Thời Sự, Bình Luân

quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Trung Quốc muốn đồng hóa Tây Tạng
Tuesday, March 10, 2009

Ngô Nhân Dụng

Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã thành công nhiều lần trong những cuộc xâm lăng và đồng hóa các dân tộc chung quanh. Mãn Châu, Mông Cổ, Khiết Ðan, Thổ Phồn, những tên đó đã thành dĩ vãng! Nước Nam Chiếu vào thế kỷ thứ 8 chiếm lãnh một vùng ở tỉnh Vân Nam bây giờ và đã từng đem quân tấn công Giao Châu những năm 846, 862 và chiếm đóng cả 10 năm từ 863. Cũng trên miền đất này thời Ngũ Quý Ðoàn Tư Bình lập ra nước Ðại Lý. Cả hai quốc gia đó giờ chỉ còn những di tích chùa, tháp; các dân tộc từng xưng hùng một cõi bây giờ là những nhóm thiểu số an phận làm người Trung Hoa. Hiện nay dân Tây Tạng đang trải qua tình trạng giống như người Việt trong một ngàn năm Bắc Thuộc. Họ cũng tranh đấu để bảo vệ nòi giống và văn hóa của mình, không để cho người Trung Hoa đồng hóa. Cùng một hoàn cảnh như người Việt, và kiên cường không kém; chúng ta tin rằng người Tây Tạng sẽ thành công!

Ngày hôm qua kỷ niệm 50 năm ngày nhân dân Tây Tạng nổi dậy chống cuộc đô hộ của Trung Cộng, họ đã bị đàn áp và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 phải trốn qua Ấn Ðộ tị nạn, công an cảnh sát và quân đội Trung Quốc đã xuất hiện khắp nơi để kiểm soát 6 triệu người dân Tây Tạng sống ở nước họ cũng như những người Tây Tạng ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải và Vân Nam. Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh nhất quyết tiêu diệt nước Tây Tạng, đồng hóa để biến họ thành một phần của Trung Quốc.

Cuộc bành trướng của Hán Tộc bắt đầu từ hai ngàn năm trước, mục tiêu đồng hóa không phải chỉ gồm những người Tây Tạng. Những dân tộc như Việt Nam, Hàn Quốc, Miến Ðiện, Ai Lao vẫn tồn tại được vì người dân cương cường không chịu khuất phục. Nhưng yếu tố mạnh nhất giúp họ bảo vệ được nền độc lập của họ là bản sắc văn hóa. Mặc dù đã chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa hàng ngàn năm, các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ, hồn tính riêng của mình. Trong khi đó có nhiều sắc dân khác đã hoàn toàn bị đồng hóa.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng trong 50 năm qua cho thấy nền văn hóa của họ rất mạnh. Nhưng hiện nay chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đang tìm cách xâm lăng cả lãnh vực văn hóa nữa, như trong việc tấn phong các vị lạt ma được coi là tái sinh.

Trong Phật Giáo Tây Tạng vẫn nhiều vị lạt ma qua đời được tin tưởng là sẽ tái sanh dưới hình hài mới. Theo truyền thống, có những thủ tục và quy tắc cho việc đi tìm và nhận diện, tiến tới việc công nhận những vị tái sanh, gọi là tulku. Tiếng Trung Hoa gọi các tulku là những “hoạt Phật,” tức là Phật sống, vì giới hạnh nghiêm trì của họ, nhưng chính người Tây Tạng không dùng hình ảnh này. Hiện nay Cộng Sản Trung Quốc đang tìm cách chiếm lấy quyền công nhận các vị tulku, một hành động “xâm lăng” vượt trên phạm vi chính trị, tiến sâu vào cả lãnh vực tôn giáo.

Từ năm 1949 khi Cộng Sản chiếm chính quyền ở Trung Quốc, người Tây Tạng sống rải rác ở nước Trung Hoa, đặc biệt là ở các tỉnh phía Tây như Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam, không còn được thấy một vị tulku mới nào nữa. Từ năm 1959, quân Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng hoàn toàn thì họ cũng không cho phép Phật tử được công nhận các vị tulku mới. Ðến năm 1991 Trung Cộng mới tái lập việc tấn phong các vị lạt ma tái sanh, và cho tới nay đã công nhận thêm một ngàn vị tulku mới, nâng tổng số lên 2,000 vị trong xứ Tây Tạng. Trước khi Trung Cộng chiếm xứ này, cả nước có từ 3,000 đến 4,000 vị “hoạt Phật” như vậy.

Năm 1992, chính phủ lưu vong Tây Tạng và chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh đã cùng suy tôn một vị lạt ma tái sanh là Karmapa đời thứ 17 thuộc truyền thống Dòng Kagyu. Nhưng tám năm sau Lạt Ma Karmapa đã trốn đi tị nạn, cho biết chính quyền Cộng Sản đã cản trở việc tu học của ngài. Chính quyền Cộng Sản vẫn tiếp tục đứng ra công nhận các vị lạt ma tái sanh, theo cách lựa chọn của họ.

Như vị lạt ma trụ trì Tu viện Shouguo ở thị xã Khang Phụ, tỉnh Vân Nam bên dòng sông Mekong sát biên giới Tây Tạng đã qua đời hơn 50 năm nay, mà chưa có người tái sanh để kế tục. Năm ngoái, chính quyền Cộng Sản đã công nhận một tu sĩ Tây Tạng trong vùng, Celeng Pengchi, 30 tuổi, và đã làm lễ tấn phong cho ông, coi đó là vị tulku hóa kiếp trở về. Từ đó tới nay ông đã sửa sang tu viện và nhiều Phật tử đã trở về, giúp cho đời sống tu viện sống động trở lại.

Tuy nhiên, viên chức Cộng Sản phụ trách việc phong nhậm Celeng Pengchi nói thẳng rằng muốn được coi là một tulku thì vị lạt ma được chọn phải có lý lịch tốt về chính trị!

Thủ tướng chính phủ lưu vong Tây Tạng Samdhong Rinpoche coi việc chính quyền Bắc Kinh bước vào lãnh vực tôn giáo truyền thống Tây Tạng mà một hành động can thiệp rất thô bạo. Năm 1995 Cộng Sản Trung Hoa đã từng làm như vậy, sau khi Ðức Ban Thiền Lạt Ma qua đời.

Sau khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đi tị nạn, Trung Cộng đã đưa Ðức Ban Thiền Lạt Ma là người thuộc dòng tu có uy tín bậc nhì ở Tây Tạng về Bắc Kinh, nơi cũng có những chùa Tây Tạng lớn. Ông qua đời năm 1989, đến năm 1995 thì Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã công nhận một thiếu niên người Tây Tạng là Ban Thiền Lạt Ma tái sanh. Thấy vậy, Cộng Sản Trung Quốc lập một thiếu niên Tây Tạng khác, Gyaincain Norbu, công nhận là vị Ban Thiền Lạt Ma tái sanh của họ. Nhưng cho tới giờ các Phật tử Tây Tạng chỉ tôn trọng người đã được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma công nhận.

Cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng, ở trong nước và ở bên ngoài, trước hết là để bảo vệ nền văn hóa với truyền thống Phật Giáo. Trước ngày kỷ niệm 50 năm cuộc khởi nghĩa bất thành của người Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã nhắc lại rằng mục đích những cuộc vận động của ngài là bảo vệ văn hóa dân Tây Tạng. Muốn bảo vệ bản sắc văn hóa đó thì chính quyền Bắc Kinh phải trả lại cho người Tây Tạng một số quyền tự trị mà hiện nay họ đã cướp mất. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma chấp nhận không đòi Tây Tạng phải độc lập, và chính ngài có được trở về Tây Tạng hay không cũng không quan trọng. Những ý kiến đó đã được vị lãnh đạo dân Tây Tạng nói đi nói lại từ 50 năm nay, nhưng Cộng Sản Trung Quốc vẫn tiếp tục vu cáo cho Ðức Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một người chủ trương làm loạn, chia rẽ “quốc gia” của họ!

Người Tây Tạng có muốn được gia nhập “quốc gia” của người Trung Quốc hay không? Những cuộc nổi dậy từ 50 năm qua cho thấy là không. Dân Tây Tạng cũng hãnh diện về lịch sử, về văn minh của họ không khác gì dân Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 7, khi dân Việt Nam còn sống dưới ách đô hộ của người Trung Hoa thì Tây Tạng đã là một quốc gia độc lập. Cuộc kết hôn giữa một hoàng đế Tây Tạng với một vị công chúa nhà Ðường vào năm 641 được người Tây Tạng coi là một hành động giao hiếu giữa hai quốc gia ngang hàng; nhưng người Trung Hoa lại coi đó là “bước mở đầu” cho việc thống nhất hai dân tộc vào một “gia đình!” Năm 821, hai quốc gia đã ký kết một hòa ước, mà bản văn khắc trên bia đá còn giữ được đến ngày nay. Quân Mông Cổ đã xâm chiếm Tây Tạng, cũng như họ đã chiếm Ðại Lý, xâm lăng Việt Nam và Cao Ly. Nhưng tới đời nhà Minh, Tây Tạng vẫn giao thiệp với triều đình Trung Hoa như một nước độc lập, không khác gì vua nhà Lê ở Việt Nam. Ðời nhà Thanh, người Trung Hoa cai trị Tây Tạng như một nước bảo hộ, nhưng tới khi Trung Hoa Dân Quốc ra đời thì tuy chính quyền vẫn coi Tây Tạng là thuộc Trung Quốc nhưng không gây được ảnh hưởng nào. Cho đến khi Cộng Sản chiếm được nước Trung Hoa thì chính sách của họ là xâm lược, đồng hóa và bành trướng.

Người Việt Nam có thể tặng người Tây Tạng bài họ kinh nghiệm sống 1,000 năm dưới những triều đại Trung Hoa cũng theo đuổi một chính sách tương tự. Hiện nay một nửa dân số Tây Tạng còn sống trong nước, khoảng 6 triệu người; nửa khác sống rải rác ở các tỉnh miền Tây Trung Quốc. Chính tại các tỉnh này, người Tây Tạng vẫn bảo vệ bản sắc của họ. Tại tỉnh Tứ Xuyên, năm ngoái cũng vào dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa bất thành năm 1959, một em học sinh 15 tuổi người Tây Tạng cũng biết đem treo cờ quốc gia, vạch xóa trên những bức hình Mao Trạch Ðông, Ðặng Tiểu Bình, và viết lên tường khẩu hiệu “Ðức Ðạt Lai Lạt Ma Vạn Tuế.” Năm nay em học sinh này đã bị công an ra lệnh cha mẹ phải quản thúc. Nhưng phương pháp công an trị không thể nào tiêu diệt được tinh thần quật cường của một dân tộc có bản sắc và đầu óc độc lập.

Chúng ta có thể tin như vậy, vì người Việt Nam đã sống qua kinh nghiệm đó. Tuy người Tây Tạng đang phải đối phó với một chiến dịch xâm lăng mới trên mặt tôn giáo, văn hóa, nhưng truyền thống văn hóa của họ rất vững mạnh, được hun đúc hàng ngàn năm nay. Có thể nói nền tảng văn hóa của người Tây Tạng bây giờ vững chắc hơn người Việt hai ngàn năm trước, khi người Trung Hoa chiếm đóng nước ta vào đầu công nguyên rất nhiều.

Chính người Việt Nam bây giờ cũng vẫn phải tự vệ trước những cuộc xâm lăng khác của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc, trong đó có cả cảnh xâm lăng về văn hóa. Chủ nghĩa Cộng Sản được đem vào Việt Nam với quan điểm của người Trung Hoa, trong lý luận cũng như trong hành động. Hồ Chí Minh đã từng trả lời một kinh tế giả Pháp rằng ông không viết sách chỉ vì có điều gì cần viết thì Mao Trạch Ðông đã viết đầy đủ rồi. Có một thời ngôn ngữ Việt Nam tràn ngập các chữ quen dùng ở Trung Quốc. Các chiến dịch “chỉnh phong,” “cải cách ruộng đất,” “trăm hoa đua nở” cho tới các nhà tù gọi là “lao cải” đều bắt chước Trung Quốc cả ngôn ngữ, khẩu hiệu lẫn chế độ cư xử hà khắc. Sau khi Hồ Chí Minh chết, ảnh hưởng của Trung Quốc đã giảm dần, nhưng gần đây thì ảnh hưởng đó trở lại. Sau khi Nông Ðức Mạnh cùng Nguyễn Tấn Dũng lục tục sang Tàu năm ngoái thì ảnh hưởng Trung Quốc có vẻ “dũng mạnh” hơn thời Hồ Chí Minh nữa! Ðến lúc người Việt Nam cũng phải biết noi gương người Tây Tạng!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Từ Trường Sa Đến Tây Nguyên

Trần Hùng

Image
Quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang bị nhiều nước chiếm giữ.
Vào dịp đầu Xuân năm nay, cộng đồng người Việt ở nhiều nơi đã tổ chức những buổi lễ trọng thể để tưởng niệm các chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến với Trung cộng tại quần đảo Hoàng Sa, diễn ra cách đây vừa đúng 35 năm. Thời nào cũng vậy, người chiến sĩ bỏ mình nơi sa trường chính là những vị anh hùng đích thực, và luôn được hậu thế tôn vinh mãi mãi về sau.

Trong cuộc hải chiến diễn ra ngày 19-1-1974 tại quần đảo Hoàng Sa, 58 chiến sĩ VNCH đã anh dũng hy sinh, gửi xác trong lòng biển Đông để dân tộc Việt Nam mãi mãi tự hào về lòng yêu nước dạt dào và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ không có gì lay chuyển nổi của những người con yêu của Tổ Quốc. Dù tương quan lực lượng có yếu thế, nhưng họ vẫn hiên ngang xấn tới. Dù địch quân đông đảo và hung hãn, nhưng họ không một giây phút sờn lòng. Máu của những chiến sĩ anh hùng này đã tô thắm hình ảnh Hoàng Sa trên tấm bản đồ nước Việt. Tên tuổi của anh hùng Ngụy Văn Thà và những chiến hữu của anh mãi mãi nằm trên những trang sử xanh.

Nói đến Hoàng Sa, người ta không thể quên Trường Sa. Trên sóng nước biển Đông, 2 quần đảo này là những phần máu thịt Việt Nam không thể chia cắt được. Những gì đã xẩy ra tại Hoàng Sa vào đầu năm 1974 lại được lập lại sau đó 14 năm khi Trung cộng đem quân đánh chiếm Trường Sa, và nước biển Đông lại một lần nữa hoà máu của con dân Việt. Đó là ngày 14-3-1988, cách đây vừa đúng 21 năm.

Như lịch sử còn ghi lại sau này, tình hình giữa 2 nước cộng sản "vừa là đồng chí vừa là anh em" Trung cộng và Việt cộng vào cuối thập niên 80 đang ở trong tình trạng hết sức căng thẳng. Cuộc tranh chấp kéo dài gần một thập niên với nhiều trận giao tranh đẫm máu đã biến 2 chế độ cùng tôn thờ một chủ nghĩa ngoại lai này, nay trở thành thù địch, không đội trời chung. Vốn vẫn coi CSVN như là một chư hầu, đặc biệt trước thái độ khiếp nhược của Hà Nội đối với vấn đề lãnh thổ, qua công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958, hay việc Việt cộng nhắm mắt khi Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực xâm chiếm Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của hải quân CSVN đã từng tham dự trận hải chiến Trường Sa sau này tiết lộ trong bài bút ký mang tựa đề "Một Trang Sử Anh Hùng, Một Thời Kỳ Nhục Nhã" dưới bút hiệu "Phạm Trung Trực" cho biết "Ngay từ cuối năm 1986, tình hình vùng biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam có những diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích của lực lượng Hải quân Trung Quốc. Đến đầu năm 1987, Trung Quốc vừa đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao bịp bợm, vừa tăng cường đưa tàu chiến vào gần các đảo của Quần đảo Trường Sa, trong đó có những đảo bộ đội ta đang chiếm giữ. Chúng trắng trợn đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i- xi-Ti, cho tàu qua lại các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa đông, Song Tử Tây… có lúc chỉ cách quân ta có một vài hải lý. Trắng trợn hơn chúng còn đưa lực lượng chiếm giữ 2 đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam Quần đảo Trường Sa".

Mặc dù Trung cộng đe dọa như vậy, lãnh đạo Hà Nội vẫn một mực câm nín. Tác giả Phạm Trung Trực tiết lộ thêm trong bài bút ký nói trên: "Bộ Tư Lệnh hải quân liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay: Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng. Đau đớn thay cho Tổ Quốc ta, chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo đất nước với sự thao túng của Lê đức Anh, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Trung Quốc để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ” ở Căm pu Chia".
Image
Bản đồ do Trung cộng ấn hành năm 2007 công bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Thái độ đớn hèn đó rõ ràng đã làm tăng thêm dã tâm của Trung cộng. Ông Phạm Trung Trực tường thuật chi tiết trận đánh như sau: "6 giờ ngày 14-3-1988, bọn Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Bọn Trung Quốc dựa vào thế quân đông tiến đến giật cờ ta. Lập tức thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng xông lên giành lại cờ. Bọn lính Trung Quốc láo xược, hung hãn đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu bạn lập tức bị bọn lính Đại Hán bắn chết. Trần Văn Phương đã anh dũng hy sinh. Đây là liệt sỹ đầu tiên của bộ đội hải quân Việt Nam hy sinh trên vùng biển Đông của Tổ Quốc, bảo vệ quần đảo Trường Sa. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô to ’Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng. Tổ quốc Việt Nam muôn năm’. Tiếng hô của anh vang vọng trên sóng biển Đông xa xôi. Những người lãnh đạo ở Hà Nội có nghe được tiếng hô thống thiết này không? Tiếng hô mà lẽ ra bằng tâm linh của những con người có lương tri phải nghe được, cảm được. Vì chính họ là những người phải chịu trách nhiệm về sự hy sinh này".

Những người lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội có nghe được những tiếng hô thống thiết này, nhưng họ không có lương tri để nhận thức được sự việc. 64 chiến sĩ bộ đội hải quân đã bỏ mình trong trận hải chiến Trường Sa. Trung cộng đã chiếm thêm một số đảo. Nhưng những sự hy sinh này đã bị tập đoàn lãnh đạo cộng sản phản bội. Bằng chứng là những hiệp ước trên đất liền và trên biển mà Hà Nội đã ký kết lén lút với Bắc Kinh để dâng nạp thêm những phần đất của Tổ Quốc, ở Bản Giốc, ở Nam Quan, ở Tục Lãm, ở Biển Đông… Tác giả Phạm Trung Trực đã nói thay cho 64 chiến sĩ đã hy sinh ở Trường Sa, cũng như những chiến sĩ khác đang tiếp tục bị phản bội: "Thật kỳ lạ, đúng 20 năm sau, lịch sử lại lập lại một trang bi thảm trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Năm 2008 này, khi nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh niên, sinh viên biểu tình tỏ thái độ phản đối bọn Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa - Trường Sa thì ban lãnh đạo Đảng vẫn như vô cảm, thậm chí còn cho công an đàn áp dã man, bắt bỏ tù nhiều thanh niên yêu nước dám hy sinh vì Tổ quốc thân yêu".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết "Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường". Trung cộng không phải mới chỉ xâm chiếm những phần đất ở biên giới phiá Bắc, hay những hải đảo ở biển Đông xa xôi, mà đã lấp ló ngay trên miền Tây nguyên. Dư luận hiện nay đang quan tâm đến hình thức xâm thực mới, lồng dưới nhãn hiệu khai thác quặng bauxite ở miền đất chiến lược này. Đã có rất nhiều giới chức thuộc lãnh vực khoa học cũng như quân sự đã lên tiếng cảnh báo, và tiếng nói mới nhất là của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ VNCS tại Bắc Kinh. Thư của ông Vĩnh viết rằng: "Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào ?!".
Image
Những đồi thông và vườn chè ở Tây nguyên đã bị san bằng để khai thác bauxite.
Tin tức cho biết một số đơn vị quân đội đã bị điều động đến Tây nguyên để "bảo vệ" cho những khu vực khai thác bauxite. Những chiến sĩ bộ đội sẽ nghĩ gì về nhiệm vụ này? Các anh cầm súng để bảo vệ đất nước thân yêu, hay là để giữ vững ngai vàng cho một thiểu số cầm quyền đang cam tâm cúi đầu trước ngoại bang?. Câu trả lời cần được mỗi người tự tìm lấy, xuất phát từ trái tim yêu nước và lương tri chân thật của mình, chứ không dưới bất cứ một áp lực nào hay nhân danh bất cứ chủ nghĩa nào. Chỉ có một chủ nghĩa duy nhất cho người Việt Nam, đó là "chủ nghĩa yêu nước" chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản ngoại lai, và chỉ có một nhiệm vụ duy nhất cho mọi con dân Việt, đó là "bảo vệ đất nước" chứ không bảo vệ cho một tập đoàn, đảng phái hay chế độ nào. Nhân 21 năm tưởng niệm những chiến sĩ đã bỏ mình trong trận hải chiến Trường Sa, hàng ngũ bộ đội cần xác định mạnh mẽ những điều nói trên, để không phản bội lại sự hy sinh của anh hùng Trần Văn Phương hay Nguyễn Văn Lanh, và cũng để sự hy sinh của chính mình không trở nên vô nghĩa.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Phải chấm dứt lối im lặng hèn nhát

Ngô Nhân Dụng

Tại sao tầu Trung Quốc cố ý đụng độ tầu Mỹ ở Biển Ðông nước Việt vào cuối tuần vừa qua? Có người giải thích là giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn thử coi ông tổng thống mới của nước Mỹ sẽ phản ứng thế nào. Có giả thuyết coi vụ gây rối xẩy ra vì ông đô đốc chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tới thăm Hà Nội. Gây ra vụ rắc rối này là bắn một mũi tên nhắm 2 con chim, Mỹ và Việt Nam.

Năm 2001 chính quyền Trung Quốc đã từng thử trắc nghiệm cựu Tổng Thống George W. Bush một lần, ba tháng sau khi ông Bush nhậm chức. Phi cơ chiến đấu Trung Quốc đã bay sát một chiếc máy bay thám thính của hải quân Mỹ, phi công Mỹ phải xin phép hạ cánh khẩn cấp xuống một phi trường ở đảo Hải Nam, trong Vịnh Bắc Việt. Năm đó 24 nhân viên phi hành đoàn chỉ được thả sau 11 ngày ăn cơm Tầu, sau khi chính phủ Mỹ tỏ ý ân hận, mặc dù không chính thức xin lỗi. Từ đó, mối bang giao giữa Bắc Kinh và Washington thắm thiết suốt 8 năm trời và máy bay Trung Quốc không bao giờ lượn ép gần phi cơ thám thính của Mỹ nữa.

Năm nay, tân Tổng Thống Mỹ Barack Obama mới tuyên thệ chưa được 7 tuần, năm chiếc tàu Trung Quốc đã vây bủa, ngăn chặn, phá đám công việc thăm dò biển của một chiếc tầu thám thính Mỹ trong vùng biển quốc tế cách đảo Hải Nam 75 dặm. Tầu Mỹ dùng vòi rồng phun nước đuổi các tầu Trung Quốc đi, nhưng các thủy thủ Trung Hoa đã cởi quần áo ngoài và tiếp tục lướt sóng xông tới. Khi tầu Impeccable báo hiệu xin mở đường để tránh đi nơi khác, vẫn còn chiếc tầu Trung Quốc chặn ngang đường, cách nhau chỉ có 8 mét. Trước khi xẩy ra vụ này, tầu Hải quân Trung Quốc đã quấy nhiễu một tầu thăm dò đáy biển khác của Mỹ trong vùng Hoàng Hải ở phía Bắc.

Vào cuối tuần, Bộ Quốc Phòng Mỹ ngỏ lời than phiền về những hành động bất thân thiện và nguy hiểm trên. Ðầu tuần này Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã đáp lại, họ tố cáo tầu Mỹ vi phạm công ước quốc tế về luật biển, xâm phạm ranh giới 200 dặm thuộc vùng kinh tế độc quyền trên biển (exclusive economic zone, EZZ) của họ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói rất mạnh, gọi hành động của tầu thủy Mỹ là “không thể chấp nhận được.”

Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) ấn định lãnh hải của các nước là 12 hải lý, nhưng xác định mỗi nước có quyền khai thác tài nguyên trong vòng 200 hải lý, gọi là EEZ. Công ước này cho phép tầu thủy các nước được đi vào vùng kinh tế của nước khác, trong đó có quyền thám thính; nhưng không nói gì đến các tầu quân sự. Trung Quốc ký vào bản công ước này năm 1996, còn chính phủ Mỹ chưa ký, mặc dù vẫn tự nguyện tôn trọng phần lớn các quy định trong 320 điều khoản và 8 bản phụ đính trong công ước này.

Ngày Thứ Tư, Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì đã tới gặp Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, hai bên tuyên bố sẽ cố gắng tạo không khí hòa dịu. Ông Dương Khiết Trì tuyên bố cuộc bang giao hai nước đang bắt đầu những bước tốt đẹp. Trong chuyến đi Bắc Kinh tháng trước, bà Clinton đã không lên án những vụ Trung Quốc vi phạm nhân quyền, mà nhấn mạnh vào liên hệ kinh tế, đề cao trách nhiệm chung của hai nước phải cùng giúp thế giới thoát cơn suy thoái.

Nếu bà Clinton đã mở đường hòa hiếu như vậy thì tại sao tầu Trung Quốc lại quấy rối tàu Mỹ ở ngoài Biển Ðông nước Việt Nam? Họ có thể nhắm vào cả nước Mỹ lẫn Việt Nam.

Ðây có thể là một hành động do giới quân nhân lãnh đạo Bộ Quốc Phòng Bắc Kinh xướng xuất, Bộ Chính Trị cộng sản Trung Quốc có thể biết, nhưng cũng có thể không biết trước. Ở nước nào cũng vậy, các tướng lãnh có thể gây ra những rắc rối nhỏ để cho các nhà chính trị phải biết kính nể vai trò quan trọng của họ. Giới quân sự vẫn coi là họ chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia, một vấn đề phức tạp và nặng nề mà những người dân sự không hiểu nổi.

Trong hành động gây rối với tầu Mỹ, giới quân sự Trung Quốc muốn thông báo cho thế giới biết rằng vùng biển Nam Hải là “ao nhà” của họ, đừng ai tính xía vô (cũng như người Mỹ vẫn coi Tây Bán cầu là sân sau của mình). Quan niệm Châu Mỹ là chuyện riêng của nước Mỹ sẽ được người Trung Hoa áp dụng ở miền Ðông Á Châu, đặc biệt là trong vùng biển phía Nam nơi nhiều quốc gia đang tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặt khác, giới quân sự Trung Quốc cũng muốn dằn mặt nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam, cho họ biết rằng người Trung Quốc không nể nang gì Mỹ cả (bị phun nước nhưng vẫn cởi trần xông tới). Do đó, họ nhắn bảo cộng sản Việt Nam hãy ngưng lén lút bàn chuyện “dan díu” với Mỹ qua cuộc gặp gỡ đô đốc Robert Willard. Báo chí ở Việt Nam, do đảng cộng sản kiểm soát, đã loan tin đô đốc Willard thảo luận hợp tác trong nhiều lãnh vực, trong đó có cả những vấn đề an ninh và quốc phòng ở Biển Ðông.

Ðiều đáng tiếc là trước một biến cố xẩy ra trong vùng biển của nước mình, thái độ của chính quyền cộng sản Việt Nam quá rụt rè, có thể nói là nhu nhược. Khi được hỏi về hành động của thủ tướng Mã Lai Á bay tới thăm đảo Ðá Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ nhắc lại những quy tắc đại cương như việc tôn trọng chủ quyền các nước theo luật biển và Công ước 1982, để “không làm tình thình thêm phức tạp.”

Ðáng lẽ ra, nhân những biến cố xẩy ra giữa tàu Hải quân Mỹ và Trung Quốc, người cầm quyền ở Việt Nam phải lợi dụng cơ hội này xác nhận lại chủ quyền của nước mình trên vùng biển xẩy ra những vụ rắc rối đó.

Vì vụ tầu Impeccable cũng xẩy ra trong “vùng kinh tế trên biển, EZZ” của Việt Nam, nằm trong khoảng 200 hải lý cách bờ biển nước ta ở Hoàng Sa. Trong khi Trung Quốc nhân cơ hội này xác định vùng EZZ của họ, Việt Nam không nên để lỡ cơ hội mà không nhắc lại Hoàng Sa là một quần đảo thuộc nước Việt mặc dù đã bị Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1974.

Khi hai quốc gia có những tranh chấp về lãnh thổ và lãnh hải, bổn phận của chính quyền là luôn luôn tìm cơ hội nhắc lại chủ quyền bất khả xâm phạm của mình trên những vùng tranh chấp đó. Nhất là khi Hải quân Trung Quốc cố ý phô bầy cho cả thế giới biết là vùng Biển Ðông nước ta là “ao nhà” của họ, không cho ai xía vào, thì bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng phải tìm cách phản bác bản thông điệp ngấm ngầm như vậy. Thái độ im lặng của đảng cộng sản Việt Nam cho thấy họ vẫn theo một đường lối ngoại giao tránh né nếu không phải là sợ sệt dối với nước cộng sản đàn anh phương Bắc.

Trong một bài tham luận về vấn đề tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới được phổ biến trên mạng lưới của các cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa, kỹ sư Trần Văn Khởi đã lên án đảng cộng sản Việt Nam là nhu nhược, nếu không nói là hèn nhát, khi tránh né nêu lên vấn đề chủ quyền này.

Một thái độ nhu nhược lộ rõ nhất là suốt hai chục năm qua đảng cộng sản Việt Nam đã không công khai lên tiếng để làm cho minh bạch vụ bức thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Như đã trình bày trong mục này nhiều lần, bất cứ chính quyền Việt Nam nào, bây giờ và trong tương lai, đều có thể giải thích bức thư “oan nghiệt” đó theo cách khác với Bắc Kinh, để bênh vực quyền lợi đất nước, bác bỏ cách giải thích của chính quyền Trung Quốc.

Như chúng ta đã biết, vào Tháng Chín năm 1958, chính phủ Trung Quốc đưa ra bản tuyên bố về hải phận 12 hải lý của họ. Tuy bản tuyên bố này nhắm vào việc xác định chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, vân vân, nhưng trong đoạn số 4 có nhắc tới các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa (tức Hoàng Sa của nước ta), Nam Sa (tức Trường Sa). Lúc đó, vì đang phải xin Trung Quốc giúp xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã dại dột cho ông Phạm Văn Ðồng viết lá thư công khai tán thành bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc. Từ đó tới nay, Bắc Kinh đã vin vào lá thư đó để coi là cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn chấp nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng, như kỹ sư Trần Văn Khởi giải thích, người Việt Nam có thể giải thích cách khác, nói rằng lá thư Phạm Văn Ðồng chỉ công nhận quan điểm lãnh hải 12 cây số đối với các đảo đã thuộc Trung Quốc mà thôi, chứ không bàn đến vấn đề chủ quyền trên các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Một điều quan trọng hơn nữa là kỹ sư Trần Văn Khởi cho biết năm 1979, đảng cộng sản Việt Nam cũng đã nêu lên vấn đề này một lần rồi.

Như chúng ta đều biết, Tháng Hai năm 1979, quân Trung Quốc xâm chiếm và tàn phá các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn của nước ta rồi rút về. Ngày 30 Tháng Bẩy năm đó, chính phủ Bắc Kinh đã đưa ra một bản tuyên bố nói về chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dựa trên lá thư của Phạm Văn Ðồng. Nhưng một tuần sau, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã đưa ra những lời tuyên bố phản bác ý kiến đó.

Nhưng từ khi cộng sản Việt Nam chịu quay đầu khuất phục trước cộng sản Trung Quốc trở lại, không bao giờ họ lên tiếng nhắc lại những lời phản bác trên. Tại sao họ lại chọn thái độ im lặng nhu nhược như vậy? Ngay cả trong cuộc họp của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc với quân chủng hải quân Việt Nam gần đây, đã được báo Lao Ðộng ở Hà Nội loan tin, mọi người cũng chỉ nói chung chung về chủ quyền trên các quần đảo và khuyến cáo nên giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (một đề nghị của thi sĩ Bùi Minh Quốc) nhưng tất cả vẫn hoàn toàn im lặng không nhắc tới lời giải thích chính thức năm 1979 về lá thư của Phạm Văn Ðồng!

Chỉ có thể nghĩ rằng các lãnh tụ cộng sản Việt Nam đang phải quỵ lụy cộng sản Trung Quốc vì họ đã “há miệng mắc quai.” Giới cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam bị ràng buộc trong nhiều vấn đề khác, mà vì quyền lợi của đảng, họ phải im lặng. Họ tự bào chữa là đường lối ngoại giao của họ là bên ngoài tỏ vẻ thân thiện, bên trong vận động ngầm có thể hữu hiệu hơn. Nhưng lối tự biện hộ đó chỉ để che giấu một thái độ khuất phục hèn nhát.

Bởi vì khi hai quốc gia có những tranh chấp về lãnh thổ hoặc lãnh hải thì nước nhỏ không thể nào tạo sức ép trên nước lớn nếu chỉ vận động ngầm bên trong. Làm như vậy là mang tính cách xin xỏ, năn nỉ, giống như chịu phận đàn em cúi đầu mong đàn anh thông cảm. Chính quyền nước lớn họ không bao giờ hy sinh quyền lợi của nước họ để thỏa mãn một thứ tình “đồng chí anh em” mà ai cũng biết là giả dối.

Muốn ép chính quyền một nước lớn phải chú ý và tôn trọng quyền lợi của dân tộc mình, thì nước nhỏ phải trông cậy vào sức ép quốc tế. Phải đặt vấn đề quyền lợi của nước mình vào trong khung cảnh quyền lợi chung của tất cả các nước khác, nhất là những nước lớn khác. Phải chứng tỏ đó là một vấn đề quốc tế, cho nên phải làm lớn câu chuyện lên. Ông thủ tướng Mã Lai Á đã làm công việc đó khi ông bay tới thăm những hòn đảo trong quần đảo Trường Sa mà nước ông coi là của họ.

Cho nên, nhân dịp xẩy ra vụ đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Mỹ ở vùng Biển Ðông, chính quyền Việt Nam cần phải lên tiếng để xác nhận vùng biển này nằm trong vùng khai thác kinh tế EEZ của Việt Nam. Ðó là một dịp để xác nhận lại chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Hoàng Sa, nơi mà năm 1974 các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã đổ máu bảo vệ tổ quốc.

Nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ im lặng thì mọi người dân Việt Nam phải lên tiếng, và yêu cầu họ từ bỏ thái độ hèn nhát đó. Mọi người Việt Nam đều có quyền lên tiếng bảo vệ tổ quốc, không thể phó mặc cho một nhóm lãnh tụ cộng sản tự tung tự tác mãi được.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhân Quyền: Chiếc Đũa Thần Giựt Sập Chế Độ CSVN.

Tác giả: Long Quân


Từ học thuyết Marxism, đảng Cộng Sản Nga đã cướp được chính quyền NgaHoàng năm 1917,tạo lập triều đại Cộng Sản và mở rộng ảnh hưởng,lấn chiếm ra khắp thế giới.Từ Âu sang Á,xuống phi châu xuyên Điạ Trung Hải,Trung Mỹ...nơi nào chế độ cộng sản khống chế,ngự trị đều dưới hình thức độc tài, đảng trị !
Chúng dùng mọi chiêu bài,lợi dụng mọi hình thức đấu tranh từ những phong trào,phe nhóm đấu tranh giải phóng dân tộc,chống thực dân phong kiến...Cứu cánh cuả chúng là cướp chính quyền và từ đó biến đảng cộng sản thành những “ông hoàng cai trị” và con người thành những “con vật bị trị” !
Sự cai trị- nói khác đi là sự tác oai tác quái cuả những “vị đầy tớ trung thành cuả nhân dân” dưói chế độ cộng sản khắp nơi. Điều này đã là những bằng chứng hùng hồn,những dẫn chứng lịch sử về sự nghèo đói,lạc hậu,man rợ,tàn ác,cũng như sự khát máu,vô tâm,phi nhân bản cuả tập đoàn cộng sản cai trị thế giới.
Chế độ cộng sản đã đem lại bần cùng,nghèo đói cho con người. Đó là một thực trạng bi đát mà mọi người đều đã nhận thấy trong các chế độ cộng sản khắp nơi trên thế giới từ hơn bảy chục năm qua,từ Nga Sô, Đông đức,Balan,Hunggialợi,Lỗmani...cho đến TrungCộng,ViệtNam,BắcHàn...sang Cuba,xuống PhiChâu...tất cả đều là những thảm kịch khốn khổ,bi đát mà tập đoàn Cộng sản mang đến cho con người !
Thập niên 80,các chế độ cộng sản,khởi đầu là chế độ Nga Cộng, đã chịu đựng không nỗi,không thể cưu mang “nghiã vụ quốc tế”,buộc lòng rút quân ra khỏi A Phú Hãn,phải bỏ rơi không thể tiếp tục can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác bằng con đường bạo lực.Chế độ cộng sản đã bị lung lay từ gốc rễ.Phương tiện để bảo vệ quyền hành cai trị cuả chế độ cộng sản mọi nơi vẫn là bạo lực, đã không còn hữu hiệu nữa trước sự đề kháng,tranh đấu cho sự sống còn cuả con người.
Trong quá trình chống lại sự bành trướng cuả tà thuyết Marxism-Leninism,người ta đã dùng nhiều sách lược,nhiều chiêu thức khác nhau như quân sự ,ngoại giao,kinh tế...nhưng đến nay vẫn chưa có chiêu thức nào hữu hiệu hơn,kết quả hơn là “chiếc đũa Nhân Quyền” chọt mạnh vào tim óc cuả kẻ thù cộng sản !
Cộng sản tan vỡ ra từng mãnh nhỏ.Sào huyệt cuả chúng tại Mạc tư Khoa,nơi phát xuất và đề xướng ra nhiều chiêu thức làm đau khổ, đói nghèo cho nhân loại,hiện còn thoi thóp trước sự đấu tranh đòi lại quyền làm người cuả con người.
Nhân Quyền vẫn là phương thức hữu hiệu,thiết thực nhất để giựt sập mọi chế độ độc tài,mọi tập đoàn thống trị đi ngược lại quyền sống chính đáng cuả con người .
Nhân Quyền là chiếc đũa thần cuả nhân loại, đánh đỗ mọi hình thái độc tài, áp bức, phi nhân bản,chống lại nguyện vọng khát khao tự do,dân chủ cuả con người.
Nhân Quyền ,thế tất thắng cuả chính nghiã tự do,cuả con người đứng trước bạo lực và khủng bố cuả bọn phi nhân tàn bạo.
Nhân Quyền,một sự đề kháng tất nhiên cuả con người cho tự do,vì tự do và cuả tự do. Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các nước cộng sản được đồng nghiã với chính danh lý tưởng : Phải giải trừ đảng cộng sản,tiêu diệt chế độ cộng sản ; từ đó xây dựng một chế độ tự do để phục vụ cho quyền lợi chính đáng cuả con người.
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các quốc gia bị cộng sản thống trị, áp đặt chế độ độc tài phải được hiểu là giựt sập bạo quyền cộng sản ở các xứ đó chứ không phải là cải thiện,sửa đổi,canh tân, đổi mới... để làm chế độ đó sống còn , đẹp hơn...
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại Việt Nam phải được định danh, được hiểu là giải trừ chế độ độc tài đảng trị Việt Cộng,dẹp tan bè lũ cộng sản già nua,tham quyền cố vị,những kẻ phi nhân,khát máu... đã đem lại bần cùng lạc hậu, đói nghèo tang tóc cho dân tộc Việt Nam hơn nữa thế kỷ nay....chớ không phải cài thiện, hợp tác,canh tân, đổi mới chế độ đó,làm cho chúng sống còn,nhằm củng cố địa vị và duy trì chế độ vô sản chuyên chính, để chúng tiếp tục cai trị, áp bức người dân như chúng đã làm và đang làm.
Ý thức được như vậy,nhận định rõ ràng như vậy là chúng ta đã nhận chân được phương thức đấu tranh, biết dùng “chiếc đũa thần Nhân Quyền” với vai trò cứu dân,cứu nước,và giải phóng người dân Việt thoát ra khỏi tù đày, đói nghèo lạc hậu...Bằng không,ngược lại chỉ đấu tranh khơi khơi,kêu gọi cổ võ cho Nhân Quyền,tự do cho Việt Nam mà vẫn để cho tập đoàn cộng sản còn nguyên đó thì có khác gì những tên tay sai cò mồi, đấu tranh dân chủ “cuội”!
Tóm lại chủ nghiã Marxism đồng nghiã với nhà tù,với súng đạn,với xe tăng,máu và nước mắt! Với lý thuyết thì đầy láo khoét và lừa bịp,với thũ đoạn “treo đầu heo,bán thịt chó” mà áp dụng thì bằng khủng bố,bằng cùm kẹp tù đày,bằng đàn áp dã man,bằng sát hại thủ tiêu chẳng gớm tay!
Trước sức mạnh cuả nhân dân,cuả con người,trước sự sống còn là vĩnh cửu và cần thiết,khi con người chẳng còn biết sợ là gì nữa,khi các dụng cụ giết người kể trên không còn hiệu lực,khi con người quyết vùng lên đạp đổ xích xiềng, đòi hỏi Tự Do, đòi hỏi Nhân Quyền thì chủ nghiã Marxism cũng như chế độ Marxism rơi rụng và tan rã.Huyền thoại Marxism đã cáo chung,Xả Hội Chủ Nghiã là trò hề thế kỷ.Màn đã hạ,không ai thèm xem trò hề đó nữa!
Vậy mà tập đoàn Cộng Sản bên quê nhà,bọn giáo điều Mác-Xít “cuối muà lạc hậu” vẫn còn đang say máu,cố quyết bám chặt “Xả Hội Chủ Nghiã- trò hề thế kỷ” mà quan thầy của chúng đã vứt bỏ từ lâu.Chúng chỉ có thể kéo dài kiếp sống mong manh thêm giây lát, để rồi đây, cuối cùng nhận lấy phần thưởng như tên độc tài khát máu Ceausescu cuả xứ Romania kia vậy !
Bởi bất cứ chế độ nào,làm cho con người mất đi tự do,dân chủ,mất đi quyền sống,quyền làm người.. đều phải bị giải thể. Đó là cứu cánh cuả công cuộc đấu tranh cho Nhân Quyền và đó là lý tưởng cuả người chiến sỉ Nhân Quyền vậy.

LONG QUÂN.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Thời sự kinh tế: 165 triệu là nhỏ
Tuesday, March 17, 2009

Ngô Nhân Dụng

Cả Tòa Bạch Ốc lẫn Quốc Hội Mỹ đều nổi giận trước tin công ty AIG quyết định trả 165 triệu đô la tiền thưởng cho nhân viên, sau khi công ty này đã được chính phủ Mỹ giúp bằng tiền của người dân Mỹ đóng thuế. Ða số những nhân viên này lại làm việc trong phân bộ thua lỗ nặng nhất của công ty này. Chính vì vụ thất bại đó nên từ thời Tổng Thống George W. Bush chính phủ phải cứu trợ AIG ngay với 80 tỷ Mỹ kim, rồi leo lên tới 170 tỷ; và chính phủ Barack Obama đang chuẩn bị đưa thêm 30 tỷ nữa.

Việc cứu cấp công ty bảo hiểm AIG vào Tháng Chín năm 2008, được thi hành ngay sau khi ngân hàng đầu tư Lehman phá sản khiến cả thị trường thế giới rung động. Ai cũng biết cơn khủng hoảng về tín dụng địa ốc ở Mỹ đang ảnh hưởng đến các đại ngân hàng, nhưng chưa ai rõ ảnh hưởng nặng nề tới đâu. Lúc đó tất cả mọi người đều đồng ý phải cứu ngay AIG (American International Group, đọc giống chữ Ách trong tiếng Việt, như trong câu “cái ách giữa đàng đem quàng vào cổ”). Vì đại công ty này ra đời trước đây hàng trăm năm, có 100,000 nhân viên khắp thế giới, liên hệ với hàng ngàn ngân hàng cùng các công ty tài chánh và bảo hiểm quốc tế, với hàng trăm ngàn người mua bảo hiểm với họ. Chính phủ Mỹ đã nói chuyện trực tiếp với các nhà lãnh đạo tài chánh quốc tế, kể cả chính phủ Trung Quốc, trước khi công bố việc cứu cấp, để giải thích và trấn an họ. Nếu AIG phá sản thì cả một mạng lưới nhiều ngân hàng và công ty tài chánh trên thế giới bị cuốn theo vào một cơn bão lốc.

Sau món nợ đầu tiên 80 tỷ Mỹ kim, chính phủ và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Fed, tức Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang) đã đưa thêm tiền cho AIG vay để qua cơn thiếu thốn tiền mặt, cũng gọi là thiếu “thanh khoản.” Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson đã bổ nhiệm ông Edward Liddy làm chủ tịch tổng giám đốc AIG, mặc dầu đó vẫn là một công ty tư nhân. Nhưng sau mấy tháng, sự thật lộ rõ hơn, người ta biết AIG không chỉ kẹt tiền mặt. Công ty này đang mất tiền, thua lỗ nặng. Tháng Hai vừa qua, AIG công bố riêng ba tháng cuối năm 2008 đã lỗ trên 62 tỷ Mỹ kim, trong lịch sử kinh doanh nước Mỹ chưa có công ty hay ngân hàng nào bị lỗ cỡ đó. AIG không còn tiền, cho nên các món nợ vay chính phủ được hoán chuyển thành cổ phiếu để khỏi phải trả tiền lãi. Bỗng dưng, toàn dân Mỹ trở thành chủ nhân ông, với 80% số cổ phần, của công ty đang thua lỗ này.

Ðến bây giờ nhiều người vẫn đặt câu hỏi không biết quyết định đầu tiên cấp cứu AIG có khôn ngoan hay không. Nếu không cứu thì công ty này chỉ việc khai phá sản, chính phủ không phải dùng tiền của người dân Mỹ đóng thuế đưa cho họ. Mặc dù một phần lớn số tiền đó hy vọng sẽ lấy lại được sau này, khi công ty ổn định thì chính phủ sẽ bán dần các cổ phiếu trên thị trường, nhưng người Mỹ không yên tâm. Họ chỉ nhìn thấy cảnh nhà nước đem tiền của dân cứu các chủ ngân hàng thôi.

Vì vậy, các nhà chính trị đã bầy tỏ cơn tức giận của họ khi nghe tin AIG đã trả 90 tỷ Mỹ kim cho nhiều ngân hàng ngoại quốc và trả 450 triệu Mỹ kim tiền thưởng cho nhân viên thuộc phân bộ đã gây ra cảnh thua lỗ. Trong số đó có 22 nhân viên được thưởng 72 triệu Mỹ kim, ai cũng được hơn 2 triệu, người lãnh nhiều nhất được 6.4 triệu. Một trong 11 nhân viên đã nghỉ việc lãnh hơn 4 triệu rưỡi! Ngoài ra, còn số tiền 90 tỷ Mỹ kim mà AIG trả cho nhiều ngân hàng vào ngày cuối cùng năm 2008 khiến các đại biểu Quốc Hội đặt câu hỏi tại sao tiền của dân chúng Mỹ lại phải đưa cho AIG để “cứu trợ” luôn những ngân hàng quốc tế này? Trong danh sách các ngân hàng đó, ngân hàng Thụy Sĩ UBS nhận được 2 tỷ rưỡi đô la, sau khi chính họ mới bị chính phủ Mỹ tố cáo giúp nhiều nhà giầu người Mỹ trốn thuế, và phạt gần 800 triệu đô la. Ngân hàng Pháp Société Générale và Deutsche Bank của Ðức đều được trả gần 12 tỷ, và Barclay của Anh được trả 8.5 tỷ. AIG cũng trả cho Goldman Sachs gần 13 tỷ, Merrill Lynch gần 7 tỷ; mà chính hai ngân hàng này cũng đã được chính phủ Mỹ cứu giúp rồi!

Nhưng cơn thịnh nộ của các nhà chính trị, từ Tổng Thống Barack Obama đến các đại biểu Quốc Hội thuộc cả hai đảng, chỉ có tác dụng trong “thị trường” chính trị mà thôi. Vì những món tiền mà AIG trả cho nhân viên của họ cũng như các ngân hàng làm ăn với họ, hầu hết đã trả xong cả rồi. Hơn nữa, những món tiền này là do các hợp đồng bắt buộc AIG phải trả, những hợp đồng đó đã ký từ trước khi AIG nhận tiền do nhà nước Mỹ cứu trợ. Một quy tắc “thiêng liêng” trong kinh tế thị trường là mọi người phải tôn trọng những hợp đồng đã ký kết. Dù AIG còn thuộc tư nhân hay do chính phủ Mỹ làm chủ như bây giờ, quy tắc đó không thay đổi. Bộ Tài Chánh Mỹ cũng như ông Liddy, chủ tịch công ty không thể làm gì khác, trừ khi nước Mỹ có những đạo luật mới.

Sau khi ông Obama nói lên nỗi giận dữ của ông trước những món tiền thưởng 165 triệu Mỹ kim cho nhân viên của AIG, Tòa Bạch Ốc rất dè dặt không xác định chính phủ Mỹ sẽ làm cách nào thu lại những món tiền đó. Nhiều đại biểu Quốc Hội đã dọa sẽ lấy lại bằng cách làm luật đánh thuế thật nặng (trên 90%) những món tiền thưởng này. Nhưng Quốc Hội không thể “đánh riêng” nhân viên của AIG bằng một đạo luật. Họ sẽ phải viết luật mới áp dụng thuế nặng trên tiền thưởng của nhân viên các công ty nhận trợ giúp của chính phủ Mỹ, và sẽ ảnh hưởng trên cả chương trình “kích thích kinh tế” mà chính phủ mới ban hành. Sẽ phải tránh không làm cho các xí nghiệp khác sợ, tránh xa không nhận tiền chính phủ giúp nữa, trong lúc nhà nước đang cần họ tham gia để vực dậy nền kinh tế. Sẽ phải ấn định số tiền trợ giúp lớn đến cỡ nào, cho các công ty lớn cỡ nào thì mới áp dụng luật mới; sẽ phải xác định số tiền thưởng trên mức nào mới đánh thuế mới. Sẽ phải tìm ra hàng trăm trường hợp có thể được miễn áp dụng, và mở cửa cho các nhà chính trị vận động đưa những trường hợp của tiểu bang mình vào trong luật. Hiển nhiên, đây không phải là một đạo luật giản dị. Và nhiều đại biểu Quốc Hội sẽ chống, trên nguyên tắc là phải chống tăng thuế trong lúc kinh tế thoái trào. Rồi người dân Mỹ sẽ tự hỏi các đại biểu Quốc Hội Mỹ có nên dùng thời giờ và tâm lực chỉ để đòi lại mấy trăm tỷ Mỹ kim của các nhân viên AIG hay không?

Có vị dân biểu còn dậy ông bộ trưởng tài chánh rằng bây giờ chính phủ Mỹ là chủ nhân công ty AIG với 80% số cổ phần, do đó với tính cách chủ nhân, chính phủ có thể thay đổi hợp đồng trả tiền thưởng nhân viên. Vị đại biểu này không tính rằng những nhân viên đó có quyền đưa chính phủ ra tòa, và nhiều phần là chính phủ sẽ thua kiện! Vụ tiền thưởng của AIG sẽ qua đi sau cơn bão chính trị này.

Cho nên trong ngày hôm qua, trong lúc các đại biểu Quốc Hội đua nhau lên ti vi tuyên bố mình nổi giận ra sao, thì thị trường chứng khoán New York vẫn bình tĩnh tăng thêm 179 điểm, tính ra là 2.5%. Ðây là lần thứ năm chỉ số chứng khoán tăng lên trong 6 ngày. Tính từ Thứ Hai trước, thị trường đã tăng thêm được 13%. Một dấu hiệu đáng chú ý nhất là giá các cổ phần tăng lên vì nhiều công ty và định chế tài chánh là những người mua cổ phiếu. Ðó là những nhà đầu tư tính toán thiệt hơn kỹ nhất và có nhiều tiền nhất. Người ta sẽ chờ coi họ quyết định trở lại với thị trường thật, hay là chỉ thử nhúng chân xuống nước coi lạnh hay ấm để tính toán thêm sau. Chỉ số chứng khoán là một dấu hiện tiên đoán cho cả nền kinh tế. Nếu thị trường cứ lên đều đều trong tháng tới thì đó là báo hiệu kinh tế có triển vọng khả quan trong vòng 6 tháng đến một năm.

Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ đành chịu không thể lấy lại tiền thưởng cho nhân viên AIG cũng như chịu thua trong việc AIG trả hàng chục tỷ Mỹ kim cho các ngân hàng Anh, Ðức, Pháp và Thụy Sĩ, thì một câu hỏi cũ sẽ được nhắc lại: Hành động cấp cứu công ty AIG bắt đầu từ Tháng Chín năm 2008 có khôn ngoan hay không?

Khi trao tiền cho AIG, chính phủ Mỹ biết rằng số tiền đó cũng giúp AIG trả cho các ngân hàng khác, khi AIG đóng vai bảo hiểm cho những trái khoán của các ngân hàng này. Bảo hiểm tức là trả tiền cho những người mua bảo hiểm, khi họ gặp nạn. Phần lớn các trái khoán đó dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp ở Mỹ, cho nên khi cơn khủng hoảng địa ốc bắt đầu từ năm như thì ai cũng có thể biết trước AIG sẽ tốn tiền trả cho các thân chủ. Nghĩa là việc chính phủ Mỹ cứu cấp AIG tức là cũng cứu các thân chủ của AIG, trong đó có các ngân hàng ngoại quốc.

Nếu tôn trọng các quy tắc thị trường triệt để, thì người ta sẽ khuyến cáo chính phủ Mỹ hãy mặc cho AIG phá sản. Trong thị trường, mọi quyết định kinh tế đều có may có rủi. Ai quyết định rồi phải chịu những hậu quả của quyết định mình làm. Khi UBS mua các trái khoán địa ốc, cũng như khi AIG đứng bảo hiểm cho các trái khoán đó, họ đều biết có may có rủi. Bây giờ tình trạng không may diễn ra, cả UBS lẫn AIG bị mất tiền, ai mất nhiều quá thì bị phá sản tức là mất hết; đó là quy luật thị trường.

Nhưng vào Tháng Chín năm 2008 không người nào đang cầm quyền ở nước Mỹ dám quyết định để mặc cho AIG phá sản. Thế giới tài chánh có thể sẽ “loạn to!” Người ta gọi đó là “mối rủi ro của cả hệ thống” (systemic risk). Khi đó cũng chưa ai biết rằng cơn khủng hoảng địa ốc sẽ trầm trọng tới mức nào. Nhưng biết rằng nếu không cứu AIG thì “loạn to” còn nếu cứu thì có hy vọng sẽ “loạn nhỏ!”

Cho nên, đây là lúc các nhà chính trị Mỹ không nên bỏ phí thời giờ vào những chuyện “nhỏ nhặt” như 165 triệu tiền thưởng! Mối quan tâm lớn nhất mà giới lãnh đạo Mỹ phải chú ý là tu sửa các luật lệ và định chế giám sát tài chánh để có thể bắt mạch và ngăn chặn những “mối rủi ro trên cả hệ thống” trong tương lai. Nước Mỹ đã trải qua một phần tư thế kỷ đề cao tự do của các nhà kinh doanh, của các nhà đầu tư tài chánh. Nhiều luật lệ được nới lỏng, thuế suất được giảm bớt, với mục đích khích lệ những người này kiếm lời, do đó, những người khác cũng được hưởng vì kinh tế phát triển. Chủ trương đó rất hay nhưng một hậu quả là chính những người đó khi tự làm mình thua lỗ thì cũng kéo theo cả hệ thống tài chánh vào cơn khủng hoảng. Mà chính xã hội chung quanh lại phải đóng thuế cứu giúp các cơ sở làm ăn tư của họ! Cho nên phải thay đổi cả hệ thống, tuy vẫn giữ chủ trương căn bản cũ nhưng phải đặt ra những quy luật giám sát chặt chẽ hơn. Ðể tránh cảnh tư nhân có những quyết định đầy may rủi, nếu may thì họ được hưởng lợi to, còn nếu rủi ro thì cả xã hội phải gặp họa nặng nề.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ai thắng cuộc chiến tranh Bắc Nam?

Hoàn Nguyên


Ông Hồ đã thành công trong việc lừa bịp lòng yêu nước thương dân của dân miền Bắc và đảng CSVN cũng thành công trong chính sách bỏ đói dân miền Bắc để bắt buộc họ giao những người con thân yêu của họ, đi vào miền Nam để phải sinh Bắc tử Nam.

Trong các lá thư chưa kịp gửi của những anh bộ đội miền Bắc đã chết tại mặt trận miền Nam, họ viết là nếu có chết thì gia đình sẽ được cho thêm chút đường cát trắng, chút bột ngọt (mì chính) và vài cân gạo. Bác Hồ định giá trị sinh mạng của họ chỉ có thế, vài cân gạo và một ít đường, một ít bột ngọt nhưng lòng yêu nước và lòng căm thù Mỹ ngụy của họ thì cao ngút trời xanh.

Họ phải vào giải phóng dân miền Nam vì dân miền Nam không có được vài cân gạo và một ít đường cát trắng. Họ phải đánh cho đến chết, Mỹ ngụy bóc lột dân miền Nam vì Bác Hồ và đảng cộng sản của Bác đã bảo như thế và nhất là không còn nguồn thông tin nào dám nói khác lời Bác. Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Lê Đức Anh, Võ Nguyên Giáp là một ê kíp đại bịp trong thời chiến tranh Nam Bắc và vẫn còn tiếp diễn.

Những tên đại bịp này cực kỳ gian ác, bọn chúng không phải chỉ bỏ đói người dân miền Bắc mà còn lừa gạt cả sinh mạng những thanh niên thiếu nữ yêu nước của miền Bắc thân yêu. Sinh mạng là cái quý giá nhất mà cũng bị Hồ Chí Minh và bọn tay sai gạt để lấy đi.

Ở miền Nam thì đời sống ấm no và kinh tế phát triển gắp trăm lần miền Bắc. Trước 30/04/1975 đa số dân chúng miền Nam có xe máy, TV, tủ lạnh, radio, cassette; nông dân miền Nam có máy cày, máy xay lúa. Trẻ em được hấp thụ một nền giáo dục đủ “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” để vào đời với lương tâm và đạo đức. Tôn giáo được tự do phát triển đã đóng góp thêm cho giá trị tinh thần và đạo đức của người dân miền Nam. Trong khi đó ở miền Bắc thì Bác Hồ chỉ ngày đêm dạy các em thiếu nhi căm thù, sắt máu, đó cũng là lý giải cho hành động giết người cực kỳ man rợ, tàn bạo của người cộng sản. HCM đóng cửa chùa chiền và nhà thờ, tu sĩ bị giam cầm hay bị thủ tiêu đã và đang giúp khuyếch đại khủng khiếp tội ác vì con người không còn nơi nương dựa tinh thần, không còn nơi để học đạo đức làm người. Ở miền Nam thì có báo chí tư nhân, có bầu cử tự do, người dân được quyền ứng cử mà không cần qua sự duyệt xét của mặt trận tổ quốc giông như CSVN đang làm. Kết quả của tự do ngôn luận là những sáng tác âm nhạc, sách báo có chất lượng và số lượng. Cả mấy chục năm ở với Bác Hồ thì miền Bắc đếm tới đếm lui chỉ được hơn trăm bài nhạc, vài cuốn tiểu thuyết và phần sách vở còn lại là do các thành viên BCT trong đảng CSVN viết để lừa bịp người dân.

Khi các anh bộ đội miền Bắc chiếm được miền Nam và thấy được đời sống thực sự tự do, no ấm của người dân miền Nam đã hoàn toàn ngược lại với sự lừa bịp của Bác Hồ thì họ rất ngỡ ngàng. Lúc đó lại có một luận điệu lừa bịp mới là kinh tế miền Nam là phồn vinh giả tạo, kỹ nghệ của miền Nam là kỷ nghệ lắp ráp. Bây giờ, sau 60 năm dưới sự cai trị của đảng CS thì họ chỉ van lạy các nước tư bản để có kỹ nghệ lắp ráp. Miền Nam thì có luật người cày có ruộng. Đất ruộng được được cấp phát cho nông dân và họ tự chăm sóc cho mảnh vườn, thửa ruộng của họ và năng xuất tăng cao đáng kể qua luật tư hữu nhà cửa, ruộng vườn. Ruộng lúa phì nhiêu, tôm cá tràn đầy và đòi sống ấm no hạnh phúc và người miền Nam rất vui sướng sống như thế.

Bác Hồ và cái đảng CS của ông biết rất rõ điều đó nhưng vẫn phải đánh miền Nam để lấy đi sự ấm no hạnh phúc của người dân cả hai miền. Bác Hồ là tên tay sai đắc lực để bành trướng chủ nghĩa cộng sản và từ đó cướp đi đời sống ấm no hạnh phúc của người dân. Cái hay nhất và giỏi nhất của Bác Hồ là làm sai và khuyếch đại cái sai trái trên cả tuyệt vời. Hãy thử suy nghĩ và tìm ra một việc làm đúng đẳn của Bác Hồ.
Image
1968: Thắng trận tin vui khắp mọi nhà, ...
1969: Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,.. và Bùi Bằng Đoàn đã ái mộ tôn vinh HCM: “Tri công quốc sự vô dư hạ.
Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi” (Biết người bận việc nước, không có thì giờ nhàn rỗi, nhưng mỗi lúc vung bút lên là thành thơ đuổi giặc thù)…
Nguồn: flickr.com

Các thanh niên miền Nam phải hy sinh mạng sống để bảo vệ đời sống ấm êm, no đầy của miền Nam. Các thanh niên yêu nước miền Bắc thì bị Hồ Chí Minh và đảng CSVN lường gạt lòng yêu nước của họ. Các anh bộ đội miền Bắc là nạn nhân bị lường gạt của Hồ Chí Minh và bộ chính trị CSVN. Người bộ đội miền Bắc chết thật đáng thương vì họ chết mất xác tại miền Nam và họ chết vì bị lừa gạt chứ không chết vì chính nghĩa bảo vệ tổ quốc. Người lính VNCH đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ nhưng Bác Hồ thì gọi họ là lính đánh thuê với mục đích lừa gạt các anh bộ đội miền Bắc. Lính VNCH đã hy sinh mạng sống để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa và không triều cống lãnh thổ cho ngoại bang như Bác Hồ và đoàn quân giải phóng của ông đã triều cống cho Hoàng Đế Trung Quốc.

Trong chiến tranh thì chiến lợi phẩm là mục đích chính của kẻ mang quân xâm lược. Thời xưa chiến lợi phẩm gồm có những gì thấy được trước mắt như đất đai, hải sản, nông sản, lâm sản. Thời nay thì bao gồm cả những gì thấy được và chưa thấy được như bauxite dưới lòng đất, dầu hỏa. Ông Hồ khởi động chiến tranh và đã hại chết khoảng 3 triệu ngườI VN cả hai miền Nam Bắc và kết quả CSVN đã chiếm đuợc miền Nam. Nhưng kẻ chiến thắng thực sự chính là cộng sản Trung Quốc và bộ chính trị CSVN. Dân VN cả hai miền Nam Bắc VN đều là kẻ bại trận và đã hy sinh 3 triệu sinh mạng cho TQ mở rộng lãnh thổ và chiếm lấy tài nguyên của VN. Kẻ chiến thắng thứ nhì là bộ chính trị thái thú CSVN, họ đã lập công lớn cho Hoàng Đế Trung Hoa nên được ban phát tước quyền thái thú Giao Chỉ quận và đang vắt máu dân An Nam đến tận xương.

Để chứng tỏ tấm lòng nô bộc, bọn thái thú mời quân Tầu vô đóng quân ở Tây Nguyên VN dưới danh nghĩa khai thác bauxite. Nếu thực sự khai thác bauxite thì tại sao không mướn nhân công VN mà phải là nhân công từ Tầu đưa qua trong khi dân VN đang thất nghiệp và phải xuất cảng lao động? Các tên thái thú đang bắt đầu sợ những anh bộ đội yêu nước thực sự mà trước đây đã bị đảng CSVN lừa gạt để hy sinh cho mộng bá quyền của TQ và quyền lợi của một bọn thái thú. Bọn thái thú cần được thiên triều Bắc kinh bảo vệ và Tây Nguyên là địa điểm chiến lược cho Tầu đóng quân và khi cần sẽ giết dân Việt để bảo vệ thái thú CSVN. Nếu có chiến tranh xảy ra mà tất cả võ khí đều đặt ở TQ thì quá dễ bị tiêu diệt. Nếu bị đánh phủ đầu thì hệ thống radar bị tiêu diệt thì TQ khó lòng chống trả. Trung Cộng cần có nơi ngoài TQ để gắn hỏa tiển và radar, và vùng Tây Nguyên VN là địa điểm thích hợp nhất vì chẳng có quốc gia nào khác cho phép TQ làm như vậy. Cứ đào sâu vào trong núi dưới danh nghĩa khai thác bauxite mà chỉ toàn có dân Tầu trong đó thì khó biết được họ đào sâu vô núi để làm gì?

Hỡi người dân VN và tuổi trẻ VN, Hồ Chí Minh và bọn thái thú CSVN đã lường gạt lòng yêu nước của các bạn, lường gạt mạng sống của các bạn để cúc cung, tận tụy phục vụ Hoàng Đế Trung Hoa. Dân tộc VN không thể để CSVN tiếp tục lường gạt. Chết thì ai rồi cũng phải chết nhưng chết vì bị lường gạt là một cái chết tủi nhục, cái chết đáng thương hại chứ không phải chết trong vinh quang.

Thanh niên VN chỉ chết để bảo vệ tổ quốc VN chứ không chết để bành trướng lãnh thổ TQ và bảo vệ bọn thái thú CSVN. Nếu phải làm “Ma Chiến Hữu” thì ngườI lính VNCH và các anh bộ đội miền Bắc là bạn chứ không thể làm “Ma Chiến Hữu” với bọn xâm lược TQ.

Hoàn Nguyên
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Coi chừng khi chụp mũ người khác là “Cộng Sản!”
Friday, March 20, 2009

Image
Giáo Sư Nguyễn Lâm Kim Oanh.

Image
Ông Cao Sinh Cường.
WESTMINSTER, California- Trước đây, những ai không thích người nào đó có thể chụp mũ họ là Cộng Sản. Còn bây giờ thì phải coi chừng vì có thể bị kiện ra tòa tội phỉ báng.

Ðó là trường hợp Giáo Sư Nguyễn Lâm Kim Oanh kiện ông Cao Sinh Cường sau khi, theo tố cáo, ông gọi bà là “Cộng Sản.”

Giáo Sư Kim Oanh hiện là ủy viên giáo dục Học Khu Garden Grove và là người thuộc đảng Dân Chủ. Còn ông Cao Sinh Cường là một nhà hoạt động của đảng Cộng Hòa tại Orange County.

Sự việc xảy ra hồi năm 2006, khi nữ giáo sư gốc Việt này được Hội Ðồng Giáo Dục Học Khu Westminster bỏ phiếu đồng ý mướn vào làm tổng quản trị học khu.

Nhưng chỉ vài ngày sau, chính hội đồng này lại bỏ phiếu hủy bỏ quyết định của mình vì nghe ông Cường nói bà Kim Oanh là “Cộng Sản,” theo lời tố cáo của giáo sư này trong ý kiến của Tòa Kháng Án California, Khu Vực 4, Santa Ana, đưa ra hôm 26 Tháng Hai vừa qua.

Sau đó, Giáo Sư Kim Oanh đệ đơn kiện học khu, nhưng rút đơn lại, và kiện ông Cường tại Tòa Thượng Thẩm California, Orange County, tội phỉ báng bà.

Sau khi xem xét, Chánh Án Charles Margines cho rằng có bằng chứng đủ mạnh cho thấy chuyện ông Cường phỉ báng bà Kim Oanh bằng cách “chụp mũ” bà là Cộng Sản với ý định làm mất uy tín của bà.

Ông Cường cho rằng ông “không chịu trách nhiệm tội phỉ báng bà Kim Oanh vì ông chưa bao giờ gặp bà và không biết gì về hoạt động chính trị của bà.” Ông cũng cho rằng vụ kiện là nhằm “bịt miệng” ông. Ông đã nộp đơn chống lại, và vụ việc được đưa lên Tòa Kháng Án.

Tòa Kháng Án cho phép nguyên cáo bổ túc hồ sơ kiện, nói rõ vì bị phỉ báng mà bà mất việc tổng quản trị.

Ông Cường yêu cầu tòa không để nguyên cáo bổ túc vì “gọi ai đó là ‘Cộng Sản’ không có nghĩa là phỉ báng, nguyên cáo không có đủ bằng chứng cho thấy vì bị gọi như vậy mà mất việc tổng quản trị và đây chỉ là ‘ngoa ngữ’ mà thôi.”

Luật Sư Mark Bucher, đại diện ông Cường, nói thân chủ của ông chưa bao giờ gọi nguyên cáo là Cộng Sản.

“Mà ngay cả có gọi như vậy, điều này cũng không ảnh hưởng đến việc làm của bà Kim Oanh,” ông Bucher cho biết.

Nhưng tòa không đồng ý.

“Ngay cả bị cáo đúng khi nói rằng ‘gọi ai Cộng Sản là không có ý phỉ báng,’ nhưng nguyên cáo chứng minh được sự thiệt hại của mình trong trường hợp này. Bà bị mất việc!” Chánh Án Richard M. Aronson nói.

Theo một bản tin của nhật báo The Orange County Register, Luật Sư Katrina Foley, hiện cũng là nghị viên Costa Mesa và là một trong hai luật sư đại diện cho bà Kim Oanh, không đồng ý với lập luận của ông Cường.

Bà nói: “Bị chụp mũ Cộng Sản trong cộng đồng Việt Nam là nguy hiểm. Nếu là một dân cử, quý vị có thể bị chính cộng đồng mình ghét, và có thể mất việc.”

“Ý kiến của tòa là một minh oan cho Giáo Sư Kim Oanh. Chúng ta không nên chụp mũ mọi người một cách vô trách nhiệm. Trong trường hợp này, bà Kim Oanh bị mất cơ hội làm tổng quản trị của học khu Westminster,” bà Foley nói tiếp.

Bà Foley không cho biết bao giờ tòa sẽ tiếp tục xử vụ kiện.

Theo nhà báo Scott Moxley của tuần báo OC Weekly, ông Cường có thể kháng án ý kiến của tòa. Nhưng nếu ông không thành công, Tòa Thượng Thẩm California có thể có phán quyết cuối cùng trong vài tháng tới.

Cộng Sản là một đề tài nhạy cảm trong cộng đồng Việt Nam tại Little Saigon và từng tạo ra nhiều cuộc biểu tình liên quan đến báo chí, nghệ sĩ, chính trị gia và những nhà hoạt động cộng đồng...

Trước đây, có một số trường hợp đồng hương chụp mũ lẫn nhau là “Cộng Sản” và bị tòa trừng phạt.

Hồi năm 2003, ba cha con ông Hồ Ngộ tại tiểu bang Colorado đã thắng một vụ kiện trong đó họ bị chụp mũ “Cộng Sản” và tòa án Denver đã phán quyết bị cáo bồi thường gần $4.8 triệu.

Tại Saint Paul, Minnesota, ông Tuận Phạm, một cựu quân nhân QLVNCH và là chủ chợ Capital Market, cũng bị một số người Việt Nam chụp mũ tương tự. Cuối cùng, tòa phán quyết bị cáo bồi thường cho ông Tuận $693,000. (Ð.D.)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nhà Văn Võ Thị Hảo "Không Sợ Bị Bắt"

Quốc Phương (BBC)

Image
Blogger Võ Thị Hảo tin rằng trang blog của bà bị đột nhập không ngẫu nhiên.
'Nhiều lần tôi đã vào blog của tôi nhưng không thể đọc được, có những bài bị xoá trắng, tôi thấy blog của tôi đã bị xoá nội dung rồi,' nhà văn Võ Thị Hảo nói với BBC Việt ngữ hôm 30 tháng 12 về tình trạng các trang blog cá nhân của bà trên mạng internet bị thâm nhập, biến đổi nội dung và hình thức.

"Tôi nghĩ rằng đây không phải là ngẫu nhiên, nghe nói ông Thứ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông vừa ký một thông tư về việc cấm các blogs có nội dung không phù hợp với yêu cầu của họ," bà Hảo nói

Khi được hỏi là liệu bà có nghĩ tới một khả năng các trang blog của mình bị tin tặc tấn công hay không, nhà văn nữ 52 tuổi cho hay:

"Tôi nghĩ nếu là tin tặc thì họ vào họ sẽ đưa ra những nội dung khác. Họ có thể lợi dụng nội dung blog của tôi để xuyên tạc hoặc làm những việc gì đó.

''Tôi nghĩ tin tặc họ không có những cử chỉ như vậy, tất nhiên là tôi chưa thể khẳng định ai đã làm việc này. Nhưng tôi nghĩ không ngẫu nhiên."

'Nội dung nhạy cảm'
Trong một entry nói về giáo dục Việt Nam và cần làm gì để cứu vãn nhân cách Việt, đăng mới đây trên trang blog 'vothi.hao' trên 'blog yahoo 360', blogger Võ Thị Hảo viết về sự giả dối trong xã hội Việt Nam:

"Nếu tôi khôn ngoan, trước khi viết về sự giả dối, tôi cần phải rào đón khoảng mươi dòng, rằng về cơ bản nhân dân Việt Nam ta luôn trung thực thật thà dũng cảm, rằng nhân dân ta luôn có truyền thống trọng chữ tín.

"Rằng được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp nói chung và lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa nói riêng, người Việt Nam ta hịên nay và ngành giáo dục đang có nhiều tiến bộ và gặt hái được nhiều thành tựu.

"Rằng người Việt nam đi đâu cũng có uy tín trên trường quốc tế và luôn luôn dược nể trọng là một dân tộc anh hùng... Rằng những kẻ mà nó nói rằng người Việt Nam bất tín, tráo trở, tham nhũng... đó chỉ là luận điệu vu cáo nằm trong âm mưu của một chiến dịch phá hoại mang tên diễn biến hoà bình.'"

Trước câu hỏi của BBC Việt ngữ rằng liệu nội dung các bài viết trên trên blog của bà có mang tính 'nhạy cảm' đối với Chính quyền Việt Nam, theo cách nói ở trong nước hay không, nhà văn Võ Thị Hảo trả lời:
Image
Nhà văn Võ Thị Hảo tin rằng các đồng nghiệp Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải vô tội.
"Rất buồn cười ở Việt Nam có một từ là từ 'nhạy cảm'. Đây là một xu hướng dùng mỹ từ để thay cho điều mình phải nói thật. Những gì tôi viết là một tấm lòng, một tâm huyết và nói sự thật, không có gì là nhạy cảm cả."

"Không nói như vậy thì mới là chuyện lạ. Tôi thờ ơ trước nỗi đau của người khác mới là chuyện lạ, chứ như thế có gì là nhạy cảm đâu. Có thể có một số điều tôi viết làm cho một số người không thích, đó là quan điểm của họ."

'Đồng nghiệp vô tội'
"Vậy là phiên toà xử hai nhà báo và hai cán bộ điều tra liên quan đến việc công bố thông tin trong vụ PMU 18 đã diễn ra và kết thúc,'' bà Hảo viết trong một entry khác, bình luận sau phiên toà phán xử các nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải ở các tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ có tội khi đưa tin về vụ tham nhũng PMU18.

''Chừng ấy người, chừng ấy chứng cứ, chừng ấy luật sư, chừng ấy to tát vì liên quan đến bao nhiêu nhân vật, mà chỉ xử trong hai ngày, tốc độ thật phi thường. Và còn một điều phi thường khác, là trong phiên toà này có tới bốn người vô tội bị kết án oan."

Và ở một khổ khác cùng tại bài viết trên blog này, nhà văn - nhà báo Võ Thị Hảo đặt bút:

"Tôi nhìn thấy những nhà báo ôm hoa đứng dưới mưa trời ảm đạm trước cửa toà Hà Nội. Họ biết đồng nghiệp của họ vô tội và họ tin rằng những người bị oan khuất sẽ được trả tự do ngay sau phiên toà này.

"Và họ còn chờ cái ngày mà những đồng nghịêp bị hàm oan phải được xin lỗi, cải chính và bồi thường danh dự. Nhìn họ mà rơi nứơc mắt. Họ vẫn kiên nhẫn để chờ đợi một phiên toà công bằng. Để họ còn có chút niềm tin mà hành nghề. Nhưng hoa héo rũ vì không có người nhận. Người nhận lại trở vào nhà lao rồi!"

Khi được hỏi liệu chính bản thân có sợ bị chính quyền 'kết án' và 'bỏ tù' vì những gì bà đã viết và phát biểu công khai trên blog, với truyền thông trong và ngoài nước hay không, bà Hảo nói:

"Tôi nghĩ ở Việt Nam hiện nay cũng như trước đây, mọi điều đều có thể xảy ra. Có nhiều độc giả từ lâu đọc những bài tôi viết đã lo cho tôi và nói với tôi là 'hãy giữ mình'. Có những người lâu lâu gọi điện cho tôi, mà tôi bận không trả lời, thì lo rằng tôi đã bị bắt.

'Chấp nhận rủi ro'
"Trước khi tôi làm bất cứ điều gì như là tôi viết hay tôi nói lên sự thật, nói lên tâm huyết của mình, tôi biết tất cả những rủi ro, những điều mà những người họ không bằng lòng và họ muốn làm hại mình, đều có thể xảy ra. Nhưng không phải vì thế mà tôi không làm," bà nói với BBC.

Bà Hảo cho rằng những gì mà bà đã làm khi nói lên sự thật là điều tối thiểu mà một nhà văn phải làm. Bà nói:

"Khi đã cầm lấy cây bút, người ta phải cảm nhận được nỗi đau của người khác. Nỗi đau của người khác, nỗi oan khuất của một người trong xã hội, mình phải quan niệm là không của riêng ai cả. Nếu tôi thấy nhiều người khổ quá, hay thấy những khuynh hướng vi phạm quyền của con người thì tôi phải nói. Đó là lương tâm tối thiểu.

Image
Bà Hảo sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi nói lên sự thật.
"Còn khi mình đã nói thật, mình không làm điều gì xấu cả, khi mình làm một điều vì mọi người, cho cộng đồng, trong đó có mình, nếu có điều gì không hay xảy ra đối với tôi, thì tôi cũng vui chịu thôi."

Nhà văn Võ Thị Hảo cho rằng việc nếu Chính quyền trong nước bắt bà, thì đó là một điều không có lợi và không hay gì cho nhà nước. Bà nói:

"Tôi là một người nhỏ bé, mong manh, tôi là một người phụ nữ sống một mình. Tôi sống với hai con, các con tôi cũng lớn rồi và cũng hay đi. Cho nên ai muốn hại tôi thì rất dễ...

"Giả sử nhà nước có bắt tôi thì tôi nghĩ nhà nước cũng không lợi gì. Vì bắt tôi thì quá dễ.

''Tất nhiên mọi người sẽ nghĩ rằng nếu bắt Võ Thị Hảo thì nhà nước sẽ thiệt hại nhiều hơn là có lợi. Nhưng tôi nghĩ mọi điều cũng có thể xảy ra trong xu thế mà mọi quốc gia đều không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì đúng sai, trắng đen đã quá rõ ràng."
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Giáo Dục Thế Hệ Hai: Một Trọng Trách Chiến Lược.

Đỗ Văn Phúc

Năm nào, ngày 30 tháng Tư cũng được tưởng niệm trọng thể tại các địa phương với những slide show hình ảnh đau thương của những chuỗi ngày kinh hoàng, uất hận cùng những bài nói chuyện rất cảm động về một dân tộc bị tước đoạt nhân quyền, bị bóc lột triền miên từ hàng chục năm qua.
Nhưng kỷ niệm về ngày Quốc hận là chuyện quan tâm của “thế hệ Một” mà ít ảnh hưởng đến “thế hệ Hai”. Các em, các cháu không có một ký ức nào về những ngày đen tối; và nếu có chút nào chăng, thì các em đã cho rằng chuyện đã xưa cũ, nay phải hướng về tương lai!

Các em các cháu cho rằng cha anh cứ ôm ấp mãi hận thù trong khi thời thế đã “đổi thay”.
Và thế hệ cha anh thì đã tỏ ra thiếu sót trong việc giáo dục con em mình để họ thấu hiểu tường tận rằng cuộc dấu tranh hiện nay là giữa hai thế lực đối cực: chế độ độc tài Cộng Sản và lý tưởng tự do dân chủ; chứ không phải là giữa những người mất mát, ly hương và những kẻ chiến thắng và chiếm đoạt.

Đấu tranh cho một nước Việt Nam dân chủ, phát triển thịnh vượng là sự nghiệp cao quý lâu dài; truyền từ thế hệ này qua nhiều thế hệ mai sau. Chúng ta đang ở độ tuổi đã hoặc sắp về chiều, rất cần một sự chuyển tiếp hữu hiệu cho thế hệ sau. Qua biến cố VAALA trong tháng 1 vừa qua, đã cho thấy giữa thế hệ 1 và hai có những vấn đề cần soi rọi kỹ.

Bất cứ quốc gia nào, tổ chức nào, tôn giáo nào cũng coi trọng việc bồi dưỡng lớp hậu duệ. Đó là một nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng. Nó là bức tường phòng thủ vững chắc lâu dài nhất vừa là mũi tấn công sắc bén khi cần thiết.

Ở cấp quốc gia thì lo bồi dưỡng thanh niên qua giáo dục từ học đường, được bổ túc bới các đoàn thể và gia đình. Mà trong đó, gia đình là hạt nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của trẻ.

đảng phái, tôn giáo cũng chăm lo cho tương lai của mình bằng các đoàn thể thanh niên. Phe Cộng Sản thì có Đội Thiếu niên, đoàn Thanh niên CS. Phe Quốc gia thì: Phật Giáo thì có Gia đình Phật Tử; Công giáo thì có Thanh Sinh Công, Quân đội thì lo nguồn bổ sung qua trường Thiếu sinh quân….

Từ hơn ba chục năm qua, các tổ chức Cộng đồng, đoàn thể chính trị, hội Cựu quân nhân đã có nhiều thành tựu trong sinh hoạt đấu tranh chống Cộng tại hải ngoại. Nhưng vấn đề gây dựng cho hậu duệ bị xem nhẹ. Qua tin tức, báo chí, chỉ có vài đoàn thể có chăm sóc vấn đề hậu duệ; nhưng chỉ ớ mức độ có tính cách trang trí mà thiếu phần nội dung sâu sắc. Nhóm Thanh Niên Cờ Vàng, nhóm Thư Viện Toàn Cầu, Thanh Niên Đa Hiệu chưa đủ lớn mạnh để đại diện cho một lớp trẻ của chúng ta. Hội Chuyên Gia Việt Nam , Hội Văn Hoá Khoa Học thì nặng về chuyên môn hơn chính trị. Còn các thành phần khác thì thật phức tạp.

Chúng ta thử phân tích xếp loại các em các cháu để thấy mức độ nghiêm trọng ra sao

Đối với các em, các cháu lớn lên tại Hoa Kỳ, trong môi trường giáo dục Mỹ:
Các em, các cháu theo cha mẹ đến Hoa Kỳ từ lúc còn quá nhỏ để có nhớ những kỷ niệm đau thương trong thời gian dưới chế độ Cộng Sản. Đến Mỹ, cha mẹ ít có thì giờ day dỗ, sự hiểu biết của các em, các cháu là từ học đường. Khốn thay, trong các sách lịch sử dạy tại các trường học, chiến tranh Việt Nam bị mô tả một cách thiên lệch và đầy rẫy ác ý về phe đồng minh. Chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị quên lãng hay nếu có nhắc đến trong vài câu thì chỉ là những câu chê bai, lên án. Các nhà viết sử của Mỹ đa số thiên tả, và họ đã vô tình làm công cụ tuyên truyền cho Cộng sản để đầu độc công luận. Trong ngày lễ Cựu Chiến Binh 11/11/2004 tại thủ phủ Austin (cũng là ngày lễ công nhận Cờ Vàng tại Texas ), Thiếu Tướng Tư Lệnh Vệ Binh của Tiểu bang Texas đã đọc một bài diễn văn có ý nghĩa. Trong đó, ông lên án các nhà sử học Mỹ đã ác ý bôi bác chính nghĩa tự do của phe đồng minh. Ông kêu gọi nỗ lực tẩy xoá các trang sử sai trái này và thay vào bằng những trang sử chính xác, công bình.

Nếu quý vị có thì giờ vào các trang nhà của các Đại học Mỹ, quý vị sẽ sửng sờ thấy rằng họ đang xử dụng các bài vở do phiá Việt Cộng cung cấp để làm tài liệu giảng dạy hay tham khảo trong các môn học về Văn Hoá, Lịch sử Việt Nam . Đó là do chương trình trao đổi giáo trình giữa các Đại học Mỹ và Đại học bên Việt Nam . Có rất nhiều giáo sư tốt nghiệp các trường bên Việt Nam qua Mỹ đảm nhận việc giảng dạy tại Đại học Mỹ. Và có xác xuất cao những người này là đảng viên Cộng Sản, tốt nghiệp các trường lý luận của đảng.

Trong muôn một, nếu có các giáo sư từ tập thể người Việt hải ngoại, thì cũng rời rạc, thiếu tổ chức, hoặc những giáo sư xuất thân từ thế hệ “một rưỡi” mà sự hiểu biết về lịch sử cận đại Việt Nam rất mơ hồ.
Vậy thì trách chi các em các cháu thế hệ “hai” không hiểu đúng đắn như chúng ta kỳ vọng.

Đối với các em các cháu mới đến Hoa Kỳ sau khi đã lớn lên, học hành tại Việt Nam :

Rõ ràng, các em này đã bị hệ thống giáo dục tuyên truyền của Cộng Sản nhồi nhét những tư tưỏng sai lệnh trong những năm trí tuệ mới phát triển; do đó cách nhìn của họ đương nhiên trái ngược với cách nhìn của chúng ta. Đó là chưa kể đến các em có thể được huấn luyện để hoạt động chống phá phong trào đấu tranh của người Việt hải ngoại. Làn sóng người Việt đến Hoa Kỳ từ chục năm qua các các hình thức bảo lãnh gia đình, hôn nhân đã ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sống văn hoá của chúng ta theo chiều hướng xấu đi.

Vì thế, mới đây, một nhóm những trí thức Việt Nam nhiệt tình đã quy tụ trong một dự án mang tính chiến lược lâu dài, họ đã mời thêm nhiều trí thức Hoa Kỳ cùng tham gia để sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu sử học chính xác, khả tín nhằm trước mắt thuyết phục các trường học Mỹ xử dụng làm tài liệu tham khảo; sau đó, có khả năng sẽ thay thế hẳn những tài liệu do phe phản chiến và phiá Cộng Sản cung cấp. Đây là một công tác nặng nề, đòi hỏi nhiều thiện chí, thời gian, và nỗ lực mà cộng đồng nên yểm trợ hết mình để giữ vững phòng tuyến của chúng ta.

Để không phí phạm thời gian, chúng tôi kêu gọi những việc nên làm ngay:

1.- Chấm dứt những tranh chấp không cần thiết trong cộng đồng, giữa các đoàn thể, cá nhân vì một vài lý do không đáng tranh chấp. Việc ông Nguyễn Chí Thiện là thật hay giả, không ảnh hưởng lắm trong sự nghiệp đấu tranh chung mà đã làm phân hoá quá nhiều trong chúng ta. Việc ông Nguyễn Xuân Vinh mới đây bắt tay xã giao với Madison Nguyễn chẳng phải là đề tài quan trọng để hai phe ba phái đưa ra mạ lị nhau trên diễn đàn. Thay vào đó, xin dành thì giờ nhắm vào đúng đối tưọng. Nếu không, chúng ta chỉ làm vai trò con nghêu, con cò tranh nhau cho ngư ông bên Bắc bộ phủ thủ lợi. Ngoài ra, những mạ lị nặng nề, chụp mũ cẩu thả làm cho chúng ta ai cũng trở thành tay sai CS, chúng ta không còn tin ai nữa. Đó là một đại hoạ. Đó là thành quả của Nghị quyết 36 của Việt Cộng.

2.- Giáo dục không gì hiệu quả bằng hướng dẫn và làm gương. Một khi chúng ta giương cao ngọn cờ dân chủ, chúng ta phải tỏ ra dân chủ với nhau. Các em các cháu nhìn vào hoạt động của cha anh để đánh giá và tin tưởng vào sự khác biệt của cha anh với chế độ độc tài Cộng sản. Chúng ta không thể bắt ép các em các cháu phải theo chúng ta vì “chúng ta luôn luôn đúng”. Phải chứng minh qua hành động, qua bằng chứng cụ thể. Sự cưỡng ép là bằng chứng của độc tài sẽ làm các em các cháu xa lánh chúng ta.

3.- Trí thức Việt Nam hải ngoại không thiếu, khả năng ngoại ngữ dồi dào. Xin quý vị vì tương lai mà tích cực hơn trong việc giáo dục qua các bài bằng Anh Ngữ phổ biến rộng khắp trên các diễn đàn, các hội thảo, xâm nhập vào các trường học tái chiếm lại trận địa mà chúng ta tin rằng chúng ta có nhiều lợi thế và khả năng hơn Cộng Sản.

4.- Do nhu cầu của giới trẻ, nhiều báo chí hiện nay đã thêm nhiều phần tươi vui vào nội dung của mình. Nhưng do thiếu nhân lực, các báo thường có khuynh hướng lấy bài từ internet, hay từ nguồn bên Việt Nam , mà không đọc kỹ để sửa đổi văn phong và từ ngữ; do đó, đã tạo điều kiện cho văn hoá Việt Cộng xâm nhập. Xin báo giới nên rất cẩn trọng trong việc chọn lựa bài vở, tin tức. Nên tăng cường nhân lực đọc kỹ và thay thế văn phong từ ngữ của Cộng Sản một khi muốn xử dụng các bài vở từ các nguồn không phải của người Việt hải ngoại. Từ những năm qua, Việt Cộng đã âm thầm xâm nhập vào sinh hoạt văn hoá chúng ta qua con đường này. Rất nhiều báo, ngay cả các báo chống Cộng tích cực cũng vô tình bị xâm nhập qua các bài xem ra vô thưởng vô phạt như về các vấn đề thời trang, phim ảnh, ca nhạc, nếp sống gia đình…

Ba mươi tháng tư năm nay, xin hướng về tương lai nhiều hơn là nhắc nhở quá khứ. Hận thù cần ghi nhớ, nhưng không phải là động lực chính của cuộc đấu tranh. Chúng ta đấu tranh cho chính nghĩa, chứ không vì lòng thù hận. Các em các cháu cần biết như thế thì mới tham gia với chúng ta tích cực hơn, hiệu quả hơn.

Đỗ Văn Phúc
Mùa Quốc Hận 2009.

Do Van Phuc (Michael Do)
Webpage: www.michaelpdo. com
Communism is the most horrible and destructive disaster of the humankind

__._,_.___
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Càng bí mật càng dễ phạm tội ác
Ngô Nhân Dụng

Vừa rồi tại một tòa án Tokyo, Thẩm Phán Yujiro Nakatani mới xử phi công Ðặng Xuân Hợp của công ty Vietnam Airlines về tội đã “đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối hàng đánh cắp” từ Nhật Bản chuyển về Việt Nam. Như chúng ta đọc báo đã biết, có những phi công và tiếp viên của công ty hàng không nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bị bắt quả tang đem ra khỏi nước Nhật những món hàng ăn cắp từ các cửa hàng bách hóa. Họ còn khai những người ăn cắp thuộc một tập đoàn có tổ chức, trong đó có những viên đang được cho đi du học ở Nhật nhờ tiền chính phủ Nhật do dân Nhật đóng thuế. Dư luận dân Nhật thêm sôi nổi, sau vụ các giám đốc một công ty Nhật Bản bị phạt sau khi khai đã hối lộ hàng triệu mỹ kim cho Huỳnh Ngọc Sĩ.

Tòa Tokyo cho ông Hợp hưởng án treo, vì theo lời thẩm phán Nakatani, bị cáo chỉ đóng vai trò tùy thuộc, đã nhận lệnh của cấp trên làm việc đó. Cấp trên nào?

Trước tiên phải hỏi các cấp trên của ông thành ở Vietnam Airlines! Phát ngôn viên của công ty là Trịnh Ngọc Thành từ chối không bình luận gì cả, ông Thành bảo: “Cái đó là phải có cơ sở,... phải có bằng chứng!”

Bằng chứng nào? Ði tìm bằng chứng chắc không khó, nếu có ai dám đi tìm, nếu những người làm trong công ty dám khai báo đầy đủ. Nhưng chính Vietnam Airlines cũng thèm mở một cuộc điều tra nội bộ để tìm hiểu. Vì họ coi vụ chuyển hàng ăn cắp trên máy bay của họ chỉ có vài cá nhân làm, không đáng điều tra. Cũng như đảng Cộng Sản coi vụ này hay các vụ Bùi Tiến Dũng, Huỳnh Ngọc Sĩ chỉ là những trường hợp cá nhân lẻ tẻ, không phải là vấn đề lớn trong đảng của họ! Mấy ông cầm đầu đảng cứ tuyên bố “chống tham nhũng” nhưng nạn tham nhũng cứ tiếp tục bành trướng, vì họ không bao giờ công nhận đó là ung nhọt nằm trong ruột của đảng. Công nhận điều đó thì phải chịu công khai mổ xẻ cái ung nhọt đó ra. Như thế không khác gì tuyên bố giải tán đảng cộng sản!

Bởi vì ngay từ khi ra đời, đảng Cộng Sản sống bằng sự che đậy, giấu diếm, chữ họ dùng gọi là “bảo mật.” Ðảng viên không thể nào tiết lộ những bí mật của đảng cho người ngoài biết. Tất cả những vụ ăn bẩn phải được che đậy, để “bảo mật.” Ðảng Cộng Sản từ đầu đã sống trong một nỗi bí mật.

Một thí dụ: Ðố ai biết đảng Cộng Sản lấy tiền ở đâu mà chi tiêu? Trụ sở đảng ở mỗi tỉnh, mỗi thành phố, mỗi huyện, xã, vân vân, đều to lớn nghênh ngang oai phong át cả tòa nhà hành chánh địa phương. Tiền đâu ra mà xây dựng như vậy? Những ban cán sự đảng lấy tiền đâu mà hoạt động? Tiền do các đảng viên đóng góp hàng tháng hay hàng năm? Hay là đảng lãnh tiền tiền trả công, do làm công việc “lãnh đạo nhà nước và xã hội” như ghi trong điều 4 hiến pháp? Tiền “trả công” đó do thứ hợp đồng nào quy định? Ai ký hợp đồng thuê mướn đảng Cộng Sản làm việc đó? Dùng tiền công quỹ của toàn dân, thì tiền đó nằm trong những chương, mục nào, có ai biết không?

Tất cả nằm trong niềm bí mật bao phủ các hoạt động của đảng Cộng Sản, chỉ có tình trạng bí mật của các đảng cướp, mafia, mới so sánh được. Tiền là một chuyện nhỏ. Lớn hơn là các chính sách của đảng Cộng Sản, có ảnh hưởng tới toàn thể dân trong một nước. Họ bàn những gì, nghiên cứu những gì trước khi đưa ra các chính sách đó? Ðó cũng là những điều bí mật chỉ mấy lãnh tụ cao cấp biết với nhau. Như gần đây là vụ cho các công ty Trung Quốc và nước khác khai thác mỏ bô xít ở Tây Nguyên. Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng nói đó là “đường lối lớn của đảng.” Ai quyết định đường lối lớn này? Họ quyết định như thế nào? Có bao nhiêu tiếng nói phản đối, từ các nhà khoa học, các nhà văn, cả một ông Tướng Về Hưu nổi danh đã lên tiếng. Họ nêu lên nhưng tác hại vĩnh viễn trên tài nguyên đất nước, trên môi trường sống của cả miền cao nguyên và đồng bằng miền Trung, trên tương lai kinh tế của cả nước. Ðó là chưa kể mối họa “cõng rắn vào nhà” hậu quả không thể nào lường được. Những đoàn công nhân Trung Quốc đang “Xẻ dọc Trường Sơn đào bô xít” để bùn đỏ sẽ trôi xuống đồng bằng kéo theo những nấm xương tàn của bao thanh niên Việt Nam từng nghe lời đảng Cộng Sản dụ dỗ đi “chống Mỹ cứu nước.” Những oan hồn đó sẽ tự hỏi họ đã hy sinh cho ai hưởng? Cho người Việt hay người Trung Hoa?

Những người nắm quyền đưa ra một “chủ trương lớn” như thế, họ có nêu ra những lý do nào để quyết định bán tài nguyên của nước Việt Nam hay không? Trước dư luận phê phán, chưa bao giờ thấy họ trình bày ý kiến để tự biện hộ, tự bênh vực quyết định của họ. Vì kiêu ngạo, khinh người, hay vì sợ? Không những thế, họ còn ra lệnh các báo, các đài, và các mạng lưới không được nói gì về vụ cho Trung Quốc khai thác bô xít nữa. Họ muốn bịt miệng báo chí, tức là cũng bịt tai của toàn dân, để phó mặc đảng Cộng Sản muốn làm gì thì làm, muốn bán gì thì bán. Cho nên người đứng ngoài quan sát cũng phải thấy là đảng Cộng Sản giờ không dám tranh luận với giới chuyên viên và trí thức Việt Nam; chỉ vì họ biết trước họ sẽ thua, sẽ đuối lý. Và phải kết luận vụ nhường quyền khai thác bô xít này là một vụ nhượng bán chủ quyền mờ ám.

Nhưng mờ ám là bản chất của đảng Cộng Sản. Nhiều người ví đảng Cộng Sản ở Việt Nam như một băng đảng Mafia. Nói như vậy chưa đủ. Mafia chỉ là một băng đảng tội ác sống bên ngoài pháp luật. Mafia có khả năng tổ chức buôn lậu, chứa bạc, ăn cướp, cướp của xong là phải chạy. Ðảng Mafia, ngay ở đảo Sicily bên Ý là nơi xuất phát của họ, cũng không bao giờ có thể đóng luôn cả vai cảnh sát bắt trộm để có quyền sử dụng vũ lực hợp pháp; đồng thời lại đóng vai quan tòa để sử dụng luôn hệ thống luật pháp tự bảo vệ mình. Ðảng Cộng Sản mạnh hơn đảng Mafia rất nhiều. Từ thời Hồ Chí Minh, ông đã nói “Ðảng ta là một đảng cầm quyền.” Nghĩa là “đảng ta” nắm trong tay cả quân đội, công an, tòa án, luật pháp, báo chí, văn nghệ, ngân hàng, cửa khẩu, vân vân, với quyền hành tuyệt đối.

Nhưng có một điều khiến các đảng cộng sản và Mafia giống nhau, đó là Quy Luật “Omerta,” có thể dịch là “bảo mật.” Luật này có nghĩa là đảng viên phải giữ bí mật nội bộ, không bao giờ được tiết lộ chuyện trong đảng cho người ngoài biết. Các đảng viên Mafia khi bị bắt cũng không bao gio được nói nửa lời về những chuyện riêng tư trong đảng, đứa nào nói là tự kết án tử hình. Ðiều luật này, theo ngôn ngữ của đảng Cộng Sản Việt Nam, còn gọi là “đoàn kết nội bộ.”

Hồ Chí Minh đã viết rằng “Ðoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của đảng... Cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của đảng như giữ gìn con ngươi trong mắt mình.” (Hồ nhắc lại lời Thống Chế Stalin.) Các đảng viên Mafia cũng giữ con ngươi trong mắt họ cẩn thận như vậy. Vì muốn giữ đoàn kết thì phải tránh không vạch ra những sai lầm của nhau, phải bao che cho nhau, không thể nào sống minh bạch công khai được.

Khi hiểu nguyên lý “Ðoàn kết nội bộ,” hay Omerta thì chúng ta hiểu tại sao sau những kỳ họp Trung Ương Ðảng không nói cho ai biết là họ đã bàn bạc những chuyện gì, kể tội những ai, cãi nhau như thế nào. Gần đây một tài liệu của ông Nguyễn Trí Chung được truyền trên mạng lưới kể chuyện hai cánh Ðỗ Mười và Võ Văn Kiệt liên kết đánh bại Lê Khả Phiêu ra sao, dân Việt mới biết các lãnh tụ đảng tranh giành quyền lực nhơ bẩn như thế nào. Trước Nguyễn Trí Chung, đã có những hồi ký khác, phá vỡ nhiều mảnh trong bức màn bí mật che phủ đảng. Nhưng những người bị gạt ra ngoài lề mới bỏ luật omerta, cất lời nói lên những sự thật, còn những người còn địa vị để chia chác quyền lợi với nhau thì vẫn “Ðoàn kết nội bộ,” như Hồ Chí Minh đã dậy.

Ðảng Cộng Sản thường tự hãnh diện về quyết định tập thể, nhưng vì thế không ai chịu trách nhiệm về bất cứ hành động nào cả. Khi phê phán, tất cả được gọi là “trách nhiệm của chúng ta.” Nhà soạn kịch quá cố Lưu Quang Vũ đã viết vở “Tôi và Chúng ta” để vạch ra căn bệnh vô trách nhiệm đó. Khi nói “chúng ta đã phạm các lỗi lầm” thì không cá nhân nào có lỗi cả. Ngày xưa “chúng ta” tổ chức đấu tố theo lệnh cố vấn Trung Quốc làm chết oan bao mạng con người, chúng ta để cho trẻ con thất học vì tiền học phí cao qua, chúng ta đã ăn cắp may trăm triệu Mỹ kim ở công ty Dệt Nam Ðịnh, trong khi đó “chúng ta” cướp đất của dân cho người ngoại quốc lập sân golf, vân vân. Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố quyết định cho Trung Quốc khai thác bô xít ở Tây Nguyên là một đường lối lớn của Ðảng. Chứ không phải của người cầm đầu chính phủ, cũng không phải của những người cầm đầu Bộ Chính Trị. Mai này, khi đoàn quân Trung Quốc “Xẻ dọc Trường Sơn đào bô xít” thành công rồi kéo nhau về, ai sẽ chịu trách nhiệm về những tàn hại trên quê hương Việt Nam?

Một bài học cho các dân tộc là chỉ khi nào những người cầm quyền chịu trách nhiệm trước dân chúng thì mới bảo đảm được là họ sẽ lo làm những việc ích lợi chung. Hiện nay các lãnh tụ cộng sản ở nước ta chỉ chịu trách nhiệm với nhau, trong một nhóm ở Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng. Khi những người trong nhóm này thỏa thuận được với nhau để chia chác quyền lợi thì họ sẽ tiếp tục “đoàn kết nội bộ” để bảo vệ lẫn nhau. Chỉ khi nào người dân được dùng lá phiếu quyết định ai là người cai trị họ, sau mấy năm không hài lòng thì bãi chức, lúc đó người cầm quyền mới biết họ chịu trách nhiệm với dân. Họ sẽ không có quyền giữ bí mật, xử lý nội bộ với nhau nữa. Càng bí mật càng dễ phạm tội ác. Khi có tự do dân chủ thì những tệ nạn trong guồng máy chính quyền mới giảm bớt được, từ chuyện nhỏ như tổ chức ăn cắp ở Nhật Bản để đem hàng về bán ở Việt Nam, cho đến chuyện lớn như bán rừng, bán biển cho người ngoại quốc khai thác. Nếu dân Việt Nam không được sống tự do dân chủ thì những tệ nạn đó không bao giờ giảm bớt!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Hoa Chỉ Trích Báo Cáo Của Hoa Kỳ Về Quân Đội Trung Hoa
Tác giả: TINI TRAN- TD chuyển ngữ



Tin Bắc Kinh – Trung Hoa, hôm thứ năm, chỉ trích bản báo cáo của Hoa Kỳ mới được công bố về sự gia tăng của quân lực Trung Hoa. Trung Hoa cho rằng bản báo cáo là một “xuyên tạc” trắng trợn có thể là nguy hại cho mối liên hệ quân sự của hai nước.

Phát ngôn nhân bộ ngoại giao Trung Hoa, Qin Gang, đả kích gay gắt bản báo cáo là đã “xâm phạm” vào nội tình Trung Hoa và nói rằng Trung Hoa đã chính thức phản kháng với Hoa Kỳ. “Đây là một việc bẻ quẹo trắng trợn các sự kiện và xâm phạm vào nội bộ Trung Hoa. Trung Hoa cương quyết phản đối và cho phía Hoa Kỳ biết một cách nghiêm trọng sự kiện đó,” ông tuyên bố trong buổi họp báo thường lệ.

Bản báo cáo của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ phổ biến ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn nói rằng mức tăng trưởng mau lẹ về quân lực Trung Hoa đã làm đảo lộn cán cân thăng bằng quân sự trong vùng và Bắc Kinh có thể dùng lực lượng đó để xâm chiến các vùng đất đai đang trong tình trạng tranh chấp với các quốc gia khác trong vùng.

Bản báo cáo này là bản đánh giá thường niên cho Quốc Hội Hoa Kỳ. Bản báo cáo tường trình rằng Trung Hoa tiếp tục phát triển các vũ khí để áp lực Đài Loan, mặc dù tình trạng căng thẳng giữa hai bên đã giảm đi rất nhiều rồi. Bản báo cáo cũng cho rằng Trung Hoa đang khai triển các vũ khí có khả năng bắn xa hơn có thể ảnh hưởng tới ngoài vùng Thái Bình Dương Á châu.

Trong buổi họp báo thường lệ ấy, ông Qin nói rằng Trung Hoa đã theo đuổi các việc phát triển có mục tiêu hòa bình và chính sách quân sự của Trung Hoa dựa trên căn bản phòng thủ mà thôi.

Bản báo cáo được công bố trong lúc căng thẳng đang tăng cao giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa sau khi tàu bè của Trung Hoa quấy nhiễu tàu thăm dò đại dương của Hoa kỳ trong lúc đang hoạt động trong vùng biển quốc tế ở Biển Nam Trung Hoa.

Các cuộc đàm phán giữa quận đội Hoa Kỳ và Trung Hoa mới tái tục gần đây sau năm tháng phải đình chỉ vì việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan hồi năm ngoái.

Bản báo cáo ghi nhận rằng “mức tiến triển và phạm vi cải tiến của quân lực Trung Hoa đã tăng nhiều” trong những năm gần đây với việc sắm thêm các vũ khí ngoại quốc và gia tăng ngân sách để phát triển các kỹ thuật tân tiến cũng như canh tân quân đội. Bản báo cáo cũng cho biết Trung Hoa tiếp tục khai triển các kỹ thuật “gây rối” như các vũ khí chống vệ tinh và các khí cụ làm nhiễu loạn các vệ tinh truyền thông.

Trong suốt hai thập niên vừa qua, ngân khoản chi tiêu cho quân đội Trung Hoa đã luôn luôn tăng trên 10%. Năm nay, Trung Hoa loan báo tăng chi tiêu của quân đội là 14,9% đến mức 480,68 tỷ yuan (khoảng 70 tỷ mỹ kim) mặc dầu con số gia tăng này nhỏ hơn mấy năm trước.

Chi tiêu khoảng đó của Trung Hoa là ngang với Nhật Bản, Nga Sô, và Anh Quốc nhưng không thể so sánh với chi tiêu của quân đội Hoa Kỳ hiện ở vào mức 10 lần nhiều hơn.

TD chuyển ngữ
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

GS Trần Gia Phụng
Hiện nay, người Việt hải ngoại sống rải rác khắp các nơi trên thế giới. Không kể dân số trong nước, người Việt hải ngoại ít nhất cũng gần 3 triệu người. Riêng tại thành phố Toronto và vùng phụ cận khoảng 80,000 người. Ở khắp mọi nơi, người Việt họp thành những cộng đồng đang càng ngày càng lớn mạnh. Mỗi cộng đồng đều có một biểu tượng riêng. Nhìn vào biểu tượng đó, người ta biết nguồn gốc, văn hóa, căn tính của mỗi cộng đồng. Ngược lại, từ nguồn gốc, văn hóa của cộng đồng, người ta cần tìm một mẫu số chung để chọn biểu tượng cho cộng đồng. Vậy mẫu số chung để có thể trở thành biểu tượng của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay là gì?

Trước hết, cộng đồng người Việt hải ngoại gồm có các thành phần sau đây: 1) Những người ra đi trước biến cố 30-4-1975. 2) Những người vượt biên sau biến cố 30-4-1975. 3) Những người được bảo lãnh. 4) Những người xuất khẩu lao động.

Trước năm 1975, hai đợt người ra đi chính: Đợt thứ nhất gồm những người do nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương tuyển mộ và đưa sang Pháp từ năm 1915 đến năm 1919, khoảng 100,000 người trong đó khoảng một nửa là lính chiến đấu, một nửa là lính thợ (ouvrier non spécialisé gọi tắt là ONS). (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận tập 3, Paris: Nxb. Tân Á, 2002, tr. 1673.) Sau thế chiến thứ nhất, một số trở về và đa số ở lại Pháp. Đợt thứ hai là những du học sinh từ năm 1949 đến năm 1975, không phải chỉ đi Pháp mà còn đến các nước khác trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, New Zealand…Khi xảy ra biến cố 30-4-1975, hầu hết đều ở lại nước ngoài.

Sau biến cố 30-4-1975, nhiều người vượt biên tỵ nạn cộng sản bằng đường biển hay bằng đường bộ. Cuộc vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1995, có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ 1975 đến 1989 là năm Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn. Giai đoạn thứ hai từ 1989 đến 1995. Từ năm 1996, CUTNLHQ đóng cửa vĩnh viễn các trại tỵ nạn. Cuộc vượt biên trong giai đoạn thứ hai khó khăn hơn vì phải trải qua “thanh lọc” tư cách tỵ nạn, mới được nhận đi định cư. Tổng số người vượt biên đến định cư được ở nước ngoài lên đến gần 1 triệu người và số người tử nạn trên đường vượt biên, không đến được miền đất tự do, khoảng 500,000 người. (Các số liệu nầy theo Người Việt Online ngày 28-10-2004.)

Những người vượt biên, một khi đã ổn định cuộc sống ở một nước khác, bắt đầu bảo lãnh thân nhân ra nước ngoài. Đó là những người ra đi theo chương trình O.D.P. (Orderly Departure Program). Ngoài ra, còn có một số khá lớn những người đi theo chương trình HO là chữ mà người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình đặc biệt tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị ba năm tù cộng sản trở lên và gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ.

Cuối cùng, cộng đồng người Việt hải ngoại còn có những sinh viên du học hay công nhân xuất khẩu lao động qua Liên Xô và Đông Âu, xin tỵ nạn ở các nước ngoài khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Xô và các nước Đông Âu năm 1991. Số liệu trong nước cho biết số nầy lên đến 300,000 người. Sau đó, nhiều người trong số nầy tìm cách chuyển qua sinh sống ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Như vậy, dù ra đi trước năm 1975, dù vượt biên sau năm 1975, dù bảo lãnh, HO hay xuất khẩu lao động, người Việt ở hải ngoại nói chung đều là những người không muốn sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam, ra nước ngoài để tìm một đời sống tự do mới ở nước ngoài, có thể nói chung là những người tỵ nạn cộng sản hoặc bất đồng với chế độ cộng sản. Nếu không bất đồng với chế độ cộng sản, thì người ta đã về nước sinh sống sau năm 1975, khi đất nước do chế độ cộng sản kiểm soát. Có một điểm cần lưu ý là sau năm 1975, nếu có người nào nói rằng vượt biên hay ra nước ngoài vì lý do kinh tế, thì chắc chắn Cao uỷ tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đã trả người đó về Việt Nam, hoặc chính các nước bảo trợ cũng không chấp nhận cho đến tỵ nạn kinh tế.

Tuy nhiên, giả thiết như, xin nhấn mạnh chỉ giả thiết mà thôi, có một người can đảm tự nhận ra đi vì lý do kinh tế, có nghĩa là chế độ cộng sản ở trong nước không tạo được điều kiện để cho người đó sinh sống, hay nói cách khác người đó hoặc bất đồng với chế độ cộng sản, hoặc là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản, nên mới kiếm cách bỏ ra nước ngoài sinh sống. Vậy người đó không phải là nạn nhân chính trị, thì cũng có thể xem là nạn nhân kinh tế của chế độ cộng sản.

Như thế, có thể nói tính chất chung của người Việt hải ngoại là những người tỵ nạn cộng sản, dù ra đi từ Bắc hay Nam Việt Nam, dù trước hay sau năm 1975, dù vượt biên hay bảo lãnh, dù là vì lý do chính trị hay lý do kinh tế. Vậy biểu tượng chung cho người Việt hải ngoại, dầu ra nước ngoài vì bất cứ lý do nào, chắc chắn không phải là lá Cờ đỏ sao vàng, biểu tượng của chế độ đã gây ra cảnh tỵ nạn.

Trên thế giới, lá Cờ đỏ sao vàng chỉ được treo trong các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN ở hải ngoại nói cho cùng chỉ đại diện cho nhà cầm quyền Hà Nội, phụ trách công việc giao dịch của chế độ cộng sản, chứ chẳng phải là đại diện cho người Việt ở hải ngoại. Hiện nay chế độ CHXHCNVN hầu như không có hay có rất ít công dân ở hải ngoại. Đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đều là những người tỵ nạn cộng sản, trốn tránh cộng sản như trốn tránh ác quỷ, và người Việt hải ngoại đều đã nhập quốc tịch các nước sở tại, tức là công dân các nước ngoài, chẳng cần gì đến sự giúp đỡ của các tòa đại sứ hay lãnh sự CHXHCNVN.

Ví dụ một người gốc Việt, có quốc tịch Canada hay Hoa Kỳ, tức công dân của hai nước nầy, đi du lịch, làm ăn buôn bán tại các nước trên thế giới, nếu có vấn đề gì trở ngại hay tai nạn nào, thì tòa đại sứ các nước nầy sẽ can thiệp, giúp đỡ hay bênh vực cho công dân của mình, chứ đâu cần đến tòa đại sứ cộng sản Việt Nam.

Tại tòa đại sứ CSVN, thỉnh thoảng có người đến làm giấy tờ xin đi Việt Nam, không phải với tư cách công dân Việt xin về nước, mà với tư cách công dân nước ngoài đến liên hệ với tòa đại sứ của nước mà người đó muốn đi du lịch mà thôi. Cũng giống như chúng ta muốn du lịch các nước Âu Châu hay Nam Mỹ, chúng ta phải đến liên hệ với tòa đại sứ các nước nầy.

Lá cờ tượng trưng cho những người tỵ nạn cộng sản, dù là tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn kinh tế, không gì khác hơn là biểu tượng của những nạn nhân cộng sản. Thích hợp nhất cho biểu tượng nầy chính là lá Cờ vàng ba sọc đỏ, vì lá cờ nầy đã từng là lá cờ trên toàn cõi Việt Nam, cả Bắc và Nam Việt Nam từ năm 1948, chứ không phải riêng của miền Nam sau năm 1954, và lá cờ nầy cũng là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, nơi nào có cộng đồng người Việt, thì nơi đó có lá Cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Cộng đồng người Việt sinh sống khắp nơi trên thế giới, bao quanh quả địa cầu. Suốt ngày (24/24), không chỗ nầy thì chỗ khác, vòng quanh quả đất, khi nào cũng có lá Cờ vàng ba sọc đỏ phất phới dưới ánh mặt trời. Như thế, thực tế cho thấy rằng mặt trời tỏa sáng quanh năm trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ, nếu chúng ta không quá hãnh tiến để nói rằng MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ LẶN BÊN TRÊN LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 24-3-2009)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thời sự kinh tế: Không sợ giầu mà sợ cách làm giầu sai

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố trong ba tháng đầu năm nay, kinh tế nước ta chỉ tăng 3.1%, giảm quá nửa so với tỷ số tăng trưởng 7.5% cùng thời kỳ năm ngoái.

Tuy vậy, chính quyền Cộng Sản vẫn dự đoán Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Việt Nam sẽ tăng 6.5% trong cả năm 2009, một con số khó lòng đạt được. Theo Ngân Hàng Thế Giới thì trong năm nay kinh tế Việt Nam sẽ lên được chừng 5.5%, còn Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) dự đoán xuống 4.75%. Nhưng cả hai con số đó vẫn còn quá lạc quan so với số tiên đoán của các chuyên viên nghiên cứu kinh tế trong tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU, Tin kinh tế). Ông Justin Wood thuộc EIU mới nói chuyện ở Hà Nội hôm giữa Tháng Ba 2009, cho biết EIU dự đoán kinh tế Việt Nam năm nay sẽ chỉ tăng 0.3%, tức là gần số không.

Ví thử như dự đoán của EIU thành sự thật, thì cũng không có gì lạ. Vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, những nước không đủ nội lực thì chịu ảnh hưởng nặng nhất. Cũng trong bản báo cáo của IMF, họ dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ tăng thêm 6.5% trong năm nay, sụt mạnh so với tỷ số tăng trưởng tới 10% trong mấy năm trước.

Kinh tế Việt Nam cũng như Trung Quốc thiếu nội lực vì lệ thuộc quá nhiều vào hàng xuất cảng và đầu tư của người ngoại quốc. Khi hai hoạt động đó giảm bớt vì cơn khủng hoảng toàn cầu thì kinh tế những nước thiếu nội lực đều sa sút nặng. Có những nước như Singapore, Ðài Loan, hoặc lãnh địa Hồng Kông, họ sống nhờ xuất cảng, họ phải chịu tai vạ; lý do vì dân số thấp, một điều kiện họ không thay đổi được. Còn Việt Nam và Trung Hoa là 2 nước đông dân nhưng cũng chịu tai vạ, vì chính sách của chính quyền sai. Trong hàng chục năm qua các nước này chỉ nhắm vào sản xuất nhiều để bán ra ngoài, chứ không đặt ưu tiên nâng sức cao tiêu thụ của người dân, không lo phát triển một thị trường nội địa có căn bản. Cho nên bây giờ không xuất cảng được nhiều nữa thì chịu tai vạ lớn hơn.

Chính sách thúc đẩy sản xuất để xuất cảng, không phát huy thị trường nội địa, đưa tới những hậu quả kinh tế và xã hội. Nhà nước sẽ nâng đỡ các công ty xuất khẩu, đặc biệt là những công ty do đảng viên cầm đầu và các doanh nhân ngoại quốc. Những cán bộ kinh doanh của đảng này sẽ kiếm lợi lớn cho đảng cầm quyền và cho chính họ; các xí nghiệp ngoại quốc được ưu đãi khi chia chác với các cán bộ nhà nước; nhưng lớp người thực sự làm công việc sản xuất là nông dân, ngư dân và công nhân thì sẽ bị thiệt thòi. Lương của từng cá nhân người lao động thấp đã đành, nhưng các chính sách khác của nhà nước cũng bỏ rơi họ.

Có hai yếu tố sản xuất là vốn và lao động. Khi chính sách quốc gia chỉ nhắm vào xuất cảng mà không tìm cách nâng cao sức tiêu thụ của người trong nước, thì nỗ lực đầu tư sẽ chuyển phần lớn vào máy móc thiết bị, thu hút các nguồn vốn bằng các chính sách ưu đãi; họ sẽ không cố gắng đầu tư thêm vào lao động, nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động. Nhà nước theo chính sách đó sẵn sàng ưu đãi các công ty lớn, giảm thuế khóa, cho họ được sử dụng đất lấy của dân. Nhà nước hỗ trợ họ tổ chức thi hoa hậu hay làm sân cù giải trí thì được; nhưng không có tiền chi nâng cao giáo dục và y tế ở nông thôn là những yếu tố cần thiết nâng cao sản năng lao động. Ngân sách giáo dục quốc gia thấp, các học sinh tiểu học phải đóng tiền, thì lớp người chịu hậu quả nặng nhất là con cháu công nhân và nông dân, chứ không phải con cái các cán bộ và giới trung lưu thành thị. Vì những người có tiền vẫn có thể cho con đi học tư, có thể gửi con đi ngoại quốc ngay từ bậc trung học. Ngân sách y tế công cộng thấp thì những người bị bỏ rơi không được chữa bệnh, không biết phòng bệnh cũng là những người nghèo. Nói chung, những người nghèo nhất nước cũng bị thất học và yếu ớt, bệnh tật nhiều nhất, quốc gia đã bỏ rơi không đầu tư vào những người này.

Cho nên, khi nhà nước theo đuổi một chính sách chỉ nhắm làm giầu nhanh chóng bằng việc xuất cảng, khuyến khích xuất cảng bằng bất cứ giá nào, thì giới lao động ở nông thôn và thành thị đều bị thiệt thòi. Nếu ví lợi tức chung của quốc gia là một cái bánh dầy hay bánh chưng, chúng ta thấy phần chia cho giới lao động thì thấp quá, kinh tế lên lợi tức của họ cũng không tăng được bao nhiêu; còn phần chia cho các nhà kinh doanh xuất cảng, trong và ngoài đảng Cộng Sản, thì lớn và được tăng lên mãi. Cho nên cảnh bất công xã hội ngày càng trầm trọng.

Nhưng khi số thu nhập của đại đa số người dân Việt Nam bị kìm hãm vì họ bị bỏ rơi thì một hệ quả là khả năng tiêu thụ trong nước cũng rất thấp. Khả năng mua (cũng gọi là mãi lực) của người dân thấp vì phần lợi tức quốc gia chia cho họ thấp, vì họ không thuộc “diện ưu tiên.” Ngoài ra, nếu kiếm thêm được đồng nào họ cũng chỉ lo để dành vì lo khi đau ốm, lo con đi học. Ở Trung Quốc số tiền nông dân gửi ngân hàng tăng 18% một năm vì dân nhịn ăn nhịn mặc. Chính phủ các nước chủ trương ưu tiên xuất cảng đều bóc lột người dân trong nước họ để chiều đãi các khách hàng ở các nước giầu. Riêng chính phủ Trung Quốc thì bắt dân nhịn tiêu thụ để bán hàng rẻ cho Mỹ thật nhiều, khi thu được tiền Mỹ rồi lại đem cho Mỹ vay, giúp dân Mỹ được hưởng lãi suất thấp.

Khi đa số người dân trong một nước mà nghèo, không được học, sức khỏe không được bảo vệ, thì hậu quả tai hại trên nền kinh tế sẽ rất lâu dài. Kỹ năng làm việc sẽ thấp, cả nước sẽ tự hạ thấp mình chỉ làm những việc mà người dân các nước tiên tiến không muốn làm nữa vì công việc không có giá trị cao.

Trên mặt xã hội, ai cũng thấy cần xóa bỏ cảnh bất công; nhưng trên mặt kinh tế, bất công xã hội còn là một trở ngại cho sự phát triển nữa. Mà chỉ trong những nước chưa quen sống tự do dân chủ thì cảnh bất công mới nặng nề và gây nhiều tai hại về mặt kinh tế.

Ở Trung Quốc, một nửa phần trăm dân Trung Hoa thuộc lớp người giầu nhất nước là chủ nhân của 60% tài sản của tư nhân; những người còn lại, 99.5% làm chủ 40% tài sản tư. Ðó là do Boston Consulting Group tính toán năm 2006. Ở một nước chậm tiến như Mexico mà người giầu nhất nước này cũng có lúc là người giầu nhất thế giới. Ông Carlos Slim có tài sản 59 tỷ Mỹ kim vào năm 2007, trong năm đó ông Bill Gates ở Mỹ chỉ có 56 tỷ. Nhưng tài sản của Bill Gates chưa lớn bằng một nửa phần trăm (0.4%) Tổng Sản Lượng Nội Ðịa nước Mỹ; còn gia sản của ông Slim lớn bằng 6.6% GDP của nước ông ta. Trong số 100 người giầu nhất thế giới có 40 người Mỹ, nhưng tổng cộng tài sản của họ cũng chỉ lớn bằng 4.5% GDP nước Mỹ.

Ðiều phân biệt giữa các người Mỹ giầu và Carlos Slim là bọn Mỹ phải cạnh tranh gắt gao mới giầu được. Còn ông Slim may mắn nắm được một độc quyền khi chính phủ Mexico tư nhân hóa công ty điện thoại quốc gia vào năm 1990. Nhà nước Mexico ngoảnh mặt đi, ông Slim dùng độc quyền đó như một cái máy in tiền, nhờ nắm được thời cơ lúc công nghiệp điện tử phát triển. Sau 70 năm sống dưới chế độ độc đảng, Mexico là một nước tư bản có xã hội bất công nhất. Mà đó cũng là nước nghèo nhất trong lục địa Bắc Mỹ. Có một mối liên hệ giữa công bằng xã hội và phát triển kinh tế, những xã hội càng công bằng thì phúc lợi kinh tế của người dân càng cao hơn. Có hai định chế tạo ra tình trạng đó: chính trị tự do dân chủ và kinh tế cạnh tranh bình đẳng.

Ở Việt Nam có nhiều người giầu, nhiều người cũng làm việc hết mình mới trở nên giầu sang chứ không nên có thành kiến hễ giầu là phải tham nhũng. Một nước có nhiều người giầu không có gì hại cả, còn tốt nữa. Nhưng đứng trên mặt kinh tế thuần túy mà bàn thì câu hỏi quan trọng là: “Họ làm giầu bằng cách nào?”

Khi mọi người trong một nước làm giầu nhờ thành công trong thị trường cạnh tranh thật sự, thì việc làm giầu của họ cũng đồng thời giúp cho quốc gia giầu thêm, nhiều người khác được chia sẻ lợi nhuận.

Còn khi những người làm giầu, dù làm giầu bằng việc kinh doanh chứ không phải hối mại quyền thế, nhưng họ chỉ trở nên giầu có nhờ khéo chạy chọt, đút lót, nhờ tìm gốc lớn để bám và dù lớn để che, thì công việc làm giầu của họ không mang lại lợi ích cho quốc gia bằng những người làm giầu nhờ giỏi cạnh tranh trong thị trường.

Ðức Khổng Tử nói, “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” nghĩa là “Không lo thiếu thốn mà lo chia không đều.” Câu này ngày xưa ông Hồ Chí Minh hay đem ra dậy đảng viên, nhưng coi bộ chẳng có anh nào nhớ cả; bây giờ các quan lớn Cộng Sản chỉ lo làm giầu cho mình thôi, dân thất học hay bệnh hoạn “mặc kệ nó.”

Bây giờ chúng ta có thể nhại lời Ðức Thánh Khổng mà nói thêm rằng: “Không lo có người giầu mà nên lo phương cách làm giầu thế nào.” Nếu chính sách quốc gia đặt ưu tiên phải viết ra và thi hành những luật lệ cạnh tranh công bằng, tạo cơ hội cho tất cả mọi người như nhau trong thị trường cạnh tranh, thì trong nước càng nhiều người giầu càng lợi chung cho kinh tế quốc dân. Ngược lại, nếu những người cầm quyền chủ trương dành ưu tiên cho phe cánh mình, đảng viên của mình, và những người khác nếu chịu đút lót cho phe cánh, đảng viên của mình, cho bọn người được ưu đãi đó cơ hội làm giầu dễ và giầu to nhất; thì chính sách đó không ích lợi cho đất nước, đáng xóa bỏ, cần thay thế.

Nhìn lại chính sách kinh tế của các chính quyền Cộng Sản tại Trung Quốc và Việt Nam thì ai cũng thấy họ tạo ra cảnh bất công xã hội. Nhưng không phải vì kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tạo nên cảnh giầu nghèo chênh lệch đó. Chính chủ trương ưu đãi các đảng viên và phe cánh của đảng Cộng Sản đã gây bất công xã hội. Nhưng tai hại nhất là chính sách này còn cản trở cả sự phát triển kinh tế của quốc gia nữa. Vì bọn người được hưởng thụ nhờ các chính sách ưu đãi đó đang trở nên một thế lực, họ sẽ ngăn cản tất cả những thay đổi cần thiết để tạo dựng khuôn khổ cho các luật lệ cạnh tranh công bằng và cơ hội đồng đều. Khi chưa có thị trường cạnh tranh thật sự thì quốc gia không thể lợi dụng được những ưu điểm của cơ chế thị trường để phát triển. Ở Bắc Mỹ có ba nước theo kinh tế tư bản, nhưng Mexico khác hẳn Canada và Mỹ.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Thảm sát ở New York
Tay súng dùng ô tô chặn cửa hậu của một trung tâm cộng đồng ở bang New York, Mỹ, xả súng điên loạn vào một phòng học có nhiều người gốc Việt, giết chết 13 người rồi tự sát. Thủ phạm được cho là một người Việt di cư.

Sự việc xảy ra hôm qua khiến nước Mỹ bàng hoàng. Hiện cảnh sát chưa rõ động cơ của kẻ giết người. Đây là vụ xả súng gây chết người thứ năm ở Mỹ chỉ trong vòng một tháng qua.
Image
Những người sống sót an ủi lẫn nhau bên ngoài tòa nhà. Ảnh: AP.
Trong số các nạn nhân có nhiều người gốc Việt, đang tham dự lớp học để chuẩn bị cho kỳ vấn đáp xin làm công dân Mỹ. Khi vụ bắn giết diễn ra, nhiều người chui xuống gầm bàn hoặc trong nhà vệ sinh. Than Huynh, một giáo viên trung học người Việt 45 tuổi đã giúp các nạn nhân đồng hương liên lạc với cảnh sát.

Án mạng xảy ra ở Binghamton, một thành phố nhỏ khoảng 47.000 dân, cách thành phố New York chừng 200 km về phía tây bắc.

Vụ tấn công diễn ra lúc 10h sáng tại trụ sở Hội công dân Mỹ, một tổ chức giúp đỡ người di cư ổn định cuộc sống. Cảnh sát cho hay tay súng đã đỗ chiếc xe hơi của y ở cửa hậu, để "chắc chắn là không ai chạy thoát", sau đó y lao vào qua cửa chính, bắn hai tiếp tân viên mà không hé răng nói một lời.

Thủ phạm, được cho là người Việt di cư, sau đó đã vào một phòng học, nơi có những người nhập cư đang theo học để thi lấy thẻ xanh, bắn bừa bãi.

Một trong số hai tiếp tân viên thiệt mạng, người kia bị bắn vào bụng nhưng giả chết, và sau đó bò dưới gầm bàn đi gọi 911. Cảnh sát ập đến trong vòng hai phút.

Ngoài số người chết trong lớp học, hiện còn 4 người khác bị thương nặng.

Kẻ tấn công sau đó được phát hiện đã chết với một vết thương do tự bắn. Cảnh sát tìm thấy ở y hai khẩu súng ngắn - một 9 ly và một 45, cùng một con dao săn.

Có 37 người đã trốn thoát khỏi tòa nhà, trong đó bao gồm 26 người trốn trong tầng hầm suốt 3 giờ sau vụ tấn công, khi cảnh sát lục soát khắp tòa nhà để xem liệu kẻ tấn công có còn sống và đang cầm giữ ai đó làm con tin hay không.

Khi cảnh sát đến, họ không nghe thấy tiếng súng nào, nhưng vẫn đợi khoảng 1 giờ đồng hồ sau đó mới tiến vào bên trong để đảm bảo an toàn. Sau đó, họ lục soát trong khoảng hai giờ.

Image
Một nhóm người sống sót được đưa ra khỏi tòa nhà, sau vụ tấn công hôm qua
ở trung tâm cộng đồng Hội công dân Mỹ Binghamton, New Yor, Mỹ. Ảnh: AP.


Hầu hết những người trong tòa nhà không nói được tiếng Anh. "Thật khủng khiếp", anh Alex Galkin, một người nhập cư gốc Uzbekistan đang học tiếng Anh, nói.

Zhanar Tokhtabayeva, 30 tuổi, nhập cư từ Kazakhstan, kể rằng chị đang ở lớp học tiếng Anh thì nghe thấy tiếng súng và chạy xuống trốn ở tầng hầm.

"Tôi nghe được những tiếng súng, từng tiếng một. Tôi không nghe tiếng la thét nào, chỉ hoàn toàn im lặng, chỉ có tiếng súng", chị kể. "Tôi nghe tiếng súng bắn rất lâu, và tôi tự hỏi không biết bao giờ thì mới ngưng? Lúc đó tôi nghĩ đời tôi thế là hết".

Nghi phạm xả súng mang một thẻ ID với tên là Jiverly Voong 42 tuổi. Các thông tin đầu tiên cho thấy Voong mới đây bị sa thải khỏi IBM, nhưng sau đó hãng này cho biết họ chưa từng có nhân công nào có tên như vậy. Theo cảnh sát, nghi phạm không xa lạ với trung tâm xã hội này và có thể từng theo học ở đây.

Các vụ xả súng bắn giết ở Mỹ xảy ra liên tục trong thời gian gần đây. Hôm chủ nhật, một người đàn ông trang bị vũ khí tận răng xông vào một trại điều dưỡng ở North Carolina bắn chế 8 người, trước khi y bị cảnh sát bắn bị thương.

Đầu tháng ba, một người đàn ông thất nghiệp bắn chết 10 người, trong đó có cả mẹ y và một em bé. Đây là một trong những án mạng kinh hoàng nhất ở bang Alabama.

Hồi tháng 12, một người đàn ông ăn mặc như Ông già Noel, đến nhà vợ cũ xả súng bắn chết bố mẹ vợ, vợ cũ. Y hạ 9 người trước khi bắn vào mình tự sát.

T. Huyền (theo AP, DPA, AFP)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hoả Tiễn Bắc Hàn Đưa Kim Jong-Il Lên Một Thế Giới Khác


Sau ba giờ họp khẩn cấp hôm Chủ Nhật, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã không đi đến một thoả thuận nào đối với sự kiện Bắc Hàn phóng hỏa tiễn vào cuối tuần vừa qua.
Theo các nguồn tin, Trung Quốc, Nga, Libya và Việt Nam đã ngăn cản mọi biểu quyết hay các biện pháp trừng phạt.
Họ kêu gọi thận trọng và kiềm chế trong khi Hoa Kỳ đòi hỏi một phản ứng đoàn kết và mạnh mẽ. Họ kêu gọi thận trọng và kiềm chế trong khi Hoa Kỳ đòi hỏi một phản ứng đoàn kết và mạnh mẽ.
Các giới có thẩm quyền nghĩ rằng cùng lắm là sẽ có một lời phát biểu của chủ tịch Hội Đồng Bảo An LHQ lên án vụ phóng hỏa tiễn và có thể sẽ khẳng định lần nữa những phong toả hiện nay đối với Bình Nhưỡng. Họ không nghĩ sẽ có những phong toả mới.

Dựa theo các nguồn tin từ Bộ Tư Lệnh Bắc Bán Cầu và các tin tình báo khác, việc phóng hỏa tiễn Kwangmyongsong Số 2 của Bắc Hàn là một thất bại. Bộ Tư Lệnh Phòng Thủ Không Gian Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư Lệnh Bắc Bán Cầu tuyên bố “Bộ phận đầu của hỏa tiễn rơi xuống vùng biển Nhật Bản. Những phần còn lại cùng với kiện hàng đã rơi xuống Thái Bình Dương. Không có một vật nào được đưa lên quỹ đạo và không có mảnh vụn nào rơi xuống nước Nhật.”

NORAD cũng tuyên bố là việc phóng hỏa tiễn này đã không đe dọa Bắc Mỹ hay Hawaii.

Trong nhiều tuần lễ qua, Bắc Hàn đã loan báo cho Hoa Kỳ, các nước lân cận trong vùng và đồng minh là họ có ý định phóng lên quỹ đạo cái mà họ gọi là một thử nghiệ vệ tinh truyền thông. Ngược lại với sự thẩm định của NORAD, Bắc Hàn tuyên bố là vệ tinh đã được đưa vào quỹ đạo và đang truyền thanh những bài hát yêu nước về cho dân chúng nghe. Đại sứ của họ ở Liên Hiệp Quốc nói “Chúng tôi rất lấy làm vui mừng.”

Các phân tích gia cho điều vui mừng này có lý vì theo Hoa Kỳ, hỏa tiễn lần này đã vượt qua khỏi Nhật Bản, trong khi lần thử trước của Bắc Hàn vào năm 2006 với hỏa tiễn Taepodong-2 đã bị tịt ngòi không quá một phút sau khi được khai hỏa.

Theo David Wright, một khoa học gia cao cấp của Hiệp Hội Các Khoa Học Gia Có Quan Tâm ở Cambridge, tiểu bang Massachusett, việc phóng hỏa tiễn này không có nghĩa là Bắc Hàn có khả năng trang bị một đầu đạn nguyên tử trên hỏa tiễn, họ chưa nắm vững kỹ thuật đó. Ông nói Bắc Hàn còn phải mất nhiều năm nữa mới phát triển được một đầu đạn nhỏ, nhẹ, và cách nhiệt đủ để gắn vào hỏa tiễn.

Tuy nhiên, theo ông, các nhà cổ vũ cho chương trình lá chắn chống hỏa tiễn sẽ dùng cơ hội này để thúc đẩy kỹ thuật chống hỏa tiễn liên lục địa. Nhưng đây không phải là câu trả lời vì bất cứ quốc gia nào cũng có thể dùng hỏa tiễn cò mồi hay những phản pháp khác để phá kỹ thuật phòng thủ này.

Các phân tích gia nghĩ rằng Bắc Hàn và Kim Jong-Il có nhiều lý do để phóng hỏa tiễn. Họ muốn khoe trương khả năng hỏa tiễn liên lục địa cho những người muốn mua và cho chính dân của họ trước buổi họp quốc hội làm vì trong tuần này ở Bình Nhưỡng mà chắc chắn Kim Jong-Il sẽ được phong làm nhà lãnh đạo một lần nữa.

Theo tờ báo của đảng hôm nay, Kim Jong-Il đã theo dõi cuộc phóng hỏa tiễn ở Trung Tâm Kiểm Soát và Chỉ Huy Vệ Tinh và tuyên bố việc này “thành công.” Thông Tấn Xã Bắc Hàn ghi lại lời tuyên bố của ông “Đây là một chứng tỏ hùng hồn của nền khoa học và công nghệ theo định hướng tư tưởng đảng, dựa vào đó các khoa học gia và chuyên viên đã phát triển hỏa tiễn nhiều tầng và một vệ tinh với tất cả sự khôn ngoan và kỹ thuật của họ…đúng 100% và chính xác đặt vệ tinh vào quỹ đạo ngay lần đầu.”

Lời tuyên bố này làm các phân tích gia gãi đầu và tự hỏi một câu có thể hơi bất lịch sự là “ông ta đang sống ở trên hành tinh nào?” Theo Brian Myers, giáo sư chuyên về tuyên truyền của Bắc Hàn ở đại học Dongseo “Kim Jong Il bất kể dư luận thế giới – ông ta chỉ quan tâm về những gì ông tuyên bố. Đây là một chính phủ cực đoan tự cho mình là tuyệt đối trong sạch và đạo đức. Tất cả các giống dân khác đều không tin được. Đối với một nước độc tài chuyên chính, chuyện thuờng tình là họ thường xuyên cần có những ‘thắng lợi’.” Myers nói Kim Jong-Il cố gắng chơi chữ cũng chẳng được bao lâu: “Trong một thời gian ngắn, ông ta có thể nói rằng việc phóng hỏa tiễn đã thành công, nhưng có đủ người ở Bắc Hàn bắt được sóng truyền hình từ Nam Hàn và lời nói láo này sẽ không tồn tại được lâu.”

Theo hãng thông tín trong nước, đối với Bắc Hàn, đây là một dịp để ca tụng. Hãy quên những lần thất bại phóng vệ tinh viễn thông trước, Kim Jong-Il tuyên bố hỏa tiễn Kwangmyongsong Số 2 đã đưa Bắc Hàn đến gần với việc chinh phục không gian. Ông khen “sự hiến thân yêu nước của các khoa học gia và các chuyên viên đã đóng một vai trò tiên phong trong nỗ lực mở cổng đến một cường quốc vĩ đại và trù phú.”

Nhưng hãng thông tấn trong nước cũng đưa ra một tấm ảnh trong đó Kim Jong-Il chụp chung với các “khoa học gia và các chuyên viên.” Trái ngược với tin đăng trên báo đảng, thay vì vui mừng, họ đứng cứng ngắc như các hình nộm và vẻ mặt của Kim Jong-Il và các hầu cận trông rất âu sầu. Theo tấm ảnh, đây không phải là tiệc mừng, đó là một đám tang. Các phân tích gia ở Nam Hàn, khi nói đến Kim Jong-Il và quốc gia bị cô lập của ông ta, không có gì làm ai ngạc nhiên. Theo Yang Moo-jin, giáo sư đại học chuyên về Bắc Hàn, Kim Jong-Il nhất định cứng đầu cho cuộc phóng hỏa tiễn là thành công là lối đóng kịch của ông ta với dân chúng. Bắc Hàn là một quốc gia tuyên truyền, khi chính phủ nhấn mạnh rằng Kim Jong-Il dự kiến phóng hỏa tiễn, chính phủ muốn nói cho dân chúng là “vị chủ tịch yêu mến của họ đã thực hiện điều đó.” Còn thông điệp cho cả thế giới là gì, Ông Yang nói “Bắc Hàn chả có gì ngoài đưa đẩy quốc gia của họ gần đến bên miệng hố chiến tranh. Đây chỉ là cơn giận dữ vòi quà của trẻ con.”

http://www.x-cafevn.org/node/1555
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 10 guests