Bình Luận , Quan Điểm

tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Hào khí Nhân Văn Giai Phẩm

Ngô Nhân Dụng
Chuyện chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam. Một đám công an ở Nha Trang đánh đá, tra tấn một phụ nữ làm công. Chỉ vì bà này bị người chủ nhân giàu có nghi ngờ và tố cáo bà lấy trộm tiền.

Nạn nhân là bà Trần Thị Lan bị “đánh đá bằng cả tay chân, bằng dùi cui và cả bằng roi điện suốt ba ngày, mang thương tích khắp người,” phải điều trị hàng tuần lễ trong bệnh viện.

Trong thế giới văn minh cảnh sát công an không phải là những người quyết định ai có tội hay không có tội. Vì phán xét này thuộc thẩm quyền của tòa án, là ngành tư pháp. Trong thế giới văn minh nếu có một người bị kết tội ăn cắp thì cũng chỉ bị phạt tù hay phạt tiền; không ai “trừng phạt” một người ăn trộm món tiền trị giá “hơn một ngàn đô la” bằng dùi cui, roi điện. Mà nếu có ai bị tòa kết án thì việc trừng phạt không phải là nhiệm vụ của công an. Chỉ dựa vào lời tố của chủ nhân mà đánh đấm dã man một người lao động làm công, đám công an này chứng tỏ họ sẵn sàng làm tay sai cho những người giàu sang, và khinh rẻ người lao động nghèo khó, coi như súc vật. Ðánh đấm người ta đến bầm tím là hành động của côn đồ, du đãng, người có tư cách không ai làm. Năm thằng đàn ông xúm lại đánh đấm một phụ nữ tay không là hành vi hèn hạ đáng xấu hổ. Ðám công an Nha Trang này vừa vi phạm luật pháp, vừa làm trái với đạo lý sơ đẳng của loài người, vừa làm cho chính họ nhục nhã.

Với tất cả các thành tích như thế, đại úy công an Trần Bá Tuấn vừa được tòa phúc thẩm tha bổng, xóa bỏ bản án 9 tháng tù treo.

Chuyện này chỉ có thể xảy ra dưới chế độ cộng sản. Bởi vì chế độ cộng sản từ bản chất vẫn công nhiên trà đạp trên các nguyên tắc sơ đẳng của pháp luật, vẫn quen thói bất chấp đạo lý làm người. Chắc Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an Nha Trang cũng không nghĩ là họ phạm pháp. Họ chỉ làm theo thói quen, như lối các lãnh tụ cộng sản vẫn làm kể từ khi cướp chính quyền ở nước ta. Thái độ và hành vi “bất chấp pháp luật” đã được Hồ Chí Minh, Trường Chinh đặt thành khuôn mẫu ngay từ thời họ phát động Cải cách Ruộng đất, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Vụ cướp ruộng, cướp nhà “long trời lở đất” này đã giết oan hàng trăm ngàn người dân Việt Nam, trong đó có những người đã đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau thời gian xảy ra vụ này, những nhà trí thức Việt Nam đã cảnh cáo tình trạng bất chấp pháp luật của chế độ cộng sản. Sớm nhất, là trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với các ông Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi Trường Chinh ra trước Mặt Trận Tổ Quốc thú nhận các lỗi lầm về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, Luật gia Nguyễn Mạnh Tường đã dõng dạc nêu lên các nguyên tắc của luật pháp để cho ông tổng bí thư đảng cộng sản nghe một bài học. Trong bài thuyết trình lâu 6 giờ đồng hồ, ông nói: “Khi thi hành chính sách này (Cải cách Ruộng đất) người ta đã vi phạm luật pháp.” Vì đảng cộng sản chủ trương “thà giết chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một địa chủ,” trong khi nguyên tắc của pháp lý là “thà bỏ sót 10 người có tội còn hơn là kết tội oan một người”. Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm phê phán các lãnh tụ đảng lúc đó: “Những người lãnh đạo có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất không thể chỉ đứng ra xin lỗi, nhận đảng đã sai lầm. Xin lỗi không phải là một hành động của luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được.” Với tư cách một luật gia (ông đã có hai bằng tiến sĩ, luật và văn chương ở Pháp từ năm 1932, lúc 22 tuổi) Nguyễn Mạnh Tường đề nghị phương pháp giải quyết: Quốc Hội phải lập một ủy ban điều tra vụ Cải cách Ruộng đất, rồi đưa ra tòa án; “(T)òa sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng, nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất trở xuống.”

Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, trong cuốn sách mới xuất bản về vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã tinh tế nhận xét rằng các lời lẽ “Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được” và “từ lãnh đạo cao nhất trở xuống” đã tấn công thẳng vào Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ lãnh đạo đảng cộng sản. Vì sau vụ Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh chỉ đứng ra xin lỗi. Hồ cất chức Trường Chinh để chính ông ta kiêm nhiệm chức tổng bí thư, còn Võ Nguyên Giáp thì đọc bản kiểm thảo các sai lầm. Không một lãnh tụ cộng sản nào chịu trách nhiệm pháp lý trong vụ Cải cách Ruộng đất cả! Họ đã tạo ra thói quen “ngồi lên trên pháp luật” làm gương cho các cán bộ, như đại úy công an Trần Bá Tuấn ở Nha Trang bây giờ!

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Ðang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Ðiều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Ðặng Ðình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam. Thật không khác gì bà Trần Thị Lan ở Nha Trang ngày nay. Họ còn cơ cực hơn bà Lan, vì sau đó họ bị tù đày, bị cô lập, cắt hết cả việc làm, nghề nghiệp, không thể nào kiếm cơm gạo nuôi vợ con hàng mấy chục năm trời, nhiều người khốn khổ cho đến lúc chết.

Trên báo Giai Phẩm Mùa Thu, Nguyễn Hữu Ðang đã mở cuộc phỏng vấn để các nhà trí thức khác có dịp lên tiếng: Trần Ðức Thảo đòi phải có tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, tự do phê bình; Ðặng Văn Ngữ viết: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?” Ðào Duy Anh kêu gọi giới trí thức phải “đấu tranh” cho tự do, quyết chống lại bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân; Phan Khôi viết “bàn về lãnh đạo văn nghệ” để phê bình toàn thể việc lãnh đạo xã hội.

Cũng can đảm như Nguyễn Mạnh Tường, trong bài trên Phan Khôi dám phơi bày sự thật là triều đình cộng sản cực kỳ phong kiến. Ông nêu thí dụ đám cầm đầu văn nghệ lúc đó đả kích thơ Trần Dần viết hoa chữ “Người” là phạm tội, vì chữ “Người” viết hoa chỉ được dùng để nói đến Hồ Chí Minh thôi. Phan Khôi mỉa mai so sánh cảnh tượng đó không khác gì cảnh một ông quan trong triều đình phong kiến đứng ra tố cáo một ông quan khác đã viết chữ theo kiểu “đài;” lối này chỉ được dùng khi viết đến ông vua mà lại dùng để khi viết về một thường dân!

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chứng tỏ giới trí thức Việt Nam không bao giờ lãng quên trách nhiệm với lịch sử. Ngay từ đầu thời Pháp thuộc các Nho sĩ như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Cao đã bảo vệ tiết tháo sáng ngời. Thế hệ sau có những Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh noi gương họ. Ðọc cuốn sách của Thụy Khuê viết về Nhân Văn Giai Phẩm chúng ta còn được nhắc nhở để không quên thế hệ tiếp nối với những Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Hoàng Ðạo, Phan Khôi. Tác phẩm vẽ ra hình ảnh sôi nổi của những Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Cung, các kẻ sĩ giữa thế kỷ 20.

Người trí thức Việt Nam không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là tranh đấu cho tự do và cho sự thật. Trong báo Nhân Văn, Trần Ðức Thảo viết “Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở.” Người trí thức phải đỏi hỏi các quyền tự do được phát triển (mở rộng) vì đó là “nhiệm vụ số một của mình cũng như của toàn dân”.

Các thế hệ thanh niên Việt Nam, nhất là các nhà văn, nhà báo bây giờ và trong hàng trăm năm nữa vẫn có thể cảm thông với bầu máu nóng của Trần Dần khi ông viết: “Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực... Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết... Nếu như sự thực ngược lại chính sách, chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thật vào (cho đúng) chính sách!” Trần Dần đã viết những hàng trên trong bản dự thảo để trình bày trước một hội nghị giới văn nghệ trong quân đội năm 1955. Tất nhiên bản dự thảo đó không bao giờ được công bố, nhưng nó cho thấy Trần Dần đúng là một chiến sĩ. Lê Ðạt đã dùng những câu thơ để lên án chế độ độc tài chuyên chế: “Ðem bục công an máy móc đặt giữa tim người - Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước!” Ngày nay không thấy người cầm bút nào trong quân đội bầy tỏ được sĩ khí rực rỡ như vậy.

Ngày nay không phải chỉ trong giới viết văn làm báo mà ngay cả giới thanh niên ở Việt Nam đa số vẫn cúi đầu khúm núm đi “theo lề đường” do đảng cộng sản chỉ định. Người ta đăng những bản tin công an đánh người, công an giết người vô tội vạ, mà không gây nên một nỗi phẫn uất nào trong công chúng đô thị! Một vụ Ðoàn Văn Vươn đã đưa tới những vụ Văn Giang, Vụ Bản, dấy lên ở khắp các vùng nông thôn đau khổ. Nhưng thanh niên thành phố còn mê man đi ôm hôn ghế ngồi của các ca sĩ thần tượng ngoại quốc! Người thành thị chạy theo lôi sống xa hoa và sa đọa của bọn nhiều quyền và nhiều tiền, đã quên mất đồng bào nông dân cũng là bà con ruột thịt của mình đang khốn khổ! Cuộc sống đô thị đưa tới cảnh đồi trụy tinh thần! Nếu ở một quốc gia dân chủ tự do thì sau khi Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an hành hung một chị làm công Trần Thị Lan tàn nhẫn như thế chỉ vì chị bị chủ nhân giàu có nghi ngờ, thì thanh niên, sinh viên, học sinh ở Nha Trang đã xuống đường phản đối nhiều lần rồi! Trí thức đâu cả rồi? Sĩ khí đâu mất rồi?

Thanh niên Việt Nam ngày nay cần đọc lại những vần thơ như Lê Ðạt viết. Ông diễn tả khát vọng của tuổi trẻ thời 1955, lời thơ nay đọc lại vẫn còn làm náo nức lòng người: “Phải quét sạch mây đen / cho khung trời rộng mở - Chặt hết gông xiềng / cho những cánh bay lên - Ngày và đêm / mộng bay đầy cuộc sống - Khát vọng theo khát vọng - Không gì ngăn cản được con người!” Khi đọc lại câu chuyện cuộc tranh đấu “trứng chọi đá” của giới trí thức Việt Nam trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam. Nhìn lại những tấm gương của họ, chúng ta thấy còn hy vọng. Bầu máu nóng của các nhà tranh đấu dân chủ ngày nay đang sôi lên để tiếp nối chí khí bất khuất của Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang. Họ cho phép chúng ta hy vọng hào khí dân tộc sẽ còn sáng mãi.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Trả Ơn Hơn Nhớ Ơn

Tác giả : Vi Anh

Memorial Day là Ngày Chiến Sĩ Trận Vong là ngày lễ có tính truyền thống và lịch sử của liên bang Mỹ, cử hành trên tòan quốc vào ngày Thứ Hai cuối cùng của tháng 5 hằng năm. Theo nghi thức quốc kỳ Mỹ được treo rũ cho quá ngọ giờ địa phương, người Mỹ đi viếng nghĩa trang tử sĩ và các tượng đài tử sĩ Mỹ để tưởng niệm. Ngày lễ Chiến sĩ Trận Vong cũng được người Mỹ xem là ngày bắt đầu mùa hè kéo dài tới ngày Lễ Lao Động vào đầu tháng 9.

Bản tính dân tộc Việt là trọng tình, trọng nghĩa, ơn phải đền nghĩa phải trả. Nên vào Memorial Day hay Ngày Chiến Sĩ Trận Vong này, người Mỹ gốc Việt chẳng những tưởng niệm quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu tự vệ chánh đáng dể bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa mà còn tưởng niệm quân nhân đồng minh Mỹ, 58,159 tử trận và 1,719 mất tích trong khi góp sức cùng chiến đấu cho tự do dân chủ cho quốc gia dân tộc VN.

Một sự thật đáng mừng qua việc người Mỹ gốc Việt trả ơn đất nước và nhân dân Mỹ. Số người Mỹ gốc Việt thế hệ một rưỡi và hai con em của gia đình quân dân cán chính VNCH di tản qua Mỹ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ khá nhiều. Tình nguyện vào quân đội, đem mạng sống của mình để bảo vệ nước Mỹ và người Mỹ ở quốc nội và quyền lợi, niềm tin nước Mỹ ở hải ngọai, là hành động trả ơn cao cả và dũng cảm nhứt.

Có người đã lên cấp đại tá, chỉ huy lữ đòan nhảy dù thiện chiến của Mỹ. Số quân nhân Mỹ gốc Việt này đã thành lập được một hội đoàn mệnh danh Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ (Vietnamese Americans Armed Forces Association) www.vaafa.org. Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa Kỳ ra mắt cộng đồng ngày 31 tháng 5, trong một buổi lễ tại Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở Westminster và trong một buổi tiệc đông nhứt chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel, Little Saigon.

Ơn nghĩa của cộng đồng và xã hội đối với những người chiến sĩ nam nữ đã hy sinh những ngày hoa mộng của mình, nghe theo lời kêu gọi của Tổ Quốc, xả thân trong việc bảo quốc an dân, bảo vệ quyên lợi của đất nước nhân dân, việc trả ơn không phải đơn thuần chỉ là những lễ lộc có tính sân khấu, làm tin cho báo đăng, truyền hình quây.

Tuy người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS ở Mỹ còn chân ướt chân ráo, không còn chánh quyền quốc gia, nhưng là một sắc tộc trọn tình trọn nghĩa với thương phế binh VNCH. Trong các công tác gây quỹ, việc gây quỹ giúp cho thương phế binh còn kẹt ở nước nhà là thu đạt kết quả cao nhứt, lớn nhứt. Vì đại đa số quan niệm đó không phải là công tác từ thiện, mà là nghĩa vụ của đồng đội đối với đồng đội, nghĩa vụ của dân cán chính VNCH đối với quân nhân như cá với nước.

Ngày Chiến sĩ Trận Vong đúng nghĩa không phải để chỉ tưởng niệm người đã hy sinh cho Tổ Quốc, mà còn nhắc nhở cần phải đãi ngộ xứng đáng những chiến sĩ còn sống đang tại ngũ hay đã giải ngũ, lành lặn hay bị thương tật.

Nhưng thực tế khá phũ phàng ở Mỹ. Người ta thấy Lễ Chiến sĩ Trận Vong dài ba ngày cuối tuần, trừ một vài nơi như nghĩa trang, tượng đài chiến sĩ, thì có lễ lộc, có nhân viên chánh quyền, quân nhân và cựu quân nhân tham dự. Nhưng đại đa số dân chúng Mỹ còn lại thì lo đi mua sắm, tổ chức nướng thịt ăn chơi ngoài sân hay ngâm mình trong hồ tắm, chơi thể thao, hay kéo nhau đi ăn nhậu ở nhà hàng.

Trong khi đó theo sưu khảo mới nhứt của RAND Corporation từ ngày cuộc khủng bố 911 xảy ra số quân nhân Mỹ bị thương tật vì Chiến tranh Afghanistan và Iraq, tính ra hơn nửa triệu người. Bên cạnh số quân nhân bị thương tật cơ thể, số bị chấn thương tâm lý là 328,000 người và hậu chấn thương tâm lý như căng thẳng tâm thần, trầm cảm, âu lo là 300,000 người. Một tỷ số đáng lọ: cứ 5 ngưòi thì 1 người bị!

Còn số người trở về ai may mắn được vật chất tinh thần lành mạnh, thì cuộc sống hàng ngày rất khó khăn, tay làm hàm nhai có khi không đủ cho gia đình ngày này qua ngày nọ, ngay trên quê cha đất tổ của mình – là Mỹ. Khi mọi người Mỹ lo âu về cơn khủng hoảng nhà cửa và thất nghiệp những cựu quân nhân này có nhiều thứ phải lo nhiều hơn, lo làm sao đủ ăn, có chỗ che nắng, che mưa cho mình và cho vợ con. Rất nhiều cựu quân nhân bị thất nghiệp. Rất nhiều cựu quân nhân không có nhà.

Thiết nghĩ trong xã hội tự do, dân chủ, về chánh trị có người ủng hộ chiến tranh và có người chống. Nhưng có một điều cả hai lập trường cần phải phân biệt là chiến sĩ khác với chiến tranh. Quân nhân Mỹ là những người tình nguyện được chánh quyền hợp hiến, hợp pháp, nhơn danh nhân dân và quân đội điều động ra chiến trường. Quân nhân là những người tuân hành quân lịnh. Còn chiến tranh là do chánh quyền quyết định. Không vì lý do chống chiến tranh mà không ủng hộ chiến sĩ.

Nhưng rất đáng than phiền và đáng buồn, là những người chiến sĩ này sau khi đi xa đánh trận, trở về nước nhà, chưa được chánh quyền và nhân dân đãi ngộ xứng đáng. Đặc biệt là đối với những quân nhân bị chấn thương tâm thần lâu dài. Cả nước Mỹ diện tích gần 10 triệu cây số vuông, dân số hơn 300 triệu, mà chỉ có bốn trung tâm phục hồi chấn thương tâm thần cho cựu quân nhân. Cựu quân nhân bị thương tật cơ thể và tâm thần rất khó khăn và tốn kém để đến trị. Cha mẹ, chồng vợ của những nam nữ quân nhân này có khi phải nghỉ làm việc để đưa và ở một bên để chăm sóc con em, chồng vợ bị thương tật khi chữa trị có khi kéo dài cả năm. Do vậy, vì sự sống của gia đình, những người thân đó thường phải đưa quân nhân bị thương tật vào chữa trị những bịnh viện ở thành phố nhà thôi.

Thiết nghĩ quốc gia dân tộc này, chánh quyền này, Quốc hội, Hành Pháp, Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, hai đảng Cộng Hoà đang đối lập lẫn Dân Chủ đang cầm quyền nước Mỹ này cần phải chiếu cố hơn nữa đối với cựu quân nhân bị thương tật. Tăng cưòng các cơ sở chữa trị, Theo dõi những người đã được trị. Tăng kinh phí để có thêm người săn sóc tại gia. Trả lương đầy đủ cho quân nhân khi chữa trị. Quốc Hội đã đi bước đầu khi trong năm 2007 đã chuẩn thuận một kinh phí là 900 triệu để chữa trị cho ngưòi bị chấn thương trong khi trị và sau khi trị.

Đãi ngộ xứng đáng chiến sĩ không có nghĩa làm những tác động sân khấu, làm tin cho báo chí, mà phải bằng hành động thiết thực có lợi thực tế và trực tiếp cho những quân nhân. Không phải ngày Lễ Chiến sĩ Trận Vong chỉ làm lễ, viếng mộ. Không phải chỉ đón quân nhân trở về bắt tay, tươi cười ở phi trường. Rồi sau đó viên chức chánh quyền, đại diện các đoàn thể cơ quan ai về nhà nấy lo sống riêng tư, Cựu chiến binh mang những thương tật bên mình, đem nỗi âu lo chăm sóc cho gia đình, còn những người Mỹ còn lại thì đi mua sắm, làm việc, vui chơi.

Tại sao Hành Pháp, Lập Pháp không đưa ra những ưu tiên cho cựu quân nhân, không giản dị thủ tục xin tiền cựu quân nhân, tạo dễ dàng cho con em cựu quân nhân được gởi nhà trẻ, được phụ giáo khi học hành. Tại sao không đi tìm những quân nhân trừ bị sau thời gian bị gọi vào quân đội xem coi khi trở về có được vào sở cũ làm hay không. Tại sao các công ty không dành ưu tiên tuyển dụng cựu quân nhân để đền ơn đáp nghĩa đối với những người con yêu của Tổ Quốc.

Có lẽ vì những câu hỏi tại sao đó mà quân nhân Mỹ gốc Việt thành lập Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ để tương trợ, ủy lạo nhau và hướng dẫn đàn em đang trên đường tình nguyện vào quân lực Mỹ. Và có lẽ đó cũng là lý do cộng đồng người Mỹ gốc Việt tham dự một buổi tiệc đông chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel khi hội quân nhân Mỹ gốc Việt ra mắt cộng dồng Mỹ gốc Việt./.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Luật sư mù làm sáng mắt thế giới

Ngô Ðình Thu
(Nguồn: diendanctm.blogspot.com)

Một trong các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa nổi tiếng nhất Trung Quốc, Luật Sư Trần Quang Thành đã trốn thoát khỏi nơi quản thúc,
cũng là nhà mình trong đêm 22 tháng 4.

Image
Ðối diện bệnh viện ở Bắc Kinh nơi Luật Sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) điều trị,
dân oan Trung Quốc giơ cao đơn khiếu kiện của họ, hy vọng được báo chí quan tâm. (Hình: AP Photo/Alexander F. Yuan)



Mãi đến ngày 27 tháng 4, báo chí và các hãng truyền thông thế giới mới đồng loạt đưa tin ông chạy trốn từ Sơn Ðông đến Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh.

Một video ngắn 15 phút gửi Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nói là của vị luật sư đào thoát này, đăng trên một trang mạng bất đồng chính kiến tiếng Hoa đặt tại Hoa Kỳ, nêu lên ba yêu cầu: phải bảo đảm an toàn cho gia đình ông, điều tra và truy tố các quan chức đánh đập người thân của ông và trừng trị nạn tham nhũng theo đúng luật pháp.

Những tin tức sau đó cho biết Luật Sư Trần Quang Thành được sự bảo trợ của sứ quán Hoa Kỳ. Chính phủ Trung Quốc, để gỡ sĩ diện, nay tuyên bố họ chấp thuận cho ông “đi du học tại Hoa Kỳ theo đơn xin.”

Sinh năm 1971, ông Trần Quang Thành bị mù từ nhỏ. Ông tự học luật bằng cách nhờ người anh Trần Quang Phúc đọc lại bài giảng cho mình nghe. Tinh thần kiên trì, dũng cảm đã biến Trần Quang Thành trở thành một luật gia. Ðiều hơn người của ông là trong suốt mười năm dài, ông đã sử dụng kiến thức luật pháp học được để tranh đấu cho dân nghèo, chống áp bức bất công. Ðặc biệt từ năm 2005, tại Sơn Ðông, ông khởi xướng và dẫn đầu trong cuộc phản kháng chống chính sách triệt sản. Trong thực tế, gia đình các quan chức chính quyền tha hồ vi phạm chính sách này, nhưng nhân dân thì bị buộc phải tuân thủ một cách gắt gao. Hậu quả chỉ tính riêng tại tỉnh Sơn Ðông đã có hàng chục ngàn phụ nữ bị cưỡng bức phải triệt sản vĩnh viễn hoặc nạo phá thai. Có những trường hợp mang thai trên 6 tháng vẫn bị buộc phải phá bỏ. Trong điều kiện y tế tồi tệ, nhiều vụ phá thai khiến các thai phụ bị tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Ông Thành cũng cố vấn cho nông dân trong các vụ khiếu kiện về đất đai mà đa số là bị các viên chức chính quyền cướp đoạt.

Trước đó, trong những năm 90, ông bênh vực người tàn tật bị phân biệt đối xử ngay tại Bắc Kinh và nổi danh là “luật sư chân đất.” Chính quyền thù ghét ông, tổ chức cho người đánh đập, cuối cùng bắt người mù này về tội “phá rối trật tự công cộng.” Vị luật sư của dân nghèo nông thôn Trung Quốc bị kết án 4 năm tù. Sau khi mãn hạn tù năm 2010, ông bị quản thúc tại gia ở huyện Lâm Nghi, tỉnh Sơn Ðông nhưng ông vẫn không bỏ cuộc. Chính vì vậy ông thường xuyên bị sách nhiễu. Những người muốn đến thăm hoặc nhờ ông cố vấn đều bị công an tìm cách ngăn cản.

Trần Quang Thành, một luật sư mù, bằng hành động dũng cảm của mình, quả thật đã mở mắt cho cả thế giới thấy chính sách cưỡng ép phá thai và chủ trương triệt sản vô nhân đạo đối với phụ nữ nông thôn của chính phủ Trung Quốc - một sư thật bên dưới lớp vỏ hào nhoáng văn minh, đặc biệt tại các thành thị. Dư luận thế giới càng lên án hiện tượng vi phạm nhân quyền trầm trọng này khi qua sự tố giác của ông Thành, mọi người mới biết các vụ triệt sản “để đủ các con số chỉ tiêu” do cấp nhà nước bên trên chỉ định xuống bất chấp tình trạng của các nạn nhân. Ðây là chính sách chà đạp nhân quyền có hệ thống và chủ trương của lãnh đạo đảng CSTQ.

Một dữ kiện cần lưu ý khác, để tranh đấu một cách hiệu quả, vị “luật sư chân đất” đã thu hút được một mạng lưới những người cộng tác đầy lý tưởng và tận tụy chung quanh ông. Mạng lưới này có cả những người trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Một khi chấp nhận mọi hậu quả, ông được cả nhóm cộng tác nâng lên thành lăng kính tập trung ánh sáng công luận thế giới vào một thảm trạng của xã hội Trung Quốc mà Bắc Kinh luôn tìm cách khỏa lấp khi có người nhắc tới trong nhiều năm qua. Sự dũng cảm và kiên trì đấu tranh của Luật Sư Trần Quang Thành và các cộng sự viên của ông đã làm cả thế giới và cả cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới thực sự thán phục.

Không chỉ tại Trung Quốc, Việt Nam hiện nay cũng không thiếu những người can đảm như Luật Sư Trần Quang Thành. Nói riêng trong giới luật sư đã có các anh chị Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Lê Công Ðịnh, Huỳnh Văn Ðông và nhiều nữa. Và trong mấy tuần vừa qua, dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam cũng quan tâm đặc biệt đến một người Việt Nam yêu nước từ Hoa Kỳ trở về, đó là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân. Ông Quân bị bắt giữ một cách tùy tiện, vô pháp luật khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất và bị cáo buộc tội “khủng bố” dù không có bằng cớ gì.

Theo các dữ kiện có thể kiểm chứng được, ông Quân là một nhà giáo yêu nước đồng thời cũng là một nhà đấu tranh cho dân chủ suốt hai mươi năm qua - tức còn dài gấp đôi thời gian dấn thân của Luật Sư Trần Quang Thành. Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân đã chấp nhận hiểm nguy, không quản chuyện tù đày để đưa đến tay đồng bào Việt Nam của ông một phương thức mà ông cho là hữu hiệu nhất để chống lại cường quyền với vũ khí đầy đủ trong tay. Ðó là phương thức đấu tranh bất bạo động.

Cũng theo lời kể của các cộng sự viên của ông Quân thì những cảnh đau khổ của bà con dân oan, cảnh những học sinh nghèo lội sông, đu dây đi học, và cảnh từng phần quê cha đất tổ cứ bị cắt lìa đem dâng cho ngoại bang đã thôi thúc ông phải “đồng cam cộng khổ” với các nạn nhân.

Với những người như ông Trần Quang Thành, ông Nguyễn Quốc Quân và những nhà đấu tranh cho nhân quyền khác, đặc biệt trong giới luật sư, tương lai cả dân tộc Việt Nam và Trung Quốc chắc chắn sẽ phải có ngày tươi sáng hơn.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ý Nghĩa Biển Thái Bình

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Nhân vật tranh đấu cho nhân quyền là Chen Quangchen (Trần Quang Thành) bị mù mắt từng lánh nạn ở tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, đã đột nhiên bay đến New York cuối tuần qua và đã mở ngay một cuộc họp báo công khai, điều mà anh ta thật không bao giờ ngờ tới khi còn bị giam giữ tại Bắc Kinh.

Sau một ngày dài và vội vã chuẩn bị, tay còn chống nạng - với luật sư của anh ta đứng bên – có đông nghẹt khán thính giả và đại diện báo chí được vòng đai cảnh sát ngăn chặn không cho tới sát bên,Thành đã lên tiếng trình bày hoàn cảnh, cám ơn tòa Đại sứ Mỹ và chính phủ Trung Quốc. Với Trung Quốc anh tỏ ý biết ơn “vì đã giải quyết vấn đề nhẹ nhàng, không có gì thái quá”. Anh nói: ”Tôi hy vọng họ tiếp tục cởi mở như vậy và được hưởng sự kính nể cũng như sự tín nhiệm của nhân dân”.

Việc Thành được đi ra khỏi nước cùng với vợ và 2 con, cuộc thương luợng đưa đến kết quả này có vẻ là một sự tính toán của cả hai nước Mỹ và Trung Quốc.

Hãy nhìn đến bản đồ Thế giới. Chúng ta đã thấy có nhiều biển như Ấn Độ Dương nằm ở phía dưới nước này, Đại Tây Dương ngăn cách 2 lục địa Âu châu và Mỹ châu,nhưng không có một đại dương nào lớn hơn nằm giữa một bên là siêu cường đệ nhất thế giới là nước Mỹ (trước đây các nhà Nho của ta vẫn gọi là Hoa Kỳ, vì những ngôi sao nằm trên góc lá cờ) và một bên là Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới. Đại Dương lớn nhất Thế giới đó như ta đã biết được gọi bằng một tên rất gợi ý là Thái Bình Dương nằm giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ.

Thái Bình có nghĩa là hòa bình, nhưng trên thế giới ngày nay có biết bao nhiêu là tổ chức liên minh quân sự. Đầu tuần này khối NATO đã họp ở Chicago có Tổng Thống Barack Obama tham dự, đặc biệt chú ý đến việc mở đường tiếp tế từ Pakistan đến Afghanistan cho quân NATO trong cuộc chiến ở Afgha. Tổng Thống Pakistan là Ali Zardari không chịu họp tay đôi với TT Obama mặc dù Zardari bay đến họp NATO ở Chicago là để hoàn tất thỏa hiệp mở đường tiếp tế.

Trái lại TT Obama và TT Hamid Karzai của Afghanistan đã từng bất hòa với nhau từ 4 năm qua, lần này đã họp với nhau sáng Chủ nhật vừa qua để thảo luận việc tìm cách hội đàm với nhóm Taliban.

Trong khi đó hàng ngàn người dân ở Chicago đã biểu tình phản đối chiến tranh. Cảnh sát đã lập hàng rào ngăn cản người biểu tình, nhưng không có gì đáng tiếc xẩy ra.

Với tất cả những chuyện phức tạp về hòa hay chiến đó, tôi muốn trở lại câu hỏi đầu tiên: Chuyện hòa bình ở Thái Bình Dương có gì lạ? Chữ Thái bình chỉ có ý nghĩa duy nhất là “hòa bình”. Vậy hai nước lớn nhất trên bờ biển này là Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý ở một chữ “thái bình” chăng?

Biển Thái Bình có một ý nghĩa rất đặc biệt. Chủ nghĩa “thái bình” là một thứ chủ nghĩa mới, nó trội hơn bất cứ thứ chủ nghĩa nào quen thuộc trước đây của loài người như chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa cộng sản, những ”chủ nghĩa” đó chỉ đem lại tai họa cho con người chớ không có lợi gì hết.

Vậy chủ nghĩa “thái bình” đó dựa trên căn bản nào? Nó dựa trên một căn bản quen thuộc, không ai có thể chối cãi. Đó là quyền “dân tộc tự quyết”. Mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mạng của mình, chớ không bắt chước ai và cũng không theo ai cả.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Biển Đông: Lời Nguyền Dầu Lửa

Tác giả : Vi Anh
Lời nguyền của dầu lửa đã từ lâu biến Con Người thành nạn nhân của địch họa tại nhiều điểm nóng của thế giới như ở Trung Đông, Nam Á. Và dầu lửa và khí đốt đang nhen nhúm Biển Đông VN thành trận đại hồng thủy vào đầu thế kỷ 21 này.

Vào khúc quanh của hai thế kỷ 20 và 21, TC trổi dậy thành một siêu cường kinh tế thế giới, thành cơ xưởng sản xuất hàng hóa rẻ tiền tràn ngập thế giới, một thế lực quân sự đang hiện đại hóa, và một nước thèm xăng dầu như thời xưa dân số quá đông, nạn đói kém thường xảy ra nên hễ gặp nhau, chào nhau là hỏi “ăn cơm chưa”. Bây giờ xăng dầu là điều kiện sống còn của nền kinh tế TC, mà tăng gia kinh tế là thế chính thống cầm quyền của TC trước nhân dân sau khi chủ nghĩa CS thất bại ở Liên xô và Đông Âu.

Thềm lục địa của Á châu Thái Bình Dương có một trữ lượng dầu khí rất lớn. TC thèm khát là phải. Báo Hoàn cầu của TC cho biết theo ước tính, Biển Đông là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Biển Đông có trữ lượng 50 tỉ tấn dầu thô, hơn 20,000 tỉ mét khối khí đốt, gấp 25 lần trữ lượng dầu và tám lần trữ lượng khí đốt hiện có của Trung Quốc. Bộ Năng lượng Mỹ ước lượng ở Biển Đông có tới 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Còn TC đánh giá Biển Đông có khoảng 213 tỷ thùng, quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới.

Ngày 23/07/2010, tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông". Và Bà còn minh định Hoa Kỳ xem việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở vùng Biển Đông là ưu tiên ngoại giao hàng đầu của mình. và Washington sẵn sàng hậu thuẫn cho các sáng kiến hay biện pháp tạo niềm tin giữa các bên tranh chấp.. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định là việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại vùng biển phía Nam Trung Quốc là một "ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ".

Trong khi Ngoại Trưởng Mỹ tuyên bố như trên thì Ngoại Trưởng TC bỏ phòng họp ra ngoài một tiếng đồng, coi lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Mỹ là tấn công Trung Quốc. Lời tuyên bố đó của Mỹ rõ rệt chống lại ý muốn và hành động chiếm Biển Đông của TC. CS Bắc Kinh đã chính thức tuyên bố Biển Đông là một trong những "quan tâm sống còn" của Trung Quốc, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương. TC đã lấy hai đảo Hoàng Sa và Trường sa làm huyện Tam Sa sáp nhận vào tỉnh Hải Nam thuộc lãnh thổ của TC. TC đã đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, đưa ra kế họach làm kinh tế quốc phòng và du lịch trị giá hàng chục tỷ Mỹ Kim. TC cũng từng cấm công ty dầu Anh, thăm dò trong vùng biển gần hai đảo mà VNCS tuyên bố thuộc chủ quyền của VN.

Gần đây Mỹ cho hàng không mẫu hạm rồi khu trục hạm vào cảng Tiên Sa - Đà Nẵng. Hải quân Việt Nam và Hạm đội 7 của Hoa Kỳ lại thực hiện một loạt những hoạt động hợp tác trong khuôn khổ kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao của hai phía. Và Mỹ đã hiệp ước với Hà nội về nguyên tử dân sự trong đó đồng ý cho VN làm giáu chất uranium. Mỹ tuyên bố trước TC phản ứng, phát ngôn viên VN phải chối.

Hai thế lực đang giành thế hải thượng trên vùng biển Á châu Thái Bình Dương, có hai chiến thuật khác nhau. TC thì chủ trương giải quyết song phương với mỗi một nước tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa này là TQ, VN, Đài loan, Phi luật tân, Nam dương, Mã lai và Brunei. Còn Mỹ thì muốn quốc tế hoá, giải quyết đa phương, dựa trên hiệp hội ASEAN. Lý do bên ngoài nhiều nước đưa ra trong đó Mỹ đã chánh thức nói, đó là tự do lưu thông của con đường hàng hải huyết mạch qua Eo biển Mã lai của 60% hàng hoá quốc tế và 90% xăng dầu cho các nước Bắc Thái bình Dương đa số thân Mỹ.

Nhưng lý do bên trong ít ai nói ra nhưng mà vô cùng quan trọng là lời nguyền của dầu lửa nằm dưới đáy biển của Biển Đông đối với TC và Mỹ. Thử phóng chiếu lời nguyền của dầu lửa lên bối cảnh địa lý chánh trị thế giới, trong đó TC và của Mỹ là hai nước tiêu thụ dầu nhiều nhứt thế giới. TC phát triễn kỹ nghệ sau Mỹ nên đường dây mua, khai thác, chuyên chở dầu không qui mô, thánh nề nếp như Mỹ. Do vậy TC phải làm bạo hơn để tranh thủ thời gian. Vấn đề các mỏ dầu ở Biển Đông gần TC, TC muốn là một nguồn cung ứng sỡ hữu của mình, nguồn dự trữ an toàn của mình như các mỏ của Mỹ ở Alaska hay thềm lục địa của nước Mỹ.

Chẳng những ở Biển Đông mà thế giới này bất ổn vì TC mới vươn lên tranh giành dầu lửa với Mỹ. TC không làm cũng không được vì thiếu xăng dầu nền kinh tế TC sẽ khủng hoảng và xã hội TQ suy sụp, nhà cầm quyền CS Bắc Kinh có thể bị lật đổ vì nội loạn.

Từ thập niên 1990, TC trở thành một nước nhập cảng dầu. Nhu cầu theo thời gian và theo sản xuất tiêu thụ, tăng lên theo cấp số nhơn, nhứt là vào thời kỳ TQ bước vào giai đoạn dùng xe hơi. Năm 2009, TQ sản xuất 13.79 triệu xe hơi. Vào tháng 6 năm 2010, mỗi ngày TQ xài 10 triệu thùng dầu.

Còn Mỹ cũng chẳng thua gì, cần dầu như cần nước uống khi đi trong sa mạc. Dù TT Obama chủ trương và thúc đẩy việc sản xuất và dùng năng lượng thay thế, nhưng ít ra phải vài thập niên nữa Mỹ còn phải nhập cảng dầu mỏ. Năm 2008 Mỹ tiêu thụ một số lượng tương đương với 1 phần tư tổng sản lượng dầu của thế giới, phân nửa số đó Mỹ phải nhập cảng.

Tính chúng TQ và Mỹ tiêu thụ mất 1 phần 3 tổng sản lượng dầu của thế giới. Cả hai nước tranh nhau tăng gia số dầu nhập cảng. Trong thời gian gần đây kinh tế thế giới phục hồi, hai nước này phải chạy đua nhanh hơn nữa để nhập cảng dầu.

TC có lợi thế hơn Mỹ trong việc mua và khai thác mỏ dầu vì TC không bị rào cản về chánh trị tự do, dân chủ, nhân quyền. TC mua từ Cuba, Angola đến Kazakhstan, đang mở đường mạnh vào các nước nhiều dầu ở vùng Vịnh Ba Tư như Saudi Arabia và Iraq là hai nước có sản lượng dầu nhứt nhì thế giới. Nhưng đường biển vận chuyển dầu ở vùng này về TQ do Mỹ kiểm soát lâu đời rồi. Và TC cũng lo những nước có sản lượng dầu nhiều đang cung ứng cho TQ có thể bị Mỹ cấm vận như Iran.

Do đó TC lập đường ống dẩn dầu từ Trung Đông về tỉnh địa đầu Singkiang của TQ, qua Miến Điện, Vân Nam để đề phòng Mỹ gây trở ngại đường hải lộ qua eo biển Mã Lai. Mỹ mới đây kết nối được với Miến Điện, tạo thành một khó khăn chuyển vận dầu cho TC.

TC còn mở nhiều căn cứ hải quân quân sự tại các bờ biển hầu bảo vệ đường chở dầu, cả một xâu chuổi căn cứ hàng hải tại các nước mà TC muớn gọi là “xâu chuổi ngọc trai”.

Kế hoạch bành trướng mua, khai thác, chuyên chở dầu để giải quyết nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của dân chúng gây nhiều đụng chạm với Mỹ. Biển Đông VN đang trở thành một điểm nóng trong việc thay đổi địa lý chánh trị do việc tranh giành dầu của hai nước Mỹ và TQ tiêu thụ dầu mỏ nhiều nhứt thế giới.

Trở lại VN, việc Mỹ trở lại Đông Nam Á là một tin mừng nhưng với rất nhiều dè dặt cho VN. Mỹ không có tham vọng đất đai, cũng không có tham vọng chiếm hữu các mỏ dầu bằng võ lực như TC. Nhưng Mỹ cần dầu cũng như TC, và chánh quyền Mỹ là những nhà chánh trị “cực kỳ” thực dụng, thực dụng đến đổi sẵn sàng phản bội. Mỹ chỉ cần tự do thông thương và được khai thác dầu. TC và Mỹ họ có thể giải quyết nhu cầu này giữa hai nước lớn với nhau, chia quyền lợi khai thác dầu trên đầu trên cổ những nước nhược tiểu trong vùng. Bài học Kissinger và Nixon “hy sinh” đồng minh VN Cộng Hoà khi đi được với TC trong Chiến tranh VN là một bài học cho các nước ASEAN. Làm kẻ thù của Mỹ, hay TC dễ; làm bạn với họ, rất khó. Hơ hỏng, sơ sót để họ chen vào chủ quyền của đất nước sẽ rơi vào số kiếp sống lây lất và chết dằn vặt trong nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Hai câu chuyện phụ nữ Việt Nam
Ngô Nhân Dụng


Hai bản tin liên quan đến phụ nữ Việt Nam khiến mọi người phải xúc động. Tin ở Mỹ cho biết cô Diane Trần bị một quan tòa ở Texas kết án một ngày tù, sau khi cô đã bỏ học nhiều lần, một bản án khiến nhiều người phẫn nộ, không riêng gì người gốc Việt Nam.

Nếu theo luật cưỡng bách giáo dục, một học sinh trung học 17 tuổi phạm lỗi nghỉ học thì phải truy tội cha mẹ. Không hiểu sao hệ thống pháp luật không dự trù và quan tòa không nghĩ tới điều đó? Cha mẹ cô đã ly dị và cả hai bỏ đi xa, nhưng tòa án có quyền truy nã họ, trước khi bắt tội cô gái nhỏ.

Dư luận cả nước Mỹ phải cảm thương hình ảnh Diane Trần lau nước mắt khi được nhà báo phỏng vấn. Họ đã đã bày tỏ lòng cảm phục đối với cô học sinh lớp 11 vốn đã được nhà trường công nhận thuộc hàng xuất sắc. Họ đã ký kiến nghị xin xóa bản án cho cô. Cô đã làm hai công việc để giúp anh em trong lúc thiếu cha mẹ. Cô nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình. Diane Trần là tấm gương cần mẫn, hy sinh, cho tất cả các bạn trẻ Việt Nam, ở trong nước hay ngoài nước học theo.

Bản tin thứ hai cũng khiến mọi người phải xúc động, kể chuyện về hai phụ nữ ở Cần Thơ đã cam chịu nhục nhã để phản đối cường quyền cướp đất. Bà Phạm Thị Lài và con gái là Hồ Nguyên Thủy, ngụ ở phường Hưng Thạnh Quận Cái Răng đã bị cướp đất trắng trợn, không có cách nào khác phải đến mảnh đất của mình ngăn cản việc công ty đầu tư đem máy móc đến san bằng đất. Hai người phụ nữ phải tự khỏa thân để cho thấy tình trạng cùng quẫn của họ, không có phương tiện nào chống cự với cường quyền.

Bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi nói: “Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối.” Khi chiếm đất này, công ty chủ đầu tư CIC 8 chỉ bồi thường cho gia đình bà 500,000 đồng một mét vuông. Hiện CIC 8 đang chào bán đất của bà Lài với giá hơn 5 triệu đồng một mét vuông. Bà cho biết: “Ðất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. (Công ty) CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được (thảo luận giá cả theo thủ tục) thỏa thuận mua bán. Chính quyền Quận Cái Răng dùng lực lượng công an cưỡng chế đất giao cho CIC 8.”

Ðảng Cộng Sản hiện đang nhiều phương pháp cướp của cải do người dân tạo ra. Các ngân hàng trả lãi suất rất thấp cho người ký thác, rồi cho các doanh nghiệp nhà nuớc vay mà không biết bao giờ trả được. Ðó là một cách cướp tiền của dân cho các cán bộ cộng sản hưởng. Các xí nghiệp quốc doanh chiếm độc quyền không cho tư doanh cạnh tranh trong nhiều lãnh vực, khiến cho người tiêu thụ phải mua với giá cao hơn trong một thị trường có cạnh tranh. Ðó cũng là một cách cướp tiền của dân nuôi các cán bộ bất tài. Ðó là những phương pháp ăn cướp ẩn hình không phải ai cũng nhìn ra. Nhưng cướp đất của dân, bồi hoàn với giá rẻ mạt, rồi bán lại cho các chủ đầu tư, để các ông chủ này khai thác với giá trị cao gấp hàng chục, hàng trăm lần, đó là phương pháp ăn cướp trắng trợn và dễ thấy nhất. Các nạn nhân bị cướp phải nhìn ra sự thật này mà chống lại.

Nỗi uất ức của những nông dân bị cướp đất đang bùng lên, biến thành hành động. Ông Ðoàn Văn Vươn chống bọn cướp đất, đã dùng đến chất nổ để phản đối. Nhân dân ở Văn Giang, Dương Nội đang tiếp tục biểu tình phản đối chính sách cướp đất trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Ông chồng bà Lài không dám dùng vũ khí, đã tìm cách tự tử để bày tỏ thái độ. Hai mẹ con bà Lài không có cách nào khác là phản đối bằng cách tự mình chịu nhục.

Một phụ nữ bất đắc dĩ phải khỏa thân trước công chúng là một điều ai cũng thấy đáng hổ thẹn. Hai mẹ con bà Lài, cô Thủy đã nói họ “chịu nhục để phản đối.” Nhưng tất cả mọi người Việt Nam đọc bản tin này phải tự hỏi: Ai là những kẻ đáng bị sỉ nhục? Ký giả Ông Bút, trên mạng lưới “danlambaovn” đã trả lời: “Giá như bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam có một chút liêm sỉ, vâng, một chút thôi, thì sự nhục nhã này thuộc về đảng, không thuộc hai tấm thân lõa lồ này. Ðã đang tâm ăn cướp làm gì biết liêm sỉ?”

Nhưng liệu đám lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam còn chút liêm sỉ để biết chính họ đang nhục nhã trước hai phụ nữ phẫn uất gặp bước đường cùng hay không? Nguyễn Tấn Dũng khi lên làm thủ tướng đã lập ra cả một ủy ban chống tham nhũng, rồi lớn tiếng thề nguyền nếu không diệt được tham nhũng thì sẽ từ chức. Nhưng cũng chính Nguyễn Tấn Dũng tạo cơ hội cho những vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử với các công ty Vinashin, rồi Vinalines.

Tự bản chất, chế độ cộng sản không biết hổ thẹn. Năm 1956, sau vụ Cải Cách Ruộng Ðất giết chết hàng trăm ngàn người oan khuất, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chỉ biết ngỏ lời xin lỗi. Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói thẳng trong một phiên họp công khai: “Xin lỗi không phải là một hành động có tính chất pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi rồi xí xóa đi được.”

Nói những lời đanh thép đó, giống như Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ thẳng vào mặt Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và nhóm lãnh đạo cộng sản mà lên án. Giết hàng trăm ngàn người, đâu có thể xin lỗi rồi xí xóa? Nhưng tất cả bọn họ đã lờ đi như không hiểu. Họ không làm gì hết ngoài việc “sửa sai.” Nhà văn Lưu Quang Vũ sau này đã viết: “Có những cái sai không thể sửa được!” Một mạng người chết, bị giết trong oan khuất, làm sao sửa sai cho sống lại được? Nếu không đưa thủ phạm ra trước công lý thì còn đâu là luật pháp và tinh thần trách nhiệm?

Khi nói thẳng đến hành động “xin lỗi” của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhắc lại đến hai lần liên tiếp, “Xin lỗi không phải là một hành vi pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa;” hành động của Nguyễn Mạnh Tường giống như “nhổ nước bọt” vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo thời đó. Nếu những người này biết hổ thẹn thì họ đã gượng “rửa mặt” bằng cách theo ý kiến của luật sư, bảo Quốc Hội của họ mở một cuộc điều tra, đưa một số người chịu trách nhiệm ra tòa xét xử. Nhưng chính bọn lãnh đạo cộng sản thời 1956 đã không biết xấu hổ. Họ lờ đi như tai điếc; giả bộ ngớ ngẩn không hiểu ý. Ðám con cháu họ ngày nay làm sao biết đến hổ thẹn?

Báo chí “lề phải” trong nước bây giờ hay dùng chữ “Dân Oan.” Nói theo lối Nguyễn Mạnh Tường, “Dân Oan” cũng không phải là một danh từ pháp lý. Nếu một quốc gia có pháp luật thì chỉ nói đến những nạn nhân đi kiện và những thằng ăn cướp mà thôi! Dân Oan là một danh từ phân biệt dưới là Dân kêu oan còn trên là Quan bệ làm cha dân. Cứ viết Dân Oan, Dân Oan mãi chỉ chứng tỏ thời phong kiến đang sống lại, một cách các nhà báo kín đáo sỉ nhục cả chế độ. Phạm Thị Lài, Ðoàn Văn Vươn, đồng bào Văn Giang, đồng bào Vụ Bản trở thành Dân Oan vì họ không biết kiện cáo vào đâu cả! Luật pháp về đất đai thì do bọn bù nhìn nghị gật và cường hào bầy ra phục vụ quyền lợi của các đại gia. Dùi cui, doi điện nằm trong tay cường quyền. Tòa án cũng do bọn cường quyền sai bảo nốt. Những phụ nữ như Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy biết làm cách nào để tỏ nỗi oan ức? Ngoài cách mà nhà báo mạng Ông Bút gọi là “tụt quần lòi mặt đảng!” Khi cơn giận nổi lên mà tự thấy mình bất lực, người ta còn một cách là “văng tục vào mặt chúng nó!” Các nhà báo biết giận nhưng không dám văng tục đành quay ra “văng tục vào mặt nhau!” Các tờ Sài Gòn Giải Phóng, Phụ Nữ cùng báo Ðời Sống và Pháp Luật ở Sài Gòn đang công kích lẫn nhau, ông này chỉ mặt ông kia gọi là “Báo Lá Cải.” Có báo nào thử suy nghĩ tại sao dân oan lắm thế hay không? Dân còn chịu oan khuất cho đến bao giờ?

Hai bà Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy cho thấy phản ứng của con người trong lúc “cùng đường,” không có cách gì khác được. Hành động của họ là một cách xỉ mắng nặng nề hơn là văng tục hoặc nhổ nước bọt vào mặt băng đảng cướp đất. Bọn ăn cướp vẫn nín lặng làm thinh. Trước sau họ vẫn học theo lối Lâu Sư Ðức đời Ðường.

Lâu Sư Ðức làm tể tướng, giống như chức thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng bây giờ. Vào thời nhà Ðường bên Tàu không có những ngân hàng hay xí nghiệp quốc doanh để xếp đặt cho anh em con cháu vào làm chủ tịch. Cũng không có “Ðoàn Thanh Niên Tôn Quân” để đưa con em vào đóng vai lãnh đạo. Con đường làm giầu duy nhất thời đó là làm quan. Sư Ðức đã cử người em trai đi trấn thủ Ðại Châu. Khi tiễn em lên đường, Lâu Sư Ðức nhắc nhở: “Ta vốn không tài cán gì mà làm đến tể tướng. Chú lại sắp sửa đi làm đô đốc Ðại Châu. Nhà mình giầu sang quá, người ta sẽ ghét. Chú nghĩ phải làm thế nào?”

Người em đáp: “Ðể anh bớt lo lắng, từ nay trở đi nếu có ai nhổ nước bọt lên mặt, em cũng cứ lờ như không biết, tự mình chùi mặt lấy là xong.” Lâu Sư Ðức dạy em: “Chính vì thế mà ta lo đấy. Người ta nhổ nước bọt đầy mặt tức là họ thù oán mình. Nếu chú lại chùi mặt đi thì chỉ khiến người ta tức thêm. Nước bọt nhổ lên mặt thì dù mình không chùi tự nó cũng sẽ khô. Sao không cứ vui vẻ coi như không có gì cả?” Ông em cúi đầu nhận lỗi: “Xin nghe lời chỉ giáo của anh!”

Bao nhiêu đoàn nông dân lớp lớp biểu tình phản kháng bọn ăn cướp đất. Mỗi biểu ngữ, mỗi lời kêu than là một bãi nước bọt nhổ vào mặt đảng Cộng sản. Bao nhiêu bạn trẻ viết lên mạng đã phỉ nhổ, nguyền rủa bọn tham nhũng cướp ngày. Người dân đang nhổ nước bọt vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước. Nhưng đám lãnh tụ này không hề có khái niệm nào về danh dự, về trách nhiệm. Họ không hề biết xấu hổ.

Cô Diane Trần mới 17 tuổi nhưng đã có ý thức về danh dự cho nên cô đã biết chia sẻ cả sự hổ thẹn của gia đình. Khi chuyện cô ra tòa lên báo, lên đài, cô ân hận đã làm xấu mặt cả cha và mẹ; chứng tỏ cô luôn kính yêu cha mẹ. Diane Trần là một phụ nữ Việt Nam đáng kính trọng. Bà Phạm Thị Lài và cô Hồ Nguyên Thủy là những phụ nữ Việt Nam đáng thương xót và cần được mọi người bảo vệ chống lại bạo lực cường quyền. Các bạn sinh viên, học sinh đọc tin tức về những người mẹ, người chị đó, thử nghĩ mình phải làm gì để được hãnh diện làm người Việt Nam.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Làm Giầu Và Chiến Tranh

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Từ đầu tuần này, hai vị cao thủ đã đánh ra những chiêu thế ác hiểm để tranh đoạt chức Tổng Thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11 năm nay. Đó là đương kim Tổng Thống Barack Obama của đảng Dân Chủ và Mitt Romney của đảng Cộng Hòa.

TT Obama ca ngợi những quân nhân nam nữ của Mỹ đã tử trận ở Việt Nam để bảo vệ nước Mỹ, và nêu ra một số người không xứng đáng và đôi khi còn lừa bịp để nhấn mạnh “những chuyện đó sẽ không xẩy ra nữa”. Ông còn nói: “Các bạn đôi khi quy lỗi sai lầm cho những người khác. Các bạn trở về nhà và gièm pha chê trách trong khi các vị lẽ ra phải hoan nghênh tán thưởng. Đây là một sự điếm nhục cho quốc gia, đáng lẽ không bao giờ có thể xẩy ra”. Ghi nhận ngày Tưởng Niệm cho cả hai nơi: Tuởng Niệm Chiến tranh Việt Nam lần thứ 50 và tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington qua sông Potomac, Obama ghi nhận lần đầu tiên từ 9 năm qua, “Người Mỹ đã không chiến đấu và chết ở Iraq”, và nước Mỹ đang dẹp bớt vai trò của mình trong cuộc chiến ở Afghanistan.

Trước cử tọa đông đảo ở nhà hát Arlington với hàng loạt cờ Mỹ bay phất phới dưới ánh nắng rực rỡ, TT Obama nói: “Sau một chục năm sống dưới mây mờ của chiến tranh, chúng ta đã có thể nhìn thấy áng sáng một ngày mới ở chân trời”.

Obama nói trong cuộc bầu cử năm nay, nước Mỹ phải tiếp tục gắn bó với gia đình những quân nhân tử trận và giúp việc tìm công ăn việc làm cho những cựu quân nhân đã giã từ quân ngũ, giúp họ có một cấp học vấn cao hơn và được hưởng mọi quyền lợi về y tế.

Ông nói: “Một khi tôi còn làm Tổng Thống, chúng tôi sẽ tiếp tục bảo đảm cho các ông và những người thân yêu của các ông được hưởng những quyền lợi cùng những sự kính trọng mà các ông đã được hưởng. Nước Mỹ lúc nào cũng sẵn sàng đối với các ông”.

Obama còn nói đưa quân đội đến một nơi nguy hiểm “là một quyết định đau lòng nhất của tôi. Và tôi hứa với quý vị rằng tôi sẽ không bao giờ làm việc đó, trừ phi vô cùng thiết yếu”.

Trước đài Kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam, Obama nói với các cựu chiến binh của cuộc chiến này rằng “quý vị đã phục vụ với lòng yêu nước và danh dự cũng như những người đã phục vụ trước quý vị”.

Ông nói tiếp: “Khi quý vị về nhà, tôi biết nhiều vị đã để các tấm huy chương đó qua một bên. Quý vị không nói nhiều về chiến tích của mình. Thành ra hậu quả là đất nước không tán thưởng những chương kế tiếp”.

Nhưng Obama còn nói một câu sau chót đầy ý nghĩa: ”Mặc dầu nhiều người Mỹ đã quay lưng lại trước các cựu chiến binh Việt Nam, quý vị sẽ không bao giờ quay lưng lại nước Mỹ”. Chí lý lắm thay.

Mặt khác, người ra tranh cử Tổng Thống là Mitt Romney hôm thứ Hai tuần này cam kết trước một đám đông 5,000 người tại San Diego rằng ông sẽ duy trì “môt sức mạnh quân sự Mỹ không một nơi nào trên thế giới có thể sánh bằng”. Còn Tổng Thống Obama hứa giảm quân lực sau khi kết thúc vai trò của Mỹ ở Iraq và rút quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan vào cuối năm 2014.

Thiết tưởng cũng nên nhắc lại: Obama và Romney không hề phục vụ trong quân đội. Romney năm nay 65 tuổi, không hề phục vụ tại Việt Nam. Nhân viên làm việc cho Romney nói ông được miễn dịch vì được cử làm đặc phái viên của đạo Mormon tại Pháp. Còn Obama là đứa con nít trong thời chiến tranh Việt Nam.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Chiến lược “nước đôi” của Mỹ ở Biển Đông

Biển Đông, nơi chồng chéo các tranh chấp.

Trong vụ tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines, dường như Mỹ đang gửi đi những tín hiệu “lập lờ” tới châu Á. Vậy chiến lược và ý đồ thực sự của Mỹ khi “nhúng tay” vào vụ đối đầu gay cấn này là gì?

Một mặt, chính quyền của Tổng thống Mỹ – Barack Obama tái khẳng định cam kết với một trong những đồng minh thân cận nhất của mình – Philippines rằng, Mỹ luôn ở vị trí sẵn sàng để bảo vệ quốc gia Đông Nam Á này khỏi bất cứ “cuộc tấn công nào từ nước thứ 3”. Tuy nhiên, mặt khác Washington vẫn tuyên bố sẽ giữ lập trường “trung lập” trong cuộc đối đầu giữa Manila và Bắc Kinh trên Biển Đông.

Trung Quốc vẫn “lấn lướt” trên Biển Đông

Trung Quốc hiện đang có những động thái làm cuộc tranh chấp với Philippines xung quanh bãi đá cạn Scarborough/Hoàng Nham trên Biển Đông càng trở nên căng thẳng.

Trước đó, trong một bài báo được đăng tải gần đây, Nhật báo Quân đội Giải phóng Nhân dân, một tờ báo của quân đội Trung Quốc đã ra lời cảnh báo “trắng trợn” rằng Trung Quốc sẽ không cho phép bất cứ ai can thiệp vào chủ quyền trên toàn khu vực Biển Đông của mình.

Để chứng minh cho tuyên bố đó, nước này đã điều 5 tàu thuộc Hạm đội Nam Hải – Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa, trong đó có 2 tàu khu trục tên lửa chỉ đường tiến vào khu vực Biển Đông trong một sứ mệnh kéo dài 2 tháng.

Và theo Nhật báo Trung Hoa, cơ quan báo chí chính thức của Bắc Kinh, “”để bảo vệ tốt hơn chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc, thêm 36 tàu giám sát khác của nước này sẽ gia nhập hạm đội giám sát hải dương.”

Những tuyên bố “trắng trợn” về chủ quyền Biển Đông trên của Trung Quốc đã khiến các quốc gia và vùng lãnh thổ láng giềng phẫn nộ và khiến cho căng thẳng khu vực càng gia tăng.

Lập trường “lập lờ” của Mỹ

Mỹ đã “nhảy vào” khu vực Biển Đông với tư cách là đồng minh thân cận và đứng về phía Philippines. Tuy nhiên, lập trường có vẻ “lập lờ” của Mỹ ở Biển Đông đã bị Philippines và một số quốc gia là thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chỉ trích.

Khi cuộc đối đầu căng thẳng giữa Manila và Bắc Kinh sắp bước sang tháng thứ 3, thì mọi chú ý lại đang dồn về phía Mỹ.

Trong một cuộc họp chưa từng có tiền lệ “2+2” tại Washington hồi đầu tháng này, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã nói với với Ngoại trưởng Philippines – ông Alberto del Rosario và Bộ trưởng nước này – ông Voltaire Gazmin rằng Mỹ vẫn sẽ giữ “lập trường trung lập” về tranh chấp lãnh hải đang diễn ra trên Biển Đông.

Tuy nhiên, cũng trong cuộc gặp này, bà Clinton và ông Panatta đã nói rõ với phía Philippines rằng, Mỹ cam kết sẽ vẫn tuân thủ mọi quy ước trong Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ-Philippines ký kết năm 1951. Theo hiệp ước này, Mỹ sẽ phải có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền của Philippines và ngược lại trước những cuộc tấn công của nước thứ ba.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã từng nhận định rằng: “Khu vực này đang trở nên quan trọng đối với tương lai kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ.”

Chiến lược thực sự của Mỹ

Như nhà báo Simon Tisdall của tờ Guardian nhận định: “Cảm xúc của Trung Quốc sẽ quyết định chiến lược của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Barack Obama không hề mong muốn sẽ phải vướng vào một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc nhưng lại muốn đẩy lùi mọi tham vọng bá chủ của nước này ở châu Á – Thái Bình Dương”.

Để làm được điều đó thì trước tiên, Mỹ phải tăng cường khả năng phòng thủ của Philippines và các quốc gia láng giềng khác để các nước này có đủ khả năng tự bảo vệ chủ quyền lãnh hải của mình.

Còn như bình luận của Giáo sư George Amurao thuộc Đại học Mahidol ở Bangkok: “Sự cởi mở của Washington đối với mong muốn quân sự của Manila cho thấy một một kẻ yếu được vũ trang đầy đủ cũng có thể đẩy Trung Quốc ra xa. Trong một tuyên bố chính thức được chính phủ Philippines đưa ra hôm 3/5, Mỹ đã nhất trí sẽ tăng gấp 3 khoản viện trợ quân sự cho Philippines trong năm 2012.”

Vì một phần trong chính sách đối ngoại “cấp cao” của Washington đang chuyển hướng sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ đang nỗ lực tăng cường mối hợp tác với các quốc gia thuộc ASEAN để mở rộng hệ thống đồng minh, bên cạnh các quốc gia lớn khác trong khu vực như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Để đối trọng với sức mạnh ngày một lớn của Trung Quốc, chính quyền Obama đã tuyên bố thiết lập một căn cứ quân sự vĩnh viễn ở Darwin, Australia.

Hơn nữa, hợp tác phòng thủ tên lửa đạn đạo với Nhật Bản của Mỹ cũng đã được tăng cường mạnh mẽ, sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Hàn Quốc cũng đã trở nên dày đặc hơn nhiều. Và tham vọng muốn “kìm hãm” tham vọng của Trung Quốc của Mỹ cũng đã lộ rõ khi nước này đang nỗ lực tăng cường cải thiện và củng cố mối quan hệ với New Delhi.

Cuối cùng, để bảo vệ một trong những đường biển trù phú nhất thế giới, chiến thuật của Mỹ là hiện diện nhiều hơn trên Biển Đông.

Nói tóm lại, chiến thuật và mong muốn thực sự của Mỹ trong cuộc tranh chấp Biển Đông được nhận định là “nước đôi”, vừa tìm cách kìm hãm tham vọng chủ quyền ngày một bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, vừa cố gắng tránh đẩy Mỹ vào một cuộc đối đầu trực tiếp với Trung Quốc.

Đan Khanh (VnMedia)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bắc Kinh tỏ ý gay gắt trước việc
Mỹ sẽ dồn Hải quân qua Thái Bình Dương


Image
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta (AFP)

Trọng Nghĩa
Ngay sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ loan báo tại Singapore về quyết định triển khai 60% hạm đội Hoa Kỳ tại vùng Thái Bình Dương, hôm nay Trung Quốc đã lập tức có phản ứng gay gắt và nêu đích danh vấn đề Biển Đông. Trong một bài xã luận, Tân Hoa xã đã khuyến cáo Mỹ là "Không nên làm Biển Đông dậy sóng".

Theo các nhà phân tích, khi nêu bật tại Singapore các bước đi sắp tới đây của Hoa Kỳ nhằm tăng cường sự hiện diện quân sự trong vùng Thái Bình Dương, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng cho thấy rõ là Washington sẽ chống lại mọi cố gắng của Bắc Kinh muốn đơn phương áp đặt đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại vùng Biển Đông, nơi họ đang tranh chấp với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

Theo ông Panetta, các tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua đàm phán giữa tất cả các nước có liên can, và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Chỉ ít lâu sau tuyên bố kể trên, hãng tin Trung Quốc Tân Hoa Xã, trong một bài xã luận, đã cảnh cáo Mỹ là không nên làm Biển Đông dậy sóng. Với giọng điệu gay gắt, cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc đã khuyên « một số người nào đó là nên tránh khuấy động nước bùn để thả câu ».

Bài báo đã không ngần ngại cho rằng chính một số nước có tranh chấp với Trung Quốc về chủ quyền tại vùng Biển Đông đã cố tình gây ra căng thẳng trong vùng. Bài viết khẳng định : « Liên quan đến các mối căng thẳng tại vùng biển Nam Hải (tức là Biển Đông), chính một số nước có đòi hỏi chủ quyền, không rõ là đã trở nên bạo dạn hơn vì lập trường mới của Mỹ hay không, đã châm lửa rồi thổi cho lửa bùng lên ».

Ngược lại, cũng theo tờ báo, « mong muốn chân thật » của Bắc Kinh là biến Biển Đông thành một vùng biển « hòa bình, hữu nghị và hợp tác ».

Hiện nay, Trung Quốc là nước tự nhận chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, bất chấp đòi hỏi của các láng giềng. Trong thời gian qua, chính Trung Quốc là nước thường xuyên có những hành động lấn lướt các láng giềng, mà gần đây nhất là vụ đưa cả chục chiếc tàu đến trấn tại khu vực bãi đá ngầm Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Quậy Đục Biển Đông

Tác giả : Trần Khải

Trung Quốc lộ rõ bất mãn khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta tiết lộ về chiến lược Biển Đông của Hoa Kỳ.

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao TQ Liu Weimin hôm Thứ Hai nói rằng tự do thông thương trên Biển Đông (tên VN, nhưng các bản tin quốc tế thường gọi là South China Sea, Biển Nam Hoa) chưa bao giờ bị ngăn trở vì tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải nơi này.

Liu nói trong buổi họp báo ở Bắc Kinh rằng bất kỳ ai khách quan đều thấy rằng bất kỳ quốc gia nào cũng được bảo đảm tự do thông thương ở biển naỳ theo luật quó6c tế, theo tin từ thông tấn Xinhua.

Liu quy chụp Mỹ là cố ý nêu vấn đề tự do thông thương “trong khi quậy về chủ quyền một số đảo và bãi san hô ở Biển Đông.”

Thực tế, chỉ có ngư dân Việt Nam mới hiểu hết lời của Liu Weimin nói: ra biển lưới cá một chút là có thể bị bắt, bị tông cho taù chìm... Và những chuyện như thế đã xảy ra nhiều năm nay.

Có một điều khác nhau giữa Mỹ và Trung Quốc: Mỹ muốn làm gì là nói rõ sẽ làm, trong khi TQ nói là không làm những sẽ lặng lẽ làm. Đó là chuyện đã và đang xảy ra ở Biển Đông.

AFP cho biết, Bộ Trưởng Mỹ Panetta trong bài diễn văn ở hội nghị Đối Thoại Shangru-La về an ninh Châu Á tại Singapore, rằng vào năm 2020, Hải Quân Mỹ sẽ phối trí lực lượng từ mức hiện nay là 50/50 giữa 2 biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương để sẽ tới mức 60/40 lực lượng Hải Quân Mỹ ở 2 biển này.

Ông nói, như thế sẽ gồm 6 hàng không mẫu hạm trong khu vực, đa số các tàu khu trục, táu tác chiến và tàu ngầm.

Cũng trong hội nghị, Thứ Trưởng Quốc Phòng Nhật Bản Shu Watanabe bày tỏ lo ngại về chi phí quốc phòng quá lớn của TQ, nói TQ không minh bạch ngân sách là một đe dọa cho Nhật.

Ngân sách quân sự TQ tăng 11.2% mỗi năm để tới 106 tỷ đôla trong năm 2012.

Trong khi đó, thông tấn VOV từ Hà Nội nói rằng Việt Nam muốn Mỹ đóng góp duy trì an ninh khu vực.

Bản tin ghi lời ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khi tiếp đón Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta hôm 4/6/2012, “”Việt Nam mong muốn Mỹ với tư cách là một cường quốc châu Á-TBD, sẽ đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực.”

Đặc biệt, VOV ghi lời ông Dũng nói, “Hai bên cần nỗ lực hơn nữa trong quá trình xây dựng niềm tin và nâng tầm quan hệ hợp tác. Để phục vụ mục tiêu này, Chính phủ Mỹ cần sớm bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam và đóng góp tích cực hơn nữa trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh.”

Tới đây là kẹt về vấn đề nhân quyền rồi, vì chuyện bán vũ khí là ra ngoaì tầm tay của Bộ Trưởng Panetta, kể cả Tổng Thống Obama, mà cản sự cho phép của Quốc Hội Mỹ -- và nút chận là ở đây, khi nào VN chưa có đủ mức gọi là nhân quyền.

Trong khi đó, bản tin VOA ghi nhận qua tường thuật từ Hà Nội của thông tín viên Marianne Brown.

Bản tin VOA kể:

“Trong ánh nắng nóng bỏng giữa trưa tại Hà Nội, các giới chức đứng đầu quốc phòng của hai nước từng đối đầu nhau trong cuộc chiến, đã tham gia một cuộc trao đổi kỷ vật chiến tranh đầy xúc động, đó là cuốn nhật ký của một binh sĩ Việt Nam tử vong trong khi đang thi hành nhiệm vụ và những bức thư của một sĩ quan Mỹ viết trong khi đang phục vụ tại Việt Nam.

Cử chỉ tượng trưng vừa kể nằm trong khuôn khổ chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta tiếp theo cuộc đối thoại quốc phòng thường niên Shangri-La tại Singapore.

Sự hiện diện của ông Panetta hôm qua tại Việt Nam tiêu biểu cho một sự thắt chặt bang giao giữa hai nước khi ông trở thành giới chức cấp cao nhất của Hoa Kỳ kể từ sau chiến tranh đến thăm cảng thương mại nước sâu ở Vịnh Cam Ranh.

Ông Panetta đã đi thăm chiếc tàu USNS Richard E.Byrd, một tàu chở hàng dân sự với đoàn thủy thủ của hải quân hiện đang được bảo trì tại cảng này.

Ông Panetta nói: “Sự kiện chiếc tàu này có mặt ở đây, tại vịnh Cam Ranh, và đang được bảo trì bởi các nhà thầu sở tại và công tác sửa chữa được thực hiện bởi các bạn Việt Nam, là một dấu hiệu quan trọng chứng tỏ chúng ta đã tiến xa đến mức nào.”

Đây là chiếc tàu thứ 5 được sửa chữa ở Việt Nam sau khi nước này đồng ý thực hiện công tác sửa chữa nhỏ cho các tầu phi tác chiến của Hải quân Hoa Kỳ.

Khi cho phép thực hiện chuyến thăm này, Việt Nam đã đưa ra lời khẳng định rằng Hoa Kỳ có mối quan tâm chính đáng trong các vấn đề hàng hải ở Biển Đông, theo ý kiến của chuyên gia an ninh khu vực, giáo sư Carl Thayer.

Ông Thayer cho biết: “Trung Quốc nói rằng Hoa Kỳ là một người ngoại cuộc, không nên can dự và vì thế thay vì phải liên kết với Hoa Kỳ để làm đối trọng với Trung Quốc, thì Việt Nam làm điều họ vẫn làm tốt nhất, Việt Nam nói với Hoa Kỳ “hãy làm điều mà quý vị quan tâm nhất là cung cấp an ninh. Và chúng tôi sẽ dành cơ sở cho quý vị sửa chữa tàu bè.”...”

Đặc biệt, bản tin VOA ghi lời nhận xét từ Giáo sư Thayer về kỹ thuật vũ khí của Mỹ có thể sẽ không tiện dụng cho VN. Bản tin nói:

“Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tuyên bố ông hy vọng Hoa Kỳ sẽ sớm bãi bỏ các hạn chế về việc bán vũ khí cho Việt Nam, nhưng giáo sư Thayer không tin rằng điều này sẽ xảy ra trong nay mai.

Ông Thayer nhận xét: “Thiết bị của Mỹ quá đắt tiền. Đó là một kỹ thuật hoàn toàn mới lạ. Ở lại với Nga, Ukraina, Belarus, tất cả các thiết bị đều tiện dụng, và đã có từ thời Xô viết.”

Giáo sư Thayer nói báo cáo mới đây về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố không hậu thuẫn cho việc thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Và với một cuộc bầu cử sắp diễn ra vào tháng 11, ông cho rằng có ít phần chắc Washington sẽ thực hiện một sự chuyển biến đáng kể trong bang giao với Việt Nam trong nay mai.”

Trong khi đó, bình luận gia Pan Guoping trên báo China Daily ấn bản ngày 5/6/2012, từ Bắc Kinh nói rằng Mỹ chỉ lấy cớ để quậy Biển Đông.

Pan Guoping là giáo sư luật quốc tế ở Đại Học Tây Nam Khoa Học Chính Trị và Luật ở Trùng Khánh, trong bài vặn vẹo Mỹ về chuyện chưa ký bản Công Ước Luật Biển LHQ và bây giờ đang muốn ký chỉ là để ảnh hưởng toàn cầu theo quyền lợi của Mỹ.

Bài viết có hình hí họa, anh Mỹ trở thành con bạch tuộc trùm phủ quả đia cầu...

Như thế, riêng vơi chuyện người Trung Quốc vào mai phục làm bè cá ở Cam Ranh, Côn Đảo, Bà Rịa Vũng Taù, Vũng Rô... hiển nhiên là chuyện bất tường.

Hay chỉ cần hỏi ngư dân Việt Nam ở Quảng Ngãi, Quảng Nam Đà Nẵng... là cũng biết hải quân nước nào đang quậy đục Biển Đông.

Bất tường, bất tường vậy. Nếu Hải Quân Mỹ vì cớ nào không vào được cân bằng ở Biển Đông.

Trần Khải
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Sân khấu nổi trong Vịnh Cam Ranh

Ngô Nhân Dụng

Nói đến Cam Ranh, mấy bữa nay báo chí Việt Nam chú ý đặc biệt đến mấy nhà kinh doanh Trung Quốc sang nước ta thuê người Việt đứng tên làm bè nuôi cá.

Họ làm ăn bao năm rồi, mà khi báo chí trong nước loan tin ra, các ông lãnh đạo cộng sản ở Cam Ranh cũng như Nha Trang làm bộ như không biết gì hết, ra lệnh cho cấp dưới “khẩn trương” báo cáo! Nhưng đối với dư luận thế giới bên ngoài thì chuyện mấy bè nuôi cá mú này là chuyện nhỏ. Nếu có ai nhắc đến tên Cam Ranh thì lý do là những lời tuyên bố của ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ khi đến Cam Ranh.

Ông Leon Panetta mới đến Việt Nam. Ông đánh dấu ngày đầu tiên của chuyến thăm viếng trên chiếc tàu USNS Richard E. Byrd thuộc Hải Quân Mỹ; nó đang được bảo trì trong hải xưởng thuộc quân cảng Cam Ranh. Lựa chọn này gây ra nhiều thắc mắc. Các nhà báo Trung Quốc chắc chắn phải thắc mắc hơn những nhà báo khác; trước khi họ đến nghe những lời tuyên bố của ông Panetta trong một ngày nắng đẹp, trên chiếc tàu của Hải Quân Mỹ.

Thắc mắc đầu tiên là: Một ông bộ trưởng Quốc Phòng, thuộc nước nào cũng vậy, nếu định đi thăm lực lượng hải quân ở dưới quyền mình, thì chắc sẽ chọn thăm một hàng không mẫu hạm để chụp hình cho vĩ đại; chứ sao lại đi thăm một chiếc tàu vận tải? Con tàu này chỉ có hơn 140 nhân viên, mà số nhân viên dân sự đông gấp 10 lần số quân nhân, nhìn vô thấy như một chiếc tàu buôn bốc dỡ hàng hóa! Lúc đám nhân viên này đứng xếp hàng chào “sếp lớn” thì phong cảnh không có chút gì lễ nghi quân cách oai phong hết! Tại sao ông ta chọn lựa như vậy?

Thắc mắc thứ hai là: Tại sao con tàu này lại đi làm công việc bảo trì đúng ngày đúng tháng khi ông “sếp” cao nhất của nó bay sang thăm Việt Nam? Chắc đây chỉ là một công việc bảo trì thường xuyên theo lịch trình ấn định trước; bởi vì nước Mỹ có đang lâm chiến đâu mà phải đem một con tầu vận tải đi sửa chữa khẩn cấp? Một con tàu vận tải thì có hư hại gì đến nỗi phải sửa khẩn cấp, trong thời gian hòa bình?

Thắc mắc thứ ba là: Tại sao họ không đem con tàu này tới các hải xưởng ở Phi Luật Tân hay Singapore là những bến quen thuộc với Hải Quân Mỹ; của những quốc gia đã có hiệp ước lâu dài quan hệ làm ăn với Hải Quân Mỹ? Tại sao họ lại chọn một quân cảng Việt Nam làm nơi tu bổ và bảo trì? Có phải vì người đứng đầu về cơ khí trên tàu là một sĩ quan gốc Việt Nam hay không?

Sau khi nêu ra các thắc mắc đó, các nhà báo Trung Quốc có thể đoán rằng: Có một sự xếp đặt! “Chúng nó” thu xếp để cho con tầu Richard E. Byrd có mặt đúng ngày đúng tháng đó; ở ngay quân cảng đó! Chỉ cốt làm bối cảnh cho các máy chụp hình và quay phim, cho ông Panetta xuất hiện, đặt chân lên tàu rồi nói mấy câu. Chính nội dung các lời tuyên bố của ông Panetta đòi hỏi một bối cảnh cho thích hợp. Và họ đã thấy Cam Ranh là nơi thích hợp nhất. Ông Panetta chỉ muốn dùng con tàu này như một sân khấu tạm dựng, miễn làm sao cái sân khấu nổi đó nằm trong Vịnh Cam Ranh!

Trên nhật báo này quý vị đã đọc những lời tuyên bố của ông Panetta để thấy nó khai triển rõ ràng hơn những gì ông Barack Obama và bà Hillary Clinton đã nói từ lâu. Từ hơn hai năm nay, bà ngoại trưởng Mỹ, cũng như ông cựu bộ trưởng Quốc Phòng mà ông Obama thừa hưởng từ thời ông Gorges W. Bush, đều nói rằng nền an ninh trên đường biển trong vùng Ðông Nam Á là một vấn đề mật thiết với nền an ninh của nước Mỹ. Năm ngoái, ông tổng thống Mỹ đến Indonesia, một nước Ðông Nam Á, đã nói trước mặt ông Hồ Cẩm Ðào và nguyên thủ các nước Á Châu, Thái Bình Dương rằng: Nước Mỹ trở lại, và sẽ ở lại nơi đây!

Hôm cuối tuần rồi, đến lượt ông Panetta lên sân khấu. Ông nói thêm chi tiết: Hải Quân Mỹ hiện đang điều động một nửa lực lượng tàu chiến trong vùng Á Châu Thái Bình Dương. Nhưng trong thập niên tới, sẽ di chuyển 60% số tàu thủy vào vùng này! Hiện nay lực lượng Hải Quân Mỹ mạnh hơn tổng cộng hải quân của các cường quốc khác. Khi tính đem 60% vào vùng Á Châu Thái Bình Dương, nước Mỹ “có ý đồ gì?” Chắc các nhà báo Trung Quốc sẽ đặt câu hỏi đó. Và họ sẽ nhắc cho các độc giả Trung Quốc biết một điều các lãnh tụ cộng sản Trung Quốc vẫn thường nói nhỏ vào tai dân chúng hàng chục năm qua: Chính sách của Mỹ là bao vây Trung Quốc; ngăn cản không cho Trung Quốc vươn lên ngang hàng!

Nhưng điều khiến các nhà báo và độc giả người Trung Quốc phải nổi giận là những lời ông Panetta nói về phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam. Ông ta nói, một trọng tâm của việc hợp tác đó là “phát triển luật các vấn đề về Biển Ðông của Việt Nam!” Ðối với chính quyền Trung Quốc, Biển Ðông tức là Cửu Ðoạn Tuyến (Ðường Chín Ðoạn), là ao nhà của Trung Quốc, là nơi Trung Quốc đóng vai chủ sòng. Luật lệ về vùng Lưỡi Bò này là luật của Trung Quốc; Trung Quốc sẽ phát triển. Tại sao Mỹ lại muốn hợp tác với Việt Nam bàn việc phát triển những thứ luật đó làm cái gì? Việc “can thiệp vào nội bộ” này còn nặng nề hơn vụ luật sư Trần Quang Thành chạy vào tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh nữa!

Một câu tuyên bố của ông Panetta có thể được các nhà báo Trung Quốc coi là khiêu khích. Ðó là khi ông nói đến “chiến lược” mới của Mỹ không nhắm xây dựng các căn cứ quân sự cố định nữa. Thay vào đó, “quân đội Mỹ phải có khả năng đối phó và điều động nhanh chóng, dễ dàng” trong mọi cuộc chiến tranh tương lai. Ðây là một ý kiến bình thường, nhà kinh tế nào cũng có thể đồng ý. Bỏ tiền ra xây căn cứ cố định không có lợi bằng dùng tiền để gia tăng tốc độ di chuyển khắp mọi nơi! Nhưng ông Panetta lại giải thích thêm với một chi tiết: Một vấn đề “chiến lược” của Hải Quân Mỹ, là bảo đảm khả năng cho tàu chiến Mỹ “di chuyển nhanh chóng từ bờ biển phía Tây nước Mỹ sang Châu Á, phía bên kia Thái Bình Dương!”

Người Trung Hoa nào cũng nhớ hồi 1941, Hải Quân Nhật đã tấn công bất ngờ Pearl Harbor cũng chỉ nhắm tiêu diệt “khả năng di chuyển nhanh chóng” của Hải Quân Mỹ từ bờ này sang bờ bên kia của Thái Bình Dương. Chính quyền Nhật Bản chỉ tính toán sai một nước; là họ không ngờ được khả năng của công nghiệp quốc phòng của Mỹ. Các gián điệp Nhật có thể đếm đúng số tầu chiến, số lính hải quân, số cơ xưởng làm sung, đóng tầu. Nhưng họ quên không đếm số nhà máy làm xe hơi, làm máy cày, số kỹ sư và công nhân có thể đạo tạo ở Mỹ mỗi năm, vân vân; khi cần đến là tất cả chuyển sang kỹ nghệ quốc phòng. Cho nên họ không ngờ sau ba năm sức mạnh Hải Quân Mỹ đã hồi phục, rồi tăng vọt lên, đè bẹp Hải Quân Nhật. Vậy bây giờ, một ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nói đến “khả năng di chuyển nhanh chóng giữa hai bờ Thái Bình Dương” thì ông ta nhắm đối thủ là hải quân của nước nào? Chắc không phải là Nhật Bản như trước đây 70 năm.

Bây giờ thì các nhà báo Trung Quốc hiểu ngay lý do tại sao ông Panetta lại chọn vịnh Cam Ranh làm nơi tuyên bố chính sách mới của Hải Quân Mỹ. Ông ta giải thích nước Mỹ cần: “hợp tác sử dụng các hải cảng quan trọng của các nước; trong đó Việt Nam có một tiềm năng hợp tác lớn.” Nói cách khác, Mỹ không phải chỉ quay lại Châu Á. Mỹ cũng không chỉ quay lại vùng Biển Ðông Nam Á. Không chỉ tỏ ý sẵn sàng quay trở lại Việt Nam. Trong chiến lược tương lai, chính quyền Mỹ còn nhìn vào tiềm năng của những hải cảng các nước Ðông Nam Á. Thí dụ như cảng Cam Ranh này. Ông Panetta nhắc nhở: “Việc con tàu USNS Richard E. Byrd đang đậu ở Cam Ranh và được các công nhân người Việt Nam sửa chữa là một ‘bằng chứng mạnh mẽ’ về mối quan hệ giữa hai nước!”

Các nhà báo Trung Quốc có thể an ủi các độc giả của họ bằng một chi tiết này: Con tàu Richard E. Byrd không phải là một tầu chiến đấu, mà chỉ là một tàu vận tải. Tại sao chính phủ Mỹ lại chọn dựng sân khấu trên một con tầu chở hàng, chẳng có khẩu súng hay viên đạn nào nên thân cả?

Ðó là một cử chỉ cốt bày tỏ thái độ hòa hoãn với đảng Cộng Sản Trung Quốc! Nếu ông Panetta lại tuyên bố những lời lẽ vừa rồi ở trên một chiếc tầu chiến, súng ống sáng ngời, hỏa tiễn nghênh lên, thì sẽ có vẻ hằn học, gây gổ. Nếu ông ta lại leo lên một hàng không mẫu hạm mà nói, thì càng khiêu khích. Chọn một chiếc tầu vận tải nhỏ bé hiền lành, chính quyền Mỹ theo truyền thống “tiên lễ hậu binh” đã tỏ ra họ hiểu “tính nhậy cảm” của vấn đề này đối với Trung Quốc.

Cuối cùng ông Panetta cũng chỉ nhắc lại lời ông Obama đã nói: Nước Mỹ sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải trong vùng Ðông Nam Á cũng như khắp thế giới. Nước Mỹ sẽ tăng cường giúp các nước Châu Á Thái bình Dương tự vệ. Ðiều mới mẻ duy nhất là khi những ý kiến đó được lập lại trên một cái sân khấu nổi, trong Vịnh Cam Ranh!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bạo Lực

Tác giả : Tưởng Năng Tiến, RFAs Blog.
“Rạng sáng nay 7/6, người dân xã Hưng Đông, TP Vinh (Nghệ An) phát hiện một vụ cháy kinh hoàng: một người đàn ông cùng một chiếc xe máy bị thiêu cháy bên vệ đường...

Quan sát kỹ tại hiện trường, PV Dân trí nhận thấy nạn nhân bị đốt cháy gần thành than, không thể nhận dạng, bốc mùi khét lẹt... Chiếc xe máy bị đốt cũng chỉ còn trơ khung đen. Nhiều người cho rằng nạn nhân xấu số này ăn trộm chó bị phát hiện, bị đánh chết ở đâu đó rồi đưa ra cánh đồng này đốt xác.”

Hai tháng sau, cũng báo Dân Trí, lại có thêm tin nữa:

“Khoảng 17 giờ 30 phút chiều ngày 29/8, hai kẻ ăn trộm chó đã bị người dân xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) đánh chết...

Hai nạn nhân được xác định là Nguyễn Đình Dũng và Nguyễn Đình Hồng, cùng SN 1988, đều trú tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc. Vào giời nói trên, khi trời nhá nhem tối, người dân nơi đây nghe tiếng xe máy rú ga và tiếng chó sủa ầm ĩ. Lập tức dân ùa ra đường, chứng kiến cảnh hai thanh niên đi trên một chiếc xe máy đang kéo theo con chó chạy bạt mạng phía sau.

Bị người dân đuổi theo, hai thanh niên đã bỏ con chó lại nhưng vẫn bị chặn đánh. Rất đông người cùng tham gia đánh hai kẻ trộm chó khiến một người chết tại chỗ, một người chết trên đường đi cấp cứu. Chưa hả giận, người dân nơi đây tiếp tục đốt nốt chiếc xe máy cái xe máy tang vật...”
Image
Một học viên PLC bị đánh đập khi đang tu tập vào ngày 20 tháng 5 năm 2012. (Ảnh: Dân Làm Báo)
Riêng năm rồi – may thay – ở Nghệ An chưa ai bị đánh chết vì trộm chó, chỉ có một người bị đánh gần chết vì lý do tương tự – theo như tường thuật của báo Pháp Luật, số ra ngày 6 tháng 9 năm 2011:

“Nạn nhân là anh Phạm Văn Tấn giáo viên trường tiểu học Mã Thành (Yên Thành - Nghệ An). Hiện anh Tấn đang nằm điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An. Theo lời tường trình của anh Tấn trên báo VTC, khoảng 20h30 ngày 2/9, anh với một đồng nghiệp khác tên Thanh đi chơi ở nhà người bạn. Do chưa quen đường, trời tối nên bị lạc, sau đó hai anh định rẽ vào một nhà dân để hỏi thì bị người này nghi ngờ, hô hoán có kẻ câu trộm chó.

Chỉ một phút sau, hàng chục người dân chạy ra bao vây, dùng gạch đá, gậy gộc...tấn công. Lợi dụng trời tối, anh Thanh may mắn chạy thoát được còn anh Tấn lĩnh toàn bộ trận đòn. Chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius cũng bị người dân đốt cháy rụi.”

Ba người bị đánh chết, và một người suýt chết (ở Nghệ An) trong thời gian qua, đã khiến tôi liên tưởng đến những cái chết khác – thảm khốc và thương tâm không kém – cũng ở địa phương này, hồi giữa thế kỷ trước, chính xác là vào năm 1952, theo lời kể của nhà văn Võ Văn Trực:

“Một lũ ngồi lúc nhúc ở giữa vòng vây người nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa. Người xem đông quá là đông. Sóng người xô dồn lên, rồi dạt ra phía sau, rồi lại cuộn xoáy, ôm nhau, níu áo nhau. Không thể nào nghe được dân quân đang tra khảo tội nhân điều gì? Chỉ nghe nhứng tiếng quát lớn;Mi có khai không? Mi có khai không? trộn lẫn với tiếng đấm đá huỳnh huỵch...”

“Tổ cha cái đồ phản động cái đồ Việt gian” – có tiếng người hét to như muốn vỡ ngực vỡ họng. Chính cái người hét to ấy đang ôm một gốc cây phi lao sần sùi mấu lao từ trên bức tường xuống như con mạnh thú vồ mồi, giơ cao gốc cây phang một cú vào ngực người bị treo ngược. Người bị treo rú lên một tiếng thất thanh và hai tay run rẩy như con nhái trước lúc chết. Thịch! Sợi dây đứt. Người bị treo ngược rơi xuống, sọ đập trên đất lổn nhổn cứt sắt... Người bị treo ngược bây giờ thành cái xác nằm sõng xoài trên đất ....”

(Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. California: Tạp Chí Văn Học, 2006)

Chuyện làng ngày ấy, và chuyện làng bây giờ – xem ra – không khác nhau nhiều lắm. Lòng “nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa” được thổi bùng lên từ thời “cách mạng phóng tay phát động quần chúng” đến nay (có lẽ) chưa bao giờ tắt, ở Việt Nam.

Và cái ác, tất nhiên, không chỉ giới hạn ở ... làng. Cuối năm ngoái, blogger Cánh Cò đã ghi nhận hàng chục vụ án sát nhân xẩy ra chỉ trong một ngày – ngày 14 tháng 11 năm 2011 – qua thông tin báo chí trong nước:

Dân Việt 14-11: Thắt cổ chồng đến chết rồi ung dung đi ăn cưới. Bà Đỗ Thị Thơ, sinh năm 1976, dân tộc Kinh, trú tại xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang chính là vợ của nạn nhân.
Bee.Net 14-11: Một người chăn bò bị chém chết tên Võ Văn Giới ngụ ấp 3, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ.

Lao Động 14-11: tại số nhà 228, thị trấn Trùng Khánh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã xảy ra một vụ cướp hết sức táo tợn làm chị Nông Thị Thu thiệt mạng và anh Đinh Trọng Thành bị thương nặng.

Lao Động 14-11: Vụ án giết bảo vệ, cướp ngân hàng xảy ra ở chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) Bình Đà, Thanh Oai, Hà Nội, bước đầu đã có những manh mối.

Bee.Net 14-11: Vì muốn báo thù anh Nguyễn Việt Cường, ở phường Nguyễn Văn Cừ, TP Quy Nhơn, Bình Định, giảng viên khoa Lịch sử Trường ĐH Quy Nhơn, mà Đặng Văn Cửu, 22 tuổi, ở xã IaYok, IaGrai, Gia Lai, sinh viên năm cuối trong trường, đã bắt cóc cháu Nguyễn Việt Dũng 8 tuổi, học sinh lớp 3 Trường tiểu học Ngô Mây rồi ra tay sát hại dã man.

Dân trí 14-11: Xảy ra mâu thuẫn, Bình vồ cán chổi bằng cây lao vào đánh tới tấp vào đầu chị Hà. Khi phát hiện nạn nhân gục hẳn, đối tượng này lạnh lùng đưa cô vợ “hờ” lên giường đắp chăn rồi tẩu thoát.

Thanh Niên 14-1: Hầu như đêm nào khoa Cấp cứu của các BV Chợ Rẫy, Nhân dân 115, Nhân dân Gia Định, Chấn thương chỉnh hình… cũng tiếp nhận những ca nhập viện do đánh nhau, đâm chém. Những đối tượng này thuộc nhiều lứa tuổi (khoảng 16 đến 40 tuổi). Theo các BS, tình trạng đả thương về đêm nhiều hơn ban ngày.

Tiền Phong 14-11: Lãnh đạo Trại giam A2, Bộ Công an, Diên Xuân, Diên Khánh, Khánh Hoà xác nhận, tối 8-11 một hạ sĩ quan của trại A2 là N.N.H đâm bị thương hai người tại khu nhà trọ.

Việt Báo: Ngày 15/11: Công an quận Thủ Đức, TP HCM đã đưa Kim Văn Bình về nhà trên đường 12 phường Tam Bình để thực nghiệm hiện trường hành vi sát hại dã man người chung chăn gối suốt nhiều năm.

TTXVN 14-11: Vụ giết người chỉ vì… điếu thuốc.

VietnamNet 14-11: Chân dung kẻ nghịch tử hiếp dâm em gái ruột.

VnExpress 14-11: Bà chủ thu đổi ngoại tệ bị sát hại tại nhà. Người đàn bà kinh doanh thu đổi ngoại tệ nằm chết trong bếp với 3 vết chém. Cạnh đó, người chồng bất tỉnh, cơ thể đầy thương tích.

Dân Việt 14-11: Nam sinh viên đâm chết người yêu cũ của bạn gái. Công an phường An Xuân, Tam Kỳ, Quảng Nam cho biết Nguyễn Đức Chiến, 21 tuổi, sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng Công kỹ nghệ Đông Á, TP Tam Kỳ, đã ra đầu thú về tội giết người.

Bạo lực không chỉ giới hạn ở tầm mức cá nhân mà còn được nhận rõ ở bình diện tập thể qua chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội. Trong việc trấn áp nông dân ở Văn Giang, blogger Hiệu Minh có nhận xét rằng đây chính là “bằng chứng sống về cách quyền địa phương đối với dân, coi dân như kẻ thù.”

Còn trong vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, Võ Thị Hảo nhận định như sau:

“Trong hành xử, những người này coi dân như nô lệ. Nô lệ phải gọi dạ bảo vâng, phải thờ chữ nhẫn, phải dâng hiến cho họ (quan lại mới) quyền lợi chung riêng và ngay cả tính mạng. Cho sống thì được sống, bắt chết phải chết, không được quyền trái ý họ.”

Với chủ trương bao che và xử dụng bạo lực của giới cầm quyền, với khuynh hướng “sính” dùng bạo lực (được cổ súy và ấp ủ từ hơn nửa thế kỷ qua) của nhiều người dân Việt, viễn tượng về một cuộc giải phóng khỏi thân phận nô lệ hiện nay mà không phải đổ máu ra– xem ra – có vẻ rất mỏng manh.

Tối ngày 20/5/2012, tin từ Facebook Linh Phan cho biết:

“Trong lúc mình và 2 học viên Pháp Luân Công đang nhắm mắt tập công tại khu đất trống Lam Sơn, phường Linh Tây, Q. Thủ Đức thì bị 7, 8 người mặc thường phục xông vào đánh tới tấp. Họ dùng cây gỗ có cạnh vuông đập liên tục vào mình và 2 học viên khác, lúc đó mình không biết chuyện gì đang xảy ra.

Họ đánh quá mạnh nên mình bỏ chạy. Tài sản của mình và các bạn bỏ lại đó họ không lấy thứ gì nhưng điên cuồng đập phá, chiếc xe máy có chìa khóa ở đó họ cũng không lấy…

Tôi không biết những người Mặc thường phục vô cớ hành hung tôi là ai, tôi tha thứ cho tất cả họ.Tôi mong rằng họ đừng để ĐCSTQ lợi dụng, hãy để cho chúng tôi yên ổn tu luyện!

Thiện có thiện báo, Ác hữu ác báo ! Thần Phật đang nhìn tất cả chúng sinh. Đánh tôi ko hề gì, tôi tha thứ cho tất cả mọi người. Nhưng xin đừng để kẻ ác lợi dụng mà bản thân mình rơi vào Địa ngục!

Tôi tha thứ cho tất cả các bạn, tôi chân thành thương các bạn.

Xin đừng đánh đập các học viên Pháp Luân Công đang tu luyện theo nguyên lý Chân - Thiện - Nhẫn nữa!”

Câu hỏi được đặt ra là liệu dân Việt còn “nhẫn” được thêm bao lâu nữa? Và mức độ bạo loạn sẽ đi xa đến đâu khi dân tộc này đã bị đẩy đến mức giới hạn chịu đựng cuối cùng? Có ai quan tâm hay chuẩn bị gì không để người Việt có thể tránh khỏi, ngăn chận, hay giới hạn (ở mức độ khả kham) cho tình huống tồi tệ này – trong trong tương lai gần?

Những câu hỏi này – có lẽ – đã đặt ra hơi muộn, và không chỉ đặt ra cho những bậc thức giả, hoặc đám dân đen mà còn xin được trân trọng (và chân thành) gửi đến những người đang nắm toàn quyền sinh sát ở đất nước này. Qúi vị mới là những nhân vật quyết định số phận của toàn dân, và mạng sống cũng như tài sản của chính mình cùng thân nhân, trong những ngày tháng sắp tới.

Tưởng Năng Tiến, RFAs Blog.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Hoa Kỳ và Cam Ranh

Trần Bình Nam

Ông Leon Panetta, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ sau khi tham dự Hội nghị Shangri-La tại Singapore với 27 bộ trưởng quốc phòng trên thế giới (1)
hôm Chủ Nhật 3 tháng 6, 2012 đã đến viếng căn cứ Cam Ranh mở đầu chuyến công du Việt Nam 3 ngày.

Image
Ðây là chuyến thăm viếng căn cứ Cam Ranh đầu tiên của một bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ kể từ khi Hoa Kỳ rút quân
ra khỏi căn cứ sau Hiệp Ðịnh Paris 1973.
Công bố chính thức của cuộc công du Việt Nam là để thúc đẩy việc tìm kiếm tung tích của 1,200 binh sĩ Mỹ đã chết trong cuộc chiến Việt Nam nhưng chưa tìm được hài cốt. Và đồng thời thăm chiến hạm Richard E. Byrd, một chiến hạm chuyên chở binh sĩ của Hải quân Hoa Kỳ đang neo để sửa chữa tại Cam Ranh. Chuyên viên sửa tàu của Việt Nam đã được gởi đến giúp chuyên viên Hoa Kỳ trong việc sửa chữa.

Dù được công bố mục đích của chuyến thăm viếng là gì, và các lời tuyên bố rào trược đón sau của Hà Nội cũng như của Hoa Kỳ để làm yên lòng Trung Quốc, sự hiện diện của ông Bộ Trưởng Panetta là một thông điệp không thể nhầm lẫn của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc.

Tại Hội nghị Shangri-La ở Singapore ông Panetta đã cảnh giác Trung Quốc rằng nếu Hoa Kỳ đưa sức mạnh quân sự trở lại Tây Thái Bình Dương Hoa Kỳ không có mục đích đe dọa quyền lợi của Trung Quốc. Và ông Panetta thuyết phục Trung Quốc rằng nói chuyện với nhau tốt hơn là cãi vã nhau.

Tại Singapore, ông Panetta không nói gì đến việc ông sắp thăm viếng Cam Ranh, và chỉ nói rằng Trung Quốc đừng ngạc nhiên nếu trong tương lai Hoa Kỳ đưa thêm nhân sự và tàu chiến vào vùng Á Châu Thái Bình Dương. Ông cũng không ngần ngại tiết lộ rằng vào năm 2020, 60% trong số 285 tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ hiện diện tại vùng Á Châu Thái Bình Dương và ông cũng cho biết 6 trong số 11 mẫu hạm của Hoa Kỳ cũng sẽ thường trực tại Á Châu. Ông Panetta nói kế hoạch bố trí dài hạn 8 năm trước mắt của Hải quân Hoa Kỳ đã được dự liệu dù ngân sách quốc phòng được cắt giảm.

Căn cứ Cam Ranh là một quân cảng quan trọng, và có thể nói ai quản lý Cam Ranh là người kiểm soát biển Ðông và con đường thông thương huyết mạch từ Ấn Ðộ Dương lên phía Bắc Thái Bình Dương.

Năm 1964 Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu địa hình cảng Cam Ranh chuẩn bị mở rộng cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam ra miền Bắc. Và đầu năm 1965 sau khi Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và đánh đắm một chiếc tàu trọng tải 100 tấn của Bắc Việt chở vũ khí tiếp tế cho bộ đội cộng sản ở miền Nam tại Vũng Rô (trong vùng Ðèo Cả thuộc tỉnh Phú Yên) Hoa Kỳ quyết định xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ Hải Không quân.

Từ năm 1965 đến năm 1973 Cam Ranh là một cứ điểm quan trọng của Hoa Kỳ. Quân đội và tiếp liệu cho toàn cuộc chiến đều ra vào qua cảng Cam Ranh. Sau Hiệp Ðịnh Paris 1973 Hoa Kỳ rút các lực lượng ra khỏi Cam Ranh, và giao lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa không có phương tiện duy trì Cam Ranh như một căn cứ và chỉ sử dụng phi trường Cam Ranh một cách giới hạn.

Vào đầu tháng 4, 1975 cảng Cam Ranh còn được sử dụng để tiếp người tị nạn từ miền Trung. Ngày 3 tháng 4, 1975 Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa rút khỏi Cam Ranh.

Sau khi chiếm miền Nam, Hải quân Bắc Việt một phần không có nhu cầu, một phần không có khả năng nên căn cứ Cam Ranh bỏ trống. Năm 1979, sau cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, Việt Nam cho Nga thuê Cam Ranh trong 25 năm. Mục đích chính yếu là dùng sự hiện diện của Nga ngăn ngừa một cuộc xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc. Nga đã biến cải Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn ngoài lãnh thổ Nga. Nga cho xây thêm tại Cam Ranh 5 cầu tàu, 2 bãi đưa tàu lên cạn để bảo trì và sửa chữa, xây thêm cơ sở cho tàu ngầm ẩn núp, kho chứa dầu, nhà máy điện, doanh trại và kéo dài phi đạo. Năm 1991 Liên Bang Xô Viết sụp đổ, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thay đổi. Giữa năm 2002, Nga rút khỏi Cam Ranh. Sau khi Nga rút đi, Trung Quốc ve vãn Hà Nội để thuê cảng Cam Ranh, nhưng Hà Nội vẫn còn đủ tỉnh táo để không “bán” Cam Ranh cho Trung Quốc dù căn cứ được bỏ trống.

Những năm gần đây Hà Nội cho chuyển phi trường dân sự Nha Trang vào Cam Ranh dùng cho các chuyến bay nội địa. Người ta đoán Hà Nội có ý dân sự hóa hải cảng Cam Ranh, và sau đó quốc tế hóa Cam Ranh để giải tỏa áp lực đòi thuê bao sử dụng của Trung Quốc.

Quyết định đó của Hà Nội là một quyết định có tính chiến lược đúng đắn chừng nào Trung Quốc còn biết tự chế trong việc đòi quyền làm chủ biển Ðông và giành quyền kiểm soát con đường biển quan trọng của thế giới.

Thời gian cho thấy Trung Quốc dường như đặt mục tiêu “trở thành siêu cường” là một nhiệm vụ lịch sử và bước đầu là bung ra biển Ðông, biến biển Ðông thành cái “hồ nhà” của mình để dọn đường đi bốn biển năm châu. Trung Quốc biết rằng sức mạnh của Hoa Kỳ đang đi xuống nhưng còn mạnh hơn mình nhiều và Trung Quốc sẽ chờ đợi: 10 năm, 15 năm, trước khi đọ sức với Hoa Kỳ.

Nhưng với các nước nhỏ trong vùng Trung Quốc không cần chờ đợi. Trung Quốc dùng chính sách o ép bằng kinh tế và chính trị. Riêng với Việt Nam ngoài áp lực kinh tế Trung Quốc còn dùng nợ nần và ơn nghĩa cũ để làm áp lực. Ðối với Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng nhất nên nếu trị được Việt Nam, các nước khác trong khối Asean sẽ phải cúi đầu thuần phục. Cho nên trong những năm qua Trung Quốc đã triển khai một chính sách “lấn ép” Việt Nam trên biển Ðông. Và năm 2011 là năm Trung Quốc làm những hành động bắt nạt Việt Nam lộ liễu nhất.

Giữa năm 2011 chính quyền đảo Hải Nam công bố lệnh ngưng đánh cá trong biển Ðông và gởi hằng trăm tàu hải giám để chặn bắt ngư dân Việt Nam. Ngày 1 tháng 6 Trung Quốc dọa bắn một ngư thuyền Việt Nam gần Trường Sa và ngày 5 tháng 7 nhân viên Hải giám Trung Quốc đánh đập một chủ thuyền khác trước khi dùng vũ lực đuổi ra khỏi vùng biển “cấm” tại Hoàng Sa.

Trung Quốc cũng còn tìm cách ngăn cản việc khai thác dầu khí của Việt Nam trong vùng Ðặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone - EEZ). Ngày 26 tháng 5 Trung Quốc cho 3 tàu Hải giám đến lén cắt dây cáp dò tìm dầu khí của tàu Bình Minh 2 của Cục Dầu khí PetroVietnam. Ðây là lần đầu tiên Trung Quốc xâm phạm một cách lộ liễu vùng EEZ của Việt Nam.

Trong hai ngày liên tiếp 29 & 30 tháng 5 trong khi tàu khảo sát Viking II do PetroVietnam thuê tìm dầu khí trong bãi Tư Chính (Vanguard Bank), một tàu hải giám Trung Quốc đến cắt dây kéo dụng cụ tìm dầu. Lực lượng bảo vệ Viking II của Việt Nam đã ngăn cản đuổi tàu hải giám của Trung Quốc đi và hai bên xuýt đụng đô nhau bằng vũ lực. Chưa hết, ngày 9 tháng 6 Trung Quốc lại cho tàu đánh cá đến cắt dây cáp của Viking II. Và cuối tháng 6 một vụ cắt dây cáp khác lại diễn ra chung quanh bãi Tư Chính.

Trước các hành động khiêu khích và lần lướt của Trung Quốc, Việt Nam đã áp dụng đối sách phản ứng nhiều mặt: (1) đối đầu (không dùng vũ khí) trên thực địa, (2) Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết tuyên bố mạnh mẽ Việt Nam sẽ hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia, (3) làm ngơ để nhân dân Hà Nội và Sài gòn biểu tình trong các ngày Chủ Nhật trong suốt 12 tuần từ đầu tháng 6, và sau cùng (4) không quên mặt ngoại giao gởi giới chức cao cấp đi Trung Quốc nói chuyện hơn thiệt.

Nhưng các hành động của Trung Quốc trên biển Ðông không phải là những đụng chạm ngoài ý muốn, mà là các hành động trong chính sách nên các đối sách đáp ứng của Việt Nam không còn thích hợp. Việt Nam cần phải có một chọn lựa khác.

Có nhiều dấu hiệu năm 2012 là năm căng thẳng. Ðầu tháng 3, 2012 Trung Quốc bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam và hai thuyền đánh cá trong vùng biển Hoàng Sa (Trung Quốc đã chiếm bằng vũ lực đầu năm 1974) đòi tiền chuộc. Và Việt Nam cũng chỉ có thể phản ứng bằng nước bọt. Giữa tháng 4 Trung Quốc gây hấn với Phi Luật Tân tại bãi cạn Scarborough của Phi, và với lời lẽ “dao to búa lớn” của Trung Quốc người ta chờ đợi những bước lấn tới trong chính sách đã được hoạch định của Trung Quốc. Dường như Trung Quốc muốn khiêu khích để Việt Nam chịu không nổi phải đánh trả và họ có cớ để ra tay đẩy cuộc tranh chấp sang một tầng cao khác có lợi cho họ.

Trong tình hình hiện nay Cam Ranh trở thành một cái chìa khóa giải quyết cuộc tranh chấp biển Ðông. Nếu trong 10 năm qua (từ 2002 khi Nga rút ra khỏi Cam Ranh) Việt Nam đã từ chối mọi ve vãn quốc tế sử dụng cảng Cam Ranh và nhắm quốc tế hóa cảng này là một chính sách khéo léo thì với các chuyển biến càng lúc càng tăng cường độ của Trung Quốc có thể buộc Việt Nam phải có một chọn lựa khác.
Image
Ðồng minh và quan hệ an ninh có văn bản đối với Hoa Kỳ có lẽ còn quá sớm. Nhưng nếu có giao kèo để Hoa Kỳ sử dụng Cam Ranh thì có lẽ cũng là một thế bài giải nước bí của Việt Nam. Trước đây người ta vẫn đặt câu hỏi: Hoa Kỳ có muốn sử dụng lại Cam Ranh hay không. Và không ai có câu trả lời dứt khoát. Chuyến thăm viếng Cam Ranh của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta và sự tiếp đón nồng hậu của Việt Nam là một câu trả lời từ hai phía không nhầm lẫn được.

Tín hiệu chuyển đổi chính sách của Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ làm Trung Qquốc rà soát và điều chỉnh lại chiến thuật tiến ra biển Ðông của họ. Và lịch trình Hoa Kỳ thuê bao Cam Ranh để làm căn cứ tiếp vận cho Hạm đội 7 còn tùy thuộc vào sự điều chỉnh này.

Có thể còn rất lâu. Nhưng chuyến thăm Cam Ranh của ông Panetta sẽ làm cho tính cách bè bạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thay đổi, và quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ không còn như trước. Nếu giữa Việt Nam và Trung Quốc còn đồng sáng với 16 giữ vàng giả dối thì “mộng” cũng đã khác nhau nhiều.

Trần Bình Nam

binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com



(1) Hội nghị Tổng trưởng quốc phòng của 27 nước Australia, Brunei, Burma, Cambodia, Canada, France, Germany, India, Indonesia, Japan, Laos, Malaysia, Mongolia, New Zealand, Pakistan, People's Republic of China, Philippines, Russia, South Korea, Sri Lanka, Singapore, Thailand, East Timor, United Kingdom, United States và Vietnam họp hằng năm tại khách sạn Shangri-La ở Singapore bắt đầu từ năm 2002 do sáng kiến và tổ chức bởi Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (International Institute for Strategic Studies). Do đó hội nghị này có tên là Hội nghị Shangri-La (Shangri-La dialogue).
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Tham nhũng và đặc lợi

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Trong hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản khóa XI được tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 5 vừa qua, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng có hai bài phát biểu chính, một trong buổi khai mạc và một trong buổi bế mạc.

Một trong vài nội dung chính của hai bài phát biểu là vấn đề tham nhũng. Ðó cũng chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng thảo luận trong suốt cuộc hội nghị kéo dài đến chín ngày.

Trong bài diễn văn khai mạc, ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận tham nhũng là một “vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong nhân dân.” Ông khoe là, từ nhiều năm qua, Việt Nam “đã sớm ban hành nghị quyết của Trung ương, Pháp lệnh và tiếp đó là Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng và nhiều quyết sách khác; đã thành lập Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương; đã tiến hành nhiều biện pháp liên tục.”

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận là “nhưng đến nay công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.” Tại sao? Ông đặt câu hỏi. Nhưng ông không trả lời. Có lẽ ông cho đó là nhiệm vụ của cả Ban Chấp Hành Trung Ương trong mấy ngày họp hành sau đó. Ông chỉ nêu lên một nguyên tắc chung: “Ðể trả lời cho câu hỏi này, cần nhìn thẳng vào sự thật, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc tình hình tham nhũng, lãng phí và kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”

Tiếc, kết thúc hội nghị, chúng ta vẫn không nghe được câu trả lời thật thỏa đáng.

Trong diễn văn bế mạc, ông Nguyễn Phú Trọng cũng vẫn nói một cách chung chung. Về thành tích: “công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động.” Về hạn chế: “công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu ‘ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng’. Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước.”

Về nguyên nhân: “Một số cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những bất cập về thể chế, nhất là trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội; trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch và nhất quán; vẫn còn tình trạng ‘xin - cho’. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Ðảng, trước nhân dân; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm.” Về biện pháp: “Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính Trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.” Cuối cùng là một lời kêu gọi: “Mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương Ðảng hãy là một chiến sĩ tiên phong, đi đầu trong cuộc đấu tranh này. Phải gương mẫu, giữ mình cho trong sạch, không vướng vào tham nhũng, lãng phí; đồng thời phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt trong đơn vị công tác của mình.”

Ðọc xong hai bài phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng, người ta thấy ngay là sau chín ngày làm việc, liên quan đến chuyện phòng chống tham nhũng, Ban chấp hành Trung ương đảng dường như chỉ làm được một việc duy nhất: giao nhiệm vụ phòng chống tham nhũng cho Bộ chính trị. Xin lưu ý là trước đây, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc phủ Thủ tướng và do ông Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban.

Việc thay đổi này chứng tỏ ít nhất ba điều: một, cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo không thành công; hai, có một sự bất tín nhiệm nào đó trong Ban chấp hành Trung ương đối với việc lãnh đạo phòng chống tham nhũng của ông Nguyễn Tấn Dũng; và ba, người ta thừa nhận tham nhũng là một vấn đề của đảng hơn là của chính phủ. Từ hai điểm đầu, một số người cho đây chỉ là một hình thức tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo Việt Nam, và trong cuộc tranh giành này, người yếu thế chính là Nguyễn Tấn Dũng. Còn người thắng thế? Tôi không biết. Và có lẽ cũng không có ai biết chắc. Trừ những người trong cuộc. Nhưng theo tôi, điểm thứ ba mới là điều quan trọng. Ðã đành ở Việt Nam rất khó phân biệt ranh giới giữa đảng và nhà nước. Ðảng nắm toàn bộ guồng máy nhà nước. Hầu như tất cả cán bộ nhà nước, từ trung ương xuống địa phương đều là đảng viên. Nhưng dù sao việc thừa nhận ở trên cũng tiết lộ dường như người ta đã thấy đâu là gốc và đâu là ngọn: nguyên nhân căn bản nhất của tham nhũng xuất phát từ đảng.

Nói “dường như” vì, thật ra, tôi cũng không chắc. Ðặc điểm lớn nhất của giới lãnh đạo Việt Nam là người ta không dám đi đến cùng bất cứ một nhận thức nào. Họ cứ ngập ngừng, tự lừa dối mình và lừa dối người khác trong những sáo ngữ rỗng tuếch.

Những điều vừa trình bày ở trên hầu như ai cũng biết. Biết gốc rễ của tham nhũng là ở đảng. Ðúng hơn: ở tính chất độc quyền của đảng.Tham nhũng bao giờ cũng gắn liền với quyền. Không có quyền, không thể tham nhũng được. Ở đâu cũng vậy, hễ có quyền là có nguy cơ tham nhũng. Tham nhũng chỉ là cái ngọn. Ngăn chận tham nhũng, do đó, phải bắt đầu từ gốc: hạn chế và kiểm soát quyền lực. Ở các nước phát triển, nạn tham nhũng, nếu có, chỉ ở mức ít ỏi và lẻ tẻ. Lý do không phải vì người ta không có lòng tham. Mà vì, một, người ta sợ; và hai, nếu không sợ, người ta cũng không có nhiều cơ hội để tham nhũng. Ở Việt Nam, đảng nằm ở ngoài và ở trên luật pháp. Ðảng muốn làm gì thì làm, kể cả tham nhũng.

Ðưa Ban chỉ đạo Phòng Chống tham nhũng về Bộ Chính Trị tưởng là tăng thêm quyền hành cho nó để nó làm việc hiệu quả hơn. Nhưng, không phải. Ðó chỉ là cách để đẩy nó vào vòng bí mật. Sau này, mọi việc ngăn chận hay phát hiện tham nhũng đều thuộc vấn đề nội bộ của đảng, được quyết định trong các cuộc họp kín. Ở đó, các “đồng chí” sẽ làm việc với nhau. Dân chúng trong cả nước chỉ biết được các kết luận cuối cùng được thông báo một cách vắn tắt. Cho đến nay, nội dung các thông báo ấy phần lớn đều giống nhau: “Không đủ chứng cứ!”

Hơn nữa, vấn đề không phải chỉ là tham nhũng. Còn nghiêm trọng hơn cả tham nhũng là việc lợi dụng các đặc quyền của mình. Ðây chính là nguồn lợi lớn nhất của các cán bộ cao cấp. Có quyền, người ta tha hồ buôn bán đất đai. Có quyền, người ta tha hồ phân phát quyền và lợi cho người thân, từ vợ con đến anh em và họ hàng. Cứ thế, có thể không cần tham nhũng, tiền bạc vẫn cứ ào ào chảy vào túi họ. Và thân nhân của họ. Cứ nhìn vào chuyện cô con gái 24 tuổi của Tô Huy Rứa được làm chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty xây dựng Vinaconex với gần 2000 cán bộ hay cái dinh thự được xem là “siêu sang” với khu vườn rộng hơn 4,000 thước vuông đầy cây quý và hiếm của người con trai bí thư tỉnh ủy Hải Dương thì đủ biết.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Bản chất mô hình kinh tế Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng

Các lý thuyết gia hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc vừa mới họp nhau ở Vịnh Hạ Long trong một cuộc hội thảo hàng năm, với đề tài là: “Ðổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc.”

Về phần Việt Nam, những chữ đáng chú ý là “Ðổi mới mô hình;” về phần Trung Quốc, là câu “chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế.” Cuộc hội thảo này nhắm vào mặt lý thuyết và cũng nhắm vào việc tuyên truyền, nhìn vào hai người trưởng phái đoàn thấy ngay. Bên Việt Nam là ông Ðinh Thế Huynh, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Trung Ương Ðảng, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương. Phía Trung Quốc là ông Lưu Vân Sơn, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Ban Bí Thư, trưởng Ban Tuyên Truyền Trung Ương. Công việc của họ là lý luận, tuyên giáo, tuyên truyền. Không thấy mặt các người lãnh đạo về kinh tế, những người nắm thực quyền trong tay, nắm các quyết định ai được ăn cái gì và ăn bao nhiêu. Những chuyện thực tế đó chắc sẽ diễn ra theo thường lệ không cần biết các nhà lý luận nói cái gì với nhau cả. Nhiệm vụ của các lý thuyết gia thường chỉ là tìm cách “Minh Họa” bằng văn chương chữ nghĩa cảnh chia phần ăn uống trong thực tế; làm sao vẫn “kiên trì”bảo vệ chiêu bài của hai đảng. Cả hai đảng vẫn mang tên là Cộng sản nhưng bản tin chính thức đầu tiên về cuộc hội thảo cho thấy các diễn từ khai mạc không nói gì đến chủ nghĩa Mác, Lê Nin hay tư tưởng Mao Trạch Ðông cả. Cuộc hội thảo của các lý thuyết gia kinh tế nhưng không hề nhắc tới Marx, Lenin, Mao, đó là một điều đáng chú ý. Tuy ông Lưu Vân Sơn có nói đến việc “thúc đẩy sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa;” mà ai cũng biết ở Trung Quốc khi nói đến “hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa” thì người ta cũng nói theo cách khác, là “xã hội chủ nghĩa theo lối người Trung Hoa.”

Nhưng “xã hội chủ nghĩa theo lối Trung Hoa” nghĩa là thế nào? Trong cuộc hội thảo này không biết các nhà lý luận và tuyên truyền người Trung Quốc diễn tả các đặc điểm lý thuyết Trung Hoa về Xã hội Chủ nghĩa ra sao. Và cũng không biết các lý thuyết gia người Việt có quyết tâm học tập theo đường lối Bắc Kinh theo truyền thống vẫn “Học tập Mao Chủ Tịch” từ 50 năm trước hay không. Nhưng ở bên ngoài đảng Cộng sản thì người Việt Nam nào cũng nên biết là trong hành động thực tế thì đảng Cộng sản Trung Quốc đã theo đường lối kinh tế như thế nào, và nó đang “chuyển đổi” ra sao mà ông Lưu Vân Sơn, trưởng đoàn đại biểu Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã chọn nhan đề bài diễn văn khai mạc là “Kiên trì điều phối tổng thể, nắm bắt trọng điểm chiến lược, đẩy nhanh hơn nữa chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế.”

Không biết các lý thuyết gia sẽ nói năng những gì sau cuộc hội thảo này để cho dân ta được nghe đảng Cộng sản Việt Nam lý luận như thế nào khi cố biện minh, bào chữa và bảo vệ một “chế độ kinh tế Vinashin và Vinalines.” Nhưng làm người Việt Nam ai cũng có quyền hiểu các vấn đề kinh tế liên can đến cơm gạo mình ăn, nhà cửa mình ở, nếu có. Cho nên cần giải thích rõ các vấn đề kinh tế và “mô hình kinh tế Trung Quốc” cho đồng bào ta biết.

Người bình dân chúng ta đều biết rằng vấn đề kinh tế chính trị căn bản là “ai làm và ai hưởng?” Tất cả mọi người dân trong một nước làm việc, họ tạo ra của cải, dịch vụ, để tất cả mọi người chia nhau thụ hưởng các thành quả đó. Vấn đề “ai làm gì và ai hưởng bao nhiêu” tùy thuộc cách tổ chức chính trị, đây là điều Karl Marx đã phân tích, làm nền tảng tạo ra phong trào cộng sản quốc tế. Marx thấy trong nền kinh tế tư bản vào thế kỷ 19 ông sống có hai loại người. Ðó là các ông chủ tư bản bỏ vốn, điều khiển, sai bảo; và giới lao động làm việc đổi lấy đồng lương. Người lao động làm việc tạo ra những sản phẩm có giá trị khi được trao đổi như hàng hóa. Các công nhân chỉ được hưởng một phần các giá trị đó để vừa đủ sống và làm việc tiếp. Phần giá trị còn lại, gọi là thặng dư, thì các ông chủ tư bản hưởng hết; họ sẽ dùng một phần các giá trị thặng dư tạo ra tư bản mới, tiếp tục khai thác và bóc lột theo một quá trình như cũ.

Mô hình phân tích của Marx vẫn áp dụng trong tình trạng Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Chỉ có một thay đổi trong thực tế là ở các nước này các ông chủ tư bản thời thế kỷ 19 đã vắng mặt, thay vào đó chúng ta thấy các ông chủ mới, gọi chung là Ðảng Cộng sản. Các ông chủ mới tái lập hệ thống kinh tế thị trường, để cho một số người ngoài có cơ hội ngoi lên đóng vai ông chủ nhỏ. Nhưng các ông chủ lớn, thuộc đảng Cộng sản, vẫn nắm quyền quyết định phần lớn. Họ sử dụng guồng máy nhà nước làm ra luật lệ. Họ dùng hệ thống ngân hàng để phân phối “giá trị tặng dư” dưới hình thức tiền vốn. Họ dùng các doanh nghiệp nhà nuớc để tiếp tục đóng vai ông chủ. Guồng máy nhà nước, hệ thống ngân hàng, các xí nghiệp quốc doanh nằm trong tay một nhóm người lãnh đạo đảng, họ dùng chúng để điều động vốn, điều khiển xí nghiệp, sai bảo, chỉ huy mọi người khác. Và giới lao động tiếp tục làm việc, đổi lấy đồng lương đủ sống để tiếp tục bán sức lao động. Ông Karl Marx nếu sống lại, sẽ phải viết một bản tuyên ngôn mới hô hào làm cách mạng!

Khi phân tích kinh tế tư bản, Karl Marx quá chú trọng đến việc sản xuất, bỏ quên một thành phần quan trọng trong nền kinh tế là những người tiêu thụ. Ðó là tất cả mọi người, nhưng đại đa số là những người lao động. Trong cuộc trao đổi hàng hóa trên các thị trường, chính những người tiêu thụ quyết định những hàng hóa, dịch vụ nào đáng có một giá trị bao nhiêu. Chính người tiêu thụ thúc đẩy các quản đốc xí nghiệp và các ông chủ tư bản của họ lựa chọn kế hoạch sản xuất. Chính người tiêu thụ quyết định giữa hàng trăm các công ty tư bản ai sẽ chiếm địa vị của một General Electrics, một Toyota, một Apple.

Trong những nền kinh tế thị trường đích thực, người tiêu thụ đóng vai quyết định, họ là các “ông bà chủ. Họ bỏ tiền mua, là tưởng thưởng cho những người làm đúng ý “chủ nhân.” Những người như Henry Ford đời xưa hoặc Steve Jobs thành công vì đoán được đúng được nhu cầu, sở thích người tiêu thụ. Có hàng triệu thanh niên Mỹ cùng thời chạy đua trong với Steve Jobs. Người tiêu thụ đã chọn Steve Jobs. Cái máy iPad vừa ra lò đã bán chạy, vì hàng triệu người xếp hàng thưởng công cho nhà sản xuất. Nền kinh tế chỉ huy “hậu cộng sản” kiểu Trung Quốc (mà Việt Nam là một phiên bản) không được tổ chức theo cơ cấu đó. Người tiêu thụ ở Trung Quốc và Việt Nam không nắm phần quyết định. Chỉ nhìn vào các con số chúng ta thấy điều đó. Tại nước Mỹ chẳng hạn, tiêu thụ chiếm hơn 2 phần 3 tổng sản lượng nội địa (GDP). Nghĩa là cả nước Mỹ tạo ra mỗi năm 100 đồng của cải thì 65% hoặc 70% là cho các người tiêu thụ được hưởng. Còn một phần ba là do quyết định của các xí nghiệp đầu tư hoặc do công chức nhà nước, chi tiêu tiền của dân đóng thuế lựa chọn. Kinh tế Trung Quốc có một đặc điểm là số tiêu thụ rất thấp, trước đây 30 năm chiếm được 45% tổng sản lượng nội địa, đến nay lại giảm xuống chỉ còn 35%. Tức là người Trung Quốc làm ra 100 đồng thì đến 65 đồng được trao cho các cán bộ, công chức quyết định việc chi tiêu.

Ðó là căn bản của mô hình kinh tế Trung Quốc. Kết quả là nền kinh tế mất thăng bằng, chính ông Thủ Tướng Ôn Gia Bảo thú nhận như vậy. Vì vậy, số thống kê cứ nói GDP Trung Quốc tăng trưởng 9%, 10% nhưng lợi tức bình quân không tăng được như vậy. Thế thì những thứ hàng hóa, dịch vụ tăng lên đó chúng chạy đi đâu? Một là để nuôi hai guồng máy thư lại của đảng và nhà nước. Hai là tiêu phí, lãng phí; thí dụ dựng lên các cơ xưởng, các ngôi nhà chúng cư, hay xây các xa lộ, các phi trường, mà không được dùng hay không dùng hết.

Làm sao họ cho một guồng máy kinh tế như thế chạy được? Vì họ nắm quyền trong tay, không cho ai phê phán; nhờ thế cứ bắt sao dân cũng phải chịu. Các nhà tư bản đỏ, trong và ngoài đảng hưởng thụ quá nhiều, trong khi 70% dân là các nông dân không được bảo hiểm y tế cũng như không có hưu bổng lúc về già. Trung Quốc hiện nay là thị trường mua đồ xa xỉ lớn nhất thế giới, vì các đại gia đỏ quá nhiều tiền. Hãng xe hơi đắt tiền Bayerische Motoren Werke AG lớn nhất thế giới bán nhiều xe BMW ở Trung Quốc hơn số bán ở Mỹ trong ba tháng đầu năm 2012!

Chính những người lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc đều biết rằng mô hình kinh tế của họ không thể kéo dài như vậy được. Ông Ôn Gia Bảo đã nói nhiều lần: Nếu không cải tổ chính trị thì kinh tế sẽ suy yếu. Ôn Gia Bảo nói rằng nếu dân đã có khả năng chọn người lãnh đạo ở cấp thôn để tự cai quản công việc thôn, thì họ cũng có khả năng bầu cử người lãnh đạo ở cấp xã, cấp huyện, trở lên. Hồi Tháng Ba vừa qua, tạp chí lý thuyết Cầu Thị đăng lại một bài phát biểu của ông Tập Cận Bình, phó chủ tịch Trung Quốc. Trong đó, người lãnh đạo tương lai của Trung Quốc nhận xét rằng nhiều đảng viên “vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp” nào cả. Vì thế, ông Tập Cận Bình cũng nói thẳng rằng “nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản!”

Hội thảo Trung Việt ở Hạ Long trong mấy ngày qua chắc không hề nhắc đến những ý kiến của các ông Ôn Gia Bảo và Tập Cận Bình. Chắc chắn ông Lưu Vân Sơn không nói một câu nào về nhu cầu cải biến kinh tế Trung Quốc chính là phải giảm bớt vai trò quá lớn của guồng máy nhà nước và chuyển bớt các quyết định kinh tế cho người tiêu thụ. Ðó mới là hướng đi cần thiết cho Trung Quốc trong thập niên sắp tới; mà thế hệ lãnh đạo mới sắp lên trong năm nay sẽ phải thực hiện. Ông Lưu Vân Sơn không cần nói đến điều đó. Ðối với đảng Cộng sản Trung Quốc thì kinh tế Việt Nam cứ chạy ỳ ạch như hiện nay, thì Trung Quốc cũng không lo lắng. Hội thảo về lý thuyết chỉ là một màn kịch cần để trình diễn vậy thôi; còn các quan chức cán bộ Việt Nam cứ tiếp tục tham nhũng và hối lộ như hiện nay thì cũng không hại gì đến quyền lợi của Trung Quốc cả. Biết đâu, còn có lợi cho Trung Quốc nữa!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest