Page 76 of 180

Posted: Sat Apr 28, 2012 2:39 am
by khieulong
Dan Southerland, nhà báo Mỹ chứng kiến phút cuối cùng của VNCH

By dinh.thai·April 24, 2012
Phỏng vấn·

Trong số các nhà báo ngoại quốc ở Việt Nam, ký giả Dan Southerland là một trong ít người ở lại tới ngày cuối cùng và chứng kiến ngày chót của Việt Nam Cộng Hòa 30 Tháng Tư 1975.

Từ 1985 đến 1990, ông là giám đốc văn phòng Washington Post tại Bắc Kinh và tường thuật vụ đàn áp đẫm máu phong trào dân chủ Thiên An Môn, và do loạt bài này ông được trao giải Pulitzer.
Trong cuộc chiến Việt Nam, ông làm việc cho hãng tin UPI và tờ The Christian Science Monitor, và cũng từng tường thuật chiến sự tại Cambodia, Lào, và cuộc chiến giữa Ấn Ðộ và Pakistan năm 1971.

Ông hiện là phó tổng giám đốc đặc trách chương trình của Ðài Á Châu Tự Do (RFA). Ông từng sống và viết cho nhiều hãng tin và báo chí quốc tế và thường trú tại Tokyo, Hong Kong, Sài Gòn, Bắc Kinh.
Qua email ông trả lời phỏng vấn của Ðinh Quang Anh Thái báo Người Việt về những diễn biến ở Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Image
Dùng xe jeep của UPI, ký giả Dan Southerland đưa thường dân Việt Nam bị thương đến nơi an toàn để được chở vào nhà thương,
trong trận Mâu Thân II tháng 5-6, 1968. (Hình do ông Dan cung cấp)

-Ðinh Quang Anh Thái (NV): Khi Sài Gòn sụp đổ cách đây 37 năm, lúc bấy giờ ông ở đâu?

-Dan Southerland: Tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư trước khi Sài Gòn sụp đổ, trong bối cảnh các xe tăng của quân Bắc Việt tiến gần vào Sài Gòn, lúc đó tôi ở tại khách sạn Continental để viết bài cho tờ The Christian Science Monitor. Tôi tường thuật những giây phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa với hai sự kiện trọng đại là việc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và lễ nhậm chức tổng thống của Tướng Dương Văn Minh.

-NV: Tâm trạng của ông ra sao khi chứng kiến những sự kiện lịch sử đó?

-Dan Southerland: Tôi buồn khi nhìn thấy cảnh hỗn loạn của Sài Gòn. Tôi cố trấn an người thầy dạy tôi tiếng Việt và người thông dịch viên lâu năm của tôi. Tôi cũng đưa ra vài ý kiến là họ nên làm gì trong tình huống này. Cả hai quyết định ở lại; người dạy tiếng Việt thì vì hoàn cảnh gia đình, còn người thông dịch thì cho rằng chẳng có gì để lo sợ Việt Cộng. Khi tôi đến căn nhà nhỏ của anh thông dịch viên, anh chỉ cho tôi tình cảnh sống quá nghèo nàn của anh và bảo rằng không có lý do nào khiến anh bị cộng sản kết án.

Tôi ước rằng phải chi tôi khuyên được anh ra đi. Khi cộng sản chiếm chính quyền, họ hành hạ anh rất nặng nề, một phần cũng vì anh có quan hệ với tôi, nên sau đó anh vượt biên và tôi đã có dịp gặp lại anh ở Paris. Anh xin tôi tha lỗi vì trong thời gian bị cộng sản tra khảo, anh đã có những lời khai không đúng về tôi. Phần tôi, tôi cũng đã xin lỗi anh vì đã không hết sức thuyết phục anh thoát khỏi Sài Gòn thời gian đó.

Cũng vào những giờ phút cuối của Tháng Tư 75, tôi đã dàn xếp cho một giáo sư của đại học Sài Gòn cùng vợ và đứa con mới sanh của ông ta ra đi bằng trực thăng nhưng ông ta đổi ý vào giờ chót và ở lại, vì tin rằng Tướng “Big Minh” có thể thương lượng một cách ổn thỏa việc chia quyền với những người cộng sản.

Không chịu đi, nhưng ông giáo sư này lại gọi điện thoại nhờ tôi giúp đưa một quân nhân là bà con của ông ta ra đi. Lúc bấy giờ, tại mặt trận Xuân Lộc cách Sài Gòn khoảng 90 cây số về phía Ðông, Sư Ðoàn 18 của Việt Nam Cộng Hòa đang chống trả trước những đợt tấn công dữ dội của quân Bắc Việt. Cho nên ý kiến đưa một quân nhân trốn khỏi đất nước trong khi những đồng đội khác đang chiến đấu sống còn khiến tôi tức điên lên và tôi đã đập nát chiếc điện thoại trên tay. Tôi ý thức rõ là tôi đang bị căng thẳng.
Tình cảnh lúc đó ngay tại Tòa Ðại Sứ Mỹ, giấy tờ tài liệu bị xé nát, hành lý và súng đạn bị vất ngổn ngang. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang đẩy lui hàng ngàn người Việt Nam xô lấn nhau muốn xông vào sân Tòa Ðại Sứ để tìm đường thoát thân. Nhiều người ném giấy tờ tùy thân vào bên trong và kêu gọi giúp đỡ. Một người trong đám đông nhận ra tôi. Ông ta kêu tên một viên chức Mỹ. Tôi tìm được viên chức này và cùng nhau giúp đưa người đàn ông kia lọt qua cổng vào bên trong.

Trong không khí hoảng loạn đó, tôi gào qua điện thoại để gửi bài viết cho một đồng nghiệp cũng đang làm việc ở Sài Gòn chỉ tích tắc trước khi hệ thống điện thoại của Tòa Ðại Sứ bị cắt. Người điều hành phòng máy điện thoại đang lên máy bay để ra đi.

Tâm trạng tôi khi ấy giống như một số người Mỹ khác, cảm thấy rất đau buồn khi chứng kiến cảnh người Mỹ di tản trong khi nhiều người Việt Nam từng làm việc với Mỹ bị bỏ rơi lại. Quả thật, ra đi như thế thật là nhục nhã.

-NV: Ông từng đi theo và viết bài về các đơn vị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ông nhận xét ra sao về những quân nhân này?

-Dan Southerland: Thành thật mà nói, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu anh dũng khi đẩy lui cuộc tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968. Tôi cũng rất thán phục một số đơn vị của quân đội này trong các trận đánh tại Quảng Trị và An Lộc suốt thời gian diễn ra cuộc tấn công quy mô của Bắc quân năm 1972.

Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận là có sự cách biệt khá lớn về khả năng tác chiến giữa đơn vị này và đơn vị khác của QLVNCH. Ðơn cử một thí dụ, năm 1972, trái ngược với Thủy Quân Lục Chiến của Việt Nam đã chứng tỏ là một đơn vị thiện chiến trong các trận đánh tại Quảng Trị cho dù không đủ quân số, thì Sư Ðoàn 3 Bộ Binh đã bị tan rã vì thiếu kinh nghiệm.
Tôi đã từng tường thuật về nhiều vấn đề trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, như tình trạng đào ngũ, hôi của, tham nhũng và thiếu khả năng của một số sĩ quan. Một vấn đề nữa là QLVNCH lệ thuộc vào không trợ của Mỹ, kể cả bom B-52. Khi sự hỗ trợ đó bị rút đi, hậu quả trở thành tai hại. Nhưng nếu nhìn tổng quát thì vẫn thấy có sự tiến bộ rõ rệt trong một số đơn vị QLVNCH giữa 1972 và 1973, kể cả khi Mỹ đã rút quân.

Một số bài tường thuật của hãng tin Mỹ khiến người ta có cảm tưởng VNCH bị thất trận trong cuộc tấn công của Cộng quân năm 1972. Năm đó, ngày 11 Tháng Tư, trong một điện tín gửi cho mẹ tôi sống tại Arlington tiểu bang Virginia, tôi viết rằng: “Cho tới nay không có gì giống như trận Tết Mậu Thân 1978. Con vừa từ Quảng Trị và Huế về lại Sài Gòn và con thấy QLVNCH phòng thủ mạnh mẽ hơn những gì báo chí Mỹ tường thuật. Và rõ ràng là Bắc quân đang di chuyển dọc biên giới Cambodia khó lòng đặt chân đến Sài Gòn.”

Tôi cho rằng nhiều phóng viên Mỹ không tường thuật về QLVNCH, hoặc là họ đã tường thuật thoáng qua mà thôi. Cá nhân mình, tôi cũng nhiều lần tự chỉ trích về những cách tường thuật của mình. Chỉ có vài phóng viên ngoại quốc là nói được tiếng Việt để làm trọn vẹn việc tường thuật tin tức khi đi với quân đội VNCH; số đông còn lại đã chọn cách dễ dàng hơn là đi theo các đơn vị Hoa Kỳ.

Tôi đã từng viết một bài về tính nhân bản của các quân nhân thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của VNCH. Và tôi cũng đã viết câu chuyện về những người anh hùng của QLVNCH tại mặt trận An Lộc, với quân số ít ỏi so với Cộng quân và chỉ với những khẩu súng chống chiến xa loại nhẹ, họ đã tiêu diệt những xe tăng của Cộng quân. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ mình chưa mô tả được trọn vẹn những gì tôi chứng kiến. Ðầu năm 1970, tôi ngưng làm việc với hãng tin UPI để dành thời gian vài tháng học tiếng Việt hòng có thể viết những câu chuyện sâu hơn với tư cách một phóng viên tự do. Nhưng rất tiếc, việc học Việt ngữ của tôi bị gián đoạn khi tờ The Christian Science Monitor mời tôi cộng tác. Ðúng lúc đó, chiến tranh bùng nổ tại Cambodia, thế là tôi bỗng nhiên phải tường thuật tin tức chiến sự của hai cuộc chiến.

Image
Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hỏi cung tù binh cộng sản, bên trái là ông Southerland,
trong trận Mậu Thân II tháng 5 năm 1968 tại Sài Gòn. (Hình do ông Dan cung cấp)


-NV: Một số cuốn sách viết rằng, chính ông và nhà báo Phạm Xuân Ẩn đưa Bác Sĩ Trần Kim Tuyến – người từng cầm đầu ngành tình báo thời Tổng Thống Diệm – ra máy bay di tản khỏi Việt Nam; sau này, ông Ẩn lộ nguyên hình là cán bộ tình báo cao cấp của cộng sản miền Bắc, vai trò của ông lúc đó là gì?

-Dan Southerland: Ngày 30 Tháng Tư, tôi gọi điện thoại cho một số tờ báo ngoại quốc có văn phòng ở Sài Gòn, trong đó có tuần báo Time là nơi ông Phạm Xuân Ẩn làm phóng viên. Ẩn nói với tôi rằng có một người bạn từng quen biết lâu năm với chúng tôi là Trần Kim Tuyến hiện không thể tìm được đường thoát thân.

Tôi tin chắc chắn rằng, nếu ông Tuyến rơi vào tay cộng sản, ông sẽ không cách nào toàn mạng. Vì vậy tôi gọi ngay cho một viên chức Mỹ của Tòa Ðại Sứ nhờ giúp đỡ. Ông này báo cho tôi biết địa điểm mà chỉ trong chốc lát nữa một trực thăng sẽ đáp xuống để bốc người. Tôi báo ngay cho Ẩn. Thế là Ẩn hộc tốc lái xe đón ông Tuyến rồi đưa ông Tuyến đến một căn biệt thự nơi chiếc trực thăng sắp hạ càng xuống nóc nhà. Trần Kim Tuyến đi thoát. Lúc bấy giờ, tôi hoàn toàn không biết Phạm Xuân Ẩn là gián điệp của cộng sản.

-NV: Theo ông, tại sao ông Ẩn lại giúp ông Tuyến thoát khỏi tay cộng sản?

-Dan Southerland: Khi Ẩn về lại Việt Nam năm 1959, sau khi tốt nghiệp ngành báo chí tại Hoa Kỳ, ông ta rất sợ bị bắt. Vì lúc đó chính phủ của Tổng Thống Diệm đã bắt giam một số gián điệp Việt Cộng nằm vùng. Ẩn bèn tìm đến ông Tuyến và chính ông Tuyến xin cho Ẩn làm việc tại Việt Nam Thông Tấn Xã. Tuyến cũng vô tình không hề biết Ẩn là gián điệp nên đã che chở cho Ẩn khi ông này có thể lộ tông tích gián điệp nằm vùng. Chính vì vậy Ẩn mang ơn Tuyến vô cùng.

-NV: Sau năm 1975, ông đã có dịp quay lại Việt Nam chưa, nếu có, hình ảnh Việt Nam ra sao trong mắt ông?

-Dan Southerland: Năm 1982, trên đường tới Cambodia, tôi có dịp quay lại Việt Nam có vài ngày. Tôi nghe người Việt than trách về tình trạng thiếu thực phẩm và quần áo. Người cộng sản đã tỏ ra thiếu khả năng quản trị kinh tế. Nhiều chục ngàn người ở các thành phố bị đưa đi “vùng kinh tế mới” để trồng trọt mà rốt cục kết quả chẳng đi đến đâu. Gần 7 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vậy mà chế độ mới vẫn không an tâm nên tiếp tục giam cầm nhiều chục ngàn sĩ quan quân đội và công chức miền Nam trong các “trại cải tạo.” Sau này tôi nghe nói một luật sư Sài Gòn trước kia (Luật Sư Trần Văn Tuyên), một người từng chỉ trích chế độ của ông Thiệu, đã chết trong “trại cải tạo.” Sự kiện này rõ ràng cho thấy diện mạo của chế độ mới. Và tôi còn ghi nhận, rất nhiều người tôi gặp trên đường phố Sài Gòn – họ vẫn gọi thành phố này bằng tên Sài Gòn – vẫn bày tỏ tình cảm thắm thiết với người Mỹ.

Năm 2005, tôi và con trai là Matt xin được giấy chiếu khán du lịch để đến Việt Nam. Rõ ràng tôi thấy giới lãnh đạo cộng sản đã nhận thức là kinh tế của Việt Nam đang trôi vào thảm họa nên đã mở cửa chạy theo một nền kinh tế tư bản kiểu nguyên thủy. Sài Gòn bùng lên phát triển. Căn apartment trước kia tôi từng cư ngụ nằm ở đường Nguyễn Huệ nay bị phá đi và thay vào đó là một cao ốc vừa được xây lên. Nhưng dân chúng ta thán rằng giới lãnh đạo cộng sản hưởng lợi hơn bất kỳ thành phần nào khác do sự phát triển này của Sài Gòn.

Cũng trong dịp trở lại này, tôi và một bạn đồng nghiệp phóng viên Mỹ đã đến thăm khu Nghĩa Trang Quân Ðội gần Biên Hòa và chúng tôi tận mắt nhìn thấy cảnh hương lạnh, tro tàn của nghĩa trang này. Nơi đây bây giờ do bộ đội canh gác nên trông không khác gì một trại lính. Lính gác không cho chúng tôi vào bên trong và cấm chụp hình. Nhưng lợi dụng lúc các lính canh lơ đễnh, tôi chụp được một số tấm hình những ngôi mộ cỏ dại mọc đầy chung quanh. Tôi biết được rằng, những năm gần đây, nhờ dùng tiền đút lót, thân nhân những người lính Việt Nam Cộng Hòa nằm xuống trong cuộc chiến đã được phép vào nghĩa trang để dọn dẹp sạch sẽ một số ngôi mộ.

Sự kiện cũng khiến tôi nổi giận là ngay tại Bảo Tàng Chiến Tranh tại Sài Gòn, lịch sử đã bị bóp méo khi người ta trưng bày hình ảnh khiến người xem hiểu lầm là chỉ có người Mỹ chiến đấu chống lại cộng sản trong cuộc chiến vừa qua. Trong thực tế, người miền Nam Việt Nam đã chiến đấu nhiều năm trước khi Hoa Kỳ tham chiến và họ đã gánh chịu nhiều tổn thất nhân mạng nặng nề. Nhưng đau buồn thay, những người lính can trường này đã bị người ta xóa tên khỏi lịch sử.
Image
Làm phóng sự về lực lượng thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa, nhà báo Dan Southerland
phỏng vấn cố vấn Mỹ trong trận Mậu Thân II tháng 5 năm 1968 trên một nóc nhà Sài Gòn. (Hình do ông Dan cung cấp)

-NV: Ông nhận định ra sao về hiện trạng của Việt Nam?

-Dan Southerland: Những tháng gần đây mọi việc diễn ra có vẻ không thuận lợi cho Việt Nam. Cải tổ kinh tế không dẫn tới cải tổ chính trị. Trước khi khai mạc đại hội đảng cộng sản vào Tháng Giêng vừa qua, nhà cầm quyền đã tung ra một đợt trấn áp những người hoạt động dân chủ và những blogger.

Một số luật sư, những người bất đồng chính kiến và những người hoạt động dân chủ đã bị bắt giam chỉ vì phát biểu quan điểm của họ. Chế độ còn sách nhiễu, thậm chí bắt giữ hoặc quản thúc tại gia những vị lãnh đạo các tôn giáo. Ngoài ra, luật mới về báo chí truyền thông vừa được ban hành, với những quy định mơ hồ, còn tạo thêm cơ hội dễ dàng để nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao hơn và xử phạt nặng hơn giới cầm bút. Luật báo chí này còn làm cho vấn nạn tham nhũng – hiện đang lan tràn ở mọi cấp chính phủ – trở nên khó diệt trừ hơn.

Dầu vậy, vẫn có một số nhà báo và blogger Việt Nam rất can đảm, họ tìm cách phanh phui những vụ tham nhũng ở địa phương và hành vi lạm quyền của công an. Nhưng khi họ bắt đầu phanh phui tới những hành vi ở cấp cao hơn thì họ bắt đầu gặp nguy hiểm.

-NV: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Posted: Sun Apr 29, 2012 1:38 am
by vuphong
Ngày Quốc hận 30/04 tại thủ đô Canberra, Úc Châu
Saturday, 04.28.2012, 05:00pm (GMT-7)
Hôm nay ngày Thứ Bảy 28/04, trong thời tiết hơi se lạnh cuối Thu của thủ đô Canberra, nhưng lại là một ngày có nắng đẹp, dưới một rừng cờ vàng tung bay là cả một đoàn người gần 2000 đồng hương từ các tiểu bang trên khắp nước Úc tề tựu về thủ đô, trước tòa đại sứ CSVN để biểu tình và tưởng niệm đánh dấu 37 năm ngày Quốc Hận 30/04.

Hơn nửa tiếng trước khi chương trình bắt đầu lúc 11.30 là đồng hương đã tề tựu đầy đủ. Đoàn xe các loại đậu đầy khắp chung quanh khu vực gồm có hơn 20 xe bus lớn, cùng khoảng gần 100 chiếc xe lớn nhỏ đủ loại.

Sau phần nghi thức chào cờ và mặc niệm dưới sự điều khiển của hai MC Nguyễn Toàn và Trần Nhân là bài phát biểu của ông Nguyễn Thế Phong, chủ tịch Cộng đồng Việt Nam tại Úc Châu. Mở đầu, ông chào đón và giới thiệu đến đồng hương một dân oan đến từ Việt Nam là anh Trương Quốc Việt, người hiện đang tọa kháng trước tòa đại sứ CSVN từ hôm Thứ Hai 23/04.

Bằng giọng hùng hồn, ông cho rằng CSVN có truyền thống bán nước chỉ vì quyền lợi đảng trị. Lúc nào CSVN cũng tôn sùng đàn anh Trung Cộng, xem nặng "tình anh em XHCN", trong khi suốt chiều dài lịch sử chứng minh rằng Trung Quốc lúc nào cũng muốn thôn tính Việt Nam.

Ngược lại, lịch sử đã chứng minh dân tộc Việt Nam luôn phải chiến đấu chống lại sự bành trướng từ phương Bắc qua những Hội nghị Diên Hồng, với tinh thần quyết chiến, “sát Thát”. Trong khi đó, ngày nay bè lũ CSVN lại qụy lụy với kẻ thù phương Bắc, bằng chứng là đã lập nghĩa trang tôn thờ các liệt sĩ Trung Cộng và cho công an thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, bắt bớ giam cầm những người yêu nước như Blogger Điếu Cày, bà Bùi Thị Minh Hằng và gần đây nhất là nhạc sĩ Việt Khang

Ông chấm dứt bài phát biểu bằng một lời trích từ bài hát "Việt Nam tôi đâu" của nhạc sĩ Việt Khang.

Đại diện cộng đồng Việt Nam tại thủ đô Canberra, ông Lê Công có bài phát biểu với chủ đề "trách nhiệm của CSVN và các hành động bán nước". Với sự diễn đạt lưu loát bằng Anh Ngữ, ông cho biết qua hiệp định biên giới năm 1997 và 2007, CSVN đã cắt nhượng hơn 1,000 cây số vuông, một diện tích tương đương 1/4 thủ đô Canberra và vòng đai. Không những thế, chúng còn rước họa môi sinh lên mái nhà Tây Nguyên bằng cách để cho các công ty Trung Cộng khai thác Bauxite tại hơn 6 địa điểm khác nhau. Hơn nữa chúng còn cho các công ty Trung Quốc thuê đất đầu nguồn tại 16 tỉnh biên giới. Và hiện nay có lẽ Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới bắt bớ giam cầm người yêu nước.

Tiếp lời, MC Toàn Nguyễn chỉ vào tấm poster "Bịt miệng" nổi tiếng làm bằng chứng cho sự tụ do hiện nay ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Thanh, đại diện cộng đồng Việt Nam bang NSW có bài phát biểu với chủ đề "CSVN đàn áp tôn giáo có kế hoạch". Cộng sản luôn cho rằng "tôn giáo là thuốc phiện", và lúc nào cũng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo. Sắc lệnh tôn giáo ra ngày 18/06/2004 là công cụ dùng để khống chế tôn giáo triệt để. Nhà cầm quyền liên tục chiếm đoạt đất đai, cơ sở của các tôn giáo biến thành nơi chốn ăn chơi, hoặc làm của riêng. Công an sử dụng côn đồ trấn áp giáo dân, tu sĩ của tất cả các tôn giáo. Cách hành xử tuy có lúc mềm mỏng, lúc nặng tay nhưng lúc nào cũng quyết liệt. Chúng tách rời cá nhân, vụ việc để bề đàn áp. Ngoài ra, chúng còn kết hợp quyền lợi để áp chế, buộc mọi người phải im lặng.

Xen kẻ các bài phát biểu là những tiếng hô vang các khẩu hiệu "Đả đảo CSVN hại dân bán nước", "đả đảo CSVN đàn áp tôn giáo",...

Để thay đổi bầu không khí, ca sĩ Quốc Hưng và Việt Hùng đã lần lượt đơn ca 2 bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Việt Khang là bài "Việt Nam tôi đâu?" và "Anh là ai?".

Vị chủ tịch trẻ tuổi Nguyễn Văn Bon của tiểu bang Victoria có bài phát biểu về "sự vi phạm nhân quyền của CSVN". Tuy Điều 69 có đề cập tự do ngôn luận, nhưng trong thực tế chúng lại thẳng tay đàn áp báo chí, bắt bớ tù đày những ai dám lên tiếng chỉ trích chế độ, việc bắt bớ những người yêu nước như Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn là những thí dụ điển hình.

Nhạc sĩ Việt Khang, một người yêu nước nồng nàn, thông qua 2 bài hát nổi tiếng của mình đã gởi một thông điệp chống quân xâm lược Trung Quốc. Ông cho rằng "chúng ta đừng sợ những gì chúng làm, mà hãy làm những gì chúng sợ".

Cô Đỗ Thị Kiều Oanh, vị phó chủ tịch trẻ tuổi của cộng đồng bang Queensland đã mở đầu bài phát biểu bằng Anh Ngữ bằng những câu như sau:

"Không có tự do thì không thể phát triển được"

"Không có dân chủ thì nhân quyền không được tôn trọng".

Cô cho rằng CSVN là một bọn khôn nhà dại chợ, phản bội quê hương, buôn dân bán nước.

Từ nơi xa xôi, thủ phủ Adelaide của bang Nam Úc, ông chủ tịch cộng đồng Đoàn Công Chánh Phú Lộc cũng hiện diện với bài phát biểu chủ đề "CSVN vi phạm nhân quyền thông qua chính trị". Từ thành phố biển Wollongong, bà chủ tịch cộng đồng Trần Hương Thủy có bài phát biểu qua chủ đề "CSVN vi phạm nhân quyền, nhân phẩm phụ nữ".

Bài "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" qua phần trình bày của ca đoàn Miller đã làm sống động tinh thần của người biểu tình.

Bạn trẻ Nguyễn Khoa, đại diện Tổng hội SVVN cũng góp lời với đoàn biểu tình.

Anh Trương Quốc Việt, người dân oan đến từ Việt Nam, đã ra khỏi căn lều nhỏ của mình, bước lên bục đài để chia sẻ với đồng hương. Anh cho biết mình đến đây để:

- Bày tỏ sự quan tâm đến sự tồn vong của Việt Nam, bởi vì việc mất "căn nhà nhỏ" không còn quan trọng, mà chính là "căn nhà lớn" Việt Nam.

- Yêu cầu chính phủ Úc đặt điều kiện nhân quyền trong mối bang giao. Việc viện trơ không có kiểm soát chỉ làm lợi, vỗ béo cho chế độ, quan chức CSVN.

- Giúp cho người dân Việt Nam không còn sợ hãi nữa.

Dẫu biết rằng ngày trở về sẽ là chuỗi tù đày, nhưng anh vẫn sẵn sàng hy sinh vì đại cuộc, và anh mong rằng cộng đồng tỵ nạn hãy mãi mãi xứng với danh xưng "tỵ nạn". Dứt lời, anh không quên cám ơn sự hỏi thăm nhiệt tình và hỗ trợ tinh thần của quý đòng hương.

Cuộc biểu tình chấm dứt sau 2 tiếng đồng hồ và phái đoàn tiếp tục di chuyển đến Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong tại Việt Nam (Vietnam War Memorial).

Ghi nhanh từ Canberra
28/04/2012

Lê Minh

Posted: Mon Apr 30, 2012 6:41 am
by MatVit
Viết Cho Tháng Tư
Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.

Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: "Of course, he was a formidable adversary.... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius...". Xin được tạm dịch là: "Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm....Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự...."

Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự "nguy hiểm" của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm "mục đích biện minh cho phương tiện", nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.

Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan... Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ "formidable" mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa "arousing fear"(gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với "terrorise" (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là "khủng bố". Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một "đối thủ ghê gớm" như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.

Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng "làm cho sợ hãi" của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các "trận đánh" của đội Biệt động Sài Gòn như: "trận đánh" tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, "trận đánh" cư xá Brinks...; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những "trận đánh" như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống....Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là "quân giải phóng".

Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người "nằm vùng" gọi là "trận đánh" gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ.... Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy "Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks". Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là "trận đánh" sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ "nguy hiểm", "ghê gớm".

Ngoài cái cách thể hiện "formidable" như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại!

Để rồi sau cái ngày "thống nhất" ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về "công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng" vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người "có học" ở Việt Nam.

Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù...phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị...chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào "mục đích biện minh cho phương tiện". Chúng ta biết rằng, việc đánh giá tính chính đáng của phương tiện tuỳ thuộc vào mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.

Kết quả là, "sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước" đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước "giải phóng" hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?

Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng". Hay như Lê Duẩn từng nói : "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại". Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.

Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày "giải phóng", giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.

Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e.... Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là "chủ trương nhất quán", là "ưu tiên hàng đầu" như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.

Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.

Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012
Huỳnh Thục Vy

Posted: Tue May 01, 2012 12:11 am
by MatVit
Câu hỏi tháng Tư

Tác giả : Trần Trung Đạo
Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi người nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác...

*

Những ngày còn nhỏ, tôi bị ám ảnh bởi câu hỏi tự mình đặt ra “Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?”

Tôi lớn lên ở Đà Nẵng. Đường phố quê hương tôi trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1972 có rất nhiều lính Mỹ. Những chiến tàu nhập cảng Tiên Sa chở đầy chiến xa và súng đạn mang nhãn “Made in USA”. Những đoàn xe vận tải hiệu Sealand, RMK gần như chạy suốt ngày đêm từ nơi dỡ hàng ngoài bờ biển đến các kho quân sự chung quanh Đà Nẵng. Tiếng gầm thét của các phi cơ chiến đấu có đôi cánh gắn đầy bom, lát nữa, sẽ được ném xuống một nơi nào đó trên mảnh đất Việt Nam. Những câu lạc bộ, được gọi là “hộp đêm”, mọc đầy hai bên bờ sông Hàn. Mỹ đen, Mỹ trắng chở hàng quân tiếp vụ đi bán dọc chợ Cồn, chợ Vườn Hoa.

Phía trước tòa thị chính Đà Nẵng, trước rạp hát Trưng Vương hay trong sân vận động Chi Lăng, gần như tháng nào cũng có trưng bày chiến lợi phẩm tịch thu từ các cuộc hành quân. Những khẩu thượng liên có nòng súng cao, những khẩu pháo nòng dài, rất nhiều AK 47, B40, súng phóng lựu đạn và hàng khối đạn đồng vàng rực. Sau “Mùa hè đỏ lửa” trong số chiến lợi phẩm còn có một chiếc xe tăng T54 được trưng bày rất lâu trước tòa thị chính. Không cần phải giỏi ngoại ngữ, chỉ nhìn nhãn hiệu tôi cũng biết ngay chúng là hàng của Trung Quốc và Liên Xô.

Nhìn viên đạn của Nga và Tàu, tôi nghĩ đến trái tim của người lính trẻ miền Nam, giống như khi nhìn chiếc chiến đấu cơ của Mỹ cất cánh tôi chợt nghĩ đến các anh lính từ miền Bắc xấu số đang di chuyển bên kia sông Thu Bồn. Vũ khí là của các đế quốc. Không có khẩu súng nào chế tạo ở miền Nam hay miền Bắc. Các bà mẹ Việt Nam chỉ chế tạo được những đứa con và đóng góp phần xương máu.

Vũ khí của các đế quốc trông khác nhau nhưng nạn nhân của chúng dù bên này hay bên kia lại rất giống nhau. Nếu tháo đi chiếc nón sắt, chiếc mũ vải xanh, hai người thanh niên có mái tóc đen, vầng trán hẹp, đôi mắt buồn hiu vì nhớ mẹ, nhớ em chẳng khác gì nhau. Dù “con đường Duy Tân cây dài bóng mát” hay “mặt hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” cũng là quê hương Việt Nam và nỗi nhớ trong tâm hồn người con trai Việt ở đâu cũng đậm đà tha thiết.

Người lính miền Nam chết vì phải bảo vệ chiếc cầu, căn nhà, xóm làng, góc phố thân yêu của họ. Nếu ai làm một thống kê để hỏi những lính miền Nam còn sống hôm nay, tôi tin không ai trả lời muốn “ăn gan uống máu quân thù” miền Bắc. Họ chỉ muốn sống yên ổn trong hòa bình để xây đắp lại mảnh đất họ đã “xin chọn nơi này làm quê hương” sau khi trải qua quá nhiều đau thương tang tóc. Họ phải chiến đấu và hy sinh trong một cuộc chiến tự vệ mà họ không chọn lựa.

Dân chủ không phải là lô độc đắc rơi vào trong túi của người dân miền Nam mà phải trải bằng một giá rất đắc. Tham nhũng, lạm quyền, ám sát, đảo chánh diễn ra trong nhiều năm sau 1960. Có một dạo, tấm hình của vị “nguyên thủ quốc gia” chưa đem ra khỏi nhà in đất nước đã có một “nguyên thủ quốc gia” khác. Nhưng đó là chuyện của chính quyền và nhân dân miền Nam không dính líu gì đến đảng Cộng Sản miền Bắc.

Dân chủ ở miền Nam không phải là sản phẩm của Mỹ được đóng thùng từ Washington DC gởi qua nhưng là hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng nửa thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Không chỉ miền Nam Việt Nam mà ở đâu cũng vậy. Nam Hàn, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Phi Luật Tân và nhiều quốc gia khác, dân chủ đã phải trải qua con đường máu nhuộm trước khi đơm bông kết trái.

Khác với người lính miền Nam, người lính miền Bắc chết vì viên thuốc độc bọc đường “thống nhất đất nước”. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm bị giết ở Quảng Ngãi đã uống viên thuốc đó. Anh Nguyễn Văn Thạc, tác giả của hồi ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” bị giết ở Quảng Trị đã uống viên thuốc đó. Cô bé Trần Thị Hường 17 tuổi và chín cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc bị bom Mỹ rơi trúng ngay hầm đã uống viên thuốc đó. Họ không biết đó là thuốc độc. Không biết thì không đáng trách. Nhà văn Dương Thu Hương trải qua một thời thanh niên xung phong nhưng chị may mắn còn sống để nhắc cho các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay biết “chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.”

Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?

Thật không công bằng cho đảng nếu tôi chỉ dùng tài liệu trong các thư viện ở Mỹ để chứng minh âm mưu xích hóa Việt Nam của đảng. Tôi sẽ trích những câu do đảng viết ra. Theo quan điểm lịch sử của đảng CSVN chiến tranh đã xảy ra bởi vì “Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.”

Không ai hình dung “thuộc địa kiểu mới” hình dáng ra sao và đảng cũng chưa bao giờ giải thích một cách rõ ràng.

Sau Thế chiến thứ hai, hàng loạt quốc gia trong đó có những nước vốn từng là đế quốc, đã nằm trong vòng ảnh hưởng kinh tế và cả chính trị của Mỹ. Chẳng lẽ 18 nước châu Âu bao gồm Tây Đức, Áo, Bỉ, Pháp, Ý, Anh, Hòa Lan v.v... trong kế hoạch Marshall chia nhau hàng trăm tỉ đô la của Mỹ để tái thiết đất nước sau thế chiến thứ hai đều trở thành những “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao? Chẳng lẽ các nước Á châu như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan được viện trợ không những tiền của mà còn bằng cả sức người để xây dựng lại đất nước họ là “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao?

Chuyện trở thành một “căn cứ quân sự” của Mỹ lại càng khó hơn.

Chính sách vô cùng khôn khéo của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ dùng Đệ Lục Hạm Đội Mỹ làm hàng rào bảo vệ đất nước Thổ ngăn chặn làn sóng đỏ Liên Xô xâm lược là một bài học cho các lãnh đạo quốc gia biết mở mắt nhìn xa. Mặc dù là một nước trung lập trong thế chiến thứ hai, để lấy lòng Mỹ, lãnh đạo Thổ đã tình nguyện gởi 5500 quân tham chiến bên cạnh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên.. Quân đội Thổ chiến đấu anh dũng nhưng cũng chịu đựng tổn thất rất nặng nề. Một nửa lực lượng Thổ đã chết và bị thương trong ba năm chiến tranh. Ngày 18 tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành hội viên của NATOvà hùng mạnh đến ngày nay.

Nhật Bản là một ví dụ khác. Trong cuốn phim tài liệu Thế Giới Thiếu Mỹ (The World Without US) đạo diễn Mitch Anderson trích lời phát biểu của Thủ tướng Nhật Yasuhiro Nakasone “Nếu Mỹ rút khỏi Nhật Bản, chúng tôi phải dành suốt mười năm tới chỉ để lo tái võ trang trong nhiều mặt, kể cả sản xuất võ khí nguyên tử”. Một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới với Tổng Sản Lượng Nội Địa năm 2011 lên đến 5855 tỉ đô la nhưng dành vỏn vẹn một phần trăm cho ngân sách quốc phòng chỉ vì Nhật dựa vào khả năng quốc phòng của Mỹ và sự có mặt của 35 ngàn quân Mỹ. Khác với chủ trương “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” của Hồ Chí Minh, trong một thống kê mới đây, 73 phần trăm công dân Nhật biết ơn quân đội Mỹ bảo vệ họ.

Đứng trước một miền Bắc điêu tàn sau mấy trăm năm nội chiến và thực dân áp bức, một giới lãnh đạo nếu thật tâm thương yêu dân tộc trước hết phải nghĩ đến việc vá lại những tang thương đổ vỡ, đưa đất nước ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu. Ngay cả thống nhất là một ước mơ chung và có thật đi nữa cũng cần thời gian và điều kiện. Con người trước hết phải sống, phải có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành trước khi nghĩ đến chuyện đoàn tụ với đồng bào và bà con thân thuộc.

Ngoại trừ các lãnh đạo Cộng Sản, trên thế giới chưa có một giới lãnh đạo thể hiện lòng yêu nước bằng cách giết đi một phần mười dân số, đốt cháy đi một nửa giang sơn của tổ tiên để lại, dâng hiến hải đảo chiến lược cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mà gọi đó là “thống nhất đất nước” và “hòa hợp dân tộc”.

Cũng trong tài liệu chính thức của đảng, ngay cả trước khi ký hiệp định Geneve và khi Việt Nam chưa có một dấu chân người lính Mỹ nào, hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ".

Vào thời điểm trước 1954, dân tộc Việt Nam thật sự có một mối thù không đội trời chung với Mỹ sâu đến thế sao hay giới lãnh đạo CSVN chỉ vẽ hình ảnh một “đế quốc Mỹ thâm độc đầu sỏ” như một lý do để chiếm toàn bộ Việt Nam bằng võ lực, và cùng lúc để phụ họa theo quan điểm chống Mỹ điên cuồng của chủ nô Mao Trạch Đông sau cuộc chiến Triều Tiên?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau gần một thế kỷ với bao nhiều tổn thất máu xương, tù ngục, mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam của đảng cuối cùng đã đạt được. Lê Duẩn, trong diễn văn mừng chiến thắng vài hôm sau đó đã nói “vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Lời phát biểu của họ Lê nhất quán với nghị quyết của đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm, ghi rõ: "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

Mới đây, Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Cu Ba, cũng lần nữa khẳng định “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.... Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Phú Trọng nói những câu lạc hậu, lỗi thời mà không biết mắc cỡ. Tôi tin y nói một cách chân thành và hãnh diện. Nhờ tài lãnh đạo mà đảng CSVN đã tồn tại dù cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh như Liên Xô đã phải sụp đổ.

Đối diện với thời đại toàn cầu hóa, nội chung chủ nghĩa Mác về mặt kinh tế đã phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu tồn tại của đảng nhưng cơ chế nhà nước toàn trị sắc máu theo kiểu Lê Nin, Stalin chẳng những được duy trì mà còn củng cố chặt chẽ và nâng cấp kỹ thuật cao hơn. Dù ngoài miệng có hát bài hòa hợp hòa giải thắm đượm tình dân tộc, bên trong, các chính sách của Đảng vẫn luôn kiên trì với mục tiêu toàn trị và bất cứ ai đi ngược với mục tiêu đó đều bị triệt tiêu một cách tàn nhẫn.

Dưới chế độ Cộng Sản, không những người dân bị ràng buộc vào bộ máy mà cả các lãnh đạo cũng sinh hoạt trong khuôn khổ tổ chức và nghiêm chỉnh thực thi các nguyên tắc lãnh đạo độc tài sắc máu do đảng của họ đề ra. Điều đó giải thích lý do giọng điệu của những cựu lãnh đạo Cộng Sản như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Khoa Điềm sau khi rời chức vụ giống như những người vừa được giải phẫu thanh quản, nói dễ nghe hơn nhiều so với thời còn trong bộ máy cầm quyền. Họ không phải là những người “buông dao thành Phật” nhưng chỉ vì họ đã trở về với vị trí một con người bình thường, ít bị ràng buộc trong cách ăn cách nói, cách hành xử, cách khen thưởng và trừng phạt như khi còn tại chức.

Giới lãnh đạo Cộng Sản được trui rèn trong tranh đấu, được huấn luyện chính trị từ cấp đội, cấp đoàn trước khi giữ các vị trí then chốt trong đảng và nhà nước CS. Họ nắm vững tâm lý và vận dụng một cách khéo léo tâm lý quần chúng để phục vụ cho các chính sách của đảng trong từng thời kỳ. Sau biến cố Thiên An Môn, để đánh lạc hướng cuộc đấu tranh đòi dân chủ của thanh niên sinh viên, nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc khai thác lòng căm thù chính sách quân phiệt của Nhật đã xảy ra từ thế kỷ trước. Lợi dụng việc Bộ Giáo dục Nhật bản liệt kê biến cố tàn sát Nam Kinh như một tai nạn trong sách giáo khoa, nhà cầm quyền Trung Quốc đã khuyến khích hàng chục ngàn thanh niên sinh viên Trung Quốc biểu tình suốt 3 tuần lễ trước tòa đại sứ Nhật. Việt Nam cũng thế. Trong chiến tranh biên giới 1979, các lãnh đạo CSVN đã lần nữa sử dụng thành công viên thuốc độc bọc đường “bảo vệ tổ quốc”. Máu của hàng vạn thanh niên Việt Nam đổ xuống dọc biên giới Việt Trung phát xuất từ tình yêu quê hương trong sáng và đáng được tôn vinh, tuy nhiên, nếu dừng lại một phút để hỏi, họ thật sự chết vì tổ quốc hay chỉ để trả nợ xương máu giùm cho đảng CSVN?

Với tất cả thông tin được phơi bày, tài liệu được giải mật cho thấy, cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mà giới lãnh đạo CSVN đưa ra thực chất chỉ là cái cớ. Không có một người lính Mỹ nào đến Việt Nam, đảng vẫn cộng sản hóa miền Nam cho bằng được. Bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng thừa khả năng để nghĩ ra hàng trăm lý do khác để đánh miền Nam.

Đảng CSVN là nguyên nhân khiến cho nhiều triệu người Việt vô tội ở hai miền đã phải chết một cách oan uổng, bao nhiêu thế hệ bị suy vong, bao nhiêu tài nguyên bị tàn phá và quan trọng nhất, chiếc còng Trung Quốc mà đảng thông đồng để đeo trên cổ dân tộc Việt Nam mỗi ngày ăn sâu vào da thịt nhưng không biết làm sao tháo gỡ xuống đây.

Nói theo cách viết của nhạc sĩ Việt Khang “Việt Nam ơi thời gian quá nửa đời, và ta đã tỏ tường rồi”, chiến tranh xảy ra tại Việt Nam mà không ở đâu khác chỉ vì Việt Nam có đảng Cộng Sản.

Ngoại trừ các em, các cháu bị nhào nặn trong nền giáo dục ngu dân một chiều chưa có dịp tiếp xúc với các nguồn thông tin khách quan khoa học, nếu hôm nay, những người có học, biết nhận thức mà còn nghĩ rằng cuộc chiến kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, những kẻ đó hoặc bị tẩy não hoàn toàn hoặc biết mình sai nhưng tự dối lòng để tiếp tục sống cho hết một kiếp người.

Cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ đất nước hiện nay, do đó, còn rất khó khăn, đôi gánh non sông còn rất nặng và hành trình tự do còn khá xa xôi.

Sau 37 năm, “hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt nói, nếu chưa qua đời, hôm nay vẫn còn buồn.

Nhưng người buồn không phải chỉ từ phía những người lính Việt Nam Cộng Hòa bị buộc buông súng, từ phía nhân dân miền Nam bị mất tự do mà còn là những người miền Bắc, cả những người trong đảng CS đã biết ra sự thật, biết mình bị lừa gạt, biết mình đã dâng hiến cả một cuộc đời trai trẻ cho một chủ nghĩa độc tài, ngoại lai, vong bản.

Gần mười năm trước tôi kết luận bài viết về ngày 30 tháng 4 bằng ba phân đoạn dưới đây và năm nay, tôi kết luận một lần nữa cũng bằng những dòng chữ đó để chứng minh một điều, tuổi trẻ của tôi có thể qua đi nhưng niềm tin vào tuổi trẻ trong tôi vẫn còn nguyên vẹn.

Như lịch sử đã chứng minh, chính nghĩa bao giờ cũng thắng. Không có vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng vượt lên những hệ lụy quá khứ để hướng vào tương lai tươi sáng cho đời đời con cháu mai sau và chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng phục hồi sự kính trọng Việt Nam trong lân quốc cũng như trong bang giao quốc tế.

Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.

Ba mươi bảy năm là một quảng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trễ hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vở, còn biết nhận ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Posted: Tue May 01, 2012 8:06 pm
by hoanghoa
Cho Giới Trẻ: Y Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4

Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Viet Nam cong Hoa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.

Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên biển Đông do vượt biển.

Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia xẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tỵ Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tỵ Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tỵ Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tỵ Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tỵ nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tỵ nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Nạn 30/4?
Image
Hình ảnh vượt biên, chìm ghe.


Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính, của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách vượt biên như đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.

Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viên của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bầy Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trai tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”

VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.

Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm thời này … Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.
Image
Hậu quả 30-4: tù cải tạo, công an đàn áp.

Viết Cho Ngày Quốc Hận 30/4
GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S

Posted: Wed May 02, 2012 4:48 am
by phaobinh
Bài giảng của Đức Giám mục Nguyễn Văn Long cho ngày 30 tháng 4

Xin giới thiệu toàn văn bài giảng chúa nhật 29.04.2012 của Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám mục phó Tổng giáo phận Melbourne (Úc Đại Lợi) để quý Cha, quý thầy và anh chị em khắp nơi có cơ hội hiệp thông.

Kính thưa toàn thể qúy ông bà anh chị em,

Một lần nữa, ngày 30 tháng 4, ngày ghi sâu trong ký ức của toàn dân Việt Nam như một ngày Quốc Nạn lại trở về với chúng ta, nhất là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Có nhiều người nói rằng chúng ta không nên nhìn về qúa khứ nữa, chúng ta không nên tưởng niệm ngày quốc nạn hay quốc hận nữa mà hãy hướng về tương lai. Có không ít người còn nói rằng: “Việt Nam bây giờ đã đổi mới, chính thể Cộng Sản đã thay đổi với thời đại, đâu còn gì để chúng ta phải ôn lại dĩ vãng xa xưa, hãy bắt tay vào việc xây dựng tương lại của đất nước trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tiến về tương lai nếu chúng ta không biết nhận ra những bài học của lịch sử? Có “ôn cố mới biết tri tân”. Tôi thiển nghĩ rằng, không ai thiết tha với vận mệnh của dân tộc Việt Nam có thể làm ngơ trước những bài học của lịch sử. Nếu lịch sử là một dòng sông thì những bế tắc trong chiều dài của nó phải được đả thông cặn kẽ. Lúc đó dòng sông mới được chảy đều và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu; lúc đó chúng ta mới mong có tương lai tươi sáng.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những phương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước. Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Kính thưa toàn thể qúy vị và nhất là các bạn trẻ,

Hôm nay chúng ta cùng “ôn cố tri tân” trong niềm tin vào tiến trình tất yếu của lịch sử. Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến những nạn nhân trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Chúng ta cùng ôn lại những bài học của lịch sử. Nhưng trên hết, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta sự an ủi và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một bình minh mà bóng tối của tà thần sẽ không chế ngự được. Thánh Phêrô đã dùng lời Thánh Vịnh để nói với dân chúng về Đức Kitô rằng “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. “Người thợ xây” trong bối cảnh này chính là những con người tượng trưng cho thế lực của bóng tối và tội lỗi. “Người thợ xây” đây là Giuda, là quân dữ, là những kỳ mục, là Philatô, là Cêsarê và đồng thời là tất cả những ai đứng về phía của sự dữ. Họ đã loại bỏ Đức Kitô, tức là loại bỏ ánh sáng và sự sống, công lý và sự thật cùng tất cả những giá trị nhân bản và siêu nhiên. Nhưng Đức Kitô là phiến đá bị họ loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường. Ngài đã chiến thắng trên tà thần và tội lỗi. Chiến thắng của Ngài vượt không gian và thời gian, để rồi những ai đứng về phía công lý và sự thật đều được thông phần vào chiến thắng của Ngài. Qủa thế, dù cho thế lực của sự dữ lấn án sự lành, dù cho những kẻ cường bạo giết hại những bậc chí nhân, nhưng chúng ta có thể tin chắc vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, “người thợ xây” là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; “người thợ xây” là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và “phiến đá bị họ loại bỏ” là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc,hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng. Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.

“Ta là mục tử nhân lành. Ta hiến mạng sống vì chiên ta”. Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay nói lên một chân lý bất hủ là chỉ có tình yêu hiến thân cho người khác mới là lẽ sống của người tín hữu. Sứ mạng của Đức Kitô cũng chính là hiến thân để sự sống viên mãn được thể hiện nơi con người. Hôm nay, một cách đặc biệt, chúng ta tưởng nhớ đến những người con của tổ quốc đã vì nước vong thân. Họ đã chẳng màng danh vọng, vinh quang, phú qúy hay trường thọ. Họ hy sinh chính mạng sống ngay trong tuổi thanh xuân để quê hương có ngày tươi sáng. Chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước những gương anh linh của tổ quốc. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về mục đích mà chính họ đã làm những viên gạch lót đường: đó là sự sống viên mãn cho tha nhân, sự phục hưng cho dân tộc và sự trường tồn của cơ đồ tổ quốc.

Kính thưa qúy ông bà anh chị em,

Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta. Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.

Posted: Thu May 03, 2012 2:13 am
by thienthanh
Dân chủ hoá để tránh lạc hậu

Ngô Nhân Dụng

Mấy năm trước tôi có dịp trò chuyện với một anh công an trẻ về “kinh tế tri thức.” Tôi cố giải thích với anh rằng không có dân chủ tự do thì kinh tế tri thức không phát triển được.

Tôi ước ao anh bạn này, và các bạn sinh viên ở Việt Nam hãy đọc bài báo trên tờ Economist trong tuần vừa qua, về “Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba.” (The third industrial revolution.)

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất bắt đầu ở thế kỷ 18, khi các xưởng dệt ở Anh quốc dùng máy làm việc thay sức người. Ðầu thế kỷ thứ 20, công ty Ford làm cách mạng lần thứ nhì, chế tạo xe bằng phương pháp dây chuyền. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba đang diễn ra, do ảnh hưởng hỗ tương của nhiều hiện tượng: Tạo ra những vật liệu mới, phương pháp sản xuất mới, tổ chức việc sản xuất và phân phối theo lối mới.

Nghiên cứu, đầu máy của kinh tế tri thức, càng quan trọng hơn trong việc chế hóa. Ở Mỹ hiện nay kỹ nghệ chế hóa (manufacturing) chỉ đóng góp 11% trong tổng sản lượng nội địa; nhưng trong số tiền tiêu để nghiên cứu, phát minh, canh tân, thì 68% được dùng cho công nghiệp chế hóa. Người ta đầu tư vào trí não. Hiện nay số sản xuất hàng chế hóa của Mỹ và Trung Quốc trị giá ngang ngửa nhau; nhưng bên Mỹ người ta chỉ dùng đến một số nhân công nhỏ bằng 10% số công nhân bên Tàu; nghĩa là mười người Tàu làm ra bằng một người Mỹ. Trong tương lai, việc sản xuất hàng loạt sẽ lỗi thời, thay thế bằng phương pháp sản xuất theo nhu cầu, sở thích từng khách hàng. Chi phí vật liệu sẽ giảm bớt vì các vật liệu mới ra đời vừa rẻ, vừa nhẹ, vừa bền cứng hơn. Sản xuất một món hàng ở Mỹ hay ở Trung Quốc cũng không quan trọng nữa vì tỷ lệ chi phí về nhân công không đáng kể (hiện nay trong giá một cái iPad 500 đô la chỉ có 33 đô la trả cho công nhân khắp thế giới, mà trong đó lại chỉ có 8 đô la cho người Trung Quốc làm những việc dễ nhất). Tất cả các sáng kiến mới này không phải do một nhóm người nào nghĩ ra. Ðó là do đóng góp của rất nhiều người qua mạng Internet, chia sẻ ý kiến và phát minh trong một hệ thống mở, giống như Facebook vậy.

Một thí dụ, là công ty Quirky ở thành phố New York. Công việc của nó là biến sáng kiến của người khác thành sản phẩm bán được. Một học sinh trung học ở Milwaukee đưa sáng kiến đầu tiên lên mạng Quirky, về một con chấu cắm điện, có thể dùng ở Mỹ, Âu Châu, Á Châu, Úc, vân vân, vì lỗ để cắm điện mỗi nơi khác nhau. Cậu học sinh tên là Jake Zien đã vẽ kiểu một con chấu có thể dùng ở bất cứ nơi nào trên thế giới, tiện hơn những cái đang bán trên thị trường. Quirky đem chế thử rồi đưa lên mạng lưới của họ; có 709 người góp thêm ý kiến về vẽ kiểu, vật liệu, nghiên cứu thị trường, ước định giá cả, hệ thống phát hành, vân vân. Sau cùng, cái đầu cắm được đưa cho nhà máy sản xuất, với giá dưới 30 đô la Mỹ. Tới Tháng Tư năm 2012, đã hơn 200,000 người mua. Những người góp ý kiến được chia 30% số tiền công ty Quirky thua về, riêng cậu Jake Zien đã được trả 124,000 đô la, và còn sẽ được trả thêm.

Ðiều đặc biệt trong câu chuyện trên là một “hệ thống mở” để mọi người có thể cộng tác, chia sẻ sáng kiến, chia sẻ công trình và thành quả. Việc sản xuất trong nền kinh tế tương lai sẽ diễn ra mô thức đó. Một thí dụ khác: Công ty Shapeways ở Hòa Lan, chuyên sản xuất bằng “máy in 3 chiều” (3D-printing). Nếu chưa biết 3D-printer là cái gì thì các bạn là những độc giả hơi “chậm tiến” hơn người ta mất mấy năm rồi. Nó giống như cái máy in laser đi kèm các máy vi tính vậy. Máy in chỉ “đặt” mực lên trên tờ giấy, theo lệnh của một chương trình điện toán, tạo thành chữ, thành hình hai chiều. Máy 3-D đặt nhiều lớp chồng lên nhau, không dùng mực in mà dùng các vật liệu khác, như plastic, kim loại, bất cứ hợp chất nào có thể làm cho hơi “lỏng lỏng.” Cứ như vậy nó sẽ “in ra” bất cứ cái gì, như một hàm răng giả, một bộ phận tinh vi trong máy bay hoặc vệ tinh nhân tạo, một đôi giầy hay một cây vĩ cầm; miễn là cái họa đồ đã được mã hóa theo kỹ thuật số. Một bệnh nhân ở giữa rừng Phi Châu cần một bộ phận tinh vi chữa bệnh tim có thể được “in” ra ngay tại chỗ, thay vì chờ một công ty ở Ðức chế tạo, đóng gói, gửi máy bay chở qua. Công ty Shapeways ở Hòa Lan năm ngoái bán ra khắp thế giới 750,000 sản phẩm chế theo phương pháp 3-D, và số thương vụ còn gia tăng. Phương pháp “in 3-D” đã được phát bằng sáng chế từ năm 1986, đến nay ngoài những máy dùng trong kỹ nghệ giá hàng triệu đã có loại máy 3-D cá nhân bán với giá mấy ngàn. Năm 2010 mới có gần 6 ngàn người mua, năm sau số tiêu thụ đã lên gần 24 ngàn máy 3-D cá nhân. Shapeways được gọi là một “cộng đồng chế tạo trên mạng” (online manufacturing community) bởi vì người ta có thể upload (gửi) họa kiểu (design) món hàng mình cần tới, được cho biết ngay giá cả, tùy theo muốn làm bằng vật liệu nào. Người “mua” có thể rao bán món hàng đó trên cùng mạng lưới, món hàng có thể được thay đổi tùy theo ý kiến của khách hàng mới, vân vân.

Hai câu chuyện trên đây cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ đang thay đổi. Mọi người cộng tác với nhau, trên những mạng mở cho công chúng. Xin kể một thí dụ thứ ba, về việc phát minh những vật liệu mới.

Một nhóm nhà nghiên cứu tại Ðại Học MIT đang tìm cách dùng vi khuẩn chế ra những vật liệu mới, sau khi quan sát những vỏ sò. Giáo Sư Angela Belcher thấy chính các vi khuẩn đã dùng các chất dưới đáy biển mà biến chúng thành những hợp chất rất cứng, như vỏ con bào ngư. Diễn trình này xẩy ra 500 triệu năm trước đây. Nhóm nghiên cứu của bà đã cố dùng những vi khuẩn vô hại này tạo ra những chất liệu mới dùng trong kỹ nghệ. Hiện họ đã thành công và áp dụng vào nhiều ngành công nghiệp, thí dụ, làm pin (battery). Từ các phát kiến đó bà Belcher đã lập ra hai công ty để dùng vi khuẩn trong việc chế ra những vật liệu. Trong nhóm này, ông Gerbrand Ceder đã dựng ra một tổ chức cung cấp tin tức về đặc tính của các vật liệu trên mạng, với mục đích trao đổi hoàn toàn miễn phí. Bao nhiêu người hăng hái tham dự trong vòng ba bốn tháng mạng này đã đăng tải các tính chất của 20,000 chất khác nhau. Thay vì phải đi tìm nhau, các nhà nghiên cứu có thể lên mạng và tìm thấy những chất gì mình cần, nếu hợp với chất khác thì kết quả ra sao.

Cộng tác qua Internet không phải chỉ ích lợi trong kinh tế, mà còn mang lại những kết quả lớn không ngờ trong cả công tác từ thiện nữa.

Hiện nay các tổ chức cứu trợ quốc tế đang sử dụng một mạng tên là Ushahidi, để thu thập, phổ biến và cập nhật các tin tức cần thiết khi muốn đối phó với các thiên tai. Ushahidi do bà Ory Okolloh, người Keynia lập ra năm 2008, sau những cuộc bạo loạn xẩy ra và nhiều phụ nữ bị cưỡng hiếp. Biết rằng các con số trên báo chí không đầy đủ, bà dùng blog của mình kêu gọi mọi người dân Kenya cho thêm các tin tức mới. Số thông tin tràn ngập, bà Okolloh phải mở ra một diễn đàn mạng (platform), và chỉ trong một ngày mạng Ushahidi đã nhận được đủ các thông tin liên can đến các nạn nhân của cuộc bạo loạn. Nhiều người tham dự vào mạng, gửi tin đến bằng điện thoại di động, cuối cùng mạng Ushahidi có những tin cập nhật hơn tất cả các cơ quan truyền thông và chính quyền. Năm 2010, khi cuộc động đất ở Haiti xẩy ra, anh Patrick Meier ở Mỹ đã dùng mạng Ushahidi để thiết lập một trung tâm thông tin mới, Ushahidi-Haiti, chỉ trong vòng mấy giờ là được người Haiti gửi cho bao nhiêu tin tức, hàng trăm người giúp việc thông dịch và kiểm tra các thông tin, nhờ thế các cơ quan cứu trợ quốc tế có thể điều hợp việc cứu trợ dễ dàng hơn - mặc dù anh Meier ở cách xẩy ra nơi động đất 2,500 cây số.

Qua các thí dụ trên, người ta thấy một hiện tượng chung: Người tiêu thụ tham dự việc sản xuất và phân phối; chính các nạn nhân tham dự vào việc cung cấp dịch vụ cứu trợ. Internet đang thay đổi thế giới; cả nền kinh tế lẫn việc quản lý công tác xã hội, mà yếu tố quan trọng nhất là sự tham dự của đông đảo mọi người. Ðiều kiện thiết yếu là người ta được sống trong những không gian mở rộng, được tự do tham dự và trao đổi thông tin.

Ðó là đời sống bình thường của loài người, trong tương lai. Nhờ sống trong những hệ thống mở, kinh tế sẽ tiến bộ nhanh, vì bao nhiêu bộ óc sáng tạo được quy tụ, phối hợp trên các mạng, việc kinh doanh sẽ dễ dàng hơn vì người tiêu thụ cũng tham gia trong việc sản xuất. Các tổ chức xã hội, các cơ quan chính quyền sẽ đáp ứng nhu cầu của “người tiêu thụ” một cách nhanh chóng và thích nghi hơn.

Ðiều kiện quan trọng nhất là mọi người được kính trọng, được cho phép tham dự vô điều kiện. Ðó là căn bản của các chế độ tự do dân chủ.

Trong khi cả thế giới đang tiến tới ào ào, nhờ các mạng lưới mở cho mọi người tham dự và cộng tác với nhau, thì ở một số nước chậm tiến người ta vẫn còn kiểm duyệt và cấm đoán những phương tiện truyền thông xã hội, như Facebook, Twitter, vân vân. Ðọc bản tin về cuộc đấu trí giữa giới trẻ ở Trung Quốc với nhà cầm quyền, khi họ tìm cách ngăn chặn các thông tin về Luật sư mù Trần Quang Thành, chúng ta không chỉ thấy buồn cười mà còn lo cho tương lai nước Trung Hoa. Cứ lo cấm đoán, ngăn chặn các mạng lưới trao đổi thông tin như vậy thì bao giờ người ta mới tiến được?

Dân chủ là điều kiện thiết yếu để phát triển, cả về kinh tế lẫn xã hội. Các chế độ độc tài thường nại cớ rằng dân chúng còn chưa đủ trình độ để bắt đầu dân chủ hóa. Nhưng nhìn sang một nước như Keynia, trình độ dân của họ có khá gì hơn dân Việt Nam hay Trung Quốc hay không? Tại sao người ta để cho dân được sống tự do hơn? Nếu không bắt đầu dân chủ hóa, thì đến bao giờ dân một nước mới đủ trình độ để sống tự do dân chủ?

Giống như một cô gái than, “Bố mẹ cháu cứ hỏi bao giờ cháu mới chịu lấy chồng. Nhưng hôn nhân là một quyết định phải tính toán cẩn thận. Cháu nghĩ nếu mình không biết cho rõ thì thà rằng đừng quyết định vội vàng.” Tôi hỏi: “Cháu có biết bơi không?” “Cháu đã tập bơi trước khi vượt biên.” “Thế thì chuyện lấy chồng cũng giống như tập bơi vậy. Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi cả.”

Dân chủ hóa cũng giống như tập bơi lội. Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi. Dân chủ hóa cũng giống như lập gia đình, cứ chờ mãi thì sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái!

Nhưng có một điều khác biệt, là nhiều người có thể quyết định không lập gia đình, sống độc thân suốt đời vì lý tưởng tôn giáo chẳng hạn, mà vẫn sống hạnh phúc. Nhưng một quốc gia thì không thể nào không bước qua tiến trình dân chủ hóa. Vì nếu người dân không được tự do thì kinh tế không thể phát triển được. Kinh tế thế giới đang thay đổi lớn, trong vòng một thế hệ nữa cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba sẽ khiến các mô thức kinh doanh hiện nay trở thành lỗi thời hết. Các nước chậm chân trên đường dân chủ hóa sẽ chịu cảnh lạc hậu mãi mãi. Ðại Học Kỹ Thuật Vaal ở Nam Phi đã mở một khoa cho các sinh viên dùng máy in 3-D học nghề họa kiểu và sản xuất; họ đang mở thêm một chi nhánh tại miền quê. Không biết bao giờ các sinh viên Việt Nam mới được dùng các máy đó trong phòng thí nghiệm?

Posted: Fri May 04, 2012 5:26 am
by vuphong
Căng Thẳng Mỹ - Trung Cộng

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Tuần này một cuộc hội đàm hàng năm giữa Mỹ và Trung Cộng dự liệu về các vấn đề ngoại giao và kinh tế có vẻ lâm vào thế kẹt, vì một nhân vật đối kháng người gốc Tầu ở Bắc Kinh. đã trốn thoát từ tuần trước và hiện đang được Sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh che chở. Đầu tuần này, chính phủ của Tổng Thống Barack Obama đã nỗ lực vận động gỡ thế kẹt bằng cách phái một nhà ngoại giao cao cấp đến Bắc Kinh giải quyết vụ ông Chen Guangcheng bỏ trốn và hiện đang ở dưới sự che chở của Mỹ.

Trong khi vụ này nằm trong màn bí mật, không một lời giải thích của Sứ quán Mỹ, và cũng không ai biết ông Guangcheng có nằm trong tòa Đại sứ Mỹ hay không, Kurt M. Cambell, một phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, đã đến Bắc Kinh hôm chủ nhật để hội kiến với nhà cầm quyền Trung Cộng về vụ ông Chen bỏ trốn trước khi có cuộc hội đàm chính thức giữa Trung Cộng và Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton cùng Bộ trưởng Tài chính Mỹ ông Timothy Geithner trong tuần này. Bà Clinton và ông Geithner đã rời Mỹ qua Trung Quốc từ đầu tuần.

Một giới chức ngoại giao Mỹ giấu tên nói hiện chưa rõ các giới chức Trung Cộng sẽ nói gì với bà Ngoại trưởng Clinton. Trong khi chờ đợi những diễn biến có thể sẽ xẩy ra trong tuần này, thiết tưởng cũng nên nói qua vài điều về thân thế nhà đối kháng Trần Quang Thành (Chen Guangchen). Năm nay ông 40 tuổi, mắt ông đã bị mù, và đã bị chính quyền Bắc Kinh giam lỏng tại gia,nhưng ông đã trốn thoát và hầu như chắc chắn, ông đã trốn vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh. Và hôm Thứ Tư, luật sư mù Trần Quang Thành đã phải rời sứ quán Mỹ để vào một bệnh viện Bắc kinh vì công an hăm dọa giết vợ của ông. Ông Trần đã bắt đầu chống đối chính quyền Trung Cộng từ khi Bắc Kinh ra lệnh cưỡng ép phá thai, và ra lệnh cho mỗi cặp vợ chồng ở Trung Quốc chỉ được có một đứa con.

Cho đến nay nhiều chính khách Mỹ cho rằng mối quan hệ giữa hai nước lớn ở Thái Bình Dương là Mỹ và Trung Quốc là một vấn đề có tầm quan trọng hơn cả mọi chuyện khác, kề cả dân chủ và nhân quyền. Thế nhưng trên thực tế, nhân quyền và các vấn đề chính trị vẫn là những đề tài cốt lõi của hai nước lớn này ở chung trong một đại dương, không ai có thể chỗi cãi.

Hai điểm then chốt trong chính sách của chính phủ Mỹ dưới quyền TT Obama vẫn là nhân quyền và tư tuởng chính trị. Bởi vậy chính sách của Obama không phải chỉ gửi vài đơn vị Hải quân đến Úc châu. Obama đã nói rất rõ ràng mục tiêu chính của Mỹ đối với Trung Cộng là một chương trình dài hạn nhằm xây dựng tự do chính trị và tự do kinh tế ở vùng này.

Sự kiện chỉ có một nước lớn độc đảng thách thức chương trình của Mỹ thật ra không phải là chuyện bên lề, mà là mối quan tâm lớn của các chiến lược gia Mỹ. Ấn Độ có thể cũng đang làm những việc mà Mỹ thấy quan ngại như những việc Trung Cộng đang làm – đóng những hàng không mẫu hạm khổng lồ và các hệ thống phóng phi đạn tối tân. Nhưng Mỹ tin rằng Ấn Độ sẽ sử dụng những loại võ khí đó một cách có tinh thần trách nhiệm. Mỹ không tin Trung Cộng có tinh thần đó.

Đồng thời các tay lãnh tụ Trung Cộng không phải có chứng hoang tưởng khi họ dự liệu Mỹ có thể muốn họ mất luôn chính quyền. Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã từng có câu tuyên bố lừng danh, khi ông nói “Đảng Cộng sản Trung Quốc đi trật đường lịch sử!”.

Đầu tuần này, những tin tức tức và hình ảnh từ Bắc kinh phổ biến trên khắp thế giới cho thấy nhiều nhóm người mang hình ảnh ủng hộ Trần Quang Thành. Murong Xuecun, một nhà văn nổi tiếng, đã tranh đấu công khai đòi trả tự do cho ông Trần. Ông nói nhiều người dân đã phẫn nộ và bất chấp sự đàn áp của chính quyền, đã công khai lên tiếng phản đối vụ đàn áp ông Trần.

Ông Trần đã trở thành người của nhân dân, tiêu biểu cho những đau khổ của người dân.

Posted: Sat May 05, 2012 4:35 am
by lengoi
Ai bôi đen bộ mặt Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng


Trong mấy tháng, hai người Trung Quốc trốn vô trụ sở ngoại giao Mỹ; đưa tới những biến cố bất ngờ. Tháng Hai, phó thị trưởng kiêm giám đốc công an Trùng Khánh lẻn tới tòa tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Ðô (có lúc ông ta phải cải trang làm một bà già).

Sau khi hai bên chính phủ dàn xếp với nhau, ông Vương Lập Quân (Wang Lijun) đã đi ra, khi được Hồ Cẩm Ðào hứa bảo vệ, khỏi lo bị vợ chồng Bạc Hy Lai giết. Hậu quả là Bạc Hy Lai mất chức, vợ bị bắt vì tình nghi giết người. Ba tháng sau, luật sư khiếm thị Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) trốn vô tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh; đúng lúc bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng tài chánh Mỹ sắp qua họp Hội nghị Cộng tác Chiến lược với Trung Quốc. Hai chính quyền phải dàn xếp để vụ này giải quyết êm thắm, nhưng đến nay vẫn chưa hết trắc trở.

Cả hai nhân vật, Vương Lập Quân và Trần Quang Thành đều lo bị ám hại. Họ đều muốn nhờ vào chính quyền Mỹ mong cầu thoát khỏi tay những người nắm toàn quyền ở địa phương. Vì họ không tin tưởng vào hệ thống pháp luật trong chính quốc gia họ sống. Nhưng tại sao lại nhờ nước Mỹ thay vì một nước nào khác? Bộ Ngoại Giao Trung Quốc yêu cầu Mỹ xin lỗi vì “can thiệp vào nội bộ” của nước Tàu trong vụ Trần Quang Thành. Nhưng chính quyền Mỹ đâu có mời ông Trần Quang Thành đến? Chính nhà “luật sư chân đất” này đã được bạn bè giúp trốn khỏi ngôi nhà ông ở đang bị phong tỏa, rồi bí mật chạy từ vùng Sơn Ðông lên Bắc Kinh, lẻn vào tòa đại sứ Mỹ.

Trần Quang Thành, 40 tuổi, vốn là con nhà nông nghèo nàn, bị mù, phải tự học để tiến thân. Ông đã tranh đấu cho những người bị khuyết tật được đối xử bình đẳng; và từng được chính quyền khen ngợi về tấm lòng vị tha của ông. Ông chỉ bị coi là “có tội” khi bắt đầu tranh đấu bền bỉ chống lại việc cưỡng ép các nông dân phải phá thai hay triệt sản, trong hàng chục năm qua. Bị giam lỏng một cách bất hợp pháp, lo gia đình mình không được an toàn, Trần Quang Thành phải tìm kế, trước hết là thoát ra khỏi gọng kìm của chính quyền làng xã.

Nhưng tại sao ông ta không “khiếu kiện” lên các cấp chính quyền cao hơn, từ tỉnh đến trung ương? Chắc ông biết là làm như vậy hoàn toàn vô ích; vì phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Ði vào tòa đại sứ Mỹ, gây một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa hai nước, đó là cách duy nhất để bảo đảm cả thế giới chú ý đến điều kiện sống an toàn cho gia đình mình. Kinh nghiệm giám đốc công an Vương Lập Quân có thể đưa Trần Quang Thành đến quyết định đó. Nước Mỹ trở thành một chương trình bảo hiểm. Hai người Trung Hoa đã nhờ chính phủ Mỹ đóng vai bảo đảm cho họ được đối xử một cách công bằng.

Bắc Kinh Nhật Báo (Beijing Daily) tố cáo ông đại sứ Mỹ là người “ngồi uống cà phê và gây rối ren” cho nước Tàu. Họ tố ông đại sứ Mỹ đã sử dụng Trần Quang Thành như một quân cờ để “bôi đen” bộ mặt Trung Quốc! Bộ mặt đó tự nó đã đen rồi, ai còn bôi cho đen hơn được nữa? Ông Ðại Sứ Gary Locke vốn là người Mỹ gốc Hoa, tổ ba đời đã chạy từ Quảng Ðông sang Ðài Loan rồi mới sang Mỹ. Cho đến lên năm tuổi, khi đi học ông ta mới bắt đầu nói tiếng Anh. Ðại Sứ Locke đã thân hành đưa Trần Quang Thành đến bệnh viện, vì mấy chỗ gẫy xương trên đường trốn chạy khỏi làng mình. Ông ta tưởng là đã làm xong hai nhiệm vụ: Giữ cho hai nước tiếp tục giao hảo; và tỏ ra chính quyền Mỹ vẫn quan tâm đến quyền làm người, quyền của một người Trung Hoa trong nước họ.

Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt. Locke chắc phải biết hành động của ông cũng đầy rủi ro. Ai có thể bảo đảm chính quyền Sơn Ðông tôn trọng các cam kết với người Mỹ của Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo? Vụ Tiên Lãng ở Việt Nam cho thấy quyền hành của các lãnh chúa địa phương lớn như thế nào. Nếu Bạc Lai Hy còn tại chức, liệu Vương Lập Quân có được yên thân hay không? Trong mấy tháng tới, nếu Luật Sư Trần Quang Thành, hay vợ ông gặp tai nạn, thì Locke sẽ chịu trách nhiệm, đã bị lừa vì “nhẹ dạ cả tin”. Chính quyền Obama cũng chịu trách nhiệm; một điều rất bất lợi trong một năm bầu cử. Cho nên, khi Trần Quang Thành thấy bà vợ bị đe dọa, ông đổi ý, xin qua Mỹ tị nạn, thì được chấp nhận ngay. Trần Quang Thành sẽ được đi cùng vợ và hai con, được cấp học bổng tại một đại học, Bộ Ngoại Giao Mỹ có thể lo việc này. Nhưng nếu việc làm giấy tờ xuất ngoại bị Bắc Kinh trì hoãn, kéo dài, rồi vợ con của Trần Quang Thành bị tai nạn nào đó, thì chính phủ Mỹ vẫn mang tiếng đã đặt các quyền lợi kinh tế của nước Mỹ lên trên mối quan tâm về nhân quyền. Hôm qua, ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa Mitt Romney đã bắt đầu tấn công, coi việc đưa ông Trần Quang Thành ra bệnh viện là một thất bại ngoại giao của chính quyền Barack Obama.

Bắc Kinh cũng điên đầu vì biến cố Trần Quang Thành. Tin tức về vụ này được truyền bá rộng và bàn tán sôi nổi trong 250 triệu mạng Internet, bao thanh niên bầy viết với lòng ngưỡng mộ. Khi đội công an kiểm duyệt mạng cấm không cho thông tin nào với tên Trần Quang Thành được chuyển đi, thì các công dân mạng đã đổi chiến thuật, chỉ gọi là Ông Mù, hay Luật Sư Mù. Công an lại cấm mấy chữ này, công dân mạng lại thay bằng tên A Băng, tức Phạm Băng Băng một ca sĩ khiếm thị nổi tiếng. Công an cấm luôn cái tên ca sĩ, các công dân bèn dùng tên tắt C-Guang-C. Cứ như thế, cuộc chạy đuổi giữa công an và giới trẻ trên mạng kéo dài cả cuối tuần trước, cho đến khi Trần Quang Thành được đưa tới nhà thương. Nhưng công an mạng còn cấm tất cả những trao đổi trên mạng có nói đến tên sứ quán Mỹ, hoặc tên người bạn đã giúp Trần Quang Thành trốn từ làng đi, cấm cả việc gọi tên làng của anh, đến cả mã số chuyến bay UA898 cũng bị cấm, vì đó là chuyến bay của hãng United từng chở nhiều người Trung Quốc đi tị nạn chính trị qua Mỹ! Chỉ một cá nhân Trần Quang Thành đã gây ra bao nhiêu xáo động trên mạng làm cho, không những các công an kiểm duyệt, mà cả chính quyền Trung Quốc phát mệt!

Chính phủ Trung Quốc không để cho vụ Trần Quang Thành ngăn cản việc hợp tác với Mỹ. Hôm qua ông Timothy Geithner, bộ trưởng tài chánh Mỹ cho biết Bắc Kinh đã chịu nhượng bộ trên vấn đề tỷ giá đồng tiền của họ, một cải tổ mà chính quyền Mỹ vẫn yêu cầu từ hàng chục năm qua. Trung Quốc cũng đồng ý cho phép các công ty Mỹ hùn phần vốn lớn hơn trong các công ty mua bán chứng khoán. Các công ty hợp doanh này cũng được tham dự trong các thị trường lai phiếu (futures), tức là các hợp đồng mua trước các chứng khoán tài chánh, cũng như các nông phẩm, kim loại, vân vân. Nhượng bộ này là một khúc quanh quan trọng, vì thị trường lai phiếu xưa nay Bắc Kinh vẫn dành riêng cho các công ty tài chánh, phần lớn là quốc doanh, vì tính chất đầu cơ có thể gây ra nhiều rủi ro.

Hai biến cố Vương Lập Quân và Trần Quang Thành đặt một câu hỏi cho đảng Cộng Sản Trung Hoa: Họ cai trị hơn một tỷ người dân như thế nào mà, một người thuộc thành phần thống trị, người kia tiêu biểu cho dân bị trị, cả hai phải chạy vào những cơ sở ngoại giao nước ngoài xin giúp bảo vệ sinh mạng và quyền sống tự do của họ? Ai đã bôi đen bộ mặt của nước Trung Hoa nếu không phải là chính chế độ độc tài đảng trị kéo dài hơn nửa thế kỷ?

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc lo ngại là tấm gương Trần Quang Thành sẽ thành một ngòi nổ, khích lệ những người dân khác đứng lên đòi tự do; không khác gì biến cố Ðoàn Văn Vươn ở Việt Nam. Bao nhiêu năm qua, những người dân nghèo cô thế, những thanh niên thất nghiệp, các người tàn tật, vân vân, đã bị gạt ra bên lề xã hội, đứng ngoài cuộc chạy đua làm giàu của các cán bộ và các nhà tư bản đỏ. Một người dám đứng dậy, có thể ngàn vạn người khác vùng lên. Nhất là trong năm nay đảng Cộng Sản sẽ thay đổi lãnh đạo; kinh tế bắt đầu phải giảm tốc độ; trong khi nông dân đang phấn khởi vì thành công trong cuộc đấu tranh chống cường quyền ở làng Ô Khảm.

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đang lâm vào thế bí. Muốn trấn an dân thì phải cởi trói cho họ, phải thi hành luật pháp công minh. Nhưng cho dân được tự do hơn thì quyền hành của các cán bộ, đảng viên phải bị giới hạn. Ðảng Cộng Sản không thể nào vừa bảo vệ quyền lợi băng đảng, vừa muốn dân chịu ngoan ngoãn khuất phục mãi. Những vết nứt rạn đã hiện ra rõ ràng qua hai vụ Vương Lập Quân và Trần Quang Thành. Guồng máy độc quyền chính trị và độc quyền kinh tế của đảng Cộng Sản đang lung lay.

Posted: Mon May 07, 2012 1:31 am
by dailien
Gió Đã Đổi Chiều

Tác giả : Vi Anh

Một vài thời sự nhiều ý nghĩa. Thêm một đảng viên Việt Tân từ hải ngọai về Việt Nam tổ chức họat động cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN bị CS bắt. Đó là Ô. Nguyễn Quốc Quân và tên Mỹ là Richard Nguyen, vốn là một giáo sư tóan di tản sang Mỹ tỵ nạn CS, tiếp tục học đậu bằng Tiến sĩ Tóan và giảng dạy tại Đại Học Bang North Carolina, từng bí mật về nước họat động nhiều lẩn, kỳ này bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 14-4-2012.

Còn trong nước nhà VN, chưa đầy ba tháng sau vụ Tiên Lãng ở Hải Phòng người dân oan dùng súng và mìn tự chế chống lại công an, quân đội cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của ông Đoàn Văn Vươn, thì ở tỉnh Hưng Yên vụ Văn Giang lại nổi lên. Hàng ngàn người dân đứng lên chống lại nhà cầm quyền cưỡng chế,cưỡng chiếm đất đai để làm Dự án Ecopark mà người đầu ngành tập đòan đầu tư là con gái của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng.

Phong trào Dân Oan ở VN sau 37 năm CS Hà nội thống trị Việt Nam, theo đánh giá của Đảng Nhà Nước CS trong một hội nghị ngày 02/05 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ tọa, đã “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”, chiếm hơn 70% vụ khiếu kiện. Con số thực tế những oan khuất của Dân Oan phải chịu và nhà cầm quyến ém nhẹm, nhứt định cao hơn nhiều.

Dưới cái nhìn của nhà nước thống trị đang hốt hoảng, hành động đấu tranh bất bạo động của Tiến sĩ Quân từ Mỹ về là “khủng bố” và hành động phong trào Dân Oan là “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”.

Nhưng dưới cái nhìn của người dân, đó là tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền và đòi quyền sống, đòi công lý đã biến thành phong trào, chứng tỏ người dân đã hết sợ CS, mà CS đang sợ dân. Dân chúng đã qua giai đọan bất tuân hành dân sự, qua giai đọan khiếu kiện cá nhân, mà biến thành phong trào tập thể, từ đấu tranh ôn hòa manh nha tiến lên bạo lực. Tình hình dân chúng VN hiện nung nấu hơn tình hình trước thời người dân Tunisia, Ai cập, và Lbiya vùng lên, nổi dậy chống đối và lật đổ độc tài.

Ngọn gió đã đổi chiều, từ hạ trào cách mạng đang trở thành cao trào cách mạng của người dân chống độc tài CS. Người dân Việt trong và ngoài nước và cán bộ đảng viên CS Hà Nội, 37 năm sau ai sợ ai?

Để trả lời câu hỏi này thiết nghĩ cần phân tích sơ lượt nỗi sợ và phản ứng thông thường của nó. Sợ là phản ứng tâm lý tự nhiên của Con Người, cá nhân lẫn xã hội, trước một cú sốc lớn. Người bị động, tức người bị làm cho sợ, có phản ứng ban đầu từ bất tỉnh đến ù té chạy, hay râm rấp nghe theo, như người bị kẻ cướp bất thần dí súng trấn lột. Điều đó đã thấy khi CS mới vào Saigon, nhiều người Saigon bỏ sở, buông súng, cởi quân phục, “chờ bàn giao chánh quyền” theo lịnh của Ô. Minh - một cái lịnh vi hiến và vi quân luật. Một số thì về nằm chết dí trong nhà, kẻ thì chạy ào vô Tòa Đại sứ Mỹ, xuống Hải Quân, Cảng Nhà Rồng để trốn chạy. Lại có kẻ nịnh bợ CS mang Băng Đỏ làm dân 30 tháng 4. Còn Bộ Đội CS Bắc Việt sợ, mời một ly nước không dám uống, cho một gói mì không dám ăn. Họ sợ bị thuốc, chớ không phải tử tế hay đầy đủ gì. Nhưng sau đó bình tĩnh lại họ thấy cái gì cũng muốn, cũng thèm, hoặc xin, hoặc mua như giựt, để gấp gấp đem về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa quá thiếu thốn. Từ đó Saigon có thành ngữ, “tự nhiên như người Hà Lội”.

Nhưng sau một thời gian bị cú sốc, bình tĩnh lại một chút, bản năng tự vệ và sinh tồn của Con Người trỗi dậy, tìm cách thắng nỗi sợ và phản ứng thích nghi hay chống đối. Phản ứng có thể từ lén nhìn sơ hở của đối phương, bày tỏ nỗi bất mãn bằng lời bóng gió, chống đối hay tẩy chay, xa lánh. Còn người chủ động, tức người gây ra nỗi sợ, cũng sợ, nhưng phải dấu nỗi sợ ấy để trấn áp đối phương.

Phản ứng có thể như kẻ cướp có súng trong tay “bụp liền” khi thấy một chút phản ứng nhỏ dù là vô tình của người bị trấn áp. Thời gian có lợi cho người bị động, bất lợi cho người chủ động gây ra nỗi sợ. Thế cho nên kẻ cướp chuyên nghiệp ít khi kéo dài vụ cướp, không cho người bị khống chế nói chuyện, làm mất đi sự căng thẳng thần kinh của đối phương có lợi cho kẻ cướp. Nếu kéo dài thời gian trấn áp con tin, sớm muộn gì cũng có phản ứng hóa giải hay chống đối. Nên những chuyên viên chống tội phạm thường khuyên người bị cướp trấn lột, cướp bảo làm gì cứ làm nấy, cố kéo dài thời gian, quan sát cho kỹ để sau này giúp nhà cầm quyền dễ nhận dạng và bắt hơn là chống đối cướp giết không có lợi gì.

Từ ngày CS Hà Nội chiếm được Miền Nam đến nay đã 37 năm, thử xét coi nỗi sợ của người dân bị động và của CS chủ động gây nỗi sợ, bên nào còn sợ nhiều hơn. Phản ứng của đồng bào Miền Bắc. Từ ngày CS chiếm được Miền Bắc, người dân kẹt không di cư được vào Nam năm 1954, sau một thời gian sợ ban đầu, đã bắt đầu phản ứng tự vệ và sinh tồn. “Phết phẩy” với cán bộ đảng viên, luồn lách, uốn mình qua ngỏ hẹp để sống. Nhưng đàng sau lưng CS thì nói hành nói tỏi, chưởi đon chưởi ren để tỏ bất mãn. Vì vậy ca dao trào phúng, chuyện tiếu lâm ở Miền Bắc nói xấu CS rất phong phú. Và sau cùng đến giai đoạn ly khai Đảng, chống báng Đảng như Trần Độ, Dương Thu Hương và những nhà trí thức đấu tranh.

Còn phản ứng đồng bào Miền Nam nói chung từ Bến Hải trở vào, người dân ban đầu sợ chạy tán loạn sau đó bình tĩnh thích ứng, “đi với ma mặc áo giấy” bằng nhậu nhẹt, lì xì” đến độ đảng viên trước thuốc ba số 555 thì “nằm mà ký”, kế đến “ thủ tục đầu tiên” “sổ vàng”, và nhiều hình thức mua chuộc, trao đổi không tên khá đến độ tham nhũng trở thành đại nạn cho CS. Và không bao lâu đã “hủ hóa” hầu hết VC, biến VC thành cường hào ác bá Đỏ ở nông thôn, và tư bản Đỏ ở thành thị thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sẽ thiếu nếu không nói đến người Việt Hải Ngoại. Từ chỗ VC liệt số người này với tội đồ “phản quốc, phản động, phản cách mạng” nhưng sau mười năm với “vai mang túi bạc kè kè, nói phải nói quấy VC nghe rầng rầng”. Nghe đến nỗi VC uốn lưỡi gọi “Việt Kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dặm của quê hương” và mặc thị cho Việt Kiều về trùng tu Nghĩa Trang Biên Hòa là biểu tượng của lực lượng “kẻ thù số 1” của CS Hà Nội; VC đánh chữ làm thinh vì sợ mất Đô la.

Trong khi CS Hà Nội giấu nỗi sợ, nhưng nỗi sợ đâu có rời. Phản ứng đã chỉ rõ. Phát ngôn với quốc tế thì dao to búa lớn không cần thiết, với người dân thì hành động bạo lực quá đáng, quá đà. Rục rịch bất đồng ý với CS là buộc tội gián điệp, khủng bố, phá họai nhà nước, lật đổ chánh quyền. Đồng bào thiểu số Tây Nguyên chỉ biểu tình, VC “điều” hàng sư đoàn có thiết giáp trực thăng yểm trợ, quân số và cơ giới đông hơn người biểu tình. Hao tốn công quỹ vô ích; quấy động dư luận quốc tế không cần thiết, mà tạo điều kiện cho việc chống CS cháy phừng lên. Mỹ đặt CS Hà Nội vào 1 trong 8 nước cần quan tâm đặc biệt trong hai năm phần lớn là vì giọt nước tràn đàn áp đó.

Nhưng nỗi sợ không rời nghe thấy rõ nhứt khi một Ông Tướng VC được “điều” qua làm Giám Đốc VN Airlines, Nguyễn xuân Hiển, bị phóng viên Đài BBC vô tình chạm nọc “sợ” với câu hỏi Ô. Tướng có “sợ” sự cạnh tranh của United Airlines Mỹ không. Ông nổi điên lên, hỏi “tại sao phải dùng chữ sợ nhỉ” và xài xể phóng viên BBC thậm tệ, nào là kém văn hóa, nào là dốt tiếng Việt.

Còn Bộ Chánh Trị CS Hà Nội sợ vụ án Tổng Cục Mật Vụ TC2 nổ tung ra, và nổ chụp xuống Đảng nên sợ cứng người, liệt thần kinh không dám rỉ hơi dù đó là việc đúng người, đúng chỗ, và đúng việc của Bộ Chánh trị CS Hà Nội. Còn Chánh Phủ trong vấn đề Trung Cộng và Mỹ, miệng thì nói rố ráo nguyên tắc bất can thiệp, nhưng trong bụng sợ rung en phát rét, hành động phi lý bán đất dâng biển, chạy chọt tránh bị Mỹ trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo một cách hết sức thiếu tự tin.

37 năm, nỗi sợ đã đổi bên, từ người dân sợ sang nhà cầm quyền CS sợ. Theo qui trình tâm lý cá nhân và xã hội này, những năm tới sẽ là những năm sẽ xảy ra nhiều diễn biến và biểu hiên, nhiều phản ứng của nỗi sợ không rời CS Hà Nội.

Sợ đã đổi bên từ dân sang nhà nước. Gió đã dổi chiều tữ hạ trào cách mạng sang cao trào cách mạng nơi dân chúng./.

Posted: Tue May 08, 2012 4:22 am
by quaichao
Làm Sao Giết Nhà Đấu Tranh

Tác giả : Vi Anh

Về vụ nhà đấu tranh Trần quang Thành trốn thóat nơi bị Trung Cộng quản chế và vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chánh trị, câu kết luận của bài trước “Một Trắc Nghiệm Nhân Quyền Với TT Obama” là “Chờ xem kết quả bài trắc nghiệm về nhân quyền của TT Obama trong thời gian tới”. Không dè đến quá mau kết quả phũ phàng do những chính khách và ngọai giao cực kỳ thực dụng Mỹ của chánh quyền Obama dành cho Ô. Trần quang Thành mà báo chí Tây Âu gọi là “luật sư chân đất” và người Trung Hoa coi như “anh hùng dân tộc” trên công luận ngòai luồng của Đảng Nhà Nước TC.

Thực vậy, không bao lâu sau -- xin phép dùng nguồn tin của báo Pháp cho được vô tư hơn trong nội vụ -- heo thông tin, nghị luận của một tờ báo lớn có uy tin của Pháp là nhựt báo Le Monde cho biết “Người Mỹ và Trung Quốc thỏa thuận về số phận của Trần quang Thành”.

Sau khi Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Bắc Kinh, ngày thứ Tư, 2 tháng Năm, vài giờ sau một viên chức hữu trách của Mỹ tuyên bố Trung Quốc bảo đảm “an tòan” cho Trần quang Thành, ông sẽ ở lại ở nước nhà của Ông và không xin tỵ nạn chánh trị trong tòa đại sứ Mỹ nơi mà ông đã vào trốn và đã rời khỏi.

Nhưng Ô. Trần quang Thành vào chiếu thứ Tư tuyên bố với thông tấn xã của Pháp là AFP, Ông rời khỏi tòa đại sứ Mỹ dưới sự bó buộc và nỗi lo nhiều chuyện xảy ra cho gia đình Ông.

Phối kiềm với tin của thông tấn xã AP của Mỹ, chỉ một ngày sau, ông Trần Quang Thành nói với hãng tin AP rằng, ông muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, vì ông lo sợ cho mạng sống của họ. Ông cho biết các giới chức Hoa Kỳ đã nói với ông, là nhà chức trách Trung Quốc sẽ đánh vợ ông tới chết nếu ông không rời khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Nhưng phát ngôn viên ngọai giao Mỹ ở Washington đính chính nói các giới chức Mỹ không bao giờ nói với ông Trần về bất cứ đe dọa nào đối với vợ và con ông, nhưng Trung Quốc đã nói với họ, là gia đình ông sẽ bị đưa về tỉnh Sơn Đông nếu ông Trần ở lại tòa đại sứ Hoa Kỳ. Các giới chức Mỹ cũng đã xác nhận trên Đài VOA, rằng Ô. Thành muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, một ngày sau khi rời khỏi Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ông đang nằm bịnh viện dưới sự giám sát của TC.

Còn thông tấn xã của TQ thì loan tải nhà ly khai rời khỏi tòa đại sứ Mỹ với sự “tự nguyện”. Ông được khám bịnh ở bịnh viện Chaoyang, trung tâm Bắc Kinh, cũng là vùng tòa đại sứ Mỹ tọa lạc. Theo trang web nhiều người đọc thì người ta cũng thấy tại nơi đây khi Ô. Thành vào bịnh viện, có mặt Đại sứ Mỹ Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa và rất đông những nhà báo.

Còn ngành ngọai giao của TQ thì tỏ vẻ rất bất bình và tố cáo Mỹ với lời lẽ cứng rắn: “Phải nhìn nhận rằng tòa đại sứ Mỹ tại TQ đã dùng những phương tiện bất thường đưa công dân TQ Trần quang Thành vào tòa đại sứ. TQ rất bất mãn”…” Cách hành động đó của Mỹ là can thiệp vào nội bộ của TQ, là điều không thể chấp nhận được đối với TQ”. TQ đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.” Và một viên chức Mỹ có trách nhiệm tuyên bố với tư cách dấu tên, nói tự hậu một việc như vậy không còn tái diễn nữa.”

Còn theo tin từ Washingon Mỹ, việc Ông Thành rời tòa đại sứ Mỹ, không xin tỵ nạn chánh trị là kết quả một cuộc thương lượng với nhà cầm quyền TQ. Nhà cầm quyền TC hứa với Mỹ ngòai việc để cho Ông và vợ Ông tự do học luật, còn hứa bảo đảm cho Ông một chỗ ở an tòan. Ông Thành điện thọai cám ơn Ngọai Trưởng Mỹ, “Tôi muốn có thể hôn Bà”.

Thế là Mỹ và TC đã giải quyết và an bài số phận của người Ls mù lòa này rồi.

Nhưng chưa chi kết quả cuộc dàn xếp Mỹ và TC, lời hứa của TC đã vi phạm một cách trắng trợn. Công an canh gác Ô. Thành ngay tại bịnh viện. Bè bạn Ông, vợ con Ông rất lo sợ. Chỉ một ngày sau Ông muốn đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ. Làng dân báo, công luận của dân Trung Hoa trên web rất bất bình thái dộ và hành động của Mỹ và lo cho Ô. Thành. Chính phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland hôm thứ Năm nói các giới chức Mỹ đang thảo luận các lựa chọn với ông Trần, hiện đang nằm bệnh viện tại Bắc Kinh dưới sự giám sát của Trung Quốc.

Giải pháp của Mỹ và TC để đưa Ông Thành ra khỏi Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh là giết sinh mạng chánh trị của người “luật sư chân đất”, một người mù dũng cảm, kiên trì đấu tranh chống lại chính sách một con mà hậu quả là cưỡng bức phá thai của Đảng Nhà Nước TC nữa – thành một nhà đấu tranh.

Nó hạ cấp một nhà đấu tranh danh tiếng, có uy tín thành một sinh viên vô danh mắt mù đi học luật với vợ ở một đại học nào đó của nước TQ với gần 1 tỷ 400 triệu người sống dưới chế độ CS độc tài, đảng trị, tòan diện.Nó tạo điểu kiện để TC chỉ định cư trú Ô. Thành với lới hứa cho Ô. Thành một chỗ ở “an tòan”. Cũng như Việt Cộng hứa với quân cán chính VNCH cho đi “học tập cải tạo tập trung” là để bảo vệ an tòan tránh nhân dân đòi nợ máu, mà thực tế là đi tù lao động khổ sai, biệt xứ đúng theo định nghĩa của luập hình trên thế giới.

Trớ trêu thay nhà đấu tranh nhân quyền, nhà ly khai đấu tranh cương quyết, vào tù ra khám nhiều lần cho tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị lịch sử mà chính Mỹ đã chủ trương kêu gọi và hứa hẹn dân tộc các nước, lại bị giết sinh mạng chánh trị bới chính những chính khách thực dụng của chánh quyền TT Obama.

Chính Ngọai Trưởng Clinton đã từng kêu gọi TC trả tự do cho Ô. Thành, bây giờ vì cuộc họp đối thọai về kinh tế và chiến lược với TC, mà chỉ vài giờ sau các nhà ngọai giao phù thủy đã buộc Ông Thành ra khỏi khuông viên tòa đại sứ, trên nguyên tắc là lãnh thổ của Mỹ mà quốc ca Mỹ gọi là trái tim của những người tự do!

Tuồng kịch chánh trị bá đạo và cực kỳ thực dụng này của chánh khách Mỹ thực hiện với những cán bộ đảng viên CS ở TQ làm trong phòng cửa đóng kín. Thật là một trò cười ra nước mắt cho những nhà đấu tranh tin vào các chính khách và nhà ngọai giao Mỹ như TT Obama, NT Clinton. Họ giải quyết số phận nhà đấu tranh Trần quang Thành cũng như dân chúng và dân tộc bị áp bức, trên đầu trên cổ người dân. Họ dọn sạch, họ tẩy trùng bầu không khí, tạo dư luận thuận lợi cho cuộc họp thường niên đối thọai về kinh tế và chiến lược giữa hai thành phần chấp chánh ở Washington và Bắc Kinh.

Nhưng không ai tin việc làm của những chánh khách thực dụng Mỹ được TC đáp ứng thuận lợi. Bản chất của TC mềm thì nắn, rắn thì buông. Sau khi Mỹ thực tế là “trao trả” Ông Thành cho chế độ, CS Bắc Kinh đã có những lời lẽ hết sức chống Mỹ như TQ rất bất mãn, Mỹ can thiệp vào nội bộ của TQ và đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.

Có nhiều dấu chỉ cho thấy việc những chính khách và nhà ngọai giao Mỹ trong chánh quyền TT Obama vo tròn bóp méo vụ Ô. Thành rời khỏi tòa đại sứ Mỹ, ban đầu có vẻ là một thành công ngoại giao của chánh quyền Obama, Ngọai Trưởng Clinton. Nhưng không bao lâu sau đó bị phản tác dụng nặng nề. Thái dộ và hành động quá mềm yếu của họ với TC, việc thiếu trách nhiệm với lời hứa ủng hộ tự do, dân chủ, nhân quyền ấy; TT Obama có thể trả một giá rất đắc. Nó ảnh hưởng bất lợi cho việc tái tranh cử của TT Obama, vì bị coi như thất bại của TT Obama đối với TC, quá mềm yếu với TC, như nhiều lần thất bại trong việc yêu cầu TC giảm giá đồng nhân dân tệ, để hàng hóa TC tràn ngập thị trường Mỹ, làm mất công ăn việc làm của người dân Mỹ, và mang nợ TC như Chúa Chổm./.

Posted: Wed May 09, 2012 3:01 am
by quangminh
Obama và Sarkozy

Tác giả : Vi Anh
Hai tổng thống thân tình của hai nước lớn Pháp và Mỹ ở hai bên bờ Đại Tây Dương chúc nhau thắng cử, giờ đây chỉ còn một, và một đó cũng phải tái tranh cử trong năm nay, chưa biết số phận người dân Mỹ dành cho mình ra sao. Người đi ngậm ngùi, kẻ còn ở lại một thời gian âu lo với con người mới và tình hình mới. Đó là trường hợp TT Sarkozy và TT Obama sau cuộc bầu cử tổng thống vòng hai chung quyết ở Pháp.

Thực vậy, ngày 12 tháng Tư năm 2012, Tổng Thống Sarkozy nói vơi TT Obama, «Nous allons gagner, toi et moi, M. Obama, ensemble» hay “Chúng ta sẽ thắng, anh và tôi, Ô Obama, cùng nhau”. TT Obama nói «Và thực sự tôi hòan tòan ca ngợi cuộc chiến đấu mà Anh đang điều hành”. Đây là một cuộc đàm thọai của hai tổng thống hai nước, thực hiện tại Điện Elysée và Tòa Bạch Ốc, tức hai phủ tổng thống của hai nước, hai cơ quan Hành Pháp hàng đầu của quốc gia. Theo qui tắc tổ chức chánh quyền, đó là cuộc đàm thoại chánh thức liên quan đến chuyện quốc gia đại sự, theo lẽ thông thường chỉ hai vị mà thôi, cùng lắm với một vài phụ tá chuyên môn và thông dịch viên lá quá lắm rồi. Nhưng cuộc đàm thọai này TT Sarkozy lại mời báo chí tham dự. Lời nói của TT Sarkozy, báo Figaro của Pháp lấy làm tựa của một tin quan trọng. Và thông tấn xã của Pháp đi tin và hình tòan nước Pháp và thế giới. Cách tổ chức đàm thọai trực tiếp, trực tuyến và truyền hình của hai tổng thống có mặt báo chí này cho thấy hai tổng thống tái ứng cử muốn dùng phương tiện quốc gia cho việc vận động tranh cử. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao hai vị tổng thống lại phá lệ những trao đổi ngọai giao trực tiếp về quốc sự lại được phổ biến tổng quát như vậy.

Ngày 6 tháng 5, lúc 20 giờ 20 phút ở Pháp, TT Sarkozy thất cử, đã chính thức lên tiếng thừa nhận thất bại trước sự đắc cử tổng thống Pháp của Ô. François Hollande, của đảng Xã hội Pháp, trong vòng bầu cứ thứ hai. Kỳ bầu cứ thứ hai này cử tri Pháp đi bầu đông hơn kỳ nhứt hồi 22/04 . Kết quả bầu cử cho thấy, thái độ bất mãn của các công dân Pháp đối với các biện pháp kiệm ước, khắc khổ gắt gao mà TT Sarkozy đã cỗ võ cùng với Liên Âu.

Ngày Chủ Nhựt 6 tháng Năm bầu tổng thống Pháp dù là Chủ nhựt, nhưng chắc là một “ngày dài” của TT Obama và Tòa Bạch Ốc, cơ quan đầu não của nội các của chánh quyền của TT Obama. TT Obama và bộ tham mưu thân cận của Ông ắt lo lắng, bồn chồn chờ kết quả coi người “bạn” của TT Obama, là TT Sarkozy số mạng mà người dân Pháp dành cho Ông ra sao.

Nỗi lo bao trùm cả Phủ Tổng Thống và Đảng Dân Chủ đang cầm quyền sắp bầu cử tổng thống lại, như hồi năm 1981, TT François Mitterrand, một lãnh tụ của Đảng Xã hội Pháp như TT Hollande mới đắc cử sẽ nắm chánh quyền nước Pháp. Nhưng thời TT Mitterrand, nỗi lo đó sờm tan biến vì chánh quyền do Đảng Xã hội Pháp chấp chánh không bao lâu sau tuyên bố sẽ đứng về phía các dồng minh trong đó Mỹ là trụ cột.

Còn bây giờ mối lo của TT Obama và nội các chánh phủ của Đảng Dân Chủ rất lớn khi Ô Hollande Đảng Xã Hội Pháp thắng cử. Tuy đề cương “xã hội” của Đảng Dân Chủ ở Mỹ gần với Đảng Xã hội Pháp, TT Obama có nhiều chủ trương “xã hội” đến đổi một số chánh trị gia Cộng Hòa và dân Mỹ bảo thù xem Ông là “xã hội chủ nghĩa”, một danh từ không tốt ở Mỹ, chánh quyền Obama vẫn rất lo ngại. Lo ngại một cuộc khủng hỏang giữa Washinton và Paris, hai bờ Đại Tây Dương không gần nhau như thời Sarkozy.

Nhà bình luận Jim Hoagland của tờ báo Washington Post gối đầu giường của chính khách Mỹ viết “ở Washington, không ai biết Ô Hollande, ngay đối với những chuyên gia về Pháp”. Ứng cử viên Hollande hồi tháng ba không dành thí giờ đến thủ đô Mỹ, chỉ gởi vài đặc phái viên đến thôi. Trong khi Sarkozy trái lại coi Mỹ như một nơi ưu tiên trong chiến dịch tranh cử năm 2007.

Còn nhà chánh trị học James Poulos viết trên tạp Foreign Policy một bài với tựa đề «Après moi le déluge» hay “Sau tôi là Trận Hồng Thủy” nói về ảnh hưởng của việc mất chánh quyền của TT Sarkozy đối với Mỹ.

Bất ổn bao trùm thị trường thế giới sau các cuộc bầu cử Châu Âu, với hai cuộc bầu cử ở Hy Lạp và Pháp. Nhứt là ở Pháp, Ô Hollande lên vốn là người bất đồng ý kiến với Ô Sarkozy chủ trương kiệm ước, thắt lưng buộc bụng cùng với TT Đức, một con sư tử về hình dáng quốc gia và lịch sử Âu châu dưới cái nhìn của Pháp và đầu tàu kinh tế Âu chậu hiện tại.

Thị trường tài chính Âu, Á, Mỹ giảm mạnh. Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2.8%, của Hongkong giảm 2.6%, New York mới mở cửa 1 euro giảm dưới 1.30 mỹ kim sau đó nhích lên một chút.

TT Obama hôm Chủ Nhật theo nghi thức đã chúc mừng ông Hollande, và không quên mời ông Ô Hollande đến thăm Tòa Bạch Ốc trước hội nghị thượng đỉnh G-8 và NATO vào cuối tháng này.

Trong thời TT Sarkozy, chánh quyền của TT Obama coi chánh quyển của TT Sarkozy là một đồng minh quí giá, Ô Sarkozy là một người bạn Mỹ thân thiết, từng đưa nước Pháp hòa nhập vào hàng ngũ lãnh đạo chỉ huy của Khối Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương do Mỹ đóng vai trò chủ chốt và cắt đứt nước Pháp với chủ thuyết và chính sách De Gaulle. Pháp đã đóng vai trò xung kích trong cuộc hành quân ở Libya, hòan tòan khác với thái độ và hành động của Pháp đối với Mỹ trong cuộc hành quân của Mỹ chống lại Iraq.

TT Obama lo và nội các của Ông bối rối trước vấn đề không biết sự thay đổi con người tổng thống ở Pháp có thay đổi tình hình ở Pháp và Liên Âu hay không. Dù Đảng Xã Hội ở Pháp mà TT Hollande là đảng viên gần gũi với đề cương của Đảng Dân Chủ ở Mỹ, việc tiết giảm khiếm hụt ngân sách của Pháp và Liên Âu có thế tạo thành một cơn bão tài chánh. Nếu cơn bão này xảy ra ngay thời kỳ bầu cử của TT Obama là một bất lợi cho cuộc tranh cử của Ông, theo như nhận định của nhà bình luận Jim Hoagland của báo Washington Post.

Nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi TT Obama làm một điều có tánh nghi thức chúc mừng Ô Hollande đắc cử, TT Obama long trọng mời Ô Hoalande viếng thăm nước Mỹ, và hẹn gặp nhau ở Camp David trong cuộc họp G8 theo lịch trình ấn định trước vào 19 tháng Năm, và kế đó là ở Chicago trong cuộc họp thưởng đĩnh của một số nước có góp quân ở Afghanistan và đóng góp quỹ để cứu nguy ngân sách trong cuộc khủng hỏang tài chánh vừa qua. Như đã biết trong cuộc tranh cử TT Hollande đã hứa sẽ rút quân vào cuối năm 2012, trước thời hạn TT Obama đề nghị.

Posted: Thu May 10, 2012 6:22 am
by khieulong
Thế giới ra sao khi Ô. Hollande đắc cử TT. Pháp
và Ô. Putin nhậm chức TT. Nga?

Đào Văn Bình


Ngày Thứ Hai 7/5/2012 vừa qua báo chí thế giới đều đồng loạt loan tin Ô. Hollande (Pháp) đắc cử với số phiếu 52% và Ô. Putin (Nga) tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Chúng ta thử tìm hiểu xem sự đắc cử của hai ông này ảnh hưởng thế nào đối với tình hình thế giới.

Image

A. Ảnh hưởng của Ô. Francois Hollande:
Đây là lần thứ nhì, sau 20 năm một chính trị gia thuộc Đảng Xã Hội Pháp được giao trọng trách lãnh đạo đất nước. Dĩ nhiên khi đảng cầm quyền thay đổi thì chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia đó phải thay đổi theo. Vì Ô. Holland có lập trường đối nghịch với Ô. Sakozy cho nên tất cả những gì mà Ô. Sarkozy xây dựng với đồng minh hoặc đối với kẻ thù trước đây đều thay đổi. Nước Pháp nếu đứng một mình thì thực lực kinh tế còn thua Nhật Bản, Hoa Lục, Ấn Độ và Brasil. Còn về mặt quân sự cũng không qua nổi Hoa Lục, Nga và Ấn Độ. Thế nhưng vì đứng trong NATO và dựa vào Hoa Kỳ cho nên sức mạnh quân sự của Pháp lại trở nên đáng nể. Do bổi cảnh chính trị mỗi quốc gia mỗi khác nhau và do Toàn Cầu Hóa, chính sách đối ngoại mới của Ô. Hollande cũng sẽ có ảnh hưởng khác nhau trên mỗi khu vực.

Đối với Hoa Kỳ:

Chắc chắn quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ sẽ thay đổi. Trước đây nước Pháp chống đối Hoa Kỳ trong cuộc chiến xâm lăng Iraq và Afghanistan nhưng với Ô. Sarkozy lại trở thành đồng minh thân thiết, nhất là trong cuộc chiến Libya lật đổ Ô. Gaddafi. Thật lạ lùng, có thể là vì dầu hỏa, nước Pháp là nước hăng hái nhất, mở đầu cuộc không kích vào Libya khi mạng lệnh No Fly Zone của Liên Hiệp Quốc được thông qua. Có thể Ô. Sarkozy theo đuổi chính sách liên kết với Hoa Kỳ để được chia dầu hỏa và phát triển kinh tế. Thế nhưng do kinh tế Mỹ suy thoái và các quốc gia Iraq, Libya liên tục bất ổn, trong khi đó cuộc khủng hoảng tài chinh Âu Châu kéo dài …khiến nước Pháp không sao vực dậy được. Đó là lý do khiến Ô. Ô. Sarkozy thất cử. Ô. Obama “ngửi” thấy điều này cho nên vội vã đánh điện chúc mừng và mời ông thăm viếng Tòa Bạch Ốc trước khi tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G8 và NATO vào cuối Tháng 5 tại Camp Davis. Linh cảm thấy nỗi bất an của Hoa Kỳ,

Ô. Hollande cũng vội vã trấn an bằng cách tuyên bố “Tôi sẽ không làm khó Hoa Kỳ”. Nói gì thì nói, tiệc tùng dù long trọng thế nào đi nữa, chắc chắn tình cảm mặn mà thắm thiết Pháp-Mỹ sẽ không còn như xưa. Ô. Hollande phải cứu nước Pháp trước. Ông đang phải đối đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh có thể làm tan vỡ Liên Hiệp Âu Châu và suy thoái kinh tế của chính nước ông. Dân Pháp kỳ vọng nơi ông để giải quyết công ăn việc làm, tiền tệ cho chính họ chứ không phải một nền hòa bình hay ổn định cho Afghnistan hay lún sâu vào cuộc khủng hoảng Iran, Syria.

Đối với Hoa Lục:

Chắc chắn mối liên hệ với Trung Quốc sẽ tăng mạnh hơn nữa - không ngoài mục đích cứu vãn nền kinh tế của Pháp. Chính vì thế mà trong bài diễn văn thắng cử Ô. Hollande nói rằng quốc gia mà ông công du đầu tiên sẽ là Hoa Lục. Sự liên kết chặt chẽ về kinh tế của Pháp - một quốc gia trụ cột trong NATO- với Hoa Lục, không biết có gây khó khăn cho Hoa Kỳ trong vấn đề xử dụng sức mạnh quân sự của NATO trong các cuộc chiến tranh khu vực do Hoa Kỳ khởi xướng không? Hoa Kỳ hiểu hơn ai hết rằng “ai cho tiền người đó làm boss”.

Đối với Âu Châu:

Người lo lắng nhất có lẽ là bà Thủ Tướng Angela Merkel của Đức. Kế hoạch cứu vãn tài chính Âu Châu của bà với Ô. Sarkozy trước đây phải thay đổi và bà phải làm việc với một ông bạn đồng hành mới có chương trình làm việc khác với mình. Chưa biết tương lai Liên Hiệp Âu Châu đi về đâu.

Đối với các Quốc Gia Đệ Tam:

Không ảnh hưởng bao nhiêu. Nhưng vì Đảng Xã Hội Pháp là đồng minh chính trị truyền thống của Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cánh Tả Cấp Tiến và Đảng Xanh cho nên Pháp sẽ không có “ác cảm’ đối với các chính quyền khuynh tả (chống Mỹ) như Cuba, Nicargua, Venezuela và Ecuador. Riêng đối với Việt Nam, dưới thời Ô. Sarkozy quan hệ ngoại giao Pháp-Việt cũng rất tốt đẹp bao gồm nhiều lãnh vực như quốc phòng, an ninh, quân y, giáo dục, chống tội phạm, chống khủng bố v.v…Tháng 7/2010 Tổng Trưởng Quốc Phòng Pháp và Tháng 2/2012 Tham Mưu Trưởng Liên Quân Pháp đã thăm Việt Nam. Điểm nổi bật của mối quan hệ này là giữa Tháng 5, Việt Nam sẽ phóng vệ tinh viễn thông trùm phủ vùng Đông Nam Á vào quỹ đạo trái đất trị giá khoảng 300 triệu đô-la mà vệ tinh thì do công ty Lockheed Martin Hoa Kỳ sản xuất, còn hỏa tiễn thì do Pháp sản xuất. Vệ tinh sẽ được phóng đi từ bãi Kuru (Guyana thuộc Pháp). Chắc chắn trong nhiệm kỳ của Ô. Hollande, mối liên hệ ngoại giao Pháp-Việt sẽ được mở rộng và củng cố hơn nữa.


B. Ảnh hưởng của Ô. Putin:

Image
Ông Putin nhậm chức tổng thống Nga nhiệm kỳ thứ ba lịch sử
Sau cuộc tranh cử bầm giập, Ô. Putin thắng cử và nhậm chức trong bối cảnh mà phe đối lập vẫn còn xuống đường biểu tình. Theo tôi nghĩ, phe đối lập nên ngưng biểu tình và tập trung nỗ lực vào việc hình thành một kế hoạch lâu dài để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cử tri, thay vì dựa vào thế lực bên ngoài và tố cáo “bầu cử gian lận”. Phe đối lập chỉ kêu gào dân chủ mà không hiểu rằng hiện nay Ô. Putin được sự nhiệt tình ủng hộ của giai cấp công nhân, quân đội, công chức và những người Nga ôm ấp giấc mơ một nước Nga hùng mạnh của thời Liên Bang Xô-viết. Tâm lý của dân Nga bây giờ là “một nước Nga ổn định và hùng cường” và Ô. Putin đã đánh đúng tâm lý đó. Chính tự ái dân tộc- không chịu thua kém Mỹ - đã khiến ông đắc cử. Ô. Putin là chính trị gia lỳ lợn, có bản lãnh và có sách lược. Trong bối cảnh mà nước Nga đã trỗi dậy, mạnh về quốc phòng và kinh tế đang phát triển, chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ tới tình hình thế giới. Theo tường thuật của BBC, chúng ta hãy xem 4 trọng điểm trong diễn văn nhậm chức của ông:

1) Nga chỉ được đối xử một cách kính nể khi nước Nga hùng cường.

2) Cách duy nhất để bảo đảm anh ninh toàn cầu là làm công tác đó với Nga. Moscow sẽ chống lại kế hoạch phòng thủ phi đạn chống Iran của Washington.

3) Một cuộc tấn công vào chương trình hạt nhân của Iran sẽ đem lại hậu quả tai hại.

4) Moscow sẽ vận dụng sự thịnh vượng và tăng trưởng của Trung Quốc cho mục đich riêng của mình.

Qua 4 trọng điểm của sách lược ngoại giao này, chúng ta thử tìm hiểu xem Ô. Putin sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với tình hình an ninh và chính trị thế giới.

Đối với Hoa Kỳ:

Căng thẳng ngoại giao Nga-Mỹ có từ nhiều năm bắt nguồn từ việc Ô. Bush Con cho triển khai hệ thống lá chắn phi đạn ở Đông Âu - nói để ngăn ngừa Iran và Bắc Hàn nhưng thực chất là để răn đe Nga. Ngoài ra, kể từ khi Liên Bang Xô-viết xụp đổ, do kinh tế suy sụp và nội tình bất ổn, ảnh hưởng của Nga mờ nhạt trên toàn thế giới, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành đệ nhất siêu cường Độc Cô Cầu Bại cho nên phớt lờ (ignore) tiếng nói của Nga trên vũ đài quốc tế. Mới đây nhất việc Ô. Obama và Bà Hilary Clinton xía vào chuyện bầu cử của Nga khiến Ô. Putin vô cùng tức giận và phản ứng gay gắt. Trước tinh thế Ô. Putin sẽ lãnh đạo nước Nga trong 5 năm tới, Ô. Obama tính sao? Nước Mỹ là nước theo chủ nghĩa thực dụng, nếu không thắng được đối thủ thì tìm cách “deal” để chia xẻ quyền lợi hoặc mật đàm để tháo chạy cho an toàn, chứ không lý tưởng hão huyền, ở đó để chịu chết. Trong bối cảnh mà Mỹ phải “cõng” Do Thái trên vai, sa lầy ở Afghanistan, lúng túng trong việc giải quyết vấn đề Bắc Hàn, Syria và nhất là tình hình căng thẳng với Iran, làm thế nào để bảo vệ Phillippines trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông và chuẩn bị đối đầu với Hoa Lục trong sách lược “Kỷ Nguyên Á Châu”, sự căng thẳng thêm nữa với Nga – sẽ là một bất lợi cho nước Mỹ. Chính vì linh cảm thấy điều đó cho nên vào ngày 5 Tháng 4, Ô. Obama đã gửi Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Tom Donilon tới Moscow để hội đàm với Ô. Putin cùng các viên chức cấp cao của nước này, không ngoài mục đich chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh G8 tới đây. Chắc chắn Hoa Kỳ phải hòa dịu và chia xẻ quyền lợi với Nga nếu muốn đối đầu với Hoa Lục. Năm xưa Khổng Minh đã theo sách lược “Đông hòa Tôn Quyền, Bắc cự Tào Tháo” và đã thành công. Không hiểu Bà Hilary Clinton có đồng ý hay không, hay bà theo sách lược của Quan Vân Trường đánh Tào Tháo và cũng uýnh luôn Tôn Quyền?

Đối với Hoa Lục:

Với trọng điểm “vận dụng sự thịnh vượng và tăng trưởng của Trung Quốc cho mục đich riêng của

mình” chắc chắn Nga sẽ là “hợp tác chiến lược” với Hoa Lục trên các vấn đề quốc tế. Trong tương quan này, Nga ở thế thượng phong vì Hoa Lục vẫn còn phải nương tựa vào vũ khí tối tân của Nga để đối đầu với Hoa Kỳ. Nhưng riêng vấn đề Biển Đông, Nga cũng như Mỹ đều tuyên bố “không theo phe nào” tức hàm ý không đứng về phía Hoa Lục trong tranh chấp này.

Đối với Iran

Trong cuộc đối đầu với Hoa Kỳ và Do Thái, Iran đã có một điểm tựa vững chắc là Hoa Lục và Nga. Lý do đơn giản là Trung Quốc và Nga không muốn Hoa Kỳ làm bá chủ vùng dầu hỏa chiến lược này. Chắc chắn Iran sẽ cảm thấy ấm lòng với nhiệm kỳ 5 năm của Ô. Putin. Với cảnh báo “Một cuộc tấn công vào chương trình hạt nhân của Iran sẽ đem lại hậu quả tai hại ”, nếu Iran biết hòa dịu và bỏ ý định phong tỏa Eo Biển Hornuz thì chiến tranh Mỹ-Iran sẽ không xảy ra và vấn đề hạt nhân của Iran rồi cũng êm xuôi…cho đến khi tình hình đổi khác.

Đối với Đông Bắc Á

Trong diễn văn nhậm chức, Ô. Putin thúc đẩy quan hệ hợp tác với Nhật Bản và Nam Hàn. Trước đó ngày 2/5/2012 trang điện tử VietnamPlus đưa tin “Diễn đàn Nga-Nhật Bản khu vực Viễn Đông khai mạc ngày 3/5 tại thành phốVladivostok, thủ phủ khu Primorie của Nga, với sự tham gia của phái đoàn Nhật Bản gồm hơn 100 chính khách và doanh nhân cũng như các nhà nghiên cứu về nước Nga, là một trong những bằng chứng cho thấy Nga và Nhật Bản đang thúc đẩy hợp tác ở Khu Vực Viễn Đông.” Hiện nay Nhật đang có cuộc thương thảo với Nga về Quần Đảo Sakhalin và dường như có vẻ hòa dịu không ngoài mục đích biến Nga thành hợp tác chiến lược. Nhật Bản đã khôn ngoan theo sách lược “ bắc hòa Nga, tây cự Hoa Lục”. Trong những ngày tháng sắp tới chúng ta sẽ chứng kiến việc Ô. Putin công du Nhật và Thủ Tường Nhật sẽ tới Moscow. Riêng đối với Nam Hàn, vì Nga có biên giới chung với Bắc Hàn, nếu Nam Hàn có mối liên hệ ngoại giao nồng ấm với Nga, chắc chắn nền an ninh của Bán Đảo Triều Tiên sẽ đươc bảo đảm. Có lẽ Nam Hàn cũng sẽ nhìn thấy điều này.

Đối với Đông Nam Á

Có một điểm trong diễn văn nhậm chức của Ô. Putin mà cả Mỹ lẫn Hoa Lục phải chú ý, đó là “Nga muốn củng cố quan hệ chiến lược với Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam”. Đối với Hoa Lục hay Ấn Độ thì hợp tác chiến lược với Nga - cả thế giới đều rõ. Nhưng tại sao Nga lại nhấn mạnh tới Việt Nam trong bài diễn văn nhậm chức quan trọng này? Xin thưa Việt Nam chính là trọng điểm trong chiến lược tiến vào Viễn Đông của Nga. Vào ngày 30/4/2012, trang điện tử www.baomoi.com đưa tin “ Thủ tướng Putin, người sắp giữ chức vụ Tổng Thống Nga ngày 28/4/2012 nói với giới doanh nghiệp Nga rằng lãnh thổ Nga chỉ có 20% ở Châu Âu, còn lại 80% ở Châu Á, bởi vậy nước Nga phải hướng sang Châu Á – Thái Bình Dương. Ông Putin đề nghị phải nhanh chóng thành lập “Công Ty Khai Thác Viễn Đông” trụ sở đặt tại Vladivostok với sự chỉ đạo trực tiếp của tổng thống để phát triển khu vực này. Victor Yeshaev - Trưởng Ban Phát Triển Khu Vực Viễn Đông trực thuộc phủ tổng thống cho biết năm 2012 Nga có kế hoạch đầu tư chừng gần 600 tỉ Rup để phát triển hơn 50 hạng mục công trình, trong đó lấy thành phố Vladivostok làm trọng điểm. Ông cho biết Nga đã có “Quy hoạch phát triển Vùng Viễn Đông” với ba nội dung chính: Một là, tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tới năm 2015 đầu tư khoảng 3.300 tỉ Rup vào Khu vựcViễn Đông, từ năm 2018 tới 2020 đầu tư khoảng 9.000 tỉ Rúp. Hai là, ra sức phát triển các ngành, giao thông, nhất là đường sắt từ Dabaican tới Amur, nâng khả năng bốc xếp cảng Vladivostok lên 145 triệu tấn vào năm 2015. Ba là, xây dựng kinh tế vùng Viễn Đông theo hướng mở cửa ra Châu Á – Thái Bình Dương, lấy APEC làm điểm tựa cho phát triển trong tương lai. Ông Yeshaev cho biết sau khi trở lại nắm quyền, Tổng Thống Putin sẽ đích thân chỉ đạo chương trình phát triển Vùng Viễn Đông hướng ra Châu Á - Thái Bình Dương.” Cho tới ngày hôm nay, Nga là nước cung cấp vũ khí tối tân nhất cho Việt Nam: Từ tàu ngầm Kilo, tuần dương hạm Gepard, máy bay tiêm kích Su30MK và hỏa tiễn đối không/đối hải Bastion. Nga cũng đang giúp Việt Nam xây dựng một căn cứ tàu ngầm và giúp Việt Nam chế tạo phi đạn siêu âm chống hạm Uran SS-N-25, giúp Việt Nam tân trang lại quân cảng Cam Ranh. Đường hàng không thẳng từ Vladivostok tới Cam Ranh đã đi vào vận hành. Những động thái trên cho thấy Nga từ lâu đã âm thầm - mà ngày nay thì công khai- biến Việt Nam thành hợp tác chiến lược trong kế hoạch “Tiến Vào Viễn Đông” của Nga. Với nhiệm kỳ 5 năm của Ô. Putin, chắc chắn chương trình mà ông đề ra sẽ được tiến hành mạnh mẽ dưới sự giám sát của chính ông. Trong cuộc bầu cử tổng thống Nga vừa rồi, nhìn vào các phòng phiếu tại Hà Nội, Vũng Tàu, Sài Gỏn, Cam Ranh và Mũi Né tổ chức cho cử tri Nga cho thấy số người Nga bao gồm các nhà ngoại giao, chuyên viên kỹ thuật & dầu khí cư trú tại Việt Nam và du khách khá đông đảo, có lẽ đông đảo hơn số lượng người Hoa Kỳ tại Việt Nam. Điều này cho thấy mối quan hệ mạnh mẽ giữa Nga và Việt Nam.

Kết Luận

Trong lịch sử nhân loại, mỗi khi có một cường quốc xuất hiện thì tình hình thế giới đổi thay. Do sức mạnh kinh tế và quân sự của Pháp không lớn - cho nên tầm ảnh hưởng của Ô. Hollande đối với thế giới không bao nhiêu, nhưng còn đối với Ô. Putin, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thay đổi.

Do yếu tố địa lý chiến lược nằm trên đỉnh Đông Bắc Á, do sức mạnh quân sự và kinh tế đang trỗi dậy, do đầu tư một số tiền khổng lồ 200 tỉ đô-la để phát triển hải quân, chỉ trong vòng vài năm nữa thôi, Nga sẽ tạo ảnh hưởng lớn lên các quốc gia vùng Đông Bắc Á như Nhật Bản, Nam Bắc Triều Tiên và Đài Loan. Một khi đã có Việt Nam làm trọng điểm và mở rộng hợp tác với ASEAN, cùng với sức mạnh hải quân của mình, Nga sẽ là đối trọng của Hoa Lục lẫn Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Nói khác đi, một khi đã có sự hiện diện của Nga tại Biển Đông thì Trung Quốc cũng như Hoa Kỳ không thể muốn làm gì thì làm. Nói khác đi ba cường quốc này phải nhường nhịn và chia xẻ. Trong bài viết “Nga Tái Xuất Giang Hồ, Tiến Vào Biển Đông?” phổ biến trên hệ thống liên mạng toàn cầu ngày 6 Tháng 4, 2012, tôi đã viết “Không có nước mạnh nào chịu ngồi yên để nhìn nước mạnh khác muốn làm gì thì làm.” Trong bối cảnh đó, các nước nhỏ nếu khéo léo có thể giữ vững chủ quyền, độc lập và vươn lên.

Đào Văn Bình

Posted: Fri May 11, 2012 12:47 am
by lengoi
Barack Obama Xuất Trận

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Thứ Bẩy tuần trước người ta đã thấy Tổng Thống Mỹ Barack Obama lần đầu tiên xuất trận trước hai nơi để chính thức tuyên bố ông sẽ ra ứng cử nhiệm kỳ II. Tại Columbus,Ohio, Obama đã nhen nhóm lại sự hăng say của người dân đưa ông đến thắng cử TổngThống năm 2008. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy giai đoạn tranh cử quyết liệt của Obama nhắm vào Mitt Romney, người có nhiều phần chắc sẽ là ứng cử viên của đảng Cộng Hòa ra tranh cử Tổng Thống năm nay.

Obama tuyên bố trước một đám đông sôi nổi hoan hô ông, đầu tiên ở Richmond, Va. đông nghẹt các thính giả. Ông nói sẽ đưa ra trước cử tri một sự “lựa chọn” giữa một bên là người dân Mỹ muốn được hưởng sự công bằng và một bên là khung cảnh do Romney đưa ra gồm có một chuỗi dài nạn thất nghiệp, ngân sách thiếu hụt, kể giầu trốn thuế, nghiệp đoàn tan vỡ.

Đưa ra chứng cớ nối liền Romney với các dân biểu nghị sĩ của đảng Cộng Hòa tại Quốc hội, Obama nói người đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử Tổng Thống năm nay có thể đã có một chương trình đóng triện sẵn của Đảng để thi hành nhiệm vụ Tổng Thống nếu trúng cử.

Obama lớn tiếng, nói: “Ohio ơi, điều tôi muốn nói với các bạn là tôi quyết không cho phép đối thủ của tôi có cơ may làm chuyện đó. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm nổ, trong số cử tọa có tới 14,000 người. Ở trên đầu Obama có ngọn cờ xanh trắng với chữ “Tiến lên”. Đây là khẩu hiệu mới của Obama, để nhắc nhở cử tri bầu cho ông và đào thải ứng cử viên Romney với chính sách cũ đã thất bại đưa đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

TT Obama nói về Thống đốc Romney: “Ông ấy là một người Mỹ yêu nước, đã xây dựng được một gia đình ngoạn mục”. Romney đã từng là cựu Thống đốc tiểu bang Massachusetts, nhưng ông cũng là một tay tài phiệt, ít người có thể tiếp xúc được với ông ta.

Hai cuộc họp của TT Obama thứ Bẩy tuần trước đều đông nghẹt người đến dự và hoan hô nhiệt liệt, mặc dù ở Columbus ít người hơn, không lấp hết số ghế 18,300 ở Shottenstein. Tuy nhiên tại Columbus, còn 6 tháng nữa đến ngày bầu cử Tổng Thống, ông đã được hoan hô nhiệt liệt, khi ông nói: ”Nếu nguời dân Mỹ hỏi quý vị cuộc vận động này là chuyện gì vậy? quý vị có thể nói với họ: “Ở đây vẫn là chuyện hy vọng. Sẽ còn sự thay đổi nữa. Tôi tin ở quý vị. Và tôi yêu cầu quý vị hãy tin ở tôi”.

Cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay sẽ còn nhiều biến chuyển trong những ngày tới. Trong khi chờ đợi, tôi muốn trở lại một màn khởi sự rất hấp dẫn, thứ Bẩy tuần trước. Đó là việc khi Obama ra quân, ông đã có một nữ tướng cầm cờ đi tiên phong. Nữ tuớng đó là ai vậy? Đó là Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama của ông. Bà đã nói gì vậy?

Michelle Obama không nói nhiều về chính trị, nhưng bà chỉ nhấn mạnh về nếp sống gia đình, nhất là sự nuôi dạy con cái, bà thúc đẩy những đứa con bà về những tiến bộ mới nhất, các phát minh khoa học kỳ diệu ở trường, nhưng vẫn không quên bổn phận của những người con ở nhà đối với các bậc cha mẹ.

Buổi ra mắt xuất trận tranh cử của Obama thật ngoạn mục, tuy nhiên những khó khăn chờ đợi ông không phải là nhỏ. Những khó khăn đó không phải do đối thủ tranh cử của ông là Romney gây ra mà do một kẻ thù khủng khiếp nhất của Mỹ đem lại. Đó là bọn khủng bố al-Qaida đang dốc toàn lực phá hoại cuộc tranh cử Tổng Thống Mỹ vào tháng 11 năm nay.

Bọn khủng bố đã bắt giữ một chuyên gia Mỹ làm việc ở Pakistan để hành hạ, hăm dọa sẽ giết chết ông này coi như để trả thù vào đúng ngày trùm khủng bố Osama bin Laden bị Mỹ giết chết.

Tuần này có chuyện tình báo thành công quái đản của CIA. Một nhân viên tình báo của Saudi Arabia, và cũng là mật báo của CIA Mỹ, đã len lỏi trở thành quyết tử quân của bọn khủng bố al-Qaida ở Yemen. Anh này lãnh nhiệm vụ lên một phi cơ chở khách bay đi Mỹ để cho nổ làm chết tất cả. Nhưng CIA và cả tình báo Saudi Arabia đã biết, nên phi cơ thoát nạn và đồng đảng al-Qaida ở bên ngoài bị truy lùng gắt gao. Hãy chờ xem những tin kế tiếp, vì tôi nghĩ những biến chuyển bất ngờ sẽ còn nhiều.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Posted: Sun May 13, 2012 1:37 am
by lilac2010
Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật
(05/12/2012)
Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.(Nguyễn Thị Từ Huy)

Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải bỏ qua nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi...”

“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên biển của mình và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân vừa chạy thử đã hỏng. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo đương thời trở thành hết thời chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”

Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.

Tưởng thế nhưng không phải thế.

Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng – “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.

Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”
Image
Anh Ba Sài Gòn.

Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?

Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”

Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:

“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.

Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”

BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”

Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?

Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:

“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.

Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.

Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…

Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.

Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.

“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng

Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.

- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.

- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.

Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.

- Ở Việt Nam không những có dân oan, mà còn có những nhà báo oan, nhà thơ oan, nhà văn oan, luật sư oan, doanh nghiệp oan và blogger oan… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.

Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.

- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…

Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.

- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.

- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...

Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”

Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và sống mãi với chúng ta.

Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”

Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.

Tưởng Năng Tiến
(RFAs Blog)