Page 93 of 187

Posted: Mon Jan 07, 2013 4:57 pm
by KýCóp
Dấu chỉ hùng hồn cho sự cáo chung của Đảng cộng sản!

Anthony Thiên Ân

(Danlambao) - Như vậy, sau gần hai năm giam giữ, cuối cùng nhà cầm quyền Việt Nam cũng phải đem 14 Thanh Niên Công Giáo Và Tin Lành ra xét xử vào ngày 8/1/2013 tới đây. Và một lần nữa, vở kịch bị ổi lại một lần nữa được dựng lên để kết tội những người con ưu tú của Mẹ Việt Nam.

Đã có rất nhiều người đặt câu hỏi rằng, tại sao nhà cầm quyền lại giam giữ những Thanh Niên này lâu như vậy? Câu trả lời đơn giản là: đội ngũ an ninh và công an điều tra Việt Nam đã vấp phải sự kiên cường của những người trẻ. Đến nỗi, trong bản cáo trạng của Viện kiểm soát tối cao VN Số: 09/VKSTC - V2 kí ngày ngày 18 tháng 9 năm 2012 đã phải tìm mọi cách để gán ghép tội danh hết sức vô lý và nực cười. Trong những điều đó, bản cáo trạng cũng đã nói rõ đối với trường hợp Blogger Lê Sơn. Anh đã từ chối khai báo, mà thật ra cũng chả có gì để khai báo. Vì ngay bản cáo trạng, VKSTCVN đã đưa ra lập luận để kết tội các thanh niên này là: đã tham gia các lớp Đấu tranh bất bạo động. Đây là một điều để phản ánh rõ hơn nữa bộ mặt phản tiến bộ của nhà cầm quyền VN hiện nay.

Chưa dừng lại ở đó, với đội ngũ an ninh, công an điều tra khét tiếng đầy sự gian ác và mưu ma xảo quyệt, họ đã làm cho biết bao người nhụt chí, đầu hàng. Nhưng với các Thanh Niên này, đội ngũ an ninh và công an điều tra của bộ công an VN đã thất bại. Trường hợp Sinh viên Trần Minh Nhật là một ví dụ. Với một người mới 24 tuổi đầu mà đã hiên ngang khảng khái tuyên bố trước mặt những viên an ninh bộ công an rằng “tôi không có tội nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì cứ tùy thích”. Đồng thời, Em đã từ chối luật sư bào chữa cho mình.

Kế đến là trường hợp can trường của Thanh Niên Đặng Xuân Diệu. Là người bị nhà cầm quyền gán ghép vi phạm vào khoản 1 của điều 79 BLHSVN, nghĩa là anh phải đối diện với mức hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, anh vẫn rất bình thản và hiên ngang tuyên bố trước mặt vị luật sư bào chữa cùng đội ngũ an ninh, công an điều tra rằng “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lí tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”.

Điểm qua một vài gương mặt tiêu biểu trong số 14 Thanh Niên sắp bị đem ra xét xử vào ngày 8/1/2013 tới để chúng ta thấy rõ hơn Đảng cộng sản Việt Nam đang ở rất gần của ngày cáo chung.

Xin chia sẻ với các gia đình Thanh Niên vì phải gánh chịu nhiều mất mát khi con cái, anh chị, em của mình đang phải hi sinh vì công cuộc chung. Bên cạnh đó, sự hi sinh của các Thanh niên kiên gan này là niềm vui chung của toàn dân tộc Việt Nam. Bởi sự gian ác của kẻ độc tài mang tên Đảng cộng sản Việt Nam đang phải run sợ vì trước cái chết được báo trước này.

Chúng ta, những người yêu mến công lý, tự do, dân chủ và phát triển hãy hướng về những thanh niên, hãy làm một việc gì đó nếu có thể trong khả năng của mình để cỗ vũ, bênh vực và sẻ chia với những tấm gương đáng trân trọng này trong ngày họ bị đem ra xét xử sắp tới tại Nghệ An.

Anthony Thiên Ân

Posted: Tue Jan 08, 2013 7:12 am
by buikiem
Kỹ nghệ tuyên truyền Cộng Sản

Minh Văn
(Danlambao) - Nhân có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Chỉ khi nào được chứng kiến sự việc thì chúng ta mới thực sự thấm thía và thấu hiểu nội tình. Không nên chỉ vì nghe một ai đó nói mà vội tin, nhất là trong xã hội Cộng Sản bấy giờ. Hãy xem họ làm gì và làm như thế nào, thay vì nghe họ nói như thế nào. Tốt nhất là kết hợp cả hai, để xem lời nói có đi đôi với việc làm hay không.

Gần đây trên toàn quốc, người ta thực hiện cái chương trình gọi là “Xây dựng Nông Thôn mới” do nhà nước đề xướng. Ban đầu họ nói với người dân rằng: Sẽ được dồn điền đổi thửa, thay vì những mẫu ruộng nhỏ bé trước đây thì bây giờ sẽ là những cánh đồng mẫu lớn thẳng cánh cò bay. Những máy móc hiện đại sẽ chạy tới lui trên các cánh đồng như thoi dệt. Sức lao động của con người sẽ được giải phóng, nhân dân chỉ việc giành thời gian rỗi để mà vui chơi và hưởng thụ cuộc sống.

Theo đó thì bức tranh “nông thôn mới” quả thực là sáng lạn. Ai cũng có cảm nghĩ như vậy khi nghe nhà nước nói. Lòng dân phơi phới và tràn đầy tin tưởng vào tương lai.

Ấy thế nhưng khi bắt tay vào “Xây dựng nông thôn mới” thì lòng dân như thế nào? Có thể nói họ như từ thiên đường hy vọng mà rơi xuống vực thẳm của sự thất vọng vậy. Người nông dân tưởng rằng, sau mấy chục năm phải sống cảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau” để nuôi đảng, thì nay mình thực sự được giải phóng và đổi đời. Hỡi ôi, nhưng khi nhà nước thực hiện cái chủ trương “vĩ đại” đó thì mới thấy người dân không được thêm cái gì cả, mà còn bị thiệt đơn thiệt kép. Nhà nước đã cho người dân tiếp tục xơi “quả lừa” như những gì trước đây họ vẫn làm với dân. Sau đây là vài mẫu đối thoại của người viết với những người dân nơi thôn cùng ngõ hẽm:

Tại mấy ngôi hàng nhỏ bán rau quả, các bà các chị đang xì xầm với nhau về chuyện chia ruộng “xây dựng nông thôn mới”. Người viết nghe họ nói vậy, cũng vui vẻ mà xen vào hỏi chị hàng rau:

- “Xây dựng nông thôn mới” thì người dân mình được gì hả chị?

- Chả được gì chú ạ, đã vậy mỗi người phải đóng thêm 170.000đ. Hộ nào nhiều người thì đóng càng nhiều.

- Vậy mình có được chia thêm ruộng không? Tổng thu nhập có được nhiều hơn?

- Không được nhiều tiền hơn, ruộng thì còn bị bớt đi chú ạ.

Bác hàng thịt thêm vào:

- Lại còn phải lao động công ích làm thủy lợi và đắp bờ nữa, chả thấy nhà nước cho dân cái gì, chỉ thấy dân mất thêm tiền và công sức thôi.

Thấy sự vô lý như vậy, người viết thắc mắc:

- Vậy thế họ nói “xây dựng nông thôn mới” là mới chỗ nào các bác nhỉ?

Cô hàng giò nói trong tiếng thở dài:

- Cái này chỉ có lên trung ương mà hỏi chú ơi, chúng tôi ở đây thì đành chịu thôi!...

Người viết toan hỏi nữa, nhưng chợt nhớ đến chuyện mấy người dân oan chỉ vì lên tận trung ương để tâu bày sự thật mà bị công an đánh đập và bắt giam nên đành thôi. Như vậy kể như cũng đã có câu trả lời đích đáng rồi.

Lần khác người viết lân la chơi nhà mấy người quen biết. Tại đây, mấy hộ dân đang tập trung làm đơn tố giác chính quyền lợi dụng chủ trương “xây dựng nông thôn mới” để cướp đất ruộng của dân. Họ xôn xao ra chiều bức xúc lắm, người nào cũng lớn tiếng phản đối. Sự thể là thế này: Chính quyền địa phương nói với người dân là cần làm một con đường lớn để xây dựng nông thôn mới. Vì con đường này đóng vai trò đưa máy móc cơ giới vào sản xuất nên rất quan trọng. Theo đó, đường sẽ được làm rộng 12m, người xe có thể qua lại thong dong. Điều quan trọng là người dân nghe được thông tin rằng, dọc hai bên đường chính quyền sẽ cho bán đất ở, cụ thể là mỗi lô đất có giá khoảng 300 triệu đồng. Mỗi sào đất có thể chia làm ba lô như vậy. Trong khi đó họ đền bù cho người dân có con đường đi qua với giá khoảng 800 ngàn đồng/sào. Người dân bấm ngón tay nhẩm tính: Nếu chính quyền bán theo giá đất ở, thì mỗi sào đất sẽ có giá gần một tỉ đồng, vậy là chính quyền có lãi cũng ngót ngần ấy tiền. Coi như đất của mình bị cướp không, thử tính xem: 1 tỷ so với 800 ngàn? Người dân nóng tiết như cua bị quẳng vào nồi nước sôi. Một cụ răng đã móm mém, vừa nhả khói thuốc lào mù mịt vừa nói lớn:

- Không thể có chuyện hôm qua đang là đất của mình, mà hôm nay lại của chính quyền được. Chỉ trong một đêm mà nhà nước kiếm được mỗi sào ruộng gần 1 tỷ bạc, họ không mất công sức gì cả. Như thế có phải họ kiếm tiền quá khỏe không?

Một cụ khác co ro trong áo nâu sồng, để lộ cơ thể khẳng khiu vì cả đời chống chọi với sương gió. Sau khi tu bát nước chè ừng ực, cụ khảng khái tuyên bố:

- Còn ruộng thì mình còn có cái ăn, bây giờ nhận mấy đồng tiền đền bù rồi sau này cả nhà lấy gì mà ăn. Việc làm thì nhà nước không lo cho mình, tôi thì quyết chống đến cùng cái chủ trương cướp đất này!

Rồi vì bức xúc quá, mỗi người rộ lên một câu:

- Nếu như họ đền bù cho mình giá cao thì còn được...

- Như thế thì có khác gì cướp không?...

- Lẽ ra xây dựng “nông thôn mới” thì nhà nước phải hỗ trợ thêm cho người dân mới phải, đằng này lại còn ăn cướp của dân...

Tối nay tôi xem ti vi, tình cờ được nghe bản tin VTV1 của nhà nước đưa tin về chuyện xây dựng nông thôn mới. Cô phát thanh viên truyền hình xinh đẹp, với vẻ mặt tươi cười đang đọc bản tin có nhan đề: “Niềm vui xây dựng nông thôn mới”. Họ nói rằng, khắp nơi trên cả nước người dân đang hồ hởi xây dựng nông thôn mới. Nhân dân phấn khởi và tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, đường lối đúng đắn của đảng và nhà nước, vì thế mà nhiều hộ dân còn hiến cả đất để làm đường giao thông nông thôn. Hình ảnh minh họa là mấy chú lâu la của nhà nước đứng bên cạnh chiếc công nông đang nổ phành phạch mà phát biểu những lời đảng dạy. Nói chung là niềm vui đang tràn ngập khắp làng trên ngõ dưới. Thất vọng cho người nông dân, và cũng vì quá ngỡ ngàng với cách thức tuyên truyền trơ trẽn của nhà nước nên tôi tắt phụt cái ti vi cho đỡ tức. Nhà nước đã bất chấp sự thật, họ chỉ cần tuyên truyền hình thức để lừa bịp người dân. Nén tiếng thở dài, tôi tự nhủ: - “Biết làm sao được, truyền thông độc quyền mà, nếu như có thông tin tự do thì sẽ khác...”.

Mấy hôm sau, một tin buồn nữa lại đến với những người nông dân chân chính mà tôi đã gặp, đó là chuyện chống đối chủ trương làm đường của họ đã thất bại. Chính quyền địa phương đã cho máy ủi và máy xúc đến để đào ruộng của dân mà làm đường. Giá cả đền bù không thay đổi, trong khi giá cho mỗi lô đất ở vẫn là 300 triệu đồng.

Ti vi và báo đảng vẫn tràn ngập những thông tin về “xây dựng nông thôn mới” đầy huy hoàng tráng lệ. Trong khi đó trên những cánh đồng, người nông dân vừa đi theo cái cày vừa quất đen đét vào mông con trâu để mà trút giận, đồng thời ngâm rằng:

“Ai ơi ai hỡi có hay?
Con trâu (vẫn) đi trước cái cày (vẫn) theo sau...”

Liệu trên đời có ai lại đi làm những việc vừa mất công sức, tiền của vừa lại không được lợi ích gì không nhỉ? Ngược lại còn bị thiệt hại đủ điều. Chắc chỉ có người điên mới làm như vậy, cụ thể ở đây là những người Cộng Sản, thưa quý vị.

Minh Văn

Posted: Wed Jan 09, 2013 4:19 am
by nguyenvsau
Chuẩn Bị Đánh Tàu?

Trần Khải

Có phải rằng nhà nước Hà Nội đang chuẩn bị cho một cuộc chiến quân sự với phương Bắc?

Nếu không chuẩn bị, tất nhiên khi hữu sự sẽ trở tay không kịp, và thua là dễ hiểu. Nhưng nếu đang chuẩn bị, lại là điều khó hiểu khi nhà nước CSVN không chịu làm hòa với toàn dân để chuẩn bị những trận đánh phần chắc là sẽ long trời lở đất sau này.

Bản tin BBC hôm Thứ Hai 7-1-2013 cho biết, VN diễn tập bắn đạn thật 'quy mô lớn'...

Bản tin ghi nhận rằng:

“Việt Nam vừa tiến hành tập trận bắn đạn thật trên bộ trong dịp cuối năm, được cho là lần diễn tập quy mô nhất kể từ 1975 trở lại đây, với sự hiện diện của xe tăng, xe thiết giáp và máy bay chiến đấu SU-30.

Truyền thông trong nước nói sự kiện của Binh đoàn Cửu Long (Quân đoàn Bốn) đã diễn ra tại Trường bắn khu vực III ở tỉnh Đồng Nai.

Đây là chương trình “diễn tập thực nghiệm thực binh, hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn... nhằm nghiên cứu khả năng tổ chức chỉ huy hiệp đồng của sư đoàn bộ binh,” đài truyền hình trung ương VTV1 tường thuật trong bản tin ngày 2/1/2013.

Các lực lượng tham gia có không quân, pháo binh, pháo phòng không, xe tăng, và bộ binh.

Các hình ảnh về cuộc diễn tập cho thấy ngoài việc giao tranh trên bộ thông thường, còn có diễn biến phía "địch" thả quân từ trên không xuống, và sử dụng các chất hóa học để tấn công.

Tuy nhiên, thời điểm chính xác của cuộc diễn tập không được tiết lộ...

...Chỉ ít hôm sau sự kiện trên, báo Quân Giải phóng Nhân Dân Trung Quốc tường thuật ngày 2/1/2013, binh lính thuộc hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã tiến hành tập trận tại đảo Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa, hiện do Trung Quốc chiếm từ 1974 nhưng Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Cũng trong ngày, các cuộc tập trận phòng không, chống khủng bố, duyệt binh khẩn cấp được tổ chức tại Thẩm Dương, thủ phủ tỉnh Liêu Ninh, và Tế Nam, thủ phủ tỉnh Sơn Đông.”(hết trích)

Nghĩa là, khi VN tập trận, thì TQ cũng tập trận? Có phải 2 bên chuẩn bị cho cuộc chiếns ắp tới?

Thực ra, bề ngoài vẫn cho thấy có ngoại giao “thắm thiết,” nghĩa là có sự thân tình “đồng chí xã hội chủ nghĩa” giữa VN và TQ.

Có thực như thế không?

Theo Blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh thì có 3 tàu chiến TQ đang vào thăm Cảng Sài Gòn, và thông tin này được báo chí trong nước ém nhẹm, theo chỉ thị: “Ban TH TW có thông báo: Đến ngày 11/1/2013, sau khi 3 tàu chiến TQ đã rút khỏi cảng SG thì mới được đăng một mẩu tin ngắn về việc này, không đưa trước nhằm loại trừ trường hợp thế lực thù địch lợi dụng biểu tình những ngày tàu chiến TQ chưa về”.

Vậy rồi những vụ cắt cáp tàu dầu Bình Minh 2 là sao?

Bản tin báo Dân Việt hôm 7-1-2013 ghi rằng tổng kết năm 2012, tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết trong năm ngoái đã xua đuổi 116 tàu Trung Quốc.

Nghĩa là, có tàu cá TQ xâm nhập, mà tàu cá TQ có khi lại là tàu gián điệp vào biển VN để chụp hình các bãi biển để dò tìm nơi sẽ đổ bộ sau này.

Thực ra thì VN sức yếu lắm. Bản tin RFI hôm 7-1-2013 ghi lời Giáo sư Ngô Vĩnh Long thuộc Đại Học Maine (Hoa Kỳ) nhận xét:

“...Trung Quốc ngày càng ép các nước khác, mà Việt Nam là đối tượng chính của họ.

Về phần Việt Nam quyết định tuần tra trên Biển Đông, tôi nghĩ rằng Việt Nam không đủ sức để làm việc này. Việt Nam chỉ nói để cho có nói...

...Vấn đề không phải là chờ đến khi có sự cố rồi mới phản ứng. Tôi nghĩ rằng phải có trước một chính sách rõ ràng.

Trước hết, trong vùng lãnh hải của Việt Nam, nếu Trung Quốc tiến vào, thì Việt Nam phải hô hoán. Còn khi ngư dân Việt Nam đi qua các vùng đảo đang tranh chấp - chứ không phải là vùng lãnh hải của Trung Quốc - nếu bị Trung Quốc bắn hay bắt, thì Việt Nam phải tỏ thái độ rõ ràng. Phải nói trước, chứ không được chờ lúc sự cố xẩy ra rồi mới nói...”(hết trích)

Nhưng chiến tranh là một hoạt động toàn lực. Vì chiến tranh là phải chuẩn bị các quân y viện, nơi chưã trị thương binh, nguồn thiết bị y khoa và các nhiều lượng máu dự trữ sẵn.

Việt Nam đã chuẩn bị hậu phương này như thế nào?

Có vẻ như, phía VN đã chuẩn bị cho việc khi chiến tranh bùng nổ khẩn cấp, sẽ đưa các đoàn y tế đi các trường học để rút máu học sinh.

Đã có một thí điểm hút máu cưỡng bức rồi: đó là ở Nghệ An, hình như thế...

Báo Công An TP ghi theo báo Tiền Phong đã kể về chiến dịch hút máu học sinh.

Bản tin này đăng hôm Thứ Bảy 5-1-2013 tưạ đề “Chính quyền Nghệ an cướp máu của học sinh?” -- trong đó kể rằng:

“..."Năm sáu cháu dùng chung một xi lanh hút máu, cháu nào khoẻ thì hút hai tay, yếu thì hút một tay, cho vào các bao tay, cho vào sô ..."

Các cán bộ xã trả lời phóng viên rằng : " Tỉnh Nghệ an chỉ đạo làm ...hợp pháp " thế nhưng bảo đưa ra các văn bản thì không có, chủ tịch xã trốn nhà báo.

Đây đích thực là ăn cướp máu và giết người có chủ tâm, nếu các cháu bị dùng chung kim tiêm hút máu lỡ lây bệnh HIV thì ai chịu trách nhiệm thưa ông chủ tịch Nghệ an, thưa chị Kim Tiến y tế , thưa ông bộ trưởng công an?

Yêu cầu các anh chị làm rõ vụ việc này, trả lại công bằng cho các cháu tại Nghệ An, truy cứu trách nhiệm của các tên tội phạm tại Nghệ an liên quan vụ việc.

Phẫn nộ với việc hàng trăm học sinh bất ngờ bị... lấy máu

Hàng trăm em học sinh THCS của hai xã Châu Hồng và Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) được nhà trường thực hiện theo “lệnh” của chủ tịch UBND xã và trạm y tế cho một tổ chức lấy máu, đã làm xôn xao dư luận người dân ở miền núi hẻo lánh suốt thời gian qua...”(hết trích)

Thực ra, chuyện lấy máu chuẩn bị chiến tranh là việc làm chính nghĩa, không có gì cần phảỉ cưỡng bức học sinh như thế.

Chỉ cần một Hội Nghị Diên Hồng, chấp nhận thả hết tất cả những người bất đồng chính kiến, nói về hoàn cảnh đất nước cơ nguy trở thành một Tây Tạng thứ nhì... thì ai mà không sẵn sàng hiến máu.

Nhưng khi không có dấu hiệu hòa giải, dấu hiệu đối thoạị... thì đành phải làm trò bá đạo là cướp máu hay sao?

Muốn chuẩn bị đánh Tàu, mà để tiếp nối chế độ vương trìều đỏ này thì chỉ là nằm mơ, không ai hết lòng ra trận đâu.

Posted: Thu Jan 10, 2013 6:04 am
by KýCóp
Image

Quan chức Hà Nội tiết lộ về nhóm 'hồng vệ binh' trên mạng
CTV
Danlambao - Phát biểu tại hội nghị tuyên giáo toàn quốc vào sáng hôm 9/12, Trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội là ông Hồ Quang Lợi đã khoe khoang về một nhóm 'hồng vệ binh' trên mạng do Thành ủy Hà Nội lập nên.

Báo Lao Động dẫn lời tiết lộ của ông Hồ Quang Lợi nói rằng, Thành ủy Hà Nội hiện đang có 900 'dư luận viên' chuyên đi tuyên truyền miệng.

Bên cạnh đó, Thành ủy còn lập nên một tổ chức có tên gọi 'nhóm chuyên gia' để 'đấu tranh trực diện và tham gia bút chiến trên Internet'.

'Nhóm chuyên gia' này hiện đã xây dựng được 19 trang tin điện tử và hơn 400 tài khoản trên mạng.

Cũng theo ông Lợi, việc thành lập các nhóm như trên là để 'đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch' trên Internet.

Đây là lần đầu tiên một quan chức cộng sản công khai thừa nhận về sự tồn tại của một nhóm chuyên viết để ăn lương, mà dư luận thường gọi là 'hồng vệ binh', hay 'CAM' (Công an mạng).

Như vậy, Thành ủy Hà Nội đã dùng tiền thuế nhân dân để nuôi dưỡng một đám bồi bút chuyên đi phá hoại trên mạng. Ông Lợi và đám hồng vệ binh này cũng chính là tác giả những bài viết bịa đặt, vu cáo các cuộc biểu tình yêu nước của nhân dân ta.

Ông Hồ Quang Lợi từng làm Tổng biên tập báo Hà Nội Mới. Ông này được cất nhắc đưa lên giữachức Trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội vì đã 'lập đại công' dâng Đảng, qua việc dựng chuyện đả kích giáo dân Thái Hà và Đức tổng giám mục Ngô Quang Kiệt.

Hiện không rõ 'nhóm chuyên gia' của Hồ Quang Lợi có vào Danlambao để 'đấu tranh trực diện' và 'tham gia bút chiến' hay không? Nếu có, ông Hồ Quang Lợi và đàn em đã dám công khai chống lệnh Thủ tướng qua công văn 7169 cấm cán bộ đọc Dân Làm Báo.

Posted: Fri Jan 11, 2013 2:33 am
by khieulong
Đại Sứ Pháp ở Việt Nam Jean-Marie Mérilion:
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA


Image
Ngày 27 tháng 4 năm 1975 Sinh viên VN .tại Pháp để tang cho miền Nam
NGƯỜI ĐI KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sắp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức.

Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam. Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.

TỐI 18/4/75:

Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:

- "Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này."

- "Không thể được" người ta không muốn lưu lại bằng chứng.

- "Như thế từ giờ phút này nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp."

- "Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng."


Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v... Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đão chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.

Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điện thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở này tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi "còn nước còn tát."

Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào? Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hảng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.

Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ này chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: "Thiệu "lủy" không nghe "moa", đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng."

Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.

Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.


Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: "Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đãng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đở Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả." Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bải là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao?

Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dù dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thống nhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm này lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đão chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.


(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).


Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.


Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.


Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam, biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp này để dằn mặt Việt Nam).


Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người này không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. "Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ".

Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn này có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v... Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt này Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.


Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: "Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sắp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hãy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua? "

Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:

- "Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến này Mỹ đã thua, tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận."

Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: "Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt."

Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể "tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam."

Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng "nếu" ở mỗi mệnh đề để thảo luận. "Nếu" chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v.." Ông cũng ngỏ lời cám ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam.

Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác.

Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau này:

- "Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút này nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động'.

Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; "Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không được Hànội nhìn nhận."

Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên này kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây này chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông này muốn gặp tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.

KẾ HOẠCH THỨ NHẤT:

Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc, đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.

Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.

KẾ HOẠCH THỨ HAI:

- "Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội này còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu?

Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.

- "Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn này mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.

KẾ HOẠCH THỨ BA:

Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô.

Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch này đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rã trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).

Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưỡng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc.

Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản. Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.

Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.

Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẻ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: "Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc." Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.

Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v... tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.

Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.

Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẻ từng kế hoạch, và nói ông sẵn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:

- "Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?"

- "Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn."

Sự thực từ lúc ông Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy.

Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu này. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: "Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc dầu sôi lửa bỏng... Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là đừng để Sài Gòn thua cộng sản." Có sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chất cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.

Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp này sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mất mặt.

Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ Trần văn Hương, người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam. Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: "Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình." Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.

Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc này, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng này giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam. Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam.

(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường, trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá).

LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI:

Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:

- "Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây."

Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào. Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:

- "Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật."

B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:

- "Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh."

Thì ra là Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris. Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam. Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết.

Tôi nói:

- "Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’

Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xả láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:

- "Quyết định của đãng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít".

- "Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới?"

Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ này ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm):

- "Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiệp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu này từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ "cốt nhục tương tàn" tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải."

- "Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp này thì vị trí của MTGPMN ở đâu?"

- "Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn".

- "Nếu đúng như thế, MTGPMN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế."

- "Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giữa hai nước."

- "Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?

- "Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam, thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam."

- "Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?"

- "Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước. Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam. Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập này nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi."

- "Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi, bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam và 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo."

Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần này vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi.

Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh này do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.

Sự kiện này đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.

Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình. Năm 1964 Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói chuyện trực tiếp với Hoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ điều gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối.

Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:

- "Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai".

Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75, Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội.

Hành động sỉ nhục một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đắt. Tổng số ngân quỹ viện trợ nhân đạo hằng năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau.

Ngày 27 tháng 4/1975

Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô - Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.

CÁC TƯỚNG LÃNH BỊ NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU:

Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75. Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MTGPMN cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiệp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.

Dựa theo quan niệm "còn nước còn tát", chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75, chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng này đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân.

Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm. Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông hứa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện này. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.

Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ.

Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4. Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.

- Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.

Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái... nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tự Do.

Sáng ngày 28/4/75, tôi chuyển hết kế hoạch này cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.

KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?

Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.

- Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội. Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc.

- Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng.

Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện này nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần.

Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người này sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80.000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v...

Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công, nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: "Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ này mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua."

Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản "trao nước cho giặc", tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; "Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều."

Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người này không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.

Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: "Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia."

Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc này không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được.

Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ... Chờ đến kiếp sau!

Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.

Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.

(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đũa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào.

Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám... cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ này không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam).

Ngày 29/4/1975, 8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.

Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:

- "Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng."

Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.

NGÀY 1 THÁNG 5:

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả... trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON
Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Posted: Fri Jan 11, 2013 5:46 am
by quaichao
TQ Sẽ Bị Đánh Úp?

Tác giả : Trần Khải

Có phải rằng Nhật Bản sẽ đánh úp vào Trung Quốc hệt như một trận Trân Châu Cảng thời Thế Chiến 2?

Hay, nếu không đánh úp thực tiễn bằng Hải, Lục, Không, Quân, có thể sẽ có những binh đoàn tin tặc ẩn danh đánh sập các lưới điện và hệ thống truyền thông Trung Quốc khi có dấu hiệu nhà nước Bắc Kinh dự tính vọng động ở Biển Đông (của VN) hay ở Biển Hoa Đông (của Nhật)?

Chắc chắn rằng tất cả các Bộ Quốc Phòng đều phải có sẵn vài phương án để sẵn trong túi, hễ khi hữu sự là dốc túi ra đánh cạn láng liền.

Nhưng sẽ tới mức đánh úp Bắc Kinh cụ thể không? Có thể là không như người ta nghĩ, vì những cuộc chiến ở tương lai mang hình thái tàng hình nhiều hơn là xe tăng phi pháo như cũ.

Ngoại Trưởng Philippines là Albert del Rosario cảnh báo rằng những hành động “đầy hăm dọa” của Trung Quốc tại Biển Đông (tên gọi theo VN, Philippines gọi là Biển Tây Phi, TQ gọi là Nam Hải) đang đưa ra cơ nguy bất ổn tại Châu Á.

Ông nói như thế sau buổi họp ở Manila với Ngoại Trưởng Nhật Fumio Kishida trong khi 2 nước cam kết kết thân an ninh và các quan hệ khác để đối phó TQ.

Cả Nhật và Philippines đều dính vào tranh chấp biển đảo với TQ từ nhiều thập niên, nhưng chỉ gần đây TQ mới hung bạo đưa tàu chiến vào biển Nhật Bản và biển Philippines.

Trong khi đó, chơi màn “bốc lửa bỏ tay người,” một học giả Bắc Kinh là La Viện, cũng là một Thiếu Tướng quân đội, chuyên phân tích tình hình biển Hoa Đông và Biển Đông -- cảnh báo TQ đừng có lơ là vì Trung Quốc phải đề phòng bị "nước khác" đánh úp trong năm 2013.

Báo Giáo Dục VN viết:

“Bài báo "La Viện: Trung Quốc cần phải đề phòng bị nước khác đánh úp, năm nay sẽ có khả năng khai chiến" đăng ngày 8/1 trên tờ Herald, một phiên bản của Tân Hoa Xã được truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa lại...”

Trong khi đó, báo SGTT từ Việt Nam ghi nhận rằng:

“Tại họp báo thường kỳ của bộ Ngoại giao ngày 10.1, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn bộ Ngoại giao, ông Lương Thanh Nghị khẳng định, việc này là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông...”

Mặt khác, báo Sống Mới từ Hà nôi cho biết, rằng vào tháng 5 tới Trung Quốc sẽ tung tàu ngầm “dân sự” vào Biển Đông.

Bản tin nói, tờ Hoàn cầu của Trung Quốc đưa tin trong tháng 5 và tháng 6 tới đây tàu ngầm Giao Long sẽ hoạt động thử nghiệm tại Biển Đông.

Bản tin viết:

“Đây là loại tàu ngầm được Trung Quốc tuyên bố phát triển với mục đích nghiên cứu khoa học và chạy đua với kỷ lục lặn sâu với tàu ngầm của Mỹ. Tuy nhiên, không loại trừ tàu ngầm “dân sự” này còn thực hiện cả nhiệm vụ trinh sát.”

Bản tin VOA cho biết, Bắc Kinh sẽ tiếp tục các cuộc tuần tra thường lệ tại các vùng biển mà Trung Quốc nhận chủ quyền trên Biển Đông và ngoài khơi quần đảo Điếu Ngư Đài.

Truyền thông Trung Quốc ngày 10/1 trích tuyên bố của Cục Hải dương Quốc gia rằng Bắc Kinh sẽ tiếp tục chống lại bất kỳ sự xâm phạm nào từ Việt Nam, Philippines, và Nhật Bản đối với chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này.

Bản tin khác của VOA cũng ghi nhận rằng Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga vào hôm Thứ Năm, 10/01/2013 đã xác nhận thông tin, theo đó tân Thủ tướng Shinzo Abe sẽ dành chuyến viếng thăm nước ngoài đầu tiên từ khi ông tái nhậm chức, cho ba nước ASEAN là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Vòng công du kéo dài từ ngày 16 đến 19/01, trùng hợp với dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ đối tác Nhật Bản – ASEAN.

Theo ông Yoshihide Suga, mục tiêu chuyến công du của Thủ tướng Nhật là nhằm «củng cố quan hệ hợp tác với các nước ASEAN để bảo đảm hòa bình và thịnh vượng cho khu vực, trong một bối cảnh chiến lược đang thay đổi».

Bản tin VOA ghi rằng, theo bà Mireya Solis, chuyên gia nghiên cứu cao cấp về Nhật Bản tại Viện Brookings, điều quan trọng là ông Abe đã quyết định không đến thăm Trung Quốc, vì ưu tiên của Tokyo vào lúc này là vươn đến những nước ủng hộ mình, cũng như các đồng minh của mình. Trong tình hình đó, «khu vực Đông Nam Á đang vươn lên thành một đối tác rất quan trọng cho Nhật Bản vào lúc quan hệ Tokyo-Bắc Kinh đang trong cơn sóng gió».

Mục tiêu sâu xa là như vậy, nhưng theo Chánh văn phòng Nội các Nhật vào hôm nay, chuyến thăm Đông Nam Á của tân Thủ tướng Abe hoàn toàn không phải là để thành lập một thế đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

VOA nói, vòng công du ba nước lớn trong ASEAN của Thủ tướng Abe được cho là dấu hiệu chứng tỏ mối quan tâm chiến lược của Tokyo đến khu vực Đông Nam Á. Chiến lược đó còn thể hiện qua việc tân Ngoại trưởng Nhật Bản cũng chọn ba nước ASEAN (Philippines, Brunei, Singapore) để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên của mình.

Thực tế, nếu vòng công du này vẽ ra trên giấy, đó chính là vòng kim cô vây quanh TQ.

Có thể làm gì với chú khỉ Tề Thiên Bắc Kinh không?

Có câu thần chú nào để xiết vòng kim cô quanh đầu Tề Thiên Bắc Kinh không?

Không ai biết rõ. Nhưng để đánh úp Bắc Kinh, hẳn là chuyện rất xa vậy.

Posted: Sat Jan 12, 2013 4:23 am
by quangminh
Image

Hãy nói trước ngày chết
Trần Trung Đạo

(Danlambao) - Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản. Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.

Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cãi nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?

Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng. Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.

Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.

Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.

Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.

Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”

Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ. Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.

Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân: “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.

Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra...” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v... và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”

Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.

Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, ngoại trừ trẻ em quá nhỏ, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.

Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết Nhân đọc bài "Trịnh Công Sơn - Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”

Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa...”

Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.

Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.

Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông các không? Chắc chắn là có, không thể có lời giải thích thứ ba.

Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v... mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.

Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác. Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẽ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục. Tại sao các ông các bà không viết? Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ? Sự im lặng của các ông các bà không phải là một công án thiền mà là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.

Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Trần Trung Đạo

Posted: Sun Jan 13, 2013 2:53 am
by buikiem
Image

UBND TP.HCM cấm người dân xem đĩa nhạc của Asia

Danlambao - Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM vừa ban hành lệnh cấm nhân dân xem đĩa ca nhạc '32 năm kỷ niệm' của Trung tâm Asia, trong đó có một ca khúc sáng tác cho chiến dịch "Triệu con tim, một tiếng nói" của nhạc sỹ Trúc Hồ.

Thông báo kêu gọi người dân 'không tiếp tay phổ biến' bộ đĩa Asia do UBND TP.HCM ban hành hôm 10/1 (giờ Sài Gòn), tức là trước ngày DVD Asia thứ 71 chính thức phát hành vào hôm 11/1/2013, theo giờ Hoa Kỳ.

Theo nội dung thông báo, UBND TP.HCM chỉ đạo tất cả các ban ngành, từ TP đến các địa phương phải "đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân không tiếp tay phổ biến bộ đĩa ASIA 71 “32 năm kỷ niệm” có xuất xứ từ hải ngoại".

Ngoài việc tuyên truyền, UBND TP còn đe dọa sẽ huy động lực lượng để kiểm tra và 'xử lý nghiêm' những cơ sở kinh doanh, các cứa hàng băng đĩa in sang, lưu trữ và phát tán bộ DVD chương trình ca nhạc Asia 71

"UBND các quận-huyện cần phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp in sang, tàng trữ và phát tán lưu hành bộ đĩa ca nhạc này", theo nội dung thông báo của UBND TP.

Chương trình ca nhạc kỷ niệm 32 năm thành lập của Trung tâm Asia được tổ chức vào cuối tháng 11/2012, quy tụ hầu hết các nghệ sỹ tên tuổi tại hải ngoại tham gia. Nội dung chương trình ca nhạc nói nhiều về các vấn đề thời sự tại Việt Nam, ủng hộ nhân quyền, chống TQ xâm lăng... Phần DVD của chương trình ca nhạc này chính thức phát hành hôm 11/1/2013

Trong chương trình này có bài hát 'Triệu con tim' do chính nhạc sỹ Trúc Hồ sáng tác và trình bày. Đây là ca khúc do Trúc Hồ sáng tác nhằm ủng hộ cho một chiến dịch 'Triệu con tim, một tiếng nói', kêu gọi vận động chữ ký và lên tiếng cho nhân quyền Việt Nam.

Trước giờ DVD Asia 71 chính thức lên kệ, việc UBND TP.HCM ban hành lệnh cấm như trên nhiều khả năng sẽ gây phản ứng ngược. Người dân Sài Gòn sẽ đổ xô tìm kiếm bộ đĩa DVD này. Xem ra Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải lại vô tình gửi tặng TT Asia một 'món quà' quảng cáo không công.

Trung tâm Asia do nhạc sỹ Anh Bằng sáng lập năm 1981, được xem là một 'thành trì chống cộng' trên mặt trận văn hóa, hiện nhạc sỹ Trúc Hồ làm giám đốc kỹ thuật.
Image
Danlambao

Posted: Mon Jan 14, 2013 6:35 am
by tranphuongdong
Bất bình đẳng trong xã hội Trung Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Một trong những lý tưởng cao nhất của chủ nghĩa xã hội là tạo ra sự bình đẳng trong xã hội. Vì lý tưởng đó, họ sẵn sàng hy sinh nhiều thứ,
từ sự phát triển (sẵn sàng chấp nhận lạc hậu so với các quốc gia gọi là tư bản chủ nghĩa) đến sự nhân đạo
(sẵn sàng trấn áp tất cả những người thuộc thành phần giàu có dưới chiêu bài chuyên chính vô sản).

Image
(Hình minh họa: MARK RALSTON/AFP/Getty Images)

Với họ, sự bình đẳng ấy có hai cấp độ thuộc hai thời kỳ khác nhau: Bình đẳng một cách tương đối dưới thời xã hội chủ nghĩa và bình đẳng một cách tuyệt đối dưới thời Cộng Sản chủ nghĩa.

Cuối thập niên 1980, chủ nghĩa xã hội ở Nga và Ðông Âu bị sụp đổ như một cách trả giá cho những lý tưởng viển vông ấy. Những điều họ muốn hy sinh không những không chết mà còn vùng dậy đòi phục thù khi dân chúng không thể chấp nhận tình trạng lạc hậu và nghèo đói mãi cũng như không thể chấp nhận sự độc tài và vô nhân đạo cho những lời hứa hẹn đầy hoang tưởng của giới lãnh đạo.

Tuy nhiên, trên thế giới vẫn còn năm quốc gia vẫn tiếp tục “kiên định” đi theo hệ thống xã hội chủ nghĩa: Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam.

Trong năm quốc gia ấy, Trung Quốc và Việt Nam chọn con đường dung hòa về kinh tế: Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, như một cách dung hòa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, dung hòa giữa quy luật thị trường và tham vọng độc quyền lãnh đạo cũng như quản lý của đảng Cộng Sản, dung hòa giữa nhu cầu phát triển và lý tưởng bình đẳng.

Suốt hơn 20 năm qua, công cuộc dung hòa ấy không phải lúc nào cũng trôi chảy. Càng ngày người ta càng nhận thấy đó chỉ là một hôn nhân gượng ép, đầy bất trắc, chỉ làm chậm lại quá trình hiện đại hóa của đất nước: Hầu hết các cơ sở kinh tế quốc doanh, nằm trong tay nhà nước, dù ngốn rất nhiều vốn, lại rất ít có hiệu quả, thậm chí, bị phá sản, để lại những món nợ lớn, trở thành những gánh nặng cho quốc gia, không phải với thế hệ hiện nay mà còn cả với nhiều thế hệ con cháu trong tương lai.

Trước những thất bại nhãn tiền như thế, cả chính quyền Việt Nam lẫn chính quyền Trung Quốc đều tự biện hộ: Bù lại, người ta ngăn chận được nạn cá lớn nuốt cá bé, hiện tượng người bóc lột người, khoảng cách quá xa giữa người giàu và người nghèo trong xã hội. Nói cách khác, người ta bảo đảm được sự bình đẳng.

Nhưng sự thật thì ngược lại.

Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, đặc biệt Việt Nam, tuy hy sinh sự phát triển, nhưng họ cũng không giữ được sự bình đẳng.

Kết quả một cuộc nghiên cứu vào năm 2010 mới được công bố cho thấy chỉ số bất bình đẳng ở Trung Quốc hiện nay thuộc loại cao nhất thế giới.

Cách tính chỉ số này dựa trên đề nghị của Corrado Gini, người Ý, cách đây đúng 100 năm: Ông chia mức phân phối tài sản của người dân thành nhiều bậc, từ 0 (nơi mọi người có cùng một mức thu nhập giống nhau) đến 1 (nơi chỉ có một người có thu nhập; còn lại đều không có gì cả). Như vậy, xã hội có chỉ số 0 là xã hội bình đẳng tuyệt đối và ngược lại, xã hội có chỉ số 1 là xã hội bất bình đẳng tuyệt đối. Dĩ nhiên hai loại tuyệt đối ấy đều không có. Tất cả các xã hội loài người hiện nay đều xê dịch giữa trên số 0 và dưới số 1. Càng gần với số 1 bao nhiêu mức độ bất bình đẳng lại càng cao bấy nhiêu. Tất cả các xã hội có chỉ số bất bình đẳng trên 0.4 đều được xem là đáng báo động.

Chỉ số bất bình đẳng ở Trung Quốc vào năm 2010 là 0.61. Cao hơn hẳn chỉ số trung bình trên thế giới: 0.44.

Ở đây có hai điều cần nhấn mạnh:

Thứ nhất, với chỉ số 0.61 ấy, mức độ bất bình đẳng, tức khoảng cách giữa giàu và nghèo, ở Trung Quốc cao hơn hẳn các quốc gia tư bản, những nơi bị họ nguyền rủa là bóc lột tàn bạo: Chỉ số ấy, trong cùng thời điểm, ở Mỹ chỉ trên 0.4.

Thứ hai, mức độ bất bình đẳng ở Trung Quốc càng ngày càng gia tăng chứ không giảm. Năm 2000: 0.412; năm 2008, tăng lên 0.54; và năm 2010 là 0.61.

Sự bất bình đẳng trong thu nhập ấy cũng được thể hiện qua sự bất bình đẳng trong tiêu dùng. Những năm gần đây, mức độ tiêu thụ hàng hóa ở Trung Quốc tăng vọt. Nhưng tăng nhiều nhất lại là những hàng tiêu dùng dành cho giới nhà giàu. Chứ không phải cho dân chúng bình thường. Ví dụ, so với năm trước, các loại hàng tăng nhiều nhất là: nữ trang (46%) và xe hơi (34%). Nói chung, các loại hàng xa xỉ dành cho giới thượng lưu chiếm đến khoảng 33% tổng số hàng tiêu dùng qua hệ thống bán lẻ ở Trung Quốc.

Tôi không thấy chỉ số bất bình đẳng ở Việt Nam thời gian gần đây. Có lẽ không bằng Trung Quốc. Nhưng chắc chắn là cao hơn hẳn mức trung bình trên thế giới. Chỉ cần quan sát chung quanh một chút, chúng ta cũng thấy ngay được điều đó. Trong khi đại đa số dân chúng vật lộn với cuộc sống hàng ngày, kiếm ăn được ngày ba bữa đã toát mồ hôi hột, vô số cán bộ giàu có đến độ tiêu xài cách mấy cũng không hết. Gần đây, khi thực phẩm Việt Nam bị nhiễm độc trầm trọng, nhiều người có sáng kiến sang Singapore đi chợ. Cứ mỗi tuần hay hai tuần, họ sang Singapore một lần. Ðể mua thịt, rau và trái cây tươi.

Chưa bao giờ người Việt Nam xài sang đến như vậy.

Chỉ tiếc, đó chỉ là một số ít. Những người có quyền chức. Những người “đầy tớ của nhân dân”.

Posted: Tue Jan 15, 2013 4:19 am
by trinhham
Image

Pháp lên án Việt Nam về bản án đối với 14 nhà hoạt động Công giáo
VOA - Cùng với Hoa Kỳ, Liên hiệp quốc, và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới, chính phủ Pháp ngày 11/1 mạnh mẽ chỉ trích các bản án lên tới tổng cộng 83 năm tù mà Tòa án Nhân dân Nghệ An tuyên phạt 14 nhà hoạt động trẻ hôm 9/1 về tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’.

Thông cáo trên trang web Bộ Ngoại giao Pháp nêu rằng trong những tháng gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã đưa ra các bản án nặng tay tương tự đối với các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền.

Chính phủ Pháp nói những quyết định như thế xâm phạm nghiêm trọng nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do bày tỏ quan điểm và tự do lập hội của công dân.

Pháp nhắc nhở Hà Nội các quyền tự do này được bảo đảm trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một thành viên ký kết. Chính phủ Pháp cũng lưu ý rằng Hiệp hội các nước Đông Nam Á cũng vừa thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền nhằm đảm bảo tôn trọng nhân quyền tại các nước ASEAN trong đó có Việt Nam.
Image
14 người Công giáo và Tin Lành bị cáo buộc 'thực hiện các hành động nhằm lật đổ chính quyền'
(ảnh: thanhnienconggiao).

Cùng ngày 11/1, Văn phòng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (OHCHR), cũng đã lên tiếng bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc Việt Nam kết tội 14 nhà hoạt động Công giáo.

Trong cuộc họp báo tại Geneva, phát ngôn viên của OHCHR, ông Rupert Colville, kêu gọi chính phủ Việt Nam xét lại việc dùng Luật Hình sự để bỏ tù những người chỉ trích chính sách nhà nước và duyệt xét lại tất cả các trường hợp tương tự vi phạm quyền tự do ngôn luận và lập hội của công dân.

Ông Colville nói rằng vụ án của 14 thanh niên Công giáo cùng với việc bắt giữ luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân là bằng chứng cho thấy Việt Nam cấm cản các tiếng nói chỉ trích nhà nước.

14 nhà hoạt động ôn hòa cổ xúy cho dân chủ và công bằng xã hội bị cáo buộc tham gia với đảng Việt Tân có trụ sở ở Mỹ, một tổ chức chính trị đấu tranh cho dân chủ Việt Nam mà Hà Nội gọi là một tổ chức ‘khủng bố’ dù Hoa Kỳ nói không có bằng chứng cho thấy Việt Tân cổ xúy bạo động.

http://www.voatiengviet.com/content/pha ... 83288.html

Posted: Wed Jan 16, 2013 1:44 am
by quaichao
Image

'Nhịn đến mức hèn là không được'

BBC -

Trước sự e dè của truyền thông Việt Nam không chỉ đích danh Trung Quốc trong các sự kiện lịch sử như chiến tranh biên giới năm 1979 hai các cuộc hải chiến trên Biển Đông, ông Dương Danh Dy, nguyên tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, cho biết ông cũng thấy bất bình. "Tôi không biết ai ra lệnh cấm. Tôi đang tìm hiểu để phê phán đích danh," ông nói và cho biết việc cấm kỵ về Trung Quốc đã trở thành 'bắt buộc không anh nào dám đụng đến cả'.

"Nó xâm lược mình, đánh mình như thế mà mình không dám nói đến là sao?," ông nói.

Theo ông Dy thì mặc dù Việt Nam e dè không dám đụng chạm đến Trung Quốc thì các trang mạng Trung Quốc mà ông theo dõi hàng ngày 'vẫn nói đó (chiến tranh biên giới) là cuộc chiến tự vệ do Việt Nam bài Hoa'.

"Trung Quốc nói thoải mái về cuộc chiến năm 1979. Quan điểm chính thức của họ coi cuộc chiến đó là chính nghĩa. Họ nói xấu m̀inh không còn trời đất gì cả và đến giờ cũng vẫn liên tục luận điệu đó mà phía ta vẫn im thin thít."

Theo ông thì các lãnh đạo Việt Nam 'biết quá nhưng giả điếc' và không ai 'dám bước qua ranh giới này', ông cho biết.

Khi được hỏi liệu đề cập thẳng thắn đến chiến tranh biên giới thì có làm Bắc Kinh mất lòng hay không, ông Dy nói rằng 'mất lòng hay không thì cũng phải nói'.

"Họ đem 60 vạn quân sang giết đồng bào ta, phá hoại nhà cửa của ta mà mình im lặng là hèn," ông nói, "Cũng như với Mỹ không đánh nhau nữa nhưng vẫn nói về Mỹ có sợ Mỹ mất lòng đâu mà tại sao lại sợ Trung Quốc".

Còn về sự đối xử với các liệt sỹ đã hy sinh dưới tay Trung Quốc, ông Dy nói rằng cách đối xử của Nhà nước 'không những không công bằng mà phải nói là vô ơn, bất nhân'.

"Cùng là hy sinh nếu hy sinh chống Mỹ chống Pháp thì được nói công khai gia đình là thương binh liệt sỹ còn hy sinh trong chiến tranh biên giới thì lại không được công khai," ông giải thích.

"Hoàng Sa và Trường Sa các chiến sỹ hy sinh các chế độ chính sách vẫn lặng lẽ thi hành nhưng không dám nêu gương công khai như là những anh hùng," ông nói thêm.

Ông cho rằng thái độ của Nhà nước đối với Trung Quốc có thể giải thích là 'nhẫn nhịn với Trung Quốc đến lúc không nhịn được thì thôi' và phải 'sau này nhìn lại thì mới phê phán được'.


"Nhưng nhẫn nhịn quá mức đến chỗ hèn là không được."

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multime ... _war.shtml

Posted: Fri Jan 18, 2013 1:38 am
by dailien
Image
Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh

“Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, ý chí người dân bị tê liệt vì sợ hãi”

Tối 26/2, tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp 38 Kỳ Đồng, trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình, cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, Ofm. đã chia sẻ những suy tư và cả những ưu tư của mình về cách thức sống một mùa chay thánh ý nghĩa.

Bằng cung giọng mạnh mẽ vẫn thường thấy, sau khi cho thấy Kinh thánh nói gì về việc ăn chay và ăn chay sao cho đẹp lòng Chúa, bằng những minh chứng cụ thể, ngài kết luận: “Là tín hữu Chúa Ki-tô, bước vào Mùa Chay nếu ta đặt câu hỏi : ta phải làm gì đây, phải cố gắng sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, thì quan ngôn sứ I-sai-a, Chúa đã cho chúng ta câu trả lời. Không những thế, Chúa còn cho ta những tấm gương sống động như đã nói trên đây, và còn biết bao nhiêu tấm gương khác nữa. Tất cả đang trả giá để bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm hoạ xâm lăng, để nói lên khát vọng tự do dân chủ, để đấu tranh cho công lý, cho hoà bình. Họ không phải là những người ngồi trước bàn phím ung dung đặt câu hỏi : phải lên tiếng hay không lên tiếng. Họ cũng không dừng lại nơi những kiến thức thâu thập được từ những buổi tập huấn về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, và cứ coi như học thuộc bài để trả cho thầy là xong.’

Chúng tôi trân trọng gửi tới quý độc giả nội dung bài chia sẻ này.

Cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình

Cũng như trong các thánh lễ 8 giờ tối Chúa nhật cuối mỗi tháng tại nhà thờ Kỳ Đồng này từ ít lâu nay, hôm nay chúng ta cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình. Việc đạo đức này đặc biệt thích hợp trong Mùa Chay như chúng ta sẽ thấy.

Cao điểm của Năm Phụng Vụ chính là Tam Nhật Vượt Qua trong đó Hội Thánh họp mừng Chúa Ki-tô chết và phục sinh để hoàn tất công trình cứu độ. Và để chuẩn bị mừng biến cố trọng đại đó, chúng ta có đến 40 ngày, đó là Mùa Chay bắt đầu từ thứ Tư lễ Tro vừa rồi. Hai chữ “Mùa Chay” trong tiếng Việt chúng ta thì ngắn gọn, tiện dụng, nhưng lại nghèo về ý nghĩa, trong khi tiếng gốc La-tinh chỉ có nghĩa là Mùa 40. Con số này nhắc ta nhớ đến cuộc hành trình 40 năm của dân Do-thái từ nơi lưu đày về đất hứa, từ nô lệ đến tự do. Con số 40 cũng làm ta liên tưởng đến cuộc hành trình của ngôn sứ Ê-li-a lên đường đi gặp Chúa. Cuối cùng và đặc biệt hơn nữa con số 40 làm ta liên tưởng đến 40 ngày Đức Giê-su sống trong hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ như ta vừa thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thế nào là ăn chay ?

Trong bài Tin Mừng ngày thứ Tư lễ Tro Hội Thánh muốn chúng ta nghe chính Chúa Giê-su đề ra cho chúng ta những mục tiêu cần cố gắng đạt tới, đó là ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Không những thế, Chúa Giê-su còn chỉ cho thấy người môn đệ của Ngài phải thực thi các việc đó như thế nào, theo tinh thần nào, mới đích thực là môn đệ của Ngài.


Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tối 26/2/2012, tại nhà thờ Kỳ Đông

Rồi tiếp theo sau những lời giáo huấn của Chúa Giê-su, ngày thứ Sáu vừa qua trong bài đọc 1 trong thánh lễ, Hội Thánh lại mời ta nghe ngôn sứ I-sai-a diễn giải thế nào là ăn chay. Tôi chỉ xin đọc mấy câu sau đây :

“Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau,
nằm trên vải thô và tro bụi,
phải chăng như thế mà gọi là ăn chay
trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa ?
Cách ăn chay mà Ta ưa thích
chẳng phải là thế này sao :
mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc,
trả tự do cho người bị áp bức,
đập tan mọi gông cùm ?
Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ
trước người anh em cốt nhục ?” (Is 58,5b-7)
Ăn chay sao cho đẹp lòng Chúa

Điều không thể chối cãi là hai chữ ăn chay làm ta nghĩ đến khổ chế, đến việc hy sinh hãm mình. Đó là những cố gắng nhằm giúp ta cụ thể hoá lòng thành của chúng ta khi muốn từ bỏ tội lỗi để trở về với Chúa. Thế nhưng điều Chúa muốn căn dặn chúng ta qua lời ngôn sứ I-sai-a là bấy nhiêu thôi thì chưa đủ, cũng chưa phải là việc chính yếu nếu ta muốn làm đẹp lòng Ngài, muốn tìm lại ân nghĩa xưa đã mất. Thế thì phải làm gì? Chúa dạy ta :

Cách ăn chay mà Ta ưa thích…

(là) mở xiếng xích bạo tàn, tháo gồng cùm trói buộc,
trả tự do cho người bị áp bức,
đập tan mọi gông cùm…
…chia cơm cho người đói v.v…

Những ý tưởng này sẽ được chính ngôn sứ I-sai-a lấy lại khi đề cập đến Người Tôi Trung. Và đến lượt Đức Giê-su thì chính Ngài sẽ dựa vào đó để minh định sứ mạng cứu thế của Ngài khi tuyên bố : “Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa” (Lc 4,18-19).

Mùa Chay : Cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình

Thế thì không có gì hợp lý hơn khi khởi đầu Mùa Chay mà chúng ta cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình, vì sứ mạng người Ki-tô hữu chúng ta không là gì khác hơn là cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Giê-su. Do đó thật là thích họp khi chúng ta cử hành thánh lễ hôm nay mà tưởng nhớ đến tất cả những nạn nhân của tàn ác, bất công, gian dối trên thế giới, đặc biệt nơi chính quê hương yêu dấu của chúng ta. Đó là những người dân oan bị mất đất, mất phương tiện sinh sống do một chính sách mang dáng vẻ công bằng khi khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng thực chất chỉ tạo điều kiện cho đám quan tham thành những tên cướp ngày. Đó là những ngư dân bị giặc Tàu bắt ngay trong lãnh hải Việt Nam, những công nhân bị chủ nhân bóc lột tàn tệ mà không được bảo vệ, những người đi lao động nước ngoài bị lừa gạt, những phụ nữ, thậm chí trẻ em bị biến thành nô lệ tình dục, và còn biết bao thứ nạn nhân nữa, kể sao cho xiết !

Nhưng ở đây tôi muốn đặc biệt nói đến những người hiện đang bị giam cầm, tù tội. Đó là những người chấp nhận bao thiệt thòi, bao phiền toái cho bản thân và gia đình, chấp nhận hy sinh sự nghiệp, hy sinh hạnh phúc cá nhân, chấp nhận tù đày, thậm chí chấp nhận cả cái chết. Để làm gì ? Thưa để nói lên, để gào thét lên khát vọng thấy nhân quyền được tôn trọng, người dân sống tự do, đất nước có dân chủ, quốc gia được độc lập, lãnh thổ cũng như lãnh hải được bảo toàn. Những con người như thế, đúng là tinh hoa của dân tộc. Bất chấp những gì bị gán ghép cho họ, cái tội của họ là yêu tự do, yêu dân chủ, cái tội tày đình của họ là yêu nước, yêu một cách thiết tha, họ đã biểu lộ tình yêu đó một cách công khai, dũng cảm, và đã trả giá cho tình yêu đó bằng chính cuộc đời mình.

Những trường hợp điển hình

Có những tù nhân “chuyên nghiệp”, bởi sau khi được tha đã bị bắt trở lại như các ông Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Bắc Truyển, linh mục Nguyễn Văn Lý. Có những người ở độ tuổi trung niên như ông Vi Đức Hồi, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, anh Điếu Cày, hay chị Bụi Thị Minh Hằng.

Điều đáng để ý là có một số khá đông bạn trẻ thay vì hưởng thụ hay chấp nhận sống an phận thủ thường đã dấn thân tranh đấu cho chính nghĩa. Chẳng hạn các bạn Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Paulus Lê Sơn, Huỳnh Thục Vy, hay 17 bạn sinh viên gốc Vinh bị bắt từ nhiều tháng nay mà chưa ai rõ vì tội danh gì.

Đoàn Văn Vươn

Trong số những người bị bắt, có hai nhân vật nổi bật trong lúc này, trước hết là anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, người cựu quân nhân, kỹ sư nông nghiệp đã trắng tay sau 10 năm trời đầu tư tiền bạc và công sức, cuối cùng đã phải dùng đến vũ khí tự tạo để cất lên tiếng nói của con người chẳng còn gì để mất. Thật ra thì câu chuyện anh Đoàn Văn Vươn cũng không khác gì câu chuyện của bao nhiêu dân oan từ bắc chí nam mất nhà mất đất cách oan uổng, bất công, phi lý từ mấy chục năm nay rồi. Có khác chăng là anh Vươn dám phản ứng.

Nay thì đã rõ : việc thu hồi đất của anh Vươn là một việc làm sai luật pháp, do đó hành động của anh Vươn là một hành động tự vệ chứ không phải là chống người thi hành công vụ. Cần nói thêm rằng đây chỉ là mấy món vũ khí thô sơ, loại đạn hoa cải hoa cà gì đó, nếu trúng xa xa thì chỉ đủ làm trầy da, chảy máu là cùng. Thế nhưng mấy món đồ chơi đó đủ sức làm cho mọi người nghiệm ra sức mạnh của người dân khi bị đẩy đến bước đường cùng. Mai đây, khi không chỉ có một Đoàn Văn Vươn, nhưng cả trăm cả ngàn và nhiều hơn nữa, thì mọi thứ vũ khí trong tay nhà cầm quyền đều trở nên vô hiệu. Từ mấy chục năm nay đã có biết bao dân oan kêu ca, khiếu nại, hết địa phương tới trung ương mà tuyệt đại đa số các vụ khiếu kiện có được tích sự gì đâu. Nay phát đạn hoa cải của anh Đoàn Văn Vươn cho mọi người hiểu là tiếng kêu oan của anh đã vọng tới trời.

Có thể nói không quá lời rằng lần đầu tiên tiếng nói của dân oan Đoàn Văn Vươn đã tạo nên một dư chấn khiến chính quyền Việt Nam không thể tiếp tục chơi bài lỳ, nhưng đã buộc phải lên tiếng. Ai theo dõi tình hình cũng nhận ra rằng biến cố này là một cột mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh đòi công lý. Chính vì vậy mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã vô cùng phấn khởi khi sáng tác bài thơ mang tựa đề “Gió Tiên Lãng”. Tôi xin trích một đoạn sau đây:

Lần đầu trong thời cộng sản
một người nông dân bắn vào chính quyền
đã chiến thắng.
Đoàn Văn Vươn,
gió Tiên Lãng thổi anh ra khắp nước
lấy mạng sống giữ ruộng vườn
khi chính quyền thành bọn cướp
từ thân phận con lươn
anh nổ súng trước
để được làm con người ;
đất của dân, máu và nước mắt
sao cướp ngày đến cướp mồ hôi ?
Chính quyền đối thoại với dân bằng súng,
cướp nhà cướp đất quen rồi ;
vụ cướp đầm tôm xã Vinh Quang, Tiên Lãng
súng của dân đã cất lời,
cả nước bênh người nông dân liều mạng,
lịch sử bừng hoa cải gió xuân ơi !…


Và bài thơ của Trần Mạnh Hảo kết thúc bằng mấy câu sau đây :

Đoàn Văn Vươn,
anh phải bắn để còn chân lý
chứng tỏ mình còn là người
khi lòng dân biến thành vũ khí
chính quyền sao nhốt được gió trời ?
Đoàn Văn Vươn
không ai nhốt được lịch sử
không ai bỏ tù được quê hương
gió Tiên Lãng dựng biển bờm sư tử
gió hoa cà hoa cải gió tình thương…


Chẳng phải ai cũng có tài làm thơ như Trần Mạnh Hảo, nhưng tiếng súng Đoàn Văn Vươn không chỉ gây hứng khởi cho Trần Mạnh Hảo, đó là điều ta không thể nghi ngờ.

Việt Khang

Nhân vật thứ hai tôi muốn đề cập tới hôm nay là anh Việt Khang, người nhạc sĩ trẻ miệt vườn tỉnh lẻ chí mới được biết đến thời gian gần đây đặc biệt qua hai bài hát mang tựa đề “Việt Nam tôi đâu ?” và “Anh là ai ?” Tác giả đã chứng kiến cảnh những người đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược bị săn đuổi, đấm đá, có người bị giẫm lên mặt, một số bị bỏ tù. Và rồi người nghệ sĩ của chúng ta vừa đau xót, vừa ngỡ ngàng, đã thảng thốt đặt câu hỏi qua bài hát :

Xin hỏi anh là ai ?
Sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai ?
Xin hỏi anh là ai ?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
tình yêu quê hương này,
dân tộc này đã quá nhiều đắng cay.


Và đến đây thì người nhạc sĩ như nghẹn ngào trước viễn tượng mất nước, đau đớn và kinh ngạc trước cách hành xử tàn ác thô bạo của những người tự nhận là “bạn dân”. Việt Khang tiếp tục đặt câu hỏi :

Xin hỏi anh ở đâu
ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm ?
Xin hỏi anh ở đâu
sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi ?
Dân tộc anh ở đâu
sao đang tâm làm tay sai cho Tàu
để ngàn sau ghi dấu
bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào ?
Và những câu tiếp theo cũng na ná như một lời tuyên xưng đức tin :
Tôi không thể ngồi yên
khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối !
Tôi không thẻ ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu
khi thế giới này đã không còn Việt Nam ?


Bài hát này không chỉ gây cảm xúc cho người Việt mà còn cho cả người nước ngoài quan tâm theo dõi thời cuộc ở Việt Nam. Chính vì vậy mà bài “Anh là ai” đã được chuyển qua Pháp ngữ, và được ca sĩ Antoine Figali hát để những người sử dụng tiếng Pháp cũng hiểu được nỗi niềm của Việt Khang, của mọi người Việt yêu nước, yêu độc lập, yêu tự do dân chủ.

Tiếng hát của Việt Khang không hừng hực lửa đấu tranh, lời ca không cầu kỳ, mang dáng vẻ đơn sơ, bình dị nếu không nói là ngây thơ như lời thỏ thẻ của một em bé, nhưng đàng sau cái giọng hiền hoà gần như yêu đuối là cả một ý chí sắt đá không biết đến sợ hãi, bên cạnh cái ngỡ ngàng day dứt là cả một lòng yêu nước tha thiết nồng nàn. Chính vì vậy mà tiếng hát Việt Khang đã xé lòng người Việt tha hương đến độ chỉ riêng tại Hoà Kỳ và chỉ trong hơn 10 ngày đã có hơn 50.000 người ký thỉnh nguyện thư nhằm ủng hộ những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ, đang đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.

Thời sự dưới ánh sáng Lời Chúa

Qua những câu chuyện thời sự tôi vừa trình bày, rõ ràng là Lời Chúa toả ánh sáng lên những gì đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Là tín hữu Chúa Ki-tô, bước vào Mùa Chay nếu ta đặt câu hỏi : ta phải làm gì đây, phải cố gắng sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, thì quan ngôn sứ I-sai-a, Chúa đã cho chúng ta câu trả lời. Không những thế, Chúa còn cho ta những tấm gương sống động như đã nói trên đây, và còn biết bao nhiêu tấm gương khác nữa. Tất cả đang trả giá để bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm hoạ xâm lăng, để nói lên khát vọng tự do dân chủ, để đấu tranh cho công lý, cho hoà bình. Họ không phải là những người ngồi trước bàn phím ung dung đặt câu hỏi : phải lên tiếng hay không lên tiếng. Họ cũng không dừng lại nơi những kiến thức thâu thập được từ những buổi tập huấn về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, và cứ coi như học thuộc bài để trả cho thầy là xong.

Kết luận

Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, ý chí người dân bị tê liệt vì sợ hãi. Đó là lý do khiến nhạc sĩ Tô Hải trong cuốn Hồi Ký của ông đã tự nhận mình là một “thằng hèn”. Điều hiển nhiên là khi công khai nhìn nhận mình là một “thằng hèn”, Tô Hải không còn là một thằng hèn nữa. Có điều phải vượt qua tuổi 70 Tô Hải mới công khai nhìn nhận điều đó. Còn Việt Khang và những bạn trẻ tôi đề cập đến trên đây không chờ đến khi mắt mờ chân chậm mới bày tỏ khát vọng tự do, dân chủ, mới dấn thân đấu tranh cho công lý, mới tìm cách thể hiện lòng yêu nước và chấp nhận trả giá.

Hôm nay, chúng ta họp nhau để cầu nguyện cho công lý và hoà bình, để tôn vinh Thiên Chúa là Đấng làm Chủ lịch sử. Qua những diễn biến ở Bắc Phi và Trung Đông, điều hiển nhiên là khát vọng dân chủ tự do đang đẩy lùi các chế độ độc tài toàn trị, mời gọi chúng ta xác tín rằng không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Có điều Thiên Chúa cần chúng ta tiếp tay với Ngài. Ước gì chúng ta đừng để cho Thiên Chúa thất vọng.

Posted: Sat Jan 19, 2013 5:51 am
by KýCóp
Ðảng Cộng Sản đang tan rã

Ngô Nhân Dụng


Các chế độ cộng sản chiếm được chính quyền theo phương cách giống nhau, nhưng khi suy tàn thì mỗi đảng cộng sản tan rã theo một cách khác nhau. Anh hay đọc Lev Tolstoi thì nhận ra ngay cả câu này nhại theo câu mở đầu một tiểu thuyết nổi tiếng của ông (Anna Karenina).

Các đảng cộng sản lên nắm quyền đều dùng vũ lực, như Lenin nói, “Chiến tranh là bà mụ đỡ cho cách mạng.” Hoặc Mao nói, “Súng đẻ ra quyền.” Nhưng các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu khi sụp đổ thì mỗi nơi bể vỡ một kiểu. Ðảng Cộng Sản Ba Lan tự chuyển giao quyền hành cho Công Ðoàn Ðoàn Kết sau khi lâm cảnh hoàn toàn bế tắc. Ðông Ðức, Tiệp Khắc phải nhượng bộ ý nguyện của người dân, sau các cuộc biểu tình dồn dập. Hungary đã bắt đầu thay đổi từ vài chục năm rồi nhưng phải đợi đến năm 1989 mới sụp đổ, một cách ôn hòa. Cộng sản Rumania hoàn toàn nhắm mắt bịt tai, cưỡng lại đến cùng; đưa tới cái chết thảm khốc của vợ chồng lãnh tụ sau cùng. Cộng Sản Nga khởi đầu chuyện thay đổi, cốt tìm đường tự cứu vãn, hy vọng nhờ thế sẽ cai trị lâu dài hơn; nhưng cuối cùng không tự cứu nổi, biết là hết thuốc chữa. Một yếu tố quyết định tình trạng sụp đổ của các chế độ cộng sản trên là trình độ nhận thức của người dân trong các nước đó đã lên cao đến mức chín mùi. Khi chế độ cộng sản sụp đổ, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, kể cả các đảng viên. Không một chi bộ đảng nào đưa một ngón tay ra để cứu đảng.

Ðảng Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã như thế nào? Ðây là một câu hỏi cần nêu lên, càng sớm càng tốt. Thứ nhất, vì điều đó chắc chắn xẩy ra, cứ theo như tình hình nội bộ ung thối của họ cũng như trình độ nhận thức của người dân Việt Nam đã lên cao. Thứ hai, vì cần đoán trước cảnh tan rã của đảng Cộng sản sẽ diễn ra làm sao thì người Việt mới có thể trù tính việc xây dựng chế độ dân chủ tự do sắp tới phải tiến hành thế nào. Cần chuẩn bị ngay từ trước, nếu không thì sẽ lúng túng kéo dài thời kỳ chuyển tiếp quá lâu, tại hại cho tương lai dân tộc. Phải nói rằng việc xóa bỏ chế độ cộng sản ở nước ta bây giờ không phải là điều khó nữa. Nhưng sau đó thì công việc xây dựng lại đất nước mới sẽ khó gấp trăm, gấp ngàn lần. Nhất là sau khi đất nước ta đã bị đảng Cộng sản phá cho hư nát từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Ðây là một đề tài người Việt Nam cần thảo luận với nhau, có thể nên viết thành cả cuốn sách ngay từ bây giờ.

Ðảng Cộng sản Việt Nam đang tan rã. Ðây là một sự thật.

Ðó là một tập đoàn tham nhũng, thối nát và hoàn toàn bất lực trước các khó khăn kinh tế của người dân. Nhưng họ nhất định khư khư ôm lấy chính quyền không chịu nhả ra. Họ sẵn sàng đàn áp những đòi hỏi của “dân oan” bị bóc lột và tiếng nói của giới trí thức trung thực muốn cứu vãn đất nước. Từ mấy năm nay trong đảng Cộng sản họ la hoảng về “diễn biến hòa bình,” chuyển sang báo động tình trạng “tự diễn biến.” Tất cả cho thấy chính họ biết ngày tàn đang sắp tới; hiện tượng tự diễn biến là có thật. Không phải tự diễn biến về tư tưởng, đường lối nào cả, vì bây giờ đâu còn ai chứa tí ti tư tưởng nào nữa! Tình trạng tự diễn biến xẩy ra trong lãnh vực cơ cấu quyền lực. Nói giản dị, là không biết ai có quyền gì, ai phải nghe theo ai; nói cách khác, thằng nào được ăn miếng lớn, thằng nào phải ăn miếng nhỏ. Nếu diễn biến hòa bình là may mắn. Bế tắc quá thì sẽ diễn biến mà không được hòa bình. Ðể giải quyết vấn đề cơ cấu quyền lực người ta đang sẵn sàng lên đài đấu võ chết thôi. Biết tình trạng suy tàn đang tiến tới trước mắt, nhưng đám người đang hưởng những đặc quyền đặc lợi không thể tự cởi các dây trói chằng chịt để thoát khỏi ngõ bí. Bởi vì hễ một tay đầu sỏ muốn cởi bỏ một chỗ này thì lập tức có tay đầu sỏ khác thấy sắp mất phần ăn, nhẩy vào phá đám, đòi cởi bỏ chỗ khác. Tóm lại, hết thuốc chữa.

Các tay đầu sỏ biết nạn tham nhũng là hố sâu sẽ chôn vùi đảng. Nhưng tham nhũng cũng là sợi dây liên kết cả đảng lại với nhau. Nếu không có tham nhũng, nếu không hy vọng dùng quyền lực để làm giầu cho gia đình, thì các đảng viên cầm quyền đâu còn thấy lý do nào để bảo vệ ách độc tài của đảng? Không thể nào chấm dứt tham nhũng nếu còn chế độ độc tài, cho nên họ chỉ còn cách dùng món võ tố tham nhũng làm khí cụ hại lẫn nhau.

Cuộc đấu đá công khai trong vụ Nguyễn Bá Thanh là một thí dụ dễ thấy nhất. Nguyễn Phú Trọng đưa Nguyễn Bá Thanh về Hà Nội coi Ban Nội Chính để dùng Thanh tấn công Nguyễn Tấn Dũng. Sau khi đem được ủy ban chống tham nhũng về trong tay, Nguyễn Phú Trọng thật ra cũng không biết có cách nào diệt phe Dũng hay không. Thanh có thể đóng vai tiên phong tấn công vào thành trì kiên cố của đồng chí Ếch.

Ðồng chí Ếch bèn ra tay trước. Thanh tra Nguyễn Ðức Hạnh tố giác những vụ thất thoát ở Ðà Nẵng, căn cứ địa của Nguyễn Bá Thanh làm thiệt hại công quỹ hàng ngàn tỷ đồng. Thủ đoạn tiết lộ bản báo cáo của thanh tra nhắm triệt hạ uy tín của Nguyễn Bá Thanh, giống như chặt chân ngựa trước khi tướng tiên phong này lên ngựa! Ngày hôm sau, phe Nguyễn Bá Thanh lập tức phản công, bác bỏ tất cả những kết luận của nhóm thanh tra.

Khi đọc cả bản báo cáo của Nguyễn Ðức Hạnh và lời phản công của đàn em Thanh là Văn Hữu Chiến, người ta thấy bản chất của chế độ trong việc bóc lột người dân. Vấn đề lớn nhất là của người dân là Ðất. Tai họa của bao nhiêu “dân oan mất đất,” của bao nhiêu anh Ðoàn Văn Vươn từ mấy chục năm nay là đảng Cộng sản đã có đủ cách bóc lột người dân qua chính sách ruộng đất để làm giầu cho nhóm lãnh tụ lớn nhỏ đang nắm quyền, từ trung ương xuống tới cấp thành phố, cấp huyện, cấp xã.

Ðọc những lời biện bạch của Văn Hữu Chiến, chúng ta thấy rõ mấy điều. Thứ nhất là các cán bộ địa phương nắm toàn quyền về việc phân phối quyền sử dụng đất. Họ định giá đất bao nhiêu, trao quyền sử dụng cho người nào, đó là lợi khí làm giầu mà họ chiếm độc quyền. Quyền của họ dựa trên Hiến Pháp, nói rằng tất cả đất, ruộng là của công, và đảng Cộng sản chiếm độc quyền lãnh đạo. Dựa trên hai điều đó, các cán bộ tha hồ thao túng các luật lệ về đất đai để làm giầu.

Nhưng luật lệ về đất đai lại thay đổi như tin khí tượng, có lúc nói thế này, có lúc nói khác đi. Luật lệ lại mơ hồ, như khi nói “tùy từng thời điểm,” để các cán bộ nắm quyền tha hồ giải thích theo quyền lợi của mình. Trong vụ tranh cãi về đất đai ở Ðà Nẵng ta thấy cảnh bên nào cũng có thể biện minh cho công việc cấp phát quyền sử dụng đất của họ. Nói là thiên vị, dĩ công vi tư, làm giầu cho phe đảng cũng đúng. Nói ngược lại, cũng đúng nốt!

Tất cả chỉ vì những luật lệ về đất đai luôn thay đổi chủ yếu là lúc nào cũng giữ một ý tưởng, là mọi quyền quyết định về giao đất cho ai sử dụng đều nằm trong tay nhóm cán bộ cầm đầu ở địa phương. Các luật lệ đặt ra lung tung, chằng chéo, nhưng các cán bộ lúc nào cũng nắm nắm quyền giải thích luật theo ý mình, tức là theo quyền lợi của phe mình. Văn Hữu Chiến nêu ra một thí dụ ai cũng phải thấy là “kinh khủng,” nếu không sống trong chế độ cộng sản. Một người được giao quyền sử dụng đất với giá là 100 tỷ đồng. Nếu đi vay ngân hàng thì chỉ vay được 60 tỷ thôi. Người đó chuyển quyền cho chị em ruột, với giá mới là 600 tỷ; để có thể tới ngân hàng vay được 360 tỷ!

Không có một nền kinh tế nào trên thế giới lại để xẩy ra hiện tượng kỳ lạ như vậy! Nên nhớ là những đồng tiền mà ngân hàng đem cho vay là tiền của người dân ký thác trong đó. Nên nhớ là đất công là của toàn dân, chứ không phải do đảng Cộng sản làm ra. Bây giờ đảng nắm quyền quyết định giá bán là 100 tỷ, rồi người mua vẫn dựa theo luật lệ dùng đất cầm thế mà đi vay được 360 tỷ. Họ dùng hàng trăm tỷ bạc đó làm gì, dân chúng không ai được biết hết! Sau cùng, họ có hoàn trả được ngân hàng món tiền vay hay không, cũng không người dân nào được biết. Một chính quyền thực sự do dân cử ra, trong một xã hội tự do dân chủ và nền kinh tế có luật lệ, sẽ không bao giờ cho phép những quái thai kinh tế như vậy xuất hiện! Còn ở nước ta, người ta kể ra những chuyện như vậy lại cốt để biện minh là mình vô tội!

Vậy nguồn gốc tội lỗi nằm ở đâu? Tại sao ở nước ta câu chuyện “khủng long thời tiền sử” này lại xẩy ra? Tất cả chỉ vì đảng Cộng sản nắm toàn quyền, quyền hành vô giới hạn; cho phép các cán bộ thao túng, sử dụng đất, sử dụng đồng tiền của người dân theo quyền lợi riêng của họ!

Các lãnh tụ cộng sản đã ngồi mát ăn bát vàng như vậy từ mấy chục năm nay. Vì họ tranh giành miếng ăn, xâu xé lẫn nhau cho nên người dân mới được thấy rõ những hiện tượng kỳ quái như thế. Cuộc đấu giữa các lãnh tụ cộng sản phơi bày bộ mặt thật của chế độ.

Không biết trong thời gian tới vụ cãi lộn giữa Nguyễn Ðức Hạnh với Văn Hữu Chiến và Nguyễn Bá Thanh sẽ đi tới đâu. Không biết cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng sẽ đi tới đâu. Tất cả là dấu hiệu cho thấy họ khó “tự diễn biến” trong hòa bình được. Chế độ đang trên đường tan rã.

Posted: Sat Jan 19, 2013 6:00 am
by hoanghoa
Rõ ràng, nó đã nói như thế: ‘Không nên biểu tình’
Võ Long Triều


Ðầu tháng 1 năm 2013, Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, khẳng định:
“Biểu tình chống Trung Quốc là chuyện không nên, hoàn toàn không có lợi, sẽ gây mất ổn định.”
Ngoài ra “Việt Nam và Trung Quốc có di sản quí báu hàng đầu là sự tương đồng ý thức hệ.”

Image
Trong khi quan chức cao cấp của quân đội CSVN nói “biểu tình chống Trung Quốc là chuyện không nên...” thì người dân Việt Nam
vẫn luôn chống đối kẻ láng giềng phương Bắc. Trong hình, người biểu tình hôm 9 tháng 12, 2012 tại Hà Nội giương biểu ngữ đả đảo Tập Cận Bình.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Tướng Vịnh còn phát biểu thêm rằng: “Nếu có một người bạn Xã Hội Chủ Nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ mình và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam.” Nói như vậy mà ông Vịnh có hiểu được CNXH là cái gì không? Ông hãy nghe Giáo Sư Trần Phương, nguyên phó thủ tướng, nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước, phát biểu trong hội thảo góp ý văn kiện Ðại Hội Ðảng XI như sau: “Các ông xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội từ năm 60 đến năm 80, các ông theo tư tưởng giáo điều, mà cái giáo điều nầy tôi nói là ông Mác sai. Tôi hỏi các anh đây, các anh là người đọc sách nhiều nhất, tôi hỏi các anh Chủ Nghĩa Xã Hội bây giờ là cái gì? Tôi đố các anh trả lời được đấy.”

Vậy thì Tướng Vịnh chỉ lập lại bài học thuộc lòng ca ngợi Trung Quốc và bênh vực cho sự hàng phục Bắc Kinh mà thôi.

Ngoài ra Tướng Vịnh còn lập lại nguyên văn câu nói của các cấp lãnh đạo Trung Quốc khi đề cập đến sự tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông là “đôi bên hợp tác khai thác cùng có lợi.” Ðiều mà kẻ cướp từ phương Bắc xâm chiếm biển, đảo của chúng ta rồi ngang nhiên yêu cầu đôi bên hợp tác khai thác cùng có lợi. Thật vô cùng phi lý.

Dư luận cho rằng ông Vịnh tuyên bố với báo chí như một người phát ngôn chính thức của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Xin nhắc lại ngày 15 tháng 7 năm 2011 tôi có viết bài báo tựa đề: “Chừng nào Việt Nam trở thành khu tự trị của Trung Quốc?” Tôi đã chứng minh bằng những lời tuyên bố và hành động của Hà Nội cũng như của Trung Quốc, những lời lẽ và hành động đó công khai xác nhận Việt Nam đã mất hết chủ quyền, đang lệ thuộc hoàn toàn Bắc Kinh thông qua 16 chữ vàng và 4 cái tốt. Ngoài ra trên đất nước Việt Nam, Trung Quốc làm chủ gần 90% các dự án kinh tế. Công nhân Tàu Cộng lập làng xã riêng biệt ở khắp nơi, và họ tự ý quản trị như đang ở xứ mình.

Trong một bài viết khác, tôi nhận định 14 ông ủy viên Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội cai trị Việt Nam theo lệnh Bắc Kinh, nhân danh sự “hợp tác toàn diện để hướng tới tương lai.” Các ông còn được mẫu quốc bảo vệ bằng một thỏa ước “Hợp Tác Công Lực” phòng khi hữu sự sẽ có tiếp viện của quan thầy từ Trung Quốc.

Suốt mấy năm qua, những sự kiện xảy ra dồn dập cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam tuyệt đối tuân phục Bắc Kinh. Chỉ cần nhắc lại một vài sự kiện quan trọng đủ thấy tổng bí thư, chủ tịch nước và thủ tướng Việt Nam Cộng Sản luôn luôn thực hiện theo ý đồ của Bắc Kinh. Nghĩa là trên thực tế Việt Nam đã mất về tay Trung Quốc rồi.

Vấn đề Bauxite, rõ ràng bất lợi về kinh tế và môi trường, tất cả chuyên gia kinh tế Việt Nam lên tiếng phản đối, nhưng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn sang Tàu ký thỏa hiệp, giao Cao Nguyên cho Trung Quốc. Báo chí Mỹ nhận xét: Nguyễn Tấn Dũng “triều cống” Bắc Kinh. Trong khi đó chính Trung Quốc đóng cửa nhiều mỏ Bauxite của họ vì tác hại môi trường, để sang Việt Nam khai thác. Về phương diện an ninh quốc phòng, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, công thần kỳ cựu của CSVN, cản ngăn bằng văn thơ cũng không được.

Vấn đề ổn định xã hội, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, sang Trung Quốc nhận chỉ thị trở về thông báo: “Bắc Kinh yêu cầu Việt Nam phải điều hướng dư luận quần chúng trong nước.” Lập tức mọi cuộc biểu tình chống Trung Quốc đều bị công an đàn áp dã man.

Mặt khác, tàu Trung Quốc đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, bắt ngư phủ, cướp tài vật... Hà Nội không dám chỉ đích danh tàu Trung Cộng mà phải nói là “tàu lạ”!

Việt Nam muốn ve vãn Hoa Kỳ, hy vọng Trung Quốc nới tay đàn áp thì Phó Chủ Tịch Trung Quốc ông Tập Cận Bình, sang Việt Nam tiếp xúc giới lãnh đạo công sản Hà Nội ngày 22 tháng 12 năm 2011. Dịp nầy ông Tập Cận Bình lập lại lời cảnh cáo đối với cả ba ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng rằng: “Việt Nam không được dựa vào Mỹ trong việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông.” Tờ báo Global Times của Trung Quốc đe dọa: Nếu Việt Nam dựa Mỹ để gây hấn với Trung Quốc thì sẽ “nghe tiếng súng đại bác.”

Ðể khẳng định bá quyền của kẻ mạnh, Bắc Kinh 3 lần cắt dây cáp tàu khảo sát địa chất của Việt Nam mà Hà Nội không dám phản ứng.

Việt Nam đã mất hẳn Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa do đồng chí “láng giềng hữu nghị” chiếm đoạt bằng vũ lực.

Các tỉnh miền Bắc cho Trung Cộng mướn rừng 50 năm, bằng phân nửa thời gian Anh Quốc thuê mướn Hồng Kông một trăm năm. Nhưng Anh Quốc đã giao trả Hồng Kông cho Tàu Cộng, còn rừng Việt Nam chắc gì Trung Quốc sẽ trả lại hay cướp luôn? Hiện tại, những khu rừng đó được rào lại kiên cố, không ai bên ngoài có thể tự tiện vào được.

Thái độ thuần phục Bắc Kinh còn do Ðại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Ðăng Thanh thuộc Học Viện Chính Trị Bộ Quốc Phòng thuyết phục các đảng viên, cán bộ cao cấp rằng: “Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo, dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Chúng ta không được quên ơn, chúng ta không thể vô ơn bội nghĩa.”

Trên đây chỉ là một vài sự kiện đủ chứng minh Việt Nam đã mất về tay Trung Quốc, do sự nhún nhường, ươn hèn, hoặc là Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội cố tình cắt đất đổi lấy sự hỗ trợ của quan thầy, bảo đảm cho họ ngồi yên tại vị để tiếp tục cầm quyền hưởng lợi?

Cái tội hèn với giặc ác với dân, cái tội nhường đất dâng biển, cái tội bán nước cầu vinh của giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Hà Nội đang bị Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh lập một bản cáo trạng chính xác, đầy đủ, qua bài giảng của ông trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình ngày 30 tháng 12 năm 2012 tại nhà thờ giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Sài Gòn lúc 8 giờ tối. (Quí độc giả có thể nghe được bài giảng có giá trị của một bản cáo trạng Ðảng Cộng Sản Việt Nam bán nước, bằng cách bấm vào đường link: http://www.chuacuuthe.com/?p=44217)

Posted: Sun Jan 20, 2013 4:38 am
by quangminh
Hoàng Sa, Trường Sa,
và bản đồ “Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ đời Minh Mạng” (1834)


LTS. Nhân kỷ niệm trận Hải chiến Hoàng Sa giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974,
chúng tôi xin giới thiệu bài “Lịch Sử Hoàng Sa” của nhà biên khảo Võ Hương An cùng bản đồ chủ quyền hai đảo này thuộc Việt Nam
được vẽ từ năm 1834, dưới thời Vua Minh Mạng
.
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm trên Biển Ðông mà Việt Nam đã thủ đắc từ thời các Chúa Nguyễn, vào giữa thế kỷ XVII.

Tài liệu xưa nhất của Việt Nam ghi nhận sự thủ đắc Hoàng Sa là bộ Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Ðôn (xem Phủ Biên I, tr.208-211) - bộ sách đầu tiên về lịch sử xứ Ðàng Trong - được viết năm 1776, trong thời gian ông vâng lệnh Vua Lê-Chúa Trịnh vào giữ chức Tham thị Tham tán quân cơ hai đạo Thuận Hóa, Quảng Nam. Các sách sử khác về sau, khi nói về Hoàng Sa-Trường Sa đều lấy Phủ Biên làm tài liệu căn bản rồi mới cập nhật sự kiện, điển hình là Ðại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Ðức (1848-1883). Sách này đã đã mô tả hai quần đảo này như sau:

“Ðảo Hoàng Sa: ở phía Ðông cù lao Ré huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Từ bờ biển Sa Kì đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm, bằng phẳng, rộng rãi, tục gọi là “Vạn lý trường sa”: nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi, vích, cùng những hàng hóa của thuyền người Thanh bị bão, trôi giạt vào đấy.”

“Hồi đầu bản triều (Nhà Nguyễn), đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm, cứ tháng 3 là ra biển kiếm hải vật, đến tháng 8 thì do cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên) về nộp; lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo. Phía Ðông đảo Hoàng Sa gần phủ Quỳnh Châu, đảo Hải Nam, nước Thanh. Ðầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ (thời Chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1,070 trượng (4,280m), cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam cồn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ “Vạn lí ba bình” (muôn dặm sóng yên). Ðảo này xưa gọi là núi Phật Tự, phía Ðông và phía Tây đảo đều là đá san hô, mọc vòng quanh ở mặt nước; về phía Tây Bắc tiếp với đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng (1,360m), cao 1 trượng 2 thước (4.8m) ngang với cồn cát, gọi là đá Bàn Than. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sai thuyền chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau.” (ÐNNTC 2, Tỉnh Quảng Ngãi, Viện Sử Học, tr.422-423).

Hai quần đảo này được ghi rõ trên Ðại Nam nhất thống toàn đồ, vẽ năm 1834, triều Minh Mạng,
dưới hai tên Hoàng Sa (số 1 trên bản đồ) và Vạn Lý Trường Sa (số 2 trên bản đồ).

*Xin lưu ý rằng bản đồ xưa của Việt Nam chỉ vẽ với tính cách minh họa, gợi ý, chứ không vẽ theo sự đo đạc chính xác với tỷ lệ rõ ràng như kỹ thuật đồ họa phương Tây.
Image
Ðại Nam nhất thống toàn đồ đời Minh Mạng (1834) có ghi vị trí Hoàng Sa (số 1) và Trường Sa (số 2).
(Các số 1, 2 là do người viết đánh dấu)
1. Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa, Tây phương gọi là Paracel Islands, gồm 16 đảo chính, nằm trên Biển Ðông, cách Ðà Nẵng về phía Ðông 170 hải lý (khoảng 300km).

Giới đi biển Việt Nam thì đặt tên một cách đơn giản, ví dụ đảo Cát Vàng, đảo Cây nhưng khi đi vào sách vở thì đổi thành Hoàng Sa, Cù Mộc... Giới địa lý hàng hải Tây phương gọi bằng tên riêng của họ và chia quần đảo Hoàng Sa làm hai nhóm:

-Nhóm Tuyên Ðức (Amphitrite Group) gồm có một số bãi ngầm và 9 đảo chính là: đảo Cây (Tree Island), đảo Bắc (North Island), đảo Giữa hay đảo Trung (Middle Island), đảo Nam (South Island), đảo Linh Côn (Lincoln Island), đảo Phú Lâm (Woody Island), Cồn Cát Tây (West Sand), Cồn Cát Nam (South Sand), đảo Ðá hay hòn Tháp (Rocky Island).

-Nhóm Nguyệt Thiềm (Croissant Group) cũng gồm có một số bãi ngầm và có 7 đảo chính, là: đảo Cam Tuyền (Robert Island), đảo Hoàng Sa (Pattle Island), đảo Duy Mộng (Drummond Island), đảo Quang Hòa (Duncan Island), đảo Vĩnh Lạc (Money Island), đảo Bách Quy (Passa Keah Island), đảo Tri Tôn (Triton Island).

Cho đến tháng 3 năm 1938, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 10 tháng 3, 1938, Toàn quyền Ðông Dương ra nghị định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Năm 1938, với tư cách là nước bảo hộ Việt Nam, Pháp cho dựng chủ quyền, lập hải đăng, đặt trạm quan trắc khí tượng và quân trú phòng trên quần đảo Hoàng Sa (đảo Pattle Island). Trong Ðệ II Thế Chiến, Nhật chiếm đóng Hoàng Sa (1939-1945) để kiểm soát lưu thông trên Biển Ðông. Ngày 7 tháng 1, 1947, quân đội Trung Hoa Dân Quốc chiếm đảo Phú Lâm từ tay quân Nhật. Năm 1949, đảo Phú Lâm mất về tay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc.

-Tại Hội nghị Cựu Kim Sơn để ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951 (San Francisco Peace Treaty 1951), Thủ Tướng Trần Văn Hữu của Quốc Gia Việt Nam tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp một phản đối nào từ các nước tham dự.

-Ngày 14 tháng 9, 1958, Phạm Văn Ðồng, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, ký công hàm công nhận hải phận 12 hải lý do Trung Quốc qui định. Với sự công nhận này, Phạm Văn Ðồng đã giao trọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

-Ngày 13 tháng 7, 1961, thời Ðệ I Cộng Hòa (Nam Việt Nam), Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ban hành sắc lệnh sáp nhập Hoàng Sa vào xã Ðịnh Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Từ đó, Quảng Nam chịu trách nhiệm phái quân đồn trú thường trực trên đảo.

-Thời Ðệ Nhị Cộng Hòa (Nam Việt Nam), sắc lệnh ngày 21 tháng 6, 1969 sáp nhập xã Ðịnh Hải vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

-Ngày 19 tháng 1, 1974, sau một trận hải chiến ác liệt trên biển Ðông giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) và Hải Quân Trung Quốc, nước này đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa. Mặc dầu vậy, Việt Nam Cộng Hòa vẫn khẳng định chủ quyền trên cả hai quần đảo.

Image
Hình phóng lớn vị trí của Hoàng Sa (1) và Vạn Lý Trường Sa (2) trên Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ, 1834, đời Minh Mạng.
2. Trường Sa

Tên chánh thức trong sử sách là Vạn Lý Trường Sa, như thấy ghi rõ bằng chữ nho trên Ðại Nam nhất thống toàn đồ vẽ năm 1834 (xem bản đồ). Quần đảo này nằm về phía Ðông-Nam Hoàng Sa, Tây phương gọi là Spratly Islands, gồm hơn 100 đảo lớn nhỏ. Con số 130 đảo mà Ðại Nam nhất thống chí đề cập là cộng số đảo của cả hai quần đảo. Hiện có 6 nước trong vùng chiếm hữu số đảo này, là Việt Nam, Trung Quốc, Ðài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei, trong đó Việt Nam làm chủ một số bãi đá chìm, bãi ngầm và 7 đảo, là: đảo An Bang (Amboyna Island), đảo Bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef), đảo Trường Sa Ðông (Central London Reef), đảo Sinh Tồn (Sin Lowe Island), đảo Sinh Tồn Ðông (Sin Cowe East Island), đảo Nam Yết (Nam Yit Island), đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), đảo Trường Sa (Spratlly Island).

Năm 1933, chính quyền Ðông Dương sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy. Từ 1982, Trường Sa là một huyện thuộc tỉnh Phú Khánh, rồi nhập vào tỉnh Khánh Hòa năm 1989. Quần đảo Trường Sa hiện là điểm nóng tranh chấp quyền sở hữu giữa 6 nước kể trên.

(Trong Từ Ðiển Nhà Nguyễn của Võ Hương-An, Nam Việt xuất bản, 2012 - PO Box 14982 - Irvine, CA 92623)