệp với các nước Ðộng Nam Á để thảo luận về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông, với âm mưu thực hiện cuộc Bành Trướng Mềm trong nội bộ từng nước thuộc khối ASEAN, nếu các nước này không biết tự cứu bằng giải pháp Dân Chủ Hóa, để cùng gia nhập Hiệp Ðịnh Mậu Dịch Tự Do Xuyên Thái Bình Dương - TPP. Trước khi Trung Cộng gia nhập TPP để thực hiện việc xây dựng một mô hình mới của quan hệ nước lớn giữa Mỹ và Trung Quốc.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Sợ báo chí

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Trong một bài phỏng vấn đăng trên báo tamnhin.net ngày 23 tháng 6, 2013, ông Lê Doãn Hợp, cựu phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương và cựu bộ trưởng Văn Hóa Thông Tin (sau đổi thành Bộ Thông Tin và Truyền Thông), hiện đang làm chủ tịch Hội Truyền Thông Số Việt Nam, có một nhận định rất thú vị: “Riêng ở Việt Nam có một cái hay là hệ thống công quyền của chúng ta rất sợ báo chí. Một thiết chế mà quan sợ dân, sợ báo chí là một thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa.”

Ðọc nhận định ấy, thấy hơi là lạ, tôi vào Google, thử gõ mấy chữ “chính phủ sợ báo chí” (hoặc “nhà báo”) (government fears journalist/journalism), tôi thấy hiện lên, trong phần kết quả, toàn những chuyện ngược lại: nhà báo sợ chính phủ. Ngoài những nước đang loạn lạc, nơi các nhà báo có thể dễ dàng bị mất mạng khi đang tác nghiệp, những địa điểm đáng sợ nhất là các xứ độc tài (kể cả Nga), ở đó các nhà báo thường bị bắt bớ, bỏ tù, đánh đập hoặc có khi bị giết chết khi lên tiếng tố cáo tham nhũng và lạm quyền. Theo báo cáo của Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (Committee to protect journalists), từ năm 1992 đến nay, trên thế giới có tổng cộng 982 nhà báo bị giết chết, trong đó nhiều nhất là các phóng viên báo in (30%), tiếp theo là phóng viên truyền thanh và truyền hình (24%). Số người chết vì bị lạc đạn ngay trên trận địa tương đối ít (19%), trong khi đó chết vì bị sát hại thì rất nhiều (68%).

Ai giết họ?

Thủ phạm thuộc các nhóm tội phạm chiếm 13%, thuộc viên chức chính phủ chiếm 23% và thuộc các nhóm chính trị lên đến 30%. Hai mươi quốc gia được xem là nguy hiểm nhất đối với các ký giả là:

1. Iraq: 151
2. Philippines: 73
3. Algeria: 60
4. Russia: 55
5. Pakistan: 52
6. Somalia: 50
7. Syria: 38
8. Colombia: 44
9. India: 29
10. Mexico: 28
11. Brazil: 27
12. Afghanistan: 24
13. Turkey: 21
14. Sri Lanka: 19
15. Bosnia: 19
16. Tajikistan: 17
17. Rwanda: 17
18. Sierra Leone: 16
19. Bangladesh: 14
20. Israel and the Occupied Palestinian Territory: 12
(Con số sau tên mỗi nước là số nạn nhân bị giết chết)


Việt Nam không loạn lạc nhưng lại độc tài. Theo bảng xếp hạng về tự do báo chí của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters without Borders), trong số 179 quốc gia được tính, hầu như năm nào Việt Nam cũng bị xếp gần chót (ví dụ: năm 2009, hạng 166; năm 2010 nhảy lên được một bậc, 165; từ năm 2011 đến 2013, lại tụt xuống hạng 172). Nói chung, hiện nay, Việt Nam chỉ tự do hơn vài nước: Trung Quốc, Iran, Somilia, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên và Eritrea).

Sống trong một đất nước không có tự do báo chí như thế, tất cả các nhà báo có chút tinh thần độc lập đều phập phồng lo sợ bị mất việc hoặc bị bắt bớ. Sợ, như lời thú nhận của Nguyễn Tuân và Nguyễn Minh Châu ngày trước, đến độ đâm ra hèn. Vậy mà ông Lê Doãn Hợp lại nói một điều ngược ngạo: chính phủ sợ báo chí.

Ông còn ngược ngạo hơn nữa khi nói thêm: Ðó là một “thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa.” Dường như ông xem đó là một biểu hiện của dân chủ. Nhưng vấn đề là: ở tất cả các quốc gia dân chủ thực sự, chính phủ lại không sợ báo chí. Họ có thể e dè báo chí nhưng không sợ báo chí. Ở các nước dân chủ, tất cả các nguyên thủ quốc gia đều thường xuyên đối diện với báo chí, trả lời đủ mọi thứ chất vấn của báo chí, dưới hình thức họp báo hoặc xuất hiện trên các đài truyền hình và truyền thanh. Hầu như ngày nào cũng vậy. Có ngày nhiều lần. Từ sáng sớm đến tối mịt.

Sợ báo chí không phải là dấu hiệu của dân chủ.

Vậy tại sao chính phủ Việt Nam lại sợ báo chí?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản.

Có mấy lý do chính:

Thứ nhất là sợ sự thật. Ðã đành làm chính trị, nhất là ở vị trí lãnh đạo, bao giờ người ta cũng có rất nhiều điều muốn giấu giếm. Ở các quốc gia tự do cũng vậy thôi. Tuy nhiên, giữa các quốc gia dân chủ và Việt Nam có rất nhiều khác biệt: Một, trong khi ở các nước dân chủ, chỉ có một số bí mật; ở Việt Nam, hầu như mọi thứ đều là... bí mật. Hai, ở các quốc gia dân chủ, chính phủ bị khống chế bởi các đạo luật về minh bạch buộc họ phải cung cấp thông tin cho báo chí; ở Việt Nam, một sự đòi hỏi như thế cũng có thể bị xem là phạm pháp. Ba, khi một sự thật nào đó được phanh phui, ở các quốc gia dân chủ, giới lãnh đạo hoặc nhận lỗi hoặc cố gắng biện hộ; ở Việt Nam, kẻ phanh phui bị nhốt vào tù. Bốn, ở các nước dân chủ, người ta chỉ giấu giếm chứ không dối trá; ở Việt Nam, người ta có cả hai. Bởi vậy, ở đâu giới làm chính trị cũng sợ sự thật, nhưng sợ nhất vẫn là ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam.

Thứ hai là sợ phản biện. Ở các quốc gia dân chủ, trước khi ban hành một chính sách lớn nào đó, giới lãnh đạo bao giờ cũng đối đầu với vô số sự phản biện: từ phe đối lập, từ các nhóm lợi ích, từ giới truyền thông, từ Quốc Hội và từ dân chúng nói chung. Họ phải giải thích, tự bảo vệ, hơn nữa, cố gắng thuyết phục số đông. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo rất sợ đối đầu, dù là đối đầu một cách gián tiếp, qua báo chí. Với họ, phản biện đồng nghĩa với phản nghịch; và mọi hình thức phản nghịch, dù trong tư tưởng, cũng bị trấn áp.

Thứ ba là thiếu tự tin. Ở Mỹ, Tổng Thống Obama bị tố cáo đủ thứ: giấy khai sinh giả, học bạ giả, tôn giáo giả... nhưng ông không hề bắt nhà báo nào bỏ tù hay đóng cửa bất cứ cơ quan truyền thông nào cả. Có việc ông chỉ cười khẩy; có việc ông đưa ra bằng chứng để mọi người biết những điều người ta tố cáo ông là bịa đặt. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo biết rõ là họ không đủ lý lẽ để thuyết phục người khác. Họ cũng biết, trên mặt trận tư tưởng, sức mạnh duy nhất của họ là ở chỗ cấm tranh luận. Chấp nhận tranh luận là thua. Nên họ sợ. Sợ vì thiếu tự tin.

Thứ tư là họ sợ tự do ngôn luận nói chung. Trên trang Phóng Viên Không Biên Giới, phần Việt Nam, bên cạnh bức ảnh của Nguyễn Phú Trọng, có mấy đoạn gọi là “Những ý nghĩ thầm của Nguyễn Phú Trọng” (Innermost thoughts of Nguyen Phu Trong), ở đó, người ta diễn tả các chủ trương và chính sách của Nguyễn Phú Trọng thành những suy nghĩ ở ngôi thứ nhất với giọng châm biếm rất thú vị - ít nhất cũng thú vị hơn câu nói của Lê Doãn Hợp ở trên. Tôi xin tạm dịch mấy đoạn ấy như sau:

“Tôi rất quen thuộc với truyền thông và báo chí bởi vì chính tôi cũng đã từng là nhà báo từ 1967 đến 1996 và sau đó, làm tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, tạp chí lý luận của đảng. Chức năng của truyền thông không phải là tuyên truyền chống lại nhà nước. Các nhà báo chỉ được tường thuật các sự kiện và không nên góp ý truyền bá hệ thống đa đảng trên các bài xã luận hay trên mạng. Các cơ quan truyền thông ngoại quốc như RFA, VOA và BBC đã nhanh nhảu phát đi những lời bình luận như thế đến người dân Việt Nam dưới lớp vỏ các tin tức và thông tin 'độc lập' ngoài sự đồng ý của chúng tôi.”

“Ở Việt Nam, các nhà báo có thể tác nghiệp chừng nào họ không phê phán đảng. Tháng 2 vừa rồi, nhà báo Nguyễn Ðức Kiên đã vi phạm luật ấy trên tờ Gia Ðình và Xã Hội nên đã bị đuổi việc. Không chịu hạn chế bài tường thuật trong nội dung bài diễn văn của tôi và (còn) phát biểu ý kiến về những gì tôi đã nói, nhà báo đã vi phạm đạo đức làm báo và cố tình gây bất ổn chính trị.”

“Tất cả những kẻ kêu gọi cải tổ trong mấy tháng vừa qua đều phạm tội phá hoại chính trị, ý thức hệ và đạo đức. Khi tôi nhậm chức, chủ nhiệm tờ báo đảng Nhân Dân cũng đã từng lên án những kẻ kêu gọi chủ nghĩa đa nguyên.”
“Một số người tiếp tục chuyển các thông tin và chính kiến nguy hiểm dưới hình thức nặc danh mặc dù tôi đã ra nghị quyết bắt các nhà báo phải tiết lộ nguồn tin và cấm sử dụng bút hiệu. Ðiều đó không làm tôi khỏi phải phạt cả thảy 100 năm tù giam cho các blogger và bọn bất đồng chính kiến trên mạng trong suốt 12 tháng vừa qua. Với 30 tên quặt quẹo trong nhà tù, tôi tin thành tích của tôi cao hơn hẳn vị tiền nhiệm Nông Ðức Mạnh.”

Một kẻ như vậy mà sợ báo chí, kể cũng hơi lạ.

À, mà ở Việt Nam, cái gì mà không lạ nhỉ?
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Chui đầu vào thòng lọng Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng


Tuần trước, ông Bùi Tín, cựu phó chủ bút báo Nhân Dân (Hà Nội) hiện đang tị nạn tại Pháp, viết một bài nhận xét về bản “Tuyên bố chung” giữa Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, ký ngày 21 Tháng Sáu vừa qua tại Bắc Kinh: “Không hề có một chữ nào (xác định) về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một lời yêu cầu nào đòi bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân Việt Nam trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái ‘lưỡi bò’ phi pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ.”

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cũng công bố một bản Nhận Ðịnh về cùng vấn đề này, ngài viết: “Tuyên bố chung tại Bắc Kinh không hề có một dòng nào xác định việc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần đảo Trường Sa của Việt Nam, hoặc hàng nghìn cây số trên đất dọc biên giới, đặc biệt tại Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, v.v. hay đòi hỏi Trung Quốc hoàn trả biển và đất đã xâm chiếm.”

Những lời lên án trên khiến dư luận chú ý hơn đến văn kiện mà hai ông Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình đã ký sau một chuyến công du ba ngày. Trong thực tế, xưa nay người Việt ở trong và ngoài nước không mấy khi chú ý đến các bản thông cáo chung của lãnh tụ hai đảng Cộng Sản, vì biết trước rằng đó thường chỉ gồm những lời tuyên truyền trống rỗng.

Nhưng khi vị tăng thống thứ năm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phải viết rằng Hội Ðồng Lưỡng Viện của giáo hội “vô cùng quan ngại về nội dung bản tuyên bố chung này” thì mọi người Việt Nam yêu nước phải cùng chia sẻ nỗi lo lắng đó. Mặc dù bản tuyên bố chung có nhắc đến quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản, Trương Tấn Sang đã ký kết với tư cách là chủ tịch nhà nước Việt Nam, nhân danh cả đất nước và dân tộc Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ phải cảnh cáo: “Với kẻ cướp đã vào chiếm đóng một góc nhà rồi, ông chủ tịch nước vẫn ‘nhất trí’ với mưu kế của kẻ xâm lăng...” Giống như nhà báo Bùi Tín viết: “Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất.” Ông lên án: “Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.”

Ðầu hàng nhanh chóng như thế nào? Chỉ trong ba ngày, ông Trương Tấn Sang đã ký tên vào một văn kiện dài bốn ngàn chữ, trong đó đề cập đến hàng chục bản văn khác về việc hợp tác giữa hai nhà nước; và hai bên cũng ký kết nhiều văn bản mới khác nữa. Chỉ trong ba ngày, họ đã xem lại để “nhất trí hợp tác” thi hành rất nhiều văn kiện. Trong đó có, thí dụ, “Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại Giao; Ðối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng; Thỏa thuận hợp tác giáo dục giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch hành động thực hiện Hiệp Ðịnh Văn Hóa Việt-Trung giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch công tác năm 2013 của ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền hai nước,” vân vân. Hai bên còn thảo luận và “nhất trí” về việc “hoàn thành việc xây dựng trung tâm văn hóa của nước này ở nước kia, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực sản nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực. Hai bên nhất trí tổ chức Liên Hoan Thanh Niên Việt-Trung lần thứ 2 vào nửa cuối năm nay;” lại “tăng cường hơn nữa hợp tác” giữa các bảy tỉnh của Việt Nam và bốn tỉnh của Trung Quốc ở hai bên biên giới. Bao gồm mọi lãnh vực, chỉ trong ba ngày đã ký kết xong.

Hãy nhìn vào danh sách các văn kiện mới được Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình cam kết với nhau, với các “thỏa thuận” cũ được duyệt xét, sửa đổi, bất cứ người nào có suy nghĩ cũng phải tự hỏi làm sao họ “thỏa thuận” với nhau nhanh chóng như vậy? Xin kể ra mấy bản văn mới ký: Một “Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc Phòng hai nước Việt Nam-Trung Quốc;” một “Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc;” một “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển.” Lại thêm, “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Tổng Cục Giám Sát Chất Lượng, Kiểm Nghiệm, Kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu;” “Ðiều lệ công tác của ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc;” “Bản ghi nhớ giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc thành lập trung tâm văn hóa tại hai nước;” “Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2013-2017 giữa liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc;” “Thỏa thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam và Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc liên quan tới vịnh Bắc bộ;” đặc biệt còn có một bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” và nhiều thỏa hiệp hợp tác kinh tế khác. Tất cả đều được ký kết trong chuyến thăm trong ba ngày.

Trong trường bang giao quốc tế, ít có hai quốc gia nào lại ký kết với nhau, cùng một lúc, nhiều văn kiện “hợp tác” bao trùm đủ các lãnh vực sinh hoạt của quốc dân như vậy. Hai nước Canada và Mỹ đã sống bên cạnh nhau một cách hòa bình hơn hai thế kỷ, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao lãnh vực nào cũng hợp tác với nhau. Nhưng họ cũng chưa bao giờ ký kết cùng một lúc nhiều thứ cam kết ràng buộc nhau, sau ba ngày thăm viếng như vậy!

Phải nhấn mạnh đến các điều liên quan đến quân đội, vì quân đội nước nào cũng là lực lượng bảo vệ quốc gia. Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang ký kết, hứa hẹn với nhau sẽ “...làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước... đi sâu trao đổi kinh nghiệm công tác đảng và chính trị trong quân đội, tăng cường đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ.” Chúng ta phải chú ý tới việc “đào tạo cán bộ” trong quân đội, đặc biệt về “công tác đảng” và “chính trị,” nghĩa là giáo dục, đào tạo não bộ của các sĩ quan trong quân đội. Theo tinh thần những cam kết này, chúng ta có thể thấy tái diễn cảnh “rèn cán chỉnh quân” mà Hồ Chí Minh đã đem vào Việt Nam trong thời kháng chiến chống Pháp: Việc huấn luyện chính trị và nhồi sọ lý thuyết Mác Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Ðông cho các sĩ quan trẻ Việt Nam có thể sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng; hoặc đưa họ sang Trung Quốc thụ huấn các giáo điều tương tự! Chính trong các đợt “rèn cán chỉnh quân” bắt đầu từ những năm 1950, sau khi Hồ Chí Minh đưa tư tưởng Mao Trạch Ðông lên hàng lý thuyết chỉ đạo cho đảng Lao Ðộng, mà rất nhiều sĩ quan trẻ tài ba đã bị nghi kỵ, bị hạ tầng công tác, nhường chỗ cho thành phần bần cố nông được các cố vấn Trung Cộng chấp thuận.

Tuy việc nhồi sọ các cán bộ trong quân đội là điều đáng lo ngại nhất, nhưng bản Tuyên bố chung của Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang còn mở rộng chương trình “đồng hóa” về tư tưởng, về lý luận bao trùm hầu hết các lãnh vực khác, không giới hạn trong quân đội. Họ ký kết như sau: “Hai bên... nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác giữa hai đảng, thúc đẩy cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai ban đối ngoại và ban tuyên giáo, tuyên truyền của hai đảng vận hành thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ đảng và nhà nước. Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, cùng nhau tổ chức tốt hội thảo lý luận hai đảng lần thứ 9, tăng cường hơn nữa trao đổi kinh nghiệm về xây dựng đảng và quản lý đất nước... ở mỗi nước.”

Ðọc những lời cam kết bao gồm đủ các lãnh vực từ quân sự đến “đào tạo cán bộ đảng và nhà nước,” đến “Ðối ngoại, Tuyên giáo, Tuyên truyền” như trên, chúng ta cảm thấy có một “âm mưu đồng hóa” của đảng Cộng Sản Trung Quốc; mà họ đang được đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực ủng hộ để thi hành. Chưa kể tới những cam kết giữa hai đảng cộng sản khi nhắc tới các tranh chấp đang xảy ra trên biển Ðông; sẽ bàn trong mục này vào dịp khác.

Nhà báo Bùi Tín cũng nhận thấy: “Ðọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy hai mà một. Hòa nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội.”

Có thể nói, Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục đưa cả nước chui đầu vào trong cái thòng lọng do Trung Cộng đưa ra. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ giải thích sự hợp tác mật thiết giữa hai đảng cộng sản hiện nay đã “xuất phát từ ý thức nô lệ của ông Hồ Chí Minh khi ông làm bài thơ tuyên truyền ‘Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ’ (Cứu Trung Quốc là tự cứu mình) đưa đăng trên báo Cộng Sản Tàu Cứu Vong Nhật Báo năm 1940 tại Quế Lâm.” Chúng ta thông cảm với Hòa Thượng Quảng Ðộ khi ngài viết: “Người con Phật không thể khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện, mà phải đem từng biệt nghiệp chuyển hóa cộng nghiệp ác hành.”

Hơn tám mươi triệu người Việt Nam cũng không thể chỉ “khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện!”
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

David Thiên Ngọc (Danlambao)


Từ ngàn xưa, bất cứ một đất nước nào rơi vào một trong hai hoàn cảnh trên thì chính thể đó cũng đều đứng trên bờ vực thẳm, xã hội đại loạn, dân tình chìm đắm trong u mê. Cảnh nước mất nhà tan khó mà tránh khỏi. Ngày xưa trong lịch sử ta và lịch sử Tàu thường có câu: “Đất nước không thể một ngày không Vua” sau những cuộc can qua, đổi thay triều đại hay những biến cố nơi triều chính, cung đình như Vua băng hà đột ngột hay thay Vua đổi Chúa nhưng triều đại không đổi thay. Hai nền chính trị Việt Nam-Trung Hoa luôn có mối dây liên hệ và nhiều điểm tương đồng bởi qua hàng ngàn năm ta bị Tàu đô hộ, xâm lược, cai trị và âm mưu đồng hóa. Do đó những sắc thái cung đình, triều chính có những điểm giống nhau không tránh khỏi theo từng bước thời gian cho dù muốn hay không muốn.

Xét hiện tình đất nước VN qua tiêu đề bài viết.

1- Vua không ngai:

Trên danh nghĩa chủ tịch nước (CTN) là “Vua”. Thế nhưng ta nhìn xem ngài CTN Trương tấn Sang có phải là Vua đích thực? Đâu là chiếc ngai vàng của ông? Ở đây, thời điểm này chữ “ngai vàng” có nghĩa là quyền lực chính trị chứ không còn nghĩa của thời phong kiến nữa!. Thế thì kể từ khi ông được mệnh danh với ngôi vị Vua ông đã thể hiện được gì ngoài sự cựa quậy, vẫy vùng, chạy đôn chạy đáo... liên minh băng đảng để tạo thêm quyền lực, nói đúng hơn là lấy lại quyền lực thực ra phải là của mình, của một vì Vua đúng nghĩa để thoát khỏi cái bóng mờ hư vị, là bù nhìn, là một thứ đồ trang sức rẻ tiền chỉ được dùng trong nghi lễ.

Trên lộ trình “đấu đá, quần thảo” (mạt ngôn trong chính trị ở trong một chính thể hỗn man) nhau trên vũ đài chính trị VN để thực hiện mục đích của mình thì ông Vua không chính danh nói trên chưa làm được việc nào nên trò để tạm gọi là ổn định chính trường. Tuy rằng mục đích của ông là của cá nhân chứ không là vì Quốc Gia Dân Tộc.

Nhưng qua những chiêu thức, trận đồ của ông và băng đảng bày ra cũng phần nào kềm chân được đối phương đang ngấp nghé, chân tiền chân hậu bước lên chiếc ngai vàng.

Trong hoàn cảnh, thân phận là một vì Vua không ra Vua thì mọi công việc Quốc kế Dân sinh, đối nội, đối ngoại sẽ ra sao? Về Quốc kế Dân sinh thì ngoài tầm ngắm của “Ngài” (con Tằm) bởi cái tâm không có mà cái tầm càng lại không, cho nên trong hoàn cảnh nhiều công dân đi ăn mày (xin lỗi các bạn) mà bọn giá áo túi cơm, mạt hạng cũng ngơ ngáo mà nghĩ rằng dân ta cần cù, không ngại gian khó, không quản nắng mưa mà đi làm ăn khắp mọi nơi trên thế giới. Thật ra chúng có biết đâu đa phần phái nữ là làm oshin, nô lệ tình dục, nam thì làm cu li, nô lệ lao động... mà thôi. Có rất nhiều trường hợp phải ngậm đắng nuốt cay mà gieo mình tìm cái chết để giải thoát sự bi thảm, bức hiếp, bóc lột đọa đày không còn chịu đựng được nữa.

Đối với nhân dân trong nước - Đối nội - thì ăn ngược nói xuôi, nói một đàng làm một nẻo. Dẫn chứng cụ thể như “Ngài Vua” trực tiếp vi hành xuống địa phương hô hào bà con chống tham nhũng để làm trong sạch xã hội. Noi gương các Anh hùng Liệt nữ bảo vệ non sông để “ không hổ thẹn với tiền nhân”. Thế thì tại sao ngay sau đó tuổi trẻ VN làm theo lời “Vua dạy” như SV Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha đã nêu cao tinh thần yêu nước theo slogan mà ông phổ biến, hô hào. Các SV đó viết “ Vì danh dự dân tộc chống giặc Tàu-Vì tương lai đất nước chống tham nhũng” thì liền bị tay sai của các ông, bọn mã tà kẻ tay súng người tay đao, kẻ tay còng người hùng hổ ập vào bắt cóc những SV yêu nước đó lôi đi giữa ban ngày ban mặt, trước xã hội đông người mà cứ xem như rừng rú hay bãi tha ma.

Nếu là Vua thì ông có biết câu “Quân bất hí ngôn” không?. Ngày xưa trong lịch sử nếu Vua có hứa với bất cứ một ai điều gì, tuy không lớn lắm nhưng thời gian trôi đi. Sau đó cho dù hàng chục năm trời các đại thần vẫn áp dụng thực hiện lời hứa đó của Vua mà xem là chiếu chỉ! Tuy rằng có hơi hám của tiểu thuyết lịch sử nhưng nó thể hiện một phần nào tinh thần “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” mà nhất là ở ngôi vị là Vua. Tệ hại hơn là khi các SV yêu nước bị tống vào ngục thất vì tội yêu nước thì các bạn bè của Phương Uyên, những con chim non chưa bước vào đời đã cùng nhau viết thỉnh thư gởi trực tiếp lên ngài khẩn cầu “Vua” rộng lòng can thiệp vì cái tội yêu nước theo lời ngài nên nông nỗi!!! Thì ngài ngoảnh mặt làm ngơ không hề có một tiếng cho dù là an ủi. Mà bức thư đó đành tức tưởi chết khi nó chưa ráo mực và rơi vào sọt rác rồi sau đó lại bị gán oan cho cả thư và những chữ ký kia là giả mạo rồi cuối cùng kết quả là một bản án vô pháp vô luân.

Nơi đây có một phần cũng vì Vua bất lực, ươn hèn, khiếp nhược trước các thế lực chính trị khác đối kháng lại với ông mà ông không dám dính vào vụ các SV yêu nước. Như vậy rõ ràng ông là Vua hư vị. Vua không ngai, một món đồ trang sức quá rẻ tiền với nhiệm vụ phản chiếu dưới ánh đèn nghi lễ.

Về đối ngoại. Biết rõ mình là tượng gỗ, đồng thời biết rõ hơn ai hết về cái tầm của mình đến đâu trong lúc cái tâm-không phải là cái tâm cho dân tộc mà tâm phục vụ cho tham vọng cá nhân-thì quá lớn, khó mà thực hiện được ước mơ. Do đó đối với ngoại bang nước lớn thì gập mình cúi đầu thần phục xin “Làm thân trâu ngựa, đền nghì trúc mai” (Kiều-N.Du) để rồi nhắm mắt tuy chưa mù mà ký chỉ thông qua những gì mà “Họ” đã âm mưu soạn sẵn. Sự ươn hèn trên với một mục đích hy vọng xa vời là mai sau có “Cõi đi về” khi canh tàn trăng lặn...

Đối với những nước khác ngang tầm hay nhỏ hơn thì xin “kết nghĩa vườn đào” tạo thêm vây cánh, làm đồng minh kết giao chiến lược... hầu hãnh tiến hơn trên bước đường ước mơ hoạn lộ của mình. Như vậy rõ ràng ông là Vua không ngai và chiếc ngai kia vẫn còn bỏ trống không thuộc về ông.

2- Ngai không Vua

Thời phong kiến, chiếc ngai vua là vật vô giá... từ vật chất đến tinh thần, nghĩa là quyền lực đem lại nhiều giá trị trên đời nếu người ngồi trên chiếc ngai đó muốn.

Vậy thì chiếc ngai của xã nghĩa Việt Nam thì sao? cũng không ngoài qui luật đó. Có một điều vô phúc cho nhân dân VN ta hiện nay rằng bao quanh chiếc ngai vàng hầu hết là những bàn tay, bước chân của loài ác quỉ. Đều cá mè một lứa như nhau, đang tranh giành, quần thảo nhau khốc liệt để bước lên ngôi vị Vua Xã Nghĩa với tham vọng quyền lực, vật chất vô biên một khi đứng đầu ngôi bá.

Ngoài ông Vua không ngai tôi vừa nêu ở trên ra thì còn lại là ngài tể tướng cùng các thủ lãnh của các bè nhóm trong xã hội “loạn cào cào”, hỗn quan hỗn quân này.

Bây giờ tôi xin nói đến Ba Ếch.

Đã là Ếch Nhái thì hẳn là xuất thân từ đầm ao bờ bãi, bưng biền... Tâm và tầm không hơn gì “Tư Sâu” là vị Vua không ngai đã nói ở trên. Nói về thâm độc thì nhà Ếch này thâm hơn “Sâu” nhiều. Bởi Ếch có chiêu hiểm của “Tây Độc Âu Dương Phong” truyền thụ. Hơn nữa khi thoát ra từ đầm bãi thì dòng họ cha con nhà Ếch đều được trải dài khắp non sông. Dòng nhà Ếch và vây cánh được Ếch chúa nuôi ăn, vỗ béo bằng nhung sâm mang hương vị đậm đà “Bản Việt” nên tinh thần cứng cỏi, cơ bắp vững tay chèo vượt qua thác ghềnh của các trận cuồng phong T.Ư 6-T.Ư 7... Sau những ngày đó Ếch thầm nghĩ rằng “một bước lên Vua”. Nhưng cái thế thời của Ếch và mảnh đất cong cong xã nghĩa này cũng còn nhiều long đong lận đận... Tuy rằng bão tố can qua không gây ra đổ máu nhưng tay chân, bãi biền nhà Ếch có phần nào bị sứt mẻ, mất mát. Thế trận chia ba có khác nào thời hậu Hán ở bên Tàu. Do đó Ếch phải hai đầu nghinh địch, không thẳng tiến đàng hoàng như mơ ước.

Giá như tình thế như vừa qua và hiện nay thuận buồm cho nhà Ếch với âm mưu lật đổ, phá tan nhà Con Sâu (CS) để bày nên một bàn cờ khác. Theo ngu ý của người viết thì thế cờ này có phần hay. Bởi tình hình nhà xã nghĩa hơn 2/3 thế kỷ qua dưới sự bạo tàn, hà khắc, xây hào sâu lũy cao của thành trì nhà CS thì nhân dân xã nghĩa máu đã đổ thành sông, xương chất thành núi... khó mà tìm trong bãi hoang tàn này một chữ “Nhân” để bá tánh nhìn được ánh trăng cho dù là ánh trăng tàn.

Để phá tan thành trì CS đó, hiện giờ chỉ có dòng họ Ếch mới có khả năng cộng với thế hiểm của “Tây Độc Âu Dương Phong”. Nghĩa là trong đó hàm ý có chiêu Độc “Gió Biển Tây Âu” (Tây-Âu-Dương-Phong) tạo ngoại lực bên ngoài, bên trong là nội lực nhà Ếch mới lập nên thế gọng kềm và phá tan gia sản nhà CS. Thế cờ tiếp theo sau là Ếch bước lên với khí tàn lực cạn, máu lửa đầy người, ghế ngồi khập khiễng, xiêu vẹo... chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng đổ nhào, vả lại lúc này gió mùa đông bắc tận bên Sở bên Tề cũng âm thầm thổi nhẹ sang kích thích cho lửa sôi sục từ trong lòng nhân dân xã nghĩa hơn 1/2 thế kỷ qua tạo thành đám cháy bùng lên thui sống họ nhà Ếch cho đã căm vì Ếch đã quay lưng đổi chiều gió làm lỡ cuộc cờ mà ”Bắc Phiên” đã mượn tay ”Rợ Hồ” dàn ra mấy mươi năm về trước . Lúc bấy giờ Ếch được “Xào Lăn” hay lột da “Chiên Bơ” là tùy theo thế cuộc của nhân dân. Nhà Ếch cáo chung.

Bấy giờ một vì Vua đích thực mới xuất đầu lộ diện lãnh đạo toàn dân xây lại non sông và “Thiên Hạ Thái Bình”. Một thế cuộc “Hạnh ngộ Đông Tây”, “Quân bình Đông Hải” và Thái Bình Dương mới thật sự Thái Bình như nghĩa của nó. Sâm-Banh cùng Mao-Đài tửu được cùng lúc mở ra... Ở đàng đông ánh Dương đang ló dạng.

Trong tình thế trên - Nhân vật thứ ba cũng tay cầm vũ khí Mác-Lê lăm le xung trận. Nhưng suy cho cùng thì cánh này như một tên hề diễn trò tẻ nhạt và thiếu lửa. Đó là “Tổng Lú”

Khổ một nỗi là bản chất nhà Lú này không hổ danh là “Lú” thật-thật là Lú nặng. Với thế thời hiện đại người ta đã dùng tới vũ khí hạt nhân, máy bay không người lái. Thế mà Lú lại đem mấy thứ giáo Mác-Lê cùn rỉ sét mà nhân loại đã vứt bỏ bên lề đường tiến hóa mà diễu võ dương oai trong thế trận chiến tranh toàn diện thì thật là ý tưởng chạy đua trường lực của thằng mù. Như một học sinh dốt, cắm đầu làm bài văn mà không đọc được đề. Thảm thương cho Lú qua xứ Iran mà giảng kinh Coran, giữa đêm trường nhác ma Linh Mục. Thế cho nên mới có cảnh Bà Đầm xứ Ba-Tây tốc váy chẳng thèm chào. Các bậc thầy của Lú thì kẻ đã chết ở điện Kremlin, các Huynh đệ ở tận Đông Âu thì ngã nhào không trăn trối. Đại sư huynh ở Bắc Môn Quan thì ban ngày mặc áo mưa cầm giáo Mác nhưng ban đêm thì diện bộ Comple sặc sỡ ngả nghiêng trên sàn nhảy... thế mà Lú không chịu mở mắt ra để mà nhìn!

Trong trận chiến Ba-Tư tranh giành ngôi báu, Lú đứng thế liên minh với Tư Sâu chống trả Ba Ếch mà giữ sản nghiệp nhà CS đã hơn 80 năm gầy dựng như trong thế Đông Ngô, Ba Thục tạm thời liên kết phá Ngụy Tào. Như Khổng Minh hiệp kế Chu Du đốt Tào trong Xích Bích trận. Nhưng trong thẳm sâu thì cũng chẳng chung trời. Và trong trận thế Lú bị lầm hơi nặng.

Suốt cuộc can qua, binh lửa... Lú với áo mão cân đai hoàn toàn bằng giấy. Thể hiện qua cảnh nuốt lệ vào trong, nghẹn ngào nói không thành tiếng... trong diễn văn bế mạc hội nghị Trào Đờm T.Ư 6.

Nhìn chung thì tình hình chính trường xã nghĩa đã quá mức hỗn độn. Một xã hội hỗn man, quan quân hỗn tạp. Ông cũng như thằng, người-ma lẫn lộn không phân biệt được thì khó mà tồn tại nếu không có một đấng minh quân đủ tài, đủ đức đứng ra trị Quốc bình Thiên Hạ. Trong nội tình thì không ổn định được trật tự xã hội lẫn chính trường. Cụ thể như trong hai kỳ Hội nghị T.Ư 6 và T.Ư 7 thì quá rõ. Một BCH T.Ư không thực hiện theo kế hoạch của BCT khi đưa ra hình thức kỷ luật đ/cX. Rồi đa số UV T.Ư không thuận theo ý của BCT mà đứng đầu là TBT Lú trong việc bầu bổ sung 2 vị vây cánh của Lú vào BCT mà TBT Lú trực tiếp giới thiệu và ra sức vận động với nỗ lực một mất một còn... cuối cùng là TBT Lú cùng ê-kíp lỡ chuyến đò ngang. Một việc mà từ xưa nay chưa có tiền lệ, để cho 2 ban lớn của đảng phải việt vị trong cảnh dở khóc, dở cười. Kế hoạch “Hốt, hốt liền! không nói” của Bá Thanh đã phá sản và tan theo mây khói để thành Bá Đạo... kết quả là đè nặng lên vai người dân một gánh nặng bởi đội ngũ khổng lồ, cồng kềnh ăn hại, vô công rổi nghề của 2 ban này từ trung ương đến tận mọi địa phương. Nơi đây toát lên một bức tranh với gam màu u tối của một cuộc chiến xấu hổ, tranh giành quyền lợi cá nhân, xem thường lợi ích nhân dân đất nước mà bãi chiến trường là trên đầu của toàn dân.

Từ đó mọi chính sách, đường lối được đưa ra của các ông Vua không ra Vua mà Quan không ra Quan thì người Dân lấy cái gì, dựa vào đâu để có niềm tin mà ủng hộ hay thực hiện, nghe theo? Lời của các vị nói ra nghe và nhìn thấy toàn mùi xôi thịt được ngụy trang bởi những làn sương mỏng, mây mờ lừa mị, dối gian.

Đối với thế giới thì sao? Một đất nước mà cộng đồng thế giới không có lấy một niềm tin cho dù là có ra sức kêu gọi, thì sẽ thế nào một khi những việc mà mình cao giọng tự xưng là “Phương diện Quốc Gia” để ăn nói, ký kết thì ngược lại hoàn toàn trong thực hiện? cụ thể như trong các công ước Quốc Tế về Nhân Quyền. Tôn trọng tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, hội họp, biểu tình bày tỏ chính kiến ôn hòa... v.v...

Về mặt kinh tế, đối với các tổ chức, cơ quan lớn như WB, IMF, WTO... thì làm gì có được niềm tin một khi ai cũng cho mình là Vua và đứng ra ký kết? Việc Quốc Gia đại sự, việc kinh bang tế thế, liên quan trực tiếp đến kinh tế thương mại, quân sự, ngoại giao... sống còn của đất nước mà người không có chính danh để đại diện thực thụ cho Quốc Gia mà chỉ là người đứng đầu của một tổ chức, một đảng phái, một nhóm người... mà mạo danh, mạo phận đứng ra ký kết? Tỉ như một doanh nghiệp khi Giám Đốc đi vắng mà một ai đó tự đứng ra xin chịu trách nhiệm và ký kết hợp đồng Kinh Tế với đối tác và xưng rằng: “Quí vị hay yên chí lớn mà tin tôi đi! vì tôi là CHA CỦA NÓ (GĐ) mà!” có được không vậy quí vị???

Nếu như một đất nước không có Vua thì thần dân có thể đứng lên lập một vị Vua mới mà vỗ an sơn hà xã tắc. Còn một đất nước với tình trạng có Vua mà không có ngai và có ngai lại không có Vua thì sẽ như thế nào? Có quần mà không có áo, có áo lại không có quần liệu có đi ăn nói được trước cộng đồng xã hội văn minh? “Hồ Xã Nghĩa”, “Loạn Cào Cào” thì không có gì là lạ.

Dứt khoát phải xuất hiện một “Minh Quân” dưới bầu trời nước Việt trong lúc này để lèo lái non sông.

Ngày 4/7/2013
David Thiên Ngọc
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Ðóng góp xã hội của Tự Lực Văn Ðoàn

Ngô Nhân Dụng


Tuần trước, sau bài thuyết trình về Phong trào Nhà Ánh Sáng trong cuộc hội thảo kỷ niệm 80 năm Tự Lực Văn Ðoàn, nhiều thính giả ở lớp tuổi trên 60 thú nhận lâu nay đã đọc hầu hết các tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, đọc thơ Thế Lữ, xã luận của Hoàng Ðạo, mà chưa hề biết rằng các tác giả đó đã có thời cũng là những “thanh niên” hăng say đi làm “công tác xã hội;” không khác gì các sinh viên học sinh thời 1960, 70.

Thế Lữ còn đặt lời các bài hát cho thanh thiếu niên đồng ca, ông đi trước những thế hệ Hoàng Quý hoặc Nguyễn Ðức Quang, Tiến Lộc sau này.

Thiếu sót đó thật đáng tiếc! Vì các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng đến vai trò của Tự Lực Văn Ðoàn trong lịch sử văn chương nước ta, ít người tìm hiểu về hoạt động và chủ trương của họ trong phạm vi xã hội. Mà chính các nhà văn này đã tích cực dấn thân thật sự vào việc phục vụ xã hội, bằng các công tác cụ thể, hữu ích. Nhắc lại công trình đóng góp của họ, chúng ta có thể thấy những tấm gương tốt, khích lệ các thế hệ thanh niên sau này.

Phải nói, qua việc thành lập Hội Ánh Sáng, Tự Lực Văn Ðoàn và Tuần báo Ngày Nay đã gây nên một phong trào văn hóa xã hội ở nước ta vào cuối thập niên 1930. Chương trình thành lập hội được công bố trên báo Ngày Nay số 38, ngày Chủ Nhật, 13 Tháng Mười Hai năm 1936. Tờ báo kêu gọi lập một hội bài trừ những nhà hang tối, còn gọi là Hội Ánh Sáng. Họ đưa ra ba châm ngôn Xã hội-Nhân đạo-Cải cách. Tầm ảnh hưởng của các hoạt động đó lan rộng trong xã hội, ảnh hưởng đến tâm lý rất nhiều người Việt Nam, nhất là giới trung lưu, trí thức, thanh niên ở đô thị trong thời gian từ năm 1937 cho tới năm 1940.

Nhìn vào danh sách những người góp công cổ động thành lập hội và tham gia vào hội từ lúc đầu chúng ta thấy chương trình này được giới trí thức đương thời ủng hộ, tạo nên một phong trào có chiều rộng và chiều sâu. Một ủy ban chuẩn bị thành lập hội do ông Phạm Văn Bính làm “thư ký tạm thời” từ Tháng Năm, 1937 đã có mặt 14 người, nhiều nhân vật nổi tiếng thuộc các lớp trung lưu, trí thức thời đó. Chẳng hạn, có các bác sĩ Phạm Hữu Chương, Ngô Trực Tuân, kỹ sư Trần Văn Tiết, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Luật sư Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Ðình Nhu sau này; các thương gia như ông Phạm Tá, các nhà văn Phan Trần Trúc, Phạm Lê Bổng và nhiều người đại diện các tờ báo khác như Tam Lang Vũ Ðình Chí (Việt Báo), Lê Văn Thu (Ðông Pháp), Dương Mậu Ngọc (Trung Bắc). Nhiều đồng nghiệp và giới trí thức hỗ trợ một chương trình của tuần báo Ngày Nay từ lúc phát khởi, cho thấy văn hóa Việt Nam thời đó vẫn còn thuần hậu, mọi người đối xử với nhau trong tinh thần tương kính; khác hẳn tình trạng phân hóa, nghi kỵ và thù hằn, đến mức nhỏ nhen, ti tiện, trùm lên xã hội sau khi con người phải sống trong chế độ công an toàn trị nhiều năm.

Trong danh sách những người tham gia và hỗ trợ hội Nhà Ánh Sáng, chúng ta cũng thấy nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Có ông bà Hoàng Xuân Hãn, sau này ông làm bộ trưởng giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim; có Vũ Ðình Huỳnh và Trần Huy Liệu, Vũ Ðình Hòe, sau làm việc với Hồ Chí Minh. Ông Phạm Văn Bính sau này trở thành một bí thư và làm bộ trưởng trong chính phủ Bảo Ðại. Danh sách các ủy viên trong các “ủy ban hành động” của hội còn những nhân vật nổi tiếng như Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nha sĩ Hoàng Cơ Bình (năm 1954 đứng đầu Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt, chống lại việc chia đôi nước Việt Nam), Luật sư Bùi Tường Chiểu, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, một nhà chính trị hoạt động trong các đảng phái quốc gia, huynh trưởng hướng đạo Trần Duy Hưng (sau làm thị trưởng Hà Nội thời Việt Minh), Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín (thị trưởng Hà Nội thời Bảo Ðại), Kiến trúc sư Vũ Ðức Diên, sau này cộng tác với chính phủ Ngô Ðình Diệm.

Theo báo cáo của mật thám Pháp thì vào năm 1938, Hội Ánh Sáng có ba ngàn người tham dự ở Bắc Kỳ. Buổi ra mắt công chúng đầu tiên của Hội Ánh Sáng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào 9 giờ tối Thứ Hai, 16 Tháng Tám năm 1937, có tới bốn ngàn người tới dự, mà trong rạp hát chỉ có chỗ cho hai ngàn người, những người khác phải đứng ngoài nghe các bài diễn thuyết qua máy phóng thanh, nhưng họ đứng nghe tới gần nửa đêm mới giải tán. Các buổi “ra mắt” ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh đều đông như vậy, mặc dù không có “văn nghệ giúp vui” trừ một số “Sói Con” trong Hướng Ðạo ra hát những bài ngắn, phần lớn do Thế Lữ soạn lời dựa trên các bài hát phổ thông của Pháp và các điệu nhạc cổ, như điệu Mãi Tạp Hóa, Ngũ Ðiểm Mai.

Các tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Ðoàn đã đưa ra chủ trương nâng cao địa vị phụ nữ trong gia đình và xã hội. Hội Ánh Sáng thể hiện chủ trương đó trên một bình diện rộng hơn. Trong buổi ra mắt Hội Ánh Sáng ở Hải Phòng kể trên, bà Nguyễn Thị Phú đã đọc một bài diễn văn nói về hoạt động xã hội ‘đưa đường chị em đến sự giải phóng.” Bà cổ động: “Các bạn nên ra ngoài xã hội, cùng các bạn trai gánh vác lấy công việc chung... Các chị em nghèo kém hiện nay đương chìm đắm trong tối tăm, sẽ được các bạn săn sóc thân yêu đến và gia đình các bạn nghèo đó, trong các thôn trại Ánh Sáng, sau đây sẽ là gia đình thứ hai của các bạn.” Bà Vũ Ngọc Phan viết bài thơ khuyên mọi người gia nhập Hội Ánh Sáng, “Chốn thôn ổ bấy lâu tăm tối - Nghĩ dân quê lắm nỗi lầm than;” với kết luận, “Vậy hỡi ai là bạn đồng tâm - Rủ nhau vào hội cho đông...”

Dù giấy phép hoạt động bị giới hạn ở miền Bắc, dư luận cả nước ủng hộ chương trình Nhà Ánh Sáng. Báo Tràng An ở Huế, báo Ðiện Tín ở Sài Gòn hoan nghênh Hội Ánh Sáng và kêu gọi giới trí thức Nam Kỳ hãy hoạt động như họ. Trên các trang báo Ngày Nay, chúng ta đọc thấy những tin tức về các người đóng góp cho Hội Ánh Sáng. Một độc giả ký “Vô Danh” từ Quy Nhơn gửi hai đồng về giúp quỹ hội. Các học sinh ở Huế và Quy Nhơn góp nhau được vài ba đồng cũng gửi về giúp. Có cả những công nhân người Việt ở Pnom Penh cũng chung tiền đóng góp, dù chỉ có 5 đồng. Hội tổ chức một cuộc đấu quyền lấy tiền làm việc nghĩa, Võ sĩ Mai Thanh Ngọ mang đến tặng hội 5 đồng “để mua gạo phát chẩn cho dân bị lụt.” Con số 5 đồng đó cũng lớn bằng số tiền ông Thống sứ Châtel (Bắc Kỳ) tặng cho hội! Chủ hiệu may Tân Mỹ ở Phố Bờ Hồ xin trích 5% số tiền bán hàng lẻ trong hai tháng để “biếu anh em bị lụt và Hội Ánh Sáng.” Trong số báo 83 (ngày 3 tháng 10, 1937) tờ báo loan tin nhận được 25 đồng của một vị ẩn danh, do “Sư cụ chùa Quán Sứ” đem tới. Nhà hảo tâm này đến chùa nhờ cúng giỗ “làm chay” cho cha mẹ, sư cụ khuyên đem tiền giúp một công cuộc từ thiện, và họ đã chọn Hội Ánh Sáng. Tuần sau, sư cụ lại đưa thêm 50 đồng nữa, cũng do một tín chủ ẩn danh tặng hội, bỏ việc “làm chay” để góp quỹ từ thiện. Một hội thể thao, Tổng Cuộc Vận Ðộng Bắc Kỳ đã tổ chức một ngày thao diễn với các môn bóng rổ, bóng tròn, một nửa số tiền thu được đem cho Ban Từ Thiện Hội Ánh Sáng mua gạo giúp đồng bào bị nạn lụt.

Phong trào Nhà Ánh Sáng không phải chỉ nhắm vào mục đích xây cất nhà rẻ tiền, như viết trong điều lệ của họ, mà còn nuôi những tham vọng lớn hơn. Trong bài diễn thuyết của Nhất Linh ở Hải Phòng, ngày 13 Tháng Giêng năm 1938, ông đã nói đến viễn tượng xây dựng những “thôn Ánh Sáng” để cải thiện toàn thể xã hội nông thôn Việt Nam. Nhất Linh đã đánh thức lương tâm của giới trí thức thành thị khi kêu gọi họ coi việc phục vụ dân nghèo là một trách nhiệm, một bổn phận. Ông nói, “Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo.

Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội.” Trong bài nói chuyện trên Nhất Linh vẽ ra triển vọng một thời kỳ “Thay đổi toàn diện xã hội cũ” theo “cảnh đời mẫu trong các thôn trại Ánh Sáng.” Ðến cuối năm 1938, hội đã xây dựng được ba khu nhà ở bãi Phúc Xá, Hà Nội cho các gia đình nghèo thuê với giá rẻ (dưới 2 đồng một tháng); và đang đấu thầu làm khu (lot) thứ tư. Hội cũng lập dự án xây dựng một thôn Ánh Sáng ở Voi Phục, ngoại ô Hà Nội.

Hội Ánh Sáng chỉ là một biểu hiện trong biến chuyển của xã hội Việt Nam vào thập niên 1930, sau các biến cố trong thập niên trước như đám tang Phan Châu Trinh, các cuộc biểu tình khi Phan Bội Châu ra tòa, và cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Dân ở các thành phố bắt đầu thành lập hội đoàn tư nhân. Phong trào Hướng đạo ra đời trong thập niên 1930, lần đầu tiên một đoàn thể thu hút giới trẻ mà trong đó họ có thể “tuyên thệ” một cách công khai là phải “Trung thành với Tổ quốc.” Cũng trong thời gian này, các hội Tăng Già (Shangha) của các tu sĩ Phật giáo cũng như các hội Phật học của giới cư sĩ đã lần lượt ra đời. Tại Nam Kỳ, có các đảng chính trị xuất hiện, hoạt động trong khuôn khổ luật lệ Pháp.

Trong các thập niên 1960, 70 sau này, ở miền Nam có những thanh niên tham dự các phong trào xã hội như Học Ðường Phục Vụ Xã hội, Thanh Niên Chí Nguyện, hoặc Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội của Giáo hội Phật Giáo Thống Nhất, Phong Trào Xây Ðời Mới ở Quận Tám Sài Gòn, vân vân. Các đoàn thể tự nguyện, vô vị lợi trên cũng vẫn theo đuổi công việc phục vụ đồng bào trong các khu lao động và nông thôn; họ cũng nhắm tác động đồng bào theo lối sống mới, giống như chủ trương của Phong trào Nhà Ánh Sáng. Các hội đoàn tư nhân tự nguyện này đã mở rộng các hoạt động, vượt ra ngoài các hoạt động “bác ái” hay “bố thí” của những cơ sở từ thiện Công giáo hay Phật giáo. Họ muốn tác động trên thái độ, ý thức và hành vi của những người yếu kém về kinh tế và bị bỏ quên trong xã hội. Các đoàn thể này cũng chỉ nối tiếp tinh thần dấn thân phục vụ mà các nhà văn trong Tự Lực Văn Ðoàn đưa ra trong thế hệ trước. Các hiệp hội tôn giáo, từ thiện, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các đoàn hướng đạo, do người dân tự động thành lập, tự nguyện tham gia, trong những năm từ 1964 đến 1975 ở miền Nam cho thấy nền tảng tinh thần cho một xã hội công dân của dân Việt vẫn có sẵn, đã được một nhóm nhà văn gieo mầm ngay từ thập niên 1930. Vì vậy khi nói đến Tự Lực Văn Ðoàn thì chúng ta không thể chỉ chú ý tới sự nghiệp văn chương mà bỏ qua không nhắc tới các nỗ lực đóng góp của họ vào việc phục vụ đồng thời thay đổi nếp sống cả xã hội. Họ là những người đi tiên phong gieo rắc những hạt giống cho xã hội công dân và tinh thần dân chủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những câu hỏi bức thiết

Bùi Tín (Blog VOA)

Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện quan trọng ký kết giữa chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 21 tháng 6 năm 2013 đang được bàn luận rộng rãi trong nước và ngoài nước.

Trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, chưa từng có một loạt văn kiện nào có nội dung rộng khắp, bao trùm nhiều lãnh vực quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến tương lai của đất nước và dân tộc đến như thế.

Những văn kiện này xác định những phương châm chỉ đạo cho quan hệ hợp tác giữa 2 nước xã hội chủ nghĩa láng giềng do 2 đảng CS lãnh đạo, có truyền thống gắn bó lâu đời, nay cũng chung ý nguyện hợp tác bền chặt lâu dài về mọi mặt - chính trị, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, kinh tế thương mại, giao thông, môi trường, giáo dục, văn hóa, du lịch, hữu nghị nhân dân.

Phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà nhân dân ta đã bác bỏ triệt để, coi đó là xiềng xích khống chế của Bắc Kinh, vẫn được nhắc đi nhắc lại một cách vô duyên.

Mối quan hệ giữa 2 đảng CS, 2 nhà nước xã hội chủ nghĩa, 2 chính phủ, 2 quân đội, 2 bộ quốc phòng, 2 bộ ngoại giao, 2 ban tuyên giáo, 2 ban đối ngoại trung ương, 2 ban lý luận của 2 đảng cũng được xác định một cách chi tiết.

Mối quan hệ hợp tác giữa 7 tỉnh biên giới Việt Nam: Ðiện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, với 4 tỉnh biên giới Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông, Hải Nam - cùng với việc hợp tác trong lĩnh vực đánh cá biển giữa 2 nước - cũng được xác định rõ. Hoạt động khai thác chung về du lịch thác Bản Giốc cũng được ghi nhận.

Hai bên cũng tuyên bố thỏa thuận cùng nhau tiến hành việc thăm dò dầu khí trong Vịnh Bắc Bộ. Hai bên còn cam kết ủng hộ lẫn nhau trong các tổ chức quốc tế đa phương, từ Liên Hiệp Quốc, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương, Hợp tác Á-Âu, Asean...

Phía Trung Quốc cũng hứa hẹn yểm trợ và cung cấp tín dụng cho một số công trình công nghiệp, hóa chất, năng lượng ở Việt Nam và tăng nhanh khối lượng trao đổi ngoại thương giữa 2 nước.

Bản tuyên bố chung và 10 văn kiện nêu trên đang đặt ra cho những người Việt Nam yêu nước hàng loạt câu hỏi bức thiết.

- Tại sao bản tuyên bố chung và 10 văn kiện có ý nghĩa trọng đại lâu dài như một hiệp ước lịch sử đã được ký kết chóng vánh, hầu như không có thảo luận, tranh luận? Có phải ông Trương Tấn Sang bị Bắc Kinh gọi sang để bắt buộc phải ký vào các văn kiện đã được một phía thảo sẵn? Bọn trùm bành trướng đã dùng những áp lực gì? Mua bằng tiền? Ðe dọa bằng bộ máy an ninh, tình báo?

- Bộ Chính Trị và ban chấp hành trung ương đảng có biết gì trước chuyện này hay không?

Có ủy nhiệm chính thức cho ông Trương Tấn Sang thay mặt cho phía Việt Nam hạ bút ký một loạt hàng chục văn kiện ghi nhận sự hợp tác chặt chẽ trên 13 lĩnh vực của quốc gia như vậy hay không?

- Tại sao trong các văn kiện không hề nói đến chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bị chiếm bằng vũ lực, các vùng đất bị lấn chiếm như ở thác Bản Giốc, vùng Thất Sơn (Hà Giang), vụ bản đồ lưỡi bò bất hợp pháp, những vụ ngăn cản, bắt bớ, sát hại ngư dân ta trong vùng biển quốc gia....?

- Các văn kiện một chiều như thế có tầm quan trọng như một hiệp ước lớn, không được thông báo cho Quốc Hội, không được Quốc Hội thảo luận và thông qua, có được coi là những văn kiện hợp hiến và hợp pháp hay không? Ðó phải chăng là một loạt xiềng xích mới choàng vào cổ nhân dân ta mà nhóm lãnh đạo CS đã cam chịu chấp nhận để được hưởng những đặc quyền đặc lợi phi pháp?

Nhân có sự kiện hệ trọng trên đây, một số vấn đề quan trọng khác nữa rất nên được đặt ra để tìm hiểu cho sáng tỏ.

Phải chăng cứ mỗi lần bị quan thầy mắng mỏ, bè lũ tay sai lại quay sang trừng phạt, đàn áp anh chị em ta dám đứng dậy chống bành trướng xâm lược để xoa dịu cơn giận dữ của quan thấy của họ? Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị án tù nặng chỉ vì ông vạch mặt chỉ tên bọn bành trướng TQ mang tai họa khai thác bauxite tròng vào cổ dân ta và dám phát đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hành động qua mặt của Quốc Hội. Nữ sinh Nguyễn Phương Uyên bị tù và bị công an hành hung chỉ vì cô viết bằng máu mình lên án bọn Tàu khựa, cô bị trả thù để xoa dịu sự nổi giận của Bắc Kinh. Lẽ ra khi tổ quốc lâm nguy, những con người yêu nước cần được quý trọng, thì trái lại ở nước ta họ lại bị đàn áp tàn bạo nhất. Ðây là một sự nhẫn tâm có tính chất phản phúc, vô đạo, phi pháp, toàn xã hội cần biểu thị thái độ lên án mạnh mẽ và đòi tự do ngay lập tức cho các chiến sĩ yêu nước.

Vừa qua do có quá nhiều diễn biến thời sự nóng bỏng lôi cuốn sự chú ý của mọi người - như cuộc tuyệt thực dài hạn của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ trong tù, việc bắt bớ các blogger Trương Duy Nhất, Phạm Viết Ðào và Từ Anh Tú, việc chuẩn bị xét xử ông Lê Quốc Quân, chuyến đi thăm Indonesia của ông Trương Tấn Sang - nên sự phản bội kinh khủng này của Bộ Chính Trị chưa được đánh giá kịp thời và đúng mức. Với nội dung rộng lớn, bản tuyên bố chung và các văn kiện liên hệ nghiêm trọng gấp trăm lần bức thư của Phạm Văn Ðồng công nhận lãnh hải phi pháp của Trung Quốc hơn nửa thế kỷ trước.

Một tuyên bố của trí thức và công dân yêu nước, cùng với đông đảo sĩ quan và binh sĩ của lực lượng quân đội, công an cũng như của tập thể các cựu chiến binh, cùng lao động, nông dân cả nước rất nên xuất hiện để tố cáo sự câu kết rộng lớn giữa kẻ bành trướng và bọn chư hầu cũng như nêu rõ tính chất vô giá trị của 13 nội dung hợp tác và 10 văn kiện ký kết ngày 21 tháng 6, 2013 vừa qua.

Ðây là việc cấp bách nhất hiện nay, khi nhóm lãnh đạo trong nước ta đang lúng túng vì bị chia rẽ sâu sắc trong nội bộ và bế tắc trong việc sửa đổi Hiến pháp, cũng như bế tắc trong việc sửa đổi Luật Ðất đai.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Vài nét văn hóa thời thức tỉnh
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Cuộc dấn thân cứu nước, bảo vệ lãnh thổ bất khả xâm phạm của tổ quốc chống họa bành trướng,
chống chế độ độc đoán giành lại quyền sống tự do của toàn dân đang mở rộng dần.

Một nền văn hóa dân tộc - dân chủ đang nảy nở, vừa là kết quả, vừa là động lực của cuộc sống mới.

Image
Biểu tình tại Hà Nội phản đối Trung Quốc xâm lược. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)


Ðã có những bài hát cổ vũ cuộc đấu tranh giành quyền công dân, đã có những bài thơ hừng hực khí thế chống bành trướng, chống độc đoán, đã có những châm ngôn mới, những luận văn lôi cuốn và đầy tính thuyết phục.

Xin kể ra đây một vài thí dụ để trao đổi và thưởng ngoạn với đông đảo bạn đọc.

Nhà văn Võ Thị Hảo từng nhận định rất chính xác: “Bộ máy tham nhũng và mafia quyền lực đang lũng đoạn trên mọi lãnh vực. Những kẻ cướp ngày đầy quyền lực đang lộng hành và không bị ngăn chặn, trừng trị. Tự do ngôn luận, tự do báo chí bị ngăn trở nghiêm trọng. Dân mất ý chí phản kháng và tự vệ, vì quá mệt mỏi và bị vô hiệu hóa, ru ngủ”.

Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, sau khi từ chối mọi phần thưởng, khen ngợi từ Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã làm những câu thơ cảm thán “Hỏi Trời”:

Nhiều người giàu có ngất trời
Nhiều người chưa được đổi đời là bao
Hỏi trời, trời ở quá cao
Hỏi đất, đất bị bới đào tứ tung
Có ai thấu cảnh này không?
Ai gây muôn sự hãi hùng cho dân?

Sông hồ cạn kiệt chết dần
Ruộng đồng san lấp nhà tầng mọc lên
Sân gôn giăng khắp mọi miền
Dành cho những kẻ nhiều tiền khoe sang
Dân quê gạt lệ rời làng
Mất nghề ngày tháng lang thang phố phường
Ðói ăn đâu thể đến trường
Ðó đây bao cảnh nhiễu nhương cướp ngày
Mọt sâu kết lại thành bầy
Trời ơi, người bị đọa đầy mãi sao?!

Nhà thơ Bùi Chí Vịnh phẫn nộ ra “Tuyên ngôn của một người làm thơ - cựu chiến binh”:

Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Khadafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Những lúc đường cùng, đừng năn nỉ tôi nghen!

Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện, giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đ...
Quý vị phải làm như thế mới là quý vị
Vô cảm, vô lương, vô đạo đức, vô thần
Tôi, rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân.

Cũng nên nhắc lại vài câu thơ kêu gọi sự thức tỉnh của nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên:

Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con người
Cha tôi, ông tôi bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không bóng mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị.
... Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thể
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi!

Lại có những câu thơ đơn giản, dân dã, vô danh như những câu vè, hóm hỉnh dễ nhớ, cảnh cáo nghiêm khắc nhà cầm quyền mù quáng, ỷ vào các công cụ đàn áp trơ trẽn:

Ðừng tưởng! Ðừng tưởng cứ bịt là yên, cứ xử là án, cứ xiềng là giam!
Ðừng tưởng cứ lặng là câm, cứ quan là cọp, cứ dân là cừu!
Ðừng tưởng cứ cưỡi là trên, cứ phi là ngựa, cứ gâu là cầy!
Ðừng tưởng cứ hát là hay, cứ ngon là bổ, cứ chay là thiền...
Ðừng tưởng cứ chổng là mông, cứ trợn là mắt, cứ phùng là mang!
Ðừng tưởng cứ đốn là quang, cứ che là kín, cứ xong là rồi!
Ðừng tưởng cứ ưỡn là oai, cứ cùn là thắng, cứ quay là tròn!
Ðừng tưởng cứ lỏi là khôn, cứ tham là bạo, cứ công là quyền!
Thế thời nhộn nhạo đảo điên, lụt bàn thờ chó leo lên pháp đình,
Ðừng mơ sấp mặt làm càn
Giờ G - bạo chúa ngày tàn đã “boong!”

Các bạn trẻ trong nước cho biết đã sáng tạo lời mới cho bài hát “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Ðình Thi thành bài “Diệt Bán Nước”, chỉ thay có hơn mười từ (ở trong ngoặc), như sau:

Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than
Dưới ách quân tham tàn (đế quốc sài lang) bán nước hại dân
Loài (phát xít) bán nước, chúng cướp (nước) đất, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình.
Ðồng bào (tuốt gươm) quyết tâm vùng lên
Ðã đến ngày trả mối thù chung
Diệt (phát xít) bán nước, diệt bày chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ cộng hòa, dành lại áo cơm tự do.
Dưới (bóng cờ đỏ ánh vàng sao) ánh cờ con cháu Rồng Tiên
Vai kề vai, không phân già trẻ trai hay gái
Quyết tiến lên, ta tiến lên quyết diệt quân thù
Việt Nam, Việt Nam, ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm!
Việt Nam, Việt Nam muôn năm!

Sẽ rất thú vị khi kết thúc bài này bằng 4 câu thơ của nhà thơ trẻ Mạc Thúy Hồng sớm dấn thân cho công cuộc dân chủ hóa của đất nước:

Ðứng dậy đi! Không còn gì để lựa
Ðạp xích xiềng cho lửa bốc con tim
Ðường tự do chúng ta phải tự tìm
Và dân chủ, nỗi niềm dân mong ước.

Qua một vài mẩu văn-thơ-nhạc vừa nêu, quả thật chúng ta đang chứng kiến một quá trình thức tỉnh của nhân dân, ngày càng nhận rõ cần phải giúp nhau đẩy lùi nỗi sợ cường quyền đàn áp dai dẳng, cùng nhau đứng dậy làm chủ vận mệnh dân tộc.
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM
Tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải


Theo tin từ thân nhân ông Nguyễn Văn Hải tự là Điếu Cày, người tù lương tâm hiện đang thọ án tù 12 năm vì tội “tuyên truyền chống nhà nước” cho biết: ông Nguyễn Văn Hải đã tuyệt thực từ ngày 23/06/2013 tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An để phản đối hành động ngược đãi của các cán bộ quản lý trại giam ở đây.

Cuộc tuyệt thực này là một phản ứng nữa của ông Nguyễn Văn Hải. Trong tháng hai năm 2011 tại trại giam B34 Cục An Ninh Điều Tra Bộ Công An ông đã tuyệt thực 28 ngày để phản đối việc trại giam không cung cấp giấy bút cho mình viết đơn kháng án. Kể từ khi bị giam cầm từ 2008 đến nay, ông Nguyễn Văn Hải đã luôn luôn là đối tượng bị ngược đãi, biệt giam, hạn chế thăm gặp, chuyển trại ... từng là nạn nhân của những hành động trái pháp luật, lợi dụng chức vụ quyền hạn xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân và thân nhân đi thăm nuôi của các cán bộ quản lý trại giam từ phân trại K3 trại Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến nơi giam giữ hiện nay tại Trại 6, xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Những sai phạm này trực tiếp gây tổn hại đến tinh thần và sức khỏe của ông Nguyễn Văn Hải, người bị cưỡng bức thi hành án, gây khó khăn cho thân nhân thăm nuôi chăm sóc ông và và xói mòn niềm tin vào luật pháp.

Trước tình hình này, vì an toàn sức khỏe, Phong trào CĐVN khẩn thiết đề nghị ông Nguyễn Văn Hải sớm kết thúc cuộc tuyệt thực để bảo vệ sinh mạng mình.

Về các cơ quan trách nhiệm, như đã tuyên bố về trường hợp tuyệt thực của ông Cù Huy Hà Vũ, phong trào CĐVN tiếp tục cực lực phản đối hành vi ngược đãi tù nhân của bộ công An, ngành quản lý trại giam. Đồng thời, chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam nhanh chóng chấn chỉnh hoạt động tư pháp, quản lý trại giam để bảo đảm quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước đoạt tự do, quy định theo Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).

Cụ thể là:

1. Đề nghị cho thẩm tra xử lý kỷ luật các cán bộ vi phạm ngược đãi tù nhân.

2. Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, phục hồi quyền lợi và chính sách chính đáng được pháp luật quy định của ông Nguyễn Văn Hải cũng như thân nhân.

3. Thực hiện đúng chế độ giam giữ theo Luật Thi hành án Hình sự và các văn bản (Thông tư; Nghị định) bổ sung liên quan.

Phong trào CĐVN cũng kêu gọi các tổ chức truyền thông, bảo vệ quyền con người trong và ngoài nước nhanh chóng thông báo trường hợp tuyệt thực của ông Nguyễn Văn Hải, vận động kêu gọi cho sự tôn trọng quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt đối với các tù nhân lương tâm trong các trại giam.

Ngày 18 tháng 7 năm 2013,
TM. Phong trào Con Đường Việt Nam
Lê Quốc Tuấn


VIETNAM PATH MOVEMENT
Announcement regarding Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike


According to his relative, Mr. Nguyen Van Hai (a.k.a. Dieu Cay), has been on a hunger strike since 6/23/13 at Prison camp 6 in Hanh Lam village, Thanh Chuong district, Nghe An province, Vietnam. Mr. Hai is a prisoner of conscience who is currently serving 12 years in prison on charges of “propaganda against the state.” He is protesting against mistreatments by the camp’s warden and guards.

This is the second time Mr. Hai goes on hunger strike. The first time was a 28-days strike in February 2011 at B34, a Bureau of Public Security’s detention facility, to protest because the Public Security Bureau’s did not provide pen and paper for him to write his appeal. Ever since he was imprisoned in 2008 until now, Mr. Nguyen Van Hai has been subjected to abuse, solitary confinement, restricted visitation, and relocation. From Division camp K3 at Xuyen Moc, Ba Ria province in Vung Tau, to Camp 6 in Thanh Chuong district, Nghe An province, Mr. Hai was also a frequent victim of unlawful acts, power abuse leading to infringement of prisoner’s legitimate rights as well as his visitation rights. These constant violations directly affect his mental and physical well-being while he is being forced to carry out his prison sentence. The violations also make it hard for his relative to visit and tend to his needs. As a result, their belief in the law is deteriorating over time.

Due to this situation and as a matter of his health, the Vietnam Path Movement sincerely urges Mr. Hai to soon put an end to this hunger strike and secure his life.

And to the responsible authorities, as we have stated in the case of Mr. Cu Huy Ha Vu’s hunger strike, the Vietnam Path Movement strongly objects the Public Security Bureau’s and prison administrators’ mistreatment of prisoners. Meanwhile, we urge Vietnam’s authorities to rectify their judicial and prison management activities as soon as possible to ensure prisoners’ rights and that they are being treated humanly with proper respects for those whose freedom has been stripped from them. Those are the regulations listed under Article 10 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR).

In specifics:

1. We recommend the authorities to conduct an evaluation of all prison guards and officers who mistreated prisoners. Those who are found to have violated prisoners’ rights should be disciplined.

2. We ask the authorities to put a stop to all violations of law, to reinstate Mr. Nguyen Van Hai’s rights and the rights for his relatives to visit him as stated by the law.

3. We request the government of Vietnam to enforce proper administration and management of prison camps in accord to Criminal Law Enforcement and other related supplements.

The Vietnam Path Movement also calls upon media organizations to raise their voice for the protection of human rights both in Vietnam and abroad. We urge everyone to disseminate news about Mr. Nguyen Van Hai’s hunger strike and to advocate for human rights to be respected in Vietnam, especially in prisoners of conscience cases.

7/18/13
On behalf of the Vietnam Path Movement
Le Quoc Tuan.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Image

Chỉ biết nói mà không biết nhục
David Thiên Ngọc

(Danlambao) -Xét về lịch sử loài người tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, bất cứ ở tầng lớp nào trong xã hội thấp hèn hay cao sang cũng đều biết xét nét những hành động cùng lời nói của mình cho dù là trong một góc khuất nào đó. Chưa có một tên trộm, cướp hay lừa đảo nổi tiếng nào mà cao giọng dạy bảo con cháu hoặc khuyên nhủ bạn bè, người quen rằng: “Hãy tôn trọng tài sản của người khác, đừng bao giờ lấy của người ta mà làm của riêng cho mình!”, trong lúc đó mọi người đều rõ hắn là tên trộm nổi danh mà ai cũng phải đề phòng khi tiếp xúc với hắn.

Ở đây nói về tên Ba Ếch nơi Nghĩa Trang Xã Nghĩa. Loài Ếch thì ai cũng rõ tâm địa và tầm vóc của hắn đến đâu nhưng về mồm mép thì ồm ộp ôm đồm chẳng kém cạnh một ai. Nhớ ba năm về trước nơi Ba Đình nhà Ếch có tổ chức đám giỗ lớn, qui tụ quần hùng cấp cao của các lãnh địa, hoặc chưởng môn của các môn phái lân bang. Ngồi bên một lãnh tụ quân phiệt đang cai quản một xứ sở độc tài mấy mươi năm, Ếch nâng ly mời và cao giọng “Hồ âm” ồm ộp rằng: “Sắp tới nơi xứ sở nhà Huynh tổ chức bầu bán tôi khuyên Huynh nên tôn trọng dân chủ, tự do... với sự góp mặt của tất cả các môn phái cho dù là khắc kỵ với Huynh để đưa xứ sở của Huynh lên tầm cao, theo kịp thế giới.”. Vì cái tầm của mình quá kém và không biết vị trí của mình đang đứng ở đâu, hành vi của mình đang thực hiện là gì? nên khi ồm ộp khuyên lơn kẻ khác Ếch không thấy được xung quanh có rất nhiều Giáo Chủ cười nửa miệng mà rằng “Úi giời! lươn mà đi khuyên lịch?”.

Trước đó không lâu Ba Ếch có lần sang viếng xứ sở này cũng đã lên giọng xin ủng hộ lộ trình “dân chủ hóa” ở nơi đây. Trong lúc tại quê nhà Ếch, cả dòng họ nhà Ếch cùng đảng phái bè nhóm của Ếch đang cầm đầu một bầy sâu độc quyền đục khoét, cắn phá tan tành cả ruộng đồng, núi rừng Xã Nghĩa mà cương quyết không cho một ai can dự vào dù với lời khuyên can tích cực.

Miệng mồm thì ồm ộp như thế còn da mặt của dòng Ếch thì trơn lùi và không biết nhục. Khi những lời khuyên của Ếch đối với lân bang chưa tan vào gió thì ngay sau đó tổ chức nhân quyền của Á Châu khẳng định rằng những lời khuyên trên đi nược lại với những gì xứ sở nhà Ếch đang có và hiện thời đất nước Xã Nghĩa đang vinh dự đứng đầu được tính từ dưới lên trên trong bảng phong thần về nhân quyền, tự do, dân chủ trong toàn khu vực bao la Châu-Á. Đồng thời cái đất nước mà Ba Ếch buông lời khuyên thuở nào đang đứng trên đầu Ếch mà phất cờ dân chủ tự do. Bao nhiêu chất thải ô uế của độc tài quân phiệt rơi vãi trên đầu mà Ếch cứ vô tư mỉm miệng cười như kẻ “Trưởng giả học làm sang”, một phần tương tợ như ánh mắt, nụ cười ngơ ngáo của thằng “Bờm” tự hào có cái quạt mo.

Ếch không biết nhục khi vị lãnh tụ của xứ độc tài một thuở kia đang công cán trời Tây, nơi thành phố xứ sương mù ông ta đã hùng hồn tuyên bố, cam đoan với thế giới rằng đến cuối năm nay, 2013 tại đất nước ông ta sẽ không còn một ai là tù nhân lương tâm. Ngược lại về phần mình đã bao lần khuyên nhủ xứ bạn mà nay mỗi ngày danh sách người yêu nước bị bắt bớ, vu oan, chụp mũ với những điều luật tự đặt rất ư là mơ hồ... mỗi ngày một cao, năm này nhiều hơn năm trước mà còn cực kỳ ác độc, cay nghiệt, oan ức, vô đạo... hơn xưa.

Như vậy thì rõ ràng cái nghĩa trang Xã Nghĩa mà dòng họ nhà Ếch cùng bè đảng đang cai quản là một trong những cái nghĩa trang hiếm hoi, tồi tệ nhất hành tinh còn sót lại sau khi những luồng gió dân chủ văn minh đã quét sạch, cuốn đi. Với một mớ giấy lộn, bẩn thỉu mang hơi hám Mác-Lê đem ra gói cá, gói thịt mà người ta còn sợ ô nhiễm... Đàng này băng đảng, huynh đệ nhà Ếch lại áp dụng cho xứ sở của mình thì tránh sao cho khỏi diệt vong? sự diệt vong ở đây nó còn có ý nghĩa một phần là tự diệt vong, tự triệt tiêu trong hàng ngũ băng phái của tập đoàn Xã Nghĩa.

Không có một hệ thống lãnh đạo nào với bản chất ô hợp, tuy cùng trên một lối đi nhưng luôn giành giựt miếng ăm, tấm áo, chỗ đứng, chỗ nằm và vùng ảnh hưởng... mà tập đoàn đó tồn tại được trên bước đường dài? Tự triệt tiêu lẫn nhau là điều tất yếu. Con đường tiến hóa của nhân loại đang hướng thiên, còn tập đoàn Xã Nghĩa và một số huynh đệ đang trên chiều ngược lại thì hai nẻo “Thiên Đường-Địa Ngục” quá rõ ràng. Diện kiến với Diêm Vương Ba Ếch sẽ trần tình nỗi gì? Chắc cũng không hề hối hận và biết nhục. Giờ phút sau cùng có hối cũng bằng thừa.

Ngày 20/7/2013
David Thiên Ngọc
buikiem
Posts: 509
Joined: Sat Sep 22, 2012 12:45 am
Contact:

Post by buikiem »

Tâm thức nào, thể chế nấy!

Nguyễn Phương
Muốn chống độc tài và muốn xây dựng dân chủ, cần hiểu rõ độc tài và dân chủ phát sinh thế nào. Nếu không, tuy mang danh chống độc tài nhưng ta lại có thể hành động y hệt những kẻ độc tài; tuy tự hào tranh đấu cho dân chủ nhưng thực tế ta có thể có tiềm năng trở thành nhà độc tài. Mầm mống độc tài có thể đang tiềm ẩn trong cái vỏ bọc dân chủ bên ngoài; một cách sâu xa hơn, nó có thể nằm sẵn trong tâm lý, khuynh hướng hay tính tình của ta.

Mầm mống độc tài là gì?

Nhìn vào chế độ độc tài cộng sản, ta thấy: Những người có tư tưởng hay lập trường chính trị xã hội khác với lập trường chính trị xã hội của đảng cầm quyền đều bị liệt vào thành phần chống đối cần phải loại trừ hay tiêu diệt. Vì thế, trong các chế độ độc tài cộng sản, chỉ có một đảng duy nhất được phép tồn tại và hoạt động; những đảng phái khác nếu được tồn tại thì chỉ là những đảng mang tên khác nhưng cùng lập trường với đảng cầm quyền.

Các thể chế độc tài trên thế giới không phải từ trời rớt xuống hay tự nhiên phát sinh ra. Mầm mống phát sinh ra nó được hình thành rất tự nhiên từ trong tâm thức của hầu hết mọi người, thứ tâm thức lúc nào cũng cho suy nghĩ của mình là đúng, thậm chí đúng nhất, để rồi ép buộc mọi người phải theo ý kiến hay ý muốn của mình. Ðó chính là tâm thức độc tài.

Tâm thức ấy ta có thể nhận ra nơi hầu hết mọi đứa trẻ. Chúng muốn cái gì thì cũng đòi cho bằng được, không được thì khóc. Khóc dai dẳng chính là một hình thức áp lực cha mẹ chúng. Nếu cha mẹ chúng yêu thương con mình một cách thiếu sáng suốt, cứ quen chiều ý chúng, chúng sẽ trở thành những “nhà độc tài” trước hết đối với chính cha mẹ chúng, và sau này với những người mà chúng chi phối được.

Tâm thức độc tài là một tâm thức rất tự nhiên, phát sinh nơi mỗi người từ thuở nhỏ. Có thể nói nó nằm sẵn trong bản năng mỗi người. Thật vậy, khi sinh ra, ai cũng có khuynh hướng ích kỷ (egoistic, selfish) và tự quy (egocentric), tự coi mình như trung tâm vũ trụ. Tâm thức ấy chỉ giảm đi nhờ sự giáo dục từ cha mẹ, từ nhà trường, từ tôn giáo, và nhất là từ chính bản thân khi mình quyết chí tu tâm sửa tánh. Việc tu tâm sửa tánh để giảm bớt khuynh hướng ích kỷ và tự quy ấy thường khởi sự từ những giác ngộ.

Khi sống chung với người khác, con người có thể nhận ra tâm thức ích kỷ và tự quy ấy nơi người khác cũng như nơi chính mình. Tâm thức ấy gây nên nhiều bất lợi cho đời sống chung, tạo nên nhiều đau khổ, bực bội cho chính mình và cho người khác. Từ những khổ đau bực bội ấy, con người mới nhận ra rằng mỗi người đều có những quan niệm, suy nghĩ và ước muốn khác nhau... Nếu ai cũng cứ ép người khác phải từ bỏ quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của họ để theo quan niệm, suy nghĩ và ước muốn của mình thì xã hội con người cũng sẽ giống như của loài vật, trong đó “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”, và kẻ yếu bao giờ cũng chịu thiệt thòi; còn kẻ mạnh thì sẽ tranh nhau, đánh nhau, giết nhau, vì ai cũng muốn ép buộc người khác phải theo quan niệm hay ý muốn của mình. Ðó là mầm mống sinh chiến tranh, gây tang tóc cho xã hội.

Từ những kinh nghiệm và giác ngộ ấy, người tinh tế nhận ra rằng: Muốn cuộc sống chung trở nên hài hòa, hạnh phúc thì con người phải nhận ra định luật đa dạng trong vũ trụ cùng với những khác biệt tự nhiên giữa các dạng với nhau, đồng thời phải tôn trọng định luật ấy. Nghĩa là trong thực tế xã hội, phải tôn trọng sự khác biệt trong tư tưởng, ước muốn, quan điểm của nhau đồng thời nhận ra cái đúng, sự hợp lý của nhau. Muốn thế, con người phải chống lại khuynh hướng độc tài vốn rất tự nhiên nằm sẵn trong bản năng của mình. Từ nhận thức hay giác ngộ đó mới phát sinh hay hình thành tâm thức tôn trọng tha nhân, tôn trọng nhận thức, quan điểm, ý kiến, ước muốn của họ, bất chấp chúng khác với cách nhìn của mình. Về mặt xã hội, tâm thức đó chính là tâm thức dân chủ. Tâm thức độc tài phát sinh trong nội tâm con người cách rất tự nhiên và dễ dàng. Còn tâm thức dân chủ phải tập luyện mới có. Và muốn nó phát triển lớn mạnh điều tiên quyết là phải từ bỏ tâm thức độc tài.

Cá nhân con người tiến hóa, thì xã hội con người cũng tiến hóa. Khởi đầu khi hình thành xã hội, con người phải sống trong những thể chế độc tài. Kẻ có quyền luôn luôn dùng quyền lực hay sức mạnh của mình để ép buộc kẻ dưới quyền phải theo quan điểm, ý kiến và ý muốn của mình, bất chấp đúng sai, lợi hay bất lợi. Mãi tới thế kỷ 18, 19, con người mới nhận ra thể chế dân chủ mà các triết gia Hy Lạp đã manh nha nhất tới từ những thế kỷ trước công nguyên là thể chế ít gây đau khổ cho con người hơn tất cả những chế độ bộ lạc, phong kiến, độc tài, quân phiệt, v.v... để áp dụng nó vào việc cai trị đất nước.
Nhưng chắc chắn nó chưa phải là thể chế ưu việt nhất. Nó còn rất nhiều khiếm khuyết mà con người hiện tại và tương lai phải khắc phục. Theo đà tiến hóa, con người sẽ khám phá hoặc phát minh ra những phương cách cai trị khác tốt hơn, và sẽ từ bỏ thể chế dân chủ cũng như hiện nay đang từ bỏ những thể chế độc tài, phong kiến. Cố Thủ Tướng Anh Quốc Winston Churchill cho rằng dân chủ là hình thức ít xấu nhất mà con người kinh nghiệm được.

Cá nhân mỗi người có sự tiến hóa về tâm thức, con người tiến từ tâm thức ích kỷ, tự quy sang tâm thức quên mình (selfless), vị tha (altruistic). Về mặt chính trị xã hội, con người tiến từ tâm thức độc tài sang tâm thức dân chủ. Sự tiến hóa đó đòi hỏi thời gian và cố gắng luyện tập. Xã hội gồm nhiều cá nhân tập hợp lại cũng có sự tiến hóa tương tự như cá nhân. Cách đây nhiều thế kỷ, cả thế giới đều được cai trị bằng những thể chế độc tài. Nhưng đến thế kỷ 19, 20, thế giới, dần dần từng nước một, đã thoát ra khỏi các thể chế độc tài. Ðến nay, thế kỷ 21, trào lưu dân chủ đã phát triển hầu như khắp thế giới, chỉ còn một số quốc gia vẫn phải rên xiết dưới những thể chế độc tài cộng sản hoặc phi cộng sản. Thật không may cho dân tộc Việt Nam ta lại nằm trong số những quốc gia xấu số ấy suốt 5, 6 thập kỷ qua.

Tất cả các quốc gia thoát khỏi thể chế độc tài đều do sự tranh đấu can đảm bằng xương máu của người dân trong nước. Ðúng là “Freedom is not free” (tạm dịch: “Tự do không phải là thứ cho không biếu không”, muốn có tự do thì phải trả giá). Nhưng khá nhiều quốc gia vừa thoát khỏi ách độc tài này lại rơi vào một ách độc tài khác. Lý do sâu xa là vì dân tộc ấy, nhất là những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ của quốc gia ấy chưa từ bỏ được tâm thức độc tài của mình, và chưa có được tâm thức dân chủ. Khi chưa nắm quyền hành thì tâm thức độc tài ấy còn nằm sâu kín trong vỏ bọc dân chủ bên ngoài, chưa có điều kiện phát tác. Nhưng khi có quyền hành trong tay, tâm thức độc tài ấy mới có điều kiện phát tác biến họ thành những nhà độc tài.

Người Việt có câu: “Rau nào sâu nấy”, “nồi nào vung nấy”. Còn người Mỹ có câu: “Such people, such government” (dân nào chính phủ nấy). Nếu dân Việt của chúng ta còn nặng tâm thức độc tài, ai cũng cứ thích bắt mọi người phải làm theo ý mình, suy nghĩ theo cách của mình, bắt mọi người nhận là đúng những gì mình cho là đúng, ai không chịu thì tìm cách triệt hạ họ, thì thể chế độc tài sẽ còn bám lấy dân tộc ta cho tới khi chúng ta từ bỏ được tâm thức ấy.

Tóm lại, để cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của chúng ta có kết quả lâu dài và đi đến một thể chế thật sự dân chủ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, thì mỗi người - nhất là những người đang tranh đấu cho tự do dân chủ - cần từ bỏ tâm thức độc tài và phát triển tâm thức dân chủ. Bằng không thì... chúng ta sẽ lại lập nên những thể chế độc tài khác. Vì tâm thức độc tài sẽ tạo nên những thể chế độc tài, còn tâm thức dân chủ mới tạo nên những thể chế dân chủ.

Tuy nhiên, đó là việc phải làm trong lâu dài, còn việc trước mắt phải thực hiện là làm sao để chế độ độc tài hiện hành biến mất!!!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Nếu Blogger Điếu Cày ký vào bản nhận tội
Hà Sĩ Phu

(Danlambao) - ...Ít người làm được, vì cái giá phải trả cho khí phách kiên cường quá lớn, trả bằng sinh mệnh. Ngót một tháng tuyệt thực, 4 gói mì tôm do quản giáo quẳng vào vẫn còn nguyên không lay động nỗi lòng người chiến sĩ. Người tù đã lả đi, yếu lắm. Không thể tự đi, tự ngồi, cái đầu vẫn hiên ngang tự bên trong nhưng sức nặng bên ngoài của cái vỏ đã cần đến hai cánh tay trơ xương gầy chống đỡ mới không gập xuống... Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?...

Vụ án Điếu Cày đặt ra những dấu hỏi tất yếu.

Vụ bắt cóc ngay trên đường phố cho thấy tính dối trá, không dám chính danh của công quyền, khi bắt thì lu loa là buôn ma túy, khi xử án lại truy tố tội trốn thuế, một thứ tội “vớ vẩn” mà hàng chục nghìn doanh nhân thời nay đều mắc phải và có thể bị khởi tố bất cứ lúc nào nếu nhà nước muốn.

Hết 30 tháng tù giam Điếu Cày không được về nhà, bị bắt lại ngay và truy tố tiếp tội tuyên truyền chống nhà nước (điều 88). Rất lạ, hành vi gọi là “tuyên truyền chóng nhà nước” không thể phát sinh trong 30 tháng ngồi tù, vậy sao trước đây không xử lại phải xử tội “trốn thuế”? Cuộc tù tiếp theo 12 năm đã là quá nặng, nhưng đáng nói hơn là sự khắt khe ngược đãi, điều kiện giam giữ khắc nghiệt và sự thăm hỏi giao lưu với người thân bị cản trở đến mức cực kỳ khó khăn nếu chưa muốn nói là tùy tiện, bất chấp luật pháp một cách vô nhân đạo.

Không ai tin vào những cái cớ bề ngoài, ai cũng tự hỏi thực chất vụ án là gì, khiến cho nhà nước đối xử đặc biệt nghiệt ngã đối với một cựu chiến binh của chính chế độ, “tội” gì mà ghê gớm quá vậy?

Qua thực tiễn, nghiệm ra rằng chỉ có mấy “tội” này là nặng nhất, bị nhà nước ta “ghét” nhất: thứ nhất là tội xúc phạm đến tình hữu nghị 16+4, hai là tội lập tổ chức “ngoài sự lãnh đạo”, ba là tội bướng - nhất định giữ khí phách, lương tâm và danh dự cá nhân, không chịu phục tùng. Ba “tội” hàng đầu này Điếu Cày đều dính cả, trọng tâm là tội thứ nhất, nói nôm na là “tội chống Tàu xâm lược”! (Nếu các nhà lãnh đạo đất nước mắc được 3 “tội” này thì đáng quý biết bao!).
Image

Tấm hình Điếu Cày cùng các bạn trẻ trương khẩu hiệu song ngữ “Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam” trước nhà hát thành phố HCM có sức cổ động lòng yêu nước của người Việt thế nào, phía Trung Quốc nhất định phải đọc. Phải chăng đây mới là xuất xứ thật của vụ án Điếu Cày?

Sự điển hình cả về chất lượng “lương tâm” của người tù lương tâm cũng như sự đối xử khắc nghiệt của nhà nước Việt Nam đã khiến cho Blogger Điếu Cày được Tổng thống Mỹ Barack Obama vinh danh trong ngày Tự do Báo chí Thế giới (3/5/2012) khi nhắc tới những ngòi bút bị tù đày vì đã can đảm đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền: "Chúng ta không được quên [các nhà báo] như blogger Điếu Cày, người bị bắt giữ năm 2008 trùng hợp với một khối lượng đàn áp báo chí công dân ở Việt Nam".

Trên cái nền của các sự kiện ấy, hãy đặt dấu hỏi vì sao đúng lúc này tự dưng trại giam cương quyết bắt Điếu Cày phải ký giấy nhận tội? Vì không chịu ký nên bị nhận một lệnh biệt giam 3 tháng, dẫn đến cuộc tuyệt thực kinh hoàng một tháng này.

Không phải ngẫu nhiên mà “sự cố Điếu Cày” nổ ra đúng lúc có hai cuộc viếng thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Trung Quốc và sang Hoa kỳ. Thử tưởng tượng Tập Cận Bình biết tin Việt Nam quyết đàn áp một người chống Tàu Bành trướng ắt phải vui lòng, và lạy trời, nếu tên tù đó lại ký giấy nhận tội thì món quà này quả có giá trị không xoàng.

Nhưng trong chuyến thăm Hoa Kỳ, nếu có được một bản nhận tội như thế để trình ra cho Tổng thống Obama biết rằng cái anh tù nhân lương tâm Điếu Cày mà ông từng vinh danh và can thiệp chẳng qua chỉ là một kẻ phạm luật hình sự Việt Nam, tội gây rối để chống chính quyền, hắn nhận tội rồi đây nay! Thế thì đây là “cú tát nảy đom đóm”, liệu ông Obama còn có thể nói gì về nhân quyền Việt Nam, rồi từ nay dám lên tiếng bênh vực nữa hay thôi? Không biết “cú” này có bàn tay đạo diễn phương Bắc hay do ta tự nguyện hiến dâng?

Tình thế nghiêm trọng không thể xem thường.

Nhưng không, Điếu Cày không ký gì hết! Anh đã cứu một bàn thua chính trị cho đất nước và cho cả người bạn Obama. Giá trị của một khí phách kiên cường của người tù lương tâm ưu tú Điếu Cày Nguyễn Văn Hải biết lấy gì đo?

Rất có thể Điếu Cày không có thông tin, không hiểu hết tình huống, anh không ký nhận tội chỉ vì bản tính anh như thế, lương tâm anh như thế, không, và quyết không chịu nói một lời nhận tội để phản bội đất nước, phản bội đồng đội và tự phản mình, mặc dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt như thế, nếu anh có một chữ ký “trá hàng” cũng đáng được thông cảm, không ai nỡ trách.

Ít người làm được, vì cái giá phải trả cho khí phách kiên cường quá lớn, trả bằng sinh mệnh. Ngót một tháng tuyệt thực, 4 gói mì tôm do quản giáo quẳng vào vẫn còn nguyên không lay động nỗi lòng người chiến sĩ. Người tù đã lả đi, yếu lắm. Không thể tự đi, tự ngồi, cái đầu vẫn hiên ngang tự bên trong nhưng sức nặng bên ngoài của cái vỏ đã cần đến hai cánh tay trơ xương gầy chống đỡ mới không gập xuống.

Con anh nhìn bố mà không thể nhận ra hình hài bố mình. Xót thương, xót lòng tất cả những người Việt Nam còn lương tâm và lý trí. Nhưng tất cả chúng ta càng nhận ra anh, rõ nét và mãnh liệt hơn bao giờ hết, vì hình hài này đang sống trong tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta.

Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra?

Câu hỏi xé lòng!

Đà Lạt 22/7/2013
Hà Sĩ Phu
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

TC Đầu Độc Dân Chúng VN

Tác giả : Vi Anh

Ngày 30 tháng 5 năm 2013 Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm của VNCS phối hợp với Toà Đại Sứ Pháp tại Việt Nam mở cuộc hội thảo ở Hà nội, nhận định 80% lượng hàng giả nhập lậu vào Việt Nam là từ Trung Quốc, trong đó có hàng nhái, rượu, thuốc đông, tây y giả nhãn hiệu.

Mới đây Tổ chức Greenpeace, Hoà Bình Xanh có tầm vóc quốc tế công bố 90% dược thảo của Trung Quốc sản xuất và phân phối khắp thế giới có chứa chất độc hoá học, như thuốc trừ sâu, trừ mối, màu độc, chất chì.

Báo Lao Động và Thanh Niên của Đảng Nhà Nước CSVN cũng đi tin hơn 90% dược liệu bày bán khắp nước Việt Nam đều nhập cảng từ Trung Quốc. Người Việt thường gọi là thuốc bắc để đối chiếu với thuốc nam là y dược làm ra từ cây cỏ của VN. Phần lớn dược thảo "Made in China" của TC tuồn về Việt Nam bằng nhiều cách, qua đường quà biếu, cầm tay, hoặc vận chuyển nhứt là qua đường tiểu ngạch, tức là qua những vùng đất TC mướn cả mấy chục năm của các tỉnh VN giáp giới với TC.

Một phúc trình của nhà cầm quyền y dược của VNCS còn xác nhận rất nhiều dược liệu nhập từ Trung Quốc được trộn thêm cát, xi măng, tạp chất… để làm tăng trọng lượng, và tẩm nhiều loại hóa chất gây độc. Như tẩm thuốc chống mối để giữ được lâu, nhuộm màu hoá học, trộn thêm tạp chất để giả các loại thuốc quý như thỏ ty tử, hồng hoa, bạch linh, v.v... nhằm đánh lừa người tiêu thụ.

Không phải chi báo chí trong nước nói, mà các chuyên viên trong ngành y học dân tộc VN, cán bộ, đảng viên của các cơ quan y tế cũng nói trong các cuộc hội thảo. Tại hội thảo “Phát triển dược liệu theo tiêu chuẩn WHO [tổ chức Y tế Thế Giới của Liên Hiệp Quốc] do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Hà Giang tổ chức hôm 28/6 tại huyện Quản Bạ, nhiều đại biểu cho biết dược liệu nhập lậu, kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát, trong khi nguồn dược liệu ở Việt Nam chưa được tận dụng.

Ở Hà nội, Tiến Sĩ Trần Thị Hồng Phương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý y dược cổ truyền của Bộ Y tế của VNCS, nói dược liệu nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam đang chiếm hơn 80%, song chất lượng lại tù mù. Kết quả kiểm nghiệm 400 mẫu dược liệu, có tới 60% mẫu chưa đạt chất lượng và 20% số thuốc thậm chí còn bị trộn rác như cát, xi măng, lẫn tạp chất, giả mạo, tẩm ướp hóa chất độc hại.

Ở Saigon, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, dược liệu rác, trôi nổi, kém chất lượng đến nay vẫn chưa kiểm soát được. “Nhu cầu dược liệu sạch cho TPHCM rất lớn. Tuy nhiên, lượng lớn dược liệu vẫn phải mua ở các phố đông y mà không rõ nguồn gốc, chất lượng.”

Theo hai tờ báo Lao Động và Thanh Niên phát hành khắp nước, số người lớn và trẻ em dùng “thuốc bắc” có nghĩa từ phía Bắc tức bên Tàu đem qua bán ở VN, chết và phải đi nhà thương rất nhiều.

Ở Phan Thiết, thầy thuốc bắc Phạm Minh Tiến 47 tuổi, ngụ tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bị chết hôm 31/5 vì uống thử thuốc bắc. Một thanh niên là Phùng Văn Nên 27 tuổi, đến tiệm của ông Tiến hốt thuốc chữa bệnh thấp khớp nhưng về nhà sắc uống thì lên cơn co giật dữ dội. Anh trở lại gặp thầy thuốc khiếu nại, thì Thầy Tiến khẳng định là thuốc nhập từ bên Tàu, bèn uống thử thứ thuốc đã bốc cho anh nên, Thầy cũng bị trúng độc, nhưng nặng hơn và đã qua đời sau đó.

Ở Saigon, bệnh viện Nhi Đồng 2, Sài Gòn thường phải cứu cấp nhiều em bé bị trúng độc vì thuốc bắc của TC. Tiêu biểu như một bé gái ngụ tại huyện Nhà Bè bị tê cứng tay chân, không cử động được sau khi uống thang thuốc trị nghẹt mũi.

Một bé trai 4 tuổi ở Phú Quốc vừa nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM trong tình trạng ngộ độc thuốc đông y, do mẹ của bé trai này cho bé uống “thuốc cam Hàng Bạc” cùng một số thuốc bắc và thuốc nam khác trong hai năm. Thử máu, Bác sĩ nhận thấy “nồng độ chì trong máu bệnh nhi cao, bé bị thiếu máu và có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ”.

Ông Lê Hùng, Phó chủ tịch Hội Đông Y Sài Gòn cho biết, có rất nhiều bệnh nhân dùng thuốc bắc chữa bệnh thông qua các thầy lang, đang bị suy thận trầm trọng. Ông Hùng cũng nói rằng, việc kiểm soát phẩm chất thuốc bắc hầu như nằm ngoài tầm tay của các quan chức thẩm quyền.

Đất nước và nhân dân VN là nạn nhân đông đảo và trầm trọng nhứt của thuốc bắc do TC tung ra. Một là vì người dân nghèo, ở nông thôn nhiều hơn thành thị. Tây y ở nhà thương, nhà thuốc tây mắc so với lợi tức trung bình kiếm được chỉ khoảng 500 Mỹ kim một năm. Thuốc Bắc rẻ, giờ nào tới thầy thuốc bắc cũng được, dễ hơn gặp bác sĩ, phòng mạch rất ít ở nông thôn. Thấy thuốc bắc ra toa thường hốt thuốc luôn, cho khỏi phải đến mua như ở nhà thuốc tây rất hiềm ở nông thôn.

Hai là truyền thống của người Việt là đói ăn rau, đau uống thuốc, thuốc làm bằng cây cỏ dược thảo người Việt thích, do thói quen ngàn xưa truyền lại. Kể cả một số người sống ở hải ngoại nhứt là khi lớn tuổi cũng quay về cội nguồn, thích thuốc bắc, tin rằng ít độc, ít phản ứng phụ hơn thuốc tây.

Ba là với đà bành trướng của TC, thuốc bắc, đồ Tàu, thức thức ăn, thức uống, trái cây, rau củ, TC xuất cảng tràn lan, giả quá rẻ, rẻ hơn nông phẩm địa phương sở tại của các nước. Việt Nam là nước giáp ranh với Trung Quốc. Đảng Nhà Nước CSVN là “đồng chí” với Đảng Nhà nước TC, núi liền núi sông liền sông với TC. Nên VN là nơi TC tuồn mọi thứ hàng hoá bị thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ chê độc và cũng là nơi TC coi như sọt rác tuồn hàng thải, hàng phế bị dân TQ chê đưa qua VN bán rẻ mạc.

Đảng Nhà Nước CSVN còn lệ thuộc quan thầy TC đến mức công nhân TC qua làm việc ở VN, không cần hộ chiếu, không cần chiếu khán”. Các công ty TC đem cả cái cầu tiêu từ bên Tàu qua xài khi làm công trình ở VN và họ lập thôn xóm, chùa Ông Bổn trường học dạy tiếng Quan Thoại riêng như một quốc gia TC trong một quốc gia tại VN.

Huống hồ gì hàng gian, hàng giả, hàng độc, thuốc bắc, thuốc tàu 90% TC tuồn qua tràn ngập quê hương đất nước của người VN./. (Vi Anh)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests