Page 75 of 187

Posted: Fri Apr 06, 2012 6:10 am
by caolynh
Image

Ba Mươi Lăm Năm Sau Ngày Quốc Hận 30-4-1975
Cựu Ngoại Trưởng Kissinger Xác Nhận “ Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CSVN
Chứ Không Do VNCH


MƯỜNG GIANG
Sau hơn ba mươi bảy năm VNCH bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975, nhưng tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cọng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là “ Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ “, nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã . Riêng đối với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa “ bảo đãm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt “. vẫn cứ phải loay hoay giữa “ tự ái và lương tâm “ khi muốn giải đáp trước công luận, lý do tại sao “ Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày nay “, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cọng sản Bắc Việt ? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.

Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Tất cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn

“ không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân “, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều. Nay sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật sự “ là không cần thiết lúc đó “.

Vì đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “ lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cọng sản đệ tam quốc tế “. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Mên trên bán đảo Ðông Dương. Nhưng chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “ sự hèn nhát thụ động, của tập thề quần chúng trong vùng “, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN.

Do đó, hầu hết đã phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ. Tóm lại “ Chiến tranh VN vừa qua “ là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cọng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ ‘ No more Việt Nam ‘ như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cọng sản quốc tế.

Từ đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975 và gọi đây là một trong những cuộc chiến chính nghĩa vĩ đại nhât, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày lập quốc tới nay. Ðối với VNCH dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đĩnh nhưng cũng chỉ giữ được nữa mãnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai mươi năm trường kỳ máu lệ. Tất cả “ không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên bố trên báo chí..” mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN. Nói đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cọng sản, đã sắp xếp sẳn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẳn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gở được gông cùm nô lệ cọng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cọng sản đệ tam quốc tế tan rã.

Tháng 7-1954, Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ đưa tới thỏa hiệp Genève chia hai đất nước VN, giống như tình trạng của Ðức và Cao Ly năm 1945. Theo nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng, cũng là sự phân chia sẳn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cọng sản và Tây Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé bỏ cam kết , mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưởng chiếm các nước quanh vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt . Tây Bá Linh và hai nước đồng minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay cọng sản. Ðể đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến lược ‘ Ngăn Chặn ‘, đồng thời khai sinh chường trình ‘ Marshall’ , viện trợ giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và khối cọng sản quốc tế.

Nói chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới một hình thức nào chăng nửa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để ‘ tái lập hòa bình và biên giới sẳn có đã được qui định từ trước’. Ðây cũng là chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống của lưởng đảng, chỉ nhằm mục đích “ ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới đã phân chia sẳn “, chứ không phải tới để giúp cho VN “ giải phóng khỏi ách nô lệ cọng sản “. Vì vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ.

Ðiều bất hạnh nhất của dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu. Ðã vậy còn bị lọt vào quỷ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ . Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm 1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua các yếu tố địa dư chính trị. Vì vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á, để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tai khủng bố cọng sản.

Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự do.. chống lại chủ nghĩa cọng sản. Nhờ vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là “ chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN “, nói là để giúp dân tộc này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “ một chiến lược què quặt bất nhất “, do một mặt “ thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất phiếu..”, mặt khác” cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường “ nhưng lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “ sợ đụng độ với Trung Cộng “. Ngoài ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều chỉ xữ dụng những phương tiện nhỏ đẻ đòi đạt chiến thắng lớn, nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười chê về thủ đọan con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN.

Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm 1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vở thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..

1-Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN :

Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cọng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissiger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng,Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của VNCH.

Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tai Bắc Kinh , khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.

Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị. Như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lân để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cữ giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng mình, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng “ về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN “, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cở Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nửa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973 “ tháo chạy khỏi VN “, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cọng sản đệ tam quốc tế” cưởng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975 “.

Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật ‘ Quyền tự do tư liệu và thông tin’, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngủ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này.

Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xữ dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ. Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trạng dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhản đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho Bộ đội Cọng Sản có phương tiện dồi dào , bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường.

Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa banh trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi gịuc cũng như viện trợ để đồng minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.. như hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy. Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cọng sản, xin chớ có hoài cộng đợi chờ . Vì con đường giải thể chế độ VC hiện nay chỉ có toàn dân VN phải chịu lăn xã hy sinh đổ máu như người Miến, người Tạng..thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự mình mang vào cổ ách nô lệ cọng sản.

2-Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH :

Riêng về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm , lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích ‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẽo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ‘.

Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy từ năm 1961 ‘ Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cọng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng ‘.Nhưng tiếc thay đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bão đãm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho VC.. Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trử lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựự Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu nảo của quân Bắc Việt tai Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẩn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ .

Có thể dùng thời điểm Tổng Thống Mỹ Eisenhower gởi thư thông báo cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp VNCH trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm lăng của Bắc Việt.. như là một cột mốc quan trong về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ tại VN. Năm 1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng VNCH, qua hình thức lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp VNCH chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Hà Nội. Sự tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mĩa là không nhủn nhặn mà cũng chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị,, xã hội, quân sự, kinh tế của đất nước ấy.

Ðiều này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của mình ‘ chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc, quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học hỏi, trước khi nhập trận ‘.Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cọng sản dùng chiêu bài ‘ chiến tranh giải phóng ‘, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cọng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN.cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mĩa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ vỏ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh..

Khi than rằng ‘ Chúng ta đã đánh bại chính ta ‘, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẽ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặt này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cọng sản quốc tế. Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghỉ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài . Ông ta cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng.

Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ bắc vào nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissiger, đang đi đêm để nhun nhén sự nới kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa ‘ rút quân ‘ khi ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưởng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘.

Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là ‘ thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự ‘ và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật ‘ Nixon-Kissinger’, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát TT hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘ nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ.

Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưởng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó .

Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ.

Nhưng giấy làm sao goí được lửa và chắc là bị lương tâm cắn rụt dầy vò chịu không nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “ Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH “ .

Lời phát biểu trên của Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ nhưng có còn hơn không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đãm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ để trả lại sự công bằng và danh dự cho QLVNCH.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Tư Đen Quốc Hận 2012

MƯỜNG GIANG

Posted: Sat Apr 07, 2012 3:51 am
by quangminh
'Có một bầy sâu trong đảng’

Võ Long Triều

Phó Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố: “Ðảng Cộng Sản Trung Quốc là nơi tập trung mọi thối nát.” Ông Tập còn nhận xét thêm, đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm qua tại quốc gia nầy nhưng “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm.”

Lời tuyên bố tại trường đảng, trong bối cảnh tranh giành quyền lực trước ngày đại hội đảng, của người được dự đoán sẽ thay Hồ Cẩm Ðào lãnh đạo Trung Quốc được phát ra ngày 16 tháng 3 năm 2012.

Tại Việt Nam ngày 28 tháng 2, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố trong bài diễn văn đọc trong đại hội đảng viên với lời lẽ như sau: “Ðảng viên suy thoái về đạo đức, tham nhũng, làm giàu nhanh, quan liêu, xa dân, thậm chí còn có người trở cờ, sám hối, nói ngược ý đảng.”

Cũng trong chiều hướng đó, khi chủ tịch nước, Trương Tấn Sang vận động tranh cử Ðại Biểu Quốc Hội tại Mỹ Tho đã tuyên bố: “Người ta thường nói, một con sâu làm rầu nồi canh, trong đảng chúng ta có một bầy sâu, làm sao đất nước chịu nổi.”

Hai quốc gia quan trọng nhất của thế giới cộng sản còn lại đến ngày nay, hiện có ba vị lãnh đạo cao cấp cùng xác nhận bằng ngôn ngữ khác nhau rằng: Ðảng Cộng Sản là nơi tập trung mọi thối nát, là nơi ẩn náu bọn sâu dân mọt nước. Một sự thật phũ phàng, không ai có thể chối cãi!

Hai ông tổ cộng sản Marx-Lenine huy động giai cấp vô sản làm “cách mạng” để thực hiện công bằng xã hội, để chống tư sản bóc lột, để đưa giai cấp công nông tiến lên thiên đàng cộng sản, trong đó “con người làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.” Tiếc thay thực tế chứng minh trái ngược! Cho nên Tập Cận Bình mới nói: Ðảng cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chớ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân. Mục đích vào đảng để hưởng đặc quyền đặc lợi cá nhân. Hình như ông Tập Cận Bình bày tỏ giùm, tư tưởng của dân chúng Việt Nam, họ nghĩ như ông đối với đảng Cộng Sản Hà Nội từ lâu rồi, nhưng không dám phát biểu thành lời vì sợ công an, sợ các quan tòa chỉ biết đếm năm, mười, mười lăm, hai mươi bởi vì họ không có học đếm số lẻ.

Tại Trung Quốc, tham nhũng lan tràn, nạn cướp đất, cướp tài sản của dân xẩy ra khắp nơi. Cái hố nghèo giàu ngày càng bị đào sâu. Ðảng viên đứng trên núi vật chất, tiền tài, nhìn xuống dân nghèo đói rách. Việc cướp đất khiến nhân dân làng Ô Khảm nổi dậy. Báo chí Pháp tiên đoán sẽ còn có nhiều cuộc biểu tình của dân oan xẩy ra khắp Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các nhà lãnh đạo xác nhận từ lâu: Ðã, đang, và sẽ áp dụng theo mô hình của Trung Quốc, Luật Ðất Ðai của Hà Nội sao chép theo cung cách thực hành của “mẫu quốc,” đồng chí “quan thầy Trung Cộng” đã một lần dạy Hà Nội phải “cải cách ruộng đất” khi Hồ Chí Minh mới cầm quyền. Ngày nay theo gương người đồng chí “tốt” cướp đất của dân với lý do đầu tư phát triển kinh tế, nhưng thực chất với mục đích lợi dụng công sức của người dân khai phá, bồi dưỡng, làm tăng giá trị đất đai mà không phải bồi thường vì nhà nước đã giành lấy quyền “quản lý” bất cứ lúc nào. Nếu có bồi thường chăng thì cũng không đáng phần nhỏ mọn công lao hay giá trị gia tăng theo hoàn cảnh kinh tế.

Nạn cướp đất ở Việt Nam tạo thành sự phản kháng bằng súng đạn tại huyện Tiên Lãng, làm xôn xao dư luận quần chúng, tạo sự lo lắng và sợ hãi của giới cầm quyền. Cho nên Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng mới vội vã triệu tập đại hội để chỉnh đốn nội bộ.

Thử hỏi Trung Quốc và Việt Nam có thể chỉnh đốn được không?

Câu trả lời là không! Bởi vì không thể có một quyền lực trong sạch nào có toàn quyền hành động, bất chấp bè phái được tổ chức thành đường dây “ăn chia” của các đảng viên cao cấp, có thế lực quyền hành, bao che nhau để “làm giàu nhanh” như Nguyễn Phú Trọng đã nói. Họ “biến đảng thành nơi chia chác đỉnh chung” như Tập Cận Bình xác nhận. Ông Tập đã nhấn mạnh 63 năm qua đảng cộng sản Trung quốc cai trị vô trách nhiệm. Ông còn muốn “thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng” nhưng ông sẽ làm được không? Hay là ông làm dấy lên một cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ, đưa đến sự sụp đổ chế độ. Còn như cứ để yên thì sự thối nát càng tăng, nhân dân càng bất mãn, ngày tàn của độc đảng không thể tránh.

Ông Jean Philippe Beja thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp dự báo sẽ còn nhiều diễn biến bất ngờ xẩy ra trong thời gian tới tại Trung Quốc.

Nói về đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị 37 năm qua tại miền Nam không khác gì quan thầy Trung Quốc. Chúng chỉ biết ăn cắp của công, rút ruột tiền viện trợ, đòi tiền hối lộ, cướp đất của dân. Về mặt văn hóa, đại học bán văn bằng, đặc biệt cho đảng viên có chức quyền. Về mặt luân lý đạo đức, hiệu trưởng và giáo sư ép dâm học trò, giám đốc cá độ cả trăm triệu đô la, đánh cờ ăn thua năm mười triệu, trong khi công nhân không đủ tiền sống, đình công cả trăm lần trong năm. Nông dân bị cướp đất về thành lượm rác, bán giấy số kiếm cơm qua ngày.

Ngoài vấn đề bè phái bao che cho tham nhũng cường quyền, còn vấn đề thứ hai không thể chỉnh đốn là tâm lý con người, đã giàu thì muốn giàu thêm bởi vì cơ hội làm ra tiền quá nhiều và quá dễ. Lòng tham con người không có đáy, càng động lòng tham hơn nữa khi thấy nhiều đảng viên, bị khám phá điều tra về hành động sai trái mà chỉ bị mất chức thôi, ngồi chơi xơi nước chờ được cử chức vụ khác, hoặc có bị tù rạc đi nữa thì cũng chẳng bao lâu. Án nặng sẽ được thuyên giảm nhiều mỗi năm do sự gởi gấm của cấp trên cùng đường dây tham nhũng, hay là do tình nghĩa bạn bè, hoặc do xã giao đút lót từ trước phòng khi bất trắc có người hỗ trợ.

Dư luận phỏng đoán chế độ Trung Quốc sẽ bị sụp đổ vì tham nhũng và quan liêu. Người ta còn nhớ khi thấy đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, dẫn con vào quán mua thức ăn, báo chí loan tin hình ảnh nầy không bao giờ thấy xẩy ra đối với các quan chức trong xứ, dù là cấp nhỏ.

Luật Sư Lê Công Ðịnh xác tín, đất đai là tử huyệt của cộng sản Hà Nội. Lời tiên đoán của Luật Sư Ðịnh không sai. Nhất là sau vụ phản kháng bằng súng đạn của gia đình ông Ðoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng. Trừ khi nhà nước công nhận quyền sở hữu của dân và từ bỏ đặc quyền đặc lợi “quản lý” đất. Ngay cả Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ cũng lo ngại và khuyến cáo Hà Nội không nên áp bức quần chúng quá mức bởi lẽ tức nước sẽ vỡ bờ.

Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam đang lo ngại và luôn luôn chuẩn bị đối phó với ngọn gió thổi lửa tự thiêu của Bouazizi người Tunisia, có thể gây hỏa hoạn tại hai quốc gia nầy, cho nên họ ráo riết phòng cháy bằng cách bắt giam bừa bãi, tất cả những ai có lời nói hay thái độ bị nghi ngờ chống đối.

Riêng Cộng Sản Hà Nội còn lo ngại nhiều hơn vì tiếng hát của Việt Khang vang vọng và được đại đa số quần chúng tán đồng hát theo. Tiếng hát đó có tác dụng như tiếng gầm của sư tử sắp vồ mồi.

Posted: Sun Apr 08, 2012 6:33 am
by phaobinh
Cờ đỏ sao vàng không phải là biểu tượng của Tổ quốc Việt Nam

Lê Diễn Đức

Vào thời điểm hiện nay bàn chuyện cờ quạt có lẽ quá sớm và chẳng đi đến đâu, nhất là tháng Tư lại về với những ký ức máu lửa và tủi hận, “có triệu người vui nhưng cũng có cả triệu người buồn”, như ông Võ Văn Kiệt lúc còn sống đã nói trong một cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng, phóng viên BBC Việt ngữ.

Thế nhưng nhìn thấy cờ đỏ sao vàng cắm trên chiếc lều ở tạm, bên cạnh đống đổ nát của ngôi nhà gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã bị chính quyền cho xe cơ giới ủi sập trước đó, và vẫn thấy nhiều – nếu không nói rất nhiều – người Việt trong nước nhìn nhận là cờ đỏ sao vàng là cờ của Tổ quốc Việt Nam, khiến tôi bứt rứt.

Gần đây tôi đọc bài “Những lá cờ” trên Blog Quê Choa của nhà văn trong nước Nguyễn Quang Lập. Bài viết mở đầu bằng câu “Treo cờ tổ quốc là cử chỉ thể hiện lòng yêu nước”, làm tôi khó chịu thật sự.

Tôi đã viết một comment (ý kiến) dưới bài nói trên nhưng không được chủ blog cho hiển thị. Do vậy, tôi đưa comment này lên trang Facebook của mình và gửi liên kết (tag) tới một số trang của những người cầm bút trong nước, cũng trên Facebook. Nội dung comment như sau:

“Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc Việt Nam (VN), của dân tộc Việt Nam, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới nó. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền.

Nước Việt Nam có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những lá cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có từ năm 1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.

Rất nhiều quốc gia qua bao nhiêu biến động và thay đổi trong lịch sử vẫn chỉ giữ một lá cờ. Ví dụ, cờ hai màu trằng, đỏ của Ba Lan có từ mấy trăm năm nay, từ thời phong kiến, đến cộng hoà, sau Đệ nhị Thế, cả trong thời cộng sản và hậu cộng sản từ năm 1989. Sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga cũng đã bỏ lá cờ ý thức hệ cộng sản màu đỏ với búa liềm và ngôi sao, để thay thế bằng lá cờ có từ thời Sa Hoàng với ba màu trắng, xanh dương, đỏ.

Sự nhầm lẫn giữa Tổ quốc, Đất nước, Dân tộc với hệ thống chính trị cầm quyền rất phổ biến trong suy nghĩ của người Việt trong nước.

Tôi cho rằng comment của tôi là sự thật và được viết với thái độ chừng mực, như là một sự chia sẻ chuyển tới bạn đọc trong nước. Không hiểu vì sao anh Nguyễn Quang lập không cho hiển thị…”.

Không ngờ, comment trên đã gây ra một cuộc trao đổi sôi động trên trang Facebook của tôi.

Tôi nhấn mạnh thêm rằng, với chủ đề này tôi chỉ muốn bàn về khái niệm Tổ quốc mà người ta đã gắn cho lá cờ đỏ sao vàng.

Mặc dù không thích, có lúc như bị dị ứng, nhưng tôi hoàn toàn thông cảm, thậm chí chấp nhận một cách tỉnh táo, khi những người dân oan, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam, hay dân chúng trong các lễ hội sử dụng, mang theo cờ đỏ sao vàng, hình ảnh ông Hồ Chí Minh. Bởi vì nhiều khi có thể là họ cảm thấy thế là đúng, cũng có thể do ngộ nhận, nhưng cũng có thể tình huống bắt buộc, hành động như là một cách che chắn, bảo vệ an toàn.

Khá nhiều ý kiến của người trong nước không đồng tình với cách nhìn của tôi. Họ cho rằng, “đành rằng thể chế chính trị còn nhiều tồn tại nhưng phủ nhận toàn bộ như vậy có nên chăng, thời điểm đó nó phản ánh cho sự lựa chọn của dân tộc”.

Hoặc: “Dân họ không nghĩ sâu xa như thế, với họ lá cờ đó là lá cờ Tổ quốc”.

Hay: “Hiện tại ở VN thì nó vẫn là cờ Tổ quốc, vì chả có lá cờ nào thay được nó”…

Có bạn phân tích:

“Cờ hiệu một quốc gia (“Cờ Tổ quốc” chẳng qua là cách nói quen miệng theo phiên từ “quốc kỳ” mà thôi!) nó phải gắn với thời đại và thể chế! Thời vua quan xưa và thể chế quân vương thì do Vua chúa được quyền chọn. Ở các nền cộng hòa nghị viện thì do quốc hội chọn. Những nước thuộc hệ thống cộng sản cũ, cờ hiệu thay đổi vì thể chế thay đổi. Ở các nước đó quyết định thay đổi là do quốc hội (cũng chưa phải thăm dò ý kiến của người dân). Lịch sử về cờ hiệu Việt Nam cũng không nằm ngoài cái lệ đó. Mỗi triều đại phong kiến trước đây có chung một cờ hiệu đâu?

Cờ ba sọc đỏ trên nền vàng của thể chế Việt Nam Cộng hoà (VNCH) trước đây cũng không phải là cờ hiệu của nhà Trần hay nhà Lý thời xưa! Lá cờ đỏ sao vàng bây giờ do quốc hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH – năm 1946) chọn ra. Quốc hội Việt Nam sau 1975 tiếp nối VNDCCH cũng đã nhất trí chọn lá cờ đó (1976). Thế thì có gì không đúng? Bao giờ VN thay đổi thể chế thì hãy đặt ra vấn đề thay đổi cờ hiệu quốc gia! Khi cộng đồng các quốc gia, dân tộc trên thế giới cộng nhận lá cờ đó là cờ hiệu của Việt Nam như Liên Hiệp Quốc thì cứ hãy coi đó là “cờ Tổ quốc” (của người) Việt Nam”.

Một bạn khác tâm tình: “Đáng buồn hơn là nhiều người còn không “dám” có ý nghĩ hoặc bàn luận về vấn đề có vẻ “phạm thượng” như vậy. Nó cao cả quá, xa vời quá, v.v… Cũng là một hệ quả của hàng chục năm trời tuyên truyền, lập lờ đánh lận đảng phái, chế độ với Dân tộc, Tổ quốc”.

Vân vân…

Tuy nhiên trong số người tham gia tranh luận, số người ủng hộ quan điểm của tôi chiếm ưu thế hơn hẳn.

Trong quá trình tranh luận tôi viết thêm một số ý kiến dưới đây.

Châu Âu là nơi sinh ra Karl Marx, cha đẻ của học thuyết cộng sản (CS). Lenin áp dụng học thuyết này “sáng tạo” ở Nga. Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh đã mang hình mẫu chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô về nước mình áp dụng “sáng tạo” tiếp và tồn tại cho tới nay ở ba quốc gia này.

Chúng ta đang trao đổi về một lá cờ tương xứng, khả dĩ (trong tương lai) đại diện cho cả dân tộc, cho mọi ngườ Việt, chứ không ai phủ nhận xương máu của những người đã đổ dưới cờ đỏ sao vàng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Với cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Sài Gòn cũng vậy. 74 chiến sĩ VNCH đã anh dũng hy sinh bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 luôn luôn được lịch sử vinh danh. Ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn cũng nói gần đây trong một buổi tiếp người Việt từ Mỹ về nước rằng, những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì Hoàng Sa là những người con ưu tú của Việt Nam.

Khi có quốc hội dân chủ, tất nhiên lúc ấy dân chúng sẽ có ý tưởng, sẽ thông qua những cuộc thảo luận công khai trong xã hội, có thể phải sủ dụng đến cả giải pháp trưng cầu dân ý, vân vân… để lựa chọn một cách dân chủ.

Bây giờ thì chẳng một cá nhân nào có thể tự chọn hay đề xuất cụ thể cả, vì thiếu thực tế, vô ích và bất khả thi. Nhất là vào lúc mà lòng người Việt ở hai miền Nam, Bắc vẫn còn chia rẽ, thù hận giữa nhà cầm quyền cộng sản với cộng đồng người Việt phải bỏ nước ra đi tìm tự do, gánh chịu bao nhiêu thương đau, tổn thất chưa được thanh toán, cảm thông và xoá bỏ. Bàn cụ thể sẽ chỉ xung khắc thêm mà thôi.

Ở trên có bạn nói “không có lá cờ nào thay thế lá cờ đỏ sao vàng hiện nay”. Nhưng tôi cho rằng, điều này không đồng nghĩa nó là lá cờ Tổ quốc. Có thể với hàng triệu người Việt là như thế, nhưng cũng với hàng triệu nguời Việt khác thì không. Không thay thế được vì hệ thống cầm quyền độc tài toàn trị hiện tại không muốn làm việc đó. Như tôi đã đưa ra ví dụ về nước Nga. Gần đây là Libya, sau khi chế độ độc tài Gaddafi sụp đổ, người Libya đã bỏ lá cờ xanh của chế độ Gaddafi, quay lại lá cờ có từ năm 1951 của Vương quốc Libya.

Quốc hội của nhà cầm quyền CSVN thực chất là công cụ của ĐCSVN chỉ để hành chính hoá các quyết định của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Quốc hội này không do dân bầu ra thông qua bầu cử tự do mà do lãnh đạo ĐSSVN áp đặt, cho nên nó không phải là đại diện của toàn thể nhân dân VN.

Cờ của một nhà nước/quốc gia được xem là biểu tượng của Tổ quốc khi nó được toàn dân thừa nhận, hoặc là đại diện được uỷ nhiệm hợp pháp của nhân dân – tức là quốc hội được dân bầu ra qua bầu cử tự do – phê chuẩn.

Cờ và quốc huy phải được đưa vào Hiến pháp. Nếu thay đổi thể chế mà ban hành Hiến pháp mới thì hiến pháp trước khi được quốc hội, tổng thống hay chủ tịch nước phê chuẩn, cần phải được trưng cầu dân ý.

Còn khi hiến pháp có hiệu lực, một đảng cầm quyền nào đó muốn thay đổi các điều khoản của hiến pháp thì ít nhất theo thông lệ phải có chuẩn thuận của 3/4 số đại biểu quốc hội, một tỷ lệ rất khó cho bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các nước dân chủ.

Tại Việt Nam bây giờ, ĐCSVN muốn thay đổi hiến pháp lúc nào là tuỳ theo… sở thích và thấy có lợi cho sự duy trì độc quyền cai trị!

Hệ thống cộng sản ở châu Âu đã bị xoá sổ. Ngày 24/1/2006, Nghị viện Châu Âu thông qua Nghị quyết 1481 phán quyết chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại. Nếu Việt Nam có thể chế dân chủ, nhân dân Việt Nam và quốc hội Việt Nam dân chủ sẽ chọn một lá cờ nào đó tương xứng với chiều dài lịch sử của dân tộc, nhưng chắc chắn không phải là lá cờ biểu tượng cho một chủ nghĩa của tội ác.

Hiện nay, ngay cả với người Việt trong nước, không phải ai trong thâm tâm cũng nhìn nhận cờ đỏ sao vàng như là biểu tượng của đất nước, Tổ quốc.

Tổ quốc là khái niệm mang nghĩa kép, nói về một không gian liên quan đến một cá nhân hoặc cả một cộng đồng (dân tộc), đặc biệt được chỉ định trước hết là nơi sinh ra của cá nhân đó, nơi họ sống một phần quan trọng của cuộc đời, hoặc nơi xuất xứ của tổ tiên, hay gia đình.

Cá nhân kết nối với Tổ quốc bằng tình cảm gắn bó mật thiết thiêng liêng nên “Tổ quốc” được viết hoa chính là nhằm nhấn mạnh sự tôn trọng cội nguồn của mình hay gia đình, tổ tiên.

Lá cờ Tổ quốc phải bao hàm được ý nghĩa linh hồn và tình cảm gắn bó thiêng liêng đó với nơi chôn rau cắt rốn của tất cả con dân nước Việt sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và trên khắp mọi nơi khác trên thế giới.

Ngày 5 tháng 4 năm 2012

Lê Diễn Đức –
RFA Blog

Posted: Tue Apr 10, 2012 5:47 am
by caolynh
Giá Trị Bầu Cử Miến Điện

Tác giả : Vi Anh
Bà Aung San Suu Kyi và Liên Minh Toàn Quốc Đấu Tranh Cho Dân Chủ đã thắng lớn với đa số tuyệt đối, chiếm được 43 ghế dân biểu trên 44 ghế được bầu để điền khuyết cho Quốc Hội Miến Điện. Cái ghế dân biểu thứ 44, Liên minh không ứng cứ, có vẻ như mặc thị dành cho một bộ tộc lớn nên vào tay ứng cử viên của bộ tộc này. Điều đặc biệt nhứt là trong 43 đơn vị bầu cử Liên Minh đã đắc cử có 4 đơn vị nằm trong thủ đô hành chánh Naypyitaw, căn cứ địa, hầu hềt cử tri là quân, dân, cán, chính của nhà cầm quyền. Hôm thứ Hai 2-4-12, Bà Bà Aung San Suu Kyi tuyên bố, bày tỏ hy vọng rằng diễn tiến ấy sẽ khai nguyên cho một “kỷ nguyên mới” tại Miến Điện. Cuộc bầu cử này rất có giá trị trên phương diện quốc tế, quốc nội, và tiến trình dân chủ nhân dân và chánh quyền Miến Điện

Một, giá trị đối ngọai. Tình hình thế giới và trong vùng rất thuận lợi cho Miến Điện sau cuộc bầu cử này. Các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á, ASEAN, đa số láng giềng với Miến Điện và Miến Điện là thành viên, đã ra thông cáo xác nhận cuộc bầu cử được tổ chức trong vòng trật tự, một cách tự do, công bằng và minh bạch và cũng không quên nói kết quả quan sát một số cư dân đã bày tỏ sự lạc quan rằng đất nước có thể tiến gần hơn tới dân chủ.

Quốc tế nói chung ngạc nhiên đầy thích thú. Tiến trình dân chủ hóa nhảy vọt. Cuộc bầu cử là trắc nghiệm đối với chính sách mở cửa của chế độ. Từ độc tài quân phiệt cai trị bằng bàn tay sắt máu trong mấy chục năm, sau cuộc bầu cử trước đây, nhà cầm quyền quân phiệt dân sự hóa. Nhiều cởi mở ít ai ngờ từ chánh quyền: phóng thích hàng trăm tù nhân chính trị, đàm phán với quân nổi dậy thuộc sắc tộc thiểu số, nới lỏng việc kiểm duyệt truyền thông, cho thành lập nghiệp đoàn, tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng kinh tế chính trị của TC. Và mời quan sát viên quốc tế vào quan sát cuộc bầu cử.

Sau cuộc bầu cử Mỹ và Liên Âu ắt sẽ gỡ cấm vận từng phần hay tòan bộ như đã từng nói trước cuộc bầu cử rằng cuộc bầu cử là trắc nghiệm của những cải cách về tự do, dân chủ. Nay cuộc bầu cử đã hội đủ diều kiện giải tỏa cấm vận vì bản chất, mục đích để làm việc ấy vì cấm vận là để khuyến khích Miến Điện dân chủ hóa.

Hai, giá trị đối nội. Phải nói Bà Aung San Suu Kyi và Liên minh Toàn Quốc Đấu tranh cho Dân chủ là một lực lượng đối lập xây dựng, không cầu tòan và rất uyển chuyển. Nguyện vọng của nhân dân Miến Điện là kim chỉ nam trong tư tưởng hành động. Bà thừa biết ví dầu đắc cử chiếm hết 44 ghế, thì đối lập cũng là khối thiểu số trong quốc hội hai viện có 664 dân cử và quân đội chiếm 25% theo hiền pháp và kỳ bầu cử chánh thức hồi năm 2010, thành phần thân chánh phủ có 80%. Dù giỏi thỏa hiệp, liên minh, đối lập cũng chỉ đạt một số kết quả lập pháp khiêm tốn mà thôi. Hành pháp do khối thân chánh phủ, thân quân đội nắm từ địa phương lên trung ương, thâm căn cố đế không thể một tháng, một năm có thể đổi tư tưởng hành động dân chủ được.

Nhưng khi nhà cầm quyền hé cửa, thì đối lập phải dấn thân, nhập cuộc. Người lãnh đạo phải bằng cách này hay cách khác lấy chân chêm cửa để đối lập vào càng nhiều càng tốt.

Cái cửa lập pháp, quốc hội là cửa rất tốt. Đối lập có thể ảnh hưởng chánh quyền qua nhiều hình thức sinh họat dân chủ, thảo luận, thỏa hiệp, biểu quyết luật pháp. Hành pháp không còn có thể bịt miệng, bít mồm đối lập nữa. Đối lập có thể dùng cửa quốc hội này để làm cho dân hết sợ độc tài, vận động nhân dân, tạo nội lực dân tộc là lực lượng xây dựng, bảo vệ tự do, dân chủ.

Dù hồi đầu năm một cố vấn của tổng thống Thein Sein, là ông Nay Zin Latt, có tiết lộ với AFP là, lãnh tụ đối lập Bà Aung San Suu Kyi có thể tham gia nội các. Nhưng cá nhân Bà vẫn công khai tuyên bố trước cuộc bầu cử Bà «không bỏ Quốc hội, sau nhiều năm tranh đấu để được bầu».

Bà tin tại Quốc Hội, những người dân cử được dân chúng tín nhiệm trong cuộc bầu cử đàng hòan này một mình chưa làm gì được nhiều nhưng ít ra có thể phối hợp thúc đẩy khối thân chánh phủ, thân quân đội mở rộng bang giao với Tây phương để bớt lệ thuộc TC.

Và quan trọng nhứt là cải thiện quốc kế dân sinh. Với tiếng nói của đối lập, thể hiện quyền lợi nhân dân, tạo thành chánh nghĩa và áp lực khiến khối thân chánh phủ thế nào cũng phải cải thiện dân sinh, dân quyền, và dân trí.

Ba, giá trị trong việc nâng cao ý thức của nhân dân đối với quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình trong chế độ tự do, dân chủ. Lịch sử thế giới đã chứng minh dân chủ không phải là món quà trên trời rớt xuống hay từ ngoại quốc đem cho. Và dân chủ cũng không do một cá nhân lãnh tụ xây dựng, mà do dân chúng cùng xây đắp, vun bồi mới bền vững. Dân chủ do người dân sanh ra thì người dân phải dưỡng thì mới trưởng thành và trường thọ.
Dân chủ là một thứ quyền lực, quyền mà không nuôi dưỡng hay không kiểm sóat là hủ bại. Nhân dân đã ủy quyền cho dân cử, tạo ra dân biểu thì nhân dân phải bảo vệ, giám sát người dân cử khi thể hiện nguyện vọng của dân.

Trên tinh thần đó Bà Aung San Suu Kyi khẳng định trước hàng chục ngàn người dân mừng Bà đắc cử, Bà thành khẩn nói thành quả bầu cử xuất sắc này không phải là chiến thắng của Liên Đoàn, mà thật sự là chiến thắng của toàn dân, của những người dấn thân vào tiến trình chính trị.
Nhiệm vụ mà người dân giao phó là nhiệm vụ lớn lao, là mong ước, là nguyện vọng của cả một dân tộc Miến Điện. Ngắn tầm trước mắt, là phải cấp bách mang lại ấm no cho đồng bào nghèo. Dài hạn một chút, là sửa đổi lại hiến pháp, thành lập một nhà nước pháp quyền và mang lại hòa bình cho Miến Điện. Với một quốc hội đa số thân hành pháp và với một hành pháp xơ cứng với độc tài mấy chục năm việc giúp nông dân, giảm thuế và khuyến khích đầu tư không phải là chuyện dễ.

Việc thỏa hiệp chính trị với hành pháp và quân đội cũng khó vì chế độ chỉ cần sự hợp tác của đối lập để «bảo đảm tính chính đáng» của nhà cầm quyền. Trong khi đối lập thì cần sự hợp tác của chính quyền để thúc đẩy dân chủ hóa sâu rộng hơn. Tìm một đồng thuận trong tình hình đó không dễ, mà không có đồng thuận thì khó có cải cách.

Nên người ta thấy Bà Aung San Suu Kyi giữ tư thế một nhà cải cách biết người biết ta, chớ không phải nhà cách mạng. Có thế mới hy vọng thỏa hiệp hay được sự hậu thuần hay liên minh của phe quân đội đang kiểm soát Quốc hội.

Tuy thiểu số trong Quốc Hội nhưng đối lập có thế nhân dân. Quốc Hội tạo điều kiện họp pháp cho đối lập có tiếng nói. Phe thân quân đội không thể chống lại những đề nghị ích nước lợi dân, nếu không sẽ bị áp lực của dân chúng bao vây./.

Posted: Wed Apr 11, 2012 3:29 am
by tiendung
Image

Nhà Văn Nguyễn Thụy Long Viết về 30 Tháng Tư
"Loan Mắt Nhung" Nguyễn Thụy Long viết bài này năm 2005
…. và nên biết ông ta chưa bao giờ ra khỏi Việt Nam.
(ông sinh ngày 9 tháng 8 năm 1938 tại Hà Nội, mất ngày 03 tháng 9 năm 2009 tại Sài Gòn).


Lại sắp đến ngày 30 tháng Tư, trên đất nước tôi nhà cầm quyền phát động ì xèo kỷ niệm ngày “chiến thắng vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” Từ cả tháng trước, ngày nào người ta cũng nhắc đến chiến thắng ấy của dân tộc, phỏng vấn những tướng lãnh chỉ huy trận đánh về chiến lược, chiến thuật, những chiến sĩ anh hùng, tất cả đều được đưa lên báo đài, cả những trang web bay đi khắp thế giới. Buổi sáng tôi dậy sớm nghe đài nước ngoài, chương trình Việt ngữ, nhưng bị phá sóng nhiều quá, nghe câu được câu không. Cũng ngày ấy cộng đồng người Việt trên khắp thế giới làm kỷ niệm, nhưng gọi bằng nhiều cách khác nhau, Ngày Quốc Hận, Tháng 4 Đen hay gì đó còn tùy.


Cũng ở trên đài Á Châu Tự Do tôi nghe cuộc phỏng vấn một đạo diễn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, làm một cuốn phim về ngày bại trận 30 tháng Tư lấy tên là ngày giỗ. Anh và các bạn anh thiếu thốn rất nhiều tư liệu về ngày hôm ấy, nhưng chắp vá và lấy kỷ niệm của những người lớn chứng kiến vào thời ấy rồi cũng xong. Bởi tại ngày anh ra đi, rời Việt Nam anh còn quá trẻ, tuổi đâu khoảng 13 hay 14 chi đó, nhất là anh không có kinh nghiệm tham gia vào cuộc bại trận ấy.

Người đạo diễn thanh niên này còn có tham vọng làm cuốn phim khác nữa sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà xụp đổ, về những trại tù khổ sai mà người ta gọi là trại cải tạo. Tôi hy vọng anh ta và nhóm của anh có tâm huyết thì cũng xong, có thể thành công. Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua có rất nhiều tư liệu quý giá, tôi đã dược xem một cuốn phim do Mỹ sản xuất lấy tên là Trời và Đất. Cuốn phim đã nói lên được thân phận Việt Nam giữa các thế lực, thân phận con người Việt Nam đáng thương.

Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên,trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam.
Tôi là dân bại trận ở lại Việt Nam. Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy. Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo SỐNG bị giết chết vì đạn pháo kích lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tưnăm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy thoát ra được đến cửa biển Cần Giờ.


Hàng năm tôi chúng tôi làm giỗ anh Chu Tử vào ngày đó, sau này không biết vì lý do gì, đổi sang ngày âm lịch là ngày 19 tháng ba (trùng với ngày 30-4-1975). Có phải vì người ta đang ồn ào làm lễ kỷ niệm chiến thắng mà mình lại làm giỗ, than khóc và tưởng nhớ đến người đã chết là chướng quá không, vì vậy gia đình ông Chu Tử mới đổi ngày giỗ cho yên. Tôi cũng không bỏ một buổi giỗ nào của ông Chu Tử, dù có đổi ngày, nhưng dù làm vào ngày nào anh em chúng tôi ngồi với nhau, nhắc lại và nói về những kỷ niệm là ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia chủ tổ chức giỗ ông Chu Tử cũng không có ý kiến gì, buổi giỗ ấy anh em chúng tôi tự do hoàn toàn. Những buổi giỗ ông Chu Tử sau này vắng bóng dần những người anh em thân thiết của ông, người thì ốm đau bệnh hoạn đi không nổi, người thì đã “dạo chơi tiên cảnh” khỏi “cõi tạm” đầy đau thương này. Như Tú Kếu, như nhà văn Mặc Thu, như ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, vì ông mới qua đời.


Nhà báo Phan Nghị ở buổi giỗ nào còn oang oang kể lại kỷ niệm với chủ nhiệm Chu Tử, nay cũng đã vắng bóng anh. Một đàn emthân thiết như Đông con tuổi còn rất trẻ cũng không còn nữa. Nhưng buổi giỗ vẫnđông đảo, tôi thấy có những anh em từ nước ngoài trở về, những Việt kiều đó ra đi do vượt biên hay diện HO, những điện thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về cho gia đình con cái ông Chu Tử để tưởng nhớ ông.


Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN,” kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể. Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.


Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứngkiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?


Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chí Nam. Các ông cai ngục, cai tù được
gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại. Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra, lúc ấy mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian. Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về. Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt. Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy, với lời kết án thật mơ hồ.


Tôi bị bắt nóng ngoài đường, không bị liệtvào hàng ngũ văn nghệ sĩ phải học tập cải tạo, mà với một tội danh khác, tổchức phản động, một tội rất dễ chết. Khốn nạn cho cái thân tôi, thời chế độ cũ đi lính binh nhì không xong, mà nay lại là người tổ chức chỉ huy một trungđoàn, có tên trung đoàn Quyết Thắng trong hồ sơ phản động của tôi. Tôi bị tra tấn, bị đánh và những người tra tấn tôi ngày nào cũng bắt tôi phải khai ra cái trung đoàn Quyết Thắng này ở đâu! Vì bỗng nhiên mình lại mang một tội danh “oai” như thế, một trung đoàn trưởng, nên tôi cũng phải phì cười ra nước mắt sau những trận đòn tra tấn thừa chết thiếu sống.


Tôi cũng không biết người ta phong cho tôi, chức gì, cấp bậc nào, tướng hay tá trong trung đoàn mà tôi bị đứng vào hàng “chủ xị.” Một trung đoàn không có quân số, không doanh trại, không có cả chiến khu kháng chiến. Bản lấy cung của tôi bị bỏ dở dang, không có tôi ký tên nhận tội. May quá thế là tôi thoát chết, tôi đã thấy nhiều người bị chết, bị mang ra xử bắn vì những tội danh bá vơ ấy. Tôi nói với bạn bè đồng tù:

- Dù tao có là thằng nhà văn nhà báo ngu dốt cũng không bao giờ đặt cái tên trung đoàn Quyết Thắng cho tổ chức quân sự của tao, vừa quê vừa thối. Ai cũng biết các khẩu hiệu quyết thắng, quyết chiến, quyết tử, quyết sinh là sản phẩm của các anh Việt Minh, các anh đã xài mòn teo ra rồi, từ thời kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp kia, rồi đến thời chống Mỹ cứu nước xài lại, nay không biết dùng làm gì nữa thì gán đại cho tao. Tao biết ngay các anh độc lắm, lại một trò chụp mũ buộc tội cho người khác để mang ra xử
theo luật rừng.


Tôi lênh đênh qua nhiều nhà giam ở thành phố, rồi mới bị đưa lên trại học tập trên rừng, an tâm học tập cải tạo ở nơi đó, bao giờ học tập tốt thì được về xum họp với gia đình. Nhà nước, nhà cầm quyền nói như thế. Chúng tôi ngắc ngoải sống trong lao động khổ sai, nhiều anh em kiệt lực gục xuống bỏ xác trong các trại tù. Thân phận chúng tôi như những nô lệ trong phim Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành hay những nô lệ xây Kim Tự Tháp Ai Cập.


Nhiều lần lao động cuốc đất trúng mìn ngoài bãi lao động, mìn nổ thương vong vô khối người, nhưng được giải thích là mìn đó là của Mỹ Ngụy gài lại để giết nhân dân. Bây giờ chúng tôi có chết có thương vong thì cũng chỉ là “gậy ông đập lưng ông” thôi. Chúng tôi nhiều lần đề nghị với ban quản giáo xin được tự gỡ mìn để khỏi gây hại cho phạm nhân, nhưng được
lãnh đạo trại “nhân đạo” từ chối, vì sợ mất thì giờ lao động sản xuất kiếm ra
của cải cho đất nước chúng ta còn nghèo. Đồi nghĩa địa tù chật kín những mồ
hoang của anh em chúng tôi. Sáng đi lao động, chiều về nhìn mặt trời gác bóng trên sườn núi Chứa Chan mới biết mình còn sống, mong sớm có ngày ra xum họp với gia đình.


Tôi không nhớ rõ là mình ăn đến mấy cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư trong trại cải tạo, vì từng bị bắt lên bắt xuống, như bắt cóc bỏ đĩa, tha rồi lại bị bắt lại. Ngoài cái tội phản động, tôi còn tội phản quốc bỏ quê hương mà trốn đi, tức là tội vượt biên mà không thoát. Phải chi ngày đó tôi trốn thoát, thì bây giờ được nhà nước ưu ái gọi là Việt kiều khúc ruột ngàn dặm được phép trở về thăm quê hương, được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Mấy anh Việt cộng từng đánh đấm bỏ tù, từng kết tội tôi là Việt gian sẽ ngọt ngào khuyên tôi nên hòa hợp hòa giải, quên đi chuyện cũ, đóng góp tất cả những gì tôi đang có để giúp cho đất nước quê hương Việt Nam mà các anh đang cai trị. Tôi đã thấy những cuộc tiếp đón long trọng, những Việt kiều trở về thăm quê hương được diện kiến những lãnh đạo trong nước và họ được huy
chương, và được ca tụng vì những đóng góp của họ đã được truyền thanh truyền hình đi khắp mọi nơi. Họ thành người yêu nước, có ẩn chứa ý yêu và ủng hộ đảng CS cầm quyền.


Trong trại học tập, ngày 30 tháng Tư mỗi năm được tổ chức xôm tụ lắm, mà anh em chúng tôi gọi là ngày “đứt phim.” Từ ba giờ sáng một số trại viên có tay nghề trong việc nấu nướng đã được điều lên nhà bếp để thọc tiết heo mổ bò làm đồ ăn, thổi cả cơm nữa, hương cơm phảng phất khắp trại làm các trại viên chúng tôi tỉnh cả ngủ, dù là hương gạo mốc, không phải gạo Nàng Hương chợ Đào. Những hương vị âm thanh hấp dẫn đó làm chúng tôi
trở nên háo hức, vì chúng tôi là những kẻ thường xuyên ăn đói mặc rách, cả năm chỉ ăn khoai ăn sắn có biết cơm thịt là gì đâu, sức lao động bị vắt kiệt từng ngày, nay có cơm thì mừng quá. Bao nhiêu năm qua chúng tôi sống trong một miền Nam trù phú lúa thóc không bao giờ thiếu, người nông dân chỉ trồng một mùa cũng ăn được cả năm. Mà nay phải thèm và nhớ cơm, tưởng tượng cũng không ra được bát cơm nó thế nào? Tôi nói có quá không? Nhưng sự thật là vậy.


Ngày hôm ấy chúng tôi được nghỉ lao động và sang ngày hôm sau là ngày quốc tế lao động 1-5, vị chi là hai ngày được ăn được chơi trong vòng rào giây thép gai. Chúng tôi được nghe chính trị viên của ban quản giáo giảng giải cho nghe ngày chiến thắng 30 tháng Tư. Nhưng chỉ là chuyện
nước đổ đầu vịt, chúng tôi chỉ nghĩ đến kỷ niệm cũ của chúng tôi vào ngày ấy.

Buổi trưa cả ngàn người tù chúng tôi - mỗi người được ăn một chén cơm, một
miếng thịt heo hay thịt bò chi đó bằng ngón tay, chan tí nước xốt cho mặn
miệng. Lòng lợn - tiết canh - thịt ngon miếng nạc mang lên nhà khung cho ban giám hiệu và thủ trưởng đơn vị xơi, uống rượu hút thuốc. Lòng nhân đạo của đảng vô biên, không thể nói hết được.


Về phía các cải tạo viên chúng tôi thì sao, cũng chia ra mấy phe trong cuộc ăn uống ấy, không phải tranh nhau ăn, mà cách ăn uống cũng khác lạ. Có phe còn nặng lòng với chế độ cũ mà anh đã phục vụ, nay trở thành bại tướng trong ngày 30 tháng Tư, nhất định không ăn đồ ăn của “kẻ thù” ban phát mà ăn gì đó với muối. Phe thứ hai lấy đồ thăm nuôi của mình ra mời anh em ăn sạch. Phe thứ ba ăn ráo những gì được ban phát với lý luận: “Ta ăn thứ này là của ta làm ra, chẳng ăn chực thằng nào hết, gạo này chính ta làm ta cấy cầy, thịt này cũng chính chúng ta chăn nuôi, không ăn là dại. Ăn bám, ăn trên xương máu chúng ta là những thằng cai tù chứ không phải chúng ta. Lý luận nào cũng đúng cả, không ai đụng chạm tới ai.


Anh chán đời ngồi quay mặt vào tường “diện bích” hết ngày 30 tháng Tư là chuyện của anh. Tự do của mỗi cá nhân được tôn trọng tuyệt đối, nên cuộc ăn uống ấy cũng diễn ra êm thắm, không phải tinh thần xôi thịt mổ cãi nhau như mổ bò ở các đình làng nhà quê. Dù sao tôi cũng nể phục các anh cải tạo chịu ăn cơm muối lắm, các anh còn có liêm sỉ và sĩ khí của một chiến sĩ, tôi không thể đánh giá thái độ ấy là sai hay đúng.


Tôi lại nghĩ đến những anh hùng trong sử sách, đến một Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành Thăng Long khi quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất. Một Nguyễn Tri Phương không chịu cho kẻ thù buộc vết thương khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai. Một Võ Tánh chất củi tự thiêu khi bại trận. Một Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc.


Trong đời làm báo của mình, trong trận chiến cuối cùng ngày 30 tháng Tư, tôi đã thấy những người lính Nhẩy Dù trại Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, sau khi có lệnh đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh. Và sau đó nhiều tướng tá của chế độ Cộng Hoà ở miền Nam tự sát khi nghe lệnh đầu hàng của “tổng
thống” tạm quyền.

Tôi chắc chắn rằng sử sách có ghi lại, dù rằng chế độ ấy thua trận và bị bôi nhọ suốt bao nhiêu năm trời, bị vu cáo là có bao nhiêu tội lỗi với “nhân dân.” Chính sử không thuần ở trong tay kẻ chiến thắng, mà ở trong lòng mọi người trên đất nước này, không thể bóp méo, không thể như cục đất sét muốn nặn hình gì theo ý họ. Còn những thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bại trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì sao? Tôi đã thấy họ bị đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà chiều ngày 30 tháng Tư lịch sử ấy. Anh mù
cõng anh què. Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay. Họ đi hàng hàng lớp lớp suốt một quãng đường dài, đau thương lắm, tiếc rằng không một phóng viên nhiếp ảnh nước ngoài nào chụp được một tấm hình. Cái máy hình của tôi chụp được mấy tấm thì bị đập bể tan nát, suýt nữa thì tôi nguy hiểm đến tính mạng vì những kẻ trở cờ theo đóm ăn tàn, hoặc những tên lưu manh mà xã hội nào cũng có, mà hồi ấy chúng tôi gọi cái đám ấy là cách mạng 30, nghĩa là mới gia nhập cách mạng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Họ đang khao khát lập công để tìm cho mình một chỗ đứng, hoặc được một tí ân huệ bố thí.

Tôi đã trải qua hai mươi chín cái ngày 30 tháng Tư, chỉ còn ít ngày nữa thì tròn 30 cái ngày kỷ niệm. Sao trong đầu tôi lẩn quẩn hoài về những kỷ niệm đau thương ấy. Những người thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bi đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà. Họ đi về đâu? Mắt tôi nhìn thấy có những người thương binh kiệt lực, kiệt sức ngã ngay trên đường đi, trên lối cổng ra vào quân y viện và tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt uất hờn còn đọng trên đôi mắt của những người thương binh này. Trong ngàn vạn con
người ấy trên đất nước VNCH thế nào không có kẻ sống sót, tôi cũng đã thấy anh mù dắt anh què hát rong ngoài đường, xin đồng tiền bố thí của đồng bào. Họ bị quên lãng đã ba chục năm nay, nên có sự công bằng cho người chết thì cũng nên lo cho người còn sống, họ cũng đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến nồi da xáo thịt này. Người ta đang nói tới chuyện phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội ở trên Biên Hòa.

Không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu. Tôi là người sống ở Sài Gòn đã gần 30 năm, nghe tin ấy tôi đã mong muốn được thăm nghĩa trang quân đội xưa vì có người thân đã chôn xác ở đó. Nhưng theo tôi biết đâu phải ai cũng được tự do ra vào để tưởng niệm người đã chết, ý nguyện của tôi không được chấp nhận. Người ta nói phục hồi nghĩa trang quân đội chế độ cũ, phục hồi thế nào tôi không biết, tôi thắc mắc trong việc làm ấy họ có phục hồi pho tượng Tiếc Thương bị giật đổ trước cổng nghĩa trang quân đội từ ba chục
năm trước không. Sau 30-4-1975 hàng loạt tượng đài bị giật xập, và nay nghĩa trang sẽ để tên gì cho phải đạo làm người, mồ mả còn không. Tôi nghe mất mát cũng nhiều lắm, nếu còn thì là những nấm mồ hoang, kẻ nằm dưới đất kia là kẻ có tội, không ai được quyến thăm viếng vì thăm viếng là bị “văng miểng.” Tôi chỉ mong muốn được đến đấy, thắp lên một nén nhang tưởng niệm, dù mồ mả của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà có còn hay đã mất. Tôi cho chuyện làm ấy hay lời hứa hẹn ấy là phiêu, chẳng có gì xất cả.

Tại tiệm phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng cuối đường Pasteur trong thành phố Sài Gòn, tôi thường gặp một anh bán báo, cụt cả hai tay, hai tay cụt đó được ráp hai tay sắt inox có kẹp, thao tác rất gọn ghẽ, anh kẹp những tờ báo đưa cho khách hàng hoặc nhận tiền, thối lại tiền bán báo. Không biết anh bán báo ở đó đã bao nhiêu năm.

Một hôm anh mời tôi mua báo. Tôi lấy tiền ra biếu anh, vỉ sáng nay tôi đã mua báo ở sạp báo gần nhà. Anh ta nhìn tôi khẽ lắc đầu:

- Không, cám ơn ông tôi không thể nhận được.

- Vậy tôi mua báo. Tôi hỏi anh.

- Vâng ông chọn tờ nào?

Tôi chọn đại một tờ trong xấp báo mà anh ta ôm trên người, tôi đưa tiền cho anh ta, nói:

- Thôi anh khỏi phải thối lại.

- Vâng cám ơn ông.

Tôi nhìn kỹ anh ta hơn, tôi hỏi thăm về hai tay anh. Anh ta nói:

- Tôi không bị tai nạn mà là thương binh chế độ Cộng Hoà

- Anh thuộc binh chủng nào hồi trước? Tôi hỏi tiếp.

Anh ta không trả lời về binh chủng của anh chỉ nói:

- Hồi đó tôi bị thương cụt cả hai tay ở mặt trận Bình Long, chính quyền cũ làm cho tôi hai cánh tay này và tập cho tôi cách xử dụng. Gần ba chục năm nay tôi đi bán báo để sinh sống.

Vì lý do gì đó anh không nhắc tên binh chủng của mình. Nhưng khi tôi nói tên của vị tướng chỉ huy mặt trận, mắt anh ngời sáng. Tôi không ngờ đã mấy chục năm qua anh không quên và dành cho cấp chỉ huy mình sự tôn kính chân thành. Tôi ngưỡng mộ anh là người dũng cảm, liêm sỉ từ tư cách đến việc phải kiếm sống, làm một con người. Đó là điều hiếm có, ít có ai sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa dám biểu lộ cái tinh thần quật cường
ấy. Có ngài Việt kiều ngày xưa từng giữ những chức vụ quan trọng, từng là “cựu” này “cựu” kia, ngày “đứt phim” chạy có cờ, bỏ đồng đội bỏ của chạy lấy người, nay về thăm quê hương phát biểu linh tinh chả ra cái giống ôn gì, so ra tư cách của ngài với anh chàng thương binh này, cách xa một trời một vực, thật là quá chán. Tôi nói với anh:

- Anh rất can đảm, tôi ngưỡng mộ anh.

- Có gì đâu, tôi còn thua ông tướng chỉ huy chúng tôi. Anh cười nhũn nhặn.

Tôi nghĩ đến tướng Lê Văn Hưng, tướng tử thủ ở Bình Long Anh Dũng, người không trốn chạy mà tự sát như một số tướng lãnh khác của chế độ Cộng Hoà ngày 30 tháng Tư, sau khi “tổng thống” Dương Văn Minh đầu hàng vô đìều kiện.

Báo đài ngày nào cũng có bài ca tụng về ngày lịch sử 30 tháng Tư, ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Đoàn quân chiến thắng kéo quân vào thành phố được sự đón tiếp nồng nhiệt của nhân dân thành phố, cùng nổi dậy với cách mạng, bao nhiêu người ra phất cờ chào đón đoàn quân. Một hoạt cảnh mà tôi, một phóng viên chiến trường đã hết thời, ghi nhận được đúng ngày hôm đó:

Cuộc bại trận nhanh quá, nhanh đến độ dân Sài Gòn phải ngỡ ngàng. Kẻ nào không chạy thoát theo những chuyến di tản thì đổ ra đường xem đoàn quân chiến thắng đi dép, đội mũ cối hay mũ tai bèo vào thành phố. Có những xác người dân hoặc lính chế độ cũ chưa được thu nhặt còn sót ở những góc đường, trên những quân trang quân dụng ném đầy trên đường đi, cả vũ
khí nữa chưa kịp thu nhặt.

Những con người đang đứng ngơ ngác ngỡ ngàng ở đó, bị nhét vào tay những lá cờ giấy, và anh “cách mạng" đeo súng mang băng tay đỏ mặt gườm gườm những kẻ không nhiệt tình vẫy cờ chào đón các anh bộ đội cụ hồ tiến vào thành phố. Tôi thấy một người đàn ông cũng bị nhét vào tay một lá cờ, một anh mang băng đỏ đeo súng ra huých vào sườn người đàn ông đó một cái. Ông ta có lẽ hiểu ý liền nhẩy chồm lên phất cờ lia lịa, mồm la hoan hô liên tục. Thế cũng là quá đủ, tôi lủi vào đám đông kiếm đường chạy về nhà. Ngoài kia những dòng người dầy đặc dần trên đường, có người đang tìm kiếm người thân, người tung hô những khẩu hiệu chiến thắng, người ngơ ngác ngẩn ngơ đứng nhìn. Họ không chịu tin vào sự thực là Sài Gòn bị thất thủ.

Nguyễn Thụy Long
Đầu xuân năm Ất Dậu 2005

Posted: Thu Apr 12, 2012 2:14 am
by nguyenvsau
Kim Jong Un chơi pháo
Ngô Nhân Dụng

Mọi người đều biết việc Bắc Hàn phóng hỏa tiễn liên lục địa trong tuần này hoàn toàn nhằm mục đích tuyên truyền. Chỉ cốt củng cố địa vị của Kim Jong Un, một chàng trai mới ngoài 20 tuổi, đang lo cái ghế còn bấp bênh vì mới vừa được truyền “ngôi báu” của ông nội và cha vào năm ngoái.

Hôm qua, chính phủ Obama lên tiếng cảnh cáo nếu Bắc Hàn không thay đổi chương trình thì Mỹ sẽ ngưng dự án viện trợ thực phẩm trong mấy tháng tới. Cảnh cáo như vậy cũng chỉ nhằm mục đích tuyên truyền nốt. Chỉ có chính quyền Bắc Kinh thì, bên ngoài cái bàn họp kín với Nhật Bản và Nam Hàn, chẳng công khai nói gì rõ ràng. Nhưng Trung Quốc mới chính là nước đáng lo ngại thật sự về hành động điên rồ của “Ðồng chí Kim Ủn.”

Nước Mỹ chẳng cần lo sợ về những hỏa tiễn tầm xa của Bắc Hàn. Bao giờ Bắc Hàn sản xuất đủ mấy trăm hỏa tiễn để tấn công các mục tiêu cần đánh ở nước Mỹ? Có bảo đảm chúng nhắm trúng đích hay không? Nếu chúng có bay được sang tới Seattle hay Los Angeles thì hệ thống tình báo vệ tinh nhân tạo cũng khám phá ngay trước khi hỏa tiễn rời khỏi giàn phóng! Trong khi tên lửa đang bay tới đích thì pháo đài bay từ Guam đã cất cánh đem bom tới Bình Nhưỡng, hàng không mẫu hạm Mỹ đã vào biển Nhật Bản rồi. Có chính quyền Bắc Hàn nào lại dại dột gây chiến như vậy hay không? Trước đây Liên Xô có hàng ngàn hỏa tiễn và đầu đạn hạch tâm, mà có bao giờ họ đem ra đánh Mỹ hay chưa?

Nếu nước Mỹ không có gì phải lo, tại sao Tòa Bạch Ốc phải cảnh cáo hùng hồn như vậy? Họ chỉ cốt làm vui lòng dân chúng Nam Hàn và Nhật Bản, chứng tỏ nước Mỹ chia sẻ mối quan tâm của các đồng minh thân thiết. Cảnh cáo ngưng viện trợ thức ăn cho dân Bắc Hàn thì cũng như dọa không cho một đứa trẻ ăn kẹo. Không ăn kẹo cũng chẳng chết ai! Vì triều đình họ Kim không quan tâm đến chuyện dân no hay đói. Nếu biết lo cho dân thì họ đã không đem tài nguyên, trị giá hàng tỷ đô la Mỹ để phóng hỏa tiễn và vệ tinh nhân tạo đầu tiên (sau hai lần trước thất bại); trong lúc hàng triệu người dân đang đói. Dọa thế, chứ dọa nữa, cũng không khiến cho chế độ cộng sản nhúc nhích. Tại sao chính phủ Mỹ không đe dọa mạnh mẽ hơn, không đem máy bay, hỏa tiễn, tầu ngầm ra dọa? Chỉ vì thực tâm họ không lo lắng đến mức đó.

Kim Jong Un đem tiêu hàng tỷ Mỹ kim, đủ mua thức ăn cho tất cả dân Bắc Hàn trong một năm, chỉ để đánh dấu ngày sinh nhật của ông nội, lãnh tụ Kim Nhật Thành đã thành lập triều đại cộng sản này. Bộ máy tuyên truyền của họ Kim quảng cáo rầm rộ cho việc phóng tên lửa, suốt ngày đe hô khẩu hiệu “Năm 2012 là năm rực rỡ quang vinh, phồn vinh hùng mạnh” cùng với chiến dịch mô tả chàng Kim Ủn diện mạo oai phong, cực kỳ thông minh, cực kỳ uyên bác, không khác gì ông nội. Hiện nay Kim Jong Un vẫn phải chia sẻ quyền hành với mấy ông tướng già và người chồng của bà cô ruột. Một lãnh tụ cộng sản không bao giờ yên tâm nếu chưa nắm được toàn quyền, nhất là chức vụ chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Nếu phải phóng thêm hàng chục cái hỏa tiễn để giữ vững cái ngai vàng, họ Kim cũng không bao giờ ngần ngại.

Nhưng Trung Quốc thì phải lo ngại. Họ không lo hỏa tiễn của Bắc Hàn, dù chúng có khả năng bay tới Bắc Kinh. Họ cũng không lo vụ phóng hỏa tiễn này sẽ kích thích họ Kim hung hăng hơn, gây chiến với Nam Hàn. Nếu một cuộc chiến tranh xẩy ra, Mỹ sẽ phải đem thêm quân vào bảo vệ 50,000 quân Mỹ đang đóng ở Nam Hàn, quân đội Mỹ và Nam Hàn có thể sẽ tiến sát sông Áp Lục, ngay biên giới Trung Hoa. Hàng trăm ngàn dân Bắc Hàn sẽ chạy qua Mãn Châu tỵ nạn. Nhưng Bắc Kinh không lo chiến tranh, vì họ biết có thể ngăn không cho chuyện đó xẩy ra. Khi cần, Bắc Kinh có thể cắt mạch máu của Bắc Hàn ngay, vì 70% nhiên liệu dùng ở Bắc Hàn và 60% thực phẩm vẫn tùy thuộc nhà nước Ðại Hán. Mối lo của đảng Cộng Sản Trung Quốc có tính cách chiến lược lâu dài hơn.

Những nỗ lực của Bắc Kinh trong mấy tuần qua là tìm cách trấn an Nhật Bản và Nam Hàn, chứng tỏ họ có thiện chí, và cùng nhau hứa hẹn sẽ tiếp tục tham khảo ý kiến trong bất cứ tình huống nào. Nhiều viên chức Bắc Kinh đã tiếp xúc với báo chí thế giới để nói nhỏ với họ rằng liên hệ của Trung Quốc với Bắc Hàn không còn như môi với răng nữa. Họ còn nói đùa là bây giờ răng nó đang cắn môi đau quá nữa! Mục đích của chiến dịch này vừa là để trốn trách nhiệm, vừa để cho dư luận Nhật Bản và Nam Hàn thông cảm.

Bởi vì điều Bắc Kinh lo ngại nhất là dân Nhật Bản và Nam Hàn quá lo lắng trước mối đe dọa của chế độ họ Kim, và chính người dân sẽ thúc đẩy chính phủ của họ phải tăng cường khả năng quân sự. Trong những năm 2006 và 2009, sau một vụ phóng hỏa tiễn, Bắc Hàn đều cho nổ thí nghiệm bom nguyên tử. Lần này chắc lại tái diễn, làm dân Nhật Bản cũng như Nam Hàn không thể ngủ ngon. Chính quyền cả hai nước đã báo trước họ có thể phóng phi đạn lên phá hỏa tiễn của Bắc Hàn nếu lo các mảnh vụn rớt xuống nước họ. Nhưng nếu tên lửa chống hỏa tiễn của hai nước không thành công trong công tác này, thì dân chúng họ sẽ càng hoảng hốt và đòi chính phủ phải tăng ngân sách vũ trang ngay. Với sức mạnh kinh tế sẵn sàng, chỉ trong vòng vài năm hai nước láng giềng phía Ðông của Trung Quốc có thể chế tạo đủ hỏa tiễn và bom hạch tâm. Và sau đó sẽ có những hỏa tiễn với khả năng bay đến khắp nơi trong nước Trung Hoa.

Nhật Bản vẫn theo bản hiến pháp hòa bình, phi quân sự, nhưng trong chính trường vẫn có nhiều nhà đối lập chủ trương phải thay đổi. Không có lý gì, hơn nửa thế kỷ sau khi thua trận, nước Nhật vẫn giữ một bản Hiến Pháp do quân đội Mỹ chiếm đóng soạn thảo? Kinh tế Nhật Bản đang yếu ớt, hậu quả của cuộc khủng hoảng từ thập niên 1990. Kinh tế không lên vì người dân không chịu tiêu thụ, hoạt động công nghiệp hoàn toàn tùy thuộc thị trường xuất cảng. Nếu một phần của nền kinh tế chuyển sang kỹ nghệ chiến tranh thì sẽ giải quyết được rất nhiều ngành đang trì trệ.

Nếu Nhật Bản chuyển hướng, Nam Hàn sẽ không thể ngồi yên. Ai cũng biết nước này luôn luôn cạnh tranh với Nhật; họ sẽ phải tham dự ngay trong cuộc chạy đua vũ trang. Ðó là những viễn tượng chính quyền Bắc Kinh không muốn biến thành sự thật.

Nhưng tại sao Bắc Kinh không làm áp lực mạnh mẽ bảo họ Kim ngưng ngay cuộc thí nghiệm tên lửa, vệ tinh, và bom nguyên tử?

Một phần có thể vì khả năng thuyết phục của họ có giới hạn. Trong những năm 1982, 1987, Trung Quốc đã phóng vệ tinh để làm giỗ Mao Trạch Ðông. Những năm 1992, 1997, 2002, 2007, cũng phóng vệ tinh nhân dịp đại hội đảng. Bây giờ làm sao họ cản được đồng chí Kim Ủn “báo hiếu,” kỷ niệm sinh nhật của ông nội? Một lý do khác, là giới lãnh đạo Bắc Kinh biết họ Kim “đốt pháo” cũng chỉ nhằm mục đích tuyên truyền mà thôi; cuối cùng đâu lại vào đó. Và đây cũng là một cơ hội để gia ân với lãnh tụ trẻ Kim Jong Un. Năm ngoái, khoảng Tháng Tám, ông bố Kim Jong Il đang bệnh nặng cũng đưa con đi xe lửa sang Bắc Kinh. Chắc thế nào cũng có lời trăng trối, nhờ cậy; giống như thời Ðông Châu vua nước Vệ đưa con sang nhờ vua nước Tề bảo trợ! Trước đó, trong khoảng một năm trời, ông Kim bố đã sang triều yết ba lần rồi. Trước tấm lòng thiết tha đó thiên triều nỡ lòng nào không lo cho đồng chí Kim con củng cố ngai vàng?

Trong khi đó, Bắc Kinh vẫn phải lo bảo đảm với Nhật Bản và Nam Hàn là không phải quá lo về hành động ngông cuồng của cậu Kim con. Phải giúp chính phủ hai nước trấn an dân của họ. Năm nay dân Nam Hàn sẽ bầu tổng thống, không nên để cho đảng của vị tổng thống đương nhiệm mất phiếu vì ông ta không phản ứng mạnh mẽ trước cơn ngông của cậu Kim con. Cho nên ngoại trưởng Trung Quốc phải mời ngoại trưởng hai nước kia sang họp để vuốt ve xin họ đừng quá lo lắng, đồng thời thăm dò xem chính phủ họ có nghĩ đến chuyện tăng cường binh bị hay không. Ông Dương Thiết Trì cũng nhân dịp này than thở là Trung Quốc không thể cắt ngay dầu khí và thực phẩm cung cấp cho Bắc Hàn, vì lo dân đói Bắc Hàn sẽ tràn qua biên giới xin ăn. “Chúng tôi cũng bị bó tay!” Ðó là thông điệp Bắc Kinh muốn lọt tai cho dân chúng hai nước láng giềng nghe.

Trong tuần tới, sau khi ông Kim Ủn đã đốt pháo xong, Trung Quốc có thể sẽ không chống lại những biện pháp trừng phạt của các nước Mỹ, Nhật Bản và Nam Hàn. Họ sẽ tỏ thiện chí thêm lần nữa, thúc đẩy sớm có một cuộc họp “sáu bên” để bàn tiếp chuyện trao đổi, “ngưng bom nguyên tử để nhận viện trợ thực phẩm.” Cuối cùng, bản năng của một chế độ độc tài là cố tồn tại càng lâu càng tốt. Kim Jong Un vốn là một thanh niên ham hưởng thụ, sau khi được chơi pháo, củng cố địa vị rồi, sẽ ngoan ngoãn nghe lệnh Bắc Kinh hơn.

Posted: Sat Apr 14, 2012 2:37 am
by quaichao
Kêu Cứu Nhân Quyền

Tác giả : Trần Khải
Những lời kêu cứu vẫn chuyển hải ngoại ra liên tục, cho thấy nhân quyền là một điều gì cực kỳ hiếm hoi tại quê nhà.

Hôm Thứ Hai, một điện thư gửi từ nhà dân chủ Nguyễn Bắc Truyển để báo động về trường hợp công an tỉnh Đồng Tháp đàn áp Phật Giáo Hòa Hảo.

Điện thư trích:

“...Ông Nguyễn Văn Hùng, cư ngụ tại xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cho biết:

Năm 2010, ông Hùng từ Sài Gòn chuyển về sinh sống tại xã Long Hưng B và theo đạo Phật giáo Hòa Hảo (PGHH). Ông Hùng đã nhiều lần yêu cầu công an huyện Lấp Vò cho nhập hộ khẩu về đĩa phương nhưng công an không đồng ý vì cho rằng ông là Tín đồ PGHH, họ ra điều kiện nếu ông không theo đạo PGHH và dừng việc đi cúng lễ, tham dự đám giỗ ở nhà các đồng đạo thì công an sẽ cho nhập hộ khẩu. Đội trưởng đội an ninh công an huyện Lấp Vò là Thiếu tá Nguyên đã nhiều lần hăm dọa là sẽ cho du côn đốt nhà, phá quán (quán giải khát) của ông Hùng. Phó công an xã Long Hưng B tên là Vũ cũng nhiều lần cho người đánh ông Hùng khi ông Hùng đi dự đám giỗ ở nhà đồng đạo.

Vào lúc 22 giờ 30 ngày 7/4/2012, nhà ông Hùng bị cắt hàng rào lưới B40, kẻ thủ ác đã khóa bên ngoài cửa nhà và đốt lửa. Đám cháy không lớn tuy nhiên đây là hành vi khủng bố người dân do công an xã Long Hưng B và huyện Lấp Vò cùng với "quần chúng tự phát" thực hiện. Sau khi xảy ra sự việc, ông Hùng có báo cho công an xã Long Hưng B. Công an đến chụp hình và ra về không lập tiến hành lập biên bản vụ việc và cũng không đưa ra hướng xử lý nào.

Ông Hùng cho biết thêm, gia đình ông và anh em (phía bên vợ) của ông, thường xuyên bị công an huyện Lấp Vò, công an xã Long Hưng B gây khó khăn khi họ tham dự các buổi lễ theo nghi thức PGHH, có lúc họ bị đánh hay bị xô ngã xuống sông bởi nhửng người an ninh mặc thường phục. Xin xem thêm hình ảnh và audio lời nói của ông Hùng theo link dưới dây: http://hientinhvn.blogspot.com/...” (hết trích)

Một thư báo động khác là tờ Đơn tố cáo và kêu cứu khẩn cấp của chị Trần Thị Nga đăng trên trang Dân Làm Báo.

Đơn naỳ đề ngày 5-4-2012, gửi các lãnh đạo cao nhất trong chính phủ Hà Nội và cả các hội nhân quyềnt oàn cầu.

Theo đơn này, chị Trần Thị Nga sinh năm 1977, đang cùng con nhỏ là Trần Văn Phú (sinh năm 2010) cư ngụ ở Phủ Lý, Hà Nam.

Chị Trần Thị Nga đã liên tục bị “bắt cóc, đe doạ hãm hại mẹ con tôi của một nhóm người trong đó có nhân viên của ngành công an và sự bao che tiếp tay cho tội phạm của công an trong mấy năm nay như sau:

Bản thân tôi là một nạn nhân của chính sách xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2008 về VN tôi đã dùng những kinh nghiệm và kiến thức của mình có được đi giúp đỡ những nạn nhân khác. Ngày 07/01/2010 Công An khu vực Hoàng Tuấn Anh và phó CA phường tên Quyết mặc sắc phục CA đến bảo tôi lên phường làm lại số tạm trú. Tới nơi tôi đã bị họ đưa giấy triệu tập bắt lên phòng bảo vệ chính trị CA tỉnh Hà Nam, ở đấy tôi đã bị 7-8 người cả mặc sắc phục của ngành lẫn mặc thường phục quát mắng đe doạ bắt tôi phải từ bỏ công việc giúp người lao động gặp nạn, nếu không nghe lời họ sẽ hãm hại tôi và các con tôi. Lúc này tôi đang mang thai bé Phú 7 tháng. Tôi thấy việc làm giúp người gặp nạn là việc làm chính đáng không vi phạm pháp luật cũng không vi phạm đạo lý làm người vì thế tôi không thể nghe theo lời yêu cầu vô lý của họ. Kể từ đó mỗi tuần tôi đều bị CA khu vực Hoàng Tuấn Anh đến lập biên bản kiểm tra nhân khẩu.

Gần 9h sáng ngày 27/11/2011 khi đang ngồi chơi ở ghế đá bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội tôi đã bị một nhóm hơn 10 người cả nam và nữ bắt cóc đưa về sào huyệt của chúng. Khi tới nơi tôi đã vô cùng ngạc nhiên vì đấy là đồn CA phường Lý Thái Tổ, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ở đấy chỉ có duy nhất một người thanh niên trẻ tuổi mặc sắc phục CA mang tên VŨ QUỐC KHANH (hoặc Khánh vì nhìn không dõ dấu số: 1333 –d34- t32. hình như “13333” vì người này luôn luôn cố tình dùng tay che biển tên và số), còn lại rất nhiều người mặc thường phục canh gác tôi. 10h38 phút họ bẻ tay cưỡng chế tôi lên xe ôtô biển số 90B -1079 do 4 người đàn ông, 01 người đàn bà áp giải. Trong số những kẻ áp giải tôi nhận ra tên Công là nhân viên phòng bảo vệ chính trị CA tỉnh Hà Nam. Khi ôtô về tới địa phận TP Phủ Lý họ đã đẩy tôi xuống đường. Khi cố gắng về được tới nhà thì ổ khoá nhà tôi đã bị kẻ gian nhỏ keo 502 vào, không mở được trong khi đó bé Phú đang ở trong nhà....” (hết trích)

Những hành vi khủng bố tương tự vẫn diễn ra với hỗ trợ từ công an. Thậm chí, chị còn bị đe dọa thủ tiêu nếu ra khỏi nhà.

Không chỉ hù dọa miệng, mà họ còn gửi thư tận nhà, trích:

“Ngày 18/01/2012 gia đình tôi nhận được thư nặc danh đe doạ giết, sáng ngày 04 tết âm lịch những người hàng xóm và tôi đã nhặt được rất nhiều tờ truyền đơn đe doạ giết gia đìnhh tôi. Tôi đã làm đơn trình báo đến CA xã. Sáng 05 tết tôi đèo con bằng xe máy đi chúc tết họ hàng đã bị nhóm kẻ gian bám theo đe doạ nên tôi đưa con quay về. Về gần tới cổng nhà một trong số những kẻ trên đã ép xe doạ giết mẹ con tôi. Tôi lại gọi điện làm đơn trình báo đến CA xã đêm 05 và ngày 06 tết gia đình tôi đã bị gần 100 CA cả sắc phục lẫn thường phục bao vây trong đó có cả những kẻ gian đã đe doạ tôi....” (hết trích)

Xin chuyển lời tới các nhà hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (Vietnam Human Rights Network, trang: http://www.vnhrnet.org) rằng những lời báo động và tố cáo này nên được dịch khẩn cấp sang nhiều thứ tiếng và gửi ra toàn cầu, tới các chính phủ, quốc hội, truyền thông... để góp lời báo động. Biết rằng rằng quý vị trong Mạng Lưới đã có nhiều hoạt động tuyệt vời, và cũng tin cậy rằng quý vị có uy tín quốc tế về bênh vực người bị đàn áp, hôm nay ngừời viết xin chuyển tới hai trường hợp khẩn cấp nêu trên.

Ít nhất, chúng ta cũng lên tiếng kịp trước những lời kêu cứu.

Posted: Mon Apr 16, 2012 6:17 pm
by TranAnhDung
Càng Ngày Càng Đúng Tử Huyệt của CS

Tác giả : Vi Anh
Tin Đài Pháp Quốc Tế RFI, ngày 10/04/2012 “Khoảng 700 dân ngoại thành kéo về Hà Nội phản đối trưng thu đất đai”, trước trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc. Ở Hà nội thủ đô của VNCS, chưa bao giờ dân oan kéo về thủ đô với một lực lượng đông đảo như vậy.

Bà Lê Hiền Đức, một phụ nữ từng được quốc tế trao giải thưởng chống tham nhũng cho biết “nông dân khổ lắm … xã đốt nhà, huyện cướp đất, tỉnh bao che ... trung ương thì đùn đẩy… tình hình nóng như lò than…”

Không những người dân thường ở Hà nội phản đối phản đối CS trưng thu đất đai,đền bù rẻ mạt như cướp ban ngày của người dân mà các tôn giáo cũng bị nữa. Tiêu biểu như ngày 25-9-2008, công an, cảnh sát, xe ủi đến dời tượng Đức Mẹ Sầu Bi, san bằng khuôn viên bắt đầu xây dựng công viên tại khu vực Tòa Khâm Sứ. Hàng ngàn giáo dân và giáo phẩm Công Giáo thưa gởi, cầu nguyện đòi lại năm lần bảy lượt, kéo dài một năm mà không được. Không ai nghĩ phong trào Dân Oan lương và giáo ngưng. Không ai nghĩ phong trào người dân lương và giáo khiếu kiện, tọa kháng, biểu tình, cầu nguyện phản đối, đòi lại dất đai ngưng. Cuộc đấu tranh cho công lý, cho quyền sống, cho tài sản chính đáng thâm thâm diều diệu, nhiều năm vẫn còn.

Cuộc đấu tranh ấy bây giờ đã trở thành một tiến trình không thể đảo ngược lại được nữa. Cuộc đấu tranh ấy càng ngày càng sát, càng đúng vào tử huyệt của CS Hà nội.

Từ ngày CS Hà nội gồm thâu dược cả nước VN, CS Hà nội hành hạ, hà khắc như chế “tự thực dân” đối xử với dân VNCH như người thuộc địa, cào bằng kinh tế, chánh trị, văn hoá của người Miền Nam từ Bến Hải trở vô đã sống và chiến đấu trong chế độ VNCH. Bằng đổi tiền, đánh tư sản, bài trừ văn hoá, bắt đi tù cải tạo, lùa đi kinh tế mới. Người dân Miền Nam bị tróc gốc, trốc rễ ngay trên quê cha đất tổ của mình. Có khoảng ba triệu người Việt thoát được ách CS, dịnh cư ở các quốc gia Tây Phươnbg, dông nhứt là Mỹ.

Lúc đầu có người len lỏi về nước, kết họp với đồng bào trong nước dùng chiến tranh võ trang để mong đánh đuổi quân xâm lược là CS Hà nội. Xu thế thời đại hậu Chiến Tranh Lạnh, tâm lý người dân Việt quá mệt mỏi chiến tranh, mong muốn được sống trong hoà bình khiến cuộc dấu tranh võ trang không thành.

Tình hình mới, chiến thuật mới, cách làm mới. Người Việt ở hải ngọai đổi chiến thuật, chuyển chiến tranh võ trang sang chiến tranh chánh trị. Cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN bắt đầu. Rất phù hợp với xu thế thời đại, kinh tế tự do toàn cầu, chánh trị dân chủ hoá thế giới. Đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, cách nói nghe tích cực, xây dựng, ôn hoà hơn, để được chánh quyền và nhân dân các nước tiền tiến chấp nhận và ủng hộ.
Nhưng thực chất là chống Cộng Sản. Vì tự do, dân chủ, nhân quyền là khắc tinh của độc tài đảng trị toàn diện của CS. Ở đâu, lúc nào có tự do, dân chủ, nhân quyền là độc tài dưới mọi hình thức không có lý do tồn tại.

Nhờ hình thái đấu tranh chánh trị, nhờ chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN đúng thời cơ, địa lợi, nhân hoà trong thế giới văn minh, mà vấn đề VN dần dần và nhịp nhàng đi vào Quốc Hội của các đại siêu cường Mỹ, của Liên Âu, Úc. Tư do, dân chủ, nhân quyền VN mà quốc kỳ VNCH là biểu tượng trở thành trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Hà nội và các nước lớn, tiêu biểu là Mỹ của Thế Giới Tư do.

Còn đồng bào và các tôn giáo kẹt sống trong nước khó khăn với Cộng sản hơn, bắt đầu cuộc chiến tranh chánh trị bằng cuộc đấu tranh đòi tự do tôn giáo. Tôn giáo là là yếu tố vô cùng quan trọng vì ít nhứt 90% dân số VN có tín ngưỡng, không theo đạo này cũng theo đạo kia. Tôn giáo là lực lượng quần chúng còn sống sót sau khi CS Hà nội càn quét hầu hết các đảng phái và tổ chức chánh tri, văn hoá, xã hội của Miền Nam. Tôn giáo sống sót và tồn tại nhờ tín ngưỡng và nhờ bàng bạc, rộng khắp trong lòng dân, bám sát hạ tầng cơ sở.

Nhưng tự do tôn giáo là một giá trị tinh thần, trừu tượng, thượng tầng, ít sát sườn, ít “thiết thân” (chữ của CS dùng để xoá bỏ chữ nghĩa của người người Miền Nam dùng là chữ “thân thiết” như CS Hà nội nói “ đảm bảo” đề khác chữ “bảo đảm” của người Việt Quốc gia dùng). Sát sườn, thân thiết như giang sơn gấm vóc là máu thịt của quốc gia dân tộc và nhà cửa, đất đai là núm ruột của người dân. Phong trào chống CS Hà nội bán đất, dâng biển lên cao điểm khi Trung Cộng lấy hai đảo Trường sa và Hoàng sa do Ô Hồ chí Minh và Phạm văn Đồng nhượng bằng công hàm thừa nhận, để lập thành Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC. Lần đầu tiên sinh viên VN, bất chấp đảng, đoàn đứng lên biểu tình chống TC xâm chiếm, chống CS Hà nội khiếp nhược, bán nước.

Trước đó là Phong trào Dân Oan, thuật ngữ do những nhà đấu tranh và truyền thông chống Đảng Nhà Nước CS Hà nội, đặt ra và sử dụng lần đầu. Chuyện CS Hà nội tịch thu đất đai của dân, CS đã làm từ khi cướp được chánh quyền hồi nam 1954. “Cải cách Ruộng Đất” để CS truất hữu toàn bộ đất đai, ruộng vườn, ao hồ của người dân để đặt dưới quyền sỡ hữu của Đảng Nhà Nước CS Hà nội “thông nhứt quản lý”. Một tội chống dân tộc, chống văn hoá VN, vì người Việt dĩ nông vi bản, xem miếng vườn, miếng ruộng là núm ruột, chết cái nhà, sống cái mồ trên mảnh đất của mình. Ai ở nông thôn đều biết, chỉ cần lấn ranh một hàng lúa là có thể đổ máu với nhau.

Dân Oan đòi nhà đòi đất nhiều nhứt trong thời CS Hà nội mở cửa kinh tế cho đầu tư nước ngoài vào, đất đai trở nên quí hiếm. CS Hà nội dùng xảo thuật hành chánh qui hoạch và trưng dụng công ích để lấy, truất quyền sử dụng đất của dân làm mặt bằng xây nhà xưởng cho người ngoại quốc, và lợi dụng chiếm công vi tư cho cán bộ đảng viên.

Phong trào Dân Oan tuy xuất phát trong nước nhưng càng ngày càng phát triển. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở trong cũng như ở ngoài nước âm thầm giúp phương tiện, khuyếch tán các cuộc đấu tranh của Dân Oan, nên càng ngày trở thành một tiến trình CS không thể đảo ngước được nữa.

Phong trào Dân Oan dân thường tiến dần lên thành Phong trào Dân Oan tôn giáo. Hoà Thượng Quảng Độ đến với Dân Oan biểu tình, một cuộc biểu tình lớn nhứt của người dân Miền Nam từ khi CS Hà nội cưỡng chiếm được đổi lại tên Thành Phố Hố chí Minh.

Phong trào Dân Oan Công Giáo phát khởi ở Đà nẵng, Nha Trang, Saigon, bùng nổ cao điểm với một hình thức đầy sáng tạo, ngay tại thủ đo Hà nội, với những giáo dân bị CS Hà nội đàn áp nửa thế kỷ. Đức Tổng Giám mục Hà nội, Ông Ngô quang Kiệt một người thuộc gia đình Miền Bắc di cư vào năm 1954, trưởng thành, sống đẹp đời, tốt đạo ở Miền Năm, trở ra Miền Bắc thời CS, cùng giáo dân quyết làm chứng nhân cho công lý. Cuộc biểu tình cầu nguyện đòi lại toà Khâm sứ và khu linh địa Thái Hà của giáo xứ Dòng Chúa Cứu Thế bị CS Hà nội tịch thu hồi năm 1954, đã đưa Công Giáo Việt Nam vào lòng dân tộc Việt.

Người dân Việt ngoài Bắc bị CS Hà nội thống trị hơn nửa thế kỷ, trong Nam hơn một phần ba thế kỷ. Hoàn cảnh có lúc tưởng như tuyệt vọng, nhưng tinh thần đấu tranh chống Cộng hay đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN lúc nào cũng có. Có khi bị xô té ngả, có lúc lở bước chới với, nhưng gượng đứng dậy, phủi bụi, đi tới giành lại quyền sống, quyền tư do, dân chủ, nhân quyền cho mình và cho quốc gia dân tộc.

1000 năm bị thực dân Tàu, 100 năm bị thực dân Pháp cai trị, rồi cũng ráng đứng lên, thế hiện tinh thần bất khuất của dân tộc Việt, đánh đuổi bạo quyền. CS Hà nội là một loại mà các nhà chánh trị học hiện thời gọi là “tự thực dân” (auto- colonialists) theo chủ nghĩa ngoại lai CS, còn hà khắc, ác nghiệt hơn thực dân Tàu và Pháp. Người dân Việt ý thức rất rõ, lần mò thử, sai, sửa, rồi làm lại, đã tìm ra tử huyệt của CS Hà nội. Đấu tranh cho tư do dân chủ, nhân quyền là giải trừ CS một cách tổng hợp. Đấu tranh đòi đất lại là đánh vào xương sống của chủ nghĩa Cộng sản, không bao giờ CS Hà nội giải quyết được vì giải quyết trả quyền sỡ hữu đất đai cho dân là phủ nhận chủ nghĩa CS. Và càng trấn áp, thì nhân dân càng thù hận thêm, quốc tế càng lên án.

Posted: Tue Apr 17, 2012 2:45 am
by hoanghoa
Liên Hợp Quốc siết chặt trừng phạt Triều Tiên

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hôm qua tiến hành siết chặt các lệnh trừng phạt nhằm vào Triều Tiên sau vụ phóng tên lửa thất bại mới đây,
đồng thời cảnh báo sẽ có hành động tiếp theo nếu Bình Nhưỡng thử hạt nhân lần ba.

Image
Một tên lửa của Triều Tiên trong cuộc duyệt binh hôm 15/4. Ảnh: AFP

Tất cả 15 thành viên thường trực và không thường trực của Hội đồng, trong đó có cả Trung Quốc, nhất trí thông qua một tuyên bố lên án mạnh mẽ vụ phóng tên lửa hôm 13/4, AFP đưa tin. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho rằng hành động này gây nên những quan ngại an ninh nghiêm trọng ở châu Á.

Hội đồng yêu cầu "những đối tượng và khoản mục mới" sẽ được đưa thêm vào danh sách các lệnh trừng phạt vốn được đưa sau khi Triều Tiên có các vụ thử hạt nhân hồi năm 2006 và 2009. Hội đồng cũng yêu cầu ủy ban các lệnh trừng phạt xem xét lại các cá nhân, doanh nghiệp và đối tượng ở Triều Tiên phải chịu các biện pháp trừng phạt quốc tế.

Theo Hội đồng Bảo an, vụ phóng tên lửa của Triều Tiên là sự vi phạm nghiêm trọng các nghị quyết 1718 và 1874 của Liên Hợp Quốc. Tên lửa Ngân Hà-3 (Unha-3) nổ tung sau 81 phút được phóng lên. Các mảnh vỡ của nó rơi xuống Hoàng Hải.

Bình Nhưỡng khẳng định vụ phóng tên lửa là nhằm đưa vệ tinh Quang Minh Tinh-3 (Kwangyongsong-3) lên quỹ đạo phục vụ mục đích nghiên cứu và dự báo thời tiết. Tuy nhiên, Mỹ và nhiều nước khác cho rằng đây thực chất là một cuộc thử tên lửa tầm xa.

Hội đồng Bảo an yêu cầu Triều Tiên ngừng bất cứ một cuộc phóng tên lửa sử dụng công nghệ tên lửa đạn đạo, ngừng tất cả các hoạt động liên quan tới chương trình tên lửa đạn đạo và giữ lời hứa tạm ngừng phóng các tên lửa. Hội đồng cũng sẽ có hành động tiếp theo trong trường hợp Bình Nhưỡng tiến hành thử hạt nhân lần thứ ba.

Trong một diễn biến khác, Choson Sinbo, tờ báo Nhật thân Triều Tiên, hôm qua trích lời một quan chức giấu tên cho hay Bình Nhưỡng sẽ phát triển một tên lửa lớn hơn Ngân Hà-3. Tại cuộc duyệt binh mừng 100 năm ngày sinh của cố chủ tịch Kim Nhật Thành hôm 15/4, Triều Tiên đã giới thiệu một loại tên lửa mới gây được nhiều sự chú ý.

Nhật Nam

Posted: Wed Apr 18, 2012 5:40 am
by huynhtruong25
Phương Lệ Chi

Ngô Nhân Dụng
Ông là nguồn cảm hứng của thế hệ 1989 ở Trung Quốc. Ông đã đánh thức lòng khao khát dân chủ và nhân quyền trong lòng mọi người. Ðó là nhận xét của Vương Ðán (Wang Dan), một sinh viên tranh đấu trong cuộc biểu tình bị tàn sát ở Thiên An Môn, Tháng Sáu năm 1989.

Ông Phương Lệ Chi (Fang Lizhi) mới qua đời hơn một tuần, đầu Tháng Tư, 2012. Một thế hệ những người tranh đấu cho dân chủ tự do ở Trung Quốc, có thể nói, đã ra đời bắt đầu từ những ý kiến xây dựng, chí khí quật cường và tấm lòng yêu nước của ông. Ít thấy báo chí của người Việt Nam nhắc đến ông, con người đáng cho chúng ta thắp một nén hương để tưởng niệm.

Phương Lệ Chi có lẽ là vị giáo sư đại học đầu tiên, và duy nhất, đã khuyến khích sinh viên tranh đấu cho tự do dân chủ. Năm 1986 ông là một giáo sư Vật Lý học, và được phong làm phó chủ tịch Ðại Học Khoa Học Kỹ Thuật tại thành phố Hợp Phì (Hefei), tỉnh An Huy; trong lúc sinh viên đang xôn xao tham dự phong trào “báo tường,” mà người Trung Hoa gọi là “đại tự báo.” Trên những trang giấy lớn dán trên tường, họ viết những bài phê bình chế độ độc tài, nêu cao lý tưởng tự do dân chủ. Có người viết khẩu hiệu: “Tự Do hay là Chết!”

Chính Phương Lệ Chi cũng là một đảng viên cộng sản, có lẽ đó là một điều kiện bắt buộc để được học và bổ nhiệm làm giáo sư trong chế độ đó. Là con trai một thư ký bưu điện và một bà mẹ lao động, sinh năm 1936 tại Hàng Châu, ông được thâu nhận vào Ðại Học Bắc Kinh và Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản dễ dàng; ngay trong buổi họp đầu tiên thành lập đoàn ông đã hô hào các bạn sinh viên phải tập suy nghĩ độc lập chứ không nên nô lệ bài giảng của các giáo sư. Học xuất sắc, tốt nghiệp môn Vật Lý năm 1956, ông được đưa về làm ở Viện Tân Vật Lý. Nhưng ngay sau đó ông bị đuổi ra khỏi trường vì viết một bài chỉ trích chính trị can thiệp vào công việc nghiên cứu khoa học. Ðó cũng là thời gian Mao Trạch Ðông đang phát động chiến dịch “Chống Hữu Phái.” Vì khả năng nghiên cứu được các nhà khoa học kính trọng, ông vẫn được phục hồi và trở lại dạy đại học.

Năm 1966, trong thời Cách Mạng Văn Hóa, Phương Lệ Chi bị đưa đi cải tạo, làm việc trong một nông trường ở tỉnh An Huy. Ông đem theo một cuốn sách vật lý học của Landau và và Lifshitz; chuyển từ ngành Vật Lý học tổng quát sang Vũ Trụ học. Năm 1972 ông và một số đồng nghiệp công bố một bài bàn về “Thuyết Big Bang” trong Vật Lý học, giải thích sự thành hình của vũ trụ, một lý thuyết đã phổ biến trong thế giới vũ trụ học lúc đó. Họ bị đem ra tố cáo là phản động. Vì ý tưởng vũ trụ có một biến cố khởi đầu là trái ngược với kinh điển Mác Xít; họ tin lời Engels tuyên bố rằng vũ trụ không có lúc đầu cũng như lúc cuối! Phương Lệ Chi lại bị hạ tầng công tác, chỉ được trở lại vai trò giáo sư sau khi Mao chết năm 1976 và Ðặng Tiểu Bình cải cách chế độ. Ông tiếp tục công việc nghiên cứu, đã được đi dự các hội nghị khoa học quốc tế để trình bày các công trình của mình, và được đồng nghiệp các nước khác chú ý. Nhưng ông cũng viết trên các báo phổ thông cho sinh viên và công chúng đọc. Ðó chính là lý do khiến ông bị đàn áp, vì các sinh viên hiểu và hưởng ứng các ý kiến đề cao tự do dân chủ của ông. Khi các sinh viên biểu tình đòi tự do khắp các đại học năm 1986, Phương Lệ Chi bị coi là một người xúi giục, năm sau ông bị trục xuất khỏi đảng và mất chức giáo sư. Ông và bà vợ đổi về sống ở Bắc Kinh, ông được mời vào làm ở đài thiên văn Bắc Kinh, cho khỏi uổng phí một tài năng hiếm hoi; còn bà vợ, cũng chuyên về Vật Lý học, được vào dạy ở Ðại Học Bắc Kinh, một nơi xuất phát các phong trào đòi dân chủ.

Năm 1989, Phương Lệ Chi viết một lá thư ngỏ gửi Ðặng Tiểu Bình, lãnh tụ tối cao của Cộng Sản Trung Quốc, yêu cầu hãy trả tự do cho các tù nhân chính trị. Lá thư được công bố và được giới trẻ ngưỡng mộ; nhưng khi các sinh viên và công nhân biểu tình hàng tháng ở quảng trường Thiên An Môn thì hai vợ chồng Phương Lệ Chi phải trốn công an, tới tòa Ðại Sứ Mỹ xin tị nạn chính trị. Sau khi Cộng Sản Trung Quốc tàn sát các sinh viên, phải mất một năm hai ông bà mới được chính thức sang Mỹ tị nạn, lấy lý do chữa bệnh. Ông được mời làm giáo sư đại học University of Arizona tại Tucson, cho đến khi tạ thế.

Ngay sau khi được tự do sang Mỹ, Phương Lệ Chi đã gây sóng gió vì tính cương trực thẳng thắn của ông. Ông chỉ trích chính phủ Mỹ không thi hành quan niệm nhân quyền một cách bình đẳng. Họ không buộc đảng Cộng Sản Trung Quốc phải áp dụng nhân quyền đúng tiêu chuẩn, vì họ coi là dân Trung Hoa không đáng được hưởng những quyền làm người như dân một nước da trắng, như dân Nga! Ðại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, James Lilley, tỏ ra tức giận và Tổng Thống George Bush phải lên tiếng minh xác chính quyền Mỹ không hề coi các dân tộc Á Châu là có địa vị thấp trong việc áp dụng nhân quyền; và nhận xét của nhà vật lý dựa trên các chuyện cũ đã lỗi thời!

Năm 1986, Phương Lệ Chi đã nói với các sinh viên Ðại Học Ðồng Tề (Tongji), ở thành phố Thượng Hải: “Quyền làm người là những quyền căn bản mà ai cũng đáng được hưởng, từ lúc mới sinh ra; thí dụ những quyền được suy nghĩ, được giáo dục, quyền kết hôn, vân vân. Nhưng nhiều người Trung Hoa lại nghĩ rằng các quyền đó gây nguy hại. Nếu thực sự nước ta là một nước dân chủ như người ta vẫn nói, thì các quyền đó phải được thi hành mạnh hơn. Nhưng hiện nay đó chỉ là một khái niệm trừu tượng.”

Chưa có một giáo sư nào ở Việt Nam công khai nói trước các sinh viên những thông điệp như vậy, ngay trong lớp học!

Năm 1986 tại Việt Nam, một giáo sư đã công bố những lời phê phán chủ nghĩa Mác xít mạnh mẽ chưa từng thấy, nhưng chỉ được phổ biến trên giấy, chuyển qua các bạn bè ngoài đại học. Ðó là Giáo Sư Nguyễn Xuân Tụ, ký tên là Hà Sĩ Phu. Mấy năm sau, ông Nguyễn Xuân Tụ đã bị “đụng xe đạp” trên đường phố Hà Nội, bị công an bắt và ở tù mấy năm. Nhưng rất ít người sống ở Việt Nam biết đến tên ông. Ðến nay ông vẫn là một tiếng nói độc lập đòi thi hành tự do dân chủ và bảo vệ chủ quyền đất nước. Hàng chục bloggers đang theo đuổi lý tưởng dân chủ tự do và nhân quyền, một thế hệ mới đang tham dự vào cuộc vận động này, vì tương lai đất nước. Chúng ta tưởng nhớ Phương Lệ Chi để vững tin vào lẽ phải, tiếp tục đấu tranh cho lẽ phải.

Posted: Thu Apr 19, 2012 5:40 am
by nguyenvsau
Tuổi Trẻ Nghĩ Về 30-4...

Tác giả : Trần Khải
Hòa bình là ước mơ đẹp nhất của nhân loại. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, không phải nền hòa bình nào cũng y hệt nhau.

Do vậy, ngay cả tuổi trẻ sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người sinh trong nền hòa bình và thống nhất của đất nước, cũng có những suy nghĩ độc lập với tuyên truyền của nhà nước Hà Nội.

Tất nhiên, nếu bạn muốn đọc truyền thông lề phải thì dễ tìm và cũng quen tai rồi: chỉ cần vào các trang web của báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, và nhiều trang tương tự ở Hà Nội. Nơi đó, các tiếng nói đều xuất phát từ một dàn đồng ca vĩ đại. Nhưng rồi không phải ai cũng tin vào điều mình được nghe, được đọc và được nhồi sọ. Duy có điều phải hiê:u những tiếng nói dị biệt không có quyền xuất hiện trên các trang web lề phải như thế.

Một tiếng nói lề trái là Đài phát thanh Chân Trời Mới trong ngày Thứ Ba, 4 Tháng Năm 2010, đã phát đi một số tiếng nói của giới trẻ nghĩ về ngày 30 tháng 4, sau 35 năm thống nhất. Trích một số đoạn như sau:

“Kim: Nói chung là chẳng mấy ai quan tâm về ngày này. Bước sang câu hỏi thứ nhì là “Sau 35 năm nhìn lại, VN và dân tộc chúng ta học được bài học gì?”… Thì blogger Mẹ Nấm trả lời là: Có một bài học lớn không bao giờ học được đó là : SỰ THA THỨ, và blogger Tarazx thì cho đó là 35 năm lãng phí, hao mòn, và nhiều điều ngu xuẩn…

Thủy Tiên: bạn Tiến Nam từ Trong nước, đã gửi thư trả lời 3 câu hỏi như sau:

Ngày 30 tháng 4 đã mang đến cho Tiến Nam 1 cảm giác mất mát không phải do ý nghĩa như nhà nước nói là sự giải phóng miền Nam mà là 1 sự mất mát không đáng có của dân tộc Việt Nam. Đó là 1 cuộc nội chiến Nam Bắc đã làm bao nhiêu máu xương đổ ra mà người được hưởng lợi không phải là dân tộc Việt Nam…

Bài học của dân tọc Việt Nam 35 năm nay thì mọi người đã biết là từ 1 hòn ngọc Viễn Đông giờ Việt Nam thành 1 sọt rác của thế giới, họ chỉ coi Việt Nam là 1 sọt rác.

Nhìn về tương lai đất nước thì Tiến Nam nghĩ Việt Nam bây giờ muốn trở lại vị thế đáng có của mình cần có sự thay đổi toàn diện để nhân tài được trọng dụng; người xứng đáng được lãnh đạo đất nước. Không còn cảnh đảng chỉ định; nhân dân bỏ phiếu...” (hết trích)

Trong khi đó, trên trang web Dân Làm Báo, người viết Hoàng Thanh Trúc qua bài nhan đề “Thưa cô - em cũng muốn tin nhưng không thể!” đã phóng tác từ nội tâm một sinh viên năm 2 Khoa học Xã hội Nhân văn Sài Gòn có tên là Lê Vũ Cát Đằng.

Bài này độc đáo là để trả lời một cô giáo môn Sử sau khi cô nói về “đề tài bài tham luận: '37 mùa xuân Đại Thắng' nói về 'chiến công thần thánh' của quân dân ta chống 'đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước'...”

Chàng sinh viên năm thứ 2 qua trình bày của tác giả Hoàng Thanh Trúc đã viết:

“...Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: "Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô! em nghĩ như vậy…”

Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản "12 người làm nên nước Nhật" của Giáo Sư Tiến Sĩ: Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.

Trong danh sách "12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh" - 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku, (2) Chính khách: Hikaru Genji, (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo, (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga, (5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari, (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu, (7) Triết Gia: Ishida Baigan, (8) Chính Khách: Okubo Toshimichi, (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi, (10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur, (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato, (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.

Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu ”Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản... trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.

Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của "Thần Nữ Thái Dương".

"Nhân vô thập toàn" Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể.

Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy. Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hóa được phần phía Đông, giã từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?

Thưa cô! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất "xâm lược" ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình? Và đạo quân "xâm lược" này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà "màu mỡ" về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần. Nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến "xâm lược" thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?

Thưa Cô! Làm sao biện minh? 45.000 quân "xâm lược" Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.

Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định...” (Hết trích, toàn văn đọc ở: danlambaovn.blogspot.com)

Đó là tiếng nói của tuổi trẻ thế hệ sinh sau 30-4-1975. Họ nói bằng những sự kiện lịch sử, không dựa vào sự mơ hồ ngụy biện nào khác: rằng Nhật, rằng Đức, rằng Nam Hàn... là những quôc gia cho thấy cuộc chiến đấu của quân đội Mỹ hoàn toàn không phải là đế quôc xâm lược, giành đất, giành biển... như Trung Quốc đang thực hiện với Việt Nam.

Hãy nhìn ngay các gia đình cán bộ với làn sóng gửi con du học sang Mỹ... thì biết. Tại sao lại bỏ trốn thiên đường xã hội chủ nghĩa VN? Đó là những sự thật ai cũng thấy, cũng biết, nhưng báo nhà nước không được đăng tải.

Posted: Fri Apr 20, 2012 6:12 am
by thienthanh
37 Năm Một VN Cộng Sản

Tác giả : Vi Anh
30 tháng Tư năm 2012 này nữa là 37 năm Việt Nam nằm trong gọng kềm của chế độ CS Hà nội. 37 năm nhân dân Việt Nam chịu quá nhiều áp bức, bóc lột, tham nhũng, xã hội VN bị hố sâu ngăn cách nghèo giàu, văn hóa VN bị tàn phá. 37 năm đất nước Việt Nam bị Trung Cộng đồng chí Cộng sản của Đảng Nhà Nước CSVN gậm nhấm mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, một phần lớn Biển Đông, Hòang sa và Trường sa của VN bị TC lấy làm huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC.

Cứ mỗi lần mùa Quốc Hận 30 tháng Tư đến, người dân Việt từ Bắc chí Nam, từ thành thị đền thôn quê ngâm ngùi, uất hận. Người của VN Cộng Hòa còn kẹt trong nước thì thương tiếc ngày cũ, và khổ nhục hiện thời. Kẻ đã chết thì mồ xiêu mả lạc, người còn sống thì bị kỳ thị, thiệt thòi thua công dân hạng hai. Hàng trăm ngàn quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bảo vệ Miền Nam trong cuộc chiến tranh tự vệ chánh đáng để bảo vệ xóm làng, các nghĩa trang của Việt Nam Cộng Hòa dành cho tử sĩ bị CS tịch thu làm khu quân sự, bỏ hoang hay san bằng, tàn phá – như trả thù người chết.

Hàng triệu người Việt từ Bến Hải trở vô Cà Mau còn sống bị kẹt trong nước, dọn một vài món người thân ưa để cúng, thấp nén nhang van vái siêu linh cho những người cha mẹ, chồng, vợ, anh chị em đã chết trên con đường di tản vào Nam, không biết chết nơi nào, sau khi rút khỏi Ban mê thuộc khi CS Hà nội tuyên bố Chiến dịch Hồ chí Minh hay Mùa Xuân Đại Thắng.

Chính một người gốc Miền Nam theo Cộng sản nòi, là Ông Sáu Dân tức Võ văn Kiệt gốc Vĩnh Long, cũng thấy được niềm đau nỗi khổ và bao oan khiên mà người Miền Nam đã phải chịu khi CS gồm thâu được cả nước. Khi hết làm Thủ Tướng, Ông còn phải nói 30 tháng tư là thời điểm hàng triệu người đau, hàng triệu người vui.

37 năm Đảng Nhà Nước VNCS gồm thâu được cả nước, người dân VN quá nhiều khổ nhục trong thời CS Hà nội cai trị VN. Người VN, “trai thời trung hiếu làm dầu/ Gái thời tiết hạnh là câu trau mình” của nhà thơ yêu nước Đồ Chiểu – thê thảm. Nam vì muốn giúp gia đình, tham gia chương trình xuất khẩu lao động của Đảng Nhà Nước CS, cầm cố ruộng nương, nhà cửa vay ngân hành để có tiền đi “làm thủ tục đầu tiên” lo hối lộ cho cán bộ, đảng viên CS để được đi “xuất khẩu lao động”. Đến nơi bị các chủ nhơn giữ thông hành visa, bắt làm việc trối chết, trả tiền công rẻ mạt như lao nô. Tòa đại sứ và lãnh sự của VNCS không can thiệp, như đem con bỏ chợ.

Nữ thì một số lớn vì cuộc sống quá nghèo nàn, gia đình quá thiếu thốn phải hy sinh đi làm nô lệ tình dục cho người Nam Hàn, Đài Loan dưới hình thức lường gạt của các dịch vụ thông đồng, ăn chia với cán bộ đảng viên CS qua việc xin visa xuất cảnh, mượn tiển ngân hàng đóng lệ phí, để thành “cô dâu” Nam Hàn, Đài Loan, Mã Lai. Có người chịu không nổi phải nhảy lầu tự tử, thảm thương.

Còn người nữ trong nước, cảnh bán trôn nuôi miệng, bị và lây bịnh xã hội, Sida hay Aids tỷ lệ cao nhứt nhì Á châu. Mỹ phải giúp tiền để ngăn chận.

Dân làm ăn chân chính càng làm càng nghèo. Nông dân bị chính sách trưng dụng đất đai của Đảng Nhà Nước cưỡng chế lấy núm ruột của dân, trả rẻ mạt như cướp giựt. Rồi cán bộ đảng viên CS làm tròng làm tréo thành của riêng, lấy đó bán hay hùn với ngọai quốc, giá 40 lần cao hơn. Những oan khuất này của người dân từ bắc chí nam, từ thành thị đến thôn quê tạo thành phong trào Dần Oan khắp nước.

Còn công nhân thì bị Đảng Nhà nước ép giá lương tiền để thu hút đầu tư ngọai quốc, để giá thành sản phẩm rẻ dễ “xuất khẩu” hàng hóa, bắt làm việc không đủ sống và với điều kiện lao động rất tồi tệ. Công nhân biểu tình, đình công, lãng công đòi tăng lương trở thành phong trào ngay trong chế độ CS kềm kẹp cấm biểu tình lãnh công.

Còn đất nước VN thì bị gậm nhấm, mà Đảng Nhà Nước gần như bất động và thông đồng trước đà xâm lăng của TC. Ngòai biển, TC tung ra một bản đồ hình lưỡi bò chiếm hết 80% Biển Đông của VN. TC đưa vào công hàm bán nước của Thủ Tướng CS Hà nội Phạm văn Đồng lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa làm Huyện Tam sa sáp nhập vào lãnh thổ TC.

Trên đất liền, TC lấy Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và mướn nhiều vùng đất của các tỉnh sát biên giới VN và TQ, họp đồng trên nửa thế kỷ. TC còn mướn vùng Cao Nguyên của VN, khai thác bauxite. TC lập xóm, làng, xây chùa Ông, chùa Bà, đưa công nhân qua ở như VN là nước nhà của họ vậy.

Các tôn giáo phần lớn bị CS Hà nội đối xử như lực lượng phản động. CS Hà nội dàn dựng lập ra các giáo hội do CS lãnh đạo, chỉ huy, người dân gọi là “giáo hội quốc doanh” và triệt hạ các giáo hội độc lập, thuần túy, chân truyền. CS Hà nội cử một trung tướng công an làm Trưởng Ban tôn giáo.

Thành phần dân chúng yêu nước, trí thức, luật sư, bác sĩ, nhà báo, sinh viên, nhà tu lên tiếng đòi tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho VN một cách ôn hòa, thì CS Hà nội cho côn đồ đánh đập ngòai đường hay bắt vào tù, dùng luật hình để truy tố một cách khiên cưỡng, như luật rừng.

Chế độ CS Hà nội thì độc tài đảng trị tòan diện. Họ mở cửa kinh tế, theo kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tức là coi quốc doanh vẫn là “chủ đạo” trên phương diện kinh tế và khoá chặt chánh trị tức Đảng CS vẫn là đảng độc quyền, độc trị. CS tạo ra một thời kỳ tư bản hoang dã mà cán bộ đảng viên CS và tài phiệt ngọai quốc cấu kết thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn. Giai cấp này vay nợ ngọai quốc để làm và “rút ruột công trình” ba đời người dân trả không hết nợ. Giai cấp này hưởng thụ giàu sang mua xe loại sang trọng nhứt thế giới, máy bay riêng để đi, gởi bạc tỷ Đô la ra đầu tư ở ngọai quốc, ăn chơi phung phí như chưởi vào mặt dân nghèo VN.

37 năm đất nước và nhân dân VN nằm trong gọng kềm CS Hà nội, đã rơi vào hòan cảnh thê thảm hơn tình hình của thời kỳ người dân Tunisia, Ai cập, Libya đứng lên lật đổ độc tài, tạo nên Mùa Xuân Á rập.

VN là một quốc gia dân tộc bất khuất, từng đánh đuổi quân Tàu, quân Pháp thực dân, kiên cường nhứt Đông Nam Á. VN là một quốc gia dân tộc có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có, như nhà chiến lược chiến tranh nhân dân Nguyển Trãi từng nói. VN trong khúc quanh của thế kỳ 20 và 21, có một Việt Nam hải ngọai gần ba triệu người sống tại các đại siêu cường thế giới, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu. Không lẽ VN không có người yêu nước. Không lẽ người dân Việt cam chịu nổi khổ nhục vì CS hoài sao?

Posted: Sat Apr 21, 2012 2:31 am
by hoanghoa
Obama thêm nhiệm kỳ nữa?

Lữ Giang

Trong bài trước, chúng tôi đã nói qua về tiểu sử và các hoạt động của hải ứng cử viên nổi bật của Đảng Cộng Hoà là ông Romney và ông Santorum. Trong bài này chúng tôi cũng xin tóm lược về cuộc đời của ông Obama, những khó khăn mà ông đang phải đối phó và triển vọng trong kỳ bầu cử sắp đến.

VÀI NÉT VỀ BARACK OBAMA

Barack Obama sinh ngày 4.8.1961 tại Honolulu, Hawaii. Mẹ ông là Stanley Ann Dunham, sinh tại Wichita, Kansas, Hoa Kỳ. Bà là người Anh lai Đức và Ai Len. Bố ông là Barack Obama, Sr., nguyên quán tại Nyanza, Kenya. Hai người gặp nhau khi đang theo học tại Đại học Haiwaii, nhưng đã ly thân khi cậu bé mới lên hai, và cuối cùng đã ly dị.

Bà Dunham tái hôn với một công dân Indonesia và năm 1967 gia đình dọn đến Jakarta, Indonesia. Obama học tại đây cho đến 10 tuổi. Năm 1971, Obama trở về Honolulu sống với ông bà ngoại, học trường Punahou từ lớp năm cho đến khi tốt nghiệp trung học năm 1979. Năm 1972, mẹ của Obama trở lại Hawaii trong vài năm rồi quay về Indonesia để làm việc. Bà mất năm 1995 vì bệnh ung thư buồng trứng.

Obama đến Los Angeles, học Đại học Occidental (Occidental College) trong hai năm, rồi qua New York, học môn khoa học chính trị chuyên ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Columbia. Ông tốt nghiệp Đại học Columbia năm 1983 với văn bằng cử nhân, rồi đến làm việc tại Business International Corporation và Nhóm Nghiên cứu Quyền lợi Công cộng New York.

Cuối năm 1988, Obama nhập học trường Luật của Đại học Harvard. Năm 1991, Obama tốt nghiệp hạng danh dự (magna cum laude) với học vị Tiến sĩ Luật (J.D.), trở về Chicago và làm việc tại các Văn phòng Luật sư Sidley & Austin. Sau đó, Obama dành 12 năm để dạy luật hiến pháp tại Trường Luật của Đại học Chicago.

Obama đắc cử vào Thượng viện Illinois năm 1996, Trong năm 2000, ông thất bại khi ra tranh cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ, Obama từ nhiệm khỏi Thượng viện Illinois sau khi đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ tháng 10 năm 2004. Trong lịch sử của Thượng viện Hoa Kỳ, Obama là thượng nghị sĩ người Mỹ gốc Phi thứ năm

Tranh cử tổng thống năm 2008. Đến ngày 3 tháng 6, với tổng số phiếu được kiểm, Obama vượt qua ngưỡng 2118 phiếu cử tri đoàn để được xem là ứng viên cho Đảng Dân chủ. Obama chọn Thượng Nghị sĩ Joe Biden (đại diện cho Delaware) vào liên danh tranh cử của ông cho chức vụ Phó Tổng thống.

Ngày 4 tháng 11, Obama đánh bại John McCain để trở thành tổng thống thứ 44 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, và là người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ được bầu vào chức vụ này[. Trong kỳ tổng tuyển cử này, ông giành được 365 phiếu đại cử tri, gấp hơn 2 lần so với số phiếu được bầu cho thượng nghị sĩ John McCain (163 phiếu). Về số phiếu phổ thông, Obama giành được 53% so với 46% của McCain.

Trong diễn từ chiến thắng đọc trước một đám đông hơn 100.000 người ở Chicago, Obama tuyên bố "sự thay đổi đã đến với nước Mỹ."

Obama gặp người vợ tương lai của mình, Michelle Robinson, năm 1988 khi nhận một công việc mùa hè cho văn phòng luật sư Sidley & Austin ở Chicago. Là cố vấn cho Obama tại công ty, Robinson cùng làm việc với Obama trong các hoạt động xã hội theo nhóm. Đến cuối hè, họ bắt đầu hẹn hò, đính hôn năm 1991 và kết hôn vào tháng 10 năm 1992. Con gái đầu của hai người, Malia Ann, chào đời năm 1999, kế đó là Natasha ("Sasha") năm 2001.

Obama có bảy anh chị em cùng cha khác mẹ, sáu trong số họ còn sống, và một em gái cùng mẹ khác cha, Maya Soetoro-Ng. Soetoro-Ng kết hôn với một người Canada gốc Hoa.

TẤN CÔNG VÀ PHẢN PHÁO

Trong các cuộc bầu cử tổng thống trên đất nước này ít khi chúng ta thấy Đảng Cộng Hoà đã xử dụng những đòn thô bạo như hiện nay. Bất cứ những gì đương kim tổng thống muốn làm đều bị ngăn chận và lên án tất cả những gì ông Obama đã làm.

Jeff Crouere, nhà lãnh đạo Đảng Cộng Hoà ở New Orleans chê Obama không có kinh nghiệm về thế giới, Các nhà lãnh đạo khác chê đạo luật bảo hiểm y tế là tồi tệ nhất. Hiện đạo luật này đang bị 26 bang của thuộc Đảng Cộng Hoà Mỹ kiện ra tòa án Tối cao Liên bang và chưa có kết quả cuối cùng.

Họ cho rằng ông Obama đang làm mọi việc vượt quá khả năng của mình. Ông không có kinh nghiệm về kinh tế, cũng như kinh nghiệm điều hành đất nước và đặc biệt ông không có kinh nghiệm về thế giới. Một số ý kiến khác còn nhận định ông Obama là tổng thống tồi nhất kể từ thời Tổng thống Jimmy Carter. Michael Graham cho rằng Obama đã kìm hãm quá trình tạo việc làm cho người dân Mỹ.

Trong khi đó, cựu Tổng thống Clinton đưa ra lời khuyên ông Obama cần nêu rõ với các cử tri rằng vụ suy sụp tài chánh tháng 9 năm 2008 xảy ra trước khi ông nhậm chức. Ông nói: “Ông Obama có thể lý luận rằng chính ông giữ cho tình trạng suy thoái không biến thành khủng hoảng.” Cựu Tổng thống Clinton ngỏ ý tin rằng Tổng thống Obama, một thành viên Đảng Dân Chủ, sẽ tái đắc cử vào tháng 11 này.

Ngoài lợi thế của một đương kim Tổng thống, ông Obama còn tiếp tục khẳng định ưu thế trước ứng cử viên đảng Cộng hoà khi nền kinh tế Mỹ được nhận định là đang ra khỏi khủng hoảng. Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED) dự báo, kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng từ 2,2% đến 2,7% trong năm nay trong khi tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống mức 8,2% đến 8,5% vào cuối năm và tiếp tục giảm xuống còn 6,7% đến 7,6% vào năm 2014.

Thế nên, không có gì ngạc nhiên khi kết quả thăm dò dư luận mới nhất cho thấy ông Obama vẫn đang dẫn điểm khá xa so với hai đối thủ hàng đầu của đảng Cộng Hòa. Theo kết quả một cuộc thăm dò công bố ngày 5.4.2012, nếu cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ được tổ chức ngay đầu tháng 4 này, ông Obama có thể đánh bại ông Romney với tỷ lệ 56% - 33% và thắng ông Santorum với tỷ lệ cách biệt 59% - 30%.

Ngày 17.4.2012
Lữ Giang

Posted: Sun Apr 22, 2012 12:15 am
by vuphong
Hai cõi ta bà

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn tôi ở Sài Gòn có thói quen quan sát cuộc đời mới viết mấy dòng miêu tả: “Trong cái nền kinh tế man rợ này, ta bà thế giới chia rõ rệt thành hai lớp.

Một là những đứa chạy ăn từng tháng (có đồng chí khá đông là những đứa chạy ăn từng ngày nữa); lớp kia là bọn giàu, con cái ngồi xe Ferrari, Porche,... xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương, hẹn nhau bất kể ở nơi nào nhưng chỉ vài ba giờ sau là gặp mặt uống rượu, chơi thuốc. Chuyện ở huyện này ai cũng biết.”

Có thể biết ngay những người mới được đăng hình trong blog Nguyễn Xuân Diện thuộc cõi nào trong thế giới ta bà này. Ðó là hình những phụ nữ nông dân mặc áo cánh, có cụ bà tay chống gậy, đang tụ tập trước cái cổng lớn bảng sơn đỏ đề: ÐẢNG ỦY HÐND ỦY BAN NHÂN DÂN - XÃ PHÚ TÚC. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện cho biết họ là dân thôn Tư Sản, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Hà Nội; đang chuẩn bị cuốc thuổng đòn gánh búa liềm để lên huyện để đòi người. Họ kể: “Sáng nay chị Nguyễn Thị Mây đi cấy ở thôn Cầu Bầu, thuộc huyện Ứng Hòa, lúc đó là 5 giờ 40 phút nó ập đến, chả đọc lệnh gì cả, nó bắt nghoéo tay, bịt mồm bắt đi luôn. Ðược tin chị Mây bị bắt, hàng trăm người dân thôn Tư Sản đã tập trung về Ủy Bân Nhân Dân xã Phú Túc để làm rõ nguyên nhân bắt, và đòi thả người.”

Chuyện càng hào hứng hơn nữa là “Công an và chính quyền xã Quảng Phú Cầu (huyện Ứng Hòa, nơi xẩy ra vụ bắt cóc) đã xác nhận sự việc bắt cóc của bà Nguyễn Thị Mây; họ cũng đi tới trụ sở xã Phú Túc cùng bà con Tư Sản đòi thả người... Ðã về chiều, người dân mang nước, bánh mì và đồ ăn ra tiếp tế. Dự kiến hàng trăm người dân sẽ ngủ lại đêm nay tại cửa UBND xã Phú Túc.” Như vậy tức là có cảnh chính quyền và công an ở một xã này đi biểu tình đến xã khác, Phú Túc, đòi thả người của chính xã đó bị những kẻ vô danh khóa ngoéo tay, bịt mồm, bắt cóc trong lúc đang đi cấy.

Không biết câu chuyện sẽ đi tới đâu. Nhưng trên thế giới bây giờ chắc chỉ tại một nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa hỗn độn lung tùng xoèng mới có cảnh tượng ấy. Những nông dân thuộc cõi ta bà chạy ăn từng bữa sống không yên. Bởi vì phải chạy ăn từng bữa cho nên mỗi miếng cơm đều rất quý. Vì miếng cơm hiếm và quý cho nên phải giành giật. Vì giành giật cho nên mới có cảnh rình rập nhau từ lúc 5, 6 giờ sáng, khóa tay, bịt miệng, bắt cóc đem đi. Tội nghiệp cho đám chúng sinh. Tội nghiệp cho các đồng bào khốn khổ; cả chị Mây bị bắt cóc lẫn những người bắt cóc chị đều tội nghiệp. Phải chi người ta không phải giành nhau từng miếng cơm, từng mảnh ruộng thì đâu đến nỗi đối xử với nhau như thế!

Chỉ còn một niềm an ủi, là trong cõi ta bà xã hội chủ nghĩa đó, cũng có những người không phải lo giành giật từng miếng cơm như vậy. Ðó là những đồng bào may mắn của chúng ta “con cái ngồi Ferrari, Porche,... xài tiền đô, gọi nhau bằng điện thoại nạm kim cương...”

Một người thuộc cõi ta bà thứ hai là ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tổ Chức Trung Ương. Ngày Thứ Bẩy vừa qua, được tin mừng ái nữ của ông, cô Tô Linh Hương mới được bầu làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công ty Cổ phần Ðầu tư Xây dựng Vinaconex- PVC. Tuổi trẻ, tài cao, cô Linh Hương mới sinh năm 1988. Cô Hương đã đậu cử nhân tại Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền, chuyên về ngành ngoại giao quốc tế. Luận văn ra trường của cô mang đề tài: “Thông tin đối ngoại trong đấu tranh diễn biến hòa bình ở Việt Nam hiện nay.” Nghe thì thấy lập trường rất tốt, nhưng có vẻ không liên hệ gì với công việc đầu tư hay là xây cất cả. Mới 23, 24 tuổi, cô sẽ lên lãnh đạo một công ty chuyên về đầu tư xây dựng với 2,000 nhân viên, do hai tổng công ty nhà nước, Vinaconex và PVC, gom lại làm một mà thành. Mấy doanh nghiệp nhà nuớc này các quan muốn gom lại, muốn tách ra lúc nào làm chẳng được? Ngày nhậm chức cô Hương đã đi ngay tới thị sát một công trường đang xây cất, sắt với xi măng đầy khắp nơi. Và cô đi đôi giầy cao gót mầu hồng, mặc áo đầm cũng mầu hồng, chỉ cái đầu được cái mũ an toàn (bảo hiểm) che chở nên không biết mầu gì. Như vậy có phải ở đời ai cũng có số hay không?

Một người có số tốt hơn nữa là cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ, đại biểu Quốc Hội của dân Tiên Lãng, Hải Phòng, nơi có ông Ðoàn Văn Vươn còn đang bị giam. Cô Phượng đang làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của bốn công ty; trong đó có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank). Câu chuyện cô Phượng đã mua cổ phần chiếm đa số để nhảy từ ngân hàng này sang công ty đầu tư khác, kết hợp cái nọ với cái kia, đọc có thể chóng mặt như coi người làm xiệc đu dây. Thoắt mua về, thoắt bán đi, rồi “ghế trên ngồi tót sỗ sàng,” nếu không phải con quan tể tướng ai mà làm được? Ở lứa tuổi 32 mà đã lên cao như vậy, chắc chắn đây là một người thuộc một cõi khác, đám chúng sinh lớp chạy ăn từng ngày trong mơ cũng không tưởng tượng được. Hai người anh, em trai của cô Phượng không lo về tiền bạc nhưng thênh thang hoạn lộ. Nguyễn Thanh Nghị, 36 tuổi, được bầu làm ủy viên Trung Ương Ðảng dự khuyết rồi được cha bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Xây Dựng. Em là Nguyễn Minh Triết, 24 tuổi thì được bố trí vào lãnh đạo Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Con cái những lãnh tụ cao cấp khác của đảng đều được “cơ cấu;” như Nông Quốc Tuấn, con trai ông Nông Ðức Mạnh đã nhanh chóng làm phó bí thư, rồi thăng lên bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang, vào Trung Ương Ðảng ngay lập tức.

Nghĩ cho cùng thì cũng tội nghiệp cho các bạn trẻ đang lên nhanh như diều gặp gió này. Họ có thể cũng đầy đủ tài năng và nghị lực, đủ sức gánh vác những việc lớn. Nhưng không ai trông thấy họ phải thi thố tài năng bao giờ. Họ không cần cạnh tranh với hàng ngàn, hàng vạn người khác trước khi bước lên những bậc thanh cao nhất trong xã hội, như ở các xã hội bình thường. Cuối cùng, người ta vẫn chỉ thấy họ là một đám con cháu bám vào địa vị của cha chú để leo lên. Không khác gì những “cậu ấm cô chiêu” con cái những lãnh tụ cộng sản Trung Quốc; hay là cậu Kim Chính Ủn ở Bắc Hàn.

Nếu được sống trong một xã hội dân chủ tự do, mọi người phải cạnh tranh gay gắt mới có thể làm giầu, làm quan to, thì biết đâu chính các cô cậu trên đây cũng có khả năng đạt được những địa vị cao sang, trong trường kinh doanh, hay là trong chính trị, hoàn toàn do sức của mình. Nhưng phải sống trong một chế độ độc tài đảng trị, ngay cả những người có khả năng cũng không có cơ hội thi thố tài năng. Vì không bị thử thách thì làm sao trổ tài?

Những người đang bị thử thách nhất hiện nay ở nước Việt Nam là những người dám lên tiếng đòi cho dân Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Họ đang “đầu tư” cả vốn liếng, gia sản, cả khả năng trí tuệ và chí khí nghị lực, dồn hết vào cuộc vận động dân chủ. Thí dụ như nhà báo tự do Ðiếu Cầy. Ông đã đem cả cuộc đời mình “đánh cá.” Hoặc là đồng bào mình được tự do, chính quyền mình không run sợ trước đế quốc xâm lấn; hoặc là mình bị đầy ải, tù tội. Cái tên Ðiếu Cầy đã vào lịch sử tranh đấu cho quyền tự do phát biểu của thế giới; đó là niềm an ủi. Ủy ban quốc tế bảo vệ người ký giả vừa mới nhắc đến tên Ðiếu Cầy khi vạch mặt chỉ tên 12 chính quyền trên thế giới đang đàn áp người làm báo. Ngày 3 Tháng Năm sắp tới là Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Tòa Bạch Ốc ở Mỹ có sáng kiến làm một mạng, website mới. Mạng HumanRights.gov mỗi ngày tường thuật cuộc tranh đấu của một người đáng vinh danh, cho đến ngày 3 Tháng Năm mới đủ danh sách.

Nhân vật đầu tiên được nêu danh trong đó là nhà báo tự do Ðiếu Cầy. Nhật báo The New York Times đã viết một bài quan điểm, chỉ nêu danh hai nhà báo: Ðiếu Cầy và bà Natalya Radzina, người tranh đấu cho quyền làm người của dân xứ Belarus. Radzina cũng bị bắt bớ, đánh đập không khác gì Ðiếu Cầy. Bà may mắn chạy thoát sang nước Lithuania tị nạn, trong khi Ðiếu Cầy vẫn ở trong tù.

Những vinh dự này hoàn toàn không phải Ðiếu Cầy và cô Radzina có cha hay mẹ làm lớn. Cũng không được ai “cơ cấu” cho họ vào bảng vàng tranh đấu cho tự do để cả thế giới ngưỡng mộ. Hoàn toàn là do chí khí và khả năng của mỗi con người. Vinh dự đó sẽ còn mãi mãi. Ðến đời con, đời cháu vẫn chưa quên. Ít thấy người Việt Nam nào được leo vào trang Quan Ðiểm (editorial) của tờ New York Times.

Những người không dùng tới sức lực của mình mà vẫn leo lên cao trên các bậc thang xã hội sẽ có ngày ân hận. Khi một triều đình sụp đổ, tất cả những địa vị hay tài sản “ăn không” một cách dễ dàng sẽ tan biến. Nhưng tai tiếng thì sẽ còn mãi mãi. Vợ chồng Bạc Hy Lai đang suy ngẫm về cảnh biển xanh biến thành ruộng dâu đó.

Có chế độ nào tồn tại vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt hay không? Vừa rồi, nghe tin cô Lê Ðình Lệ Quyền bị tai nạn qua đời ở Roma, chúng ta thấy một chi tiết: Cô đang đi làm. Và cô đi xe gắn máy. Chứng tỏ cô sống khá thanh bạch. Không phải là một người giầu có, ngồi hưởng tiền bạc do cha mẹ đầu tư để lại.

Về chính trị nhiều người không đồng ý với ông bà Ngô Ðình Nhu khi họ còn sống. Nhưng thấy cảnh cô con gái út của họ bị tai nạn khi đang đi làm kiếm ăn hàng ngày như thế, thấy họ đáng kính trọng.

Posted: Mon Apr 23, 2012 5:58 am
by hoanghoa
Trước một hiểm họa quá lớn

Nguyễn Gia Kiểng
(Nguồn: eThongLuan.org)
“...Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường. Ðối với một nhà máy điện nguyên tử một xác suất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi...”

Tôi không phải là một chuyên gia về năng lượng hạt nhân, dù hoàn cảnh đã khiến tôi tiếp xúc khá lâu, khá sát và đều đặn với nó. Lúc còn là sinh viên tôi đã hai lần thực tập tại Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử (Centre d'Etude Nucléaire) của Pháp, lần thứ hai để hoàn tất luận án tốt nghiệp. Năm 1982, ngay khi trở lại Pháp, tôi được nhận vào làm tham vấn tại công ty Nguyên Tử Pháp Mỹ (Compagnie Franco-Américaine de l'Atome, FRAMATOME, bây giờ là AREVA). Sau này, và cho đến khi về hưu, công ty AREVA và Trung Tâm Quốc Gia Năng Lượng Hạt Nhân (Centre National d'Energie Nucléaire - CNEN), hai cơ quan xây dựng và điều hành các nhà máy điện nguyên tử của Pháp và cũng xây dựng nhiều nhà máy điện nguyên tử cho nhiều quốc gia trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Hàn Quốc, là hai khách hàng chính của những công ty tham vấn mà tôi điều khiển. Như thế tôi không phải là người chống điện hạt nhân trên nguyên tắc. Tôi coi chấp nhận hoặc từ chối điện nguyên tử là một chọn lựa tùy lúc và tùy trường hợp của từng nước. Cũng cần phải nói ngay rằng vấn đề điện hạt nhân đối với chúng ta trong lúc này không còn là một vấn đề chuyên môn mà là một vấn đề chính trị, và một vấn đề chính trị rất nghiêm trọng trên đó mọi người đều có thể và phải có ý kiến.

Công việc của tôi trong hơn hai mươi năm làm việc với các cơ quan này không phải là kỹ thuật nguyên tử mà là quản trị và tin học, tuy vậy nó cũng đã bắt buộc tôi phải trao đổi thường xuyên với những người trách nhiệm mọi mặt về việc xây dựng và điều hành một nhà máy điện hạt nhân. Ðiều tôi biết được qua những trao đổi này là đối với một nhà máy điện hạt nhân an ninh là tất cả, những hiểu biết về vật lý hạt nhân chỉ có một tầm quan trọng rất thứ yếu. Một thí dụ cụ thể là dự án tin học theo dõi một nhà máy điện hạt nhân, mà tôi từng là dự án trưởng, đã phải huy động hơn một trăm kỹ sư tin học, phân tích viên và lập trình viên trong hơn hai năm để thực hiện. Nhiều người coi nó như một con quái vật không lồ. Nhưng sở dĩ nó phức tạp như thế là vì những dữ kiện về an ninh; chúng chiếm 90% cơ sở dữ kiện và liên hệ tròng chéo với nhau.

Vấn đề an toàn trong một nhà máy điện nguyên tử khác hẳn với khái niệm thông thường về sự an toàn. Một chiếc xe hơi được coi là an toàn nếu xác suất để xảy ra một sự cố là một phần mười trong một năm. Ðối với một nhà máy điện nguyên tử một xác suất tai nạn một phần ngàn là điều gớm ghiếc không thể tưởng tượng nổi. Lý do là vì những hậu quả của một tại nạn hạt nhân có thể rất khủng khiếp, vượt mọi tưởng tượng; nó có thể làm chết rất nhiều người, hủy hoại môi trường trong một thời gian rất lâu và để lại những di hại thể xác cũng như tinh thần cho nhiều thế hệ. Một thí dụ là vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Nhà máy này được thiết lập ở một vùng rất ít dân cư, nhưng tai nạn đã khiến hơn 4000 người bị ung thư trong đó phần lớn đã chết. Ðó là chưa kể số nạn nhân ở những nước lân cận. Người ta đã phải tản cư trên 100,000 người khỏi một khu vực 30km chung quanh nhà máy. Nếu kể cả những người phải di tản ở các nước láng giềng thì con số người phải di tản vượt quá 250,000. Cho tới nay, 26 năm sau tai nạn, mức phóng xạ vẫn cao gấp 30 lần mức độ chấp nhận được. Hãy tưởng tượng nếu một tai nạn tương tự xảy ra tại một nước dân cư chen chúc như Việt Nam.

Ðặc tính của những tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân là chúng đều không ngờ. Fukushima nhắc lại cho thế giới thêm một lần nữa bài học khiêm tốn: chúng ta không bao giờ có thể tiên liệu được hết những nguyên nhân đưa đến tai nạn. Nhật là nước nhiều kinh nghiệm nhất về động đất và sóng thần đồng thời cũng là nước đứng hàng đầu thế giới về sự chính xác; tuy vậy nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi đã chỉ được xây dựng để chịu đựng một ngọn sóng cao 6m trong khi ngọn sóng tháng 3 năm 2011 đã cao 15m tại khu vực nhà máy và gần 30m tại một số địa điểm khác. Các lò phản ứng theo nhau phát nổ và mức độ trầm trọng được đánh giá lại liên tục, sau cùng là mức độ 7, nghĩa là tối đa. Hậu quả của tại họa nguyên tử Fukushima vẫn chưa thể thẩm định được. Ðiều chắc chắn là thảm kịch sẽ nhiều lần lớn hơn, thậm chí rất kinh khủng, nếu người Nhật không chứng tỏ một khả năng tổ chức, một tinh thần kỷ luật và một sự dũng cảm buộc cả thế giới phải ngưỡng mộ. Hay nếu họ không có những phương tiện cấp cứu của một nước giàu có bậc nhất thế giới. Hãy thử tưởng tượng nếu, vì bất cứ lý do gì, một tai nạn tương tự xảy ra tại Việt Nam. Các tỉnh bờ biển của chúng ta đều chen chúc hơn vùng Fukushima, chúng ta không có những phương tiện của người Nhật và cũng thua xa họ về kỷ luật và tinh thần trách nhiệm.

Xác suất rủi ro xảy ra tai nạn quan trọng hiện nay được ước tính chung quanh mức độ 5/100,000 mỗi năm cho một lò điện nguyên tử. Xác suất này được coi là quá lớn vì thế hầu hết các quốc gia đều quyết định không dùng điện hạt nhân, số ít các quốc gia chấp nhận điện hạt nhân đều chỉ đi những bước rón rén. Ấn Ðộ và Trung Quốc là hai quốc gia ít quan tâm đến môi trường nhưng họ cũng đều rất dè dặt đối với điện hạt nhân. Cả hai đều đã bắt đầu kỹ thuật hạt nhân từ hơn một nửa thế kỷ nay và đều có đội ngũ kỹ thuật nguyên tử hùng hậu nhưng tới nay tỷ lệ điện hạt nhân của họ chỉ ở mức độ 2% tổng số điện sản xuất. Ấn Ðộ đã bắt đầu xây nhà máy điện hạt nhân từ 1965 nhưng đến nay chỉ mới dám xây những lò phản ứng nhỏ, hai lò phản ứng công suất 500 Mwe và 18 lò công suất 200 MWe. Trung Quốc trong những năm gần đây tỏ ra muốn đẩy mạnh năng lượng hạt nhân nhưng trong hai mươi năm nữa tỷ lệ điện hạt nhân của họ cũng sẽ không vượt quá 5%. Sau tai nạn Fukushima tất cả các nước phát triển có kỹ thuật hạt nhân cao và hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Ấn Ðộ và Trung Quốc, đều đình chỉ các chương trình xây dựng lò điện nguyên tử, nhiều nước tuyên bố bỏ hẳn. Áo bỏ một nhà máy điện nguyên tử đã xây dựng xong và sẵn sàng đi vào hoạt động. Ba Lan, Ireland và Philippines bỏ ngang những nhà máy đang xây dựng dở dang. Riêng Úc, nước có trữ lượng uranium lớn nhất thế giới, từ trước vẫn quả quyết từ chối điện hạt nhân.

Trong bối cảnh đó quyết định nhảy vào điện nguyên tử của chính quyền Việt Nam thật là không hiểu nổi, nhất là Việt Nam chưa có kỹ thuật và đội ngũ chuyên viên nguyên tử (Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Ðà Lạt còn quá sơ sài, các cơ quan khác còn ít thực chất hơn). Ðã thế còn nhảy vào một cách liều mạng.

Năm 2008 chính quyền Việt Nam tuyên bố quyết định xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận, mỗi nhà máy gồm hai lò phản ứng với công suất 1000 MWe, dự trù đi vào hoạt động năm 2020. Quyết định này khiến người ta phải sững sờ. Như vậy là Việt Nam vào năm 2020 sẽ có một tỷ lệ điện nguyên tử lớn hơn hẳn Ấn Ðộ và Trung Quốc. Thời gian từ đây đến đó chắc chắn là không đủ để đào tạo ra những chuyên viên đủ khả năng để điều hành các nhà máy. Như để tranh thủ thời gian công thức được chọn lựa là công thức “chìa khóa trao tay” có nghĩa các nhà máy sẽ hoàn toàn do các công ty nước ngoài xây dựng, Việt Nam chỉ tiếp thu để sử dụng khi nhà máy đã hoàn tất. Ðây là công thức mà cho tới nay chưa nước nào chấp nhận vì hầu như không có chuyển giao kỹ thuật và lại rất nguy hiểm. Vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử vừa quá nghiêm trọng lại vừa quá phức tạp nên phải tham gia chặt chẽ ngay từ đầu vào việc xây dựng nhà máy để hiểu rõ cấu trúc và cách điều hành. Cho tới nay phần lớn các sự cố xảy ra tại các nhà máy điện hạt nhân là do lỗi của các nhân viên điều hành. Ngay cả nếu quyết tâm chọn năng lương hạt nhân thì cũng không thể hành động một cách quá phiêu lưu. Giải pháp đúng đắn trong trường hợp đó là bắt đầu xây một lò phản ứng thôi và tham gia từ đầu tới cuối tiến trình xây dựng để hiểu rõ từng bộ phận của nhà máy; chỉ sau khi đã thực sự làm chủ được kỹ thuật điện nguyên tử và đào tạo xong một đội ngũ chuyên viên vững chắc mới xây tiếp các lò phản ứng khác. Và đàng nào cũng phải tiến hành một cách rất chậm chạp và thận trọng vì tai nạn nguyên tử quá khủng khiếp. An ninh của các lò điện nguyên tử là điều mỗi nước phải lo lấy chứ không thể giao tính mạng của đất nước mình cho những công ty nước ngoài.

Quyết định của chính quyền cộng sản không đi kèm với một lời giải thích kỹ thuật nào, bởi vì nó không phải là kết quả của một nghiên cứu nghiêm chỉnh mà chỉ là quyết định tùy tiện của những người cầm quyền hoàn toàn không biết gì về kỹ thuật hạt nhân.

Quyết định này càng gây sửng sốt vì công ty được chọn để xây nhà máy điện nguyên tử đầu tiên cho Việt Nam là công ty ROSATOM của Nga. Có đầy rẫy tài liệu chứng minh Nga là nước cẩu thả nhất về mặt an ninh trong những nước xây dựng lò điện nguyên tử. Hơn nữa công ty ROSATOM lại bị mang tai tiếng là đã gian lận về phẩm chất vật liệu xây dựng, một điều không thể tưởng tượng nổi cho một lò điện nguyên tử. Ai có thể không hoảng sợ khi nghĩ rằng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Việt Nam sẽ được xây dựng bởi một công ty làm ăn gian trá của một nước nổi tiếng là cẩu thả và được trao cho những người Việt Nam mới tập sự điều khiển? Nhất là cũng phải nhìn nhận một sự thực đau lòng là với sự xuống cấp của đạo đức không phải người Việt Nam nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao. Một ông thứ trưởng tuyên bố thản nhiên: “Ðã xây một lò điện nguyên tử tại sao không xây luôn bốn lò cho tiện.” Hình như các cấp lãnh đạo cộng sản không ý thức rằng nguyên tử là vũ khí giết người hàng loạt, giết cả những người hôm nay lẫn những người chưa sinh ra, thậm chí có thể xóa bỏ một quốc gia.

Nhiều người có thẩm quyền chuyên môn, như các Giáo Sư Phạm Duy Hiển, Trần Sơn Lâm và Nguyễn Khắc Nhẫn, đã lên tiếng ngay sau đó. Có vị dứt khoát bác bỏ điện hạt nhân, có vị cho rằng chỉ nên xây một lò phản ứng để học hỏi và đào tạo trước đã. Như để hỗ trợ cho những tiếng nói cảnh giác này tai họa Fukushima đã xảy ra làm chấn động cả thế giới. Ai không nghĩ rằng nhà cầm quyền Việt Nam sẽ nghĩ lại?

Và quả thực họ đã xét lại, nhưng một cách không ai ngờ được. Ngay trong dịp kỷ niệm một năm thảm kịch Fukushima họ công bố quyết định xây thêm mười lò điện khác dự trù hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2030, nghĩa là tổng cộng 14 lò thay vì 4 lò! Khi một người bạn, chuyên gia về điện hạt nhân, hốt hoảng thông báo tin này tôi không dám tin. Nó giống như tin một trái bom nguyên tử vừa nổ. Nó buộc chúng ta tự hỏi chúng ta đã ý thức đầy đủ những bắt buộc của kỷ nguyên tri thức chưa? Tri thức trong thế giới ngày nay chủ yếu là tri thức khoa học kỹ thuật; không thể chấp nhận những người lãnh đạo thiếu văn hóa, nhất là văn hóa khoa học.

Xác suất 5/100,000 cho một tai nạn nghiêm trọng trong một năm tại mỗi lò phản ứng chỉ là một xác suất trung bình. Ðối với một nước thiếu phương tiện và kỹ năng như Việt Nam nó cao hơn nhiều. Với bốn lò phản ứng nó cao một cách đáng sợ. Với 14 lò một tai nạn tầm cỡ Chernobyl hay Fukushima là một đe dọa thường trực và nếu xảy ra hậu quả sẽ rất khủng khiếp, Việt Nam có thể sẽ không còn là Việt Nam nữa. Cũng phải hiểu là một sự cố nhỏ có thể khắc phục nhanh chóng tại một nước như Nhật và Pháp cũng có nguy cơ trở thành một tai nạn lớn tại một nước như Việt Nam.

Nhưng cứ giả thử chứng ta sẽ rất may mắn, phải nhấn mạnh là rất may mắn, không bị tai nạn thì hậu quả cũng rất nặằng nề.Trước hết Việt Nam sẽ là một đất nước không an toàn. Mọi người đều phập phồng lo sợ không biết lúc nào thảm kịch sẽ đến. Những người có thể rời bỏ Việt Nam để đi sống ở một nước khác sẽ ra đi. Việt Nam sẽ không có tương lai bởi vì không thể xây dựng một quốc gia với những người chỉ ở lại vì không thể đi sang một nước khác.

Một tiềm năng kính tế lớn của Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng. Với một bờ biển dài và những bãi biển đẹp trong một khí hậu nhiệt đới chúng ta có thể hy vọng trong trung hạn thu hút vài chục triệu du khách mỗi năm tạo hàng triệu công ăn việc làm trong ngành du lịch và những ngành liên hệ. Khả năng này sẽ gần như mất hẳn với 14 lò phản ứng nguyên tử rải rác khắp nước. Ðúng hay sai, tâm lý chung là người ta không muốn nghỉ Hè bên cạnh các lò điện nguyên tử.

Thủy sản của Việt Nam cũng sẽ bị đe dọa. Có một thành kiến là các nước chậm tiến không coi trọng an ninh môi trường và không có gì bảo đảm là nước không bị nhiễm xạ. Ðúng hay sai người ta sẽ sợ tôm cá Việt Nam.

Một điều quan trọng cũng cần được ý thức là chúng ta sẽ không còn khả năng đương đầu với một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm qui mô. Ðối phương chỉ cần oanh tạc các lò điện nguyên tử.

Một người bạn tôi, bác sĩ chuyên khoa về dưỡng lão, có lần nói rằng Việt Nam nên nghiên cứu khả năng mở những nhà săn sóc người cao tuổi. Anh ta nói tại Mỹ và Châu Âu chi phí trung bình để săn sóc một người cao tuổi có bảo hiểm sức khỏe là 50,000 USD mỗi năm. Chúng ta có thể săn sóc họ một cách chu đáo và tiện nghi hơn với chi phí chỉ bằng một nửa. Chúng ta sẽ thu hút được rất nhiều khách, cả những người già lẫn những người chưa thực là già nhưng muốn được phục vụ để khỏi phải bận bịu với những việc hàng ngày như cơm nước, giặt ủi, di chuyển. Ðó là một thí dụ. Những khả năng như vậy sẽ mất đi nếu nước ta đầy những lò điện nguyên tử.

Nhưng tại sao chọn điện hạt nhân?

Trái với một lập luận thường gặp điện hạt nhân không phải là một chọn lựa bắt buộc hướng về tương lai. Tỷ lệ điện hạt nhân trên thế giới chỉ mới xấp xỉ 14% tổng số năng lượng điện (và 3% tổng số năng lượng gộp). Những tỷ lệ này sẽ tiếp tục giảm đi vì khuynh hướng chung của thế giới là từ giã điện hạt nhân. Lập luận chính biện hộ cho điện nguyên tử là phải tìm một giải pháp thay thế cho khối dự trữ năng lượng mỏ (than, dầu, khí) đang chiếm 80% năng lượng gộp và đang cạn dần. Lập luận này ngày càng thiếu thuyết phục vì muốn như thế phải nhân lên hơn 25 lần số lò phản ứng hiện nay, một con số khiến người ta phải kinh hoàng sau những tai nạn đã xảy ra. Và đàng nào cũng không thực hiện được bởi vì, trái với sự lạc quan lúc ban đầu, khối lượng uranium cũng rất giới hạn và ngày càng đắt. Thế giới ngày càng tiến tới đồng thuận là phải tiết kiệm năng lượng song song với việc tận dụng những nguồn năng lượng có mãi (renewable energy, thường được dịch sang tiếng Việt là năng lượng tái tạo như gió, nắng, thủy triều, các dòng sông v.v.).

Cũng đừng quên là năng lượng nguyên tử vẫn còn là một hò hẹn sai với tương lai. Trong vấn đề an ninh của các nhà máy điện nguyên tử không phải chỉ có cố gắng tránh tai nạn mà còn một vấn đề nghiêm trọng không kém là xử lý phế liệu. Trong những thập niên 1950 và 1960, khi chương trình điện nguyên tử được đưa ra người ta tin chắc như đinh đóng cột là một ngày không xa sẽ tìm được cách xử lý ổn thỏa phế liệu nguyên tử. Ðến nay, sau hơn một nửa thế kỷ phương thức vẫn chưa tìm được và giải pháp vẫn chỉ là bọc lại và đem chôn. Rà chờ đợi vài ngàn năm cho đến khi phóng xạ xuống tới mức chấp nhận được. Ðất nước ta chật hẹp như vậy, chúng ta sẽ chôn phế liệu nguyên tử ở đâu và chuyên chở như thế nào cho an toàn?

Như đã nói ở phần trên, tôi không chống điện nguyên tử trên nguyên tắc. Ðiện nguyên tử vẫn là một nguồn trong nhiều nguồn năng lượng, dù chỉ nên quan niệm ở một tỷ lệ khiêm tốn. Ðiện hạt nhân rẻ và sạch nếu không xảy ra tai nạn. Dù chữ nếu này quá lớn nhiều người vẫn nghĩ rằng chấp nhận hay không chấp nhận có điện hạt nhân tùy thuộc điều kiện của từng nước. Chúng ta là một nước đất hẹp người đông không thích hợp với điện nguyên tử. Chúng ta lại chưa có kỹ năng và nhân lực hạt nhân trong khi an ninh nguyên tử là một vấn đề các quốc gia phải đảm nhiệm lấy chứ không thể giao phó sự sống còn của đất nước cho những công ty nước ngoài. Xây lò điện nguyên tử vì vậy chỉ có thể khởi sự khi chúng ta đã đủ kỹ năng và nhân lực hạt nhân, điều mà chúng ta hầu như chưa có. Hơn nữa chúng ta nhiều gió và nắng, tiềm năng năng lượng của chúng ta chủ yếu là năng lượng có mãi. Sau cùng, ngay cả nếu chúng ta không loại bỏ hẳn điện hạt nhân thì cũng chưa phải là lúc để xây bốn lò điện nguyên tử, chưa nói 14 lò, một quyết định điên khùng vượt mọi tưởng tượng.

Còn một vấn đề nghiêm trọng khác. Thế giới đang từ giã điện hạt nhân. Các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân ngày càng gặp khó khăn lớn vì không còn thị trường. Công ty AREVA của Pháp chẳng hạn đã bắt đầu chuyển sang sản xuất những thiết bị cho năng lượng gió. Và nếu những công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử cho chúng ta phá sản, một điều rất có thể xảy ra, chúng ta sẽ rơi vào một tình trạng hết sức nguy kịch.

Nhưng tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam lại lấy quyết định như thế?

Ðây không phải là một tranh luận kỹ thuật. Họ thừa biết rằng xây 14 lò phản ứng là một quyết định rất bất lợi và nguy hiểm cho đất nước. Nhưng tại sao họ lấy quyết định này? Giả thuyết hợp lý nhất là họ đã nhượng bộ những áp lực tài chính của các chủ nợ. Chính quyền cộng sản lấy quyết định liều lĩnh vì họ cần che giấu thực trạng bi đát của kinh tế Việt Nam.

Một chỉ số đo lường mức độ lệ thuộc bên ngoài của một nền kinh tế là tỷ lệ tổng số ngoại thương trên tổng sản lượng quốc gia. Trung bình thế giới hiện nay là 50%, nghĩa là trong một quốc gia tổng số ngoại thương (xuất khẩu cộng với nhập khẩu) bằng khoảng 50% GDP là bình thường. Trong trường hợp Hoa Kỳ tỷ lệ này chỉ là 25%, Trung Quốc 52%. Tại Ðức tỷ lệ này là 75%, tại Hàn Quốc 92%, nhưng Ðức và Hàn Quốc là hai nước có nền kinh tế hướng ngoại nhất thế giới. Nhật (27%) là một trường hợp đặc biệt vì các công ty lớn của Nhật sản xuất một phần quan trọng hàng hóa ngay tại nước ngoài. Các nước mới phát triển tại Châu Á dĩ nhiên lệ thuộc rất nhiều vào ngoại thương; tỷ lệ của Thái Lan là 120%, của Mã Lai là 148%. Nói chung các nước trao đổi nhiều với thế giới bên ngoài đều xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Kinh tế Việt Nam bệnh hoạn hơn hẳn người ta tưởng. Tổng số ngoại thương của Việt Nam bằng 167% GDP. Ðiều này tự nó đã có nghĩa là chúng ta là một trong những nước lệ thuộc nhất vào các nước ngoài về mặt kinh tế, nhưng sự thực còn đáng lo ngại hơn vì cán cân ngoại thương của chúng ta thâm thủng kinh niên. Chúng ta nhập khẩu nhiều hơn hẳn xuất khẩu từ hơn 25 năm qua. Từ 5 năm qua, khi chính quyền nói rằng kinh tế đã có tiến bộ, Việt Nam liên tục nhập siêu khoảng 13 tỷ tỷ USD mỗi năm, năm 2008 nhập siêu 18 tỷ, những năm trước có thể còn tệ hơn. Như vậy con số nợ công (phần lớn là nợ nước ngoài) 56 tỷ USD, hay 51% GDP, phải được coi là rất xa sự thực. Thâm thủng mậu dịch sớm muộn cũng biến thành nợ nước ngoài. Phần lớn là nợ do các công ty vay hoặc mua chịu nhưng các phần lớn các công ty này là của nhà nước và khoản nợ nước ngoài của họ đều do nhà nước bảo lãnh cho nên khi một công ty, như tổ hợp Vinashin, không trả được nợ thì nợ của họ cũng biến thành nợ công. Như vậy chắc chắn là số nợ nước ngoài của Việt Nam nước ngoài phải rất cao, có thể hơn 200 tỷ USD, và nhiều khoản đã đáo hạn, thậm chí đã khất nhiều lần. Nếu các chủ nợ nhất định đòi thì chính quyền Việt Nam phải tuyên bố không còn khả năng hoàn trả, nghĩa là phá sản, và chính quyền có thể sụp đổ. Chính quyền cộng sản Việt Nam vì vậy phải chấp nhận ngay cả những đòi hỏi, hoặc “gợi ý,” nguy hiểm cho đất nước để có thể che giấu thực trạng phá sản.

Trở lại với quyết định xây dựng 14 lò điện nguyên tử. Từ sau Fukushima mọi nước đều quyết định ngừng hoặc bỏ hẳn các dư án. Các công ty xây dựng nhà máy điện nguyên tử vì vậy đều ở trong tình trạng nguy ngập. Họ không còn công việc nữa và cần một thời gian để thích nghi với tình huống mới. Các chính quyền nước họ cũng sợ những biến động xã hội nếu các công ty này phải sa thải công nhân hàng loạt ngay lập tức. Trong những điều kiện đó không có gì đáng ngạc nhiên nếu các chính quyền nước ngoài và các công ty xây dựng nhà máy điện hạt nhân của họ làm áp lực để Việt Nam chấp nhận xây những lò điện nguyên tử, nghĩa là cho họ những bầu dưỡng khí tạm. Và chính quyền cộng sản Việt Nam đã phải nhượng bộ để tự cứu mình.

Nếu giả thuyết này đúng, và nó chỉ có thể đúng thôi vì không thể có giải thích nào khác cho quyết định quá sức nguy hại này, thì đây là một lần nữa Ðảng Cộng Sản Việt Nam đặt sự sống còn của chế độ lên trên sự sống còn của đất nước. Chỉ khác một điều là lần này đất nước có nguy cơ bị hủy diệt hoặc tàn lụi một cách không đảo ngược được. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn nhiều so với ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Bôxit Tây Nguyên. Chúng ta không có quyền thụ động. Chúng ta phải phản ứng và phải phản ứng thật mạnh mẽ và quyết liệt.

Có thể là chính quyền cộng sản cũng mong có một làn sóng phản kháng dữ dội để có cớ trì hoãn với các chủ nợ. Mặt khác cũng chưa quá trễ để phản ứng. Các lò điện chưa bắt đầu xây, phần lớn chỉ khởi sự trong vài năm nữa. Chúng ta còn thời giờ.

Ðiện hạt nhân là một vấn đề mang nhiều tính khoa học kỹ thuật mà quần chúng có thể không hiểu do đó trách nhiệm chính trong cuộc đấu tranh này thuộc về trí thức. Trí thức Việt Nam cho tới nay đã quá nhu nhược nhưng lần này họ không có quyền nhu nhược.

(Tháng 4 năm 2012)