Thời Sự, Bình Luân

nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Nhà nước khủng bố

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, từ mấy năm nay, dư luận thường xôn xao trước hiện tượng công an bắt người trái phép, mang vào đồn và đánh đập đến chết. Thi thể được mang vào bệnh viện xét nghiệm, người ta thấy người thì giập phổi, người thì toàn bộ nội tạng đều bị nát nhừ. Có trường hợp công an thừa nhận dùng nhục hình để tra tấn; có trường hợp chúng chối phăng, cho là nạn nhân hoặc tự tử hoặc bị bệnh từ trước hoặc lén lút dùng ma tuý quá liều.

Tổ chức Human Rights Watch ghi nhận được 31 trường hợp bị đánh chết trong các trại tạm giam của công an trong bốn năm (2011-2014). Con số này chắc chắn không đầy đủ. Theo một báo cáo của Bộ Công an mới đây, trong khoảng bốn năm, từ ngày 1/10/2011 đến 30/9/2014, tổng cộng có 226 người bị chết trong các nhà tạm giam vì nhiều lý do khác nhau, trong đó, có lý do là nhục hình. Điều cần lưu ý là công an chỉ thừa nhận việc dùng nhục hình khi không thể chối cãi được nữa nên những lý do vớ vẩn họ đưa ra như tự tử hay bị bệnh đều có thể không đúng sự thật.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý không phải chỉ việc công an tra tấn nhiều người đến chết mà còn một khía cạnh khác không kém quan trọng: khi việc tra tấn bị phanh phui, không thể giấu nhẹm được nữa, phải mang ra toà xét xử, các bản án dành cho công an phạm tội tra tấn dẫn đến cái chết của những người dân vô tội đều rất nhẹ, người thì được tha bổng, người thì bị tù treo, chỉ hoạ hoằn mới có một số công an bị tù giam, nhưng ngay trong trường hợp ấy, án tù cũng chỉ vài ba năm, nói theo luật sư Võ An Đôn, hoàn toàn không có tác dụng răn đe để công an đừng tái phạm.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao công an lại càng ngày lại càng tra tấn người dân một cách dã man như vậy? và tại sao các bản án dành cho các công an tra tấn dân chúng đến chết lại nhẹ nhàng đến như vậy? Trả lời câu hỏi trên, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ không hề đưa ra chủ trương và hình thức kỷ luật nào để hạn chế các hành động tra tấn đến chết. Trả lời câu hỏi dưới, chúng ta tiếp cận một sự thật: chính phủ cũng không hề muốn trừng phạt những công an phạm tội dùng nhục hình để bức cung. Hai câu trả lời ấy lại dẫn đến một sự thật khác: Chính phủ muốn dùng sự khủng bố để đe doạ mọi người.

Khủng bố là hành vi bạo động nhằm gây hoang mang, lo lắng và sợ hãi trong dân chúng. Về phạm vi, có hai hình thức khủng bố chính: Khủng bố thuộc tổ chức (organization terrorism) và khủng bố thuộc nhà nước (state terrorism).

Tiêu biểu nhất cho loại khủng bố thuộc tổ chức gần đây là sự khủng bố của các nhóm Hồi giáo cực đoan: Họ sống rải rác trên nhiều quốc gia khác nhau nhưng có chung một nỗi hận thù đối với văn hoá và văn minh Tây phương, chung một tham vọng muốn phát triển nhà nước Hồi giáo khắp nơi trên thế giới và chung một biện pháp: sử dụng bạo lực để giết càng nhiều người càng tốt, gây tiếng vang càng lớn càng tốt và càng làm cho càng nhiều người khiếp hãi càng tốt.

Khủng bố thuộc nhà nước thì có hai mức độ: Một, ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức khủng bố để chúng gieo rắc tội ác ở những nơi khác và hai, bản thân nhà nước đóng vai trò khủng bố đối với dân chúng trong chính nước của họ. Thuộc loại trên, Tổng thống Mỹ George W. Bush, vào năm 2002, cho có ba quốc gia chính được gọi là “trục ma quỷ” (Axis of evil), bao gồm Iraq, Iran và Bắc Triều Tiên. Thuộc loại dưới, tất cả các quốc gia độc tài, với những mức độ khác nhau, đều là những nhà nước khủng bố: Họ sử dụng bạo lực để làm dân chúng sợ hãi, từ đó, triệt tiêu mọi ý định phản kháng, hoặc thậm chí, phản biện.

Trong ý nghĩa đó, không còn hoài nghi gì nữa, nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước khủng bố.

Thật ra, tính chất khủng bố ấy đã xuất hiện ngay từ khi nhà nước Việt Nam (cộng sản) vừa mới ra đời. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, họ đã có chính sách tiêu diệt những người đối lập và đối kháng, qua đó, gây khiếp hãi trong quần chúng để không ai dám chống lại họ nữa. Chính sách này càng trở thành phổ biến trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-75. Chính sách gọi là “trừ gian diệt bạo” thực chất là một sự khủng bố. Theo Anthony James Joes, trong cuốn “The War for South Vietnam 1954-75” (New York: Fraeger, 1989, tr. 46), trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, Việt Cộng đã giết khoảng 20% các cán bộ làng xã ở miền Nam. Chỉ trong năm 1960, họ giết khoảng 1.400 công chức và thường dân; năm 1965, con số bị họ giết lên đến 25.000 người. Theo Walter Laqueur, trong cuốn “Guerrilla, a Historical and Critical Study” (London: Weidenfeld and Nicolson, 1977, tr, 262-271), những sự khủng bố của chính quyền miền Bắc có quy mô và mức độ tàn độc hơn cả Trung cộng trong cuộc chiến chống lại Tưởng Giới Thạch trong thập niên 1940.

Đó là thời chiến tranh. Tại sao bây giờ, thời bình, chính quyền lại tiếp tục sử dụng các biện pháp khủng bố như vậy đối với dân chúng?

Câu trả lời, theo tôi, là vì họ sợ.

Chính quyền Việt Nam hiện nay thừa biết dân chúng không còn tin họ, không còn phục họ, và sẵn sàng đứng dậy chống lại họ khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm. Bởi vậy, chính quyền quay mặt làm ngơ, nếu không muốn nói là âm thầm khuyến khích, việc công an dùng nhục hình đối với dân chúng. Chính quyền không hề có ý định răn đe công an. Chính quyền chỉ muốn răn đe dân chúng: Chống lại chính quyền thì chỉ có chết!

Bất cứ chế độc tài nào cũng xây dựng quyền lực trên hai nền tảng: tuyên truyền và khủng bố. Công việc tuyên truyền của chính quyền Việt Nam gần đây rõ ràng là đã thất bại: Họ không còn thuyết phục được dân chúng về tính chính nghĩa của họ, đặc biệt trước hai vấn nạn: dân chủ và chủ quyền (đặc biệt ở Biển Đông). Thất bại về tuyên truyền, họ chỉ còn cách duy nhất là gia tăng mức độ khủng bố.

Mục tiêu của khủng bố là làm cho dân chúng sợ. Nhưng động cơ thực sự của sự khủng bố là sợ dân chúng nổi dậy chống lại chính quyền.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Việt Nam hoan nghênh Mỹ 'duy trì hòa bình' ở biển Ðông
Thursday, May 14, 2015 4:51:52 PM

HÀ NỘI (NV) - Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN công khai bày tỏ sự vui mừng khi Hoa Kỳ loan báo hàng loạt dự định,
nhận định liên quan tới việc kiềm chế hoạt động của Trung Quốc tại biển Ðông.

Hôm 13 tháng 5, Hoa Kỳ tiết lộ dự định sẽ điều động phi cơ và chiến hạm đến biển Ðông để tuần tra quanh các bãi đá mà Trung Quốc
vừa bồi đắp thành đảo nhân tạo và đang xây dựng để biến các đảo nhân tạo này thành một chuỗi căn cứ quân sự.

Image
Không ảnh chụp bãi đá Chữ Thập sau khi được Trung Quốc bồi đắp. Những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông
đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. (Hình: CSIS)



Cùng thời điểm này, Ủy Ban Ðối Ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ đã tổ chức một buổi điều trần về việc “bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại biển Hoa Ðông và biển Ðông.”

Tại buổi điều trần đó, ông David Shear, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam và nay là trợ lý đặc trách an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, cảnh báo, sau khi công bố yêu sách về chủ quyền tại biển Ðông, dường như Trung Quốc đang cố gắng kiểm soát toàn bộ biển Ðông thông qua việc bồi đắp, xây dựng, thay đổi nguyên trạng của vùng biển này.

Các động thái của Trung Quốc có thể khiến các quốc gia trong khu vực củng cố khả năng quân sự ở các tiền đồn của họ tại biển Ðông, khiến nguy cơ do tính toán sai lầm, khủng hoảng và chạy đua vũ trang gia tăng.

Theo ghi nhận của Hoa Kỳ, riêng tại quần đảo Trường Sa, số tiền đồn của Việt Nam là 48, của Philippines là 8, của Trung Quốc là 8, của Mã Lai là 5 và của Ðài Loan là 1.

Ông Daniel Russel, trợ lý đặc trách khu vực Ðông Á và Thái Bình Dương của ngoại trưởng Hoa Kỳ, nhấn mạnh, Hoa Kỳ có những lợi ích cần phải bảo vệ và vì vậy cần phải có những giải pháp nhằm bảo đảm rằng, các tranh chấp về chủ quyền tại biển Ðông phải được giải quyết bằng những biện pháp ôn hòa.

Ông Russel nhận định, mức độ căng thẳng tại biển Ðông đang gia tăng. Những hành động gây bất ổn như bồi đắp các bãi đá có thể gây nguy hiểm cho nỗ lực phát triển ổn định và cần phải được giải quyết. Hoa Kỳ cần bảo vệ quyền giải quyết tranh chấp theo luật pháp. Việc thiếp lập quan hệ đối tác với các quốc gia Ðông Nam Á và phối hợp với các đồng minh như Nhật, Úc là cần thiết để tối ưu hóa sự trợ giúp và hoạt động ngoại giao.

Ngay sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng, “Hoan nghênh nỗ lực của cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ nhằm duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở biển Ðông, đặc biệt là ủng hộ vai trò của ASEAN, tuân thủ DOC (Tuyên bố Ứng xử của các bên ở biển Ðông) và những nỗ lực nhằm sớm đạt được COC (Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Ðông).

Ngoài Việt Nam, Philippines cũng đã lên tiếng ủng hộ những dự định và nhận định của Hoa Kỳ. Ông Albert Del Rosario, Ngoại trưởng Philippines, cho biết, quốc gia này mong được Hoa Kỳ trợ giúp nhiều hơn để ngăn chặn việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng biển Ðông, nhằm kiểm soát biển Ðông. Khi phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington D.C, ông Rosario cho rằng, cần phải nhanh chóng làm điều gì đó, nếu không, việc Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông sẽ dẫn đến tình trạng quân sự hóa, đe dọa tự do hàng hải.

Ông Rosario khẳng định, Hoa Kỳ nên hành động nhiều hơn để tăng cường sự hiện diện tại châu Á, kể cả đẩy mạnh quan hệ kinh tế. Theo ngoại trưởng Philippines, việc chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á của Hoa Kỳ “chưa tập trung và chưa đủ mạnh mẽ.”

Theo dự tính, cuối tuần này, ông John Kerry, ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ đến thăm Trung Quốc. Giới thạo tin nhận định, trong chuyến thăm đó, ông Kerry sẽ chuyển cho Trung Quốc những thông điệp nhằm nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ quyết tâm bảo vệ tự do giao thông trên biển và trên không tại biển Ðông. Các nỗ lực thay đổi nguyên trạng biển Ðông của Trung Quốc sẽ không thể đạt đến tác dụng mà Trung Quốc mong muốn là dựa vào đó để hỗ trợ yêu sách đòi chủ quyền cả trên biển lẫn trên không ở khu vực biển Ðông. Ðồng thời những hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại biển Ðông chỉ gây bất ổn trong khu vực và gây phương hại cho quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết họ tin rằng, sau khi gặp ông Kerry, Trung Quốc sẽ “không còn mơ hồ về quyết tâm của Hoa Kỳ.” Người ta dự đoán chuyến thăm Trung Quốc của ông Kerry nhằm bàn thảo về việc “hợp tác chiến lược” sẽ trở thành dịp “phơi bày mâu thuẫn.”

Theo ông Alexander Sullivan, làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu vì An Ninh Mới (CNAS), nếu Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông thì chính sách khu vực của Hoa Kỳ phá sản và khó có thể huy động lực lượng cấp cứu Ðài Loan, Philippines nếu hai đồng minh này bị Trung Quốc sách nhiễu.

Ông Ian Storey, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Châu Á ở Singapore, tin rằng, những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. Vấn đề là Hoa Kỳ sẽ phải đối phó như thế nào sau khi những lời kêu gọi và các khuyến cáo không làm Trung Quốc bận tâm. (G.Ð)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tàu Mỹ tuần tra không phải 'ăn miếng trả miếng' TQ

- Phóng viên VietNamNet trò chuyện với cố vấn chính sách về đại dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jonathan Odom.


Bộ Ngoại giao nói về CNN ghi video TQ cải tạo đảo

Không đề cập về hoạt động của một tàu chiến cụ thể khi được đề nghị nêu mục đích tuần tra trên Biển Đông của tàu chiến Mỹ USS Fort Worth gần đây, ông Jonathan Odom nhấn mạnh rằng Mỹ luôn duy trì sự hiện diện liên tục tại Biển Đông, thường xuyên có các tàu đến "thực thi nhiệm vụ tại các khu vực phù hợp với luật pháp quốc tế".

Biển Đông, Mỹ, TQ, cải tạo đảo, tự do hàng hải, quân đội, quốc phòng, công ước luật biển
Image
"Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện đó, có những lúc tăng lên do những nguyên nhân chúng tôi cho là cần thiết. Cũng có những lúc giảm đi nếu có yêu cầu tăng lên ở những khu vực khác. Nhưng việc tàu Mỹ hoạt động tại Biển Đông không có gì mới, các hoạt động này đã diễn ra nhiều thập kỷ nay" - ông Jonathan Odom khẳng định.

Cố vấn chính sách Bộ Quốc phòng Mỹ lý giải thêm "tiếp cận và hiện diện có quan hệ mật thiết. Duy trì việc tiếp cận là để duy trì sự hiện diện. Duy trì sự hiện diện, chúng tôi cũng duy trì khả năng tiếp cận khu vực này. Và cũng là để đảm bảo với các đồng minh và đối tác trong khu vực này về sự cam kết của Mỹ đối với an ninh của khu vực".

Bảo vệ lợi ích tự do hàng hải

Tàu USS Fort Worth đã đến gần các đảo mà TQ đang cải tạo đến mức nào, và tại sao?

Tôi sẽ không nói về hoạt động của một tàu cụ thể, mà khẳng định các hoạt động của tàu đều tuân thủ luật pháp quốc tế. Các đảo này là nhân tạo, theo UNCLOS là không thể có vùng lãnh hải 12 hải lý, nên tàu Mỹ có thể thực hiện các hoạt động cần thiết tại vùng biển này. Hơn nữa, đây là vùng biển quốc tế mà các tàu đều có quyền đi qua.

Mỹ có thấy cần tăng cường hoạt động này để bắt kịp với tốc độ cải tạo đảo của TQ tại Biển Đông?

Đây không phải là chuyện "ăn miếng trả miếng", mà là Mỹ làm rõ lợi ích của mình ở khu vực này, trong đó có việc đảm bảo tự do hàng hải. Do đó, nếu có một quốc gia gây cản trở tự do hàng hải bằng những hoạt động không phù hợp với Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982, chúng tôi phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích về tự do hàng hải của mình.

Các hoạt động này của Mỹ trên Biển Đông có phải là để kiểm tra và tính toán năng lực của hải quân TQ?

Chính phủ Mỹ không có trách nhiệm kiểm tra TQ. Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của TQ, và hiểu rằng khi một quốc gia phát triển về kinh tế sẽ có nhu cầu đầu tư mạnh hơn vào quốc phòng. Không ai thách thức năng lực của TQ trong việc tăng cường quy mô hay chuyên nghiệp hóa quân đội.

Thậm chí chúng tôi hoan nghênh quân đội TQ càng trở nên chuyên nghiệp càng tốt. Nhưng dù thế nào, chúng tôi vẫn khuyến khích các quốc gia hành động đúng với luật pháp và thông lệ quốc tế.

Không "đánh lẻ" quốc gia nào


Có ý kiến cho rằng việc Mỹ tăng cường các hoạt động bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của mình ở Biển Đông có thể khiến TQ khó chịu?

Trước hết, mục tiêu bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của Mỹ được thực hiện trên toàn cầu, chúng tôi phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền trên biển của nhiều quốc gia nếu thấy không phù hợp với UNCLOS, không chỉ ở riêng châu Á - Thái Bình Dương.

Một nguyên tắc nữa là, Mỹ phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền quá mức của bất cứ quốc gia nào, đồng minh, đối tác, đối thủ cạnh tranh hay kẻ thù tiềm năng. Chúng tôi không "đánh lẻ" quốc gia nào.

Mỹ muốn nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế trên biển. Có những tuyên bố chủ quyền trên biển đã được các quốc gia đưa ra trước khi có UNCLOS 1982. Mỹ sẽ hỗ trợ các quốc gia này trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia của họ sao cho phù hợp với các quy định của UNCLOS, và nhiều quốc gia đã làm như vậy.

Nhưng khi có một quốc gia không xem xét điều chỉnh các tuyên bố chủ quyền trên biển của mình cho phù hợp với UNCLOS, chúng tôi trước hết sẽ phản ứng bằng các biện pháp ngoại giao. Sau đó là tiến hành các biện pháp đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển phù hợp với quy định của UNCLOS.

Các biện pháp này đều được công khai, hàng năm trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ đều công bố danh sách các quốc gia ven biển có những tuyên bố chủ quyền trên biển mà Mỹ đã phản ứng, cùng với các biện pháp mà chúng tôi đã sử dụng để thể hiện phản ứng của mình.

Ngoài UNCLOS, Mỹ cũng khuyến khích các quốc gia ven biển thể hiện các tuyên bố chủ quyền của mình phù hợp với các khuôn khổ luật pháp quốc tế khác, trong đó có Hiến chương LHQ, theo đó các quốc gia cần tìm cách giải quyết các tranh chấp chủ quyền thông qua các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán hoặc cơ quan trọng tài, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Theo ông, đâu là mối đe dọa lớn nhất đối với tình hình tại Biển Đông hiện nay?

Tôi sẽ không xếp hạng nhất nhì, nhưng muốn nhấn mạnh rằng tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng khi một hoặc nhiều quốc gia có sự hiểu nhầm, tính toán sai khiến một tình huống căng thẳng vượt tầm kiểm soát dẫn đến việc sử dụng vũ lực.

Các nước đều có lý do để đưa ra các tuyên bố chủ quyền của mình, và hẳn đều không muốn xung đột, nhưng trên thực địa, khó mà dự đoán các tình huống va chạm giữa các tàu. Vì thế, chúng tôi muốn các quốc gia cố gắng hết sức tránh những hiểu nhầm và tính toán sai, đồng thời tăng cường các thể chế để củng cố lòng tin trong khu vực.

Chung Hoàng (từ Washington DC)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Phó Tổng thống Mỹ cáo buộc Trung Quốc đang thách thức thế giới

Phó Tổng thống Joe Biden trong bài nói chuyện với sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ đã mô tả điều này.


Theo đó hãng theo Reuters dẫn lời ông Biden cho biết: “Mỹ không đứng về bất kỳ nước nào, nhưng chúng ta ủng hộ giải pháp giải quyết tranh chấp một cách công bằng, hòa bình, vì tự do hàng hải. Các nguyên tắc này đang bị các hoạt động của TQ ở Biển Đông thách thức".

Phó Tổng thống Mỹ cáo buộc Trung Quốc đang thách thức thế giới
Máy bay không người lái Global Hawk của Mỹ được điều động đến Biển Đông

Buổi nói chuyện thu hút 1.070 sinh viên, Phó Tổng thống Mỹ mô tả biển tiếp tục là một đấu trường của những xung đột tiềm năng và quan trọng hơn bao giờ hết với an ninh quốc gia.

“Căng thẳng đang lên cao", ông Biden nhấn mạnh. "Nhưng các bạn sẽ ở đó để gìn giữ hòa bình".

Ông nói, rất nhiều sĩ quan hải quân mới sẽ được điều động tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương để góp phần quản lý những thách thức đang trỗi dậy trước khi chúng phát sinh thành xung đột.

Mỹ đã quyết liệt phản đối việc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Hoa Đông, tuy nhiên ông McCain cho rằng chính quyền của ông Obama phải làm nhiều hơn nữa để răn đe Trung Quốc trong việc thiết lập vùng nhận diện phòng không thứ hai.

Trước đó, hôm 21/5, lên tiếng về việc Hải quân TQ nhiều lần cảnh báo máy bay giám sát của Mỹ khi hoạt động ở gần khu vực các bãi ngầm mà TQ đang cải tạo trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Lầu Năm Góc Steven Warren khẳng định, Mỹ không công nhận yêu sách chủ quyền của TQ xung quanh các kết cấu nhân tạo và "chúng tôi sẽ tiếp tục các sứ mệnh tuần tra thông thường của mình"

Cũng liên quan đến hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, nhiều nhà lập pháp của Mỹ đề nghị chính quyền Tổng thống Barack Obama có các biện pháp trừng phạt để ngăn chặn Bắc Kinh.

Thượng nghị sỹ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân lực Thượng viện, đã nhiều lần lên tiếng đề nghị chính quyền của Tổng thống Obama hủy lời mời Trung Quốc tham gia cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới của Mỹ (RIMPAC-2016) ở vùng biển Thái Bình Dương ngoài khơi Honolulu vào mùa Hè năm 2016.


Các chính khách Mỹ lo ngại rằng với cách làm như hiện nay, trong đó có việc ráo riết bồi lấp các đảo nhỏ, xây dựng các tháp phòng không, thậm chí cả đường băng ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ chiếm cứ được vùng biển chiến lược này mà không cần phải phát động một cuộc chiến tranh


Nguồn: Đất Việt
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mỹ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt làm đảo nhân tạo ở Trường Sa
Thursday, May 28, 2015 4:30:49 PM

HONOLULU (NV) .- Hoa Kỳ muốn giải quyết các tranh chấp chủ quyền Biển Đông bằng hòa bình và đòi Trung Quốc chấm dứt ngay
các hoạt động làm các các đảo nhân tạo tại vùng biển Trường Sa.

Image
Bản đồ Trường Sa với các bãi đá ngầm hiện thành đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp. (Hình: WSJ)

“Chúng tôi muốn một giải pháp ôn hòa cho các tranh chấp và chấm dứt ngay và mãi mãi việc bồi đắp làm đảo nhân tạo của bất cứ bên nào. Chúng tôi cũng chống lại bất cứ việc quân sự hóa tại các chỗ đang tranh chấp.” Trong một bài diễn văn đọc tại buổi lễ bàn giao quyền Tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương tổ chức ở Honolulu, Hawaii, hôm Thứ Tư 27 Tháng 5, 2015, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter tuyên bố như vậy.

Chủ đích là gửi một thông điệp tới Trung Quốc, ông Carter nói tiếp rằng “Xin đừng hiểu lầm: Máy bay Hoa Kỳ sẽ vẫn bay, tàu chiến Hoa Kỳ sẽ vẫn di chuyển và hoạt động ở tất cả các nơi luật lệ quốc tế cho phép như chúng tôi vẫn làm quanh thế giới.”

Ông cáo buộc các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông gây bất ổn dựa vào sức mạnh của nước lớn ăn hiếp các nước nhỏ yếu phía nam.

“Với các hành động của họ ở Biển Đông, Trung Quốc đã vượt ra ngoài chuẩn mực quốc tế vốn là nền tảng của cấu trúc an ninh Á Châu – Thái Bình Dương, và khu vực muốn có những đồng thuận thay vì cách hành xử ức hiếp cho vấn đề (Biển Đông) và các tranh chấp lâu dài khác”. Ông Carter nói.

Theo ông Carter, hành động của Trung Quốc trên Biển Đông đang làm cho các nước trong khu vực tập hợp lại với nhau trong tinh thần mới. Cũng vì thế mà họ đòi hỏi Hoa Kỳ gia tăng hành động ở trong vùng Á Châu – Thái Bình Dương.

“Chúng tôi đang đáp ứng yêu cầu đó. Hoa Kỳ vẫn là một cường quốc đóng góp an ninh chính yếu ở khu vực Á Châu – Thái Bình Dương trong những thập niên sắp tới”. Ông Carter nói.

Phản ứng về lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Bắc Kinh vẫn lập lại những lời tuyên bố trước đây là những nước bên ngoài khu vực tranh chấp không có quyền can thiệp và đổ vạ ngược lại là chính nước Mỹ khuấy động bất ổn tại Biển Đông. Đồng thời vẫn ngang ngược tuyên bố nước khác không có quyền đòi Bắc Kinh phải làm gì.

“Trung Quốc có xét đoán riêng của mình, và không có ai khác có quyền đòi Trung Quốc phải hành động thế nào”. Bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói như thế trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm Thứ Năm 28 tháng 5, 2015.

Bà Oánh gọi lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ là “khiêu khích và kích động,” đổ vấy cho những nước khác “khiêu khích nhằm các mục tiêu ích kỷ” khi “thách đố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.”

Hôm Thứ Ba vừa qua, Trung Quốc công bố “Sách trắng Quốc phòng” nói đến việc phát triển lực lượng hải quân xa hơn là biên giới ở ngoài biển và tăng cường hơn nữa sức mạnh trên không để bảo vệ các lợi ích quốc gia. Báo chí bắc Kinh loan tin họ xây dựng thêm 2 hải đăng ở Trường Sa tức những bãi đá ngầm trước kia cướp của Việt Nam nay đã bồi đắp thành các đảo nhân tạo.

Phản ứng lại lời cáo buộc biến các đảo nhân tạo thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa rồi sau này có thể thiết lập các “vùng nhận dạng phòng không” tức cấm máy bay các nước bay ngang khu vực nếu không xin phép, Tân Hoa Xã ngày 27 tháng 5 chống chế rằng các căn cứ quân sự tại các đảo nhân tạo chỉ có tính cách “phòng vệ”.

Tuần trước, tin tức tranh chấp Biển Đông nóng hẳn lên khi đài truyền hình Mỹ CNN đưa tin kèm theo hình ảnh và video clip về cuộc đối đầu giữa máy bay tuần tra P-8 Poseidon của Hoa Kỳ bay trên vùng biển Trường Sa mà Trung Quốc đang xây dựng các căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo. Cùng đồng thời dịp này Hải quân Hoa Kỳ cho hay tàu tác chiến cận duyên cũng đi trên vùng biển quốc tế ở Trường Sa. Cả máy bay cũng như chiến hạm của Hoa Kỳ đều bị Hải quân Trung Quốc lên tiếng xua đuổi.

Hôm Thứ Ba, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phó bản anh ngữ của Nhân Dân nhật báo tại Bắc Kinh đe dọa rằng chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ khó tránh khỏi trên Biển Đông nếu Washington nhất định đòi Bắc Kinh chấm dứt các hành động ngang ngược mà họ đang làm. (TN)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


'Trung Quốc vượt ngoài khuôn khổ luật pháp'


Hồng Nga

tường thuật từ Đối thoại Shangri-La, Singapore
30 tháng 5 2015


Image
Ông Ash Carter có bài phát biểu mở đầu diễn đàn an ninh
Diễn đàn An ninh khu vực Đối thoại Shangri-La lần thứ 14 vừa chính thức bắt đầu tại Singapore.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter có bài phát biểu quan trọng, trong đó ông khẳng định Hoa Kỳ và các nước trong khu vực hết sức quan ngại về kế hoạch xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông.

Ông kêu gọi các quốc gia cùng nỗ lực bảo đảm hoà bình và tự do hàng hải trong khu vực.

Đặc biệt Bộ trưởng Carter cho hay sau Đối thoại Shangri-La ông sẽ đi Việt Nam, nơi ông cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sẽ ký một thoả thuận đầu tiên về thúc đẩy hợp tác quốc phòng một cách thực chất.


Thỏa thuận có tên “Thông cáo chung về viễn cảnh” hợp tác quốc phòng sẽ tạo tiền đề cho các hoạt động hợp tác trong tương lai gần.

Pháo trên Đá Gạc Ma?

Lần đầu tiên người đứng đầu Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc rất nặng nề, rằng nước này đã vượt quá khuôn khổ luật lệ quốc tế.

Ông gọi các hoạt động cải tạo đảo của Bắc Kinh là “chưa từng có tiền lệ”.

Ông nói trước cử tọa của diễn đàn an ninh lớn thuộc loại hàng đầu thế giới: “Với hành động của mình ở Biển Đông, Trung Quốc đã vượt khỏi khuôn khổ luật lệ quốc tế vốn làm nền cho kiến trúc an ninh châu Á-Thái Bình Dương, cũng như quan điểm đồng thuận trong khu vực là nghiêng về ngoại giao mà chống ép buộc bằng sức mạnh”.

Tờ Wall Street Journal hôm 29/5 cho hay máy bay do thám của quân đội Hoa Kỳ phát hiện ra Trung Quốc đã đặt pháo trên một hòn đảo tranh chấp ở Biển Đông mà nước này đang tiến hành cơi nới cải tạo.

Nguồn tin của BBC nói rằng đây chính là đảo Gạc Ma, mà Trung Quốc chiếm của Việt Nam từ năm 1988 sau trận hải chiến đẫm máu làm hơn 60 thủy thủ Việt Nam thiệt mạng.

Đảo này nằm ngay cạnh các đảo mà Việt Nam hiện đang kiểm soát, có nghĩa là đảo của Việt Nam nằm trong tầm đạn pháo của Trung Quốc.

Tuy khả năng tấn công bằng hỏa lực theo các đánh giá là chưa lớn, việc mang pháo binh đặt tại đây mang ý nghĩa quan trọng và chắc chắn sẽ gây quan ngại cho giới chức Hà Nội.

Bộ trưởng Ash Carter cho hay Hạ viện Hoa Kỳ đã chuẩn thuận cấp tới 425 triệu đôla (trong 5 năm) cho Sáng kiến an ninh hàng hải mà nước này vừa đưa ra nhằm giúp các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, nâng cao năng lực tự vệ trên biển.

Ông cũng nhận định “không thể có giải pháp quân sự cho Biển Đông” và kêu gọi các nước đoàn kết để giải quyết căng thẳng một cách hòa bình.

Bộ trưởng Carter tái khẳng định Hoa Kỳ sẽ tiếp tục “bay, đi biển và hoạt động” ở Biển Đông.

Nới lỏng cấm vận vũ khí
Image
Quan điểm này của ông Ash Carter được Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ, Thượng Nghị sỹ John McCain, đồng thuận.

Ông McCain nói tuy đối đầu bao giờ cũng là một khả năng, Trung Quốc “không có lợi ích gì trong việc đối đầu bằng quân sự”.

Ông nói lịch sử cho thấy Trung Quốc luôn kiếm lợi trong các hoàn cảnh căng thẳng nhưng lại khôn khéo tránh đối đầu.

“Có thể sẽ có những tình huống căng thẳng, nhưng nếu các nước trong khu vực đoàn kết với nhau, điều đó sẽ khiến Trung Quốc chùn bước.”


Tình hình cấp bách trên khiến Hoa Kỳ sẽ cần “nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam sớm nhất có thể được”, theo ông thượng nghị sỹ.

Thượng nghị sỹ John McCain nói với các nhà báo tại Đối thoại Shangri-La đang diễn ra ở Singapore rằng đề xuất về nới lỏng cấm vận sẽ được mang ra Thượng viện vào tuần tới và một số loại vũ khí phải được bỏ cấm vận 'càng sớm càng tốt'.

Tuy nhiên, ông McCain cho biết Hoa Kỳ sẽ không bỏ cấm vận đối với các loại vũ khí có thể gây hại cho các cá nhân và bị sử dụng để lạm dụng nhân quyền ở Việt Nam.

“Các vũ khí có thể được cung cấp sẽ chủ yếu mang tính phòng vệ, nâng cao năng lực bảo vệ biển cho Việt Nam trước các thách thức của Trung Quốc.”

Diễn đàn Đối thoại Shangri-La sẽ tiếp tục hai ngày và kết thúc vào Chủ nhật 31/5 với sự tham gia của hơn 450 đại biểu.

Đoàn Việt Nam do Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng, dẫn đầu.
Last edited by nguyenvsau on Mon Jun 01, 2015 2:56 am, edited 1 time in total.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Tại sao Trung Cộng dại dột?

Ngô Nhân Dụng

Vụ phi cơ thám thính P8-A Poseidon của Mỹ bay qua các hòn đảo Trường Sa mà Trung Cộng đang chiếm của nước ta khiến nhiều người đặt câu hỏi: Khi lập các “đảo nhân tạo” để xây dựng căn cứ quân sự, hải đăng, và phi trường, Cộng Sản Trung Quốc khôn hay dại?

Từ năm 2002 Trung Cộng đã thỏa thuận với các nước Ðông Nam Á là không thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo tranh chấp. Ðắp các đảo nhân tạo không những làm trái thỏa thuận này mà còn vi phạm luật pháp quốc tế. Trung Cộng được lợi gì khi thay đổi nguyên trạng?

Về mặt quân sự, mấy phi trường và căn cứ mới chỉ có chút giá trị nếu Trung Cộng đánh nhau với Việt Nam. Nhưng tất cả đều là những căn cứ cố định, phơi bày giữa biển chứ không giống những đoàn quân chui rúc trong rừng; cho nên có thể bị hỏa tiễn Mỹ xóa tan ngay trong một cuộc đụng độ giữa Trung Cộng với Philippines hay Nhật Bản, là những nước được hiệp ước an ninh với Mỹ bảo vệ.

Về mặt kinh tế, Trung Cộng không cần phải có các căn cứ quân sự mới làm gì. Ðường tiếp tế dầu khí và nguyên liệu cho kinh tế Trung Quốc chưa bao giờ bị de dọa bằng vũ lực; mà nếu bị đe dọa thì các căn cứ mới cũng không không ngăn cản được ai. Từ mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn muốn chiếm các mỏ dầu khí trong vùng; các nước khác vẫn phản đối; tình trạng giằng co này sẽ còn kéo dài trong mấy chục năm nữa. Thế cân bằng quân sự của Trung Cộng không mạnh hơn nhờ mấy phi trường mới vội vàng xây lên và sức mạnh pháp lý cũng vậy. Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, Dương Vũ Quân, mới nói rằng họ lập các căn cứ mới trên đảo để giúp cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ môi trường và cứu nạn trên biển. Không ai tin rằng họ chỉ nghĩ đến việc phước thiện như vậy.

Cho nên, Trung Cộng không được lợi gì khi hấp tấp xây dựng các căn cứ mới trên các hải đảo của nước ta, như đảo Gạc Ma, đảo Chữ Thập. Ngược lại, họ tự gây ra nhiều điều bất lợi.

Tạo cơ hội cho phi cơ thám thính Mỹ biểu diễn bay qua các phi trường mới xây là một bất lợi. Khi Trung Cộng bắn các tàu đánh cá người Việt Nam, hay khi đem giàn khoan tới cắm trong hải phận nước ta, chính quyền Mỹ không làm gì để phản đối cả. Ðáng lẽ Bắc Kinh nên tiếp tục khuyến khích chính quyền Mỹ cứ đứng xa mà nhìn như vậy. Một tay cường hào đang lén lút chiếm đất của hàng xóm thì tốt nhất không nên để cho cả làng, cả nước chú ý đến việc mình làm. Gây sự khiến có người lên tiếng cảnh cáo, là dại. Trâng tráo nói các hòn đảo mới chiếm là của mình, rồi bị bác bỏ, càng dại nữa. Người nào đã nói lời bác bỏ đó, họ sẽ không thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu tên cường hào ăn hiếp lối xóm hung bạo hơn. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời Bành Quang Khiêm, giáo sư Học Viện Quân Sự, đả kích Mỹ “từ ngàn dặm bay tới trước cổng nhà, khiến Trung Quốc bắt buộc phải tự vệ!” Nhưng cả thế giới không ai tin luận điệu vừa ăn cướp vừa la làng đó.

Mối bất lợi thứ hai là Trung Cộng đã khiến các nước trong vùng bị đặt trong tình trạng báo động. Họ phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Philippines, Việt Nam, Nhật Bản và Australia. Càng có nhu cầu được cái dù quân sự Mỹ che chở. Sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới, những cuộc tập trận chung được tổ chức nhiều hơn, nhiều mặt hoạt động rộng hơn, so với trước năm 2014. Mỹ chính thức mời Nhật cùng bảo vệ vùng biển Ðông Nam Á. Phi cơ P-3C của không lực Nhật Bản đã bay tới Ðà Nẵng lần thứ hai, sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới.

Tóm lại, trong việc Trung Cộng xây thêm căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo, lợi bất cập hại. Có phải giới lãnh đạo Bắc Kinh đã hành động dại dột hay không?

Phải giả thiết rằng họ không dại dột. Họ đầy đủ thông tin và đủ trí thông minh, nếu không hơn thì cũng không kém gì chúng ta. Họ phải biết những hành động gây sự mới này chẳng được lợi bao nhiêu trong khi gây nhiều hậu quả bất lợi.

Cho nên chỉ có thể giải thích những hành động “dại dột” của Trung Cộng nếu công nhận họ có những mục tiêu đặc biệt mà người ngoài không thấy.

Việc xây dựng các căn cứ quân vừa qua của Trung Cộng có thể nhắm một mục tiêu nhỏ hơn các suy nghĩ của mọi người. Họ chỉ nhắm vào một nước Việt Nam. Họ chấp nhận những phản ứng bất lợi từ nước Mỹ và Philippines, Nhật Bản, trong một thời gian ngắn. Sau khi mục tiêu nhắm riêng vào Việt Nam đã đạt được, Bắc Kinh vẫn có thể sẽ tỏ thái độ hòa hoãn, gây thiện cảm với các nước này bằng cách khác, để xóa bỏ những phản ứng xấu họ mới gây ra. Bắc Kinh chỉ cần ngưng các lời lẽ hiếu chiến đối với Tokyo và Manilla trong nửa năm thì cả chính quyền Mỹ cũng được thoa dịu, coi như Trung Cộng đã lùi bước.

Nhưng riêng với Việt Nam thì khác. Trung Cộng đã củng cố những hòn đảo chiếm được của nước ta ở Hoàng Sa và Trường Sa. Họ muốn tình trạng đó càng ngày càng được phơi bày trước thế giới một cách rõ ràng, cụ thể, hiển nhiên hơn. Họ muốn đặt dân tộc Việt Nam trước một “sự đã rồi” rõ ràng, chặt chẽ, hơn, khó tháo gỡ hơn. Trung Cộng sẽ phân trần với cả thế giới rằng họ không có ý khiêu khích Mỹ hay Nhật, không muốn “thay đổi nguyên trạng” trong cả vùng Ðông Nam Á,” liên can đến các nước khác. Họ sẽ chứng tỏ với mọi người rằng họ chỉ muốn “củng cố nguyên trạng” tại các hòn đảo đã cướp được của Việt Nam, trong viễn tượng một tương lai lâu dài và không thể đảo ngược lại.

Ðể biện minh cho hành động này, Trung Cộng chỉ cần trưng ra một lần nữa những thứ như bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958, các sách giáo khoa và bản đồ do Cộng Sản Việt Nam ấn hành từng công nhận các quần đảo trên thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam không dám có một hành động nào mạnh hơn những lời phản đối chiếu lệ như trước đây, thì tình trạng “ván đã đóng thuyền” càng ngày càng khó đảo ngược. Nước Việt Nam sẽ tiếp tục bị cô lập. Các nước khác sẽ không có lý do nào, và cũng chẳng có quyền lợi nào, để phản đối mối quan hệ bang giao giữa Trung Cộng với Việt Nam, trong khi hai Ðảng Cộng Sản vẫn song ca bài Bốn Tốt và 16 Chữ Vàng. Cuối cùng, việc xây dựng các căn cứ và phi trường mới chỉ xác nhận cụ thể hành động bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.

Tiến trình chứng tỏ “ván đã đóng thuyền” này đã được tiến hành từ năm 1974 đến nay. Câu hỏi còn lại là tại sao giới lãnh đạo Bắc Kinh lại thực hiện các công trình mới một cách gấp rút trong thời gian chưa đầy một năm qua? Tại sao họ không tiếp tục đi từng bước nhỏ như trong bốn chục năm vẫn làm, qua những việc thành lập quận Tam Sa; việc đánh, giết các ngư dân người Việt; đưa giàn khoan lớn vào hải phận Việt Nam; hoặc lâu lâu ban hành các lệnh cấm tàu đánh cá Việt Nam hoạt động?

Chỉ có một lý do, là Bắc Kinh lo ngại Việt Nam sẽ thay đổi; và thay đổi nhanh chóng trước khi họ hoàn tất các biện pháp củng cố cần thiết. Xây dựng các căn cứ quân sự mới là một việc cụ thể, cần thiết để xác nhận chủ quyền của Trung Cộng.

Nhưng Trung Cộng có lo ngại chính Việt Cộng sẽ thay đổi hay không? Ðiều này khó xảy ra. Ðạo quân tình báo Trung Cộng vẫn nắm chắc Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong tay. Giới lãnh đạo Việt Cộng vẫn tiếp tục để cho Trung Cộng thao túng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, không một cá nhân nào trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Cộng đủ sức thay đổi.

Cho nên, mối lo thực của Trung Cộng là cả chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã và sụp đổ trước khi Trung Cộng củng cố vững chắc việc mua đứt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tình báo của Bắc Kinh cũng biết chế độ Cộng Sản Việt Nam đang mong manh. Bất cứ một chính quyền mới nào ở Việt Nam mà không thuộc Ðảng Cộng Sản cũng có thể thay đổi quan điểm đối ngoại. Ðặc biệt là trong mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, một chính quyền không Cộng Sản có thể xóa bỏ trên danh nghĩa tất cả các cam kết đối với Trung Cộng, trong đó có lá thư của Phạm Văn Ðồng. Khi đó, tất cả công trình của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa thực hiện ở Biển Ðông sẽ bị thế giới nhìn bằng con mắt khác.

Tóm lại, Trung Cộng không dại dột. Họ chỉ lo xa, tính kỹ, “tiên hạ thủ vi cường” khi lo dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ, không biết lúc nào!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đọc diễn văn tại Đối thoại Shangri-La

Image
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đọc diễn văn tại hội nghị về hội nghị Đối thoại Shangri-La 30/5/15
Steve Herman


Trung Quốc kịch liệt bác bỏ chỉ trích của Hoa Kỳ về hành động lắp biển chiếm đất ở Biển Đông.

Đô đốc Trung Quốc Tôn Kiến Quốc nói trước cử toạ hội nghị thượng đỉnh an ninh ở Singapore, hôm Chủ nhật, rằng việc xây dựng của Trung Quốc “chính đáng, hợp pháp và hợp lý,’ và các dự án nhằm mục tiêu cung cấp các “dịch vụ công ích quốc tế.”

Phó Tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc khẳng định “Không có thay đổi trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như không có sự thay đổi lập trường của Trung Quốc về giải pháp hòa bình đối với các vụ tranh chấp liên hệ qua thương thảo và tham vấn.”

Viên đô đốc đã bị đặt câu hỏi dồn dập bởi cử tọa đầy hoài nghi, trong đó có giới chức quân sự, các nhà ngoại giao, các học giả và các ký giả. Nhưng viên chức quân đội cao cấp này của Trung Quốc khư khư sử dụng văn bản đã soạn sẵn mà không đưa ra giải thích nào làm sáng tỏ vấn đề.

Bà Bonnie Glaser cố vấn cao cấp về châu Á của trung tâm nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế, nói với phóng viên của VOA:
“Chỉ đơn giản đọc các câu soạn sẵn trả lời các câu hỏi, cho thấy theo tôi nghĩ là ngang nhiên gạt bỏ các mối quan ngại của những thành viên cộng đồng quốc tế tại đây bày tỏ. Và tôi nghĩ quả sẽ có sự thất vọng lớn lao.”

Bà nói thêm rằng việc thiếu các câu trả lời từ ông Tôn làm tăng thêm mức độ lo ngại và dẫn đến kết luận rằng Trung Quốc có ý định quân sự hoá các đảo đang tranh chấp mà họ đang xây dựng

Viên đô đốc Trung Quốc đưa ra các tuyên bố một ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter chỉ trích thẳng thừng Trung Quốc hành động “ra ngoài” các chuẩn mực quốc tế giữa lúc hoạt động cải tạo đảo ở tốc độ chưa từng có, và ông nói rằng “chưa rõ Trung Quốc sẽ đi xa đến mức nào.”

Trong bài diễn văn đọc tại phiên họp Đối thoại Shangri-La hôm Thứ bảy Bộ trưởng Carter nói các hành động này đang gia tăng “nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột.

Ông nêu lên sự kiện Trung Quốc đã cải tạo trên 800 hecta, nhiều hơn tất cả các nước tuyên bố chủ quyền gộp lại và đã làm công việc này chỉ trong 18 tháng qua. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ nói:

“Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền nên ngưng ngay tức khắc và lâu dài hoạt động cải tạo đất. Chúng tôi phản đối bất cứ hành động quân sự hóa thêm nữa các địa hình trong vòng tranh chấp. Tất cả chúng ta đều biết không có giải pháp quân sự cho cuộc tranh chấp Biển Đông.”

Các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất cứ mưu toan nào của Trung Quốc tuyên bố lãnh hải vòng quanh các đảo, các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp. Ông nói:

“Điều không nên nhầm lẫn là: Hoa Kỳ sẽ bay qua, qua lại bằng tàu và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như lực lượng Hoa Kỳ vẫn làm trên khắp thế giới.”

Ông nói thêm:

“Xét cho cùng thì việc biến một bãi đá ngầm thành một sân bay, đơn thuần là không mang lại các quyền hạn thuộc chủ quyền hay hạn chế việc cho phép qua lại vùng biển và không phận quốc tế.”

Hồi đầu tháng này, quân đội Trung Quốc đã ra lệnh cho một máy bay trinh sát của Hải quân Hoa Kỳ rời khỏi khu vực đảo Trường Sa, nhưng viên phi công không quan tâm đến đòi hỏi này.

Kế hoạch hàng hải

Trong bài diễn văn, Bộ trưởng Carter cũng loan báo một chương trình hàng hải mới cho vùng, cung cấp ngân khoản 425 triệu đôla nhằm giúp các quốc gia Đông Nam Á nâng cao khả năng hải quân và bảo vệ bờ biển.

Tại cuộc họp báo ngay tại chỗ tiếp theo sau bài diễn văn của Bộ trưởng Carter, một phái đoàn gồm đại biểu của cả 2 đảng quốc hội Hoa Kỳ đang công du trong vùng hỗ trợ lời của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ.

Thượng nghị sĩ Cộng hoà tiểu bang Arizona John McCain, Chủ tịch Uỷ ban Quân vụ Thượng viện, nhận định:

“Chúng tôi tin rằng những điều Bộ trưởng Carter nói hôm nay rất quan trọng. Giờ đây chúng tôi muốn thấy những lời nói đó được diễn dịch thành hành động.”

Thượng nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ Mazie Hirono của bang Hawaii, nơi Bộ Tư lệnh Thái Bình dương đặt bản doanh, tuyên bố:

“Đất nước chúng ta không lui bước.”

Đối thoại Shangri-La diễn ra chỉ mấy ngày sau khi Trung Quốc công bố một bạch thư quốc phòng đầy tự tin.

Các nhà phân tích diễn giải văn kiện Trung Quốc công bố hôm Thứ ba, như một cảnh báo mạnh mẽ cho các nước láng giềng châu Á của Bắc Kinh và cho Washington về “sự can thiệp năng động” của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông, nơi Trung Quốc ráo riết xây dựng các đảo.

Giới chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ xác nhận, hôm Thứ sáu, rằng các hình ảnh giám sát gần đây của Hoa Kỳ đã phát hiện võ khí của quân đội Trung Quốc trên một trong các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trong quần đảo Trường Sa.

Các khẩu trọng pháo

Mặc dù điều này không đề ra mối đe doạ quân sự nào cho tàu bè hay máy bay của Hoa Kỳ trong vùng, các khẩu trọng pháo cơ giới được báo cáo nằm trong tầm đạn một hòn đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, trên đó Việt Nam đã bố trí các loại võ khí khác nhau.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, nước đang tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ với Trung Quốc trong vùng biển Hoa Đông, kêu gọi Bắc Kinh “hành xử như một cường quốc có trách nhiệm: và đừng ngăn trở Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani nói, Trung Quốc nên có “lời nói đi đôi với việc làm.”

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, trong bài diễn văn đọc vào tối Thứ sáu trước cử toạ trên 20 Bộ trưởng Quốc phòng, kêu gọi Trung Quốc và các nước thành viên khối ASEAN “phá vỡ vòng luẩn quẩn” bằng cách tôn trọng luật quốc tế và ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử.

Các đại biểu cũng đã nghe lời phát biểu của Đô Đốc Harry Harris, tân Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái bình dương Hoa Kỳ, có trách nhiệm trong một khu vực gồm nửa bề mặt Trái Đất.

Vạn lý Trường thành bằng cát

Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ đã khiến Trung Quốc bất bình qua việc đề cập các dự án cải tạo đất rộng lớn của Trung Quốc như “Vạn lý Trường thành bằng Cát” – ông muốn nói đến bức tường thành bảo vệ vùng biên cương của đế chế Trung quốc thời Tần Thủy Hoàng. Ông nói:

“Tôi không nghĩ rằng tôi đã phản ứng thái quá,” Đô đốc Harris đáp lại câu hỏi của phái đoàn Trung Quốc về việc ông sử dụng thuật ngữ này.

Mặc dù có những lời qua tiếng lại đôi khi thẳng thừng trong bối cảnh căng thẳng trên biển gia tăng, các đại biểu kỳ cựu tại hội nghị thường niên Đối thoại Shangri-La cho rằng âm điệu ít thù nghịch hơn những năm trước.

Sự kiện diễn ra bên ngoài hội nghị

Có một vài phiền hà xảy ra bên ngoài địa điểm tổ chức hội nghị.

Sáng sớm Chủ nhật, cảnh sát đã bắn chết một người và bắt giữ 2 người, khi một chiếc xe hơi sedan màu đỏ, mà những người này đi trên đó, đâm qua rào chắn an ninh gần Khách sạn Shangri-La.

Chiếc xe hơi trước đó đã bị chận lại tại một trạm kiểm soát được dựng lên giữ an ninh cho hội nghị, nhưng khi được yêu cầu mở cốp xe, người lái xe đã tăng tốc độ tìm cách chạy trốn, theo lời cảnh sát Singapore.

Cảnh sát nổ súng vào chiếc xe hơi, và chiếc xe dừng lại ở một con đường gần khách sạn sang trọng này.

Một thông báo của cảnh sát cho biết họ tìm thấy ma tuý trên người một trong 2 người bị bắt.

Các giới chức trong phái đoàn của ông Carter cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ có mặt trong khách sạn vào lúc sự kiện này diễn ra, nhưng phái đoàn không hay biết sự việc diễn ra cho đến nhiều giờ sau đó họ mới biết được qua tin tức.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã rời Singapore sau đó vào buổi sáng để đi thăm Việt Nam.

Ra vào khách sạn đã bị hạn chế trong nhiều giờ đồng hồ, gây trì hoãn việc đi đến của nhiều đại biểu và ký giả tại địa điểm hội nghị, tuy nhiên phiên họp toàn thể hội nghị vào sáng Chủ nhật đã bắt đầu đúng giờ, với sự tham dự của Đô đốc Tôn cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Đức và New Zealand.
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »


Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ để làm gì?

Nguyễn Hưng Quốc

Tin tức từ trong nước cho biết Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ với lời hứa hẹn là sẽ được Tổng thống Barack Obama đón tiếp theo “nghi thức cao nhất” dành cho các nguyên thủ. Nếu dự định ấy được thực hiện, ông Trọng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên của Việt Nam sang Mỹ. Chúng ta không thể không thắc mắc: ông Trọng sang Mỹ để làm gì?

Chưa có chi tiết nào về chuyến đi được công bố, tuy nhiên, điều đầu tiên có thể khẳng định một cách chắc chắn là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ không thể ký kết bất cứ một hiệp ước quan trọng nào với Mỹ. Đó là nguyên tắc hành chánh. Trong cấu trúc chính trị của Việt Nam, với tư cách tổng bí thư, ông Trọng là người có quyền lực cao nhất nước, nhưng dưới mắt Tây phương, ông lại chỉ là lãnh tụ của một đảng chứ không phải lãnh tụ của quốc gia (như trường hợp của chủ tịch nước hay thủ tướng), do đó, về phương diện ngoại giao, ông không phải là đối tác thích ứng của tổng thống Mỹ.

Huống gì ông Nguyễn Phú Trọng lại có hai thế yếu để có thể hoạch định chiến lược chung với Mỹ. Thứ nhất, ai cũng biết ông Trọng không phải là một tổng bí thư mạnh và có ảnh hưởng quyết định về chính sách trong đảng. Qua những sự thất bại của ông trong nỗ lực kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng cũng như đưa Nguyễn Bá Thanh vào Bộ Chính trị trước đây, ai cũng thấy rõ tầm ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng trong Ban Chấp hành Trung ương đảng rất yếu. Thứ hai, sinh năm 1944, trong kỳ đại hội đảng vào đầu năm 2016 sắp tới, ông đã 71 tuổi, lứa tuổi bị buộc phải về hưu. Như vậy, ông chỉ còn tại vị được chưa tới một năm nữa thôi. Đó là một thời khoảng ngắn ngủi không thích hợp cho bất cứ một cam kết hoặc một chính sách nào lâu dài. Mỹ chắc chắn biết rõ điều đó: Trong tiếng Anh, người ta hay gọi những lãnh tụ sắp hết nhiệm kỳ như vậy là “vịt què” (lame duck).

Không có một hiệp ước hay một cam kết dài hạn nào, chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, theo tôi, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Hoàn toàn có tính chất tượng trưng.

Tượng trưng, về phía Việt Nam, nằm ở chỗ: họ muốn khẳng định thiện chí và nhiệt tình thắt chặt bang giao với Mỹ để cân bằng cán cân quyền lực với Trung Quốc. Điều ai cũng biết là lâu nay Trung Quốc tìm mọi cách để lấn hiếp Việt Nam. Với con đường lưỡi bò của Trung Quốc, nếu thành hiện thực, nước bị thiệt thòi lớn nhất là Việt Nam. Với việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa của Trung Quốc, khi hoàn tất, nước bị đe doạ nhiều nhất cũng là Việt Nam. Với cả hai, Việt Nam đều bị bất lực. Nhỏ và yếu, Việt Nam không có cách gì để phòng vệ một cách hiệu quả cả. Dù muốn hay không, Việt Nam cũng phải tìm sự hỗ trợ từ bên ngoài. Trong mấy năm vừa rồi, Việt Nam chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm đồng minh. Nhưng đồng minh duy nhất có thể giúp được Việt Nam chính là Mỹ. Không thể có ai khác. Qua chuyến đi Mỹ, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ muốn gửi một thông điệp: cả đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam đều cần Mỹ và đều đặt hy vọng vào quan hệ đồng minh ấy.

Về phía Mỹ, việc tiếp đón ông Nguyễn Phú Trọng cũng có tính chất tượng trưng: Họ muốn gửi một thông điệp là họ muốn và sẵn sàng liên kết với Việt Nam để bảo vệ an ninh trên Biển Đông. Họ không chấp nhận những hành vi xâm chiếm cũng như những thái độ gây hấn của Trung Quốc. Với họ, Biển Đông là một con đường hàng hải tối quan trọng không thể để mặc cho Trung Quốc tự tung tự tác. Nhưng nói đến Biển Đông là nói đến Việt Nam, nước có chủ quyền trên nhiều hòn đảo ở Trường Sa nhất và cũng là nước có lãnh hải chung với con đường lưỡi bò của Trung Quốc nhiều nhất. Có thể nói tất cả các nỗ lực bảo vệ nguyên trạng trên Biển Đông của Mỹ sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu Mỹ không lôi cuốn được sự tham dự của Việt Nam, quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng nhất trên Biển Đông.

Tuy nhiên, việc đón tiếp Nguyễn Phú Trọng với những “nghi thức cao nhất” dành cho các nguyên thủ quốc gia của Mỹ lại mang một ý nghĩa khác nữa: Mỹ thừa nhận tư cách nguyên thủ của ông Trọng, và qua đó, thừa nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản tại Việt Nam. Thật ra, điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Lâu nay, Mỹ vẫn chủ trương, một mặt, đòi hỏi các quốc gia phải tôn trọng nhân quyền, nhưng mặt khác, vẫn tôn trọng các cơ cấu quyền lực ở các quốc gia khác. Riêng với Việt Nam, Mỹ vẫn thường xuyên lên án các hành động trấn áp dân chúng của cộng sản nhưng chưa bao giờ kêu gọi lật đổ chính quyền cộng sản để xây dựng một chế độ khác. Với họ, việc thay đổi chế độ là công việc trong nội bộ nước ấy.

Không đáng ngạc nhiên, nhưng hai sự thừa nhận nêu trên cũng là một món quà lớn đối với đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam: Nó làm tăng thêm tính chính đáng của đảng cầm quyền.

Dĩ nhiên, trong quan hệ quốc tế, không có món quà nào là trọn vẹn. Chắc chắn chính phủ Mỹ sẽ đặt ra một số điều kiện cụ thể cho hành động “ban phước lành” của họ. Những điều kiện ấy chắc chắn thuộc hai loại: Một, Việt Nam phải có lập trường rõ ràng và dứt khoát trong việc bảo vệ Trường Sa cũng như Biển Đông trước các hành động xâm lấn của Trung Quốc; và hai, Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và chấp nhận dần dần con đường dân chủ hoá.

Chưa biết Việt Nam sẽ đáp ứng thế nào trước hai loại điều kiện ấy. Chờ xem.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tổng thống Philippines lại so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã

Image
Tổng thống Philippines Benigno Aquino phát biểu tại Thượng viện Nhật Bản ở Tokyo, ngày 03/06/2015.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino hôm nay 03/06/2015 tại Tokyo lại so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã, khi tố cáo tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh trong khu vực. Lập tức chính quyền Trung Quốc nổi trận lôi đình, gọi ông Aquino là « chính khách nghiệp dư, không biết gì về lịch sử và thực tế ».

« Nếu có một khoảng trống, nếu siêu cường Hoa Kỳ không quan tâm đến tình hình châu Á, thì có lẽ không còn lực cản nào cho tham vọng của các nước khác ». Ông Aquino cảnh báo như trên, ám chỉ Trung Quốc, trong một diễn đàn doanh nhân Nhật Bản.

Tự giới thiệu như « một sinh viên nghiệp dư về lịch sử », ông Aquino nói tiếp : « Nhưng nếu có ai đó bảo Hitler hoặc nước Đức nên ngưng lại, thì nhân loại đã tránh được Đệ nhị Thế chiến ».

Đây không phải là lần đầu tiên Tổng thống Philippines so sánh Trung Quốc với Đức quốc xã của Hitler. Trong bài trả lời phỏng vấn New York Times tháng 2/2014, ông đã so sánh chính sách nhân nhượng với Hitler của châu Âu trước năm 1939 và sự bất lực của cộng đồng quốc tế, theo ông, trong việc kiềm chế tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Lập tức chính quyền Trung Quốc nổi trận lôi đình, gọi ông Aquino là « chính khách nghiệp dư, không biết gì về lịch sử và thực tế ».

Tổng thống Aquino đến Tokyo từ hôm qua trong chuyến công du bốn ngày nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Nhật Bản trước yêu sách trên biển của Trung Quốc, và thu hút đầu tư Nhật vào Philippines. Ngày mai Thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ hội đàm với ông.

Hôm nay ông Benigno Aquino được Hoàng đế Akihito tiếp kiến, và sẽ đọc diễn văn trước Quốc hội Nhật Bản. Nhân dịp này Tổng thống Philippines sẽ bày tỏ quan ngại trước việc Bắc Kinh xây các đảo nhân tạo tại Biển Đông.

Trung Quốc ồ ạt bồi đắp, cải tạo các rạn san hô thành hải cảng và nhiều cơ sở hạ tầng khác nhau, thậm chí còn đưa pháo đến một trong các đảo – theo phát hiện của Mỹ. Lầu Năm Góc ước tính việc bồi đắp này đã đưa diện tích chiếm đóng lên gấp 400 lần, và 3/4 trong số 800 hecta Bắc Kinh lấn ra được là từ tháng 1/2015. Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói rằng người Mỹ đã « bóp méo sự kiện ».

Nhật Bản và Philippines gần đây đã tập trận chung tại Biển Đông. Cuộc tập trận hải quân lịch sử giữa hai quốc gia thù địch trong trận chiến Thái Bình Dương, diễn ra ở cách một đảo nhỏ – do Trung Quốc kiểm soát nhưng Philippines đòi chủ quyền – không đầy 300 km
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Sương Mù Biển Đông
Trần Khải

Như dường Biển Đông đang bị vây khắp sương mù... Lối ra nào cho các nước nhỏ khi Trung Quốc ngày càng hung hăng?

Chính phủ Đài Loan tin rằng họ có thể đưa một giải pháp cho Biển Đông... Có phaỉ xứ Đài đang nằm mơ? Hay chỉ giả vờ nằm mơ để Biển Đông cho Tàu Hoa Lục ôm hết?

Bản tin từ thông tấn RTI của Đài Loan cho biết:

“Ngày 3/6 Tổng thống Mã Anh Cửu mở hội nghị trực tuyến với trường đại học Stanford về đề tài “ Dân chủ – Trung tâm pháp chế và phát triển”. Thomas Fungar - Cựu chủ nhiệm Ủy ban Tình báo quốc gia Mỹ đưa ra câu hỏi: “Trước kia Tổng thống Mã Anh Cửu đưa ra “Xướng nghị hòa bình Nam hải biển Đông”, trong tương lai làm như thế nào để thực hiện thiết thực đề xướng này?”.

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, sau khi ông đưa ra “ Xướng nghị hòa bình Đông hải”, Đài Loan và Nhật đã ký kết Thỏa thuận Ngư nghiệp, dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, kiến lập phương pháp khả thi để giải quyết tranh chấp trong khu vực. Còn về Nam hải, do diện tích hải vực nơi đây rộng lớn nên vấn đề cũng phức tạp hơn, Tổng thống cho biết “Xướng nghị hoà bình Đông hải” là 1 thiết kế cho 3 bên hiệp thương, tiếp theo ông sẽ đưa ra “Bản lộ trình” của “Xướng nghị hòa bình Nam hải”. Tổng thống Mã Anh Cửu nói: “Xướng nghị hoà bình Nam hải ngoài khái niệm hòa bình, giảm căng thẳng và ngăn chặn hành vi khuyếch trương đơn phương của 1 nước nào đó ra, chúng tôi còn có “Bản lộ trình” mà sắp tới đây tôi sẽ đưa ra. Tôi thừa nhận, tình thế ở Nam hải càng phức tạp, hải vực càng rộng thì chúng ta càng phải có lòng nhẫn nại hơn.”

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, hiện tại Đài Loan đang hiệp thương với Philippines, hai bên cũng đã đạt được điểm chung, ông hy vọng sắp tới có thể dùng phương thức như thế này để giải quyết tranh chấp tại Nam hải.

Tổng thống Mã Anh Cửu cho biết, chủ quyền không thể chia cắt, tài nguyên có thể cùng hưởng và đây là phương thức duy nhất để làm giảm sự căng thẳng trong khu vực...”(ngưng trích)

Hóa ra Đài Loan đòi chia tài nguyên Biển Đông... Có phải mưu kế này là do Bắc Kinh nhờ Đài Bắc đưa ra? Như thế mơ1ới thấy, không có cuộc chiến quốc-cộng giữa mấy anh Tàu... Họ vẫn giúp nhau thôn tính Biển Đông.

Trong khi đó, báo Giáo Dục VN có bản tin về "Nga-Trung sẽ tập trận ở Biển Đông, Moscow muốn có đi có lại"...

Bản tin GDVN nói:

“Đa Chiều ngày 3/6 bình luận, việc Nga và Trung Quốc có kế hoạch tập trận hải quân chung trên Biển Đông năm 2016 cho thấy Vladimir Putin muốn "có đi có lại" với Trung Nam Hải. Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov khi tham dự Đối thoại Shangri-la tại Singapore đã công bố năm tới Nga sẽ tập trận chung hải quân ở Biển Đông với các đối tác, tuy nhiên ngoài Trung Quốc ra không thấy ông Anatoly Antonov đề cập đến đối tác cụ thể nào khác...

...Truyền thông nhà nước Nga cho biết, cuộc tập trận chung trên Biển Đông sẽ diễn ra tháng 5 năm tới. Cục diện Biển Đông đang biến đổi nhanh chóng, đặc biệt kể từ khi Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa và Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).

Tập trận chung Trung - Nga ở Biển Đông có khả năng sẽ chứng minh rằng các cơ sở hạ tầng, trang thiết bị quân sự Trung Quốc cài đặt (bất hợp pháp) trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa là "hữu dụng", bao gồm sân bay và các trạm radar.

Theo Đa Chiều, điều đáng nói là hiện tại Nga cũng đang duy trì quan hệ mật thiết với một số nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam. Nga là nhà cung cấp vũ khí quan trọng của Việt Nam, trong khi đó Trung Quốc lại đang tranh chấp lãnh thổ, hàng hải với Việt nam, Philippine, Malaysia và Brunei.”(ngưng trích)

Trong khi đó, báo Một Thế Giới dẫn báo Mỹ The Diplomat rằng Nga-Tàu tập trậnc hỉ là hình thức:

“...cuộc tập trận của Trung Quốc chỉ mang ý nghĩa hình thức. Nga và Trung Quốc không có quan hệ đồng minh, thậm chí cả một hiệp ước hỗ trợ chung khi có chiến sự cũng không có. Nga hoàn toàn không có lý do để hỗ trợ Trung Quốc trong các cuộc xung đột của nước này. Nói cách khác, khi có biến xảy ra Trung Quốc sẽ phải đứng một mình, bất kể Nga và Trung Quốc có tiến hành bao nhiêu cuộc tập trận chung chăng nữa.”(ngưng trích)

Trong khi đó, bản tin VOA ghi rằng Trung Quốc tức giận vì Nga bán tên lửa Klub cho Việt Nam...

Bản tin VOA kể:

“Một trang mạng chuyên về chiến lược quốc phòng có trụ sở ở Mỹ đăng một bài viết hôm 31 tháng 5, nói rằng Trung Quốc đã chính thức khiếu nại với Nga, Việt Nam và Hoa Kỳ, sau khi Moscow đồng ý bán 50 tên lửa Klub trang bị trên tàu ngầm cho Hà Nội, theo tường thuật của tờ Hoàn Cầu Thời báo của nhà nước Trung Quốc.

Phúc trình về chiến lược nói rằng mặc dù Nga và Việt Nam đã cố tình làm giảm nhẹ tầm quan trọng của vấn đề, nhưng tới nay 28 tên lửa Klub đã được giao cho Việt Nam.

Trung Quốc đặc biệt quan tâm bởi vì tên lửa Klub có thể được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên bộ...”(ngưng trích)

Trong khi đó, bản tin RFA cho biết ngư dân bị TQ cấm biển làm thiệt hại lớn, và tự nhiên là hy vọng nước Mỹ sẽ giúp VN...

RFA viết:

“...khi quân đội Mỹ vào cuộc nhằm ổn định tình hình biển Đông, người dân Đà Nẵng, đặc biệt là ngư dân hết sức vui mừng vì tin này. Có vẻ như người Việt Nam tin vào nước Mỹ, tin vào những sách lược mang tính thực dụng nhưng rất sòng phẵng của họ hơn là một thứ lý tưởng ngoài miệng nhưng lại rút ruột, chơi xỏ của nhà nước Trung Quốc.

Chị Kim Kha, chủ một đoàn tàu đánh cá ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, chia sẻ: “Ui chui cha, vô vận mà biết đường nào, biển rộng mênh mông đi quanh hết trơn thế làm sao biết đường. Như thường thì mình đi từ tháng giêng đến tháng chín, chủ yếu là đi cá ngừ, chuộng cá ngừ, nhưng năm ni không biết sao không có cá ngừ, mất mùa… Nghề tụi em chủ yếu là đánh cá ngừ nhưng giờ không đánh được nữa!”(hết trích)

Khó là như thế...Dân mong muốn Mỹ vào giúp VN. nhưng CSVN không muốn, Đảng CS chỉ muốn giấy đôla xanh thôi...
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Trung Quốc và tương lai địa chính trị của châu Á

Mohan Malik

Giáo sư Mohan Malik cho rằng đây là thập kỷ của những chuyển giao quyền lực ở Châu Á, trong đó Trung Quốc đóng vai trò quan trọng quyết định cục diện ở khu vực.

Hội nghị Shangri-la gần đây ở Singapore đã chứng kiến những đối đáp có phần gay gắt giữa Trung Quốc và các bên tham dự khác. Việc Bắc Kinh triển khai giàn khoan cùng hơn 80 tàu bảo vệ ra Biển Đông, chỉ bốn ngày sau “chuyến thăm mang tính trấn an” của Tổng thống Mỹ Barack Obama tới các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc vào tháng 4 năm 2014, được xem là hành động khiêu khích có tính toán.

Tuy nhiên, động thái trên của Trung Quốc phản ánh đúng mô hình thúc đẩy yêu sách ở khu vực ngoại vi mà nước này đang áp dụng bằng hăm dọa, ép buộc, và đe dọa sử dụng vũ lực thông qua “các hoạt động bán quân sự chưa tới mức chiến tranh” (Paramilitary operations short of war – POSOW). Giàn khoan của Trung Quốc giống như một thông điệp chính trị thể hiện quyết tâm cũng như khả năng của nước này trong việc kiểm soát và khai thác Biển Đông đồng thời phủ nhận các bên yêu sách khác – và nó được gửi tới Washington cũng như Tokyo, Hà Nội, Manila, Jakarta, và New Delhi.

Cùng với việc thăm dò dầu khí ở vùng biển tranh chấp, giàn khoan trị giá 1 tỷ USD này cũng đã khoan một lỗ lớn vào “chiến lược xoay trục” của Washington bởi nó ảnh hưởng tới uy tín của Washington với vai trò điểm tựa an ninh của khu vực hay người bảo vệ an ninh. Về cơ bản, đây giống như một sự mỉa mai cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực trong bối cảnh Trung Quốc sử dụng chiến thuật cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng. Bắc Kinh cho rằng các láng giềng nhỏ bé và nước Mỹ sẽ không sử dụng vũ lực để ngăn cản việc Trung Quốc nỗ lực biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Trung Quốc hiện đang lặng lẽ, kiên nhẫn triển khai từng bước và cuối cùng tập hợp tất cả lại “khi điều kiện chín muồi.”

Nguyên nhân chủ yếu cho việc Trung Quốc hành xử quyết đoán trên biển là sự dịch chuyển mang tính kiến tạo trong môi trường chiến lược của Bắc Kinh, diễn ra sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa nào ở biên giới phía bắc và chính diễn biến địa chính trị quan trọng này lý giải cho động thái bành trướng quân sự của Trung Quốc ở bờ biển phía đông và vùng biên giới phía tây nam. Chúng ta cần nhớ lại rằng các triều đại nối tiếp nhau của Trung Quốc đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành để ngăn cản sự quấy nhiễu của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu ở phía bắc khi các bộ tộc này thường tràn vào cướp bóc thời nhà Hán.

Năm 1433, trước những cuộc tấn công ngày càng táo bạo của quân Mông Cổ cùng mối đe dọa từ các bộ tộc ở Trung Á đối với vùng biên cương tây bắc, các vị vua triều Minh của Trung Quốc đã tạm dừng những chuyến đi biển tốn kém của Đô đốc Trịnh Hòa để tập trung nguồn lực bảo vệ vùng biên cương của Vương quốc Trung Nguyên. Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, một nước Nga Sa hoàng lớn mạnh và tiếp theo đó là Liên Xô luôn là mối quan tâm của các nhà hoạch định quân sự Trung Quốc. Ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn vào những năm 1950 khi hai bên có quan hệ nồng ấm, còn lại Bắc Kinh luôn canh cánh hiểm họa từ phía bắc trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cho tới khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991.

Bất chấp những quan ngại địa chính trị như Trung Quốc xâm lấm vùng Viễn Đông và khu vực Trung Á có thể rơi vào vùng ảnh hưởng của nước này, Tổng thống Nga Vladimir Putin – trước thực tế bị Châu Âu và Mỹ cô lập sau khi Nga sáp nhập Crimea và tình trạng bất ổn đang tiếp diễn ở miền đông Ukraine – đã chấp thuận những điều khoản không hề dễ chịu từ Trung Quốc khi ký kết một thỏa thuận lớn về đường ống dẫn khí đốt nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu năng lượng của Nga ngoài Châu Âu, và biến Trung Quốc trở thành đồng minh quan trọng của Nga. Trong một loạt vấn đề, Nga và Trung Quốc đang thách thức trật tự quốc tế thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Mặc dù Trung Quốc đã không ủng hộ Nga trong vấn đề Georgia hay Crimea, nhưng ông Putin tin rằng mối quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh đang ở giai đoạn nồng ấm nhất.

Nếu “liên minh Trung-Nga” được hồi sinh, thì có một sự đảo ngược hoàn toàn về vai trò các bên kể từ đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc – chứ không phải một nước Nga suy yếu về kinh tế và nhân khẩu học – đóng vai trò chủ đạo trong liên minh này. Giống như trong quá khứ, những rắc rối gặp phải ở phía Tây một lần nữa buộc Nga đưa ra những nhượng bộ ở phía Đông. Kế hoạch của Bắc Kinh là khiến Nga phụ thuộc kinh tế vào nước này như phương Tây bị chinh phục bởi hàng hóa giá rẻ do Trung Quốc sản xuất. Ấn Độ cần phải tái điều chỉnh quan hệ với một nước Nga đang đóng vai trò thứ yếu so với Trung Quốc và đang cùng chung tay với Bắc Kinh cung cấp vũ khí cho Pakistan.

Không có gì ngạc nhiên khi các phương tiện truyền thông tràn ngập thông tin về một “liên minh chiến lược Trung – Nga mới có khả năng thống trị vùng trung tâm [của lục địa Á Âu],” báo hiệu “cơn ác mộng về tương quan lực lượng theo thuyết Mackinder đối với Washington.” Một số người liên tưởng việc hình thành trục Bắc Kinh-Moscow-Teheran dựa trên các yếu tố năng lượng, thương mại và an ninh trên toàn lục địa Á-Âu. Dù nguyên nhân Nga xoay trục sang Châu Á bắt nguồn từ sự bất ổn ở phía Tây khi nước này ở một vị thế yếu, nhưng người ta có thể thấy Washington ngày càng bị thách thức bởi các nước đang tìm cách thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực.

Vì vậy, quan niệm cho rằng Châu Á bị mất cân bằng đang trở nên khá phổ biến. Một nước Mỹ mệt mỏi sau các cuộc chiến cùng sự eo hẹp về ngân sách rõ ràng đã thúc đẩy các cường quốc xét ​​lại như Trung Quốc và Nga hành động. Những nỗ lực của chính quyền Obama nhằm “tái cân bằng” vai trò của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bị ảnh hưởng bởi nhận thức chung về sự bất đối xứng chiến lược cùng cán cân địa chính trị đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc tranh giành quyền kiểm soát “các tài sản chung” (như biển, không gian mạng và không gian vũ trụ) ngày càng quyết liệt. Những quan ngại chiến lược xuất hiện ngày càng nhiều khi tham vọng, sức mạnh và ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc đi ngược lại với lợi ích của các cường quốc hiện thời.

Biên tập viên Zackary Keck của tờ Diplomat và học giả Chen Dingding đã bắt đầu một cuộc tranh luận liệu Trung Quốc trở thành một bá chủ toàn cầu kiểu khác hay sẽ hành xử giống như Mỹ và các bá quyền trong quá khứ. Dĩ nhiên giới lãnh đạo Trung Quốc rất khó tránh tham vọng bá chủ hay cách hành xử của một siêu cường. Trái với những tuyên bố chính thức, Trung Quốc đang hành xử không khác gì các cường quốc trỗi dậy đã làm trong lịch sử: Thiết lập mốc giới mới, vẽ ra các biên giới mới trên đất liền, bầu trời, đại dương xung quanh khu vực ngoại vi, cố gắng mở rộng biên giới trên bộ và trên biển, hình thành và sửa đổi các thể chế đồng thời ép buộc các bên khác đi theo quỹ đạo của mình. Vẽ bản đồ có thể trở thành một ngành kinh doanh phát triển ở Trung Quốc. Cách hành xử quốc tế của Bắc Kinh (nghĩa là cách “thể hiện sức mạnh” của họ chắc hẳn sẽ không khác gì các siêu cường khác.

Do vậy, Châu Á-Thái Bình Dương hiện đứng trước ngưỡng của sự thay đổi – những điều đã biết và chưa biết; đầy rẫy các thách thức và bất ổn. Tôi cho rằng sẽ có 7 sự dịch chuyển chiến lược lớn quyết định hành vi chiến lược của Trung Quốc cũng như bối cảnh địa chính trị Châu Á trong nhiều năm cũng như nhiều thập kỷ tới.

Xung đột giữa Cường quốc Mới nổi và Cường quốc Hiện thời

Quyền lực trong hệ thống quốc tế mang tính tương đối và luôn luôn dịch chuyển. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đáng kinh ngạc trong việc vạch kế hoạch và huy động nguồn lực quốc gia để thực hiện các chiến lược hành động với mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự. Tác động toàn cầu từ sự thành công của Trung Quốc sẽ là “khổng lồ kiểu Trung Quốc-Chigantic” (ghép hai từ “China” và “gigantic” của từ điển Oxford). Nếu Trung Quốc duy trì được đà tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc nội của nước này (GDP), quân sự, và chi phí Nghiên cứu và Phát triển có thể cạnh tranh với các chỉ số tương tự của Mỹ, mặc dù không phải về chất lượng mà về số lượng. Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ ngang cơ mạnh hơn Liên Xô trước đây.

Không cường quốc trỗi dậy nào sẽ chấp nhận duy trì nguyên trạng. Về bản chất, các cường quốc có xu hướng bành trướng. Điều này thực sự có sức hút khó cưỡng. Năm 2009, một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở Trung Quốc có nhan đề “Trung Quốc không hài lòng”. Người ta tự hỏi, Trung Quốc có thể nắm cả thế giới vậy tại sao họ lại không hài lòng.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy thường có những nỗi lo sợ hoang tưởng và chứa đầy nghi kỵ: họ cho rằng các nước khác quyết tâm đánh bại và ngăn chặn họ trên con đường tiến tới quyền lực. Kỳ vọng quá nhiều và quá sớm, các cường quốc này thường phản ứng thái quá. Điều này đôi khi khiến họ sụp đổ. Chúng ta hãy nhớ lại trường hợp của Nhật Bản và Đức. Cường quốc đang lên cũng có xu hướng mạo hiểm, thiếu kiên nhẫn. Họ phô trương sức mạnh và thử thách quyết tâm của các cường quốc già cỗi. Cường quốc trỗi dậy khai thác điểm yếu trong quyết tâm – chứ không phải năng lực – của các cường quốc hiện thời bằng cách sử dụng chiến thuật bất đối xứng để dần loại bỏ vị thế bá chủ của những cường quốc này.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Trung Quốc đã chuyển chính sách từ “ẩn mình chờ thời” sang “nắm bắt cơ hội”, vươn lên dẫn đầu và phô trương sức mạnh nhằm định hình lựa chọn của các bên khác theo hướng có lợi cho mình.” Trật tự quốc tế sau chiến tranh phụ thuộc vào ba yếu tố: Các liên minh của Mỹ, vị thế thống trị trên biển không thể thách thức của Mỹ, và cán cân quyền lực tương đối ổn định. Tất cả những yếu tố trên đang bị thách thức bởi mục tiêu và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Trung Quốc – nước hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự thế giới sau chiến tranh – giờ đây nhận thấy sự thống trị của Mỹ không còn đem lại lợi ích cho nước này.

Một sĩ quan quân đội Trung Quốc đã nhận xét: “Sự hiện diện của Mỹ và các đồng minh sẽ kìm hãm tương lai phát triển cũng như mục tiêu trong khu vực của Trung Quốc.” Bắc Kinh coi các liên minh của Mỹ là “tàn dư của Chiến tranh Lạnh”, cần phải được loại bỏ để khôi phục cái mà nước này gọi là “sự cân bằng quyền lực tự nhiên trong khu vực“ (nghĩa là: một Trật tự Thứ bậc trong đó Trung Quốc chiếm vị trí trung tâm của Châu Á như trong thời cận đại). Chấp nhận đóng vai trò thứ yếu so với các cường quốc khác không nằm trong gen của người Trung Quốc. Moscow đã đúc kết điều này một cách đầy cay đắng trong những năm 1950. Và giờ đến lượt người Mỹ với giấc mơ ấp ủ kết nạp Trung Quốc làm thành viên đàn em. Nhiều người cho rằng các chế độ không chia sẻ quyền lực hay tuân thủ nguyên tắc pháp luật cai trị trong chính trị nội địa thì cũng sẽ không tuân thủ luật lệ trong chính trị quốc tế hoặc chia sẻ quyền lực ở chính trường thế giới.

Mục tiêu chiến lược Châu Á của Trung Quốc là làm xói mòn uy tín của Mỹ với vai trò người bảo đảm an ninh khu vực. Bất kể các tuyên bố ngoại giao của Bắc Kinh như thế nào, “Quan hệ Cường quốc Kiểu mới” thực chất hướng tới việc Mỹ công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ở Châu Á trong một thỏa thuận địa chính trị nhằm hạn chế vai trò và sự hiện diện của Washington tại khu vực, và gạt bỏ các đồng minh truyền thống của Mỹ (đặc biệt là Nhật Bản) ra bên lề. Sự thúc ép này sẽ tiếp tục trong nhiều thập kỷ tới bởi Trung Quốc coi Mỹ đang “tụt dốc không phanh và ngày càng suy yếu trong khi Bắc Kinh ngày càng mạnh hơn.”

Theo quan điểm của Bắc Kinh, vấn đề chính là làm sao để tận dụng và hưởng lợi từ việc Mỹ suy yếu. Về phía Washington, thách thức là làm thế nào quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc bên trong trật tự do Mỹ dẫn dắt mà không giảm bớt vai trò và sự hiện diện của nước này. Bên nào chiếm thế thượng phong trong cuộc đấu này sẽ quyết định tương lai trật tự thế giới. Chính vì điều này mà các quan chức chính quyền Obama đã tới thăm các nước Châu Á để trấn an bạn bè và đồng minh về những cam kết an ninh của Mỹ, đồng thời tái khẳng định quyết tâm của Washington trong việc tái cân bằng Châu Á.

Điều quan trọng là sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng gặp phải những thách thức. Dưới sự lãnh đạo của ông Shinzo Abe, Nhật Bản đang trở thành một “quốc gia bình thường” với việc dỡ bỏ rào cản về tự vệ tập thể và chuyển giao vũ khí. Còn Ấn Độ đã tái cân bằng trên phương diện kinh tế và chiến lược đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong gần hai thập kỷ thực hiện chính sách “Hướng Đông”. Với chiến thắng của đảng BJP dưới sự lãnh đạo của ông Narendra Modi trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 2014, Ấn Độ có thể sẽ trở lại đầy mạnh mẽ. Do Bắc Kinh không từ bỏ chính sách vừa can dự kinh tế đối với Ấn Độ vừa tìm cách bóp nghẹt nước này về phương diện địa chính trị, một Ấn Độ hồi sinh sẽ trở thành người bảo vệ cán cân quyền lực Châu Á ở phía nam và chặn đứng nỗ lực thiết lập vị thế bá chủ của Trung Quốc.

Các nước nhỏ và tầm trung (như Singapore, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam, Philippines, và Australia) cũng đang tích cực hành động vì mục tiêu cân bằng và giành lợi thế. Đặc biệt là Indonesia và Việt Nam đã cải thiện đang kể sức mạnh hải quân của mình trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông leo thang.

Về phần mình, nước Nga đang sử dụng nguồn năng lượng khổng lồ làm công cụ quay trở lại vũ đài chính trị thế giới. Dù cho cuộc khủng hoảng Ukraina đã giảm bớt sức nóng, chính sách xoay trục Châu Á của Nga vẫn sẽ được thúc đẩy do sự cô lập từ phương Tây với các lệnh trừng phạt; thỏa thuận cung cấp khí đốt thời hạn 30 năm của Gazprom cho Trung Quốc trị giá 400 tỷ USD; và nhu cầu ngày càng tăng từ các nước láng giềng của Bắc Kinh đối với các khí tài và nguồn năng lượng của Nga. Nhưng ít khả năng Nga sẽ trở thành một “Canada của Trung Quốc” mà không có bất kỳ phản kháng nào. Tất cả những điều này đã tạo nên một môi trường địa chính trị vô cùng rối rắm, phức tạp ở Châu Á.

Những cường quốc hiện nay ở Châu Á-Thái Bình Dương cũng giống như Đức, Pháp, Anh và Ý ở đầu thế kỷ 20. Họ vươn ra thế giới để tìm kiếm thị trường, nguồn tài nguyên và các căn cứ; cạnh tranh quyền lực và tầm ảnh hưởng; chèn ép và tranh giành ở các khu vực khác nhau trên thế giới, qua đó hình thành những quan hệ đối tác tự nhiên vốn là đặc trưng của chiến lược phòng ngừa.

Cuộc cạnh tranh quyền lực chủ yếu diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng trên đại dương và đất liền thì là cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản; giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Hải quân Ấn Độ và Trung Quốc đang hiện diện ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương với tần suất ngày càng nhiều hơn. Logic của địa chính trị – đó là Nhật Bản và Ấn Độ quan ngại về vị thế của mình ở một Châu Á mà Trung Quốc ở vị trí trung tâm – sẽ gắn kết hơn nữa mối quan hệ Nhật-Ấn dưới sự lãnh đạo của ông Abe và ông Modi. Điều này làm tăng thêm những cạnh tranh chiến lược giữa Bắc Kinh với Tokyo và New Delhi.

Giống Châu Âu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 xuất hiện một số cường quốc trỗi dậy, đầy tính ganh đua bên cạnh một số quốc gia suy yếu hoặc dễ bị tổn thương. Các cường quốc trỗi dậy này hình thành cán cân chiến lược mới do quan hệ đối tác và liên minh giữa các quốc gia thay đổi. Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 có nhiều điểm tương đồng với Châu Âu cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chứ không phải Châu Âu với các cường quốc già cỗi, đang suy yếu của thế kỷ 21. Động thái của Nga đối với Ukraina có thể khiến các cường quốc Châu Âu không hài lòng nhưng các nước châu Âu không đưa ra phản ứng chiến lược quan trọng chống lại Moscow. Điều này chắc chắn không xảy ra ở Châu Á. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Châu Á đang chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn Châu Âu. Sự nổi lên của các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản, Philippines và Ấn Độ một phần bởi thất bại rõ ràng từ những người tiền nhiệm của họ trong việc đối phó với sự xâm lấn của người Trung Quốc.

Mối quan ngại về Địa Chính trị

Đây là thập kỷ của chuyển giao quyền lực ở Châu Á. Đối với các nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc, đây là một thập kỷ đầy nguy hiểm. Với các nước trong khu vực, Trung Quốc gợi lên một cảm giác bất an vì sự rộng lớn, mức độ liền kề, lịch sử cũng như sức mạnh của nước này, và quan trọng hơn, chính bởi ký ức về “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” hoặc hệ thống các nước chư hầu vẫn chưa phai mờ. Trong lịch sử, Trung Quốc chưa từng chấp nhận chung sống bình đẳng với cường quốc khác có sức mạnh tương đương hoặc yếu hơn.

Trong quá khứ, một Trung Quốc thịnh vượng và hùng mạnh đòi hỏi các nước khác phải quy thuận và kính nể. Điều đã thay đổi đó là tham vọng về ý thức hệ trong quá khứ hiện được thế chỗ bởi các lợi ích kinh tế. Hầu như không có nước Châu Á nào tin vào luận điệu “Trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc” (hãy thử hỏi Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines hay Ấn Độ) hoặc tuyên bố “Không can thiệp vào công việc nội bộ” (hãy thử hỏi Bắc Triều Tiên, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Nepal hay Sri Lanka).

Sự gắn kết trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Châu Á tạo cảm giác về một sự lệ thuộc cùng tâm trạng thất vọng. Trong khi các quốc gia này không phản đối sức mạnh cũng như sự thịnh vượng của Trung Quốc, thì họ cũng không sẵn lòng để mất quyền tự quyết trong việc hoạch định chính sách. Ngoại trừ một số ít (nhất là Pakistan), còn lại hầu hết các nước Châu Á (gồm cả Bắc Triều Tiên) không hề mặn mà với việc chung sống trong một Châu Á do Trung Quốc dẫn dắt hoặc chi phối.

Thay vào đó, những nước này duy trì các liên kết an ninh hiện có, thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo cùng chiến thuật phòng ngừa giúp họ tự chủ hành động. Bởi Trung Quốc có vai trò trung tâm trong bối cảnh địa chính trị Châu Á, “phòng ngừa” hoặc “cân bằng” kiểu cũ đang trở thành lựa chọn ưa thích nhất của các bên trong khi vẫn duy trì các lợi ích từ việc quan hệ với Bắc Kinh. Các cường quốc hiện đang tìm cách tái cân bằng vị thế và chiến lược của mình. Chính sách “tái cân bằng” của Mỹ, Chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ, Chính sách “Hướng Tây” của ASEAN, Chính sách “Hướng Bắc” của Úc và hợp tác quốc phòng giữa Nhật Bản với Úc, Philippines, Việt Nam và Ấn Độ cho thấy xu hướng này.

Toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích cốt yếu của tất cả các quốc gia: Dù yếu hay mạnh, lớn hay nhỏ. Căng thẳng leo thang giữa Trung Quốc và các nước láng giềng từ Ấn Độ đến Nhật Bản trong các tranh chấp trên lục địa và đại dương đều có ý nghĩa địa chính trị. Các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết cùng “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” dường như bất lợi cho Bắc Kinh và có lợi cho Washington. Đề cập về căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ tại cuộc gặp tháng 4 năm 2014, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn đã nói với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel rằng Bắc Kinh sẽ “không thỏa hiệp, không nhân nhượng, [và] không đánh đổi” trong cuộc chiến bảo vệ cái ông Thường gọi là “chủ quyền lãnh thổ.” Ông Thường cảnh báo rằng: “Quân đội Trung Quốc sẽ nhanh chóng tập hợp, sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng.”

Người Trung Quốc có lẽ đang kinh ngạc bởi các nước láng giềng nhỏ bé đã thể hiện quan điểm cứng rắn, đầy thách thức. Bắc Kinh hy vọng các nước láng giềng tôn trọng lợi ích cốt lõi của mình bằng cách đặt nó lên trên trên lợi ích quốc gia của chính các nước này – một kiểu quan hệ chư hầu mà các nước công nhận Trung Quốc là bá chủ của Châu Á. Trong bối cảnh đó, sự hỗ trợ về quân sự của Mỹ được xem là chốt chặn lớn nhất ngăn cản Trung Quốc ép buộc Châu Á chấp nhận và quy thuận quyền lực của nước này.

Từ năm 2007, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các tranh chấp trên biển, đất liền ở khu vực ngoại vi của nước này đã đẩy các nước láng giềng xích lại gần hơn với Washington. Vì vậy, tôi cho rằng giống như mọi sản phẩm khác thời nay, chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” của Washington cũng là “Made-in-China”. Các tranh chấp chưa được giải quyết của Trung Quốc với các nước láng giềng đang tạo ra những liên kết chưa từng có trước đây. Ví dụ như liên minh Canberra-Tokyo, Manila-Hà Nội, Manila-Tokyo, Tokyo-Hà Nội, Hà Nội-New Delhi, và Tokyo-New Delhi. Mục tiêu chung của các liên kết này là tạo đối trọng với Trung Quốc, chứ không phải Nga hay Mỹ. Trên thực tế, các bên tham gia trò chơi cân bằng này với Trung Quốc (như Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Indonesia) đang được Nga và Mỹ trang bị vũ khí.

Trong lịch sử, sự nổi lên của một cường quốc lục địa dẫn đến việc hình thành liên minh các cường quốc biển để cân bằng lại. Điều này đặc biệt đúng khi cường quốc lục địa đó có một thể chế chuyên quyền nuôi dưỡng nhưng nỗi oán hận lịch sử bằng các tranh chấp lãnh thổ, hoặc là một cường quốc có tính phân cực. Trung Quốc cũng không nằm ngoài quy luật này. Phần lớn các nước ở khu vực ngoại vi của Trung Quốc coi Mỹ, một siêu cường ở bên ngoài, là đối trọng thực sự của Bắc Kinh. Các nước đều muốn hưởng lợi từ quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nhưng không bên nào muốn Trung Quốc thống trị khu vực hay các lựa chọn chính sách của họ bị nước này chi phối. Nói một cách đơn giản, không bên nào muốn Trung Quốc thay thế ngôi vị bá chủ đang bị suy yếu của Mỹ.

Mặc dù Bắc Kinh muốn khôi phục lại vị thế thống trị ở Châu Á thời kỳ cận đại, nhưng hoạt động mở rộng lãnh thổ của nước này và những thay đổi cấu trúc bên trong môi trường địa chính trị Châu Á hơn 300 năm qua không cho phép hồi sinh hệ thống các nước chư hầu với Trung Quốc ở vị trí trung tâm. Địa lý là yếu tố quyết định vai trò và sức mạnh của một quốc gia, một yếu tố không thể nào thay đổi. Lý do quan trọng khiến Mỹ trở thành siêu cường toàn cầu đó là nhờ vào vị trí địa lý độc nhất của nước này. Các nước láng giềng của Trung Quốc không phải Canada hay Mexico, mà là các cường quốc – như Nga, Nhật Bản, Việt Nam, Indonesia, Úc và Ấn Độ – những nước sẽ làm tất cả để chống lại sức mạnh của Trung Quốc bởi nguyên nhân về lịch sử, nền văn minh, địa chính trị và địa kinh tế. Sự cách biệt giữa tham vọng ở Châu Á của Trung Quốc và bối cảnh địa chính trị đang thay đổi đã ngăn cản nước này khôi phục vị thế thống trị trong quá khứ, điều này đã khiến cho người Trung Quốc cảm thán gọi là “sự bao vây Trung Quốc.”

Khách quan mà nói, đây đúng hơn là “sự quan ngại địa chính trị” chứ không phải “sự bao vây”. Sự bao vây, trong khái niệm đa chiều kinh điển của George Kennan (về kinh tế, ngoại giao, quân sự và chính trị), chủ yếu phản tác dụng trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đến cách hành xử của nước này là thách thức ngoại giao lớn nhất đặt ra cho khu vực và thế giới trong những năm tới.

Cuộc Cạnh tranh Mới mà Cũ

Sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra những lợi ích ngoài nước, thúc đẩy những tham vọng lớn về địa chính trị, và gần như chắc chắn sẽ dẫn đến việc tăng cường quân sự. Các bên sẽ tìm kiếm nguồn tài nguyên phục vụ mục tiêu tăng trưởng công nghiệp; thị trường mới để tiêu thụ hàng hóa; và các căn cứ để bảo vệ tài nguyên và thị trường giống như cách thức các cường quốc công nghiệp của Châu Âu tiến hành thuộc địa hóa Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh vào thế kỷ 18 và 19 trước đây.

Ba yếu tố tài nguyên, thị trường và căn cứ bảo vệ thường đi cùng với nhau. Trao đổi thương mại, các thị trường, khai thác tài nguyên, hải cảng và phát triển cơ sở hạ tầng là những thành phần quan trọng trong chính sách đối ngoại hiện nay của Trung Quốc. Trung Quốc đang xoay trục về phía Tây (Châu Phi, Trung Đông, Nga, Tây Nam Á và Trung Á) tìm kiếm nguồn tài nguyên, thị trường, và môi trường ngoại giao. Giống như trong quá khứ, cuộc cạnh tranh “mới” về cơ bản là cuộc tìm kiếm các thể chế ôn hòa và thân cận làm nguồn cung tài nguyên và quyền tiếp cận các hải cảng. Trò chơi chính trị thế giới không thay đổi nhiều, chỉ có người chơi là thay đổi.

Thống trị Thế giới là Câu chuyện của Quá khứ

Không một cường quốc đơn lẻ nào có thể thống trị thế giới trong tương lai, bất kể nước này sở hữu bao nhiêu sức mạnh cứng và mềm. Kể cả liên minh G-2 cũng vậy. Mạnh cỡ nào thực sự không quan trọng bằng việc bạn sở hữu sức mạnh kiểu gì. Trung Quốc dường như tin rằng nếu nước này đạt được “sức mạnh tổng thể quốc gia” mọi thứ sẽ đi vào trật tự và các nước sẽ đi theo quỹ đạo của mình. Tuy nhiên, việc chỉ có “sức mạnh tổng thể quốc gia” sẽ không giúp Trung Quốc trở thành một siêu cường toàn cầu. Cường quốc trở thành siêu cường phải có sự ủng hộ của các nước vừa và nhỏ. Với số lượng đồng minh là 58 nước và đối tác tiềm năng là 41 nước trên toàn thế giới, Mỹ vẫn là một siêu cường không có đối thủ. Sự ủng hộ của các cường quốc vừa và nhỏ, hoặc không có điều này, sẽ là sự khác biệt lớn quyết định thành công hay thất bại của việc trở thành siêu cường. Bạn không thể trở thành một nhà lãnh đạo nếu không có những người ủng hộ.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Ai Cập là hai quốc gia bậc trung kiểu “gió chiều nào xoay chiều ấy.” Khi Trung Quốc và Ai Cập chuyển từ ủng hộ Liên Xô sang ủng hộ Mỹ, hai nước này đã trở thành những nhân tố quan trọng trong cán cân quyền lực ở Châu Á và Trung Đông. Cán cân lực lượng đã thay đổi không có lợi cho Liên Xô và phần còn lại là lịch sử. Tái hiện nước cờ địa chính trị này, Washington đang tìm cách lôi kéo các “quốc gia đảo cánh” mới như Ấn Độ, Indonesia để tạo thế đối trọng với Trung Quốc.

Luận điểm của Mackinder hay Mahan đều giá trị như nhau

Trọng tâm địa chính trị Châu Á đang dịch chuyển vào lục địa đã tác động đến các cường quốc biển. Luận điểm của Mahan hay của Mackinder, Spykman, Kautilya và Sun Zi đều quan trọng. Mặc dù tập trung vào cạnh tranh trên biển, nhưng các trung tâm kinh tế, các thể chế mới, hành lang giao thông, đường sắt cao tốc, đường cao tốc và hệ thống các đường ống đang thay đổi môi trường địa chính trị của lục địa Á-Âu. Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phần lớn sự tăng trưởng kinh tế diễn ra bên trong hệ thống liên minh “trục và nan hoa” của Mỹ ở các vùng biển Châu Á. Thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh, tăng trưởng kinh tế đã diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ và lục địa Đông Nam Á, bên ngoài mạng lưới liên minh Mỹ-Thái Bình Dương.

Trung Quốc, giống nước Anh và nước Nga trong quá khứ, hiện đang sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, đường sắt cao tốc, đường cao tốc, mạng lưới đường ống để vẽ lại bản đồ địa chính trị của lục địa Á-Âu. Là một phần trong chiến lược “Hướng Tây”, Bắc Kinh đã đầu tư hàng trăm tỷ để tạo “hệ thống trục và nan hoa kinh tế” ở lục địa Châu Á bằng các đường ống, đường cao tốc, mạng lưới đường sắt liên kết Trung Quốc với các khu vực Trung Á, Tây Nam Á và Đông Nam Á. Các nan hoa hoặc hành lang huyết mạch này sẽ vận chuyển nguyên liệu thô và nguồn năng lượng, đồng thời xuất khẩu các hàng hóa của Trung Quốc tới những khu vực trên và xa hơn nữa. Tuy nhiên, lục địa Á-Âu chưa được quan tâm thích đáng bởi ba thế kỷ thống trị đại dương của người Mỹ gốc Anh dường như khiến các nhà hoạch định chính sách mắc hội chứng “mù đất liền”.

Công nghệ: Một Đòn bẩy Thực sự

Công nghệ chính là nhân tố thay đổi cuộc chơi. Trong thời chiến hay thời bình, công nghệ định hình mối quan hệ giữa các quốc gia. Công nghệ quyết định thứ bậc trong quan hệ quốc tế. Rất ít nhà kinh tế dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc kinh tế. Tại sao lại như vậy? Bởi họ đã không thể thấy trước được tác động của công nghệ trong tương lai. Cũng như không ai vào năm 1990 có thể đoán biết cách thức Internet sẽ thay đổi mọi thứ, sự phổ biến nhanh chóng của những công nghệ đột phá như in ấn 3D/4D, thành tựu của công nghệ sinh học, người máy, và điện toán lượng tử là những nhân tố quyết định cuộc chơi. Một cuộc cách mạng trong sản xuất dựa trên công nghệ in ấn 3D/4D có ý nghĩa gì nếu được sản xuất -tại-Trung Quốc? Những đột phá công nghệ trong tương lai chắc chắn sẽ tạo ra người chiến thắng và kẻ chiến bại mới, đồng thời cũng đem lại các cơ hội và thách thức mới.

Địa chính trị và địa chất học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi Trung Quốc và các nước khác cho rằng Mỹ đang suy yếu, thì nước này thấy mình ở đỉnh đạt với khả năng tự cung cấp năng lượng, nhờ thành tựu đột phá trong “công nghệ phân tách bằng thủy lực” (fracking technology). Cuộc cách mạng về khai thác đá phiến có thể giúp Mỹ hồi sinh và kéo dài sự thống trị đối với trật tự quốc tế. Sự bùng nổ năng lượng tại Mỹ và Canada – nếu tận dụng triệt để – có khả năng thay đổi động lực sức mạnh giữa các cường quốc và vực dậy những liên minh của Mỹ. Điều này có thể khiến người chiến thắng hôm qua trở thành kẻ thua cuộc ngày mai. Giống như một Trung Đông “già cỗi” đang “hướng Đông” để thúc đẩy quan hệ năng lượng với Trung Quốc và Ấn Độ, một “Trung Đông mới” (bao gồm Canada và Mỹ) có thể đang “hướng Tây” để bán dầu – khí trong đá rắn cho Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, và các nước Đông Nam Á. Dầu – khí trong đá phiến sẽ không chỉ tăng cường đòn bẩy ngoại giao của Mỹ, mà còn làm thị trường dầu mỏ thế giới đa dạng, giúp bình ổn giá dầu, đồng thời các nước tiêu thụ sẽ giảm bớt sự phụ thuộc quá mức vào một Trung Đông biến động, các cacten OPEC, và nước Nga của ông Putin.

Tương lai Địa chính trị Châu Á

Những xu hướng chiến lược này sẽ định hình tương lai địa chính trị Châu Á, đặc biệt là tác động qua lại giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ. Sự bất cân bằng sức mạnh giữa các cường quốc dẫn đến việc mỗi bên sẽ thiết lập các liên kết linh hoạt, tạm thời với những bên khác khi lợi ích của họ có điểm đồng; tận dụng sự ủng hộ của một bên để chống lại bên khác khi có xung đột quyền lợi; ngăn chặn hai bên khác hình thành liên minh chống lại mình bởi các nước có xu hướng cạnh tranh, liên minh và liên kết lại khi mục tiêu song trùng.

Dĩ nhiên, Trung Quốc là mảnh ghép quan trọng nhất trong bức tranh địa chính trị này. Không quốc gia nào có thể đe dọa Trung Quốc khi nước này hiện nay đã lớn mạnh. Là quốc gia lớn nhất (về mặt lãnh thổ) và hùng mạnh nhất (về mặt kinh tế và quân sự) ở Châu Á, chỉ khi Bắc Kinh dừng lại và chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ trên bộ và cũng như trên biển thì nước này mới có thể hóa giải được các liên minh của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh và giảm bớt lý do nước này hiện diện tại khu vực. Nhưng chúng ta không nên tin vào khả năng này: Một chiến lược gia Trung Quốc (cơ bản nhắc lại lời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc) từng nói: “Từ bỏ yêu sách đối với ‘các vùng đất bị mất vào tay nước khác’…là điều khó tin và không thể xảy ra.”

Do quân đội nhân dân Trung Quốc sẽ không chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ hiện nay, câu hỏi đặt ra cho Mỹ và các đồng minh là cách thức duy trì cán cân quyền lực đủ mạnh nhằm ngăn chặn bất kỳ hành động hăm dọa và xâm lấn, đồng thời trấn an bạn bè và đồng minh đang phải đối mặt với một Trung Quốc đầy tự tin với quyết tâm thiết lập vị thế thống trị trên lục địa Châu Á và các vùng biển liền kề. Hòa bình và ổn định sẽ được duy trì nếu các cường quốc hướng tới xây dựng một Châu Á đa cực với các tổ chức đa phương toàn diện cùng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, sự ganh đua, cạnh tranh và thậm chí là xung đột có thể dẫn đến trật tự lưỡng cực hoặc việc Bắc Kinh tìm cách thiết lập lại trật tự đơn cực mà nước này ở vị trí trung tâm, theo đó Trung Quốc sẽ hành xử như một bá quyền và đòi hỏi sự quy thuận, triều cống từ các nước láng giềng.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, không điều gì là chắc chắn trong cuộc sống cũng như vũ đài chính trị – trong nước hay quốc tế. Tương lai không phải là một đường thẳng. Nó đầy rẫy những bước ngoặt, vấp ngã, thất bại, điều bất ngờ và sự trái ngược, không liên tục và phi tuyến tính. Liên Xô và Nhật Bản chính là những ví dụ cho thấy việc Trung Quốc trỗi dậy không có gì là chắc chắn.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy, kỳ vọng quá nhiều quá sớm, thường bộc lộ sức mạnh một cách khác thường, và đây là kẻ thù nguy hiểm nhất của chính những nước này. Khác những gì sách giáo khoa Quan hệ Quốc tế dạy chúng ta, chính sách đối ngoại của một quốc gia không chỉ là những tính toán về sự được mất hoặc câu chuyện thiệt hơn. Đó là tổng hòa của năm yếu tố: Khát vọng, sức mạnh, lợi ích, kiêu hãnh và định kiến. Điều này khiến việc dự đoán tương lai của Trung Quốc hay tương lai chính trị thế giới trở nên hết sức khó khăn.

Nguy cơ của những tính toán sai lầm nằm ở chỗ: Quân đội Trung Quốc đánh giá quá cao sức mạnh của mình, trong khi phần còn lại của thế giới đánh giá quá thấp tham vọng, sức mạnh cũng như mục đích của Bắc Kinh.

Mohan Malik là Giáo sư chuyên về An ninh Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu. Ông là chủ biên của cuốn An ninh Biển ở Ấn Độ-Thái Bình Dương (Rowman & Littlefield, sẽ xuất bản tháng 10 năm 2014) và tác giả cuốn sách Trung Quốc và Ấn Độ: Cuộc đối đầu của Hai Cường quốc (Nhà xuất bản Lynne Rienner, 2011). Bài viết đăng trên trang “The Diplomat“.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ba kịch bản trên Biển Đông

Nguyễn Hưng Quốc

Image
Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.



Mấy tuần vừa qua, Mỹ liên tục lên án gay gắt việc Trung Quốc bồi đắp và xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và kêu gọi Trung Quốc ngừng ngay tức khắc những hành động mà họ cho là phi pháp, khiêu khích và nguy hiểm ấy. Mặc kệ, Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng, thậm chí còn đặt cả mấy khẩu pháo trên những hòn đảo nhân tạo ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra trên Biển Đông?

Theo tôi, sẽ có một trong ba kịch bản sau đây:

Thứ nhất, Biển Đông sẽ châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Điều này, thật ra, đã có nhiều người nói đến từ lâu. Một số học giả đưa ra các lý do khiến Trung Quốc sẵn sàng mở một cuộc chiến tranh với Mỹ, trong đó, có ba lý do chính: Một, là một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc cần khẳng định vị thế siêu cường của mình, ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và sự khẳng định ấy chỉ có thể thực hiện được qua chiến tranh. Hai, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiện nay đã bắt đầu khựng lại, sự phân hoá giàu nghèo càng ngày càng trở nên to lớn, sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng sâu sắc, xu hướng đòi hỏi dân chủ càng ngày càng mạnh mẽ, Trung Quốc cần một cuộc chiến tranh để nâng cao chủ nghĩa quốc gia, thống nhất lòng dân và dập tắt mọi ngọn lửa phản kháng, từ đó, duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản. Ba, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc rất cần nhiên liệu mà Biển Đông, theo họ, là nguồn chứa dầu khí thuộc loại lớn nhất thế giới, do đó, họ xem việc chiếm cứ Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”, không thể nhân nhượng, ngay cả khi họ phải trực tiếp đối đầu với Mỹ.

Về phía Mỹ, có nhiều lý do để họ ngại một cuộc đối đầu quân sự như vậy. Chiến tranh ở Afghanistan và Iraq chưa chấm dứt. Tình hình chính sự ở Trung Đông vẫn còn ngổn ngang. Dân chúng Mỹ đã bắt đầu mệt mỏi với việc can thiệp ở nước ngoài. Tổng thống Barack Obama chỉ còn một năm rưỡi nữa là hết nhiệm kỳ, chắc chắn ông không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu mới đầy bất trắc. Tổng thống kế tiếp cũng chắc không muốn mở đầu một nhiệm kỳ bằng chiến tranh. Đó là chưa kể kinh tế Mỹ, một mặt, vẫn chưa hồi phục hẳn; mặt khác, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc. Chỉ có hai lý do có thể khiến Mỹ vượt qua tất cả những sự khó khăn và trở ngại ấy: Một, Trung Quốc quyết định khống chế hoàn toàn con đường hàng hải đi ngang qua Biển Đông; và hai, Trung Quốc nổ súng trước vào máy bay hay chiến hạm của Mỹ.

Chuyện Trung Quốc nổ súng trước không phải không có khả năng xảy ra. Nó có thể xảy ra một cách cố ý với một sự tính toán rõ rệt từ nhà cầm quyền Trung Quốc nhưng cũng có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ, hay nói theo giáo sư Michael Auslin, như “một tai nạn” khi máy bay hoặc chiến hạm hai bên đụng vào nhau gây ra thương vong, từ đó, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ cả hai phía và hậu quả là chiến tranh sẽ bùng nổ.

Một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và rất dễ dẫn đến nguy cơ lan rộng thành chiến tranh thế giới, và đặc biệt, chiến tranh hạt nhân. Viễn cảnh ấy chắc chắn sẽ làm chột dạ mọi người. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có thể khẳng định vị thế siêu cường trong khu vực của mình bằng một cuộc chiến tranh khác, ví dụ, chiến tranh với một nước đang tranh chấp nào đó. Đó là những nước nào? Có ba nước tranh chấp biển và đảo quyết liệt nhất với Trung Quốc: Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Trong ba nước ấy, mạnh nhất là Nhật Bản. Về quân sự, trừ vũ khí hạt nhân, có khi Nhật Bản còn mạnh hơn cả Trung Quốc. Hơn nữa, sau Nhật Bản là Mỹ. Có lẽ Trung Quốc sẽ không phiêu lưu vào cái nơi nguy hiểm và không nắm chắc phần thắng ấy. Nước yếu nhất là Philippines. Nhưng Philippines lại có liên minh về quốc phòng với Mỹ. Nếu Trung Quốc muốn tránh đương đầu với Mỹ, họ cũng sẽ không gây chiến với Philippines. Chỉ còn lại Việt Nam là vừa yếu vừa thân cô thế cô, dễ đánh nhất. Bởi vậy, chúng ta có kịch bản thứ hai: Chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài “Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable” đăng trên tờ Business Insider vào tháng 7 năm 2011, Dee Woo cho chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam là chuyện không thể tránh khỏi. Ông cho cuộc chiến tranh ấy phục vụ lợi ích của chính quyền ở cả hai nước: Trung Quốc thì muốn chiếm trọn Trường Sa và, từ đó, Biển Đông, còn Việt Nam thì muốn làm lệch hướng sự quan tâm của dân chúng để không ai còn lên án những thất bại thảm hại về phương diện kinh tế và xã hội của nhà cầm quyền. Nhưng Dee Woo lại vẽ nên một viễn cảnh thê thảm của Việt Nam: sau khi tấn công cả trên biển lẫn trên đất liền, Trung Quốc sẽ phá huỷ toàn bộ các cơ sở hạ tầng của Việt Nam rồi rút về, để lại ở Việt Nam một cảnh tan hoang và thậm chí, nội chiến triền miên cả nửa thế kỷ sau cũng chưa chắc đã hồi phục được.

Viễn cảnh ấy, tuy bi quan, nhưng không có gì quá đáng. Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác xa với thời chiến tranh biên giới vào năm 1979. Trung Quốc không những giàu hơn về kinh tế mà còn có kho vũ khí, khi tài cũng như các phương tiện phục vụ chiến tranh dồi dào và tối tân hơn Việt Nam cả mấy chục lần. Việt Nam có đổ thêm bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí thì cũng không thể nào bắt kịp được Trung Quốc. Hơn nữa, cần lưu ý: Đánh nhau trên bộ người ta còn có thể sử dụng chiến thuật du kích và huy động chiến tranh nhân dân nhưng trên mặt biển, yếu tố quyết định nhất vẫn là vũ khí và kỹ thuật. Thua vũ khí và thua kỹ thuật là thua hẳn cuộc chiến. Chắc chắn chính quyền Việt Nam biết rõ điều đó nên họ vẫn tiếp tục chịu đựng và nhân nhượng. Nếu sách lược này kéo dài mãi, chúng ta sẽ có kịch bản thứ ba: Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Nên nhớ một trong những sách lược chính của Trung Quốc ở Biển Đông là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing). Họ cứ lấn dần dần. Lấn đến cỡ nào Việt Nam cũng nhịn, đến một lúc nào đó, tất cả những gì họ muốn đều biến thành hiện thực. Họ tuyên bố về đường lưỡi bò bao trùm lên 80% diện tích Biển Đông của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ đem giàn khoan đến thềm lục địa Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ tái tạo bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo: Việt Nam nhịn. Một lúc nào đó, họ tuyên bố thành lập vùng nhận dạng hàng không: Việt Nam lại nhịn. Thậm chí, họ có thể chiếm nốt các hòn đảo khác ở Trường Sa: Việt Nam cũng vẫn tiếp tục nhịn. Đến lúc đó, thực tình họ chả cần đánh nhau với Việt Nam làm gì: Họ đã có tất cả những gì họ muốn. Và đến lúc ấy, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn nữa. Chỉ còn mâu thuẫn trong nội bộ Việt Nam: giữa nhân dân và một chính quyền bất lực, nhu nhược và đớn hèn.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Image

Tàu Cộng Quậy Tây Tạng

Trần Khải
Tại sao có một số Phật tử cứ theo mãi, tụ tập biểu tình phản đối Đức Đạt Lai Lạt Ma?

Có bàn tay thô nhám của Tàu Cộng giựt dây hay không?

Phóng viên Bill Birtles của hãng thông tấn Úc Châu ABC News đã nghiên cứu hiện tượng này, và phỏng vấn một số nhà nghiên cứu về vấn đề này.

Bản tin nêu câu hỏi rằng ai là những Phật tử Shugden chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma?

Bản tin nói, đó là một nhóm ít Phật tử, nhưng ồn ào, cứ theo biểu tình ở tất cả những nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng chân, kể từ khi ngài tới Sydney (Úc Châu) hồi tuần trước.

Các Phật tử Shugden thờ phượng Dorje Shugden, một vị hộ pháp nơi cõi thiên trong tông phái lớn nhất Phật giáo Tây Tạng – tông phaí này có tên là Gelugpas. Thói quen người Việt còn gọi là phaí Mũ Vàng, hay Hoàng Mạo Phái.

Các Phật tử biểu tình là theo chỉ thị của hội có tên là International Shudgen Community (ISC), một số trong nhóm này “quy chụp” Đức Đạt Lai Lạt Ma là đã dạy cho Phật tử phải gạt qua bên lề những người thờ phượng vị thần Shugden trong khối cộng đồng Tây Tạng lưu vong.

Thế rồi hôm Thứ Năm 11-6-2015, một nhóm nhỏ lại tới biểu tình ở thành phố Brisbane, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma tới thăm, một phần trong chuyến thăm nhiều thành phố Úc Châu. Họ mang biểu ngữ, và hô khẩu hiệu, vì có nội dung xúc phạm Đức Đạt Lai Lạt Ma, nên chúng ta không ghi ra đây làm chi.

Vị thần Dorje Shugden trong lịch sử được thờ từ thế kỷ 17, vừa là hộ pháp bảo vệ, vừa là “tinh linh hung dữ,” tùy theo cách diễn dịch.

Những người tông phái Gelugpas, bao gồm cả Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã thờ vị Shugden cùng mộts ố vị thần khác, nhưng theo giáó sư về lịch sử Tây Tạng John Powers từ đaị học Australian National University, việc thờ vị Shugden từ lâu đã gây chia rẽ.

GS Powers nói: "Dorje Shugden gây sợ hãi cho các tong phái khác, và liên hệ tới việc phân phái chia rẽ, đặc biệt với người hệ thống Gelugpas. Do vậy, vì cần tạo ra một cộng đồng hòa hài giữa người Tây Tạng lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma muốn dẹp bỏ việc thờ vị thần Shugden.”

Đó là lý do Đức Đạt Laì Lạt Ma trong thập niên 1970s đã bác bỏ việc thờ vị thần Shugden, nói rằng việc đó là “gây tranh cãi và chia rẽ.”

Trong thập niên 1990s, Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu các Phật tử thờ vị Shugden chớ có tham dự các buổi thuyết giảng giaó lý của ngài.

David Templeman, một học giả về lịch sử Tây Tạng ở Viện Châu Á của đaị học Monash University, nói rằng lời yêu cầu đó gây khó khăn cho nhiều tín đồ Shugden.

Giaó sư này nói: “Họ có một loạt những tin tưởng vào một vị thần nào đó, mà họ được yêu cầu phải bác bỏ, và đối với họ lại là điều bất khả, vì lời họ đã nguyện khi bắt đầu thờ phượng.”

Chính phủ Trung Quốc dĩ nhiên là thừa cơ thọc gậy bánh xe: cho dựng nhiều tượng vị thần tại các tu viện thuộc khuynh hướng không-thờ-Shugden, và ép buộc các tu viện khuynh hướng không-thờ-Shugden phải chấp nhận các tượng này ngoài ý muốn.

GS David Templeman nói, thực ra đã có tiền lệ trong Phật Giáo Tây Tạng từng gỡ bỏ lời nguyện đối với một số vị thần trong một thời gian nào đó, và không có gì thực sự ngăn cản được, trừ phi cố chấp.

Tiến sĩ Templeman nói nhóm biểu tình là thuộc khuynh hướng thờ Shugden theo nhà sư có tên Kelsang Gyatso, định cư ở Anh từ 1970s và truyền dạy Phật Giáo dưới danh xưng là New Kadampa Tradition.

Hội ISC nói là có 2 triệu tín đồ Shugden ở Tây Tạng.

Giáo sư Templemen nói rằng con số thực thấp hơn nhiều, ước tính chỉ khoảng 100,000 người thôi.

Giáo sư Powers cũng tin là con số thực thấp hơn con số ISC ước tính, nhưng nói rằng hiện tượng các tín đồ Shugden bị tẩy chay trong Tây Tạng là đúng.

Ông nói, “Chính phủ Trung Quốc đang dựng tượng Shugden tại các tu viện thuộc truyền thống không-thờ - Shugden và buộc các tu viện này phaỉ chấp nhận tượng thờ ngoài ý munố. Do vậy, có hiện tượng phản ứng tất nhiên bởi hầu hết dân Tây Tạng là tẩy chay kiểu thờ phượng này.”

Nói theo kiểu Việt Nam là, chính phủ Bắc Kinh đang chơi trò thọc gậy bánh xe: dựng tượng Shugden để gây chia rẽ dân tộc Tây Tạng… Và ngoài lãnh thổ, TQ đang ám trợ cho những chiến dịch bao vây, chống đối Đức Đạt Lai Lạt Ma.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Ba kịch bản trên Biển Đông”, tôi nêu lên ba tình huống chính có thể xảy ra trong những năm sắp tới: Một, chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ; hai, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam; và ba, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành, nghĩa là, họ cứ tiếp tục theo đuổi chính sách tằm ăn dâu trên Biển Đông và Việt Nam cứ tiếp tục nhịn nhục, cho đến một lúc nào đó, họ có được tất cả những gì họ muốn mà không cần gây chiến tranh với ai cả.

Cả ba tình huống ấy đều là những bi kịch, đặc biệt đối với phận một nước nhỏ và yếu như Việt Nam.

Vậy, có cách gì Việt Nam thoát khỏi những bi kịch ấy?

Theo tôi, có. Có nhiều biện pháp. Nhưng biện pháp đầu tiên sẽ phải là: dân chủ hoá.

Chính quyền Việt Nam lúc nào cũng cố tìm cách trì hoãn quá trình dân chủ hoá với ba lý do chính: Một là do dân trí còn thấp, dân chúng không biết cách hành xử thích hợp khi được tự do; hai là cần giữ sự ổn định về chính trị để kinh tế được phát triển; và ba, chính trị trong nước cần ổn định và mạnh mẽ để đối phó với hiểm hoạ xâm lược từ Trung Quốc.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào lý do thứ ba vừa kể. Theo tôi, đó chỉ là một nguỵ biện. Sự thật không phải độc tài mà chính dân chủ mới bảo đảm độc lập và chủ quyền của Việt Nam trong thế trận đối đầu với Trung Quốc.

Khẳng định như thế, tôi có bốn lý do chính:

Thứ nhất, chỉ có dân chủ và cùng với nó, sự minh bạch của chính phủ cũng như sự tự do, trước hết là tự do ngôn luận, của dân chúng, mới bảo đảm tránh được những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền. Chúng ta dễ dàng thấy rõ điều này trong các chính sách kinh tế, xã hội, môi trường và giáo dục tại Việt Nam: Nhà nước cứ lẳng lặng làm, đến khi dân chúng phản đối, mới thú nhận là…sai sót. Trong lãnh vực quốc phòng cũng vậy. Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng như các cam kết khác của Việt Nam và Trung Quốc mà biểu hiện cụ thể nhất là các phương châm “4 tốt” và “16 chữ vàng” là những sai lầm tai hại, nhầm thù là bạn và gây nên sự mất cảnh giác không những của dân chúng mà còn của cán bộ các cấp trước những âm mưu xâm lấn hiểm độc của Trung Quốc. Ngay chính sách “ba không” (không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không tham gia liên minh; không liên minh với nước này để chống lại hay phá hoại nước khác) cũng là một chính sách dại dột bởi vì trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay không có nước nào thực sự cô lập, một nước nhỏ và yếu đang bị uy hiếp bởi một quốc gia giàu, lớn và mạnh hơn mình cả mấy chục lần lại càng không thể nào chọn thái độ tự cô lập, không liên minh với các quốc gia khác. Tuyên bố như thế chả khác gì đầu hàng hay tự trói tay mình trước trận đấu. Nếu Việt Nam có dân chủ và dân chúng có quyền góp ý, những sai lầm dại dột và tai hại ấy sẽ dễ dàng tránh khỏi.

Thứ hai, có dân chủ mới thực sự có sự thống nhất thực sự giữa chính quyền và nhân dân. Những sự thống nhất dưới một chế độ độc tài khi mọi người dân đều bị bịt miệng chỉ là một sự thống nhất giả. Cách đây mấy tháng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thấy dân chúng ai cũng ghét Trung Quốc, ông “lo quá”. Cái “lo” ấy rõ ràng phản ánh sự khác biệt to lớn giữa lãnh đạo và quần chúng. Sự khác biệt ấy cho thấy hai điều: Một, về phía giới lãnh đạo, họ không hiểu dân hoặc hiểu, nhưng làm ngơ và tiếp tục hô những khẩu hiệu hoang đường về mối quan hệ môi hở răng lạnh với Trung Quốc; và hai, về phía dân chúng, họ nhìn giới lãnh đạo như những kẻ nhu nhược, bất lực, thậm chí, bán nước, và hậu quả là, người ta đồng loạt quay lưng lại chính quyền. Đến lúc chiến tranh bùng nổ thật, sự quay lưng ấy là một tai hoạ. Ngày xưa, đối diện với nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly hỏi ý kiến con trai về phương sách đánh giặc. Con trai ông, Hồ Nguyên Trừng, đáp: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Khi dân không theo chính quyền, cái gọi là thống nhất trong những vấn đề liên quan đến Trung Quốc chỉ là một ảo tưởng. Mà không chỉ có tình cảm của dân chúng đối với Trung Quốc. Trong vô số các vấn đề khác, kể cả vấn để then chốt nhất là sự lãnh đạo mặc nhiên và độc tôn của đảng Cộng sản, dân chúng cũng bất đồng với giới lãnh đạo. Chỉ có dân chủ mới cho phép dân chúng nói lên sự thật và cũng buộc giới lãnh đạo nói sự thật: Trên căn bản của những sự thật như thế, người ta mới có thể nói đến sự đồng tâm và thống nhất.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới giúp Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới. Ai cũng biết một sự thật đơn giản: trong trận đối đầu với một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, Việt Nam cần phải nhận được sự hỗ trợ của càng nhiều quốc gia trên thế giới bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia dân chủ nào lại muốn hỗ trợ một chế độ độc tài. Không ai có thể phủ nhận được thực tế là hình ảnh của Việt Nam trên thế giới rất xấu với những vụ đàn áp nhân quyền thường xuyên xuất hiện trên các cơ quan truyền thông quốc tế.

Thứ tư, còn độc tài, Việt Nam càng không thể tạo thành liên minh với các quốc gia Tây phương, đứng đầu là Mỹ. Muốn liên minh, người ta phải có những điểm chung. Cái chung về các quyền lợi trên Biển Đông chỉ là một. Người ta cần một điểm chung sâu sắc và căn bản hơn: điểm chung của các bảng giá trị. Đó chính là quyền làm người. Trước đây, Lý Quang Diệu từng biện minh cho các chính sách độc tài của ông tại Singapore bằng cách đề cao những bảng “giá trị Á châu” vốn được xem là khác biệt hẳn với các bảng giá trị ở Tây phương. Càng ngày người ta càng thấy đó chỉ là một sự nguỵ biện. Hiện nay, người ta xem nhân quyền và việc tôn trọng nhân quyền là những giá trị phổ quát của nhân loại. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong các cuộc đối thoại với Việt Nam, Mỹ cũng như các quốc gia Tây phương luôn luôn đề cập đến vấn đề nhân quyền. Họ xem việc tôn trọng nhân quyền là một điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại. Đối với việc liên minh về quốc phòng, điều kiện ấy lại càng cần thiết hơn.

Có thể khẳng định: Sẽ không có nước nào sẵn sàng chung vai sát cánh với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc nếu Việt Nam cứ độc tài mãi.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest