Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Làm sao kiếm đủ 217 phiếu?

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm nay Tổng Thống Barack Obama sẽ đọc một thông điệp về dự luật cải tổ y tế để thúc đẩy dân Mỹ ủng hộ một đạo luật mà Quốc Hội sắp thông qua, nếu đảng Dân Chủ có thể thu xếp đủ số phiếu cần thiết ở Hạ Viện.

Việc thu đủ phiếu này không dễ dàng, mặc dù đảng Dân Chủ chiếm đa số 255 phiếu so với 178 phiếu của đảng Cộng Hòa; vì các đại biểu Quốc Hội Mỹ không nghe lệnh đảng mà nghe theo ý dân. Bà Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi nói rằng bà đã đếm và thấy có ít nhất 216 phiếu ủng hộ, nhưng nhiều người chưa tin. Vì nhiều dân biểu cùng đảng với bà đang lo sẽ giải thích làm sao với các cử tri trong cuộc tranh cử năm nay, khi họ bỏ phiếu. Chỉ còn 8 tháng nữa dân Mỹ sẽ bầu lại dân biểu Hạ Viện, và một phần ba các nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông Obama lên ti vi nói chuyện chính là để giúp cho các đại biểu Dân Chủ còn lưỡng lự ngả sang phía những người ủng hộ dự luật cải tổ y tế của đảng. Muốn vậy, ông tổng thống phải cung cấp cho các đại biểu thuộc đảng ông những lý lẽ để mai mốt còn đi giải thích với dân chúng trong đơn vị của mình.

Ðảng Dân Chủ vẫn mong thực hiện được một đạo luật cải tổ y tế từ nhiều năm qua và đối với ông Obama thì nếu thành công, đạo luật này sẽ đánh dấu một thành tựu quan trọng trong nhiệm kỳ của ông. Ông đã tranh cử với khẩu hiệu “Thay đổi” và nhiều đại biểu Quốc Hội cũng hô cùng khẩu hiệu đó với ông. Ðảng Dân Chủ lại chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội từ đầu năm 2009. Cho nên nếu sau 2 năm, một nhiệm kỳ của các dân biểu, mà không đạt được một đạo luật cải tổ y tế thì có thể coi như là cả đảng đã thất bại vì bất lực. Sự thất bại đó, nếu xẩy ra, sẽ khiến các dân biểu đảng Dân Chủ bị các cử tri ủng hộ họ chất vấn, nhiều người sẽ chán họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa. Nhưng đối với nhiều dân biểu Dân Chủ đại diện cho những đơn vị bảo thủ, dân chúng lại có thể từ chối họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa nếu họ ủng hộ một dự luật cải tổ y tế mà chính các cử tri này không thích. Ðó là nỗi khó khăn của nhiều đại biểu Dân Chủ mà ông Obama phải giúp họ giải quyết.

Sở dĩ đảng Dân Chủ lâm vào tình cảnh này là vì vào Tháng Giêng vừa qua đảng Dân Chủ đã mất một ghế nghị sĩ sau khi tiểu bang Massachusetts bầu một nghị sĩ Cộng Hòa. Nếu đảng Dân Chủ vẫn có đủ 60 phiếu ở Thượng Viện, thì mọi sự dễ dàng hơn. Hai viện Quốc Hội đã thông qua hai dự luật y tế khác nhau. Họ đang họp lại để bàn về một bản dự luật thỏa hiệp giữa đôi bên. Sau khi thỏa hiệp, sẽ đưa dự luật chung này ra trước mỗi viện để biểu quyết một lần nữa, rồi chuyển qua Tòa Bạch Ốc cho ông tổng thống ký.

Con đường tuần tự này đã bị phá hỏng sau khi đảng Cộng Hòa thắng ghế nghị sĩ ở Massachusetts. Vì nếu đưa một dự luật mới ra Thượng Viện thì các nghị sĩ Cộng Hòa có thể sẽ dùng thủ tục thảo luận triền miên, đảng Dân Chủ không đủ 60 phiếu để chấm dứt cuộc thảo luận mà bỏ phiếu!

Cho nên, đảng Dân Chủ sẽ phải tránh không đưa một dự luật mới ra trước Thượng Viện, chỉ vì mất một ghế nghị sĩ. Muốn vậy, họ sẽ theo một “đường tắt,” sử dụng một thủ tục đặc biệt mà các nghị sĩ Cộng Hòa đã bắt đầu lên tiếng phản đối. Ban lãnh đạo đảng Dân Chủ bỏ qua việc thỏa hiệp tìm một dự luật mới. Họ sẽ cho Hạ Viện bỏ phiếu chấp thuận dự luật cũ mà Thượng Viện đã thông qua trước lễ Giáng Sinh năm 2009; như thế là đủ thủ tục để chuyển dự luật qua cho ông tổng thống ký. Ðể cho các dân biểu ở Hạ Viện có thể góp thêm ý kiến vào dự luật của Thượng Viện, cả hai viện, mỗi viện bỏ phiếu riêng, sẽ biểu quyết một dự luật đính kèm, lấy danh nghĩa là “thỏa hiệp về ngân sách,” (budget reconciliation). Theo thủ tục Quốc Hội, khi bàn các vấn đề “thỏa hiệp về ngân sách” thì vị chủ tọa Thượng Viện có quyền hạn chế thời gian thảo luận trước khi bỏ phiếu. Thủ tục này được áp dụng ở Thượng Viện từ năm 1974, vì muốn các cuộc thảo luận về ngân sách không bị kéo dài bất tận khi có trên 40 nghị sĩ muốn cản đường chính phủ. Với việc áp dụng thủ tục này, đảng Dân Chủ sẽ chỉ cần trên 50 phiếu ủng hộ mà không cần đủ 60 nghị sĩ nữa.

Con đường tắt trên đây coi giản dị, nhưng sự thực không dễ dàng. Vì có rất nhiều dân biểu đã bỏ phiếu thuận dự luật cải tổ của Hạ Viện hồi Tháng Mười Một năm ngoái nhưng lại không chấp nhận được dự luật mà Thượng Viện đã thông qua. Thí dụ Dân Biểu Cao Quang Ánh tiểu bang Louisiana là đại biểu Cộng Hòa duy nhất đã bỏ phiếu thông qua dự luật cải tổ y tế vì đa số cử tri của ông ủng hộ. Nhưng ông Cao chỉ bỏ phiếu thuận sau khi dự luật trên được sửa để nói rõ “cấm không được dùng công quỹ trợ cấp y tế trong việc phá thai.” Bây giờ, nếu bỏ phiếu cho dự luật đã được Thượng Viện thông qua thì điều cấm đoán trên không còn rõ ràng và mạnh mẽ như những điều mà Hạ Viện đã biểu quyết. Ông Cao Quang Ánh sẽ bỏ phiếu chống, và nhiều dân biểu đảng Dân Chủ cũng làm như ông vì vấn đề lương tâm chứ không phải vì chính trị nữa.

Cho nên bà Pelosi phải tính toán bà sẽ còn bao nhiêu phiếu ủng hộ.

Trong cuộc bỏ phiếu tại Hạ Viện Tháng Mười Một năm 2009, có 220 phiếu thuận (trong đó có lá phiếu của ông Cao Quang Ánh) và 215 phiếu chống (trong đó có 39 dân biểu đảng Dân Chủ). Nay con số phiếu thuận cũ đã bị giảm mất 4, vì ông Ánh quay sang chống, 2 dân biểu Dân Chủ đã từ chức và một vị mới qua đời. Tính lại thì nếu các dân biểu bỏ phiếu như cũ, sẽ có 215 người ủng hộ và 216 người chống, bà Pelosi sẽ thua!

Nhưng bà hy vọng là các dân biểu không bỏ phiếu như cũ. Trong số 39 đại biểu Dân Chủ đã chống lại dự luật của Hạ Viện vào năm ngoái, nhiều người chống vì nó tốn tiền quá. Nhưng dự luật của Thượng Viện thì đỡ tốn kém hơn, hy vọng là hàng chục người sẽ đổi ý kiến mà bỏ phiếu thuận. Hy vọng kiếm thêm phiếu của một chục các dân biểu Dân Chủ trên, nhưng bà Pelosi sẽ lo bị mất phiếu của những người cương quyết chống phá thai, đứng đầu là Dân Biểu Bart Stupak. Ông Stupak đoán sẽ có từ 12 đến 15 người sẽ bỏ phiếu chống dự luật của Thượng Viện nếu không có đính kèm những điều mới bảo đảm không cho dùng công quỹ vào việc phá thai. Bà Pelosi sẽ phải tính toán để không bị mất lá phiếu của các đại biểu chống phá thai này, đồng thời thu hút thêm các đại biểu trước đây chống ngân sách chi nhiều quá.

Ðiều khó khăn là làm thế nào để tạo ra được một bản văn lập pháp gọi là “thỏa hiệp về ngân sách,” mà trong đó lại nói chuyện chống phá thai? Các đại biểu Dân Chủ sẽ phải biến ý kiến chóng phá thai thành các con số về ngân sách, và đây sẽ là một sáng tác độc đáo trong lịch sử lập pháp thế giới.

Nhưng sau cùng, nếu bản “thỏa hiệp về ngân sách” tìm cách chứa đủ các điều làm thỏa mãn các dân biểu Dân Chủ hiện nay còn chưa dứt khoát ủng hộ dự luật cải tổ y tế, thì vẫn còn vấn đề các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối vì họ nói một đạo luật cải tổ toàn diện hệ thống y tế là một công trình lập pháp rất quan trọng, không thể dùng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách” mà thông qua được. Họ sẽ đòi đem thảo luận như thường lệ, và khi đó phía Cộng Hòa có thể dùng 41 phiếu nghị sĩ để kéo dài các cuộc thảo luận không bao giờ ngừng.

Trước lý luận trên, phía đảng Dân Chủ có cách trả lời. Trên nhật báo Wall Street, một tờ báo bảo thủ thường ủng hộ đảng Cộng Hòa, đã nêu lên nhiều lần Quốc Hội Mỹ đã sử dụng thủ tục“thỏa hiệp về ngân sách” để thông qua nhiều đạo luật rất quan trọng, trong đó có nhiều luật thuộc phạm vi cải tổ y tế. Từ năm 1981 đến nay Quốc Hội Mỹ đã dùng thủ tục này 19 lần để làm các đạo luật thay đổi toàn diện chính trị nước Mỹ. Thí dụ, năm 1996, đạo luật cải tổ an sinh xã hội được thông qua bằng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách,” các đạo luật cắt thuế lớn năm 2001 và 2003 cũng vậy.

Cho nên, nếu đếm đủ phiếu ở Hạ Viện, đảng Dân Chủ sẽ tiến tới để thông qua đạo luật cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế mà nước Mỹ vẫn chờ đợi từ hơn 40 năm qua. Vấn đề là làm cách nào để những dân biểu bỏ phiếu thuận có đủ lời lẽ để giải thích với cử tri khi tranh cử trong năm nay. Họ sẽ phải trả lời những công kích của ứng cử viên đảng Cộng Hòa, và những thắc mắc của những cử tri độc lập. Ngày hôm nay ông Obama sẽ cung cấp cho các đại biểu Dân Chủ những lý lẽ biện hộ cho việc họ bỏ phiếu thuận.

Ông Obama sẽ đưa vào dự luật bổ sung nhiều ý kiến mà các nghị sĩ và dân biểu Cộng Hòa đã nêu lên trong cuộc họp thượng đỉnh tuần trước. Ông và các ứng cử viên đảng Dân Chủ sẽ có cớ để khoe rằng họ chấp nhận đối thoại và nhượng bộ rất nhiều, chứ không quyết định độc đoán như đối phương chỉ trích. Họ có thể khoe một nhượng bộ lớn của đảng Dân Chủ là trong dự luật của Thượng Viện không hề có chương trình bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách, một điều mà các đại biểu Cộng Hòa chống kịch liệt nhất.

Cuối cùng, bà Pelosi sẽ phải tìm đủ 217 phiếu dân biểu để thông qua dự luật cải tổ y tế của Thượng Viện, trước khi dân bỏ phiếu tìm người thay thế 3 dân biểu Dân Chủ đã chết hoặc từ chức.

Bà có thể dùng khả năng thuyết phục hoặc những trao đổi trong hậu trường với từng đại biểu còn đang lưỡng lự. Muốn đủ phiếu thông qua một đạo luật, người ta phải “hối lộ” các đại biểu bằng những điều tạo thêm lợi ích cho các cử tri đã bầu họ lên. Có thể là ngân sách xây trường, có thể là tăng trợ cấp xã hội hoặc y tế. Tuy nhiên, nhiều khi các thủ đoạn hậu trường có thể gây tác dụng ngược. Năm ngoái, ban lãnh đạo đảng Dân Chủ đã tìm cách “mua chuộc” mấy nghị sĩ cùng đảng để cho đủ 60 phiếu, họ mặc cả với từng người một, ba bốn người tỏ thái độ lưỡng lự. Sau cùng, dự luật của Thượng Viện chứa nhiều điều khoản “hẩu lốn” để làm những “món quà” mang lợi ích riêng cho dân chúng một số tiểu bang. Chính các thỏa hiệp hậu trường giữa giới lãnh đạo đảng Dân Chủ với Nghị Sĩ Ben Nelson, tiểu bang Nebraska để tăng tiền cho tiểu bang này, đã làm các cử tri Massachusetts khinh bỉ, một lý do khiến họ bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập. Có thể trong bài diễn văn của Tổng Thống Obama hôm nay, ông sẽ đề nghị xóa bỏ tất cả những “món quà” do các cuộc mặc cả ở Thượng Viện đem lại. Thí dụ, một số tiểu bang được tăng phần tiền trợ cấp y tế của liên bang cao hơn thường lệ vì có các nghị sĩ “khéo gây áp lực,” nay sẽ phải chịu sự công bằng như người khác!

Ở Mỹ nhiều người thích ăn món gọi là “hot dog” nhưng bảo nhau không bao giờ nên coi trong xưởng thịt người ta làm các món “xúc xích” như thế nào. Coi rồi có thể sẽ từ luôn, không bao giờ dám ăn các thứ “xúc xích” nữa.

Nhiều nhà chính trị lại ví cảnh các đại biểu Quốc Hội làm luật cũng giống như cảnh trong lò thịt làm xúc xích vậy. Một điều may là ở nước Mỹ có tự do ngôn luận cho nên các đại biểu Quốc Hội chỉ có thể xoay xở, mặc cả để đem lợi về cho các cử tri của mình, chứ không dám bán lá phiếu cho lợi ích cá nhân. Mà dân chúng trong các địa hạt thì dễ tha thứ các đại biểu khi thấy họ mang lại những lợi ích cụ thể cho mình. Nhiều đạo luật pha trộn những khoản lợi ích nhỏ cho nhiều tiểu bang không đáng đem vào trong luật. Vì vậy, việc làm luật mới giống việc làm xúc xích!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Đối Thoại Dân Chủ

Trần Khải
Đối thoại là một nhu cầu cần thiết của con người. Nhu cầu này đặc biệt cần thiết cho các xã hội đang cần bước đi những chặng đường mới. Chỉ có các xã hội như Bắc Hàn mới thiếu vắng đối thoại, và nơi đó triệu người như một, không ai dám thốt lên một lời nghịch ý lãnh đạo. Trường hợp Việt Nam, nhu cầu đối thoại đã được nêu ra không chỉ từ người ở lề trái, mà ngay cả từ những người có quan tâm tới sự ổn định quyền lực của Đảng CSVN.

Trong những người đặt vấn đề về nhu cầu đối thoại mới nhât trên báo Tuần Việt Nam, có Tiến Sĩ Mai Liêm Trực khi trả lời phỏng vấn baó này qua bài có nhan đề: “Vấn đề "nhạy cảm" hay là sự né tránh trách nhiệm?”
Báo này ghi nhận rằng, “TS. Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông được coi là người mở đường cho bùng nổ Internet tại Việt Nam.
Mới đây ông đã được CLB Nhà báo CNTT Việt Nam bình chọn là một trong số 10 nhân vật có đóng góp tích cực nhất cho sự phát triển CNTT-TT thập kỷ qua.

Chính ông sớm nhận thức ra xu hướng phát triển Internet, đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam cho mở Internet và tạo điều kiện về mặt quản lý nhà nước cho Internet phát triển, với một quan điểm quản lý mang tính đột phá lúc đó là “Năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu phát triển”, thay cho tư duy quản lý cũ là “quản lý được đến đâu, mở ra đến đó”...”(hết trích)

Điều nguy hiểm được báo động bởi Tiến Sĩ Mai Liêm Trực là bản văn kiện soạn thảo cho đạị hội đảng sắp tới có đầy tính bảo thủ, khước từ đối thoại với các ý kiến người dân và lộ vẻ muốn “siết lại làm quả bóng nó thêm căng.”
Cụ thể, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực nói:
“...Để các văn kiện tiếp thu được tất cả những tinh hoa và giá trị của toàn dân tộc thì trước hết những người thực hiện phải có năng lực để mà đưa ra những cách thức thu hút người dân tham gia góp ý cho văn kiện. Mặt khác, những người đó cũng phải có năng lực để tiếp nhận và xử lý thông tin.
Nhưng tôi có cảm giác rằng hình như việc tổ chức soạn thảo các văn kiện hiện nay vẫn là những đội ngũ đã làm nhiều kỳ các văn kiện trước đây và sức tiếp thu những tư duy mới có vẻ hạn chế....

Dân tộc mình đã theo Đảng bao nhiêu năm, Đảng của mình là đảng duy nhất lãnh đạo và xứng đáng với điều ấy. Nhưng đứng về tâm trạng tôi cảm thấy nguy cơ tụt hậu vẫn tiếp tục còn.
Chúng ta đang cố gắng thoát khỏi thân phận một nước nghèo nhưng ngay như bản thân tôi không thể tránh khỏi cảm giác có lỗi khi những ngày gần tết mở cửa ra vẫn thấy những bà mẹ già gánh từng bó rau đi bán, không thể không cảm thấy xấu hổ và sốt ruột khi thấy phụ nữ Việt Nam phải xếp hàng cho đàn ông Hàn Quốc chọn vợ.

Công cuộc Đổi mới của chúng ta có những lúc bị lựng khựng, lúng túng và thường những vấn đề bức xúc cứ để lại nhiệm kỳ sau làm cho sức mạnh của Đảng, của Dân tộc chưa được phát huy hết.
Tôi cho rằng những biện pháp để đất nước phát triển, để bảo vệ chế độ có lẽ nên bằng hình thức xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội, bằng đối thoại dân chủ hơn là siết lại làm cho quả bóng nó thêm căng...” (hết trích)
Thật là hiếm hoi được nghe tới nhu cầu đối thoạị dân chủ. Nhưng nếu chỉ để “xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội,” thì thực tế nhà nước đã cung cấp cho dân truyền hình, các cuộc thi hoa hậu, ca nhạc hội, quán rượu, spa, sòng bài biên giới... tha hồ để “xì hơi giải tỏa.”

Điều chúng ta tin rằng Tiến Sĩ Mai Liêm Trực muốn nói tới nhu cầu khác hơn, phải là một suy tư về cơ nguy sinh tử của dân tộc – thí dụ như Biển Đông, như rừng biên giới, như Bô Xít Tây Nguyên. Có thể là lời chưa nói hết? Hay vì chưa tiện công khai lên mặt báo? Nhưng thâý rõ là, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực quan tâm về dấu mốc đạị hội Đảng CSVN, nơi có thể có hướng đi tích cực hơn.

Nhà văn ký tên “Người Buôn Gió” trên blog của ông, được trang Bô Xít VN (www.boxitvn.net) đăng lại, đã nêu lên vấn đề nhu cầu phát triển trường kỳ bị bỏ quên bởi các lãnh đạo trong bài viết nhan đề “Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?” đã tìm cách đối thoại dân chủ bằng cách nêu rõ các quan tâm về mỏ, về rừng. Trích như sau:
“Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân?

Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.
Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.
Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.

Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?
Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.

Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…” (hết trích)
Từ trong nước đã nói như thế. Từ chỗ nói nhẹ nhàng như Tiến Sĩ Mai Liêm Trực, tới chỗ nói thẳng mục tiêu như Người Buôn Gió. Nếu Đảng CSVN muốn đối thoại dân chủ, tất có nhiều bàn họp nên được mở ra để cung thỉnh người góp ý.

Từ hải ngoại, một tiếng nói khác cũng nêu lên nỗi lo -- thực sự, tác giả Bùi Tín viết là hiểm họa, chứ không phảỉ nỗi lo. Bài viết nhan đề “Hai lão tướng chỉ ra hiểm họa trên trang Bùi Tín Blog ở Đàỉ VOA (www.voanews.com/vietnamese) nêu lên lời của hai vị tướng baó nguy, trích:
“Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, từ năm 2004, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được Trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng Bộ chính trị do ông Nông Ðức Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.

Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết những thỏa thuận với 10 doanh nghiệp Trung Quốc đóng tại Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài. Các tỉnh đó là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Các thoả thuận đều có hiệu lực giá trị trong thời gian 50 năm,và có thể sẽ được gia hạn thêm sau đó.

Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, nay 94 tuổi. Hai ông báo động: Các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, môi trường sẽ bị huỷ hoại. Hai ông kết luận: đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước...” (hết trích)

Lời của nhà báo Bùi Tín mạnh bạo hơn. Từ lời nhắc nhẹ nhàng của Tiến Sĩ Mai Liêm Trực về nhu cầu đối thoại dân chủ, cho tới lời quan ngại của Người Buôn Gió về viễn ảnh 40 năm sau Việt Nam chẳng còn gì, cho tới lời cụ thể của nhà báo Bùi Tín khi diễn lạị lời của 2 vị tướng là “một cuộc tự sát của quê hương đất nước...”
Nói thống thiết như thế, mà nhà nước có nghe chăng? Hay là, chính phủ không cần đối thoại?
Một bản tin trên đài BBC sáng Thứ Hai 1-3-2010 cho biết:
“Gia đình luật sư bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân cho hay chị sẽ mãn hạn tù và trở về nhà vào thứ Bảy tới (06/03).
Hôm 11/05/2007, Lê Thị Công Nhân bị Tòa án TP Hà Nội xử 4 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên sau đó án phạt này đã được giảm 1 năm, còn 3 tù giam và 3 năm quản chế tại phiên phúc thẩm 27/11/2007.” (hết trích)
Cần nhắc rằng, luật sư Lê Thị Công Nhân là người nhiều năm trước đã bày tỏ một khát vọng đối thoại, và đã trực tiếp nêu lên nhu cầu đối thoại dân chủ. Và lúc đó, Đảng CSVN đã trả lời cho lời đòi hỏi đối thoại này bằng một bản án tù.

Không có bao nhiêu người dám trả giá cho đòi hỏi đối thoại dân chủ như luật sư Lê Thị Công Nhân. Những dòng chữ nơi đây xin được đón mừng luật sư họ Lê ra tù, và xin nêu lên ước mơ rằng khát vọng đối thoại dân chủ vẫn cháy bỏng trong tim của vị nữ anh thư này và của hàng chục triệu người dân.


TRẦN KHẢI
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Rủi ro và bảo hiểm
Thursday, March 04, 2010

Ngô Nhân Dụng
Sống ở đời không bao giờ hết những chuyện khiến mình lo lắng. Vì lo lắng không biết tương lai ra sao, người ta mới mua bảo hiểm. Hôm nay đọc trên một mạng lưới ở Mỹ, thấy chuyện bà Rosalina Gomez ở tiểu bang Minnesota đang lo lắng không biết có thoát được cảnh nhà bị tịch biên hay không, chuyện này thì bà không mua bảo hiểm. Câu chuyện của bà được tung lên báo chí, hy vọng bà sẽ gặp may mắn hơn, không mất nhà. Nhưng còn chuyện bảo hiểm y tế của bà, không chịu trả tiền cho những căn bệnh có sẵn thì bà đành chịu. Mối lo đó không có thuốc chữa, trừ khi thay đổi luật lệ.

Rosalina Gomez mua một căn nhà ở thành phố Minneapolis, bà vay nợ, trả góp, như tất cả mọi người Mỹ khác. Bà có việc làm, nghề quét dọn, lau chùi nhà cửa, tiếng Mỹ gọi là “gia ni tơ,” (janitor). Lương bà 13 đô la một giờ, bình thường được 26,000 một năm. Gia đình hai vợ chồng đi làm, với một con có thể coi thuộc hàng trung lưu. Nhưng tại sao bà lo bị mất nhà? Vì bị bệnh.

Sinh, lão, bệnh, tử là những nỗi khổ trên đời, ai cũng phải chịu. Nhưng bà Gomez bị thêm những nỗi khổ khác do các ngân hàng cho vay và chế độ bảo hiểm y tế.

Bà Gomez, 48 tuổi, có việc làm cho nên có bảo hiểm y tế, quyền lợi của bà được một nghiệp đoàn các công nhân dịch vụ bảo vệ. Vì thế, trước đây bà không thể nào nghĩ là có lúc mình bị bệnh mà lại không được chữa trị.

Cho đến năm 2005 khi bà bị đau bụng, đi khám bệnh, biết trong bao tử bị ung nhọt.

Bệnh phát ra, bà phải đi chữa trị, nhưng hãng bảo hiểm đã từ chối không trả tiền. Họ có lý do chính đáng: Cái ung nhọt trong bụng của bà tuy mới phát lớn lên gần đây nhưng đã có sẵn trong bao tử trước khi bà mua bảo hiểm với họ. Luật lệ cho phép hãng bảo hiểm từ chối như vậy.

Một hãng bảo hiểm xe hơi chỉ bồi thường cho ông, bà về những tai nạn hư xe xảy ra “sau khi mua bảo hiểm.” Chắc chắn họ không chịu trách nhiệm nếu xe quý vị bị méo mó trước khi họ bán bảo hiểm cho quý vị. Các công ty bảo hiểm y tế ở Mỹ có quyền từ chối không trả tiền chữa các căn bệnh mà thân chủ mắc trước khi ký hợp đồng. Nếu biết thân chủ có bệnh sẵn họ có quyền từ chối không bán bảo hiểm.

Tất nhiên, trước một bệnh nhân gặp nguy, các bác sĩ vẫn mổ cái ung nhọt trong bao tử bà Gommez. Thông thường, nếu bệnh nhân quá nghèo mà không được bảo hiểm trả tiền thì sẽ tìm một quỹ của chính phủ trả công cho bác sĩ. Nhưng nếu bệnh nhân còn có tài sản và lương bổng thì phải tự mình trả tiền. Biên lai tiền chữa bệnh lên tới 26,000 đô la, bằng lương một năm của bà Gomez trước khi đóng thuế. Vợ chồng bà Gomez đã phải tính kế tìm cho ra số tiền đó.

Ðây là những lúc cuộc đời chúng ta dính dáng đến các ngân hàng. Năm 2006, thị trường địa ốc còn cao, nhiều người thấy giá trị ngôi nhà mình ở tăng gấp đôi, có cơ hội cầm thế cái nhà để vay một món nợ mới trả nợ cũ, số tiền vay nhiều hơn để dư lấy tiền xài, gọi là“tái tài trợ.”

Hai vợ chồng bà Gomez đã đến ngân hàng Chase xin tái tài trợ căn nhà mình, có một số tiền dư trả nợ chữa bệnh. Một điều mà họ không được giải thích rõ, hoặc sơ ý không tìm hiểu kỹ, là họ tưởng sẽ trả lãi suất cố định trên món nợ mới. Nhưng không phải như vậy, tháng 10 năm 2008, họ kinh ngạc khi biết món tiền trả nợ hàng tháng sẽ tăng lên, mỗi tháng thêm 100 đô la nữa. Sáu tháng sau, lãi suất lại tăng lên lần nữa. Hai vợ chồng thấy ngân sách gia đình thiếu hụt, bàn nhau và quyết định phải bỏ căn nhà mà đi ở thuê thôi. Họ bắt đầu ngưng trả tiền nhà, và từ tháng 5 năm 2009, họ khai phá sản cá nhân theo thủ tục của Chương 7 trong Luật Phá Sản.

Ngân hàng Chase xiết nợ và rao bán căn nhà của bà Gomez, người sắp mua là cho US Bank, một ngân hàng khác ở Minneapolis, vào tháng 9 năm ngoái. Ðây là ngân hàng lớn thứ sáu trên nước Mỹ. Chủ tịch CEO ngân hàng này là ông Richard Davis, cũng ở Minneapolis. Ngân hàng US Bank đã được chính phủ liên bang trợ giúp 6.6 tỷ Mỹ kim trong chương trình giúp các ngân hàng năm 2008. Tháng trước, ông Davis được một tờ báo kinh doanh trong thành phố tặng huy hiệu “Nhà quản đốc lỗi lạc,” họ tổ chức một buổi lễ trao huy chương long trọng.

Nghiệp đoàn các công nhân quét dọn ở đây khám phá ra rằng bà Rosalina Gomez chính là người vẫn đến lau nhà cho ông Richard Davis! Cùng lúc đó, nghiệp đoàn lại đang tranh đấu đòi tăng lương cho các công nhân lau nhà quét nhà, cho nên họ thấy đây là một tin tức phổ biến ra sẽ có lợi. Hai hình ảnh tương phản: Một công nhân lau nhà lương 26,000 đô la một năm mà bị mất nhà; người đứng thuê công ty lau quét nhà cửa lại là chủ tịch tổng giám đốc của ngân hàng đã đứng ra mua ngôi nhà bị xiết nợ! Lương ông ta 2 triệu một năm, với bảo hiểm y tế hạng tốt nhất! Tình cảnh bà Gomez được nghiệp đoàn mô tả là tiêu biểu cho các công nhân lau quét nhà cửa tại Minneapolis. Nghiệp đoàn đề nghị bà Gomez viết một bức thư cho ông Davis để xin ngân hàng thu xếp giúp bà khỏi bị mất nhà - mặc dù gia đình bà đã tính thuê một căn hộ (appartment) một phòng ngủ rồi. Và bà sẽ đến trao lá thư này tận tay ông Davis ngay trong buổi lễ trao huy chương vào ngày cuối tháng 2, 2010, gần hai tuần trước ngày gia đình bà Gomez phải ra khỏi nhà!

Một blogger là HuffPost đã tung tin này ra, và ngân hàng US Bank bèn phản ứng ngay để bà Gomez đừng tới làm cho buổi phát giải thưởng mất vui. Họ đã thu xếp để hai ngân hàng, Chase và US Bank, cùng với nghiệp đoàn, và hai ngân hàng đồng ý hoãn việc tịch biên ngôi nhà trong thời gian 60 ngày, để tìm một giải pháp trong đó ngân hàng chủ nợ có thể sửa đổi hợp đồng vay nợ để số tiền trả hàng tháng vừa với túi tiền của gia đình này.

Hy vọng là những khó khăn giữa bà Gomez và các ngân hàng sẽ chấm dứt, bà sẽ trả nợ dần dần, ngân hàng sẽ không bị thiệt thòi vì họ vẫn đòi được nợ mà không phải trả những chi phí lôi thôi khi bán đổ bán tháo một ngôi nhà sai áp. Nghiệp đoàn đã giúp bà hy vọng trở lại sống trong nhà mình; ngược lại bà giúp cho nghiệp đoàn tạo thanh thế tranh đấu thắng lợi. Công ty thầu lau quét chịu ký hợp đồng lao động mới tăng lương và cải thiện bảo hiểm y tế cho các công nhân quét dọn!

Nhưng còn một vấn đề khó khăn mà bà Gomez vẫn chưa tránh được, không khác gì hầu hết những người Mỹ khác: Các hãng bảo hiểm y tế không trả tiền cho những bệnh đã bắt đầu trước khi ký hợp đồng bảo hiểm. Chúng ta mua bảo hiểm là để tránh rủi ro, nhưng có vẻ thứ rủi ro này không tránh được!

Một thứ rủi ro mà ai cũng có thể phải chịu là: Chúng ta không biết được trong mình có những mầm bệnh nào, từ bao giờ, trước hay sau ký hợp đồng mua bảo hiểm! Ở những nước có chương trình bảo hiểm y tế toàn dân thì không có mối lo này, vì ai cũng có bảo hiểm, bệnh trước hay bệnh sau không khác gì nhau cả.

Chưa hết, còn thêm một thứ rủi ro nữa, là mất việc. Phần lớn người sống tại Mỹ mua bảo hiểm y tế qua nơi mình làm việc, trừ những xí nghiệp nhỏ quá không đủ sức tổ chức bảo hiểm cho nhân viên. Vì mua bảo hiểm nơi làm việc, ai cũng phải chịu một thứ rủi ro, là không biết bao giờ mình bị mất việc, khi mất việc thì cũng không còn bảo hiểm y tế nữa. Khi tìm được việc mới, ký hợp đồng mua bảo hiểm y tế, họ lại không chịu những bệnh mà mình có từ trước, thì sẽ phải trả thêm bao nhiêu để được bảo hiểm? Một người bị bệnh tiểu đường mà bị mất việc, khi có việc mới cũng không thể mua bảo hiểm y tế! Vì chữa bệnh cho người này tốn kém quá, hãng bảo hiểm có điên đâu mà chấp nhận một hợp đồng chỉ lỗ lớn mà không hy vọng một đồng lời? Cuối cùng, mối rủi ro này chính bệnh nhân phải chịu.

Bệnh nhân không may mắn đó là ai? Ðó là những người mất việc, tìm được việc làm mới nhưng lại có một căn bệnh cũ đang chữa hoặc chưa được phát hiện. Bà Gomez là một trường hợp. Nhưng mọi người sống ở Mỹ ai cũng có thể rơi vào một hoàn cảnh tương tự. Khi mới sinh ra đời không ai biết trước mình sẽ bị những bệnh nào và mắc bịnh vào lúc nào. Sở dĩ chúng ta chịu đóng tiền hàng tháng là để “mua bảo hiểm,” lúc nào mình bệnh thì được chữa trị.

Nếu ai cũng biết trước đúng ngày nào, tháng nào mình sẽ bị bệnh thì đến ngày đó đi tìm bác sĩ, không còn gọi là bảo hiểm nữa! Nếu biết trước cả đời mình sẽ không bao giờ bị bệnh thì chúng ta cũng không tội gì mua bảo hiểm. Phải mua bảo hiểm y tế vì chúng ta đứng trước những bất trắc về bệnh tật. Nhưng hiện nay ở Mỹ có trên 50 triệu người không có bảo hiểm, và hàng chục triệu người khác không đủ bảo hiểm, tức là hãng bảo hiểm hạn chế nhiều dịch vụ y tế họ không trả tiền. Những người đang có bảo hiểm đầy đủ và bảo hiểm tốt, như người viết bài này, có thể yên tâm là mình không nằm trong con số 50, 60 triệu đó. Như vậy thì việc cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế không phải là chuyện quan trọng nhất và cần thiết nhất.

Nhưng có ai biết chắc là mình sẽ không bao giờ rơi vào hoàn cảnh giống như bà Rosalina Gomez? Có ai bán cho chúng ta một thứ bảo hiểm để tránh không bao giờ rơi vào tình cảnh đó hay không?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Một cựu điệp viên Bắc Triều Tiên tiết lộ nhiều bí mật của Bình Nhưỡng

Trọng Nghĩa,RFI
Năm nay đã 75 tuổi, trước khi đào thoát, Kim Jong Ryul mang cấp bậc đại tá. Trong một quyền sách mang tựa đề ''Phục vụ nhà độc tài'' vừa công bố tại Áo, cựu điệp viên Bắc Triều Tiên đã tiết lộ rất nhiều bí mật liên quan đến chế độ Bình Nhưỡng

Ông đã từng ngược xuôi Châu Âu trong vòng 20 năm để đặt mua súng ống và xa xỉ phẩm cho các lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Chính cuộc sống xa hoa phè phỡn của giới lãnh đạo Bình Nhưỡng, trong lúc dân chúng bị lâm vào hoàn cảnh đói khổ đã thúc đảy ông từ bỏ chế độ.

Sau hai mươi năm chuyên đi mua các loại hàng hóa sang trọng và vũ khí cho các nhà độc tài Bắc Triều Tiên, ông Kim Jong Ryul đã đào thoát và sinh sống tại Vienna, Áo từ năm 1994.

Cuốn sách mang tựa « Phục vụ cho nhà độc tài » vừa xuất bản tuần này đã làm ông bỗng chốc bước ra ánh sáng, với nguy cơ tính mạng bị đe dọa. Vốn là đảng viên trung thành và nói thông thạo tiếng Đức, đại tá Kim Jong Ryul trong những chuyến đi châu Âu đã tìm mua được các loại thiết bị gián điệp tinh vi, vũ khí, máy bay loại nhỏ.

Bên cạnh đó còn có những chiếc xe hơi sang trọng, những chiếc thảm đẳt tiền, thậm chí một khẩu súng mạ vàng cho nhà độc tài Kim Il Sung. Ông thường đi Áo vì tại đây ngân hàng giữ bí mật thông tin, thương mại tự do và kiểm tra tại sân bay lơi lỏng hơn.

Những thiết bị do thám bị cấm xuất khẩu, súng săn và điện thoại gây nhiễu thường được trữ trong tầng hầm của đại sứ quán Bắc Triều Tiên tại Vienna. Các mặt hàng này sau đó được thay bao bì, đưa ra khỏi Áo nhờ các giấy tờ giả và hối lộ cho các nhân viên hải quan.

Chán ghét sự dối trá của Bình Nhưỡng, cuộc sống xa hoa của giới lãnh đạo trong lúc nhân dân đói khổ, trong một chuyến đi Áo ông đã dùng kế giả chết để ở lại Vienna, mà không cho gia đình hay biết. Ông hy vọng sau cái chết của nhà độc tài Kim Il Sung năm 1994, chế độ cộng sản sẽ sụp đổ và sẽ được trở về nước.

Nhưng ông đã thất vọng sau 15 năm chờ đợi, và cuốn sách trên đây cùng viết với hai nhà báo Áo là một sự an ủi cho ông. Tuy nhiên ông cũng bày tỏ nỗi lo ngại sẽ bị Bắc Triều Tiên bắt giữ hay sát hại, và cho biết có thể sẽ sống trốn tránh như cũ.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Sự cần thiết khách quan
Nguyễn Ðạt Thịnh

Hôm thứ Sáu 26 tháng Hai, trong lúc đi thăm Ấn Ðộ và bị hãng thống tấn Express India hỏi về chế độ độc đảng Việt Cộng đang áp dụng tại Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch quốc hội Việt Cộng, nói là Việt Cộng “chưa thấy có sự cần thiết khách quan để phải có chế độ đa đảng.”
Câu này có nghĩa là gì? Và sự cần thiết khách quan là gì?
Câu nói của Trọng có nghĩa là nếu người Việt Nam không tạo được nhu cầu bắt buộc Việt Cộng thay đổi chính sách, mở rộng bộ máy cầm quyền của chúng cho những người không cộng sản tham dự, thì Việt Cộng cứ mãi mãi ngồi đấy cai trị Việt Nam.
Và 4 chữ “cần thiết khách quan” có nghĩa là những nhu cầu hiện thực, không liên quan đến xúc động, căn cứ trên những sự kiện có thể thấy được; nói cách khác Trọng bảo anh phóng viên Ấn, và bảo dư luận thế giới là người Việt Nam chưa tạo được áp lực nào cụ thể, chưa đẩy được Việt Cộng vào cái thế thiệt thòi hầu bắt chúng chấp nhận chế độ đa đảng để không bị đào thải.
Chúng ta cần phân tách thực tế hiện tại để hiểu cái thế ù lì tự mãn của Việt Cộng, do chính miệng một trong những tên đầu xỏ Việt Cộng nói lên, để từ đó tự tìm hiểu những điều chúng ta chưa làm, hoặc chưa làm đúng mức, hầu thay đổi chiến thuật chống Việt Cộng hữu hiệu hơn, bắt chúng phải chấp nhận chế độ đa đảng.
Chúng ta đã làm gì?
Trong quốc nội, hàng chục chiến sĩ tự do đã can đảm đứng lên, bất chấp đàn áp và lao tù Việt Cộng; chúng rất sợ ảnh hưởng của những vị anh hùng này, nhưng chúng tin tưởng là biện pháp đàn áp bắt giam những người cầm đầu phong trào là đã đủ để giữ cho khối đông đảo quần chúng không dám đứng lên chống đối chúng.
Chúng kiêng dè không dám bắt giam giữ nhiều tu sĩ công giáo vì nể sợ cái thế đoàn kết giữa giáo dân và tu sĩ. Ðiều này cho chúng ta thấy Việt Cộng nể sợ những vị lãnh tụ có thực lực hơn là những vị chỉ có kiến thức.
Khác biệt giữa những vị lãnh tụ Việt Nam có thực lực lớn lao và những vị có kiến thức bao quát là thời gian cần thiết để xây dựng hậu thuẫn bền chắc trong quần chúng. Xin đơn cử một thí dụ: Việt Cộng dám đàn áp luật sư Lê Công Ðịnh mà không dám bắt giam tổng giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, cũng chỉ vì chúng sợ thế lực nhân dân sau lưng TGM Kiệt. Sau lưng ông Ðịnh, cô Công Nhân, chỉ có gia đình họ.
Dĩ nhiên sau lưng những chiến sĩ dân chủ luôn luôn có chúng ta, người Việt Nam quốc nội và hải ngoại; chúng ta hết lòng ủng hộ việc làm của quý vị chiến sĩ dân chủ, nhưng sự hết lòng đó chưa thể so sánh với những cuộc cầu nguyện tập thể, những cuộc biểu tình bảo vệ thánh giá.
Giáo dân sẵn sàng đương đầu với công an Việt Cộng, đầu bò Việt Cộng; quyết tâm của họ đối phó với mọi đàn áp của Việt Cộng là một cần thiết khách quan mà ông Trọng đề cập đến. Ngày nào tinh thần Ðồng Chiêm, Tam Tòa, Thái Hà lan rộng khắp nước thì ngày đó Việt Cộng sẽ mở rộng cơ chế cai trị, chấp nhận sự tham chính của những người Việt Nam không cộng sản.

Ða đảng là yếu tố khắc kỵ Việt Cộng, ngày nào có đa đảng là ngày đó nguy cơ Việt Cộng bị triệt tiêu bắt đầu.
Thiên Chúa Giáo cần đến 2 thế kỷ và rất nhiều cán bộ tôn giáo chấp nhận hy sinh, thủa ban đầu hy sinh cả đến tính mạng, sau đó là hy sinh chấp nhận ép mình theo luật Chúa, đem cuộc sống thanh bần của chính mình làm gương mẫu và tạo tin tưởng trong lòng người tín hữu. Phong trào đòi tự do, dân chủ cho nguòi Việt Nam không thể chờ 2 thế kỷ, chúng ta phải đốt giai đoạn, phải tìm một giá trị khác thay cho yếu tố thời gian.
Giá trị đó là tạo sự hiểu biết chính xác về tình hình chính trị để đánh động khối đồng bào quốc nội. Lợi khí giúp chúng ta là internet: nhiều mạng tin tức, bình luận đã ra đời trong quốc nội và hoạt động rất mạnh. Nhưng Việt Cộng cũng rất mạnh tay đối phó với những blogs quốc nội, chúng cầm tù bloggers, quấy phá hệ thống phát sóng của blogs.
Một điều đáng lo nữa là những hãng truyền thông điện tử như Google, Yahoo, đang gặp khó khăn tại hải ngoại; Google phải hạ tối hậu thư cho Trung Cộng đòi hoặc chính phủ nước này ngừng quấy phá, hoặc Google sẽ rút lui ra khỏi Trung Hoa nếu họ không có tự do để làm việc được tại đó.
Mặt khác chính phủ Ý bắt giam 3 viên chức của Google, buộc họ chịu trách nhiệm về nội dung những bài viết do những người khác sử dụng hệ thống Google để phổ biến. Chính phủ Ý coi Google như một tờ báo, do đó bắt họ chịu trách nhiệm về những bài đăng trên báo. Google phản bác, nói là phải ví họ như người phát thư, chỉ có trách nhiệm chuyển mọi lá thư đến đúng địa chỉ của người nhận; nội dung lá thư là trách nhiệm của người viết thư, không phải trách nhiệm của người đưa thư. Tuy khó khăn của Google có thể trở thành khó khăn của chúng ta, những người Việt Nam đang tranh đấu cho tự do, nhưng việc đó chưa xẩy ra ngay trong năm nay hay một vài năm tới.
Tại hải ngoại, nhiều mạng lưới Việt Nam đã ý thức việc loan tin trung thực là một trong những vũ khí ít ỏi chúng ta có trong tay để yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước.
Do đó họ tích cực hoạt động, và giờ này mạng lưới truyền thông kiến hiệu đến mức, trong mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động dân chủ đều có những thông tín viên thiện nguyện, có mặt tại chỗ, lấy tin, chụp hình, đôi khi còn quay phim gửi ra cho những đài hải ngoại. Việt Cộng có chống cự, nhưng hiệu quả không được bao nhiêu, quần chúng quốc nội vẫn nhận đủ tin tức trung thực; thành quả vận động của phương thức truyền thông điện tử đang ngày một loang rộng hơn.
Một biện pháp chống đỡ khác của Việt Cộng là đánh vào thành trì chống cộng hải ngoại; khai thác sức mạnh của truyền thông điện tử, chúng cho bọn tay sai post mọi thứ bẩn thỉu lên mạng để phá hoại uy tín của những chiến sĩ chống cộng
Ngoài vũ khí truyền thông, người Việt hải ngoại còn yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước bằng những cuộc vận động chính trị với các chính trị gia của những nước chúng ta đang cư ngụ.
Nhưng chúng ta làm chưa đủ và chưa đúng cách; trong một bài báo viết vài tháng trước, tôi trình bày với độc giả là việc mượn tay người khác giúp đỡ chúng ta là việc rất tốt, nhưng không tốt bằng chính chúng ta bước vào chính trường Hoa Kỳ, trở thành nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ để có diễn đàn lớn đấu tranh cho tự do, nhân quyền trên quê hương chúng ta.

Tôi có nêu lên trường hợp điển hình của khối người Mỹ gốc Cuba, một sắc dân đang sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ có rất nhiều nét tương đồng với khối người Việt hải ngoại đang sống tại Mỹ.
Cuộc kiểm kê dân số năm 2000 ghi nhận có 1,241,685 người Cuba sống trên đất Mỹ, đến năm 2007, con số này tăng lên 1,611,478 người Mỹ gốc Cuba. Gần 1 triệu người (983,147) sinh đẻ tại Cuba, 628,331 sinh đẻ tại Hoa Kỳ. Trong tổng số 1.6 triệu người có 415,212 người không mang quốc tịch Mỹ. Trong số 1.2 triệu có quốc tịch, có bao nhiêu người có quyền bầu cử?
Tôi không tìm được tài liệu này, nhưng số cử tri người Mỹ gốc Cuba tròm trèm nửa triệu đã bầu vào hạ viện liên bang 4 dân biểu, Lincoln Diaz-BAlart, Mario Diaz-Balart, Ileana Ros-Lehtinen, Albio Sires, và 2 nghị sĩ: Mel Martinez, đại diện Florida, Bob Menendez, đại diện New Jersey. Về phía hành pháp ông cựu tổng trưởng thương mại liên bang Carlos M. Gutierrez, cũng là người Mỹ gốc Cuba.
Dưới thời tổng thống Bush, ông Eduardo Aguirre giữ chức vụ phó chủ tịch Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng của Hoa Kỳ cũng là người Mỹ gốc Cuba, sau này ông trở thành giám đốc sở Di Trú; năm 2006 ông làm đại sứ Hoa Kỳ tại Spain. Ông John H. Sununu, tham mưu trưởng Bạch Cung cũng là người Mỹ gốc Cuba. Năm 2006 dân biểu tiểu bang Marco Rubio, một người Mỹ gốc Cuba, giữ vai trò chủ tịch hạ viện Florida.
Trong ngành tư pháp ông Danny Boggs hiện là thẩm phán tối cao của tòa phá án Hạt Sáu, và ông Raoul G. Cantero, III làm chánh án tối cao pháp viện của Florida đến năm 2008.
Nếu chúng ta có một thế lực chính trị mạnh như vậy thì cuộc vận động chính trị của chúng ta chắc chắn sẽ uy tín hơn, rộng rãi và kiến hiệu hơn là tình trạng hiện nay: chúng ta hớn hở quảng bá với nhau trên mạng việc Dân Biểu Loretta Sanchez, Dân Biểu Zoe Lofgren, và nghị sĩ Barbara Boxer gửi thư cho Chủ Tịch Việt Cộng, Nguyễn Minh Triết, để lên tiếng bênh vực cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Chúng ta reo mừng vì nghị sĩ Jim Webb, Chủ Tịch Tiểu Ban Á Châu Thái Bình Dương – lên tiếng về vụ xử 4 chiến sĩ Ðịnh, Trung, Thức, và Long. Ông Webb nói các phiên tòa trong thời gian qua cho thấy Hoa Kỳ cần tiếp xúc trên cấp cao với chính phủ Việt Cộng về chủ đề nhân quyền.
Ông kêu gọi chính quyền Obama tiếp tục nêu lên chủ đề tự do lập hội và thực hiện chế độ pháp trị với chính phủ Việt Cộng, kiên trì hậu thuẫn việc bảo vệ các quyền làm người vốn được quốc tế công nhận.
Tất cả những cuộc vận động đó đều đúng, đều rất hay, nhưng chúng ta còn có thể làm hay hơn nếu chúng ta cũng làm được như người Cuba: đưa người vào chính giới Hoa Kỳ để tự tay chúng ta giải quyết vấn đề Việt Nam.

Tự tạo cho chúng ta một thực lực chính trị mạnh hơn là giải pháp giải phóng quê hương hữu hiệu nhất, và là cái cần thiết khách quan mà Việt Cộng đang chờ để chỉ thay đổi sau khi nhìn thấy là chúng không thể ngồi lỳ trên lưng người Việt Nam với tin tưởng được Trọng phát biểu là"Một Đảng vẫn hiệu quả nhất"

Trọng còn dài lời giải thích với hãng thông tấn Express India, khi phóng viên của hãng này hỏi ông, "Chủ tịch có nghĩ rằng, đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có hệ thống đa đảng hay không?”
Trọng trả lời :
"Chúng tôi quan niệm là kinh tế và hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng tôi chủ trương phát triển kinh tế đồng thời cũng đổi mới từng bước hệ thống chính trị một cách vững chắc cho phù hợp. Và đã rút ra kinh nghiệm là đổi mới kinh tế phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Thực tiễn các bạn thấy là đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất.”
Trong thế mạnh của kẻ cầm quyền, Trọng ngụy biện với dư luận Ấn về chế độ độc đảng, cũng như Dũng và Triết ngụy biện với Ðức Giáo Hoàng về tự do tín ngưỡng tại Việt Nam; lập luận của chúng có giá trị khả tín của quyền lực, nếu chúng ta không tạo ra được một lời đính chánh minh bạch, rõ rệt, cũng của một quyền lực.
Thử lấy một thí dụ, nếu dân biểu Cao Quang Ánh nói lên việc chị ông bị công an mời đi làm việc chỉ vì đã đến sứ quán Hoa Kỳ để gặp ông, hoặc việc ông bị cấm đoán không được gặp các chiến sĩ dân chủ, thì lời nói có gang, có thép trong miệng kẻ sang đó sẽ có sức mạnh gấp bao nhiêu lần những hoạt động của bà dân biểu Loretta Sanchez hay nghị sĩ Jim Webb.

Chúng ta cần tích cực hơn nữa, cần sáng suốt hơn nữa, và xin bạn đọc quan tâm đến quan điểm của giới trẻ muốn bước vào gánh vác việc nước, quan điểm mà bài viết của cô Diệu Hương (tôi trích đăng trong mục “góc nhìn” số báo này) nêu lên rất rõ.
Ðó là cách giúp chúng ta tạo ra điều cần thiết khách quan mà Việt Cộng đòi chúng ta phải có chúng mới bắt đầu nhượng bộ chấp nhận một chế độ đa đảng, chấp nhận viên thuốc độc cyanure kết thúc chế độ bạo tàn của chúng hiện nay.
Xin cùng nhau sửa mình để bắt đối phương thay đổi.

Nguyễn Ðạt Thịnh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

“Không hối lộ, Chống áp bức”

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Luật Sư Lê Thị Công Nhân lại bị công an Cộng Sản bắt cóc đem về “bót,” chỉ có mấy ngày sau khi được thả. Họ thay nhau thẩm vấn cô hơn 4 giờ, cuối cùng chỉ cốt để ngăn cản không cho tiếp một phóng viên ngoại quốc đã hẹn gặp để phỏng vấn cô. Hành động của công an Cộng Sản vẫn chứng tỏ chế độ này không có một khái niệm nào về liêm sỉ, không biết xấu hổ, không biết ngượng. Nó cũng chứng tỏ họ sợ thông tin, sợ sự thật, sợ những người dám nói sự thật.

Cô Lê Thị Công Nhân là một người đáng khâm phục. Cô là mẫu người bất khuất. Vì cô nhiệt thành tin vào mục đích của cuộc đời mình. Bước ra khỏi nhà tù Cộng Sản, cô vẫn tươi cười, thản nhiên, vẫn quyết dấn thân suốt đời tranh đấu cho dân Việt Nam được sống tự do. Thanh niên Việt Nam có thể noi gương cô. Nhìn vào tấm gương của cô, thế hệ trẻ ở nước ta sẽ vững tin sẽ có ngày mọi người đều được sống tự do dân chủ.

Niềm tin đó rất cần thiết. Vì hiện nay thanh niên nước ta đang bị lôi kéo vào cuộc sống đam mê vật chất, để chỉ nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác. Trong cuốn Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật tuyên bố: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ... Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay... khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách...” Ông Ðào Hiếu đã lớn lên ở miền Nam, học trong hệ thống trường học chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong hệ thống học đường đó, ông được các thầy cô dậy sống theo một lý tưởng. Ông đã theo mấy giáo sư mà tin tưởng vào đảng Cộng Sản, hoạt động nội thành có công, được gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông có lúc được trọng dụng, nhưng hoạn lộ không bằng phẳng vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi. Nhưng tại sao một người trên 65 tuổi đó lại tỏ ý chán chường như câu “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách”? Nhà văn còn kêu gọi mọi người, “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả... (C)ả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).

Ðời sống của cô Lê Thị Công Nhân là những lời khẳng khái bác bỏ ý tưởng bi quan yếm thế đó. Thái độ bình tĩnh và nụ cười tự nhiên của cô là một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Chúng ta có thể sống với lý tưởng. Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người cũng được. Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, loài người vẫn giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Cứ té ngã rồi lại đứng dậy. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Và đó là lý do chúng ta vẫn tiếp tục sống, tiếp tục mưu cầu hạnh phúc, xây dựng một xã hội loài người tốt đẹp hơn.

Chúng ta cảm ơn những người như Lê Thị Công Nhân, vì cô đang tặng cho tuổi trẻ Việt Nam một thứ mà xã hội đang thiếu: Niềm vui sống với một lý tưởng. Dân ta đang cần sống với niềm tin. Nói theo kiểu Phan Bội Châu đời xưa, chúng ta vẫn cần “Chấn Dân Khí.”

Hơn một thế kỷ trước đây, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu), năm 1903, Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học thuật, Nhân tài, và Dân khí. Ðổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).

Cụ Phan nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Tình trạng dân khí đầu thế kỷ 20 như thế. Hiện nay có thấy tốt hơn hay không, chỉ các nhà trí thức trong nước Việt Nam mới trả lời được.

Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ, nói có những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.”

Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản khi thấy Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân đứng lên dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là họ khiếp sợ như nghe sấm sét! Ðám công an Cộng Sản thấy các ông Nguyễn Thanh Hải, cô Phạm Thanh Nghiên bầy tỏ ý kiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, con chó ở nước Việt thì sủa vang lên khi thấy tuyết; vì những loài chó này ít khi được nhìn thấy các “vật lạ” đó.

Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã đặt câu hỏi: Muốn chấn dân khí, phải làm thế nào? Một điều bất ngờ đối với những người Việt sống sau Cụ Phan 100 năm, là câu trả lời của Cụ Phan rất có tính thời sự. Cụ chỉ nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”

Khi đọc hai câu trong tựa đề bài này, chắc nhiều vị độc giả không nghĩ đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước:

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”

Cụ Phan không nêu lên hai việc cần thiết đó như là những khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp, hoặc chống triều đình nhà Nguyễn nhu nhược hủ lậu. Nhưng cụ coi đó là 2 việc cần làm để giúp cho “dân khí” nước ta phấn chấn. Chấn Dân Khí nghĩa là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.

Phan Bội Châu coi chống tham nhũng là phương tiện: Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải có tiền; và nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong xã hội như vậy, thanh niên sẽ mất hết khái niệm về đức liêm sỉ. Trước đây nửa năm, công an Lâm Ðồng bắt đầu tấn công quậy phá các tăng ni trẻ tu tập ở Tu viện Bát Nhã; lúc đó đã có người đánh tiếng rằng vụ rắc rối này có thể thu xếp được. Người ta đưa điều kiện là phải đưa ra một triệu đô la Mỹ. Nhưng các thiền sinh trẻ tuổi ở Tu viện Bát Nhã đã từ chối. Nếu ngỏ lời kêu gọi lạc quyên, thì dù nêu ra bất cứ lý do nào, họ có thể được Phật tử khắp thế giới quyên góp, chắc cũng đủ gần triệu Mỹ kim, có thể mặc cả. Nhưng họ không làm.

Vì họ không thể đóng vai những người đi đưa tiền hối lộ, “cho tiện công việc”. Họ đang tập lối sống chính trực, lương thiện, và muốn khuyến khích mọi người sống chính trực, lương thiện. Nếu đưa tiền hối lộ thì chẳng khác gì tự phủ nhận lý tưởng sống của mình! Họ ở lại tu viện Bát Nhã để làm gì nếu chính lý tưởng của mình đã bị mất? Họ không đưa tiền hối lộ, vì họ yêu nước Việt Nam. Theo đúng lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, họ chứng tỏ ở trong nước Việt Nam hiện nay còn rất nhiều người vẫn giữ vững liêm sỉ. Trên đời không phải cái gì cũng mua được! Các tăng ni Bát Nhã đã làm gương cho giới trẻ Việt Nam. Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146).

Cô Lê Thị Công Nhân, trong một hoàn cảnh khác, cũng nêu tấm gương sáng cho giới trẻ nước ta, theo đúng lời khuyên thứ hai của Phan Bội Châu. Cô và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang đòi chính quyền Cộng Sản bớt áp bức những người dân bị oan khuất và các nhà trí thức bất đồng ý kiến. Chính họ đang “cổ võ ý khí cương cường” cho thế hệ các thanh niên đang lớn lên. Nói theo lối cụ Phan, những cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của giới trí thức nước ta, từ Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế hay Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý đều “chống áp bức” để giúp cho người dân Việt Nam hết sợ hãi. Khi đó, “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (trang 147)

Phan Bội Châu viết lá thư “Lưu Cầu” này ở Huế, nhưng mượn tên hòn đảo Nhật Bản này vì số phận của dân họ cũng giống nước Việt Nam lúc đó. Lưu Cầu, Riu Kiu, vốn là một vương quốc độc lập không thuộc giống dân Nhật, đã bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị sáp nhập từ năm 1879, đổi tên là quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay.

Nhiều người Việt Nam cũng đang lo mối nguy mất nước, lúc này đọc lại những lời huyết lệ của cụ Phan còn thấy hợp. Muốn nước đứng vững và tiến lên, trước hết phải chấn hưng “dân khí.” Phải nâng cao tinh thần tự tin và nuôi dưỡng lý tưởng của thanh niên. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Lý tưởng có thật. Nó giúp cho đôi mắt của Lê Thị Công Nhân lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến các tăng ni trẻ Bát Nhã thành những hạt giống Bồ Ðề. Và chính vì những lý tưởng vị tha, Ðức Giám Mục Ngô Quang Kiệt khuyên các giáo dân từ Vinh lên đưa tiễn ngài hãy thắng mọi sợ hãi. “Chúng ta phụng vụ trong Ðức Tin chứ không phải trong sợ hãi.” Trên đường sang Roma chữa bệnh ngài cũng yêu cầu mọi người hãy can đảm “nói sự thật” mà không sợ đàn áp. Ðó là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.

Chúng ta thấy ở trong nước Việt Nam còn bao nhiêu người nuôi đức tin mãnh liệt, tin vào vào lẽ phải và sự thật, tin tưởng vào phẩm giá con người, tin con người có khả năng hướng vào điều thiện. Tất cả chúng ta có thể lạc quan. Thanh niên Việt Nam có thể sống với lý tưởng; và họ rất đáng sống với lý tưởng. Năm 1903 Phan Bội Châu còn phải chứng kiến nước ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và lũ quan lại hủ bại nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau, dân Việt Nam đã đứng lên phá bỏ gông xiềng. Chế độ Cộng Sản sẽ tàn lụi không khác gì các chế độ thực dân và phong kiến.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Tổ quốc trên hết


Hương Trà
Xin bắt đầu bài viết này bằng lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đằng, làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các chuyện đó khiến ta nghĩ đến những chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.

Thật đau buồn khi những lời di chúc đầy tinh thần dân tộc này của vị vua Trần Nhân Tôn, ngày nay đã bị quên lãng dần trong lòng dân tộc, nhất là hầu hết học sinh, sinh viên dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa do Đảng CSVN lãnh đạo cũng hoàn toàn xa lạ với những công lao to lớn của tiền nhân. Thật vậy, vì luôn luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc, quyền lợi của dân tộc lên trên hết cho nên, vua Trần Nhân Tôn đã mở ra hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến nên hòa hay đánh của toàn dân trước ngoại xâm. Cuối cùng với tinh thần đoàn kết và thống nhất được ý chí dân tộc mà nhà vua đã đánh bại hoàn toàn giặc Tàu xâm lược.

Nhìn lại lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào cam tâm dâng đất, dâng biển của đất nước cho ngoại bang TQ như triều đại của ĐCSVN hiện nay. Lịch sử cũng như ngay cả ĐCSVN vẫn thường lên án Lê Chiêu Thống là cổng rắn cắn gà nhà. Nhưng dưới thời Lê Chiêu Thống cai trị đất nước, lãnh thổ VN vẫn được bảo toàn không bị mất dù chỉ một tấc đất. Trong thời đại thông tin rộng mở như bây giờ, từng sự thật về những hành động của các nhà lãnh đạo CSVN đối với Tổ quốc và nhân dân ngày càng được phơi bày ra ánh sáng cho, dù đảng đã dùng mọi thủ đoạn để bưng bít thông tin. Mục đích của bài viết này là cũng chỉ muốn đưa ra những sự thật trong muôn ngàn sự thật mà các nhà lãnh đạo CSVN đã, đang và sẽ làm đối với quê hương đất nước để cho các chiến sĩ trong lực lượng quân đội, công an và những ai còn trung thành với đường lối và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo hiện nay phải nhìn lại việc làm của mình, để sau này khỏi mang tội với Tổ quốc và nhân dân.

Chúng tôi không tham gia bất cứ một đảng phái hoặc tổ chức nào, chúng tôi chỉ là thành phần trẻ, là công dân của đất nước, với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương đất nước bắt buộc chúng tội phải lên tiếng, cũng như sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm sau này. Đã là con người thì hành động cũng có lúc đúng, lúc sai. Nhưng cốt yếu là phải nhận ra được cái lỗi lầm để mà khắc phục, hầu tránh tái phạm. Tuy bây giờ là muộn màng, nhưng cũng chưa quá muộn để những kẻ đã đánh mất lương tri, đang lầm đường lạc lối, phải thức tỉnh lương tâm mình trên trên bước đường dân chủ hóa đất nước, để một nước Việt Nam có thể phát triển hùng mạnh, sánh vai với các nước trên toàn thế giới. Chỉ có thế mới có thể gác qua một bên quá khứ, xoa dịu nỗi đau của hàng trăm ngàn vong linh của những người dân vô tội bị chết oan trong chính sách cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc (1953-1957), cùng với những mồ chôn tập thể ở Huế (1968) và các trại tập trung cải tạo sau năm 1975 do ĐCSVN thực hiện. Đây chính là nỗi đau không của riêng ai, mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam! Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi những hình ảnh đau thương này.

Không ai chủ trương tiêu diệt ĐCSVN, kể cả các phong trào và những người đang đấu tranh bất bạo động cho dân chủ nhân quyền hiện nay, cũng như những công dân yêu nước đang bị đảng giam cầm, những tội danh mà đảng đưa ra để bỏ tù những công dân yêu nước này là do tòa án của đảng tự đặt ra để kết án họ, chớ thật ra việc làm của họ là phù hợp với hiến pháp của đảng (điều 69 Hiến Pháp) và những điều khoản trong các công ước quốc tế mà chính quyền CSVN đã ký và tình nguyện tham gia. Cương lĩnh của các đảng phái và các phong trào tranh đấu cũng chỉ đòi hỏi một sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng với ĐCSVN thông qua việc ứng cử và bầu cử tự do để nhân dân chọn lựa. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đảng đang xiết chặc vòng dây kiểm soát hệ thống Internet, chặc đứt mọi nguồn kinh tế của các nhà đấu tranh dân chủ, bắt buộc những người sử dụng điện thoại di động phải đăng ký tên và số Chứng Minh Nhân Dân (CMND) để theo dõi, mọi việc giao dịch với ngân hàng để vay tiền sản xuất của người dân đều phải qua sự kiểm soát và giới thiệu của các cấp chính quyền, thông tin báo chí đều phải đi bên lề phải do đảng đề ra, mọi quyền hành lãnh đạo trong tất cả các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính quyền từ cơ quan nhỏ nhất cũng đều phải là đảng viên của ĐCSVN…v.v…. Đây là những việc làm không thể chấp nhận được trong một đất nước vừa là thành viên WTO, thành viên LHQ, chủ tịch luân phiên ASEAN mà Việt Nam đang thụ hưởng.

Đất nước đang thực sự lâm nguy vì những hành động ươn hèn để giữ vững địa vị cá nhân của các nhà lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, đây là một sự thật quá rõ ràng. Hành động trên thực tế của các cấp lãnh đạo đảng từ trung ương xuống địa phương đều thể hiện sự thật này. Ngoài việc vùng đất địa đầu Ải nam quan, 2/3 thác bãn Giốc cùng bãi Tục Lãm và trên 10.000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã thực sự về tay Trung Quốc qua các hiệp định, hiệp ước tháng 12/1999 và tháng 12/2000 mà chính quyền CSVN đã ký với TQ, nhưng cho đến hôm nay nhân dân cũng không được biết nội dung các bản hiệp định, hiệp ước này. Còn quần đảo Hoàng Sa nơi có cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH với hải quân TQ đầu năm 1974 thì đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm tháng 9/1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi phần lớn quần đảo Trường Sa thì đã bị Trung Quốc xâm chiếm năm 1988, mà hiện nay bọn người TQ đã xây dựng xong các phi trường và căn cứ quân sự rồi. Còn nhớ trước đây, TQ đã hăm dọa và ngăn cản không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Hoa kỳ hoạt động trên vùng biển VN theo hợp đồng giữa VN và các công ty này, thì hôm nay ngày 26/2/2010 vừa qua, TQ đã đưa lực lượng và phương tiện kỹ thuật đến để dò tìm và khai thác dầu hỏa trên vùng biển đó trước sự im lặng của các nhà lãnh đạo VN.

Trong năm vừa qua Trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng Cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì Việt Nam phát hiện phía Trung Quốc đã bí mật đào đường hầm xuyên qua biên giới VN. Các nhà lãnh đạo CSVN đã dùng quyền lực của mình để thực hiện cho bằng được dự án khai thác Bauxite ở Tây nguyên, một dự án đã được ông đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh khác trong đảng, các đại biểu Quốc hội cùng trên 3000 nhà trí thức bao gồm từ các giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà khoa học ưu tú trong và ngoài nước phản đối bằng những kiến nghị và đưa ra những tư liệu, phân tích chuyên môn về một đại họa cho môi trường, cho cuộc sống của nhân dân, cho nền văn hóa lâu đời của Tây nguyên, nhất là ảnh hưởng đến sự mất nước trong tương lai nếu đại dự án bô xít vẫn được tiếp tục cho TQ khai thác bởi vì, theo như sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp: ai làm chủ được Tây nguyên có nghĩa là sẽ làm chủ cả Đông dương. Nhưng với những con người lãnh đạo đất nước bất tài, không có tư duy và tầm nhìn chiến lược như hiện nay, việc khai thác bô xít vẫn ngang nhiên tiến hành. Tây nguyên đang giẫy chết vì sự khai thác Bô xít, vì sự quậy phá của hàng trăm ngàn công nhân TQ, toàn dân VN đang đau khổ vì tình trạng lạm phát gia tăng, vì sự mất đất do các cán bộ cùng cơ quan nhà nước lạm dụng quyền hành lấy đất của dân, nhất là tình trạng bao che tham nhũng, tiêu cực đang lan tràn công khai trong xã hội. Những đại nạn đang xảy ra cho nhân dân và đất nước chưa khắc phục được, thì mới đây dư luận trong và ngoài nước lại biết đến cái tin động trời: 2 tỉnh giáp biên giới Trung Quốc: Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng với 8 tỉnh khác đã âm thầm ký cho Hồng Kong, Trung Quốc và Đài loan thuê trên 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn trong thời hạn 50 năm. Trong đó, riêng phần của Trung Quốc là 264 ngàn hecta khiến cho trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng đứng đơn kiến nghị lên trung ương đảng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Nông nghiệp-Môi trường trong đó có đoạn: “Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Mất của còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Các tỉnh cho thuê rừng dài hạn là tự sát, còn các nước thuê rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo”. Riêng bài viết của cựu thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (người đã từng làm đại sứ VN tại TQ 15 năm) có tựa đề: cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc được đăng trên trang web bô xít và các trang web khác. Cuối bài ông kêu gọi: “Trước những hành động của ông láng giếng hữu nghị trên biển đông cũng như trên đất liền VN. Hàng triệu người VN yêu nước đang bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm gì đây?”.

Nhìn qua những việc làm của các nhà lãnh đạo CSVN trong thời gian qua. chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng: rồi đây VN là một Tây Tạng thứ 2 của Trung Quốc thứ 2 của Trung Quốc là điều chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì, không phải ngẫu nhiên mà những sự việc khó tin nhưng có thật này lại xảy ra.

- Trang web thương mại hợp tác VN và TQ, nhưng tên miền…vn lại để cho phía TQ sử dụng hàng mấy năm liền để họ tự do đăng những bài nói xấu VN, đến khi các nhà trí thức biết được và phãn đối thì mới chịu ngưng.

- Trang web điện tử của ĐCSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên Tập, lại đăng nguyên văn bài của các trang web TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ trên vùng biển Đông thuộc hải phận VN mà họ từng tuyên bố là của họ gồm cả HS-TS của VN mà không có lời bình luận nào cả. Đến khi gặp sự phản đối quyết liệt của các nhà trí thức cư dân mạng thì mới chịu gỡ xuống. Hành động nối giáo cho giặc này của ông Quát chỉ bị phạt hành chính là 30 triệu đồng VN. Trong khi đó, người con gái Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “HS-TS là của VN” thì bị bắt giam, ra tòa lãnh bản án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Còn nhà báo tự do điếu cày Nguyễn Văn Hải thì bị chính quyền vu khống là trốn thuế với 3 năm tù, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì bị công an dàn cảnh đánh trọng thương để có cớ bắt chị với tội danh đánh người, cuối cùng chị phải nhận lãnh bản án 42 tháng tù và 3 năm quản chế.

- Những pano kỹ niệm 65 năm thành lập QĐNDVN được trưng bày trên các ngã đường của thành phố HCM, dưới lá cờ VN lại là hình ảnh của đoàn quân TQ. Khi phóng viên đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum (GĐ sở VH-TT) thì ông này trả lời: đó là hình ảnh của đoàn quân TQ được nhân viên của ông lấy từ các trang web của TQ và đã được chỉnh sửa lại, đến khi phóng viên hỏi tại sao ngày lễ kỷ niệm QĐNDVN mà lại không in hình của đoàn quân VN thì ông Rum không trả lời mà cúp điện thoại.

- Song song với những lời tuyên bố đầy khiêu khích và xem thường VN của phát ngôn viên TQ Jiang Ju ngày 5/1/2010: “những tuyên bố của VN chẳng hề trở ngại lớn lao gì đến kế hoạch phát triển của TQ trong khu vực, cũng chẳng gây thiệt hại đáng kể gì đến quan hệ song phương của 2 nước”, cùng lời đe dọa của đại sứ TQ tại VN Tôn quốc Cường ngày 6/1/2010: “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại,… VN nên tạm gác lại tranh chấp với TQ, chờ thời gian chính mùi rồi sẽ giải quyết”. Nhật báo giải phóng quân TQ đăng bài viết về biên giới như sau: “Nơi nào mà lợi ích của quốc gia chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang của chúng ta”.

Với những lời nói của kẻ bề trên như thế, nhưng các nhà lãnh đạo CSVN vẫn im lặng không dám phản đối, ngược lại lúc nào cũng tuyệt đối trung thành với châm ngôn: “16 chữ vàng và 4 tốt” do TQ đề ra. Đã vậy mà TQ cũng chưa vừa ý, còn đưa Dương Khiết Trì (UVBCT) thay mặt ĐCSTQ qua Hà Nội họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đưa thêm 4 mối tương quan nữa cho 2 nước Việt-Trung thực hiện đó là:

- Sơn thủy tương liên dịch - Sông núi liền nhau

- Văn hóa tương thông ---- - Văn hóa hiểu nhau

- Lý tưởng tương đồng ---- - Lý tưởng giống nhau

- Mệnh vận tương quan ---- - Vận mệnh gắn bó

- Trong khi TQ lúc nào cũng tìm cách chiếm đoạt nước ta, ngang nhiên bắt bớ, tịch thu tài sản và đánh đập ngư dân của ta để đòi tiền chuộc khiến cho ông Nguyễn Việt Thắng (chủ tịch hiệp hội hải sản VN) bức xúc tuyên bố: “TQ thường xuyên bắt tàu đánh cá của VN, ngay cả khi tàu đánh cá VN không hoạt động trong các vùng biển mà họ cấm, nhưng TQ vẫn bắt và đòi tiền chuộc”. TQ đã ngang nhiên tuyên bố những lời nói trịch thượng và đe dọa VN như thế, nhưng các nhà lãnh đạo VN lúc nào cũng trung thành và ca ngợi TQ bằng chứng là, ngày 17/1/2010 trên trang web điện tử của chính phủ CSVN có điện văn chúc mừng kỷ niệm 60 năm quan hệ VN-TQ có đoạn: “Nhân dân VN luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc, sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân TQ anh em đã dành cho nhân dân VN trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới”.

Vì lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ của TQ mà ngày nay đất nước phải mất đi những phần đất cùng các hải đảo và vùng biển thiêng liêng nhất mà tiền nhân xưa đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ. Cũng vì lòng biết ơn sâu sắc mà đại dự án bô xít Tây nguyên (một dự án cực kỳ nguy hiểm cho tương lai đất nước) giao cho TQ khai thác, cùng với 264 ngàn hecta rừng nguyên liệu đầu nguồn cũng dành cho TQ thuê thời gian 50 năm. Trong tương lai không biết với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt cùng 4 mối tương quan mà TQ vừa thêm vào, đất nước VN sẽ ra sao trong mục tiêu đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới của chính quyền CSVN.

Thiết nghĩ nếu CNCS Marx-Lenin mà tuyệt vời và thực hiện được như những lời giảng dạy của các gíao viên trong hệ thống giáo dục VN, như những lời tuyền truyền của cán bộ chính quyền trong nhân dân, thì các nước CS đông âu và ngay cả Liên Xô nơi sinh ra ông Lê-Nin không bao giờ từ bỏ nó, cũng như tất cả các nước văn minh và tiên tiến trên thế giới đâu có nước nào theo CNCS. Một thực tế đã cho mọi người thấy rằng, 4 nước CS còn sót lại trên thế giới đều phải nhờ vào sự giúp đỡ và đầu tư của các nước dân chủ đa nguyên, ngay cả con cái của các nhà lãnh đạo CS vẫn gởi con du học tại các nước tư bản này mà VN là điển hình. Như vậy, có phải CNCS đã thực sự lỗi thời trong nền văn minh của nhân loại?

Các tướng lãnh, các đảng viên cao cấp, các nhà ngoại giao của đảng, các nhà trí thức VN, đang mạnh dạn phê phán những chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo CSVN, họ không bao giờ bị sự xúi giục của các thế lực nước ngoài, càng không phải là thành phần phản động như sự suy nghĩ của đảng. Vì sự tồn vong của đất nước, vì lợi ích lâu dài của toàn dân, vì nhận thấy con đường CNCS là không tưởng cho nên, họ mới chấp nhận hiểm nguy để dấng thân vào con đường chính nghĩa của dân tộc.

Chúng tôi xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của 2 nhà lãnh đạo ĐCSVN đã từng cống hiến hết mình cho đảng:

1/ - Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: “….. Tổ quốc là của mình, đất nước là của mình, quốc gia là của mình, VN là của mình chớ không phải là của riêng của người CS hay bất cứ tôn giáo hay phe phái nào….., một quốc hội có người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách thực sự tự do, công bằng thì sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ…”.

2/ - ông Lữ Phương (cựu thứ trưởng bộ văn hóa chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN): “…. Ngày xưa nếu ĐCSVN đã cứu nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu”.

Quyền lợi của Tổ quốc, của quốc gia dân tộc là trên hết, còn quyền lợi của các cá nhân và của ĐCSVN và các đảng phài khác chỉ là một trong các thành phần của xã hội mà thôi. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải thay đổi tư duy để còn tiếp tục tồn tại trong lòng dân tộc. Dĩ nhiên, là con người thì không ai muốn đất nước mình phải rơi vào tay nước khác, dân tộc mình phải sống cuộc đời nô lệ, và nếu những gì mà chúng tôi nêu ra là đúng sự thật thì các cá nhân và các lực lượng quân đội, công an phải biết rằng: con đường phục vụ của mình là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước và quyền lợi của nhân dân. Nếu tiếp tục trung thành với đường lối của các nhà lãnh đạo CSVN như hiện nay, tức là phản bội Tổ quốc và nhân dân.

Sài Gòn ngày 8/3/2010
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

Văn Bút Quốc Tế đòi trả tự do tức khắc và vô điều kiện
cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
và tất cả tù nhân ngôn luận và lương tâm

Trong một Thông cáo/Kháng Nghị thư phổ biến toàn cầu ngày 10 tháng 3 năm 2010, Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (International PEN CODEP/WIPC) đã cực lực phản đối bản án 3 năm 6 tháng tù giam áp đặt đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Văn Bút Quốc Tế khẳng định rằng nữ văn hữu Trần Khải Thanh Thủy bị trừng phạt bằng án tù giam chỉ vì hành xử ôn hòa quyền tự do để diễn đạt quan điểm của mình. Cho nên Văn Bút Quốc Tế đòi bà phải được trả tự do tức khắc và vô điều kiện, tuân theo Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR) mà nhà nước Việt Nam CS đã ký kết.

Từng là hội viên Hội nhà Văn và Câu lạc bộ nhà Thơ Hà Nội, bà Trần Khải Thanh Thủy là một nhà văn được công nhận, có tinh thần độc lập, viết nhiều tác phẩm giá trị, dưới một số bút hiệu khác nhau (Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Quý Dân, Nguyễn Hải, Võ Quế Dương, Trần Thị Thanh Hằng, Phạm Xuân Mai, Mai Xuân Thưởng, v.v.). Bà còn là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận, phóng viên và cộng tác biên tập với nhiều tờ báo, như bán nguyệt san Tổ Quốc (báo bị cấm, in không giấy phép CS). Bà là tác giả Nhật Ký Ngục Tù, Hang Đá, Đối Thoại cùng Sông và mấy mươi tác phẩm thơ văn, bài báo khác. Bằng ngòi bút bén nhạy, tinh tế, ngay thẳng, bà bênh vực những nạn nhân của bất công xã hội. Bà viết về các trường hợp cán bộ viên chức tham nhũng và lạm quyền, cướp đất chiếm nhà của hàng trăm nông dân không có khả năng tự vệ và chống đối. Bởi vậy bà Trần Khải Thanh Thủy trở thành đối tượng của nhiều cuộc sách nhiễu hung bạo và bắt giam để thẩm vấn của công an mật vụ. Kể từ tháng 9 năm 2006, bà là một tù nhân bị công an mật vụ sách nhiễu và canh chừng nghiêm ngặt tại nhà. Ngày 21 tháng 4 năm 2007, trong lúc bà bị mắc bệnh lao phổi nặng và bệnh tiểu đường, bà bị bắt giam cho đến ngày 31 tháng giêng năm 2008. Bà chỉ ra khỏi trại tù sau khi tòa CS tuyên phạt bà 9 tháng 10 ngày tù giam (bằng thời gian bà đã bị nhốt) và 3 năm quản chế vì ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Ban đầu, bà Trần Khải Thanh Thủy bị truy tố về "tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN’’, theo Điều 88/Hình luật CS. ‘’Tội’’ của bà: đã phổ biến nhiều bài tiểu luận mà chế độ kiểm duyệt CS không ngăn chận được. Bà còn bị cáo buộc là hội viên hoạt động của Khối 8406, hỗ trợ Ủy Ban Nhân Quyền độc lập và tham gia tổ chức một Công đoàn bất hợp pháp đối với nhà nước CS. Cuối cùng, vì áp lực quốc tế và một số lý do khác, tòa CS đã biến cải cáo trạng nêu trên thành ra tội ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Về nhà, bà còn mang những vết thẹo rất rõ trên mặt và trên chân bà, hậu quả của 9 tháng 10 ngày bị đày đọa, hành hung, ngược đãi.

Ngày 25 tháng 9 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy phổ biến bài viết ‘’Trò Hề Xã Hội Chủ Nghĩa’’. Truyện kể lại quang cảnh đồng bào, bà con, thân nhân nhiều tù nhân ngôn luận và lương tâm sáng ngày 24 tháng 9 năm 2009 chen chúc đứng chờ phiên tòa CS Hà Nội xử nhà dân chủ đối kháng Phạm Văn Trội. Rốt cuộc, phiên xử đã bị hoãn đến tháng 10 nhưng không có thông tri cho dân chúng biết. Ngày 8 tháng 10 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy đi Hải Phòng để ủng hộ thân nhân gia đình những nhà dân chủ đối kháng sắp bị tòa CS xét xử. Chưa đến thành phố hải cãng thì bà đã bị Công an CS chận lại và buộc bà trở về Hà Nội. Chiều hôm đó, bà và chồng bà đã bị những kẻ ‘’lạ mặt’’ đến tận nhà gây sự, khiêu khích để lấy cớ đánh đập vợ chồng bà khiến bà bị thương ở đầu, máu chảy ướt hết tóc, đổ xuống vai áo và nền gạch trước nhà. Nhưng công an CS lại bắt giam bà Trần Khải Thanh Thủy, ngụy tạo hình ảnh (ngày chụp ảnh 28 tháng 2 năm 2005 đổi thành ngày 9 tháng 10 năm 2009), tung tin trên báo rằng bà đã gây thương tích cho một người có mặt lúc đó. Thế giới đều biết dưới chế độ CS không có báo chí tự do và nhà báo độc lập được phép hành nghề. Cho nên, dù chi tiết tin tức về biến cố chưa đầy đủ và rõ ràng, các quan sát viên trung thực đều tin rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là nạn nhân của một vụ bạo hành có tổ chức và điều khiển trong bóng tối. Chẳng khác vụ nhà báo nước Tunisie Taoufik Ben Brik bị bắt giữ mới đây vì bị cáo là ‘’đã hành hung một phụ nữ trên đường phố’’. Phóng Viên Không Biên Giới xác quyết rằng tổng thống (độc tài) Zine El Abidine Ben Ali không bao giờ dung thứ ông Taoufik Ben Brik vì những bài báo ông viết chỉ trích chế độ Tunis . Bà Trần Khải Thanh Thủy bị nhốt lại tại trại Hỏa Lò Mới (Cầu Diễn Hà Nội), nơi mà hai năm trước, giữa những điều kiện lao lung tồi tệ, bà còn bị tù thường phạm nhốt chung hành hung và sỉ nhục.

Cần nhắc lại, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2009, một chiến dịch thể hiện ‘’truyền thống văn hóa’’ phi nhân, đồi bại và quái đản, hiếm thấy trên thế giới, được tổ chức để ném phân người và xác chết thú vật vào cửa và mặt tiền căn nhà của bà Trần Khải Thanh Thủy. Sau khi bà Trần Khải Thanh Thủy bị giam cầm độc đoán đầu năm 2007, hội Nhà Văn Hà Nội dưới sự lãnh đạo của đảng CS đã xóa tên bà trong danh sách hội viên. Một hành vi làm kinh tởm các nhà văn hội viên Văn Bút Quốc Tế vì bà Trần Khải Thanh Thủy là hội viên danh dự của Trung Tâm Văn Bút Anh. Hành vi của hội Nhà Văn Hà Nội làm nhớ đến phong cách của hội Nhà Văn Liên Sô thời bạo chúa Staline ngự trị tại "thành trì tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Đài Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) trao tặng bà Trần Khải Thanh Thủy Giải Tự do Phát biểu Lillian Hellman/Dashiell Hammet năm 2007. Năm 2009, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và mục sư Nguyễn Công Chính đồng lãnh Giải Nhân Quyền của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam .

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từng được Văn Bút Quốc Tế tuyên dương nhân dịp thế giới cữ hành Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 năm 2007. Cùng với nhà văn và nhà báo Nga Politkosvkayav, nhà báo Umida Niyazo, nước Ouzbékistan, nhà báo Serkalem Fasi, nước Éthiopie, bà Trần Khải Thanh Thủy tiêu biểu cho những nhà nữ trí thức chân chính, những người cầm bút dấn thân, bất khuất, mà tù ngục, hăm dọa và cả đến giết hại không hủy diệt được tiếng nói chỉ trích bạo quyền và bạo lực.

Năm nay - 2010 - đánh dấu 50 năm thành lập Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (1960). Trong một thông cáo đặc biệt phổ biến vào Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy lại được Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới nhắc đến, cùng với 14 nhà văn và nhà báo phụ nữ được tuyên dương vì là biểu tượng lòng can đảm của hàng ngàn người cầm bút nam lẫn nữ từng bị dọa giết, bị tra tấn và tù đày, bị sát hại hoặc mất tích trong nửa thế kỷ qua :

Nhà văn Nawal El-Saadawi, nước Ai Cập; nhà văn Alaíde de Foppa de Solórzano, nước Guatamala; nhà thơ Alicia Partnoy, nước Argentine; nhà văn Nien Cheng, nước Trung Hoa (mất năm 2009); nhà văn Lydia Cacho Ribeiro, nước Mễ Tây Cơ; nhà văn Shahrnush Parsipour, nước Ba Tư; nhà văn Maria Elena Cruz Varela, nước Cuba; nhà báo Martha Kumsa, nước Ethiopie; nhà văn Taslima Nasrin, nước Bangladesh; nhà báo Sihem Bensedrine, nước Tunisie; nhà thơ Irina Ratushinskaya, nước Nga dưới chế độ Cộng sản Liên Sô; nhà báo Anna Politkovskaya, nước Nga (bị ám sát năm 2006); nhà văn Aung San Suu Kyi, nước Miến Điện; nhà báo Natalia Khoussaïnovna Estemirova, nước Nga (bị bắt cóc và sát hại ở Tchétchénie năm 2009) và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nước Việt Nam (dưới chế độ CS).

Văn Bút Quốc Tế không quên nhắc đến cháu An Khuê mười ba tuổi, con gái út của bà Trần Khải Thanh Thủy và ông Đỗ Bá Tân, người chồng tình nghĩa thủy chung, hết lòng bênh vực và ủng hộ bà. Nhà giáo Đỗ Bá Tân bị phạt 2 năm tù giam treo và 47 tháng tù quản chế trong cùng một phiên tòa xử nhà văn vợ ông ngày 5 tháng 2 năm 2010 tại quận Đống Đa, Hà Nội. Văn Bút Quốc Tế còn nhấn mạnh rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là một trong số ít nhứt là 19 nhà văn dân chủ đối kháng bị nhốt tù ở Việt Nam . Văn Bút Quốc Tế cũng bày tỏ sự quan ngại sâu xa về tình trạng sức khỏe của bà Trần Khải Thanh Thủy vì được biết bà mắc bệnh tiểu đường và bệnh lao phổi.

Văn Bút Quốc Tế kêu gọi các Trung Tâm Văn Bút gởi ngay Kháng Nghị để

- thúc giục nhà cầm quyền CS phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cùng tất cả những người hiện còn bị giam cầm ở Việt Nam (tù nhân ngôn luận và lương tâm như bà Trần Khải Thanh Thủy). Và nhấn mạnh rằng hành vi trấn áp đó của nhà cầm quyền CS vi phạm Điều 19 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết;

- đòi đảm bảo cho nhà văn nữ tù nhân Trần Khải Thanh Thủy được săn sóc và trị bệnh với đầy đủ thuốc men cần thiết.

(Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, thành viên Ủy Ban Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù, hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc - Genève).

Genève ngày 12 tháng 3 năm 2010

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse

Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.

Kháng Nghị thư của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù còn được phổ biến toàn cầu trên hệ thống IFEX Action Alert Network (International Freedom of Expression Exchange/Trao Đổi Quốc Tế Quyền Tự Do Phát Biểu Quan Điểm) .

International PEN Writers in Prison Committee (PEN WIPC)

Brownlow House, 50/51 High Holborn, London WC1V 6ER,

RAPID ACTION NETWORK 9 March 2010 RAN 24/07 Update #2

VIETNAM: Award-winning writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy (f) sentenced; health concerns.

The Writers in Prison Committee of International PEN strongly protests the three and a half year prison sentence handed to writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy. PEN considers Tran Khai Thanh Thuy to be convicted solely for peacefully exercising her right to free expression, and calls for her immediate and unconditional release in accordance with the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) to which Vietnam is a signatory.

According to International PEN’s information, Tran Khai Thanh Thuy, a novelist, poet, essayist and editor of the underground dissident magazine To Quoc (Fatherland), was sentenced by the People’s Court in Dong Da District of Ha Noi to three and a half years in prison and 47 months of probationary detention, on 5 February 2010. The verdict was given after a one day trial and was based on Article 104 of the Penal Code. At the same trial, Thuy’s husband was given a two year suspended prison sentence and 47 months of probation, but has been allowed to remain at home to care for the couple’s youngest daughter, aged thirteen.

Tran Khai Thanh Thuy was arrested on 8 October 2009, after publicly expressing her support for six dissidents facing trial. On the day of her arrest an incident took place near Thuy’s home, in which two men reportedly attacked Thuy’s husband, and she intervened on his defence. She was subsequently questioned and charged with assault, although it is widely believed that she herself was in fact the victim of the attack. Thuy suffers from diabetes and tuberculosis, and there are serious concerns that her health is deteriorating in prison. She is held at Hoa Lo Number 1 Detention Camp (Cau Dien), Ha Noi.

Background

Tran Khai Thanh Thuy has been under heavy surveillance and harassment since September 2006 for her writings published online. She was arrested at her home in April 2007, where she had already been under house arrest for six months for her critical writings. She is a member of the Union of Writers and the Club of Women Poets of Hanoi, and is a recipient of the 2008 Hellman Hammet Award. She is among at least nineteen dissident writers currently detained in Vietnam.

BBC report: http://news.bbc.co.uk/1/hi/8500462.stm

Monsters and Critics: http://www.monstersandcritics.com/news/ ... lt-Roundup[1

Please send appeals:

Calling for the immediate and unconditional of Tran Khai Thanh Thuy and all those currently detained in Vietnam in violation of Article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a signatory;

Seeking assurances that she is given full access to all necessary medical care whilst in prison. (...)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bắc Kinh chuẩn bị cho Nguyễn Chí Vịnh?

Trung Điền
Đầu tháng 3 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam đã thăm viếng Bắc Kinh và có cuộc tiếp xúc đặc biệt với Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc. Đây là chuyến đi thăm Trung Quốc đầu tiên của Nguyễn Chí Vịnh kể từ sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng quốc phòng vào tháng 2 năm 2009. Tuy nhiên, chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Chí Vịnh đã không được báo chí tại Việt Nam đề cập nhiều, thậm chí không nói rõ mục tiêu và thời gian thăm viếng của Nguyễn Chí Vịnh tại Bắc Kinh.

Trong khi đó, báo chí Trung Quốc lại thổi lớn việc Nguyễn Chí Vịnh dẫn một phái đoàn quân sự thăm viếng Trung Quốc với mục tiêu thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước nhân dịp đánh dấu 60 năm quan hệ Trung Việt. Báo chí Trung Quốc còn cho biết là trong buổi tiếp xúc, Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc, đã hết lòng khen ngợi Nguyễn Chí Vịnh và mong mỏi Nguyễn Chí Vịnh góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ trao đổi song phương và hợp tác để hiểu biết sâu sắc hơn, đồng thời gia tăng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước.

Từ đầu năm 2010 đến nay, có lẽ Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật cao cấp nhất của Hà Nội viếng thăm Trung Quốc. Việc Bắc Kinh mời Nguyễn Chí Vịnh thăm viếng đúng vào lúc cả hai chế độ cộng sản anh em này đang tổ chức các buổi lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao cho thấy là Bắc Kinh đang chuẩn bị tư thế chính trị cho Nguyễn Chí Vịnh. Tại sao?

Nguyễn Chí Vịnh và Tô Huy Rứa được coi là hai nhân vật “thân tín” nhất của Trung Quốc trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay. Tô Huy Rứa đang được Bắc Kinh hỗ trợ để trở thành một lý thuyết gia “Mác-xít” cuối mùa tại Việt Nam; giống như Liên Xô đã từng uốn nắn Đào Duy Tùng trở thành lý thuyết gia “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” vào những năm cuối thập niên 80. Tô Huy Rứa hiện nay là Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban tuyên giáo, nắm trong tay toàn bộ công cụ báo chí tuyền thông và các cơ sở giáo dục. Tô Huy Rứa còn là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, một cơ quan trá hình để tổ chức những buổi học tập bồi dưỡng chính trị và tư tưởng cho các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giảng dạy của cán bộ chính trị từ Trung Quốc.

Nguyễn Chí Vịnh đang được Bắc Kinh chuẩn bị nắm vị trí số một trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957, con trai của tướng Nguyễn Chí Thanh. Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết ở trong Nam thì Nguyễn Chí Vịnh được gia đình Lê Đức Thọ nuôi nấng. Năm 1977, Nguyễn Chí Vịnh nhập ngũ và tốt nghiệp sĩ quan thông tin. Năm 1979, Nguyễn Chí Vịnh vào làm việc cho cục Nghiên cứu Bộ quốc phòng. Tháng 2 năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh giữ nhiệm vụ chỉ huy Cục 12, Tổng cục 2. Năm 1997, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Phó tổng cục 2. Đây là thời kỳ Nguyễn Chí Vinh đã cấu kết với phe nhóm Lê Đức Anh ngụy tạo một số bản tin tình báo mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ, cáo buộc là CIA đã móc nối một số nhân vật cao cấp của Cộng sản Việt Nam, trong đó có các ông Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt và cả Võ Nguyên Giáp, với âm mưu làm loạn để lật đổ chính quyền cộng sản. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết thư tố cáo những ngụy tạo này và yêu cầu điều tra Nguyễn Chí Vịnh nhưng Lê Đức Anh đã gạt ra.

Nhờ những việc làm nói trên, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Thiếu tướng vào tháng 7 năm 1999 và 3 năm sau được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2 vào tháng 8 năm 2002, thay thế Trung tướng Đặng Vũ Chính là bố vợ của Vịnh về hưu. Kể từ khi nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh đã trở nên thân thiết với Bắc Kinh nhiều hơn và hai phía đã có những hợp tác trao đổi về các tin tức tình báo. Nguyễn Chí Vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có cảm tình hoặc không có cảm tình đối với Bắc Kinh. Dựa trên danh sách này, Trung Quốc đã tìm cách mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Trong mối quan hệ này, Nguyễn Chí Vịnh được coi là “con thoi” giữa Nông Đức Mạnh với lãnh đạo Bắc Kinh. Đặc biệt, Nguyễn Chí Vịnh được Nông Đức Mạnh giao cho nhiệm vụ liên lạc về vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Tháng 12 năm 2004, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Trung Tướng.

Vào năm 2006, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đều muốn đưa Nguyễn Chí Vịnh vào Trung ương Đảng nhân đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh đã bị tấn công dữ dội về vụ Tổng Cục 2 làm tay sai cho Trung Quốc. Đồng thời uy tín của Nông Đức Mạnh bị suy giảm một cách thê thảm sau khi phe Nguyễn Tấn Dũng khui ổ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông từ cuối năm 2005, vì thế mà tên của Nguyễn Chí Vịnh đã không được để vào danh sách ứng viên Trung ương đảng để cho các đại biểu chọn lựa trong đại hội X vào tháng 4 năm 2006.

Nguyễn Chí Vịnh không được vào Trung ương đảng nhiệm kỳ X là một thất bại lớn của Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh, vì Vịnh bị chống đối quá mạnh trong nội bộ. Rút kinh nghiệm đau thương này, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đã giúp cho Nguyễn Chí Vịnh cách chuẩn bị khác. Tháng 2 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng bộ quốc phòng và đến tháng 8 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh thôi kiêm nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2; người thay thế là Trung tướng Lưu Đức Huy, đàn em của Vịnh.

Sau khi không còn nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh được sửa soạn xuất hiện ra bên ngoài với một tư thế mới như: Chủ tọa buổi lễ công bố sách trắng Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 năm 2009; Chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ, trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Cộng sản Việt Nam trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1 năm 2010; gặp gỡ và trả lời câu hỏi của báo chí quốc tế về tình hình an ninh vào tháng 2 năm 2010; dẫn một phái đoàn quân sự cao cấp viếng thăm Bắc Kinh vào cuối tháng 2 năm 2010.

Những diễn tiến “thăng quan tiến chức” của Nguyễn Chí Vịnh nói trên, cho thấy là Vịnh đã được chuẩn bị khá kỹ. Với đà này, vài năm nữa, Nguyễn Chí Vịnh sẽ leo vào Bộ chính trị và lên nắm chức Bộ trưởng quốc phòng thay thế Phùng Quang Thanh, thân Phương Tây. Hiện nay trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam có 5 Thứ truởng, chỉ có một mình Nguyễn Chí Vịnh là chưa vào được Trung ương đảng; do đó, nhiều phần phe Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh sẽ phải chạy nhiều cửa để vận động cho Vịnh được đề bạt vào Trung ương đảng trong đại hội đảng lần thứ XI vào tháng 1 năm 2010.

Nguyễn Chí Vịnh năm nay mới 53 tuổi. Vịnh còn đến hơn 10 năm nữa để “phấn đấu” leo lên làm thành viên Bộ chính trị và làm Bộ trưởng quốc phòng nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn sống lâu đến đó. Đương nhiên, Bắc Kinh sẽ giúp tiền cho Vịnh để chạy đúng cửa như đã từng giúp cho nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay vào Trung ương đảng và Bộ chính trị. Sau khi vào rồi họ phải làm tay sai cho quan thầy. Nguyễn Chí Vịnh không thể đi ra ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh.

Trung Điền
Ngày 11/3/2010.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ai chống tham nhũng bằng Chu Nguyên Chương?

Ngô Nhân Dụng

Các nhà kinh tế biết rằng nạn tham nhũng làm cho quốc gia chậm phát triển. Tham nhũng là một thứ thuế “phụ thu” làm nản lòng người đầu tư. Tham nhũng là thêm một yếu tố bất trắc khiến người ta ngại làm ăn. Một quốc gia đầy tham nhũng như Congo, Việt Nam, Campuchia, nếu nạn tham nhũng giảm bớt được một nửa thì kinh tế có thể phát triển nhanh thêm được 2 đến 3% một năm.

Nhưng ít có kinh tế gia nào nhìn vào vấn đề tham nhũng mà thấy như Phan Bội Châu: Có bài trừ tham nhũng thì người dân một quốc gia mới phục hồi được lòng liêm sỉ.

Giữa hai mục tiêu “phát triển kinh tế” và “phục hồi liêm sỉ,” bên nào quan trọng hơn? Ðối với một người từng làm nghề nghiên cứu và dậy môn kinh tế học, thì tôi xin trả lời rằng: Phục hồi liêm sĩ quan trọng hơn. Bởi vì dân có liêm sỉ thì kinh tế có triển vọng tiến nhanh hơn; ngược lại, kinh tế tiến bộ chưa chắc đã làm cho người ta có đức liêm sỉ.

Kinh tế thị trường đặt cơ sở trên lòng tin tưởng, tin vào con người và tin vào các định chế xã hội. Những nước kinh tế phát triển cao nhất như Mỹ, Nhật Bản, Ðức Quốc cũng là những nước mà lòng tin cậy giữa con người với nhau trong xã hội cũng cao nhất. Ngược lại, có những nước kinh tế cũng khá cao nhưng xã hội không xây dựng được một niềm tin chung mạnh mẽ thì trình độ phát triển cũng bị giới hạn, sớm muộn sẽ “đụng trần” không lên được nữa. Khi người dân một nước sống không biết liêm sỉ thì chính nền kinh tế của họ sẽ khó phát triển. Không phải các nhà đọa đức nói như thế mà chính các kinh tế gia phải công nhận điều đó.

Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại những ý kiến của Phan Bội Châu viết trước đây hơn một thế kỷ, trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Cụ Phan viết, “Phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Năm 1903 khi cụ viết lá thư này, đức liêm sỉ vẫn còn được dùng làm thước đo giá trị trong xã hội, những người liêm sỉ còn rất được kính trọng. Ngày nay, trên báo chí ở nước ta ít người nói đến hai chữ liêm sỉ. Tình trạng tham nhũng hối lộ thời cụ Phan, đầu thế kỷ 20 chắc chắn không rộng, sâu, và những tham quan không trâng tráo ngang ngược chiếm đoạt của công như bây giờ.

Nhưng 100 năm trước hay là bây giờ, vấn đề khó nhất vẫn là: Làm sao để giảm bớt nạn tham nhũng, hối lộ?

Phan Bội Châu thời đó là một nhà Nho lỗi lạc nhưng không sống trong guồng máy chính quyền; thật ra, cả cuộc đời cụ không trải qua kinh nghiệm “làm quan.” Cho nên, ngoài đề nghị giảm bớt thuế cho dân nghèo, những lời kêu gọi “huyết lệ” của cụ thường chỉ nhắm vào mặt đạo đức cá nhân. Cụ khuyến cáo hãy “thắt chặt tình trên dưới (giữa quan và dân), mở rộng đường thẳng ngay... phải lấy công tâm mà làm việc...” vân vân.

Ðó cũng là lối chống tham nhũng, chống hối lộ suốt ngàn năm trong xã hội cổ truyền ở Á Ðông. Trương Ðình Thưởng là một tể tướng thanh liêm vào thế kỷ thứ 8 bên Tầu. Khi nhậm chức, ông ra lệnh cấp dưới phải tra cứu lại một vụ án liên can tới nhân sĩ Vô Cô, một người ông kính trọng. Ông yêu cầu trong 10 ngày phải cho biết kết quả xem vụ án có điều gì sai trái hay không. Ngày thứ hai, ông ra công đường, thấy một mảnh giấy đặt trên bàn viết mấy câu: Xin biếu ngài ba vạn quan tiền. Xin đừng hỏi lại vụ án này nữa. Trương Ðình Thưởng lặng lẽ xé vụn mảnh giấy, không cần hỏi tới. Sang ngày thứ ba, lại thấy một mảnh giấy khác: Xin biếu ngài 5 vạn quan. Trương Ðình Thưởng nổi giận! Bèn rút ngắn thời hạn, ra lệnh các “thanh tra” trong hai ngày phải xét xong vụ án cũ rồi phúc trình đầy đủ. Ðến ngày tư, trên bàn lại có mảnh giấy khác: Xin biếu ông mười vạn.

Lúc đó Thưởng mới giật mình, “Tiền đến 10 vạn là phải có phép thuật quỷ thần! Ta sắp mang họa đến nơi rồi!”

Bèn bỏ không tra cứu vụ án cũ nữa. Câu chuyện trên được Kỳ Ngạn Thần kể, cho biết đã đọc trong cuốn Cổ Vũ U Nhàn của Trương Cố đời Ðường. Không rõ có ai giao số tiền 10 vạn hay không, chúng tôi đoán là không. Một người nắm quyền tể tướng trong sạch và cương quyết như Trương Ðình Thưởng, cuối cùng chịu thua không chống nổi tham nhũng khi biết mình “đụng tới quỷ thần.” Quỷ thần là thứ quyền hành tuyệt đối, cao hơn mạnh hơn guồng máy pháp luật của quốc gia. Ðó là chuyện lịch sử thời Trung Ðường bên Trung Quốc; đến thời Hậu Hồ ở Việt Nam bây giờ lịch sử cũng ghi nhiều chuyện ngưng điều tra khác, kể ra không hết được. Ai đọc truyện đời nay tới đoạn Nguyễn Việt Tiến PMU 18 được phục hồi danh vọng, các nhà báo bị bắt bỏ tù; hoặc nghe vụ Hành Lang Ðông Tây Sài Gòn thấy Huỳnh Ngọc Sỹ bình tĩnh thản nhiên mặc dù công ty PCI Nhật Bản khai đã đưa lót tay ông ta hàng triệu Mỹ kim, cũng có thể suy ra rằng mọi cuộc điều tra, mọi hoạt động của guồng máy tư pháp đều bắt buộc phải ngưng lại. Cũng vì đã “đụng tới quỷ thần” rồi!

Ðời xưa, quỷ thần là do quyền hành tuyệt đối của ông vua mà sinh ra. Vì quyền vua tuyệt đối, không bị giới hạn mà cũng không được định nghĩa rõ ràng, cho nên không ai đoán trước được nó như thế nào. Nên mới sinh ra quỷ thần. Rất nhiều người có thể dựa hơi ông vua mà bỗng nhiên có quyền thế ngất trời. Bố một người đầu bếp giúp vua hài lòng vì ăn ngon miệng; hay em ruột một phi tần được nhà vua sủng ái; hàng trăm hàng ngàn người giống như vậy, người nào cũng có thể có cơ hội xin vua gia ân hoặc giáng họa cho người khác. Dù ông vua muốn làm sạch chế độ của ông ta, nhưng nếu ông tể tướng đụng tới quyền lợi của những người này là sẽ thất bại. Ðúng là đụng tới quỷ thần!

Ngày nay, quyền hành của Ðảng Cộng Sản cũng tuyệt đối không khác gì quyền ông vua đời xưa. Ðảng Cộng Sản nguy hiểm hơn vì nó rất mập mờ bí ẩn, khó nhận diện, và vô trách nhiệm. Không có một ông vua cụ thể nào đứng ra nói “tôi quyết định.” Ai chịu trách nhiệm khi tòa án Nhật Bản truy tố các nhà kinh doanh Nhật hối lộ ở Việt Nam? Không thấy ai trong cái bộ máy tối cao vô hình đó cả. Ðảng Cộng Sản đúng là một thứ quỷ thần vô danh vô tướng.

Ví thử có một ông tổng bí thư cộng sản quyết tâm muốn bài trừ tham nhũng, liệu ông hay bà ta có khả năng làm hay không? Trong cuốn tiểu thuyết Thiên Nộ (Cơn giận của Trời) của Trần Phong, kể chuyện guồng máy tham nhũng tại thành phố Bắc Kinh, một nhân vật nói, “Hoàng đế nhà Minh, Minh Thái tổ, bắt được quan lại tham nhũng thì đem lột da rồi trưng bầy bộ da cho các quan chức coi mà sợ, đừng tham nhũng nữa.” Nhưng anh ta, một cán bộ trong sạch trong guồng máy, nhận xét, “Biện pháp đó không ăn thua gì cả. Tại sao? Vì cả hệ thống cai trị sinh ra tham nhũng. Mà điều quan trọng nhất là: Không có một hệ thống kiểm tra nào của dân, độc lập với nhà nước để theo dõi.” Kết luận: “Chu Nguyên Chương chỉ thi hành các biện pháp chắp vá để chống tham nhũng!” Ngay cả việc lột da các quan ăn hối lộ cũng chỉ là chắp vá! “Muốn thành công chúng ta phải có cách nhìn toàn bộ,” cuốn tiểu thuyết khuyến cáo!

Cách nhìn toàn bộ nào? Phải thay đổi toàn thể hệ thống, nghĩa là phải bãi bỏ tình trạng chuyên chế độc tài của một đảng! Chính cái đảng cầm quyền tuyệt đối, trên đầu không có ai, chính nó là nguồn gốc sinh ra tham nhũng. Dù có thay thế cái đảng đó bằng một đảng khác, dùng toàn những bộ mặt mới, con người mới, nhưng nếu vẫn giữ cơ chế độc quyền và quyền hành tuyệt đối, thì vẫn hỏng. Cơ chế vẫn như cũ, thì làm gì cũng vẫn chỉ là biện pháp chắp vá mà thôi! Chính cơ cấu độc quyền chuyên chế đẻ ra nạn tham nhũng, chứ không phải vì có những con người xấu mà sinh ra tham nhũng. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối.

Chúng ta sống sau cụ Phan 100 năm, hiểu rõ hơn về xã hội cũng như guồng máy chính trị của loài người, cho nên biết những lời khuyến cáo đạo đức rất quý báu nhưng không đủ. Phải tìm trị căn nguyên của bệnh tham nhũng và hối lộ do các định chế chính trị sinh ra. Chuyên chính là nguồn gốc của tham nhũng, vì nó trao quyền hành tuyệt đối vào tay một nhóm người không chịu trách nhiệm với ai cả. Năm 1958, ngày 28 tháng 1, ông Hồ Chí Minh nói chuyện với các “học sinh” Trường Công An Trung Ương, ông hỏi họ, “Các cô các chú có muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội hay không?” Và ông nhắc đi nhắc lại một khẩu hiệu rất nhiều lần, “Dân Chủ và Chuyên Chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thật sự phải chuyên chính thật sự... Có chuyên chính thật sự, có dân chủ thật sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được...” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 9, trang 29).

Ðó là chủ nghĩa Lê Nin. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải gột rửa tư tưởng Lê Nin Nít đó trước hết. Chỉ khi nào trong cơ cấu chính trị quốc gia có phân quyền, có các cơ quan quyền lực ngang hàng để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, chúng ta mới hy vọng bắt đầu chống tham nhũng. Khi nào người dân được tự do nói, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử, thì mới thiết lập được các định chế phân quyền. Nếu chưa có các điều kiện đó, nói gì cũng chỉ là nói xạo mà thôi.

Nghe nói xạo mãi, người dân khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhưng chính người dân cũng bị tác hại: Nghe nói dối quen, người ta mất cả khái niệm về danh dự, về liêm sỉ. Ngày xưa Phan Bội Châu khuyên dân tộc Việt Nam phải bài trừ tham nhũng để người dân phục hồi đức liêm sỉ. Một thế kỷ sau, điều này còn khẩn cấp hơn thời cụ Phan viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư gấp trăm, gấp ngàn lần!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

“Không hối lộ, Chống áp bức”

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Luật Sư Lê Thị Công Nhân lại bị công an Cộng Sản bắt cóc đem về “bót,” chỉ có mấy ngày sau khi được thả. Họ thay nhau thẩm vấn cô hơn 4 giờ, cuối cùng chỉ cốt để ngăn cản không cho tiếp một phóng viên ngoại quốc đã hẹn gặp để phỏng vấn cô. Hành động của công an Cộng Sản vẫn chứng tỏ chế độ này không có một khái niệm nào về liêm sỉ, không biết xấu hổ, không biết ngượng. Nó cũng chứng tỏ họ sợ thông tin, sợ sự thật, sợ những người dám nói sự thật.

Cô Lê Thị Công Nhân là một người đáng khâm phục. Cô là mẫu người bất khuất. Vì cô nhiệt thành tin vào mục đích của cuộc đời mình. Bước ra khỏi nhà tù Cộng Sản, cô vẫn tươi cười, thản nhiên, vẫn quyết dấn thân suốt đời tranh đấu cho dân Việt Nam được sống tự do. Thanh niên Việt Nam có thể noi gương cô. Nhìn vào tấm gương của cô, thế hệ trẻ ở nước ta sẽ vững tin sẽ có ngày mọi người đều được sống tự do dân chủ.

Niềm tin đó rất cần thiết. Vì hiện nay thanh niên nước ta đang bị lôi kéo vào cuộc sống đam mê vật chất, để chỉ nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác. Trong cuốn Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật tuyên bố: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ... Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay... khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách...” Ông Ðào Hiếu đã lớn lên ở miền Nam, học trong hệ thống trường học chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong hệ thống học đường đó, ông được các thầy cô dậy sống theo một lý tưởng. Ông đã theo mấy giáo sư mà tin tưởng vào đảng Cộng Sản, hoạt động nội thành có công, được gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông có lúc được trọng dụng, nhưng hoạn lộ không bằng phẳng vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi. Nhưng tại sao một người trên 65 tuổi đó lại tỏ ý chán chường như câu “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách”? Nhà văn còn kêu gọi mọi người, “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả... (C)ả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).

Ðời sống của cô Lê Thị Công Nhân là những lời khẳng khái bác bỏ ý tưởng bi quan yếm thế đó. Thái độ bình tĩnh và nụ cười tự nhiên của cô là một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Chúng ta có thể sống với lý tưởng. Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người cũng được. Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, loài người vẫn giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Cứ té ngã rồi lại đứng dậy. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Và đó là lý do chúng ta vẫn tiếp tục sống, tiếp tục mưu cầu hạnh phúc, xây dựng một xã hội loài người tốt đẹp hơn.

Chúng ta cảm ơn những người như Lê Thị Công Nhân, vì cô đang tặng cho tuổi trẻ Việt Nam một thứ mà xã hội đang thiếu: Niềm vui sống với một lý tưởng. Dân ta đang cần sống với niềm tin. Nói theo kiểu Phan Bội Châu đời xưa, chúng ta vẫn cần “Chấn Dân Khí.”

Hơn một thế kỷ trước đây, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu), năm 1903, Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học thuật, Nhân tài, và Dân khí. Ðổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).

Cụ Phan nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Tình trạng dân khí đầu thế kỷ 20 như thế. Hiện nay có thấy tốt hơn hay không, chỉ các nhà trí thức trong nước Việt Nam mới trả lời được.

Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ, nói có những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.”

Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản khi thấy Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân đứng lên dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là họ khiếp sợ như nghe sấm sét! Ðám công an Cộng Sản thấy các ông Nguyễn Thanh Hải, cô Phạm Thanh Nghiên bầy tỏ ý kiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, con chó ở nước Việt thì sủa vang lên khi thấy tuyết; vì những loài chó này ít khi được nhìn thấy các “vật lạ” đó.

Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã đặt câu hỏi: Muốn chấn dân khí, phải làm thế nào? Một điều bất ngờ đối với những người Việt sống sau Cụ Phan 100 năm, là câu trả lời của Cụ Phan rất có tính thời sự. Cụ chỉ nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”

Khi đọc hai câu trong tựa đề bài này, chắc nhiều vị độc giả không nghĩ đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước:

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”

Cụ Phan không nêu lên hai việc cần thiết đó như là những khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp, hoặc chống triều đình nhà Nguyễn nhu nhược hủ lậu. Nhưng cụ coi đó là 2 việc cần làm để giúp cho “dân khí” nước ta phấn chấn. Chấn Dân Khí nghĩa là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.

Phan Bội Châu coi chống tham nhũng là phương tiện: Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải có tiền; và nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong xã hội như vậy, thanh niên sẽ mất hết khái niệm về đức liêm sỉ. Trước đây nửa năm, công an Lâm Ðồng bắt đầu tấn công quậy phá các tăng ni trẻ tu tập ở Tu viện Bát Nhã; lúc đó đã có người đánh tiếng rằng vụ rắc rối này có thể thu xếp được. Người ta đưa điều kiện là phải đưa ra một triệu đô la Mỹ. Nhưng các thiền sinh trẻ tuổi ở Tu viện Bát Nhã đã từ chối. Nếu ngỏ lời kêu gọi lạc quyên, thì dù nêu ra bất cứ lý do nào, họ có thể được Phật tử khắp thế giới quyên góp, chắc cũng đủ gần triệu Mỹ kim, có thể mặc cả. Nhưng họ không làm.

Vì họ không thể đóng vai những người đi đưa tiền hối lộ, “cho tiện công việc”. Họ đang tập lối sống chính trực, lương thiện, và muốn khuyến khích mọi người sống chính trực, lương thiện. Nếu đưa tiền hối lộ thì chẳng khác gì tự phủ nhận lý tưởng sống của mình! Họ ở lại tu viện Bát Nhã để làm gì nếu chính lý tưởng của mình đã bị mất? Họ không đưa tiền hối lộ, vì họ yêu nước Việt Nam. Theo đúng lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, họ chứng tỏ ở trong nước Việt Nam hiện nay còn rất nhiều người vẫn giữ vững liêm sỉ. Trên đời không phải cái gì cũng mua được! Các tăng ni Bát Nhã đã làm gương cho giới trẻ Việt Nam. Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146).

Cô Lê Thị Công Nhân, trong một hoàn cảnh khác, cũng nêu tấm gương sáng cho giới trẻ nước ta, theo đúng lời khuyên thứ hai của Phan Bội Châu. Cô và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang đòi chính quyền Cộng Sản bớt áp bức những người dân bị oan khuất và các nhà trí thức bất đồng ý kiến. Chính họ đang “cổ võ ý khí cương cường” cho thế hệ các thanh niên đang lớn lên. Nói theo lối cụ Phan, những cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của giới trí thức nước ta, từ Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế hay Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý đều “chống áp bức” để giúp cho người dân Việt Nam hết sợ hãi. Khi đó, “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (trang 147)

Phan Bội Châu viết lá thư “Lưu Cầu” này ở Huế, nhưng mượn tên hòn đảo Nhật Bản này vì số phận của dân họ cũng giống nước Việt Nam lúc đó. Lưu Cầu, Riu Kiu, vốn là một vương quốc độc lập không thuộc giống dân Nhật, đã bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị sáp nhập từ năm 1879, đổi tên là quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay.

Nhiều người Việt Nam cũng đang lo mối nguy mất nước, lúc này đọc lại những lời huyết lệ của cụ Phan còn thấy hợp. Muốn nước đứng vững và tiến lên, trước hết phải chấn hưng “dân khí.” Phải nâng cao tinh thần tự tin và nuôi dưỡng lý tưởng của thanh niên. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Lý tưởng có thật. Nó giúp cho đôi mắt của Lê Thị Công Nhân lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến các tăng ni trẻ Bát Nhã thành những hạt giống Bồ Ðề. Và chính vì những lý tưởng vị tha, Ðức Giám Mục Ngô Quang Kiệt khuyên các giáo dân từ Vinh lên đưa tiễn ngài hãy thắng mọi sợ hãi. “Chúng ta phụng vụ trong Ðức Tin chứ không phải trong sợ hãi.” Trên đường sang Roma chữa bệnh ngài cũng yêu cầu mọi người hãy can đảm “nói sự thật” mà không sợ đàn áp. Ðó là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.

Chúng ta thấy ở trong nước Việt Nam còn bao nhiêu người nuôi đức tin mãnh liệt, tin vào vào lẽ phải và sự thật, tin tưởng vào phẩm giá con người, tin con người có khả năng hướng vào điều thiện. Tất cả chúng ta có thể lạc quan. Thanh niên Việt Nam có thể sống với lý tưởng; và họ rất đáng sống với lý tưởng. Năm 1903 Phan Bội Châu còn phải chứng kiến nước ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và lũ quan lại hủ bại nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau, dân Việt Nam đã đứng lên phá bỏ gông xiềng. Chế độ Cộng Sản sẽ tàn lụi không khác gì các chế độ thực dân và phong kiến.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Vì sao Cộng Sản lùi hai bước?

Ngô Nhân Dụng

Một tuần lễ sau khi phải thả Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cường quyền Cộng Sản lại quyết định “tạm tha” cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Có thể coi là họ đã chịu lùi 2 bước.

Mặc dù cô Lê Thị Công Nhân được ra khỏi cái nhà tù nhỏ vì bản án của cô hết hạn, nhưng nếu đảng Cộng Sản muốn họ vẫn có thể bịa ra bất cứ lý do nào để giữ cô trong nhà giam, như họ vẫn làm từ xưa tới nay đối với những người đòi dân chủ. Cho nên trả tự do cho cô là Cộng Sản chấp nhận một bước lùi. Còn cha Nguyễn Văn Lý thì được đưa về cho Tòa Tổng Giám Mục Huế săn sóc lấy lý do vì bị bệnh; nhưng trong thực tế ông đã lâm trọng bệnh từ lâu mà gần đây cũng không có triệu chứng nào nặng nề hơn đến nỗi không thể đem vào giam trong nhà thương của công an. Vì lý do nào mà một người bị xử án 3 lần, tổng cộng 14 năm tù, lại được đưa “về nhà” chữa bệnh? Cho nên, có thể coi việc Cộng Sản trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý là những bước lùi bất đắc dĩ của chế độ Cộng Sản. Tại sao họ chịu lùi, và tại sao lại chịu lùi vào lúc này?

Chúng ta không thể tin là đảng Cộng Sản đã thay đổi chính sách. Không thể tin họ đã chấp nhận từ nay cho người dân Việt Nam, những người như Cha Lý và cô Công Nhân, được tranh đấu công khai cho quyền làm người và thể chế dân chủ. Ðường lối đảng Cộng Sản trước sau như một là độc tài chuyên chính, theo lời Hồ Chí Minh từ nửa thế kỷ trước.

Như vậy thì chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản đã đã lùi hai bước ngay trong lúc này vì họ sợ áp lực của dư luận quốc tế. Nhưng các áp lực đó đã có từ lâu chứ không mới xẩy ra; cho nên cũng có thể là trong thực chất đảng Cộng Sản chẳng có chính sách, chủ trương nào lâu dài cả. Mọi quyết định của họ đều tùy tiện, nhất thời, do nhu cầu từng giai đoạn. Họ không có một đường lối nhất quán, trông bên ngoài thấy những hành động mâu thuẫn với nhau. Giả thuyết đáng tin nhất là đảng Cộng Sản hiện giờ có nhiều cái đầu, những cái đầu độc lập với nhau và những cánh tay không do một bộ não duy nhất chỉ huy. Các quyết định được đưa ra như thể “ngẫu nhiên,” không phải một bộ máy có người nắm quyền kiểm soát; ngược lại từ bên trong và bên ngoài có quá nhiều lực đẩy.

Những lực đẩy từ bên ngoài có thật và càng ngày càng mạnh. Những phiên xử án Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã gây ra những làn sóng phản đối khắp thế giới, từ phía các chính quyền cũng như các hội đoàn trong xã hội công dân. Hình ảnh bình tĩnh thản nhiên của Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân khiến cả loài người có lương tâm kính trọng, khiến người ta càng có lý do khinh thường chế độ độc tài Cộng Sản, khiến nước Việt Nam cũng bị khinh lây. Riêng Linh Mục Nguyễn Văn Lý thì bức hình của ông trong “phiên tòa bịt miệng” đã trở thành biểu tượng cho cuộc tranh đấu đòi quyền làm người của dân tộc Việt Nam hiện nay, trước sự đàn áp thô bạo của chế độ Cộng Sản.

Tháng Bảy năm ngoái, 37 vị nghị sĩ Quốc Hội Mỹ đã ký thư yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho ông “ngay lập tức và vô điều kiện.” Tới đầu tháng này, ông phụ tá ngoại trưởng Mỹ Kurt Compbell, lại lên tiếng yêu cầu lần nữa, khi được tin linh mục bị bệnh. Cuối tuần trước, Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã can thiệp yêu cầu chính phủ Mỹ xếp chính quyền Cộng Sản Việt Nam trở lại vào danh sách các chế độ vi phạm tự do tôn giáo “cần quan tâm đặc biệt.” Và trên thế giới, cộng đồng người Việt khắp nơi liên tiếp vận động các vị đại biểu Quốc Hội nơi họ sống tạo áp lực buộc chính quyền Cộng Sản phải tôn trọng quyền sống tự do dân chủ của người Việt Nam.

Những áp lực đó chắc chắn có hiệu quả; bằng cớ là đảng Cộng Sản đã phải lùi ngay hai bước trong vòng một tháng, khi họ phải trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Mặc dù cô Công Nhân vẫn tiếp tục bị quản thúc, và Cha Lý chỉ được “tạm trao cho Nhà Chung” để chữa bệnh; nhưng đối với Cộng Sản thì rõ ràng là nếu không bị bắt buộc không đời nào họ nhượng bộ liền hai bước như thế.

Bởi vì, khi chịu lùi hai bước, họ biết sẽ còn phải chịu thêm áp lực để lùi nữa. Hiện nay đảng Cộng Sản đang chịu rất nhiều áp lực từ các tầng lớp dân chúng sống trong nước. Phong trào các nông dân đòi đất bị chiếm đoạt chưa nguôi vì không có một cách giải quyết thỏa đáng; thì các thành phần thanh niên và trí thức đã tự biến thành những thế đối kháng trên các mặt trận truyền thông. Ðảng Cộng Sản bị tấn công tới tấp vì không bảo vệ được chủ quyền dân tộc đối với biên cương và hải phận, không bảo vệ được ngư dân đánh cá bị “hải tặc” mặc binh phục Trung Cộng đánh đập, cướp bóc. Giới trí thức Việt Nam khắp nước và khắp thế giới bầy tỏ nỗi phẫn nộ vì những vụ cho Trung Cộng khai thác bô xít, cho thuê rừng. Trong khung cảnh “tứ bề bị vây hãm, tấn công” như vậy, người suy nghĩ bình thường cũng thấy không nên trả tự do cho những người tranh đấu đối kháng mạnh bạo nhất, như Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Làm như vậy không khác nào thả cọp về rừng và tiếp tay cho “các lực lượng thù nghịch.”

Một cách giải thích là chế độ Cộng Sản hiện nay rất lúng túng. Trong khi thành phố Hà Nội đang kỷ niệm Một Ngàn Năm ngày Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thì dân chúng thủ đô đã bất bình từ nhiều năm qua vì pho tượng Lý Thái Tổ ở bên bờ Hồ Hoàn Kiếm thấy rõ ràng chỉ mô phỏng hình ảnh một ông vua Tàu trong phim bộ Trung Quốc! Khác với hình ảnh những ông vua đời Lý, đời Trần mà sử sách cho biết vẫn còn giữ phong tục Việt Nam và rất gần gũi với người dân bình thường. Chưa hết, gần đây lại có tin chính quyền Cộng Sản đã đưa một đoàn quay phim sang Tàu để quay một cuốn phim về Lý Thái Tổ! Ai cho phép các cán bộ nắm đầu 10 tỉnh cho các công ty Trung Quốc thuê đất trồng rừng với hợp đồng 50 năm trong lúc cả nước đã nổi giận vì vụ khai thác bô xít? Những hành động này chỉ có thể nói là “Hết khôn, dồn ra dại!”

Những phản ứng của cô Lê Thị Công Nhân và cha Nguyễn Văn Lý cho thấy việc tạm phóng thích họ chỉ làm cho chế độ Cộng Sản bị thiệt hại thêm chứ không được lợi gì cả. Ngay khi ra khỏi tù, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã nhắc lại một lập trường chính đáng của ông là không công nhận luật lệ của đảng Cộng Sản, không công nhận tòa án Cộng Sản, cho nên ông từ chối không chấp nhận bị coi là một “phạm nhân.” Cô Lê Thị Công Nhân cũng xác định cô cương quyết tranh đấu đến cùng cho mọi người Việt Nam được sống tự do dân chủ và cô nhất định không thỏa hiệp với cường quyền áp bức. Tất cả các nhà tranh dấu dân chủ ở Việt Nam, từ giới thanh niên tới các nhà trí thức, cả các đảng viên Cộng Sản sẽ coi đó làm gương cho họ.

Cho nên có thể kết luận rằng đảng Cộng Sản Việt Nam đã lùi hai bước liên tiếp chính vì họ không dám cưỡng lại các áp lực quốc tế. Linh Mục Nguyễn Văn Lý may mắn sống vào thời đại này, hơn 20 năm sau khi các chế độ Cộng Sản ở Âu Châu đã sụp đổ. Trước tấm gương sụp đổ đó, các công an Cộng Sản ở Việt Nam cũng không dám tự tung tự tác bạo hành như các đồng nghiệp của họ ở Âu Châu 30 năm trước. Và nhờ áp lực kinh tế của các nước tư bản cho nên những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam cũng không bị thủ tiêu, may mắn hơn những người Ba Lan vào giữa thập niên 1980.

vào những năm đó, chế độ Cộng Sản Ba Lan đã giải tán công đoàn độc lập Solidarnos và ra lệnh thiết quân luật. Họ bắt cóc và thủ tiêu Linh Mục Jerzy Popieluszko, là một cán bộ công đoàn. Cha Popieluszko đi trốn nhưng vẫn tổ chức mỗi tháng một buổi thánh lễ ở họ đạo St. Stanislaw, ngày càng đông người tới tham dự. Ba sĩ quan công an Cộng Sản đã bắt cóc Linh Mục Popieluszko, cùng với một người tài xế, nhưng bác tài đã nhẩy qua cửa sổ trốn thoát. Mấy ngày sau thì người ta thấy xác Linh Mục Popieluszko trên dòng sông Vistula.

Nhờ người tài xế bạn ông còn sống nên tin tức được truyền đi làm dân Ba Lan phẫn nộ, cuối cùng chế độ Cộng Sản phải đưa ba sĩ quan công an và một đại tá chỉ huy họ ra tòa và kết án tù. Phải tới 5 năm sau, khi chế độ Cộng Sản tan rã, những viên tướng trùm công an và trùm mật vụ mới bị đem ra tòa xét xử về vụ ám sát, thủ tiêu này.

Ðám công an Cộng Sản ở Việt Nam hiện nay cũng biết số phận của các đồng nghiệp Ba Lan, Ðông Ðức của họ. Cho nên trong mấy năm qua, các người tù vì lương tâm ở Việt Nam đã được đối xử một cách lịch sự, tử tế hơn. Một chế độ đang tan rã cũng giống như một chiếc tàu sắp chìm, những con chuột cũng bỏ chạy. Ðây là một cơ hội để tiếp tục đẩy mạnh việc tranh đấu đòi tự do dân chủ cho mọi người Việt Nam.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mặt Trận Afghanistan

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Bọn Taliban ở Afghanistan đã mở cuộc tấn công đánh bom dữ dội vào thành phố Kandahar ở miền Nam, rồi đến sáng chủ nhật vừa qua đã ra tuyên bố cảnh cáo Đại tướng Stanley McChrystal lãnh đạo quân NATO rằng chúng đã sẵn sàng trước cuộc tấn công quy mô sắp tới của quân đồng minh. Một loạt những quả bom nổ đã phá hoại nhiều tòa nhà và giết chết ít nhất 35 người - trong đó có 10 người đang dự một đám cưới, khiến Thống đốc tỉnh Kandahar phải yêu cầu quân đồng minh gia tăng bảo vệ an ninh ở vùng này. Trong khi đó, cư dân thành phố lo sợ nói họ không có mấy tin tưởng về khả năng của đồng minh cũng như quân của chính phủ bảo vệ an toàn cho họ.

Như tin trước đây đã cho biết tướng McChrystal tuyên bố quân đồng minh sẽ mở một cuộc hành quân lớn đánh sào huyệt của Taliban ở Kandahar vào cuối năm nay. Phát ngôn nhân Ahmadi của Taliban tuyên bố cuộc tấn công đánh bom tối thứ Bẩy cho thấy quân của chúng vẫn có khả năng đánh lớn mặc dù quân đồng minh và quân chính phủ đang tăng cường chuẩn bị tấn công vào Kandahar. Tuy nhiên Phát ngôn nhân Bashary của bộ Nội vụ chính quyền Afghanistan nói những cuộc tấn công của Taliban đã thất bại vì chúng không đạt được mục tiêu chính yếu là làm giống như chúng đã tấn công bằng bom tự sát năm 2008 ở cửa nhà tù để giải thoát hàng trăm can phạm và những nghi can nổi loạn. Vụ đám cưới có người bị bom chết đã diễn ra ở gần cửa khám đường Kandahar. Bashary nói chính quyền trung ương đang cứu xét lời yêu của Thống đốc tỉnh này.
Riêng thủ phủ Kandahar có 800,000 dân. Nơi đây là trụ sở của chính phủ Taliban khi chúng cai trị Afghanistan, chúng đặt ra chế độ thần quyền cai trị trong suốt 5 năm cho đến khi chúng bị quân đội Mỹ lật đổ vào năm 2001. Tỉnh Kandahar hiện là căn cứ của Taliban, bọn phiến loạn kiểm soát hầu hết các thôn xóm làng mạc ở xung quanh thủ phủ Kandahar. Dân chúng trong thành phố nói bọn Taliban muốn làm gì thì làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi. Javed Ahmad, một người dân 40 tuổi nói: "Chúng tôi cảm thấy không có an toàn với sự hiện diện của quân lực chính quyền, sống trong trạng thái này thật ghê rợn. Chúng tôi không có an toàn khi ở trong nhà và khi đi ra ngoài đường".

Trong vụ tấn công tối thứ Bẩy có 13 Cảnh sát và 22 thường dân trong đó có 6 phụ nữ và 3 trẻ em, phần lớn chết ở Trụ sở Cảnh sát và trong đám cưới. Mohammad Anwar, 30 tuổi, bán hàng trong tiệm có một thân nhân chết trong vụ đánh bom nói với một ký giả Mỹ: "Tối Thứ Bẩy vừa qua cũng giống như ngày tận thế cho tất cả người dân Afgha chúng tôi". Ông ta nói cư dân ở đây trách cứ quân Mỹ và đồng minh đã không diệt trừ bọn Taliban một cách đầy đủ: "Chúng muốn giết dân và loại trừ chế độ chăng? Chính quyền hiện nay quá yếu để ngăn chặn chúng".

Cuộc tấn công quy mô của Mỹ, NATO và quân chính phủ dự trù vào cuối năm nay nhằm diệt trừ Taliban là tiếp nối cuộc tấn công hồi tháng Hai mới đây nhằm vào Thị trấn Majah trong tỉnh Helmand ở miền Tây Nam Afghanistan. Cuộc tấn công này là cuộc thí nghiệm đầu tiên của Đại tướng McChrystal nhằm diệt trừ bọn Taliban đang chiếm đóng nơi này để thành lập một chính quyền địa phương mới của Tổng Thống Karzai đồng thời bảo đảm an toàn cho dân chúng, xúc tiến viện trợ để lấy lại niềm tin và lòng trung thành của người dân. Thị trấn Majah nay đã ổn định.

Tuần này tại Majah, các lực lượng Cảnh sát quốc gia đã được bố trí với sự yểm trợ của một số quân Gia Nã Đại và Mỹ, xây dựng một lực cảnh sát địa phương 2,000 người. Việc huấn luyện Cảnh sát là ưu tiên hàng đầu của quân đội đồng minh tạo uy tín cho chính quyền Karzai mà người ta hy vọng sau này, chính quyền Afghanistan sẽ tự gánh vác việc giữ gìn an ninh cho dân chúng. Số quân Gia Nã Đại 2,800 người hiện đang dự cuộc đánh Majah sẽ rút khỏi Afghanistan vào năm tới.

Cũng tuần này có tin đáng chú ý là tại tỉnh Herat ở phía Tây (tiếp giáp Iran), 30 quân Taliban đã đem vũ khí ra hàng Ủy hội Hòa bình của chính phủ. Mặc đồ quốc phục Afgha vai đeo súng và hàng tràng đạn, họ cam kết từ này sẽ không đánh lại quân chính phủ. Cố nhiên còn phải chờ một thời gian mới biết đây là hàng thật hay hàng giả. Tổng Thống Karzai đang thúc đẩy một chương trình gọt tỉa dần các tay súng Taliban với hứa hẹn cấp công ăn việc làm. Ông sẽ triệu tập một cuộc hội nghị hòa bình vào tháng tới tại Thủ đô Kabul, đạt giấy mời các lãnh tụ Taliban đến thương lượng. Cho đến nay các tay cầm đầu Taliban vẫn bác bỏ các cuộc điều đình cho đến khi quân đội ngoại quốc rút hết khỏi Afghanistan.

Mặt khác theo tin báo chí Mỹ, với chương trình bề ngoài là thâu lượm tin tức, một giới chức Quốc phòng đã thiết lập một đường liên lạc qua Internet với các công ty thầu khoán Mỹ đang hoạt động ở Afghanistan và Pakistan, để nhắm theo dõi và diệt trừ các nghi can thuộc các phe phản loạn ở hai nước đó. Giới chức này là ông Michael Furlong, mướn các nhà thầu của các công ty an ninh tư đã dùng các cựu nhân viên CIA và lực lượng đặc biệt. Chỉ có điều trở ngại là ở Pakistan, nơi bọn al-Qaida và Taliban đang ẩn náu, việc bí mật sử dụng các nhà thầu tư nhân có thể bị coi là một cách qua mặt chính quyền Pakistan hiện đang cấm không cho phép quân đội Mỹ hoạt động trên lãnh thổ nước này. Furlong là một sĩ quan Không quân Mỹ hồi hưu, nhưng bây giờ là một viên chức dân sự cao cấp trong quân đội Mỹ.
Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết chính phủ nước này bác bỏ tin nói đã mở cuộc mật đàm về hòa bình với nhân vật số 2 của Taliban là Ghani Barada khi ông này bị bắt ở Pakistan hồi tháng Hai 2010. Theo nguồn tin của Thông tấn Reuter Tổng Thống Karzai đã từng yêu cầu Taliban từ bỏ vũ khí để đến Kabul mở cuộc hòa đàm dự liệu vào cuối tháng Tư hay đầu tháng Năm năm nay. Các giới chức Mỹ nói hiện chưa có tiến bộ cụ thể nhưng họ hy vọng có thể sẽ có hòa đàm nội trong năm nay, sau khi quân Mỹ và đồng minh tạo thêm áp lực tại mặt trận với số quân Mỹ gia tăng thêm 30,000 người như TT Obama đã quyết định.

Từ khi Barada bị bắt, Karzai tìm cách thuyết phục Pakistan trao Barada cho chính phủ Afgha. Các giới chức Afgha nói Pakistan đã đồng ý giải Barada qua Afghanistan, nhưng một tòa án Pakistan đã quyết định không trục xuất Barada qua nước ngoài. Thực hư ra sao chưa rõ, nhưng những tin tức trên cho thấy mặt trận Afgha chắc chắn sẽ có những biến chuyển mới trong những tháng tới.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Thế nào là trưng cầu dân ý?

Cách đây đúng một ngàn năm, mùa Xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ ban hành “Chiếu dời đô” để chuyển kinh đô nước Đại Cồ Việt là Cổ Loa (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội) ngày nay. Có người cho rằng đó là cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên trong lịch sử nước Việt. Kết thúc chiếu dời đô, nhà vua nói: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Rõ ràng, trước một vấn đề hệ trọng ảnh hưởng đế sự tồn vong của nước Việt, nhà vua không thể tự mình quyết định. Nhà vua muốn biết lòng dân như thế nào!

Ngày 6/10/1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố mở cuộc trưng cầu dân ý nhằm xác định tương lai của Việt Nam. Với kết quả 92,8 % phiếu thuận, cuộc trưng cầu đã phế truất nhà vua Bảo Đại.

Hiến pháp 1946 ghi rằng “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”. Trường hợp cụ thể được nêu ra có tính cách bắt buộc để cho toàn dân phúc quyết là “khi sửa đổi hiến pháp” sau khi đã được nghị viện thông qua. Các hiến pháp sau này không nói rõ như thế mà chỉ nói “trưng cầu các vấn đề quan trọng”. Hiến pháp 1992 hiện hành chỉ nói nhân dân có quyền thực hiện trưng cầu dân ý khi cơ quan nhà nước đưa ra trưng cầu, nhưng không nói rõ khi nào thì trưng cầu, và vấn đề nào được đưa ra trưng cầu.

Hơn 65 năm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam chưa có một cuộc trưng cầu dân ý nào, mặc dù đã 3 lần thay đổi và sửa chữa hiến pháp. Bỏ quên quyền phúc quyết của dân chúng, đó là một thiếu sót rất căn bản của thủ tục lập hiến.

Năm 2005, nhà nước dự định thông qua Luật Trưng cầu Dân ý nhưng cuối cùng bộ luật này vẫn dừng lại ở mức độ dự thảo! Dự thảo bộ luật này chứa đựng nhiều xung đột, không thể thông qua, mà chủ yếu tập trung vào “vùng cấm” trưng cầu. Theo dự thảo thì các vấn đề sau đây không được đưa ra trưng cầu bắt buộc:

•Hệ thống chính trị và thể chế chính trị;
•Những vấn đề được khẳng định trong cương lĩnh của Đảng Cộng sản;
•Nghị quyết các Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản;
•Các luật thuế, luật ngân sách, chính sách giá cả;
•Chính sách dân tộc, tôn giáo;
•Các vấn đề rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội;
•Các vấn đề đại xá và đặc xá.
Với “vùng cấm” rộng lớn và bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội như vậy thì gần như chẳng còn vấn đề nào để phải trưng cầu!

Trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp bỏ phiếu để quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước hoặc những vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội. Đây là hình thức dân chủ trực tiếp có ý nghĩa hơn cả việc bầu cử người đại diện cho mình vào quốc hội.

Hiện nay các tranh luận tập trung vào những vấn đề lớn sau đây:

•Những vấn đề nào thì được trưng cầu, hay đúng hơn là giới hạn của các vấn đề được đưa ra trưng cầu;
•Đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu;
•Kết quả trưng cầu bắt buộc và trưng cầu tham khảo;
•Cơ chế và cách thức tổ chức trưng cầu.
Có ý kiến cho rằng cần phải giới hạn các vấn đề trưng cầu, không phải vấn đề nào cũng được đưa ra trưng cầu. Tôi không đồng ý quan điểm này vì theo tôi ở một nền dân chủ thực sự thì người dân có quyền quyết định mọi vấn đề, không cần bất kỳ một giới hạn nào. Khi nhà nước còn nghĩ đến việc “giới hạn” các vấn đề trưng cầu thì cũng đồng nghĩa với việc giới hạn quyền lực của nhân dân. Còn nghĩ đến “vùng cấm” là còn nghĩ đến các đặc quyền riêng cho mình.

Bất kỳ vấn đề nào cũng có khả năng được đưa ra trưng cầu nếu như sáng kiến trưng cầu được thông qua. Sáng kiến trưng cầu là một nhu cầu khách quan. Vấn đề đặt ra là người có sáng kiến trưng cầu có thu thập đủ số lượng chữ ký để được thông qua hay không chứ không phụ thuộc vào nội dung cụ thể của sáng kiến trưng cầu.

Có một sự kiện xảy ra gần đây cần nêu ra như một ví dụ điển hình:

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và GSTS Nguyễn Thế Hùng là những người tiên phong phản đối dự án bô-xit ở Tây Nguyên vì cho rằng dự án sẽ ảnh hưởng nặng nề về môi sinh cũng như về an ninh quốc gia. Với số lượng người đã ký tên phản đối dự án và lượng người truy cập vào trang web bô-xit như hiện nay thì tôi tin ba người này hoàn toàn có thể thu thập đầy đủ số chữ ký cần thiết để đưa ra sáng kiến trưng cầu là: “Có nên thực hiện dự án bô-xit hay không”. Vấn đề lúc này phải phụ thuộc vào kết quả trưng cầu chứ không còn phụ thuộc vào “Chủ trương lớn của Đảng”, bởi vì mục đích lớn nhất của Đảng phải là phụng sự mong muốn của nhân dân.

Nhiều ý kiến cho rằng nên giới hạn đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu. Tôi cũng không đồng ý quan điểm này vì khi người dân có quyền bỏ phiếu trưng cầu thì họ phải có quyền nêu ra sáng kiến trưng cầu. Giới hạn đối tượng được nêu ra sáng kiến trưng cầu là giới hạn sự sáng tạo của xã hội.

Khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý là muốn biết người dân quyết định như thế nào, do đó kết quả trưng cầu có tính bắt buộc thực thi. Tôi không đồng ý quan điểm chia tách kết quả trưng cầu ra làm hai loại: kết quả tham khảo và kết quả bắt buộc. Nhà nước có nhiều cách thức để tham khảo ý kiến của dân, không nhất thiết phải chờ kết quả trưng cầu. Khi đã tổ chức trưng cầu dân ý thì kết quả trưng cầu phải có tính bắt buộc thực thi.

Chúng ta hy vọng dự luật trưng cầu dân ý sớm được thông qua để làm nền tảng phát triển cho một xã hội dân chủ thật sự.

Sài Gòn ngày 12/03/2010

Luật sư Lê Trần Luật
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Quốc với 40 triệu 'quang côn'

Ngô Nhân Dụng
Người Tầu đọc là “Guang-gun,” đọc lối Việt là Quang Côn. Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài.” Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa, người nói tiếng Anh dịch là Bare Branches. Hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đã viết cuốn sách mang tựa đề “Bare Branches,” dịch từ hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu “không thể kiếm được vợ.” Sách do nhà xuất bản Ðại Học MIT in năm 2004. Trong từ điển Hán Việt cũng ghi nghĩa chính rất thông dụng đó: quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, cũng gọi là ế vợ.

Ðề tài cuốn sách này có vẻ không đáng chú ý, vì người Việt chỉ lo con trai nhà mình khó kiếm vợ, chẳng ai cần quan tâm đến tình trạng đàn ông bên Tầu ế vợ! Nhưng khi đọc thấy con số 40 triệu đàn ông con trai độc thân dự đoán trong mười năm tới ở lục địa Trung Hoa thì thấy cũng đáng suy nghĩ. Gần đây, một tuần báo Anh viết một bài dài, nhấn mạnh đến cảnh đàn ông ế vợ ở nhiều nước, đặc biệt là ở Trung Cộng, khi họ trình bày tình trạng phá thai hoặc giết trẻ gái sơ sinh khắp thế giới. Hàng trăm triệu em bé gái đã bị giết ngay trong bụng mẹ vì cha mẹ không muốn có con gái. Một hậu quả là cảnh đàn ông ế vợ vì nhiều trai, ít gái quá, ở những nước như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Armenia, Georgia, vân vân. Người Việt phải chú ý đến chuyện bên Tầu.

Theo báo Nhà Kinh Tế (The Economist, March 6, 2010) thì Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) vào đầu năm 2010 đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ 5 thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về” cả. Họ tính ra con số trên dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước tới nay. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là không thể kiếm được vợ.

Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Con số đó cũng cao gần gấp đôi số thanh niên trẻ ở ba nước Ðức, Pháp và Anh quốc cộng lại, ba nước đông dân nhất Âu Châu. Trong lịch sử, chưa bao giờ có một quốc gia nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế, trong thời gian không có chiến tranh. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng sấp sỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.

Nhưng đối với người Việt Nam thì con số 40 triệu này có phải một điều đáng lo nghĩ hay một mối đe dọa hay không?

Có, nếu chúng ta tin một số quy luật dân số học trong quá khứ có thể được lập lại trong tương lai. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi dân số một nước tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, đặc biệt là khi số thanh niên trai tráng lên cao, có nhiều người trong tuổi lao động bị thất nghiệp, đặc biệt hơn nữa là trong số đó có quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì một hệ quả là các nước ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Có thể họ thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư này, nhất là để tránh không cho đám thanh niên “bức xúc” bất mãn đó không còn thời giờ mà phạm tội, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền nữa. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì những người cầm quyền thường hay gây chiến, nhất là khi kinh tế suy yếu.

Hy vọng là thế giới nay đã thay đổi, chuyện này sẽ không diễn ra trong tương lai. Vì hiện nay loài người đã văn minh hơn, kinh tế toàn cầu hóa, các nước tôn trọng tự do mậu dịch; sẽ không để cho nước nào thiếu việc làm hay thiếu thực phẩm. Miễn là có trao đổi thương mại, có công việc làm là ai cũng có gạo ăn và có đủ trò giải trí.

Nhưng theo Valerie Hudson và Andrea den Boer thì có những hậu quả khác khó tránh được khi số thanh niên ế vợ tăng cao quá. Một, là số người phạm tội sẽ gia tăng; cho nên, chế độ chính trị sẽ thiên về đường lối độc tài để đối phó với mối lo bất ổn.

Bình thường, những người phạm tội và bạo động trong xã hội đa số vẫn là giới trẻ. Những người trẻ ế vợ, không phải gánh trách nhiệm đối với vợ và con thì dễ phạm tội hơn, lý do cũng dễ hiểu. Trong nhiều xã hội, những thanh niên ế vợ quá lâu còn bị mọi người chung quanh coi thường, nếu không nói là coi khinh, gạt ra ngoài lề xã hội, họ càng có lý do để nổi loạn. Hai chữ “quang côn,” cành cây trụi lá, chứa ý nghĩa khinh thường, ai cũng thấy - cũng giống như người Việt Nam gọi họ là “bị sao Mộc Ðức (tức là đực, mốc) chiếu mạng!”

Tất cả các yếu tố đó dễ thúc đẩy đám thanh niên bị gạt ra bên lề xã hội sinh ra bạo động và phạm tội. Nhiều người sẽ gia nhập băng đảng, để được kính trọng hơn, và để thể hiện “nam tính” của mình. Ở các xã hội thừa trai thiếu gái, những vụ hiếp dâm, bắt cóc phụ nữ ép làm vợ, và nạn mãi dâm đều cao hơn các xã hội bình thường.

Ðể đối phó với đám thanh niên bất mãn dễ gây tội và dễ làm loạn đó, Valerie Hudson và Andrea den Boer nhận xét, các chính quyền thường quay sang khuynh hướng độc tài. oHaiHHai

Hudson và den Boer viết, các chính phủ “phải giảm bớt mối đe dọa của những chàng trai trẻ này đối với xã hội. Hậu quả là họ trở nên độc đoán hơn để đối phó với các tội phạm như băng đảng, buôn lậu, vân vân.”

Tại sao có tình trạng 30 đến 40 triệu “quang côn,” đàn ông ế vợ, ở nước Trung Hoa trong vòng 10 năm tới? Người ta nghi rằng đó là do nhiều bậc cha mẹ đã phá thai khi biết bào thai sẽ sinh ra là một em gái; và tệ hơn nữa, có người giết trẻ em gái ngay lúc lọt lòng. Nhiều cô mụ đỡ đẻ được trả tiền để làm việc này. Một tác giả người Trung Hoa đang sống ở Anh đã mô tả cảnh tượng đó, mà cô là người chứng kiến. Có những người mẹ sau đó hối hận đã tìm cách tự tử. (Cuốn sách là Message from an Unknown Chinese Mother của Xinran Xue).

Chính sách thời Mao Trạch Ðông hạn chế mỗi gia đình chỉ được có một con chỉ là một trong nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng tội lỗi này. Vì người ta đã thấy khắp thế giới, không riêng gì ở Trung Cộng đã xẩy ra tình trạng nhiều con trai, ít con gái. Và tại Trung Hoa, những tỉnh có chính sách dễ dãi trong việc hạn chế số con, nhiều khi cho phép các cặp vợ chồng có 2 con, thì chính ở những tỉnh đó tỷ lệ sinh con trai cao hơn sinh con gái còn nặng nề hơn ở các tỉnh khác. Những vùng kinh tế phát triển cao thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn, những nơi nhiều người có học, biết dùng các phương pháp dò để biết trước thai nhi là trai hay gái, thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn nữa.

Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao sấp sỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn giữ được nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.

Tỉnh Quảng Ðông là một nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai, trong mười lăm, hai mươi năm nữa, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Quảng Ðông ở ngay sát nước ta. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh này, thuộc loại trù phú nhất Trung Quốc, mà có dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?

Ảnh hưởng hay không còn tùy thuộc vào chính sách của những người cầm quyền ở Việt Nam. Người Trung Hoa có thể đối phó với nạn hàng chục triệu đàn ông ế vợ bằng cách đi mua hay dụ dỗ, bắt cóc phụ nữ ở các nước đem về. Những phụ nữ này có thể bị mua hoặc ép làm vợ, hay bị khai thác làm nghề mại dâm. Chính phủ của họ có thể làm ngơ, các chính quyền địa phương có thể khuyến khích những hành động phi pháp và vô đạo này. Những nước chung quanh, trong đó có Việt Nam, phải biết tự vệ. Những nước nghèo tất nhiên phải ngăn ngừa cẩn thận hơn nạn buôn người, xuất cảng phụ nữ.

Một lối thoát khác của thanh niên ế vợ ở Trung Hoa là đem họ ra nước ngoài làm việc. Hiện nay trong nước Tầu đang có cảnh nhiều ngành công nghiệp thiếu nhân lực, nhưng chính phủ Trung Cộng vẫn khuyến khích việc đem các công nhân Trung Hoa đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều công trình xây dựng hạ tầng cơ sở, phi trường, nhà máy, do các công ty Trung Cộng phụ trách sử dụng toàn người Trung Hoa từ lục địa đem qua. Nay lại thêm các chương trình thuê đất trồng rừng hoặc trồng cây kỹ nghệ của người Trung Hoa, đó cũng là những nơi sử dụng công nhân Trung Cộng. Nếu chính phủ các nước biết thì họ phải đưa ra chính sách ngăn ngừa những công nhân ngoại quốc bất hợp pháp này. Nếu không thì đây cũng là một cách giải quyết nạn “quang côn” quá đông của người Trung Hoa.

Nếu như lời tiên đoán của hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đáng chú ý thì người Việt Nam còn phải tính trước đề phòng với một nước Trung Hoa nằm dưới một chế độ cộng sản càng ngày càng độc tài hơn, vì họ lo sợ cảnh hỗn loạn, bạo động do các “quang côn” gây ra. Một nước Trung Hoa tự do dân chủ sẽ không có tham vọng bành trướng mạnh mẽ như một nước Trung Hoa độc tài chuyên chế. Vì các chính quyền độc đoán bao giờ cũng gây tình trạng thù nghịch với các nước khác để kích thích tự ái quốc gia, đánh lạc nỗi bất mãn của dân. Một chính phủ tự do dân chủ khó gây chiến tranh, vì rất khó thuyết phục dân chúng đồng ý; còn một chính quyền độc tài thì họ không cần hỏi ý kiến dân. Khi nước Trung Hoa có 30 tới 40 triệu thanh niên không tìm đâu ra vợ thì các nước chung quanh đều phải lo ngại, nhưng Việt Nam đáng lo nhất. Vì chính phủ cộng sản ở hai nước đều độc tài chuyên chế, và họ đang coi nhau là đồng chí và anh em. Chính sách ngoại giao của hai đảng không cho phép một định chế độc lập nào của người dân để kiểm soát; mà dân chúng cũng không có quyền tự do ngôn luận để góp ý kiến.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 0 guests