Bình Luận , Quan Điểm

hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Putin gặp Obama sau khi nhậm chức

Tổng thống mới đắc cử của Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Barack Obama
nhất trí sẽ sớm gặp mặt sau khi ông Putin nhậm chức vào tháng 5 tới.

Image
Tổng thống mới đắc cử của Nga Vladimir Putin. Ảnh: RIA Novosti

"Ông Obama đã gọi cho ông Putin và thảo luận về những vấn đề chính trong quan hệ Nga-Mỹ, đồng thời nhất trí tổ chức hội đàm trực tiếp ngay sau lễ nhậm chức tổng thống của ông Putin", Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói trên đài phát thanh Kommersant của Nga hôm qua.

Cuộc điện thoại trao đổi giữa hai nhà lãnh đạo diễn ra hôm 10/3, chỉ 5 ngày sau khi Nga chính thức công bố chiến thắng của ông Putin. Ông sẽ làm lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống ở điện Kremlin vào ngày 7/5 tới.

Ông Larov cũng cho biết bất chấp những khác biệt với Mỹ về vấn đề lá chắn tên lửa châu Âu, Nga sẵn sàng để tiếp tục đối thoại về vấn đề này.

"Chúng tôi không đóng cửa nhưng chúng tôi muốn cuộc đối thoại tiếp tục diễn ra một cách chuyên nghiệp và trung thực, không né tránh các câu hỏi trực tiếp", ông nói.

Các cuộc thảo luận giữa Nga và phương Tây về hệ thống phòng thủ tên lửa do Mỹ dẫn đầu lâm vào bế tắc do phương Tây chần chừ đưa ra đảm bảo rằng kế hoạch này không ảnh hưởng đến an ninh của Nga, theo RIA Novosti. Tổng thống Nga Dmitry Medvedev trước đó cho biết ông đã chỉ thị cho chính phủ và Bộ Quốc phòng Nga thực thi mọi biện pháp cần thiết để đối phó với hệ thống tên lửa Mỹ ở châu Âu trong giai đoạn 2017-2018. Tuy nhiên, Moscow vẫn muốn duy trì đối thoại.

Nga và NATO đã đồng ý hợp tác trong vấn đề lá chắn tên lửa châu Âu trong hội nghị của Hội đồng NATO-Nga ở Lisbon tháng 11/2010. Tuy nhiên, NATO cho rằng nên thiết lập hai hệ thống trao đổi thông tin độc lập, trong khi Nga muốn hai bên có một hệ thống chung với khả năng tương tác tối đa.

Anh Ngọc
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Người Việt kỳ thị người Việt!

Khánh Hưng
Nhân đọc bài viết của một người Nhật nhận xét về người Trung Quốc mà phần bình luận đăng trên Bauxite Việt Nam có liên hệ với đặc tính của người Việt Nam hiện nay, tôi muốn góp nhặt mấy mẩu chuyện tai nghe mắt thấy sau đây.

Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói "xí bô xí ba" gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!

Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu "Việt kiều" 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người "gốc Việt" nên không có... giá cao!

Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch Tp Hồ Chí Minh, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thư ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít "Yes, sir" và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện! Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!

Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam!
Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?

Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bữa "nhậu", ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi ếch, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được hai viên cảnh sát Mỹ "hết sức lể phép, trân trọng, và nhiệt tình" giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng "Sir", tức là "ngài". Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!

Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và... không nói gì cả!

Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại ba câu chuyện:

Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật ba ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy hai cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!

Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, ... anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là "anh em XHCN" của Việt Nam mấy năm trước đây!

Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tò ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là "người Việt Nam", thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô... bán hoa mà cũng... đối với người Việt Nam như vậy!

Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe ba câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại qui cho tôi tội "theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc" thì mệt lắm!
Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?

Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là "trí thức", thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có qui định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ "da trắng' và xin được giải thích thêm. Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có hai trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người "da trắng". Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện "đẳng cấp" của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!

Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với qui định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại "đẳng cấp" man rợ! Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường "quốc tế" như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người "da trắng" của hai vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ "quí tộc" Việt vô cùng... quái đản!

Kề lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ! Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ "tha hương" – người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!

K. H.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Lời đắng của người Nhật dành cho người China
Nguyễn Văn Tuấn

Đây là một bức thư của một người Nhật gửi cho những người China lục địa. Tôi đặt tựa đề bài viết là “Lời đắng của người Nhật dành cho người China”. Người Nhật này từng là sinh viên và sống ở China vào thời kì Cách mạng Văn hoá. Trong thư có nhiều nhận xét về con người China (mà họ tự gọi là “Trung Quốc”) được người Nhật này trình bày một cách thẳng thắn, không nhân nhượng. Người Nhật này cũng nói thẳng một điều mà bất cứ ai đến Nhật cũng biết: Người Nhật rất khinh người China. Nhưng đọc xong bức thư, tôi lại nghĩ không chừng người Nhật này một cách vô ý thức đang nói với chúng ta – những người Việt Nam! Thế mới đau chứ. NVT



Nhứt châm kiến huyết (Kim châm rỉ máu), lời vàng ngọc, chúng ta cần phải thực sự kiểm thảo và phản tỉnh.
Là một người Nhật Bản, tôi có đôi điều muốn cùng các bạn chia sẻ nơi đây về cái nhìn của tôi đối với người Trung Hoa. Tôi trước kia là một du học sinh của trường đại học Trung Quốc Nhân Dân,tôi đã ngu khờ sống ở Hoa Lục đến 5-6 năm, vì vậy tôi tin rằng tôi hoàn toàn có đủ tư cách để nói lên cái nhìn của tôi.

Về địa lý, Nhật Bản và Trung Hoa rất gần nhau, nhưng mà về tính cách thì hai dân tộc lại xa nhau một trời một vực,người Hoa Lục (Trung Cộng) cho tôi cảm nhận cái ấn tượng lúc ban đầu là rất tốt, nhưng về lâu về dài, thì những khuyết điểm đều bạo lộ hết ra ngoài, người Hoa Lục nhát gan, nịnh hót, hèn yếu, hư ngụy, xảo trá, thích làm tài khôn, và cái điều làm cho tôi không thể nào lý giải được là tại sao người Hoa Lục tự đối đãi với chính đồng bào ruột thịt của họ thì rất ư là vô tình, nhưng lại đối đãi với người ngoại quốc thì họ rất khép nép và cung kính.

Lúc tôi mới vừa đến Hoa Lục, bất quá thì tôi chỉ là một tên học trò nghèo khó, ấy thế mà tôi lại được đãi ngộ như là một "siêu quốc dân", kinh nghiệm của nhiều năm ở đó, cho tôi một ấn tượng rất sâu đậm, người Hoa Lục chẳng khác nào một thao cát rời rạc, người Hoa Lục đoàn kết một lòng là có, nhưng điều đó chỉ xảy ra ở vào những thời điểm đặc biệt, tỷ dụ như dân tộc họ đang đối diện với sự diệt vong, nhưng mà đó lại cũng không phải là một sự đoàn kết triệt để nữa, người Hoa Lục đối diện với Ngoại Đấu và Nội Tranh thì hầu như nghiêng về phần Nội Tranh nhiều hơn, người Hoa Lục hận nhứt là Hán Gian. Tôi không phải là kẻ xâm lăng (đối với vấn đề xâm chiếm Trung Hoa, tôi tôn trọng lịch sử, thừa nhận đó là cái lỗi lầm của Nhật Bản), người Hoa Lục đã nuôi dưỡng các cô nhi của chúng tôi trong thời kỳ chiến tranh,thế mà họ đã nhẫn tâm tàn hại đồng bào của họ ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa (thậm chí là giữa thân tình với nhau), những điều này thật tình tôi không làm sao mà hiểu nổi, nếu không phải là người Hoa Lục thì chẳng ai có thể mà hiểu được, các bạn là người Hoa Lục các bạn làm sao lý giải, nếu như nói người Hoa Lục là lương thiện, hư ngụy việc chi, tôi thật chẳng biết đó là chuyện gì, nếu như người Hoa Lục đơn thuần không có việc nồi da xáo thịt, thì đây có thể nói là lương thiện, nhưng khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa, thì tình huống đã đổi khác, thật tình mà nói, đối với việc làm của các bạn, tôi thấy chẳng có điểm nào để gọi là cảm ơn, nếu có thì chỉ là nghi vấn và không thể nào lý giải mà thôi.

Còn nữa, tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao các bạn lại không nhận khoản tiền bồi thường sau chiến tranh của Nhật Bản,không có một dân tộc nào giống như dân tộc người Hoa Cộng đối nội thì tàn bạo, nhưng đối ngoại thì lại ẩn nhẫn. Điều này đã làm cho tôi liên tưởng đến sự quan hệ giữa Do Thái và Đức Quốc. Thật lòng mà nói tôi rất thán phục người Do Thái, thái độ không khoan thứ không nhờ vả đối với người Đức của họ, đã tỏ rõ sự trọng thị quyền lợi và giá trị tự kỷ, họ không tha thứ người Đức, nhưng người Đức rất kính trọng họ, ngược lại, tại phương Đông, hiện thực người Nhật Bản rất khinh thị người Trung Hoa, các bạn vứt bỏ bồi khoản, các bạn tha thứ chúng tôi, chúng tôi vẫn hận các bạn, khinh thị các bạn, bỉ thị các bạn, nguyên nhân không phải tại chúng tôi, mà là do bởi tự chính các bạn, các bạn tự khinh tự tiện (đê tiện), người ngoài cũng không làm sao có cách để giúp các bạn, người Hoa Lục không có huyết tính, ý khí đã bị mài cùn lụt hết rồi, cái còn lại chỉ là hơi tàn, tự ti, và ngôn ngữ của các bạn hiện là sùng bái Tây Dương với cung cách nịnh hót để làm cho Ngoại Nhân vui thích.

Các bạn tự cho là Văn Minh Cổ Quốc, nhưng ngoại trừ những kiến trúc giết người rùng rợn, những văn vật trong các viện bảo tàng, sinh hoạt của người Hoa Lục trong hiện thực, có còn lưu lại cái bóng dáng văn minh truyền thống hay không? Không sai, Nhật Bản đã từng chịu sự ảnh hưởng văn minh của Trung Hoa trong thời gian dài lâu, nhưng mà hiện tại sự bảo tồn văn hóa và duy trì được như xưa của người Hoa Lục lại chỉ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, chứ không ở Hoa Lục. Các bạn đem thành tín, tiết nghĩa, lễ nghi, tứ thư ngũ kinh coi như bốn thứ đồ phế thải mà quét vào bãi rác, tiếng nói là kiến lập một xã hội mới, có ngờ đâu lại như thế này, các bạn dĩ nhiên là thấy rõ ràng hơn chúng tôi, một đằng thì tham ô hủ bại (lời quỷ dối người của các bạn: "hủ bại là vấn đề mà các nước trên toàn thế giới đều phải đối diện"), tham bạc mê vàng, ca kỹ dâm ô, chơi chó đua ngựa, còn đằng khác thì nghèo đến nỗi cơm ăn chẳng đủ no. Làm đồ giả, Hoa Cộng không ai địch nổi, thổi phồng nói dóc, thấy lợi quên nghĩa, các bạn không có tín ngưỡng, tin chủ nghĩa Marxisme. Nếu mà Marx có biết được cái chủ nghĩa của ông ta mà là một cái xã hội như vậy, chắc là ông ta cũng phải tức chết đi thôi, tinh thần rổng tuếch, chẳng ai tin ai,thật không thể nào mà trách một cái thau cát rời rạc, người Hoa Lục hiện tại, với mức độ vô tri, ngu muội như thế nếu thụt lùi trở về ở thời của năm 1895 thì cũng chẳng tốt hơn được là bao nhiêu.

Trung Cộng là một đại quốc, nhưng mà về chính trị thì tuyệt đối là một kẻ yếu, các bạn từng trào tiếu Nhật Bản chúng tôi là chính trị ải tử (thằng lùn), nhưng mà chúng ta thử so sánh chế độ xã hội, coi xem cái xã hội nào trên thế giới ăn ngủ được ngon, xã hội chủ nghĩa chỉ còn có vài ba nước mà thôi, lại không đoàn kết, chuyên chế, độc tài, thế giới chẳng hoan nghinh, nhưng vì Trung Cộng bạn quá to lớn, cho nên được thấy là trọng yếu, nhưng các bạn vẫn luôn là đối tượng ở thế công chính trị đối với Tây phương, chưa bao giờ tự chủ động xuất kích (để cải thiện), lý do là vì các bạn không làm, nhân quyền bị thế giới lên án bao nhiêu năm? Ai đem nhân quyền là quyền sống tối đại của con người đi giáng cách (chà đạp nhân quyền)? Cách Mạng Văn Hóa, Bước Đại Nhảy Vọt, bao nhiêu cái sai lầm của chính phủ của các bạn, các ca xướng gia của các bạn vẫn hát: người dẫn đường cải cách khai phóng, dắt chúng tôi đi về hướng thời đại mới. Giờ thì không còn người dân Hoa Lục nào ngoan ngoãn, nghe theo, ở vào thời đại văn minh như ngày nay, thì cái tình huống như thế thật là hiếm có rồi.

Các bạn người Hoa Lục đang tự hủy hoại chính mình, trí tuệ của chính mình, tài nguyên của chính mình. Kinh tế Hoa Lục các bạn phát triển nhanh, cái giá phải trả có xứng đáng không? Tài nguyên khô kiệt, môi trường sinh thái bị ác hóa. Nguồn tài nguyên năng lượng tuyệt vời của tỉnh Sơn Tây của các bạn, đã bị chính các bạn hoang phí hủy hoại đến thế nào, kinh tế lạc hậu, dân sinh suy thoái, tham quan hoành hành. Các bạn có biết chăng, thời Trung Hoa Dân Quốc thống trị Hoa Lục, Sơn Tây hãy còn là một tỉnh mô phạm, các bạn cũng chẳng biết địa vị của Sơn Tây trong lịch sử Trung Hoa, kinh tế của tỉnh Sơn Tây thịnh vượng ở thời Thanh triều, một nửa số quan tể tướng ở thời nhà Đường đều xuất thân từ tỉnh Sơn Tây, địa vị của Sơn Tây cao hơn xa so với thành phố Thượng Hải mà các bạn đã từng tự hào huênh hoang khen tặng, bây giờ các bạn hãy thử nhìn Sơn Tây, là sẽ biết ngay cái gì là cái khoảng cách giữa lịch sử và hiện thực rồi (GDP bình quân đầu người Hoa Lục là số 1 từ dưới chót đếm lên). Các bạn hoang phí và hủy hoại tài nguyên như thế, giả sử như Sơn Tây được mang cho Nhật Bản, chúng tôi sẽ rất trân trọng như là tổ tiên mà cung phụng để phát triển Sơn Tây, và Sơn Tây sẽ giàu mạnh hơn nhiều so với Bắc Kinh, Thượng Hải cường thịnh mà các bạn đã từng trọng thị. Các bạn kinh tế phát triển nhanh, rồi mừng rỡ mà dùng cái quái gì là Thượng Hải, là Bắc Kinh làm cửa sổ để ngắm nhìn, ngu xuẩn quá! Hai thành phố đó chiếm diện tích Hoa Lục là bao nhiêu, dân số bao nhiêu? Các bạn trường kỳ khinh thị nông dân, 9 trăm triệu nông dân mà không chiếu cố tốt cho họ, Hoa Lục các bạn sẽ phải đối diện với đại loạn rồi đó.

Lúc ở Bắc Kinh tôi đã có nói chuyện với một bà lão người đến từ tỉnh Sơn Đông, bà là người đã dắt hai đứa con gái của bà đến Bắc Kinh để cùng bán dâm, bà nói, nhờ ở thân xác mình mà có cơm ăn, không xấu hổ đâu, có xấu hổ chăng là cái xã hội này kìa, vì hơn 40 năm trước, chính quyền sở tại đã khua chiêng gióng trống mang mấy nghìn dân bản xứ (Sơn Đông) di dân đến Tân Cương, đưa đến vùng hoang vu sơn dã, để họ tự sinh tự diệt, số người bị chết nơi đó không biết là bao nhiêu, nhưng họ vẫn không cho trở về Sơn Đông, lén trốn về Sơn Đông cũng chẳng ích gì. Chính quyền nói, họ chẳng phải là người Sơn Đông,không có hộ khẩu, mấy mươi năm lưu lạc, tìm ai để đòi công lý? Những niềm vui công trạng lớn của các bạn, mấy chục tỷ công trình nói làm là làm, chúng tôi những người bị các bạn coi là nghững người Nhật Bản "khó tính", Hoa Lục giàu, nhưng mà số người thất nghiệp lại gia tăng, thêm một người thất nghiệp là xã hội sẽ có thêm một nhân tố bất ổn định cho xã hội. Các bạn không giải quyết, thu nhập của nông dân thấp, các bạn không quan tâm, khoảng cách giàu nghèo càng xa, các bạn lại làm như là chẳng thấy gì, cái mà các bạn thích là người ngoại quốc tán dương, cái điểm này nhiều người đã thấy rất rõ, các bạn hư vinh, xa xỉ, xã hội của các bạn hỗn loạn, các bạn lại muối mặt không biết xấu hổ mà dám nói là thời của người Nhật đã hết rồi, Hoa Lục Cộng Sản đã vượt xa Hoa Kỳ rồi, ha ha, cái nhìn thiển cận!

Các bạn bất quá chỉ mới "cởi mở" hai mươi mấy năm, mà đã láo khoét như vậy, kinh tế Nhật Bản đang đình trệ, các bạn liều mạng "phát triển" mười năm vẫn không đạt được 1/4 tổng sản lượng kinh tế của Nhật Bản, vậy mà dám nói vượt xa Hoa Kỳ, chuyện thần thoại chăng? Còn nữa, tình hình thế giới không tốt cho các bạn, nhưng mà Nhật bản, nhờ vào chế độ ưu việt, người dân thật lòng, cùng với sự chân thành giúp đỡ của Tây Phương, là lý do đủ để tái phục hồi. Còn Hoa Lục bởi hình thái ý thức, chế độ, với Hoa Kỳ hoặc với các nước tự do khác không thể dung nhập cùng nhau, Hoa Lục ổn định cái gì, một khi mà xã hội hỗn loạn, kinh tế băng hoại, các nước xung quanh không có ai ủng hộ, cũng bởi vì nước của các bạn trước sau vẫn luôn cho người ta cái nhìn phản cảm. Bởi vậy Nhật Bản tuy thua trận, vẫn có cơ hội vươn lên, Hoa Lục thua, chắc chắn sẽ hoàn toàn chia năm xẻ bảy. Các quốc gia xung quanh đều mong muốn Hoa Lục như vậy, nước Nga chẳng muốn các bạn được yên, Ấn Độ hận các bạn, Đông Nam Á hận các bạn, bởi vậy hoàn cảnh của các bạn rất là tệ hại và bấp bênh, ấy thế mà các bạn vẫn chẳng hề thấy được cái nguy cơ đó, vẫn cảm giác lương hảo,như vậy rõ ràng là quá ngu muội.

Trong những sắc dân Đông Phương,chúng tôi tôn kính người Hàn Quốc, bởi vì họ và chúng tôi rất giống nhau, có máu có thịt, dám nói dám làm, lịch sử của chúng tôi và của các bạn đã từng có vấn đề va chạm nhau,người Hàn Quốc từ ông tổng thống đến quốc dân đều có thể kháng nghị, Trung Cộng thì chỉ có vài ba người phát ngôn của bộ ngoại giao với sự hiểu biết thiển cận không biết khinh trọng chỉ biết ở đó ý ý á á. Ha ha, đấy là cái sự khác biệt đó. Người Hàn Quốc hận chúng tôi, nhưng chúng tôi kính trọng người đối thủ này, bạn hận hay không hận chúng tôi, chúng tôi cảm nhận không có chuyện gì để nói, bởi vì tính cách của các bạn, phẩm hạnh của các bạn cho thế giới thấy rõ, người Hoa Lục không có tính thẳng thắn, cương trực. Hiện tôi đang suy nghĩ, không quên việc trước (lịch sử) sẽ là thầy của việc sau (tiền sự bất vong hậu sự chi sư), như vậy, cuối cùng, giữa Nhật và Hoa Cộng ai là người đã bỏ quên lịch sử?

Chúng tôi tham bái thần xã, sửa lại sách giáo khoa lịch sử, nói rõ là chúng tôi không có quên cái giai đoạn lịch sử đó, còn các bạn? Những người bị hại trong thế chiến thứ hai? Các bạn chỉ vì lo tranh chấp trong đảng phái, mà không nghĩ đến đại nghĩa của dân tộc. Nói gì đến cái chuyện trong 8 năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Trung Hoa, sách sử của các bạn viết về giai đoạn lịch sử đó so với chúng tôi sao nó quá mơ hồ không rõ ràng, là bởi vì các bạn tự bóp méo lịch sử, ha ha! (một lần nữa cho thấy rõ là nội tranh nặng hơn ngoại kháng) các bạn chửi chúng tôi là không nhìn thẳng vào vấn đề xâm lược Trung Hoa, làm thương tổn đến cảm tình người dân Hoa Lục, thế còn các bạn thì sao? Qua nhiều lần vận động "cải tổ" chính trị, các bạn đã có nhìn thẳng vào sự bức hại của mình đối với người dân hay chưa? Có nhìn thẳng vào sự hủy hoại của cách mạng văn hóa hay chưa? Các bạn cần phải trực thị với rất nhiều điều sai lầm đó, Đó là do ai (?) đã làm tổn hại cảm tình của người dân Trung Hoa vậy hở? Làm phim Tàn Sát Thành Nam Kinh, trong số các bạn lại có những người vô lương đã thốt lên là tại làm sao không có nhiều màn hiếp dâm trên ống kính.
Các bạn người Hoa lục là cái kiểu như vậy, làm sao kêu người ta chấp nhận được nhỉ, các bạn có thể không có khả năng, nhưng các bạn lại còn không cần đến nhân cách, người Mỹ đánh chúng tôi đến gần chết, chúng tôi không hận họ, chúng tôi bội phục họ, Hàn Quốc bị chúng tôi thống trị qua, bây giờ họ đã thành công lập được kỳ tích kinh tế, họ dám tranh đấu và dám làm, chúng tôi kính phục họ, còn các bạn người Hoa Lục cộng sản thì chẳng có được một cái điểm nào để cho chúng tôi coi trọng cả, hãy cố gắng phản tỉnh đi, các bạn đất rộng và giàu tài nguyên, lịch sử lâu đời, thế mà phải thua dưới tay chúng tôi, các bạn không cảm thấy xấu hổ hay sao? Một cái thau cát rời rạc sinh ra đầy chật ních đám người toàn chia rẽ, thời đại của các bạn giờ còn có thể sinh ra được những chí sĩ gì nữa hay không? Trung Hoa Dân Quốc còn có Lỗ Tấn, Thái Ngạc, Chu Tự Thanh là những người mà chúng tôi bội phục. Bây giờ các bạn ngoài những tay tham quan, hư hoa học giả, những phần tử tư tưởng khiếp hèn, thì còn có cái gì nữa đâu? Các bạn chẳng đã từng nói muốn vun bồi tài năng người bản địa để họ được làm chủ nhân của những giải thưởng hòa bình Nobel hay sao? Tại vì sao đến bây giờ vẫn chẳng có được vậy? Vụ máy siêu điện toán dùng chip Loongson của các bạn, tần số chủ mới chỉ có 266Hz (Hertz), thế mà dám lớn lối thổi phồng đòi thương nghiệp hóa, ha ha! Người Hoa Lục, chúng tôi kính phục các bạn cái gì chứ? người cùng cội rễ đồng tông Tân Gia Ba ở thời kỳ SARS cũng đã phải chế tài các bạn một lúc, sự kiện La Cương, đã làm cho người ta không làm sao hiểu nổi, hỡi những người Trung Hoa chia rẽ, người Do Thái tề tâm như thế ấy, các bạn lại phân hóa như thế này, các bạn một tỷ mấy người, một tỷ mấy cái tư tưởng rời rạc, chúng tôi một trăm triệu người Nhật Bản đều cùng nhau suy nghĩ làm sao để đưa quốc gia chúng tôi thoát ra khỏi cảnh khó khăn, tất cả chúng ta đều cùng sống trên quả địa cầu này, rõ thật thú vị lạ lùng!

*Sự kiện La Cương: Đài phát thanh tỉnh Hồ Nam,ngày 25/02/2003 lúc 0giờ 16 phút do ông La Cương phụ trách chương trình trực thoại truyền thanh, có phát đi lời nhục mạ người Hoa Lục của một thính giả người Nhật tên là Tiểu Nguyên Kính Thái Lang trong 3 phút. Kết quả là ông La Cương và một số đồng sự bị cho nghỉ việc cũng như bị phạt vạ tiền.

Địa lý & Nhân Văn & Xã Hội và Chính Trị của Trung Quốc, như thế nào?
1) Nếu Tân Cương va Tây Tạng độc lập thì Tàu chỉ còn 1 nửa
2) Nếu Hoa Nam tách ra thì Tàu chỉ còn 1/4
3) Nếu Nội Mông va Mãn châu tách ra thì Tàu chỉ còn 1/8 diện tích hiện nay

Tức là Tàu chỉ còn bằng diện tích của 3 nước Đông Dương gộp lại.

Cho nên Tàu sẽ tìm mọi cách, kể cả phải chiến tranh tận diệt với Mỹ để không bị vỡ ra từng mảnh. Vì vỡ ra có nghĩa là mộng bá chủ toàn cầu của Đại Hán sẽ tan ra mây khói.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

'Hãy bình tĩnh' với tên lửa Triều Tiên

Trung Quốc hôm nay kêu gọi các nước kiềm chế trước việc Triều Tiên sẽ phóng tên lửa để đưa một vệ tinh lên quỹ đạo vào tháng sau.

Image
Quá trình phóng tên lửa Unha-2 của Triều Tiên trong năm 2009. Ảnh: Sciforums

"Các bên nên bình tĩnh và kiềm chế để tránh không có những hành động có thể làm phức tạp vấn đề này", AFP dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói hôm nay.

Ông Hồng cho hay Bắc Kinh đã có liên lạc trực tiếp với Triều Tiên, Nga, Nhật Bản, Mỹ và các bên khác, ngay sau khi được biết về kế hoạch phóng tên lửa đưa vệ tinh lên quỹ đạo của Bình Nhưỡng.

"Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng hòa bình, ổn định trên bán đảo Triều Tiên và khu vực Đông Bắc Á là mối quan tâm chung của tất cả các bên, đồng thời cũng là trách nhiệm chung của các nước liên quan", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói.

Tuyên bố của ông Hồng được đưa ra trong bối cảnh Nhật Bản tuyên bố đang chuẩn bị các hệ thống phòng thủ tên lửa để bắn rơi tên lửa của Triều Tiên, nếu nó gây đe dọa cho nước này. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Naoki Tanaka hôm nay cho biết ông đã ra lệnh cho các quan chức sẵn sàng cho tình thế khẩn cấp, đặc biệt trong bối cảnh các nhà lãnh đạo thế giới có mặt tại Seoul để tham gia Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân lần thứ hai.

Triều Tiên hôm 16/3 tuyên bố sẽ phóng một tên lửa để đưa một vệ tinh lên quỹ đạo trong khoảng từ ngày 12 tới 16/4, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố chủ tịch Kim Nhật Thành. Mỹ, Hàn Quốc và một số nước cho rằng đây thực chất là một cuộc phóng thử tên lửa tầm xa, một động thái vốn bị cấm theo Nghị quyết 1874 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đồng thời phá vỡ thỏa thuận phi hạt nhân hóa mà Bình Nhưỡng và Washington mới đạt được.

Chương trình nguyên tử của Triều Tiên dự kiến sẽ là chủ đề trao đổi trong các phiên họp vào ngày 26 và 27/3 của Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân lần thứ hai.

Trả lời câu hỏi của phóng viên trong cuộc họp báo thường kỳ ngày hôm qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị cho biết: "Chúng tôi hết sức quan tâm tới tuyên bố mới đây của Ủy ban Khoa học Công nghệ Không gian Vũ trụ Triều Tiên về việc sẽ phóng vệ tinh Quang Minh Tinh-3".

Theo ông Nghị, Việt Nam luôn mong muốn một bán đảo Triều Tiên hòa bình, ổn định và thịnh vượng. "Trên tinh thần đó, chúng tôi nhấn mạnh tính cần thiết của việc tuân thủ nghiêm túc Nghị quyết 1874 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và mong muốn các bên liên quan có đóng góp thiết thực cho hòa bình, ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới", ông Nghị nêu rõ.

Phan Lê
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Cuộc Bầu Cử Ở Miến Điện
Nếu 30 tháng Tư năm 1975 là ngày độc tài CS Bắc Việt tàn phá nền dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa đang xây đắp trong chiến tranh ở Miền Nam, thì ngày 1 tháng Tư năm 2012 có thể là ngày người dân và chánh quyền dân sự Miến Điện xây dựng lại nền dân chủ của Miến Điện sau mấy chục năm trời bị độc tài quân phiệt làm tan nát.

Tin mới đây, vào ngày 21/03/2012, chánh quyền Miến Điện mời các quan sát viên đến theo dõi cuộc bầu cử bỗ túc ở Miến Điện, vào ngày 1 tháng Tư sắp tới đây. Theo một nhân viên chánh phủ ẩn danh cho biết lời mời đó “bao gồm các quan sát viên của ASEAN, Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc». Cuộc bầu cử này mang rất nhiều ý nghĩa.

Một, đối với chánh quyền Miến Điện, Chánh quyền Miến Điện muốn chứng tỏ cho quốc tế thấy cuộc bầu cử này là một cố gắng, một quyết tâm và một bước tiến trong tiến trình cải cách chánh trị theo hướng dân chủ của chánh quyền Miến Điện. Tổ chức một cuộc bầu cử tự do, công bằng và minh bạch là tiêu chí căn bản của nền dân chủ.

Chánh quyền Miến Điện biết đó là mối quan tâm hàng dầu của các siêu cường Tây Phương. Đó là điều kiện để quốc tế tăng cường ủng hộ các cải cách do tổng thống Thein Sein đã hứa và đang thực hiện. Đó cũng là điều kiện cần và đủ để quốc tế nhứt là Tây Âu, Bắc Mỹ khuyến khích, giúp đỡ, nối lại bang giao, giao thương, gỡ cấm vận từng phần cho Miến Điện, trừ Trung Cộng.

Trung Cộng thấy mình bị sẩy con mồi, sau khi Miến Điện hủy bỏ một hợp đồng xây đập thủy điện giá hàng mấy tỷ do TC cho vay vốn và xây dựng. Miến điện sợ theo kế họach chung bành trướng TC sẽ đưa người từ bên Tàu qua lập xóm làng, chùa Ông Bổn, chùa Bà Thiên Hậu, trường học dạy tiếng Tàu, lấy vợ địa phương, biến khu vực công trình như làng xóm TC.

Cuộc bầu cử này Mỹ rất chú ý. Mỹ theo dõi sát sao, đánh giá cuộc bầu cử dựa vào thực tiễn tình hình chánh quyền cư xử với phe đối lập trong suốt cuộc bầu cử, giai đọan ghi danh, nạp và xét hồ sơ ứng cử, vận động tranh cử hơn là chỉ chú ý quan sát ngày bầu cử không thôi.

Còn CS Hà nội bản chất độc tài đảng trị tòan diện, trước cao trào giúp đỡ dân chủ hóa cho Miến Điện, cũng phải bóp bụng ca ngợi ý chí và quyết tâm dân chủ hóa của chánh quyền Miến Điện. Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng khi dự hội nghị ASEAN khen ngợi tiến trình dân chủ hóa của Miến Điện để chứng tỏ chế độ CS Hà nội cũng tôn trọng giá trị dân chủ và tỏ ra đàn anh của Miến Điện. Miến điện thì cũng muốn gần gũi với VNCS để hóa giải áp lực của TC đối với Miến Điện mình. Trước bầu cử có chuyến viếng thăm chánh thức VN của người lãnh đạo Miến Điện.

Hai, đối với lực lương đối lập và đối kháng của Miến Điện, chánh quyền muốn chứng tỏ hòa giải dân tộc, chấp nhận đối lập xây dựng. Ngưng chiến và hòa đàm với sắc tộc chống nhà cầm quyền Miến Điện bằng du kích chiến lâu đời.Trả tự do cho những nhà đối lập chánh trị, cho tự do họat động chánh trị một cách có chừng mực như đối với Bà Aung San Suu Kyi và chánh đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ. Cho báo chí có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Cho một số cơ quan truyên thông của Miến Điện hải ngọai về Miến Điện hành nghề.

Còn đối lập đáp ứng rất hiểu biết và xây dựng. Như Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ cử người ra ứng cử và chính Bà Aung San Suu Kyi cũng ra ứng cử để chứng tỏ tinh thần đòan kết, tạo nội lực dân tộc, giải tỏa cấm vận của quốc tế để phục vụ quốc gia dân tộc, để thóat khỏi tình trạng chậm tiến và lệ thuộc Trung Cộng. Bà cũng bác bỏ ý nghĩ quá khích đòi phải kết tội những nhà quân phiệt đã hại dân, bằng cách chủ trương để quá khứ ra sau, hướng về tương lai phía trước để cùng xây dựng.

Cá nhân Bà Aung San Suu Kyi chọn một vùng nông thôn hẻo lánh, đói nghèo để ứng cử. Bà kêu gọi đồng bào «không sợ hãi» nữa, cùng nhau đòan kết dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền, tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo, như chương trình vi tín dụng chẳng hạn. Đồng bào của Bà ở vùng nông thôn hẻo lánh có thể quan tâm chánh trị nhưng tin yêu Bà như một phụ nữ hoa sen, ủng hộ Bà triệt để.

Ba, đối lập Miến Điện không cầu toàn, không nóng vội. Phe đối lập vận động tranh cử có nơi trong «những điều kiện không công bằng», danh sách cử tri sai lệch, có nhiều bất hợp lệ về nguồn tài chính tranh cử. Nhưng phát ngôn viên của Liên đoàn nhận định số đơn khiếu nại, tố giác được chánh quyền chú ý, xem xét, sửa chữa. Hỏi mấy chục năm sống trong độc tài, chánh quyền địa phương làm sao thay da đổi thịt trong một tháng một ngày được. Phải thông cảm, đời là tương đối, chánh trị lại càng tương đối hơn..

Ngay với quốc hội hiện tại, ngay khi đối lập thắng cử hết trong 48 ghế bầu điền khuyết, thì quốc hội cũng chưa được thực sự dân chủ. Cuộc bầu cử bổ sung này bầu người vào 48 ghế trống, trong đó có 40 ghế ở Hạ viện. Trong cuộc bầu hồi năm 2010, chánh quyền hiện tại do Đảng Đoàn kết và Phát triển Liên hiệp - USDP, do giới tướng lãnh lập ra lúc cầm quyền đã cơ cấu nắm thế đa số tuyệt đối rồi. Theo Hiến Pháp qui định Quân đội đương chiếm 25% tổng số nghị sĩ; cuộc bầu cử hồi tháng 11/2010, đảng USDP cầm quyền thân chánh phủ đã chiếm đa số áp đảo, 80%, tại Nghị viện Miến Điện. Dù đòan kết thế mấy, khéo léo thỏa hiệp và liên kết thế mấy. đối lập cũng khó đủ túc số để ảnh hưởng việc làm luật.

Bốn và cuối cùng, đối lập vẫn tạo được chỗ đứng, cái thế và tiếng nói trong chánh quyền. Để từ đó - đối nội - đánh động tinh thần dân chủ của dân chúng, giải tỏa nỗi sợ độc tài khó rời trong người dân. Và đối ngọai vận động các nước giúp đỡ kinh tế, chánh trị cho Miến Điện, như một quốc gia dân chủ mới thóat nạn độc tài. Một điểm rất quan trọng mà chánh quyên và nhân dân đều thấy từ lâu quân phiệt đi với TC là bị lệ thuộc, thiệt hại quá nhiều và còn bị thế giới Tự do áp lực mạnh nên mới hướng về dân chủ, tự do để tạo nội lực dân tộc để phát triễn và được quốc tế giúp đỡ vươn lên.
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

CS Không Thể Thay Đổi

Tác giả : Vi Anh
Cộng sản là chế độ chỉ có thể thay thế mà không thể thay đổi được. Đó là đại ý lời của Ông Boris Yeltsin, người đã cầm đầu cuộc lật đổ chế độ CS Liên bang sô viết. Và dân chúng các nước Đông Âu, Ba lan, Hung gia lợi, Lổ ma ni, Đông Đức cũng đã chứng minh bằng những cuộc cách mạng lật đổ, phế bỏ các chế độ CS để thay thế bằng chế độ tự do, dân chủ giúp cho dân giàu nước mạnh hơn.

Gần đây, đặc biệt trước đại hội đảng CS, một số cán bộ đảng viên đang cầm đầu chế độ CS ở Việt Nam và ở Trung Quốc đã thấy tình hình thậm chí nguy cho Đảng có kêu gào chỉnh đốn Đảng, thay đổi chính sách của Đảng để tránh một cuộc đổ vỡ, bị lọai trừ và bị thay thế.

Như trong chế độ CS ở VN, Ông Trương tấn Sang người nắm ban bí thư trung ương Đảng lo công tác nội bộ của Đảng nhiều năm, nằm lâu trong chăn biết rõ chăn quá nhiều rận. Khi Ông được Đảng sắp xếp cho ra lên làm Chủ Tịch Nước, trước đại hội đảng Ông tuyên bố rất nhiều về những hư hại của Đảng CSVN để cho thấy nhu cầu cần phải thay đổi. Ông Sang nói không phải một con sâu mà cả một bầy sâu trong đảng.

Ông Sang là người Nam dân Đức Hòa, quê hương của khóm Bến Lức, ắt phải biết câu tục ngữ VN “một con sâu làm rầu nồi canh”. Người Việt chỉ cần thấy một con sâu trong nồi,trong tô thì đổ bỏ hết cả nồi cả tô. Còn Đảng CSVN như Ông Sang thấy và nói có cả bầy sâu trong đảng thì vứt bỏ nó đi, chớ để làm gì nữa, mắc ụa, mắc ói.

Như trong chế độ CS ở Trung Quốc, Ô. Tập cận Bình, một “hòang tử Đỏ”, nhiều năm làm Phó Chủ Tịch Nước, là người được Đảng sắp xếp lên làm Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quân Ủy trung ương, sắp nắm tòan bộ chánh quyền, đảng quyền, quân quyền thay cho Ông Hồ cẩm Đào. Theo thông tấn xã Reuters, Ông Tập cận Bình cũng nói ở Trường Đảng vào ngày 16 tháng 3, rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay là nơi tập trung của thành phần thối nát, giá áo túi cơm cần phải trong sạch hóa.

Cũng vậy mới đây, Thủ Tướng TC Ôn gia Bảo sắp hết nhiệm kỳ, trước khóa họp Quốc Hội chót mà Ông tham dự, vào ngày 14-3-2012, Ông Thủ Tướng này nói, nếu Trung Quốc không sớm thay đổi các chính sách về chính trị, sẽ lặp lại cuộc Cách mạng Văn Hóa, cuộc cách mạng đã giết chết hơn hai chục triệu dân Trung Quốc trong thập niên 60-70.

Hầu hết các lãnh đạo Đảng Nhà Nước CS trước đại hội Đảng thì oang oang chê trách những thành phần hủ hóa, những thói hư, tật xấu trong đảng và gân cổ kêu gào thay đổi. Nhưng người quyết tâm thay đổi thì bị thanh trừng vì đụng chạm phe phái khác. Thí dụ điển hình là trường họp hai cán bộ đảng viên cầm đầu Đảng Nhà Nước CS ở Trùng Khách bị lọai trừ vì đã mở cuộc chiến chống tập đòan đảng viên, cán bộ CS và những người ăn theo hành động những tội phạm có tổ chức như mafia trong tỉnh.

Ông Bạc Hy Lai là Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh một thành phố trực thuộc trung ương, mô hình “phát triển điển hình tiên tiến” và cai quản bởi Bộ chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc. Và Ông Vương Lập Quân là người chỉ huy lãnh đạo công an của thành phố Trùng Khánh. Hai Ông này đã thực sự mở cuộc chiến tranh chống mafia tại Trùng Khánh. Dân chúng rất hoan nghinh vì tập đòan mafia này đã làm giàu trên mồ hôi, nước mắt, tài sản hiếm hoi của người dân và tài nguyên của địa phương, qua việc trưng dụng đất đai của dân, bồi thường rẻ mạt như cướp giựt và đem bán hay hùn với ngọai quốc giá cao gấp 40 lần hơn.

Thế mà chẳng những Đảng CS ở trên không tiếp tay như lời tuyên bố làm sạch Đảng mà còn triệt hạ người trừ gian diệt ác trong Đảng. Ông Vương Lập Quân bị nặc lịnh ở trên “điểu” qua làm Phó Chủ Tịch Ủy Ban lo về giáo dục, nhưng không yên. Ông còn bị triệt hạ nữa đến đổi Ông phải vào sứ quán của Mỹ xin tỵ nạn chánh trị. Nhưng Đảng cho công an bao sứ quán Mỹ như vây đồn địch và buộc sứ quán phải cho Ông ấy ra và bị bắt đem về điều tra.Còn Ông Bạc Hy Lai được dân Trùng Khánh coi là người hùng trừ gian diệt ác, dân chúng rất ngưỡng mộ thì chẳng những không được đề bạc vào Bộ Chánh trị mà Bộ này còn buộc Ông Bạc Hy Lai thôi việc, cất chức Bí thư thành ủy Trùng Khánh của ông.

Điều đáng lưu ý là lãnh đạo đảng CS nói thói hư tật xấu, và cán bộ đảng viên hư hỏng, thường xảy ra trong hai cơ hội. Một là khi về hưu, hết quyền hành. Như Ông Tướng Võ nguyên Giáp, Thủ Tướng Võ văn Kiệt thời nắm quyền còn bảo hòang CS hơn vua, đến khi hết thời thì nói theo dân. Có người cho những Ông này làm thế là để xì sú páp bất mãn của dân giúp cho Đảng.

Thứ hai là phe phái đấu đá nhau, triệt hạ nhau, thanh trừng nhau, phe mạnh đổ tội hủ bại của đảng và đảng viên cho phe kia để triệt hạ đối thủ. Nhưng trong kỳ này người ta thấy Ông Sang của VN, Ông Bình của TC là hai người sắp lên và Ông Bảo đang tại chức vẫn nói những hư đốn của đang, của đảng viên, kêu gào cải tổ.

Mà nhìn kỹ, xét cho cùng kỳ lý, không thấy Ông nào từ ông hưu đến ông tại chức hay sắp lên chức có ông nào đưa ra đường lối, kế họach, chương trình, cải tổ thế nào, trừng trị cụ thể ra sao.

Vì hơn ai hết những vị này biết chỉnh đốn đảng thì còn ai đâu mà làm việc. Chỉnh đốn làm sao được vì CS là hiện thân của sự thất bại. Thất bại của các chế độ CS Liên xô và Đông Âu là chứng minh, bằng cớ cụ thể. Đảng CS tự nó là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng, quan liêu, cửa quyền vì bản chất Đảng CS là độc tài, đảng tri tòan diện; quyền hành mà không giám sát, không ngăn chận thì quyền hành sẽ hư họai, hủ hóa.

Người dân bị trị không tin Đảng CS thay đổi. Người dân bị trị chỉ muốn thay thế CS bằng thể chế tự do, dân chủ, như ở các nước CS Đông Âu và liên bang sô viết mà cả thế giới đã thấy khi CS Âu châu và Nga bị dân chúng lật đổ, thí những nước này dần dần khá hơn.

Trong khi đó hai chế độ CS lớn ở Á châu là Trung Cộng và Việt Cộng thay đổi chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chỉ có CS được hưởng thôi. CS thành tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn. Kinh tế có tăng gia nhờ đầu tư của ngọai quốc cấu kết với cán bộ đảng viên và bọn ăn theo CS mới giàu, bóc lột sức lao động, đất đai của người dân.

Gần đây một kết quả thăm dò ở TC cho thấy 63% người dân Trung Quốc muốn thể chế dân chủ Tây phương. Cuộc thăm dò này do tờ Hoàn Cầu Thời Báo thuộc sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản Trung Quốc thực hiện. Báo Liberation dù là tờ báo thiên tả của Pháp cũng nhận định tính độc đáo của cuộc thăm dò. Cuộc thăm dò xảy ra khi các phe phái CS đấu đá nhau giành quyền chức, phe này cho làm để đổ tội cho phe kia. Nhờ thế báo của Đảng Nhà Nước CS mới đăng 63% người dân Trung Quốc muốn thể chế dân chủ Tây phương và hơn 49% đang chờ đợi một cuộc cách mạng mới./.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Biển Đông: Bất Thường

Tác giả : Trần Khải
Những diễn biến ở Biển Đông vẫn như dường khó hiểu và đầy dấu hiệu bất thường...

Bỗng nhiên có 2 tàu Trung Quốc đột nhập vịnh Nha Trang, chỉ nói là hoạt động trái phép, mà không nói là hoạt động gì... Thế là bị Hải Quân VN bắt giữ. Có điều để suy nghĩ: có thể nào trao đổi nhóm thủy thủ trên 2 taù TQ này với 2 tàu cá và 21 ngư dân Việt đang bị TQ bắt cóc và đòi chuộc mạng với giá 11 ngàn đôla hay không?

Chưa có câu trả lời cụ thể. Nhưng có vẻ rằng 2 tàu TQ vào biển VN là nhằm do thám, vẽ bản đồ, hay là công tác tình báo ven biển gì đấy... Bởi vì nhóm 9 thuyền viên TQ đều có visa nhập cảnh VN bằng đường bộ...

Báo Thanh Niên hôm 27-3-2012 cho biết là “Chưa thể xử lý 2 tàu Trung Quốc xâm nhập trái phép.”

Bản tin viết:

“Thanh Niên ngày 25.3 đã đưa tin về vụ tạm giữ 2 tàu Trung Quốc hoạt động trái phép tại đảo Hòn Tre, vịnh Nha Trang ngày 23.3. Ngày 26.3, đại tá Nguyễn Đức Phúc - Phó chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Biên phòng tỉnh Khánh Hòa - cho biết thêm, thủy thủ đoàn khai được chủ tàu là người Trung Quốc thuê, họ không rõ nguồn gốc tàu.

Chủ tàu nói sẽ đến Nha Trang để giải quyết vụ việc trong nay mai và thừa nhận sai phạm vì đưa tàu vào VN mà không xin phép, đồng thời xin nộp phạt để được tiếp tục hành trình.

Hiện cơ quan chức năng vẫn chưa tiếp cận bản gốc hồ sơ tàu nên chưa thể xác định chính thức nguồn gốc tàu để xử lý tiếp.”
Một điểm để suy nghĩ: tuy rằng Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ phản đối và đòi thả ngư dân Việt, nhưng Hội Nghề cá Việt Nam đòi nhiều hơn, rằng yêu cầu 'Trung Quốc phải bồi thường cho ngư dân Việt Nam'...

Thông tấn VNExpress kể rằng:

“...Ông Trần Cao Mưu, Phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Nghề cá Việt Nam nêu rõ quan điểm: "Hội Nghề cá kịch liệt phản đối các hành động bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam hoạt động nghề cá tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc phải thả người và tàu vô điều kiện, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ngư dân, tàu cá Việt Nam".

Ông Mưu đề nghị phía Trung Quốc cần chấm dứt ngay, không để tái diễn việc bắt giữ, cản trở ngư dân hành nghề tại các vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam...”

Nếu chúng ta nhớ rằng, trước giờ TQ không bồi thường gì hết, dù đã xảy ra biết bao nhiêu chuyện bắt giam, đòi chuộc mấy năm qua. Tại sao bây giờ Hội Nghề Cá VN cứng rắn? Hay chỉ là trình diễn?

Không chỉ dòm ngó VN, TQ cũng liên tục dòm ngó Phi Luật Tân. Mấy hôm trước, nhà nước Bắc Kinh phản đối nhà nước Hà Nội vụ đưa 6 nhà sư Việt Nam ra các chùa ở quần đảo Trường Sa, và gần như cùng lúc TQ phản đối kế hoạch của Phi Luật Tân dự tính xây một cầu tàu ven biển trên đảo Kalayaan cũng thuộc Biển Đông, mà Manila gọi là Biển Tây Phi.

Hôm Thứ Năm tuần trước, phát ngôn nhân Hong Lei của Bộ Ngoại Giao TQ cho rằng việc Phi xây cất trên vùng thuôc quần đảo Nansha (tức Trường Sa) là vi phạm chủ quyền TQ.

Cần nhớ rằng, đảo Kalayaan là nơi có 70 gia đình Phi Luật Tân cư ngụ, sinh sống từ lâu, và là thuộc về huyện hành chánh Palawan. Nói như thế để thấy TQ ngang ngược cỡ nào, cũng y hệt như ngang nhiên chiếm đảo Hoàng Sa của VN năm xưa.

Không chỉ hù dọa nước nhỏ, TQ cũng hù dọa cả nước lớn như Ấn Độ. Trung Quốc đã chính thức yêu cầu Ấn Độ ngưng thăm dò và khai thác dầu trong các lô của Việt Nam ngoàì Biển Đông, theo tin từ báo Times of India hôm Chủ Nhật 25-3-2012.

Sun Weidong, Phó Tổng Giám Đốc Châu Á Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao TQ, nói rằng vùng biển có dầu đó là vùng tranh chấp. Do vậy chúng tôi không nghĩ là thuận lợi cho Ấn Độ thăm dò dầu nơi đó.”

Họ Sun nói chủ quyền của các đaỏ trong vùng là một vấn đề lớn, và Ấn Độ đừng nên thăm dò dầu cho tới khi có một giải pháp cho vùng tranh chấp.

Khi được phóng viên hỏi vì sao TQ chống dự án Ấn Độ khai thác dầu ở biển VN, trong khi các công ty TQ đang làm các dự án hạ tầng trong vùng Kashmir do quân Pakistan chiếm đóng, họ Sun nói 2 vấn đề này khác nhau hoàn toàn.”

Sóng gió hiển nhiên là thấy rõ ở Biển Đông.

Trong khi ngư dân Việt bị tàu TQ chận bắt, thì tàu TQ vào biển VN hoàn toàn không phải là để mưu sinh hay lưới cá. Vấn đề là một cuộc chiến tình báo ven biển đang diễn ra.

Những dấu hiệu bất thường đang thấy rõ, bất kể cái gọi là tình thân anh em xã hội chủ nghĩa... chăng ai tin.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Giáo hoàng gặp kín Raul Castro

Image
Cuba kỷ niệm 400 năm tượng Đức Mẹ Bác Ái dạt vào bờ biển

Đức Giáo hoàng Benedict XVI đã gặp Chủ tịch Cuba Raul Castro trong ngày thứ hai Ngài đến thăm quốc đảo cộng sản này.

Trong lúc đó cũng có những thông tin rằng Ngài cũng sẽ gặp anh trai Chủ tịch Raul là cựu Chủ tịch Fidel Castro.

Sau khi đến Havana, Giáo hoàng đã cầu nguyện trước tượng của vị thánh bảo trợ của Cuba. Ngài nói với các tín đồ rằng Ngài cầu nguyện cho một nước Cuba ‘tiến về phía trước trên con đường đổi mới và hy vọng’.

Giới chức Cuba đã nhấn mạnh rằng cải cách chính trị không nằm trong chương trình nghị sự của chuyến thăm này.

Marino Murillo, một trong số các phó chủ tịch của Raul và ‘tư lệnh kinh tế’ phụ trách tự do hóa nền kinh tế, nói với các nhà báo rằng chính phủ đang đổi mới mô hình kinh tế Cuba để giúp cho chế độ xã hội nghĩa ở nước này bền vững.

‘Không cải cách chính trị’

“Không có cải cách chính trị nào ở Cuba cả,” vị phó chủ tịch này nói.

Chuyến thăm của Giáo hoàng đánh dấu kỷ niệm 400 năm phát hiện bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Bác Ái (Virgin of Charity of El Cobre) vốn được một ngư dân nhìn thấy đang trôi nổi trên vịnh. Bức tượng này sau đó đã được các anh hùng trong cuộc chiến giành độc lập của Cuba tôn thờ.


"Tôi đã gửi gắm đến Đức Mẹ tương lai của đất nước này – sẽ tiến về phía trước trên con đường đổi mới và hy vọng – vì lợi ích của toàn thể nhân dân Cuba."
Image
Giáo hoàng Benedict 16
Giáo hoàng Benedict XVI quỳ trước bức tượng gỗ trong một vài phút. Ngài cho biết Ngài đã cầu nguyện cho những người ‘đau khổ’ và ‘bị tước đoạt quyền tự do’.

“Tôi đã gửi gắm đến Đức Mẹ tương lai của đất nước này – sẽ tiến về phía trước trên con đường đổi mới và hy vọng – vì lợi ích của toàn thể nhân dân Cuba,” Ngài nói.

Sau đó, Giáo hoàng đã có cuộc gặp kín kéo dài một tiếng đồng hồ với lãnh đạo của quốc gia cộng sản này.

Không ai biết gì về nội dung cuộc nói chuyện kín giữa Giáo hoàng và Chủ tịch Cuba

Không có chi tiết nào được loan báo về nội dung cuộc gặp này nhưng các hình ảnh truyền hình cho thấy Raul Castro chào đón Giáo hoàng tại Dinh cách mạng và sau đó tiễn Ngài ra.

Phóng viên BBC Sarah Rainsford ở Havana cho biết thay đổi và mở cửa đang nổi lên là các chủ đề chính của chuyến thăm của Giáo hoàng đến quốc gia độc đảng này – nơi các giáo dân Công giáo hiện đang chiếm 10% dân số.

Các nhà quan sát nhận xét quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Nhà nước đã ấm lên trong những năm gần đây ở Cuba.

Chủ tịch Raul Castro đã chấp nhận vai trò trung gian của Giáo hội trong các vấn đề như tù nhân chính trị và thừa nhận vai trò của Giáo hội là tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất bên ngoài Nhà nước cộng sản.

Phóng viên BBC cho biết nếu Giáo hoàng Benedict XVI thật sự gặp Fidel Castro thì đó sẽ là thêm một cơ hội tốt để thảo luận về tiến trình cải cách ở Cuba. Giáo hoàng đã nói Giáo hội sẵn sàng giúp đỡ thực hiện các cải cách này.

Từ Havana, phóng viên BBC Ian Pannell cho biết người dân ở đảo quốc này rất hào hứng với chuyến thăm của Giáo hoàng và hy vọng rằng chuyến thăm này sẽ dẫn đến nhiều thay đổi hơn nữa ở đất nước này.

“Đối với đa số người dân Cuba thì chuyện thế gian chứ không phải việc của Chúa Trời mới là mối bận tâm hàng ngày của họ – làm sao để kiếm đủ tiền để sống qua ngày” ông nói.

bbc
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Medical cũng ra tòa

Ngô Nhân Dụng

Dù quý vị không phải người Mỹ, vụ Tối Cao Pháp Viện Mỹ xử về đạo luật cải tổ y tế cũng đáng theo dõi. Vì muốn hiểu chế độ tự do dân chủ thì một cách hay nhất là xem hệ thống tư pháp độc lập của một nước dân chủ hoạt động như thế nào.

Như đã tường trình trong bài trước, 9 vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện đang nghe lập luận của luật sư của 26 tiểu bang và một hội tư doanh đứng thưa kiện, và luật sư của chính phủ Obama trong ba ngày liền. Ngày Thứ Hai 25 Tháng Ba 2012 không sôi nổi lắm, vì bên nguyên và bên bị đều đồng ý vấn đề chính trước tòa là cần xét xử ngay, không nên trì hoãn. Ngày Thứ Ba đáng chú ý nhất, vì câu hỏi quan trọng nhất được nêu ra: Ðạo luật Y tế có vi hiến hay không? Nói rõ hơn, điều khoản bắt buộc mọi người Mỹ phải có bảo hiểm y tế có vượt quá quyền hạn của Quốc Hội liên bang, tức là chính phủ liên bang, được ấn định qua “điều khoản về thương mại” (commerce clause) trong hiến pháp Mỹ hay không? Sang hôm nay, Thứ Tư 28 Tháng Ba, Tòa Án Tối Cao sẽ nghe các lý lẽ về những điều khoản mở rộng chương trình Y tế giúp người nghèo (Medicaid, ở California gọi là Medical). Trong hai ngày chót này, hai bên nguyên, bên bị sẽ đưa ra các lý lẽ quan trọng nhất, quyết định số phận của luật Cải tổ Y tế, một thành tích của chính quyền Obama trong hai năm đầu nhiệm kỳ.

Mặc dù có những cuộc biểu tình trước cửa Tối Cao Pháp Viện Mỹ từ cuối tuần cho đến hôm nay, với những người chống cũng như ủng hộ đạo luật, nhưng đó là hoạt động bình thường trong xã hội Mỹ. Ðiều đáng quan sát nhất là ở trong tòa án, phải lắng nghe các câu hỏi và ý kiến của các thẩm phán tối cao biểu lộ trong lúc đặt câu hỏi cho luật sư hai bên; vô tình có thể để lộ ý kiến của chính họ. Dân Mỹ rất kính trọng Tối Cao Pháp Viện, không gọi quý vị này là “judge” (thẩm phán, quan tòa) như bình thường, mà gọi là “justice” (thẩm phán tối cao, cũng có nghĩa là công lý). Mặc dù 5 vị thẩm phán tối cao hiện nay do các cựu tổng thống Cộng Hòa bổ nhiệm, không ai nghĩ là quý vị đó sẽ phán xét theo tinh thần đảng phái. Chính quyền Obama (đảng Dân Chủ) cũng không lo sẽ chỉ có 4 vị thẩm phán tối cao thiểu số cùng quan điểm với họ; mà hy vọng sẽ được thêm một, hai vị khác đồng ý việc giữ lại đạo luật.

Các thẩm phán tối cao không quan tâm đến ý nghĩa, hậu quả chính trị của một đạo luật, mà chỉ xét xem nó có đúng với sự phân chia quyền hành trong hiến pháp nước Mỹ hay không. Ở đây là vấn đề phân quyền giữa chính quyền liên bang (chính phủ cùng với Quốc Hội liên bang) và các tiểu bang; như viết trong “điều khoản về thương mại”. Phán quyết sau cùng sẽ tùy vào cách các vị thẩm phán tối cao hiểu “commerce clause” theo nghĩa rộng tới đâu, hay hẹp như thế nào.

Phía phản đối đạo luật lý luận rằng bắt buộc mọi người đều phải mua bảo hiểm không phải là một hành động “điều tiết thị trường” như hiến pháp cho phép. Ðó là “bắt buộc” người ta phải mua một thứ dù họ muốn hay không! Chính phủ có quyền bắt mọi người phải mua giầy, hay mua xe hơi không? Bên chính phủ cãi lại: Ðạo luật này không bắt buộc ai phải tham dự vào thị trường (bảo hiểm y tế) bởi vì tất cả mọi người ở Mỹ đều ở trong thị trường y tế, dù sớm hay muộn. Mỗi năm nước Mỹ chi 2,600 tỷ đô la về y tế, chiếm 18% tổng sản lượng nội địa. Tính bình quân, một người Mỹ chi 8,400 đô la về y tế một năm. Các bệnh viện chi hàng chục tỷ đô la một năm để chữa trị những người không có bảo hiểm. Bắt buộc ai cũng phải có bảo hiểm sẽ làm cho thị trường công bằng hơn!

Ngày hôm qua, Thứ Ba, các thẩm phán tối cao đặt những câu hỏi gắt gao cho luật sư cả hai bên. Ông Stephen Breyer, các bà Ruth Bader Ginsburg, Sonia Sotomayor and Elena Kagan (đều do các tổng thống Dân Chủ đề cử) cho thấy họ nghĩ “bảo hiểm bắt buộc” không vượt ra ngoài phạm vi của “điều khoản thương mại” trong hiến pháp. Trong số năm vị khác, hai người tỏ ý nghi ngờ là các ông Antonin Scalia và Samuel Alito. Ông Scalia nói với luật sư của chính phủ Obama: “Thế thì quyền hành của Quốc Hội và chính phủ liên bang có còn giới hạn nào không? Hay là vô giới hạn?” Ông Clarence Thomas xưa nay vẫn quan niệm quyền hạn của chính phủ liên bang rất hẹp, thế nào ông cũng phán đạo luật Y tế đã vi phạm hiến pháp; hôm qua ông không đặt câu hỏi nào cả (hơn sáu năm nay ông vẫn như vậy trong tất cả các phiên tòa). Hai vị được chú ý nhất là hai ông John Roberts và Anthony Kennedy, cả hai đều do các tổng thống Cộng Hòa đề cử; nhưng chính quyền Obama hy vọng họ sẽ không thấy đạo luật Y tế là vi hiến.

Ông Kennedy tỏ ý lo ngại quyền hạn của chính phủ mở ra quá rộng, sẽ thay đổi mối tương quan giữa người cai trị và người dân một cách nặng nề. Nhưng ông cũng nhận xét rằng những người trẻ tuổi không chịu trả tiền mua bảo hiểm y tế sau cùng cũng vẫn được chữa trị. Ông Roberts tỏ ý lo ngại Quốc Hội xen vào các cuộc trao đổi thương mại giữa các cá nhân, khi một bên muốn rút ra không trao đổi nữa. Những ý kiến trên đây khiến cả hai bên đều đoán hai vị thẩm phán tối cao này có thể sẽ nghiêng về phía mình. Cho nên, mọi người sẽ phải đợi đến Tháng Sáu, coi các đa số quan tòa tối cao nghĩ ra sao!

Ngày hôm nay, Thứ Tư, luật sư hai bên sẽ trình bày luận cứ về một vấn đề tiêu biểu về vấn đề phân quyền giữa chính quyền liên bang và các tiểu bang, liên can đến chương trình Medicaid (Medical ở California). Không ai phản đối việc đạo luật Y tế sẽ mở rộng chương trình này, vào năm 2014; nhưng các nguyên đơn xin Tối Cao Pháp Viện phán các điều khoản trong đạo luật “cưỡng ép” các tiểu bang phải mở rộng là vi hiến. Vì theo đạo luật Y tế của chính phủ Obama, những tiểu bang không áp dụng sẽ “bị phạt,” không được trợ cấp nữa.

Một chuyện rất dễ hiểu ở nước Mỹ: Ðồng tiền có áp lực. Dọa cắt trợ cấp có nghĩa là “ép buộc.” Trong nước Mỹ có 60 triệu người hưởng Medicaid, Medical; họ gồm các gia đình nghèo đông con, những người khuyết tật, nhiều cụ già trong nhà dưỡng lão, phụ nữ nghèo mang thai, vân vân. Với đạo luật của ông Obama sẽ có thêm 15 triệu người nữa được hưởng Medicaid, Medical. Số tiền chi cho mỗi người sẽ lên tới 15,400 đô la một năm!

Chính phủ liên bang chi 60% cho các chương trình Medicaid, Medical. Nhưng số còn lại mà các tiểu bang phải chi cũng là một gánh nặng cho ngân sách của họ, California là một thí dụ điển hình. Tiểu bang có thể giảm số cảnh sát, bớt số giáo viên, nhưng tiền chi cho Medical thì không bỏ được. Nếu mở rộng thêm cho nhiều người, làm sao cân bằng ngân sách?

Vì vậy, một số tiểu bang đã kiện đạo luật Y tế, vì “cưỡng chế” họ phải mở rộng Medicaid, nếu không thì sẽ mất luôn số tiền trợ cấp vẫn nhận được từ liên bang.

Cuối cùng, các thẩm phán tối cao sẽ phán điều trên có phải là “liên bang cưỡng chế các tiểu bang,” vi phạm sự phân quyền trong hiến pháp hay không?

Một điều đáng chú ý là trong tất cả các lần đạo luật Y tế bị ra tòa trước đây, ở các tòa dưới không quan tòa nào coi là đạo luật đó vi hiến. Thẩm Phán Roger Vinson ở Pensacola, Florida, người duy nhất đã phán đạo luật này vi phạm điều khoản thương mại, cũng bác bỏ đơn kiện về Medicaid. Trong hiến pháp không có điều nào cấm chính phủ liên bang dùng áp lực đồng tiền để buộc các tiểu bang nhận tiền phải theo chương trình của mình. Thẩm Phán Winson nói, “Vào lúc viết bản hiến pháp, các vị quốc phụ không bao giờ nghĩ được là có lúc chính phủ liên bang lại có nhiều tiền như bây giờ để mà cấp cho các tiểu bang, rồi dùng tiền làm áp lực.”

Vì vậy, chính phủ Obama đang hy vọng Tối Cao Pháp Viện cũng nghiêng về ý kiến đó. Bởi vì hầu hết các số tiền do liên bang cấp cho các tiểu bang đều có khoản bắt buộc kèm theo. Các tiểu bang muốn có tiền tu bổ đường sá, phải làm luật lệnh cấm thiếu niên dưới 18 tuổi uống rượu. Chính phủ liên bang sẽ chỉ trợ cấp tiền cho các trường đại học, cao đẳng, nếu không kỳ thị đối với nữ giới trong việc học cũng như trong các hoạt động thể thao. Nhiều món tiền trợ cấp cho nhà ở giúp người nghèo (housing), cảnh sát, giao thông, giáo dục, đều có những khoản ép buộc các tiểu bang phải thi hành!

Bà JudyAnn Bigby, bộ trưởng y tế tiểu bang Massachusetts thì cho rằng tình trạng “cưỡng chế” đã có từ lâu rồi, chẳng có gì mới. Bao lâu nay, các tiểu bang vẫn phải làm theo các quy tắc của liên bang khi nhận tiền Medicaid!

Trong dư luận dân Mỹ thì có 51% coi điều khoản “bắt buộc bảo hiểm y tế” là vượt ngoài quyền hạn mà hiến pháp trao cho chính phủ liên bang; chi có 45% nghĩ là không vi phạm. Nhưng đại đa số dân Mỹ ủng hộ các điều khoản khác của đạo luật này, thí dụ cho con cái quá 26 tuổi vẫn được hưởng bảo hiểm của cha mẹ. Tuy nhiên, nếu điều khoản “bắt buộc bảo hiểm y tế” bị bác vì vi hiến thì rất nhiều điều khác cũng bị bác bỏ theo, ngay cả điều cấm các công ty bảo hiểm từ chối những thân chủ đã bị bệnh từ trước, được nhiều người Mỹ ủng hộ.

Cuối cùng, chúng ta cũng không thể đoán trước các thẩm phán tối cao sẽ quyết định ra sao. Dù thế nào, dân Mỹ cũng sẽ tuân theo quyết định của họ. Trong một chế độ dân chủ tự do tất cả đề tôn trọng quyết định của tòa án. Xây dựng được niềm tin và lòng kính trọng đối với các quan tòa phải mất hàng trăm năm, sau khi tất cả đồng ý quyền tư pháp phải độc lập!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Đường Cùng Phải Bạo Động

Tác giả : Vi Anh
Trong một quốc gia dân tộc, bao lâu mà chánh quyền không giải quyết những mâu thuẩn bằng pháp lý và đạo lý, thì người dân chỉ còn có cách phải tự giải quyết, giải quyết bằng bạo lực chống nhà cầm quyền. Lúc đó đứng trên phương diện khế uớc thành lập xã hội, chính nhà cầm quyền là người có tội, do hành vi bất động hay manh động đã đùa đẩy người dân đến đường cùng phải phản ứng tự vệ, như con kiến mà dày xéo nó nó phải cắn thôi. Điều này có thể thấy không những ở các chế độ độc tài nước lớn như Trung Quốc, vừa như Việt Nam và nhỏ như Miên.

Ở VN điển hình là trường hợp gia đình kỹ sư Đoàn văn Vươn dùng súng và mìn tự chế chống lại công an đến cưỡng chế, cưỡng chiếm đất ven biền và đầm nuôi tôm mà gia đình anh đã đổ mồi hôi, tốn không biết bao công sức, suốt hàng chục năm trời mới thành nhưng cán bộ đảng viên địa phương lại ỷ quyền cưỡng chế và cưỡng chiếm.

Và một người dân Quảng Nam là Ông Nguyễn Văn Tường rút dao đâm hai cán bộ về đất đai của CS đến làm thủ tục cưỡng chế, cuỡng chiếm đất của Ông Tường rồi sau đó Ông Tường về nhà uống thuốc độc tự sát. Theo lời tường thuật của thân mẫu Ông Tường, Ông Tường có nói “Đất con họ lấy hết nhưng đền chỉ được mấy đồng. Con kiện không được thì con sẽ chết thôi mẹ ơi.”

Chưa hết mới đây, tin đài RFA,ngày 26-3-2012, Dân oan tập trung khiếu kiện về đất đai tại số 35 Ngô Quyền, Văn phòng Tiếp dân của Quốc hội ở Hà Nội, và Sài Gòn, tại khu vực 210 Võ thị Sáu, văn phòng của trung ương Đảng tại Sài Gòn. Như thường lệ lực lượng an ninh, công an và dân phòng cũng xua đuổi họ, bắt thẩy lên xe bus chở về địa phương.

Còn ở Trung Quốc thì vô số vụ nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của dân. Dân chúng chống đối bằng đủ mọi cách, đốt xe công an, bao vây đồn cảnh sát, bắt cán bộ ủy ban làm con tin như Vụ Ô Khảm.

Và ở Miên công nhân biểu tình lãng công gần đây đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, xô xát với chủ nhân và cán bộ thông đồng với chủ ăn hiếp công nhân. Người dân Miên đã sử dụng đến các biện pháp phản kháng bạo lực. Như người dân Miên ở Phnom Penh, ngày 24/01/2012 biểu tình chống cưỡng bức giải tỏa, đã ném đá, gây hỏa hoạn hay bắt cóc con tin. Còn công nhân Miên ở nhiều doanh nghiệp dệt may của hai tỉnh Svay Rieng và Kampong Cham đã tấn công nhà máy, đập cửa sổ, để buộc ban lãnh đạo phải ngồi vào bàn đàm phán.

Những trường hợp người dân và công nhân phải dùng bạo lực chống nhà cầm quyền nêu trên xảy ra rất thường ở Trung Quốc, Việt Nam và Miên từ khi Đảng Nhà Nước CS hay độc tài chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vận hành như thời kỳ kinh tế tư bản hoang dã với cán bộ đảng viên CS hành động như tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.

Đảng Nhà Nước CS nếu làm ngơ không giải quyết thì cũng đánh bùn sang ao, cố ý để lâu cứt trâu hóa bùn những khiếu nại, thưa kiện,đòi hỏi, đấu tranh của dân chúng liên quan đến quyền lợi vật chất và tinh thần của người dân. Có nơi Đảng Nhà Nước còn bá đạo, cấp trên chuyển đơn thưa về nhà cầm quyền địa phương xét giải quyết. Đó là cách giết dân, báo cho người bị thưa biết ai thưa, thưa cái gì để trả thù. Và việc cán bộ đảng viên CS dùng du đảng để trấn áp dân oan là chuyện rất thường.

Ai cũng biết VN vốn là nước dĩ nông vi bản, bây giờ trên 65% dân số vẫn còn là nông dân. Đối với dân chúng VN, đất đai ngòai phương tiện sản xuất còn là tình tự quê hương, mồ mả tổ tiên, là núm ruột của người dân. Lương bổng, điều kiện làm việc ngòai ý nghĩa phương tiện sinh sống cho cá nhân và gia đình còn là giá trị, phẩm chất của người lao động.

Số những vụ khiếu kiện đất đai như trên, số những vụ nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của dân xảy ra hàng ngày, khắp nước, kéo dài hai ba chục năm trời mà không có ai giải quyết.

Có khi trên giải quyết mà bảo dưới không nghe.CS có nguyên tắc cấp ủy địa phương lãnh đạo. Cấp ủy ở dưới tìm đủ cách để không thi hành chỉ đạo ở trên vì quyền lợi địa phương và quyền lợi cá nhân,trên ăn thì dươi cũng phải ăn chớ.

Người dân tuyệt vọng cùng cực, bị đùa vào chân tường, phải phản ứng tự vệ. Biện pháp tự vệ duy nhứt mà người dân có thể làm sau khi biện pháp hành chánh, pháp lý, đạo lý bị nhà cầm quyền bất động bế tỏa, và bị nhà cấm quyền trấn áp bằng bạo lực cưỡng chế, người dân chỉ còn có cách tự vệ duy nhứt là dùng bạo lực.

Bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực. Nhà cầm quyền trấn áp bằng bạo lực, thì người dân sẽ bạo lực hơn về nhịp độ và cường độ. Người dân chỗ này thấy chỗ khác bạo động thì sẽ bắt chước bạo động theo.

Con số những vụ biểu tình bạo động về đất đai của dân bị nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm và các cuộc công nhân biểu tình, lãng công chống Đảng Nhà Nước cấu kết ép giá lương và bắt làm việc với điều kiện như lao nô, càng ngày càng tăng.

Theo Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội của TC, trong 20 năm gần đây, ỡ TQ có khoảng 6,7 triệu mẫu ruộng đất bị trưng thu. Do sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá đền bù, người dân bị lỗ 1000 tỷ nhân dân tệ (160 tỷ đôla). Có khỏang 50 triệu nông dân đã mất trắng đất cày và trong 20 năm tới, đạo binh «người cày không ruộng» tăng thêm 67 triệu nữa. 67% những vụ nổi dậy, điều mà CS dị ứng và nhậy cảm, sợ không nói ra đúng tên, như sĩ tử ngày xưa sợ phạm húy nên TC gọi là “sự cố tập thể”.Theo giáo sư Tôn Lập Bình, đại học Thanh Hoa, trong năm 2010, mỗi ngày xảy ra ít nhất 500 «sự cố tập thể ».. Dân chúng làm sao chịu nổi khi 43% nông dân Trung Quốc bị nhà cầm quyền CS trưng thu đất đai, trả rẻ mạt, đem bán cao gấp 40 lần.

Còn ở VN, tỷ lệ ấy cũng không thấp hơn đâu. Ở VNCS có cả một phong trào dân oan bị Đảng Nhà Nước cướp giựt đất như kiểu Anh Đòan văn Vươn bị. Người dân Việt ở thành thị, lẫn nông thôn đều bị, bị từ Bắc, chí Nam, lên Cao Nguyên. Số đơn khiếu kiện cũng như những cuộc đấu tranh đòi đất bị cán bộ đảng viên cướp, chiếm phần lớn nhứt những cuộc đấu tranh, đòi hỏi của người dân, điều mà CS Hà nội gọi là “tụ tập đông người”.

Một “đại biểu nhân dân” của cái Quốc Hội “đảng cử dân bầu” nói 80% các vụ thưa kiện ở VN liên quan đến vấn đề trưng thu, cưỡng hành trung thu đất đai của dân. Những người dân nạn nhân của chính sách trưng thu của CS với đền bù rẻ mạt như giựt của dân và cán bộ đảng viên lấy bán hay hù với công ty giá 50 cao hơn.

Đó là chưa nói dân oan tôn giáo. Đạo nào cũng bị CS lấy đất, lấy nhà, đem sử dụng thủ lợi riêng, chớ không phải công ích. Công giáo bị nặng nhứt, đấu tranh bằng cầu nguyện nhưng rất mạnh, có lúc lên hàng trăm ngàn người như ở Vinh.

Phương ngôn VN có câu “tức nước phải vỡ bờ”. Phong trào dân oan bị cán bộ, đảng viên CS cướp đất, cuớp công, bóc lột, áp bức sẽ tạo thành một cuộc nổ chụp làm tan hoang chế độ CS. Sớm hay muộn thôi./.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

'Tranh chấp biển Đông không thể giải quyết riêng lẻ'
Các học giả quốc tế cho rằng, tranh chấp chủ quyền biển, trong đó có biển Đông, đang ngày càng tạo thêm khó khăn cho việc thực thi an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên vấn đề này không thể giải quyết riêng lẻ từng quốc gia.

Chiều 30/3, Hội thảo quốc tế “An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: An toàn hàng hải và môi trường biển” do Học viện Ngoại giao Việt Nam và CSIS tổ chức đã kết thúc tại TP HCM sau 8 phiên thảo luận. Hội nghị có 13 tham luận và hơn 80 lượt ý kiến đóng góp của 35 đại biểu đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Vấn đề được "mổ xẻ" nhiều nhất là khuôn khổ pháp lý cho an ninh và an toàn môi trường biển. Nhiều ý kiến cho rằng, sự tồn tại của các tranh chấp chủ quyền biển đang tạo thêm khó khăn trong việc thực thi an toàn hàng hải và quản lý, bảo vệ môi trường. Theo các chuyên gia, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Hàng loạt khuôn khổ pháp lý cũng được đề xuất dùng làm cơ sở giải quyết các tranh chấp trên biển.
Image
Đại diện Diễn đàn Thái Bình Dương thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Carl Baker (ngồi thứ tư từ trái qua),
phát biểu ở hội thảo An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: an toàn hàng hải và môi trường biển. Ảnh: Vũ Lê

Các học giả phân tích, Công ước luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, các công ước của Tổ chức hàng hải quốc tế IMO là những khuôn khổ pháp lý quan trọng cho an ninh và an toàn môi trường biển. Bởi lẽ, trong đó có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong vùng biển và ven biển.

Bên cạnh luật về biển của quốc tế, các nước Đông Nam Á cũng đã thiết lập một số khuôn khổ hợp tác trong lĩnh vực an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển. Đó là các cơ chế hợp tác của ASEAN/ARF, bản Ghi nhớ Tokyo về kiểm soát của các quốc gia cảng biển, Hiệp định ReCAAP về chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển đối với tàu thuyền trong khu vực Châu Á...

Các chuyên gia quốc tế cũng nhấn mạnh, một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường biển và hàng hải an toàn là ý chí chính trị của các quốc gia trong việc phối hợp chính sách và hành động.

Theo đó, thách thức về an toàn hàng hải và các mối đe dọa đối với môi trường biển hiện nay đều cần sự chung tay, góp sức của nhiều tổ chức và quốc gia chứ không thể giải quyết đơn phương, riêng lẻ.
Image
Một học giả nêu quan điểm tại hội nghị An ninh hàng hải tại Đông Nam Á lần 2 tổ chức tại TP HCM. Ảnh: Vũ Lê

Điển hình là sáng kiến hợp tác bảo vệ môi trường biển trong khu vực Tam giác san hô – Biển Đông nhằm bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các loài cá. Hay dự án “Xây dựng chiến lược quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo đáy” được thực hiện bởi 5 quốc gia thành viên là Indonesia, Philippines, Papua New Ghine, Thái Lan và Việt Nam.

Nhiều đại biểu đề xuất nên thúc đẩy hợp tác lựa chọn nên theo thứ tự từ dễ đến khó, ưu tiên các biện pháp khẩn cấp, các lĩnh vực phi truyền thống. Ngoài ra, những biện pháp hợp tác lâu dài về các lĩnh vực như bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật biển, bảo vệ môi trường biển, xây dựng năng lực cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển… cũng cần được đẩy mạnh.

Để đảm bảo tính khả thi của các mô hình hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường biển, các đại biểu khuyến nghị đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của các chính phủ với doanh nghiệp. Trọng tâm sẽ là các công ty hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, thuỷ sản, dầu khí. Ngoài ra, nhiều đại biểu cũng đề xuất sự tham gia của các tổ chức quốc tế và khu vực. Theo đó, Liên Hiệp quốc, IMO, ASEAN, SEAFDEC cũng có thể trợ giúp kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý các vấn đề liên quan đến an toàn hảng hải và môi trường.

Hà Thanh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Triệu con tim, còn triệu khối kiêu hùng

Ngô Nhân Dụng
Theo dõi các bloggers ở Việt Nam thì chúng thấy rất nhiều người trẻ đang mang những ước vọng như nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang: “Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người. Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam.” Những ước nguyện viết trước đây gần nửa thế kỷ, cũng không khác những lời thiết tha của Việt Khang bây giờ.

Nguyễn Ðức Quang khác hẳn các nhạc sĩ cùng thời, những năm tang thương nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc. Phản ứng của Nguyễn Ðức Quang không phải là đau khổ, thở than, tuyệt vọng. Các bài hát của anh toát ra tính chất khỏe mạnh, lạc quan, xây dựng, hướng về tương lai; trong khi anh vẫn ý thức thân phận khốn khổ, nhục nhằn của quê hương mình. Trong thời gian đó nhiều nhà đặt ca khúc khác nổi tiếng từ những phòng trà, những quán cà phê trong thành phố, kéo bao nhiêu người vào cơn mộng mị của họ. Nguyễn Ðức Quang hát cho các thanh niên, sinh viên, học sinh đi làm trại công tác, vì tâm nguyện giúp ích xã hội.

Sống trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt này, ai sống ở miền Nam Việt Nam cũng ý thức thân phận làm dân một nước nhỏ bị đẩy vào một cuộc tranh chấp quốc tế giữa các cường quốc. Năm 1970 Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy: “Dân chúng ta đã mềm nhũn... Người ơi này tấm thân gầy, một sông núi hai vai lửa cháy!” (Xương Sống Ta Ðã Oằn Xuống). Trong cuộc chiến tranh, những người lính miền Bắc bị tuyên truyền không hề ý thức mình đang gây ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, như Trịnh Công Sơn than thở “Hai mươi năm nội chiến từng ngày;” còn những người miền Nam phải cầm súng chống cự cũng biết rằng đây là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Như khi nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người lính, nói với người lính bên kia: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước - Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.” Nguyễn Ðức Quang nhìn xa hơn, thấy một sự thật là dân mình bị “bọn lái buôn” lường gạt: “Anh ơi anh, chung quanh ta còn có bao nhiêu đứa nhân danh mang đời ta đem bán cho muôn người nơi xa vời; từ Sài Gòn kia ra Hà Nội ấy!” (Bọn Lái Buôn ở Khắp Nơi). Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy “Người dân mình bị dầm nát như loài giun thôi.” Vì cùng là nạn nhân phải trả món nợ cho cả hai khối tư bản và cộng sản, bằng xương máu dân mình, “Việt Nam chịu ân oán cho cuộc tranh đua... Bao nước vây chung quanh đòi nợ - Một dân tộc trả bằng máu hai chục năm qua.” (Im Lặng Là Ðồng Lõa). Người nhạc sĩ đã lên tiếng nói lên một sự thật.

Khác với những nhạc sĩ chỉ than thở và tìm quên trong các tình tự cá nhân hay tự che giấu đời sống thật sau những tư tưởng mộng mị hay siêu hình, Nguyễn Ðức Quang là một nhạc sĩ “nhập thế.” Anh kêu gọi, “Một người đi một bước, ngàn người cùng đi muôn bước. Ði làm đuốc soi quê hương ta đập tan bóng tối.” (Ðuốc Hồng Tuổi Trẻ). Anh viết những ca khúc cho các thanh niên đi xây dựng nhà cửa cho đồng bào tị nạn, “Rồi ngày mai này nhà sẽ cao - Anh em ơi tô nhanh lên nào!” (Làm Nhà). Anh đặt những ca khúc cho các học sinh, sinh viên đi làm công tác giúp ích: “Những nhát cuốc hôm qua hay bây giờ, làm Việt Nam thành một kho ấm no!” Và “Những nhát cuốc chôn sâu lời thở dài - Những nhát cuốc đưa ta về ngày mai... Những nhát cuốc reo vui mùa Tự Do.” (Những Nhát Cuốc)

Tâm hồn Nguyễn Ðức Quang lúc nào cũng vui vẻ yêu đời, anh muốn khơi dậy niềm tin tưởng, hy vọng cho các thanh niên chung quanh mình. Trong các cuộc lửa trại, các lúc họp đoàn, một thế hệ sinh viên học sinh khắp miền Nam đã hát với anh những câu ca đầy tin tưởng: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền - Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến - Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt - Hy vọng đã vươn dậy...” Rồi anh nhắc lại nhiều lần, nghe như lời cầu nguyện: “Hy vọng đã vươn dậy trong lòng anh, trong lòng tôi, trong lòng ai... Hy vọng đã vươn dậy trong ngày qua, sang ngày nay, cho ngày mai!”

Nguyễn Ðức Quang là người nhạc sĩ đi gieo rắc ý thức lạc quan và xây dựng cho một thế hệ các thanh niên miền Nam, những người không theo cộng sản. Trong lúc một chế độ dân chủ đang bắt đầu thành hình, nhiều người bắt đầu chán nản vì các cuộc tranh luận trong xã hội, một hiện tượng không thể nào tránh được trong các xã hội muốn sống tự do dân chủ. Một biến chứng của cuộc sống tương đối tự do là tinh thần phê phán đưa tới cãi cọ gay go và cay đắng quá đáng. Nguyễn Ðức Quang hát lên: “Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi - Phải dùng bàn tay mà làm nên tươi mới. Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay, cho sâu, cho thật đau.”

Nguyễn Ðức Quang cố gắng thuyết phục đồng bào, nhất là giới trẻ: “Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắt đầu? Thế giới ngày nay không còn ma quái; Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi; Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi!” Ðể “bắt đầu,” Nguyễn Ðức Quang hô hào: “Làm việc đi không lo khen chê! Làm việc đi hãy say và mê!” Và báo động: “Mình chậm chân đi sau người ta, còn ngồi đây nghĩ lo viển vông, thắc mắc, ngại ngùng, đến lúc nào mới là xong?” Bài ca Không Phải Là Lúc Cứ Ngồi Ðặt Vấn Ðề tuy viết từ năm 1966 nhưng nếu được cất tiếng hát lên bây giờ vẫn còn thích hợp.

Một năm sau khi Nguyễn Ðức Quang qua đời, hát lại các bài ca của anh viết từ những năm chinh chiến cũ, chúng ta vẫn thấy những lời ca tha thiết của anh còn rất cần thiết cho các bạn trẻ hiện nay. Trong lúc nền văn hóa kim tiền đang tràn ngập, trong lúc bao thanh niên mất kim chỉ nam đạo đức, còn bị sa vào vòng ma túy, trộm cướp; nước Việt Nam cần một cuộc phục hưng tinh thần, trước hết là cho giới trẻ, ngay trong trường học.

Nước Việt Nam đang cần nhiều nhạc sĩ nối tiếp Dòng Nhạc Nguyễn Ðức Quang, đem gieo rắc niềm tin tưởng, hy vọng, ý chí xây dựng quê hương. Một nét đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Ðức Quang là lời và nhạc khỏe mạnh, vui tươi, hùng tráng nhưng không thuộc loại bài ca dành cho quân đội. Ðây là những bài hát của người dân yêu nước bình thường. Những biểu lộ của tình yêu nước nồng nhiệt cũng không rơi xuống tinh thần bài ngoại mù quáng, không hề kêu gọi đi giết người. Tính chất nhân bản này vắng mặt ở phần lớn các bài hát thường gọi là “cách mạng.” Chỉ khi người ta tự tin ở chính dân tộc mình, tin ở lý tưởng yêu thương đất nước của mình, thì mới lộ rõ thái độ nhân bản đó.

Trong khi cả nước lo lắng về nạn ngoại xâm, những ca khúc sôi sục lòng yêu nước như: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại - Xương da thịt này cha ông miệt mài” phải được tiếp tục sáng tác để các thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ họp nhau cùng ca hát. Ðể một lần nữa, chúng ta xác định “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ!” Với “Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!” Những khúc hát Nguyễn Ðức Quang đã viết tặng cho tuổi trẻ có thể gây cảm hứng cho các nhạc sĩ thời nay, để các bài hát yêu nước, yêu đời, yêu người lại được ca vang khắp các nẻo “Ðường Việt Nam.”

(Các ca khúc của Nguyễn Ðức Quang dẫn trong bài đều trích từ mạng của Phong trào Du Ca Việt Nam, ducavn.com)
Last edited by khieulong on Thu Apr 05, 2012 5:37 am, edited 1 time in total.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tự do không sợ hãi

Ngô Nhân Dụng

Tại cố đô Pagan xứ Miến Ðiện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông.

Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.

Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.

Tổng Thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Ðiện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu Quốc Hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Ðảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.

Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Ðộc Tài!

Ðây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Ðứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bầu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.

Thein Sein đã bày tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả Internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.

Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Ðó là điều bình thường trong chính trị.”

Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Ðiều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.

Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Ðiện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do Ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Ðộ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”

Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Ðiện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình... Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”

Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người...” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”

Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Ðảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong Quốc Hội gồm 664 ghế; trong đó Hiến Pháp dành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Ðảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, Quốc Hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.

Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Ðiện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.

Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Ðộ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Ðông và Phi Châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Ðó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.

Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”

Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Ðiện sau này. Tương lai dân tộc Miến Ðiện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Ðường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

VNCS: Chết Mất Đất, Khô Nước

Tác giả : Vi Anh
Làm thầy thuốc sai hại một người, làm thầy giáo sai hại một lớp; làm chánh trị sai hại cả một quốc gia dân tộc. Với độ lùi thời gian khá đủ, với tình hình khá rõ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, một phần lớn biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước ông bà Việt Nam để lại trong thời CS Hà nội đã mất vào tay Trung Cộng. Và đau đớn thay cho bao số mạng hẩm hiu của đồng bào ngư dân VN đã bám biển, đảo phải làm mồi cho bọn TC.

Chưa hết đâu, giang sơn gấm vóc Việt Nam, di sản mấy ngàn năm của đất nước ông bà Việt Nam để lại, quốc gia dân tộc Việt Nam với 4000 năm văn hiến sắp chết khô nước nữa. Các nước thượng nguồn Sông Cửu Long, Trung Cộng, Miến Điện, Lào và Thái Lan đã, đang, và sẽ xây đập thủy điện, chận bớt dòng chảy và nguồn nước vào Đồng Bằng Sông Cửu Long ở hạ nguồn, Nam Việt bị nhiễm mặn, lừng phèn, mất phù sa, tiêu nguồn cá nước ngọt và vựa lúa của cả nước VN. Điều đó cho thấy CS Hà nội là những người làm chánh trị sai, trật đã hại cả quốc gia dân tộc Việt Nam.

Bây giờ CS Hà nội không còn dấu diếm gì được nữa. Chính Thủ Tướng Phạm văn Đồng năm 1958 nhân danh Đảng Nhà Nước CS ở Miền Bắc đã ký và gởi công hàm cho Thủ Tướng Chu ân Lai của TC, thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong lãnh hải, thuộc đặc quyền kinh tế của TC. Đó là một hành động chánh trị có tội động trời đối với quốc gia dân tộc Việt Nam.

Còn Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn mạnh Cầm của VNCS vào năm 1995 làm một tội động đất khi đặt bút ký tên gia nhập và thừa nhận hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong ( Mekong River Commmission) và đặt văn phòng chi nhánh ở Hà nội.

Tổ chức và hiến chương mới này bãi bỏ tổ chức cũ là Ủy ban Sông Mekong (Mekong River Committee), VNCH là thành viên chánh thức, văn phòng Ủy Ban chi nhánh đặt ở Saigon. Ủy hội mới, hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong do Ô Nguyễn mạnh Cầm ký làm mất thẩm quyền phủ quyết của quốc gia dân tộc Việt Nam là một quốc gia có vùng trù phú nhứt, vựa lúa của cả nước là Đồng Bằng Sông Cửu Long nằm ở hạ lưu, hạ nguồn sông Mekong.

Quyền phủ quyết đó bảo lưu nguồn thực phẩm hàng ngày, nguồn kinh tế then chốt của Miền Nam Việt Nam và vựa lúa cho cả quốc gia dân tộc Việt Nam. Việt Nam không có quyền phủ quyết ấy thì Việt Nam không thể ngăn cản các nước xây đập ở thượng nguồn, ngăn chận dòng nước tưới và phù sa bón cho Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đó là chưa nói việc ngăn chận nguồn thủy sản nước ngọt là món ăn căn bản của người dân Miền Nam.

Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ thấu triệt sâu sắc điều kiện sanh tử đó nên quyết liệt đòi hỏi, bảo lưu, hành xử liên tục quyền phủ quyết qui định trong hiến chương của Ủy ban Sông Mekong. VNCH làm chánh trị vì quyền lợi của quốc gia dân tộc VN, làm với tất cả cố gắng và quyết tâm cao nhứt có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để bảo lưu quyền phủ quyết đó trên phương diện chánh trị quốc tế. Vi rằng nếu không phủ quyết được thì các nước ở thượng nguồn sẽ xây đập thủy điện hưởng lợi, mà cái lợi đó là điều hại lớn cho Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Còn chế độ CS Hà nội coi việc được gia nhập vào Ủy Hội Sông Mekong là danh tiếng cho Đảng Nhà Nước CS trên trường quốc tế. CS coi Đảng Nhà Nước cao hơn quyền lợi quốc gia dân tộc VN nên Ngoại Trưởng Nguyễn mạnh Cầm đặt bút ký tỉnh bơ, dễ ợt, gián tiếp thủ tiêu quyền phủ quyết sanh tử này của quốc gia dân tộc Việt Nam.

Bây giờ CS Hà nội muốn gỡ nhưng vô kế khả thi. Với hiệp ước Ủy hội mới đó Việt Nam là nước hạ nguồn chịu thiệt hại vô vàn. Các nước thượng nguồn TC, Miến Điện, Thái Lan, Lao, Miên có lợi khi xây đập thủy điện đâu bao giờ giúp Việt Nam.

Còn việc Việt Nam chết mất đất, mất biển, mất hải đảo vào tay Trung Cộng do công hàm bán nước của Ô. Phạm văn Đồng, CS Hà nội cũng không có cách gỡ. Trước chấn động do Quốc Vụ Viện TC sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành quận huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC, những người cầm đầu Đảng Nhà Nước CS Hà nội câm như hến. Phát ngôn viên ngoại giao của Đảng Nhà Nước CS Hà nội chỉ ú ớ, cho lấy có, chiếu lệ.

Thanh niên sinh viên biểu tình, TC mới nguýt một cái, hé môi một tiếng thì CS Hà nội tuân theo răm rắp. Một mặt “định hướng” dư luận, triệt cấm người dân Việt lên tiếng chống quân Tàu xâm lược. Công an CS Hà nội công khai, chánh thức, mau mau, mạnh bạo cấm và trấn áp biểu tình bảo vệ chủ quyền VN trên biển đảo dù TC đã đơn phương đưa ra bản đồ hình lưỡi bò của họ liếm hết 80% Biển của VN và hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN. Chưa đủ. Công an còn đến gia đình, học đường phải ngăn chận và bắt cóc người biểu tình nữa.

CS Hà nội cứ bảo “để Nhà Nước no [lo]”. Nhưng cho đến bây giờ chưa thấy làm gì cho ra hồn cả trong việc nhờ công lý và luật pháp quốc tế. CS Hà nội làm không được vì mở miệng mắc quai. Bộ Trưởng Ung văn Khiêm thới còn Ô. Hồ làm chủ tịch nước và đảng CS, đã xác nhận hai đảo thuộc Hòang sa và Trường sa là thuộc Trung Quốc từ thời nhà Tống bên Tàu. Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, và có thể còn nhiều mật ước mà CS Hà nội đã ký hay hứa với TC nhưng còn dấu kín như bưng là những thứ hiệp ước giữa TC và VC, có giá trị luật pháp đối với Đảng Nhà Nước CS hai nước.

Các nước lân cận như Đài Loan, Phi luật Tân, Mã lai, Nam Dương, Brunei có tranh chấp chủ quyền trong vùng này cũng không có quyền lợi gì mấy để mạnh mẽ tiếp tay Việt Nam vì họ biết hai đảo ấy thực sự là của Việt Nam. Chế độ CS Hà nội làm chánh trị trật thì ráng mà chịu, hà cớ gì họ xen vào, mất lòng và mất lợi với TC.

Còn CS Hà nội muốn dựa vào thế nhân dân Việt Nam, hy vọng này càng mong manh hơn. Sau nửa thế kỷ thống trị ở Miền Bắc, một phần ba thế kỷ thống trị ở Miền Nam, CS Hà nội đã quá xa rời quần chúng, biến đa số dân chúng trong ngòai nước thành “lực lượng thù địch” nên khó nều không muốn nói là không thể huy động được nội lực dân tộc. Còn quần chúng đã quá chán nản, bất mãn Đảng Nhà Nước CS Hà nội độc tài đảng trị quá rồi, nên CS Hà nội không dám huy động nội lực sợ gậy ông đập lưng ông. Nên bao lâu mà CS Hà nội còn thì quốc gia dân tộc Việt Nam còn chết mất đất, chết khô nước.

Chỉ có thế cứu vãn được tai họa mất Hoàng Sa, Trường Sa; chỉ có thể cứu vãn tai họa Sông Cửu Long cạn dòng, Đồng Bằng Sông Cửu Long khô cằn, nhiễm mặn, mùa màng lúa, cá thất bát, với một chánh quyền mới thay thế cho nhà cầm quyền CSVN. Chánh quyền mới có thể phủ nhận mọi hứa hẹn, công hàm, hiệp ước mà CS Hà nội đã hứa và ký kết với TC và các nước thượng nguồn.

Đó là những văn kiện hà tì về hình thức, bất bình đẳng về nội dung. Một vấn đề trọng đại thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà CS Hà nội không đưa ra Quốc Hội phê chuẩn, không đưa ra trưng cầu dân ý chiếu tình lý pháp luật phổ thông đòi hỏi phải làm. Một vấn đề trọng đại liên quan đến lãnh hải, dính líu đến luật biển quốc tế mà CS không đăng bộ công khai với quốc tế là Liên Hiệp Quốc thì không có giá trị thi hành với quốc tế. Việc Ông Phạm văn Đồng, Ông Ung văn Khiêm đã làm ở mức độ pháp lý hình thức nào đó, cùng lắm chỉ là những hành vi chánh phủ. Chánh quyền mới có đầy đủ tư cách, thẩm quyền phủ nhận coi như không hề có. Và từ đó mới có thể đặt vấn đề đòi lại bằng nhiều cách thức./.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư
Tác giả : Vi Anh
Sự kiện đáng mừng. Năm 2012 là năm thứ 37 kỷ niệm ngày người Việt bắt đầu gạt nước mắt từ biệt đất nước ra đi sau khi thủ đô Việt Nam Cộng Hòa là Saigon sụp đổ, Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, tạo thành một cuộc di tản tỵ nạn CS vô tiền khóang hậu và lớn nhứt trong lịch sử Việt Nam. 37 năm trôi qua theo lẽ vô thường của vạn vật, thế hệ thứ nhứt người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai không ít người đã theo ông bà, vong linh hòa theo hồn thiêng sông núi VN. Nhưng những người còn sống, và lớp hậu duệ không ở VN được với CS nên đem VN theo mình ra hải ngại. Điều đáng mừng, con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần, lớp trung và trẻ thuộc thế hệ thứ hai và ba ngày càng dấn thân nhập cuộc trong công tác tổ chức kỷ niệm ngày Quốc Hận. Dù ăn học ở ngọai quốc nhưng nhờ gia đình và cộng đồng Việt ở hải ngọai, hầu hết lớp trẻ khẳng định lập trường trước sau như một Quốc Hận, là Quốc Hận, không một danh từ nào, một ý niệm nào có thể thay thế được.

Trên tinh thần trách nhiệm liên đới xã hội giữa hai thế hệ trẻ già; với cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging) của cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói chung đối với đất nước và đồng bào trong nước, đó là một đặc điểm nổi bật. Đó là sự dấn thân tích cực - từ tư tưởng đến hành động, từ cá nhân đến tập thể -- của thế hệ trẻ đối với sinh hoạt cộng đồng. Điều đó chứng minh lời khuyên răn “để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai phía trước” và chê trách người lớn tuổi chống Cộng -- là giả đạo đức, phản tâm lý, trái sử quan, do những người làm kinh tế, chánh trị cố tung ra để che dấu quyền lợi riêng tư và ý đồ đi với CS bằng đầu gối, theo kiểu xin cho.

Thực vậy, 30-4 này, rõ rệt và hơn lúc nào hết, thế hệ trẻ Mỹ gốc Việt xem Quốc Hận 30-4 là cơ hội ôn cố tri tân, xem đó là một điều phải nhớ, và xem nhớ là một bổn phận (devoir de memoire) của người đi sau đối với người đi trước, đối với đất nước và dân tộc gốc của mình. Nhớ để không phạm sai lầm nếu may mắn nắm giềng mối cộng đồng hay đất nước. Nhớ để không bất động, mà hành động không cho sai lầm tái diễn, không để cho cộng đồng, xã hội, quốc gia dân tộc mình bị chủ nghĩa CS sai lầm, tuyên truyền dối gạt, và kẻ ác giành quyền làm chủ.

Cũng như ở Âu Châu, nhơn cơ hội kỷ niệm Âu châu được giải thoát ra khỏi gông cùm Hitler và Đức Quốc Xã, lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi vào và đem vào chương trình giáo dục trung tiểu học - gọi là Holocaust hay Shoah.

Ở Mỹ người Mỹ cũng thế đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt cưỡng bức dời cư người Da Đỏ thời Viễn Tây, khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ở trường lớp và là bài học kinh nghiệm mà tiền nhân đã trả bằng xuơng máu, nước mắt, mồ hôi.

Làm như thế người Âu Châu lẫn người Mỹ -- tin chắc -- không phải do thù ghét Hitler hay muốn trách cứ những tổng thống Mỹ đã thực hiện những chính sách sai lầm. Cũng không phải do muốn lớp trẻ “nặng quá khứ.” Mà mục đích tối hậu là muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa. Do vậy cần phải giúp cho đàn hậu tiến những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài bịnh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã làm cho hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tiến thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, sai lầm chế độ.

Học ở trường lớp không chưa đủ, nhà trường còn tổ chức cho sinh viên học sinh du khảo, mắt thấy tai nghe, cảm nhận tại chỗ. Nhơn kỷ niệm lần thứ 60 ngày Âu Châu được giải thoát khỏi độc tài Đức Quốc Xã, nhiều trường học tổ chức nhiều đoàn du khảo cho sinh viên học sinh thăm Trại Tập Trung Auschwitz ở Ba Lan, để tận mắt thấy những lò thiêu, thấy những hành động dã man mà con người Đức Quốc Xã đối với người Do Thái, còn tệ bạc và tàn nhẫn hơn loài sói đối với người. Nhiều học sinh, sinh viên nam nữ, đứng chết trân hoặc hét lên kêu Thượng Đế khi thấy hình ảnh hàng ngàn người mẹ Do Thái mình không quần áo, tay bồng con, đứng chờ đi vào chỗ chết mà không biết vì nghe “quản giáo“ là mật vụ SS ra lịnh xếp hàng để đi tắm.

Thì tại sao thế hệ trẻ Việt ở Hải ngoại, nhất là ở Mỹ không có quyền nhớ, phụ huynh mình, gần 300,000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và cấm cố hàng chục năm.

Tại sao không nhớ trên 600,000 người Việt dùng thuyển nan vượt đại dương để tỵ nạn CS, chết trên biển vì sóng to gió lớn và cướp Thái Lan.

Tại sao không nên nhớ một lãnh tụ như Ô. Hồ Chí Minh và một đảng như Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ. Theo cuốn “Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline nữa. 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và hơn nửa triệu làm mồi cho cá. Cả thế giới bàng hoàng, rúng động! Suốt cả chục năm!

Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử 4000 năm của nước nhà VN, suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc, một lần Trịnh Nguyễn phân tranh đất nước chia đôi. Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy. CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm người dân đồng bào mình phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy.

Mà không tỵ nạn CS sao được. Ô Hồ Chí Minh và Đảng CS của Ông đã giết hại hàng trăm ngàn trong đấu tố Cải Cách Ruộng Đất, hàng năm sáu ngàn người dân Việt vô tội bị CS thảm sát trong Tết Mậu Thân.

Và hơn 5 triệu người quân dân cán chính hai bên đã chết trên con đường Ô Hồ và Đảng CS của Ông cộng sản hóa nước VN bằng võ lực. Miền Nam chỉ chiến đấu tự vệ, chớ không hề đổ quân ra Miền Bắc giành dân, chiếm đất. Theo Ô. Trần Độ một tướng lãnh CS phản tỉnh đã tố giác, CS Hà Nội đã giết hại người Việt, số chết nhiều hơn tổng số người bị hai nhà độc tài Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa cỗ đại và Hitler ở Đức cận đại giết, cộng lại.

Thế mà gần đây CS Hà Nội và một số nhà chánh trị thiên tả và tài phiệt siêu quốc gia ở Mỹ, trong đó có chánh yếu là TT Clinton, TNS Kerry, và một phần nhỏ là TNS McCain lớn tiếng kêu gọi bỏ quá khứ ra phía sau và nhìn tương lai phía trước. Những người đó vì quyền lợi riêng tư, phe đảng đã tung hỏa mù, lập lờ đánh lận con đen. Họ muốn thế hệ trẻ Mỹ Việt xem thảm cảnh diệt chủng của CS ở VN suốt nửa thế kỷ như không có. Họ muốn chụp mũ “quá khích” cho những người nhớ bài học lịch sử đau thương nhứt của người Việt với nhãn hiệu “nặng quá khứ.” Họ làm vì quyền lợi bầu cử cho họ, cho phe đảng tài phiệt làm ăn với CS Hà nội.

Âu Châu là căn cứ địa lâu đời của văn minh Tây Phương. Người Âu Châu vì thế có nhiều kinh nghiệm đau thương với độc tài dưới mọi hình thức và với ý thức hệ phi nhận hơn người Mỹ với quốc gia bề dày lịch sử mỏng hơn. Giáo quyền độc tôn trên thế quyền thời Trung Cổ Đen Tối, Đức Quốc Xã, Cộng sản chủ nghĩa thời cách mạng kỹ nghệ đều xuất phát từ Âu Châu. Nên người Âu Châu chú trọng bài học lịch sử hơn. Lớp già muốn truyền đạt kinh nghiệm đau thương cho lớp trẻ. Còn lớp trẻ cảm thấy có “bổn phận phải nhớ” (devoir de memoire) để ngăn chận lịch sử đen tối đừng tái diễn.

Người Việt Nam kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Châu nữa. Nên ôn cố tri tân là bổn phận của đàn hậu tiến như những người đồng trang lứa ở Âu Châu. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS. Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi thấy lớp trẻ kề vai gánh vác việc chung, tổ chức tưởng niệm 30- 4 ngày Quốc Hận./.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: Baidu [Spider] and 8 guests