Page 69 of 187

Posted: Mon Dec 19, 2011 1:58 am
by KýCóp
Lãnh đạo và trách nhiệm
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Ðã bàn đến quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý, có lẽ chúng ta cũng nên bàn tiếp một khía cạnh khác: Quan hệ giữa lãnh đạo và trách nhiệm.

Image
Nhà lãnh đạo Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: tintuc.xalo.vn)

Thường, nói đến lãnh đạo, người ta nghĩ ngay đến quyền lực. Ðó chỉ là một khía cạnh. Và khía cạnh ấy trở thành tiêu chí để nhận diện bản lĩnh cũng như bản chất của các nhà lãnh đạo: Một số người xem quyền lực như cứu cánh và một số khác xem quyền lực chỉ là phương tiện. Loại thứ nhất là những tên hoạt đầu khi đang theo đuổi quyền lực và là những kẻ độc tài sau khi đã nắm được quyền lực trong tay. Loại thứ hai khá đa dạng, tùy theo những mục tiêu họ nhắm tới: Một số người dùng quyền lực như một phương tiện để làm giàu khác hẳn những người sử dụng quyền lực như một phương tiện để thực hiện các hoài bão lớn lao và cao cả hướng đến dân tộc, hoặc rộng hơn, nhân loại.

Với những nhà lãnh đạo thực sự, lãnh đạo gắn liền với trách nhiệm trước khi nó đi với quyền lực. Ðã đành không thể có trách nhiệm lớn, càng không thể hoàn thành các trách nhiệm lớn ấy, nếu không có quyền lực. Nhưng quyền lực, khi đứng một mình, sẽ là một đe dọa. Khi gắn liền, hay đúng hơn, xuất phát từ trách nhiệm, thì lại là một điều cần thiết. Bởi vậy, ranh giới giữa quyền lực và trách nhiệm rất mơ hồ. Từ góc độ tâm lý, người có tinh thần trách nhiệm bao nhiêu càng ham hố quyền lực bấy nhiêu. Sự khác biệt nằm ở hai chỗ: Một, ở mức độ ưu tiên: Người thì ưu tiên cho trách nhiệm; người khác thì ưu tiên cho quyền lực; và hai, ở góc độ hành xử: Người thì hành xử quyền lực một cách có trách nhiệm, người thì không.

Ở đây, có hai điều cần lưu ý:

Thứ nhất, tinh thần trách nhiệm trong cách hành xử quyền lực, một mặt, xuất phát từ cá tính và ý thức, nhưng mặt khác, lại cần được kiểm soát từ bên ngoài. Biết được điều đó, ở tất cả các nước phát triển, người ta luôn luôn cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát quyền lực của giới chính trị gia. Ðể không có ai lạm dụng quyền lực, ngay cả khi nhân danh tinh thần trách nhiệm. Ðó chính là lý do quan trọng nhất để biện minh cho sự tồn tại của các chế độ dân chủ: Ngăn chận, ngay từ đầu, sự xuất hiện của các tên độc tài và bạo chúa.

Thứ hai, ở Việt Nam, người ta hay phê phán những người ham quyền. Ở Tây phương, ngược lại, người ta xem đó là điều tự nhiên. Không ai ngạc nhiên hay chê bai các chính khách khi họ bày tỏ tham vọng quyền lực của họ. Người ta chỉ chê bai các chính khách thiếu tham vọng và không dám chấp nhận thử thách để đạt được quyền lực. Người ta xem, chỉ riêng điều đó thôi, các chính khách ấy đã không đủ tư cách để trở thành nhà lãnh đạo.

Lãnh đạo đi liền với trách nhiệm. Hơn nữa lãnh đạo và trách nhiệm là một.

Nhưng những trách nhiệm đó là gì?

Lại phải phân biệt hai loại trách nhiệm: Trách nhiệm đối với bản thân và trách nhiệm đối với người khác. Làm lãnh đạo là nhận lãnh trách nhiệm với người khác chứ không phải chỉ với bản thân. Câu nói đã thành danh ngôn ở Việt Nam: “Không thành công cũng thành nhân”, thật ra, là câu nói của một người thất bại. Ðó chỉ là một chọn lựa cuối cùng của những người có hoài bão và chí khí nhưng lại bị đẩy vào đường cùng. Với những người lãnh đạo, nghĩa là những người chiến thắng, đã có quyền lực trong tay, mục tiêu lớn nhất là thành công chứ không phải là thành nhân. Ðúng hơn, ở cương vị ấy, người ta chỉ thành nhân khi, và chỉ khi, thành công. Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều nhà lãnh đạo thường tỏ ra lo lắng về các di sản mà họ để lại sau bao nhiêu năm cầm quyền cũng như cách lịch sử đánh giá về sự nghiệp của họ.

Cái gọi là trách nhiệm với người khác, ở vai trò người lãnh đạo quốc gia, có một định nghĩa rõ ràng: Trách nhiệm với đất nước. Trách nhiệm đó được cụ thể hóa tùy theo hoàn cảnh, ở đó, một số vấn đề nổi bật lên, trở thành ưu tiên, cần được hoàn tất trước các vấn đề khác. Nhưng dù hoàn cảnh có thay đổi đến mấy thì nội dung chính của trách nhiệm đối với đất nước cũng là, trước hết, đáp ứng được các nguyện vọng chính đáng của quần chúng. Quần chúng đang quan tâm đến vấn đề kinh tế nhất? - Kinh tế sẽ trở thành trách nhiệm hàng đầu! Quần chúng quan tâm đến dân chủ nhất? - Dân chủ sẽ trở thành trách nhiệm hàng đầu!

Hơn nữa, quần chúng không phải chỉ là những người dân đang sống và đến phòng phiếu theo kỳ hạn mà còn bao gồm cả những người đã khuất và chưa ra đời. Với những người đã khuất, tức với tiền nhân, nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà lãnh đạo là phải bảo vệ di sản và truyền thống. Với những người chưa và sẽ ra đời, nhiệm vụ của nhà lãnh đạo là phải để lại cho họ một di sản tốt đẹp hơn cái di sản mà thế hệ hiện tại đang có. Không có nhà lãnh đạo nào có thể được xem là có trách nhiệm nếu tiêu sạch cả vốn liếng của con cháu, thậm chí, để lại cho con cháu những gánh nợ do chính mình tạo ra và không thể trả được.

Như vậy, nhiệm vụ của nhà lãnh đạo không phải chỉ là giải những bài toán trong hiện tại mà còn phải giải cả những bài toán trong tương lai. Người ta đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có viễn kiến là vì vậy. Thiếu viễn kiến, người ta, may lắm, chỉ là nhà quản lý chứ không phải là nhà lãnh đạo.

Viễn kiến là nhìn xa về tương lai. Tương lai lại là một cái gì khá mơ hồ. Bởi vậy, người ta thường đòi hỏi ở nhà lãnh đạo không phải chỉ khả năng phân tích sâu sắc mà còn một niềm tin mãnh liệt. Không có một niềm tin mãnh liệt, nhà lãnh đạo không thể làm cho người khác tin tưởng và theo mình.

Nhà lãnh đạo cần có viễn kiến. Nhưng họ không đi vào tương lai một mình. Sự khác biệt giữa một nhà lãnh đạo và các nhà cố vấn của họ chính là ở điểm đó. Cả hai đều có thể có viễn kiến, nhưng chỉ có nhà lãnh đạo là có khả năng tập hợp lực lượng để biến viễn kiến ấy thành hiện thực. Có ba cách tập hợp lực lượng: Cưỡng bức, lừa dối và tự nguyện. Cách thứ nhất và thứ hai là của những tên độc tài. Cách thứ ba là của các nhà lãnh đạo dân chủ. Tập hợp dựa trên cưỡng bức hay lừa dối, nếu thành công, chỉ thành công trong ngắn hạn. Và cũng không bao giờ trọn vẹn. Chỉ có sự tập hợp dựa trên tự nguyện, hình thành từ sự đồng thuận và sự ủng hộ mới chắc chắn và lâu dài: Ở đây người ta không chỉ tập hợp được sức người mà còn tập hợp được cả tâm hồn và trí tuệ.

Sự tập hợp dựa trên tự nguyện cần một điều kiện căn bản: Tin cậy. Trách nhiệm của nhà lãnh đạo là tạo dựng và bảo vệ sự tin cậy ấy. Ðể hoàn thành trách nhiệm ấy, nhà lãnh đạo có trách nhiệm khác: Ðối thoại. Không thể có sự tin cậy nếu không có đối thoại. Nhưng không thể có đối thoại nếu từ chối hoặc cấm đoán sự phê phán. Trong lãnh vực chính trị, đối thoại thực chất là dám đương đầu trước các phê phán. Ðó là nguyên tắc của dân chủ đồng thời cũng là điều kiện của tin cậy, đồng thời cũng là điều kiện để tập hợp lực lượng, nghĩa là, cũng chính là điều kiện để tạo nên sức mạnh cho nhà lãnh đạo.

Nhìn lại giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, bạn thử nghĩ xem họ có phải là những người có trách nhiệm không?

Posted: Tue Dec 20, 2011 7:16 am
by tiendung
CẦN NÂNG CUỘC ĐẤU TRANH CỦA THÁI HÀ
LÊN TẦM ĐÒI QUYỀN TƯ HỮU ĐẤT ĐAI

Lý Đại Nguyên

Mùa Giáng Sinh 2007, ngày 18 tháng 12, hàng ngàn giáo dân thuộc địa phận Hànội tập trung cầu nguyện, đòi lại khu đất Toà Khâm Sứ, vốn thuộc quyền sở hữu của giáo phận Hànội từ năm 1933, đã bị nhà cầm quyền Việtcộng tịch thu từ năm 1959, khi vị khâm mạng của Vatican bị trục xuất khỏi Miền Bắc Việtnam, để biến thành chỗ buôn bán, ăn chơi. Trước thái độ quyết liệt của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt phong trào Đấu Tranh Đòi Công Lý và Sự Thật lan rộng ra khắp các giáo phận Thiên Chúa Giáo ở Miền Bắc, mà điểm nóng nằm ở xứ Thái Hà. Nhờ sự can thiệp của Hồng Y Tarcisio Bertone, Việtcộng mới hóa giải nổi cuộc đấu tranh ngay giữa thủ đô. Nhân đó rảnh tay biến khu vực toà Khâm Sứ thành công viên. Nhưng rồi cuộc đấu tranh lại đã nổ ra tại giáo xứ Thái Hà. Ngày 06/01/2008, cuộc tranh chấp giữa giáo dân Thaí Hà với công ty Việt Thắng ở phường Quang Trung, quận Đống Đa. Đất này vốn thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, do các tu sĩ của Quebec, Canada mua từ thế kỷ 20. Việtcộng đàn áp thẳng tay, bắt 8 giáo dân ghép vào tội phá hoại. Rồi bổn cũ soạn lại, cũng biến nơi đây thành công viên.

Đến nay nhà nước Việtcộng cho phép tiến hành “dự án xử lý nước thải”, ngay trong khuôn viên Bệnh Viện Đống Đa và Hồ Ba Giang, mà nhà nước đã mượn cơ sở này của nhà dòng Chúa Cứu Thế, vốn có chủ quyền nhà đất từ năm 1940. Theo Điều 70 của Hiến Pháp và Điều 04 của Pháp Lệnh Tín Ngưỡng và Tôn Giáo thì: “Nhà thờ, cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo được pháp luật bảo hộ”. Thế mà, nhà nước mượn cơ sở đào tạo của Thái Hà để làm bệnh viện, nay lại tự động cho xây hệ thống xử lý nước thải, đúng là muốn cướp luôn cơ sở này của nhà dòng Thiên Chúa Giáo. Đây đúng là hành động vi phạm luật pháp của chính nhà nước Việtcộng, đồng thời vi phạm quyền Tự Do Tôn Giáo. Khiến cho cuộc đấu tranh Công Lý và Sự Thật ở Thái Hà lại bùng lên mạnh bạo hơn.

Khắp nơi trên thế giới trong tuần lễ 10/12/2011 vừa qua, nhiều cuộc tập họp, biểu tình, thắp nến của Người Việt Hải Ngoại, không phân biệt tôn giáo, chính kiến để hiệp thông với cuộc đấu tranh của Thái Hà. Trả lời phỏng vấn của nhật báo Viễn Đông, Hoà thượng Thích Viên Lý, tổng thư ký Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoakỳ nói: “Dưới chế độ độc tài của cộng sản, hầu như các tôn giáo đều bị đàn áp vì cộng sản là vô thần…tôn giáo nào mà bị cộng sản đàn áp đều là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, bởi vì chúng ta đang chống lại sự độc tài toàn trị của nhà nước cộng sản Việtnam. Trước sự kiện giáo xứ Thái Hà chúng tôi cầu nguyện để mọi sự được tốt đẹp…”. Linh mục Mai Khải Hoàn chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Viện Nam Miền Tây Nam Hoakỳ phát biểu: “Tiếp sức cho Thái Hà chính là tiếp sức cho đồng bào quốc nội đang mong mỏi và đấu tranh cho một Việtnam thực sự có tự do, công bằng, văn minh và dân chủ”. Hiền Tài Phạm Văn Khảm thuộc Cao Đài Giáo nói: “…bất cứ một tôn giáo nào bị pháp nạn thì cũng coi như chính tôn giáo mình bị pháp nạn”. Gs Nguyễn Thanh Giàu hội trưởng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Nam California nói: “…tất cả các tôn giáo nếu cùng lên tiếng thì ảnh hưởng sẽ không nhỏ”.

Đúng là việc làm của Việtcộng đối với tu sĩ và giáo dân Thái Hà hiện nay, là một hành động có tính cách côn đồ để đối phó với một tôn giáo có quyền hợp pháp sở hữu nhà đất thuộc giáo xứ Thái Hà. Tuy đây có thể gọi là đàn áp tôn giáo một cách thô bạo, nhưng Việtcộng vẫn vin vào quyền quản lý “Công Hữu Đất Đai”, nằm trong tay nhà nước để mượn, rồi quỵt luôn. Biến cuộc tranh đấu đòi công lý và sự thật của Thái Hà thành sự kiện đòi quyền lợi riêng tư cho giáo xứ mình, tôn giáo mình, trước dư luận ở trong nước, không còn mang ý nghĩa của cuộc vận động cho công ích toàn dân nữa. Ngay các tôn giáo cùng chung cảnh ngộ, bị Việtcộng chiếm chùa chiền, thánh thất cũng không thể kết chung một trận tuyến. Vì ngoài Thiên Chúa Giáo La mã ở Việtnam là một tôn giáo duy nhất sống hợp pháp, mà không bị nhà cầm quyền Việtcộng cho thành lập một hệ thống tôn giáo quốc doanh đi song hành, như trường hợp của Phật Giáo. Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài và Tin Lành. Nên chỉ có Thiên Chúa Giáo mới có điều kiện hợp pháp để đòi lại những cơ sở và đất đai bị chiếm. Còn các tôn giáo bị đặt ngoài vòng pháp luật của Việtcộng, như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thì tự thân không có cơ sở pháp lý để đòi. Nếu có đòi, Việtcộng chỉ cần trao cơ sở đó cho hệ thống Phật Giáo Quốc Doanh thì đâu cũng vào đấy. Bởi vậy việc đòi đất đai cơ sở của các tu sĩ, giáo dân Thiên Chúa Giáo từ trước tới nay, bị rơi vào cảnh đi một mình, không thể thành phong trào chung của các tôn giáo tại Việtnam. Nhưng trước cảnh đàn áp thô bạo của công an Việtcộng đối với các tu sĩ và giáo dân Thái Hà thì các tôn giáo đều nhất tâm hiệp thông.

Đã đến lúc nhà Dòng Chúa Cứu Thế, tốt nhất là được sự hậu thuẫn của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, cần vận động dư luận, nâng cuộc đấu tranh của tu sĩ và giáo dân Thái Hà và những nơi bị nhà cầm quyền Việtcộng cưỡng chiếm cơ sở và đất đai lên tầm “Đòi Quyền Tư Hữu Đất Đai”. Hiện nay luật pháp Việtcộng đã công nhận Quyền Tư Doanh đối với đảng viên cộng sản và toàn dân, để cố hội nhập với nền Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu. Nhưng quyết giữ bản chất cộng sản, nắm chặt “Quyền Công Hữu Đất Đai” trong tay Đảng và Nhà Nước; chỉ cho phép người dân được có chủ quyền về nhà ở và hoa màu trên thửa đất mà nhà nước tạm cấp cho. Từ đó bọn cầm quyền tha hồ tham nhũng, cướp đoạt ruộng vườn của người dân, qua những dự án chỉnh trang đô thị, mở mang đường phố, hay quy hoạch ma mãnh nọ kia, nhằm đuổi dân ra khỏi nơi sinh sống của họ với sự bồi thường rẻ mạt. Rồi bán cho tư thương với giá ngất trời. Quyền cấp phát ruộng đất và phân bổ doanh nghiệp nằm trong tay đảng viên có chức, có quyền, có thế. Nên chúng tha hồ chia chác cho nhau, cho gia đình, giòng họ, cả về ruộng đất, lẫn các cơ sở doanh nghiệp nhà nước, tạo thành một hệ thống Mafia Phong Kiến Tư Bản Đỏ, cha truyền, con nối. Biến hàng triệu triệu nông dân lao động lương thiện, thành Dân Oan ở Nông Thôn. Biến hàng triệu triệu công nhân lao động lương thiện ở thành thị thành Công Nô. Đây là cơ hội cho một Phong Trào Đòi Quyền Tư Hữu Ruộng Đất ở Nông Thôn. Đòi Quyền Tư Hữu Thổ Cư ở Đô Thị, để người dân được hưởng một số vốn Thiên Nhiên, mà Quốc Gia đã dành cho mỗi người có mặt trên đất nước mình. Vậy quyền Tư Hữu Ruộng Đất, Tư Hữu Thổ Cư không những là đặc quyền tối ưu của mỗi người trong hoàn vũ. Nó được xếp ngang tầm với Quyền Tự Do Tâm Linh của mỗi người trong Trời Đất. Nó còn là Vốn Liếng căn bản Doanh Nghiệp của mỗi người trong Thương Trường. Khởi đầu cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, chẳng phải là đã xẩy ra từ sự sụp đổ của thị trường nhà đất đó hay sao? Cuộc đấu tranh ở Thái Hà đã đến lúc phải nâng lên tầm Đòi Quyền Tư Hữu Đất Đai để có sự tham dự rộng rãi của toàn dân là đúng lắm rồi.

LÝ ĐẠI NGUYÊN -
Little Saigon ngày 13/12/2011.

Posted: Tue Dec 20, 2011 10:47 pm
by khieulong
Boris Yeltsin Việt Nam - Trương Tấn Sang ?

Nguyễn Quang Duy

Theo tường trình từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đề ngày 10-9-2010, Wikileaks công bố, Đại sứ Michael Michalak đã tiên đóan kết quả Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ 11 như sau: ''Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là hai ứng viên hàng đầu để thay Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh”. Ông Michael Michalak nhận định: “Cả Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang không ai nhiệt tình với cải cách chính trị như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Nhưng mọi người đều biết họ là người thực dụng, chủ trương kinh tế thị trường và tán thành sự tăng tiến vững chắc trong mối quan hệ với Hoa Kỳ”. Theo ông cả hai đều sẽ không chịu rút lui, mà cũng không đấu đến cùng, nhưng nếu có một người bị buộc phải hy sinh tham vọng của mình, thì người đó sẽ là Trương Tấn Sang.

Vào tháng 9-2010, đánh giá ông Michalak là khá chính xác, khi ấy Tấn Sang đang thắng thế, dự án đường sắt cao tốc vừa bị Quốc Hội “từ chối”, lại đang bị chất vấn về vụ Vinashin thiếu tiền nguy cơ qụit nợ. Nhưng cuối cùng, Nguyễn Phú Trọng xưa nay mang tiếng lú lẩn lại được đưa lên nắm chức Tổng Bí Thư. Trương Tấn Sang phải chấp nhận một vai trò được xem không có thực quyền: chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bước sang 2011, Tấn Sang tiếp tục tấn công Tấn Dũng, nhờ đó chúng ta mới thấy rõ hơn những tranh chấp bên trong nội bộ đảng Cộng sản. Có người đóan rằng tham vọng của Tấn Sang là trong năm 2012 sẽ sửa lại Hiến Pháp để nắm cả Tổng Bí Thư lẫn Chủ Tịch nước đúng theo khuôn mẫu được Trung cộng áp dụng lâu nay. Vì qúa mong mỏi cách mạng, nhiều người còn kỳ vọng Tấn Sang sẽ trở Boris Yeltsin Việt Nam. Người viết đã gởi đến bạn đọc một lọat bài về nhân vật Nguyễn Tấn Dũng, bài này xin duyệt xét nhân vật Trương Tấn Sang.

Điểm mạnh nhất của Tấn Sang là được tầng lớp “trí thức” xã hội chủ nghĩa nhiệt tình ủng hộ. Để bạn đọc có thể thấy rõ hơn người viết xin trích dẫn nguyên văn ông nghị Hoàng Hữu Phước, một thạc sĩ kinh doanh quốc tế, một một nghị viên cùng đơn vị bầu cử với ông Sang, một người trước Quốc Hội Cộng sản tuyên bố vì dân trí Việt Nam còn thấp nhà nước cộng sản không cần luật biểu tình, đã viết như sau:


Nguyên văn Nghị Phước viết về Nghị Sang


Ông Trương Tấn Sang là vị Tổng thống thứ 8 của nước Việt Nam thống nhất. Đây là điều ai cũng biết. Ở đây tôi nói về điều chưa ai từng nói đến, tức là về yếu điểm lạ kỳ của tất cả các vị lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất (sau 1975), từ tổng thống đến thủ tướng và các bộ trưởng.


Nét chung thật kỳ lạ là tất cả các vị đều có cách nói chuyện chậm rải, đều đều, không khuyến khích được sự tập trung tỉnh táo của người nghe, nội dung vô thưởng vô phạt, cách lý giải na ná giống nhau, né tránh gai góc, kiêng kỵ dùng ngôn ngữ cử chỉ, hoàn toàn không giống bất kỳ vị tổng thống hay thủ tướng hay bộ trưởng nào tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, tức những vị mà năng lực được thể hiện qua nhiều điểm trong đó nổi bật nhất là khả năng khẩu ngữ của thuật hùng biện, dù đó là Ông Chávez, Ông Fidel Castro, Ông Sarkozy, Bà Clinton, Ông Clinton, Bà Thatcher, Ông Berlusconi hay Ông Obama.


Tiếng Việt có đặc điểm ưu việt duy nhất trong toàn bộ hệ ngôn ngữ của nhân loại là có âm điệu đa sắc, cực kỳ thuận lợi cho bất kỳ người Việt nào muốn trở thành nhà hùng biện. Tâm lý chung của người dân một nước là thích đón nghe những “thông điệp” của tổng thống nước mình không những vì bị cuốn hút bởi thuật hùng biện của tổng thống qua đó chứng kiến tài ba tư duy và tài nghệ thể hiện của tổng thống, mà còn vì muốn lắng nghe các kế sách cụ thể giải quyết cụ thể một hay những vấn đề cụ thể mà hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đã nảy sinh một cách cụ thể. Thực tế là các lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất đã không có tài hùng biện – hay tại bị vì bởi một “công thức áp đặt” sai lầm nào đó của một lối tư duy sai lầm nào đó cho rằng phải như thế như thế và như thế mới tỏ rõ vai trò người lúc nào cũng của dân, do dân và vì dân. Sai lầm vì chính phủ của “nhân dân” không phải là chính phủ “bình dân”, quân đội nhân dân không phải là quân đội ăn mặc giản dị xắn quần lên đầu gối, nón bằng chất liệu không chống đạn vốn không bao giờ được dùng bởi quân đội của phần còn lại của thế giới, để thành quân đội bình dân.


Điều may mắn là Ông Trương Tấn Sang trở thành vị tổng thống đầu tiên có tài hùng biện đúng nghĩa mà điều dễ nhận thấy nhất là sự tập trung cao độ của người dân lắng nghe mỗi khi Ông phát biểu với sự phối hợp của ngữ điệu, ngôn ngữ cử chỉ, nội dung quyết đoán mang tính khẳng định mạnh mẽ, và làm rõ vấn đề cũng như khả năng hóa giải ngay tại chỗ những điều nhạy cảm do người dân – tức cử tri – nêu lên. Đó là sự thể hiện của người thực sự có quyền lực và trách nhiệm cá nhân. Ông Trương Tấn Sang là sự khởi đầu cho thời đại mới: thời của những lãnh đạo có thực quyền và có trách nhiệm...

Tấn Sang Tìm Nhân Tài Hải Ngọai Giúp Nước


Người ta đồn rằng Tấn Sang đang tìm kiếm nhân tài hải ngọai về giúp nước. Tin đồn này nói lên một thực trạng đang liên tục xẩy ra tại Việt Nam. Nhân tài không thiếu nhưng đều mất niềm tin vào hệ thống chính trị, đều chán ngán chế độ nên ca bài “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, tránh xa cả Tấn Sang lẫn Tấn Dũng. Đó là chưa kể người cộng sản luôn tuyên truyền dối trá mà nhân tài lại phải tôn trọng và luôn nói lên sự thực. Nên họ thường được chụp cho cái mũ phản động tiếp tay với thế lực thù địch. Cuối cùng Tấn Sang phải sử dụng những người như ông Nghị Hoàng Hữu Phước.


Nhưng nếu đọc kỹ lời nhận xét ông Phước về giới cầm quyền cộng sản thì nhận xét của ông quả thật chính xác. Không riêng gì tài “hùng biện”, về mọi mặt những người cầm quyền cộng sản thua xa những người lãnh đạo miền Nam. Câu tuyên bố của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Tấn Sang nói mà hãy nhìn kỹ những gì Tấn Sang làm” đã đi vào lòng người và đã trở thành kim chỉ nam cho chúng ta thường xuyên nhắc nhở nhau về những trò ma đầu của nhà cầm quyền Hà Nội.


Tấn Sang Tấn Dũng Ông Thiện Ông Ác


Trong đọan trích dẫn bên trên, nhận xét của ông Phước rất chính xác nên dễ được người nghe và người đọc ủng hộ. Ông dùng nó tạo sự chú ý để nịnh Tấn Sang như một “minh vương” tái thế. Khách quan nhận xét Tấn Sang cũng chẳng hơn gì những người cầm quyền cộng sản khác. Họ đều xuất thân một lò cộng sản, được đào tạo bài bản như nhau, lên được nhờ năng đỡ và vây cánh bên trong đảng. Họ hòan tòan không được người dân chọn lựa qua phổ thông đầu phiếu. Cho nên họ “rỗng” không phải chỉ về mặt hùng biện, mà họ “rỗng” về mọi mặt nhưng lại thích kêu to. Các “thùng rỗng kêu to” lại được cả một guồng máy tuyên truyền đánh bóng. Đánh bóng đến nỗi họ lầm tưởng họ đều là những minh quân tái thế của thời đại.


Cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang đều xuất thân từ miền Nam và đều được Võ văn Kiệt tận tình đỡ đầu. Tấn Sang còn có liên hệ gia đình với bên vợ của Tấn Dũng. Thế nên nhận xét của ông Đại sứ Michael Michalak là họ sẽ không đấu đến cùng. Nói rõ hơn họ là hai nhân vật trong một vở bi hài kịnh. Họ phải đóng kịch chỉ để xác nhận những sự thực mà mọi người chúng ta đều đã biết. Lúc Tấn Dũng đóng vai ác thì Tấn Sang lại đóng vai thiện khi thì ngược lại. Nhưng vai chính của vở tuồng vẫn là Tấn Dũng.

Nồi Canh Sâu


Gần đây ông Sang tuyên bố: "Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là 'chết' cái đất nước này". Một bạn trẻ thuộc phái nữ tuổi 22 hiện đang sống tại Hà Nội, mang biệt danh Hoahongcogai89 viết như sau: “mà bây giờ có cả một đàn sâu hàng trăm con ở TW (trung ương) đảng, thì nồi canh của dân tộc trở nên thúi hoắc, ăn vào chết liền.” Người viết xin diễn ý lại nhẹ nhàng và chính xác hơn “con sâu làm rầu nồi canh mà đảng Cộng sản như một nồi canh sâu, đổ nồi canh sâu không đúng chỗ không khéo còn gây ô nhiễm môi trường”.

Ai cũng biết Tấn Sang tuyên bố như trên là để công khai đánh vào lời Tấn Dũng hứa hẹn "Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay." Nói một đằng làm một nẻo chính Tấn Sang lại công khai đề nghị Tấn Dũng nhận lãnh thêm một nhiệm kỳ Thủ Tướng.

Tấn Sang chỉ giỏi hứa hẹn

Tấn Sang thường hứa hẹn với bà con “cử tri” nào là chính phủ sẽ ổn định lạm phát, sẽ cho tăng lương hay sẽ cấu trúc lại nền kinh tế quốc doanh... Nhưng lạm phát vẫn cao, tiền lương vẫn không đủ sống và nền kinh tế luôn đi vào khủng hỏang. Tội không phải chỉ tại Tấn Dũng kém tài, kém đức. Mà tội chính từ hệ thống chính trị cộng sản đã quá lỗi thời không thể sửa đổi. Hệ thống này đàn áp tiếng nói bất đồng, phá họai môi trường tài nguyên đất nước, vay mượn tiêu pha lãng phí mà không nâng cao được đời sống tinh thần và vật chất của người dân, đó là tội mà nhà cầm quyền cộng sản đều phải chịu trách nhiệm.

Trong cái hệ thống này Tấn Sang giữ vai trò chính trị vì thế trách nhiệm đương nhiên phải nặng hơn. Chưa thấy Tấn Sang nhận trách nhiệm, chỉ thấy ông ta hứa nhưng ngầm quy trách Tấn Dũng đã không hòan tất trách nhiệm đảng giao.

Ở các nước dân chủ bằng lá phiếu người dân sẽ trừng trị cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang để chọn ra những người xứng đáng hơn. Dưới chế độ cộng sản kẻ có tội vẫn không nhận trách nhiệm vì thế Việt Nam mới càng ngày càng tụt hậu. Trong bài viết tới người viết sẽ chia sẻ bạn đọc đề tài “Tấn Sang bảo thủ hơn Tấn Dũng”.


Tấn Sang Theo Đuôi Tấn Dũng


Bị Trung cộng chơi xấu lấn ép không cho khai thác tài nguyên trên thềm lục địa Việt Nam, thiếu tiền nuôi tập đòan cộng sản, Tấn Dũng mới cho loan báo việc tàu Trung cộng cắt cáp tàu Bình Minh. Nhờ thế Tấn Sang mới có cơ hội đi đây đi đó tuyên bố này nọ để không ít người cho rằng ông là Boris Yeltsin của Việt Nam. Thực ra mọi quyết định, mọi hành động của Tấn Sang và Tấn Dũng đều được sự đồng ý của đa số Bộ Chính Trị. Mà Tấn Dũng lại nắm Bộ Chính Trị nên Tấn Dũng luôn là người chủ động xuất chiêu.

Gần đây trước Quốc Hội, Tấn Dũng chính thức xác nhận quần đảo Hòang Sa và một số đảo ở Trường Sa đã bị quân đội Trung cộng dùng quân sự chiếm đóng. Phía bên dưới Hội Trường cả Tấn Sang lẫn Phú Trọng đều vỗ tay tán thành lời tuyên bố. Điều này cho thấy đã có một sự thu xếp từ bên trong, người chủ động và đột phá từ bên trong chính là Tấn Dũng. Nếu Tấn Dũng không phải là người nắm Bộ Chính Trị, ông sẽ không đủ thực quyền làm việc trên.

Ngay sau đó Tấn Sang làm một chuyến công du các tỉnh biên giới phía Bắc, tới nhiều địa điểm như thác Bản Giốc để chụp hình quảng cáo. Lạ một điều đến giờ phút này những người cộng sản mới quan tâm đến những địa điểm đã mất vào tay giặc Tàu xâm lược như Hòang Sa, Trường Sa, Bản Giốc ? Trên diễn đàn cá nhân, Nguyễn Tấn Dũng dám công khai tuyên bố chính sách của ông về Biển Đông là ngọai giao và quân sự. Ông nêu rõ việc làm cụ thể là “ký hợp đồng với Nga mua các tàu ngầm, máy bay chiến đấu Mic 29 và các loại vũ khí hạng nặng khác về trang bị cho Quân đội Việt Nam”.

Còn Tấn Sang thường chỉ tuyên bố chung chung không đi vào chi tiết theo kiểu chính trị và ngọai giao. Mà chính trị của đảng Cộng sản thì quá rõ “theo Tàu bán nước”. Còn ngọai giao cũng không lấy gì làm sáng sủa. Trước hội nghị thường niên Khối APEC, đầu tháng 11-2011, Trương Tấn Sang tỏ vẻ vồn vã với Tổng Thống Obama và công khai ngỏ lời cảm ơn Hoa Kỳ vì nước này quan tâm đến tranh chấp trên Biển Đông. Nghe đâu Trương Tấn Sang có tìm đến bắt tay Tổng Thống Hoa Kỳ Obama xin chụp hình nhưng ông Obama làm ngơ không đáp trả. Rất có thể tin đồn này là sự thật vì Tấn Sang vốn thích chụp hình nhưng không thấy bức hình nào bắt tay với Tổng Thống Obama. Và nếu đây là sự thật thì là một dấu hiệu chua chát cho Tấn Sang nói riêng và đảng Cộng sản nói chung.

Điều rõ nhất là Hoa Kỳ công khai tỏ thái độ lạnh nhạt luôn nhắc Việt Nam phải cải thiện tình trạng nhân quyền.


Tập Cẩm Bình được người Việt đón tiếp

Ngay khi tin Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung cộng - Tập Cận Bình - sẽ sang Việt Nam vừa được loan báo thì Phong Trào Tòan Dân Cứu Nước đón ông bằng cách cho bốc cháy tòa tháp đôi tại Hà Nội. Phong Trào cho biết không thể tiếp tục đấu tranh ôn hòa bất bạo động với giặc Tàu và Việt gian bán nước. Cần đốt phá tạo nên “bất ổn chính trị”, để tạo điều kiện cho tòan dân đứng lên cứu quốc. Không biết thực hư ra sao nhưng đương nhiên công an hai đảng Cộng sản Việt Trung sẽ phải mất ăn mất ngủ để bảo vệ an ninh cho Tập Cận Bình.

Cô Trịnh Kim Tiến người mang nặng “thù nhà nợ nước” cũng đón Tập Cận Bình bằng một hình ảo đầy ý nghĩa. Cô đứng trứơc cửa Tòa Đại Sứ Trung Cộng, đứng trên “cờ đỏ sao vàng” với dấu hiệu cắt cái lưỡi bò liếm ra biển Đông. Trên nóc tòa Đại Sứ là một hình ảnh tương tự. Trịnh Kim Tiến xứng đáng đại diện cho tiếng nói của giới trẻ Việt Nam Yêu Nước.

Ai Là Người Được Quan Thầy Trung Cộng Chiếu Cố ?
Sau vụ tàu Trung cộng tấn công tàu Bình Minh, Ủy viên Quốc vụ Viện Trung cộng Đới Bỉnh Quốc loan báo sẽ sang thăm Việt Nam. Trong lần tiếp Đới Bỉnh Quốc, Nguyễn Tấn Dũng ăn mặc rập khuôn người đồng chí anh em. Hình ảnh được truyền đi khắp nơi và nhiều người cho biết Tấn Dũng trông không ra thể thống gì. Rồi trước báo giới ông phải bày tỏ tấm lòng “luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc…”

Tấn Dũng đã chính thức tuyên bố Hòang Sa và nhiều đảo ở Trường Sa đã bị Trung cộng chiếm đóng. Lời tuyên bố của Tấn Dũng trái ngược với quan điểm Trung cộng cho rằng Biển Đông thuộc chủ quyền không thể tranh cãi. Chắc chắn Tập Cận Bình sẽ đặt vấn đề này với Tấn Dũng. Quan sát chuyến đi sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hình tình đất nước.

Ai Đàn Áp Người Yêu Nước Biểu Tình ?

Vì sợ Cách Mạng Hoa Lài cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang đều không muốn người dân biểu tình vì bất cứ lý do gì. Câu hỏi đặt ra là ai đã ra lệnh đàn áp người biểu tình ?

Trong lần biểu tình đầu tiên tại Sài Gòn số người tham dự rất cao có thể lên 7 ngàn người. Cuộc biểu tình lại rất uyển chuyển và như có tổ chức ngầm đứng đằng sau. Đến cuộc biểu tình thứ 2 thì công an Sài Gòn xuống tay đàn áp. Sau đó chỉ là những cuộc biểu tình thầm lặng. Trong khi tại Hà Nội các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn đến lần thứ 12.

Điều này chỉ rõ việc đàn áp bắt bớ người tùy thuộc vào công an thành phố (Sài Gòn hay Hà Nội). Trong một thời gian dài Trương Tấn Sang từng giữ các chức vụ cao cấp nhất Sài Gòn như Chủ tịch Ủy ban Nhân dân và Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Hiện tại Tấn Sang là Đại Biểu khu vực Sài Gòn. Thế nên Sài Gòn thuộc khu vực ảnh hưởng lâu dài của Tấn Sang. Còn Tấn Dũng khu vực ảnh hưởng là tại miền Tây.

Giới chức của thành phố Hà Nội không ưa gì dân Nam Bộ, thế nhưng họ lại ghét Tấn Dũng vì thế Tấn Sang cũng phần nào được sự ủng hộ của Hà Nội. Cuộc biểu tình “Ủng Hộ Thủ Tướng Ra Luật Biểu Tình” đã bị dẹp từ bên trong và ngay lúc khởi phát cho thấy Tấn Sang chính là người ra lệnh hay ảnh hưởng đến việc đàn áp người biểu tình yêu nước.

Gorbachev - Boris Yeltsin

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang gặp khủng hỏang tòan diện như tình trạng đảng Cộng Sản Liên Sô hơn 20 năm về trước. Khi ấy Gorbachev, Tổng bí thư cuối cùng của đảng Cộng Sản Nga, là một người cộng sản cấp tiến. Ông muốn cải cách hệ thống chính trị để đảng Cộng Sản Liên Sô có thể tiếp tục duy trì độc đảng. Cuộc cải cách của ông không được sự ủng hộ của các đảng viên muốn có thay đổi thực sự. Những người muốn thay đổi thực sự đã ủng hộ Boris Yeltsin vận động quần chúng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản. Chủ trương của Boris Yeltsin hết sức rõ ràng :"Cộng sản không bao giờ thay đổi. Chúng chỉ có thể bị thay thế"

Trong trường hợp Việt Nam, Diễn biến hòa bình trong “Đảng”, Đấu Tranh Dân Chủ ở ngòai dân, sức ép vô lý của nhà cầm quyền Bắc Kinh và sự thay đổi chiến lược Hoa Kỳ là những yếu tố dẫn đến việc Tấn Sang và Tấn Dũng phải đóng kịch như ông Thiện ông ác.

Chưa có một dấu hiệu nào cho thấy Tấn Sang là người có đầu óc canh tân “Đảng” như Gorbachev, nói gì đến việc thay đổi thể chế như Boris Yeltsin. Bài tới người viết sẽ chia sẻ cùng bạn đọc để thấy Tấn Sang còn bảo thủ hơn cả Tấn Dũng.

Trước đây mọi tin tức nội bộ Bộ Chính Trị đều được giữ kín. Ngay cả những cuộc thanh trừng hay giết nhau bên ngòai vẫn không hề biết đến. Mười năm trước cộng sản phải sử dụng hình thức tung tin như Tài liệu Tổng Cục 2 cho biết Tấn Sang là gián điệp cho Hoa Kỳ. Ngày nay họ phải công khai đấu đá tạo ra hình ảnh thiện ác trong Bộ Chính Trị. Vẫn biết họ đang đóng tuồng và vở tuồng càng ngày càng biến thành sự thực. Có tin đồn Nguyễn Phú Trọng bị bịnh tim và có thể chết bất cứ lúc nào hay có thể mất khả năng làm việc, tạo ra khủng hỏang nhận sự và cuộc đấu giữa ông thiện ông ác sẽ trở nên khốc liệt hơn. Sang năm 2012 chúng ta cần sáng suốt và chủ động để biến giả thành thật mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam.

Nhân dịp cuối năm người viết xin gởi đến bạn đọc và gia đình một năm mới vạn sự như ý và chia sẻ ước mong tự do dân chủ sớm được thực hiện trên quê hương Việt Nam để nhà nhà muôn đời yên vui hạnh phúc.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
20/12/2011

Posted: Wed Dec 21, 2011 2:11 am
by vuphong
Tổng thống Obama và Iran ‘trúng quả' khi Mỹ rút khỏi Iraq

Dù Mỹ không giành phần thắng trong chiến tranh Iraq nhưng hồi kết của cuộc chiến này mang lại thắng lợi to lớn cho bản thân Tổng thống Obama,
đồng thời đem đến cho Iran cơ hội thực hiện tham vọng lớn của mình.


Ông chủ Nhà Trắng ca khúc khải hoàn
Ngày 12/12, sau cuộc hội đàm tại Nhà Trắng với Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, Tổng thống Mỹ Obama tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh gây nhiều tranh cãi, hao người tốn của, kéo dài gần 9 năm qua tại Iraq và coi đây là giây phút lịch sử mở đầu chương mới trong quan hệ giữa Mỹ với Iraq.


Khi ông Obama bắt đầu nhiệm kỳ của mình vào tháng 1/2009, Mỹ có gần 150.000 quân ở Iraq. Con số đó về sau giảm xuống còn 8.000 và số căn cứ quân sự Mỹ ở Iraq giảm từ 505 xuống còn 5. Sau khi Mỹ rút hết quân về nước vào cuối năm nay, sự hiện diện của nước này ở Iraq sẽ chỉ thông qua Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad, với các nhà ngoại giao, các cố vấn quân sự và các nhà thầu.


“Sau gần 9 năm, cuộc chiến tranh Iraq đã kết thúc. Chúng tôi ở đây để đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến này, mở ra một trang mới trong lịch sử hai nước”, Tổng thống Obama nhấn mạnh.

Như vậy, với việc rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi Iraq, Tổng thống Obama đã thực hiện đúng lời hứa tuyên bố trước cử tri trong thời gian vận động tranh cử hồi năm 2008 rằng ông sẽ tìm cách kết thúc sớm cuộc chiến tranh Iraq.

Điều này có thể giúp cho ông Obama và đảng Dân chủ có được thêm những lá phiếu quý giá của cử tri trong năm bầu cử 2012 bởi chấm dứt một chiến dịch quân sự tốn kém nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 là phù hợp với nguyện vọng của hầu hết công chúng.

Theo kết quả khảo sát, có tới 70% người Mỹ cho rằng cuộc chiến Iraq không đáng để thanh niên Mỹ phải hy sinh, chưa nói tới chuyện nó là một nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm kinh tế và làm xói mòn vị thế của Mỹ trên trường quốc tế.
Image
Ông Obama thắng lớn sau động thái rút quân của Mỹ. Ảnh: Reuters.

“Đa số Mỹ đều mệt mởi với cuộc chiến Iraq. Họ chỉ muốn Washington nhanh chóng chấm dứt mọi sự dính líu với Baghdad. Do đó, động thái rút lui của ông Obama chắc chắn sẽ gây ấn tượng mạnh với các cử tri”, Giáo sư Thomas Schwartz thuộc ĐH Vanderbilt ở Nashville nhận định.

Quả thực, theo kết quả thăm dò mới nhất của AP-GfK, tỷ lệ ủng hộ Tổng thống đã tăng từ 50% hồi tháng 10 lên 55% sau khi ông tuyên bố chấm dứt cuộc chiến Iraq.

Bên cạnh đó, ông Obama còn rất biết cách lấy lòng cử tri khi xúc động tuyên bố kết thúc cuộc chiến trước binh lính và gia đình họ tại Fort Bragg, Bắc Carolina. Tránh đề cập tới hai từ chiến thắng, ông gọi sứ mệnh của Mỹ nhằm hướng tới một Iraq tự lực là một thành tựu phi thường.

“Đó là một thành tích phi thường mà chúng ta đạt được trong thời gian gần 9 năm. Và hôm nay, chúng ta tưởng nhớ lại tất cả những gì các bạn đã làm để đạt được thành tích đó”, Tổng thống Obama xúc động nói.

Cal Jillson, một giáo sư khoa học chính trị cho rằng: “Người Mỹ mong muốn sự dũng cảm của quân đội phải được ca ngợi cho dù họ có nghĩ gì về bản thân cuộc chiến tranh đó và ông Obama đã hiểu được điều này. Đó là điều quan trọng nhất”.

Không chỉ vậy, ông chủ Nhà Trắng cũng khéo léo nhấn mạnh đến tầm quan trọng của bản thân khi nhấn mạnh: “Kết thúc một cuộc chiến tranh bao giờ cũng khó khăn hơn phát động nó”.

Theo Giáo sư Cal Jillson, Tổng thống Obama muốn nhắc khéo cử tri rằng, chính ông là người chấm dứt cuộc chiến này và đưa người lính Mỹ cuối cùng trở về nhà bởi thực tế ông Bush là người đàm phán với Iraq về thỏa thuận lấy ngày 31/12/2011 là hạn chót kết thúc chiến tranh song chính ông Obama đã đẩy thời hạn này lên sớm hơn khi ông nhậm chức.

Cũng chính vì lẽ đó, giới phân tích cho rằng, ông Obama hoàn toàn có thể tự tin trước bất cứ tuyên bố chỉ trích nào của phe Cộng hòa về động thái rút quân này. Theo Giáo sư Thomas Schwartz, Tổng thống Obama có thể nhắc nhở các nghị sĩ Cộng hòa về một thực tế rằng, chính người tiền nhiệm, chứ không phải ông là người đưa ra quyết định rút quân này.

Hơn nữa, nếu tình hình an ninh tại Iraq ngày càng trở nên tồi tệ và dẫn đến một cuộc nội chiến như nhiều người dự đoán thì ông Obama cũng không có lý gì phải lo ngại. Khi đó, ông Obama có thể hùng hồn tuyên bố rằng, mọi chuyện đã không đến mức như này nếu chính quyền tiền nhiệm không nghe lời can ngăn của ông từ năm 2002, khi ông còn là một thượng nghị sĩ.

Như vậy, bất kể câu chuyện tại Iraq có xoay chuyển theo tình huống nào thì cũng sẽ không thể làm suy giảm uy tín của ông Obama bởi thực tế, trong vấn đề này, ông là người “vừa được ăn vừa được nói”.

Tehran thắng lớn

Vui mừng không kém Tổng thống Obama trước động thái rút quân khỏi Iraq của Mỹ là chính quyền Iran.

Sự hiện diện quân sự gần 9 năm qua của Mỹ tại Iraq làm cho các nước vùng Vịnh có cảm giác an toàn. Nay, theo lời Giám đốc Trung tâm nghiên cứu vùng Vịnh Abdulaziz Sager, không nghi ngờ gì, việc Mỹ rút quân chắc chắn sẽ tạo ra khoảng trống cho nhiều tham vọng nổi lên và ảnh hưởng của láng giềng Iran là thấy rõ.
Image
Mỹ rút quân khỏi Iraq, để lại cho Iran khoảng trống rất lớn. Ảnh: campaigniran.

Iran không đe dọa trực tiếp Iraq mà Tehran có thể lợi dụng vị thế mới này để thách thức những đối thủ tại vùng Vịnh chủ yếu do các Chính phủ của người Hồi giáo dòng Sunni lãnh đạo.

Người Iran, cũng giống như đại đa số người Iraq, chủ yếu là người Shiite và mối quan hệ giữa hai cộng đồng là khá mật thiết. Với thế lực Shiite chiếm đa số, chính quyền Iraq gần đây có nhiều quyết sách thuận lòng Iran, trong đó phải kể đến thái độ ủng hộ của Chính phủ al-Maliki đối với chính quyền Syria của Tổng Assad mà phe đối lập Iraq cho là đồng minh thân cận của Iran.

Thậm chí, có những cáo buộc rằng chính quyền của ông al-Maliki giống như cánh tay nối dài của chính quyền người Shiite của Iran bởi chính vị Thủ tướng đương nhiệm của Iraq cũng từng sống lưu vong tại Tehran từ năm 1982 tới tận năm 1990.

Do vậy sau khi Mỹ rút quân, chắc chắn ảnh hưởng của Iran đối với Iraq cũng như khu vực sẽ tăng lên đáng kể.

Trà My (tổng hợp)

Posted: Thu Dec 22, 2011 4:32 am
by caubennoc
Dân lành nhờ sống tự do

Ngô Nhân Dụng

Gặp nhau hồi Tháng Tám năm 2011 này, anh bạn tôi ở Heksinki, Phần Lan, nói tình hình kinh tế nước anh cũng đang khó khăn.

Anh kể có lần chính phủ Finland làm cuộc thăm dò xem cuộc sống của người dân đã xuống đến mức nào, với mục đích là tùy theo đó mà thay đổi chương trình an sinh xã hội. Nếu những người dân khốn khó quá thì nhà nước sẽ tăng thêm trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp y tế, xã hội, mặc dù ngân sách đang thiếu thốn. Còn nếu những người dân nghèo nhất mà vẫn tự cảm thấy họ chưa đến nỗi khốn cùng, thì không cần tăng trợ cấp xã hội làm gì vội, vì chi tiêu nhiều sẽ sinh thêm lạm phát, tai hại chung cho tất cả mọi người.

Giải thích cuộc thăm dò như trên, thực ra chỉ là cách tôi suy luận thôi. Còn anh Nguyễn Trùng Dương, người Phần Lan gốc Việt chỉ kể tôi nghe một câu chuyện. Anh bảo chính phủ muốn thử xem dân chúng có nghèo khó quá không, và kết quả là họ thấy kinh tế đang lâm nguy thật. Họ thử bằng cách nào? Phương pháp “nghiên cứu dư luận” (survey) đại khái thế này: Cho người giả bộ đánh rớt một cái bóp (ví) đựng tiền, rồi coi có bao nhiêu người đem trả!

Họ để vào trong mỗi chiếc bóp một chút ít tiền, thí dụ 5 hoặc 10 hoặc 20 markkaa (tương đương 1 đô la tới 5 đô la Mỹ). Trong mỗi chiếc bóp có tờ giấy ghi địa chỉ để ai bắt được cứ theo đó mà đem lại trả. Tất cả những chiếc bóp này ban đêm được mang trải ra ở những nơi công cộng như ga xe lửa, bến xe buýt, gần cửa chợ và gần những nơi có đông người qua lại.

Sau đó, họ đếm xem có bao nhiêu người đem những cái ví tiền rớt đó đến trả lại; nếu tỷ số đem trả lại mà cao thì chính phủ biết dân tình vẫn chưa đến nỗi khốn khó. Còn nếu số tiền nộp nhỏ hơn mọi khi, tức là có nhiều người lượm được tiền rơi bèn bỏ túi, thì nhà nước biết dân chúng đang khốn khó lắm rồi. Bởi vì, bình thường người dân Phần Lan rất lương thiện, họ không bao giờ lượm được của rơi mà lại giữ không đem nộp cho cảnh sát. Chỉ khi khốn khó cùng cực thì con người mới sinh gian dối thôi.

Phương pháp nghiên cứu này không theo khoa thống kê học kinh tế! Nó không cốt đo lường bằng những chỉ số khách quan, mà lại suy đoán tâm trạng con người. Như các cụ nhà ta vẫn nói: Bần cùng sinh đạo tặc, chính phủ Finland xem tính tình người ta thay đổi, thấy số người lương thiện giảm đi thì biết nói chung dân đang túng thiếu quá.

Người ta chỉ có thể suy đoán từ tính tình dân chúng mà biết tình trạng tài chánh của họ nếu giả thiết là dân Phần Lan bản tính là thực thà, tử tế. Mà giả thiết này đúng sự thật.

Người Phần Lan rất hiền, những người Việt bạn tôi ở đây đều nói như vậy. Anh bạn tôi có lần thú nhận rằng ở đây người Việt mình có khi phạm lỗi “đụng rồi chạy” (hit and run), tức là lỡ đụng vô chiếc xe đang đậu thì bỏ đi luôn, nếu không ai thấy. Còn người Phần Lan thì khác; nếu lái xe lỡ quệt vô làm trầy chợt xe người khác là họ viết một mảnh giấy nhận lỗi; để chủ nhân chiếc xe bị đụng liên lạc với mình đòi thu xếp việc sửa xe. Trên miếng giấy cài trên kính xe, ghi tên, số điện thoại và số bảo hiểm của người gây tai nạn.

Dân như vậy thì hiền lành tử tế thật. Mà thói tốt nào cũng phải tập, cần nhiều thời gian mới quen được. Trong xã hội có một người lương thiện sẽ làm một người khác bắt chước, cứ thế, dần dần cả xã hội lương hảo. Dân Phần Lan hầu hết đã tập được tư cách đàng hoàng từ kiếp nào đó rồi, cho nên bây giờ tính lương thiện là bản tính tự nhiên của họ. Tất nhiên gần đèn thì rạng, cho nên nhiều người Việt sống tại đây, nhất là trẻ em, cũng nhiễm tính thật thà của dân bản xứ rất nhanh.

Tôi vẫn tin rằng loài người ở đâu cũng như nhau. Người Việt, người Tàu, người Nga hay người Phần Lan đều là người cả, dân tộc nào vốn cũng đủ những người tánh tốt lẫn tánh xấu. Tánh tình dần dần khác nhau là do hoàn cảnh sống, “tính tương cận, tập tương viễn,” nói theo kiểu Tam Tự Kinh mà các cụ ngày xưa vẫn học.

Vậy cái hoàn cảnh nào đã khiến cho người dân ở Phần Lan thực thà, hiền hậu hơn người khác? Có nhiều lý do phức tạp, từ đời sống kinh tế đến hệ thống giáo dục. Nhưng một điều dễ thấy nhất là người Phần Lan đã sống trong một thể chế dân chủ tự do từ lâu. Sống trong một chế độ tự do dân chủ, người ta không có nhu cầu nói dối nhiều, không có nhu cầu phải tập nói dối cho quen, như khi phải sống trong sự sợ hãi thường xuyên dưới một chế độ áp bức.

Một nước mà người ta lúc nào cũng sợ chính quyền, lúc nào cũng lo mình bị nhà nước tra hỏi, bắt bớ, trừng phạt vô lý, thì thường dân chúng phải biết nói dối. Nhiều khi không ai hỏi tội, bị hỏi đến tên là đã nói: “Không phải tôi!” Nói dối lâu dần sinh ra thói quen khó sửa lắm. Nhất là khi nhìn thấy nhóm người cai trị chính họ cũng luôn luôn dùng những thủ đoạn dối trá làm lợi khí tranh quyền đoạt vị với nhau và thống trị dân, thì người dân phải coi dối trá là một chuyện bình thường. Người biết nói dối có khi được coi là khôn ngoan, đáng khen ngợi, có thể đáng kính trọng; còn những anh thật thà bị coi là khờ, dại, cù lần!

Một điều dễ so sánh nhất là thái độ của người dân đối với cảnh sát, công an, trong hai nước độc tài và dân chủ rất khác nhau. Ở bên Nga người dân thường được chính quyền kiểm soát rất kỹ, một di sản của chế độ cộng sản. Chế độ độc quyền đảng trị đã chính thức được bãi bỏ tại Nga hơn 15 năm, nhưng các thói quen sống trong một chế độ độc tài thì chắc phải hàng thế hệ mới bỏ được. Năm trước, khi tới Volgagrad theo ông thầy Lý Hồng Thái sang Nga dậy võ, anh bạn tôi vào tiệm mua miếng chíp để gắn vô máy điện thoại di động; anh phải trình thẻ thông hành, hộ chiếu, cho người bán hàng ghi vào sổ. Ðó là một hình thức kiểm soát người dân, khi cần cảnh sát có thể biết ai đã dùng máy nào, nói những chuyện gì vào ngày giờ nào. Những người bạn Nga ở Volgagrad mời chúng tôi qua Nga đã yêu cầu chúng tôi phải đưa anh ta cả hộ chiếu, các vé máy bay đi, về, để anh đem đi khai báo, giữ mấy ngày mới trả lại. Lúc nào cũng thấy mình đang bị guồng máy nhà nước nhòm ngó!

Cảnh sát ở Nga vẫn còn thói quen của chính quyền một nước vô sản chuyên chính: Nhà nước có quyền bắt người dân phải chứng minh mình vô tội! Nhà nước đặt ra luật pháp, tùy tiện giải thích luật pháp theo ý mình, đó là thói quen chung của các chế độ độc tài, nhưng không đâu lại củng cố thói quen đó mạnh và sâu như ở các nước cộng sản. Anh không cần phạm lỗi mới bị bắt giam. Chỉ cần gán cho anh những tiếng “phản động,” “có ý định chống nhà nước,” là có thể bắt anh như một người đã vi phạm pháp luật.

Bình thường ở các nước dân chủ chính quyền phải chứng minh là người dân có phạm lỗi trước khi được quyền hỏi giấy tờ làm phiền phức cho người ta. Ở Phần Lan người dân không sợ cảnh sát, mấy ngàn người Việt ở đây cũng tập được thói quen đó rồi. Người dân chỉ sợ pháp luật mà thôi. Anh lái xe sai luật thì bị phạt, giá tiền phạt nặng không khác gì ở Bắc Mỹ. Và khi anh được cảnh sát hỏi tới thì hết đường chạy. Không thể nào năn nỉ, hối lộ cảnh sát được. Ở Việt Nam cảnh sát thổi còi xong rồi lại tha là chuyện bình thường, nhiều người giải thích lý do là lương bổng của họ thấp quá nên họ phải “kiếm thêm”. Nhưng, các bạn tôi cũng cho biết lương bổng của các cảnh sát viên, nhất là cảnh sát lưu thông ở Phần Lan rất thấp, thấp hơn cả những người lao công đi quét dọn ở phi trường hay ở các cửa hàng. Như vậy thì tại sao cảnh sát ở đây không ăn hối lộ? Tại vì người dân không có thói quen mua chuộc quan chức. Những người khác nắm quyền hành trong tay cũng không quen bán quyền thế. Cả thế kỷ mới có chuyện một vị bộ trưởng phải từ chức vì được một công ty thương mại biếu quà, làm cho thủ tướng bị Quốc Hội chất vấn.

Có phải vì bản tính người Phần Lan là chất phác, hiền từ hay không? Họ tập được cái tính thành thật, tử tế là nhờ sống lâu ngày trong một thể chế chính trị dân chủ tự do; hàng trăm năm kể từ khi lập quốc “nhân lúc bên Nga có loạn”. Ngay từ khi giành được độc lập, người Phần Lan đã chọn thể chế dân chủ. Trong cái chế độ đó, con người phải sống minh bạch, công khai, nhất là người cầm quyền luôn luôn bị người dân theo dõi, soi mói, kiểm soát cho nên không thể nói dối tất cả mọi người mãi mãi được.

Chế độ chính trị ảnh hưởng đến phong hóa, đến tánh tình người dân. Trong những chế độ dân chủ tự do, mọi người bình đẳng trước luật pháp nghiêm minh, người ta tập được tính thật thà, vì cuối cùng sống gian dối không có lợi bằng thành thật. Trong đời sống kinh tế tự do cạnh tranh, những người bán hàng gian dối, làm hàng giả, hàng xấu, thế nào sau cũng bị mất khách.

Trong đời sống chính trị thì các đảng phái tự do tranh cử cuối cùng họ cũng thấy nói dối dân thì về lâu về dài sẽ khó được dân tin, cuối cùng gian dối quá sẽ bất lợi. Tự do báo chí, tự do lập đảng, lập hội, tự do ứng cử, tranh cử, tất cả những định chế đó buộc những người làm chính trị phải chọn đường lối thành thật. Cũng như nhà buôn vậy, nhà chính trị thấy về lâu về dài thì hãy cứ tin: “Thật thà là cha quỷ quái”.

Những ai đã sống qua hai loại chế độ, dân chủ và độc tài, thì nghiệm ra ngay rằng khi được sống tự do con người cũng dễ trở thành lương thiện hơn. Một chế độ độc tài tự nó đã phải nói dối. Chế độ đó nói toàn những lời hoa mỹ, huênh hoang, nhưng trong thực tế thì toàn là tham ô, tàn bạo và dối trá, cho nên nó làm gương cho mọi người, từ các trẻ em trở lên. Sống trong một chế độ như vậy làm sao người ta tập được thói quen thành thật? Không phải ai cũng trở thành gian dối khi phải sống trong chế độ độc tài, nhưng nghe nói dối mãi thì rất dễ tập được thói quen gian dối.

Khi tới đất Phần Lan, nhìn nếp sống hồn hậu của người dân ở đây, chúng ta càng thấy nhu cầu phải dân chủ hóa nước Việt Nam chúng ta. Vì chỉ khi nào người mình được sống tự do dân chủ thì nước mình mới có cơ hội bắt đầu phục hồi phong hóa, đạo lý của tiền nhân. Sống dân chủ tự do rồi, hy vọng trong vòng một thế hệ cả nước sẽ coi cách sống thật thà, lương thiện là một tính tự nhiên, ai cũng sống như vậy. Chứ còn như bây giờ, rất khó làm thống kê về tình trạng kinh tế lên xuống ở Việt Nam bằng cách giả bộ đánh rơi bóp ở ngoài đường xem bao nhiêu người đem trả lại. Chắc chắn sẽ có, nhưng rất ít. Nhiều người nghèo có thể mang trả, nhưng người giầu có khi lại giữ lấy làm kỷ niệm!

Posted: Fri Dec 23, 2011 2:28 am
by nguyenvsau
Những 'đứa con' lăng loàn

Hà Sĩ Phu
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)

Bài “Mối quan hệ giữa nhân quyền và sự ổn định chính trị” của tác giả Hạ Ðình Nguyên đã gợi ra một vấn đề có tính hệ thống, vẫn tồn tại bấy lâu nay trong xã hội ta.

Tác giả nêu hai khẩu hiệu nhân ngày Quốc tế Nhân quyền được treo ở đường phố Sài Gòn: “Nhân quyền phải đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội” và “Nhân quyền là giá trị chung của các dân tộc.”

Sau những phân tích chặt chẽ và sáng tỏ, tác giả kết luận: Nói như câu khẩu hiệu số 1 là “nói ngược,” đáng lý phải hô: “Ổn định chính trị phải đảm bảo (thực thi) nhân quyền”! mới đúng. Bởi vì, vẫn lời tác giả,“Không thể thay đổi nhân quyền để ổn định chính trị, mà thay đổi chính trị để phù hợp nhân quyền,” bởi vì “Nhân quyền là giá trị chung của các dân tộc,” như câu thứ hai đã nêu” (Hạ Ðình Nguyên). Chính khẩu hiệu thứ hai như một chân lý chung đã vạch rõ cái sai lầm của khẩu hiệu thứ nhất (như một “chân lý” riêng ở Việt Nam).

Tôi thích cái ý này của tác giả Hạ Ðình Nguyên: Triết lý tự dưng cũng phải xuống đường (như một sự biểu tình) để phản biện lại cái vô lý đang sờ sờ ngự trên đường... phố! Triết học ở đây là phạm trù quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái đơn lẻ đặc thù và cái phổ biến.

Cái riêng (như chính sách nhất thời của một thể chế, của một quốc gia) dù có “đậm đà” muôn vàn màu sắc riêng thì cũng vẫn phải nằm trong cái chung, nghĩa là không thể phủ định những đặc tính căn bản của cái chung, nếu phủ định hay “vô hiệu hóa” cái chung thì nó không còn lý do gì để nằm trong cái chung ấy nữa.

Các chính phủ (tức là cái riêng) chỉ là chính phủ khi nó được lập ra để đảm bảo cho sự thực thi những nhân quyền tự nhiên và phổ quát (tức cái chung) mà nhân loại tiến bộ đã đồng thanh quyết nghị, trong đó có Việt Nam. Nếu chính sách của một chính phủ dẫn đến sự vô hiệu hóa những nguyên tắc phổ quát của nhân quyền (mà Hạ Ðình Nguyên đã nhắc lại trong bài của ông) thì tự chính phủ đã làm mất tính chính thống của mình trước nhân loại. Khi một cái riêng nào đó xuất hiện mà đối kháng với cái chung thì phải dùng cái chung làm chuẩn để điều chỉnh, để “xét lại,” để “gọt” cái riêng chứ không thể làm điều ngược lại.

Thế mà đã bao lâu nay, xã hội ta đã quen làm những điều ngược lại với chân lý đương nhiên ấy: Luật Con thì vô hiệu hóa luật Mẹ (Hiến Pháp), Mẹ Hiến Pháp đã long trọng ban bố mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do cư trú, ... nhưng những đứa Con (tức các điều luật) thậm chí những đứa Cháu (các nghị định, chỉ thị, nghị quyết) chỉ cần vin vào cái đuôi “các quyền ấy phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của luật pháp” là thỏa sức đặt ra những quy định làm cho những lời của Mẹ Hiến Pháp chẳng còn một gam trọng lượng nào. Các Con được đẻ ra đáng lẽ để biến lời Mẹ thành hiện thực thì lại gây khó, lại biến Mẹ thành bù nhìn, thành vật trang sức, thành lá chắn..., con cháu như vậy thật là lăng loàn!

Quan hệ giữa dân tộc và “chủ nghĩa Xã hội,” giữa Ðảng với Tổ quốc và Nhân dân cũng vậy. Chủ nghĩa là để phục vụ nhân dân, không thể ngang hàng với nhân dân. Ðộc lập Dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội cũng không phải là cặp đôi ngang hàng, Ðộc lập Dân tộc là yếu tố vững bền tiền định, bất khả nhượng, trong những điều kiện lịch sử cụ thể nếu thấy việc thực hiện “Chủ nghĩa” có phương hại đến Ðộc lập Dân tộc thì dân có quyền điều chỉnh và xét lại. Trên thực tế, vì yếu tố “Dân tộc, Tổ quốc, Nhân dân” bị “lép vế” nên những người biểu tình chống xâm lược mới dễ dàng bị lực lượng chỉ biết “còn Ðảng còn mình” coi là phản nghịch. Vế thuộc về “con” đã lấn át vế thuộc về “mẹ.”

Ðảng là con sinh ra từ Mẹ Tổ quốc phải nằm trong và đứng dưới Tổ quốc và Nhân dân. Nếu “Con” đứng ngang mặt Mẹ như hai lá cờ đã là khó coi, huống chi lấy tiêu chuẩn của “Con” để áp dụng sự phân loại, xét duyệt, sàng lọc, đào thải đối với “cha mẹ” như quan điểm trong bài của một đại tá tiến sĩ trên báo QÐND mới đây, thì gia đình như vậy thật không hổ danh là một gia đình... vô phúc!

Dùng Con vô hiệu hóa Mẹ, lấy Riêng qua mặt Chung, lấy Ngọn phủ định Gốc thì chữ “mất gốc hoàn toàn” của ông Dương Trung Quốc xem ra quả không ngoa.

Posted: Sat Dec 24, 2011 5:14 am
by tiendung
Vô thần là phản khoa học

Ngô Nhân Dụng

Nếu các đảng chính trị ở Mỹ cũng có một Ban Tuyên Huấn chắc họ sẽ phải đưa ra một chỉ thị, yêu cầu các đảng viên từ nay mỗi lần muốn chỉ trích ông tổng thống thuộc đảng đối lập với mình thì phải tính toán kỹ, nhắm vào đích rất thận trọng.

Chớ có ai chọn lầm mục tiêu như một vị đại biểu tiểu bang Wisconsin. Dân Biểu Jim Sensenbrenner đang bị cả nước chế nhạo sau khi phải viết thư xin lỗi bà Michelle Obama về những lời chỉ trích nhắm vào phía đằng sau của bà.

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc có một Ban Tuyên Huấn và họ lúc nào cũng nói những chuyện nghiêm túc. Chẳng hạn, ban tuyên huấn đảng Cộng Sản Trung Quốc mới ban huấn thị khẳng định “chủ nghĩa cộng sản tuyệt đối đặt trên căn bản vô thần!” Mục đích là cảnh cáo các đảng viên khỏi đi lạc đường lối. Ðây là một đề tài vô cùng quan trọng. Chủ trương Vô Thần rất nặng ký trong tư tưởng của Karl Marx và Mao Trạch Ðông, có trọng lượng ngang với lý thuyết nói chủ nghĩa tư bản sắp bị tiêu diệt. Hai lập trường kiên cố này chắc chắn to lớn hơn những thứ ở đằng sau vị đệ nhất phu nhân nước Mỹ mà Dân Biểu Sensenbrenner chê là quá tải.

Gần đây, đảng Cộng Sản Trung Quốc không còn chống chủ nghĩa tư bản nữa. Trước hết, họ cho phép các đảng viên kinh doanh kiếm lời mặc dù phải sử dụng sức lao động của người lao động, trả tiền công càng rẻ càng có lợi. Sau đó, họ bắt đầu thu nhận các nhà tư bản vào làm đảng viên. Tình trạng hai lập trường nặng ký nhất đã bị cắt nghiến một bên khiến cho tư tưởng Mao Chủ Tịch bị “chao đảo,” mất cân bằng; có thể còn mất cả mỹ thuật nữa. Cho nên đảng Cộng Sản Trung Quốc phải củng cố cho phần còn lại, kiên quyết bảo vệ chủ thuyết vô thần. Ðây là một vấn đề thực sự nghiêm trọng cho sự sống còn của đảng; còn những chuyện như Cộng Sản Việt Nam cho trẻ em phất cờ Trung Cộng năm sao hay sáu sao, chẳng đáng quan tâm.

Tạp chí Cầu Thực (Tìm Sự Thật), cơ quan lý thuyết chính thức của Cộng Sản Trung Quốc mới nhắc nhở 80 triệu đảng viên cộng sản về chủ trương vô thần của đảng, trước ngày lễ Giáng Sinh năm 2011, bằng một huấn thị nghiêm trọng do ông Châu Duy Quần (Zhu Weiqun) chấp bút. Trong bài báo này, ông Quần ra lệnh các đảng viên cộng sản tuyệt đối không được tin vào một tôn giáo nào cả.

Châu Duy Quần là một ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, lại là một người phụ trách điều khiển Mặt Trận Thống Nhất, tổ chức ngoại vi để kiểm soát các đoàn thể, hội hè, trong đó có cả các tổ chức tôn giáo được đảng cộng sản công nhận (Mặt Trận Tổ Quốc ở Việt Nam được chế ra theo mẫu này). Ông Quần viết: “Trong đảng ta đã xuất hiện những lời kêu gọi hãy ngưng không cấm các đảng viên có tôn giáo, biện luận những lợi ích của tôn giáo cho các đảng viên và còn dám tố giác rằng lệnh cấp đảng viên có đạo là vi phạm hiến pháp.” Cho nên ông Quần xác định: “Thực ra, lập trường của đảng ta kiên quyết cấm đảng viên không được tin vào tôn giáo vẫn trước sau như một không hề thay đổi một ly nào cả.”

Nên chú ý đến chi tiết này: Châu Duy Quần không phải chỉ nhắc nhở các đảng viên không được theo, hay không được hành trì một tôn giáo nào; ông ta còn quyết liệt hơn, bắt các đảng viên không được tin vào tôn giáo. Nghĩa là đảng kiểm soát hành vi, sinh hoạt, của các đảng viên chưa đủ. Phải kiểm soát từ trong cái đầu của người ta nữa.

Nhưng làm sao đem còng số 8 đặt vào trong cái đầu của mấy trăm triệu con người? Ðó là một ảo tưởng. Ai đi đến nước Tàu bây giờ đều thấy các đền miếu chật ních những người đến thắp hương khấn vái. Một lần tôi cùng anh chị em Hồng Gia (người Việt Nam và người Nga) đã tới ngôi đền trên núi La Phù San, nơi phái Hồng Gia tin rằng vị sư tổ sáng lập môn phái ở Việt Nam đã tới học võ công từ nhỏ. Ngôi đền Ðạo Gia, phát nguyên của phái võ, bây giờ không còn ai luyện tập nữa, nhưng tín đồ thập phương thì tới đông không có chỗ chen chân, khói hương mù mịt hơn Lăng Ông nhiều lần.

Người Trung Hoa hiện nay vẫn còn tin tưởng nhiệt thành vào các tôn giáo, nếu không bị cấm đoán. Họ vẫn giữ các niềm tin cổ truyền, cùng nhiều phong tục, tập quán do tín ngưỡng tạo ra. Tạp chí Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), một ấn phẩm chị em với tạp chí Cầu Thực, đã tường thuật về tục lệ “cưới vợ cho người chết” ở tỉnh Thiểm Tây.

Trong huyện Hoành San thuộc thành phố Du Lâm, cách Tây An 500 cây số về phía Bắc, dân chúng vẫn tin tưởng rằng trong cõi âm nếu một người đàn ông, hoặc con trai trên 12 tuổi, chết lúc còn chưa có vợ thì vong hồn sẽ về quấy nhiễu các người còn sống trong gia đình. Phải tìm hài cốt của một phụ nữ để chôn gần, sau khi đã làm lễ cưới cho hai linh hồn. Có những ông bà mai chuyên đi mai mối cho người chết; hiện có 30 người, họ cũng so đôi tuổi để xem có xung khắc với nhau không, y như đám cưới người sống. Khi một cô gái chưa chồng sắp qua đời, nhiều người đã tới xin cưới cho một người đàn ông đã chết mà chưa lập gia đình. Ngay trong bệnh viện, người ta mặc cả, ai trả giá cao nhất sẽ được đưa thi hài cô gái về chôn. Có người đem những bộ hài cốt được giới thiệu là của các cô gái đi bán, cho ai trả giá cao nhất (Global Times, số báo ra ngày 9 tháng 3 năm 2011, có đăng hình một ông “lái” mặc “áo vét,” ngồi chồm hổm đằng sau 6 bộ hài cốt đựng trong bao ni lông, để ngỏ cho người ta nhìn thấy mấy bộ xương sọ). Giá hài cốt các cô đã tăng vọt trong mười năm qua. Mấy năm trước đây giá một bộ hài cốt phụ nữ chỉ khoảng 200 đồng nguyên, nay đã tăng lên thành 130,000 đồng nguyên (một đô la Mỹ đổi khoảng 6 nguyên rưỡi). Nguyên do vì “lạm phát” sau khi nhiều người trong huyện Hoành San làm ăn khá giả nhờ kinh doanh khai thác than đá. Tất nhiên, có các tay ăn trộm hài cốt phụ nữ, đi khai quật trộm trong nghĩa địa. Có tay bị bắt trong lúc đem bán các bộ xương phi pháp.

Ðấy là một chuyện thực ở trong nước Trung Hoa bây giờ. Người ta vẫn còn giữ những niềm tin cổ truyền, có thể coi là dị đoan. Tục lệ này có ở tỉnh Thiểm Tây từ 2,500 năm nay, đã lan đi xa, thịnh hành nhất vào đời Ðường (618-908). Nhưng trong bài báo Global Times đó có một câu nếu ban Tuyên Huấn đảng Cộng Sản Trung Quốc đọc chắc họ phải lo lắng. Ðó là lời tuyên bố của một đảng viên cộng sản năm nay 71 tuổi. Là một nhà nghiên cứu về phong tục địa phương, ông nói: “Sau khi đã sống bao nhiêu năm rồi, tôi hoàn toàn tin là có thần thánh và có ma quỷ!” Không những thế, ông quả quyết: “Tư tưởng Vô Thần là phản khoa học!”

Nói như vậy là dựng ngược xác chết các ông Karl Marx, Mao Trạch Ðông, treo hai bàn chân lên trên, dậm cái đầu xuống đất!

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn dậy các đảng viên rằng chủ nghĩa xã hội vô thần của họ mới là “khoa học,” tất cả các lý thuyết xã hội khác đều bị gọi là “không tưởng”. Bây giờ thì chính một đảng viên cộng sản đã tuyên bố: “Vô thần là phản khoa học!”

Khi các cán bộ Tuyên Giáo cộng sản đi tuyên truyền cho chủ nghĩa vô thần, coi nó là một lý thuyết khoa học, thì chính họ không biết thế nào là khoa học. Chính các ông Karl Marx, Mao Trạch Ðông cũng chẳng biết căn bản phương pháp khoa học là thế nào. Giữa thế kỷ 20, Karl Popper mới trình bày tính chất thiết yếu của việc nghiên cứu khoa học. Từ đó tới nay, người ta biết: Một lời phát biểu chỉ có thể mang tính chất khoa học nếu có thể đem ra kiểm chứng với ý định tìm cách phủ nhận, bác bỏ.

Yếu tính của khoa học là tính khả dĩ phản bác (falsifiability) chứ không phải là tính khả dĩ xác nhận (verifiability). Thuyết Tương Ðối của Einstein hiện vẫn đang bị đem thử thách với các cuộc thí nghiệm mới. Tất cả các “định luật” mà Karl Marx đưa ra đều là những xác quyết không cho người ta cơ hội phản bác. Cho nên không thể gọi là khoa học được. Thí dụ, một lý thuyết, “Tất cả chỉ là vật chất, ngoài vật chất không có gì khác” không thể là một giả thuyết khoa học. Vì không thể nào đem thí nghiệm xem nó có sai hay không!

Karl Popper đã qua đời năm 1994, thọ 92 tuổi. Hồi trẻ ông đã từng theo cộng sản, tin vào mấy lý thuyết của Karl Marx. Nhưng năm 18 tuổi thì ông bắt đầu nghi ngờ, rồi dần dần thấy nó rõ ràng phản khoa học. Người đảng viên cộng sản Trung Hoa ở huyện Hoành San, tỉnh Thiểm Tây, ông Wu Juliang chắc không biết Karl Popper, mà chắc cũng chẳng nhớ ông Karl Marx đã dậy cái gì! Ông già 71 tuổi này chỉ căn cứ vào kinh nghiệm sống và trực giác của mình. Ðể thấy rằng không thể nào tin tưởng vào một lý thuyết phủ nhận tất cả, chỉ công nhận những vật chất thấy trước mắt là có thật mà thôi. Những giác quan của chúng ta, dù có được các dụng cụ tối tân hỗ trợ, cũng không thể nào biết tất cả mọi thứ được. Những người theo thuyết vô thần quả quyết họ biết tất cả, và biết tất cả chỉ là vật chất vô hồn. Chính đó là một thái độ phản khoa học.

Ban Tuyên Huấn đảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm một công việc vô ích khi lên lớp cấm các đảng viên không được tin vào tôn giáo nào cả. Họ sẽ làm khổ, bắt các đảng viên phải tìm cách giấu diếm, che đậy tôn giáo của họ, để khỏi bị phê bình kiểm thảo. Bây giờ đảng đã cho phép các đảng viên làm tư bản, tự do bóc lột sức lao động của các đồng chí vô sản. Tại sao đảng lại khó khăn bắt các đảng viên phải từ chối hay là che giấu niềm tin? Mà đó là niềm tin vào điều thiện, niềm tin vào cõi thiêng liêng, tin vào khả năng hướng thượng của con người; tại sao phải cấm?

Ðó là chủ trương chính trị ở một xứ độc tài. Các lãnh tụ muốn toàn dân phải nhắm mắt theo ý họ, bắt dân tin những điều vô nghĩa. Thà rằng cứ làm chính trị theo lối ông Jim Sensenbrenner ở Wisconsin còn hơn. Ông này vốn mập mạp, nghe bà Michelle Obama đi tới đâu cũng khuyên các học sinh nên ăn uống điều độ cho khỏi mập; ông tự nhìn xuống bụng mình chắc phải động lòng. Vì vậy mà ông mới nói, “Bà ơi, bà thử quay lại nhìn cái đằng sau bà coi, có thấy nó cũng phì nhiêu quá cỡ hay không?”

Ít nhất một lời phát biểu như vậy có thể đem ra thử thách bằng quan sát, bằng thí nghiệm; khác hẳn lý thuyết vô thần của đảng Cộng Sản. Mà nó lại giúp dân Mỹ có dịp giải trí, tha hồ ngắm nghía, đem bàn tán suốt ba ngày cuối tuần không chán; nó không quặt quẹo khô khan như lý thuyết của Mao hay Marx.

Posted: Sun Dec 25, 2011 5:02 am
by vuphong
Image

Đêm Ánh Sáng
DGM Ngo Quang Kiet


Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đã bao phủ các ngài. Anh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

Posted: Sun Dec 25, 2011 5:45 am
by tranphuongdong
Image

Nhà nước đạo tặc

Nguyễn Hưng Quốc
Thời đại chúng ta đang sống, so với hơn hai ngàn năm lịch sử đã qua của nhân loại (không kể thời tiền sử, dĩ nhiên), có vô số những cái mới. Trong số những cái mới ấy có một cái mới rất đáng chú ý: hình thức ăn cắp mới.

Ngày xưa, thường, mất cái gì chúng ta biết cái đó. Đi làm hoặc đi chơi về, vào nhà thấy trống trơn, chúng ta biết ngay là có một vị khách không mời mà đến: đạo Chích. Mở cửa, nhìn ra sân, không thấy chiếc xe vẫn thường dựng và được khóa cẩn thận, chúng ta cũng biết ngay: có trộm.

Lâu lâu mới có một vật gì đó mất mà chúng ta không biết. Hoặc nó quá nhỏ. Hoặc do chúng ta quá vô tâm. Nhưng những trường hợp ấy tương đối hiếm.

Bây giờ thì khác. Rất nhiều khi mất đồ, chúng ta vẫn không biết. Ngay cả khi đã được ai đó tiết lộ, chúng ta vẫn không biết. Nhìn quanh và lục khắp, chúng ta vẫn không biết là chúng ta bị mất cắp cái gì. Mà có khi những thứ bị mất ấy lại vô cùng quan trọng và đắt tiền.

Bạn thử tưởng tưởng cảnh này nhé: Bạn đang làm việc cho một công ty nào đó, được cử đi họp hành hay tham dự hội nghị ở một nước hay một thành phố khác. Bạn được ở khách sạn thật sang trọng. Sáng, bạn đi họp; tối, bạn về. Một lúc nào đó trong ngày, bạn nảy ra một sáng kiến thật hay. Bạn bèn viết email chia sẻ với cấp trên hay với đồng nghiệp của bạn. Mọi người vui mừng trước sáng kiến ấy. Người này góp một ý, người kia góp một ý. Cuộc thảo luận trên email, cuối cùng, dẫn đến một dự án vô cùng độc đáo, như sáng chế một cái máy mới chẳng hạn. Sau đó, mọi người bắt tay vào việc thực hiện dự án. Chỉ có điều, bạn và các đồng nghiệp của bạn không hề biết là: toàn bộ các thông tin về dự án ấy, từ khởi thủy cho đến lúc hoàn tất, đều lọt vào tay kẻ trộm. Chúng có tất cả những gì bạn có. Khi bạn bắt đầu thực hiện dự án, chúng cũng thực hiện dự án ấy theo sáng kiến của bạn. Nhưng trong lúc bạn ỷ y là chỉ có mình công ty bạn biết nên làm việc một cách kỹ lưỡng, từ từ, thì những tên trộm kia lại hối hả vượt qua tốc độ thi công của bạn. Đến lúc công ty bạn sắp hoàn thành thì chúng đã xong mọi chuyện: Công ty bạn trở thành những kẻ nhỡ tàu.

Những tên trộm ấy ăn cắp thông tin của bạn từ lúc nào?

Từ lúc bạn mở chiếc máy computer được nối mạng trong cái khách sạn mà bạn ở hoặc ngay chính trong căn phòng sang trọng trong khách sạn mà người ta mướn để tổ chức họp hành hay hội nghị. Chủ nhân hay nhân viên khách sạn cài virus trong hệ thống computer của họ ư? Không phải. Những người ấy hoàn toàn trong sáng và vô tội, dù tất cả các computer trong khách sạn của họ đều bị virus. Tại sao? Lý do là công ty cung cấp dịch vụ internet chính cho các khách sạn đã bị tin tặc tấn công và cài virus. Mà một công ty cung cấp dịch vụ như vậy thường có vô số khách hàng, bao gồm cả hàng trăm khách sạn ở những địa phương, hoặc có khi, quốc gia khác nhau.

Một ví dụ được tiết lộ là công ty iBahn, trụ sở chính ở Salt Lake City, Mỹ, chuyên cung ứng đường dẫn internet cho các chuỗi khách sạn lớn, bao gồm cả Marriott và nhiều chuỗi khách sạn quốc tế khác. Khi hệ thống máy tính của iBhan bị thâm nhập, toàn bộ thông tin do iBahn điều hành đều lọt vào tay tin tặc. Một bản báo cáo mật do ai đó gửi về cho chính phủ của họ ư? Chúng có hết. Một bức email vu vơ do một khách trọ nào đó ở khách sạn gửi về cho thân nhân ư? Chúng cũng có nốt. Toàn bộ.

Tất cả những người bị mất cắp đều không hay biết gì cả.

Nếu bạn cẩn thận, không gửi tài liệu gì quan trọng từ computer ở các khách sạn hay từ các internet café nữa, như vậy đã hẳn là an toàn chưa? Không đâu. Cứ tưởng tượng một trường hợp khác: Bạn sử dụng computer hay laptop cá nhân, ở nhà hoặc ở sở, nhưng dùng email được cung cấp miễn phí, ví dụ gmail, chẳng hạn. Bạn nghĩ là an toàn ư? Không kể máy của bạn bị cài virus. Cũng không kể email của bạn bị tin tặc đánh cắp mật khẩu. Đó là những trường hợp có tính chất cá nhân, không kể làm gì. Chỉ xin kể đến một trường hợp lớn, cực lớn: Google, cơ quan cung ứng dịch vụ cho gmail bị tin tặc tấn công. Khi tin tặc đã lọt vào được máy chủ của Google, chúng có thể đọc toàn bộ các email gửi qua gmail. Bao nhiêu tài liệu mà bạn nghĩ là riêng tư hay bí mật, chúng đều có thể đọc được hết.

Và bạn vẫn không hề hay biết gì cả.

Lâu nay, nghĩ đến tin tặc, chúng ta thường nghĩ đến chính trị với đối tượng chính là các cơ quan chính phủ. Nghĩ như vậy cũng phải. Chắc chắn đó là đối tượng chính của tin tặc. Hầu hết các cơ quan chính phủ ở khắp nơi, không nhiều thì ít, đều bị bọn tin tặc dòm ngó. Đọc báo, thỉnh thoảng chúng ta nghe chính phủ của nhiều nước, trong đó có cả những nước lớn như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Úc, v.v… la làng lên là họ bị tin tặc tấn công. Hệ thống computer của Nhà Trắng ở Mỹ và của văn phòng Thủ tướng Úc cũng từng bị tin tặc thăm viếng. Nhìn đâu cũng thấy tin tặc.

Nhưng bọn tin tặc không chỉ dừng lại ở phạm vi chính trị. Càng ngày người ta càng chú ý nhiều hơn đến bọn tin tặc kinh tế, kể cả kinh tế tri thức. Chúng tấn công vào các công ty, từ công ty quốc phòng đến các công ty hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm, giao thông, v.v… để ăn cắp kỹ thuật. Chúng tấn công vào các công ty thương mại để ăn cắp các dự án và các hợp đồng kinh tế. Chúng tấn công vào các viện nghiên cứu ở đại học để ăn cắp tài sản trí tuệ.

Nói một cách tóm tắt, theo lời ông Mike Rogers, chủ tịch ủy ban thường trực về tình báo của Quốc Hội Mỹ, “chúng ăn cắp mọi thứ” (They are stealing everything)! Thượng vàng hạ cám. Ăn cắp trở thành một thứ kỹ nghệ: kỹ nghệ ăn cắp (stealing industry). Trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ nạn ăn cắp lại hoành hành dữ dội và tinh vi như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ những thiệt hại do nạn ăn cắp lại lớn lao như bây giờ. Theo một số ước tính của các chuyên gia, những thiệt hại mà bọn ăn cắp qua internet gây ra cho nền kinh tế Mỹ trong năm qua lên đến 500 tỉ đô-la.

Nhưng bọn ăn cắp - hay tin tặc - ấy là ai?

Bọn tin tặc và đạo tặc có thể đến từ khắp nơi. Ở đâu cũng có. Nhưng đáng kể nhất là đám tin tặc và đạo tặc cấp quốc gia. Vâng, cấp quốc gia. Tức những tin tặc và đạo tặc do các quốc gia tổ chức và chỉ đạo. Dĩ nhiên, không có quốc gia nào công khai thừa nhận chuyện đó cả. Tất cả đều chối béng. Ngay cả khi bị bắt quả tang vẫn cứ chối. Chối tới cùng.

Trong các quốc gia tin tặc và đạo tặc được xếp vào hạng nguy hiểm nhất trên thế giới, ít nhất đối với các quốc gia tự do và phát triển ở Tây phương, đứng đầu là hai nước: Nga và Trung công. Giữa hai nước, nước ăn trộm qua đường internet quy mô và hiệu quả nhất chính là Trung công.

Tất cả các ủy ban nghiên cứu về an ninh mạng của Mỹ, từ tư nhân đến chính phủ, đều chỉ tay về một hướng: Trung công. Bản báo cáo của 14 trung tâm tình báo Mỹ công bố ngày 3 tháng 11 năm 2011 cũng nêu đích danh Trung công đứng đằng sau các tin tặc và đạo tặc nhắm vào Mỹ. Kết quả các cuộc điều tra cũng cho biết trong suốt một thập niên vừa qua, đã có ít nhất 760 công ty, viện nghiên cứu, đại học, các cơ sở cung cấp dịch vự internet và các cơ quan chính phủ từng bị tin tặc và đạo tặc từ Trung công tấn công. Các tin tặc và đạo tặc ấy trực thuộc các đại học hoặc các đơn vị bộ đội Trung công. Chúng được tổ chức rất chặt chẽ. Nhiệm vụ chính của chúng là ăn cắp. Ăn cắp mọi thứ.

Mà không phải chỉ nhắm vào Mỹ. Tin tặc và đạo tặc Trung công nhắm vào mọi quốc gia, kể cả những quốc gia từng giúp đỡ họ. Năm 2008, công ty kỹ thuật Thrane & Thrane AS của Đan Mạch sang Trung công giúp xây dựng các thiết bị viễn thông cảnh báo động đất. Báo chí Trung công hết lời cám ơn và ca ngợi sự giúp đỡ nhân đạo của Đan Mạch. Tuy nhiên, ba tháng sau, hệ thống điện toán của công ty Đan Mạch bị tin tặc Trung công thâm nhập để ăn cắp các tài liệu mật về viễn thông, vốn là một mặt mạnh của công ty.
Với người từng giúp đỡ mà còn như thế, huống gì các nước khác?

Posted: Mon Dec 26, 2011 12:31 am
by thienthanh
Đánh Trống Bỏ Dùi
Nguyễn Xuân Nghĩa


Vào dịp cuối năm, hãy đếm lại mấy cái dùi trống của Hoa Kỳ

Cứ đến cuối năm, truyền thông báo chí Mỹ thường bình chọn biến cố đáng chú ý nhất, hoặc có ảnh hưởng nhất trong năm.

Cột báo này xin đi ngược truyền thống dễ dãi ấy mà chọn một hồ sơ bị lãng quên nhất trong năm - dù có thể ảnh hưởng đến thời sự năm tới. Cũng là một cách kiểm chứng lại khả năng nhận xét của chúng ta, thay vì thụ động tiếp nhận thông tin đôi khi hời hợt, rồi sau cùng lại như dân Mỹ, hốt hoảng la trời khầu hiệu OGM - "O My God"!

Hồ sơ bị lãng quên ở đây là Cộng hoà Tiệp - Czech Republic.

Nếu không có vụ cựu Tổng thống Vaclav Havel tạ thế vào cuối năm, người ta quên hẳn nhân vật vĩ đại này của thế giới. Và thật ra nhiều người Mỹ còn chẳng biết là Tiệp Khắc đã tự chia đôi từ năm 1993 thành Cộng hoà Tiệp và Slovakia. Lời phán xét này không vu hồ. Năm qua, một nữ Dân biểu Dân Chủ tại California còn hồn nhiên phát biểu rằng bà rất hài lòng khi thấy hai miền Nam Bắc của Việt Nam đã vui vẻ sống chung, dù miền Bắc vẫn còn chế độ Cộng sản và miền Nam tự do là đồng minh của Mỹ.

Dân biểu Maxine Waters có khi đã quên mất biến cố 1975 và được dân chúng khu vực Los Angeles bầu lên để giải quyết những vấn đề kinh tế hay xã hội của họ dù bà ta có thể có những quyết định tầy trời cho các xứ khác mà không biết - và khỏi cần biết.

"Vô phúc cho xứ nào cứ nhắm mắt trông chờ vào Hoa Kỳ mà không tự lo lấy thân"! Lãnh đạo Cộng hoà Tiệp có thể đã nghĩ như vậy - mà dân Mỹ cũng khỏi cần biết.

Họ khỏi cần biết rằng đầu tháng 12 vừa qua, Tổng thống Dmitri Medvedev của Liên bang Nga đã cầm đầu một phái đoàn hùng hậu qua thăm xứ Tiệp trong hai ngày mùng tám mùng chín. Phái đoàn Nga tới thủ đô Praha hâm nóng quan hệ giữa hai nước qua ba dự án: 1) xây dựng hỏa xa cao tốc cho Tiệp để nối liền nước Nga với Đông Âu, 2) phát triển hệ thống trực thăng hỗn hợp giữa hai nước và, quan trọng nhất, 3) dự án xây lò nguyên tử trị giá 25 tỷ tại Temelin.

Hồ sơ có vẻ kinh tế đó tất nhiên dễ bị lãng quên nếu người ta không nhìn thấy nhu cầu hâm nóng quan hệ giữa hai nước. Và một hồ sơ tầy trời khác.

Từ đã lâu, Hoa Kỳ vận động việc đón nhận Cộng hoà Georgia và Ukraine vào Minh ước NATO, sau khi các nước này chuyển hóa sang chế độ dân chủ và muồn hội nhập vào Âu châu. Khi ấy, cả nước Mỹ đều nói đến cách mạng dân chủ muôn màu tại các quốc gia từng nằm trong quỹ đạo Liên Xô, như Serbia, Georgia, Ukraine, Kyrgyzstan....

Năm 2008, Chính quyền George W. Bush còn đề xướng kế hoạch phòng thủ chiến lược BMD tại Ba Lan và Cộng hoà Tiệp, hai thành viên mới của NATO. Đó là lá chắn chiến lược chống hỏa tiễn đạn đạo, với lý do chính thức là đón bắt hỏa tiễn có thể bắn từ Iran. Lý do thực tế, nhìn từ Moscow, là để ngăn sự bành trướng của Nga vào khu vực quỹ đạo truyền thống của Liên Xô.

Chúng ta không quên là ngày tám Tháng Tám năm đó, Liên bang Nga đã đưa quân vào Georgia. Sau đấy còn khuynh đảo nội tình Ukraine là nơi mà một số dân chúng miền Đông vẫn thiên về nước Nga, còn hai lãnh tụ thân Tây phương, tác giả của cuộc cách mạng dân chủ màu da cam, thì chia rẽ và tạo cơ hội cho lãnh tụ thân Nga thắng thế, đương kim Tổng thống Viktor Yanukovych.

Ngược với dư luận của nhiều người trong nước, hai Chính quyền Ba Lan và Tiệp đều ủng hộ kế hoạch BMD không phải nhờ lá chắn chiến lược mà vì lời cam kết - và sự hiện diện của binh lính Mỹ tại một trạm radar và một hệ thống hỏa tiễn do Hoa Kỳ thiết trí. Họ đã có kinh nghiệm xương máu với nước Nga ở quá gần!

Nhưng họ thiếu kinh nghiệm với Hoa Kỳ.

Sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama hủy bỏ lời cam kết đó và quăng dự án BMD vào bàn thương thuyết với Nga. Mục tiêu là để cải tiến quan hệ với Moscow hầu giải quyết hai ưu tiên của Mỹ: chiến trường Afghanistan và sự hung hăng của Iran.

Xin đọc lại đoạn trên: kế hoạch BMD có lý do chính thức là phát giác và đón bắt hỏa tiễn Iran có thể bắn vào Âu châu mà thực tế là để ngăn ngừa ám khí của Nga. Bây giờ, Chính quyền Obama trông cậy vào Nga để can gián Iran và giúp Mỹ có đường tiếp vận cho chiến trường Afghanistan và hy sinh luôn việc phòng thủ hai đồng minh Âu châu là Ba Lan và Tiệp.

Ba năm sau, là ngày nay, Liên bang Nga tiếp tục nhấn tới. Nga sẽ thiết trí hỏa tiễn chiến lược ngay tại Kaliningrad, giáp giới với Ba Lan, ngay dưới nách Cộng hoà Lithuania. Y như Trung Quốc, đến tận cùng, Nga vẫn bên vực Iran và cả Syria. Moscow còn nhá ra hơn 500 tỷ Mỹ kim dự trữ ngoại tệ để "cấp cứu" Âu châu trong khủng hoảng, nhân tiện ly gián quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ và Âu Châu.

Trong bối cảnh đó, kế hoạch BMD coi như chấm dứt và Cộng hoà Tiệp phải cải thiện quan hệ với Nga. Biến cố ấy đáng quan tâm hơn chúng ta nghĩ vì phản ảnh nhiều chuyện khác.

Liên hiệp Âu châu có thể tan rã, hoặc ít nhất tê liệt trong nhiều năm với các ngân hàng bị sụp đổ và đồng Euro thành đồng sứt. Khi Ba Lan, nạn nhân của cả hai cường quốc lân bang là Nga lẫn Đức, mà còn yêu cầu Đức phải có thế mạnh hơn để cứu lấy Âu châu - chuyện xảy ra cuối năm sau 17 thượng đỉnh Âu châu - ta biết rằng có gì đó rất đảo điên đã xảy ra tại Âu châu.

Trước đó, khi ông Vaclav Havel phải lên tiếng báo động về việc Hoa Kỳ có thể lại hy sinh đồng minh trong việc đổi chác với Liên bang Nga, ta thấy ra chuyện bất trắc của cả một khu vực bản lề của Âu châu. Nhưng ngần ấy chuyện lạ không để lại một ánh chớp trên truyền hình Mỹ.

Người dân xứ này lo chuyện kinh tế và thất nghiệp, lãnh đạo thì chỉ thấy một ưu tiên là cuộc bầu cử và Quốc hội đánh nhau suốt năm mà chưa giải quyết được bài toán bội chi hay kích thích sản xuất, tăng hay giảm thuế!

Chuyện Cộng hoà Tiệp là hồ sơ bị lãng quên trong năm phản ảnh một điều kinh hoàng hơn vậy: truyền thống đánh trống bỏ dùi của nước Mỹ!

***

Ngày 11 Tháng Chín năm 1990, Tổng thống George H. W. Bush (ông Bush cha, Bush 41) dõng dạc tuyên bố trước Quốc hội sự hình thành của một "Trật tự Toàn cầu mới". Khi đó, Liên Xô đang trên đà tan rã, từ Iraq lãnh tụ Saddam Hussein vừa mở cuộc tấn công xứ Kuweit và lực lượng Taliban đã thành hình tại Afghanistan.

Giấc mơ "Trật tự Toàn cầu" - New World Order - của lãnh đạo Mỹ, hoặc chuyện "Lịch sử Cáo chung" của trí thức Hoa Kỳ (học giả Francis Fukuyama) là một hài kịch.

Nó chấm dứt ngày 11 Tháng Chín năm 2001, dưới thời Bush 43 với vụ khủng bố 9-11, và nó tan tành vào Tháng Tám năm 2008, khi Georgia ngang nghiên bị tấn công mà không ai nhúc nhích. Sau đó, Hoa Kỳ thời Obama lại còn nuôi giấc mơ khác, là cải thiện quan hệ với Liên bang Nga để giải quyết chuyện của mình, dù có phải hy sinh lời cam kết với các đồng minh.

Kết quả?

Hoa Kỳ rút khỏi Iraq tám năm sau khi xấn xổ bước vào đào xới lung tung. Ứng cử viên Obama có thêm đóa hoa trên bàn thờ tranh cử. Nhưng, chỉ vài ngày sau khi lá cờ Mỹ được đưa ra khỏi thủ đô Baghdad, xứ này có loạn! Phe Shia và Iran ở phía sau thừa thắng xông lên, làm cho hai nhóm thiểu số là dân Sunni và Kurd đều tuyệt vọng. Kẻ có võ khí mà tuyệt vọng thì bạo động sẽ xảy ra, và thường dân lại chết oan. Hôm 22 vừa qua, Baghdad lại bị đáng bom làm 72 người thiệt mạng.

Kết quả?

Một chuỗi quốc gia Đông Âu và Trung Âu được 20 năm tràn trề hy vọng hội nhập vào Âu châu để tìm sự thịnh vương và nương tựa vào Hoa Kỳ để được bảo vệ. Hy vọng đó tan loãng với vụ khủng hoảng Âu châu và lời hứa bảo vệ của Mỹ chỉ có giá trị cho một mùa tranh cử. Xứ Tiệp Khắc từng bị Đức quốc xã tấn công năm 1939, rồi bị Liên Xô thống trị từ sau Thế chiến II cho đến khi tan rã. Triển vọng hòa bình và thịnh vượng của các quốc gia này kéo dài được hai chục năm và nay họ đang nói chuyện phải quấy với một chế độ thực chất là hung đồ đã kê súng vào đầu họ.

Vì Hoa Kỳ đang bận chuyện khác!

Mười năm trước, cả thế giới nói đến cách mạng dân chủ muôn màu. Làn sóng cách mạng đó đã bị đẩy lui. Suốt năm nay, người ta cũng ngợi ca mùa Xuân Á Rập và làn sóng dân chủ trong thế giới Hồi giáo. Với một đống dùi trống ngổn ngang trong một năm tranh cử tại Hoa Kỳ, người ta nên hoài nghi khả năng hay ý chí thúc đẩy của nước Mỹ. Những gì đang xảy ra tại Egypt và Libya - chưa nói đến Syria hay Iran - khiến ta chẳng nên lạc quan, dù là vào một đầu năm mới.

Dân chủ hay không là chuyện của người dân ở tại chỗ, chứ không thuộc trách nhiệm của lãnh đạo hay cử tri Mỹ.

Posted: Tue Dec 27, 2011 3:33 am
by KýCóp
Vô thần là phản khoa học

Ngô Nhân Dụng

Nếu các đảng chính trị ở Mỹ cũng có một Ban Tuyên Huấn chắc họ sẽ phải đưa ra một chỉ thị, yêu cầu các đảng viên từ nay mỗi lần muốn chỉ trích ông tổng thống thuộc đảng đối lập với mình thì phải tính toán kỹ, rất thận trọng khi nhắm vào đích của người ta. Chớ có ai chọn lầm mục tiêu như một vị đại biểu tiểu bang Wisconsin. Dân biểu Jim Sensenbrenner đang bị cả nước chế nhạo sau khi phải viết thư xin lỗi bà Michelle Obama về những lời chỉ trích nhắm vào chỗ đằng sau của bà.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có một Ban Tuyên Huấn và họ lúc nào cũng nói những chuyện nghiêm túc. Chẳng hạn, ban Tuyên Huấn Đảng Cộng sản Trung Quốc mới ban huấn thị khẳng định “chủ nghĩa cộng sản tuyệt đối đặt trên căn bản vô thần!” Mục đích là cảnh cáo các đảng viên khỏi đi lạc đường lối. Đây là một đề tài vô cùng quan trọng. Chủ trương Vô Thần rất nặng ký trong tư tưởng của Karl Marx và Mao Trạch Đông, trọng lượng ngang cân với lý thuyết về chủ nghĩa tư bản sắp bị tiêu diệt. Hai lập trường kiên cố này chắc chắn quan trọng hơn phía đằng sau vị đệ nhất phu nhân nước Mỹ mà Dân biểu Sensenbrenner chê là quá tải.

Gần đây, đảng Cộng sản Trung Quốc không còn chống chủ nghĩa tư bản nữa. Trước hết, họ cho phép các đảng viên kinh doanh kiếm lời, được sử dụng sức lao động của người lao động, trả tiền công càng rẻ càng có lợi. Sau đó, họ bắt đầu thu nhận các nhà tư bản vào làm đảng viên. Tức là đảng đã xóa bỏ một trong hai lập trường nặng ký nhất. Bị cắt nghiến một bên, Tư tưởng Mao Chủ tịch bị “chao đảo,” mất cân bằng; có thể còn mất cả mỹ thuật nữa. Chắc vì vậy nên đảng Cộng sản Trung Quốc lo củng cố cho phần còn lại, kiên quyết bảo vệ chủ thuyết vô thần. Đây là một vấn đề thực sự nghiêm trọng cho sự sống còn của đảng; còn những chuyện như Cộng sản Việt Nam cho trẻ em phất cờ Trung Cộng năm sao hay sáu sao, chẳng đáng quan tâm.

Tạp chí Cầu Thực (Tìm Sự Thật), cơ quan lý thuyết chính thức của Cộng sản Trung Quốc mới nhắc nhở 80 triệu đảng viên cộng sản về chủ trương vô thần của đảng, trước ngày lễ Giáng Sinh năm 2011, bằng một huấn thị nghiêm trọng do ông Châu Duy Quần (朱维群 Zhu Weiqun) chấp bút. Trong bài báo này, ông Quần ra lệnh các đảng viên cộng sản tuyệt đối không được tin vào một tôn giáo nào cả.

Châu Duy Quần là một ủy viên Ban chấp hành Trung Ương Đảng, lại là một người phụ trách điều khiển Mặt Trận Thống Nhất, tổ chức ngoại vi để kiểm soát các đoàn thể, hội hè, trong đó có cả các tổ chức tôn giáo được đảng cộng sản công nhận (Mặt Trận Tổ Quốc ở Việt Nam được chế ra theo mẫu này). Ông Quần viết: “Trong Đảng ta đã xuất hiện những lời kêu gọi hãy ngưng không cấm các đảng viên có tôn giáo, biện luận những lợi ích của tôn giáo cho các đảng viên và còn dám tố giác rằng lệnh cấ đảng viên có đạo là vi phạm hiến pháp.” Cho nên ông Quần xác định: “Thực ra, lập trường của Đảng ta kiên quyết cấm đảng viên không được tin vào tôn giáo vẫn trước sau như một không hề thay đổi một ly nào cả.”

Nên chú ý đến chi tiết này: Châu Duy Quần không phải chỉ nhắc nhở các đảng viên không được theo, hay không được hành trì một tôn giáo nào; ông ta còn quyết liệt hơn, bắt các đảng viên không được tin vào tôn giáo. Nghĩa là Đảng kiểm soát hành vi, sinh hoạt, của các đảng viên chưa đủ. Phải kiểm soát từ trong cái đầu của người ta nữa.

Nhưng làm sao đem còng số 8 đặt vào trong cái đầu của mấy trăm triệu con người? Đó là một ảo tưởng. Ai đi đến nước Tầu bây giờ đều thấy các đền miếu chật ních những người đến thắp hương khấn vái. Một lần tôi cùng anh chị em Hồng Gia (người Việt Nam và người Nga) đã tới ngôi đền trên núi La Phù San, nơi vị sư tổ sáng lập môn phái ở Việt Nam đã tới học võ công từ nhỏ. Ngôi đền Đạo Gia, phát nguyên của phái võ, bây giờ không còn ai luyện tập nữa, nhưng tín đồ thập phương thì tới đông không có chổ chen chân, khói hương mù mịt hơn Lăng Ông nhiều lần.

Người Trung Hoa hiện nay vẫn còn tin tưởng nhiệt thành vào các tôn giáo, nếu không bị cấm đoán. Họ vẫn giữ các niềm tin cổ truyền, cùng nhiều phong tục, tập quán do tín ngưỡng tạo ra. Tạp chí Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), một ấn phẩm chị em với tạp chí Cầu Thực, đã tường thuật về tục lệ “cưới vợ cho người chết” ở tỉnh Thiểm Tây.

Trong huyện Hoành San (横山) thuộc thành phố Du Lâm (榆林), các Tây An 500 cây số về phía Bắc, dân chúng vẫn tin tưởng rằng trong cõi âm nếu một người đàn ông, hoặc con trai trên 12 tuổi, chết lúc còn chưa có vợ thì vong hồn sẽ về quấy nhiễu các người còn sống trong gia đình. Phải tìm hài cốt của một phụ nữ để chôn gần, sau khi làm lễ cưới cho hai linh hồn. Có những ông bà mai chuyên đi mai mối cho người chết; hiện có 30 người, họ cũng so đôi tuổi để xem có xung khắc với nhau không, y như đám cưới người sống. Khi một cô gái chưa chồng sắp qua đời, nhiều người đã tới xin cưới cho một người đàn ông đã chết mà chưa lập gia đình. Ngay trong bệnh viện, người ta mặc cả, ai trả giá cao nhất sẽ được đưa thi hài cô gái về chôn. Có người đem những bộ hài cốt được giới thiệu là của các cô gái đi bán, cho ai trả giá cao nhất (Global Times, số báo ra ngày 9 tháng 3 năm 2011, có đăng hình một ông “lái” mặc “áo vét,” ngồi chồm hổm đằng sau 6 bộ hài cốt đựng trong bao ni lông, để ngỏ cho người ta nhìn thấy mấy bộ xương sọ). Giá hài cốt các cô đã tăng vọt trong mười năm qua. Mấy năm trước đây giá một bộ hài cốt phụ nữ chỉ khoảng 200 đồng nguyên, nay đã tăng lên thành 130,000 đồng nguyên (một đô la Mỹ đổi khoảng 6 nguyên rưỡi). Nguyên do vì “lạm phát” sau khi nhiều người trong huyện Hoành San làm ăn khá giả nhờ kinh doanh khai thác than đá. Tất nhiên, có các tay ăn trộm hài cốt phụ nữa, đi khai quật trộm trong nghĩa địa. Có tay bị bắt trong lúc đem bán các bộ xương phi pháp.

Đấy là một chuyện thực ở trong nước Trung Hoa bây giờ. Người ta vẫn còn giữ những niềm tin cổ truyền, có thể coi là dị đoan. Tục lệ này có ở tỉnh Thiểm Tây từ 2500 năm nay, đã lan đi xa, thịnh hành nhất vào đời Đường (618 – 908). Nhưng trong bài báo Global Times đó có một câu nếu ban Tuyên Huấn đảng Cộng sản Trung Quốc đọc chắc họ phải lo lắng. Đó là lời tuyên bố của một đảng viên cộng sản năm nay 71 tuổi. Là một nhà nghiên cứu về phong tục địa phương, ông nói: “Sau khi đã sống bao nhiêu năm rồi, tôi hoàn toàn tin là có thần thánh và có ma quỷ!” Không những thế, ông quả quyết: “Tư tưởng Vô Thần là phản khoa học!”

Nói như vậy là dựng ngược xác chết các ông Karl Marx, Mao Trạch Đông, treo hai bàn chân lên trên, dậm cái đầu xuống đất!












Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn dậy các đảng viên rằng chủ nghĩa xã hội vô thần của họ mới là “khoa học,” tất cả các lý thuyết xã hội khác đều bị gọi là “không tưởng.” Bây giờ thì chính một đảng viên cộng sản đã tuyên bố: “Vô thần là phản khoa học!”



Khi các cán bộ Tuyên Giáo cộng sản đi tuyên truyền cho chủ nghĩa vô thần, coi nó là một lý thuyết khoa học, thì chính họ không biết thế nào là khoa học. Chính các ông Karl Marx, Mao Trạch Đông cũng chẳng biết căn bản phương pháp khoa học là thế nào. Giữa thế kỷ 20, Karl Popper mới trình bầy tính chất thiết yếu của công việc nghiên cứu khoa học. Từ đó tới nay, người ta biết: Một lời phát biểu chỉ có thể mang tính chất khoa học nếu có thể đem ra kiểm chứng với ý định tìm cách phủ nhận, bác bỏ.

Yếu tính của khoa học là tính khả dĩ phản bác (falsifiability) chứ không phải là tính khả dĩ xác nhận (verifiability). Thuyết Tương Đối của Einstein hiện vẫn đang bị đem thử thách với các cuộc thí nghiệm mới. Tất cả các “định luật” mà Karl Marx đưa ra đều là những xác quyết không cho người ta cơ hội phản bác. Cho nên không thể gọi là khoa học được. Thí dụ, một lý thuyết, “Tất cả chỉ là vật chất, ngoài vật chất không có gì khác” không thể là một giả thuyết khoa học. Vì không thể nào đem thí nghiệm xem nó có sai hay không!

Karl Popper đã qua đời năm 1994, thọ 92 tuổi. Hồi trẻ ông đã từng theo cộng sản, tin vào mấy lý thuyết của Karl Marx. Nhưng năm 18 tuổi thì ông bắt đầu nghi ngờ, rồi dần dần thấy nó rõ ràng phản khoa học. Người đảng viên cộng sản Trung Hoa ở huyện Hoành San, tỉnh Thiểm Tây, ông Wu Juliang chắc không biết Karl Popper, mà chắc cũng chẳng nhớ ông Karl Marx đã dậy cái gì! Ông già 71 tuổi này chỉ căn cứ vào kinh nghiệm sống và trực giác của mình. Để thấy rằng không thể nào tin tưởng vào một lý thuyết phủ nhận tất cả, chỉ công nhận những vật chất thấy trước mắt là có thật mà thôi. Những giác quan của chúng ta, dù có được các dụng cụ tối tân hỗ trợ, cũng không thể nào biết tất cả mọi thứ được. Những người theo thuyết vô thần quả quyết họ biết tất cả, và biết tất cả chỉ là vật chất vô hồn. Chính đó là một thái độ phản khoa học.

Ban Tuyên Huấn đảng Cộng sản Trung Quốc đã làm một công việc vô ích khi lên lớp cấm các đảng viên không được tin vào tôn giáo nào cả. Họ sẽ làm khổ, bắt các đảng viên phải tìm cách giấu diếm, che đậy tôn giáo của họ, để khỏi bị phê bình kiểm thảo. Bây giờ đảng đã cho phép các đảng viên làm tư bản, tự do bóc lột sức lao động của các đồng chí vô sản. Tại sao đảng lại khó khăn bắt các đảng viên phải từ chối hay là che giấu niềm tin? Mà đó là niềm tin vào điều thiện, niềm tin vào cõi thiêng liêng, tin vào khả năng hướng thượng của con người; tại sao phải cấm?

Đó là chủ trương chính trị ở một xứ độc tài. Các lãnh tụ muốn toàn dân phải nhắm mắt theo ý họ, bắt dân tin những điều vô nghĩa. Thà rằng cứ làm chính trị theo lối ông Jim Sensenbrenner ở Wisconsin còn tốt hơn. Ông này vốn mập mạp, nghe bà Michelle Obama đi tới đâu cũng khuyên các học sinh nên ăn uống điều độ cho khỏi mập; ông tự nhìn xuống bụng mình chắc phải động lòng. Vì vậy mà ông mới nói, “Bà ơi, bà thử quay lại nhìn cái hậu phương lớn bà coi, có thấy nó cũng phì nhiêu quá cỡ hay không?”

Ít nhất một lời phát biểu như vậy có thể đem ra thử thách bằng quan sát, bằng thí nghiệm; khác hẳn lý thuyết vô thần của đảng Cộng sản. Nó giúp dân Mỹ có dịp giải trí, tha hồ ngắm nghía, đem bàn tán suốt ba ngày cuối tuần không chán về một đề tài hấp dẫn; nó không quặt quẹo khô khan như những lý thuyết của Mao hay Marx.

Posted: Wed Dec 28, 2011 12:35 am
by quaichao
Khi tiếng khóc chính là lời tố cáo

Trần Trung Đạo

Image
Tang lễ của Mẹ Theresa năm 1997 tại Ấn Độ

Dù dưới một quan điểm tôn giáo nào, sự có mặt của con người trên thế giới này chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn. Với tác giả bài viết này và có lẽ với nhiều độc giả, tiếng sóng vỗ vào thành ghe trong một đêm giông bão như vẫn còn vang vọng đâu đây nhưng đã hơn 30 năm rồi. Một triết gia đã viết, mỗi bước chân ta đi trong ngày là một bước gần hơn đến với ngôi mộ của mình.

Con người sinh ra đều trơ trụi giống nhau nhưng cuộc đời và cách chết đã làm họ khác nhau. Có những người chết đi để lại nhiều lợi lạc cho hậu thế, một cách sống đạo đức cho con cháu noi gương nhưng cũng có những kẻ chết đi, dù được che đậy dưới lớp hào quang giả tạo rực rỡ dường nào hay bức tường thành thông tin bưng bít dày đến bao nhiêu, tội ác của họ cũng có một ngày được phanh phui để lộ nguyên hình những ác nhân thời đại. Con khủng long chết 65 triệu năm trước vẫn được tìm ra, nói chi là con người. Lịch sử là lương tri và từ sơ khai đến hiện đại lịch sử luôn phán xét công bằng, cho đến nay chưa ai tránh thoát.

Một buổi sáng tháng Chín 1997, trên đường phố Calcutta, hàng triệu dân Ấn đứng dọc hai bên đường để tiễn đưa một nữ tu đã dâng hiến gần trọn đời mình cho lớp người cùng khổ. Con đường đó, từ 1929, nữ tu gốc Albany thuộc dòng Loreto Sisters đặt chân đến lần đầu khi mới 19 tuổi. Vỉa hè Calcutta là nơi nữ tu thường đến để ngồi an ủi những người đang chết. Không có ngay cả một viên thuốc, nữ tu chỉ biết cầm lấy bàn tay đầy máu mủ của bịnh nhân và xua đuổi đi bầy kiến đang bám lên vết thương đau nhức. Nhiều bịnh nhân đã đáp lại bằng cách mỉm cười thay cho lời cám ơn trước khi hắt ra hơi thở cuối cùng. Và những khu nhà ổ chuột Calcutta này là nơi chiều chiều nữ tu một tay cầm một chiếc khăn và tay kia cầm một cục xà phòng đến tắm cho trẻ em nghèo trong xóm. Nhiều năm sau, chính đám trẻ này là những người đầu tiên gọi nữ tu là mẹ. Mẹ Teresa như nhân loại biết hôm nay.

Ngày 5 tháng 9 năm 1997 mẹ không đến nữa vì hôm đó là ngày mẹ ra đi. Quan tài Mẹ Teresa được phủ quốc kỳ Ấn Độ thay vì Albania, nơi mẹ chưa một lần trở lại. Ngày đi, mẹ vẫn mặc chiếc áo vải trắng viền xanh Sari trị giá 1 rupee mẹ tự sắm cho mình sau khi chính thức rời khỏi dòng tu Loreto Sisters. Đoạn đường từ quảng trường Netaji, nơi tổ chức thánh lễ, đến Căn Nhà Của Mẹ, nơi mẹ sẽ yên nghỉ, chìm trong không khí tôn nghiêm trang trọng. Những em bé Ấn Độ tay cầm những bông hoa nhỏ vẫy chào. Tất cả đều cúi đầu khi quan tài do một chiếc xe kéo súng quân đội kéo ngang qua. Chính phủ Ấn dành cho mẹ một vinh dự đặc biệt vì chính chiếc xe kéo pháo cũ kỹ này đã kéo quan tài của Thánh Mahatma Ghandi ra nghĩa trang 1948. Nhân loại tiếc thương mẹ, nhân dân Ấn Độ biết ơn mẹ và chính những người cùng khổ ở Calcutta đang sắp hàng hai bên đường cám ơn mẹ, nhưng ngoài tiếng máy xe kéo pháo nhịp đều, không có một sự ồn ào nào khác. Trên xe, những nữ tu và người lính ngồi im lặng. Không ai khóc lớn, không ai than van, không ai lăn lộn, không ai kể lể. Niềm thương tiếc chân thành thánh thiện đã cô đọng thành ngọc bích và lắng sâu xuống tận đáy lòng. Sự ra đi của Mẹ Teresa và nhiều bậc vĩ nhân khác đơn giản như họ một lần đã ghé thăm hành tinh chúng ta.

Bên kia những cuộc chia tay đầy ắp tình nhân loại như thế là những cái chết của các lãnh tụ Cộng Sản đã diễn ra như những vở kịch được biên tập tất cả đặc tính bi, hài, tò mò, chân thành, giả dối đến tận cùng.

Trước tang lễ có một không hai của Kim Nhật Thành, tang lễ Stalin được xem như một tang lễ đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử tang lễ các lãnh tụ Cộng Sản. Ngày 9 tháng 3 1953, hàng triệu người tập hợp tại Hồng trường để chào vĩnh biệt “đại nguyên soái” Joseph Stalin của họ. Theo chi tiết ghi lại trong trang web của báo Pravada, cũng như theo mô tả của Brenda Haugen trong tác phẩm Joselp Stalin: Dictator of the Soviet Union, khoảng 500 người chết chỉ vì chen lấn nhau để đến gần khán đài. Tại Việt Nam vì xa xôi cách trở không tham dự được nhưng cũng “làng trên xóm dưới xôn xao” khi nghe tin “Ông mất” và ít ra cũng có Tố Hữu đã khóc đến mức “xé ruột, xé lòng” trong bài thơ Đời đời nhớ ông bất hủ. Cảnh khóc than thê thảm tương tự đã diễn ra tại Thiên An Môn 1976, Hà Nội 1969 với những cô công nhân mặt sưng húp vì mấy ngày đêm khóc không còn nước mắt. Nếu những tên đô tể Nicolae Ceausescu không bị xử bắn, Pol Pot không chết trong rừng, Erich Honecker không chết trong lưu đày, tang lễ của họ hẳn cũng ngập đầy nước mắt.

Và mới đây, các cơ quan truyền hình trên thế giới đồng loạt đưa tin về cái chết đột ngột của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật và lồng trong các bản tin là cảnh hàng trăm ngàn người dân Bắc Hàn, từ cụ già đến em bé, từ thiếu nữ đến thanh niên đều khóc thê thảm, khó lăn lộn, khóc đến ngất xỉu. Theo tin chính thức của Bắc Hàn, đã có năm triệu người, tức hơn hai mươi phần trăm dân số, bằng nhiều cách bày tỏ lòng thương tiếc dành cho lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật. Các cơ quan truyền thông quốc tế dành nhiều thời gian để tìm hiểu về hiện tượng khóc rất lạ đời này. Son Jeong Hun, trước đây vượt thoát từ Bắc Hàn cho biết “Nếu bạn không khóc một cách công khai, bạn bị xem là có thái độ sỉ nhục lãnh tụ và có thể bị kết án chống lại nhà nước”. Tuy nhiên, trong lúc rất nhiều người phải khóc, khóc không ra nước mắt, cũng có rất nhiều người đã khóc một cách chân thành chỉ vì các vi trùng tôn thờ cá nhân ăn sâu vào nhận thức và họ đã bị hoàn toàn tẩy não.

Tại Bắc Hàn, mỗi gia đình đều có một bức ảnh của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Ban kiểm tra hình lãnh tụ theo định kỳ đến khám xét từng nhà. Gia chủ sẽ bị phạt nếu hình của cha con họ Kim không được lau chùi đúng tiêu chuẩn. Bịnh tôn thờ lãnh tụ tại Bắc Hàn trầm trọng đến nỗi người dân có thể chết chỉ để bảo vệ bức ảnh của “cha già dân tộc”. Theo hồ sơ tội ác của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật do giáo sư Grace M. Kang chuẩn bị để truy tố trước tòa án quốc tế, ngày 4 tháng Sáu 1997 một chiếc ghe đánh cá bị sóng đánh chìm, thủy thủ trên ghe đã buộc chân dung của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật vào phao cấp cứu để hai bức ảnh khỏi chìm trong lúc các thủy thủy đã chết đuối. Khi hai bức ảnh được hải quân Bắc Hàn tìm được, những thủy thủ bị chết đuối được tặng danh hiệu Anh Hùng Cộng Hòa. Ngoài ra, tạp chí Times cũng đã tường thuật một trường hợp hỏa hoạn ở Bắc Hàn, chủ nhà đã lo cứu bức ảnh trước khi cứu con mình. Tháng 4/2003, theo tạp chí Economist, một chiếc xe lửa ở Bắc Hàn không may chạy trật đường rầy và đụng vào một toà nhà lớn, cả xe lửa lẫn toà nhà đều bốc cháy, hàng trăm khách trong xe, người trong toà nhà vừa chết vừa bị thương. Thế nhưng khi những người dân Bắc Hàn tới cứu, họ đã cố tìm cách dập tắt ngọn lửa đang đốt cháy tấm chân dung lớn của Kim Chính Nhật treo trên toà nhà trước khi cứu chữa những người bị thương đang sắp chết cháy trong nhà.

Người dân Bắc Hàn không có cùng một ý niệm về không gian và thời gian như phần còn lại của nhân loại. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD và thay vào đó bằng lịch Juche, lấy năm sinh của ông ta làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là năm Juche 99. Trong một bài bình luận của Rodong Sinmun, cơ quan thông tin chính thức của Đảng Công nhân Triều Tiên phát hành ngày 31 tháng 8 năm 1997, viết về Kim Chính Nhật: “Nhân dân Triều Tiên tuyệt đối tôn kính, tin tưởng và theo chân Tướng Quân như Thượng Đế. Tư tưởng quý giá này căn cứ vào sự kiện rằng họ đã cảm nhận một cách sâu sắc sự vĩ đại của Tướng Quân từ đáy lòng họ. Tướng Quân là thầy giáo vĩ đại dạy nhân dân Triều Tiên ý nghĩa thật sự của cuộc sống, là người cha đã ban cho họ đức tính liêm khiết chính trị quý giá và là một ân nhân có trái tim nồng ấm dịu dàng, đã mang đến cho nhân dân Triều Tiên niềm hạnh phúc trọn vẹn… Tướng Quân là cây trụ tinh thần và là vầng thái dương vĩnh cửu của nhân dân Triều Tiên“.
Image
Dân chúng Bắc Hàn khóc trước cái chết của Kim Chính Nhật

Một số nhà phân tích tâm lý cho rằng, vấn đề không phải người dân Bắc Hàn khóc thật hay khóc giả nhưng chỉ việc khóc một cách tự nhiên và công khai trước ống kính truyền hình đã cho thấy khả năng của chế độ kiểm soát hành vi của người dân chặt chẽ đến chừng nào. Bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản Bắc Hàn đã biến toàn xã hội thành một đại gia đình trong đó Kim Nhật Thành là ông nội, Kim Chính Nhật là cha già, và Kim Jong Un đang là đích tôn gia trưởng. Các bức hình trẻ em vui mừng ngồi trên đùi Kim Nhật Thành hay những cặp vợ chồng mới cưới thay vì đến nhà thờ hay chùa, đã đến trước tượng Kim Nhật Thành làm lễ ra mắt tổ tiên cho thấy mối quan hệ giữa quần chúng và lãnh tụ đã vượt qua mối quan hệ chính trị bình thường để trở thành mối giây thiêng liêng bền bỉ rất thích hợp với văn hóa Á Đông.

Trong lúc, theo Katharina Zellweger, giám đốc cơ quan thiện nguyện Thụy Sĩ có văn phòng tại Nhưỡng Quang, mỗi người dân Bắc Hàn chỉ được cấp tiêu chuẩn thực phẩm 150 gram mỗi ngày và rất đông người quá đói phải ra đồng đào rễ, cắt cỏ và hái lá để ăn, gia đình Kim Chính Nhật sống như một đế vương. Theo hồi ký “Tôi từng là đầu bếp của Kim Chính Nhật” (I Was Kim Jong Il’s Cook) của đầu bếp Nhật Bản từng phục vụ Kim Chính Nhật và ký dưới tên Kenji Fujimoto, món ăn khoái khẩu của họ Kim là sushi với tôm tươi. Các thức ăn phục vụ Kim được chọn lựa theo đặc sản của mỗi nước như thịt heo Đan Mạch, đồ biển Nhật, bia Tiệp Khắc, chuối Thái Lan, đu đủ Mã Lai… Kim Chính Nhật là kẻ nghiện rượu vang. Hầm rượu của y có khoảng 10,000 chai. Theo hồ sơ của BBC trong thượng đỉnh năm 2000 tiếp cựu Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trọng, Kim Chính Nhật đã uống 10 ly rượu vang. Phòng phim của Kim Chính Nhật chứa khoảng 20,000 phim, trong đó Rambo và Jame Bond là những bộ phim y thích nhất. Gia đình họ Kim không thiếu một món giải trí nào từ sân bóng rổ đúng NBA tiêu chuẩn, xe gắn máy trượt tuyết, giàn karaoke… Cũng theo lời kể của đầu bếp Kenji Fujimoto, Kim Chính Nhật nuôi chó đầy đủ hơn nuôi dân. Trong nạn đói, những nhân viên coi chó cho y đã phải ăn trộm thức ăn của chó để ăn. Bị bắt được, toán trưởng bị đày hai năm trong trại tập trung và các đội viên mỗi người bị đày một năm.

Nhân dân Bắc Hàn không biết đời sống xa hoa và tánh tình bịnh hoạn của Kim Chính Nhật. Với đa số người dân Bắc Hàn, Kim Chính Nhật từ khi còn sống cho đến lúc qua đời là thần thoại diệu kỳ. Cơ quan truyền hình chính thức của Bắc Hàn KCNA cho biết trước giờ họ Kim chết, đỉnh núi thánh Bạch Đầu Sơn (Paektu) được bao phủ bằng một ánh sáng màu đỏ rực đầy huyền bí. Cũng theo KCNA, không chỉ nhân dân Triều Tiên hay loài người mà cả trời đất cũng tiếc thương trước cái chết của lãnh tụ kính yêu. Nói theo kiểu Tố Hữu của Việt Nam là “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Mobutu Sese Seko trước đây được là người có những danh xưng rất độc đáo như “Nhà cứu rỗi dân tộc”, “Cha già dân tộc” v.v… nhưng so với cha con họ Kim, Mobutu chỉ đáng là học trò. Tại Bắc Hàn, Kim Chính Nhật ngoài các danh dự được gọi hàng ngày như “Lãnh tụ kính yêu”, “Đồng chí vĩ đại”, “Tư lịnh tối cao” v.v… còn được gọi trong tiểu sử chính thức là “Con trời”, “Ngôi sao sáng của đỉnh Bạch Đầu Sơn”.

Với các bằng chứng tẩy não tinh vi như vậy, việc dân Bắc Hàn khóc thật cũng chẳng phải là chuyện lạ.

Nhân dịp bàn chuyện khóc lóc của người dân Bắc Hàn, thử phân tích một số lý do tại sao chế độ Cộng Sản có thể tồn tại lâu dài hơn nhiều chế độ độc tài khác trong lịch sử nhân loại thời hiện đại. Một số lý do trực tiếp liên hệ đến Bắc Hàn trong khi một số lý do khác là lý do tổng quát chung cho cả phong trào Cộng Sản.

Lý do thứ nhất là bộ máy kiểm soát chính trị và xã hội. Đảng Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ toàn bộ cơ cấu xã hội một cách tinh vi, từ các đơn vị nhỏ đến các ban ngành lớn. Cơ quan tuyên truyền trung ương đảng kiểm soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh, truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi tác giả viết bài cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Bức tường bưng bít thông tin dày nhiều lớp như thế đã che đậy tội ác ngập trời của các lãnh tụ Cộng Sản. Giáo sư Brian Reynolds Myers giảng dạy môn nghiên cứu quốc tế tại đại học Dongseo University in Busan, South Korea cho biết ngoài một rất ít lén lút mua được vài bộ phim Nam Hàn, máy truyền hình Trung Quốc, tuyệt đại đa số sản phẩm văn hóa nghệ thuật là sản phẩm của tuyên truyền. Các tác phẩm phim ảnh được duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết nào đi ngược với đường lối của Đảng.

Lý do thứ hai vì họ chỉ giết chính nhân dân nước họ. Không giống chế độ độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng sản các nước thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với họ. Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ Pol Pot. Tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh vào đầu bằng cuốc. Tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một lý do riêng vào tháng Giêng 1978, không một quốc gia nào kể Liên Hiệp Quốc có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot. Khi một chế độ có toàn quyền sinh sát với nhân dân, họ cũng có điều kiện để tồn tại lâu dài. Giống như Pol Pot, cha con Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật đã can tội diệt chủng và chống lại nhân loại. Theo ước lượng của báo chí ít nhất một triệu người đã chết trong các trại tù Bắc Hàn từ ngày đình chiến đến nay. Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết khoảng 150 ngàn đến 200 ngàn người vẫn còn đang bị ở tù. Ngoài ra, khoảng 2.5 triệu người dân Bắc Hàn đã chết trong các nạn đói từ 1990.

Lý do thứ ba, cũng khác với các lãnh tụ Đức Quốc Xã thường bị truy tố ngay sau chiến tranh, tội ác của các lãnh tụ Cộng sản còn được che dấu một cách tinh vi, có hệ thống dưới các nhãn hiệu vô cùng tốt đẹp như “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến tranh chống Phát Xít Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp, Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được đề cao đến độ nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi lịch sử loài người. Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội tác tày trời khác đã trở thành trộm vặt. Chỉ trong vòng vài năm sau ngày tuyên bố “Nhân dân Trung Hoa đã đứng lên” 30 triệu “nhân dân” đã bị giết trong hàng loạt các chiến dịch chống hữu khuynh, trăm hoa đua nở, bước tiến nhảy vọt, công xã nhân dân, cách mạng văn hóa. Tội ác của Mao chống lại nhân dân Trung Hoa nói riêng và loài người nói chung vượt qua con số do Hitler, Stalin và Leopold II cộng lại. Tương tự tại Hà Nội chỉ vài năm sau ngày “tôi nói đồng bào nghe rõ không”, nhiều vạn “đồng bào” đã không còn cơ hội nghe rõ nữa vì họ đã chết một cách oan ức trong các cuộc đấu tố vô cùng tàn ác.

Lý do thứ tư, ngoại trừ trường hợp Khrushchev, ít khi nào một lãnh đạo Cộng sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước, bởi vì làm như thế là tạo chỗ hở cho kẻ thù chung tấn công vào chế độ. Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình. Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của Đặng Tiểu Bình đã chết một cách thê thảm khi bị ném từ cửa sổ xuống đường. Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm quyền hành, họ Đặng vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng mà cá nhân y vô cùng căm hận. Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của kẻ từng điều khiển bộ máy giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, là một trong số rất ít lãnh đạo Cộng sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền lực trung tâm là một yếu tố sinh tử không thể phủ định của chế độ Cộng Sản. Điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo.

Lý do thứ năm, các lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng vị trí của kẻ thù đã chết. Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông. Lấy trường hợp Che làm ví dụ. Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thất khó tưởng tượng ông ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước, Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương. Sự khác biệt của Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ quyền lực.

Lý do thứ sáu, che đậy tội ác của nhau. Thật vậy, nếu không chính từ cửa miệng Khrushchev nói ra trong diễn văn dài 4 giờ đồng hồ giữa khuya ngày 2 tháng 5/1956 trước đại hội lần thứ 20 đảng Cộng sản Liên Xô, có thể sau khi chế độ Xô Viết sụp đổ, nhân loại mới biết Stalin là “một người luôn ngờ vực một cách bịnh hoạn… Sự hoài nghi bịnh hoạn đó làm cho Stalin không tin tưởng ngay cả những lãnh đạo cao cấp đã từng làm việc với y nhiều năm. Nhìn đâu Stalin cũng thấy những “kẻ thù”, “những người hai lòng dạ”, “gián điệp””. Theo Khrushchev, Stalin đã dùng “tất cả các phương tiện lừa dối, xây dựng vinh quang cho chính bản thân y”. Khrushchev kể, năm 1948, tác phẩm “Tiểu Sử Ngắn” của Stalin được trình lên cho y coi lại trước khi in “Stalin không có một sự tự trọng tối thiểu nào khi tự sửa đổi bản thảo để gọi chính mình là lãnh tụ vĩ đại, nhà chiến lược siêu phàm của mọi thời đại và sửa bất cứ đoạn nào ca ngợi y không đủ”. Ở Việt Nam cũng có chuyện lãnh tụ tối cao tự ca ngợi đời mình như thế.

Thật vậy, nếu không phải do chính cửa miệng Nuon Chea, Anh Hai (Brother Number Two) của Khờ Me Đỏ, sau Anh Cả Pol Pot thốt ra, thế giới không biết lý do hàng triệu người dân Cambode bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Tên đao thủ phủ Nuon Chea khi trả lời không hiện ra trên khuôn mặt một dấu hiệu xót thương, hối tiếc, dường như ông ta vừa giết một con gà, con vịt chứ không phải 1,7 triệu người trong một đất nước chỉ có 7 triệu dân. Chỉ trong thời gian 4 năm từ 1975 đến 1979, 21%, dân Cambode đã bị giết bằng các hình thức vô cùng thảm khốc, kể cả cắt cổ, chặt đầu, gây thương thích và để chảy máu cho đến chết. Những chi tiết trong hồ sơ tòa án do Liên Hiệp Quốc bảo trợ về nhà tù Tuol Sleng hay được gọi theo mã số S-21sẽ mãi mãi ám ảnh trong lịch sử Cambode. Phần lớn tù nhân tại S-21 bị giết sau thời gian tra tấn bằng các thủ đoạn tàn độc như xẻ thịt, đổ rượu vào vết thương. Trong số 17 ngàn tù nhân tại Tuol Sleng chỉ có 7 người sống sót. Trong phiên tòa hôm 8 tháng 12/2011, thậm chí Nuon Chea còn phản đối dư luận dám nói xấu đảng Cộng sản: “Khờ Me Đỏ không phải là những người xấu đâu nhé”.

Nếu không phải do chính ngòi bút của Hoàng Tùng, nguyên bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và là một trong số rất ít người gần gũi với Hồ Chí Minh nhiều năm viết ra có lẽ còn rất lâu người dân Việt Nam mới biết Hồ Chí Minh không những biết trước mà còn là người bỏ lá phiếu quyết định xử tử bà Nguyễn Thị Năm: “Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. ”Nếu trong buổi họp đó, với tư cách Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương đảng và người có quyền lực tối thượng bao trùm lên cả đám đệ tử “đa số” kia trong bộ chính trị, Hồ Chí Minh quyết định khác đi, chẳng những số phận của người phụ nữ yêu nước, cống hiến con cái của mình, tài sản của mình cho cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp đầy gian khổ của dân tộc không phải chết một cách oan ức mà còn cứu mạng nhiều ngàn người dân vô tội khác trong những lần đấu tố sau đó. Tòa án lịch sử dân tộc Việt Nam hôm nay và ngàn đời sau phán xét ông Hồ không phải dựa vào việc ông ta “cho là phải” hay “cho là không phải” khi giết bà Nguyễn Thị Năm nhưng ở chỗ ông ta đã quyết định bỏ phiếu “theo đa số”. Lá phiếu của ông Hồ chính là viên đạn bắn vào đầu bà Nguyễn Thị Năm.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới hết. Chiến tranh lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung Hoa là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn. Người dân Bắc Hàn khóc vì sợ hãi, giả dối, bắt buộc hay bị tẩy não, đều đáng thương, đáng được cảm thông hơn là đáng trách hay đáng cười khinh rẻ. Những giọt nước mắt đó trước lương tâm nhân loại chính là những lời tố cáo hùng hồn về một chế đô phi nhân đang tồn tại ở Á Châu.

© 2011 Trần Trung Đạo & Đàn Chim Việt

Posted: Thu Dec 29, 2011 5:44 am
by tankhoasinh
Tổng thống Hàn Quốc :
Một tấm gương sáng để các nhà lãnh đạo nên đọc để Suy nghĩ với lương tâm


Tuổi thơ cùng khổ của Tổng thống Hàn Quốc

Tổng thống kể lại quãng đời tuổi thơ gian khó cũng như nguồn cảm hứng để ông có thể làm việc hết mình khi ở đỉnh cao quyền lực.


Từ ngày 1.11, cuốn hồi ký bằng tiếng Anh The Uncharted Path (tạm dịch: Lối đi không dấu chân người) của Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak được xuất bản tại Mỹ, theo Korea Times. Sách phần lớn được dịch từ cuốn hồi ký bằng tiếng Hàn " Không có thần thoại "được xuất bản vào năm 1995, nhưng có thêm những câu chuyện từ khi ông Lee rời Tập đoàn Hyundai để làm thị trưởng Seoul rồi làm tổng thống cho đến nay.
Image
Ông Lee Myung-bak khi còn học trung học cơ sở - Ảnh: Korea Times
Uống nước để lấp bao tử

Trong cuốn hồi ký, ông Lee kể rằng vào tháng 8.1945, khi quân Nhật bị đánh bại, gia đình ông Lee rời khỏi Osaka, Nhật Bản để trở về thành phố Pohang, đông nam bán đảo Triều Tiên. Trên đường về, phà chở gia đình ông cùng nhiều người khác bị lật, rất may mọi người được cứu sống nhưng tất cả tài sản mà họ dành dụm được đều bị cuốn trôi. Khi đó cậu bé Lee Myung-bak mới 4 tuổi. Đến khi chiến tranh Triều Tiên xảy ra vào năm 1950, cha ông mất việc, gia đình phải chuyển đến một ngôi đền cũ dưới chân núi để trú ngụ cùng nhiều gia đình khác. Ông Lee nhớ lại: “Xung quanh chúng tôi là tiếng khóc của trẻ con, tiếng cãi vã của người lớn và tiếng rên rỉ của người bệnh đang nằm. Cái khổ nhất phải chịu đựng là cơn đói triền miên. Đói tới quặn ruột”.

Trong những ngày đó, bữa ăn của gia đình ông chủ yếu là bã rượu vì đó là thứ mà gia đình có khả năng mua. Khi đến trường, ông không có cơm trưa để ăn. “Trong lúc những đứa trẻ khác ăn trưa, tôi hay đi đến vòi nước để lấy nước lấp đầy bao tử. Tôi nhớ rằng mình đã uống nước đến khi bụng trương lên, và rồi nhận ra dù uống bao nhiêu đi nữa, nước không bao giờ làm bạn no. Vào những ngày đóng học phí, tôi hay bị kêu về nhà để lấy tiền đóng. Mỗi khi việc này xảy ra, tôi chỉ đi lên ngọn đồi phía sau trường và đứng ở đó một lát, vì về nhà cũng chẳng có tiền. Sau một lúc thì tôi trở lại trường và xin giáo viên cho gia hạn”.

Ông không có tiền đi học là do ba ông từ khi còn làm ở Nhật đã gửi tiền cho bác để nuôi con bác ấy ăn học. “Tôi không trách ông ấy, nhưng khi nhìn lại quả thật đó là thời gian khó nhọc đối với trẻ con. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Thay vào đó, cái nghèo đã làm cho chúng tôi mạnh mẽ hơn”. Trước khi vào lớp 5, Lee Myung-bak đã làm mọi thứ để kiếm tiền, như làm que diêm và bánh bán cho binh sĩ. Ông thường chịu đói nhưng vẫn tiếp tục đi học, dù mỗi ngày phải đi bộ tới 4 giờ.

Bị liệt vào danh sách đen

Khi còn là sinh viên, chàng thanh niên Lee Myung-bak từng phải ở tù về tội “kích động chống nhà nước”. Sau khi ra tù, ông được tốt nghiệp mà không cần phải hoàn tất những môn học bỏ lỡ. Ông giải thích: “Lý do là họ muốn tống tôi ra khỏi trường càng nhanh càng tốt vì không muốn tôi gây thêm rắc rối”. Cũng do có tiền án, ông đã nộp đơn vào nhiều công ty nhưng không qua được vòng phỏng vấn vì
Sau đó, ông viết thư gửi Tổng thống lúc đó là Park Chung-hee. “Trong thư, tôi giải thích tại sao tôi trở thành chủ tịch hội đồng sinh viên và hướng dẫn các cuộc biểu tình. Tôi chỉ ra rằng mình tìm việc rất khó khăn. Tôi kết thúc thư bằng cách chỉ trích gay gắt hành vi của nhà nước trong việc xem quá khứ để cản tôi thực hiện ước mơ”, ông viết.

Vài ngày sau, ông được ông Lee Nak-sun, thư ký của Tổng thống Park hẹn gặp. Thư ký Lee nói rằng ông đáng bị trừng phạt để làm gương cho những sinh viên muốn biểu tình chống chính phủ. Tuy nhiên, kết thúc cuộc gặp, ông Lee hỏi ông có muốn đi du học theo học bổng nhà nước hoặc làm việc tại công ty nhà nước hay không. “Tôi đáp lại là không. Tôi không thể chấp nhận củ cà rốt mà chính phủ ban phát cho tôi... Trước khi chúng tôi chia tay, tôi nói với ông ấy: Nếu nhà nước cản trở một công dân tự kiếm sống thì tôi phải nói rằng nhà nước đã nợ công dân đó rất nhiều. Tôi mong ông nhớ điều đó”. Đến tháng 7.1965, ông được nhận vào làm nhân viên của Công ty xây dựng Hyundai sau khi qua vòng phỏng vấn và trở thành Chủ tịch Hyundai vào năm 1988.

“Tiếp tục phục vụ”

Đến năm 1992, ông Lee rời công ty để bước chân vào con đường chính trị, gia nhập đảng Tự do Dân chủ. Ông đắc cử chức Thị trưởng Seoul năm 2002 và sau đó giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 19.12.2007. Ngay sau khi nhận được chi phiếu tiền lương đầu tiên cho chức vị tổng thống của mình vào ngày 10.3.2008, ông lập tức tuyên bố dành toàn bộ lương hằng tháng (khoảng 14 triệu won - tương đương hơn 210 triệu đồng) để tặng cho người nghèo trong suốt nhiệm kỳ 5 năm.

Đến tháng 7.2009, ông công bố thành lập một quỹ từ thiện trong đó ông ủng hộ 33,1 tỉ won (gần 500 tỉ đồng). “Tôi không bao giờ quên được những người đã chìa tay ra giúp đỡ cậu thanh niên nghèo vượt qua khó khăn trong khi họ cũng nghèo. Và tôi biết đối với tôi, cách tốt nhất để đền đáp lại lòng tốt đó là cho lại xã hội những gì tôi kiếm được”, Korea Times dẫn lời ông Lee. Trong cuốn hồi ký mới, ông cho biết sẽ dùng quỹ từ thiện này để hỗ trợ những thế hệ trẻ đang chịu cảnh nghèo như ông đã gặp cách đây 5 thập niên.

Ông Lee, 69 tuổi, tiết lộ rằng bà mẹ quá cố của ông có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời ông. Bà luôn muốn các con mình làm việc chăm chỉ, phục vụ và thương yêu người khác. Có lẽ vì thế mà ông chia sẻ: “Trong những ngày còn lại của nhiệm kỳ, tôi sẽ luôn nhớ vinh dự lớn là phục vụ. Sau khi về hưu, tôi sẽ tiếp tục phục vụ... Tôi sẽ tham gia việc giáo dục trẻ con về tầm quan trọng của sự phát triển xanh, bền vững và việc bảo vệ môi trường”.

Posted: Fri Dec 30, 2011 2:31 am
by KýCóp
Putin đánh mất sự nhạy cảm chính trị
Tác giả: Mạc Việt Hồng
Lời người dịch: Nhiều người ngờ rằng, một cuộc cách mạng đang diễn ra ở Nga khi người dân bất chấp giá lạnh, hết lần này tới lần khác, xuống đường biểu tình. Lần sau đông hơn lần trước. Cuộc biểu tình hôm thứ Bẩy vừa qua theo một số đánh giá khác nhau, khoảng từ 80 tới 120 ngàn người đã tham dự.

Hiện trên các trang blog ở Nga đang xuất hiện lời kêu gọi biểu tình mới, dự tính vào 14/1/2012 này. Con số người xuống đường, theo các blogger, có thể tới nửa triệu thậm chí hơn nữa.

Putin và Medvedev đã có những động thái nhún nhường nhất định song không làm vừa lòng công chúng cũng như phe đối lập.

Hôm qua, Putin đăng đàn phát biểu công kích phe đối lập là không có chương trình hành động và thiếu người lãnh đạo đồng thời lên tiếng bác bỏ yêu cầu hủy bỏ kết quả cuộc bầu cử Quốc hội hôm 4/12. Ông nói thêm rằng, việc hủy bỏ này phải do Tòa án quyết định, trong khi Tòa đã loại bỏ những đòi hỏi của phe đối lập ngay cả khi nếu phe này đưa ra bằng chứng.

Putin cũng hứa hẹn “sẽ trung thực tuyệt đối” trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng Ba tới này. Nhưng liệu còn mấy ai tin nữa không?

Trong một diễn biến khác, được đánh giá là “vô cùng đặc biệt”, Giáo hội chính thống ở Nga đã lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ với những người biểu tình. Giới chức sắc tôn giáo ở Nga vốn có tiếng là bảo thủ và luôn đứng về phía nhà cầm quyền nên động thái này đang gây sự chú ý của dư luận.

Những diễn biến mới nhất ở Nga cho thấy bài toán mà ông Putin đang giải không đơn giản như những toan tính ban đầu của ông và độc tài bị chối bỏ bất kể mầu da, sắc tộc.

Chúng ta hãy cùng theo dõi phân tích của nhà báo Nga, Ivan Preobrazhenski, qua phần phỏng vấn của Marcin Wojciechowski- một nhà báo kỳ cựu của Gazeta Wyborcza.
Image
Putin bị người dân khoác bao cao su lên đầu. Ảnh Reuters
Điều gì sẽ xảy ra với nước Nga?

Ivan Preobrazhenski: Tôi hy vọng rằng, từ những cuộc biểu tình này sẽ hình thành nên một phong trào phản ứng dân sự đích thực. Chính quyền cũng như một số người người lãnh đạo biểu tình nào đó đang cố gắng chia rẽ phong trào ra thành những khuynh hướng chính trị. Đó là một cố gắng vô vọng. Putin cho đến giờ vẫn không hiểu những gì đã xảy ra hôm thứ Bẩy. Ông ta cứ nghĩ rằng, vài ba sự cố bất lợi này sẽ được giải quyết thông qua các cuộc nói chuyện trước kỳ bầu cử vào tháng Ba và rồi tình hình sẽ trở lại bình thường.

- Liệu có trở lại bình thường được không?

Tôi nghĩ rằng không. Với một bộ phận người xem truyền hình, có thể chính quyền vẫn thuyết phục được họ rằng, biểu tình được lấy cảm hứng từ Mỹ, rằng do tình báo Mỹ giật dây. Nhưng thật là thú vị, chính quyền không thể đem CIA ra dọa chúng tôi được nữa. Kẻ thù chính hiện nay chính là chính quyền Liên bang.

Chính quyền đã sử dụng những cách [đe dọa] như trên, song các cuộc biểu tình vẫn mạnh lên, chứ không yếu đi. Chắc chắn, khoảng 100 ngàn người dân Moscow đã tham gia biểu tình, khiến uy tín của Putin thực sự giảm sút.

Tôi cho rằng, một nửa các địa phương của Nga hiện không còn coi Putin là anh hùng giống như trước kia nữa. Hơn nữa, cảm nhận của các địa phương thậm chí còn cấp tiến hơn ở Moscow. Ở các địa phương đó, người dân có những đòi hỏi cụ thể về xã hội cũng như trên phương diện cá nhân. Họ thường nhìn xa trông rộng hơn dân thủ đô- nơi người dân chỉ biểu tình hòa bình dưới bóng của một lực lượng tinh túy nào đó chứ không muốn làm cách mạng thực sự.

Ở các tỉnh, người dân sẵn sàng ‘bứng’ đi một số thống đốc và thanh toán những kẻ lâu nhâu xung quanh, những kẻ này thường nắm quyền tối cao ở các địa phương.

- Có gì khác nhau giữa những người ủng hộ và những người phản đối trong các cuộc biểu tình này?

Những ngưởi phản đối dựa vào những hiểu biết về thế giới từ Internet và các trang mạng độc lập. Ngược lại, người ủng hộ tin vào thông tin từ truyền hình nhà nước và luận điệu của họ về một âm mưu của Mỹ tiếp tay cho phe đối lập làm cuộc cách mạng mới ở Nga.

- Tại sao Putin ngày hôm qua lại một lần nữa phê phán phe đối lập?

Ông ta đã đánh mất sự nhạy cảm. Ai cũng thấy rõ, cuộc bầu cử tháng Ba tới không lương thiện. Mọi người không còn tin tưởng vào những lời hứa của Putin, rằng cuộc bầu cử sắp tới sẽ khác đi. Để công bằng, cần có sự tham gia của những ứng viên thực sự trong lực lượng đối lập. Rõ ràng, hiện giờ Tòa án bác bỏ hồ sơ của phe đối lập thậm chí ngay cả khi họ có những bằng chứng về sự bầu cử gian lận vừa qua. Lấy gì để đảm bảo rằng, 3 tháng nữa, mọi thứ lại trung thực?

- Nhưng việc đăng ký ứng cử viên đã kết thúc rồi. Cái bây giờ có thể làm là ngăn chặn hoặc cải thiện bộ máy bầu cử?

Có thể thay đổi những quy định bầu cử. Tuy nhiên, nếu thực hiện điều này trong quá trình tranh cử thì không phù hợp với pháp luật và gây tranh cãi. Cũng có thể lui lại thời hạn bầu cử, khi mà tất cả các ứng cử viên tự nguyện rút lui khỏi việc tranh cử. Trong lúc đó, có thể thay đổi các điều khỏan bầu cử và tiến hành một cuộc bầu cử công bằng sau 1, 2 tháng nữa với sự tham gia đầy đủ của các ứng viên đối lập. Nếu Putin thực sự muốn có một kỳ bầu cử công bằng thì ông ta phải thực hiện điều này.

Theo tôi, người dân sẽ vẫn tiếp tục xuống đường cho tới khi những đòi hỏi của họ được hiện thực. Ngày nay việc bãi nhiễm chủ tịch Ủy ban bầu cử nhằm giảm bớt căng thẳng không còn thuyết phục được ai nữa.

- Điều gì sẽ xảy ra, nếu Putin vẫn tiếp tục dẫn phiếu trong cuộc bầu cử sắp tới và lại trở thành tổng thống?

Thì các cuộc biểu tình phản đối sẽ mạnh mẽ hơn nhiều. Việc gian lận kết quả bầu cử quốc hội vừa qua, thực ra chính quyền đã “làm hại” Putin. Nếu kết quả Duma hôm 4/12, đảng Nước Nga Thống Nhất chỉ thắng 35% thay vì 48,5% và phải lập liên minh với đảng của Zhirinovsky (Đảng Dân chủ Tự do Nga viết tắt là LDPR- ND) hay đảng Công lý Nga thì đã không ai xuống đường làm gì.

Nhưng ai đó trong bộ máy chính quyền đã cố gắng hết sức để chứng tỏ rằng, đảng Nước Nga Thống Nhất không thể bị bất cứ thất bại nào, khiến cho bây giờ Putin đang gặp phải những vấn đề lớn. Thực ra, quyết định gian lận bầu cử có thể là một hành động khiêu khích nhằm chống lại Putin, nhưng ông ta đã không nhìn thấy nó.

- Liệu Putin có lý hay không, khi nói rằng lực lượng đối lập không có lãnh đạo và thiếu vắng một chương trình nghị sự?

Điều đó không có ý nghĩa gì cả. Chúng ta có thể thấy, đang hình thành một phong trào dân sự, chứ không phải là chính trị. Nhưng nếu chính quyền vẫn cư xử như hiện nay, thì không lâu nữa, số người xuống đường không phải là 100 ngàn đâu, mà có thể là nửa triệu.

- Đám thân cận của Putin sẽ sát cánh cùng ông ta tới phút cuối không, hay sẽ rời bỏ khi nhận ra rằng, Putin không còn làm chủ được tình hình nữa?

Những người thân cận đó có thể chia ra làm 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là những cá nhân độc lập, có một vị trí nhất định trong chính trường như cựu bộ trưởng Tài chính Alexei Kudrin hoặc cựu Chủ nhiệm văn phòng Tổng thống Vladislav Surkov. Nhóm thứ hai là những người chịu ơn Putin và biến mình thành tay sai như Igor Sechin hay phó thủ tướng Igor Shuvalov. Nhóm này có thể sẽ ở bên Putin đến cuối cùng, nhưng vào thời điểm quan trọng nào đó, họ cũng có thể bán đứng Putin để đổi lấy sự an toàn cho bản thân và tài sản của mình.

- Còn những người biểu tình, họ là ai?

Những người biểu tình hôm thứ Bẩy phần lớn ở vào lứa tuổi từ 18 tới 40, nhiều người trong đó có trình độ cao và một phần tư điều hành các doanh nghiệp tư nhân. Đây là kết quả của cuộc khảo sát xã hội do một trung tâm của nhà nước có tên là WCIOM tiến hành ngay tại cuộc biểu tình hôm thứ Bẩy. Theo đó, 66% số người nhận được thông tin về biểu tình từ Internet. 89% khẳng định sẽ tham gia lần biểu tình tiếp theo. Hơn 70% khẳng định sẵn sàng làm quan sát viên trong cuộc bầu cử Tổng thống tới đây, còn 98% số người được hỏi nói, họ sẽ xuống đường nếu kỳ bầu cử tới tiếp tục bị gian lận.

Phần phỏng vấn của Wyborcza.
© Đàn Chim Việt

Posted: Tue Jan 03, 2012 12:57 am
by khieulong
Ron Paul, ngôi sao chợt sáng

Ngô Nhân Dụng


Cuối năm 2008 tôi có mặt ở tiểu bang Iowa vài tuần trước cuộc bỏ phiếu sơ bộ, đi đâu cũng thấy các tấm biển quảng cáo tên các ứng cử viên.

Bên Dân Chủ là những bảng tên bà Clinton và ông Obama; còn bên Cộng Hòa thì rất nhiều: John McCain, Mitt Romney, Newt Gingrich, Ron Paul và Huckabee. Năm nay, hình ảnh thấy khác hẳn. Bên Dân Chủ không có ai quảng cáo vì không cần chọn. Nhưng phía Cộng Hòa, cũng chỉ thấy những tấm biển mầu tím xám nhạt của một ứng cử viên: Ron Paul. Những người kia đi đâu cả? Cuộc tranh cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa đã thay đổi.

Thứ Ba tới, dân Iowa sẽ đi bỏ phiếu, chọn ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa trong năm 2012. Bên Dân Chủ không khí rất lặng lẽ; chỉ có một tin đồn hào hứng, là sang năm ông Obama có thể sẽ chọn bà Hillary Clinton làm ứng viên phó tổng thống, thay thế ông Biden!

Cuộc vận động giữa các ứng cử viên Cộng Hòa thì đã sôi nổi từ hơn nửa năm nay; và trong hai tuần qua đã tập trung vào ba triệu dân Iowa. Họ lo gây ảnh hưởng trên độ một trăm ngàn cử tri sẽ đi “bình, bầu” trong tuần tới, tại 1774 đơn vị. Năm 2008 số người tham dự cuộc bình bầu trong đảng chỉ có 119,000 người. Coi như các ứng cử viên phải chi mấy chục đô la để mời được một cử tri đi bỏ phiếu. Ða số các cử tri hăng hái này sắp đến tuổi 60 cả. Mà thực ra họ không trực tiếp bỏ phiếu chọn một ứng cử viên tổng thống.

Theo thủ tục gọi là “Caucus” (Họp Bầu), buổi tối Thứ Ba này người ta sẽ đến họp trong các trường học, hội quán, nhà thờ, hoặc ở nhà tư nhân. Sau khi bàn bạc họ sẽ bỏ phiếu chọn một số đại biểu cho đơn vị của mình để đi họp đại hội đảng Cộng Hòa vào Mùa Hè năm 2012. Ai muốn đóng vai đại biểu (phải bỏ tiền túi để đi dự đại hội) sẽ phải cho biết mình ủng hộ ai trong sáu bẩy người đang muốn làm ứng cử viên tổng thống của đảng. Căn cứ vào kết quả đó, sẽ biết cử tri Cộng Hòa tại Iowa muốn ai làm ứng cử viên.

Các ứng cử viên đã thay đổi phương pháp vận động; họ không dùng các bảng quảng cáo gắn ngoài đường nữa, mà chú trọng tới ti vi hơn. Thay vì vận động theo lối “giàn trận” đánh lớn thì nhiều ứng cử viên làm theo lối “năng nhặt chặt bị”. Một ứng cử viên kiên trì nhất là Rick Santorum, cựu nghị sĩ Pennsylvenia, trong cả năm qua ông cặm cụi đi thăm hầu hết 99 quận trong tiểu bang Iowa. Một phần thưởng cho ông là 5 ngày trước khi bỏ phiếu ông đã leo lên hàng thứ ba ở Iowa mặc dù trên toàn quốc ông còn chưa nổi tiếng lắm.

Hai người dẫn đầu, Mitt Romney và Ron Paul đều có ban vận động lớn. Romney đã có một bộ máy sẵn từ năm 2008, lại nhiều tiền, thuê nhân viên thường trực ở tiểu bang. Còn Ron Paul dựa vào những người tình nguyện; nhờ thế mà ông có nhiều bảng quảng cáo cắm ở trước cửa nhà trong khi các ứng cử viên khác vắng mặt. Một cuộc nghiên cứu cho biết hiện ông Romney được 25%, ông Paul được 22% người ủng hộ. Ông Santorum được 16%, và bà Bachmann được 9% nhờ những nhà lãnh đạo tôn giáo yểm trợ. Nhiều vị mục sư hoạt động mạnh nhất đã kêu gọi ông Santorum và bà Michele Bachmann hãy nhường nhịn nhau, một người rút lui để khỏi chia lẻ số phiếu của các cử tri bảo thủ về tôn giáo.

Michele Bachmann, dân biểu Minnesota, là người duy nhất sinh ở Iowa, nói năng giỏi, cho nên hay nói quá đáng và nói lầm lẫn. Có lúc bà lầm John Wayne Gacy, một tên sát nhân cũng sinh ở vùng bà, với tài từ John Wayne, người sinh ở một làng khác. Hồi Tháng Tám bà đã về đầu ở Iowa, rồi sau đó không lên được nữa. Tài đặc biệt của bà là tấn công các đối thủ, nêu lên những nhược điểm không thể chối cãi được. Bà chỉ trích ông Perry, thống đốc Texas: Ông ta sống bằng nghề chính trị; đã từng làm đại biểu Quốc Hội tiểu bang, rồi được bầu làm ủy viên canh nông, rồi làm phó thống đốc, sau đó lên chức thống đốc. Ông vừa lãnh lương thống đốc Texas lại vừa lãnh lương hưu trí được hưởng nhờ các chức vụ dân bầu cũ. Một người như vậy mà lại lên tiếng “chống các nhà chính trị chuyên nghiệp ở Washington, không tin được!” Một tuần trước ngày bỏ phiếu, người đứng đầu ban vận động của bà Bachmann ở Iowa, trong nhóm Tea Party, đã bỏ bà chạy sang hàng ngũ ông Ron Paul! Bà tức giận tố cáo bên phe Ron Paul bỏ tiền mua chuộc người của mình, một nghị sĩ tiểu bang!

Trong số các ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney là người có phong cách chững chạc nhất, lại nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh cũng như trong chính trị, cho nên được giới lãnh đạo trong đảng ủng hộ. Nhưng ông lại bị nhiều phía chống vì lập trường không đủ bảo thủ như họ muốn. Cho nên từ đầu tới giờ số người ủng hộ ông thường chỉ lên được 25%. Mitt Romney liên tiếp bị những người khác đe dọa sẽ qua mặt: Bà Bachmann vọt lên sát nút vào Tháng Bảy, Tháng Chín đến lượt ông Rick Perry, chiếm được 31%. Nhưng ông Perry thất bại trong mấy cuộc tranh luận. Ðến Tháng Mười thì ông Herman Cain nhảy lên hàng đầu qua mặt cả Perry và Romney. Ngôi sao Cain không thọ quá một tháng; ông ta vừa rút lui thì bỗng dưng một “xác chết đứng dậy” là cựu chủ tịch Hạ Viện Newt Gingrich. Tháng Sáu vừa rồi cả ban vận động của ông Newt tan hàng, quỹ tranh cử cạn tiền; ông bị tai tiếng trong đời tư và cả đời công. Nhưng đến Tháng Mười Một số người ủng hộ ông bỗng vọt lên tới 35%. Thấy nguy cơ nếu sang năm ông Gingrich đại diện cho đảng tranh cử thì những người đạo đức sẽ không ai đi bỏ phiếu, cho nên cựu Nghị Sĩ Bob Dole và cựu Tổng Thống Georges H. W. Bush (ông già) đều phải lên tiếng ủng hộ ông Mitt Romney, coi ông là người duy nhất có khả năng đánh bại Tổng Thống Obama.

Hiện nay đối thủ đe dọa ông Romney tại Iowa là Dân Biểu Ron Paul, Texas. Còn 5 ngày dân Iowa sẽ bỏ phiếu, ông Romney đang dẫn trước ông Ron Paul 3 điểm nhưng cuộc nghiên cứu dư luận này có thể sai đến 4%, cho nên không chắc chắn ai hơn ai. Dù ông Paul thắng ở Iowa thì sau khi qua các tiểu bang khác cuối cùng ông ta cũng không thể nào được đảng Cộng Hòa đề cử. Rất nhiều người trong đảng chống lại ông. Lập trường của ông có những điểm “quá khích” không thể nào thu hút được những cử tri độc lập, trung dung.

Ron Paul đã làm đại biểu cho một đơn vị Texas từ gần 40 năm nay, lúc lên lúc xuống, nhưng rất kiên trì. Gần đây cứ mỗi 4 năm ông lại tranh cử tổng thống; không được đảng Cộng Hòa chấp nhận thì ông tranh cử riêng. Năm nay có thể sẽ tiếp tục như vậy. Nhiều người thích ông vì lập trường rất bảo thủ, và trước sau không thay đổi, được diễn tả trong bản tin Libertarians do ông chủ trương. Libertarians là lập trường đề cao quyền tự do cá nhân, chống các can thiệp của chính quyền; có thể gọi là chủ trương “Tự do Thuần túy”. Cho nên Ron Paul muốn giảm bớt guồng máy nhà nước xuống càng nhỏ càng tốt. Có lúc ông tỏ ý nghi ngờ CIA đang nắm đầu cả nước Mỹ, cả quân đội lẫn chính sách ngoại giao! Về kinh tế ông cũng chủ trương tự do triệt để, phải xóa bỏ Hệ thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương của Mỹ, để các ngân hàng tư nhân tự do cạnh tranh đủ rồi. Người ta kính trọng ông vì ông nắm vững các sự kiện và lập trường giản dị, trước sau không thay đổi.

Các chủ trương ngoại giao của ông Ron Paul hay đi ngược với đảng Cộng Hòa. Thí dụ, nếu làm tổng thống, ông sẽ cắt giảm ngân sách quốc phòng, rút quân Mỹ đóng ở ngoại quốc về nước. Ông bảo không cần bảo vệ Israel; và cứ mặc kệ cho Iran làm bom nguyên tử (Ông hỏi: Họ sẽ đem bom bỏ chỗ nào mà mình lo?)

Hàng chục năm nay mỗi kỳ dân Mỹ bỏ phiếu người ta đều thấy ông Ron Paul ứng cử tổng thống, mãi đã thành quen; ai cũng coi ông như một thành phần tự nhiên trong quang cảnh chính trị nước Mỹ. Nhưng năm nay thì không ai có thể coi thường ông được. Vào Tháng Sáu, chỉ mới có hơn 5% người đảng Cộng Hòa ở Iowa và 8% trên toàn quốc ủng hộ ông; tỷ số giống như những năm trước. Bỗng dưng, đầu Tháng Mười Hai trên toàn quốc ông được 12%, và riêng ở Iowa số người ủng hộ ông vượt lên tới gần 23%, đe dọa cả Romney lẫn Gingrich. Ông Gingrich nói thẳng: Nếu đảng Cộng Hòa chọn Ron Paul, tôi sẽ không đi bỏ phiếu cho ông ta!



Tại sao ngôi sao Ron Paul đột nhiên sáng chói lên như vậy?



Nhiều nhà phân tích trong đảng Cộng Hòa nói số người mới quay ra ủng hộ ông Paul cũng chính là một nhóm người “bất mãn;” vì họ chưa thấy ứng cử viên nào vừa ý. Một khối đông các cử tri Cộng Hòa rất tích cực nhưng còn “bất mãn” đã chạy từ ứng cử viên này sang ứng cử viên khác với hy vọng sẽ chọn được một người đủ tư thế sang năm đánh bại Tổng Thống Barack Obama. Hồi Tháng Sáu họ đã ủng hộ bà Bachmann với những câu chống Tổng Thống Obama kịch liệt. Rồi khi ngôi sao Bachmann xuống họ chạy sang phía ông Perry; khi thấy ông Perry nói năng không nổi, họ quay sang hoan hô ông Herman Cain; rồi thấy ông Cain tệ hơn thì họ ngả về ông Gringrich. Chán Gingrich, họ đành ủng hộ ông Paul chỉ để chứng tỏ họ chưa hài lòng với ai hết!

Ðảng Cộng Hòa đang cần tái lập một “liên minh bảo thủ” giống như năm 2010, khi họ đại thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội. Mỗi ứng cử viên đang nổi bật lên là đại biểu cho một khuynh hướng trong liên minh đó. Nhưng chưa có ai hội đủ các điều kiện của mọi khuynh hướng. Có những người được coi là bảo thủ về tôn giáo, như Bachmann, Perry, Santorum. Các ông Ron Paul, bà Bachmann, ông Perry đều muốn giảm bớt vai trò của chính phủ liên bang, rất “đúng lập trường”. Gingrich và Romney đều được coi là bảo thủ; nhưng người ta nghi ngờ ông Romney vì đã từng ký dự luật cải tổ y tế ở tiểu bang Massachussetts tương tự đạo luật liên bang của ông Obama; còn ông Gingrich thì tính hạnh không được ai kính trọng.

Quân bài bất định hiện nay là vị dân biểu Texas, Ron Paul. Nếu Thứ Ba tới mà ông Paul thắng thì chắc nhiều ứng cử viên sẽ bỏ cuộc để ủng hộ một người khác, có nhiều hy vọng đối đầu được với ông Obama hơn. Chưa biết Romney và Santorum ai sẽ vượt lên! Còn nếu ông Paul về hạng nhì, như các cuộc nghiên cứu dư luận đang tiên đoán, thì ông ta cũng đã thành công; vì xưa nay chưa bao giờ ông thắng lợi tới mức đó. Ông sẽ tiếp tục ra tranh cử với tư cách độc lập!

Một ứng cử viên được cử tri Iowa chọn không chắc sẽ thắng trong đại hội đảng Cộng Hòa. Từ năm 1976 tới gần đây, có 6 cuộc bầu chọn tại Iowa thì chỉ có một lần cử tri Cộng Hòa ở đây đã lựa đúng người sau cùng được làm ứng cử viên tổng thống. Ðó là năm 2000, khi họ chọn cựu Tổng Thống Georges W. Bush. Năm 2008 đa số cử tri Iowa chọn cựu Thống Ðốc Mike Huckabee, nhưng chỉ vài tháng sau ông này phải bỏ cuộc, để Nghị Sĩ John McCain tiến lên hàng đầu.

Trong tình trạng còn chưa tìm ra một người “đủ các điều kiện bảo thủ,” các cử tri Cộng Hòa vẫn chưa quyết định được ai sẽ cầm cờ trong cuộc tranh cử tổng thống năm tới. Nếu ông Romney không đủ sức thu hút tất cả đảng thì rất có thể sẽ có một người tách ra làm ứng cử viên độc lập. Người sẵn sàng đóng vai trò đó là Ron Paul; ngoài ra còn nhà tỷ phú Donald Trump, ông ta mới xin rút lui khỏi đảng Cộng Hòa để dễ ra tranh cử độc lập.