Tạp Ghi

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image


ÁC VÀ THIỆN

Sơn Tùng
Hồi 9 giờ 11 phút tối Thứ Ba 10.11.2009, John Allen Muhammad, 48 tuổi, đã bị xử tử bằng cách tiêm độc dược tại một căn phòng ở Trung tâm Cải huấn Greenville , Virginia . Hắn đã bị kết án tử hình về tội giết một kỹ sư tại Virginia năm 2002 trong một loạt những vụ bắn lén gây kinh sợ cho dân cư Vùng Hoa Thịnh Đốn kéo dài trong ba tuần lễ với mười người chết và ba trọng thương. Các nạn nhân đã bị bắn một cách tình cờ trong khi đang đứng bơm xăng vào xe, đang cắt cỏ trước sân nhà, đang đi trên đường phố, vừa từ một tiệm ăn ra, đang xếp đồ trong bãi đậu xe, vân vân.

Với một tòng phạm là John Lee Malvo, năm ấy 17 tuổi, Muhammad đã dùng một chiếc xe Chevrolet Caprice có khoét lỗ ở thùng sau để nằm nhắm bắn các nạn nhân vô tình lọt trong tầm đạn của một khẩu súng trường Bushmaster MX-15 bán tự động. Các nạn nhân của hắn không được biết trước khi chết, tại sao chết, chết bằng cách nào, và chết tại đâu như hắn đã được “hưởng” sau khi bị kết án năm 2004 và đã tìm mọi cách để chống bản án tử hình.

Trước khi sa lưới pháp luật, Muhammad và Malvo đã “nhân danh Thượng đế” để chơi trò “săn người” như một thú tiêu khiển bằng máu. Trong 21 ngày đầu tháng 10.2002, bốn triệu rưỡi cư dân trong Vùng Hoa Thịnh Đốn (gồm Washington DC, Virginia và Maryland) đã sống trong phập phồng, lo sợ mỗi khi phải ra khỏi nhà. Nhiều người không dám ra đường, không dám đi đổ xăng, không dám đi mua sắm, học sinh đi học phải rảo chân bước nhanh vào trường.

Các nạn nhân đã bị bắn ở khắp nơi, từ Montgomery County tới Rockville, Aspen Hills thuộc Maryland, trải dài tới Manassas, Richmond, Falls Church, Fredericksburg của Virginia – vẫn với một viên đạn cỡ .223 trong đầu hay trong ngực. Không ngày nào không có tin về tên bắn lén bí mật trên báo chí và truyền hình khắp nước Mỹ được gọi là “Beltway sniper” hay “Washington area sniper”.

Cảnh sát gần như bất lực, không tìm ra được manh mối nào để truy tìm thủ phạm (hay các thủ phạm) mà sau khi bắn trọng thương một học sinh 13 tuổi bên ngoài một trường học ở Maryland, chúng bỏ lại một lá bài tarot trên đó có ghi mấy lời trêu chọc và thách thức cảnh sát: “Dear policeman, I am God”. Chúng còn gọi điện thoại cho hai tu sĩ, tự xưng “Thượng đế” và khoe thành tích về tội ác của chúng. Nhưng, chính nhờ hai cú điện thoại này, mà không biết vì vô tình hay cố ý, chúng đã để lộ tung tích.

Nói “cố ý”, vì có giả thuyết cho rằng chúng đã mỏi mệt với trò chơi săn người và muốn để cho bị bắt để “được nổi danh” và đi vào lịch sử tội ác tại Mỹ. Thật vậy, nước Mỹ chiếm 84 phần trăm những vụ giết người hàng loạt trên thế giới, và đây là vụ gây kinh sợ nhất vì đã có nhiều người bị giết trong một thời gian quá ngắn. Những vụ khác, các hung thủ giết người thận trọng hơn, kín đáo và với mức độ chậm hơn. Thêm nữa, vụ này đã xảy ra sau cuộc tấn công 11.9.2001 nên người ta càng lo sợ đây là một chiến dịch khủng bố khác của Hồi giáo cực đoan.

Nhưng nhờ hai cú điện thoại gọi cho hai tu sĩ, cảnh sát đã phăng ra lý lịch của tòng phạm John Lee Malvo, một thiếu niên gốc Jamaica nhập cư Hoa Kỳ bất hợp pháp đang chờ ngày ra tòa để bị trục xuất. Y đã cùng bị bắt với Muhammad trong khi cả hai đang ngủ say trong chiếc Chevrolet đậu bên ngoài một trạm nghỉ chân cạnh xa lộ liên bang 70 gần Myersville , Maryland .

Sau khi hai hung phạm bị bắt, các chuyên viên về những vụ giết người hàng loạt, các nhà phạm tội học, các luật gia, các giáo sư tâm lý học ... thi nhau viết bài và xuất hiện trên màn ảnh truyền hình để giải thích về nguyên nhân khiến Muhammad và Malvo đã gây ra những vụ giết người tàn bạo này. Cuối cùng, người ta cho rằng đây là hành động “trả thù” của hai kẻ thất chí, hận đời, đang sống vô gia cư, vô nghề nghiệp giữa một xã hội văn minh giàu mạnh nhất thế giới.

Dù vì nguyên do gì, đây là một tội ác không thể biện minh. John Allen Muhammad bị tuyên án tử hình. John Lee Malvo, vì là một vị thành niên trong khi phạm tội, bị phạt tù chung thân và không có cơ hội ân xá.

Sau khi coi mạng người như cỏ rác và bị kết án tử hình, Muhammad đã nhờ luật sư khai thác mọi phương tiện pháp lý để tự cứu mạng hắn. Cuối cùng, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã từ chối thỉnh cầu hoãn thi hành bản án tử hình của hắn. Sau chót, Thống đốc Virginia Tim Kaine, một người chủ trương chống án tử hình, cũng từ chối can thiệp.

John Allen Muhammad đã từ giã cõi đời mà hắn thù ghét. Hắn ra đi một cách êm đềm chắc được nhiều người ao ước: được chích một mũi thuốc làm cho mê thiếp đi, sau đó được chích một mũi thuốc làm phổi ngưng hoạt động, cuối cùng là một mũi thuốc khiến quả tim thôi đập. Hắn rời khỏi “bể khổ trần gian” một cách nhẹ nhàng sau khi gây tang tóc, đau thương cho nhiều gia đình vô tội, tiêu phí vài triệu đô-la của dân đóng thuế trong thủ tục điều tra, xét xử và nuôi hắn bảy năm trong tù, nhưng vẫn có một số người tụ họp bên ngoài khám đường phản đối án tử hình bị họ chỉ trích là thiếu văn minh và vô nhân đạo.

Trái lại, thân nhân của những người bị giết đã bày tỏ sự văn minh và lòng nhân đạo một cách hợp lý hơn. Dean Harold Meyers, anh của nạn nhân Robert Meyers, một trong 27 người được mời chứng kiến cuộc hành quyết Muhammad, nói rằng: “Đây là một phần của thủ tục pháp lý. Nó được thi hành một cách chính đáng, nhưng dù sao, việc giết người vẫn là giết người. Bất cứ lúc nào đời sống của một con người bị tước đi, đó không phải là một tình huống vui thú.” Paul LaRuffa, thoát chết sau khi bị Malvo bắn 5 phát, đã từ chối chứng kiến cuộc hành hình, và cho biết lý do: “Tôi quyết định không để hắn lấy thêm một ngày khác trong đời sống của tôi hay phí phạm thêm một ngày khác nữa.” Ông ta đã dùng buổi tối hôm ấy để quây quần với vợ, các con, các cháu trong bữa ăn tối mà ông ta nói rằng “có giá trị hơn là nhìn Muhammad chết”.

Cái “thiện” vẫn là bản chất của con người, nói chung. Người có “tâm ác” như Muhammad hẳn là không nhiều.

Nhưng, nếu Muhammad muốn đi vào lịch sử tội ác của Mỹ một cách ồn ào thì vụ thi hành án tử của hắn đã bị lu mờ phần nào vì một tội ác cỡ lớn khác xảy ra trước đó năm ngày. Mười ba người, hầu hết là quân nhân, đã bị bắn chết và 30 người khác bị thương trong một vụ nổ súng tại Trại Hood ở Texas mà hung phạm duy nhất là một Thiếu tá Quân y tên Nidal Malik Hasan. Vụ thảm sát này đã gây chấn động nước Mỹ vì Fort Hood là căn cứ lớn nhất của Quân đội Mỹ, nơi làm thủ tục cho các quân nhân từ các chiến trường hải ngoại trở về và các quân nhân trước khi được phái tới phục vụ tại Afghanistan và Iraq . Các quân nhân không võ trang đang tập họp trong trại đã bị Hasan nhắm bắn như thỏ trước khi chính hắn bị một nữ cảnh sát viên bắn trọng thương.

Những cái đầu lớn nhất của nước Mỹ đang bàn cãi xem nên coi đây chỉ là một “thảm kịch đáng tiếc” của xã hội hay là một vụ khủng bố của Hồi giáo cực đoan trên nước Mỹ sau vụ 11.9.2001 vì những liên hệ của Nidal Hasan với khủng bố Hồi giáo. Hasan gốc Ả-rập, tín đồ đạo Hồi, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Một công dân Mỹ hoàn toàn trong một đất nước tạp chủng với quyền bình đẳng như mọi công dân khác, nhưng vài nhân chứng cho biết đã nghe hung phạm hô lớn bằng tiếng Ả-rập “Allahu Akbar!” (Thượng đế vĩ đại), khẩu hiệu mà các tên khủng bố Hồi giáo thường hô trước khi ra tay, và cuộc điều tra sau đó đã phát hiện nhiều bằng chứng cho thấy từ lâu Hasan đã tiếp xúc với các tổ chức Hồi giáo quá khích ở bên ngoài, trong lúc không giấu giếm tư tưởng ủng hộ cuộc “thánh chiến” của Hồi giáo tại Iraq, Afghanistan, và ca tụng những tên khủng bố Hồi giáo là những “anh hùng tử đạo”.

Tuy nhiên, thống kê cho thấy 85 phần trăm báo chí truyền thông Mỹ đã tránh không dùng chữ “khủng bố” để gọi hành động tội ác của Thiếu tá Hasan, và muốn coi đây là một “thảm kịch” do một cá nhân gây ra vì lý do chưa được biết. Quan điểm này của truyền thông dòng chính nước Mỹ phù hợp với lập trường chính trị của Tổng thống Obama: không có chiến tranh chống khủng bố Hồi giáo cực đoan (extremist Islamic terrorism) mà chỉ là chống lại “tai ương do con người gây ra” (man-made disaster). Ông Obama cũng không coi Hasan là một tên khủng bố mà là “nạn nhân” của một sự bùng nổ tâm lý vì một nguyên do không thể giải thích.

Quan niệm này dường như đang được chứng minh là nguy hiểm và muốn tránh né sự thật. Dù nhân danh cái gì, tội ác là tội ác, khủng bố là khủng bố. Cướp máy bay chở hàng trăm hành khách chứa đầy xăng để đâm vào hai tòa nhà chọc trời ở New York là tội ác chống nhân loại, là khủng bố, cuốn bom quanh người cho nổ giữa chợ giết hàng trăm dân lành là tội ác, là khủng bố – dù là nhân danh “thánh chiến” (jihadi), dù hành động một mình hay với nhiều đồng phạm. Hitler nhân danh chủ nghĩa “quốc xã” để giết 6 triệu dân Do Thái và gây ra Thế Chiến II là tội ác chống nhân loại. Cộng sản nhân danh “cách mạng”, “công bằng xã hội” để giết hàng trăm triệu người là tội ác lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã sụp đổ, và nó chỉ còn là cái bảng hiệu nham nhở của bốn chế độ độc tài ác ôn sót lại cuối mùa, trong đó có Việt Nam . Để nắm độc quyền cai trị, đảng Cộng sản VN (CSVN) đã gây ra nhiều tội ác.

Mấy triệu người Việt ở hải ngoại, dù ra đi bằng cách nào, cũng đều là nạn nhân của tội ác do CSVN gây ra. Vậy mà, ngay sau khi đủ ăn đủ mặc trên một đất nước xa lạ, đã không quên đồng bào ở quê nhà. Ngoài mấy tỉ đô-la gửi về giúp thân nhân mỗi năm, họ còn hào sảng đóng góp vào những cuộc cứu trợ từ thiện và thiên tai tại Việt Nam được tổ chức không ngừng trong các cộng đồng người Việt hải ngoại. Việc làm này đã là đề tài tranh cãi trong mấy năm gần đây. Kẻ bênh, người chống.

Những người ủng hộ nói rằng “máu chảy ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách”, lẽ nào chúng ta quay mặt làm ngơ trong khi đồng bào ở quê nhà đói khổ, thiếu cơm thiếu áo, bệnh tật không thầy không thuốc... dưới sự cai trị dã man của bạo quyền cộng sản, lại còn chịu cảnh thiên tai, bão lụt liên miên. Lòng từ thiện, nghĩa đồng bào để ở đâu?

Những người chống đối cãi rằng chăm lo cho dân là trách nhiệm của chính quyền một quốc gia. Nhà nước CSVN đã bất lực hoặc bất cần biết đến nỗi thống khổ của người dân, trong lúc bọn cầm quyền, “đại gia, tư bản đỏ” giàu sụ, sống xa hoa như đế vương. Tại sao người Việt ở hải ngoại phải đóng góp đem tiền về cứu trợ cho chúng ăn chặn, ăn bớt, có khi người nghèo chẳng được xu nào?

Còn một lý do khác được nêu lên để không đồng ý với việc cứu trợ như một đoạn trong bài viết của tác giả Nguyễn Mỹ Linh ở Quận Cam ( California ):

“Xin đừng quên là chúng ta đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tề trầm trọng mà hậu quả là rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta đã mất nhà, mất job, ... và cần sự giúp đỡ của cộng đồng. Nói trắng ra là cộng đồng chúng ta vẫn còn nghèo, mà một phần lớn của cái nghèo đó là vì chúng ta đã và hiện vẫn còn đang ‘ăn cơm nhà’ ở Hoa Kỳ, nhưng làm chuyện ‘vác ngà voi’ ở Việt Nam, một công việc ‘tài lanh’ mà Đảng Cộng sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam đang cười mũi vì họ không mời, không kêu gọi, cũng không ‘appreciate’ nhưng chúng ta vì muốn ‘thi đua’ lòng yêu nước thương nòi nên vẫn ‘thích’ và ‘mê’ lao đầu về làm như những con thiêu thân mà quên rằng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đặc quyền yêu nước, và ‘yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội’.

“Mà giả sử như chính quyền cộng sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam giả điếc làm ngơ, không thèm điếm xỉa, hay không lo toan cho dân nghèo thì đó là một cơ hội tốt cho đất nước Việt Nam chuyển mình. Cách mạng chỉ xảy ra khi con người ta bị đẩy vào đường cùng, khi các mâu thuẫn giữa hai giai cấp giàu và nghèo, giữa thành phần cai trị và bị trị dâng lên đến tột cùng. Lịch sử cho thấy hai triệu dân chết đói ở miền Bắc năm Ất Dậu (1945) đã tạo một cơ hội ngàn vàng cho Cộng sản khơi dậy lòng căm thù của toàn dân lên đến tột độ mà đứng lên làm “Cách mạng Mùa Thu”.

Bài của tác giả Nguyễn Mỹ Linh khá dài (8 trang) dưới tựa đề “Mùa Từ Thiện” được phổ biến gần đây trên mạng điện tử đã mổ xẻ nhiều khía cạnh của vấn đề “cứu trợ” dân nghèo tại Việt Nam với những dẫn chứng cụ thể của đời sống chung quanh chắc đã làm nhiều người suy nghĩ.

Tuy nhiên, có phần chắc là “Mùa Từ Thiện” vẫn sẽ còn tiếp tục trong các cộng đồng người Việt hải ngoại, dù có phải thắt lưng buộc bụng, dù bọn đầu sỏ CSVN và bọn tư bản đỏ có “cười mũi”.

Vì “nhân chi sơ tính bản thiện” (?).

Sơn Tùng
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Mười điều cần biết để bạn tìm kiếm Google hiệu quả hơn
Trong thời đại Internet, bạn không cần phải nhớ hết mọi thứ: Đó chính là ý tưởng phía sau câu ca dao hiện đại “Dân ta phải biết sử ta, nếu mà không biết thì tra Guc' gồ”. Biết cách tìm kiếm hiệu quả trên Google chính là chìa khóa thành công của bạn. Mười điều cần biết sau đây sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian và công sức khi dùng Google:

1. Hãy tận dụng dấu ngoặc kép: Khi bạn bao một nhóm từ bằng dấu đóng mở ngoặc kép, Google sẽ tìm các văn bản chứa chính xác nhóm từ đó. Với dấu ngoặc kép, bạn sẽ loại bỏ được nhiều kết quả không mong muốn. Ví dụ, bạn muốn tìm bài viết mà bạn nhớ có cụm từ “phong cách sống rất hiện đại”, hãy gõ vào Google [“phong cách sống rất hiện đại”] (trả về 5 kết quả) thay vì [phong cách sống rất hiện đại] (trả về hơn 5 triệu kết quả).

2. Tìm kiếm trong một trang web nhất định: Thêm vào từ khóa “site:” sẽ khiến Google chỉ tìm kiếm trong trang web đó. Ví dụ, gõ vào Google [“tham nhũng” PMU18 site:danluan.org], bạn sẽ tìm thấy tất cả các bài viết liên quan đến tham nhũng tại PMU18 ở trang Dân Luận.

3. Ký tự ‘*’: Nếu bạn chỉ nhớ láng máng lời một bài hát, bạn có thể dùng ký tự ‘*’ thay thế cho đoạn bạn quên. Ví dụ, gõ vào Google [“tình * côi”], bạn sẽ tìm thấy “tình đơn côi”, “tình mồ côi” hay “tình hoa mận côi” v.v…
Bạn cũng có thể dùng ký tự ‘*’ để hạn chế kết quả tìm kiếm. Ví dụ, bạn muốn tìm thông tin về học bổng, vậy hãy chỉ tìm các bài có chữ “scholarship” trên các trang web có đuôi là .edu: [scholarship site:*.edu]

4. Tìm kiếm kết hợp: Google luôn tìm trang có chứa tất cả các chữ mà bạn gõ vào ô tìm kiếm. Nếu muốn tìm trang có chứa từ này hoặc từ kia hoặc cả hai, hãy dùng từ khóa “or” (hoặc viết tắt bằng dấu “|”). Ví dụ, gõ vào Google [“Việt Nam” | “Đại Cồ Việt”] sẽ trả về các trang có chứa “Việt Nam”, “Đại Cồ Việt”, hoặc cả hai.
5. Tìm kiếm loại trừ: Nếu bạn muốn loại bớt “nhiễu” từ kết quả tìm kiếm, bạn có thể dùng từ khóa ‘-‘. Ví dụ, gõ vào Google [“Việt Nam” –“Đại Cồ Việt”], kết quả trả về sẽ chỉ chứa các trang web có từ ghép “Việt Nam” mà không chứa “Đại Cồ Việt”.

6. Tìm ngược liên kết: Từ khóa "link:" sẽ cho bạn tìm hiểu những trang web nào liên kết tới một địa chỉ bạn quan tâm. Ví dụ, gõ vào Google [link:danluan.org], bạn sẽ biết có bao nhiêu trang liên kết tới Dân Luận.

7. Tìm các dạng tập tin khác nhau: Bạn muốn tìm một tài liệu về “Hồ Chí Minh” mà bạn biết chắc chắn nó nằm trong một tệp tin Word, hãy gõ vào Google [“Hồ Chí Minh” filetype:doc]. Sự có mặt của từ khóa “filetype:” sẽ lọc tất cả các loại tập tin không mong muốn. “filetype:pdf” trả về tập tin pdf, “filetype:doc” trả về tập tin Word, “filetype:xls” trả về tập tin Excel v.v…

8. Xem trang web từ cache của Google: Khi Google viếng thăm các trang web để tạo cơ sở dữ liệu tìm kiếm, nó cũng đưa các trang vào bộ nhớ của mình. Để xem trang web trong bộ nhớ Google, hãy dùng từ khóa “cache:”. Ví dụ, gõ vào Google [cache:danluan.org] sẽ thấy nội dung trang Dân Luận được ghi nhớ lại bởi Google.

9. Tìm kiếm theo vị trí trên trang web: Một trang web luôn có địa chỉ (url), tiêu đề (title) và nội dung (text). Nếu bạn biết từ cần tìm nằm ở địa chỉ hoặc tiêu đề, hãy dùng các từ khóa “inurl:” hoặc “intitle:” để yêu cầu Google chỉ tìm trong địa chỉ hoặc tiêu đề. Tương tự, “intext:” chỉ tìm trong nội dung trang mà không tìm trong địa chỉ và tiêu đề.

10. Làm toán với Google: Bạn cần làm một phép toán nhân chia, hoặc muốn chuyển đổi giữa các đơn vị? Hãy dùng Google: gõ vào [2*3=] để biết kết quả phép 2 nhân với 3, hoặc [300 feet = ? meter] để chuyển đổi giữa feet và mét.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »



Image

Biên giới của trái tim

NTV

. Người ta thường hay “hỏi thế gian tình là gì” chứ mấy ai “hỏi thế gian tình bạn là gì” đâu .

Thôi thì cứ để những định nghĩa lơ lửng đó, cho người ta mặc sức bàn ra tán vào. Chỉ cần biết rằng tình bạn là thứ cực kỳ quan trọng trên đời này. Có ai đó bảo, không có bạn người ta sẽ không sống nổi. Mình thì nghĩ rằng, vẫn sống nổi chứ, nhưng cuộc sống đó có trọn vẹn hay không mà thôi. Và ai sẽ muốn một cuộc sống không trọn vẹn?!

Tình bạn không phải là thứ hiển nhiên đến với ta. Nếu muốn có một tình bạn thực-sự, người ta cũng phải nỗ lực, như xây một ngọn tháp, như trồng một cái cây, như chăm chút cho một mảnh vườn. Nếu bạn lơ đãng, bạn không thực tâm, bạn quá ơ thờ, cái cây sẽ héo, mảnh vườn sẽ đầy cỏ dại, ngọn tháp sẽ xô nghiêng. Ai bảo tình bạn không cần vun đắp?

Emerson nói rằng “Cả cuộc đời dành cho bạn bè vẫn còn quá ngắn ngủi”. Có thể trong mỗi khúc đoạn của cuộc sống, chúng ta gắn bó với một người bạn/một nhóm bạn nào đó. Cũng có thể chúng ta chỉ có một người bạn/một nhóm bạn –thân-nhau-vĩnh- viễn. Dù sao đi nữa, sẽ không bao giờ là quá nhiều nếu chúng ta có những người bạn để chia sẻ và yêu thương. Hãy giành những lời nguyện cầu tốt đẹp nhất cho tình bạn, bạn nhé, bởi đó là một trong những điều tốt đẹp nhất bạn có thể có được trong cuộc đời này.

Và cũng đừng quên những tình-bạn-tự-nhiên. Vì sao bạn chảy nước mắt khi thấy những bạn bè cùng trang lứa đang cực nhọc mưu sinh, hay đang chơi vơi trong dòng lũ? Có một mối dây vô hình nào đó liên kết ta và họ, dù xét ra những điểm chung nếu có thì cũng xa tít mù mù. Đó chính là tình yêu thương, đó chính là tình bằng hữu không biên giới. Trái tim rất kì lạ. Nó là thứ duy nhất không biên giới, trừ khi bạn đặt một biên giới cho trái tim mình.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

“Diên Hồng” Việt Kiều

Quán Chủ Phong Trần Quán

Tể Tướng An Nam vời quan án sát “Mặt Trận Tổ Quốc” (MTTQ) vào dinh nhủ rằng:

- Bọn kiều bào ở các xứ Tây Ðộc và Cờ Hoa đã dùng các kênh truyền thông ảo phá rối tình hữu nghị mười sáu chữ vàng của ta với thiên quốc như vậy mà các vị cứ bàng quan tọa thị mãi sao?

Quan Án Sát “MTTQ” sợ vàng mặt thiếu điều vãi cả ra quần, bèn sụp xuống tâu trình:

- Xin ngài an tâm, hạ quan đã có kế sách tuyệt vời , chỉ cần bỏ ra vài triệu tiền Ðô là hai kinh phẳng lặng như tờ.

- Tuyệt vời! Kế hoạch như thế nào?

- Mình mời các tên có máu mặt ở hải ngoại về cho họ ăn chơi vài bữa rồi ta khoa trương thanh thế là đã tuyển lựa được hàng ngàn trí thức, tư bản yêu nước về xây dựng đất nước rừng vàng biển bạc như vậy vừa được lòng hải ngoại vừa răn đe được bọn trí thức, tư bản phản động trong nước.

- Nhỡ bọn phản động len lỏi vào thì sao?

- Xin ngài an tâm, chúng ta đã có hai cái sàng, sàng “MTTQ” và sàng sứ quán thì bọn phản động lọt vào sao được. Người nào ta nắm chắc thuộc thành phần có cảm tình nặng hoặc đang chấm mút lợi nhuận của ta thì mình mới gọi về.

- Nhỡ có đứa ngứa miệng hỏi về chuyện bô-xít , biên giới, biển Ðông thì sao?

- Xin tể tướng bình tâm. Có cho vàng cũng không có đứa nào dám thắc mắc những chuyện bí mật quốc gia như vậy.

- Nhưng mình cũng phải có màn kịch giải đáp thắc mắc không có lại mang tiếng là chúng ta độc tài đảng trị.

- Dạ, để hạ quan xin mời thượng thư Bộ Lễ vào cho ngài phán bảo.

Vài phút sau thì quan thượng thư Tô Như Rứa ra mắt tể tướng. Viên thượng thư Bộ Lễ này nổi tiếng về chính sách trị dân bằng “Lề Phải”. Thảo dân hay cấp dưới mà cầm đũa, cầm dao, cầm bút tay trái, nhìn bên trái hay chạy xe bên lề trái là bỏ tù liền. Dân chúng sợ quá không ai dám nói tới hoặc sử dụng tay trái nữa. Nhiều người ngủ với vợ cũng không dám nằm bên trái vợ. Chừng vài năm nữa là dân An Nam mang tật đi, đứng, nằm, ngồi... cứ lệch về bên phải hết.

Tể tướng vỗ trán hỏi quan thượng thư rằng:

- Thượng thư đã có danh sách phái đoàn Việt Kiều tham dự Hội Nghị Diên Hồng của ta chưa?

- Dạ, xong hết rồi. Ta có hai danh sách. Một danh sách chính thức và một danh sách giả. Danh sách chính thức là người của ta, còn danh sách giả gồm những tên phản động, mình tung lên mạng để làm hỏa mù và cũng để chúng đánh nhau cho rã đám.

- Ðộc! Ðộc thiệt. Thế danh sách thực có ai nổi tiếng không?

- Ta đã có sẵn mấy tay mình nuôi từ mấy năm nay rồi. Kẹt một cái kiếm bọn nổi tiếng ở Mỹ, ở Tây khó quá.

- Túng quá thì cứ nhét tên dâu rể của tôi vào, chúng nó là Việt kiều Mỹ cả đấy. Thế quan thượng thư đã soạn sẵn câu hỏi cho họ chưa?

- Dạ, đâu vào đấy cả rồi. Họ sẽ được học tập trước là tuyệt đối không được đụng chạm vào các vùng nhậy cảm như mất đất, mất biển, bô-xít, tham nhũng.

- Nhớ khuyến khích chúng về mở tiệm phở, quán cà-phê, khách sạn, đánh golf, gái gú, cờ bạc.

- Vâng! Mình sẽ bắt cả phái đoàn đi thăm lăng Bác, chụp hình từng người để sau này chúng không dám mở miệng nói xấu Bác nữa.

- Nhớ kêu nhiều ca sĩ nổi tiếng về bồi dưỡng tinh thần phái đoàn đấy

- Dạ, ta có đủ cả ca sĩ quốc nội lẫn quốc ngoại toàn hàng độc không đấy ạ.

- Tốt lắm! Nhớ sắp cho cặp vợ chồng ấy dẫn đầu phái đoàn để trát tro vào mặt lũ chống Cộng. Thôi thượng thư về cùng các bộ khác cứ thế tiến hành cho tốt nhé.

Sáu trăm tờ báo, mấy chục đài truyền hình, phát thanh trong nước được lệnh ngài Tô Như Rứa ra sức ca tụng phái đoàn Việt Kiều ưu tú về nước để được tai nghe mắt thấy Tổ Quốc An Nam XHCN toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo, biển trời mở rộng tới tận Bắc Kinh, nhà nhà bô-xít đầy sân, đầy ngõ, đất nước sạch bóng tham quan...

“Ðảng ta muôn năm trường trị” để mỗi năm lại có hàng ngàn Việt Kiều được xênh xang áo mão về làng du hí của trời.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Đường Tăng

Tác giả: Trương Quốc Dũng

Đêm cuối cuộc trường chinh đầy gian khổ, ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được. Suốt cuộc đời tâm nguyện tới cõi này, giờ đây khi sắp trút bỏ kiếp người, ông bỗng thấy lòng day dứt.

Nhiều ngày nay, thân thể Đường Tăng đã rã rời, đầu óc đầy mộng mị, tay biếng lần tràng hạt. Tâm linh như muốn níu chân dừng lạị Máu ông nhức nhối thấm lần cuối qua tim, cứa vào quá khứ đau xé. Ông nhớ tới những người sinh thành ra mình. Tinh cha, huyết mẹ tạo nên mà bao nhiêu năm nay ông không một lần thắp hương, không một lần nhắc nhở.

Chặng đường dài tới đất Phật khiến trái tim ông dần chai sạn. Ông đã quá nhiều lần phải lạy lục, cầu khẩn các thần thánh lớn bé, đã quá nhiều lần giẫm đạp lên xác máu yêu ma xa gần, chỉ với một mục đích: mau thành chính quả. Ông thương ngườị Nhưng đêm nay, trước ranh giới cuối cùng của cõi Người và Phật, ông chợt hiểu ra cội rẽ của tình thương ấỵ Mỗi lần cứu giúp con người, ông chỉ thầm tính toán như xây thêm cho mình một bậc thang tới Phật đài.

Nhiều lần Đường Tăng đã tự hỏi tại sao nước mắt mình ngày càng lạnh giá. Giờ đây ông thầm biết, trên con đường thỉnh kinh về cứu rỗi người đời, ông đã dần dần xa lạ với con người.

Ông trở mình, thở dài: không là người, ta sẽ là ai ? Yêu quái cản đường, biết bao kẻ chính từ trên đây xuống, pháp thuật vô biên, ác nghiệt vô cùng. Ta nhập vào chốn ấy biết rồi thành Phật hay ma.

Đường Tăng chợt nhói trong tim. Ông khẽ rên lên, hai tay ôm ngực. Mở mắt thấy các đệ tử đang đứng bên giường nhìn ông âu lo. Cả ba hình như không ngủ.

Đường Tăng thở hắt: "Không sao đâu Ta chỉ chợt nhớ tới ngày xưa". Nói rồi lại nhắm mắt.

Nghe tiếng Ngộ Không: "Xin thầy đừng tự dối lòng. Thầy đang nhớ cả kiếp người". -- Đường Tăng rùng mình khi giọng Ngộ Không quá u uất -- "Con từ đá sinh ra. Coi thường cả thần thánh, yêu ma, chỉ mong được thành người. Thầy đã là người lại tự bỏ mình đi tìm hồn phách khác. Đêm nay sao khỏi xót xa".

Bát Giới cười khẽ: "Làm người có gì vui. Chúng ta đã dốc lòng theo đạo, ngày mai được lên chốn thần tiên, sung sướng biết bao nhiêụ Thầy đừng luyến tiếc".

Sa Tăng an ủi: "Thầy trò mình sắp hóa Phật mang đạo xuống khai sáng cho loài người. Công quả vĩ đại lắm".

Đường Tăng lắc đầu, nằm im hồi lâu, hai tay vẫn đặt lên tim, mắt vẫn nhắm, nước mắt trào ra ấm nóng lạị Rồi như trăn trối: "Ta ước gì đêm nay đừng sáng. Ta đau đớn cho mười mấy năm viễn dụ Ngộ Không ơi ! Một đời con mong được thành người thì bị bắt ép phải theo ta để thành Phật. Bát Giới tự dối mình giác ngộ thật ra chỉ là đi tìm một chốn hoan lạc mớị Sa Tăng rời cõi u mê này sang cõi hoan tưởng khác mà lại hy vọng khai sáng. Còn ta ? Không còn là người, không phải là người thì làm sao đồng cảm mà đòi khai sáng, cứu vớt con người".

Ngộ Không sụp xuống nắm tay thầy nghẹn ngào: "Thầy đã nhận ra chân lý. Nhưng chậm quá rồi".

Đường về. Qua sông. Thiên sứ cười và chỉ cho Đường Tăng thấy thân xác ông đang trôi dạt dưới cầụ

Nhưng Đường Tăng đã không nghe thấy gì nữa. Đôi mắt vô hồn.

Lời bàn của Lê Ngọc Trà:
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Người Việt có bao nhiêu cách xưng hô giữa vợ và chồng?



Trong cách xưng hô giữa vợ và chồng của người Việt Nam chúng ta rất là phong phú, đa dạng và cực kỳ uyển chuyển trong từng tình huống giao tiếp khác nhau, tôi sẽ nói một số cách xưng hô như sau: -
Lúc thân thiết: Riêng hai vợ chồng với nhau khi chưa có con: Anh ơi, em ơi; mình ơi; cao hơn nữa là: Ai ơi VD: vợ giọi yêu chồng về ăn cơm: Ai ơi về ăn cơm. Chồng hỏi yêu: Cơm ai nấu, vợ trả lời: nấu chớ ai.

Vợ chồng lúc đã có con, xưng hô với nhau hoặc xưng hô trước mặt các con:
Chồng xưng hô với vợ là: Bà nó, Mẹ nó, Bu nó, Bủ nó, Bầm nó, Má nó, Mạ nó, Mợ nó;
Vợ xưng hô với chồng: Ông nó, Bố nó, Ba nó, Cha nó, Cậu nó.
Vợ chồng xưng hô với nhau khi có cả mọi người khác ngoài gia đình: Vợ: Ông nó nhà tôi, Bố nó nhà tôi, Ba nó nhà tôi, Bủ nó nhà tôi,..... và Ông xã nhà tôi;
Chồng: Bà nó nhà tôi, Mẹ nó nhà tôi, Bầm nó nhà tôi,, Má nó nhà tôi,....... và Bà xã nhà tôi.

- Khi vợi chồng căng thẳng, giận nhau:
Cách xưng hô giữa vợ và chồng không còn ngọt nào như trước nữa: Hai người thường dùng những từ, lời lẽ không tốt đẹp đi kèm với cách xưng hô nói ở trên
VD: Tôi nói cho cô rõ; Tao nói cho mẹ mày biết; Thằng này sẽ, ông mày chẳng ngán mẹ mày ,đây sẽ cho mẹ mày biết tay.v.v;
Tôi nói cho anh rõ, Ta nói cho bố mày biết, đây cũng chẳng thua kém bố mày, Bà mày cũng chẳng chịu thua.v.v. rất rất nhiều không sao kể xiết được.

Quả thực người VN có vô vàn cách xưng hô giữa vợ và chồng, hiếm có nơi nào trên thế giới có nhiều cách xưng hô ứng xử giữa vợ chồng phong phú và đa dạng như vậy.

Chúng ta cần tự hào và gìn giữ những cách xưng hô đẹp, đồng thời cũng cần lên án những cách xưng hô không đẹp thiếu văn hóa trong cách ứng sử trong gia đình.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Sự khác nhau giữa con Lợn và con Heo


- Con Lợn sinh ở miền Bắc - Con Heo sinh ở miền Nam. Cả hai đều bị Cán bộ lãnh đạo kì thị nặng lắm vì lúc nhăm nhi thì quan lớn chỉ khoái món cháo gà cháo vịt, còn cháo heo, cháo lợn nghe có vẽ đồ ăn cho bọn dơ bẩn ở trong chuồng!
- Miền Bắc không heo nhưng lại thích "nói toạc móng heo" - Miền Nam không thấy lợn lại ưa dùng "bánh da lợn"
- Miền Bắc có lợn sề, lợn nái, lợn giống, lợn cấn, lợn sữa, lợn choai, lợn tháu, lợn ỷ - Miền Nam có heo nhà, heo ruộng, heo bông, heo lang, heo cỏ, heo bò, heo đen, heo nọc, heo hạch, heo nái, heo nưa, heo lứa, heo mọi

- Con Lợn ăn Ngô - Con Heo ăn Bắp.

- Da Lợn làm bánh da Lợn - Da Heo khô dùng nấu lẩu.

- Con Lợn đóng phim thiếu nhi "Hiệp sĩ lợn" - Con Heo đóng phim người lớn "Phim con Heo"

- Phim con lợn chỉ cách chăn nuôi sinh sản cho nhi đồng - Phim con heo cũng cho thấy cảnh sinh sản nhưng lại cấm nhi đồng!

- Miền Bắc trách cô kia "béo như lợn" - Miền Nam quở chị nọ "mập như heo"

- Miền Bắc xỏ đàn ông háo sắc là lợn nọc - Miền Nam bảo đàn bà lang chạ là heo nái

-Con Lợn từ miền Bắc xuống miền Nam bị hóa kiếp thành con Heo cũng có điển tích đàng hoàng: "Paulus Huỳnh Tịnh Của là một học giả người miền Nam, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, ông đã giải nghĩa Lợn là con Heo, là giống lục súc béo hơn hết. Đúng như con lợn tự khoe: “Nội trong hàng lục súc với nhau, Ai sánh đặng mình heo béo tốt?” (LSTC).
Đọc Việt sử, ta thấy người miền Nam phần lớn là những di dân từ miền Trung tràn xuống, tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ lại phát âm thành “quan lợn”. Quan cho là vô phép nên sai lính lấy hèo phạt, ai bẩm “quan lợn” là phải đòn 10 hèo..

-Nhiều người bị phạt hèo như vậy, nên khi thấy con lợn họ hình dung ngay ra những cây hèo vút vào mông họ, họ bèn mỉa mai gọi con lợn là “con hèo”. Rồi để khỏi lầm lẫn con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là con heo. Con lợn từ miền Bắc đi xuống miền Nam thành con heo là như thế.

-Chế độ ăn uống của gia đình Lợn-Heo bên VN hiện giờ cũng khác biệt . Quan vẹm Lợn được độc quyền tham nhũng, ô dù, đi xe hơi ở nhà lầu, ăn toàn bào ngư vi cá . Còn đàn heo dân chỉ có cám xú, thức ăn dư thừa, nói chung là đồ ăn rất súc vật ! .../
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

50 cách để biết mình là người gốc Mít.
(áp dụng cho thế hệ 1.0 và 1..5)
1. Là học trò giỏi điểm cao trong lớp.
2. Môn học chính là: Y Khoa, Kỹ Thuật hay Kế Toán.
3. Có nhiều bằng Ðại Học, hay ít nhất một bằng.
4. Nếu học nhạc sẽ học piano.
5. Bàn ăn ở nhà phủ bằng tấm nhựa.
6. Bếp ở nhà bọc bằng giấy nhôm.
7. Bếp núc lúc nào cũng dính mỡ.
8. Ðánh trứng bằng đũa.
9. Ðể giầy ngoài cửa.
10. Máy rửa chén dùng để đựng bát đĩa.
11. Nhà lúc nào cũng có bình thuỷ trữ nước nóng.
12. Ðun nước sôi để nguội để dành uống.
13. Ăn trong bếp để tránh làm dơ bàn ăn.
14. Nấu ăn không đo, mà lường bằng mắt.
15. Ðể dành túi đựng grocery để bỏ rác.
16. Nấu cơm bằng nồi điện.
17. Xào bằng chảo.
18. Dành nhau trả tiền trong tiệm ăn.
19. Vo gạo ít nhất là hai lần trước khi nấu cơm.
20. Húp canh sùm sụp.
21. Không sấy khô áo quần trong máy mà phơi.
22. Ủi lấy quần áo của mình.
23. Thích cháo tiều mìn tản (hột vịt vạn niên).
24. Nấu lấy cơm ăn dù ghét vào bếp.
25. Dùng credit card nhưng cuối tháng thanh toán hết.
26. Cất hết tiền vào một trương mục tiết kiệm.
27. Mua thiệp giáng sinh sau mùa để được bớt nửa tiền, dành sài cho năm tới.
28. Rửa bát bằng tay vẫn chỉ dùng nước lạnh.
29. Cố ăn để khỏi vứt đồ thừa.
30. Dùng hộp nhựa margarine để trữ đồ ăn trong tủ lạnh.
31. Mua giấy đi cầu thật nhiều lúc sale để dành.
32. Sưu tập lọ shampoo nhỏ của khách sạn khi đi du lịch.
33. Mang theo đồ ăn lên xe mặc dù chỉ lái một chặng ngắn..
34. Bao nylon ở siêu thị bọc đồ ăn để dành trong tủ lạnh .
35. Dùng bịch đường lấy Second Cup khi uống cà phê.
36. Nhả xương ra bàn trong tiệm ăn ở phố Tầu.
37. Ông Bố nghĩ mình lúc nào cũng có thể sửa bất cứ cái gì hư trong nhà.
38. Bà Mẹ lái xe Mercedes đi kiếm đồ sale.
39. Nhiệt độ trong nhà lạnh mùa lạnh, nóng mùa nóng.
40. Tranh nhau hát Karaoke.
41. Mở sách directory ra tìm số phone, chứ không chịu tốn 50 xu quay số 411.
42. Ăn tôm cả vỏ.
43. Chỉ gọi điện thoại viễn liên bằng cách rẻ nhất và giờ rẻ nhất.
44. Chỉ phone bố mẹ khi cần thiết chứ không phone để hỏi thăm sơ.
45. Chỉ thích lái xe Ðức hoặc xe Nhật.
46. Nhịn cho thật đói trước khi đi ăn buffet.
47. Ðã từng bị vào hội mua CD.
48. Không bao giờ chịu bàn về đời sống riêng tư của mình với cha mẹ.
49. Không dùng khăn lau mặt và khăn tắm mầu trắng.
50. Và cuối cùng là: Bạn sẽ copy 50 điều này để mang cho những người bạn "Á châu" khác cùng xem.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Xin Một Tràng Pháo Tay...

Image
Thiết nghĩ, dù thích hay không khán giả nên vỗ tay cho lịch sự. (Hình minh họa: bigwatermarina.com)

Quỳnh Giao
Nghệ sĩ chân chính thường lúng túng, đôi khi khó chịu, khi nghe người giới thiệu chương trình duyên dáng yêu cầu “xin quý khán giả cho một tràng pháo tay”... trước khi mình bước ra sân khấu. Khán giả phải có quyền thẩm định và diễn tả sự hài lòng. Nghệ sĩ không hề xin xỏ vì khi ấy đang tập trung vào tiết mục trình diễn của mình. Sau đó, có vỗ tay hay không, nhiều hay ít thì là chuyện khác.

Ðã từ lâu Quỳnh Giao muốn viết về cách vỗ tay của người thưởng ngoạn, không vì mình là người trình diễn nên muốn khán giả vỗ tay hoan hô, mà vì có nhiều cách vỗ tay lắm. Mỗi một loại nhạc có cách vỗ tay riêng, có phong cách riêng.

Ngày còn học trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn, mỗi năm được dự vài buổi trình hòa nhạc (concert) hiếm có. Họa hoằn mới có nghệ sĩ nổi tiếng người ngoại quốc ghé Việt Nam trình diễn trong khuôn khổ viện trợ văn hóa. Hãy tạp ghi về những kỷ niệm ấy trước, tiếng vỗ tay sau...

Năm mới vào trường nhạc, người viết lên mười được nghe cô Ngô Như Mai từ Pháp mới về đàn bài piano bản concerto số 21 của Mozart trong dịp kỷ niệm 200 năm Mozart với ban nhạc của trường do ông Giám Ðốc Nguyễn Phụng điều khiển. Hiếm hoi lắm. Lớn hơn một chút, người viết say mê nghe Renée Fung (người Trung Hoa) đàn violon một bản concerto của Beethoven với ban nhạc của trường do nhạc trưởng người Ðức Otto Sohlner điều khiển. Cô đàn hay mà còn đẹp nữa mới ác, làm các nam sinh viên của ta cứ ngẩn ngơ.

Cô Fung đến theo nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc là ở lại Việt Nam một năm để giảng cho lớp nhạc thính phòng (musique de chambre), dạy cho dàn nhạc nhỏ và cho nhạc sinh đàn song tấu, tam tấu, tứ tấu. Khi cô từ giã vì hết nhiệm kỳ, cả khối nhạc thủ Tây phương bỗng bị bệnh tương tư.

Nhạc trưởng Otto Sohlner thì ở lại lâu hơn vì tập cho dàn nhạc lớn của trường. Ông soạn hòa âm cho trường ca “Con Ðường Cái Quan” của Phạm Duy, được trình diễn lần đầu tại rạp Thống Nhất (Norodom) rồi lưu diễn Ðà Lạt một tuần. Chuyến đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Ðà Lạt là một kỷ niệm đẹp và khó quên của Mai Hương và Quỳnh Giao. Lúc ấy, người mới 19, kẻ mới 14 tuổi. Nhạc trưởng Sohlner mê Việt nam, nên khi hết nhiệm kỳ ông ở lại, ra Huế dạy trường nhạc vừa mới mở tại đấy. Sau Tết Mậu Thân, không biết ông trôi dạt nơi nao, hay đã trở về cố quốc?

Năm 1965 có chương trình của dàn nhạc Ðỗ Thế Phiệt với phần trình tấu concerto cho Violin của Bach với bà Francis Buxton, một giáo sư bên Mỹ qua Việt Nam giảng dạy. Có giọng soprano của bà Robin người Pháp, vợ của ông Giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Pháp với bài “Exultate Jubilate” của Mozart. Và hân hạnh làm sao, Quỳnh Giao và cô bạn học nhạc cùng thầy là Ðăng Thư được đàn mỗi đứa một hành âm (mouvement) bài Concerto en Ré của Bach! Hai đứa đều đã tốt nghiệp trường nhạc, lần đầu đàn concerto, là độc tấu với dàn nhạc giao hưởng, thật khác hẳn với đàn một mình.

Phép vỗ tay của khán giả trong chương trình nhạc cổ điển có nhiều qui cách mà chính các nhạc sinh cũng phải học.

Ðầu tiên là khán giả đợi hết bài mới vỗ tay, chứ không vỗ ngang chừng. Thí dụ như một concerto có ba hành âm, bình thường thì theo thứ tự: hành âm một có nhịp điệu nhanh (allegro), hành âm hai chậm (adagio) và hành âm cuối cùng rất nhanh (vivace). Ðôi khi có bài có đến bốn hành âm, như symphony số 41 của Mozart. Và cũng có bài mà hành âm một lại phá cách, không nhanh mà chậm (adagio), thí dụ như bản Symphony số 9 của Beethoven.

Khán giả phải đợi ban nhạc đàn hành âm cuối xong mới được vỗ tay, dù sau mỗi hành âm, dàn nhạc đều dừng lại chuẩn bị trình tấu hành âm kế tiếp. Những lúc ngừng lại như thế, ở dưới thì mình được ho cho đỡ ngứa cổ sau bao nhiêu phút dài ngồi im để thưởng thức. Nhưng chỉ ho thôi, chứ không vỗ tay!

Có một giai thoại kể rằng khi xưa danh ca Mirella Freni người Ý rất nổi tiếng, cùng thời với Maria Callas. Bà mẹ của Freni và bà mẹ của Luciano Pavarotti xưa kia là nhân công trong một hãng vấn thuốc lá và Mireilli Freni còn hát cho đến tuổi 70 mới giải nghệ, vào năm 2005.

Hai nữ danh ca này rất kỵ nhau. Một buổi trình diễn của Maria Callas ở New York có Mirella Freni ngồi dự ở dưới. Khi mọi người nín thở nghe Maria Callas hát một đoạn Aria trong vở kịch thì Mirella Freni vô tình hay hữu ý làm rơi chiếc vòng đeo tay, kêu cái “keng”, khiến cả rạp “ồ” lên. Maria Callas bị lạc lõng khi đang ngân nga!.. Nghệ thuật cách không điểm huyệt bằng âm thanh là vậy!

Nhưng thế mới biết không khí yên lặng trong rạp hát cần thiết đến chừng nào! Trang nghiêm như trong một nghi thức tôn giáo. Thượng đế là âm nhạc, danh ca chỉ là “thánh nữ” dâng lời tôn kính, theo đúng quy cách!

Khán giả nhạc cổ điển Tây phương thường vỗ tay làm nhiều lượt. Khi hài lòng về người trình diễn, họ vỗ tay nồng nhiệt và rất lâu, đôi khi xen lẫn tiếng hô “bravo”. Người trình diễn tức là người độc tấu (soloist) và nhạc trưởng (conductor) cùng cúi chào khán giả và cùng nhau bước vào hậu trường. Có khi người soloist là phụ nữ thì nhạc trưởng lịch sự đưa cánh tay dẫn người đẹp vào hậu trường. Nếu tiếng vỗ tay bên ngoài vẫn vang rền thì họ lại cùng bước ra sân khấu cúi chào lần nữa, và lại đi vào hậu trường. Tiếng vỗ tay mà chưa dứt, họ lại bước ra sân khâu lần thứ ba để chào cảm tạ khán giả...

Như vậy, thế nào là thành công ?

Câu trả lời của người nghệ sĩ là “hễ chỉ vỗ tay và chào hai lần là xoàng!” Vỗ tay ba lần mới là đạt. Ðó là hết phần một, trước “intermission” thôi, nếu là bài cuối thì tiếng vỗ tay đôi khi bốn lần mới dứt. Có lần Pavarotti và cả Domingo được vỗ tay đến 45 phút tại Vienne! Ðạt kỷ lục.

Ngày xưa, viết lại đây mà thấy nhớ Giáo Sư Ðỗ Thế Phiệt vô cùng. Ông dặn Ðăng Thư và Quỳnh Giao nhớ cúi đầu chào rồi bước vào hậu trường thật nhanh. Ðúng ra là chỉ đứng mấp mé sau cánh gà tí xíu rồi trở ra sân khấu ngay, kẻo khán giả ngưng vỗ tay và ra không kịp nữa! Dễ thương quá, và hai đứa được ra chào ba lần, cả thầy và trò đều sung sướng mãn nguyện.

Qua loại nhạc khác, như pop music hay country music, khán giả vỗ tay tùy ý. Có lúc mới nghe câu mở đầu đã vỗ tay ngay để bày tỏ sự thích thú. Khi trình diễn xong, nghệ sĩ cúi đầu chào, và đôi khi nói lời cám ơn. Khi nghe tiếng vỗ tay dứt thì nên đi vào ngay, đứng đợi thêm cũng không hay vì chỉ lẹt đẹt thêm vài tiếng lẻ loi mà thôi.

Một người làm ông “bầu” cho các show ca nhạc của ta tại Mỹ, đã có lần “chỉ mánh” cho nghệ sĩ trình diễn cách làm cho khán giả vỗ tay dài. Anh nói: “quí vị phải gợi tiếng vỗ tay bằng... cách chào! Phải giả bộ chào cúi rạp mình cho lâu. Không ai nỡ ngưng vỗ tay khi mình cúi chào cám ơn họ. Và nếu quý vị muốn... dài nữa thì quay lại đưa tay cám ơn nhạc sĩ, thiên hạ lại phải vỗ tay cho nhạc sĩ nữa. Vậy là người ta có cảm tưởng là mình được vỗ tay dài hơn hết!”

Người viết thì quê mùa và ngại ngần, không dùng nghệ thuật đó. Trái lại, đôi khi cứ đi vào dù tiếng vỗ tay chưa đứt, chỉ vì thói quen lúc học nhạc là khán giả vẫn vỗ tay dù nghệ sĩ trình tấu đã đi vào... Nhưng xem ra cách “cò mồi” này còn khá hơn là người trình diễn xin “một tràng pháo tay.” Ai phải xin điều đó mà không thấy... ngượng? Thiết nghĩ dù thích hay không khán giả nên vỗ tay cho lịch sự. Thấy hay thì vỗ to hơn và dài hơn thôi.

Trong những buổi trình diễn nhạc Rock, người đứng trên sân khấu là “thần tượng” của khán giả. Ở đây, vỗ tay là thường quá, phải đứng lên, nhảy dựng như người điên, đòi xé quần áo thần tượng, và đôi khi khích động quá đến ngất xỉu tại chỗ mới rõ là ái mộ. Các ông hoàng của loại nhạc này như Elvis Presley, hay Michael Jackson đều hưởng kiểu thưởng ngoạn đó, đêm về chính họ phải dùng thuốc để ngủ và sáng dậy phải dùng thuốc để tỉnh. Ðâm ra thành công nào cũng có cái giá của nó... Tự làm khổ mình cho người mua vui là cái nghiệp của nghệ sĩ chăng? Hay là vì tự mê?...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Người Việt dễ ghét

Nguyễn Hưng Quốc


Từ trước đến nay, một cách công khai, trên sách báo cũng như trên các diễn đàn, hình như ai cũng nói người Việt…đáng yêu. Đó cũng là nhan đề cuốn sách do Doãn Quốc Sỹ viết và xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975. Xuất phát từ một lập trường và động cơ chính trị hoàn toàn ngược lại với Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, giả danh một người Ý (Pazzi), cũng vội vã viết cuốn “Người Việt cao quý”, trong đó, nội dung chính của khái niệm “cao quý” cũng là…sự đáng yêu.

Mà không phải chỉ có người Việt Nam mới nói thế. Tôi có khá nhiều sinh viên Úc hoặc người các nước khác thường đi Việt Nam. Nhiều người không ngớt khen là người Việt Nam đáng yêu. Cách đây mấy năm, có một sinh viên người Na Uy sang Úc du học. Trên đường từ Na Uy sang Úc, anh ghé Việt Nam chơi hai tuần. Lý do ghé Việt Nam chỉ có tính chất thực dụng: vật giá rẻ. Vậy thôi. Nhưng hai tuần ở Việt Nam đã làm thay đổi hẳn kế hoạch học tập của anh. Mê Việt Nam trong thời gian hai tuần ấy, sang Úc, anh quyết định chọn Tiếng Việt làm một trong hai môn học chính trong chương trình Cử nhân. Hỏi: Mê nhất ở Việt Nam là điều gì? Anh đáp: Con người. Và nói thêm: “Người Việt rất đáng yêu”.

Cách đây mấy ngày, tôi cũng lại gặp một sinh viên khác, cũng mê Việt Nam như thế. Sau khi học xong trung học, thay vì vào đại học ngay, cô quyết định nghỉ một năm để đi làm và đi du lịch. Sau khi qua nhiều nước, cô ghé Việt Nam. Cũng chỉ là một quyết định tình cờ. Thoạt đầu, định ở vài ba tuần. Nhưng rồi cô lại đâm mê Việt Nam. Bèn quyết định ở lại thêm vài tháng. Trong vài tháng ấy, cô xin dạy học trong một trung tâm sinh ngữ tại Sài Gòn. Cô càng mê hơn nữa. Về lại Úc, cô bèn quyết định học tiếng Việt để sau này có cơ hội quay sang làm việc lâu dài tại Việt Nam. Hỏi lý do, cô cũng đáp như anh sinh viên người Na Uy kể trên: “Người Việt đáng yêu”.

Người Việt đáng yêu như thế nào? Tôi chưa bao giờ có ý định làm một cuộc điều tra thật đàng hoàng về đề tài này. Nhưng từ những gì tôi nghe từ các sinh viên cũng như bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những nét đáng yêu nhất của người Việt Nam thường được nêu lên là: vui vẻ, cởi mở và thân thiện.

Tuy nhiên, tất cả những điều kể trên chỉ là một khía cạnh. Có một khía cạnh khác, vì lịch sự, người khác ít nói; và vì tự ái, chúng ta cũng ít khi đề cập: Có vô số người chê người Việt là cục cằn, thô lỗ, ích kỷ, tham lam vặt, hay nói dối vặt, thiếu kỷ luật, thiếu lịch sự, nói chung, là…dễ ghét. Ngay chính những người được xem là “mê” Việt Nam cũng thấy điều đó. Và dĩ nhiên, với tư cách là người Việt Nam, chúng ta cũng thừa biết điều đó.

Thật ra, ở quốc gia nào cũng có những người đáng yêu và những người dễ ghét. Đó là chuyện bình thường. Tuyệt đối không có gì đáng ngạc nhiên cả. Chỉ có vấn đề là: ở những nơi khác, nét đáng yêu và đáng ghét ở con người chủ yếu là do cá tính, hay nói cách khác, do Trời sinh; còn ở Việt Nam, chủ yếu do văn hoá, hay nói cách khác, do xã hội, đặc biệt, do chế độ sinh. Ở những nơi khác, sự phân bố của những người được xem là đáng yêu và những người bị xem là đáng ghét hoàn toàn có tính ngẫu nhiên; ở Việt Nam thì khác: nó có tính quy luật để theo đó, người ta có thể vẽ lên được một “bản đồ” đáng yêu / đáng ghét của người Việt một cách khá chính xác.

Đại khái “bản đồ” ấy như thế này:

Người Việt rất đáng yêu trong quan hệ cá nhân và ở những nơi quan hệ cá nhân đóng vai trò chủ đạo: gia đình, bàn tiệc, quán nhậu, và hàng xóm. Ở những nơi đó, người Việt, nói chung, rất nhiều tình cảm và tình nghĩa. Và cũng ở những nơi đó, ít ai phàn nàn về người Việt.

Nhưng vượt ra ngoài quan hệ cá nhân thì khác. Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, nhất là không gian công cộng thuộc quyền nhà nước, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v…ở đâu người Việt Nam cũng dễ ghét.

Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên của tôi, người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam. Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người. Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam.

Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than: Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay. Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: “Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ.” Và kết luận: “Người Việt thật dễ ghét!”

Xin lưu ý: những nhân viên các loại và các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền và lăm lăm đòi móc túi những người dân đến xin chứng nhận một thứ giấy tờ gì đó có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè. Nhưng trong quan hệ công cộng thì họ lại biến thành một người khác hẳn.

Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét.

Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, cứ hễ có chút quyền lực, bất kể là quyền lực gì, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét. Nếu không dễ ghét vì sự hách dịch, quan liêu hay tham lam thì cũng dễ ghét vì sự chậm chạp, cẩu thả, lười biếng và vô trách nhiệm. Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại lề mề, khó khăn, tắc trách, rất ít đáng tin cậy.

Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá. Mà văn hoá, nhất là văn hoá hành chính, lại gắn liền với chế độ.

Bạn có nghĩ vậy không?


Trả lời

Tôi thấy có 3 trường hợp người Việt dễ ghét tại Nam California

1. Tôi từng làm việc cho một ông bác sĩ trị bịnh ngoài da tại Orange County, khi tôi dọn dẹp văn phòng của ông ta, tôi cần vứt đi những hồ sơ bệnh nhân cũ trên 5 năm, không những ông ta không shred những hồ sơ này, ông ta còn muốn tôi không dùng bao rác, mà cứ thế đổ vao dumpster (để mặc cho gió bay tung toé), lý do là vì ông ta tiếc mấy cái bao rác, tôi không tưởng tượng được rằng có một ông bác sĩ người Việt có tính tình bần tiện và cẩu thả như vậy. Cái thùng rác rất to, đựng hồ sơ rất nặng, tôi thường phải lấy đà mới quăng được cái bao rác đựng hồ sơ cũ vào dumpster, nhưng ông ta cho rằng tôi (một phụ nữ lớn tuổi) có thể bê cái thùng rác to tướng đựng đầy hồ sơ đó lên cao để trút giấy tờ vào dumpster. Không hiểu ông ta có tỉnh táo hay không?
Tôi làm cho ông ta một tuần và 2 ngày thì người thư ký cũ trở lại nên tôi phải nghỉ việc, nhưng ông ta nhất định chỉ trả lương cho tôi đúng một tuần, lấy cớ là tôi làm chỉ có 7 ngày (trong khi trong giao kèo là tôi phải được nghỉ 2 ngày cuối tuần, nên một tuần chỉ bao gồm 5 ngày). Bác sĩ gì mà kỳ vậy ?

2. Con tôi đi làm thư ký front desk cho một bác sĩ chữa mắt, sau 1 tuần ông ta cho con tôi nghỉ việc, vì cho rằng không phù hợp, nhưng không trả lương cho con tôi một đồng xu nào sau 1 tuần nó làm cho ông ta, lấy cớ rằng đó là một tuần thử thách! Theo nếp sống bên Mỹ thì khi một người đến làm việc, cho dù đang là giai đoạn học nghề, thì cũng phải trả lương, nhưng ông bác sĩ này hiện đang sống ở Mỹ nhưng áp dụng chế độ bóc lột của VC?? Con tôi sau đó thấy ông ta liên tục đăng báo tìm người, chắc mỗi người được ông ta xài free 1 tuần rồi ông ta thay bằng người mới?

3. Bạn tôi đi giữ 2 đứa trẻ cho một cô gái người Việt tại San Diego, cô này rất giàu có, nhà nhìn ra biển nhưng xa chợ; bạn tôi làm việc liên tục từ 5 giờ sáng đến 8 giờ tối, không đi chợ được vì không có xe bus hay taxi, nhưng cô này không bao giờ mời bạn tôi ăn bất cứ thứ gì, ngay cả trái cây cắt ra hoặc những món ăn mà chị ấy phải làm theo yêu cầu của cô ta thì cô ta cũng gói lại cất đi hết, rút cục bạn tôi phải nấu cơm ăn không với nước mắm, bạn tôi là nguoi tự ái hiền lành không muốn nói về miếng ăn, vì quan niệm rất VN của chị ấy là "miếng ăn là miếng nhục", nên không bao giờ chị ấy hỏi cô ta là chị ấy ăn gì, vì vậy sau 1 tuần chị ấy phải quit job! Quit là phải, vì tính ra thì một giờ chị ấy làm tiền lương ít hơn $3/hour mà còn bị bỏ đói bỏ khát (chắc chế độ ăn uống này tệ hơn là ở tù VC)

Người Việt Hải Ngoại
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Nguồn gốc của bản nhạc Silent Night
"Silent night" đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm. Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường tráng lệ ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ...


Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg, Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới.



Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ,
Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!).
Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đề nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng... Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. Một Noel thật đáng nhớ.
Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên.
Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel.
Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York. Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh…
Silent Night vẫn được cho là của các thiên tài âm nhạc như Haydn, Mozart, Beethoven. Mãi đến 1995, cuộc tranh luận mới chấm dứt khi người ta tìm lại được bản viết tay của Joseph Mohr. Ngay trên góc trên bên phải của bài nhạc, Joseph viết “Soạn nhạc: Fr. Xav. Gruber”.

(BT góp nhặt)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Thiệp Giáng sinh thay lời muốn nói
Bùng phát thiệp Giáng sinh

Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát ở Anh khi chính phủ nước này thông qua một đạo luật vào năm 1846 cho phép người dân có thể gửi thư đến bất kỳ nơi nào trong nước với giá rẻ. Trong suốt 10 năm sau đó, thiệp Giáng sinh trở thành mốt thịnh hành ở nước Anh và không lâu sau du nhập sang cả Đức.

Thế nhưng phải mất 30 năm sau thì người Mỹ mới hào hứng đón tiếp làn sóng thiệp in này. Năm 1875, Louis Prang - một thợ in gốc Đức sống tại Boston (Mỹ) - bắt đầu tung ra thị trường các loại thiệp in chất lượng cao và ông nhanh chóng được gán cho danh hiệu "cha đẻ các loại thiệp Giáng sinh Mỹ". Tranh trên thiệp của Prang rất đa dạng, từ tranh Thánh Mẫu, cây cối được trang hoàng, ông già Noel cho đến các loài hoa với muôn sắc màu như hoa hồng, hoa cúc, hoa phong lữ... song những tấm thiệp này thường có giá rất cao. Thiệp của Prang được công chúng đánh giá cao do ông đã cất công pha trộn đến 20 sắc màu trên một tấm thiệp. Kể từ năm 1881, ông xuất ra thị trường đến 5 triệu thiệp mỗi năm. Đến thập niên 90 của thế kỷ 19, Prang thôi kinh doanh do người Mỹ bắt đầu chuộng những loại thiệp có giá rẻ được nhập từ Đức và tình trạng này kéo dài mãi đến sau Thế chiến thứ nhất, khi ngành sản xuất thiệp chúc mừng của Mỹ ra đời.


Ông già Noel lên mặt thiệp

Suốt thời kỳ nội chiến ở Mỹ (1860-1865), Tổng thống A.Lincoln đã yêu cầu họa sĩ tranh biếm họa chính trị T.Nast phác họa tranh ông già Noel cùng lính liên bang để khuyến khích tinh thần của họ. Và hình ảnh ông già Noel yêu nước trong bộ trang phục màu đỏ xuất hiện trên mặt thiệp trở nên phổ biến trong mùa Giáng sinh. Suốt Thế chiến thứ 2, hình ảnh chú Sam hay những hình mẫu yêu nước khác xuất hiện chủ đạo trên mặt thiệp Giáng sinh nhằm nhắc nhở người dân Mỹ tưởng nhớ đến sự hy sinh của nhiều người khác để họ có khoảnh khắc vui vẻ như hôm nay. Thiệp Giáng sinh với những hình vẽ hài hước trở nên thịnh hành vào thời chiến tranh lạnh. Thiệp Giáng sinh cũng dần trở thành công cụ hữu hiệu thể hiện ước nguyện của con người ở từng thời điểm khác nhau. Chẳng hạn những năm 60-70, ở Mỹ xuất hiện loại thiệp với hình ảnh ông già Noel cưỡi... tên lửa thay vì con tuần lộc truyền thống nhằm phản ánh lòng đam mê của Mỹ với ngành vũ trụ còn non trẻ.

Năm 2001, một trong những loại thiệp Giáng sinh đầu tiên của Anh trình làng năm 1843 đã được bán với giá kỷ lục 22.500 bảng Anh (khoảng 43.000 USD) tại một phiên bán đấu giá thu hút khá đông các nhà sưu tập Anh và Mỹ.
Ngày nay chỉ riêng ở Mỹ, hơn 2 tỉ thiệp Giáng sinh với khoảng hơn 3.200 kiểu mẫu cùng 14 ngôn ngữ khác nhau được chuyền tay nhau mỗi năm. Nếu tính chung trên thế giới thì con số sẽ lớn hơn rất nhiều. Thiệp Giáng sinh là loại thiệp "hút hàng" nhất trong năm. Cùng với loại thiệp in, thiệp điện tử cũng trở nên thông dụng với hơn 300 chủ đề khác nhau mà người nhận có thể nhận được ngay.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Chồng: Càng giữ càng mất

“… Người vợ tự trọng và tôn trọng chồng không bao giờ giữ chồng theo kiểu kiểm soát tiền bạc, giờ giấc, kiểm tra túi xách, điện thoại, rình rập, theo dõi việc họ giao tiếp với người phụ nữ khác để rồi tự biến mình thành “cai ngục” của chồng…”.Các chiêu giữ chồng…

Hầu hết các bà vợ có ý thức giữ gìn hạnh phúc gia đình đều “thủ” một vài chiêu mà họ học được từ người khác hay từ sách vở, các chuyên viên tư vấn…

Ngày nay nhiều người vợ “giác ngộ” rằng sắc đẹp, sự gợi cảm là một chất gây nghiện cực kì hiệu quả đối với phái nam nói chung và chồng mình nói riêng. Không chỉ các cô vợ trẻ không tiếc tiền mua sắm quần áo, mỹ phẩm để tôn vinh nhan sắc, mà các bà vợ không còn trẻ càng vung tay trong việc “tân trang” lại nhan sắc bắt đầu xuống cấp của mình ở các thẩm mỹ viện.

Từ việc nhuộm tóc đến bơm ngực, hút mỡ bụng, căng da, tắm trắng và bao nhiêu dịch vụ “tút” lại nhan sắc cho quý bà đều luôn hốt bạc… Thế nhưng lắm khi họ vẫn không giữ được chồng vì có ông cho rằng họ cần một người phụ nữ thông minh, sinh động chứ không cần một con búp bê biết nói.

Có người cố lo học nấu ăn thật ngon vì nghĩ rằng “tình yêu của người đàn ông thông qua cái dạ dày”. Hoặc có người nhận thức được rằng đảm đang, chung thủy là phẩm chất mà người đàn ông nào cũng mê cũng quý nhưng rốt cuộc chồng họ lại sa vào một “ma nữ” lẳng lơ nhưng hấp dẫn về tình dục.

Có đến 3 đứa con và có tuổi chị vẫn kiều diễm, sang trọng nhưng trong mắt chồng chị, một giám đốc kiếm nhiều tiền thì chị đã… cũ, còn anh ta chỉ ham những gì mới lạ và cứ thay bồ như thay… điện thoại di động. Nhiều bà vợ hung hăng, quá quắt không giữ được chồng đã đành mà người hiền như nữ tu vẫn bị chồng phụ.

Biết bao người phụ nữ điên đầu không biết đàn ông muốn cái gì để mà chiều. Nhiều người đàn ông cho rằng phàm người ta hay đi tìm cái gì mình thiếu, nhưng làm gì có người vợ đủ đầy tất cả những phẩm chất, vẻ đẹp mà người chồng của họ mơ ước. Cứ cho là vợ có đủ thì chưa chắc các ông ấy đã hài lòng. Vì sao?

Vì đàn ông trong xã hội ta quý trọng, nuông chiều, được thiên vị quá mức và căn bệnh “được voi đòi tiên” ở một số người đã “lậm” vào tận xương tủy, nhất là khi họ có chút địa vị, học thức hoặc kiếm được nhiều tiền hơn vợ.

Còn ở những xã hội văn minh, nam nữ bình đẳng, đàn ông còn phải giữ vợ mệt nghỉ, nhiều ông mải lo làm lo ăn, không biết dành thời gian chiều vợ, dẫn vợ đi chơi coi chừng bị vợ… bỏ! Đó là lời một phụ nữ Vit kều với con trai cả, có dịp về thăm quê hương đã cảnh cáo cậu con trai út có tính gia trưởng lại hay lăng nhăng đang sống ở Việt Nam .

Để chồng giữ mình…

Có một nhà thơ nữ gốc Huế đang sống trong Saigon, chị vốn làm việc trong ngành tài chánh, đã về hưu được mấy năm nay và dành thời gian để làm thơ, tham gia các hoạt động văn hóa và đi du lịch. Gần 60 tuổi nhưng nhìn chị không ít phụ nữ kém tuổi cứ mơ ước được trẻ như chị. Thành bà nội, bà ngoại cả rồi nhưng chị vẫn xinh tươi, hấp dẫn và tràn đầy sức sống. Ai cũng bảo như thế thảo nào luôn được chồng yêu chiều.

Chồng chị là một doanh nhân tóc muối tiêu nhu CDDH nhưng còn phong độ, lịch lãm và rất bận rộn nhưng lúc nào cũng dành thời gian đưa đón vợ đến những nơi chị cần hoặc chỉ là tán gẫu với bạn bè. Không ít người theo chị đòi tiết lộ “bí quyết giữ chồng”. Chị cười vang và không ngần ngại biếu không cái bí quyết ấy. Rằng bí quyết của chị là không hề giữ chồng gì cả mà phải để chồng tự giữ mình. Chị tiết lộ thêm ngày xưa chị cũng phải giữ chồng ghê lắm vì anh ra ngoài làm ăn, quan hệ rộng lại đẹp trai, nói năng có duyên và cũng “lẳng lơ” không kém ai.

Chị từng ghen đứng ghen ngồi, ghen đến mất sữa khi sinh đứa con thứ 2, dù chị cũng xinh đẹp, khéo léo có học thức… Nhưng bản tính đàn ông “ham của lạ”, “cái lạ” ,hot vit lon an voi thi` la`...đâu nhất thiết phải hơn vợ. Không đẹp như vợ nhưng xấu… lạ cũng khiến cho họ chú ý, thích thú, có sức hấp dẫn riêng. Quá mệt mỏi mà vẫn không giữ nổi nên chị… không thèm giữ nữa.

Con vào mẫu giáo, chị đi làm trở lại. Cần cù chịu khó và thăng tiến rất nhanh. Con lớn hơn, bớt vất vả, chị còn làm thơ đăng báo. Xinh đẹp, thơ hay lại thành đạt khiến cho nhiều văn nhân, thi sĩ ngưỡng mộ. Chị có thêm nhiều bạn bè và vẫn biết giữ giới hạn của người phụ nữ đã có chồng. Chị trở thành “bông hoa lạ” trong làng văn. Và từ lúc nào không hay, chị trở thành đối tượng để được “giữ”. Chị là “bảo vật” trong con mắt người chồng. Ở đời, cái gì quý thì mới được gìn giữ nâng niu. Chồng chị ngày càng thành công trên thương trường và càng hãnh diện vì có một người vợ giỏi giang, duyên dáng hơn cả khi chị còn là cô tiểu thư xinh đẹp anh theo đuổi ngày xưa.

Đàn ông rất ghét bị “giam giữ”

Bản tính của phái nam là thích tự do bay nhảy nên bị ai hạn chế, họ rất ghét, kể cả khi còn là một thiếu niên, nếu bị mẹ luôn nhắc nhở, cấm đoán, họ cũng rất bực và không ít thiếu niên bỏ nhà đi bụi là vì vậy. Khao khát của họ khi lớn lên là được tự do, thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ. Nếu vợ lúc nào cũng tìm cách giữ chồng khư khư như giữ…ma~ to^?... con sẽ tạo cho họ tâm lý muốn “tháo cũi sổ lồng”.

Thật ra khi người đàn ông muốn “ăn vụng” thì không cách nào người vợ giữ được. Người vợ tự trọng và tôn trọng chồng không bao giờ giữ chồng theo kiểu kiểm soát tiền bạc, giờ giấc, kiểm tra túi xách, điện thoại, rình rập theo dõi việc họ giao tiếp với người phụ nữ khác để rồi tự biến mình thành “cai ngục” của chồng. Chỉ nên tìm cách sửa mình, hoàn thiện mình để đẹp hơn trong mắt chồng và giúp người chồng hiểu rằng hạnh phúc gia đình là một điều quý giá và họ sẽ tự giác giữ gìn

ThuHuong
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Ông Già Noel Không Đến Việt Nam
Hai thằng nhóc của tôi hồi hộp chờ ông già Noel từng giờ, vì vậy để làm cho bọn nhỏ yên tâm, tôi đành mở internet vào mạng để chỉ cho chúng theo dõi ông già Noel đang ở đâu và sắp đến đâu tại địa chỉ này:

http://www.noradsanta.org

Sau khi biết ông già Noel đang ở Nam Mỹ, và sắp đến California thì chúng mới yên tâm. Trong lúc rảnh rỗi thì mấy cha con lại theo dõi các địa điểm mà ông già Noel đã đi qua trong vòng hai mươi tiếng đồng hồ qua... và khi soi từng địa điểm ở châu Á, cả 3 cha con đều chưng hửng khi thấy lộ trình ông già Noel năm nay không có Việt Nam! Trong khi đó ông già Noel đến Lào và 2 địa điểm khác ở Cambodia. Ba cha con lại check các địa điểm lân cận để xem coi có ai bị bỏ sót không thì thấy ông già Noel còn đến cả Bắc Hàn, Nam Hàn, Nhật, Malaisia, Indo, Philippine, Miến Điện... nhưng nhất định ông ta không chịu ghé Việt Nam.

Bọn nhỏ tiu nghỉu và tự ái dân tộc nên thắc mắc tại sao Santa Claus không đến Việt Nam??!

Tôi bèn giải thích rằng:

- Ở Việt Nam thì các thành phố thì đều bị kẹt xe trầm trọng, nếu ông Santa Claus tới Việt Nam thì sẻ bị trễ giờ không kịp đi tới các nơi khác phát quà.

Bọn trẻ bèn nói rằng:

- Santa Claus dùng xe bay trên trời cao thì làm sao bị kẹt xe được?

Tôi bèn chống chế rằng...

- Ừ ở Việt Nam ô nhiễm không khí quá cao, Santa Claus không dám bay trên trời vì sợ bị viêm phổi cấp tính.

Bọn nhỏ lại vặn vẹo:

- Tại sao ông Santa Claus không đeo khẩu trang như mấy cô chú ở Việt Nam lái xe trên đường phố để đi phát quà?

Tới nước này thì tôi nổi cáu:

- Ông già Noel không xin được visa vào Việt Nam vì chính phủ Việt Nam chưa cho phép. Ngoài ra ông ta cũng không thể tự mình phát quà ở Việt Nam, mà phải chuyển sang cho Mặt trận Tổ quốc thực hiện... Nếu ông ta tự ý phát quà cho người nghèo thì ông ta có thể mang tội cấu kết với thế lực thù địch ở hải ngoại tiếp tế cho các phần tử xấu trong xã hội, và vì vậy ông ta chạy mất tiêu không dám ghé Việt Nam.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Trường Mỹ, Trường Ta

Phạm Công Lý

Qùy gối, bạt tai, quất đít, khẻ tay, dộng đầu vô bảng đen... là chuyện thường thấy ở các trường Tiểu Học thời lính mã tà mũi lỏ bận quần sọt, đội nón côi cồ lô nhần. Lên Trung Học, thì đở hơn nhiều, nhưng hình ảnh các thấy ăn vận chửng chạc, đầu chải brillantine láng cóong, nghiêm nghị có hơi hám hình sự, với cà la oách tòn teng, giày trắng boong hay đơ cu lơ lộp cộp, cũng còn khiến các học sinh giật mình, đổi sắc, khi được gọi lên bảng đen.
Chẳng biết tại sao tôi cứ nghĩ là tôi sẽ không theo nghề dạy học, dù rằng ông nội tôi là Hiệu Trưởng 1 trường... làng. Cậu tôi là Thanh Tra Tiểu Học ở miền Tây, Ba và chú tôi đều tốt nghiệp L école Normale Supérieure, nhưng số mạng đã đẩy đưa con thuyền không lái của tôi vào tạm bến giáo dục khi tôi đang ở Đại Học, vì cần tiền tiêu vặt. Khi ra Trường Thủ Đức, ông Trời đưa lối, bà Phật đưa đàng, vào chỗ làng nhàng mà đi, cuối cùng tôi cũng được về dạy ở 1 trường Sinh Ngữ cho đến khi sập tiệm.
Sau 3 năm tình nguyện đi "phục hồi nhân phẩm," ăn kiêng theo chế độ đặc biệt, chủ yếu là rau muống và sực những gì kiếm được, chộp được, chôm được.. làm mắt tôi sáng ra, thấy tội lỗi đầy mình, lấy lao động làm vinh quang. Tôi không phải đi vùng "Kinh Thấy Mồ" vì có "gõ đầu trẻ" trước đây. Cầy cục xin được 1 chân dạy ở một trường xa Sài gòn, chuyên dạy các con em nhà nông và làm rẩy viết và nói thông thạo tiếng Anh trong 1 niên khóa. Trụ được 9 năm, sang lết xe đạp đi, chiều lết về, chịu không xiết vì "dứt cháo" thường xuyên, nên tôi "trân trọng xin Hiệu Trưởng nghiên kiú và nhất trí cao độ" cho tôi được từ nhiệm và mất dạy.
Ra ngoài, tôi mở một cửa hàng Trung Tâm bán lẻ xăng, dầu, nhớt, cùng dịch vụ tổng hợp bơm, vá, rút căm, lộn xên.... xe đạp, trương bảng hiệu bằng 1 cục gạch để trên lề đường cho ông đi qua, bà đi lại thấy dễ dàng, ẩn nhẫn chờ ngày lìa xứ ông cố (cố quốc) để "quy Mã".
Đến xứ thiên đàng, địa ngục hai bên, tôi tưởng đã adios cái nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý của xã hội, mà chẳng hiểu sao, lọt tọt tôi lại vô giáo dục nữa (xin lưu ý vô ở đây là 1 động từ).
Trường Middle School của tôi ở khu nhà lá Dorchester, ngoại ô thành phố, dân cư thuộc thành phần lao động Technicolor: trắng có, đen có (Haìti, Cap Verde), nâu có (Mễ và Puerto Rico..), vàng có (Mít, Khmer, Tàu) và đỏ có (con cháu Sitting Bull). Lớp tôi là 1 lớp Sped, không phải là lớp tốc độ đâu, mà là lớp Special Education, dành cho học sinh chậm phát triển, có vấn đề, nhất là quậy phá (hyper). Đó là lớp đặc biệt nên không được bình thường lắm. Lớp 6 mà mù tịt về cửu chương, thứ mà các nhóc tì ba vá của ta đọc ra rả như " mắc thằng Bố" mỗi sáng. Các phép cộng, trừ, nhân, chia, nếu không có máy tính thì... thầy cô làm hộ. Chữ viết thì như toa thuốc bác sĩ, lại sai văn phạm, chính tả. mà giáo viên thì không được phép sửa gì cả, vì sợ học sinh.... buồn, mà.... bỏ học!!!.
Nắm được "cái tỏng" của quan niệm giáo dục " Tất cả vì học sinh thân yêu" nhằm phát triển tính độc lập suy nghĩ của học trò, mấy nhóc tì phát huy quyền làm "qủy" tới bến. Thách thức và dùng cả tiếng Đan Mạch với thầy cô là chuyện không hiếm. Thường xuyên nghe những lời hỗn láo của chúng, mà không có nội công thiền vô vi "mackeno" thâm hậu, thì một là bỏ nghề, hai là bỏ mạng (vì tăng xông hay đứt tim), ba là bỏ gia đình (đi tù) vì phải dộng cho chúng vài bạt tai cho đỡ tức. Quá quắt lắm thì bị cảnh cáo... gãi ngứa. hoặc cho về nhà mấy hôm, dưỡng sức để ... tiếp tục giõn mặt với thầy cô .
Thích thì học lai rai, buồn thì đi loanh quanh trong lớp hay nằm ngủ tỉnh queo. Ngoài nhiệm vụ năn nỉ chúng học và làm bài, các thầy cô còn phải babysit chúng bất cứ nơi đâu: Đổi lớp, ăn trưa, đi vệ sinh... đều có tiền hô hậu ủng, nếu không thì phòng ngập nước, cầu nghẹt, cửa hư, tường đầy hình vẽ, câu nói mà ông, bà giáo sắp đến tuổi hưu cũng thấy đỏ mặt , than trời! Chơi và phá nhiều hơn học, nhưng năm nào cũng được lên lớp đều đều, có lẽ bắt chước chỉ tiêu giáo dục tiên tiến của ta chăng?
Bị áp lực nặng nề suốt năm chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của thầy cô giáo ở xứù này. Trong năm 1998 và các năm sau đó, một loạt vụ thảm sát kinh hoàng xảy ra trong các trường học ở MI, AL, PA, KY, AK,MS, VA.. đã đưa nghề giáo vào danh sách Top Ten của những nghề nguy hiểm nhất, chỉ sau binh sĩ ở chiến trường, cảnh sát và lính cứu hỏa mà thôi .
Rất may mắn là Diêm Dzương đã cương quyết không duyệt hộ khẩu cho mấy tên qủy nhỏ này, đầu thai vào đất nước trọng sư, học đạo của ta từ xưa đến nay.
Nhìn người lại nghĩ đến ta. Con em mình ngoan như đàn cừu, dễ dạy, cầu tiến. Vị trí của thầy cô bao giờ cũng là nơi trang trọng nhất trong xã hội. Học sinh, thấm nhuần lễ giáo Khổng Mạnh, thuộc Quốc Văn Giáo Khoa Thư như cháo: Gần ½ thế kỷ trôi qua, nhung chuyện ông Carnot về thăm thầy cũ đã khiến một số học sinh nhỏ ngày xưa, tứ tán 4 phương trời, vì thời cuộc, đã tìm về quê, thăm thầy cô, thậm chí còn tạo cơ hội để thầy cô có dịp gặp lại các học sinh cũ trong các cuộc họp mặt định kỳ.
Có đáng hãnh diện không khi biết các giáo viên ở đây đều có 1 nhận xét chung: "Rất thoải mái và hân hạnh được dạy các học sinh Việt Nam". Đó là truyền thống tốt đẹp suốt 4000 ngàn năm lịch sữ, và bây giờ lại trải dài hơn 10.000 dặm tận bên kia bờ Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Thảo nào có người nổ một câu nghe đã ngứa còn hơn lấy ráy tai ở tiệm hớt tóc máy lạnh Ô Mờ, đáng được đưa vào sách kỷ lục Guiness: "Nhân loại mơ "bừng con mắt dậy, thấy mình.." là người Việt Nam.
Nghe người khen, đã thấy khoái, tại sao ta lại không khen mình cho nó sướng hơn? Thế nên tôi mạo muội đạo văn bài "Ai bảo chăn trâu là khổ..." để đề cao ta một lần nữa, Thơ rằng :

Ai bảo làm người Việt Nam là khổ
Không, người Việt Nam sướng lắm chớ.
Ta có cha mẹ tảo tần
Có ông bà yêu cháu
Có vợ chồng thủy chung
Có bạn bè thân thương
Có con kính mẹ cha
Có trò trọng thầy cô
Dù góc bể chân trời
Ta không bao giờ đổi.

Tạm trú ở một đất nước dư thừa vật chất, nhưng đạo đức khiếm khuyết, tình người phải đốt đuốc, kỳ thị vẫn còn lảng vảng, dù ẩn mặt, giấu tên, người Việt Nam xa xứ, dù ở địa vị nào, vẫn sống và làm việc, lạc quan và tự hào về truyền thống xưa và hy vọng còn tiếp tục ở những thế hệ mai sau.

Phạm Công Lý
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 0 guests