Page 8 of 187

Posted: Thu May 01, 2008 2:34 am
by tranphuongdong
29-4-2008 NGÀY QUỐC NHỤC CỦA DÂN TỘC VN
QUA SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGỌN ÐUỐC MÁU TÀU ÐỎ TẠI SÀI GÒN

HỒ ÐINH
Mùa xuân năm Quý Mão 43 sau Tây lịch (STL), hai bà Trưng bị Mã Viện đánh bại, đất Giao Châu lại trở thành một Huyện thuộc nhà Hán. Ðể hạ nhục Dân tộc Việt trong cơn quốc phá gia vong, giặc Tàu tịch thu hết các trống đồng, đồ sắt, những biểu tượng của nền văn hóa Âu Lạc, đem đúc thành cột đồng Mã Viện, làm vật trấn phương nam với lời hăm dọa:" đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt".

Năm Giáp Thân 1884, thực dân Pháp sau khi cưỡng chiếm được toàn bộ lãnh thổ VN, đã tạo ra các vua bù nhìn triều Nguyễn như Ðồng Khánh, Khải Ðinh, Bảo Ðại, đồng thời tiêu hủy quốc ấÔn của nước Nam, để vừa hạ nhục kẻ bại trận, cũng như ra oai Thái thưọng hoàng, xoá bỏ hết mối quan hệ Việt-Trung đã tồn tại hàng ngàn năm trước. Cũng vì người Việt lúc đó, đang sống dưới bạo lực, gông cùm nô lệ, nên đành cắn răng chịu đựng để cho kẻ thù làm nhục.

Nhưng với cộng sản quốc tế Hà Nội, thì ngay lúc vừa ra khỏi hang Pắc Pó cho tới nay (1945-2008), luôn tự hào, tự mãn, tự khoe, tự phong là đỉnh cao trí tuệ con người, đã đánh bại ba đế quốc Nhật, Pháp và Mỹ. Vậy tại sao lại vô cớ, vô duyên vì đang làm cha thiên hạ và chưa hề bị mất nước, mà đã lén lút cắt biên giới, dâng đảo biển, dành hết đặc quyền đặc lợi cũng như luôn quì lụy trước kẻ thù truyền kiếp Tàu đỏ, làm nhục lây vong linh tiên tổ và người cả nước.

Hỡi ôi, đây là cái giá mà dân tộc Việt Nam phải còng lưng gánh chịu cho Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo lớn bé của CS, chẳng những bây giờ mà còn kéo dài tới nhiều thế hệ sau này, qua những hành động trời tru đất diệt của Việt Cộng bấy lâu nay, chỉ vì manh tâm chiếm trọn giang sơn để vinh thân phì gia, đổi đời và ôm cái hào quang anh hùng cứu nước mà thật sự chỉ là lớp son phấn bên ngoài vì hoàn toàn vay mượn của ngoại nhân suốt cuộc chiến ngụy tạo.

Năm 1077, Lý thường Kiệt trong lúc ngăn chống giặc Tống trên sông Như Nguyệt, Ông đã thay mặt quốc dân Ðại Việt khẳng định:” NAM QUỐC SƠN HÀ, NAM ÐẾ CƯ “. Ngày nay ngụy quyền CSVN tiếm quyền dân-nước, đã đi ngược lại lòng dân, ý nước khi công khai phủ nhận quyền làm chủ đất nước mình, qua ngàn trăm hành động nhục nhã, khiến cả nước bị người Tàu bốc lột, khinh thường, chèn ép, qua các sự kiện: Trung Công ngang nhiên bắn đạn thiệt khi tập trận và cấm chỉ tàu thuyền Việt Nam qua lại ngay trong hải phận của mình tại quần đảo Hoàng Sa, Ðông Hải, từ ngày 6 tới 13/6/2002. Mới đây, Trung Công còn thản nhiên đem giàn khoan vào trong vịnh Bắc Việt, là hải phận của VN, để kiếm dầu và dã man gây thương vong cho nhiều ngư dân Thanh Hóa, lúc họ đang hành nghề trong vịnh Bắc Việt, vào những ngày đầu năm 2005. Nhưng nhục nhã nhất cũng vẫn là hành động của bọn chóp bu Hà Nội, bắt buộc người dân cả nước cung nghinh ngọn đuốc máu của Tàu đỏ khi tới Sài Gòn vào ngày 29-4-2008. Thái độ hèn kém mất tư cách của nhóm lãnh đạo đảng, đã chôn vùi danh dự và uy tín của VN khắp thế giới vì sự bưng bợ Trung Cộng ra mặt. Ðây là ngọn đuốc máu, biểu tượng của một đế quốc côn đồ, lưu manh chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, đã bị năm châu nguyền rũa tẩy chay khinh bĩ vì cướp nước Tây Tạng, chà đạp nhân quyền và ỷ mạnh hiếp yếu. Thế mà chỉ có VC một mình một chợ, muối mặt a dua và ca tụng kẻ thù cướp nước mình.

Suốt mấy ngàn năm tranh đấu chống sự thống trị của giặc Tàu phương Bắc, tiền nhân chúng ta ngay từ thời các Tổ Hùng mở nước, đã tạo nên bản chất quật cường làm thành một tôn giáo đặc biệt VN, thờ kính các vị anh hùng liệt nữ của dân tộc, suốt 20 thế kỷ trong dòng lịch sử Việt, đã có công ngăn chống giặc Tàu xâm lăng cướp nước. Các vị vua chúa VN thời trước đã khôn ngoan trong cách xử thế, khi vừa cứng rắn chiến đấu chống giặc Tàu để dành độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ, lại cũng rất mềm dẻo trong ngoại giao để tránh bớt sự căng thẳng giữa hai nước. Nhưng VC thì trái lại chỉ biết có cúi đầu, quì gối và bựng bợ giặc, tạo cơ hội và điều kiện để kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt lấn áp và xen vào nội bộ, đưa tới hậu quả bi thảm: mất nước, mất chủ quyền vàsắp bị diệt vong trước sự xâm lăng công khai của Tàu đỏ.

Ðiều này cho thấy quan điểm truyền thống chính trị của Tàu trước đó hay bây giờ vẫn không thay đổi, luôn coi VN như là một phần lãnh thổ của đế quốc mình. Chính Hồ Chí Minh và Ðệ Tam CSQT là thủ phạm, đã rước voi Tàu về dầy mả Tổ Hồng Lac, từ khi họ Hồ bí mật sang Tàu cầu viện Trung Cộng vào năm 1950. Tất cả chứng cớ "mãi quốc cầu vinh "của đảng CSVN đã được chính Bộ Ngoại Giao VC công bố qua cái gọi là "Bạch thư "trong thời gian trước khi xảy ra cuộc chiến biên giới Hoa-Việt năm 1979: Trung Cộng là nước cung cấp quân trang dung cũng như viện trợ nhiều nhất cho VC. Nên Tàu đã lợi dụng tình hình đó để chèn ép VC phải "bán nước "lần hồi cho giặc.
1- CÁI GIÁ CỦA DÂN TỘC VN PHẢI CÒNG LƯNG GÁNH NỢ CHO VC:


Nhiều sử gia cận đại khi viết về đảng cộng sản quốc tế Hà Nội, hay lấy năm 1925 làm mốc thời gian khởi đầu. Ðây là niên lịch mà Chi bộ VN của Hội Á-Tế-Á-Nhưọc tiểu Dân tộc, dưới quyền chỉ huy tối cao của Cố vấn Nga Borodine, ủy nhiệm cho Nguyễn Ái Quốc, Lâm đức Thụ, Hồ tùng Mậu, Lê hồng Phong... thành lập tại Quảng Châu. Sau đó hội trên được cải danh là VN Thanh niên cách mạng Ðồng chí hội (VNTNCMÐCH), phát hành tờ Thanh niên để tuyên truyền, hoạt động trong bí mật.

Nhiều đảng viên đưọc phái về nước trà trộn vào các đảng phái quốc gia mà nhiều nhất là Tân Việt đảng, để lũng đoạn và dụ dổ đảng viên theo CS. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc thống nhất các đảng bộ CS địa phương qua danh xưng Ðông Dương cộng sản đảng và chính thức thuộc cộng sản quốc tế năm 1931. Tại VN, một nghị quyết của CSÐD ngày 20-1-1931 thành lập các đội tự vệ nhưng cũng chỉ là hình thức và phải đợi tới năm 1940 khi du kích quân của Trần đăng Ninh bị Pháp tiêu diệt gần hết tại Bắc Sơn, Lạng Sơn. Dù vậy cộng sản vẫn đem sự kiện này, làm điểm mốc thời gian khởi đầu cuộc đấu tranh bạo lực vũ trang. Cũng kể từ đó, Mẹ VN được mang ra thế chấp, cắt xén hay sang nhưọng vô điều kiện không cần biết, cho cộng đảng quốc tế, miễn sao có nhiều súng đạn, phương tiện và kỹ thuật lừa bịp, khủng bố về cưỡng chiếm quê hương là công thành.

Hơn bảy mươi lăm năm qua, những người cộng sản đã làm thật nhiều tội lỗi cho dân nước, mục đích chỉ để chiếm quyền, có quyền mà đổi đời, thay kiếp. Luật đời, ai vay thì người đó trả, nhưng ở đây thì trái ngược, cộng đảng ăn ốc, quốc dân VN đổ vỏ, nghĩa là kiếp này, kiếp sau và không biết còn bao nhiêu kiếp nữa, người Việt mới hết è lưng gánh nợ oan khiên tiền kiếp mà VC đã bí mật ký kết với Nga Xô, Cu Ba, Bắc Hàn, Ðông Âu, Trung Cộng trước, sau và mới đây với giới tư bản da vàng, da trắng Á, Âu, Mỹ.
+ VAY NỢ VÀ ÐEM LÃNH THỔ KÝ KẾT CHO TRUNG CỘNG:
Thời gian thành đồng Lê Mác chưa sụp đổ tại Liên Xô, năm 1985 nhân dịp người Nga kỷ niệm 40 năm kết thúc thế chiến. Dịp này để lập công với ông chủ Nga đang chi tiền cho vay cắt cổ, đảng ta đã khoe với cả nước trên tờ TGM số 360 xuất bản tại Sài Gòn năm 1999 về thành tích anh minh ái quốc của mười hai thanh niên VN vì tin cộng sản, nên đã chết thảm dưới giao thông hào, khi Ðức tấn công Nga trong thế chiến thứ 2, vì sứ mạng bảo vệ đất tổ Lê Mác.

Trong tác phẩm "lạc đường vào lịch sử"", Nguyễn mạnh Côn đã vạch ra toàn bộ sự lừa đảo có một không hai của cộng sản Ðông Dương, từ vụ việc nhanh tay cướp chính quyền năm 1945, cho tới màn kịch dài Anh cho Pháp theo chân trong đoàn quân giải giới Nhật, xâm nhập Nam Kỳ, rồi Trung Hoa thỏa thuận để Pháp thay thế mình trên đất Bắc, sau đó là chiến tranh 9 năm... Tất cả đều nhắm tới mục đích hợp thức hóa chính quyền đảng cộng sản Ðông Dương trước công luận thế giới, để từ đó chiếm lĩnh toàn bộ giang sơn Hồng Lạc.

Ðầu tiên trong canh bài phản quốc là chuyện Hồ sang cầu viện Trung Cộng, cho nên đâu lạ gì ngày 10-1-1950, Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt cộng, lúc đó còn phất phơ trên rừng núi Việt Bắc nay ở mai dời. Cũng kể từ đó, để đem về VN tiền bạc, súng ống, đoàn cố vấn Trung Cộng đông đảo do Vi quốc Thanh, Trần Canh, Lã quý Ba... cầm đâu... đâu ai biết được Hồ đã ký hứa với Mao những gì... mà sau này hai nước anh em trở mặt, đem ra tố hết mình trên báo chí, sách vở, dư luận trong và ngoài nước, khiến cho thế giới và dân Việt há miệng vì không biết phải tin ai dù ai cũng đâu đáng tin.

Một mai mỉa lơn lao của cận sử là chính Trung Cộng đã bị đại bại trong chiến cuộc Ðông Dương lần thứ ba (1945-1975), chứ không phải Hoa Kỳ. Theo tài liệu của Tàu đỏ, thì Việt cộng có thắng lợi ngày 30-4-1975, nhờ Hồ và đảng đã học hết bài vở của Mao từ chiến thuật, chiến lược, cho tới phương cách khủng bố dân lành, đấu tố gia đình, bạn bè, cải cách cướp giựt ruộng đất và tài sản của quần chúng. Nhưng trên hết là nhờ viện trợ ồ ạt của Hồng quân, từ năm 1950 nên VC mới thắng Pháp tại Ðiện biên Phủ năm 1954.

Sau đó trong cuộc chiến 1955-1975, 85% chiến cụ của bộ đội miền bắc và VC miền nam, từ vũ khí, đạn dược, phi đạn, chiến đấu cơ, chiến xa... tới lương khô tới cây kim sợi chỉ (ngoài dép râu), đều của Anh lớn Ba Tàu. Cố vấn Trung Cộng ngập các Trung tâm huấn luyện, còn Hồng quân thì đóng dầy đặc mọi nơi để bảo vệ đất Bắc. Nhiều cán bộ người Việt gốc Hoa đưọc hồi kết về Nam, đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Méo Trương gia Triều hay Trần bạch Ðằng, hoạt động hoa vận ở Hậu giang, Sài Gòn, Chợ Lớn.

Ðể trả ơn, trả nợ trên, cộng sản miền Bắc đã dành hết ưu tiên cho Tàu cộng, kể cả người Hoa sinh sống trên đất Việt. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), tại các vùng tạm chiếm ở Liên khu 5 (Nam, Ngãi, Bình, Phú), Hồ ra lệnh tiêu khổ kháng chiến tất cả, nhưng không được mó tới nhà cửa, của cải người Hoa. Về thương mại, Tàu đỏ đưọc miễn tô tại các hải cảng nên hàng hóa Trung Cộng ngập xứ Bắc. Văn hóa Hán tộc được Ðảng gánh về hay qua các đoàn văn công, văn nghệ, vô tình đồng hoá người Việt thành người Hoa lúc nào không biết, từ tư tưởng ra tới sinh hoạt vật chất bên ngoài... Nhưng đây cũng chỉ là phần nổi, còn mật thật bên trong mãi tới sau này mới bị bật mí từ năm 1977 khi CSVN chính thức theo Liên Xô chống lại Trung Cộng.

Sau khi hai nước làm lành trở lại, VC đã dành hết mọi ưu tiên cho Tàu đỏ. Cuộc khủng hoàng, lạm phát và nạn đói đang xảy ra tại VN hiện nay là do chính bàn tay của giặc Tàu. Chúng công khai in tiền Hồ giả, rồi mang sang VN mua hết mọi sản phẩm từ lúa gạo, cao su, quặng mõ, dầu thô đem về Tàu. Ngược lại VN mua đồ của chúng, phải trả bằng ngoại tệ như đô la Mỹ, đồng Euro hay Yen của Nhật.
+ NAM QUÔC SƠN HÀ, NAM ÐẾ CƯ, NAY CÒN HAY MẤT ? :
Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn quật cường chống trả lại mọi cuộc xâm lăng của ngoại bang. Ðất nước được vẹn toàn trên hai mươi thế kỷ và tồn tại tới hôm nay là do công đức dựng và giữ nước của tiền nhân bao đời. Cho nên đừng thấy lạ khi tìm hiểu về tôn giáo đích thực của người Việt cả nước, mà dân tộc gọi là đạo Việt, thờ kính Ðức Phật, Các Anh hùng liệt nử VN như Hai bà Trưng, Ðức Thánh Trần, Lê Lợi, Quang Trung... và Thần Nông. Tổ tiên ta bao đời ngoài võ công hiển hách để bảo vệ lãnh thổ, bản sắc tự chủ cũng như nền độc lập của mình, còn biết cách mềm mỏng kết thân với kẻ thù để hoà giải hiềm khích và hấp thụ những tinh hoa của Hán tộc. Nhờ biết người, biết ta, vừa can đảm anh hùng lại có óc thực tiển. Tóm lại đây là chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan của người Việt, mà các vi minh quân mọi thời đem áp dụng, để vừa đánh bại ngoại xâm, vừa giữ vững độc lập cho nước nhà trong danh dự.

Khác với tiền nhân trong suốt dòng lịch sử, rất khôn khéo và uyển chuyển mỗi lần chiến thắng kẻ thù. Trái lại VC từ trên xuống dưới, hèn hạ xảo quyệt, sớm đầu tối đánh, lúc nào cũng lừa bịp thiên hạ để tiên hạ thủ vi cường. Vì vậy cũng đừng lấy làm lạ, khi biết năm 1958, Hồ ra lệnh cho Phạm văn Ðồng, quyền thủ tướng nước, công nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng để đổi lấy mọi thứ cần thiết cho cuộc xâm lăng miền Nam. Thế rồi khi cưỡng chiếm được VNCH vào ngày 30-4-1975, VC liền phản thầy bằng cách tuyên bố tức khắc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà trước đó vào năm 1974, đã giúp giặc Tàu tàn sát hải quân VNCH để cưỡng đoạt gấm vốc của tổ tiên Hồng Lạc.

Trên đất Bắc, từ năm 1954 tới nay, vì quyền lợi riêng tư mà đảng cộng sản hoặc nhắm mắt làm ngơ hay đã đồng thuận dâng hiến hoặc bất tài để cho Trung Cộng công khai chiếm đoạt nhiều đất đai của Việt Nam dọc theo biên thuỳ Hoa Việt. Trong sự mất mát này, quan trọng bậc nhất vẫn là ẢI NAM QUAN, với địa thế hiểm trở có một không hai, nằm trên con đường độc đạo Quảng Tây-Hà Nội.

"Quỷ môn quan, quỷ môn quan
thập nhân khứ, nhất nhân hoàn."

Nơi mà bao đời tiền nhân ta đã tạo nên những chiến công hiển hách vào năm 981 (STL), Thập đạo tướng quân Lê Hoàn bêu đầu Hầu nhân Bảo. Năm 1076 Thân cảnh Phúc chận đứng 30 vạn quân Tống của Quách Quỳ, để Lý thường Kiệt giết trọn trên sông Như Nguyệt, tạo hứng cho Ðại tướng quân viết bài thơ thần "NAM QUỐC SƠN HÀ" khẳng định với giặc Bắc, về cương thổ độc lập của Ðại Việt... Nhưng lừng lẫy nhất vẫn là trận Liễu Thăng, danh tướng số một của nhà Minh, bị các tướng Lam Sơn của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, chém rụng đầu năm 1427, nay vết tích vẫn còn nơi "Liểu Thăng Thạch" và "Lê Tổ kiếm" như một bài học, thách thức người Hán trước ác mộng xâm lăng VN.

Riêng ngoài biển Ðông, cũng do VC hèn nhục ký nhượng phần lớn lãnh hải của VN, khiến cho Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 200 hải ly tính từ Hoàng Sa, cộng thêm một hiệp ước khác vừa lén ký, cho phép Trung Cộng ra vào tự do trong vịnh Bắc Việt... làm cho vùng biển của VN, bây giờ thành cái ao của Trung Cộng nên mới dám hung tàn tập trận bắn đạn thiệt. Tóm lại hành vi bán nước của đảng cộng sản VN, chẳng những gây phẩn nộ cho cả nước, mà còn làm cho người ngoại quốc bất bình và khinh bỉ, mà nhà báo người Pháp Sylvaine Pasquier, gọi đó là quốc nhục của người Việt.

Mới đây, Hà Nội lại ký thêm nhiều hiệp ước bất bình đẳng với Tàu, công khai đồng thuận để giặc bắn giết đồng bào ngư phủ ngay trên biển đảo yêu quý của quê hương mình. Ngày nay, VN đã nghèo khổ lại càng khốn đốn hơn vì diện tích canh tác càng ngày càng bị giới hạn bởi thiên tai, nguồn tưới và nạn nhân mãn trầm trọng, với 5, 2 triệu ha ruộng, phải nuôi hơn 80 triệu người, nên bình quân 0, 16 ha dành cho 1 nông dân, nếu theo quy định của Liên Hiệp Quốc, thì quá thấp, dù theo cái loa tuyên truyền thì VN hiện nay là nước đứng thứ ba (sau Thái Lan, Aãn Ðộ) sản xuất gạo. Nói chung, gạo thặng dư bán ra ngoài chỉ là vấn đề thời gian, cho nên dù muốn hay không, thức ăn và tương lai của dân tộc cũng vẫn là trên các sông ngòi biển sóng.

Theo nhận xét chung của các chính trị gia quốc tế, VN ngày nay dưới chế độ xã nghĩa, hoàn toàn trở thành chư hầu của Trung Cộng, từ quân sự cho tới lệ thuộc kinh tế, hàng hóa Tàu nhờ VC bỏ ngõ biên giới, cùng với bạch phiến, tiền giả... tràn ngập Bắc ốNam. Thêm vào đó là sách vở, văn hoá, văn minh Hán Tộc cũng tràn ngập công khai và như tằm ăn dâu, ngày qua tháng lại tự nhiên đồng hóa người Việt, như Trung Cộng đã và đang thi hành tại Mãn Châu, Mông Cổ, Hồi Hồi và Tây Tạng suốt hai thế kỷ qua.

Lãnh thổ đem cắt, kinh tế giao phó, văn hiến thì mời nhập và mạng sống của cả nước nhờ vào hai vựa lúa Sông Hồng, Sông Cửu, nay cũng bị giặc Tàu kiểm soát lưu lượng trên đầu nguồn, bằng một hệ thống đập chằng chịt, khiến cho đồng bào Hậu Giang năm nào cũng bị lũ lút tàn phá, một hiện tưọng không bao giờ xảy ra trước năm 1975.

2 - TRUNG CỘNG KHỦNG BỐ VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TRÊN SÔNG HỒNG HÀ- MEKONG

Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưỡng chiếm lãnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận trùng hằng. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xử dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược, liên hệ tới sự sống còn của dân tộc. Ai có thể ngăn được sự phẩn uất, trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong "Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được, ai dám ngăn cản ".

Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xảy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa.

Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết. , một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để lãnh tụ và ca sĩ quốc doanh xuất ngoại làm trò cười cho đồng bào tị nạn khắp nơi trên thế giới.
+ HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN:
Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Ngoài ra còn bá quyền nước lớn, bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN.

Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam, đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này. Ðó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng.

Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm, làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển.

Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ, đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide... gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá.

Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola.

Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần.
+ SÔNG NGÒI TẠI BẮC PHẦN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU:
Diện tích VN hiện nay là 331. 000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm. , với diện tích 15. 000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115. 700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình.

Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới, trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó, hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón.

Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra.
+ ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần: Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40. 000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt. Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu.
+ TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết, thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao "Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ". Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long, vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người.

Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14, 8 m, gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11, 5m. Năm 1932 là 13, 3m và hiện nay đã cao tới 15-15, 5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể... để hạ bớt mực nước lụt

Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào... thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ, làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản... Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1. 828. 000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước.

Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3, 9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại, từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ.

Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ... nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó, thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong... đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất... được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo.
+ ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN:
Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ: Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều.

Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống, tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xảy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên, vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng.

Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa.

Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng, với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1, 1 ố 1, 3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá, ốc... để xuất cảng.

Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa.

Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xử dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km.

Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200. 000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng.

Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30. 000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại, không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho... mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh, , An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ. đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước, dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước.
3- 29/4/2008: CSVN CUNG NGHINH ÐUỐC MÁU TÀU ÐỎ TẠI SÀI GÒN:
Ðuốc máu của Tàu đỏ, được Libinhua (phó chủ tịch UBTVH Bắc Kinh 2008) cùng đám âm binh đông đảo với cờ quạt và bản chất côn đồ lưu manh như vừa thể hiện tại Hán Thành cùng hầu hết các nơi khác trên thế giới, đã tới Sài Gòn ngày 29-4-2008. Ra đón giặc tận phi cơ, là tên Hoàng Vĩnh Giang, đại diện cho ngụy quyền CSVN, cùng với một lực lượng công an VC và Tàu cộng chìm nổi đông đảo, để bảo vệ đuốc máu của thiên triều.

Bức tranh vân cẩu đã làm cho người Việt trong và ngoài nước vừa xấu hổ, vừa ngậm ngùi cho thân phận VN trong cơn quốc nạn. Thật sự chỉ có những kẻ không có tim óc mới dững dưng trước nổi nhục Tàu đỏ chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, rồi hợp thúc hóa thành Tam Sa vào cuối năm 2007.

Nổi công phẩn mất nước của người Việt cũng bừng cháy lên từ đó, do các sinh viên học sinh, nam nữ thanh niên và một số văn nghệ sĩ trong nước phát động các cuộc biểu tình chống giặc Tàu, ngay tại Hà Nội, Sài Gòn và nhiều nơi khác khắp nước. Hưởng ứng và hỗ trợ cuộc đấu tranh trên, người Việt tị nạn CS khắp năm châu, cũng đứng dậy đòi Tàu đỏ và VC phải trả lại lãnh thổ và chính quyền cho toàn dân Việt để cứu nước.

Sự đối kháng của cả nước VN làm Tàu đỏ lồng lộn như con thú bị bắn trúng hồng tim, nên chúng đã ra lệnh cho VC phải thanh toán dứt điểm, bắn giết, bỏ tù, thủ tiêu hay bịt miệng đồng bào, để cả hai đảng còn có mặt, tiếp tục lừa bịp thiên hạ ngày nay vốn đã chê chán thừa mứa về những câu chuyện có liên quan tới TC và VC.

Nhưng vấn đề Tam Sa còn đang nóng hổi trên diễn đàn thế giới và nơi 80 triệu trái tim VN, thì vào giữa tháng 3-2008, Người Tây Tạng lại đứng dậy đòi Tàu đỏ phải trả đất nước cho họ. Từ đó cho tới nay, bảo tố gần như cơn sấm dậy bừng trời mù đất, diễn ra khắp mọi nơi. Trung Cộng vừa xấu hổ, vừa tức giận nên đã ra lệnh cho công an, bộ đội Tàu đàn áp dã man người Tạng lẫn Hồi ngay trên đất Tạng và những tỉnh lân cận, vốn là đất Tạng nhưng đã bị cắt xén.

Mấy năm qua cả thế giới gần như chạy làng, chừa mặt cái gọi "made in China" thì nay lại tới vụ đế quốc Tàu đỏ công khai thú tính khi đàn áp người Tạng, Hồi và cả người Hoa trong nước vì họ đứng dậy đòi quyền sống, quyền làm người. Tất cả đã bộc lộ bản chất lưu manh của cộng sản quốc tế, nói một đàng làm một nẻo như Trung Cộng khi được đăng cai tổ chức Thế vận Hội tại Bắc Kinh 2008 đã từng hứa nhưng không bao giờ thi hành.

Rồi như muốn biểu dương cái gọi là đông người và giàu nhất thế giới, Tàu đỏ tổ chức những cuộc rước đuốc rầm rộ gần như long trời lở đất, trước khi chính thức khai mạc thế vận hội vào tháng 8. Nhưng chúng đã quá ngu si khi dám ngông cuồng tự tin là "made in China" đi tới đâu thì đâu cũng nể sợ. Bởi vậy đuốc máu đã bị chống đói gần như toàn diện hay nói đúng hơn kỳ rước đuốc này đã "độc diễn" vì chỉ có Tàu đỏ và chính quyền các nước sở tại, vì ngoại giao nên phải tham dự. Bởi vậy đuốc đi tới đâu thì cuồng phong nổi lên tới đó, báo hiệu ngày tàn của đế quốc đó cũng sẽ tắt ngũm theo ngọn đuốc côn dồ, trong một tương lai gần.

Cuối cùng chỉ còn lại thằng đầy tớ VC là chịu cúc cung tận tụy "cung nghinh" ngọn đuốc máu, trong chặng đường cuối cùng để rữa nhục cho đàn anh. Bởi vậy vào ngày 17-4-2008, Hứa minh Luông (đại sứ Tàu đỏ) tại Hà Nội, trực tiếp gặp và ban lệnh cho Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước VC, phải bằng mọi cách làm sao không cần biết, bảo vệ và tổ chức rước đuốc máu tại Sài Gòn vào ngày 29-4-2008, thật vĩ đại rầm rộ và bách chiến bách thằng. Do trên Triết đã triệu tập Bộ Chính Trị và Ban thường vụỳ Ðảng để nghị quyết và bắt Thủ tướng VC Nguyễn tấn Dũng phải lập tức thi hành.

Ðể lấp liếm cái tội hèn và bán nước của chính mình cùng với đồng bọn, Dũng vào ngày 20-4-2008 lại tuyên bố "bảo vệ đuốc máu cho Tàu đỏ, là bảo vệ tình hữu nghị của hai nước". Vì vậy cũng đừng lấy làm lạ là tại sao VC đã hoan hô TC đàn áp Tây Tạng và luôn xác quyết nước Tây Tạng là lãnh thổ của Tàu đỏ. Trong khi đó thì vụ Hoàng Sa, Trường Sa, Tam Sa lại im re không ý kiến. Trước đó vào tháng 3-2008, Nguyễn Văn Thơ, thứ trưởng Bộ Ngoại giao VC cũng trân trọng hứa với Hồ Càn Văn, Chủ tịch TVH Bắc Kinh, là toàn bộ đảng CSVN sẽ tận dụng mọi khả năng, tài nguyên và lòng trung thành, để bảo vệ ngọn đuốc màu khi tới Sài Gòn ngày 29-4-2008.

Hỡi ôi phải tận dụng cả công an, bộ đội để đàn áp dân oan, dân đói cả nước. Phải tìm đủ mọi trăm phương ngàn cách để hủy diệt Phật Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo trong nước, phải lừa bịp bịt miệng dư luận trong và ngoài nước để che đậy nạn đói kém và suy thoái kinh tế trong nước. Nay toàn bộ đảng CSVN lại huy động mọi khả năng trong nước để bảo vệ ngọn đuốc bất nhân, bất nghĩa, côn đồ lưu manh của Tàu đỏ, qua lớp hào nhoáng được gọi la tinh thầnợ thể thao, giá trị nghệ thuật và truyền thống văn hóa. Lần bán nước và rước giặc Tàu công khai vào nước, quả thật đảng CSVN đã hết thời cơ trổi dậy để lấy quyền lãnh đạo từ đồng bào và công luận thế giới, vì chẳng còn ai tin tưởng nữa. Nên hôm nay 29-4-2008, dù cho ngọn đuốc máu có diễn hành tại Sài Gòn suôn sẽ, do cán bộ nhà nước theo lệnh Triết, Dũng thi hành, thì đó cũng chẳng qua là trò độc diễn, đâu có giá trị gì ?

Ba mươi ba năm về trước, ngày 29-4-1975 cũng là ngày N, giờ G mà Lê Duẩn chọn để tấn công cưỡng đoạt Sài Gòn và dứt điểm VNCH. Ngày 29-4-2008 lịch sử lại tái diễn của ngày N, giờ G... toàn dân cả nước dứt điểm đảng toàn trị CSVN trên lãnh thổ VN, cho dù chúng vẫn còn hiện diện như ốc mượn hồn.

Giặc Tàu đã chính thức vào nước,
Cờ đỏ của Tàu phủ kín bầu trời

Ðuốc máu của Tàu đỏ đang thiêu đốt danh dự của Tổ Quốc Hồng Lạc
Trước nỗi hận nhục này, ai người yêu nước động lòng chưa ?

Xóm Cồn

Quốc Hận 29-4-2008
HỒ ÐINH

Posted: Sun May 04, 2008 3:07 am
by thienthanh

Image

Lời trần tình của Chu Tất Tiến.


Nửa đêm, giờ Tý, đang say ngủ, bỗng có ai lay dậy thật mạnh. Giật mình, mở mắt ra, thấy rất đông Tướng Sĩ đứng chật phòng. Oai nghiêm đứng trước hàng là một vị Tướng Quân tay cầm gươm sáng lóa đang chỉ vào mặt người viết. Hoảng sợ quá, người viết vội thụp xuống lạy. Một vị Tướng trẻ, tay cầm quả cam, vội bước đến, trấn an:
-Ngươi đừng sợ! Hãy ngẩng đầu lên, nghe hiểu dụ của Đại Vương.
Người viết run rẩy "dạ" nhỏ. Vị tướng trẻ kia phất tay, đột nhiên một tờ dụ bay ra, rơi xuống trước mặt người viết. Dùng mũi kiếm chỉ vào tờ dụ, vị tướng trẻ nghiêm giọng:
-Ngươi đem phổ biến tờ dụ này cho bàn dân thiên hạ ngay lập tức.
Nói xong, biến mất. Tất cả các Tướng Sĩ cũng đều như một làn gió thoảng qua, không còn thấy bóng hình nào nữa, chỉ còn tờ dụ mầu vàng trên sàn.
Người viết vội đem tờ dụ chuyển đi ngay, không dám chậm trễ.
Kính xin cùng đọc và tha lỗi cho người viết, nếu việc ghi chép có điều chi thất thố.


HỊCH HẠCH TỘI QUÂN BÁN NƯỚC

Việc trị nước vốn ở yên dân.
Làm cha đẻ phải lo con khó
Đất nước ta bao lần thịnh nộ
Đuổi xâm lăng hung hãn kinh hoàng
Vì dân ta dạ đá, gan vàng
Đánh Mông Cổ, vạn quân chạy loạn
Trận Phú Thọ, chết tiêu hàng vạn
Quân Mông kia, kình ngạc thương vong
Lũ Thóat Hoan, năm chục vạn băng đồng
Chạy trối chết, chạy quên mũ áo
Trần quốc Toản, một tay gan bạo
Đánh quân Mông vài trận tơi bời
Vừa hợp lòng dân, vừa hợp ý Trời
Như Ta từng bẩm: "Xin cắt đầu Thần đi đã!"
Các ngươi hãy nhớ, ghi lòng tạc dạ
Hội nghị Bình Than, Diên Hồng đó làm gương
Bạch đằng Giang, thuyền giặc tang thương
Tên Thái Tử chui ống đồng chạy trốn
Nay ta nghe,
Dân chúng hoang mang vì một lũ khốn
Rước voi dầy mồ, làm nhục cha ông
Bọn Bắc Phương kia, có gì mà cuồng ngông?
Nay lũ khốn lại cúi đầu dâng đất!
Dâng cả biển, Thác Bản Giốc, dâng tất!
Thế còn gì là đất nước tổ tiên?
Chúng có liêm sỉ không? Sao ngậm miệng ăn tiền?
Ta thấy nhục, nhục tiên, nhục tổ
Ngày đánh vật của Bắc Phương, chúng ra đường, cổ võ
Đất của ta, mà Tầu Cộng dương oai?
Thành Thăng Long, nơi đuổi chúng chạy dài
Giờ trở lại, từng đoàn, ca múa
Bọn chúng thi đua với nhau, kệ cha chúng chứ!
Sao bắt dân đi hầu, như giỗ Tổ Hùng Vương?
Sao đất nước mình, mà cờ Tầu lại giương?
Đánh trống, gõ mõ, múa Lân, múa khỉ?
Sao biểu tình chống xâm lăng mà lại cấm chỉ?
Người yêu nước bị tù, bị phạt trăm ngàn?
Lũ Tầu Cộng còn hoạnh họe, ngang tàng
Coi nước Việt như sân nhà của chúng
Nhốt thanh niên biểu tình như úp thúng
Hễ nhô ra là chúng xúm lại vây
Ta thấy từ ngàn xưa cho đến ngày này
Chưa lúc nào dân ta nô lệ thế!
Lũ khốn kia quá hèn, quá tệ!
Sợ Cộng Tầu đến vãi đái, vãi phân
Công An không phục vụ nhân dân
Lại bợ đít lũ Cộng Tầu xâm lược
Nên ta đây,
Phải ra tay trị loài ngang ngược
Truyền Phạm Ngũ Lão hồi kinh, chém bọn vong nô!
Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư
Mau phong tỏa lũ xâm lăng, chém hết!
Yết Kiêu, Dã Tượng đâu? Không được tha chết
Cho bất cứ tên nào chiếm đất dân ta
Truyền các tướng bủa vây, địa võng thiên la
Những tên cháu con của Trần Ích Tắc,
Là Hồ Chí Minh Ích Tắc, Phạm văn Đồng Ích Tắc
Và lũ khốn kýgiấy nhượng nước nhà
Đem đóng gông, phơi nắng, không tha
Cho vạn kỷ sau, không còn tên bán nước
Không còn lũ bợ đít, lòn trôn, mua quan bán tước
Tham nhũng tung hoành, tàn hại dân ta.
Truyền cho toàn dân, họp lại muôn nhà
Hội Nghị Diên Hồng, thêm một lần hạch tội
Bọn xâm lăng, cuồng vọng Bắc Phương.
Ta truyền cho các ngươi:
Phải làm sao cho hậu thế lưu hương
Phải chứng tỏ con Lạc, cháu Hồng dũng cảm
Giòng dõi vua Hùng, trung can, nghĩa đảm
Không nô lệ ai, dù cho Tầu Cộng gầm gừ
Hãy nhớ lời Lý Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Thôi, mấy lời căn dặn
Không được làm nhục Lịch Sử dân ta!
Ta quyết chém chết, không tha!

Mùa Hạ, Năm Mậu Tý.

Chu Tất Tiến

Posted: Tue May 06, 2008 3:22 am
by tranphuongdong
Mối ám ảnh về mầu da

Ngô Nhân Dụng

Sáu tháng nữa, cử tri Mỹ sẽ đi bầu. Sáu tháng là một thời gian khá dài, nhất là trong thời đại thông tin đại chúng lan rộng và truyền nhanh như hiện nay, bao nhiêu chuyện có thể làm người dân thay đổi ý kiến.

Uy tín các ứng cử viên sẽ còn lên, xuống. Vì các đề tài tranh cử có thể thay đổi, trong 6 tháng bao biến cố sẽ xẩy ra. Mối lo lắng của cử tri cũng thay đổi, lúc này họ đang lo về kinh tế, lúc khác chuyện an ninh, quốc phòng có thể nổi lên. Một ứng cử viên chỉ nói lỡ một câu; hay bà vợ hoặc ông chồng của họ nói lỡ một câu, những chuyện mới được tiết lộ, nhiều người dân sẽ có thái độ khác. Trong sáu tháng nhiều chuyện có thể xẩy ra ảnh hưởng tới lựa chọn khi họ bỏ phiếu.

Các cuộc phỏng vấn cho chúng ta biết dư luận của người dân, nhưng khi phỏng vấn họ thường đặt câu hỏi: “Nếu hôm nay đi bỏ phiếu thì ông, hoặc bà, sẽ chọn ai?” Không người nào hỏi, “Sáu tháng nữa quý vị sẽ bỏ phiếu cho ai.” Vì thế, các cuộc nghiên cứu dư luận lâu lâu lại loan báo những kết quả mới.

Một cuộc nghiên cứu trong mấy ngày cuối cùng của Tháng Tư 2008 cho thấy đảng Dân Chủ có nhiều triển vọng tiếp tục kiểm soát cả hai viện Quốc Hội trong năm tới. Nhật báo Wall Street và đài NBC cho biết dân Mỹ tỏ ra đã chán đảng Cộng Hòa, nguyên nhân chính là vì Tổng Thống Bush. Chỉ có 27% cử tri coi ông Bush đã thành công trong vai trò tổng thống, cũng như chỉ có 27% dân có thiện cảm với đảng của ông. Theo báo Wall Street, một tờ báo khuynh hướng bảo thủ và thường đồng quan điểm với đảng Cộng Hòa, từ năm 1992 đến nay đảng Cộng Hòa mới bị dân cho “điểm thấp” đến như vậy. Năm đó, ông Bill Clinton thắng ông Bush bố, chấm dứt 12 năm đảng Cộng Hòa ngồi trong Tòa Bạch Ốc.

Hiện nay ba phần tư dân Mỹ đang nghĩ quốc gia đang đi lạc hướng, chỉ có 15% cho là đi đúng đường. Ðối với quan tâm hàng đầu của cử tri là nền kinh tế đang suy yếu, chỉ có 21% tin rằng các chính sách của Tổng Thống Bush là đúng.

Vì vậy, đa số các cử tri Mỹ đang ủng hộ đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay. Nếu không nêu tên ai là các ứng cử viên tổng thống thì có 51% cử tri nói họ sẽ bầu cho đảng Dân Chủ, chỉ có 33% bầu cho đảng Cộng Hòa. Tuy nhiên, khi nêu tên các ứng cử viên của hai đảng thì sự tỷ số thắng bại lại khác. Nếu ông Barack Obama tranh cử thì sẽ thắng ông McCain với tỉ số 46%-43%. Còn nếu đảng Dân Chủ chọn bà Hillary Clinton làm đại diện thì bà chỉ thắng với tỉ số 45%-44%. Có thể coi cả hai trường hợp là bất phân thắng bại. Vì trong những cuộc phỏng vấn chừng 1,000 người để suy ra dư luận cả nước như vầy, kết quả tìm ra có thể sai đến 3% cao hay thấp hơn sự thật. Trong những cuộc nghiên cứu dư luận khác, có khi bà Clinton lại thắng ông McCain với điểm chênh lệch cao hơn ông Obama nhưng mức chênh lệch cũng không xa vơi sai số là bao nhiêu. Có thể nói Nghị Sĩ John McCain được tín nhiệm đặc biệt, uy tín cá nhân ông cao hơn đảng ông. Và dù ai đại diện đảng Dân Chủ trong Tháng Mười Một này, thì cuộc tranh tài với ông McCain đều nhiều gay go.

Trong vài tháng sau cùng trước ngày dân Mỹ đi bỏ phiếu, các ứng cử viên sẽ sử dụng đến những “chiêu độc.” Khi dư luận cứ nghiêng ngửa không rõ thắng bại, những đòn tranh cử thấp có thể được đưa ra nếu muốn đánh vào “tử huyệt.” Thường chính các ứng cử viên tổng thống không công khai hạ độc thủ, nhưng không ai cấm các người cùng phe họ tấn công bằng những đòn thấp. Năm 1988, ông Gorges H.W. Bush (bố) thắng ứng cử viên Dân Chủ Dukakis một phần nhờ những cuộc tấn công trên ti vi trong tháng sau cùng. Màn quảng cáo này kể chuyện một tử tội được ông Dukakis giảm án khi ông là một thống đốc tiểu bang; tử tội đó sau đã trốn ra ngoài, phạm tội cưỡng hiếp và sát nhân lần nữa.

Câu chuyện kể bằng phim ảnh đó gây cho dân chúng Mỹ cảm tưởng ông Dukakis phán đoán sai lầm, mềm yếu đối với tội phạm. Nhưng điều ám ảnh các cử tri khi họ vào phòng kín chọn lá phiếu bầu, là mầu da kẻ sát nhân. Trong phim không có một câu nào nhắc đến chủng tộc của anh ta. Nhưng ai cũng phải thấy và nhớ mãi anh là người Mỹ da đen. Cảnh đó ám ảnh nhiều người Mỹ, gợi lại mối lo của họ là đảng Dân Chủ thường theo những chính sách dễ dãi với người Mỹ da đen. Và cũng gợi lại mối ám ảnh của cử tri về tình trạng người da đen phạm pháp nhiều hơn bình thường.

Sau cuộc bầu cử, không ai còn nhắc đến những người sản xuất màn quảng cáo tranh cử trên. Nhưng mục đích của họ đã đạt được ông Bush đắc cử năm 1988.

Năm nay, chúng ta thấy Nghị Sĩ Barack Obama đang có triển vọng sẽ được đảng Dân Chủ chọn ra tranh cử tổng thống gốc da đen. Và cho tới nay mọi người thuộc cả hai đảng đều tránh không đem vấn đề mầu da ra nói. Ai cũng muốn tỏ ra mình là người phong nhã và cao thượng; không ai tấn công đối thủ về chuyện chủng tộc, tôn giáo, đời tư.

Nhưng trong tuần trước, những người lãnh đạo đảng Cộng Hòa ở tiểu bang North Carolina đã đụng chạm tới “điều cấm kị” này. Họ đã chuẩn bị đưa ra những hình ảnh Mục Sư Wright, của giáo hội mà ông Obama vẫn tham dự từ 20 năm nay, tuyên bố những lời “chửi” cả nước Mỹ. Nghe tin đó, Nghị Sĩ John McCain và giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa đã lập tức yêu cầu ngưng không cho chiếu những màn quảng cáo đó nữa. Nhưng cấm họ cho tới bao giờ? Và sau này còn có thể ngăn cản họ được không?

Những lời thóa mạ nước Mỹ và người Mỹ da trắng của Mục Sư Wright đã được đưa lên mạng lưới từ Tháng Ba. Barack Obama đã công khai nói ông không đồng ý với vị mục sư đã làm phép cưới cho ông cũng như rửa tội cho 2 người con của ông và bà Michelle. Tuy nhiên, ông Obama cũng nói ông không thể từ bỏ vị mục sư và giáo hội của ông được. Và từ đó tới tuần rồi, không ai nhắc tới câu chuyện này nữa. Cho tới khi, chính ông Wright nhắc nhở mọi người phải nhớ lại. Tại câu lạc bộ Báo chí ở Washington, ông mục sư này lập lại những lời nói được người ta chiếu trước đây: Chính phủ Mỹ có thể gây bệnh liệt kháng (ADIDS) cho người Mỹ da đen, và đã tự gây tội khiến dân Mỹ bị thù ghét và bị khủng bố. Nghị Sĩ Barack Obama bây giờ phải công khai chỉ trích vị mục sư của mình, những vấn đề mầu da lại được gợi ra, không tránh được.

Và khi cuộc tranh cử tổng thống đến những ngày chót thì người ta không thể lờ đi không nói tới vấn đề mầu da, người này tránh sẽ có người khác nói. Trong màn quảng cáo ti vi mới bị chặn lại, đảng Cộng Hòa ở North Carolina còn chiếu cảnh ông Obama đứng vòng tay ôm ngang lưng một ứng cử viên Quốc Hội của đảng Dân Chủ. Ứng cử viên đó là một phụ nữ da trắng. Cảnh này rõ rệt muốn “đánh lá bài mầu da” trong cuộc tranh cử địa phương. Ðảng Cộng Hòa ở North Carolina muốn cổ động cho các ứng cử viên Quốc Hội của họ, những cảnh họ trưng ra sẽ được truyền đi trên mạng lưới khắp nước Mỹ, không ai ngăn được.

Liệu Nghị Sĩ John McCain có thể ngăn cản không cho ai nhắc tới Mục Sư Wright trong cuộc tranh cử tổng thống, nếu Nghị Sĩ Barack Obama đại diện cho đảng Dân Chủ hay không? Nếu những màn vận động tương tự được chiếu vào Tháng Mười năm nay thì ảnh hưởng trên cử tri Mỹ như thế nào? Ðó là một điều mà giới lãnh đạo đảng Dân Chủ đang lo ngại.

Cuộc bỏ phiếu ngày Thứ Ba tới ở North Carolina và Indiana chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng của câu chuyện Mục Sư Wright mới được nêu ra. Ở North Carolina, ông Obama chắc sẽ thắng bà Clinton, vì trong đảng Dân Chủ rất nhiều cử tri da đen ủng hộ ông. Nhưng nếu ông chỉ thắng với một tỷ số khiêm tốn trên 10% thì mọi người sẽ thấy các cử tri da trắng ở đó đã bị ảnh hưởng về chuyện đen trắng. Tại Indiana, ông Obama gần đây vẫn dẫn trước bà Clinton, nếu Thứ Ba tới ông không thắng thì chắc chắn vì ảnh hưởng của chuyện ông Wright. Indiana xưa nay vẫn bầu cho đảng Cộng Hòa làm tổng thống, cuộc chạy đua giữa ông Obama và bà Clinton sẽ chỉ có tính cách biểu tượng. Ðó sẽ là một biểu tượng rất mạnh, ảnh hưởng tới sự lựa chọn của các đại biểu trong kỳ đại hội đảng Dân Chủ vào Tháng Tám.

Các đại biểu sẽ chọn ứng cử viên nào có nhiều hy vọng thắng ông McCain vào cuối năm nay. Trong những tiểu bang then chốt, như Ohio, Pennsylvania và Florida, mà sự lựa chọn sẽ quyết định ai làm tổng thống, số cử tri “đàn ông, da trắng và thuộc giới lao động” sẽ là thành phần mà cả hai đảng cần tranh thủ. Cho tới nay, bà Hillary Clinton được giới cử tri này trong đảng Dân Chủ ủng hộ nhiều hơn.

Hiện nay, đảng Cộng Hòa có vẻ lo ngại ông John McCain sẽ khó thắng ông Obama, đối đầu với bà Clinton có vẻ dễ hơn. Nhưng nếu đảng Dân Chủ chọn ông Obama thì trong cuộc tranh cử vấn đề mầu da không tránh khỏi sẽ được đưa ra. Chỉ cần gây cho dư luận chú ý đến những cảnh Mục Sư Wright tuyên bố những câu nẩy lửa “chống Mỹ” là sẽ khích động được rất nhiều cử tri da trắng. Hiện nay còn khoảng 300 đại biểu đương nhiên được tham dự đại hội đảng Dân Chủ chưa quyết định sẽ chọn ai, nhưng nếu lo lắng về vấn đề này thì họ sẽ ngần ngại hơn khi chọn Nghị Sĩ Barack Obama. Không ai muốn đem mầu da vào cuộc tranh cử, nhưng rất khó gạt vấn đề đó ra khỏi đầu óc mọi người!

Posted: Thu May 08, 2008 12:36 am
by khieulong
Đánh đánh-đàm đàm, nguyên lý ngoại giao của Tàu
Tác giả: Nguyễn văn Trần



Trước biến cố Bắc Kinh đàn áp, dập tắt đẫm máu cuộc nổi dậy của dân Tây tạng đòi quyền tự trị, nhiều người bất chợt nhớ lại câu nói thời danh của Napoléon “Khi Tàu đứng dậy, thế giới rung chuyển”.

Lâu nay, thậm chí chỉ vài tuần trước đây, nhiều nước, cả Pháp, nhìn thấy Hoa kỳ là mối nguy cho sự ổn định thế giới. Biến cố Tây Tạng, cuộc rước Đuốc qua Thủ đô London (Anh quốc), Paris (Pháp quốc) bị dân chúng chống đối mạnh, làm cho chương trình rước đuốc Olympic bị thất bại, đã làm cho quan điểm này thay đổi.

Theo kết quả thăm dò dư luận của hãng Harris trong tháng 03/2008 vừa qua thì từ nay, mối nguy hiểm công cộng số 1 là Tàu Bắc Kinh.

Riêng đối với Tây tạng, Tàu chiếm đóng xứ này từ nửa thế kỷ nay, khai thác và bóc lột hằng triệu công nhân lao động Tây Tạng tận xương tủy, bỏ tù những người ôn hòa đứng lên đòi nhân quyền phải được tôn trọng.

Đối với thế giới, Tàu xuất cảng sản phẩm nhiễm độc chất, hàng giả mạo. “Cộng sản Tàu là những tên du côn. Hàng hóa Tàu là những thứ dỏm” - lời nhận xét của một biên tập viên CNN.

Khi được chọn làm quốc gia tổ chức Thế vận hội 2008, Bắc Kinh chỉ nghĩ sẽ đưa cao Ngọn Đuốc thế vận đón nhận những tràng pháo tay hoan nghênh của thế giới và xem như thế giới sẽ không thấy gì, không nghĩ gì khác hơn về mình.

Và ngày nay Bắc kinh phải chấp nhận lùi bước sẽ nói chuyện với Đức Đạt-Lai Đạt-Ma .

Ngày 12/04, tu sĩ Phật giáo Matthieu Ricard, con trai của triết gia và văn sĩ nổi tiếng của Pháp Jean -François Revel (qua đời), ra khỏi Điện Elysée, vội vã khoác lên người chiếc áo choàng màu đỏ sẫm, lao mình tới một cuộc gặp gỡ khác, chỉ kịp nói “đầy hứa hẹn”: Vấn đề Tây Tạng đã diễn tiến tốt đẹp.

Ông được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy mời đến để tham khảo ý kiến và nghe thông tin chính xác về biến cố Tây Tạng. Như một chứng nhân.

Tu sĩ cảm thấy hài lòng vô cùng khi được đính chính với Tổng thống Sarkozy những lời tuyên truyền của Bắc Kinh về tình hình Tây Tạng thường hoàn toàn không đúng sự thật. Cộng sản nói dối. Cộng sản Tàu có tiếng nói dối hơn nha sĩ. Cứ đọc truyện Tàu thì biết. Ông báo cáo với Sarkozy một sự thật có kiểm chứng: 192 người Tây Tạng bị bắn chết. Ông có danh sách đầy đủ tên tuổi. 2300 người bị bắt ngày nay vẫn không có tin tức. Một cuộc đàn áp dã man. Biên giới Tây Tạng bị phong tỏa.

Nghe qua, tổng thống Sarkozy hỏi “Bây giờ phải làm gì?”.

Theo ông, sau khi hội ý với bạn của ông, Tổng trưởng Ngoại giao, ông Bernard Kouchner, Liên Hiệp Âu châu, nên tiếp Đức Đạt-Lai Đạt-Ma và tiếp theo, Liên Hiệp Âu châu phải làm áp lực mạnh lên Bắc kinh để Bắc kinh chịu đối thoại với Đức Đạt-Lai Đạt-Ma trước khi Olympic khai mạc.

Sau đó, có làm gì nữa cũng vô ích. Tàu sẽ làm cỏ sạch Tây Tạng.

Giờ đây Bắc Kinh đã đồng ý gặp Đại diện của Đức Đạt-Lai Đạt-Ma! Trước đòi hỏi của công luận quốc tế, Bắc Kinh đã buộc phải nói chuyện với đại sứ của Đức Đạt-Lai Đạt-Ma Tenzin Taklha tại thành phố Shenzhen gần Hongkong ngày 4/05/2008. Cuộc đối thoại kéo dài suốt một ngày mà không đạt được kết quả nào, nhưng hai bên đồng ý sẽ gặp lại trong tương lai.


Đối thoại - Đàm, đàm - của Bắc Kinh?
Nguồn: Spurgeon.org
--------------------------------------------------------------------------------

Phải chăng Bắc Kinh biết làm mạnh không được nên nhượng bộ? Đây không ngoài chiến thuật cố hữu của Tàu “Đánh đánh, Đàm đàm”.

Việt Cộng cũng sử dụng chiến thuật “vừa đánh vừa đàm” này rất nhuần nhuyển, không những chỉ trong các trường hợp lớn như các Hội nghị quốc tế, mà cả khi khi đối đầu với dân chúng như trong vụ Thái Bình, (sau đó bắt nguội, cho đảng viên bất đồng chính kiến vào tù, còn có tin đồn cho tù nhân hình sự giết một số nông dân biểu tình ở Thái bình bằng cách dùng đũa ăn, đâm xuyên lỗ tai), trong các vụ biểu tình của dân chống đảng và nhà nưóc cướp đoạt nhà đất, tài sản, … Chúng ta đừng quên người cộng sản chỉ nhằm mục tiêu, không bao giờ thay đổi vì giác ngộ lẽ phải.

Tiền lệ của chiến thuật “đánh đánh, đàm đàm” hãy còn mới trong ký ức của dân Tàu. Năm 2003, một họa sĩ trẻ bị bắt ở Canton vì không có giấy tờ cư trú. Ba ngày sau, anh ta chết trong khám. Tờ báo địa phương tố cáo anh này chết vì bị đánh đập thô bạo trong nhà tù. Dân chúng phản ứng. Hằng ngàn, hằng trăm ngàn lời phản đối trên mạng. Nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh phải chịu thua. Lần đầu tiên lẽ phải xuất hiện công khai trong xã hội xưa nay chỉ có bạo lực ngự trị.

Thế là các giới quan sát Tây phương lập tức ghi nhận đó là bài học về công bằng xã hội. Một xã hội dân sự có trách nhiệm đang định hình? Nước Tàu tiến về chân trời dân chủ, tôn trọng nhân quyền? Từ đây, những vụ vi phạm nhân quyền sẽ giảm thiểu?

Nhà cầm quyền tuyên bố lớn tiếng rằng từ nay những vụ bạo hành trong nhà tù sẽ không còn nữa. Có nên tin hay không khi mà hệ thống đảng và nhà nước vẫn không thay đổi?

Hưởng ứng theo lời tuyên bố chính thức, một người khác, đưa ra lời kêu gọi trí thức hãy yểm trợ Tây Tạng vì ông tin tưởng ở những giá trị quy định bởi luật pháp. Ông bị bắt và có thể ra tòa lãnh án nặng.

Như vậy người cộng sản lùi là để tiến mà thôi, khi mục tiêu chưa đạt được. Sau mỗi lần “cởi mở”, mỗi lần hé ra cho tự do là lại lập tức trở về với độc tài, với những biện pháp cứng rắn. Cách ứng xử này không riêng đối với cuộc nổi dậy của Tây Tạng, mà cả với dân chúng Tàu ngay tại xứ Tàu nữa.

Việt Nam rập khuôn theo cùng chính sách. Năm 1986, “cởi trói” cho giới văn nghệ, “đổi mới” chỉ được mấy chốc là xiết lại. Xiết mạnh hơn trước!

Chủ tịch nước Tàu Hồ Cẩm Đào giải thích đường lối của Tàu ngày nay là “hài hòa và ổn định xã hội”, nhưng tay của ông để sẵn lên cò súng nhắm vào dân chúng. Hậu quả của sự mâu thuẫn này đè nặng lên sinh hoạt kinh tế, lên xã hội làm mọi người, nhất là giới đầu tư, không biết tin vào đâu. Dân chúng tới đảng viên chỉ thấy ở sức mạnh của đồng tiền. Họ kiếm tiền bằng mọi cách, thật nhanh, thật nhiều. Tìm chỗ cất giữ an toàn vì lo sợ tình thế sẽ thay đổi bất ngờ mà không ai dự liệu trước kịp. Một thứ xã hội chụp giựt, chớ không phải phân phối lợi nhuận nên chỉ có tham nhũng, cường quyền sống được. Đại bộ phận dân chúng không đủ cháo ăn qua ngày.

Với bản chất du côn của cộng sản, thiếu tính hảo hán, Tàu xăm chiếm Tây Tạng không chỉ chiếm đất đai, như một thứ thực dân chiếm thuộc địa, mà chiếm để tiêu diệt triệt để Tây Tạng. Một chế độ giáo dục mệnh danh là “giáo dục yêu nước” được tăng cường áp dụng trong các tu viện. Người Tây Tạng, nhứt là tu sĩ, bị bắt buộc phải từ khước vị lãnh đạo tinh thần - Đức Đạt-lai Đạt-ma. Trước đây, người Tây tạng chỉ biết phản ứng một cách ôn hòa theo bản chất hiến lành của người Phật tử, hoặc quá lắm là tự tử. Nay, họ không thể tiếp tục đè nén nên phải xuống đường. Khi Tây tạng vùng lên là cả một Tây Tạng với lịch sử ngàn năm quật khởi chống Tàu. Họ lo sợ một ngày gần đây người Tây Tạng sẽ trở thành thiểu số trên xứ của họ, sau khi các nguồn tài nguyên cạn kiệt, di tích lịch sử bị khánh tận, những nơi thiêng liêng bị phá hủy. Ai cũng biết Đức Đạt-lai Đạt-ma không hề xúi dân của ông nổi loạn như lời xuyên tạc của Bắc Kinh .

Nếu Bắc kinh muốn mượn Olympic trình diễn với thế giới bộ mặt văn minh, tân tiến của một cường quốc kinh tế, thì đó hoàn toàn là một thất bại chua cay. Khi Tây Tạng nổi dậy đồng loạt, đã mạnh dạng tố cáo bộ mặt đen ngòm, một bạo lực thực dân, một sự chà đạp những quyền con người, quyền dân tộc.

Dù vận dụng ngoại giao, bộ máy tuyên truyền khổng lồ để giải thích chính nghĩa, Tàu vẫn là một nưóc chiếm đóng Tây Tạng bị mọi người ghét.

Hồ Cẩm Đào ra tay đàn áp đẫm máu Tây tạng vừa qua. Người ta vẫn chưa quên chính hắn trước đây là Bí thư của đảng cộng sản ở Tây Tạng. Tháng 3/1989, tu sĩ Tây Tạng xuống đường kỷ niệm ngày 10/03/1959, ngày toàn dân quật khởi chống Tàu xăm lăng, ngày Đức Đạt-Lai Đạt-Ma lưu vong và đất nước bị thôn tính. Cuộc nổi dậy lan rộng ra trong dân chúng bị Hồ Cẩm đào đàn áp dã man trong biển máu. Từ thành tích này, Hồ Cẩm đào tiến dần lên Chủ tịch nước, Chủ tịch đảng.

Theo cách suy nghĩ của giới lãnh đạo Bắc Kinh, cứ đem đến sự giàu có như họ đã từng làm với những vùng Mảng, Mông có đông dân Hán thì Tây Tạng sẽ theo về với họ. Họ đã đánh giá sai. Tây Tạng vẫn bất khuất.

Thất bại, Bắc kinh năm 2002 đã chấp nhận đối thoại với Tây Tạng. Sáu cuộc gặp gỡ giữa hai bên diễn ra. Nhưng chỉ có giá trị câu giờ. Qua năm 2006, Bắc Kinh chấm dứt mọi đối thoại.

Các nước Á châu, Tây phương và Hoa Kỳ muốn Bắc Kinh giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng đường lối ôn hòa, đưa Đức Đạt-Lai Đạt-Ma trở về Tây Tạng để phục hồi hòa bình thật sự lâu bền.

Nhưng Hồ Cẩm Đào là người theo đuổi đường lối cứng rắn, có thể ngày mai này thay đổi được không? Hay vẫn bài cũ “Đánh đánh, Đàm đàm” như trước?

Liệu Bắc Kinh lo ngại một tiền lệ: sau Tây Tạng là những dân tộc nhỏ khác? Bắc Kinh chấp nhận cho tự trị hay giữ chính sách sát nhập bất di bất dịch của Đại Hán?

Còn Việt Nam nữa? Việt Nam chắc chắn sẽ không mất cho Tàu về lãnh thổ, chính quyền, sông núi như hàng ngàn năm nay Cha Ông ta đã từng oanh liệt chống lại giặc phương Bắc, nếu như Việt Nam tự chủ, tự cường và số phận của dân tộc và tiền đồ của Tổ quốc do dân quyết định.

Nhưng Việt Nam “xã hội chủ nghĩa” đã để mất đất đai, lãnh hải cho Tàu vì nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trơ trẽn bám chặt lưng Tàu để gìn giữ chế độ độc đảng, thủ lợi!

Tây Tạng là bài học nhãn tiền đối với người Việt chúng ta!

Nguyễn Văn Trần

Posted: Mon May 12, 2008 2:32 am
by dailien

Image

Thảm Sát tại Nam King

Giao Chỉ, San Jose
Cuối tuần qua, chúng tôi có dịp tham dự buổi họp mặt của đại gia đình Amerasian. Nếu dịch sát nghĩa ta phải gọi là những gia đình Mỹ Á. Việt Nam thường gọi là “ Con Lai” dù ngày nay quí vị đã trở thành thế hệ cao niên có con và có cả cháu. Và chúng tôi ghi nhận được những chuyện thương tâm.

Nhân ngồi bàn với một số thân hữu nhắc đến những nỗi đau đớn trong chiến tranh. Câu chuyện Lính Mỹ giết dân làng Mỹ Lai và Việt Cộng giết người hàng loạt kỳ Mậu Thân tại Huế.

Quả thực chiến tranh đã để lại những hệ lụy khôn lường. Thành tích ghê gớm nhất vẫn là Đức quốc xã giết Do Thái bên Âu Châu. Mới đây tại California người ta nhắc lại mặt trận Á Châu với cuộc thảm sát tại Nam Kinh đã vượt lên trên tất cả những chuyện kinh hoàng của nhân loại.

Khi nhắc đến lịch sử đau thương của Nam Kinh, các sử gia Trung quốc nói rằng không phải nhớ lại để thù hận mà cần nhớ lại để hiểu rõ những hiểm họa của chiến tranh.

Nhà thơ Hà Thượng Nhân đã viết:

Nếu như không đau khổ, làm sao biết hận thù.

Nhưng từ Tây Phương đến Đông Phương, hận thù nào sánh cho bằng hận thù diệt chủng. Nhân danh chủ nghĩa sắc tộc siêu phàm, Đức quốc xã giết hàng triệu dân Do Thái. Vì đấu tranh giai cấp, Khmer đỏ hạ sát trên 2 triệu đồng bào ruột thịt. Vì lý thuyết Đại Đông A,Ù quân phiệt Nhật bản giết hơn 370 ngàn dân Tàu tại Nam Kinh. Vì vậy, xin kể lại hầu quý vị về những chuyện đau thương. Xin lấy lịch sử bi thảm quá khứ để xoa dịu nỗi đau khổ nhẹ nhàng của hiện tại.

Những cuộc thảm sát
Lịch sử những vụ thảm sát trong chiến tranh từ đệ nhị thế chiến đến nay vẫn còn ghi mãi nét ô nhục cho nhân loại là câu chuyện Đức quốc xã giết dân Do Thái. Đó là thế giới Tây Phương.

Trong cuộc chiến ở Châu A những vụ thảm sát mà chúng ta biết được từ vụ lính Mỹ giết dân làng Mỹ Lai hàng trăm người, lên đến vụ Cộng sản Việt Nam hạ sát dân lành tại Huế kỳ Mậu Thân lên đến cả ngàn người.

Xa hơn nữa 70 năm về trước, thảm kịch Nam Kinh tại Trung quốc đã được ghi lại bằng phim ảnh với con số 370 ngàn thường dân bị quân phiệt Nhật bản tàn sát vào năm 1937.
Rồi đến khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, bên nước láng giềng Cam bốt, các lãnh tụ tối cao Khmer Đỏ đã đích thân đôn đốc công việc thanh toán trên 2 triệu dân Miên trong chiến dịch tự diệt chủng điên cuồng và ngu xuẩn nhất của loài người.

Dù tàn sát vài trăm người, hàng ngàn, hàng trăm ngàn hay lên đến hàng triệu người thì nỗi đau thương cay đắng của nhân loại cũng chẳng khác biệt. Joseph Stalin đã từng nói. Giết 1 người là sát nhân, thanh toán 1 triệu người chỉ là con số thống kê.

Sau vụ thảm sát Mỹ Lai trong chiến tranh Việt Nam, Trung Úy William Calley bị đưa ra tòa quân sự. Người phi công trực thăng Mỹ hạ cánh giữa chiến trường để ngăn cản vụ bắn giết đã lãnh huy chương anh hùng.

Nhưng không có phiên tòa nào xử các thủ lãnh Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trong vụ thảm sát Mậu Thân.

Mới đây tòa án Nam Vang vừa đem ra xử lãnh tụ Khmer Đỏ về tội diệt chủng đồng loại.

Sau đệ nhị thế chiến, tòa án Đồng Minh tại Đức xử tội quốc xã giết Do Thái và tòa Đông Kinh xử tội các lãnh tụ quân phiệt Nhật Bản. Trong đó có bản án Nam Kinh. Bây giờ xin kể chuyện Nanking.
Image

Thảm sát tại Nam Kinh (NANKING)
Hôm nay chúng tôi xin ghi lại câu chuyện hơn 70 năm về trước.

Vào năm 1931 Nhật Bản bành trướng thế lực xâm chiếm Mãn Châu và từ đây làm bàn đạp tấn công toàn thể Hoa Lục năm 1937. Đầu tiên chiếm đóng Thượng Hải và oanh tạc Nam Kinh, lúc đó là kinh đô của Trung Quốc. Thành tích ghê gớm và ô nhục của đạo quân Thiên Hoàng là chỉ trong vòng 1 tháng chinh phục Thủ đô Nam Kinh đã hãm hiếp 20 ngàn phụ nữ Trung Hoa từ em bé 10 tuổi đến bà già 80 tuổi. Đồng thời, cũng trong 6 tuần lễ đầu tiên, quân đội Nhật đã thảm sát trên 200 ngàn người. Con số ước tính khác về sau đã cho rằng thực sự lên đến 370 ngàn người.

Một nữ văn sĩ Trung Hoa tại Bắc California, cô Iris Chang đã thu thập tài liệu suốt 10 năm để hoàn thành tác phẩm nổi tiếng mang tựa đề The Rape of Nanking.

Nữ sĩ Chang 36 tuổi đã tự tử chết trong xe hơi phía Bắc San Jose.

Sau khi giãi bày nỗi đoạn trường về câu chuyện xấu xa nhất của nhân loại, người phụ nữ Hoa kỳ gốc Trung Hoa đã tự hủy mình. Linh hồn bà sẽ trở về để giải thoát cho hàng trăm ngàn nạn nhân chưa siêu thoát còn lẩn quất tại Nam Kinh.

Nhưng khi bà ra đi, vẫn còn để lại cuốn sách tại miền Bắc California.

Một độc giả người Mỹ, ông Ted Leosis đọc cuốn The Rape of Nanking rất xúc động và bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu thêm câu chuyện lịch sử đau đớn nhất của Châu Á vào đầu thế kỷ thứ 20.

Và ông tìm thấy bên cạnh nỗi đau thương thảm khốc của trên 300 ngàn người chết thì đã có hơn 200 ngàn người dân Trung Hoa được cứu thoát bởi một nhóm những người Mỹ và Âu Châu.

Họ là các giáo sư, ngoại giao đoàn, nhà truyền giáo, thương gia. Tất cả trên 20 người Tây Phương đã từ chối di tản khỏi Nam Kinh vào năm 1937 và hơn thế nữa đã dũng cảm lập ra khu tự đặt tên là Vùng an toàn để cho người già, đàn bà và trẻ em vào lánh nạn. Vùng an toàn này đã che chở trên 200 ngàn người dân Nam Kinh suốt nhiều tháng khi cuộc giết chóc, hãm hiếp và tàn sát kinh hoàng nhất xảy ra.

Dù là an toàn nhưng mỗi ngày khu vực phải đương đầu với các toán quân Nhật xông vào cướp bóc, giết người, đem đi phụ nữ, các thanh niên. Hãm hiếp phụ nữ. Chặt đầu đàn ông.

Với sự hiện diện của 24 người Mỹ và Tây Phương trong hậu tuyến của cuộc chiến tranh Trung Nhật, họ là các nhân chứng sống để sau này lên án nước Nhật.

Khi tình hình tạm lắng dịu các lãnh tụ của khu an toàn đã đi thoát với 1 bộ hình ảnh ghi bằng máy quay 16 ly. Sau này, cùng với hình ảnh và cuốn phim tài liệu, họ trở thành nhân chứng của cuộc tàn sát ở Nam Kinh.

Căn cứ vào bộ phim đen trắng đã thu hình không chuyên nghiệp, các nhà nghiên cứu đã dựng lên 1 phim tài liệu về Nam Kinh. Phỏng vấn các nạn nhân còn sống sót tại chỗ. Bay qua Nhật Bản đi tìm các lính Nhật đã tham dự vào cuộc tàn sát để hỏi chuyện. Họ tìm người đóng vai của những người Tây Phương anh hùng kể lại các diễn tiến dựa trên các trang nhật ký được tìm thấy.

Cuối năm 2007 phim Nanking ra đời. Đó cũng là năm tưởng niệm 70 năm thảm sát 1937.

Hơn 100 tờ báo tại Hoa kỳ điểm phim hết lời ca ngợi cho là 1 phim tài liệu xuất sắc nhất về cuộc chiến bị bỏ quên. Rất giản dị, kinh hoàng, xúc tích mà không thù hận.
Image
Bây giờ Phim Nanking ra ấn bản DVD phổ biến và cho thuê. Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh vết thương lớn của nhân loại với tiền thuê DVD một tuần chừng vài đồng bạc.

Đành rằng chiến tranh phải có nạn nhân và chết chóc. Nhưng dù cho bom đạn có giết dân với xấm sét kinh hoàng thì cũng còn có vẻ nằm trong quy luật chiến tranh. Nhưng đem cả đạo quân xếp hàng đâm lưỡi lê vào thân xác hàng trăm ngàn người gồm cả đàn bà trẻ con là 1 hành động man rợ mà thú vật cũng không thể làm được. Máu làm đỏ dòng sông và sau cùng xác chết làm con sông ngưng chảy.

Khi những đứa bé đi lính Khmer đỏ trên 10 tuổi lấy cuốc đập vào đầu bà già thì ai là nạn nhân và ai là thủ phạm. Những thanh niên đi lính Nhật bản mặt mũi trẻ thơ hiền lành cầm gươm chặt đầu trẻ em Trung Quốc thì ai là nạn nhân và ai là thủ phạm. Những tên lính miền Bắc Việt Nam tham dự vào cuộc chôn sống dân Thừa Thiên năm Mậu Thân thì ai là nạn nhân và ai là thủ phạm. Ở tất cả mọi nơi, thủ phạm phải là cấp trên, thủ trưởng, tướng lãnh, các chức vụ chỉ huy và giai cấp lãnh đạo trách nhiệm.

Còn những tên đao thủ ác thú ở chiến trường cũng chỉ là nạn nhân. Phải xem hình ảnh những người lính Nhật về già ngồi kể lại. Chúng tôi đã trói mọi người lại rồi đâm chém ra sao. Những nét mặt nhăn nheo cằn cỗi, bàn tay cầm điếu thuốc run rẩy, mắt tránh ống kính quay phim. Họ cũng chỉ là những nạn nhân của 1 cuộc tàn sát mà vẫn còn sống. Dù ngày xưa đã giơ cao lưỡi gươm của Thiên Hoàng mà chặt đầu hàng trăm người vô tội. Giá trị nhân bản của cuốn phim là không đòi xương máu, không kêu gọi oán thù.

Duy có 1 câu chuyện bên lề đáng ghi nhận. Một trong các nhà ngoại giao anh hùng lập ra khu an toàn để cứu 200 ngàn dân Trung quốc 70 năm về trước bây giờ còn sống.

Ông sống trong cảnh già nua nghèo túng. Những người Tàu sống sót của thảm kịch Nam Kinh đã góp tiền cử người qua thăm ân nhân với món quà cuối đời.

Cũng không khác gì người thiếu phụ Việt Nam vượt biển trên con tàu chỉ còn 52 người sống sót được dân đảo Bolinao cứu thoát.

Trong phim tài liệu mới chiếu, phim “Bolinao 52” với nữ thuyền nhân Việt Nam năm xưa trở về thăm ân nhân trên đảo Bolinao tại Phi luật Tân đã dúi vào tay người dân chài ân nhân một cuộn tròn mỹ kim có quấn dây thung.

Năm 2008 là năm ghi dấu 40 năm thảm sát Mậu Thân tại Huế. Mười năm nữa là 50 năm. Rồi đây, vào năm 2018 nếu có ai làm phim tưởng niệm vụ thảm sát Mậu Thân xứ Thừa Thiên, xin học kỹ thuật và chuyện phim Nanking. Điều quan trọng nhất là học được bài học nhân bản không kêu gọi hận thù.

Trong chiến tranh, kẻ bị giết và kẻ giết người đôi khi cũng chỉ là nạn nhân. Thủ phạm là những đầu óc lãnh đạo ở phía sau.

Trong bất cứ biến cố lịch sử nào, dù lớn hay nhỏ. Trách nhiệm nằm trong tay những người lãnh đạo. Lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo quân đội, lãnh đạo cộng đồng. Dù ra mặt đứng phía trước hay dấu mặt phía sau. Kêu gọi hận thù, bàn giao căm hờn, mặc dầu không trực tiếp cầm dao giết người, bàn tay cũng vấy máu.

Đó là bài học Nanking.

Giao Chỉ, San Jose

Posted: Tue May 13, 2008 1:24 am
by tranphuongdong
Ai Thống Trị Việt Nam Ngày Nay:
Đảng Cộng Sản Hà Nội Hay Một Đảng Hán Ngụy?


STEPHEN B. YOUNG


Image
Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là "Đảng Cộng Sản Việt Nam".

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành dộng nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái gọi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một "thứ đảng phái "vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân . Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa " theo ý hệ Mác-Lê .

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản .

Cách đây vài năm , ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng "hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học ". Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường củ mác-lê .

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng "tổ chức anh chị em cán bộ phải giữ quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ".

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành . Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử

Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hảy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc việt nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình" chính nghĩa Mác-Lê." một chút nào nữa Vậy thì cái đảng này nên tự giải táng, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm,… và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân,… cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước .

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộcViệt nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng "chính nghĩa Mác-Lê" để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới ? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử.

Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt nam sẽ xảy ra .Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia .

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi , tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo .

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ tuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyễn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăn khăn ôm giử nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng.

Khi có được chổ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viển đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở Sài Gòn, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc . Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản hà nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc .

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiếu đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt kắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc . Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị . Ổn định là cho quyền lợi của họ . Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế . Đó là thuyết của Mặc Địch .

Cái đạo chính trị này - " hoàng đế chính thuyết "- là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quán với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa . Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là "Mỹ Ngụy" .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ắp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ tôn chỉ "nhân bản, khoa học, khai phóng " …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo " hoàng đế chính thuyết".

Như vậy làm “Mỹ Ngụy” là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và "dân ngụy" không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Cờn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không ? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

Posted: Thu May 15, 2008 2:12 am
by thienthanh
NƠI KHÔNG THỂ QUÊN

Lê Thị Hải Âu
Cám ơn bạn đã gửi cho tôi xem “Đọc nếu đi hết biển…” của tác giả VA. Bài này đọc xong để lại trong tôi nỗi buồn thấm thía. Năm 75 tôi đang cắp sách đi học, chiến tranh chấm dứt, thật vui mừng khi tưởng đến tương lai rộng mở cho những người trẻ được lớn lên trong cảnh thái bình thịnh trị. Thế rồi tôi và các bạn đồng lứa lớn lên mà không nhìn thấy thịnh trị đâu cả. Chỉ thấy quanh mình toàn tù đày, đói kém… Chiến tranh vẫn tiếp tục không phải trên xương máu mà trong lòng người, vùi xé tan nát cả một dân tộc vốn đã dư thừa lầm than.

Có quá nhiều phân tích, mổ xẻ về vấn đề miền Nam thất trận suốt ba chục năm và sẽ còn tiếp tục bàn cãi, phân tích, quy trách nhiệm hay đổ thừa cũng thế cho đích danh từng cá nhân, từng tập thể, từng thế lực… Ba mươi năm cay đắng đã trôi qua sau một cuộc chiến hai mươi năm. Thời gian đó vẫn chưa đủ dài để viết nên lịch sử lắng đọng. Các sự kiện vẫn nóng hổi như mới ngày hôm qua, chiến tranh trong thời bình dưới những hình thức, chiều hướng khác nhau vẫn tiếp tục.

Thời gian sau 75 thật khủng khiếp. Miền Nam chìm đắm trong hoang mang, sợ hãi cùng lúc cuộc mưu sinh đầy vật lộn khó khăn để giữ lấy sự tồn tại cho cả người trong và ngoài tù. Đời sống người dân miền Bắc cũng cơ cực không kém nếu không muốn nói cùng cực vì họ hoàn toàn đúng nghĩa vô sản trong khi dân Saigon còn có thể nhặt nhạnh các thứ trong nhà ra bán để ăn dần. Khi đã kiệt quệ, những gói quà từ ngoại quốc bắt đầu gửi về cứu trợ. Những hộp thuốc, những thước vải lãnh từ trạm phát hàng Cô Giang hay bưu điện về, chắt chiu đổi thành chút thực phẩm lặn lội đi tiếp tế cho người học tập ở Long Giao, Hàm Tân, Tân Kỳ, Sơn La… Có khi chỉ là bo bo nấu giả xôi hay ba ký khoai xắt lát, cơm nguội phơi khô… mỗi tháng gửi đi để người tù thoi thóp cầm hơi qua ngày. Bây giờ mới có chủ trương không gửi tiền về trợ giúp thân nhân, không công tác từ thiện… e rằng quá muộn. Sự trợ giúp này lẽ ra phải ngăn chặn từ những năm tháng đó để các trại tù sớm đóng cửa do nạn đói lan tràn, và chính quyền CS cũng sụp đổ mau chóng theo con số tù nhân mạng vong! Những người có chủ trương này chắc đã vượt biên rất sớm, đã không trải qua những năm tháng đen tối sau 75. Hay là những năm tháng ấy, những ngày tù đày đã xa rồi, giờ chỉ còn hiện thân trong những lời hô hào. Bởi vì cột đèn nào có chân thì đã đi hết rồi để làm nhiệm vụ hô hào, tố cáo nên chỉ những “con tin” của ngày ấy và bây giờ ở lại, sống hay chết trong thiếu đói cho lý tưởng cao cả tiêu diệt CS, quang phục quê hương!

Tuy nhiên, sự thiếu thốn về vật chất không quan trọng lắm, kinh tế thời hậu chiến của các quốc gia chiến tranh bắt buộc phải trải qua giai đoạn đó. Điều đáng than van chính là chính thể độc tài và sự đối xử phân biệt của kẻ thắng trận áp đặt trên phần đất tự do bại trận khiến hòa bình và thống nhất không mang ánh hào quang đáng lẽ phải có. Bao trùm lên khắp đất nước là màu sắc đen tối, ảm đạm. Bầu không khí nghi kị, sợ sệt đã tác động mạnh mẽ và nhiều khi trở thành chấn thương trong tâm hồn nhiều người. Những người trẻ lớn lên cặm cụi với nợ áo cơm như con trâu cặm cụi với luống cày. Nhưng con người chứ đâu phải cục đất vô tri lăn lóc hay loài thú không biết đến nghĩ suy. Sự hà khắc trong việc kiểm soát, khống chế tư tưởng như vậy đã làm nổi lên sự căm phẫn mà càng bị đè nén càng muốn bứt tung trỗi dậy.

Những người dân cúi đầu xuống cặm cụi với luống cày, đừng nhìn lên, đừng ngó quanh vì đâu có được phép nhìn lên, ngó quanh. Cứ mắt mù, tai điếc, miệng câm để được sống an toàn. Nhà nước đã rất thành công trong việc cai trị, khóa chặt miệng người dân bằng đường lối chuyên chính, bằng cách bóp bao tử của họ lại. Và điều này thật khủng khiếp vì đa số dân chúng dần dần hình thành thói quen sống một cuộc sống lầm lụi chỉ để tích cóp thu vén miếng cơm manh áo. Lý tưởng cao đẹp trở nên những từ ngữ, ý tưởng chỉ nằm trong sách vở, phim truyện, thật xa lạ, mơ hồ trong cuộc sống đời thường.

Một số trí thức miền Bắc ray rứt, nóng lòng với thực trạng của quê hương, còn lại hầu hết dân chúng đều rất thờ ơ. Sự đói khát thiếu thốn kéo dài quá lâu khiến họ lao vào cuộc sống vật chất mấy vẫn không cảm thấy đủ, nhìn lại quá khứ vẫn mơ hồ cơn ác mộng của những năm tháng chiến tranh cay nghiệt hiện về ám ảnh. Những năm tháng ấy đi qua đã cuốn trôi lớp màu mè phủ ngoài, chỉ còn trơ lại sự thật trần trụi của cuộc chiến phơi bày. Thật đau đớn và càng đau đớn hơn nữa khi sự thật phơi bày rành rành rồi mà vẫn không giải quyết được gì.

Miền Nam cũng vậy, sự phân biệt đối xử với người thua cuộc khiến chẳng ai dám bới việc, chỉ lo lủi thủi kiếm ăn kẻo tai bay họa gió ập xuống lúc nào. Và người ta cứ sống như thế, ù ù cạc cạc, mũ ni che tai. Cho nên thật buồn cười khi tưởng tượng có phép màu xuất hiện một cuộc bầu cử để người dân được tự do chọn lựa những khuynh hướng chính trị mình ưa thích. Rất nhiều người dân chẳng bao giờ nhìn thấy mặt mũi tờ báo. Họ cũng chẳng nghe tin tức thời sự nhiều trên TV hay radio, những tin tức một chiều nhắm mắt, bịt tai cũng biết. Một cuộc bầu cử nếu diễn ra thì đa số có biết gì đâu mà bầu. Trình độ dân trí thấp cộng với nếp sinh hoạt chính trị lành mạnh chưa bao giờ hiện diện trên đất nước này, một số rất ít trí thức cất lên tiếng chuông gióng giả nhưng hầu hết quần chúng cử tri rất dễ dàng bị lừa mị, và những thế lực chính trị đen tối sẽ lại đẩy đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn như đã từng như thế.

Ván cờ tưởng chừng tàn cuộc vẫn chưa xong, những người lính già sót lại vẫn ngồi đâu đó giữa bãi chiến trường để lặng nghe chung quanh tiếng giáo gươm mỏi mệt.

Cho đến tận bây giờ, ngoài vô số lý do được phân tích thì sự thua cuộc có thể đã được tiên đoán khi người miền Nam luôn dằn vặt trong lòng bởi một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Còn miền Bắc thì lương tâm lúc nào cũng vô cùng yên ổn với khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Dân miền Bắc đã được đặt mọi điều vào óc. Họ suy nghĩ và nói những điều nhà nước muốn họ suy nghĩ và nói. Muốn khác đi cũng không được vì họ không thể biết được trên đời có những điều khác hơn. Hồi đó, có người đã bị bắt vì nghe đài BBC. Tin này được rỉ tai tới đâu, người ta phải trùm chăn kín mít để nghe radio tới đó, phương tiện duy nhất để biết được tin quốc ngoại và nhất là quốc nội. Điều đó không phải chuyện quá khứ bởi vì ở thời điểm hiện nay cũng phải nhờ NET, dân chúng mới biết đến tình hình xảy ra chung quanh, ngay trên dải đất mình đang sống như Trường đảo Hoàng Sa… chẳng hạn. Còn không thì chịu thua.

Trước 75, người Việt tàn sát nhau. Bây giờ vẫn thóa mạ nhau. Không chơi với nhau thì còn thù nhau đến bao giờ? Đúng vậy, những trang sử lấm lem cứ tiếp diễn không ngưng. Duy một bên muốn chơi, còn một bên có thực sự muốn chơi không hay cử chỉ bắt tay chỉ che dấu cho những mưu đồ khác. Một bên kêu gọi hòa giải và một bên lúc nào cũng đằng đằng đối phó với “các thế lực đen tối”. Cứ như ông chẳng bà chuộc, ông nói gà bà nói vịt. Có vẻ hòa giải vẫn chỉ là chữ dùng của người Việt hải ngoại, tức là người sống tại miền Nam di tản ra nước ngoài bởi vì những người này có tiền, có mối quan hệ rộng rãi hơn nên có phần nào tiếng nói cất lên trên trường thế giới. Nhà nước chỉ nói chuyện hòa giải với giới này, là đại diện chính thức có quyền ngang vai bằng vế để nói đến hòa giải. Còn dân miền Nam ở lại bị đặt dưới quyền sinh sát, cho sống thì sống, cho chết thì chết thì quyền gì nói tới hòa giải. Thảng hoặc đôi ba tiếng kêu đơn lẻ cất lên của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Lê Chí Quang…thì bị tống thẳng vào tù để hòa giải, đối thoại với… cai ngục! Nhà cầm quyền VN có hòa giải không, có cùng mục đích hướng tới dân tộc như người miền Nam không hay chỉ nhắm đến quyền lợi của Đảng cầm quyền thì chuyện đó đã quá minh bạch.

Cho nên khi nói tới hòa hợp hòa giải đối với người miền Nam trong nước là điều gì thật xa lạ, không tưởng, một câu chuyện xa xí của những ai ai. Họ không ra biển trốn đi, ở lại quê hương làm chứng nhân, để đối với người di tản đã định cư ở nước ngoài, đôi khi họ bị đồng hóa với chính thể trong nước để trở thành một biểu tượng của đói nghèo, thất học, lạc hậu…trở thành một gánh nặng khi sự tiếp tế, giúp đỡ dường như không bao giờ chấm dứt khiến lòng tốt trở nên chán nản. Đối với chính quyền, ngay cả khi qua khỏi giai đoạn khắc nghiệt cả nước là một trại tù khổng lồ, cho đến nay họ vẫn là một thứ công dân hạng hai, với vị trí của kẻ bại trận, đã ăn nhờ ở đậu, sống nương nhờ ngay trên chính mảnh đất của mình. Quyền lực nằm trong tay người thắng và quyền lợi nằm trong tay quyền lực cho nên mảnh đất mầu mỡ miền Nam là một chiến lợi phẩm để xâu xé, giành giật. Tất cả các cán bộ cao cấp đều mua nhà ở ngoại quốc, gửi con ra nước ngoài du học và định cư. Nếu có quay về lại cha truyền con nối những chức vụ chóp bu. Vâng, tầng lớp tư bản đỏ đã xuất hiện. Chỉ những người dân bé nhỏ dù thời nào, ở đâu vẫn sống cô độc, quờ quạng trong bùn đen và bóng tối mù lòa.

Trong bài viết của tác giả VA. có đề cập đến bộ phim của Trần văn Thủy và cho rằng bộ phim không được nhận giải thì tác giả đã rục xương trong tù. Nói vậy lẽ ra đạo diễn đã bị bắt từ lúc nó còn là ý tưởng trong đầu, thoát thành lời nói. Có đâu an toàn xuôi chèo mát mái qua nhiều giai đoạn từ khi xét duyệt kịch bản cho đến quay phim, hoàn tất. Mỗi giai đoạn đều qua các hội đồng chuyên môn chính thức chứ đâu phải lén lút đút kịch bản đi cổng sau. Tới lúc bấm máy gồm phó đạo diễn, thư ký trường quay, diễn viên… vô số nhân viên và công việc trường quay rầm rộ chứ bộ phim cũng đâu có quay một cách âm thầm. Sau đó phim được mang đi dự thi và mọi người thong thả ngồi đợi. Nếu đoạt giải thưởng thì cấm phổ biến để gây tò mò kích thích người ta tìm xem, không đoạt giải thì tính tiếp. Nhưng rõ ràng chuyện tính tới khá rắc rối vì số lượng người liên quan đến bộ phim để tống giam khá nhiều. Cho nên chẳng bao giờ có chuyện tù đày ở đây cả. Và cuối cùng bộ phim cũng như vài đầu sách của một số tác giả được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại, để mang tới cái nhìn từ bên ngoài là chính quyền đã có phần dễ thở hơn. Lẽ đương nhiên nếu không phù hợp với chủ trương, chính sách của nhà nước thì chẳng tác giả nào có thể ngồi yên ổn ngắm mấy tác phẩm kiểu đó được bày hàng la liệt khắp nơi!

Khi chính sách mở cửa, một vài tác phẩm phơi bày được trưng ra, và chỉ là tác phẩm của miền Bắc. Dân miền Nam chớ dại mà hó hé. Chỉ người CS có quyền chửi CS còn người miền Nam đừng hòng, biết thân phận chớ mở miệng, không bao giờ có quyền mở miệng cả. Nhiều người quốc gia chán chường chế độ quốc gia cũ đã tuyên bố rằng mình là thành phần thứ ba chỉ biết yêu quê hương, đất nước, không thuộc quốc gia cũng không CS. Còn người sống dưới chế độ CS thì được giáo dục rằng hoặc bạn hoặc thù, hoặc trắng hoặc đen chứ không bao giờ có thành phần thứ ba. Vì vậy những người tự nhận mình là thành phần thứ ba hay thứ mấy tùy thích đều là những người sống ngoài thế giới CS, mà ngoài CS là thế giới tự do, và chỉ trong thế giới tự do thì mới có thể tuyên bố nhận mình là thành phần thứ ba, thứ bảy hay thứ một trăm, một ngàn gì đó. Những ai sống trong phạm vi kiểm soát CS thì sự chọn lựa hết sức đơn giản, dễ dàng. Tức hoặc mày hoặc tao, hoặc phải hoặc trái, hoặc xanh hoặc đỏ, hoặc bên này hay bên kia... Thành thử nếu có đối thoại với nhau lại trở về ông chẳng bà chuộc và chuyện bên nào thắng thua thì cũng tạm đoán được.

Tôi chỉ nhắc lại những chuyện cũ xì chẳng có gì mới cả. Sao tôi chỉ nhắc lại những chuyện ai cũng biết rồi nghe hoài đến phát ngấy. Bởi vì từng ngày, từng giờ tôi đang ở nơi không thể nào quên. Tôi sống nơi mà hiện tại không nguôi nhắc về quá khứ. Tôi tự nhủ mình quên đi, hướng đến tương lai, vẽ ra một con đường đầy hoa bướm nhưng làm cách nào để vẽ ra hoa bướm thì tôi không biết. Các bạn bè quanh tôi đều tin tưởng sẽ có một bình minh tươi sáng trên đất nước, chỉ có điều không phải đời này mà là đời con cháu hay chút chít của chúng tôi may ra.

Dù sao có dăm ba người bắt tay nhau cũng còn hơn không. Mặc dù một bên chủ trương tôn trọng sự khác biệt và một bên lợi dụng ngay sự dễ dàng để lấn tới. Chắc chắn sẽ nhiều người cho rằng nhận xét này quá đa nghi, quá bi quan. Quả tôi ao ước có được sự bao dung, tin tưởng và lạc quan mà không thể nào có được. Tôi mong một chút lạc quan để bước chân bớt nặng trên đường đời còn rất dài, mà sao toàn nghe lời kêu gào của Tuệ Sĩ, của Hà Sĩ Phu… Tôi thấy tướng NCK về nước bị hạ nhục, thầy TNH đón tiếp lạnh nhạt, tôi thấy các nghệ sĩ hải ngoại quay về quỵ lụy để xin một buổi hát thì lòng bao dung và hy vọng còn khuất đâu xa mịt mùng. Dăm cái bắt tay như vài giọt nước trên diện tích 3.247 km vuông khô hạn. Thôi thì vẫn ghi nhớ có vài giọt nước đó trong lúc mang tâm trạng của đám đông. Mặc kẻ chép công ta chép oán. Công riêng ai đó oán ta chung.

Chép oán là chuyện không nên, chẳng phải chép một đời người mà nhiều đời nối tiếp nhau chép toàn điều ai oán… Chỉ có điều vin vào đâu để đừng kể oán nữa. Có ai nói cho biết làm sao để thôi kể oán, sao trên đất nước này mau chóng vang lên những khúc âu ca. Mong chuyện kể oán sớm chấm dứt để những thế hệ sau biết đến một VN thực sự thanh bình, để dù cư ngụ bất cứ nơi đâu cách muôn dặm trùng dương thiên lý, người dân VN cũng quay về tìm nhau hội ngộ trên quê hương.

Lê Thị Hải Âu

Posted: Sat May 17, 2008 6:04 am
by thienthanh
Đọc ‘Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam’
VI ANH .

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là tựa một bài viết của một phụ nữ Việt đang sống và làm việc trong gọng kềm CS Hà Nội. Đó là đạo diễn Song Chi từng hợp tác với hãng TFS trong hai bộ phim, 'Nữ bác sĩ' đoạt giải vàng Liên Hoan Phim Truyền Hình Toàn Quốc Tháng 1-2008, và phim 'Phố Hoài' được giải khuyến khích Hội Điện Ảnh Việt Nam 2002. Sau khi tham dự cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa lập thành huyện Tam Sa của Trung Cộng, "đạo diễn Song Chi bất ngờ bị yêu cầu ngưng công tác đạo diễn cho bộ phim truyền hình nhan đề "Ai?" sắp khởi quay vào tháng 7 tới đây sau nửa năm hợp tác chuẩn bị cho bộ phim bấm máy, (phóng sự của Trà Mi trên Đài Á Châu Tự Do).

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" đó không chỉ riêng đạo diển Song Chi buồn. Không phải là một nỗi buồn nghệ thuật, nỗi buồn man mác (melancholie), lãng mạng (romantique) , "tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn". Mà là nỗi buồn lịch sử VN. Đó là một nỗi buồn thiên cổ mà quốc gia, dân tộc VN đã trải qua. Và nhờ nỗi buồn đó mà các nhà khảo sử thế giới khen VN là một dân tộc bất khuất, dân tộc duy nhứt ở Đông Nam Á, đã 4 lần đánh đuổi quân Tàu không lồ. Đó là nỗi buồn nhược tiểu VN bên cạnh Anh Khổng lồ Trung Hoa, Trung Quốc với 1000 năm chiếm lấy VN mà không đồng hoá được. Nỗi buồn nhược tiểu, nổi nhục Da Vàng trước phong trào Thực dân của Au Châu, Pháp chiếm VN làm thuộc đia, cai trị gần 100 năm, trước Ong Bạn Đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà là Mỹ vào VN làm thay nghĩ thế người Việt, gài VN làm một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, đánh mà không cho thắng và sau cùng vì thay đổi chiến lược toàn cầu bức tử VNCH. Nhưng rút được nhiều kinh nghiệm, người Việt hải ngoại đang làm một cuộc quốc tế vận vô tiền khoáng hậu cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN. Nỗi buồn bị CS Hà nội, những người mặt mày là Việt Nam nhưng tâm tư là Cộng sản đặc sệt, tuyên truyền lường gạt và vận dụng người dân Việt đánh Tây để gọi là giành độc lập dân tộc , đánh Mỹ để gọi là thống nhứt lãnh thổ, nhưng chánh yếu là để chiếm chánh quyền với bất cứ giá nào cho Cộng sản. Nhưng người Việt Quốc Gia tiếp tục đấu tranh cho tư do dân chủ nhân quyền VN, tức chống Cộng độc tài không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. 30 tháng Tư năm 1975 lở thua một trận, chớ chưa thua cuộc Chiến Tranh Quốc Cộng.

"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam" là nỗi buồn chung cuả người Việt dám hay không dám nói ra trong hiện tại, trong thời CS Hà Nội. Thời đại CS Hà nội là thời đại "tự thực dân" (auto-colonialisme) , người Việt cai trị ngươi Việt mà còn khắc nghiệt hơn 1000 năm giặc Tàu, 100 giặc Tây nữa. Lời của Song Chi, "Nỗi buồn đó tôi cũng đã đọc thấy trong những đôi mắt ngơ ngác của những em sinh viên học sinh trong những ngày 9.12, 16.12 vừa qua khi những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và một số văn nghệ sĩ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Trường Sa, Hoàng Sa đã bị cản trở, làm khó dễ và sau đó là đủ mọi biện pháp đã được áp dụng để ngăn chặn ngay từ đầu".

Đó là nỗi buồn, yêu nước là cái tội đối với CS. Nỗi buồn chống quân xâm lăng Trung Cộng là cái tội đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Nỗi buồn chưa bao giờ VN mất một tấc đất mà không có tiếng gươm đao, tiếng súng nổ - trừ thời CS Hà nội. Nỗi buồn [lời của Song Chi] , "những người biểu tình phản đối Trung Quốc về vụ Trường Sa - Hoàng Sa ngày 19-1-2008 trước cửa Nhà Hát Thành Phố bị mời về công an, người bị giữ nhanh nhất là một ngày, người bị giữ lâu nhất là 30 tiếng." Đó là nỗi buồn có miệng mà không cho nói, suy nghĩ mà buộc phải câm, mới bày tỏ thái độ chánh trị của người công dân, chớ chưa hành động chính trị là đã bị trừng trị rồi. Đó cũng là nỗi buồn trước cái nhìn của những người vô cảm trước vận mạnh quốc gia dân tộc. Nhìn những người như đạo diển Song Chi và những nhà dân chủ đấu tranh bảo toàn đất tổ, đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, là "điên rồ", làm chuyên ruồi bu, chỉ chuốc hoạ vào thân.

Nhưng trả lời phóng viên Trà Mi, nữ đạo diễn Song Chi, khẳng khái, "...nếu như quay trở lại thì chắc chắn là tôi cũng sẽ phản ứng như mọi người trong ngày 19 tháng 1 ấy, bởi vì điều đó là điều hoàn toàn tôi thấy không có gì là sai trái cả. Trong một số đông im lặng thì rõ ràng là chỉ có một thiểu số thì chắc chắn là rất mệt mỏi. Nhưng mà tối thiểu những điều mình làm có nhỏ xíu đi chăng nữa thì cũng vẫn phải làm. Nếu không thì mọi chuyện nó sẽ lại càng chậm hơn nữa."Đó mới là vấn đề; đó mới là giá trị của"Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam".

Thói thưòng, trong buồn đau người ta quần tụ lại, đoàn kết, gắn bó với nhau. Nhìn tấm hình của Song Chi, Song Chi còn trẻ hơn ngừơi Việt tỵ nạn CS thế hệ thứ nhứt. Nỗi buồn xa nước càng yêu thêm nước, xa quê càng nhớ thêm quê; nỗi đau mất mất nước tư do, dân chủ là mất tất cả, đã làm cho người Việt Hải ngoại biến đau thương thành hành động. Đoàn kết nhau như con một cha.

Không có Bắc, Nam, Trung, mà chỉ có người Việt ôm nhau kềm nước mắt lo cho vận nước và cho đồng bào khổ đau vì CS. Cảm nghĩ thuộc về nhau đã làm nên một Việt Nam hải ngoại. Đã thực hiện một quốc tế vận cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN, lớn mạnh và chưa bao giờ có trong lịch sử Việt. Đã chuyển niềm tin và cảm hứng thành làn gió cách mạng tư do, dân chủ, nhân quyền qua không gian và thời gian. Chuyển về về nước nhà. Truyền qua lớp ngưòi trẻ trong và ngoài nước.

Đã giúp cho đồng bào thoát khỏi nỗi sợ nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết của bất cứ cuộc cách mạng nào. Nỗi sợ " diễn biến hoà bình" của CS Hà nội đã biến thành bất tuân hành dân sự, phát triển từ phẩm sang lượng, từ điểm sang diện, suốt từ Bắc chí Nam.Thổi bay khuynh hướng hoà giải hoà họp theo kiểu xin cho. Thổi banh tâm lý thực dụng của một số ít thấy đấu tranh lâu ngày mà CS Hà nội hãy còn, thôi thì "tránh đâu" đó để mưu cầu lợi riêng. Dưạ hơi mé CS Hà nội để làm ăn, để đi VN dễ dàng, để gọi là phát triễn đạo, để lạc quyền tiền đem đi VN gọi là làm công tác từ thiện nhưng cho ngưòi nghèo thì ít mà cho mình thì nhiều.

Sau cùng, số đông không có nghĩa đúng. Nhiều người vô cảm với vận mạng nước non không có nghĩa là chánh nghĩa đấu tranh cho tư do, dân chủ, nhân quyền VN không trội yếu. Cứ nhìn thời sự quốc tế về VN thì thấy.

Chế độ CS Hà nội làm kinh tế tăng gia nhưng không phát triễn vì không thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội VN. Trái lại đào thêm hố sâu ngăn cách nghèo giàu giũa quan lại CS thống trị và người dân Việt bị trị. Đảng Nhà Nước CS là sát thủ tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một đối tác thương mại xấu, lương thăng tráo đấu. Tham nhũng nhứt Á Châu, vơí bao nhiêu tai tiếng xấu, bán phụ nữ trẻ em làm nô lệ tình dục, bán đàn ông làm lao nô.

Gió đã đổi chiều. Nỗi Buồn Mang Tên Việt Nam chóng hay chày sẽ biến thành Niềm Vui Mang Tên Cách Mạng Tư Do, Dân Chủ, Nhân quyền Việt Nam. Hy vọng đời đạo diễn Song Chi thừa thì giờ để thấy.

Posted: Mon May 19, 2008 7:30 pm
by dailien
Hệ thống Chính trị-Báo chí tại Việt Nam qua vụ bắt giam 2 nhà báo?
Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA, May 17, 2008
Từ đầu tuần này, dư luận trong và ngoài nước đều chú y đến sự kiện công an bắt 2 nhà báo là các ông Nguyễn Việt Chiến, 56 tuổi, làm việc cho tờ Thanh Niên; ông Nguyễn Văn Hải, 33 tuổi, phóng viên của tờ Tuổi Trẻ.

Cả hai người bị công an bắt đều là những nhà báo nổi tiếng của giới truyền thông Việt Nam, được biết đến như những cây viết đi xung phong trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực.

Theo chính phủ, cả hai nhà báo có tên vừa nêu đều bị bắt về tội thông tin sai lạc trong vụ án từng gây sôi nổi một thời mang tên vụ án PMU 18.

Vụ án này có liên quan đến một ông thứ trưởng, ông này bị đưa ra tòa, bị kêu án, và chỉ mới một vài tuần trước đây bản án của ông ta được hủy bỏ, kẻ đang sống cuộc sống của một người tù được trắng án, được phục chức và được trả lại cả đảng tịch. Điều đó khiến dư luận hoang mang không ít.

Chỉ vài tuần sau đó, công an bắt hai nhà báo từng đi đầu trong những bài viết nói về vụ án và tội của ông cựu thứ trưởng. Lần này dư luận lại càng hoang mang hơn nữa.

Chuyện nhà báo Việt Nam bị bắt là đề tài được Ban Việt Ngữ chúng tôi chọn cho Tạp Chí Câu Chuyện Thời Sự Hàng Tuần do Nguyễn Khanh phụ trách.

Tạp chí tuần này được thực hiện với sự cộng tác của Thiện Giao và Thanh Quang ở Washington, cùng với một số người đang hoạt động trong ngành truyền thông trong nước.

Từ PMU18 tới vụ bắt phóng viên

Khởi thuỷ, người ta gọi tên vụ án này là “vụ PMU 18.” Rồi sau đó, vụ PMU 18 được nâng cấp lên, thành “Vụ Nguyễn Việt Tiến.” Những ngày gần đây, nếu xét về chiều rộng và cả chiều sâu của dư luận, người ta gọi đây là “vụ bắt phóng viên.”

Vụ bắt 2 phóng viên Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến báo Thanh Niên đã tạo một sự xúc động sâu rộng trong dư luận Việt Nam: “Từ một vài người dân trong nước, bất bình với việc bắt phóng viên”.

Trong toàn bộ vụ PMU 18, có một điều ít ai để ý, nhưng lại là yếu tố gần như quyết định trong toàn bộ sự tiến hoá từ đầu cho đến khi trở thành đẳng cấp “bắt phóng viên” gây xôn xao dư luận, đó là sự có mặt và chi phối của dư luận trong các quyết định của cơ quan chức năng.

Tin tức báo chí trong nước loan tải vào thời điểm ông cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được trả tự do, đăng lời nhận định do Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao đưa ra, rằng rõ ràng ở thời điểm ông Tiến bị bắt, ở Bộ Giao Thông Vận Tải, Nguyễn Việt Tiến đang là “ngôi sao sáng.”

Và nếu con đường phát triển thuận lợi thì Nguyễn Việt Tiến không phải là Nguyễn Việt Tiến bây giờ mà phải có cái gì khác hơn nữa. Trong bối cảnh như vậy, chắc là cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra với ông Tiến, vừa có cả vấn đề về pháp lý, vừa có cả vấn đề dư luận.

Viện Kiểm Sát còn nhận định thêm, rằng vào thời điểm ấy, các vụ đánh bạc lên đến cả triệu rưỡi đôla của Bùi Tiến Dũng, những đường dây chạy án, và “hàng loạt vấn đề bùng nhùng” khiến cho “dư luận nhìn vào chỗ ấy là đen tối.”

Dư luận phẫn nộ, bàng hoàng

Rõ ràng, dư luận đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ sự việc. Và dư luận tạo nên một vòng tròn khép kín khởi đi từ vụ PMU 18 với Bùi Tiến Dũng cho đến vụ bắt hai phóng viên cách đây ít hôm.

Khởi đầu, dư luận phẫn nộ về việc quan chức dùng tiền công đi đánh bạc lên đến cả triệu đô la. Rồi dư luận phẫn nộ hơn nữa khi được thông tin là trong vụ PMU 18, cả một thứ trưởng của Bộ Giao Thông Vận Tải cũng dính dáng đến tham nhũng.
Chưa hết, dư luận tiếp tục bàng hoàng khi thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến được tuyên bố gần như vô tội sau 2 năm điều tra.

Đến trung tuần tháng Năm, dư luận dường như không còn không gian để có thể phát triển sâu hơn và rộng hơn, khi một đêm thức giấc dậy, cả nước được biết 2 phóng viên của 2 tờ báo lớn nhất Việt Nam, được xem là đi đầu trong chiến dịch thông tin phanh phui vụ PMU 18, bị bắt. Mà lý do được đưa ra lại liên quan trực tiếp đến công tác đưa tin trong quá trình phanh phui vụ án này.

Trong toàn bộ vụ tham nhũng có thể được xem là lớn nhất từ trước đến nay, cả hệ thống báo chí, cả hệ thống tư pháp, đều hành xử dựa trên nền tảng của dư luận. Và trong ngữ cảnh ấy, chính dư luận được sử dụng, hay đúng hơn, bị lợi dụng, như vũ khí then chốt để những phía tham gia tác động lên quyết định của cơ quan chức năng.

Nói một cách ngắn gọn, giới báo chí, tức phía có thể tạo ra dư luận, trong một chừng mực nào đó đã bị lợi dụng để tác động dư luận; rồi dựa trên đó, một ai đó ra lệnh bắt một ai khác.

Những mâu thuẫn trong Luật báo chí VN

Đầu tiên, hãy xem lý do mà cơ quan chức năng ra lệnh bắt, khởi tố hai phóng viên Hải và Chiến. Rõ ràng, hai người này bị bắt vì “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Yếu tố này cho thấy, trên tất cả, hai anh Hải và Chiến là những công chức đang thực hiện nhiệm vụ báo chí. Điều này có nghĩa, các phóng viên này được đối xử như bất cứ một công chức nào khác trong hệ thống công quyền.

Là một công chức, cả Hải và Chiến có quyền, thậm chí, có trách nhiệm, tin vào, cũng như sử dụng thông tin từ một công chức khác trong hệ thống của mình. Đó là điều tự nhiên.

Chính điều tự nhiên này tạo ra sự mâu thuẫn nội tại của hệ thống báo chí hiện nay tại Việt Nam.

Trước hết, hãy trở lại với chi tiết, rằng hai phóng viên Hải và Chiến bị bắt khi đang thi hành công vụ. Như đã nói, chi tiết này cho thấy, các phóng viên làm việc trong hệ thống báo chí Việt Nam là những công chức. Tính chất công chức càng rõ nét hơn cho những người có vị trí cao hơn trong các ban biên tập.

Điều này thể hiện rất rõ trong luật báo chí Việt Nam. Theo luật, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội của nhà nước mới có quyền ra báo. Và quyền ra báo phải được thừa nhận bởi một giấy phép do Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp.

Theo luật, khi tờ báo là cơ quan ngôn luận của các tổ chức ấy, thì tờ báo ấy là cơ quan trực thuộc tổ chức đó. Trong trường hợp có nhu cầu một tổng biên tập. Đề nghị một tổng biên tập sẽ được xem xét theo rất nhiều tầng nấc.

Báo chí và Chính quyền

Bắt đầu bằng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Phố trực thuộc trung ương. Rồi đến Ban Văn Hoá Tư Tưởng Thành Uỷ, rồi sau đó gởi lên cho ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương mà ngày nay người ta gọi là Ban Tuyên Giáo.

Sau khi cơ quan Đảng có ý kiến về đề nghị bổ nhiệm Tổng Biên Tập, họ chuyển cho chính quyền phê duyệt. Trên nguyên tắc, sự bổ nhiệm tổng biên tập phải có sự đồng ý của ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương và Bộ Văn Hoá Thông Tin.

Tính chính trị rõ nét trong tiến trình bổ nhiệm các vị trí cao cấp trong ngành báo chí cho thấy sự phụ thuộc chính trị của báo chí với chính quyền.

Sự phụ thuộc này có thể được suy diễn rằng, báo chí thiếu sự độc lập cần thiết. Nói đúng hơn, báo chí là công cụ của nhà nước trong các công tác tuyên truyền:

“Nhà nước ra nhiều luật liên quan đến báo chí, và gần đây nhất là chỉ thị 37 của thủ tướng cấm tư hoá báo chí. Tôi cho rằng với hoàn cảnh như vậy, báo chí phát triển rất khó khăn.”

“Tôi thấy 600 tờ báo thì cũng là một tiếng nói thôi.”

“Theo luật báo chí Việt Nam, chỉ có cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội thuộc nhà nước mới có quyền ra báo.”

Đó là nhận định của các nhà báo tự do phát biểu từ Việt Nam.

Trở lại vụ bắt nhà báo. Hai nhà báo bị bắt cách đây ít hôm là hệ quả đến từ sự mâu thuẫn giữa thực tế công cụ và nhu cầu độc lập trong nền báo chí.

Thách thức của cạnh tranh, hội nhập

Từ trước đến nay, nhà nước dùng báo chí như công cụ, và chính báo chí cũng tự xem mình là công cụ. Xét trên khía cạnh ấy, báo chí đã tạo ra một số dư luận tốt, có tính định hướng cho nhà nước.

Tính chất này, những năm về sau, trở nên bị thách thức khi giữa các tờ báo có sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm độc giả. Cạnh tranh báo chí, tức là cạnh tranh thông tin. Các báo phải có những phương cách lấy tin riêng, nhất là những tin “độc” và “đắc”.

Hệ quả là, các phóng viên phải dựa vào thông tin từ các cơ quan công quyền khác, như kết quả thanh tra của cơ quan thanh tra, kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát và các bản án của toà án. Đa số, nếu không phải là tất cả các tờ báo, thường loan tải tin tức khá giống nhau, từ sự kiện, nội dung sự kiện, cho đến quan điểm.

Sự khác biệt, nếu có, chỉ là thời điểm.

Một người có quá trình lâu năm theo dõi hoạt động báo chí, nhận định:

“Vụ Hoàng Linh trong vụ án Năm Cam, có hàng loạt nhà báo bị dính. Các nhà bào này là thân hữu của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những người có tỳ vết với pháp luật thường phải làm thân với phóng viên, giữ quan hệ với phóng viên. Vụ Năm Cam có ai?

Có Hoàng Linh, phóng viên nội chính của Tuổi Trẻ; có Thư Lê, phóng viên nội chính của Sài Gòn Giải Phóng; có Quang Thắng, thư ký toà soạn báo Công An.... Những nhà báo này viết về nội chính, họ bị bắt vì sự biến chất. Họ đã từng rất nổi tiếng, họ viết tin rất nóng, vì có quan hệ rất chặt, luôn luôn có tin trước những nhà báo khác. Những bài họ viết thường kéo cơ quan pháp luật vào cuộc”.

Nghiệp vụ và Công vụ?

Có một số chi tiết đáng chú ý trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến, cũng như việc phanh phui các vụ án trước đây. Đó là, những nhà báo trong lãnh vực Nội Chính và Giáo Dục thường được công chúng Việt Nam biết đến nhiều nhất. Lý do là vì đây là những lãnh vực có nhiều vấn đề không thể chấp nhận được đối với đa số công chúng Việt Nam.

Những nhà báo nội chính là những người có mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền trong lĩnh vực nội chính, như công an, thanh tra, kiểm sát, toà án.

Làm sao họ có thể tạo dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan công quyền này?

Theo lời một nhà báo làm việc lâu năm cho những tờ báo lớn tại Việt Nam, cánh nhà báo phải chứng minh với các cơ quan công quyền rằng, mình là người có thể tin được, rằng hai bên có thể hợp tác được.

Vì vậy, những tin, bài nóng trong thẩm quyền của các cơ quan như vừa kể sẽ được tiết lộ, và được tiết lộ cho một số nhà báo có mối quan hệ tốt.

Sau một thời gian đeo bám mảng nội chính, các nhà báo cũng trở thành nhân vật quan trọng. Quan trọng vì họ có thể chi phối dư luận, thậm chí có thể chi phối cả một số cơ quan bảo vệ pháp luật. Quan trọng vì, hễ họ đề cập đến ai, thì một thời gian ngắn sau, người đó bị bắt hoặc bị thanh tra.

Nói cách khác, những nhà báo như Hoàng Linh, Quang Thắng, Thư Lê vừa được đề cập, trở thành một thứ quyền lực; quyền lực không cần chức vụ.

Sự gay cấn trong vụ bắt hai phóng viên Hải và Chiến còn nằm ở chỗ: 2 phóng viên này bị chính nguồn tin của mình lợi dụng bằng cách tung tin bịa đặt. Điều này khiến dư luận tự hỏi, vậy, họ bị bắt vì lý do nghiệp vụ, hay vì lý do công vụ? Trên thực tế, họ bị bắt và khởi tố vì “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

“Vụ bắt 2 phóng viên cho thấy, thông tin do cơ quan điều tra, thậm chí ở vị trí rất cao, và rất chuyên nghiệp là Cục Cảnh Sát Điều Tra, tung ra, và đó, thậm chí là tin giả. Tin giả là để tạo dư luận áp lực lên các bộ phận khác của nhà nước. Do đó, người dân thấy báo chí không đáng tin cậy.”

Lệnh ngưng loan tin

Chính vì tất cả những mâu thuẫn về vị trí và tư cách tác nghiệp khiến việc biện hộ của báo giới, đặc biệt là hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ, mang tính chất vừa có thể chấp nhận vừa không thể chấp nhận. Hai tờ báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên lập luận, rằng họ lấy tin từ cơ quan nhà nước, và từ đó loan đi, nên không thể có tội.

Lập luận này xem chừng không thuyết phục. Đối chứng với báo chí phương Tây, tiến trình thu thập, đối chứng, loan tải thông tin phức tạp hơn nhiều.

Điều quan trọng là, báo chí chịu trách nhiệm với bạn đọc. Uy tín của tờ báo thành hình từ tính độc lập, không bị chi phối của ai. Trong trường hợp này, 2 tờ báo lớn nhất, có uy tín nhất Việt Nam phần nào đã thể hiện tâm lý chấp nhận trở thành công cụ.

Vụ bắt hai phóng viên Nguyễn Văn Hải của báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên đặt ra một số câu hỏi.

Các phóng viên, khi nhận được thông tin từ các cơ quan điều tra, có kiểm chứng thông tin hay không?

Báo chí có tiếp tục đứng vững với kết luận của mình, rằng cựu thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến có tội hay không?

Nếu tin rằng ông Tiến có tội, báo chí có tiếp tục đến cùng bằng những chứng cứ riêng của mình, để chứng minh điều này không?

Ngược lại, nếu không thể chứng minh ông Tiến có tội, báo chí có sẵn sàng trong việc xin lỗi ông Tiến và nhận trách nhiệm trước độc giả hay không?

Có lẽ, cũng còn quá sớm để đặt những câu hỏi này.

Theo 2 nguồn tin riêng, nhắn đi từ Sài Gòn vào tối ngày 14 và sáng ngày 15 tháng Năm, trong cuộc họp giao ban với báo chí, các cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh báo chí ngưng không tiếp tục đưa tin về vụ bắt hai phóng viên của Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Thay vào đó họ phải đưa tin về sự kiện Đại Lễ Vesak 2008 đang diễn ra tại Việt Nam.

Nội dung các tờ báo, trên mạng cũng như báo in, cho thấy lệnh tạm ngưng đưa tin đã bắt đầu có hiệu quả.

Posted: Sat May 24, 2008 3:27 am
by dailien
Trò Hề Vỡ Mặt;
Vụ Án Con Voi PMU 18 Biến Thành Con Chuột Nhắt


PHẠM TRẦN .
Hoa Thịnh Đốn.- “Thật đáng tiếc, trong khi Đảng, Chính phủ kêu gọi chống tham nhũng và đánh giá cao vai trò của báo chí trong công cuộc chống tham nhũng thì hai phóng viên "nhiệt huyết, có nghề" của hai tờ báo có uy tín đã bị bắt. Trước khi bị đưa đến nơi tạm giam, nhà báo Nguyễn Việt Chiến vẫn khẳng khái: "Tôi không có tội gì, tôi chỉ có tội duy nhất là tội tích cực chống tham nhũng. Tôi đã mời hai luật sư bảo vệ cho tôi, và tôi sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ lẽ phải cho mình".

“Báo Thanh Niên hoàn toàn ủng hộ và sẽ đứng bên cạnh nhà báo Nguyễn Việt Chiến trong cuộc đấu tranh này. Chúng tôi tin tưởng bạn đọc sẽ tiếp tục đặt lòng tin vào Báo Thanh Niên và tất cả các nhà báo chân chính, đồng thời sẽ hợp tác chặt chẽ với cơ quan pháp luật làm sáng tỏ sự việc vì lợi ích của đất nước và dân tộc.”

Báo Thanh Niên, nơi Phóng viên Nguyễn Việt Chiến phục vụ đã viết như thế, sau khi Chiến và đồng nghiệp Nguyễn Văn Hải của báo TuổI Trẻ bị Công an bắt ngày 12-5 (08 ) về tội "lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ".

Ban Biên tập báo Tuổi Trẻ cũng phát biểu :“Với báo Tuổi Trẻ, nhà báo Nguyễn Văn Hải là một con người có bản lĩnh, đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu. Việc nhà báo Nguyễn Văn Hải được tín nhiệm cử giữ chức Phó trưởng Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ kiêm Bí thư Chi bộ Văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội đã phần nào nói lên điều đó.”

Theo báo Thanh Niên, “Ban Biên tập của Báo Tuổi Trẻ vẫn khẳng định anh Nguyễn Văn Hải là một cây bút trong sáng, đầy nhiệt huyết và dũng cảm trong cuộc chiến chống tham nhũng.”

Quyết định khởi tố bị can của Bộ Công an cho rằng hai nhà báo Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Việt Chiến đã đưa những thông tin sai sự thật về vụ án Bùi Quang Hưng và Bùi Tiến Dũng cùng đồng bọn phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc; vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Đưa nhận hối lộ, tham ô tài sản tại Ban Quản lý dự án 18 (PMU 18 ).

Nhà nước không cho dân biết giá trị bằng tiền của “quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Đưa nhận hối lộ, tham ô tài sản tại Ban Quản lý dự án 18 (PMU 18).” Nhưng, theo các báo trong nước thì “ Cáo trạng của Viện KSND tối cao nêu rõ quá trình phạm tội của Bùi Tiến Dũng kéo dài từ khi lên giữ chức tổng giám đốc PMU18 (1998-2005). Trong thời gian này, bị can đã cho mượn và sử dụng sai mục đích bảy ôtô; sử dụng không đúng tiêu chuẩn, định mức hai ôtô. Theo kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an), giá trị thiệt hại trong việc cho mượn và sử dụng chín ôtô này đã gây thiệt hại tổng số tiền trên 2,68 tỉ đồng.”

Cùng ngày bắt Chiến và Hải (12-5-08 ), Bộ Công an còn bắt giam Thượng tá Đinh Văn Huynh,nguyên trưởng phòng 9 của C14 (Ban điều tra tội phạm về trật tự xã hội của Bộ Công an) về tội “lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ" khi điều tra vụ PMU 18.

Ngạc nhiên hơn, sau đó một ngày, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố điều tra Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - C14, người từng chỉ huy điều tra vụ PMU 18. Ông Quắc cũng bị buộc tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

Các báo trong nước đưa tin: “Thiếu tướng Thanh Hoa, phát ngôn Bộ Công an cho rằng, cơ quan điều tra đã đủ căn cứ xác định việc đưa tin sai sự thật về vụ án là do một số cán bộ điều tra và phóng viên.”

Như vậy là những người một thời được đảng và nhà nước khuyến khích tích cực điều tra và giúp thông tin chống vụ tham nhũng, chạy tội lớn nhất Việt Nam, có lúc làm rung chuyển chế độ, không được tuyên dương mà bị tố ngược.

NGẠC NHIÊN CHƯA ĐỦ

Sự cố đảo ngược thế cờ làm “chóang váng mặt mày” nhiều người cũng bị báo Thanh Niên thắc mắc với Nhà nước : “Và hai năm sau khi những kẻ đánh bạc, tham nhũng bị khởi tố và đưa vào nhà giam, tháng 5.2008 hai phóng viên (thuộc hàng những nhà báo giỏi nhất trong làng phóng viên nội chính phía Bắc) đã bị bắt. Họ bị bắt với tội danh: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”

“Tổng số đã có hơn 1.000 bài báo viết về vụ PMU 18 đăng trên gần 100 tờ báo, trong đó có một số bài có thông tin không chính xác đăng trên khoảng hơn chục tờ báo, thậm chí có cả bài báo sai sự thật. Trong năm 2007 và đầu năm 2008, đã có hàng chục phóng viên bị gọi lên lấy lời khai tại cơ quan an ninh điều tra (trong đó có cả phóng viên trong ngành công an). Nhưng cuối cùng, cho đến nay chỉ có 2 phóng viên bị khởi tố, trớ trêu thay, đó lại là hai phóng viên của hai tờ báo luôn đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực - Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ. Điều này có công bằng không? Có đúng đường lối, quan điểm và quyết tâm chống tham nhũng, chống tiêu cực của Đảng và Nhà nước không?”

Từ ngày Nguyễn Văn Linh, cựu Tổng Bí thư đảng khóa VI, thi hành chủ trương “Đổi mới” năm 1986 đến nay đã 22 năm mới có báo Thanh Niên, diễn đàn của Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, can đảm chất vấn Nhà nước về hành động bắt giam 2 Nhà báo có công hàng đầu trong chiến dịch thông tin chống tham nhũng.

Cả hai báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ và hai Nhà báo của họ không có hành động đưa đến vi phạm Luật Báo chí khi hành nghề. Cả hai Báo đã cải chính khi nhận ra hay được cho biết bài viết hay tin đăng báo không đúng.

Hơn nữa, theo báo Thanh Niên, việc bắt giam và truy tố hai Nhà báo đã “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” không có cơ sở.

Báo này viết : “ Về mặt pháp lý: Người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, theo pháp luật, là người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái công vụ, gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích của công dân.”

LẤY GÌ BUỘC TỘI ?

Như vậy, Nhà nước sẽ căn cứ vào đâu để buộc tội họ ?

Chẳng lẽ Nguyễn Việt Chiến đã bị bắt vì dám tiết lộ tin : "Bùi Tiến Dũng khai đưa tiền chạy án cho gần 40 nhân vật quan trọng" trên báo Thanh Niên ngày 16-4-2006?

Nhưng đám người này là ai trong đảng mà phải giữ kín ? Tướng Phạm Xuân Quắc, Trưởng ban chuyên án, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an là người chỉ huy điều tra vụ PMU 18 không nói đến con số 40 mà chỉ xác nhận Dũng khai đưa tiền chạy án cho “hàng chục đối tượng”.

Những nhân vật quan trọng, theo báo Thanh Niên gồm : “ Giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sân sau của PMU 18; công chức một số cơ quan quan trọng của nhà nước; một số cán bộ thuộc các cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra vụ cá độ bóng đá và vụ PMU 18; cùng một số quan chức bộ, ngành liên quan.”

Đặc biệt, sau khi Báo Thanh Niên đính chính theo lời tướng Quắc một thời gian, thiếu tướng Phạm Quý Ngọ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT đã trực tiếp thông tin cho PV Thanh Niên biết: "Trong vụ án này, có việc 40 cán bộ nhận tiền của Bùi Tiến Dũng, bị vô hiệu hóa, bị mua".

Kể từ tháng 4/2006, vụ PMU 18 sôi nổi hẳn lên sau bài báo của Nguyễn Việt Chiến. Các báo chạy đua cử phóng viên đi “moi” tin tố cáo tham nhũng, chạy tội của “băng đảng” Bùi Tiến Dũng khiến nhà nước nhức nhối.

Bất ngờ vụ án nóng lên khi thiếu tướng Phạm Xuân Quắc,Trưởng ban chuyên án vụ PMU 18, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an là người cung cấp thông tin cho báo chí bị Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, ký lệnh cho về hưu tháng 12/2006, khi cuộc điều tra còn giở giang.

Tính thời sự sôi nổi đăng tin vụ PMU 18 trên các báo tự nhiên “xìu xuống”. Sau đó, theo báo Thanh Niên: “Từ nửa cuối năm 2007, có hàng loạt nhà báo đã bị gọi lên Cơ quan an ninh điều tra để hỏi về các căn cứ khi viết bài về vụ án PMU 18 (diễn ra từ năm 2006). Trong đó, hai người bị hỏi nhiều nhất là nhà báo Nguyễn Việt Chiến (Báo Thanh Niên), và nhà báo Nguyễn Văn Hải (Báo Tuổi Trẻ TP.HCM).”

Như vậy, có gì khuất tất trong vụ bắt giam hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải và Thượng tá Đinh Văn Huynh ? Và Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc đã có lỗi gì trong khi thi hành công tác mà cũng bị khởi tố về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” ?

Tính nghiệm trọng của vụ PMU 18 to như con Voi bỗng dưng biến thành con Chuột Nhắt sau “biến cố” bắt những người đáng lẽ phải được khen thưởng vì có công chống tham nhũng.

Sự cố này càng làm nổi lên tính cẩu thả, bất lực chống Tham nhũng và chà đạp lên luật pháp của đảng và nhà nước CSVN.

Cuộc phòng, chống Tham nhũng của đảng CSVN vì vậy đã biến thành trò hề vỡ mặt ngoạn mục.

Trong cuộc phỏng vấn của báo Nhân Dân ngày 27.3.2006, Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương đảng khoá IX nhận xét: "Vụ việc tiêu cực ở PMU 18 là vụ án nghiêm trọng, đánh bạc, cá độ với số tiền rất lớn, cũng là vụ án tham nhũng, đưa hối lộ và nhận hối lộ. Những người tham gia đánh bạc, cá độ có nhiều tài sản được hình thành một cách bất hợp pháp, do bòn rút của Nhà nước. Một số cán bộ nhà nước có sai phạm trong vụ án này đã tiến hành hối lộ và nhận hối lộ. Qua điều tra cho thấy, một số vụ việc xảy ra trước đây đã bị cho qua, bị che lấp đi. Như vậy, vụ án này cũng cho thấy tình trạng tiêu cực trong công tác điều tra, kiểm tra, thanh tra của một số cơ quan. Qua vụ án này, chúng ta thấy được sự suy thoái rất nghiêm trọng về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một số người giữ cương vị cao. Đảng và Nhà nước ta kiên quyết làm rõ những sai phạm của các tổ chức, cá nhân bất kể người đó là ai, những ai cản trở việc xử lý những người vi phạm cũng sẽ bị xử lý thích đáng..."

Ba năm sau, lời nói “như đinh đóng cột” của người có nhiều quyền hành vào lúc ấy như Phan Diễn đã tan ra mấy khói. Chỉ tiếc rằng người được Diễn hết sức củng cố và xây dựng để nắm chức Tổng Bí Thư đảng là Nông Đức Mạnh cũng đã quên chống Tham nhũng và không còn dám nhớ đến lời Diễn nói để phòng thân. -/-

Posted: Sun May 25, 2008 12:47 am
by thienthanh

Image

GÁNH NẶNG CỦA TÂN TỔNG THỐNG HOA KỲ

Huệ Vũ
Cuộc chạy đua giành sự chỉ định của đảng Dân Chủ vẫn còn diễn ra quyết liệt giữa hai ứng cử viên Barack Obama và Hillary Clinton. Trong hai người này ai sẽ là người chạy đua với Nghị sĩ John McCain trong tháng 11, và trong ba người ai sẽ là tân tổng thống Hoa Kỳ có lẽ bây giờ cũng khó ai tiên đoán được nếu không có tài vị bốc tiên tri. Nhìn lại cuộc chạy đua sơ bộ giữa bà Clinton và ông Barack giống như tình trạng khí hậu do hâm nóng điạ cầu thay đổi, trở nên bất thường, nắng mưa bất chợt, nên các cơ quan thăm dò uy tín đã nhiều lần đưa ra những con số ..trật.. be bét!

Ông John McCain hay bất cứ người nào trong hai ứng cử viên Dân Chủ đắc cử trong tháng 11, thì người thay thế Tổng thống George W. Bush trong đầu năm 2009 cũng sẽ trở thành vị tổng thống chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ: "Tổng thống" McCain sẽ là vị tổng thống già nhất trong lịch sử lúc đắc cử nhiệm kỳ đầu tiên. "Tổng thống" Obama sẽ vị tổng thống da đen đầu tiên, còn nếu bà Hillary đắc cử dĩ nhiên sẽ là "nữ tổng thống" đầu tiên. Cả ba nhân vật có thể trở thành tổng thống đầu tiên chưa từng có trong lịch sử này sẽ thay thế cho vị tổng thống cũng chưa từng có trong lịch sử với con số IQ thấp nhất, và theo thăm dò mới nhất của CNN/ Gallup công bố ngày 1/5/2008 vừa qua, tỷ lệ không chấp nhận (disapproval) đối với tổng thống Bush là 71%, là mức không chấp nhận cao nhất trong lịch sử tổng thống Hoa Kỳ. Ông Keating Holland, giám đốc thăm dò CNN nói rằng đây là lần đầu tiên mà một tổng thống có mức không chấp thuận vượt qua con số 70%. (No president has ever had a higher disapproval rating in any CNN or Gallup Poll; in fact, this is the first time that any president''s disapproval rating has cracked the 70 percent mark,".

Vị tổng thống có mức không chấp thuận vượt con số kỷ lục 70% này, sau khi ra đi sẽ trịnh trọng trao lại cho người kế vị, dù là ai, Cộng Hoà hay Dân Chủ, nhiều gánh nặng vĩ đại gồm: 2 cuộc chiến tranh, hoà bình Trung Ðông, và nền kinh tế đang bước tới ngưỡng cửa suy thoái.

Hai cuộc chiến tranh và là hai mặt trận nằm trong cuộc chiến chống khủng bố của chính phủ Bush, nhưng có hai sắc thái khác nhau. Cuộc chiến là cuộc chiến được thế giới ủng hộ, NATO giữ vai trò chính và cũng được dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ. Thăm dò mới nhất cho thấy trên 70% dân chúng Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến ở . Ngược lại chiến tranh Iraq là cuộc chiến tốn kém nhất và đã gây bất mãn trên dư luận quốc tế, cũng như chia rẽ trong dân chúng Hoa Kỳ. Hai ứng cử viên Dân Chủ hứa hẹn mau chóng rút quân ở Iraq về nước, ứng cử viên John McCain giống như Tổng thống Bush cho rằng rút quân về nước là đầu hàng, là thất bại đối với al-Qaeda. Theo kết quả thăm dò của viện Gallup công bố ngày 24/4/08, trên 63% dân chúng Hoa Kỳ cho rằng chiến tranh là cuộc chiến sai lầm. Kết quả thăm dò ngày 1/5/08, đánh dấu 5 năm Tổng thống Bush lên hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln tuyên bố "Mission Accomplished" của CNN/Gallup lại cho thấy 68% dân chúng chống chiến tranh Iraq. Kết quả thăm dò của Gallup ngày 13 tháng 3 đánh dấu chiến tranh Iraq sau 5 năm, 60% dân chúng Hoa Kỳ muốn rút quân về nước theo một thời biểu nhất định, 18% muốn lập tức rút quân về nước. Cuộc chiến đến nay đã làm cho 4.063 quân nhân tử thương, 29.828 quân nhân bị thương. Con số người thiệt mạng chưa có thống kê chính xác, nhưng mỗi tháng ít nhất vài trăm người. Con số tử vong của thường dân Iraq trong tháng 2/2008 là 633 người, so với tháng 2 năm 2007, lúc Hoa Kỳ quyết định tăng quân tới Iraq, là 1.645 người.

Trong tháng 3 vừa qua, chính phủ Thủ tướng al Maliki đã quyết định đập tan lực lượng dân quân Mehdi của ông đạo al-Sadr, chiến tranh đã diễn ra trong thành phố dầu lửa Basra, các thành phố người Shiite ở miền Nam và thành phố Sadr ở thủ đô Baghdad, mỗi ngày hàng chục người chết. Bộ Y Tế tuyên bố trong tháng 4 có 968 thường dân thiệt mạng. Theo ước tính của Bộ Y Tế con số thường dân bị chết vì bạo động từ tháng 3/2003 tới tháng 6/ 2006 là 151,000 người. Con số tờ báo y tế Lancet đưa ra là 601,027 người. Tổ chức Iraq Body Count (IBC), một tổ chức độc lập của Mỹ và Anh, đưa ra khoảng từ 80,000 tới 83,000. Theo một phúc trình của Liên Hiệp Quốc chỉ riêng năm 2006 con số người bị chết là 34,000 người. Những con số dù khác nhau này đều có thể nói lên một điều: chính người dân là nạn nhân lớn nhất của cuộc chiến. Họ đã không thể tìm được cuộc sống bình an sau khi nhà độc tài Saddam bị lật đổ. Ngoài cái giá sinh mạng, cuộc chiến tranh Iraq trong 5 năm đã vượt qua số tiền mà Hoa Kỳ đã chi tiêu trong cuộc chiến Việt Nam. Hiện nay mỗi tháng cuộc chiến tiêu tốn 12 tỷ mỹ kim. Chiến tranh có thể nói là cuộc chiến hoàn toàn sai lầm. Hoa Kỳ đã vội vã đưa quân tới lật đổ Saddam Hussein vì cho rằng ông ta đang thủ đắc vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) có thể cung cấp vũ khí này cho khủng bố al Qaeda. Trước khi đưa quân qua , Bộ trưởng quốc phòng Donald H. Rumsfeld cho rằng chiến tranh chỉ tốn từ 50 tới 60 tỷ mỹ kim. Thứ trưởng Paul D. Wolfowitz nói rằng số tiền Hoa Kỳ chi ra này sẽ có thể bù lại do lợi tức khai thác dầu lửa. Phó tổng thống Dick Cheney khẳng định người dân sẽ mang vòng hoa chào đón quân đội Hoa Kỳ. Tất cả nguyên nhân thúc đẩy đưa tới chiến tranh và những ước tính đối với chiến tranh đều sai lầm. Vũ khí hủy diệt hàng loạt không tìm ra! Saddan Hussein không có liên hệ gì với al Qaeda vì dễ hiểu ông ta là một nhà độc tài thế quyền, cũng là một kẻ thù của al Qaeda, tổ chức khủng bố chủ trương Hồi giáo cầm quyền!

Số tiền ước tính 50 tỷ ban đầu của Bộ Quốc Phòng hiện đã lên gấp 11 lần, vượt qua chiến phí Việt , chỉ còn thua chiến phí của Ðệ Nhị Thế chiến! Theo kinh tế gia Joseph E. Stiglitz, số tiền tổn phí trực tiếp cho chiến tranh cộng với ảnh hưởng xã hội và kinh tế, cuộc chiến Iraq sẽ thiệt hại Hoa Kỳ 3,000 tỷ mỹ kim. Nếu số tiền này dùng để viện trợ cho các nước Hồi Giáo, các quốc gia nghèo nàn trên thế giới thì có thể chinh phục được con tim, thay đổi đời sống của hàng trăm triệu người trên thế giới. Tuy nhiên, số tiền lớn lao này và xương máu thanh niên Hoa Kỳ đổ vào chiến tranh lại làm cho người Hồi giáo chống Hoa Kỳ nhiều hơn. Theo thăm dò của WorldPublicOpinion thực hiện tại 4 nước Hồi giáo: Morocco, Ai Cập, Nam Dương và Pakistan, công bố ngày 27 tháng 4 năm 2007, trung bình 79% cho rằng Hoa Kỳ muốn làm suy yếu và chia rẽ thế giới Hồi giáo; 79% cho rằng Hoa Kỳ gây chiến chỉ nhằm kiểm soát nguồn dầu lửa Trung Ðông. Chủ biên của WorldPublicOpinion là ông Steven Kull nói rằng trong khi Hoa Kỳ theo đuổi cuộc chiến chống khủng bố, người Hồi giáo đã cho rằng Hoa Kỳ đang chống lại thế giới Hồi giáo, một tỷ số rất lớn người Hồi giáo tại bốn nước Hồi giáo có thể coi là thân thiện với Hoa Kỳ lại mạnh mẽ ủng hộ loạn quân tấn công quân đội Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan. Con số này là 80% ở Ai Cập, 68% ở , 50% ở . Một thăm dò của World Public Opinion công bố trong ngày 27 tháng 9 năm 2006, trên 71% dân chúng muốn Hoa Kỳ rút khỏi trong vòng một năm. 82% người Shiite cho rằng Hoa Kỳ hiện diện ở chỉ tạo nên bạo động thay vì ngăn cản. Người Sunnis thì gần như thống nhất với 97% cho rằng bạo động ở vẫn tiếp diễn là do sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ.

Yếu tố lớn nhất để quyết định chiến thắng là lòng dân, khi lòng dân trong nước không thuận, khi người lính tới chiến trường chỉ có thể ở trong trại quân hay ngồi trên chiến xa mà không dám tiếp xúc với người dân địa phương, bị người dân địa phương coi là thù nghịch, theo binh pháp xưa nay là cuộc chiến không thể nào đưa tới chiến thắng. Làm sao đưa quân về nước, nhưng có thể giúp Iraq tránh khỏi cảnh nội chiến nồi da xáo thịt có lẽ là giải pháp tốt nhất mà vị tổng thống "bất thường" mới của Hoa Kỳ bắt buộc phải làm.

Afghanistan là chiến trường đang có nhân tâm thuận lợi, người dân ở Hoa Kỳ và các nước Âu Châu đều ủng hộ, Liên hiệp quốc cũng ủng hộ, ai cũng thấy rõ quốc gia này vẫn là cái nôi nuôi dưỡng khủng bố. Ðáng lẽ sau khi lật đổ chế độ Taliban, Hoa Kỳ tập trung khả năng bình định, tiêu diệt tận gốc khủng bố Taliban và al Qaeda đang ẩn trốn trong vùng biên giới Pakistan, mạnh mẽ viện trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ Tổng thống Karzai, thay đổi đời sống của người dân Afghanistan, thì Hoa Kỳ lại mở thêm mặt trận Iraq, công tác bình định Afghanistan chỉ còn là ưu tiên thứ yếu. Hậu quả là Taliban lần lần phục hồi sức mạnh. Cuộc chiến chống Taliban ngày nay trở thành một cuộc chiến không chiến tuyến, Taliban đã áp dụng chiến thuật du kích như chiến tranh Việt phối hợp với chiến thuật khủng bố giống như . Trong năm 2007 có tất cả 170 vụ đánh bom tự sát ở Afghanistan, bạo động tăng 27% so với năm 2006. Thủ đô Kabul liên tiếp bị đánh bom tự sát. Ngày 27 tháng 4 vừa qua, chỉ với 6 tên khủng bố, chúng đã tấn công buổi lễ kỷ niệm lần thứ 16 Liên minh Mujahideen đánh bại chính phủ bù nhìn Cộng sản do Liên Xô dựng lên, được tổ chức gần dinh tổng thống, làm cho Tổng thống Karzai và tất cả bộ trưởng, dân biểu, đại sứ các nước và chỉ huy trưởng lực lượng quốc tế là tướng Dan McNeill của Hoa Kỳ phải nằm xuống đất tránh đạn. Quân đội quốc tế hoạt động ở Afghanistan dưới mệnh lệnh chính đáng của Hội Ðồng Bảo An được gọi là Lực Lượng Trợ Giúp An Ninh Quốc tế (ISAF, International Security Assistance Force) gồm có quân đội các nước NATO và Không NATO như Canada, Úc, Tân Tây Lan... nhiều nước chỉ đóng góp vài quân nhân như Georgia chỉ 1 người, Áo 2 người, Singapore 2 người.. nhiều nhất là Hoa Kỳ 14,000 người. Tổng số quân đội đặt dưới bộ chỉ huy ISAF khoảng 47,000 người. Hoa Kỳ hiện có 32.500 quân ở Afghanistan, ngoài 14,000 đặt dưới sự chỉ huy của ISAF, số còn lại hoạt động riêng, dùng huấn luyện quân đội Afghanistan, hay cơ động truy lùng lãnh tụ Taliban và al-Qaeda.

Tình hình chiến sự gia tăng, ISAF cần thêm quân, nhưng Hoa Kỳ từ lâu áp lực các nước NATO gởi thêm quân tới đã không chứng tỏ thành công. Tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở thủ đô Bucharest trong đầu tháng 4 vừa qua, chỉ có Tổng thống Pháp Sarkozy hứa hẹn gởi thêm một tiểu đoàn 700 người. Tuy nhiên lời hưá hẹn này đang bị 68% dân chúng Pháp chống đối! Tình hình Aghanistan càng ngày càng tê hại hơn. Trong đầu năm nay, nguyên chỉ huy trưởng NATO cho tới năm 2006 là tướng hồi hưu James L. Jones cảnh báo phải cẩn thận ở Afghanistan , NATO có thể bị thất bại, "Afghanistan remains a failing state. It could become a failed state". Tướng Jones kêu gọi phải có những hành động khẩn cấp đối với chiến trường này. Một bản phúc trình của Nhóm Nghiên cứu Afghanistan (Afghanistan Study Group) do Trung Tâm Nghiên Cứu của Tổng thống (Center for the Study of the Presidency) thành lập cũng cảnh cáo rằng quân đội quốc tế ở Afghanistan không đủ để ổn định tình hình, và viện trợ kinh tế cũng quá ít để giúp ổn định lòng dân (The United States and the international community have tried to win the struggle in Afghanistan with too few military forces and insufficient economic aid..).

Liên Xô đã xâm chiếm Afghanistan trong năm 1979 với khoảng 100,000 quân và tới năm 1986 quân số của chính phủ bù nhìn Afghanistan cũng đã tăng lên con số trên 300,000 người. Hiện giờ quân đội của chính phủ chỉ mới huấn luyện được khoảng 57,000 người và họ chưa hoàn toàn sẳn sàng chiến đấu. Quân đội quốc tế cộng với quân đội Hoa Kỳ ở Afghanistan hiện nay khoảng 70,000 người, nhưng hầu hết quân đội các nước hiện diện ở Afghanistan đều giữ nhiệm vụ yểm trợ, không tác chiến. Gần như quân đội 4 nước Hoa Kỳ, Anh, Canada và Hoà Lan phải bao thầu, đảm nhiệm công tác chiến đấu trên toàn lãnh thổ. Sự bất công này đã làm cho đe doạ rút quân về nước! Tình hình chiến sự đòi hỏi và tình hình "tinh thần" của các nước NATO hiện nay cho thấy thành bại ở chiến trường Afghanistan cũng chỉ trông chờ vào Hoa Kỳ. Giải quyết Taliban tận gốc, giúp chính phủ Afghanistan đứng vững, tìm giải pháp và chiến lược thích ứng để khỏi theo chân Liên Xô trước đây cũng sẽ là gánh nặng mà Tổng Thống Bush sẽ "ưu ái" trao lại cho người tân tổng thống trong đầu năm 2009.

Bên cạnh hai cuộc chiến lớn còn đang dang dở, điều Tổng Thống Bush hy vọng nhất là Do Thái và Palestine sẽ ký kết hiệp ước hoà bình, thành lập quốc gia Palestine trước khi ông rời Toà Bạch Ốc lại hình như chỉ là một ước mơ mà thôi. Rõ rệt từ hội nghị hoà bình Trung Ðông ở Annapolis trong cuối tháng 11/07 cho đến nay con đường đi tới hoà bình không có chút tiến bộ nào. Chiến sự, chết chóc, khủng bố vẫn còn diễn ra hàng ngày. Thủ tướng Olmert hiện nay không phải là người chủ trương hoà bình và nhượng bộ. Lập trường của chính phủ Do Thái trước sau vẫn là chỉ ký một hiệp ước khung sườn, đồng ý một khái niệm về quốc gia Palestine mà không phải là một hiệp ước thành lập quốc gia Palestine, cùng sống chung song song với Do Thái như chính phủ Bush mong muốn. Do Thái vẫn tiếp tục xây cất các khu định cư trên lãnh thổ Palestine . Phiá Palestine, sau khi Hamas chiếm quyền kiểm soát dải Gaza trong tháng 6/07, Fatah và Hamas trở thành thù nghịch. Tổng thống Abbas cũng không thể kiểm soát chính cánh dân quân của Fatah là Binh Ðoàn Tử Ðạo al-Asaq. Tổ chức này cũng giống như Hamas vẫn thường xuyên bắn rocket sang Do Thái. Lập trường của Do Thái cho thấy hoà bình còn xa vời, nội bộ Palestine cũng cho thấy hoà bình không mấy hy vọng thành công trong vài tháng tới. Hiệp ước Oslo, Na Uy, ký kết ngày 20 tháng 8 năm 1993 giữa Thủ tướng Yitzhak Rabin và Chủ tịch Yasser Arafat trước sự chứng kiến của Tổng thống Bill Clinton là bước tiến quan trọng đầu tiên có thể đưa đến hoà bình Trung Ðông. Năm 1994, Thủ tướng Yitzhak Rabin, Chủ tịch PLO Yasser Arafat đã được trao tặng giải Nobel Hoà Bình do ký hiệp ước này, nhưng sau đó, tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Rabin đã bị thành phần Do Thái cực đoan chống hiệp ước Oslo ám sát.

Có thể nói điều hy vọng nhất mà Tổng thống Bush có thể làm được là kết thúc vấn đề nguyên tử Bắc Hàn trước khi rời nhiệm sở. Tuy nhiên, theo hiệp ước Bắc Kinh ngày 13 tháng 2 năm 2007, Bình Nhưỡng phải đưa ra bản công bố kê khai hoạt động nguyên tử của nước này vào cuối năm 2007, nhưng cho tới nay Bình Nhưỡng đã không làm điều này. Sau Khi đắc cử, Tổng thống Lý Minh Bác (Lee Myung-bak) bác bỏ chính sánh AÔnh Thái Dương chủ trương hai bên Nam -Bắc hoà hoãn để dần dần đi tới thống nhất của những vị tổng thống tiền nhiệm Kim Ðại Trung (Kim Dae-jung) và Lư Vũ Huyễn (Roh Moo-hyun), đưa ra chủ thuyết MB (MB doctrine), chủ trương cứng rắn với Bắc Hàn, thắt chặt liên hệ với Hoa Kỳ. Chính sách mới này đã làm cho tình hình bán đảo Triều Tiên nổi sóng trở lại. Bắc Hàn lấp tức đóng cửa khu kỷ nghệ Khai Thành ( Kaesong ), bắn hoả tiển lên mặt biển thị uy, tăng cường quân đội tới biên giới trở lại. Tình hình căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên có thể làm hy vọng giải quyến vấn đề nguyên tử Bắc Hàn trở nên bế tắc, có thể sẽ không giải quyết nổi trước khi Tổng thống Bush rời chức vụ. Trong cuối tháng 4, chính phủ Bush đưa ra bản phúc trình của cơ quan CIA chứng minh Bắc Hàn đã giúp Syria xây dựng một lò phản ứng vừa sắp hoàn tất và đã bị phi cơ Do Thái thả bom phá hủy trong tháng 9/2007. Tổng thống Bush tuyên bố Hoa Kỳ đưa ra bằng chứng nhằm cảnh cáo tham vọng nguyên tử của Damascus, Bình Nhưỡng và Tehran . Ðiều này có thể cho thấy những vấn đề đối với ba quốc gia từng bị Tổng Thống Bush gọi là Trục Ma Qủy cũng sẽ là di sản mà Tổng thống Bush sẽ trao lại cho người kế vị.

Nhưng gánh nặng nhất mà người tân tổng thống Hoa Kỳ phải đối phó là nền kinh tế đang suy thoái. Ðầu tháng 4 vừa qua, Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tuyên bố nền kinh tế thế giới phát triển chậm lại trong năm nay và nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ ở trong tình trạng gần suy thoái (near recession), phát triển chỉ khoảng 0.5% trong năm nay, và 0.6% trong năm 2009. Theo thăm dò của viện Gallup ngày 4 tháng 5 vừa qua, 85% dân chúng nói rằng nền kinh tế đang trở nên tồi tệ hơn. Theo kết quả thăm dò ngày 1/5/08, 42% cho rằng giá xăng dầu đang ở trong tình trạng khủng hoảng. Những kết quả thăm dò mới nhất của Gallup cho thấy 55% dân chúng lo sợ không thể duy trì cuộc sống bình thường, 97% lo âu đối với giá xăng, 90% lo âu đối với giá lương thực, 75% lo âu đối với tiền điện... Con số lo ngại đối với đời sống ngày càng tăng lên. Trả lời phỏng vấn của đài CNBC trong ngày 8/4/08, Cựu chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang là ông Alan Greenpan nói rằng người tiêu thụ đang bắt đầu co lại, thị trường xe hơi teo lại, sản xuất chậm lại, nền kinh tế Hoa Kỳ đang bắt đầu của những cơn đau suy thoái. (Consumers are beginning to shrink in, the automobile markets are beginning to contract, production is beginning to ease, and we are in the throes of recession).

Có nhiều yếu tố góp phần cho sự sự suy thoái hay "gần suy thoái" của nền kinh tế Hoa Kỳ như phá sản của ngành cho vay điạ ốc, vỡ nợ tín dụng gây khủng hoảng thị trường tài chánh, đe doạ lạm phát, đồng dollar mất giá..v.v. Ðây là điều của các nhà chuyên viên kinh tế của chính phủ phải phân tích căn bệnh và tìm cách chạy chưã. Sự suy thoái là do chính sách kinh tế chi nhiều hơn thu, thâm thủng ngân sách kéo dài hàng năm của chính phủ Bush, hay là do những nguyên nhân nào khác đi nữa, thì thực tế là chính phủ Bush ra đi sẽ để lại một nền kinh tế đang làm cho dân chúng trong nước quan tâm, lo lắng, và người tân tổng thống phải giải quyết mối lo này cho người dân.

Hình như tất cả những gánh nặng mà Tổng thống Bush trao lại cho người tân tổng thống trong năm 2009 đều rất nặng nề, và chọn mặt gởi vàng trong tháng 11 sắp tới cũng cần được coi là bổn phận của mọi công dân Hoa Kỳ gốc Việt.

Huệ Vũ

Posted: Sun May 25, 2008 1:57 am
by tankhoasinh

Image

Tư tưởng chính trị Việt Nam
Tác giả: Gs. Trần Ngọc Ninh


“… nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm mống của đấu tranh không cùng …”

Kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay có một dòng lịch sử Việt Nam trong đó đã cấu thành nên một quốc dân Việt Nam hiển nhiên rằng phải có một tư tưởng Việt Nam.

Tư tưởng Việt Nam là cái động lực lớn để giữ nước và yên dân. Tư tưởng Việt Nam là cái sức mạnh chính yếu đã tạo ra sự đặc thù của con người và văn minh Việt Nam trên trái đất của loài người. Tư tưởng Việt Nam là tư tưởng lãnh đạo lịch sử Việt Nam. Những ngọn sóng của lịch sử thế giới nhiều khi đã tràn ngập cả cõi sống Việt Nam.

Tư tưởng Việt Nam đã có những thời bị dìm xuống tận đáy sâu thẳm của những vực không bờ tưởng rằng vĩnh cửu không còn một cái bóng, một tiếng vang, trong trí nhớ của người ta. Nói đến tư tưởng Việt Nam trong những thời quốc vận suy mạt này, những người tự thổi lên là kẻ sĩ hay trí thức chỉ biết nhìn nhau ngơ ngác, tưởng là nói chuyện quỷ thần. Có hay là không có ? Hình bóng ra sao ? Ðạo Nho chăng ? Hay là Ðạo Lão ? Ðạo Phật ? Ðạo Chúa ? Tư tưởng của Lư Thoa à ? Chủ nghĩa của Các Mác chăng? Thưa là hoạt kê và cũng thực là bi đát. Y như đứa trẻ mồ côi bị loài sói nuôi thì gọi sói là mẹ và coi sự đấu tranh sinh tồn của loài sói là lẽ sống của chính mình. Sự mất bản thể và tha hoá có thể kéo dài cả thế kỷ, cả mười thế kỷ tối tăm.

Nhưng rồi tư tưởng Việt Nam lại nổi lên, với những nguồn sinh lực mới, giàu hơn, mạnh hơn, đẹp hơn, thực hơn, và trăm phần tươi sáng hơn. Nó châm lên những bó đuốc mới để phá tan đêm tối mà đón ánh mặt trời buổi ban mai. Nó khơi lại trong mỗi trái tim cái tàn lửa cũ cho bùng lên thành cục than hồng của lòng yêu nước vạn năng. Nó làm cho giang sơn đất nước rực lên một mầu vinh quang và sình bùn cũng chứa đựng những hứa hẹn không cùng.

Nhưng các đế quốc lớn trong thiên hạ vẫn không ngớt thèm muốn cái nơi góc bể chân trời mà tiền nhân chúng ta đã biến thành gấm vóc thi ca và gọi bằng cái tên yêu dấu là nước ta, quê ta. Dầu là từ Bắc phương gần, Bắc phương xa, - nơi lòng người giá lạnh như băng tuyết nghìn thu, hay từ phương tây bên bờ của đại dương mà mặt trời lặn xuống, kẻ xâm lăng, với sự phản bội của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Ðồng Khánh, Hồ Chí Minh, sợ cái tư tưởng quật cường bất khuất của người Việt Nam yêu nước, đã bao lần đốt lửa để nấu chảy trống đồng, thiêu hủy sách vở và đem xe, tàu đến để chở cái rừng tư tưởng Việt Nam về nơi chính quốc mà chôn trong những phòng cấm của những tàng kinh các quốc gia của họ. Nhưng cái hoá thân có hình hài sắc tướng với những chữ nghĩa trên trang giấy có thể bị đốt, bị khoá, mà pháp thân của tư tưởng Việt Nam, không sống gửi vào vật chất, vẫn tự tại và tự tồn, để chờ ngày quật khởi.

Trên khắp nước Việt Nam, không có một tấc đất nào không có máu thịt của ta trong những kiếp trước. Không có một lá cây ngọn cỏ nào mà mỗi tế bào không có một phần của ta ngày xưa. Tất cả cái phong cảnh của đồng ruộng núi sông trong nước là do khối óc và bàn tay của tiền nhân xây đắp. Ðó là cái vùng trời và những con đường của văn hoá dân tộc. Và mỗi cái thoáng nghĩ trong đầu óc của một người hiện ra trong một lời nói, một nụ cười hay một cái nhúc nhích của một sợi cơ trong một bàn tay, hoặc phải nén xuống trong cõi lòng không đáy của những ngàn năm đàn áp, cũng chứa đựng tất cả cái tư tưởng Việt Nam.

Vào đầu thế kỷ thứ 17 ở bên trời Âu, có nhà đại khoa học, đại văn hào là Blaise Pascal đã để lại cho hậu thế những mảnh vụn của một cuốn sách mà người ta chắp nhặt lại, đặt cho một cái đầu đề là Tư Tưởng (Pensées). Ðại để đi ngược lại với người đời thường nghĩ rằng hiểu nhau rồi mới yêu nhau được, Pascal nói rằng có yêu Chúa thì mới hiểu được Chúa, và không ngần ngại đi đến cuộc đánh cá lớn nhất trong lịch sử triết học Tây phương, là cứ đi lễ đi rồi mới có thể mong được ban ân. Hành tiên, trí hậu.

Tư tưởng Việt Nam cũng như Chúa của Pascal. Có đó, mà không có đó. Có đó cho người đã yêu, đã thấy. Khi ấy thì có khắp mọi nơi, từ cái cực vi đến cái cực đại, từ trong một mô đất bên bờ ruộng đến những con sông dài chở củi, lúa và tình người ; từ tiếng sáo diều trên cánh đồng quê đến những lời hát vô tận của gái trai trong cuộc sống văn hiến, từ một hột cơm, một cọng rau đến sự nghiệp bất diệt của một Nguyễn Trãi. Nhưng rõ ràng hiển nhiên là thế, mà vẫn không có với những kẻ lạc loài.

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Ngay cả trong những sách vở còn lọt qua mạng lưới của đế quốc và chó săn cũng còn để lại chút ít di tích của tư tưởng đích thực Việt Nam. Cho những ai biết đọc, cho những ai đọc với tình người Việt Nam, với tình nước Việt Nam. Trong thực tế thì cũng chẳng còn bao nhiêu. Một vài mảnh giấy đã nhám lửa, vùi trong những đống tro tàn của những hoả đài văn hoá. Nhưng quý làm sao ! Đẹp làm sao ! Và thâm trầm biết là chừng nào qua những huy hoàng và đắng cay của lịch sử !

Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng là cái ánh của tư tưởng để soi đường cho chính trị, là cái kim chỉ nam để cứu nước, giữ nước và yên dân. Tất nhiên rằng đế quốc và phản quốc ở bất cứ thời nào, cũng phải truy lùng và tiêu hủy tư tưởng chính trị của người dân yêu nước, trước tất cả những gì khác, hữu hình hay vô hình. Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Ðạo đã tuyệt diệt, nhưng An Nam Chí Lược của Trần Ích Tắc vẫn còn cho tới ngày nay, là vì thế.

Trong tâm khảm của chúng ta, không một người nào không tôn thờ cuốn sách mà không một ai được trông thấy, cuốn Binh Thư đã đuổi giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi. Và tuy cũng còn có những sử gia vì sự bắt buộc của nghề nghiệp phải đọc cuốn sử vong bản về đất An Nam, nhưng cũng không có một ai không khinh bỉ và thương hại cái văn tài trác tuyệt đã lầm đường mà thành nô dịch cho đế quốc.

Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân, ở đó nó âm ỉ cháy mãi, nuôi dưỡng bởi cỏ hoa của đất nước, để vạn kiếp bí truyền cho con cháu đời sau. Và khi nào cần thiết thì Binh Thư lại xuất hiện, Binh Thư không sách, Binh Thư không chữ, vì đó mới là Binh Thư thực của tư tưởng Việt Nam: Binh Thư Yếu Lược là thời trời, là lợi đất, là hoà người Việt Nam. Binh Thư sách đã bị ngọn lửa hung tàn của nhà Minh đốt cháy, nhưng cuốn sách ấy còn dùng làm gì sau khi nó đã vẻ vang chiến thắng quân Nguyên ? Còn lại là cái tin tưởng và cái tinh thần mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng với toàn dân đã thừa hưởng của Binh Thư, với những chiến lược mới phải được sáng tạo ra để đánh đuổi một kẻ thù mới, và lập nên nền đại định Bình Ngô.

Thế nhưng có còn một chút di tích gì của tư tưởng chính trị Việt Nam trong kinh sách không ?

Một ngàn năm trước đây, vào khoảng thập niên từ 980 đến 990, không phải 70 năm của sự thành lập Liên Xô, không phải 200 năm của sự ban hành hiến pháp Hoa Kỳ, cũng không phải thiếu đầy 200 năm kỷ niệm cuộc cách mệnh Pháp, một ngàn năm trước đây, trong nền độc lập mới còn chập chững của nước Ðại Việt ta, vua Lê Ðại Hành (ở ngôi từ 980 đến 1005) đã hỏi pháp sư Ðỗ Pháp Thuận (mất năm 991) về vận nước. Sư Pháp Thuận nói kệ để trả lời vua; kệ rằng:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch là:

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy Thái Bình
Vô vi ngự cung điện
Muôn xứ dứt chiến chinh
Ðây là sách lược chính trị để mở nước, sau mười thế kỷ Bắc thuộc. Triều đại nhà Ngô, mặc dầu đã chiến thắng quân Nam Chiếu một cách lẫy lừng trên sông Bạch Ðằng, nhưng còn lung lay và chưa có chính sự. Loạn mười hai sứ quân được dẹp bởi Ðinh Bộ Lĩnh, người anh hùng thôn dã, nhưng nhà Ðinh còn phải nấu vạc dầu và nuôi cọp dữ để giữ vững ngôi vua mà vẫn còn bị tiêu diệt bởi mũi dao của kẻ thích khách. Lê Ðại Hành lên ngôi trong sự đàm tiếu của bọn anh em tay chân của Ðinh Bộ Lĩnh, phương Bắc thì nhà Tống đem quân xuống để mưu đồ tái chiếm vùng đất thuộc cũ, miền Nam thì Chiêm Ba bắt sứ và khinh khi nền độc lập còn thơ ấu của nước Việt Nam. Dầu đã là Thập Ðạo Tướng Quân Lê Hoàn, vua Lê Ðại Hành cũng không khỏi có những bối rối lo âu. Sự mầu nhiệm kỳ diệu là vua Lê Ðại Hành, một quân nhân vừa ra khỏi đêm tối của thời trung cổ bán khai, đã quay sang một nhà sư học sĩ để hỏi việc nước. Và chúng ta được thấy sự khai sinh của tư tưởng chính trị Việt Nam trong văn chương chữ nghĩa.


Quốc tộ như đằng lạc…


Quốc tộ như đằng lạc, vận nước như dây quấn.

Những dây mây trong rừng, dây sắn dưới ruộng, quấn quít chằng chịt vào nhau như dây đan, như dệt, dựa vào nhau mà đứng vững trong gió bão, như trường thành. Ðó là cái hình ảnh của xã hội. Các nghề nghiệp lồng vào nhau, các giai tầng tựa vào nhau. Sự liên đới và đại đoàn kết của toàn dân là nền tảng của sự vững bền của vận nước. Người dân Việt Nam hiểu rõ điều ấy từ ngàn xưa. Tục ngữ ca dao nối tiếp vào bốn câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận mà giải thích thêm. `Vì cây dây quấn`, người ta nói. Những sợi mây xoắn vào nhau, móc vào nhau, khoác chặt lấy nhau là vì sự sống còn và vững mạnh của cả cây mây. Cũng như toàn thể dân trong nước, sát cánh nhau trong sự đấu tranh chung, là để giữ nước và xây dựng nước. Vì nước, tất cả các dây người cũng quấn; tay khoác tay, sự hợp quần phải chặt chẽ, trận tuyến phải dầy đặc. Cây là gốc của dây. Nếu người lãnh đạo hiểu được rằng `vận nước như dây quấn` thì người dân sẽ đáp ứng lại rằng toàn dân đã sẵn sàng, không trừ một giới nào. Dân là đằng lạc, quốc tộ là do dân.

Trong cái đằng lạc ấy, không phải là sự hỗn độn, không có sự tranh chấp. Dây già, dây non, dây cao, dây thấp, thậm chí đến cả dây chết, dây sống cũng vẫn ôm nhau, quyện nhau, không rời, không nhả, chia sẻ với nhau những nỗi khó khăn khổ cực của đời sống giữa rừng già. Thế nhưng `rút dây động rừng `chỉ cần cho kẻ lạ thấy được một cái đầu mối nào đó để rút ra một sợi mây thì cả rừng mây sẽ bị động và dầu là một cơ cấu thiên niên vạn đại cũng có thể sụp đổ. Ðến thế kỷ thứ hai mươi này, người ta sẽ gọi đó là `cách mệnh`. Cách mệnh là rút ra một sợi dây của đằng lạc và gieo cái ý thức rằng sợi dây cao đè sợi dây thấp, sợi dây già buộc sợi dây non, và phải rút đi một sợi dây thì thiên hạ mới thái bình. Ðó không phải là tư tưởng chính trị Việt Nam. Ðó là tư tưởng loạn nước loạn dân. Nhóm lên ngọn lửa đấu tranh giai cấp là chính thức hoá nội loạn. Ðó là một tư tưởng ngoại xâm.

Tư tưởng lập quốc của Việt Nam nói ra rất rõ:

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy thái bình
Hiểu rõ rằng nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm mống của đấu tranh không cùng.

Vô vi cư điện các. `Không làm` trong chốn quyền quý. Ðây là lời dạy vua quan trong sự cai trị. Vô vi là không làm. Không phải sự vô vi của Lão Tử, cưỡi con lừa già ra khỏi cổng thành để làm một Thái Thượng Lão Quân, ngồi nấu thuốc trường sinh bất lão. Mà là sự vô vi của Ðạo Phật. Sư Pháp Thuận là người Thiền Môn, không là một đạo sĩ. Trong Ðạo Phật, vô vi là sự không làm những cái không phải là Bát Chánh Ðạo, quan trọng hơn hết thẩy là sự không làm hại, ahimsa, mà sau này Mahatma Gandhi coi là sự dũng cảm tối hậu và phương châm chính trị tối cao. Trong Ðời, vô vi là không can thiệp, không bắt ép, không bó buộc, không phá rối truyền thống, pháp luật, và tín ngưỡng mà nhân dân đã thuận theo trong tự do, và cuối cùng, không mượn những cớ giả dối để đem quân đi chiếm đóng một nước khác. Ðó là những lời dạy của chính Phật Như Lai, về dân nước Vajji. Vô vi là cái cực đối lập với chuyên chế. Chính trị vô vi tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Chính trị vô vi có một điều kiện căn bản: nhân dân phải như dây quấn. Khi tất cả mọi giới đã ràng buộc lấy nhau trong cái thế liên kết, liên đới, liên thuộc, thì hoà bình trong xã hội tự nhiên được thực hiện, mọi sự cưỡng bách từ trên xuống trở thành vô nghĩa. Một xã hội yên vui không cần phải có một Ðảng lãnh đạo và cũng chẳng phải mướn một nhà nước quản lý. Những cái đó là những phát minh thời đại của những đỉnh cao trí tuệ, nhìn vào một cái sơ đồ của xã hội Âu Tây bệnh hoạn. rồi cho rằng lịch sử của loài người chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp, và mọi xã hội đều được cấu tạo với hai lớp người, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Hãy so sánh cái xã hội thô sơ ấy với tư tưởng Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ mười, trong câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận : Vận nước như dây quấn : cơ cấu xã hội phức tạp là thế, chặt chẽ là thế, nhưng vẫn có tự do vì một dây mây cá nhân vẫn có thể trồi từ lớp này lên lớp khác mà không cần phải có một kế hoạch nào của nhà nước chỉ huy cả.

Bởi vậy cho nên không những có được hoà bình xã hội mà có được cả hoà bình trong loài người.

Xứ xứ tức đao binh
(Mọi nước dứt chiến chinh)
Một bài kệ nhỏ, vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đã gói ghém, với những hình ảnh tuyệt đẹp, từ cung điện đến đời sống dân gian, từ vận nước đến cái thế lớn trong thiên hạ, và từ đầu đến cuối thoát ra một hương sắc Thiền nhẹ nhàng thanh nhã, luyện cái thiên nhiên vào cái trừu tượng rồi chuyển cái trừu tượng vào cái thực tế, và đồng thời, đem cái tư tưởng chính trị Việt Nam diễn ra, sáng như trăng rằm, trong như ngọc bích, thực là kỳ tuyệt. Mở sử ra đọc lại, thấy những lời của Trần Hưng Ðạo dặn dò vua trước khi chết, cũng là cái tinh thần ấy, nhưng chân phương là chừng nào, khẩn thiết là chùng nào ; thực là lời của vị võ thần giữ nước, nhìn thấy một chiến lược toàn diện và hiểu rằng nồng cốt của nước là dân. Xem đến Bình Ngô Ðại Cáo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: vẫn là cái tư tưởng chính trị căn bản xưa, nhưng phát triển ra lâm ly dũng mãnh, lúc như gió rít trong ngàn cây, lúc như sóng thần từ lưng trời đổ xuống, từ đầu đến cuối chỉ vì nước vì dân, coi dân là nước và nước là dân, rồi cuối cùng cũng chứng tỏ sự vô vi trong uy vũ để mua lấy một nền hoà bình vinh quang vĩnh cửu. Tư tưởng chính trị Việt Nam có một truyền thống, cho đến lúc ấy chưa bao giờ bị thực sự gián đoạn. Nhưng vài trăm năm sau đó thì rừng mây bắt đầu bị xẻ ra. Rồi vài chục năm gần đây, người trong nước đã khởi sự rút mây. Tư tưởng chính trị Việt Nam bị ô nhiễm đến độ rằng những bậc thức giả trong nước cũng không nhìn thấy nữa.

Nay là lúc chúng ta phải gạn đục khơi trong lại. Dòng tư tưởng của Việt Nam ở ngưỡng cửa của thế kỷ thứ hai mươi mốt tất nhiên không thể vẫn là bốn câu thơ của sư Pháp Thuận. Lịch sử Việt Nam cũng không dừng lại ở thời Lê Ðại Hành. Qua mỗi lần chuyển mình của lịch sử, tư-tưởng Việt Nam đã thay đổi và còn phải luôn luôn thay đổi. Nhưng chúng ta quyết không để cho một bọn ngụy trí thức, trong sự ngu tối và cuồng-loạn vọng-ngoại, xoá bỏ đi bốn ngàn năm lịch sử tư tưởng của Việt Nam để thay thế bằng cái quái thai đầu Ðức mình Nga gọi là chủ nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít.

Gs. Trần Ngọc Ninh

Posted: Fri May 30, 2008 4:31 am
by vuphong
Cuộc Khủng Hoảng tại Indonesia
Ngày 28 tháng 5, Chính phủ Indonesia tuyên bố sẽ rút khỏi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) vì nước này đã trở thành nước nhập khẩu dầu. Tình trạng khan hiếm dầu mỏ dẫn đến tăng giá xăng lên 30% đã châm ngòi cho nhiều cuộc biểu tình tại nước này những ngày gần đây.
Image
Các cuộc biểu tình nổ ra tại khắp nơi trên đất nước Indonesia, phản đối việc xăng tăng giá. Ảnh: AP
Theo Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Indonesia PurnomoYusgiantoro, trong cuộc họp về kế hoạch ngân sách, Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã nói rằng Indonesia phải rút khỏi OPEC và ông Purnomo sẽ ký quyết định về việc này.

Indonesia là nước duy nhất trong ASEAN là thành viên của OPEC, nhưng sản lượng dầu của nước này đã sụt giảm từ năm 1995. Hiện nay, Indonesia sản xuất khoảng 860.000 thùng dầu/ngày.

Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ dầu ở nước này tiếp tục vượt qúa sản lượng khiến đôi khi chính Indonesia lại trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ từ Iran và Kuwait.

Chính phủ Indonesia cũng đã giảm trợ cấp xăng dầu trực tiếp, và lập tức khiến giá dầu tăng tới 30%. Giá dầu tăng cao đã đẩy mức lạm phát ở Indonesia tăng theo và việc cắt giảm trợ cấp xăng dầu gần đây của chính phủ đã khiến nhiều cuộc biểu tình xảy ra.

Hôm 27/5, cảnh sát Indonesia tiếp tục phải đụng độ với người biểu tình sau khi chính phủ nước này quyết định tăng giá năng lượng thêm gần 30% từ rạng sáng 24/5 nhằm giảm gánh nặng ngân sách trong việc trợ giá.

Trước và trong ngày đầu tiên khi quyết định tăng giá xăng có hiệu lực, đã có hơn 300 người quá khích bị bắt tại Jakarta, trong đó có hơn 100 sinh viên đã tấn công cảnh sát bên ngoài Đại học Quốc gia Indonesia.

Tại đảo miền Nam Sumatra, đám đông sinh viên giận dữ đã không thành công khi muốn vượt qua hàng rào bảo vệ của cảnh sát trong chuyến thăm của Phó Tổng thống Jusuf Kalla.

Trong khi đó, hàng trăm sinh viên và dân chài lập chướng ngại vật trên đường vào Surabaya, thành phố lớn thứ 2 ở Indonesia và chiếm 1 xe thùng chở năng lượng.

Image
Sinh viên chặn xe và gây hỏa hoạn để biểu tình. Ảnh: AP
Tại thủ đô Jakarta, lực lượng cảnh sát và sinh viên vẫn đối đầu căng thẳng suốt sáng 27/5 bên ngoài Đại học Thiên Chúa giáo, nơi những người chống đối đã ném bom xăng vào cảnh sát ngày 26/5. Bất chấp việc chính phủ đã chi 1,5 tỷ USD để hỗ trợ cho các gia đình nghèo trong cơn bão giá, biểu tình ngày càng lan rộng.

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng dầu mỏ kèm theo lạm phát và bão giá tại Indonesia là hệ quả tất yểu phải xảy ra do nhiều năm gần đây, sản xuất dầu mỏ của Indonesia bị đình trệ và nước này đã gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm nguồn khai thác mới.

Thu Hiền (Theo AP, Reuters)

Posted: Sun Jun 01, 2008 5:30 am
by vuphong
Đối thoại nhân quyền với CS ích lợi gì chăng ???
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 52 (01-06-2008)
Ngày 29-05-2006 vừa qua là vòng thứ 13 mà con cháu “Bác Hồ” và hậu duệ “Chú Sam” lại gặp nhau -lần này tại Hà Nội- để gọi là “đối thoại nhân quyền”, như thể hai bên chưa hề thống nhất ý kiến với nhau được về khái niệm căn bản và lý tưởng cao cả nhất đó của văn minh nhân loại hiện đại, mặc dầu Cộng sản Việt Nam đã thò tay ký vào hai Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ngày 24-9-1982. Đoàn Hoa Kỳ do ông David Kramer, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Nhân quyền, Dân chủ và Lao động dẫn đầu. Đoàn Việt Nam do ông Đoàn Xuân Hưng, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao hướng dẫn.

Với giọng lưỡi gỗ như thường lệ, trưởng đoàn Việt Nam nhấn mạnh: “Quan tâm và thúc đẩy các quyền con người cho mọi người dân Việt Nam luôn là ưu tiên, nền tảng và tư tưởng lớn xuyên suốt cho các chính sách luật pháp của Nhà nước Việt Nam… Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách cởi mở, thẳng thắn và xây dựng về các vấn đề hai bên cùng quan tâm, kể cả vấn đề nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và thu hẹp bất đồng, góp phần tạo dựng khuôn khổ hợp tác vì lợi ích của cả hai nước”. Với kiểu ngụy biện như xưa rày, Việt Nam lên tiếng khẳng định: “Chúng tôi có quan niệm nhân quyền riêng, phù hợp với đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hoá của Á châu, của dân Việt”. Cũng với lối lừa gạt cố hữu, đoàn Việt Nam đã thông báo cho phía Hoa Kỳ “những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, cải cách pháp luật, tự do tôn giáo, đảm bảo và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của người dân”. (Theo http://www.vnanet.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/251735).

Nhiều người đã hy vọng vào cuộc hội ngộ này, “thà có đối thoại, còn hơn là không”. Nhưng những ai từng trải qua kinh nghiệm thấm thía lâu đời với CS, như luật sư Trần Thanh Hiệp, người từng có mặt trong cuộc hội đàm Paris năm 1972, thì cho biết: “Tôi không mấy lạc quan để chờ đợi kết quả đáng kể của cuộc đối thoại sắp tới. Vì hai lý do. Một đằng tình trạng xấu về nhân quyền ở VN hiện nay là hậu quả đương nhiên của chính sách đàn áp cố hữu của Hà Nội. Mà về phía Hà Nội thì rõ ràng không có dấu hiệu nào cho thấy muốn chấm dứt chính sách ấy. Đằng khác, tuy trên thực tế Hoa Kỳ có thể đã có ít nhiều ảnh hưởng tới mức độ đàn áp của nhà cầm quyền Hà Nội, nhưng nếu cứ đi tìm thỏa thuận giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn để giải quyết vấn đề nhân quyền cho dân VN thì đã đặt sai vấn đề để gây ra rất nhiều tai hại. Hà Nội sẽ chỉ nhượng bộ Hoa Kỳ trong chừng mực không làm suy yếu thế lực đảng trị của mình… Cuộc đối thoại Mỹ-Việt về nhân quyền không phải bây giờ mới diễn ra mà đã được tiến hành từ lâu. Nhưng không vì vậy mà chính sách nhân quyền của Hà Nội đã thay đổi… Do đó, để cải thiện tình hình nhân quyền ở VN trước hết cần cải thiện phương thức đối thoại về nhân quyề. Cải thiện theo chiều hướng dân chủ hóa chế độ. Vì nhân quyền phải đi đôi với dân chủ. Nếu nhân quyền đi đôi với độc tài thì chỉ có đàn áp”. (RFA phỏng vấn ngày 23-05-2008). Quả thế, tự bản chất, độc tài, độc quyền, độc đảng có nghĩa là mọi nhân quyền đều bị chà đạp. Thao túng Quốc hội, làm gì có tự do bầu cử? Nắm lấy báo chí, làm gì có tự do ngôn luận? Khống chế tôn giáo, làm gì có tự do tín ngưỡng? Áp đặt học thuyết Mác, tư tưởng Hồ, làm gì có tự do giáo dục? Công cụ hóa công an quân đội, làm gì có tự do biểu tình? Tay sai hóa công đoàn, làm gì có tự do đình công? Lùa tất cả vào MTTQ, làm gì có tự do lập hội?..

Ngoài ra, một điểm quan trọng trong đối thoại về nhân quyền, chính là sự có mặt của thành phần đang tạo nên vấn đề nhân quyền khiến Hoa Kỳ và Việt Nam phải ngồi lại. Nói cách khác, bàn thảo và quyết định về nhân quyền, dân quyền ở Việt Nam thì không thể thiếu tiếng nói, thiếu nguyện vọng của những nạn nhân là chính nhân dân Việt Nam, cụ thể là những thành phần đang bị bách hại hay đang lên tiếng chống lại bách hại. Hoa Kỳ -trong các vòng đối thoại- chỉ là người quan tâm, yêu chuộng, bênh vực, hay có thể tạm gọi là người làm ơn, nhưng không phải là người thụ ủy của những nạn nhân bị đàn áp. Vì thế, nếu không có thành phần thứ ba này, Cộng sản Việt Nam sẽ tìm những nhượng bộ làm cho Hoa Kỳ hài lòng (một trong những mánh lới mà họ là bậc thầy) để đổi lấy thế mạnh mà quay lại củng cố thế lực của đảng. Đây là kinh nghiệm xương máu cho dân Việt hồi hòa đàm Paris năm 1972, khi số phận nhân dân miền Nam bị định đoạt bởi cuộc đối thoại mật đàm Kissinger-Lê Đức Thọ, một kẻ thì dửng dưng với số phận đám dân da vàng ngoại tộc, một kẻ thì quyết tâm đưa đồng bào ruột thịt vào tròng Cộng sản quốc tế. Đây là điều mà Khối 8406 quốc nội đã đòi hỏi trong dự thảo Lộ trình Dân chủ do một thành viên ban đại diện của mình, kỹ sư Đỗ Nam Hải, đưa ra ngày 21-05-2008: “Trong quý III-2008, chấp thuận một cuộc đối thọai về tự do, dân chủ và nhân quyền được tổ chức tại VN. Thành phần bao gồm 3 bên: quốc tế, nhà cầm quyền CSVN và những người dân chủ VN (trong và ngoài nước). Danh sách do 3 bên liên quan ở trên tự lập ra. Số lượng thành viên của mỗi bên phải bằng nhau. Từ trước đến nay, những cuộc đối thoại về dân chủ và nhân quyền được diễn ra chỉ có 2 bên tham gia là quốc tế và nhà cầm quyền CSVN. Điều này là hòan toàn bất bình đẳng và rất tai hại. Vì phía quốc tế chỉ được nghe, chỉ được thấy cách một chiều, phiến diện, che đậy… từ phía những kẻ đàn áp tự do là CSVN. Trong khi những người bị đàn áp thì không hề được có tiếng nói. Thực tế là họ bị nhà cầm quyền CSVN tước đoạt mọi vũ khí tự vệ, kể cả vũ khí tố cáo”.

Mỉa mai thay, chính trong lúc chuẩn bị cho ngày đối thoại nhân quyền 29-05, nhà cầm quyền CSVN đã lập rất nhiều thành tích không giống ai, chỉ xin kể ra những thành tích nổi bật:

- Trên phương diện tôn giáo : Ngoài việc thoán đoạt lấy quyền điều hành một đại lễ tôn giáo linh thiêng là Vesak Liên Hiệp Quốc 2008, biến những lãnh đạo tinh thần thành công cụ, chà đạp lên chính tư cách và bản chất tôn giáo (vốn phải độc lập), lừa gạt thế giới về chính sách tín ngưỡng của mình, nhà cầm quyền CSVN còn đàn áp dữ dội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước và trong những ngày đại lễ ấy. Từ đầu năm, liên tục sách nhiễu các Huynh trưởng Gia đình Phật tử tại 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngày 01-04-2008, cướp đất đai tài sản đồng thời hành hung tăng ni chùa Phước Huệ, tỉnh Quảng Trị. Cùng thời gian trên, ép buộc đạo hữu chùa Giác Hải huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng làm đơn tố cáo Thượng tọa Trú trì Thích Trí Khải, để mở chiến dịch đấu tố và cuối cùng trục xuất Thượng tọa. Tại TT- Huế thì trừng trị các Tăng sĩ và triệt hạ Phật học đường của Giáo hội PGTN; phá hủy tượng Quan Âm tại núi Ngự Bình. (Đơn tố cáo của Hòa thượng Thiện Hạnh ngày 24-04-2008). Trong những ngày này, còn cưỡng bức Thượng tọa Như Tấn, Ban Đại diện PGVNTN tỉnh Lâm Đồng đi làm việc liên tục, đến nỗi ngã bệnh; dùng vũ lực buộc Hoà thượng Tâm Mãn, trú trì chùa Sư tử Hống ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, tới đồn hạch hỏi thẩm vấn (Thông cáo báo chí phòng Thông tin PGQT ngày 28-5-2008).
- Trên phương diện dân sinh : Điển hình và bi thảm nhất là việc đàn áp nông dân làng My Điền, xã Hoàng Ninh, Huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang suốt hai tháng nay. Sau khi lấy đất của họ để bán cho một chủ nhân Trung Quốc làm công ty sản xuất bao bì Hoa Hạ, đẩy họ vào thân phận nô lệ thời mới với đồng lương chết đói (khoảng từ 31 đến 44 USD/tháng), các viên chức chính quyền tham lam và gian xảo còn dùng lũ tay sai mù quáng và tàn bạo là công an đánh đập dã man công nhân và nông dân cùng làng đứng lên phản đối chủ nhân bất công. Chưa hết, mới đây, nhà cầm quyền CSVN còn đẩy dân làng My Điền vào chỗ chết bằng cách cướp đất của họ bán cho chủ nhân Đài Loan làm sân gôn. Dân đứng lên phản đối. Đội đặc nhiệm 113 và hàng ngàn công an trang bị vũ khí tận răng liền ập vào làng. Chúng đánh đập dã man những người dân tay không chạy ra giữa đường, nằm xuống mặt lộ, đào hào đào hố để cản xe, khiến nhiều người bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, trong đó có hai phụ nữ bị đánh đến trụy thai.

- Trên phương diện luật pháp : Ngày 5-5-2008, CSVN triệu tập tại Sài Gòn Hội nghị Góp ý Sửa đổi Luật Đất đai. Điều 63 khoản 1 Luật Đất đai này (26-11-2003) cho phép việc giao dịch trong thị trường bất động sản VN chỉ diễn ra trên căn bản quyền sử dụng đất chứ không là quyền sở hữu đất. Đến ngày 5-5-2008, điều khoản nói trên được đề nghị sửa đổi như sau : “Chính phủ qui định điều kiện để các đô thị, khu vực qui hoạch phát triển đô thị được phép thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định khu vực được thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà để ở, để bán, cho thuê; khu vực được thực hiện dự án xây dựng nhà ở theo hình thức phân lô bán nền”. Nói vắn gọn, điều 63 khoản 1 sửa đổi sẽ cho phép chính phủ đứng ra bán đất (phân lô bán nền) và người mua đất được cấp chứng khoán điền thổ theo đúng luật sở hữu bất động sản của guồng máy kinh tế thị trường. Người mua ở đây hiển nhiên là giới tư bản đỏ và thân bằng quyến thuộc của họ. Đám người này sẽ có quyền sở hữu và cơ hội sở hữu đất đai cách vô giới hạn, trong lúc dân oan vẫn hoàn oan, dân nghèo vẫn hoàn nghèo, dân nông thôn vẫn triền miên đói khổ. Ngày xưa chủ ruộng là phú nông, là đại địa chủ. Ngày nay chủ ruộng hiển nhiên là đảng CS. Nông dân không gì khác hơn là đội ngũ bần cố nông, cày thuê cấy mướn. (Theo luật sư Đỗ Thái Nhiên).

Thành ra, mọi cuộc đối thoại với CS độc tài sẽ chỉ là vô ích uổng công. CS đã đối thoại bao lần với thế giới, khi ký kết các văn kiện quốc tế về nhân quyền, tham dự các hội nghị quốc tế về nhân quyền. Vì đối với CS, ngôn ngữ không phải là phương tiện để trình bày bản chất sự việc, mà chỉ là công cụ để thu phục và lường gạt, hầu duy trì chế độ độc tài bóc lột lâu chừng nào tốt chừng ấy.

BAN BIÊN TẬP

Posted: Mon Jun 02, 2008 5:23 am
by khieulong
Bs Nguyễn Thể Bình Trước Nhân Quyền Hạ Viện 14-5-2008


Như quý vị đã rõ, sau khi được gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và trở thành hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ, Việt Nam đã không thực hiện lời hứa tôn trọng nhân quyền, và tiến tới một xã hội dân chủ và văn minh hơn. Thay vào đó, thế giới đã chứng kiến một số những vụ đàn áp thô bạo các nhà đối lập và các phong trào vận động dân chủ tại Việt Nam.
Thật bất hạnh khi chúng tôi phải tường trình trước quý vị hôm nay, vào đầu thế kỷ 21 rằng, Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng, và không có phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Vì Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm trong tay quyền cai trị tuyệt đối nên không thể có cơ may cải tổ về các lãnh vực tư pháp, dân chủ, xã hội, hay bất cứ cách nào khác có thể bảo đảm cho người dân Việt Nam khỏi bị xâm phạm tới nhân quyền, và dân quyền.
Xin chia sẻ sau đây cùng quý vị những điều đáng quan tâm hơn cả về các vi phạm nhân quyền và thiếu dân chủ: Về tự do thông tin, phát biểu, và báo chí: Trước hết là Internet: Đảng Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng internet bằng cách ngăn chặn hay lựa lọc hầu hết các mạng lưới chứa đựng nội dung nhạy cảm, hay những thông tin không có chiều hướng thuận lợi cho nhà cầm quyền. Thêm vào đó, những người dân muốn phát biểu ý kiến của mình trên internet qua các hình thức như thảo luận (chat rooms), nhật ký (blogs), hay điện thư (emails) đều bị phát hiện lý lịch và bị phiền hà.
Gần đây đã có những trường hợp người dân bị bắt giữ và cầm tù chỉ vì đã trình bầy quan điểm của mình trên internet. Đảng Cộng Sản buộc chủ nhân các quán cà phê internet phải hợp tác với chính quyền bằng cách lấy căn cước và địa chỉ điện thư, hay theo dõi những người xử dụng internet để báo cho chính quyền. Về phương diện thông tin: Hiện đang có tình trạng bất quân bình trầm trọng trong lãnh vực trao đổi thông tin giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Qua nhiều đường lối khác nhau, Đảng Cộng Sản VN có thể gửi các tài liệu như sách báo, DVD hay CD sang Hoa Kỳ, nhưng cấm tất cả những tài liệu tương tự nhập cảng từ Mỹ vào Việt Nam.
Đảng Cộng Sản vẫn cho phá chương trình Việt ngữ của Đài Á châu Tự do (RFA) tại Việt Nam. Về quyền phát biểu: Các nhà đối lập như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang…, không được phép xuất bản hay lưu hành tác phẩm của mình. Họ không được sử dụng các phương tiện truyền tin thông thường, như telephone, fax, và internet. Về báo chí: Mặc đầu Đảng Cộng Sản nói rằng họ có khoảng 600 tờ báo, tạp chí hay ấn phẩm định kỳ, và rằng 75% dân chúng có thể nghe radio, và 50% có thể coi TV, nhưng không có báo chí hay truyền thông tư nhân tại Việt Nam, vì tất cả đều dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng Sản. Thí dụ mới nhất là vụ bắt giữ nhà báo Việt Chiến của tờ Thanh Niên, và nhà báo Trần Thanh Hải của tờ Tuổi Trẻ, vì đã viết những bài báo phanh phui vụ tham những lớn có tên là “PMU 18” tại Việt Nam.
Tất cả mọi ấm phẩm đều bị chính quyền kiểm duyệt. Về tự do tín ngưỡng Đảng Cộng Sản tiếp tục loại trừ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (lãnh đạo bởi các Hòa Thượng Thích Huyền Quang, và Thích Quảng Độ), Giáo hội Tin Lành miền Thượng, và các tôn giáo bản địa như Hòa Hảo, và Cao Đài. Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc Vesak năm nay được tổ chức tại Việt Nam, từ 13 đến 17 tháng 5 tại Hà Nội, và tại 54 trong số 64 tỉnh tại Việt Nam. Nhưng đại lễ này được tổ chức bởi Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập bởi Đảng Cộng Sản, và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được tham dự. Thêm vào đó, Đảng Cộng Sản còn tiếp tục can thiệp vào các hoạt động tôn giáo của Giáo Hội Công Giáo.

Về tự do lập hội và nghiệp đoàn độc lập Đảng Cộng Sản nghiêm ngặt phủ nhận tự do lập hội bằng cách ban hành các nghị định đặc biệt không cho phép hội họp quá năm người nếu không được phép của chính quyền. Tất cả mọi cuộc biểu tình chống chính quyền đều bị Đảng Cộng Sản coi là bất hợp pháp.
Hàng triệu công nhân Việt Nam không có một nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ họ. Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đã được thành lập và kiểm soát bởi Đảng Cộng Sản. Lãnh đạo tổ chức này bao giờ cũng là thành viên của một nhóm chính trị trực thuộc Đảng Cộng Sản, và do Bộ Chính Trị chỉ định. Về tự do chính trị: Đảng Cộng Sản tiếp tục duy trì điều 4 Hiến Pháp, bảo đảm quyền cai trị của Đảng trên toàn dân. Đảng Cộng Sản còn dùng các Nghị định hay Nghị quyết để kiểm soát người Việt trong nước và hải ngoại. Đảng Cộng Sản dùng hình luật với tội danh không rõ ràng và hình phạt nặng nề (như các điều 79 và 88 ) để xách nhiễu, bắt giữ, trừng phạt hay cầm tù các nhà đối lập. Vì không có phân quyền nên chế độ tư pháp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng Cộng Sản, và tòa án không vô tư, và thủ tục xét xử không phù hợp với thông lệ quốc tế. Đảng Cộng Sản tiếp tục gây phiền hà cho các cựu tù nhân chính trị, các nhà vận động nhân quyền và các lãnh tụ tôn giáo. Những người này liên tiếp sống dưới sự canh chừng của nhân viên công lực theo dõi hoặc bao vây quanh nơi cư trú. Họ bị cắt đường giây điện thoại, fax, và internet. Thư tín của họ bị coi lén. Họ bị coi như thường phạm và bị cô lập với dòng chính của xã hội. Các viên chức Việt Nam Cộng Hòa, và những người có liên hệ với chế độ cũ bị xử tệ bởi chính quyền. Dù cách đối xử kỳ thị này không còn rõ rệt trong những năm gần đây nhờ sự canh chừng và chỉ trích của quốc tế, nhưng sự tệ bạc này vẫn sâu rộng và ngấm ngầm. Ngay cả với người chết, như những nấm mồ của các tử sĩ tại nghĩa trang Biên Hòa đã bị xâm phạm bằng cách lấy đất và không cho người Việt hải ngoại được trùng tu những ngôi mộ trong tình trạng đổ nát.
Những đề nghị: Chúng tôi có một số đề nghị để phái đoàn Hoa Kỳ nêu ra với phía Việt Nam trong cuộc đối thoại thường niên Việt-Mỹ về nhân quyền vào ngày 29 tháng 5:
1- Phái đoàn Hoa Kỳ không nên bỏ lỡ cơ hội thông báo cho Đảng Cộng Sản Việt Nam biết là người dân cũng như chính quyền Hoa Kỳ hỗ trợ một xã hội Việt Nam cởi mở hơn về dân chủ (Theo Công Luật số 103-258 ban hành bởi Tổng thống Hoa Kỳ ngày 25 tháng 5, năm 1994)
2- Nhân dân và chính quyền Hoa Kỳ cũng khuyến khích Đảng Cộng Sản Việt Nam có một khuôn mẫu và thời biểu cho cuộc bầu cử tự do và công bằng dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, để dân Việt Nam có thể tự chọn cho mình một thể chế chính quyền.
3- Phóng thích ngay các tù nhân chính trị và các nhà lãnh đạo tôn giáo bị cầm tù. Chúng ta không nên để cho Đảng Cộng Sản sử dụng tù chính trị để mặc cả với Hoa Kỳ. Hơn nữa, Đảng Cộng Sản không được xử tệ và cô lập cựu tù nhân chính trị, và phải phục hồi các quyền dân sự và chính trị cho họ.
4- Có hai quyền căn bản cực kỳ quan trọng và không thể thiếu cho công cuộc dân chủ hóa và phát triển Việt Nam, là: Tự do thông tin, và tự do phát biểu. Chúng tôi đề nghị Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phối hợp với nhau để điều chỉnh hiện trạng thiếu một đường lối thông tin hai chiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Phái bộ Hoa Kỳ nên nhấn mạnh rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam cần chấm dứt việc phá sóng chương trình Việt ngữ của đài Á châu tự do. Người dân Việt Nam phải được in và phát hành các tác phẩm của mình, cũng như được phát biểu những quan điểm có thể khác với quan điểm của Đảng Cộng Sản, miễn là bất bạo động. Đảng Cộng Sản phải chấm dứt việc ngăn chặn internet, cho phép mọi người dân Việt được tự do tiếp cận internet. 5- Cộng đồng người Mỹ gốc Việt sẵn sàng cộng tác với bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ theo đường lối xây dựng trên căn bản tương kính và năng tham khảo ý kiến.
Trong tương lai, chúng tôi hy vọng tích cực tham dự vào phái đoàn Hoa Kỳ về bất cứ cuộc thảo luận nào với nhà cầm quyền Việt Nam liên quan tới những vấn đề về nhân quyền và dân chủ. Chúng tôi tin rằng, với căn bản liên hệ quá khứ, chúng tôi có thể hữu ích bằng cách sử dụng những hiểu biết về văn hóa và những giá trị về phong tục, ngôn ngữ Việt Nam, và những kinh nghiệm tổng hợp của trên nửa thế kỷ đối phó với Đảng Cộng Sản Việt Nam.