Thời Sự, Bình Luân

KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Tiền có cứu được đảng hay không?
Ngô Nhân Dụng


Hôm Thứ Năm, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố kế hoạch sẽ bơm 30 ngàn tỷ đồng (1.4 tỷ đôla Mỹ) vào nền kinh tế để cứu khu vực bất động sản và giải quyết khối nợ xấu đè nặng trên hệ thống ngân hàng.

Theo thông tư chính thức thì kế hoạch này, sẽ áp dụng trong ba năm kể từ ngày 15 Tháng Tư, nhằm giúp các người dân muốn mua nhà nhỏ. Nhưng mục đích chính ai cũng thấy là họ muốn cứu các ngân hàng của nhà nước đang ôm cả đống “nợ xấu;” đồng thời cứu cả những người đang ôm những cao ốc đang xây nửa chừng phải ngưng, hoặc ngôi nhà hay căn hộ không thể đem bán hay cho thuê được. Tóm lại, là đem tiền chung của toàn dân ra giúp một số những tay đầu cơ bất động sản; cùng các ngân hàng tham dự vào cơn sốt đầu cơ địa ốc trong mấy năm qua.

Năm năm trước, nhiều người nghĩ Việt Nam là một nền kinh tế đang lên, một con cọp Á Châu mới, với triển vọng chạy theo các con cọp Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore thời 1980. Nhưng trong ba năm qua, kinh tế Việt Nam chìm ngập trong lạm phát, thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, hệ thống ngân hàng sa lầy vì quả bong bóng địa ốc được thổi phồng lên đang chờ sắp bể. Hành động bơm gần tỷ rưỡi đô la vào hệ thống ngân hàng trước hết là để cứu thị trường địa ốc. Giống như kinh tế Mỹ hiện nay đang bị trì trệ vì giá địa ốc sụt giảm chưa lên, kinh tế Việt Nam cũng khó hy vọng cải thiện nếu thị trường địa ốc sống ngắc ngoải.

Hơn một tỷ đô la được bơm vào sẽ cứu rất nhiều người. Những người đó là ai? Các nhà đầu cơ địa ốc ở Việt Nam phần lớn chính là các viên chức đảng cộng sản đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước, những cán bộ trong ngành tài chánh, ngân hàng, và những người liên hệ mật thiết với họ. Họ không cần dùng tiến vốn riêng mà có thể dùng ngay tiền của các doanh nghiệp nhà nước để đầu cơ bất động sản. Trên hết, họ có thể vay tiền dễ dàng của các ngân hàng do đảng cộng sản kiểm soát để mua nhà, đất rồi bán lại kiếm lời. Ðây là một thị trường địa ốc không theo luật cung cầu tự nhiên.

Trong các nền kinh tế bình thường, số nhà cửa được xây cất là do nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường địa ốc lên hay xuống trước hết là do số cầu thúc đẩy. Thị trường có thể mất quân bình khi số cầu lên quá cao vì chính sách tiền tệ dễ dãi. Khi đó, nhiều người không đủ khả năng trả nợ cũng vay để mua nhà và được ngân hàng chấp nhận cho vay, như đã thấy ở Mỹ trong những năm trước 2007; vì thế gây ra khủng hoảng. Nhưng ở Việt Nam, thị trường địa ốc lại được thúc đẩy vì số cung; và cơn khủng hoảng cũng từ đó sinh ra.

Những người có quyền kiểm soát các món tiền lớn, đứng đầu các ngân hàng và xí nghiệp quốc doanh, họ nắm tiền trong tay nhưng không nghĩ tới, hoặc không biết cách sử dụng tiền vào các việc đầu tư ích lợi cho xí nghiệp và tạo công việc làm. Họ lại thấy phương pháp dùng tiền sinh lợi dễ dàng nhất là địa ốc. Số tiền họ đem vào thị trường này đẩy giá nhà, đất lên cao, tạo ra một thứ nhu cầu không có thật. Nhiều người khác, các tư nhân, thấy giá lên thì cũng đua nhau mua để hy vọng sẽ bán kiếm lời. Các công ty xây dựng thúc đẩy cho thị trường lên cao hơn với những dự án xây cất các khu cư trú đắt tiền. Họ được các quan chức trong đảng cộng sản hỗ trợ vì thấy có lợi. Trước hết là các quan chức địa phương tìm cách chiếm đất của nông dân để bán cho các công ty xây dựng với giá cao hơn. Thuế mua bán địa ốc lại là một nguồn thu lợi lớn trong ngân sách các thành phố và thị xã, cho nên người ta càng khuyến khích xây cất thêm.

Một lý do khác khiến việc xây cất được đẩy mạnh dù không có nhu cầu tiêu thụ, là các quan chức trung ương nắm quyền ký giấy phép xây cất. Một chữ ký cho phép xây một khu gia cư có thể đem lại những món tiền hối lộ hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc nhiều hơn. Ngay khi nhận được giấy phép, nhà thầu đã sẵn sàng dâng cho các quan chức món quà họ sẽ tặng, là dành riêng cho các quan một khu đất nào đẹp nhất, một ngôi nhà to nhất, tùy ý lựa chọn, và cho đứng tên ai thụ hưởng cũng được! Ðây là một cách hối lộ ít dấu vết và rất dễ chối tội nếu có người khui ra.

Loại quan chức, cán bộ thứ ba là những người ngồi ở các ngân hàng, có quyền khai thác việc xây cất để kiếm lợi riêng. Mỗi chữ ký cho vay tiền của họ cũng có giá trị ngang chữ ký cho phép của các quan trong Bộ Xây Dựng! Hơn nữa, chính các quan chức có quyền sử dụng tiền của công dùng tiền đầu cơ địa ốc đã đẩy giá lên cao hơn. Năm 2011, lợi tức đầu người của Việt Nam đứng hàng thứ 120 trên thế giới; nhưng chỉ số giá nhà đất cao đứng hàng thứ 20! Với nhu cầu kiếm chác của các quan chức ba loại trên, thị trường địa ốc ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong mấy năm; mặc dù không liên quan đến nhu cầu nhà đất của người tiêu thụ. Khi kinh tế xuống thấp, cả thị trường địa ốc bị tê liệt, như đã thấy trong hai năm qua.

Nền kinh tế trì trệ từ năm 2011 là một đòn giáng nặng vào nhóm người đầu cơ địa ốc. Năm 2008 tiền thuê văn phòng ở Sài Gòn có lúc giá lên tới 80 đô la một mét vuông, đầu năm 2012 xuống chỉ còn 30 đô la, nếu có người thuê. Tại các thành phố lớn, từ Sài Gòn ra Hà Nội, hàng trăm công trường đang xây cất dở dang bị bỏ phế. Một dự án cao ốc xây được một tầng thì bỏ ngang, biến cả tầng dưới cùng thành nơi cho thuê để xe gắn máy, cho các anh “bảo vệ” kiếm chút cháo! Tại Hà Nội, công ty địa ốc quốc doanh của thành phố trước đây có 600 nhân viên, đến năm 2012 chỉ còn 60 người làm việc.

Khi nhà cửa xây lên bán không được, các nhà thầu không có tiền trả nợ các ngân hàng, các ngân hàng chứa đầy những món nợ xấu. Ngay lúc đó, chính các ngân hàng lại bị khó khăn vì chính quyền lo chống lạm phát, ra lệnh phải giảm số tiền cho vay. Trong ba năm từ năm 2010, số xí nghiệp bị phá sản đã tăng vọt vì không thể đi vay nợ mới để trang trải nợ cũ. Ngân Hàng Trung Ương năm ngoái thú nhận có 10% số nợ trong cả hệ thống ngân hàng không thể đòi lại được; tỷ lệ nợ xấu cao nhất cả vùng Ðông Châu Á. Nhưng ngân hàng Standard Chartered ở Hồng Kông ước tính tỷ lệ nợ xấu từ 15% đến 20%.

Ðầu Tháng Ba vừa qua, Hiệp Hội Bất Ðộng Sản thành phố tại Sài Gòn đã xin chính phủ đánh thuế vào các tài khoản tiết kiệm trên 500 triệu đồng gửi trong các ngân hàng; để lấy số tiền đó “hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác.” Nói giản dị, họ xin đảng cộng sản thu tiền của dân trong nhóm này, rồi bỏ vào túi một nhóm khác! Mà nhóm khác họ muốn giúp đó, không cần nói, ai cũng biết là các công ty bất động sản, đại đa số là các cán bộ, quan chức đã đi đầu cơ! Trước những lời phản đối của các công dân mạng, chính quyền cộng sản không dám đặt ra thứ thuế này. Thay vào đó, kế hoạch bơm 30 ngàn tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng nhằm mục tiêu giúp các ngân hàng của nhà nước đang chồng chất nợ xấu; cũng là một hành động đáp ứng đòi hỏi của các nhà đầu cơ địa ốc. Nhưng họ cứu chữa cơn khủng hoảng này được không, và được bao lâu?

Nếu tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam là từ 10%, con số của Ngân Hàng Nhà Nước, đến 20% là con số các ngân hàng ngoại quốc ước tính; thì riêng trong lãnh vực địa ốc, số nợ xấu phải cao hơn, có thể từ 20 đến 30%. Lấy số trung bình, coi như 25%, một phần tư, các món nợ xây cất và buôn bất động sản không thể đòi được. Tháng Tám năm 2012, Bộ Xây Dựng ở Việt Nam cho biết tổng số nợ liên quan đến ngành bất động sản là khoảng 1 triệu tỷ đồng, tức 47.8 tỷ đôla Mỹ. Bây giờ có thể tính tròn con số đó lên 60 tỷ. Tính 25% tỷ số nợ xấu, thì trong lãnh vực địa ốc số nợ khó đòi lại cũng lên tới 15 tỷ đô la.

Số tiền 1.4 tỷ đô la sắp bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản chưa bằng một phần 10 tổng số nợ xấu trong ngành địa ốc. Ðây cũng là một hành động lấy tiền chung của toàn dân đem đi cứu các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các quan chức đảng. Nhưng cứu được bao lâu? Việc bơm tiền vào thị trường bất động sản có thể gây ra một phản ứng ngược, là các chuyên gia đầu cơ thấy có thể vay tiền dễ dàng (chắc chắn họ vay dễ hơn và sẽ được vay trước những người dân bình thường); họ lại đi vay thêm để tiếp tục đầu cơ nữa, vì họ thấy triển vọng nhiều người khác sẽ có tiền mua nhà. Và như vậy thì thị trường địa ốc sẽ thêm một cơn sốt khác trước khi bể vỡ.

Trong khi toàn dân phải đối phó với cảnh kinh tế trì trệ, đem tiền đi giúp các nhà đầu cơ bất động sản chỉ khiến nỗi uất ức của dân chúng càng lên cao. Người dân đang thấy rõ là kinh tế chỉ có thể phục hoạt được nếu cả hệ thống kinh tế được thay đổi, với những người có khả năng biết lo cho dân chứ không phải chỉ biết lo cho bè đảng, tay chân của mình.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Tài và sắc

Tạp Ghi Quỳnh Giao

Người viết này quen một người - xin miễn nói tên vì phạm vào bí mật nghề nghiệp của người ta - có cái thuật sáng tác nhuốm màu kỳ thị.

Ðó là trong đối thoại của các nhân vật thì dùng tiếng Bắc để ám chỉ tính chất uyên bác mà nệ hình thức. Tiếng Nam thì phản ảnh sự bộc trực và chân thật. Còn nhân vật nói tiếng Trung thì là người mưu trí mà cũng đôi phần gian trá! Về sinh quán hay gia cảnh, tác giả ấy thuộc loại ba miền hòa hợp chứ không nặng tính địa phương. Cách diễn tả chỉ nói ra ấn tượng chung của nhiều người trong chúng ta về những đặc tính ba miền chứ không thể là sự thật.

Chuyện đó dẫn mình đến loại ấn tượng phổ biến với nhiều thành kiến sai lầm và oan uổng.

Như trong phim ảnh Hollywood về chiến tranh, thủ vai sĩ quan Ðức quốc xã thường là diễn viên tóc vàng, lạnh lùng và kỷ luật. Nhân vật Pháp thì đa tình, lịch thiệp và nịnh đầm. Còn chàng trai Ý thì rất hùng hồn nói chuyện bằng tay. Không hiểu rằng mình có thống kê nào về mấy điều ấy chăng, nhưng đó là những thành kiến cứ được coi như chân lý phổ thông.

Một trong nhiều thành kiến là trình độ thông minh rất thấp của các cô gái tóc vàng sợi nhỏ! Hình như là ai trong chúng ta cũng từng nghe chuyện tiếu lâm về sự ngây ngô cù lần của các nàng tóc vàng. Quỳnh Giao sẽ chẳng... “nối giáo cho giặc” mà kể thêm một chuyện nữa.

Phải chăng là từ nhiều thế kỷ trước, dân Âu Châu đã có lối suy luận như vậy?

Ðẹp ngồn ngộn mà hơi đần độn thì phải là một mệnh phụ tóc vàng. Hoàng hậu tóc đen thì nồng nàn mà hiểm ác. Ðời nay, loại thiếu phụ bị coi là “femme fatale” thường có tóc sậm, mắt đen mà rực lửa như than hồng. Gặp loại mỹ nhân ấy thì các ông đều cầm tinh con thiêu thân, lao vào lửa rồi bảo rằng chết cũng thỏa! Tại phương Ðông, nếu Lệnh Hồ Xung nói láo khi muốn cứu ni cô Nghi Lâm rằng gặp ni cô là xui tận mạng, thì nhiều tay đánh bạc ở phương Tây cũng nói là vào sòng mà gặp nàng tóc màu cà rốt là coi như cháy túi!

Những thành kiến về màu tóc như vậy thì kể ra không hết nên biết đâu chừng cũng ảnh hưởng đến kỹ nghệ pha chế màu nhuộm tóc!

Chuyện thành kiến rõ nhất có thể thấy từ một cuộc trắc nghiệm tâm lý thực hiện ở bên Mỹ này vào năm 1996. Những người thử nghiệm cả nam lẫn nữ được đưa ra tấm hình của cùng một phụ nữ xin làm chân kế toán viên dưới ba màu tóc nhuộm khéo như thật là nâu sậm, hung đỏ và vàng ánh. Kết quả là mái tóc vàng bị chấm điểm là ít khả năng hơn cả, và người tóc vàng đáng được lương thấp nhất.

Trong các thành kiến, thuộc loại phổ biến cổ kim là chuyện... tài sắc.

Từ cụ Nguyễn Du hay tác giả đời Minh bên Tầu cho đến hậu thế ngày nay, người ta thường tin rằng ông Trời đã có một bàn cân. Cứ cho ai chút tài thì lại rút mất phần sắc. Hoặc người có sắc chưa chắc là đã có tài! Nếu mà lại có cả hai thì chữ tài liền với chữ tai một vần, nhiều phần còn là tai họa cho người khác.

Trong một cõi nào đó, có ông Từ Hải đang giơ tay xác nhận điều ấy! Trên đất Hoa Kỳ này, John Hinkley cũng có thể nghĩ vậy khi nhớ đến nàng Jodie Foster. Hinkley là con nhà triệu phú và chỉ muốn lấy tiếng với một người đẹp mình không hề quen biết là diễn viên Foster mà đòi ám sát Tổng Thống Ronald Reagan. Một kẻ điên phạm tội rồi đổ lỗi cho người đẹp trên màn ảnh.

Mà Jodie Foster không chỉ có dáng vẻ xinh đẹp.

Nàng có thực tài và đã tốt nghiệp Ðại Học Yale nổi tiếng của nước Mỹ. Những trường hợp người mẫu, nghệ sĩ hay mỹ nhân của Hoa Kỳ đã tốt nghiệp các đại học cổ kính và uy tín thật ra không thiếu.

Cô bé Brooke Shields học Pháp ngữ trong trường Princeton trước khi là người mẫu rồi tài tử. Natalie Portman đã hoàn tất khoa tâm lý học ở trường Harvard, còn Laura Linney tốt nghiệp cử nhân về nghệ thuật tại trường Brown, y như Elizabeth Banks đã chiếm ưu hạng tại Ðại Học Pennsylvania....

Nhiều người cứ bảo rằng tóc vàng là ít suy nghĩ hoặc đã đẹp rồi thì khỏi cần đi học. Thật là sai lầm quá đỗi.

Nhưng nghĩ cho cùng, các cụ ta vẫn có lý hơn cả khi dạy con cháu rằng “cái nết đánh chết cái đẹp.” Dạy như vậy để ai nghĩ rằng mình đẹp thì nên chịu khó quên đi mà trau giồi cái khác ở bên trong. Ðấy mới là phương châm của tài sắc vẹn toàn, và sắc có thể phai chứ cái tài lại ít đổi màu.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Câu chuyện nhỏ của tôi

Phạm Thanh Nghiên

Tôi bị bắt với một lý do rất... cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù.

Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008.

Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!” tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối.

Biệt giam:

Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ loại tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước...” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả!

Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi.”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh... tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi.

Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái.

Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giàu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắc và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo.

Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?

Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt.

Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác.

L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”.

Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.

Một lần đi cung:

Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng:

- Này anh, giúp tôi một việc được không?

- Việc gì chị?

- Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé?

Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa:

- Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không?

- Sao nghiệp vụ anh kém thế?

- Gì cơ?

- Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được.

Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi.

Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:

- Chúng ta bắt đầu làm việc!

Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà.

- Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên.

- Anh bảo gì cơ?

Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công.

- Chúng ta vào việc…

- Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao?

- Đây là quy định của…

- Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này.

Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.

Tôi thôi nhìn lên trần nhà:

- Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho.

Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hất hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.

Viết sau những ngày mới ra tù.

Phạm Thanh Nghiên
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mặt Trận Nổ Lặng Lẽ?

Tác giả : Trần Khải

Có phải Cuộc Chiến Triều Tiên đã bùng nổ? Lần này, trông như chuyện phong thần thời xa xưa: phóng chưởng đánh từ xa.

Từ sáng Thứ Tư, Bắc Hàn đã bị tấn công trên không gian mạng dữ dội, theo lời một viên chức chính phủ Nam Hàn. Ông thêm rằng, chính phủ Seoul đang tìm hiểu xem ai đứng đằng sau trận “phóng chưởng từ xa” này.

Thông tấn ITAR-TASS của Nga cho biết mạng Internet Bắc Hàn đã bị tấn công dữ dội từ ngoài vào. Cơ quan thông tấn này có một trụ sở ở Bình Nhưỡng, đã có bản tin như thế vào đêm Thứ Tư.

Trong khi đó, các trang web của Bắc Hàn đã tắt mạng cho tới chiều Thứ Năm.

Kể cả các mạng loa kèn nổi tiếng như nhật báo Rodong Sinmun, thông tấn xã KCNA và mạng Naenara, đều không xem được từ Nam Hàn...

Ai đã xuất chiêu tấn công Bắc Hàn như thế? Có phải đàn anh Trung Quốc vĩ đại đang dạy dỗ đàn em, hay là tin tặc Nam Hàn đang dạy cho người anh em ruột thịt phải biết thế nào là lễ độ?

Hay phải chăng, biết đâu đấy, Viện Đại Học Tin Tặc Hà Nội đang cho thi tốt nghiệp đã ra nhầm đề thi là đánh biểu diễn cho sập mạng Internet Bắc Hàn?

Báo Chosun Ilbo từ Nam Hàn ghi lời một chuyên gia ở một viện nghiên cứu của chính phủ Nam Hàn nói trận tấn công ở tầm mức dồn dập này không thể nào từ một cá nhân tin tặc nổi, vì tất cả các trang web trên các dàn máy chủ ở Bắc Hàn đều bị ảnh hưởng và trận tấn công kéo dài tới 2 ngày.

Viên chức này nói rằng chính phủ Nam Hàn không liên hệ gì vụ tấn công này.

Nhà nghiên cứu Ryu Dong-ryeol ở Viện Hoa Học Cảnh Sát Nam Hàn (Police Science Institute) nói rằng không thể hình dung được toàn bộ mạng Internet của Bắc Hàn laị bị tấn công dài như thế, “cũng có thể rằng chính chế độ Bắc Hàn tự bày ra trò như thế để thoát khỏi thế bế tắc quốc tế hiện nay.”

Cũng cần nhắc rằng tuần trước, Bắc Hàn đã gây nhiễu sóng định vị toàn cầu Global Positioning System tại Nam Hàn từ Thứ Sáu trước đó, và kéo dài cho tới hôm Thứ Ba.

Một viên chức Nam Hàn nói đó cũng là điều khó hiểu vì không gây thiệt haị gì được mà cứ tiếp tục mãi.

Chỉ có một trường hợp được báo cáo là thiết bị định vị GPS của một phi cơ dân sự gần phi trường quốc tế Incheon International Airport bị hỏng hồi Chủ Nhật trước. Viên chức Nam Hàn nói rằng nguồn tấn công nhiễu sóng là từ bên kia giới tuyến, từ Kaesong và núi Mt. Kumgang, với các sóng phát ra gây nhiễu cho Nam Hàn từ đó: “Những sóng gây nhiễu liên tục, nhiều tới nỗi chúng tôi không thể nói chính xác khi nào và bao nhiêu lần sóng gây nhiễu phát ra.”

Viên chức chính phủ từ Dinh Tổng Thống Nam Hàn nói “chắc chắn” rằng Bắc Hàn tấn công bằng cách gây nhiễu sóng vì dò ra nguồn tấn công chính xác dễ dàng.

Viên chức này nói: “Miền Bắc nên tức khắc ngưng tấn công vì như thế trái với tinh thần Quy Ước Viễn Thông Quốc Tế.”

Kim Hee-jung, phát ngôn nhân Tổng Thống Nam Hàn, cũng nói: “Như thế hiển nhiên là vi phạm luật quốc tế, nhưng không có điều khoản phạt nào minh bạch cho kiểu gây nhiễu sóng này, nên chính phủ Nam Hàn đang xem lại để xét những gì có thể trừng phạt.”

Bộ Trưởng An Ninh Nam Hàn Maeng Hyung-kyu cũng nói rằng đợt tin tặc tấn công Nam Hàn hồi Thứ Sáu trước là “gấp 7 lần” dày đặc so với trận tin tặc tấn công hai năm trước, nhưng Nam Hàn kịp thời ngăn chận để không bị thiệt hại gì: “Trận tấn công nhắm vào trang web của 40 cơ quan bộ ngành chính phủ Nam Hàn vào 3 đợt. Tổng cộng có 77,000 máy điện toán ma bị ảnh hưởng bởi 7 trang web chia sẻ hồ sơ được dùng để tấn công.”

Như thế, có phảỉ sau đó Bắc Hàn tự giả bộ bị tin tặc tấn công để cho biết rằng Bắc Hàn cũng bị tin tặc tấn công y hệt như Nam Hàn. Nhưng rồi làm sao giấu được vụ nhiễu sóng Nam Hàn, vì gây nhiễu sóng GPS là bị lộ nguồn rồi.

Hay phải chăng, tin tặc Trung Quốc đang dạy dỗ Bắc Hàn sau khi thấy Bắc Hàn vừa gây nhiễu sóng Nam Hàn vừa ngay sau đợt tin tặc tấn công Seoul?

Khó hiểu, rất khó hiểu.

Nhưng hiển nhiên là có những mặt trận đang lặng lẽ giao chiến đó vậy.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Vĩnh Yên biểu tình bước sang ngày thứ 2 liên tiếp, CA bắt giam 4 nghi phạm

CTV Danlambao -

Như bản tin đã đưa trên Danlambao hôm qua về cuộc biểu tình lớn tại Vĩnh Phúc sau nghi án con rể chủ tịch Vĩnh Phúc giết người, ném xác nạn nhân xuống cống nước. Vào sáng hôm nay, 18/3/2013, gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh cùng đông đảo nhân dân tiếp tục tập trung mang quan tài nạn nhân đi đòi công lý. Cuộc biểu tình bước sang ngày thứ 2 liên tiếp, với sự tham gia của hàng ngàn người dân phẫn uất, bên cạnh là sự xuất hiện của hơn 2000 công an sắc phục đủ loại.

Theo tin từ nhà báo Trần Quang Thành gửi đến Danlambao cho biết: Đến 13 giờ hôm nay, thứ hai, 18/3/2013, hàng người dân tỉnh Vĩnh Phúc trong đó có có người thân của nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh vẫn đang tập trung đấu tranh với nhà cầm quyền nhằm yêu cầu làm sáng tỏ cái chết của người dân vô tội.


Đông đảo mọi người tập trung trên một bãi rộng phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên. Hàng ngàn công an cũng đã được huy động để bao vây và ngăn chặn người dân đến tham dự đám tang.
Image

Image

Image
Gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh và người dân không chấp nhận kết luận của pháp y vì thiếu khách quan, nhiều mâu thuẫn, không chính xác. Người dân khẳng định vụ án có dấu hiệu bị bao che, để lọt tội kẻ chủ mưu. Nghi phạm cầm đầu cũng được xác định là con rể và con gái chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc.

Được biết, nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh năm nay 27 tuổi, đã có vợ và một bé gái 2 tuổi. Hiện nay, vợ anh Nguyễn Tuấn Anh đang mai thai bé thứ 2, sắp đến ngày sinh thì chồng bị sát hại.
Image

Image
Mặc dù ban đầu, cơ quan pháp y CA khẳng định nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh tử vong do ‘say rượu’, ‘sặc nước’, ‘chết đuối’... Tuy nhiên chỉ sau một ngày, Giám đốc CA Vĩnh Phúc là ông thiếu tướng Phùng Tiến Bộ đã quay ngoắt 180 độ khi thông báo đã khởi tố vụ án ‘giết người’, thực hiện lệnh bắt giam 4 nghi phạm là Phùng Mạnh Tuấn (21 tuổi, ở Tam Dương, Vĩnh Phúc); Phùng Đức Tú (tức Đen, 19 tuổi ở Tam Dương);

3 nghi phạm khác là Nguyễn Văn Tính (16 tuổi, ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng); Nguyễn Văn Định (30 tuổi ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng) và Đặng Quốc Tú (33 tuổi ở TX. Phú Thọ).

Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc là ông Phùng Quang Hùng vẫn một mực khẳng định con rể và con gái ông này không liên quan đến vụ giết người. Có tin nói rằng, vào thời điểm xảy ra vụ việc, cả con gái và con rể của ông Phùng Quang Hùng có mặt tại hiện trường nơi nạn nhân Nguyễn Tuấn Anh bị giết.

Hiện không rõ 2 nghi phạm giết người là Phùng Mạnh Tuấn, Phùng Đức Tú có họ hàng gì với Chủ tịch tỉnh Phùng Quang Hùng, hoặc tướng CA Phùng Tiến Bộ hay không.

CTV Danlambao
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tử huyệt của đảng: Quân đội

Nguyễn Tâm Linh

(Danlambao) - Nỗi sợ lớn nhất của đảng cộng sản Việt Nam đang dần trở thành hiện thực, nguy cơ tự diễn biến từ một mối nguy hiểm mơ hồ nay đã hiển hiện trước mắt. Cảm nhận được nguy cơ tự diễn biến trong quân đội ngày một lớn cùng với khả năng mất quyền kiểm soát quân đội dẫn đến sụp đổ chế độ như đã từng xảy ra tại các quốc gia cộng sản Đông Âu đã khiến thượng tầng chính trị Việt Nam có những bước đi trước. Ấy là khi các tờ báo chính thống như Tiền Phong, Tạp Chí Cộng Sản, Quân Đội Nhân Dân ồ ạt tung ra các bài báo với luận điểm tuyệt đối hóa sự lãnh đạo của đảng với quân đội, khẳng định quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội do chính đảng cộng sản Việt Nam tổ chức thành lập, quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng.

Khẳng định sở hữu quân đội: Hệ lụy và mục đích

Hầu như, tất cả các bài viết đăng trên các tờ báo chính thống trên đều khẳng định chắc chắn rằng: “quân đội nhân dân Việt Nam là do đảng cộng sản Việt Nam thành lập, tổ chức và lãnh đạo” trong bài viết “Quân đội không thể và không nên trung lập về chính trị – Lịch sử đã cảnh báo” [1] đăng trên tạp chí cộng sản đã nhấn mạnh: “Quân đội đó, trước hết là do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập; là một bộ phận cấu thành của Đảng và trước tiên là để thực hiện các mục tiêu chính trị và quân sự của Đảng”. Còn ở bài viết “Không có quân đội đứng ngoài chính trị” [2], trung tướng Nguyễn Tiến Bình tiếp tục khẳng định “Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện”.

Như vậy, khi những quan điểm đó được khẳng định trên Tạp Chí Cộng Sản (cơ quan lý luận chính trị của trung ương đảng cộng sản Việt Nam) và trên báo Quân Đội Nhân Dân (cơ quan của quân ủy trung ương và bộ quốc phòng, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam), đảng cộng sản Việt Nam đã công khai thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của đảng, hoàn toàn không phải quân đội quốc gia nên không thể phi đảng phái hóa, tuyệt đối không thể đứng ngoài chính trường và phục vụ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân.

Sự khẳng định quyền sở hữu quân đội vào thời điểm này có thể được xem như một bất ngờ lớn. Sự khẳng định này sẽ đem đến nhiều hệ lụy khôn lường cho đảng cộng sản.

Khi khẳng định quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng, được đảng tổ chức và rèn luyện. quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng thì quân đội đó sẽ không được sử dụng lãnh thổ Việt Nam cho các hoạt động của mình, không được sử dụng ngân sách quốc phòng trích từ tiền thuế do nhân dân đóng góp. Bên cạnh đó, công dân Việt Nam không phải đảng viên hoặc cảm tình đảng có quyền hợp pháp từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự với một đội quân của một tổ chức chính trị.

Đặc biệt, khi công khai quyền sở hữu quân đội, đảng cũng gián tiếp thừa nhận quân đội nhân dân Việt Nam là cú lừa lịch sử với dân tộc khi đội quân này không phải do nhân dân thông qua đại diện của mình thành lập tổ chức nhưng bao nhiêu năm qua lại sử dụng tiền thuế của nhân dân cho các hoạt động của mình. Nếu vẫn giữ lập trường cũ, đảng sẽ phải giải trình, hoàn trả toàn bộ tiền thuế theo tỷ giá hiện hành và chịu trách nhiệm trước nhân dân vì sự lừa dối đó. Ngoài ra, đảng cộng sản cũng sẽ phải đối mặt với việc kiện tụng đòi bồi thường những mất mát của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam khi ép buộc họ thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc, đổ xương máu cho một đội quân không phải đại diện cho quốc gia mình.

Hơn nữa, khi không phải là quân đội quốc gia, với những hoạt động trong quá khứ, quân đội nhân dân Việt Nam có thể bị cộng đồng thế giới xem như một lực lượng khủng bố, rất có khả năng phải hứng chịu những cáo buộc liên quan tới tội ác chống lại nhân loại và điều đó đồng nghĩa với việc sẽ hứng chịu những lệnh cấm vận triệt để từ Liên Hợp Quốc.

Công khai không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, hiến định sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng với quân đôi, đảng đã tạo ra một tiền lệ không hay. Khi chiếu theo nguyên tắc bình đẳng, thì tất cả đảng phái khác, các hội đoàn, tổ chức chính trị đều có quyền thành lập quân đội. Khi đó, Việt Nam sẽ thành một chiến trường cho các đội quân đó thi thố. Trớ trêu thay, đội quân nào cũng có thể xưng danh quân đội nhân dân Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy, cái giá của việc công khai quyền sở hữu quân đội là quá đắt với đảng. Không lẽ, những nhà lý luận quân sự của đảng lại không thấy điều đó? Hay, cái giá đó chính là “chi phí cơ hội” mà đảng sẵn sàng chấp nhận vì những mục đích lớn hơn ẩn phía sau những lời khẳng định ấy?

Điều gì khiến đảng cộng sản Việt Nam phải chơi một ván bài với chi phí cá cược cao đến như thế, khi cuộc chơi trên chính trường Việt Nam vẫn là màn độc diễn của đảng? Để làm rõ điều này, cần phải xem lại những biến cố và thách thức gần đây với thượng tầng đảng cộng sản Việt Nam.

Chưa bao giờ, quyền lực của đảng bị thách thức như hiện nay, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích (giai cấp?!) nằm trong đảng đã vô hiệu hóa quyền lực đầu não của đảng là bộ chính trị. Thực tế, tại hội nghị trung ương 6, nhóm lợi ích đã kết vòng hoa tang tiễn đảng với bản chất là một tổ chức chính trị vào dĩ vãng. Làm được điều tưởng chừng như không thể ấy, họ đã có sự giúp đỡ không thể tuyệt vời hơn với sự trở cờ của quân đội, điều mà những lãnh đạo bảo thủ trong đảng không ngờ tới. Thế nên, sẽ chẳng có gì bất ngờ khi những lãnh đạo đó tận dụng khoảng thời gian mà đối thủ đang tơi tả để đưa quân đội với tư cách công cụ bạo lực của đảng về phía mình, sẵn sàng cho những cuộc chơi chính trị tiếp theo.

Kinh tế Việt Nam đang có dấu hiện sụp đổ do khủng hoảng kinh tế kéo dài cùng với sự lãnh đạo kém cỏi của đảng. Tình trạng này có thể thổi bùng những bất mãn xã hội đã tích tụ bấy lâu nay, châm ngòi cho các cuộc đấu tranh của nhân dân. Kinh nghiệm từ Liên Xô và các nước Đông Âu đã chỉ ra rằng, quân đội sẽ đứng về phía nhân dân khi áp lực từ phong trào dân sự đủ lớn. Mất quyền kiểm soát quân đội, chính phủ các nước cộng sản này nhanh chóng sụp đổ. Cũng cần phải thấy rằng, tại các nước cộng sản đã sụp đổ trước đây, quân đội đã mất niềm tin vào đảng cầm quyền khi nhận thức được vấn đề chính của quốc gia. Điều này khiến các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa còn rơi rớt lại làm tất cả mọi cách để giữ quyền kiểm soát quân đội, cột chặt quân đội quốc gia vào ý thức hệ của mình, qua đó chi phối, sử dụng công cụ bạo lực trong vấn đề đối nội nhằm giữ quyền lực trước những biến cố có thể xảy ra. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ, khi tính chính danh của quyền lực bị thách thức nghiêm trọng, bởi ngoài sử dụng bạo lực để duy trì quyền lực liệu còn phương pháp nào tối ưu hơn?.

Thế nên, để giữ quyền lực tuyệt đối, với những đặc quyền đặc lợi không tưởng thì cái giá bị xem là quá đắt ấy, khi chưa thật sự có một đối thủ xứng tầm thách thức xem ra cũng đáng để chấp nhận. Nhưng về lâu dài, kiểu chơi dao này sớm muộn cũng dẫn tới đứt… mạng.


Khẳng định tử huyệt: Đảng ôm bom


Khẳng định quân đội là công cụ bạo lực của riêng mình, đảng sẽ có những ưu thế lớn trong cuộc chiến giữ quyền lực. Thế nhưng, ưu thế đó chỉ mang tính thời điểm. Khi phong trào dân sự đủ mạnh, ưu thế bạo lực đảng đang có sẽ trở thành quả bom ngay trong lòng đảng. Đó không đơn thuần là một quả bom thông thường mà sẽ là một quả bom hạt nhân, với sức công phá khủng khiếp đủ để đưa đảng vào dĩ vãng.


Đảng đang siết chặt chiếc thòng lọng ý thức hệ vào quân đội, nhưng hiệu quả của chiếc thòng lòng đó gần như con số không với ngay cả đảng và các quân nhân xuất thân bình dân trong quân đội. Có chăng, chỉ là trao thêm quyền lợi và quyền lực cho nhóm tướng tá lãnh đạo và các sỹ quan xuất thân “hoàng gia” (COCC). Điều này không giải quyết vấn đề chỗ dựa cho đảng trong cuộc chiến quyền lực, bởi khi để các lãnh đạo quân đội tham gia quá sâu vào chính trường, trao quá nhiều quyền lực cho nhóm tướng lĩnh lãnh đạo thì càng tạo thêm nguy cơ tiềm ẩn về quyền lực của đảng. An ninh quyền lực chưa chắc được đảm bảo thì có thể đối diện với bất ổn vì suy cho cùng, dù lãnh đạo quân đội có là một gã thất phu đi chăng nữa thì gã vẫn có súng.

Vấn đề của quân đội, nếu xem xét kỹ còn trầm trọng hơn vấn đề của đảng, quân đội đã tha hóa trầm trọng, năng lực chiến đấu kém cỏi, tham nhũng, chạy chức chạy quyền tràn lan từ thượng tầng tướng lĩnh tới tận cấp phân đội. Cơ chế quản lý lỗi thời đã tạo điều kiện cho quân đội tha hóa, thì việc để quân đội làm kinh tế đẩy lực lượng tha hóa tới mức không thể cứu chữa. Quân đội làm kinh tế đã tạo ra những tên tư sản lưu manh mang quân hàm và súng. Đây chính là kíp nổ chính của quả bom mà đảng đang cố gắng ôm.

Ngoài ra, mâu thuẫn của nhóm sỹ quan “hoàng gia” mang nhiều đặc quyền đặc lợi với đại bộ phận quân nhân xuất thân bình dân, sống với mức thu nhập chỉ đủ thoi thóp trong cơn bão giá cũng là một nguy cơ tiềm ẩn. Khẳng định “quân đội là một bộ phận cấu thành của đảng” thì mâu thuẫn bắt nguồn từ đó, sẽ khiến đảng đi tới con đường sụp đổ nhanh nhất. Khi sức mạnh chính của quân đội không nằm ở ý thức hệ, cũng không phải từ đám sỹ quan con ông cháu cha mà ở đám đông quân nhân bình dân kia. Bất mãn của đội quân đó đã được kiểm nghiệm tại các chính thể đã sụp đổ ở Đông Âu, gần đây nhất là quân đội Iraq thời Saddam Hussein hay quân đội Libia của Gadafi, trước các biến cố mang tính thời đại, họ đã quay súng trở về với nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang đối lập, đẩy nhanh hơn quá trình sụp đổ của chế độ.

Sự chuẩn bị đưa quân đội thống nhất làm một bộ phận của đảng đã được các bộ phận có liên quan thực hiện một cách tỉ mỉ, từ việc áp dụng nghị quyết 51 của bộ chính trị về chế độ chính ủy trong quân đội, đến các bài báo xuất hiện dày đặc trên loại hình báo chí chính thống và bản dự thảo hiến pháp bổ sung sửa đổi hiến pháp năm 1992. Dù vậy, đảng cũng không thể lường hết những rủi ro mà mình sẽ phải hứng chịu. Vấn đề sống còn của đảng nằm ở yếu tố quân đội và chấp nhận đánh bài ngửa bằng lá bài quân đội. Xem ra, lần này đảng đang như một vị vua già quẫn trí.

Điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, đã cố ý bỏ cụm “nhà nước xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng” từ điều 46 hiến pháp năm 1992 với dụng ý gì? [3] Phải chăng là một màn tung hỏa mù, gây lẫn lộn trong danh xưng quân đội quốc gia hay quân đội của tổ chức chính trị. Cụm từ “Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng” trong điều 71, bản dự thảo sửa đổi hiến pháp, có thể được dự trù để trong trường hợp khi cần có thể ngụy xưng quân đội quốc gia, khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích cho đảng có thể công khai thừa nhận là quân đội của đảng nên tuyệt đối trung thành vì lợi ích của đảng.

Nên nhớ rằng, nhân dân là chủ thể đóng thuế để nuôi toàn bộ bộ máy nhà nước, trong đó một phần tiền thuế được trích ra để nuôi quân đội quốc gia. Việc điều hành công việc của quốc gia dù do bất kỳ cơ quan nào cũng phải chiếu theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Chỉ duy nhất nhân dân thông qua đại diện của mình là quốc hội mới có quyền thành lập, tổ chức, xây dựng quân đội lấy danh nghĩa quân đội quốc gia, được phép sử dụng ngân sách của nhà nước, được quyền sử dụng không phận, hải phận và địa phận cho các hoạt động hợp pháp của mình. Nếu hiến pháp cố tình viết một cách mù mờ như vậy, thì công dân ai cũng có quyền xây dựng quân đội, khi đó e rằng đảng có kịp vứt quả bom kia hay không?


Vì thế, khi đảng đã không thể tự điều chỉnh, không thể thay đổi được chính bản thân của đảng thì việc đảng lạm dụng bạo lực, lôi kéo quân đội về phía mình để chiến thắng chỉ mang tính hiện tượng, nhất thời. Còn về lâu dài, chính đảng sẽ chết ngay trên tử huyệt của mình dẫu có ra sức che dấu, củng cố hay ngụy biện. Có lẽ, đó là con đường và cái kết không thể tránh khỏi của bất kỳ một chính thể đọc tài nào thành hình, tồn tại dựa trên bạo lực và sợ hãi.

Nguyễn Tâm Linh
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Mỹ 'gặt hái' gì sau cuộc chiến Iraq

4.500 lính Mỹ thiệt mạng, 32.000 binh sĩ bị thương cùng với chi phí lên tới trên ba nghìn tỷ USD,
là những thống kê về cuộc chiến mà Mỹ phát động tại Iraq. Một thập kỷ trôi qua, nước Mỹ có được gì từ cuộc chiến này?

Image
Khói lửa bốc cao ở Baghdad trong màn mở đầu của cuộc chiến Iraq 10 năm trước. Ảnh: AFP
Khi kỷ niệm 5 năm cuộc chiến Iraq (19/3/2008), Tổng thống Mỹ George W. Bush nói rằng dù cái giá phải trả là rất đắt, nhưng “đây là cuộc chiến Mỹ có thể và phải thắng”. Ông còn nói thêm rằng: “Tôi vẫn còn phải đấu tranh, cả về tâm lý và thể chất, về những thiệt hại nó gây ra đối với tôi cũng như với vô số người khác”.

Ngày 19/3 năm nay là ngày kỷ niệm 10 năm cuộc xâm lược “sốc và kinh hoàng” và hơn một năm tiểu đoàn cuối cùng của quân Mỹ rút khỏi nước này. Tuy nhiên, theo điều tra dư luận của Trung tâm nghiên cứu Pew, chỉ có 4 trên 10 người Mỹtừng tham chiến ở đó tin vào những lý do tiến hành cuộc chiến tranh có thể biện minh cho sự tổn thất về máu và của cải của nước Mỹ.

Khoảng gần 4.500 lính Mỹ đã bị giết và trên 32.000 lính bị thương, bao gồm hàng nghìn trường hợp bị thương nặng ở đầu và cột sống. Số thương vong của người Iraq thậm chí còn được cho là lớn kinh khủng: trong khoảng từ 100.000 đến 600.000 người. Phí tổn của cuộc chiến có thể vượt con số ba nghìn tỷ USD.

Trong khi cuộc chiến ở Iraq đã chấm dứt, sự hy sinh của các cựu chiến binh vẫn tiếp tục diễn ra trong thế giới dân sự mà họ luôn thấy mình “xa lạ” và cô lập.

Ann Weeby, là người sinh ra ở thành phố Boyne, Michigan, được phái sang Iraq ngay từ ngày đầu cuộc chiến và được biên chế vào sư đoàn không vận số 101 lúc đó dưới sự chỉ huy của thiếu tướng David Petraeus đóng tại Mosul, phía bắc Iraq.

Cô Weeby nhớ lại: “Mục tiêu của chúng tôi là tìm bằng chứng vũ khí giết người hàng loạt (WMD) và truy lùng Saddam Hussein”.

“Sau khi không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt và Saddam bị bắt, tôi không nghĩ là sự hiện diện quân sự của Mỹ lại kéo dài như vậy”, Weeby nói thêm.

Trích dẫn một thống kê đáng lo ngại mới được công bố gần đây của Bộ Cựu chiến binh, Weeby nói: “Lính Mỹ hiện đang phải chịu đau khổ, và trong một số trường hợp họ đang chết, bởi vì sự tồn đọng khiếu lại ở Bộ Cựu chiến binh đã ngăn cản không cho họ được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (tâm thần). Hiện nay mỗi ngày có hai mươi hai cựu chiến binh Mỹ tự tử!".

Ông Leon Panetta, cựu bộ trưởng bộ quốc phòng, phát biểu với lính Mỹ ở Baghdad trước khi họ rút về nước với lập luận rằng nhiệm vụ cốt lõi của lính Mỹ lúc đó đã được hoàn thành. “Chắc chắn giá phải trả là rất cao. Nhưng những người đó không hy sinh vô ích. Họ đã khai sinh ra một nước Iraq độc lập, tự do và có chủ quyền”, Panetta nhấn mạnh.

Toby Dodge, một nhà phân tích tại viện nghiên cứu Chatham House có trụ sở ở Anh cho rằng Iraq đã biến thành một nhà nước cảnh sát có cảm tình với Iran. Đó là nơi mà các tay súng người Sunni và những kẻ đánh bom khủng bố của lực lượng al-Qaeda dường như thoải mái đánh phá, giết hại hàng trăm người mỗi tuần. Kết luận của ông Dodge là: 10 năm sau khi thay đổi chế độ ở Iraq, không có gì thay đổi cả.

Trong một báo cáo viết cho Chatham House, Dodge nhận định: “Cuộc sống của những người thường dân Iraq, về mặt quan hệ với nhà nước và kinh tế, hiện rất giống tình hình họ phải đối mặt ở đất nước này trước khi có sự thay đổi chế độ”.

Rất nhiều cựu chiến binh từ cuộc chiến Iraq thừa nhận rằng họ đã chiến đấu vì những người đồng đội của mình chứ không phải là cho việc xây dựng bất kỳ một “hòn đảo dân chủ” nào trong thế giới Arab.

Robert Contreras, người hai lần sang chiến đấu ở Iraq, đã trở về nước để hoàn thành bậc học cao đẳng, nơi mà anh đã cố gắng hòa nhập với các bạn sinh viên khác, nói: “Câu hỏi chung nhất mà tôi thường gặp là tôi đã bao giờ giết người chưa.”

“Về cá nhân mà nói, tôi không phải đến đó để chiến đấu cho Iraq. Tôi đến đó để bảo vệ những người cùng tôi chiến đấu, với tất cả khả năng của mình”, Contreras nói, để trả lời câu hỏi liệu cuộc chiến thắng lợi hay thất bại.

Contreras cũng phát triển những triệu chứng của bệnh rối loạn stress sau sang chấn (PTSD). “Tôi thường bị hồi hộp khi ở những nơi đông người và không thấy thoải mái ở tất cả mọi nơi, trừ khi ở nhà”, anh nói.

Các cựu chiến binh như Weeby và Contreras đã tìm ra cách chữa bệnh cho mình để tạo ra những ý nghĩ tích cực từ kinh nghiệm sau cuộc chiến ở Iraq, cũng là để đối phó tốt hơn với một số nghi vấn dai dẳng về tương lai của Iraq. Cách của họ là kết thân với những đồng đội cựu chiến binh khác.

Weeby là một người ủng hộ tích cực đối với những cựu chiến binh khu vực Vịnh San Francisco trong khi Contreras làm việc trong Hội cựu chiến binh Iraq và Afghanistan (IAVA), một tổ chức phi lợi nhuận đầu tiên và lớn nhất, đại diện cho các cựu chiến binh trong hai cuộc chiến tranh đó.

Cả hai hiện đang ở thủ đô Washington và tham gia cuộc tiến công “Bão táp tại quốc hội”, gây sức ép buộc quốc hội Mỹ giải quyết những vấn đề cơ bản của cựu chiến binh, ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp 9,4% và chương trình y tế bị thu hẹp.

Weeby tâm sự: “Trở về nước với một nhận thức mới về cuộc sống và tự do, tôi đã quyết tâm cống hiến sự nghiệp của mình cho việc giúp đỡ những đồng nghiệp khác”.

Các tư lệnh quân đội Mỹ có thể lập luận rằng cuộc chiến ở Iraq đã mang lại những thay đổi quan trọng ở đó. Người Iraq ngày nay khá hơn khi không còn Saddam Hussein và chí ít họ đã giành được một nền dân chủ non trẻ cũng như tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc.

Tuy nhiên, tròn 10 năm kể từ sau cuộc chiến “sốc và kinh hoàng” dự định mở đường cho một nước Iraq được giải phóng, cũng như một “chiến lược chuyển tiếp của tự do” dự định sẽ tràn ngập khắp khu vực Trung Đông, những người Iraq giờ đây lại trở thành nạn nhân của hết làn sóng bạo lực sắc tộc này đến làn sóng bạo lực khác. Và rất nhiều “chiến sĩ giải phóng” Mỹ đang phải chiến đấu cho sự sống còn của chính bản thân họ ngay tại quê nhà.

Phạm Ngọc Uyển
(theo NBC News)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Hiến pháp: Con dao hai lưỡi

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)


Các quốc gia trên thế giới có rất nhiều điểm khác nhau. Khác về địa lý. Về diện tích. Về dân số. Về kinh tế. Về văn hoá.
Về chế độ chính trị. Về sức mạnh quân sự. Về chỉ số dân chủ, minh bạch cũng như hạnh phúc.
Rất nhiều. Hầu như chỉ có một điểm chung dễ thấy nhất: Nước nào cũng có hiến pháp.
Không có hiến pháp thành văn thì có hiến pháp bất thành văn (như trường hợp Anh, Israel và New Zealand).
Không những phổ biến, hiến pháp còn là một điều khẩn cấp và thiết yếu:
Trong thời hiện đại, bất cứ quốc gia mới nào được ra đời - từ nội chiến hoặc từ sự tan rã của chế độ thực dân hay, gần đây,
chế độ Cộng sản - cũng đều xem việc viết hiến pháp là một trong những công việc được ưu tiên hàng đầu.


Image
Quốc Hội Việt Nam, nơi có quyền sửa đổi Hiến Pháp quốc gia. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/GettyImages)
Tính chất phổ biến, khẩn cấp và có vẻ như thiết yếu ấy cho thấy hai mặt tích cực và tiêu cực của hiến pháp.

Tích cực: Hầu như ở đâu người ta cũng nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của hiến pháp.

Tầm quan trọng ấy thể hiện ở mấy điểm chính:

Thứ nhất, hiến pháp là khung pháp lý căn bản nhất để xây dựng cấu trúc của các thiết chế chính quyền với những cơ quan và những chức danh lớn nhất - những nơi có nhiều quyền hành nhất trong một quốc gia.

Thứ hai, hiến pháp là cơ sở tạo nên tính chính đáng của nhà cầm quyền. Nó giống như lễ rửa tội cho một chế độ. Được hiến pháp công nhận, trên nguyên tắc, là được nhân dân trong nước và được quốc tế công nhận. Có thể nói, hiến pháp và việc thực thi theo hiến pháp, làm cho giới lãnh đạo vừa có thẩm quyền (authority) vừa có quyền lực (power).

Thứ ba, hiến pháp là nền tảng và là tiêu chí để dựa theo đó nhà cầm quyền soạn thảo các bộ luật khác nhằm điều hành đất nước cả trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại. Không có nền tảng và tiêu chí chung ấy, không thể có sự nhất quán trong các chính sách; không có sự nhất quán, chế độ không thể có một bản sắc riêng được.

Thứ tư, hiến pháp nêu lên một số lý tưởng và giá trị mà cả dân tộc đồng thuận và theo đuổi không những trong hiện tại mà còn cả trong tương lai. Những lý tưởng và giá trị ấy vừa có chức năng tạo nên bản sắc cho quốc gia vừa có chức năng nối kết các công dân lại với nhau thành một cộng đồng. Chính ý niệm về bản sắc và sự nối kết ấy là những thành tố quan trọng trong việc tạo nên sức mạnh của đất nước.
Thứ năm, hiến pháp là khế ước giữa những người cai trị và những người bị trị.

Trong khế ước ấy, những người cai trị biết được giới hạn quyền lực của mình và những người bị trị chấp nhận vị thế bị trị của mình: Một mặt, họ thừa nhận quyền lực của giới lãnh đạo; mặt khác, họ tự nguyện tuân thủ các quy định trong hiến pháp.

Một hiến pháp lý tưởng, trong một quốc gia dân chủ thực sự, thường bao gồm các yếu tố chính:

Một, nhắm đến mục tiêu chính là giới hạn quyền lực của giới lãnh đạo. Quyền lực bao giờ cũng có khuynh hướng trở thành độc tôn và sẵn sàng chà đạp lên người khác. Hiến pháp được đặt ra, trước hết, là để ngăn chận tình trạng lạm quyền và lộng quyền ấy. Nó ngăn chận bằng cách đặt ra những quy trình đi đến quyền lực, sự phân bố quyền lực, những giới hạn của quyền lực và những sự kiểm soát nghiêm nhặt mà những người có quyền lực phải chấp nhận.

Hai, nhắm đến mục tiêu bảo vệ những người bị trị. Xin lưu ý: Hiến pháp, tự bản chất, được viết là để nhằm bảo vệ những người bị trị chứ không phải bảo vệ những người cai trị. Giới cai trị không cần được bảo vệ: Họ đã có sẵn mọi quyền lực để tự bảo vệ họ. Chỉ có những người bị trị, những người dân thường, những người có quyền (right) và đã ủy thác thẩm quyền (authority) cho những kẻ có quyền lực (power), mới cần được bảo vệ, trước hết và quan trọng hơn hết, bảo vệ quyền sống như một con người, quyền tự do như một cá nhân và quyền ủy thác như một công dân (thể hiện qua việc bầu cử một cách tự do, minh bạch và bình đẳng).

Ba, những giá trị được đề ra trong hiến pháp phải có tính chất phổ quát, nghĩa là đặt trên nền tảng tôn trọng nhân quyền với ba nội dung chính là: tôn trọng sự bình đẳng của con người, tôn trọng quyền tự do của cá nhân và tôn trọng quyền tham gia của mọi công dân trong quá trình điều hành đất nước.

Bốn, nó là một sự chỉ dẫn và cũng là một sự bảo đảm cho một hệ thống pháp quyền (rule of law) thực sự. Quan hệ giữa hiến pháp và pháp quyền là một quan hệ hai chiều: Hiến pháp tăng cường sức mạnh cho pháp quyền và pháp quyền, ngược lại, làm cho hiến pháp có hiệu lực và giá trị. Không có hiến pháp (thành văn hoặc bất thành văn), pháp quyền sẽ không có nội dung cụ thể, từ đó, không có ý nghĩa. Không có pháp quyền, hiến pháp chỉ là những sự tuyên truyền suông.

Ở trên là những ý nghĩa tích cực của hiến pháp. Nhận ra ý nghĩa ấy, trong thời hiện đại, hầu như mọi chính trị gia, một cách thực lòng hay chỉ giả vờ, đều bày tỏ sự quan tâm đến hiến pháp. Đó là lý do chính giải thích tính chất phổ thông, khẩn cấp và có vẻ thiết yếu của hiến pháp ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, chính sự kiện nước nào cũng có hiến pháp, dân chủ có hiến pháp, đã đành; độc tài cũng có hiến pháp, và hiến pháp của họ có khi cũng rất hay, cho thấy là hiến pháp không nhất thiết gắn liền với dân chủ, tự do, nhân quyền và pháp quyền. Bản hiến pháp Mỹ năm 1789 đã trở thành nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ ở Mỹ, và từ đó, ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Nhưng cũng với các bản hiến pháp dày cộm và đẹp đẽ trên tay, Stalin, Hitler và Mao Trạch Đông đã giết chết cả hàng chục triệu người, không thua kém bất cứ tên bạo chúa khát máu nào trong lịch sử nhân loại, kể cả ở các thời chưa từng có ý niệm hiến pháp. Trong ba người vừa kể, hầu hết các nạn nhân của Stalin và Mao Trạch Đông đều là chính dân chúng nước họ, những kẻ, trên nguyên tắc, được xem là đồng-tác giả của hiến pháp nước họ.

Điều đó cho thấy, một, tuy trên lý thuyết, hiến pháp ra đời cùng với ý niệm dân chủ, nhưng trên thực tế, tự bản thân nó, hiến pháp không là gì cả; và hai, hiến pháp có những mặt tiêu cực: được/bị sử dụng như một công cụ để trấn áp nhân dân.

Hiến pháp được/bị sử dụng cho những mục tiêu xấu như thế nào?

Thứ nhất, nó chỉ nhắm đến mục đích trao quyền nhưng lại làm ngơ trước vấn đề phân quyền và hạn chế quyền lực. Bằng cách ấy, nó chỉ có tác dụng củng cố chế độ độc tài và toàn trị.
Thứ hai, với dân chúng, nó chỉ đặt ra vấn đề bổn phận và trách nhiệm nhưng lại không nhấn mạnh vào các quyền chính trị, xã hội và pháp lý của họ. Bằng cách ấy, nó tước đoạt các quyền căn bản của người dân, biến dân chúng thành những tên nô lệ hiện đại nhằm phục vụ cho giới cầm quyền tham lam và tàn bạo.

Thứ ba, ngay cả khi được viết bằng một thứ ngôn ngữ rất tiến bộ, phù hợp với các yêu cầu chung trên thế giới, nhưng nếu không được thi hành, một bản hiến pháp cũng không có giá trị gì trừ việc trở thành cái cớ pháp lý để chính quyền đàn áp nhân dân.

Trong ba mục tiêu trên, hai mục tiêu đầu có thể được nhìn thấy ngay trên văn bản; mục tiêu thứ ba chỉ có thể được nhìn thấy bằng cách phân tích chu cảnh chính trị (political context) của quốc gia. Ở khía cạnh này, Việt Nam cũng giống hầu hết các quốc gia độc tài khác, thường sử dụng hiến pháp như một cách để biện chính cho quyền lực của mình và để tạo thế chính đáng cho chế độ của mình. Khi họ biết dân chúng đánh mất niềm tin ở họ, khi trong nước càng ngày càng có nhiều người phản đối họ, họ bèn bày vẽ ra chuyện viết lại hoặc sửa đổi hiến pháp, sau đó, thông qua hiến pháp để có thể lu loa với mọi người, trong cũng như ngoài nước, là họ đã được nhân dân ủy thác cả thẩm quyền và quyền lực. Tệ hơn nữa, sau đó, họ có thể sử dụng hiến pháp ấy như một công cụ để trấn áp dân chúng và duy trì sự độc tài của mình.

Nói hiến pháp là một con dao hai lưỡi là vì thế.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Từ Cyprus đến Syria

Hùng Tâm/Người Việt

Trận đấu Nga-Đức trên đảo Cyprus
Sau khi đã mất cả ngàn tỷ Euro trong bốn năm qua để chuộc nợ cho các nước bị khủng hoảng, đa số ở miền Nam, khối Euro có thể bị lại khủng hoảng nữa vì Cộng hoà Cyprus thiếu một ngân khoản rất nhỏ là gần sáu tỷ Euro.

Chính quyền Cyprus trù tính huy động số tiền đó bằng cách đánh thuế trên tiền ký thác ngân hàng nên gây hốt hoảng cho cả thế giới trong mấy ngày qua. Sau cùng thì đề nghị bất thường này bị Quốc hội Cyprus bác bỏ, không có được một phiếu ủng hộ dù là từ đảng cầm quyền. Quyết định ấy của Cyprus đẩy lãnh đạo của khối Euro vào bế tắc và sẽ là thời sự đầy bất an trong những ngày tới.

Nhưng, xuyên qua vụ khủng hoảng bất ngờ, người ta còn thấy ra một điều bất tường có hậu quả sâu rộng hơn là một hồ sơ kinh tế tài chánh: Cộng hoà Liên bang Đức gây áp lực để Cộng hoà Cyprus (mà nhiều người Việt trong nước phiên âm là "Cộng hoà Síp") phải tìm ra sáu tỷ Euro như phần hy sinh của mình song song với 10 tỷ mà các nước đã thỏa thuận để cấp cứu. Từ quyết định ấy, Chính quyền Cyprus mới tính đến việc đánh thuế trên tiền ký thác vào các ngân hàng Cyprus. Nhưng vì một số khá lớn của các khoản ký thác này lại đến từ Liên bang Nga nên mâu thuẫn Nga-Đức đã ngấm ngầm bùng nổ vì vụ khủng hoảng tại thủ đô Nicosia của Cyprus.

"Hồ sơ Người Việt" sẽ tìm hiểu về những mắc mứu kỳ lạ này.

Khủng hoảng Cyprus

Cyprus là một hòn đảo nằm tại hướng cực Đông của biển Địa Trung Hải, phía Đông của Hy Lạp và phía Nam của Turkey, sát với khu vực Trung Đông. Với diện tích gần 10 ngàn cây số vuông và dân số khoảng một triệu mà 77% là người gốc Hy Lạp, Cyprus là một xứ nghèo của Âu Châu, đã gia nhập Liên hiệp Âu châu từ năm 2004 và khối tiền tệ thống nhất Âu Châu từ năm 2008, có sản lượng kinh tế bằng nửa phần trăm của khối Euro, trị giá chừng 24 tỷ Mỹ kim, hay hơn 20 tỷ Euro (hồ sơ này tạm dùng hối suất một Euro ăn 1.30 Mỹ kim cho dễ nhớ).

Như mọi xứ nhỏ nằm giữa một vùng giao lưu của quốc tế (Singapore, Thụy Sĩ hay Hong Kong), Cyprus cũng phát triển thành một trung tâm tài chánh và tổng số tài sản của các ngân hàng cao gấp bảy hay gấp tám sản lượng kinh tế. Do hoàn cảnh địa dư và sắc tộc, các ngân hàng Cyprus giao dịch mạnh với thị trường Hy Lạp nên xứ này lãnh hậu quả từ những biến động tài chánh tại Hy Lạp và các nước bị khủng hoảng tại miền Nam (Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha).

Nhược điểm kinh tế của Cyprus là khả năng cạnh tranh kém trong khi các khoản nợ công và tư cứ tăng đều, rồi xứ này bị vạ lây từ vụ chấn động tài chánh của khối Euro. Sau nhiều dự án viện trợ vào các năm 2008-2009, đầu năm 2012, Cyprus được Liên bang Nga cho vay một ngân khoản trị giá hai tỷ rưỡi Euro để đắp vào khoản bội chi ngân sách và trang trải một số nợ đáo hạn.

Đến giữa năm 2012, Cyprus cầu cứu các định chế Âu Châu để được chuộc nợ trong khuôn khổ của hai chương trình ổn định tài chánh Âu Châu. Ba định chế được gọi là "tam đầu chế" gồm có Hội đồng Âu châu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Trung ương Âu châu ECB, đã cứu xét lời yêu cầu của Cyprus và mất nhiều tháng đàm phán để đi tới một kế hoạch cứu nguy, trong đó có cả điều kiện giảm chi, tăng thuế, chấp nhận khắc khổ, v.v... Được công bố cuối Tháng 11 năm ngoái, kế hoạch đã bị dân chúng và các đảng phái cánh tả phản đối và khủng hoảng kinh tế lan rộng thành khủng hoảng chính trị.

Ngày 16 vừa qua, các tổng trưởng tài chánh của khối Euro đã thoả thuận với Tam đầu chế là Hội đồng Âu châu, IMF và ECB về một kế hoạch cứu nguy khác: Âu Châu sẽ cung cấp 10 tỷ Euro để Cyprus chuộc nợ, với điều kiện là Chính quyền Cyprus tại Nicosia cũng phải chia sẻ một phần gánh nặng và huy động được sáu tỷ Euro. Việc huy động bằng cách đánh thuế trên tiền ký thác vừa được đề nghị là gây chấn động toàn cầu và bị Quốc hội Cyprus bác bỏ hôm 19 vừa rồi.

Nhưng vì sao chuyện ấy của Âu Châu lại liên quan đến nước Nga và vì sao Moscow đã tung ra hai tỷ rưỡi để cấp cứu Nicosia?

Dân Cyprus và tiền Nga

Cyprus liên quan chặt chẽ với Hy Lạp nên kinh tế và ngân hàng bị chấn động vì khủng hoảng tài chánh Hy Lạp. Nhưng do vị trí địa dư và quan hệ lịch sử, Cyprus cũng có 18% dân số là người Thổ của xứ Turkey. Mâu thuẫn giữa Turkey và Hy Lạp đã gây khó khăn cho Cyprus từ những năm 1960-1970. Khi dân Thổ tại miền Bắc Cyprus đòi ly khai và thành lập một nước riêng vào năm 1974 thì chỉ có Turkey công nhận, đó là Cộng hòa Turkish tại Miền Bắc Cyprus (Turkish Republic of North Cyprus).

Chuyện ấy đã rắc rối, nhưng còn rắc rối hơn nữa là mối quan hệ tài chánh và ngân hàng của Cyprus với nước Nga, có từ thời Liên bang Xô viết và càng sâu đậm hơn sau khi Liên Xô tan rã.

Ngay trong thời Chiến tranh lạnh – trước 1991 – Moscow đã có quan hệ thân hữu với Nicosia vì Cyprus là một ngả giao lưu và đầu cầu cho Liên Xô đi vào vùng biển ấm của miền Nam. Trong vụ tranh chấp với Turkey về nước Cộng hoà TRNC, quan điểm của Nicosia được Moscow ủng hộ và Cyprus là một cơ sở tình báo và tài chánh cho các tổ chức Xô viết ở Địa Trung Hải.

Sau khi Liên Xô tan rã từ cuối năm 1991, Cyprus trở thành trung tâm tài chánh cho các đại gia Xô viết và tài phiệt Nga tẩu tán tài sản và rửa tiền. Trong số các trương chủ ký thác tiền bạc vào hệ thống ngân hàng của Cyprus, có rất nhiều thân chủ là tài phiệt Nga. Đấy là một chuyện, vì tài sản của Nga trong các ngân hàng này có thể lên tới 31 tỷ Euro trong tổng số được ước lượng là 68 tỷ. Đây chỉ là phần ước lượng thôi vì khó ai biết được tông tích của các thân chủ đặc biệt này.

Năm 2009, Moscow đã từng đề nghị cho Nicosia vay tiền để chuộc nợ với điều kiện là cung cấp thông tin về những người giàu có của nước Nga đã qua gửi tiền hoặc rửa tiền tại Cyprus.

Ngoài chuyện tiền bạc, một lý do ly kỳ không kém là Cyprus có thể mua hỏa tiễn phòng không loại S-300 mà Liên bang Nga không bán được cho xứ khác. Không chỉ là trung tâm rửa tiền, Cyprus còn là kho chứa võ khí phế thải của Nga! Lý do chiến lược hơn vậy là Cyprus khó gia nhập Minh ước phòng thủ Bắc Đại Tây Dương vì quan điểm của Turkey, một thành viên của Minh ước NATO, và vì lập trường thân Nga của Nicosia.

Vì thế, với Liên bang Nga, Cyprus có thể là một đầu cầu chiến lược cho Moscow.

Vai trò ấy càng trở thành giải pháp khi Liên bang Nga đang mất một đầu cầu khác cho hạm đội Hắc hải của mình là quân cảng Tartus của Syria. Nội chiến tại Syria khiến Nga có thể mất cửa khẩu Tartus nên lãnh đạo Moscow nhìn vào đảo Cyprus với con mắt khác.

Ngần ấy lý do tài chánh và an ninh khiến Moscow chú ý đến Cyprus. Điều ấy cũng giải thích vì sao Tổng thống Vladimir Putin đả kích quyết định đánh thuế của Cyprus là "bất công, không chuyên nghiệp và nguy hiểm". Thủ tướng Dmitri Medvedev gọi đó là "một biện pháp tịch thu tài sản của thiên hạ" và tỷ phú Mikhail Prokhorov của Nga còn cảnh báo rằng đấy là một tiền lệ đáng ngại vì xâm phạm vào quyền tư hữu của người khác. Do phản ứng gay gắt của Nga là Bộ trưởng Tài chính Cyprus đã phải bay qua Moscow hôm 19 để giải thích, và cũng để bàn lại về khoản tiền hai tỷ rưỡi mà Nga đã cho Nicosia vay.
Nhưng vấn đề còn phức tạp hơn vậy vì vai trò của Cộng hoà Liên bang Đức!

Tiền Đức và nợ Nga

Mọi người đều có thể ngạc nhiên là vì sao Cyprus lại lấy một quyết định kỳ lạ và phi lý là tịch thu tài sản của các trương chủ ký thác. Nhưng nếu tìm hiểu sâu xa hơn, chúng ta còn thấy ra nhiều điều kỳ lạ hơn thế.

Trong bốn năm khủng hoảng của khối Euro, Cộng hoà Liên bang Đức đã chi tiền rất bộn để cứu lấy đồng bạc Âu châu và quyền lợi kinh tế của mình, như một nước xuất cảng mạnh nhất. Cứu lấy đồng Euro cũng có nghĩa là chuộc nợ cho bốn nước lâm nạn ở miền Nam (và một xứ ở miền Bắc là Ireland). Nhưng Đức chỉ có thể làm như vậy khi các nước kia chấp nhận hy sinh và các chủ nợ cũng chịu một phần thiệt hại.

Thủ tướng Angela Merkel phải xoay trở với bài toán quốc tế này, trong khi dư luận ở nhà và cử tri trong cuộc bầu cử vào Tháng Chín tới đây cũng đặt vấn đề là vì sao họ lại phải hy sinh cho các chế độ bao cấp và vô trách nhiệm ở miền Nam. Đấy là lý do khiến Berlin gây áp lực rất mạnh với Nicosia về kế hoạch cấp cứu, kể cả biện pháp huy động đâu đó sáu tỷ Euro để bổ xung cho 10 tỷ của Âu châu.
Chìm sâu hơn bên dưới là vai trò của Nga. Có lý gì mà dân Đức phải mất tiền cứu Cyprus để bảo vệ tiền bạc mà tài phiệt Nga đang gửi gấm tại đảo quốc này không?

Nhìn trên tổng thể, chúng ta thấy ra một khía cạnh khác của vấn đề. Đức và Nga đều đang chi tiền viện trợ cho Cyprus, mỗi nước theo một cách và vì một mục tiêu riêng.

Berlin muốn Nicosia chấn chỉnh chi thu, cải tổ hệ thống ngân hàng và kinh doanh, kể cả cho nước ngoài giám định lại giá trị tài sản của các ngân hàng và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước để nâng cao khả năng cạnh tranh. Moscow cho Nicosia vay tiền để nâng tầm ảnh hưởng chiến lược của mình, bảo vệ quyền lợi của trương chủ người Nga trong khi cũng giúp mình điều tra các ông trùm tham nhũng đã tẩu tán tài sản vào ngân hàng Cyprus. Và y như bài toán của bà Merkel, Putin không muốn bị dân chúng than phiền là châm tiền cho Cyprus để bảo vệ tài sản của các tài phiệt tham ô.

Trên trận địa cấp cứu Cyprus, Moscow còn muốn trở thành một đối tác của Liên hiệp Âu châu và có thể nói chuyện ngang ngửa với Berlin. Chuyện đáng nói hơn thế là các nước Âu châu cũng đang gây áp lực rất mạnh về vai trò mờ ám của Liên bang Nga tại Syria. Moscow tiếp tục viện trợ võ khí cho chế độ Damascus tàn sát người dân và tấn công các lực lương dân chủ.

Như chưa đủ nhức đầu, người ta không quên rằng Đức là quốc gia nhập cảng khí đốt từ Nga và là khách hàng lớn nhất của Nga về loại năng lượng chiến lược này. Bây giờ, do áp lực của Đức mà Cyprus lại xâm phạm vào tài sản của dân Nga và đẩy lui ảnh hưởng của Moscow tại Nicosia thì vấn đề không chỉ là đồng Euro.

Kết luận ở đây là gì?

Sự đời rắc rối vô lường!

Khủng hoảng của đồng Euro sẽ còn kéo dài, Cyprus có thể ra khỏi khối Euro. Nhưng nếu vì vậy mà càng nghiêng về Liên bang Nga thì đấy sẽ là chuyện khác.

Thủ tướng Đức gặp khó khăn và có thể thất cử nếu không làm cho dân Đức hiểu ra sự thể về nhu cầu tung tiền cấp cứu đồng Euro. Trong bối cảnh ấy, quan hệ Đức-Nga sẽ gặp nhiều thử thách và chúng ta nên theo dõi thượng đỉnh giữa Tổng thống Putin và Thủ tướng Merkel vào ngày mùng bốn tháng tới.

Khi nào thấy ngân hàng Gazprombank của tập đoàn năng lượng Gazprom của Nga lên tiếng hoặc tung tiền vào cấp cứu Cyprus thì chúng ta sẽ tìm hiểu thêm trong một "Hồ sơ Người Việt" khác!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

“Tôi Kết Tội”

Bùi Tín (Blog VOA)


“Tôi kết tội!” là đầu đề nổi bật của một bài viết trên nhật báo Pháp L’Aurore (Bình Minh), ra sáng ngày 13 tháng 1 năm 1898 ở Paris,
của nhà văn kiêm nhà báo Emile Zola. Bài báo dài 4.500 chữ, chiếm hoàn toàn trang nhất và phần lớn trang 2 của số báo này.

Đã hơn một thế kỷ qua, bài báo này vẫn được truyền tụng như một dẫn chứng về sức mạnh xã hôị của một bài báo bênh vực hữu hiệu
cho những kẻ bị đối xử oan ức, bất công, có thể đảo ngược một vụ án phi lý, giải oan cho một sỹ quan lương thiện bị kết tội tù chung thân,
sau khi nhà báo Emile Zola bỏ công điều tra tỷ mỷ vụ việc và trình bày mạnh mẽ chính kiến ngay thật của mình trên mặt báo,
buộc nhà nước phải xem xét nghiêm minh lại vụ án lớn này.

Image
Trang bìa tờ báo L’Aurore, có bài “Tôi Kết Tội.”
Tất cả các giáo trình đào tạo các nhà báo trẻ ở phương Tây đều lấy bài báo này làm một tài liệu học phụ sinh động về hiệu quả xã hội của nền báo chí dân chủ, đấu tranh cho công bằng xã hội, chống độc đoán và bất công, từ dó khẳng định sức mạnh của thông tin báo chí là quyền lực thứ tư của quốc gia.

Tóm tắt câu chuyện như sau: Vào năm 1894, viên sỹ quan pháo binh Pháp gốc Do Thái Alfred Dreyfus làm việc taị Bộ Tham mưu bị tố cáo phản bội tổ quốc, cung cấp bí mật quốc gia cho một tùy viên quân sự trong đại sứ quán Đức ở Paris. Alfred Dreyfus bị tòa án quân sự kết tội phản quốc, tuyên án tù chung thân, và đày đi L’Ile du Diable (Đảo Quỷ) tại Guyane thuộc Pháp.

Một bằng chứng để tòa kết tội là thẩm định chữ viết của anh ngoài bì thư gửi cho tòa đại sứ Đức. Trước tòa, anh một mực kêu oan. Em trai anh là Mathieu Dreyfus và vợ anh Lucie cũng một lòng kêu oan cho anh.

Trước khi bị đi đày, tại sân Trường Quân sự anh buộc phải chịu lễ tước quân hàm và tước vũ khí , thanh kiếm của anh bị bẻ gãy, tiêu biểu cho sự ô nhục của kẻ phản bội.

Hơn hai năm sau, năm 1887, Trung tá Georges Piquart, trưởng ban điều tra, nắm được chứng cứ xác minh kẻ phạm tội chính là Đại úy Walsin Esterhazy chứ không phải là Alfred Dreyfus. Nhưng vì sợ trách nhiệm, cả Bộ Quốc phòng, Bộ Tham mưu và toà án quân sự không muốn thay đổi kết luận vụ án, buông thả theo xu hướng chống Do Thái còn khá mạnh hồi ấy. Trung tá Georges Piquart bị điều sang Phi Châu xa xôi để giữ kín chuyện mới phát hiện. Các vị chức sắc còn dựng lên một phiên tòa quân sự chớp nhoáng để xét xử qua loa kẻ tội phạm thật sự là Đại úy Walsin Esterhazy và tuyên bố trắng án, tha bổng cho viên sỹ quan này vào ngày 11/1/1898.

Hai ngày sau, bài báo của Emile Zola xuất hiện, bán vèo 200 ngàn số một buổi sáng, một kỷ lục chưa từng có . Tít chỉ có 3 chữ, “Tôi kết tội!” - Thư ngỏ gửi Tổng thống Félix Faure - gây ấn tượng mạnh. Nhưng không phải có kết quả ngay.

Thế lực quân đội còn mạnh. Họ phản kích, lu loa là bị vu cáo vô căn cứ, có lúc Emile Zola phải lánh sang London, Anh Quốc. Tháng 2/1898, họ mở tòa án xử nhà báo Emile Zola về tội vu khống, nhưng ngay sau đó, trưóc sự phẫn nộ của công luận, chính quyền đành phải lùi bước, đưa ra xét lại toàn vụ án bởi một tòa án dân sự tối cao vào tháng 6/1899, theo đúng yêu cầu của nhà báo.

Công bằng đựơc thực hiện, pháp luật được tôn trọng, người oan được phục hồi danh dự, tội phạm bị trừng phạt, sau 5 năm diễn biến phức tạp, do sự can thiệp của một nhà báo, công dân Emile Zola.

Sỹ quan công dân Alfred Dreyfus được tự do, được cứu khỏi chết thảm trong tù, được phục hồi danh dự khi vừa tròn 40 tuổi, đoàn tụ với cô vợ Lucie từng vận động hết mình cho ngày trở về của chồng.

Emile Zola viết bài báo này trong 2 ngày, khi ông 59 tuổi, điểm lại một cách trung thực toàn bộ diễn biến của vụ án, với lương tâm nghề nghiệp trong sáng, trên tinh thần công dân có trách nhiệm.

Ông viện dẫn bộ Luật về tự do báo chí 29/7/1881 để xác định nghĩa vụ và quyền hạn của người làm báo và viết báo. Ông truy cứu tỷ mỷ thận trọng bộ Luật hình sự để nhận định mỗi nhân vật liên quan đến vụ án và đến việc xử án, cuối cùng ông lên tiếng đanh thép kết tội 10 người có trách nhiệm trong việc xử án không công minh, từ Tướng Mercier, Tướng Boisdeffre và Tướng Gonse thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Tham mưu, đến Tướng de Pellieux, Tư lệnh Rewary và Trung tá Paty de Clam khi tham gia xét xử, cho đến 3 chuyên viên Belhomme, Varinard và Couard khi giám định chữ viết của tội phạm.

Ông cũng kết tội 2 báo L’Éclair (Ánh chớp) và L’Echo de Paris (Tiếng vang Paris), đã cố tình thông tin sai lạc về vụ án. Cuối cùng ông kết tội gắt gao Hội dồng xử án của giới quân sự đã không ngang tầm trách nhiệm và yêu cầu vụ án phải được xét xử lại từ đầu bởi một tòa án dân sự có trách nhiệm và có trình độ cao.

Trong bài viết, Emile Zola đã chỉ rõ nền tư pháp độc lập xét xử công bằng mọi công dân chỉ chiếu theo luật, không theo chỉ thị của một cá nhân nào, là kết quả xương máu của biết bao chiến sỹ hy sinh cho nền cộng hòa, không cho phép ai tước đoạt. Để tạo thêm sức mạnh cho bài báo, bạn bè đồng nghiệp đã thu được 1.482 chữ ký dưới bài báo của ông để công bố và gửi cho Tổng thống Félix Faure. Việc này đã thúc đẩy công lý.

Mong rằng gần 20 ngàn đồng nghiệp trong làng báo Việt Nam có dịp đọc bài báo này để hiểu rõ thêm trách nhiệm công dân của người làm báo, trách nhiệm bảo vệ cuộc sống của bạn đồng nghiệp Nguyễn Đắc Kiên vừa bị đuổi việc vì có ý kiến khác với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Không ai có thể ngồi yên trước những chuyện phi lý, người vô tội bị bịt miệng, giam cầm, kẻ phạm tội chồng chất vẫn ung dung tung hoành trong tự do.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Một Lớp Trẻ Hai Cuộc Đời

Tác giả : Vi Anh
Hai tin trong tuần đáng suy nghĩ về ảnh hưởng của chánh quyền đối với lớp trẻ Việt Nam là tương lai của đất nước.

Tin truyền hình VHN- TV ngày 21 tháng Ba năm 2013, “Học sinh gốc Việt vô địch Spelling Bee”. Em James Phạm, một trẻ em Mỹ gốc Việt 12 tuổi, học sinh lớp 6 trường Patton, đoạt giải quán quân kỳ thi đánh vần năm thứ 26 do Học Khu Garden Grove tổ chức. Garden Grove là một thành phố người Việt ở đông nhứt Quận Cam ở tiểu bang Cali, trung tâm của Little Saigon, nơi người Việt thân thương gọi là thủ đô tinh thần của người Việt hải ngoại.

Thật là một niềm vui dân Việt. Trong hội trường của Trung Tâm Edgar, trước mặt của Luật Sư Nguyễn Quốc Lân, phó chủ tịch học khu chủ toạ, và hơn 100 phụ huynh, thầy cô và hiệu trưởng Mỹ, Việt, Hoa, Hàn hiện diện chứng kiến, Ông Alan Trudell, phát ngôn viên của Học Khu Garden Grove, tuyên dương thành quả của Em James Phạm: “Em James Phạm đánh vần đúng chữ 'adolescence,' chữ quyết định ngôi vị vô địch đánh vần, dẫn đầu tổng số 10,500 thí sinh từ lớp 4 đến lớp 6 của học khu tham dự kể từ phần vòng loại tại các trường của Học Khu Garden Grove.”

Như đã biết đây là một cuộc thi gay cấn đòi hỏi vận dụng trí nhớ nhanh, nghe, phát âm, viết chánh tả chuẩn xác, đánh vần đúng thời lượng phát, phải thắng 46 thí sinh khác đại diện của mỗi trường. Khi nghe giám khảo đọc một chữ, thí sinh phải đọc và viết trên bảng cá nhân. Em nào đánh vần và viết sai sẽ bị loại ngay.

Sau các vòng loại còn James Phạm, 12 tuổi, trường Patton, và Silayan Camson, 11 tuổi, trường Stanley. Cả hai đều là học sinh lớp 6. Cuộc tranh tài tay đôi này vô cùng căng thẳng. Những chữ chánh tả khó như “raspberry, delicatessen và xylophone” người Mỹ Trắng có khi nói nghe ào ào, nhưng khi viết hay đánh vẩn còn phải suy nghĩ, ráng nhớ. Nhưng hai em đều đánh vần đúng, nhanh. Đến chữ thứ 47, chữ 'adolescence thì James Phạm đoạt chức vô địch như phát ngôn viên tường trình thành tích ở trên.

Phân thưởng khiêm tốn nhưng rất quí báu về tinh thần: một bằng tưởng lục cho cá nhân và một cúp luân lưu để trưng bày tại trường, cho tất cả học sinh trong năm tới trầm trồ khen ngợi.

Tin thứ hai là tin của BBC tiếng Việt ngày 21 tháng 3 năm 2013 liên quan đến cuộc du khảo của một kỹ sư chuyên về tin học của công ty Tin Học cả thế giới đều biết là Google tìm hiểu về kiến thức tin học của trẻ em học sinh VN, với tựa đề “Học sinh VN làm kỹ sư Google 'ấn tượng'.”

Tin phân tích của BBC viết Neil Fraser, kỹ sư phần mềm của Google rất cảm kích về khả năng của học sinh VN, sau khi du khảo một số trường học để quan sát trình độ tin học của học sinh từ lớp 2 đến lớp 11 tại Việt Nam. Nhận định của Ông viết trên trang blog cá nhân của kỹ sư này: khả năng của học sinh VN giỏi hơn học sinh Mỹ.

Nhưng về bối cảnh học đường VN, kỹ sư Neil Fraser nhận thấy “Cơ sở vật chất để đào tạo cho ngành tin học ở Việt Nam vẫn còn rất thiếu thốn”. Ông khen trẻ em VN thông minh và thương trẻ em VN, Ông chia xẻ thiếu thốn của trường học, đến đổi kỹ sư “Neil dùng phần lớn thời gian ở Việt Nam để viết phần mềm tặng cho trường học”. Ông thấy "Tất cả mọi thứ đều phải nén vào đĩa CD, vì nhà trường không đủ tiền để lắp đặt Internet có đường truyền tốt." "Vì không đủ ngân sách, trường chỉ có thể thuê một giáo viên tin học. Tôi hỏi họ, lương giáo viên là bao nhiêu. Và họ trả lời là 100 đôla một tháng. "Vậy là tôi chạy ra ATM rút tiền, và tặng họ một giáo viên mới cho một năm nữa." theo lời Ông trần thuật.

Hai tin này cho thấy giá trị của tự do, dân chủ và của chánh quyền của dân, vì dân, do dân quan trọng thế nào trong việc phát triễn của lớp trẻ. Lớp trẻ người Việt đang tiểu học ở Việt Nam và ở Hoa kỳ về tâm sinh lý đâu có khác nhau bao nhiêu, cùng nguồn gốc chủng tộc, cùng thành phần cha mẹ, ông bà Việt. Chỉ có cái khác nhau là môi trường chánh trị, giáo dục, xã hội, khác biệt đó làm những người trẻ đồng trang lứa này khác nhau.

Kể ra lớp trẻ Mỹ gốc Việt gặp khó khăn về ngôn ngữ là phạm trù chánh, đầu và quan trọng trong việc thăng tiến hơn bạn đồng trang lứa của mình ở VN. Ở Hoa kỳ, tiếng Anh theo kiểu Mỹ (American English) là chuyển ngữ trong giáo dục, hành chánh, luật pháp, khoa học kỹ thuật và tiếp nhân xử thế chánh yếu ngoài xã hội. Thế mà nhờ nền giáo dục được chánh quyền đầu tư nhiều và nhờ tự do, dân chủ mà một em bé Việt có thề xuất sắc trong việc đọc, viết, nghe, nói chuẩn xác đúng tiếng Anh Mỹ như em học trò James Phạm nói ở trên.

Mở rộng tầm nhìn ra sẽ thấy nhờ giá trị tự do, dân chủ, và chánh quyền của dân, mà tập thể người Việt định cư thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội ở Mỹ nhiều và cao hơn đồng bào ở nước nhà VN nhiều. Người Mỹ gốc Việt đa số là dân tỵ nạn CS, mất tất cả, tài sản vật chất và tinh thần, văn bằng, thâm niên, qua Mỹ với hai bàn tay trắng. Nhưng chỉ hơn 30 năm, người Việt trở thành một cộng đồng sắc tộc Việt tỉ lệ người có nhà, đậu đại học, kinh doanh vừa và nhỏ cao, tham chính qua đường dân cử, công cử, thi cử trong đủ mọi ngành quân, dân, cán chính của Hoa kỳ.

Trong khi đó lớp trẻ ở VN học với chuyển ngữ tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ dễ dàng, đầu óc cũng ham học, thông minh như bạn Việt ở Mỹ. Nhưng nhà cầm quyền thiếu đầu tư trong giáo dục nên không phát triễn được như bạn bè bên Mỹ. Dưới cái nhìn của một nhà giáo thương yêu tuổi trẻ (có thương lớp trẻ mới chọn nghề sư phạm được), không biết bao nhiêu Socrate, Einstein, Edison, Molìère, Beethoven đã mai một vì VN thiếu lớp, thiếu trường, thiếu thầy, thiếu sách giáo khoa, thiếu học cụ, thiếu cập nhựt hoá chương trình theo đà tiến của thế giới.

Đến đổi một kỹ sư ngoại quốc như Kỹ sư Neil phải “dùng phần lớn thời gian ở Việt Nam để viết phần mềm tặng cho trường học” và phải “chạy ra ATM rút tiền, và tặng cho một giáo viên mới cho một năm nữa."

Thiết nghĩ những giới chức đang nắm chánh quyền VN dù là đảng viên, cán bộ CS cũng là người gốc Việt cũng nên tự vấn lương tâm, coi mình đã làm tròn trách nhiệm đối với lờp trẻ VN chưa. Mỗi năm cho 13.000 con cháu của đảng viên, cán bộ và những người ăn theo mới giàu đi du học Mỹ chưa đủ. Con số tỷ lệ quá nhỏ đối với hơn 90 triệu dân VN mà phân nửa là thành phần sanh sau Chiến tranh VN.

Muốn làm tròn trách nhiệm với lớp trẻ, tương lai của VN, không có gì khó, không cần phải bắt ai hy sinh ai cả. Chỉ cần cắt giảm những chi phí xa hoa, tiệc tùng, công xa, tuyên truyền khoa trương vô ích trên truyền thông đại chúng bên Nhà Nước và Đảng. Lấy số tiến đó đưa qua ngân sách của Giáo Dục để mở thêm trường lớp, thư viện, mướn thêm thầy (nếu cần mướn giáo sư ngoại quốc vào thỉnh giảng), thêm phụ cấp cho giáo chức đi tu nghiêp, hiện đại hoá phòng thí nghiệm, chương trình giáo dục là xong ngay.

Mỹ không có bà con dòng họ gì với VN, chỉ vì tình đồng loại mà còn chia xẻ kinh nghiệm với VN, muốn đất nước giàu mạnh, dân chúng văn mình, con đường giáo duc là con đường tắt, ngắn, nhưng phát triễn vững chắc nhứt – nên Mỹ trong chưa đầy một thập niên đã tăng số chiếu khán du học Mỹ cho VN lên 400%.

Thì tại sao nhà cầm quyền VN không đầu tư vào giáo dục, một đầu tư không phải một vốn bốn lời, mà “lời cả trăm năm” của cuộc đời một người được giáo dục.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt

Bản tin này trên trang Tiền Phong đã bị gỡ xuống.

Thanh Trung
(TP) - Tàu cá QNg 96382 TS của ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) vừa bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắn cháy rụi nóc cabin khi đang đánh bắt tại vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Bắn vào tàu của ngư dân Việt

Ngày 22/3, tàu cá QNg 96382 của thuyền trưởng Bùi Văn Phải (xã An Hải, Lý Sơn, Quảng Ngãi) cập về Lý Sơn trong cảnh tơi tả, cabin của tàu cùng nhiều đồ đạc cháy nham nhở.

Thuyền trưởng Bùi Văn Phải (25 tuổi), kể lại: Khoảng 10 giờ ngày 20/3, khi sắp kết thúc phiên đánh bắt tại khu vực đảo Lin Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu ông - gồm 9 ngư dân - đụng phải chiếc tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 786, sơn màu trắng xám.

Tàu sắt Trung Quốc liền hùng hổ đuổi theo. Thuyền trưởng Phải kéo ga chạy thật nhanh. Do nằm ở vị trí không có rạn san hô ngầm để lọt vào tránh né như mọi lần, ngư dân đành cho tàu chạy thẳng.

Bọn lính bên tàu tuần tra liên tục buộc tàu ngư dân dừng lại. Khoảng 30 phút sau, bất ngờ đạn lửa từ tàu tuần tra Trung Quốc (có thể là động tác cảnh cáo) bắt đầu nã sang ca bin tàu ngư dân của ta.

Hốt hoảng và bất ngờ, các ngư dân đang ngồi trước mũi thuyền liền đưa tay lên đầu la to. Nóc cabin bắt đầu bốc cháy ầm ầm. Tấm bạt nhựa trên cabin tan chảy để lộ ra 4 bình gas đang nằm giữa đống lửa rừng rực. Nếu không kịp thời dập tắt đám cháy thì có thể nổ tàu.

Ông Thạch, một ngư dân lớn tuổi, liền lao lên nóc ca bin, 8 ngư dân còn lại múc nước đưa lên chữa cháy. Lúc này chiếc tàu tuần tra Trung Quốc vội vã tháo lui.

Hiện trường tàu cá lúc trở về trên nóc cabin tàu là những chiếc bình gas cháy sém, mì tôm bắt lửa biến thành cơm cháy, quần áo thủng lỗ chỗ... Thuyền trưởng Phải cho biết, chi phí sửa chữa tàu chỉ vài chục triệu đồng, nhưng thiệt hại vì tổn phí chuyến biển lên đến hàng trăm triệu đồng.

Trung tá Nguyễn Văn Thanh, Đồn phó đồn Biên phòng Lý Sơn, cho biết, đơn vị đã chỉ đạo cho các đội nghiệp vụ thu thập hồ sơ để báo cáo về trên xử lý.

Đuổi bắt ngày càng gắt gao

Chuyện tàu tuần tra Trung Quốc rượt đuổi ngư dân ta ở Hoàng Sa thì như cơm bữa, nhưng theo thuyền trưởng Phải, gần đây, tàu tuần tra Trung Quốc trở nên hung hăng hơn.

Chuyến biển trước đó, tàu của thuyền trưởng Phải cũng bị truy đuổi rất căng thẳng. Khi ấy, tàu đang đánh bắt gần khu vực đảo Đá Lồi ở Hoàng Sa. Con tàu với 9 ngư dân men theo các đảo, để phòng trời đổ gió thì có chỗ núp.

Đến ngày thứ 7 ở Hoàng Sa, trong lúc thợ lặn đang hì hục dưới nước, ngư dân phát hiện có bóng dáng tàu tuần tra Trung Quốc màu sơn trắng. Anh em ngư dân lôi ông Hùng và ông Sáu đang lặn dưới nước lên thuyền.

Do lặn sâu nên các ngư dân cứ kéo lên vài mét thì phải dừng lại để thợ lặn không bị sốc. “5 phút để kéo thợ lặn nhưng lâu như 1 tiếng đồng hồ, bởi vì con tàu tuần tra cứ nhắm tàu mình xỉa tới” - ngư dân Thạch kể.

Hai chiếc tàu Trung Quốc chỉ trong nháy mắt đã đuổi kịp con tàu ngư dân Lý Sơn. Thuyền trưởng Phải còn nhớ, hai tàu của Trung Quốc mang số 262 và 263.

Hai chiếc tàu này vờn tàu ngư dân Việt Nam khoảng 40 phút. Con tàu cá nhỏ bé nép chính giữa cứ nổ máy chạy, kiên quyết không dừng. Chiếc tàu tuần tra bên trái rướn lên cản trước mũi thì chiếc bên phải hạ ga ép sau đuôi tàu ngư dân Việt Nam.

Thuyền trưởng Phải lập tức nhả ga, giật số, ghìm tốc độ, cho mũi tàu lắc sang một bên và tiếp tục cho tàu chạy nhanh. Cứ như thế, 2 con tàu sắt hùng hục lao theo thay phiên nhau cản mũi. Anh em ngư dân Việt kiên quyết không đứng lại.

Ngay khi cuộc rượt đuổi bắt đầu, các ngư dân tranh thủ cất giấu toàn bộ máy thông tin liên lạc, đề phòng tàu tuần tra bắt được thu giữ đồ nghề.

Sau khi chạy thoát, các ngư dân mở máy liên lạc ngay vào đất liền báo cáo cho trạm kiểm soát biên phòng An Hải, thông qua kênh thông tin của Đài Duyên hải miền Trung.

Tại xóm biển Châu Tân, xã Bình Châu (Bình Sơn), thuyền trưởng Bùi Văn Trung (tàu QNg 50949) trình bày với Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thận, cán bộ đồn Biên phòng Bình Hải về vụ việc ra Hoàng Sa bị Trung Quốc xua đuổi và thu tài sản.

Khi đó, các ngư dân cho tàu trụ bám tại đảo Xà Cừ gần đảo Trụ Cẩu để lặn bắt tôm và hải sâm. Ngày 17/3, tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 306 đã đuổi bắt tàu ngư dân. Để áp sát, chiếc ca nô trên tàu tuần tra được thả xuống và bám riết con tàu.

Một nhóm lính Trung Quốc nhảy lên tàu ngư dân khống chế chạy vào một cồn cát gần đảo rồi đập phá, lục soát, lấy đồ đạc. Dây lặn hơi bị chặt nát, máy định vị, máy dò bị lấy, nhiều đồ đạc bị quăng xuống biển. Tôm cá - thành quả 17 ngày đêm đánh bắt - bị hốt đổ sang tàu tuần tra.

Xót vì mất của, nhưng thuyền trưởng Bùi Văn Trung còn xót ruột hơn, khi từ đầu năm đến nay, những hòn đảo, cồn cát ở Hoàng Sa dù không có người ở nhưng Trung Quốc đều xây cột mốc và cắm cờ Trung Quốc.

Thanh Trung
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Những xác heo nổi trên sông

Ngô Nhân Dụng
Những xác heo nổi lên trên con sông Hoàng Phố chảy qua thành phố Thượng Hải là một hình ảnh làm xấu mặt một quốc gia và một chế độ. Đây là một quốc gia đang hãnh diện về những tiến bộ sau ba chục năm xóa bỏ kinh tế chỉ huy để thả cho dân kinh doanh theo lối tư bản. Đây là một thành phố lớn nhất và giầu nhất nước, với 23 triệu dân, đông hơn nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng trong hơn hai tuần qua, đã thấy hơn 16,000 xác heo trôi lềnh bềnh trên con sông, nguồn cung cấp nước uống, nước dùng cho dân chúng.

Những xác heo này phô bầy mặt trái của cảnh phồn thịnh tại Trung Quốc. Hoàng Phố là một chi lưu chảy vào Trường Giang (sông Dương Tử), sau khi phát xuất từ Thái Hồ, chảy qua các tỉnh Triết Giang và Giang Tô. Trên sông Hoàng Phố đã tìm thấy hơn 10,000 xác heo, trên các con sông nhánh hơn 6,000 xác nữa. Chính quyền Thượng Hải đã trấn an dân rằng nước sông lấy lên vẫn uống được, không nguy hiểm cho người dùng, có lẽ vì bệnh heo mang tên “porcine circovirus” không lây cho người. Nhưng dù người dân có cẩn thận đun sôi nước trước khi uống thì họ vẫn cảm thấy ghê ghê ngay cả khi dùng nước để rửa tay.

Tháng Giêng năm nay, dân cư bên dòng sông mới thấy xác heo trôi đã phải nhịn nước uống nhiều ngày sau khi một nhà máy thải chất benzene xuống dòng sông, hơn 20 người ngộ độc phải vào bệnh viện. Cũng trong tháng đó, ở tỉnh Quảng Đông gần 1,000 con heo phải đem giết và chôn sau khi phát hiện bị bệnh “mồm và móng.” Có lẽ các nhà nuôi heo ở Triết Giang thấy heo bị bệnh đã đem vứt xuống sông trước khi bị khám phá, để đỡ tốn tiền thuê người giết heo và chôn heo. Người dân phải tự hỏi không biết guồng máy y tế, cơ aun kiểm dịch gia súc của đảng cộng sản làm việc như thế nào mà để hàng chục ngàn xác heo trôi trên con sông chảy qua một thành phố lớn như vậy?

Tôi mới gặp một người bạn gốc Trung Hoa, đang làm giáo sư kinh tế học tại một đại học ở British Columbia, Canada; mỗi năm anh thường trở về lục địa Trung Quốc tuyển sinh viên từ nhiều thành phố. Anh nói không thể nào về nước dạy học được, vì môi trường sống quá xấu. Không cần nói tới những hình ảnh bụi, khói dầy đặc ở các đô thị như Bắc Kinh, Thiên Tân không thể nào thở nổi; theo anh, tai họa môi trường lớn nhất là nước bị ô nhiễm. Anh kể đã trở về nơi từng sống tại Vân Nam, khi cha mẹ anh bị tống khỏi Bắc Kinh, đầy đi lao động trong thời Cách mạng Văn hóa. Anh tìm lại cái hồ mà thủa nhỏ anh vẫn bơi lội dưới nước trong veo; nay thì cả hồ nước đục ngầu một mầu xanh, trông như đông quánh lại. Tại sao môi trường sống suy đồi như vậy? Lý do chính, theo anh, là bộ máy chính quyền chỉ lo cho chính họ, không lo cho đời sống của dân chúng.

Cảnh tượng 16,000 xác heo trôi sông khiến người dân Trung Hoa thấy rõ cảnh bất lực của chính quyền trong việc bảo vệ môi trường sống và bảo vệ sức khỏe của dân chúng. Sự bất lực đó là hậu quả của tình trạng cả bộ máy quyền hành chỉ do một đảng nắm giữ. Họ phân phát các chức vụ, địa vị cho các đảng viên. Chế độ độc quyền tạo nên một bộ máy cai trị không ai chịu trách nhiệm với người dân. Dân chúng không có quyền bỏ phiếu bãi miễn các quan chức, từ trên xuống dưới. Thái độ tự nhiên của các cán bộ là chỉ lo làm sao làm đúng chỉ thị của cấp trên, con đường duy nhất để được thăng tiến và tiếp tục hưởng các quyền lợi ưu đãi.

Hơn 16,000 cái xác heo trên sông Hoàng Phố sẽ khiến người dân Trung Hoa bình thường phải lo lắng và suy nghĩ, không những về môi trường sống mà cả về chế độ chính trị trên đất nước họ. Những xác heo nổi lên đúng vào dịp Trung Quốc trình diện chính phủ mới, có thể coi là một điềm báo động là người dân không thể tiếp tục sống dưới chế độ độc quyền chính trị mãi. Những vấn đề đe dọa uy tín của đảng Cộng sản đã tồn tại từ lâu, nếu không sớm giải quyết thì lòng kiên nhẫn chịu đựng của người dân sẽ đến lúc chấm dứt.

Môi trường sống suy đồi chỉ là một vấn đề. Nạn tham nhũng vẫn hoành hành, vụ vợ chồng Bạc Hy Lai nhanh chóng bị đưa ra tòa chỉ khiến người dân thấy còn rất nhiều quan chức cũng làm giầu bất chính như họ, nhưng chưa bị tố giác chỉ vì không nuôi tham vọng lớn và vội vàng quá như họ Bạc. Tình trạng bất công xã hội vẫn hiển hiện, con cái các quan chức ăn chơi phung phí với xe mới, quần áo, trang sức đắt tiền càng gây thêm bất mãn. Chênh lệch giầu nghèo giữa nông thôn và các đô thị vẫn được bảo vệ với chế độ hộ khẩu khiến hàng trăm triệu nông dân ra thành phố sống bị đối xử phân biệt không khác gì chế độ kỳ thị da trắng, da đen ở Nam Phi trước đây. Vấn đề nóng bỏng nhất cho hàng ngũ lãnh đạo mới là tốc độ tăng trưởng kinh tế bắt buộc phải giảm bớt, để cho nền kinh tế không quá lệ thuộc vào việc xuất cảng, trong khi dân tiêu thụ không được chiếu cố. Nhưng muốn cho kinh tế quân bình hơn thì phải gảm bớt không cho các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục vay những số tiền chung của quốc dân rồi không trả lại được. Việc cải tổ đó sẽ đụng chạm quyền lợi mà các cán bộ đương thụ hưởng.

Ông Lý Khắc Thành, tân thủ tướng, cố ý chứng tỏ ông không giống người tiền nhiệm. Trong cuộc họp báo đầu tiên, ông đã nói phải làm việc, thay vì hô hào suông. Rõ ràng, ông ám chỉ cựu thủ tướng Ôn Gia Bảo, người vẫn lên tiếng hô hào dân chủ hóa bao nhiêu lần nhưng không làm gì để người dân được thi hành các quyền dân chủ, ít nhất là trong việc bầu cử các quan chức địa phương. Người dân dù bị ngăn cản thông tin nhưng cũng biết là bà mẹ, bà vợ, các con, và anh chị em của Ôn Gia Bảo đã tích lũy được tài sản nhiều tỷ đô la Mỹ trong 10 năm ông ta cầm quyền. Lý Khắc Thành đã ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo từ mươi năm nay, làm phó thủ tướng từ năm năm, nhưng hiện nay tài sản rất khiêm tốn. Bà vợ ông là một nhà giáo, không tham dự vào việc kinh doanh nào cả; đó chắc là điều ông sẽ cố giữ. Ông còn bảo muốn làm trong sạch chế độ thì phải tự mình bắt đầu trong sạch đã; rồi nói rõ hơn: “Sau khi bước vào bộ máy công quyền, chúng ta phải chấm dứt không nghĩ tới việc kiếm tiền nữa.” Những ý kiến đó nhắm vào ông Ôn Gia Bảo, ai cũng thấy. Nhưng ông Lý Khắc Thành sẽ làm gì, trong năm, mười năm nữa người dân Trung Hoa mới biết.

Liệu dân Trung Hoa có đủ kiên nhẫn để chờ đời thêm 10 năm nữa hay không? Nhiều người nghĩ là không, vì xã hội đang thay đổi với 500 triệu người có thể hàng ngày vào internet theo dõi các tin tức. Một tầng lớp trung lưu đã thành hình, bắt đầu cảm thấy cuộc sống cần phải có tự do thì mới bảo đảm được tương lai. Theo kinh nghiệm lịch sử, khi kinh tế phát triển tới một mức đủ ăn, đủ mặc thì người ta sẽ đòi dân chủ hóa. Tất nhiên, không phải chỉ những nước mà kinh tế tiến đến hàng “trung lưu” mới dân chủ hóa, nhưng ở các nước mà người dân đã đạt được “lợi tức trung lưu” thì các phong trào đòi dân chủ lên cao. Trong số 31 quốc gia đã dân chủ hóa trong mấy chục năm cuối thế kỷ 20, có 27 nước kinh tế thuộc loại này.

Cuối thập niên 1980, lợi tức đầu người ở Nam Hàn là trên 6,500 đô la, ở Đài Loan là gần 8,000 đô la (cả hai đều tính theo lối PPP – purchasing power parity – để điều chỉnh theo giá sinh hoạt địa phương). Đó là thời kỳ dân hai nước này nổi lên đòi dân chủ. Năm 1999, lợi tức đầu người ở Nga cũng lên tới 9,000 đô la, ở Hungary tới 6,000 đô la. Cả hai nước cộng sản đó cũng bắt đầu tiến trình dân chủ hóa.
Hiện nay lợi tức bình quân của người Trung Hoa ở lục địa đã lên tới hơn 7,500 đô la. So với lợi tức của người Nam Hàn và Đài Loan thời 1988 thì vẫn còn thấp, vì đồng tiền bây giờ chỉ có giá trị bằng một nửa đồng tiền thời đó. Nhưng theo đà tăng trưởng hiện nay, đến năm 2017 thì lợi tức của dân lục địa sẽ lên tới 12,000, tới năm 2020 sẽ lên tới 15,000 đô la mỗi đầu người, tương đương với dân Nam Hàn và Đài Loan lúc họ bắt đầu bước vào chế độ dân chủ.

Năm 2017 sẽ có một đại hội của đảng Cộng sản Trung Hoa. Đó có thể là một thời điểm để dân chúng tạo áp lực trên nhóm lãnh đạo Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường ngay từ trước khi họp đại hội, đòi phải dân chủ hóa. Nhưng người ta không nhất thiết phải chờ đến lúc đó. Vì 16,000 xác heo chết nổi lềnh bềnh trên sông là một điềm xấu, cho thấy cả chế độ đã “ung thối” đến mức không thể nào che đậy được.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Mỹ quan ngại vụ Trung Quốc bắn tàu cá Việt Nam ở Biển Đông
Trà Mi (VOA) -

Hoa Kỳ lên tiếng bày tỏ quan ngại trước tin tàu Trung Quốc nổ súng nhắm vào một tàu cá Việt Nam gây hỏa hoạn tại khu vực quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông mà cả hai nước Việt-Trung đều dành chủ quyền.

Việt Nam ngày 25/3 tố cáo Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và đi ngược lại Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông khi cho tàu tuần tra truy đuổi và bắn cháy tàu cá của một ngư dân ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) hôm 20/3.

Trong cuộc họp báo thường kỳ ngày 26/3, quyền phó phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ông Patrick Ventrell, nhấn mạnh:

“Là một nước Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì hòa bình-ổn định, tôn trọng luật quốc tế, quyền tự do hàng hải và thương mại hợp pháp không bị cản trở tại Biển Đông. Vì vậy, chúng tôi cực lực phản đối việc bất kỳ bên nào đe dọa hay dùng võ lực trong việc giành chủ quyền ở Biển Đông.”

Đáp câu hỏi liệu Hoa Kỳ có xem việc Trung Quốc nổ súng vào tàu Việt Nam trên Biển Đông là hành động leo thang tranh chấp hay không, ông Ventrell nói:

“Hiện giờ chúng tôi đang điều nghiên vụ việc. Các vụ như thế này chứng tỏ nhu cầu cần phải có một bộ quy tắc ứng xử Biển Đông như chúng tôi từng nói trước nay để có thể giải quyết các sự cố kiểu này một cách minh bạch, dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, tại thời điểm này, chúng tôi vẫn đang tìm hiểu thêm thông tin về sự việc.”

Ông Ventrell cũng cho biết thêm rằng Hoa Kỳ muốn có thông tin thêm từ cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến vụ việc xảy ra hôm 20/3.

Các hình ảnh được báo chí Việt Nam phổ biến cho thấy tàu cá của thuyền trưởng Bùi Văn Phải ở Quảng Ngãi trở về đất liền trong tình trạng cabin và nhiều đồ đạc trên tàu bị cháy rụi.

Phát ngôn nhân Lương Thanh Nghị của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói “Đây là vụ việc hết sức nghiêm trọng, vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đe dọa tính mạng và gây thiệt hại tài sản của ngư dân Việt Nam.”

Ông Nghị cho biết chính phủ Việt Nam đã trao công hàm phản đối cho đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội và yêu cầu xử lý vi phạm và bồi thường cho ngư dân Việt.

Đáp lại, Bộ Quốc phòng Trung Quốc khẳng định tố cáo của phía Việt Nam là “hoàn toàn bịa đặt” và “vô căn cứ”.

Tàu cá bị Trung Quốc bắn cháy trở về đất liền trong tình trạng cabin và nhiều đồ đạc trên tàu bị thiêu rụi. ​​​​

Hãng thông tấn AP trích thông cáo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 26/3 nói tàu hải quân Trung Quốc bắn hai đợt pháo sáng vào bốn tàu cá Việt sau khi thổi còi, la hét, và đưa cờ hiệu yêu cầu các tàu Việt phải ngưng đánh bắt và rời khỏi khu vực mà Trung Quốc nhận chủ quyền nhưng tàu Việt Nam bất tuân.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói hai đợt pháo sáng bốc cháy trên không, lực lượng Trung Quốc không nổ súng vào tàu cá Việt Nam cũng như chẳng có tàu cá nào của Việt Nam bị bốc cháy cả.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc tố cáo ngược lại rằng tàu cá Việt Nam hoạt động bất hợp pháp trong vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa.

Vẫn theo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Bắc Kinh có quyền đuổi tàu cá Việt xâm nhập hải phận ra khỏi khu vực để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích hàng hải quốc gia.

Trước đó, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi, tuyên bố Bắc Kinh đã có hành động “hợp lý và chính đáng” chống lại tàu cá Việt Nam.

Ông Hồng Lỗi cũng đồng thời bác bỏ tin nói tàu Trung Quốc gây hư hại cho tàu cá Việt Nam.

Trà Mi
http://www.voatiengviet.com/content/my- ... 29569.html
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Hù Doạ Tự Diễn Biến

Trần Khải

Trong khi chính phủ mời gọi toàn dân góp ý sửa đổi Hiến Pháp, nhưng rồi đã lặng lẽ dùng mọi cách để hù dọa, quy chụp những người có ý kiến dị biệt.

Đặc biệt là Đảng CSVN liên tục kềm kẹp các thành phần cán bộ, đảng viên, quân nhân bằng nhiều cách.

Mới mấy tháng trước, ông Đại Tá Trần Đăng Thanh hù dọa cán bộ là đòi hỏi dân chủ là «sẽ mất sổ lương hưu»... Nghĩa là, lý tưởng tận cùng là sổ lương hưu, trong khi hàng chục triệu dân không biết gì tới chuyện hưu hay chính sách an sinh nào. Rồi tới quy chụp gần đây là “chống diễn biến, chống tự diễn biến”... Tại sao sợ như thế?

Tạp chí Cộng Sản trong bài viết ngày 22-3-2013 có tựa đề “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay” đã cho biết có một Hội thảo có tựa đề như thế, giành cho “hơn 200 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan đảng, các bộ, ngành ở Trung ương, các nhà khoa học tới dự Hội thảo.”

Trong bài Tổng thuật Hội thảo do Tạp chí Cộng Sản ghi lại, nói là “Ban Tổ chức Hội thảo nhận được 96 bản tham luận từ các nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo, quản lý các cấp, các nhà hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực, các địa bàn; các tướng lĩnh, từ các địa bàn trọng điểm rất nhạy cảm về tôn giáo, dân tộc tới các cơ quan quản lý người Việt Nam sinh sống và học tập tại nước ngoài...”

Nhận định cụ thể: Đảng CSVN cho rằng tất cả những gì muốn chuyển biến đều là âm mưu chủ nghĩa tư bản muôn đánh sập tiệm chủ nghĩa xã hội.

Bài này viết:

“Thuật ngữ “tự diễn biến” (TDB), “tự chuyển hóa” (TCH) chỉ thực sự xuất hiện gần đây sau chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống các nước xã hội chủ nghĩa và các nước có khuynh hướng tiến bộ không theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Bằng thủ đoạn chống phá, các thế lực thù địch tạo sự TDB, TCH từ bên trong nội bộ...” (hết trích)

Có thực như thế không? Việt Nam là nước đang theo chủ nghĩa xã hội sao? Hay đúng là đang theo chủ nghĩa tư bản man rợ, và là chủ nghĩa tư bản thân tộc vì lợi ích nằm thuần trong tay các dòng họ quyền lực ở Bộ Chính Trị?

Thế lực thù địch này ở chủ nghĩa tư bản? Có phải là Mỹ? Có phải là Liên Âu?

Không phaỉ rằng, chính Hoa Kỳ và Liên Âu đang hợp tác thương mại, và đầu tư loơn cho nền kinh tế VN?

Còn bạn bè nào ở chủ nghĩa xã hội? Không phải Trung Quốc đang lấn đất, lấn biển đó sao?

Để xem ông Tư lệnh ngành Công An nói gì... Bài viết kể:

“Theo Đại tướng, GS, TS. Trần Đại Quang (Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an), “tự diễn biến” là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong nội tâm người cán bộ, đảng viên trước những tác động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế. Trong đó, yếu tố tiêu cực và tư tưởng tư bản chủ nghĩa dần dần tăng lên; yếu tố tích cực, cách mạng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ chuyển sang hành động của chủ thể...”

Úi giời ôi, đấu tranh giữa tích cực và tiêu cực trong nội tâm người cán bộ? Có thật vậy sao?

Tại sao trong chế độ đa đảng, đa nguyên thì lại ít có chuyện tham nhũng, lãng phí, lạm quyền... chỉ vì lúc nào cũng có các đảng đối lập moi móc, lúc nào cũng có báo chí nói thẳng, nói thật.

Còn ở VN thì chỉ “đấu tranh... trong nội tâm cán bộ” thôi sao? Chứ còn những chuyện vẽ dự án, cướp đất của dân có phải là “trong nôi tâm” đâu.

Như thế, nếu thực sự Đảng CSVN tin như thế, tại sao lại sợ đối thoaị, nếu tự tin vào “lý tưởng sáng ngời Mác Lê” thì tại sao ngăn cấm các thông tin của người dân muốn mời gọi suy nghĩ khác đi.

Có bao giờ Tạp chí Cộng Sản dám đăng các thông tin như lời tuyên bố sau không, hiện nay đã có 8700 chữ ký, tính vào hôm 29-3-2013:

“Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do

Chúng tôi, những người khởi đầu ký tên sau đây, kêu gọi những công dân khác cùng với chúng tôi đồng tuyên bố:

1. Chúng tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà chúng tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành.

2. Chúng tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước.

3. Chúng tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc.

4. Chúng tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào.

5. Chúng tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Chúng tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản ban cho, nên đảng cộng sản không có quyền tước đoạt hay phán xét nó. Vì thế, chúng tôi có thể xem những lời phán xét nào nếu có hướng đến chúng tôi là một sự phỉ báng chúng tôi. Và chúng tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Xin hãy chung tay để cho LỜI TUYÊN BỐ CÔNG DÂN TỰ DO này trở thành sợi dây bền vững kết nối hàng triệu triệu trái tim Việt Nam. Xin cùng lên tiếng nói bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ email: tuyenbocongdantudo@gmail.com

Ngày 28 tháng 2, 2013” (hết trích)

Hãy cho tất cả cán bộ Đảng CSVN đọc, và thảo luận về Lời Tuyên Bố này từ những người dám nghĩ và dám nghe chỉ trích, kể cả dám chịu đàn áp.

Hãy để cho đời sau biết rằng 3 triệu đảng viên CSVN không phảỉ là những con lừa kéo xe bị bịt mắt để nhìn một chiều.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 11 guests