Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Luân

Mai Thảo
Nỗi vui mừng vỡ oà trong tôi phút đó khi đã nhận ra Luân, Luân trên kia, Luân đứng đó, bắt tôi phải chạy phải bay lên mới đúng. Nhưng trước bấy nhiêu con mắt cùng chăm chú ngó xuống người lạ mặt như một cái đích, họ chưa nhận ra ai, tự nhiên tôi thấy ngượng, ngượng đến nóng bừng cả mặt mũi. Tôi định thần. Tôi cố trấn tĩnh lại. Tôi tháo khỏi lưng cái bạc đà ướt đẫm mồ hôi, và xách nó lủng lẳng trong tay, tôi thong thả đi lên. Vợ chồng cụ Chánh, thằng Tạo, anh chị Mùi đứng đó, thành một hàng dài. Những cái bóng nắng chiều làm nghiêng đi, nổi bật lên cái nền xanh thẳm trùng điệp của núi rừng Nông Cống. Xa hơn một chút, lùi về phía sau một chút, in hẳn lên nền trời: Luân.

Tôi thầm cám ơn bà cụ bán hàng tôi gặp ngoài đường lớn. Không có cái ngón tay chỉ đường quý báu của bà cụ, tôi đã tiến sâu mãi vào phía núi biếc, tôi đã không tạt vào con đường nhỏ, tôi đã không đến đứng dưới chân ngọn đồi này, tôi đã trở về căn nhà lạnh lẽo của cơ quan, phía bên kia sông Mã. Tôi đã không bao giờ, không bao giờ nữa, gặp lại được Luân. Đất rừng mời đốt rẫy, cỏ chất từng đống lớn vàng cháy giữa những thân cây bị đào bật lên, còn cả gốc rễ và những cành lá tươi. Một lối đi nhỏ của chân người giẫm lên, còn mới.

Đến lưng đồi, tôi đứng lại. Thằng Tạo nhận ra tôi trước nhất. Nó lập tức chạy bay xuống, vừa chạy vừa ngoái cổ lại la lớn: “Anh Trí, anh Trí”. Tôi chỉ kịp đỡ cái đà người nó đâm sầm vào mình. Thằng Tạo nắm chặt lấy cổ tay tôi, kéo tôi lên, miệng vẫn la lớn: “Anh Trí, anh Trí”. Rồi tất cả mọi người đều nhận ra tôi, và, trừ Luân, đều reo lên: “Anh Trí, anh Trí”. Tôi cười, nhưng tròng mắt đã rưng rưng. Cuộc chiến tranh lâu dài với những kỳ diệu chồng chất nếu có gỡ lại được một phần nào, cái phần khiến con người còn chịu đựng cái tác động huỷ phá ghê khiếp của nó, là ở cái nét đẹp ánh lên của những phút gặp lại nghẹn ngào và tủi mừng đến ứa nước mắt như vậy đó. Người ta xa nhau, không nhìn thấy nhau sau bức tường lửa đạn. Tưởng rằng đã chết, đã mất. Thấy nhau bất ngờ như thấy kẻ đã chết rồi lại vừa sống lại. Tôi chào mọi người, trao bạc đà cho thằng Tạo. Nó đón lấy và khệ nệ đi lên đỉnh đồi. Cả gia đình cụ Chánh đứng vây lấy tôi, mỗi người, trừ Luân, hỏi tôi một câu. Cụ Chánh nói với cụ Bà tôi đen và gầy đi nhiều. Chị Mùi hỏi tôi từ đâu đến, sao biết gia đình chỉ ở đây, anh Mùi hỏi tôi bây giờ làm gì. Duy có Luân từ lúc thấy tôi là không nói một lời nào. Luân đứng đó, hai tay buông thẳng, chân như chôn chặt xuống đất, đôi mắt đen láy mở to trên khuôn mặt nửa như muốn cười, nửa như muốn khóc của Luân. Thái độ yên lặng chỉ có tôi hiểu, làm lầm mọi người. Chị Mùi thì bảo Luân: “Anh Trí đấy mà!”. Cụ Chánh thì bảo tôi: “Em Luân, cậu Trí nhớ không!”. Tôi đáp: “Có nhớ ạ” và lách mọi người tôi đi lại phía Luân. Tôi nhìn cái khuôn mặt nửa muốn cười nửa muốn khóc của Luân mà sự kinh ngạc còn in lên gần như một niềm đau đớn. Tôi muốn nâng hai tay đỡ lấy khuôn mặt ấy, mười ngón tay tôi cưỡi lấy hai gò má ấy, tôi muốn ôm chặt lấy Luân, ôm thật chặt cái thân thể yêu dấu, tôi muốn hôn vào đôi mắt kinh ngạc, tôi muốn nói với Luân một hơi, không ngừng, một câu nó thật dài, không bao giờ hết. Tôi muốn nói với Luân, đau xót và thành thật nói, câu nói tôi muốn gửi không riêng gì cho Luân mà cho tất cả những người thiếu nữ Việt Nam, qua hình ảnh Luân lúc đó. Những người thiếu nữ xấu số của một đất nước hiền hậu như họ không bao giờ thích hợp với một không khí chiến thời nào.

Tôi muốn bảo Luân, tôi muốn bảo: Anh xót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng huỷ phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng, trong hầm trú ẩn máy bay. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em đêm giã từ Hà Nội ra đi nhìn về Hà Nội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên. Buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhoà bãi cũ. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh xót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột cây số từng nền luỹ tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh xót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.

Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ đến em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh xót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm.

Nhưng tôi không nói được một lời nào. Tôi cũng đứng sững đó trong nỗi xúc động mãnh liệt chưa từng cảm thấy. Tôi đứng sững đó, tôi đang sống một trong những phút giây xúc động nhất của đời tôi, tôi tưởng đã chết rồi những niềm xúc động. Khuôn mặt yêu dấu của Luân cứ lớn dần, lớn dần, như khởi đầu là một phiến trời thật nhỏ sau một khung cửa hẹp, một hẻm núi, bây giờ ra ngoài khung cửa, khỏi hẻm núi cái phiến trời nhỏ đã lớn thành cả một vùng mênh mông, tôi ngắm nhìn nỗi vui mừng của tôi mênh mông trong đó.
Rồi đáy mắt Luân thoáng lên một ánh lửa. Tôi nhận cái ánh lửa ấy như một tiếng chào thầm, một sự đáp lại yên lặng. Luân nhìn tôi như thế, đoạn Luân cúi đầu xuống và quay gót đi trở lên.
Chúng tôi lên theo. Căn nhà lớn dựng trên đúng đỉnh đồi trọc nhìn xuống một căn thứ hai, phía tay trái, nhỏ hơn, tôi đoán là nhà bếp. Cả hai cùng mới cất. Mái lá tươi nằm trên những cột nhà là những thân cây rừng. Tường vách là những tấm phên đan hình mắt cáo, nhiều tấm còn chưa trát đất. Thằng Tạo bưng lại cho tôi một bát nước chè tươi nóng. Anh Mùi quấn cho tôi một điếu thuốc lấy ra ở một cóng sành nhỏ dưới gầm giường; điếu thứ hai anh quấn cho cụ Chánh, điếu thứ ba cho anh. Chúng tôi cùng châm lửa và thở ra những đợt khói tan bay mau chóng trong gió rừng buổi chiều lồng lộng thổi qua. Vẫn xa hơn mọi người một chút, vẫn một thái độ yên lặng. Luân ngồi yên trên một góc giường giữa cái vui vẻ ồn ào của mọi người, như đắm chìm vào một suy nghĩ riêng tư thầm kín. Lúc tôi trả lời cụ Chánh là trên đường đi tìm địa điểm an toàn cho cơ quan tôi tình cờ qua đây, Luân đột nhiên đứng dậy đi ra. Tôi nhìn theo Luân đi khuất về phía căn nhà bếp. Mọi người, trừ tôi hình như không ai để ý đến sự bỏ đi bất thình lình của Luân, đã mỗi người một câu kể lại cho tôi nghe về những lần di chuyển gian khổ, những ngày tháng lênh đênh điêu linh kể từ ngày tản cư khỏi thị xã Hưng Yên, về vùng Ân Thi, rồi từ Ân Thi sang Đồng Năm, Cống Thần, Hồng Phú, qua Liên khu 3 vào Thanh Hóa, chợ Rừng Thông, phủ Thiệu Hóa, với hình ảnh những căn nhà mới dựng lên chưa ấm hơi người đã bị bom đạn đốt cháy tan tành ở những thị trấn năm ấy, khiến cho gia đình cụ Chánh – chạy trốn lửa đạn đuổi theo, đánh xuống như một kẻ thù dai dẳng – cố tìm cho được một đất sống thực an toàn đã phải tìm đến khoảng đồi trọc giữa vùng núi rừng hoang vu này. Kiểm điểm lại đoạn đường dài với những đổi thay không ngừng, cụ Chánh đã mỉm cười chỉ cho tôi gian nhà trống không ngoài mấy chiếc tay nải để trên hai chiếc giường gỗ và nói cả cơ nghiệp của gia đình cụ, mỗi lần di chuyển như vậy, mất đi, bỏ lại, bây giờ chỉ còn có thể. Cũng may là còn được mạnh khoẻ và còn những bàn tay làm lụng được.


Tôi cảm động nhìn bàn tay gầy yếu của cụ Chánh, và liên tưởng đến một bàn tay khác, với những ngón tay nhớ rất dài rất thon, bàn tay của Luân. Ngày xưa tôi đã ngắm nhìn bao lần không chán mắt những cái ngón trắng muốt khi xòe mở khi thu lại, hình nét đều mềm mại như một bông hoa. Tôi giật mình tưởng như cụ Chánh đoán được ý nghĩ tôi. Cụ nói gia đình cụ bây giờ – kể cả thằng Tạo người nào cũng đã quen lắm với những công việc cực nhọc: cất nhà, chặt cây, phát cỏ, đốt rẫy, làm đất rừng. Cụ nói: “Anh ở lại đây sáng mai sẽ thấy cả nhà tôi, già trẻ lớn bé kéo nhau ra làm đất rẫy. Bây giờ biến thành nông dân cả rồi. Em Luân nữa, nó cũng cày bừa giỏi ra phết rồi đấy cậu Trí nhé”.


Hình ảnh lam lũ của Luân đẩy lưỡi cày trên nền đất rừng cằn cỗi, khiến tôi xót xa nghĩ đến hình ảnh Luân ngày trước.

Bấy giờ là vào khoảng giữa năm 1945, cuộc đảo chính Nhật vừa kết liễu. Bắt đầu những trận mưa bom của phi cơ đồng minh. Chúng tôi theo trường tản cư về thị xã Hưng Yên. Và quen Luân ở đó. Chúng tôi, vì là ba người: Phạm, Trương và tôi do một sự tình cờ đã đến trọ học cùng nhà một bà cụ già: cụ Lý Bằng. Luân là cháu gái cụ Lý. Cùng một phố, chúng tôi hằng ngày gặp Luân. Ấy là những buổi sáng, mùa hè thật sớm, mùa đông muộn hơn một chút, nhưng sáng nào trở dậy là chúng tôi đã thấy Luân cắp một cái rổ quần áo cao có ngọn sang giặt ở cái ao rộng phía sau nhà cụ Lý. Bờ ao sát liền với buồng học – tường là những tấm liếp mỏng – khiến cứ nằm ở giường nhìn ra chúng tôi cũng ngó thấy Luân thấp thoáng ở ngoài hàng rào sương rồng đầu cổng, Luân đi qua vườn, Luân tiến lại phí bờ ao.
Hình ảnh mà tôi còn giữ được ở những buổi sáng lâu dần đã là những buổi sáng đợi chờ ấy, của Luân là một mái tóc phủ kín vai kín lưng, mặt nước xao động sóng sánh, những cánh bèo Nhật Bản dạt rộng thành một vùng tròn chung quanh cái cầu tre mỏng mảnh, tiếng rũ tiếng đập, tiếng nước đổ ào ào trong yên lặng mát trong, và những cái bọt xà-phòng trắng xốp trôi đầy mặt nước. Qua thời gian làm quen khởi đầu ngây ngô, tức cười, ở Luân là những lắc đầu những nụ cười muốn giấu, một vẻ sợ hãi luống cuống rất đáng yêu, ở chúng tôi là những câu thả tình bóng gió, bâng quơ, những thăm dò ý tứ một cách hóm hỉnh vụng dại, những phút đứng cạnh bờ ao hàng giờ mà không biết làm gì hơn là bứt những cánh lá trên đầu Luân thả đầy mặt nước, những hẹn hò vu vơ lúc Luân đã giặt xong đứng dậy, chúng tôi quen nhau. Cho đến bây giờ, tôi không có đủ bằng chứng để quyết đoán chắc chắn – chưa từng ai hỏi ai điều đó – tôi vẫn nghĩ rằng cả ba chúng tôi đều yêu Luân. Phạm yêu Luân, Trương yêu Luân và tôi cũng vậy. Cùng yêu và điều buồn cười, nhưng đúng, cùng yêu như nhau. Tình cảm của mỗi người đối với Luân có thể khác biệt trong phần tâm tưởng thầm kín, nhưng ở những biểu tỏ thì có thể nói là đồng đều. Tình yêu chung gửi cho một người này nếu không gây những va chạm, những tổn thương đáng tiếc cho tình bằng hữu chúng tôi suốt thời gian đó, một phần do sự đồng đều này. Cả ba như cùng ước hẹn ngầm: nên đứng đó, đừng ai đi xa hơn nữa. Một phần, và cũng là nguyên nhân chính, tình yêu của chúng tôi thuở đó, như tuổi, như lối sống, cũng lãng mạn, hồn nhiên, cũng mát như trong tâm hồn mỗi đứa chúng tôi lúc bấy giờ. Yêu một người cũng như yêu cảnh vật, một đêm trăng, một ngày mưa, một buổi chiều có nắng đẹp, một bông hoa cùng ngó thấy một buổi sớm trong vườn, không ai tính đến chuyện ngắt bông hoa vì lòng còn ngây ngất. Yêu như yêu một hình ảnh, yêu như yêu thiên nhiên, tạo vật, cuộc đời. Yêu như yêu chính cái bản thân mình. Tình yêu ấy lúc đó và về sau, chẳng những đã không gây những tiếc hận mất mát cho ai mà mỗi người đều cảm thấy ở mình như nó lớn gấp ba lần, nó cộng tâm hồn mình với tâm hồn hai thằng bạn thân làm một. Đối với Luân, cũng không có chuyện lựa chọn khó xử, Luân nhận cả, Luân không nghiêng về phía nào. Không nhận riêng một tình yêu nào hết, Luân sung sướng nhận lấy cái không khí yêu thương. Hoặc nếu có sự lựa chọn rồi của Luân trong thâm tâm, chúng tôi không biết. Chỉ biết những thời gian sau, thân mật hơn, những việc đáng lẽ chỉ có ý nghĩa vì thầm kín riêng tư: tặng một kỷ niệm, viết một lá thư, hẹn một buổi tối gặp mặt, chúng tôi cũng bàn với nhau, có thoả thuận mới tặng mới gửi. Tôi cảm động nhớ lại cái thế giới đẹp một vẻ đẹp hoang đường những năm tháng ấy. Cuộc sống thần tiên. Sách vở, bạn bè. Luân ở giữa chúng tôi. Từ một người bạn nhỏ, một cô gái láng giềng đến người thiếu nữ của mối tình thơ mộng thứ nhứt đầy vẻ bỡ ngỡ, khám phá như cái ý thức đầu tiên mở vào cuộc sống. Tâm hồn ấy thiên thần tạo nên cuộc sống ấy thiên đường. Nỗi buồn ghê gớm nhất cũng chỉ là niềm bâng khuâng, nỗi nhớ thương cũng là lửa ấm, cả cái bối cảnh âm u của một thời chiến bắt đầu bén lửa cũng không chạm được vào cái thế giới thần tiên.

Mấy tháng về sau, khi cụ Chánh đau nặng, Luân phải đi chợ xa thay mẹ, chúng tôi thường chiều chiều kéo nhau ra khỏi thị xã lên trên con đê cao đầu làng Mậu Dương đón Luân gánh hàng từ phía Tân Châu về. Vượt qua con sông Hồng mênh mông lúc đó đã đỏ thẫm ráng chiều, cái bóng nhỏ bé của Luân khi hiện ra ở đầu con đê cao vẫn có cái tác động mầu nhiệm đổi thay cảnh vật, làm tươi sáng cả một vùng hoàng hôn bát ngát đang thấm vào tâm hồn dễ xúc động của chúng tôi. Luân đến, đặt gánh hàng xuống, thở ra, thường vẫn cau mặt trách chúng tôi “đón đường” như thế. Nhưng trong cái cau mặt rất đáng yêu có thoáng lên một ánh sung sướng. Nhiều lần, nghịch ngợm, Luân chịu để cho chúng tôi thay nhau gánh đỡ gánh hàng nặng một đoạn đường. Những đoạn ngắn chỉ dăm bảy bước. Chúng tôi không quen, đau vai, đã hạ vội cái đòn gánh xuống. Và Luân lại được dịp cười phá lên và chê “cái vai học trò của các anh”.
Con mắt yêu thương của chúng tôi, trước sau đều nhìn thấy bất cứ cái gì ở Luân cũng hay cũng đẹp. Riêng tôi, đẹp nhất là cái tiếng nói. Chỉ là âm thanh mà nghe thành hình ảnh. Tiếng nói mỗi khi nghe thấy, nhớ tới, thường làm tôi nghĩ đến một buổi sáng ở một cửa rừng vui nào với những hàng cây thưa, những thảm cỏ mướt, những tiếng chim ca ánh sáng trên đầu, cái buổi sáng bình yên trong ca dao, có cu gáy có bướm vàng của Huy Cận.

Tiếng nói tựa như cái toàn thể hiền hậu của một khuôn mặt hiền hậu, nhìn vào tâm hồn kẻ nhìn cũng hiền hậu theo. Nó tác động mãnh liệt trong tôi đến nỗi có nhiều buổi tối tôi đã rủ Phạm, rủ Trương cùng lên nằm ở căn gác trọ một người bạn cùng lớp – hắn ở sát nhà Luân – và qua một khung cửa khói bốc lên làm chảy nước mắt, chúng tôi đã chụm đầu hàng giờ lắng nghe tiếng Luân cười, nói từ dưới bếp nhà Luân vọng lên. Nỗi thích thú không bao giờ tìm lại được đã khiến tôi về sau thường nghi ngờ cái khiếu thẩm âm của mình trước bất cứ một tiếng hát, một điệu nhạc nào. Vọng lại từ quá khứ, hình ảnh Luân có thể sẽ nhoà mờ dần, nhưng tiếng nói của Luân cất lên từ những ngày đẹp cũ, âm thanh huyền hoặc của nó còn nguyên vẹn trong đầu óc tôi. Về sau, rời bỏ Hưng Yên, ở những lá thư dài viết cho Phạm cho Trương, tôi nhớ vẫn nói với bạn về cái tiếng nói của âm thanh và hình ảnh. Tiếng nói ấy suốt đời tôi vẫn còn nghe thấy.

Cụ Chánh kể chuyện gia đình cụ, tôi thuật lại đời sống mấy năm tản cư kháng chiến của tôi và đêm rừng bên ngoài tự bao giờ đã xuống. Chị Mùi đứng lên mắc màn, cụ Chánh mời tôi đi ngủ. Tôi nói tôi chưa buồn ngủ và đứng dậy. Ý chừng cụ Chánh đoán được ý tôi: “Thế anh ra ngoài một lát cho thoáng rồi vào đi ngủ kẻo muộn. Chắc em Luân nó còn ở dưới bếp”.
Tôi châm một điếu thuốc trong khoảng tối đen hoa mắt và lần bước về căn nhà bếp thấp thoáng ánh lửa hắt lên. Một tấm khăn trắng bịt kín đầu cho bụi cám khỏi vướng vào mái tóc, một cái áo bông đen phủ lên vai – đêm rừng lạnh buốt – Luân ngồi sàng gạo dưới ánh lửa. Tôi đứng lại. Tôi nhìn như thu vào hồn mình hình ảnh Luân lúc đó, lòng tay Luân nắm chắc mép sàng, những ngón tay xòe mở mềm mại, dáng ngồi nghiêng nghiêng, bờ vai rung nhẹ theo nhịp sàng, và những hạt gạo trắng muốt lọt sàng rơi rào rào xuống cái yên tĩnh huyền bí của đêm núi rừng. Cho tới khi cảm thấy sự có mặt của tôi, Luân ngẩng đầu lên. Đôi mắt thật buồn của Luân bắt gặp cái nhìn không giấu được cảm động của tôi. Luân ngừng tay sàng trong một giây ngắn rồi lại sàng tiếp. Tiếng nói nhỏ chỉ vừa đủ nghe thấy:
“Anh ngồi xuống đây, anh Trí.”
Tôi ngồi xuống trước mặt Luân. Một khoảng yên lặng – tôi đoán sao rừng chắc đang sáng nhiều vô kể – rồi Luân cất tiếng:
“Anh nói đi tìm địa điểm cơ quan, anh nói dối thầy em, phải không?”
Tôi gật đầu:
“Anh biết Luân ở đây. Anh lên tìm Luân.”
Câu trả lời hình như không làm Luân sung sướng. Mà trái lại. Khuôn mặt buồn, đều tay sàng, với một giọng nói cố làm thản nhiên.
“Anh sắp đi khỏi nơi này. Anh sắp về phố Hà Nội phải không?”

Tôi kinh ngạc về cái dự định thầm kín bị Luân đoán trúng tuy đã định kể hết cho Luân nghe chuyện tôi sắp bỏ đi xa, cuộc khởi hành sắp tới là nguyên nhân chính khiến tôi đã đi bộ suốt hai ngày đường để găp lại Luân lần cuối cùng. Tôi cúi đầu xuống trước viễn tượng một chuyến đi tự nhiên trở nên buồn thảm lạ lùng. Đấy em ạ! Người đàn bà đưa đường cho anh đã nằm chờ sẵn ở một địa điểm bí mật gần giới tuyến. Trên đường sang đây tìm em, anh đã ném hòn đá xuống dòng sông Mã, một hòn nữa xuống dòng sông Chu như những dấu hiệu vĩnh biệt, và sớm mai khi rời bỏ ngọn đồi này đi xuống anh sẽ đi những bước đầu tiên trên con đường trở về một thứ đất nước và thế giới bên kia. Anh biết em ở đây, trước khi bỏ đi, anh không thể không tìm gặp lại em một lần sau cùng. Gặp lại cho Phạm. Cho Trương. Cho em. Cho chúng mình. Cho một cái gì đã mất. Cho cái thế giới thần tiên, cái thiên đường lộng lẫy. Cho những buổi chiều của chúng ta trên con đê xưa, những buổi sáng của chúng ta trong căn vườn cũ. Cho cái vốn kinh nghiệm cần thiết của một đời người khi tới lúc không thể sống bằng kỷ niệm. Cho những ảo tưởng thực hơn nghìn lần sự thực. Cho những sự thực đã thành ảo tưởng. Cho sự chấm dứt của những năm tháng bình yên. Cho sự khởi đầu của những tháng năm đau đớn. Anh muốn khởi một cuộc hành hương trở về tuổi ấy, cái tuổi trăng tuổi sao trong máu trong tim, cái tuổi con bướm bông hoa ngoài đồng nội. Khi ngày mai đã là một đổi khác lớn lao, anh muốn về với lá thư, tấm hình, nỗi nhớ thương, niềm bâng khuâng, cái thế giới ảo tưởng, những rung động khởi đầu, tình yêu thứ nhất.

Nhưng tôi không thể trả lời mà hỏi:
“Sao Luân biết anh về Hà Nội?”
Luân đặt sàng xuống, lấy tay vun gạo thành một đống lớn, san phẳng rồi lại vun lên:
“Em biết anh sẽ rời bỏ nơi này ngay từ lúc trông thấy anh đột ngột hiện ra ở dưới chân đồi. Người xa lạ em còn biết, nữa là anh. Người đi xa có trở lại, người đi không về, em đều biết trước. Có lẽ vì mấy năm nay em nhìn thấy nhiều quá những cảnh kẻ ở người đi như thế.”
Con mắt Luân gửi vào một khoảng không, tiếng nói chỉ còn là hơi thở:
“Các anh đi và các anh không trở lại.”
Tôi cảm thấy một buốt lạnh toàn thân, còn buốt lạnh hơn đêm rừng vây quanh khi Luân nói tiếp:
“Em cũng không bao giờ gặp lại anh nữa đâu. Gặp anh lần này là lần cuối cùng đấy, anh Trí.”
Câu nói đượm một vẻ chịu đựng nhẫn nhục. Một thứ cúi đầu trước định mệnh. Tôi không tìm được ý tưởng chống lại nó. Chính tôi cũng cảm thấy như vậy. Lần cuối cùng. Hình ảnh của chia cách vĩnh viễn vây lấy chúng tôi. Khoảng tối đen khủng khiếp mở ngay từ chỗ này đến như đêm rừng trước mặt.
Luân lắc đầu như muốn đuổi đi hình ảnh đó. Luân đẩy cái sàng về phía tôi:
“Sàng hộ em một tay.”
Tôi đỡ lấy chiếc sàng nhưng không biết cách, làm gạo văng tung tóe khắp chung quanh khiến Luân bật cười.
“Các anh vẫn thế, chẳng được cái tích sự gì hết.”

Rồi Luân hỏi tôi còn nhớ không, những buổi chiều ngày xưa trên con đê Hưng Yên, chúng tôi tranh nhau gánh hàng cho Luân chưa được mấy bước đã bỏ vội đòn gánh xuống, những buổi sáng ở cầu ao nhà cụ Lý đòi giặt hộ Luân, đánh rơi cả quần áo, bàn chải, xà-phòng xuống nước. Nhưng một vài kỷ niệm ngộ nghĩnh vừa nhắc lại chỉ gây được cho Luân và tôi một nỗi vui ngắn. Nét buồn đã trở lại khuôn mặt khi Luân hỏi tôi về Phạm về Trương. Tôi cho Luân biết Phạm đã chết, thân thể tan nát trong một cuộc oanh tạc ngay trên mảnh đất quê hương của Phạm, và tin cuối cùng tôi nhận được của Trương cách đây đã hai năm là Trương sống vất vưởng bệnh tật tại một vùng nước độc gần biên giới.
Chỉ còn nghe thấy tiếng Luân nói: “Tội nghiệp cho các anh”. Lửa bếp tự lúc nào leo lét vừa tắt hẳn. Chỉ còn điểm sáng nhỏ của điếu thuốc cháy dở. Một tiếng tàn than nổ gọn trong bóng tối. Chúng tôi ngồi đối diện mà không trông thấy nhau như thế, rất lâu, tưởng như cùng lắng nghe một sự im lặng kỳ lạ nào, cho tới lúc Luân cất tiếng trước: “Mấy năm rồi anh Trí nhỉ?”. Tôi đáp: “Sáu năm”. Sự yên lặng, bóng tối, khiến tôi trở lại ý nghĩ ban nãy: chắc bây giờ sao rừng đang sáng nhiều vô kể bên ngoài. Tôi rủ Luân ra ngoài. Tôi nghe thấy gạo vun lại, tiếng sột soạt của tiếng vỉ buồm được kéo gọn vào một phía. Bước ra khỏi cửa bếp, tay tôi chạm nhẹ vào tay Luân. Tôi nghĩ đúng. Sao rừng trên đầu chúng tôi phút đó sáng nhiều vô kể. Những điểm sáng to nhỏ, lỗ đỗ, tưởng như một lúc nào đó sẽ rớt xuống sẽ đậu đầy trên đầu trên cổ chúng tôi. Mùi đất bốc lên, tiếng côn trùng rậm rạp ở những khoảng thấp. Nhịp chân xiêu xiêu cho tôi biết mình đang đi xuống. Được một quãng Luân đứng lại. Chúng tôi ngồi xuống một thân cây. Tôi kéo Luân vào gần cùng lúc một vệt sao sa tự đỉnh trời kéo một vệt thật thẳng thật dài mất hút vào những bóng núi. Luân đã cởi chiếc khăn bịt đầu tự lúc nào! Tôi ngồi yên, mặc cho những sợi tóc vướng vào cổ, vòng tay về phía trước thu gọn lấy hai bàn tay. Luân không chống lại. Cái thân hình thu nhỏ lại ấy như muốn kiếm tìm một sự che chở. Tôi thấy tôi không còn che chở gì được nữa cho Luân. Cuộc sống đổi khác và con người đã lớn. Cái thế giới thiên đường, thần thánh ngày xưa của chúng tôi đã che chở Luân. Cái thế giới ấy đã mất.

Luân ngã đầu vào vai tôi:
“Anh về Hà Nội sẽ làm gì?”
“Chưa biết em ạ, có điều chắc chắn anh sẽ bỏ học. Anh nghĩ anh sẽ sống một cuộc đời vô nghĩa và tầm thường. Đi buôn chẳng hạn. Nhưng thế nào anh cũng về thăm lại Hưng Yên. Đó là một trong những việc làm thứ nhất.”
Luân nắm chặt tay tôi như tìm thấy nguồn an ủi.
“Anh có về thăm Hưng Yên nhớ thăm cả nó cho em.”
Tôi gật đầu. Anh sẽ về thăm lại cái dấu tích, cái thiên đường đỗ vỡ của chúng ta. Cho em. Cho anh. Cho Phạm cho Trương nữa. Thềm nhà cỏ hoang, bờ ao không người. Bờ đê, những lối đi cũ. Anh sẽ không lấy lại được gì trên những dấu tích kỷ niệm ấy, nhưng anh sẽ về. Người ta không sống được bằng kỷ niệm, nhưng trên những lông lá mới mọc và sự đổi khác ghê gớm của tâm hồn và hình thể, anh muốn trở về soi ngắm mặt mũi mình xuống lòng nước cũ. Anh muốn nhận định lại nhiều điều và điểm khởi hành phải bắt đầu từ đó.
“Em thì không bao giờ trở về Hưng Yên được nữa”, Luân nói một cách tuyệt vọng. “Em sắp lấy chồng rồi.”
Tựa hẳn đầu vào vai tôi. Luân đã kể cho tôi bằng cái giọng đều đều nhẫn nhục của kẻ ưng chịu cảnh ngộ về người đàn ông mấy tháng nữa, thân thể tàn phế, sẽ chống lên mình chiếc nạng gỗ và sẽ tập tễnh đi lên ngọn đồi này. Tên hắn là Mạnh. Cũng tử tế, hiền lành, người quê mùa, theo Luân, Mạnh bị thương trong một trận đánh đồng bằng ngoài liên khu 3, hiện đang nằm ở một quân y viện cách đây ngót hai mươi cây số, lý do chính đã khiến tôi cho gia đình Luân đến khẩn hoang ở ngọn đồi trọc này. Luân không yêu Mạnh. Cuộc hôn nhân cũng vô nghĩa như đời sống những tháng năm vừa qua, vô nghĩa như đời sống con người trong chiến tranh. Nhưng cái ý định ở mãi mãi với Mạnh có từ buổi xuống thăm Mạnh ở bệnh viện.
“Em nhìn thấy chiếc nạng gỗ và Mạnh lúc đó. Và thế là xong.”

Luân nhắc lại một cách tuyệt vọng:
“Thế là xong.”
Tôi muốn tìm một câu nói an ủi Luân, nhưng tôi không nói được gì. Trong một yên lặng kéo dài vòng tay tôi ôm chặt lấy người Luân hơn, tôi nhìn những điểm sao lấp lánh trước mặt, nghe tiếng côn trùng rậm rạp xuất lên từ những khoảng thấp dưới kia, và tôi nghĩ đến cái đêm cuối cùng, lần gặp gỡ cuối cùng. Tôi xoay người Luân trở lại và, trong cái ý nghĩ gửi về một cái gì đã mất ấy, tôi cúi xuống hôn Luân. Tôi hôn Luân nồng nàn và tôi nói:
“Anh hôn em lần đầu tiên và lần cuối cùng.”
Luân khóc không thành tiếng. Nước mắt Luân ướt đẫm hai gò má. Lúc tôi đỡ Luân đứng dậy và chúng tôi cùng đi trở lên đỉnh đồi, cánh tay Luân khoác chặt lấy tay tôi khiến tôi có cảm tưởng như tôi, Luân cũng muốn ghi nhớ những phút cuối cùng như kỷ niệm nõn nà đau đớn nhất của một thời đã mất.
Sáng hôm sau, tôi xuống núi thật sớm. Như người đi trốn. Tôi không có can đảm ở lại để nhìn thấy cái hình ảnh lam lũ của Luân đẩy lưỡi cày trên nền đất rừng cằn cỗi. Con đường nhỏ mờ mờ mở ra từ chân ngọn đồi. Trời đã sáng nhưng hai bên núi rừng còn yên lặng ngủ. Gần tới đường lớn tôi trông thấy một con bướm. Nó đậu trên một bụi cây thấp. Mình nó vàng ánh với những chấm đen ở hai đầu cánh. Tôi bắt lấy con bướm và bỏ đi không nhìn trở lại.
Suốt dọc đường tôi nghĩ đến Luân, đến Phạm, đến Trương, đến tôi. Lúc nhìn xuống, con bướm tự lúc nào đã chết nát trong lòng bàn tay.

Mai Thảo
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ

Michelle Phương Thảo
Ngày xưa, có người bước bảy bước đã làm được một bài thơ. Ai nghe nói thế cũng lắc đầu, le lưỡi, xem đó như là một thiên tài thi sĩ.

Cách đây không đâu lắm, ở miền Nam Việt Nam, có người mỗi ngày “sản xuất” chừng một ngàn câu thơ! Không biết ta nên xưng tụng người đó là “cái gì... tài,” và ta cũng không biết mỗi ngày người đó đi bao nhiêu... bước!

Người ấy chính là nhà thơ Bùi Giáng của nước Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi ngày nhà thơ này đều đi (hoặc chạy, hoặc nhảy) khắp nơi chốn: cánh đồng, làng xóm, phố xá, quán cà phê, nhà bạn bè, trường đại học... Có lẽ chính ông cũng không biết ông đã đi/chạy/nhảy bao nhiêu bước. Còn nên xưng tụng ông là gì thì chính ông đã tự xưng tụng chính mình: Ðười Ươi Thi Sĩ! Nói cho công bằng, hồi trước ông đã chọn một biệt danh: Trung Niên Thi Sĩ. Nhưng hình như càng lớn hơn tuổi trung niên, ông càng cảm thấy mình gần với... đười ươi nên đã đổi bút hiệu thành Ðười Ươi Thi Sĩ!
Image
Poster chương trình “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ,” do Viet Art Center tổ chức. (Hình: Viet Art Center tổ chức)


Một vài dòng trên không đủ để diễn tả con người và thiên tài Bùi Giáng, một nhà thơ đệ nhất tiêu sái, cũng là nhà thơ đệ nhất... thần kinh. Bùi Giáng điên mà rất tỉnh. Bùi Giáng khùng khùng mà rất mực khôn ngoan. Bùi Giáng coi thường sự thế, tung hê tất cả, khuấy nát cuộc sống làm thành một đống lộn xà ngầu, nhưng Bùi Giáng lại là một nhà thơ mà tác phẩm được ấn hành nhiều nhất, trước cũng như sau 1975.

Nói cho cùng, không phải mỗi ngày Bùi Giáng đều “sản xuất” một ngàn câu thơ. Tuy nhiên, số lượng thơ ông để lại quả thật vô cùng đồ sộ. Nếu nói theo kiểu “góp nhặt cát đá” thì trong những câu thơ ông viết, rất nhiều câu được coi là thơ thần, người thường không thể viết ra được. Cũng chẳng lấy làm lạ, Bùi Giáng vốn ở “cõi trên” hơi nhiều. Bên cạnh đó, nhiều câu thơ khác của Bùi Giáng được xem là viết lung tung, lộn xộn, ý nghĩa mù mờ hoặc chẳng có nghĩa gì cả. Tìm hiểu những câu thơ ấy, người ta thấy rối mù thiên địa. Nhưng biết đâu đó cũng là những câu “thơ thần” mà “người trần mắt thịt” chúng ta không thể hiểu được lẽ nhiệm mầu, cao siêu trong ấy! Một số câu khác, nếu người đọc nắm bắt được cách nói lái tài tình của Bùi Giáng thì hiểu được, mà một khi hiểu ra rồi thì cười lăn chiêng!

Nhiều nhà bình luận văn học đã tìm cách tập hợp các bài thơ và các câu thơ lẻ của Bùi Giáng rồi san định thành từng tập, từng phần, từng chủ đề. Ðó thật là những công trình đáng kể, giúp người đọc hiểu thêm về “hiện tượng Bùi Giáng.” Nói chung, thơ Bùi Giáng có thể được chia làm hai loại: triết thi và tình thi, thơ triết lý và thơ tình yêu. Bước vào cõi thơ nào của Bùi Giáng, dù là triết hay tình, người ta cũng thấy bát ngát hương hoa.

Giờ đây Bùi Giáng đã trở về với “cõi nguyên xuân,” “cõi ban sơ” của ông; không còn đứng giữa ngã tư cuộc đời chỉ đường cho người ta tiến tới hay rẽ phải rẽ trái nữa; cũng không còn tận hưởng cuộc đời với tách cà phê, tô mì vịt nữa; mà cũng không còn si mê cuộc đời với bao nhiêu dáng dấp giai nhân nữa, nhưng tác phẩm của ông vẫn được in ra, rất nhiều; người viết về ông cũng vẫn viết đều đều, nhiều lắm; những buổi tọa đàm, thuyết trình về ông vẫn được tổ chức nơi này nơi khác. Quả thật, Bùi Giáng vẫn hiện diễn giữa chúng ta, giữa một cuộc đời mà ông đã từng sống trong đó một cách say mê, cuồng nhiệt.

Việt Art Center, một tổ chức có tôn chỉ giới thiệu văn học nghệ thuật Việt Nam với thế giới, trước “hiện tượng Bùi Giáng,” đã quyết định tổ chức một buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ.” Việt Art Center đã mời giáo sư Việt học và Ðông Nam Á học Quyên Di của đại học UCLA làm diễn giả chính trong buổi sinh hoạt này. Cuộc nói chuyện của ông được chia làm hai phần: phần đầu, ông nói về “triết thi” của Bùi Giáng; phần hai, ông cùng với Michelle Phương Thảo đối thoại về “tình thi” của Bùi thi nhân. Vốn là một giáo sư văn chương, lại có lối nói chuyện rất duyên dáng, dí dỏm, ông đã khiến cử tọa thu nhận được những chia sẻ đầy tri thức một cách say mê và thích thú. Ai đã từng nghe Giáo Sư Quyên Di nói chuyện đều có một nhận định chung như thế.

Phần văn nghệ trong buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ” sẽ do hai nghệ sĩ tài hoa và chuyên nghiệp đảm trách: ca nhạc sĩ Lê Hồng Quang và dương cầm thủ Tường Vân. Lê Hồng Quang là giáo sư thanh nhạc, anh đã luyện thanh cho rất nhiều người yêu thích nghệ thuật đơn ca, hợp ca. Chính bản thân Lê Hồng Quang cũng là một ca sĩ có giọng hát rất đặc biệt. Tường Vân là giáo sư dương cầm của trường Virtuosos Russian Music Academy. Cô đã đào tạo rất nhiều dương cầm thủ thuộc đủ mọi lớp tuổi, mọi thành phần. Trong buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật này, Tường Vân vừa đệm dương cầm cho tiếng hát Lê Hồng Quang vừa độc tấu những bản nhạc đặc biệt. Tài nghệ của cô chắc chắn sẽ khiến khán thính giả vô cùng ngưỡng mộ.

Buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật “Bùi Giáng, Ðười Ươi Thi Sĩ” sẽ được tổ chức vào ngày Thứ Bảy, 9 tháng 11, lúc 3pm, tại thính phòng thánh đường St. Anselm Episcopal Church, 13091 Galway St., Garden Grove, CA 92844. Vé có hai hạng: VIP $30 và đồng hạng là $20 đang được đặt bán tại nhà sách Tự Lực, 14318 Brookhurst Street, Garden Grove, Ca 92843.
Ðiện thoại: (714) 531-5290.

Việt Art Center hân hạnh đón tiếp quý khách để chúng ta cùng chuyện trò về nhà thơ đặc biệt Bùi Giáng, một hiện tượng văn học của miền Nam Việt Nam.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Image

Cây Hoàng Lan Hóa Thành Cây Si
Hồ Anh Thái

Mẹ càng đến tuổi về hưu thì bao nhiêu duyên lặn vào đang lặn vào trong bong hết ra ngòai, thóang nhìn lại tưởng người đàn bà hồi xuân tuổi bốn mươi. Trong nhà xưa nay duy trì một không khí cực kỳ dân chủ. Như mọi gia đình không có trụ cột đàn ông. Em gái tôi thông thạo tiếng Anh bảo là mẹ charming & attractive, ngày càng hấp dẫn và quyến rũ. Mẹ bảo cô nịnh thế chứ nịnh nữa thì con cô cứ phải đi nhà trẻ cho nó cứng cáp, xã hội hóa cho nó từ bé đi, tôi chẳng làm vú em bế con cho cô đâu, không nghe dân gian người ta nói à, càng già càng dẻo càng dai, bế cháu kêu nặng cõng trai trèo tường.
Tôi thì không nịnh mẹ. Dứt khóat không. Đơn giản vì tôi chưa con, còn lâu mới lấy vợ. Tôi phòng không, ngang hàng với mẹ.

Một đời mẹ vất vả. Tôi chắc thế. Hăm hai tuổi lấy chồng, hăm lăm tuổi chồng mất. Sinh được hai anh em tôi. Gái một con trông mòn con mắt, gái hai con mòn axít. Muốn ở yên mà nuôi con cũng chẳng xong. Tem phiếu bao cấp gạo nước không đủ. Tường đông ong bướm bay về. Vo ve. Nhặng xị cả lên. Có hẳn mấy anh trai tơ, mê lăn mê lóc. Anh hung hãn nhất dọa không lấy tôi, tôi xin tý tiết cả đôi ta, thế là em thủ tiết mà tôi khí tiết. Anh yểu tướng nhất thì thức suốt ba đêm bên giường trông tôi sốt li bì, đến mức mẹ đã mến lòng gật đầu cho xong. Đàn ông dễ thành công bằng chiến thuật thương con ăn mòn lòng mẹ. Chàng trai tân sắp đạt được mục đích với góa phụ, chàng cúi xuống định hôn nàng thì món ăn quá nhiều tỏi hôm ấy hại chàng. Hồi đó chưa có sing-gum với cun-e như bây giờ. Bị mẹ từ chối, chàng quay ra đòi uống thuốc ngủ tự tử, chàng không hung hăng bặm trợn, chàng yếu đuối chọn cách chết êm.

Rồi chẳng chàng nào chết. Mấy chàng trai tân ngày ấy về sau cũng lấy vợ, không đẹp lắm, con cũng không khôn lắm, nhà cửa chẳng biết làm sao mà bây giờ đều rơi vào một khuôn công thức, thành một đám ngũ tuần chuyên gia đi hát karaoke đọat giải Bàn tay vàng. Tôi bình luận ngày ấy mẹ lấy họ chắc bây giờ khổ nữa. Mẹ cười, biết đâu họ lấy được mẹ, bây giờ họ nên người.
Phụ nữ đẹp, lại thêm họat bát, thường có chút tự tin hoang tưởng. Chút hoang tưởng ở người đẹp khiến họ dễ quên cay đắng. Nó cũng là một thứ nội gián của đàn ông ở ngay trong lòng đàn bà. Tấn công một pháo đài hoang tưởng chỉ cần ranh mãnh một chút, thậm chí pháo đài thất thủ mà mà vẫn không tự biết. Mẹ rốt cục thất thủ trước một người đàn ông ra dáng đàn ông. Một kiểu đàn ông bất cứ người đàn bà nào cũng mơ ước. Chàng đưa nàng vi vu đi đó đi đây. Chàng đưa đón anh em chúng tôi đi học, kèm cặp bài vở cho cả hai đứa. Sửa từ cái bếp dầu cho đến cái mái nhà mưa dột. Các lọai châu chấu ma, cào cào ma lượn lờ quanh nàng, chàng làm một bữa rượu mời tất. Mấy bồ âm mưu, mấy bồ dục vọng được dịp thổ lộ trút bỏ, rượu vào ôm nhau khóc bây giờ mày mới hiểu tao, bây giờ em mới hiểu anh. Xong rồi tan hết mỗi người một phương.

Chàng và nàng đang mặn nồng thì một hôm vợ chàng xồng xộc xông đến cơ quan nàng. Bà thợ dệt kiện tướng đứng mấy chục cái máy dệt, chẳng nói chẳng ràng, chồm vào cô kiều mảnh mai lả lướt, hai tay tát vun vút như thoi đưa. Đòn ghen kết thúc bằng một chưởng độc: bà vợ túm tóc nàng dúi xuống. Nàng cũng quờ quạng theo bản năng, túm được tóc tai đối phương. Hai cái đầu chúi xuống gần sát đất, hai cái phao câu chổng lên trời. Hai đối thủ trùng trục trong hội chọi trâu ở Đồ Sơn, ngoắc sừng ghìm đầu nhau xuống, biểu diễn miễn phí cho cả cơ quan nàng đứng xem.

Mọi cuộc đánh ghen đều kết thúc bằng sự can thiệp của đàn ông. Người can thiệp là một đồng nghiệp của nàng, biệt danh Đại dương, không phải vì yêu biển lớn mà có nghĩa là một con dê to. Ông dê to đi vòng ra sau cái phao câu đang chổng lên của bà Họan Thư, thò tay vào giữa hai chân bà ta, thành thạo làm động tác móc lốp. Bà kia trúng hiểm giật mình đánh thót, rú lên ối giời ơi thằng khốn nạn. Buông ngay tình địch ra. Ông Dê To đắc ý lắm với miếng võ cứu người đẹp. Ngày thường, ông Dê to vẫn bị coi là bệnh họan, các nữ đồng nghiệp ai cũng bị ông lợi dụng sờ mó, động chạm. Nhưng sau cú ngăn chặn có hiệu quả trận đánh ghen, ông Dê to được cánh đàn ông trong công ty học hỏi, nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm.
Những vết thâm tím trên mặt mẹ chưa kịp tan hết thì người tình của mẹ bị bắt. Chàng cho vợ uống một bát thuốc bắc sắc cùng bả chuột. Tất nhiên là chết đứ đừ. Chàng nàng bị điệu ra tòa. Nàng có nhân chứng, bằng chứng ngọai phạm. Nàng cũng chẳng biết tí gì về âm mưu thanh tóan vợ của chàng. Tuyệt nhiên không. Chàng một mình đi tù.

Nàng từ đấy thề độc, không bao giờ yêu đương lả lơi nữa.
Được gần hai chục năm cho đến bây giờ. Càng già càng duyên. Lại tường đông ong bướm bay về. Lại các ứng cử viên nô nức đến nhà. Đối tượng của mẹ toàn mầm non công ty nghĩa trang hoàn vũ, đa số là hội viên bể bơi người cao tuổi, sân vận động tình nghĩa. Các bậc phụ huynh càng cao tuổi, càng kiễng chân tươi duyên, rướn cổ tình tứ, gồng mình lãng mạn. Mẹ xiêu lòng, thầm xóa bỏ lời nguyền. Tôi cũng xiêu lòng theo, con chăm cha không bằng bà chăm ông, con chăm mẹ không bằng ông ké chăm bà già. Tôi gật đầu bật đèn xanh. Từ nay mẹ được phép mở cuộc kén rể. Trong khuôn viên gia đình có cây hoàng lan từ thời ông ngọai tôi. Tôi đặt dưới gốc cây bộ bàn ghế mây kiểu Louis XIV.
Địa điểm: dưới gốc hoàng lan
Thời gian: một ngày cuối tháng
Đối tượng: mỗi tháng một người
Nội dung: chuyện đời tôi
Tên chương trình: chân dung cuối tháng

Mỗi đối tượng được mời đều phải theo quy định kể chuyện đời mình trước. mẹ có nhiệm vụ lắng nghe truyền đạt lại cho tôi.
Câu chuyện thứ nhất …
Chân dung thứ nhất,
Ông tên là A. Tên thật. Không phải tôi sợ phiền viết tắt. Tên ông như một tiếng reo ngạc nhiên bất ngờ vỡ lẽ. Sáu mươi hai tuổi. Ly dị vợ. Con cái đều đã có gia đình không tróc nã gì ông. Nghĩa là nếu mẹ về theo ông thì con cái ông không đứa nào đến ăn theo, quấy phá, đòi chia tài sản vân vâ. Chân dung A đến đấy là hết. Đơn giản.

Nhưng ngay tối hôm đó, mẹ vừa kể chuyện xong cho tôi biết cái chân dung đầu tiên thì ông A gọi điện. Đã khuya. Hai mẹ con tôi nháy nhau, cầu hôn gì mà vội vàng thế, đánh nhanh thắng nhanh thế. Mẹ hỏi có chuyện gì vậy anh? Tôi nhận thấy ngay từ cái nhìn đầu tiên rằng cô và tôi có cùng chung quan điểm hòai bão lý tưởng, cùng chung sở thích, chung gu, chung thú vui. Em đâu dám. Không, tôi nói thật, có cái này tôi viết nhờ cảm hứng sau buổi gặp gỡ duyên số chiều nay, tôi đọc cô nghe. Thôi anh ơi, tâm trạng em lúc này chưa sẵn sàng đọc thơ, anh để cho khi khác.

Không gì uy hiếp mẹ bằng dọa đọc thơ cho bà nghe. Mấy ông nhà thơ bạn mẹ hai giờ sáng gọi điện thọai, tôi vừa làm bài thơ trong cơn xuất thần, tôi đọc nhé. Mẹ gà gật ôm máy ừ hứ à há như Tây. Mọi thứ thơ lang thang trong vườn cảm xúc, có thể nổ máy bất kỳ từ đâu, có thể dừng lại hái hoa bắt bướm ở bất kỳ đâu cũng được. Mẹ mơ màng chìm đắm một lát, giật mình tỉnh dậy, xong rồi hả anh. Xong rồi, bây giờ để tôi đọc cô nghe bài này, bài này hay hơn bài trước. Hết bài thứ hai, ông bảo còn bài nữa, bài này mới thật là hay. Bài thứ tư ông bảo hay một cách độc đáo. Bài thứ năm thì tuyệt đỉnh. Bài thứ sáu thì tuyệt vời. Cứ thế, ông tranh thủ xuất bản miệng. Một thời gian sau xuất bản phôtôcopi, tự trình bày vẽ minh họa chim lá cá gái. Công đọan cuối cùng là bỏ ra năm bảy triệu in thành tập, vừa biếu vừa cho cũng đắt hàng. Một người làm quan cả họ được nhờ, một người làm thơ cả họ bơ phờ. Mẹ dặn tôi hễ thấy mấy ông thơ gọi điện đến thì phải nói mẹ vắng nhà. Mẹ dạy tôi nói dối kể từ ngày ấy.

Bây giờ nghe ông A đòi đọc, mẹ hoảng lắm. Ông A bị từ chối phũ phàng thì hung hẳn lên. Ông dám nói những lời một người ngày đầu ra mắt chưa dám nói. Cô điên à, thơ thẩn đồng nát nào ở đây, thơ nào so sánh được. Mẹ giật mình. Tò mò nổi lên. Thế là ông chớp thời cơ đọc luôn.

Bản kiến nghị dài của một con người tâm huyết luôn ưu tư trước tình hình đất nước gửi lãnh đạo Đảng và chính phủ. Ông chê tất, chẳng còn gì mà không chê, từ quản lý kinh tế cho đến quản lý đô thị, từ truyền hình văn hóa tầm thường bình dân cho đến giáo dục tùy tiện, từ y tế không nhân cho đến giao thông hốn lọan nhân chi chít. Mẹ ôm cái điện thọai không dây chạy khắp nhà một lúc, vừa nghe vừa bật bếp ga hâm lại đồ ăn cho tôi đi học tại chức bằng hai về muộn, sau vướng víu quá, mẹ đưa phắt điện thọai cho tôi nghe tiếp. Tôi áp ống tay vào nghe, cũng chạy khắp nhà, việc mình mình làm. Lúc này đã sang chương phê phán lối sống tiêu thụ thiếu lý tưởng của thanh niên thời đại. Tôi mà không làm xong bài tập trên màn hình vi tính hôm nay thì ngày mai tôi cũng xa rời lý tưởng. Thế mà thỉnh thỏang cũng phải đệm thêm mấy âm thanh như thể mẹ đang nghe.

Định ừ hứ giọng bass nam trầm mới giật mình nhớ ra, phải đổi giọng à há cho ra vẻ soprano nữ cao.
Một tháng liền ông đến luôn luôn. Ôm theo một cặp giấy tờ những kiến nghị tâm huyết. Xuất trình cho mẹ những giấy biên nhận của các cơ quan chức năng hứa sẽ nghiên cứu trả lời. Trước khi ra về, ông tặng mẹ một cái chén uống trà ma-de-in Ý Đại lợi. Sao không tặng cả bộ mà chỉ tặng một chiếc? Mẹ tự giải thích là chàng muốn nàng chỉ uống trà một mình mà vò võ đợi chàng.

Vài ngày sau, ông lại đến. Lần này là đơn kiện ông thứ trường cơ quan ông. Bốn năm trước ông đã biết tay này lợi dụng chức quyền đưa một đống bà con đồng hương vào bộ, tay này ôm gọn cô trà nước tạp vụ, tay này có biểu hiện vọng ngọai diễn biến hòa bình, nhưng lúc ấy ông mũ ni che tai mồm lẩm nhẩm mình còn hai năm nữa hạ cánh an toàn. Sợ người ta moi ra mình khai bớt tuổi trì hõan về hưu. Bây giờ cái dằm cũ trong da thịt mới nhức nhối, tái phát. Bây giờ ông mới thực sự là chiến sĩ đấu tranh cho công lý. Hăng hái, dồn dập, bền bỉ, mạnh mẽ, không khoan nhượng. Trước khi ra về, ông tặng thêm một cái chén uống trà. Mẹ giải thích đấy là ông muốn nàng chỉ được phép uống trà với con trai nàng.
Đến cái chén thứ ba thì mẹ bảo chàng gửi gắm thông điệp mong muốn được trở thành thành viên thứ ba trong gia đình ngồi uống trà cùng với mẹ con tôi. Lần này ông xuất trình một đơn kiện nữa. Nghe nói cả cơ quan đang tang gia bối rối như đưa đám, lao đao lảo đảo như xơi quả nốc ao.

Mẹ con tôi chờ đến cái chén thứ tư. Nhưng ông không đến mà gọi điện. Trong đống giấy tờ hôm qua tôi để lại nhà cô có cái thư kiến nghị bổ sung, hôm nay cô cầm lên đưa cho tay vụ trưởng chuyển giúp tôi. Đêm qua tôi thức cả đêm thảo kiến nghị mới, bây giờ đau đầu quá không đi được. Cực chẳng đã, mẹ đi chuyển thư theo lời ông. Nhận là em gái chuyển thư giúp anh.
Ông vụ trường nhận thư, chân tình bảo, chị là em gái chị nên khuyên anh ấy. về hưu rồi ờ nhà nghỉ ngơi cho nó khỏe, chơi với cháu, đi dưỡng sinh, đi du lịch. Thiếu gì việc làm, mò đến cơ quan cũ làm gì. Anh em tiếp chuyện được vài hôm là sợ, thóang thấy bóng ông A là bỏ chạy hết như chạy giặc. Đùn đẩy nhau ra tiếp. Không phải tiếp mà phải hầu. Hầu chuyện. Toàn dạy bảo với chê bai thời thế. Cơ quan họp, ông cũng nhảy vào họp cùng,thủ trưởng mới nói một, ông là thủ trưởng cũ đế vào hai ba, ông không còn là vua nhưng cứ làm thái thượng hoàng bố vua.
Nhờ chị nói với anh ấy, giả sử không có chuyện gì làm, buồn chân buồn tay thì yêu đi. Già yêu mới đằm thắm, sẽ không còn hậm hực tức tối nữa.

Nói đến chuyện yêu đúng là đề tài ưa thích của mẹ. Mẹ long lanh ngôn ngữ đưa đẩy một lát thì chợt nhận ra cái chén trà đang cầm trên tay giống một cái gì đó. Súyt nữa nông nổi đường đột kêu nhà em cũng có ba cái giống hệt như thế này. Kịp nhớ ra người ta bảo gái đẹp không biết giữ mồm. Mẹ trầm ngâm uốn luỡi bảy lần rồi mới khen cái chén đẹp thật. Ông vụ trưởng bảo cơ quan có cả bộ sáu chiếc, một cán bộ đi Ý, công tác mang về, gần đây rơi vỡ mất đi đâu mất ba chiếc. Mẹ ngậm tăm im thin thít rồi chào ra về.
Nếu câu chuyện tiến diễn biết đâu nhà tôi sẽ có đủ bộ chén. Thói tắt mắt Kiều Trinh, kều được cái gì là kều được của ông A sẽ làm lợi cho người đẹp ngũ tuần. Nhưng mẹ đã mệt với đống giấy tờ bề bộn của ông. Lại cũng gần hết tháng thứ nhất. Giờ thì ông phải nhường chỗ cho chân dung cuối tháng thứ hai….
Ông đại tá về hưu…
Chân dung cuối tháng thứ hai…

Ông tên là Bê. Tên thật. Không phải tôi sợ phiền viết tắt. Đại tá về hưu. Vợ chết. Hai đứa con, đứa học phổ thông, đứa học đại học năm thứ ba. Nghe thế, tôi đã bảo mẹ không đủ lực chăm nom ăn học cho chúng nó đâu, cũng không thể theo được cho đến khi dựng vợ gả chồng cho chúng nó. Đấy là chưa kể ông ấy chết trước, chúng nó đòi nhà đuổi mẹ ra đường.
Lính tráng, má văn công, mông bộ đội, thấy cô văn công đong đưa lẳng lơ bao giờ cũng rạo rực hơn một cô hát nghiêm trang. Một nữ văn nghệ sĩ lúng liếng đưa đẩy họat ngôn một tý là đọat giải của lính. Thành ra mẹ lọt ngay vào tầm ngắm ông chỉ huy của lính.

Hôm đầu theo đúng quy định trần thuật chuyện đời tôi. Hôm thứ hai ông kể chuyện tình yêu của lính, tranh thủ tạt qua nhà ba ngày lấy được vợ, ở với vợ một đêm cũng có con. Lính thì đái vào gốc chuối, chuối phải chửa. Kể xong lại bảo biết hát, ngày xưa đọat giải trung đoàn. Hát quan họ luyến láy ới a, đàn ông hát quan họ lại còn nhắm mắt, lắc người, trai lơ đĩ thế nào. Bướm lượn là bướm ối a nó bay. Mẹ buộc miệng sao hát bậy thế. Ông phật ý không hát nữa, có thế em đã kêu bậy, em làm người nhà của lính thế nào được.
Lần thứ ba ông đến sinh nhật mẹ. Tôi đứng bên cửa sổ tầng hai nhìn xuống đường thấy ông đi xe máy tới. Ngồi xe máy hai chân khùynh khoàng, bẻ tõe ra hai bên đón gió muôn phương. Hai ống quần pho màu quân phục, kéo xếch lên tận đầu gối, hở một đọan bắp chân, trước khi cổ chân mất hút vào trong đôi bít tất cũng màu quân phục. Đến gần nhà tôi, ông xuống xe dựng chân chống xuống rồi quay lưng ra đường, người ốp sát vào gốc cây. A, ngày xưa lính trẻ đái gốc chuối, bây giờ suy thận, đi thăm người yêu tiểu tiện gốc xà cừ. Xin đố bạn đọc khi quay lại trên người ông có thêm vật gì? Nghe đố, sao cũng có người bảo tôi sắp sửa nói bậy. Thực sự là ông đứng ốp vào gốc cây để không có ai nhìn thấy ông thắt cà vạt trước khi vào nhà người đẹp. Một cái cà vạt màu xanh lá cây thẫm.

Ông vào nhà, bê hộp bánh ga tô to như cái quả đi ăn hỏi cho ai. Cái bánh ga tô trang trí các lọai dây leo khá là diêm dúa. Thằng con đứa em gái tôi trèo lên để đánh vần dòng chữ sô cô la trên chiếc bánh. Mừng sinh nhật, 1949- 2002. Nó hỏi hai con số này là gì hả bà? Con vẹt ghi âm trong tay nó léo nhéo theo, hai con số này là gì hả bà? Mẹ ré lên sao lại ghi số má giống năm sinh, năm mất thế này? Năm sinh của em là 1950 chứ? Anh tặng thêm cho em một tuổi, anh chỉ muốn em già. Con vẹt léo nhéo, anh chỉ muốn em già, anh chỉ muốn em già. Ông Bê tặc lưỡi, hàng bánh chúng nó nhầm đấy. Mẹ đối đáp, anh phải bảo nó chứ. Con vẹt lại eo éo, anh phải bảo nó chứ, anh phải bảo nó chứ.
Ông Bê chỉ còn biết nhìn con vẹt máy trừng trừng.

Hôm sau mẹ theo ông đi sinh họat Hội EM YÊU CHIẾN SĨ. Nghe tên tưởng Đội đoàn Thanh thiếu nhi. Đến nơi mới thấy toàn em gái ngấp nghé tuổi lục tuần, toàn văn công về hưu. Đầu tiên đồng diễn thể dục. Một em gái quay sang bảo mẹ, con kia nó xoay được bàn tay quanh cổ tay, rồi khóac rộng ra sau lưng là phải thôi, ngày xưa nó là diễn viên múa, báu bở gì một lũ đào già kép ế. Rồi em quay sang chỉ em gái bộ áo nâu sồng nhà chùa, đang hô một hai ba sang sảng, giọng nó lanh lảnh chuông đồng vì ngày xưa nó là diễn viên ca, thất tình chán đời nó đi tu, các sư ưu ái, các vãi căm hờn. Hờn ghen vì giọng nó thâm niên luyện thanh mấy chục năm, bây giờ đọc kinh, giảng kinh, phát âm nhả chữ điêu luyện truyền cảm. Nó vẫn đi tu nhưng không bỏ buổi sinh họat nào của EM YÊU CHIẾN SĨ. Đi tu rồi mà vẫn tham như mõ, nó giữ tiền quỹ hội, đi thăm hội viên ốm, mua cam táo hai chục nó khai ba chục.

Tiết lộ đầu ngọn cuối ngành các lọai lý lịch đàn bà xong, em gái này chuyển sang đề tài thế giới đàn ông. Em chỉ đúng ông Bê cho lên thớt đầu tiên, vô tư không biết chàng là người dẫn mẹ đến đây. Ở quê, anh chàng tên là Nguyễn Họan, tên đặt theo cái nghề gia truyền của gia đình, có biệt tài tịnh thân, biến tất cả các lọai lợn thành họan quan công công, đồng cô ái này ái nọ. Nghề vận vào thân, đẻ mãi không được mụn con trai chống gậy, phải cầu tự xin con giời, bây giờ con giai lớn rồi vẫn phấp phỏng, giời thương giời để, giời không thương giời xin lại bất cứ lúc nào. Nhưng chàng đâu có theo nghề gia đình, đến bây giờ bà mẹ chàng vẫn trách chàng không nối nghiệp gia đình.
Mới đây chàng về quê, bà mẹ chín mươi tư tuổi bảo chàng, con ơi làm thượng thọ đi, tuổi mụ năm nay sáu chín rồi, con vay một tuổi mà làm, mẹ cho con lợn một tạ mà làm. Chàng lễ phép kính thưa mẹ, mẹ còn đó con làm thượng thọ hàng xóm bảo con chơi trèo bất hiếu. Con vay một tuổi thì đầy thất tuần nhưng con vẫn thỉnh giảng trường bồi dưỡng, nhiều gái non vẫn tay bắt mặt mừng nhờ con hướng dẫn tốt nghiệp, nhiều giai non giai già viết bài phê bình bảo vệ giá trị chú Tễu đồng ruộng truyền thống.

Kể đến đây, em gái chuyển sang giọng, một phần kín, chín phần hở, này tớ nói cho ấy biết, chàng này toàn chọn con xinh rồi mới hướng dẫn luận văn, ngồi cạnh nữ sinh, tai bốc bải tưng tưng như gảy đàn, ban đầu bốc tay, sau bốc linh tinh một số thứ. Chả làm được gì nữa đâu, chỉ mở ra rồi lại đậy vào, thì thế, nhưng vẫn muốn nhìn xem trong nồi có gì cho bõ công.
Sau đồng diễn thể dục kiếm côn quyền là thi bơi. Sau thi bơi là thi chạy. Sau thi chạy là đốt lửa trại. Tất cả các em mặc quân phục tựa vào nhau, đung đưa như lúa mà hát. Em đi lên rừng cây xanh mở lối, em đi lên núi núi ngả cúi đầu, em đi bắc những nhịp cầu.
Nhưng họat động sau đó của hội, mẹ không biết nữa, đã hết tháng thứ hai...
Rồi cây hoàng lan, có biến thành cây si?

Chân dung cuối tháng lần này là ông Xê. Tên thật, không phải tôi sợ phiền viết tắt. Vợ bỏ đi làm ăn với ở Đông Âu với đứa con trai cũng đã hơn mười năm.
Hôm đầu ông đến, cứ đứng mãi bên gốc cây hoàng lan. Cái cây có tội tình gì đâu, chỉ vì ông cứ si tình đứng mãi như vậy, mời ngồi mấy lần vẫn đứng, mà cây hoàng lan hóa thành cây si. Si thật. Mái tóc nhuộm, tóc đen nhánh đáng ngờ như thế gọi là mốt đảo ngói. Rốt cuộc, ông cũng ngồi. Đèo thêm một câu rất triết học: đời tôi đâu có thiếu chỗ ngồi, chỉ thiếu một chỗ đứng.
Một câu nói như vậy có thể khiến khối kẻ ngu ngơ nửa mừng nửa lo.

Ông kể hơn ba chục năm nhà ông đã trải qua mấy lần bị kiểm tra hành chính. Tư thương buôn bán vàng bạc. Có lần vừa mới bê mâm cơm lên thì công an tới, ông nhanh trí trút hết chỗ vàng bạc vào nồi canh. Cơm xới cho mỗi người một bát rồi vùi đồ trang sức xuống đáy nồi. Người ta sục sạo khắp nơi, đào cả vườn lên mà không tìm được gì. Lần khác, ông ném được mấy túi tài sản xuống cái hồ gần đó. Lần khác, vợ ông mang đồ đi tẩu tán. Ngày ấy, Hà nội chưa có xe máy, bà đã sở hữu một cái xe tay ga 103 của Pháp. Nữ anh hùng xa lộ phóng xe vèo vèo qua cầu Long Biên. Báo đăng hẳn hoi câu chuyện phá án: thấy thị ích xì i dét chạy ra khỏi nhà, trinh sát ta bí mật bám theo. Y thị (đại từ nhân xưng báo công an hay dùng) đi ngoắt ngoéo cố tình cắt đuôi, nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Sang đến bên kia cầu, y thị rẽ vào ba nhà quen biết, nhà biếu cân cam, nhà gói bánh, gói mứt tết. Tất cả chỉ là động tác giả. Tại điểm cuối cùng y thị bị bắt với đầy đủ tang vật trị giá hàng trăm cây vàng... ông bảo mỗi lần như vậy là chết nửa con người, sau đó phải gượng dậy, tập đi đứng, tập làm ăn lại từ đầu. Sang thời làm ăn được khuyến khích mở cửa, vợ con ông hồi sinh kéo nhau đi nước ngoài. Ba đứa ở trong nước đều đã có gia đình, mỗi đứa cho ông một cái nhà và vốn liếng làm ăn. Số tiền còn lại đủ cho ông sống đời vui hạnh phúc lên tiên.

Tôi thiếu là thiếu một chỗ đứng trong tim em. Ông nói nốt cái vế sau. Nói năng kiểu ấy thanh niên ngày nay đều ngượng mồm, chỉ có ông mới xuất khẩu ra thành khẩu được. Mẹ xem ra bắt đầu ngả nghiêng. Một đời mẹ lận đận quá rồi, bây giờ sáng suốt nhất là lấy chồng giàu một tý. Yêu đương gì cái tuổi này nữa, chẳng qua dựa vào nhau khi tắt lửa tối đèn, khi hắt hơi sổ mũi. Tôi cảnh cáo, mẹ tính toán khéo thế mà lấy phải ông đang khỏe như vâm bỗng quay qua nằm liệt giường, có mà hầu ông đến chết. Mẹ bảo người ta mà kỹ tính người ta chẳng lấy mình làm vợ, có câu đố rồi đấy thôi, con gì ăn ít nói nhiều, mau già lâu chết miệng kêu tiền tiền? Đàn ông đang yên lành, báu bở gì tự dưng rước một con như vậy.
Lấy ông thì mẹ được nhờ. Đi thăm con cháu phải có quà mới ra người bà người mẹ đàng hoàng. Muốn đàng hoàng phải nhờ chồng giàu. Muốn yên tâm tuổi già ốm đau bệnh viện phải nhờ chồng giàu. Muốn thuê người giúp việc chăm nom người ốm cũng phải chồng giàu.

Nhưng ông có giàu thật không nhỉ? Ba đứa con ông đứa nào cũng bảo bố cháu còn nhiều tiền lắm. Vẫn còn vàng chôn dưới nền nhà. Vẫn còn vàng kiểm tra giấu trong đệm xa lông. Vẫn còn vàng giấu trong thân cây cổ thụ ngòai vườn. Ba đứa con đều mê mẹ, mê lăn mê lóc. Cô về với bố cháu đi, chúng cháu không đến quấy phá, ám quẻ gì đâu, không đòi chia của cải gì đâu. Hay cô ngại gần họ hàng nhà cháu phiền phức thì hai cụ dắt nhau vào Sài gòn mua nhà mà ở trong ấy.

Mẹ không muốn đi xa. Chàng nàng dắt díu nhau đi mua căn hộ đảo Linh Đàm. Đi đăng ký. Tôi bảo đăng ký làm gì, các cụ thích nhau thì về ở với nhau, ai nói sao. Mẹ không chịu. Đi du lịch, vào khách sạn, chúng nó nhìn mình cứ như trốn vợ trốn chồng, như bọn thuê phòng choai choai lần đầu thuê phòng thử mùi trái cấm.
Nhà mua rồi, đăng ký rồi. Về ở với nhau rồi. Lúc này mẹ mới nghe người ta nói giữ vàng trong nhà độc lắm. Thằng con ông ở BaLan lái xe chở hàng bị xe khách tông phải, bây giờ liệt nửa người, đẹp giai như tượng, chưa vợ, chưa biết mùi đời mà phải chung thân ngồi xe đẩy. Bà mẹ phải kè kè bên đấy, bà cạch mặt ông không bao giờ về nữa. Một đứa con gái ông, ba lần đẻ ra quái thai, đêm nào cũng thấy một thằng bé người Tàu mặc bộ đồ trắng ngồi ở đầu giường. Nó bảo cô ta phải chuyển tiệm vàng ra khỏi nhà rồi mới đẻ được.
Mẹ có sợ cũng chẳng kịp. Mẹ đã vượt qua tuyến phòng thủ, chẳng còn đường rút. Nhà tôi, ông Xê không đến trồng cây si nữa thì cây hoàng lan trở lại là cây hoàng lan như dạo trước ...

...

Tôi cứ tưởng chương trình chân dung cuối tháng đã hạ màn được rồi. Được nửa năm thì mẹ quay về. Ở Linh Đàm chỉ có căn hộ ba phòng trống không. Bảo ông Xê đi mua sắm đồ đạc, ông chỉ ừ hữ lảng tráng. Giục ông đào vàng lên, moi vàng trong nệm xa lông ra, móc vàng trên cây cổ thụ ông chỉ cuời sằng sặc. Sao cô lại đi nghe mồm lũ trẻ ranh ấy, mấy lần khám nhà chỉ có tôi đương đầu, chúng nó lại vanh vách biết hơn tôi à?
Rồi bao nhiêu uất hận tuôn ra bằng hết. Ngày trước, có lần công an đến, ông phải cạy mồm lũ trẻ ra, bắt mỗi đứa nuốt một cái nhẫn. Mỗi đứa phải hực hực mấy cái mới nuốt nổi. Nuốt được rồi thì con mình phất phơ đi lại trong nhà như ma vàng, mặt đần như ngỗng ỉa, đờ đẫn, lơ ngơ, người trong suốt nhìn qua được. Bị khám nhà xong, ông bắt lũ con ngồi dàn ngang đại tiện trước mặt mình, gẩy tung tóe cả lên mà chẳng tìm lại được nhẫn vàng. Ôi trời đất ơi, vàng đã tan vào máu con mình, từ đó con mình mà mình chẳng nhận ra được nữa. Cả tiệm vàng lũ con bàn nhau khoáng sạch, tráo vào đó bằng hàng mỹ ký mạ vàng. Mãi đến lần khách đến mua đem quẳng lại đồ rởm có hẳn hoi con dấu tiệm vàng, ông giật mình xem lại mới biết tất cả đã bị đánh tráo bằng hết.

Bà mẹ là đầu trò, lũ con tiểu yêu thi hành. Cũng chẳng phải con ông gian dối, ma vàng làm cả đấy. Bây giờ xong hết rồi, chúng nó mưu mẹo bẩy ông ra khỏi nhà, xóa sạch dấu vết, ông là dấu vết cuối cùng, chúng nó trở về với cõi âm.
Mẹ khóc sụt sùi cho một số phận éo le, có đầy hỉ nộ ai lạc, lại được mạ thêm màu liêu trai ma mị. Một câu chuyện cải lương có thể lấy được nước mắt nhưng không ngăn được mẹ đùng đùng đòi tôi giúp mẹ đi làm thủ tục ly dị. Hơi thở nặng mùi khiếp lên được, ghê hơn cả chàng trai tân ăn tỏi nặng mùi ngày xưa. Sau chuyến đi này, mẹ sẽ phục thù đi tìm cho bằng được một tay giàu có thật sự, một nhà tài phiệt thời đổi mới có thể đi karaoke ôm ấp gái non nhưng về nhà vẫn cần một bàn tay chăm chút hiểu biết.

Nhưng rồi mọi sự đảo lộn hết. Lần này người đến vườn nhà tôi là một người cũ. Chính là chàng. Kẻ một mình đi tù vì tội đầu độc vợ ngày xưa. Chàng sáu mươi rồi. Đi tù về vóc dáng vẫn vạm vỡ điềm đạm như ngày nào. Người như thế thì không thể nào đầu độc vợ. Bà Họan Thư ghen quá, điên quá, nghĩ ra cách hại mình, hại chồng. Bà cho bả chuột vào niêu thuốc bắc, kêu mệt, đòi chồng rót thuốc, bê bát đến, cầm bát cho bà uống. Dấu tay ông còn đó, trên niêu thuốc bắc, trên bát thuốc. Nhiều người biết ông vô tội nhưng chứng cứ chống lại ông.

Chàng trở về vào dịp áp Tết. Mẹ con tôi mất hết Tết vì chàng ngã bệnh ngay. Viêm phổi cấp. Mẹ quẳng hết mọi thứ. Đâm bổ vào bệnh viện. Một mình mẹ đi đi về về từ hai đầu, nhà và bệnh viện. Đêm đêm thức trắng ngồi trông bên giường bệnh. Đến cả tôi cũng bị cuốn vào. Thỉnh thỏang, người về từ ký ức, từ cõi sống chết giành giựt, lại mở mắt. Cái nhìn như hỏi, em có tin ngày xưa tôi không thể là người làm việc ấy? Nàng nắm tay chàng, nắm tay như vậy thì dù chàng có ở gần cõi chết lắm rồi, cũng phải cố chống chọi mà tìm về.
Tôi không dám nhìn hai người.

Tự hỏi chẳng lẽ mai kia chàng trở về thì cây hoàng lan trong vườn nhà lại phải hóa thành cây si vĩnh viễn mãi sao?
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Rừng thu đã khép

Trần Mộng Tú

Mùa thu đã tới, lá trong rừng đang thay màu, bầu trời xám, gió kéo vào chật ních cái làng Trout Creek nhỏ bé này. Mùa thu bắt đầu lạnh rồi, cụ ở trong trailer trốn gió thì cũng phải thôi, người già ra ngoài với thời tiết này dễ cảm lắm.

Sở cứu hỏa của thành phố ở ngay sau lưng một cánh rừng nhỏ, nơi cụ Richmond cư ngụ, họ có bổn phận trông chừng cụ, vì cụ đã cho họ biết là khi cụ qua đời, cánh rừng của cụ sở hữu gần bốn mươi năm sẽ thuộc về họ. Mấy hôm nay không thấy bóng cụ ra vào, lũ mèo cụ nuôi dưới gầm nhà (trailer) kêu ầm lên, vọng sang đến tận sở cứu hỏa. Gần hai mươi con mèo chứ ít ỏi gì! Chắc là lạnh quá, cụ nằm trùm chăn rồi quên cho chúng ăn. Họ bàn tán về cụ và cuối cùng thì thấy cần phải cử một người sang gõ cửa.

Người cháu gái ở gần cụ nhất cũng cách cánh rừng này 60 miles, khoảng một tiếng lái xe. Bà được sở cứu hỏa báo cho biết là Bác của mình đã mất. Bà vội vã chạy tới, làm thủ tục mang xác cụ vào nhà thương, bác sĩ cho biết cụ mất được hai hôm rồi. Bà thông báo cho họ hàng xa, gần.

Cụ mất hôm thứ Hai, đến thứ Tư người cháu trai ở Seattle mới nhận được tin. Tuy biết là cụ rất thọ, 93 tuổi, và ra đi êm ả trong giấc ngủ, ngay trong cái trailer ở giữa rừng như ý cụ luôn luôn mong muốn. Anh vẫn ứa nước mắt khi báo tin cho vợ.

Cụ để lại di chúc cho cô cháu ở gần lo tang ma. Cụ muốn được chôn cất ở ngay nghĩa trang trong ngôi làng cụ đã sống hơn nửa đời người. Cái nghĩa trang nhỏ bé, mồ mả của người qua đời cũng thưa thớt, giản dị như những con người đang sống ở đây. Cụ lo sẵn phí tổn tang lễ, cụ không phiền đến ai cả. Mấy chục năm về hưu cụ có tiền hưu trí, cụ sống đạm bạc nên chẳng tốn kém là bao. Cụ đủ tiền ma chay cho mình không phải nhờ đến các cháu. Cụ cũng lo đến mấy con mèo nữa, cụ dặn dò phải giao chúng cho Humane Society, vì cụ biết khi sở cứu hỏa lấy miếng đất, họ sẽ hủy cái trailer cũ kỹ của cụ đi thì chúng sẽ tứ tán mỗi con một nơi, chúng sẽ trở lại cái đời mèo hoang trước đây.

Hơn hai mươi con mèo hình như hiểu được chuyện gì đang xẩy ra cho chúng. Chúng kêu meo…meo…meo suốt mấy ngày đêm. Khi người ta đến mang cụ đi, chúng chui ra một lượt khỏi cái gầm nhà, chụm lại một bầy với nhau kêu khóc. Chẳng ai để ý đến chúng, người ta còn lo thu dọn, khai quang cánh rừng. Cái cabin với mấy chồng sách của cụ sẽ được thiêu thành tro bụi, cái trailer cũ kỹ sẽ được kéo tới một nơi phế thải nào đó. Sở cứu hỏa sẽ khai quang cánh rừng, nới rộng mặt tiền cho cơ sở.

Chỉ vài ba năm sau, chẳng còn ai nhớ đến ở ngôi làng Trout Creek, trước mặt tiền của sở cứu hỏa xưa kia có một ông thầy dậy Âm nhạc, Pháp ngữ và La ngữ đã từng ở đó với một đàn mèo.

Tiếng đàn phong cầm của ông, tiếng hát của các ca sĩ mèo đã bay theo tiếng gió mùa thu năm ấy.

Rừng thu đã khép.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

CÔ “BẮC KỲ NHO NHỎ” BÂY GIỜ RA SAO?

Thuyết phục mãi, chị Hoàng Thị Kim Oanh – nguyên mẫu trong bài thơ “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” của nhà thơ quá cố Nguyễn Tất Nhiên – mới đồng ý chia sẻ với tôi những hoài niệm tuổi học trò… Chị kể khi xưa chị hiền lành, nhưng không khờ khạo đến mức, không biết có nhiều cây si trước ngõ nhà mình. Nhưng điều đó, chỉ khiến chị mỗi lúc một ngại ngùng giao tiếp. Dần dà, chị sống khép kín tựa cô chim non trong chiếc lồng son. Ba mẹ của chị đông con, nhưng các con của ông bà rất thuận hòa, hết lòng yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Với suy nghĩ non nớt lúc bấy giờ, như vậy đã quá đủ cho cuộc sống riêng của chị.

Thật ra, chị Oanh không thuộc tuýp người lãng mạn. Ngoài tình thương yêu của ba mẹ và anh chị em trong gia đình, chị gần như không có nhu cầu tình cảm nào khác.
Hỏi chị khi xưa, có biết “Oanh là nguyên mẫu trong bài thơ của anh Hải?..”
Chị cười hiền lành: “Chị có biết, nhưng hồi đó chị sợ muốn chết luôn… ”
Biết chị thích đọc sách, anh Hải mang tặng chị nhiều quyển sách bìa cứng bọc gáy vàng rất đẹp. Anh cũng tặng chị nhiều cánh thiệp xinh xinh vào những dịp lễ, và cũng có khi anh tặng thiệp chỉ vì… thích vậy thôi! Và đặc biệt, anh Hải luôn tặng chị Oanh những bài thơ tình còn… nóng hôi hổi của anh, ngay khi thơ xuất hiện trên các trang tạp chí học trò. Tuy nhút nhát và kiệm lời, nhưng cô tiểu chủ cà phê Ca Dao luôn cư xử đúng mực với khách hàng đến quán.
Trước ngày sang Pháp, anh Hải mang đến cho chị Oanh một va-li đầy sách quí “ Em giữ sách cho anh…” Sau khi anh Hải ra đi, một phụ nữ trẻ tìm đến và đưa cho chị Oanh bức thư tay, bảo do anh Hải gửi. Nội dung thư, anh Hải nhắn chị giao va-li sách cho người cầm thư. Chị thoáng băn khoăn, vì nét chữ trong thư không giống nét chữ anh Hải thường xuyên gửi chị. Nhưng vốn cả tin, chị đã giao va-li sách của anh Hải cho người phụ nữ – mà đến tận bây giờ, chị vẫn chưa biết rõ – cô ấy là ai và từ đâu đến? Chị đã để lạc mất những quyển sách quí, như món quà từ biệt của anh Hải trước ngày anh xa xứ. Chỉ vì “cô Bắc kỳ nho nhỏ” ngày xưa ấy, nào biết chi “toan tính chuyện lọc lừa”, như anh Hải từng lên án… một người con gái Bắc khác.
Image

Tôi có cảm giác, thời gian quá thiên vị nguyên mẫu “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Không còn trẻ nữa – Tất nhiên rồi! – nhưng chị Oanh vẫn giữ nguyên vẻ đẹp thánh thiện thời con gái. Chị hứa một ngày đẹp trời, sẽ cho tôi xem lại những bút tích học trò của nhà thơ tài hoa bạc mệnh Nguyễn Tất Nhiên. Các con của chị, từ lâu cũng tò mò và vòi vĩnh mẹ Oanh cho xem “kho kỷ vật” từ lâu chị trân trọng giữ gìn. Chị Hoàng Thị Kim Oanh bây giờ vẫn nền nã dịu dàng, nhưng không hề “ ngầm ý khoe khoang” hay “ giả bộ ngoan hiền”, như lúc sinh thời nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã “trách oan”… một cô Bắc kỳ khác…

Tháng 11/2013
Diệp Hoàng Mai

Phụ đính:

Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế
Cô đã nhìn anh rất ... Bắc Kỳ
Anh vái trời cho cô dễ dạy
Để anh đừng uổng mớ tình si

Anh vái trời cho cô thích mộng
Để anh ngồi kể chuyện nằm mơ
"Đêm qua có một chàng bươm bướm
Nguyện chết khô trên giấy học trò "

Anh chắc rằng cô sinh trong nam
Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng ?
Khi nghe ai luyến thương Hà Nội
Chắc cô nghe bằng tim dửng dưng

Anh vái trời cho cô dửng dưng
Coi như Hà Nội - xứ hoang đường
Để anh còn dắt cô đi dạo
Còn rủ cô vào rạp cải lương

Anh vái trời cô thích cải lương
"Thích kẻ anh hùng diệt bạo tàn"
Mốt mai thê thảm quanh đời sống
Cô sẽ còn đôi chút lạc quan

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế
Cô nhớ nhìn thiên hạ lận lường
Mà hãy nhìn anh cay lắm chuyện
Nhưng còn con trẻ chuyện yêu đương

Nguyễn Tất Nhiên
(1973)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Mùa Tạ Ơn Đầu Tiên Trên Xứ Mỹ.
Nguyên Nhung
Tôi đến Mỹ vào một ngày mùa Đông năm 1992. Đối với tôi lúc ấy, cảm giác lạnh lùng trống vắng khi nhìn thấy những rừng cây trơ trụi hai bên xa lộ nằm thiếp ngủ , thành phố về đêm nhấp nháy những ánh đèn xanh đỏ dưới cơn mưa phùn muà đông rét mướt.

Buồn, cảm giác buồn thay cho bao háo hức thường ẩn hiện trong những giấc mơ khi còn ở Việt Nam, hiện tại một nước Mỹ buốt lạnh và buồn rầu khi chiếc xe chạy qua những đoạn đường ướt át. Lúc ấy đã gần nửa đêm, người bảo trợ đưa cả nhà về căn chung cư một phòng ngủ, ngổn ngang vài món cần thiết xin được cuả hội từ thiện. Nhà hàng xóm người Kampuchia đêm khuya vẫn còn thức, nghe có tiếng xê dịch ngoài hành lang vội mở cửa nhìn ra, rồi biết có người mới qua cũng tíu tít chạy ra hỏi thăm, bưng cho ngay thùng mì gói và hộp sữa.

Đối với chúng tôi lúc ấy tình người quý biết bao, nỗi nhớ quê còn đầy nhưng sự chia xẻ ấy khiến lòng tôi ấm lại. Phải đến năm sau, một năm dài làm quen với khí hậu và phong tục cuả nuớc Mỹ, tôi mới hưởng được không khí ấm áp cuả muà lễ Tạ Ơn vào tháng 11 năm sau.

Đẩy lùi vào quá khứ những ngày vất vả khó khăn ở quê nhà, cơ hội đã mở toang cánh cửa đón gia đình tôi hoà nhập vào đất nước tự do. Hình như quanh tôi có một điều khó diễn tả được khi cảm nhận được hai chữ tự do, những ngày đầu tôi vẫn tưởng mình đang nằm mơ, nhưng giấc mơ ấy đã thành sự thật, bước ban đầu còn lạc lõng, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ cuả nước Mỹ, mặc dù chưa đóng góp được gì cho xứ sở này.

Mỗi ngày, điều thích thú nhất với tôi là được đi học, ở cái tuổi ngoại tứ tuần mà còn cắp sách đến trường, tung tăng như một nữ sinh trung học làm tôi sống lại cảm giác thời thanh xuân mà tôi đánh mất từ lâu. Dù đấy chỉ là lớp học dạy ESL, dành cho những người chân ướt chân ráo mới được định cư tại Hoa Kỳ, nhưng không khí cuả một lớp học thì dường như ở đâu cũng vậy. Một, hai bác cao niên dở dang sự nghiệp, vài người trung niên, cùng những bạn trẻ từ nhiều quốc gia học chung một lớp. Chúng tôi đã thật sự đến gần với nhau qua những tâm sự bằng thứ tiếng Anh bập bẹ, kể cho nhau nghe về xứ sở cuả mình và lý do đến được xứ sở này, cảm thông với nhau về hoàn cảnh hiện tại, và niềm hy vọng tốt đẹp ở tương lai

Khi chuẩn bị muà lễ Tạ Ơn, ông thầy trẻ đã dạy cho chúng tôi học bài học muà Tạ Ơn, để hiểu tại sao xứ sở này người ta duy trì ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm. Bài học “The First Thanksgiving” ngày hôm ấy là một đề tài hấp dẫn cho cả lớp, và tôi đã cố học thuộc lòng như cháo vài câu cảm ơn cho bữa tiệc trước ngày lễ Tạ Ơn năm đó.

“Theo câu chuyện kể lại. Một ngày, những người Pilgrims đầu tiên sống ở nước Anh, họ là những người bị bắt buộc theo giáo phái cuả nhà Vua, gọi là King’s Church, nhưng họ lại chỉ muốn được tự do cầu nguyện theo truyền thống thờ phượng riêng của họ mà thôi.

Những người Pilgrims này đã tìm cách rời nước Anh, và họ tìm đến một quốc gia nhỏ có tên là Holland, họ đã hoà nhập vào sinh hoạt tôn giáo cuả người địa phương, sự tư do cuả tôn giáo chỉ đúng nghĩa nhất khi mỗi người được thực sự cầu nguyện theo con đường mà họ thích. Người Holland được gọi là người Dutch, ngôn ngữ riêng cuả họ là tiếng Dutch. Thế là một lần nữa, những người Pilgrims lại lên đường tìm về miền đất mới, đó là Châu Mỹ xa xôi.

Tại xứ sở này, họ có được sự tự do tôn giáo, con cháu họ được nói tiếng Anh. Năm 1620, năm đánh dấu 102 người Pilgrims, những người đầu tiên đi tìm đất mới rời Holland và tàu cuả họ đã cập bến Mayflower tại Massachussets, thời tiết khắc nghiệt với những cơn mưa và khí hậu lạnh lẽo, nhiều người đã nhiễm bệnh nên con tàu không thể tiếp tục lênh đênh trên biển.

MayFlowers là một hải cảng nhỏ cuả tiểu bang Massachussets, nơi dừng chân cuả những người Pilgrims kiệt lực vì sóng gió và khí hậu khắc nghiệt, họ bắt đầu cuộc đời mới tại một thành phồ nhỏ mang tên là Plymouth. Nhưng muà đông năm đó, khí hậu nơi này cũng vô cùng khắc nghiệt, nhiều người đã chết, họ sống lây lất bằng ít lương thực thật nhỏ nhoi, cầm cự mãi nếu không có sự giúp đỡ cuả những người địa phương, đó là những người da đỏ được gọi là người Indians.

Những người dân địa phương tốt bụng này đã hướng dẫn cho họ hòa nhập vào đời sống mới, dạy cho họ cách trồng trọt và bắt cá để làm thức ăn , chỉ cho họ cách trồng bắp, một loại ngũ cốc dễ ăn và dễ cất giữ để làm lương thực trong đời sống hằng ngày. Bắt đầu từ đấy, người di dân xây được nhà thờ cuả họ, bắt đầu xây dựng nhà cửa, và họ đã rất hạnh phúc khi có một đời sống no ấm trong một xứ sở tự do.

Tháng 11 năm 1620 là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên được hình thành cho cộng đồng người da đỏ bản xứ và người di dân đến từ nước Anh. Họ tổ chức một buổi tiệc Tạ Ơn để người Pilgrims có dịp bày tỏ lòng tri ơn cuả họ , cảm ơn Thượng Đế đã cho họ được gặp những người địa phương đầy lòng từ tâm, đã giúp họ một cuộc sống mới nơi mà họ đã phải đánh đổi bao nhiêu gian nan để tìm kiếm.”

Bài học về ngày Lễ Tạ Ơn cũng chấm dứt, tiếp theo đó mỗi người trong lớp đã bày tỏ lòng biết ơn cuả mình với những người xung quanh, mở đầu cho một party mang nhiều màu sắc dân tộc. Trước mấy ngày, giờ ra chơi những học sinh đã hỏi nhau về những món ăn mà mọi người mang đến lớp học mừng lễ Tạ Ơn, đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi được làm quen với những món ăn truyền thống cuả từng dân tộc.

Martha người Mễ Tây Cơ còn trẻ và rất vui tính, trên tay cô là một khay thức ăn đậm đà hương vị Mễ Tây Cơ, bánh bột bắp cuộn món bò hầm với rau đậu ăn lạ miệng và khá ngon. Cô đến lớp đỏm dáng với chiếc váy hoa sặc sỡ, đôi chân như nhảy nhót theo điệu nhạc.

Martha là người đã dạy tôi hát bản “ Besame Mucho” bằng tiếng Spanish, mỗi dân tộc đều thể hiện dân tộc tính cuả mình qua các món ăn hay cách sinh hoạt, người Mễ Tây Cơ thích âm nhạc, thích hưởng thụ khác với tính chuyên cần, chăm chỉ và kín đáo cuả người Việt. Vốn tính trung thực, Martha giản dị chỉ cho những người mắt kém đi chọn một cái kính đeo mắt tương đối trong cửa hàng Walgreen, cô hóm hỉnh nói:

“ Mình chưa đủ tiền đến bác sĩ đo mắt và mua một cái kính đắt tiền, đến đó (ý cô nói là cửa hàng Walgreen) có vô khối các loại kính đeo mắt cho mình chọn lựa. Tạm thời thôi, mai mốt khi nói giỏi tiếng Anh, có việc làm tốt, các bạn tha hồ đi khám mắt và mua một cái kính hoàn hảo.”

À thì ra trong câu chuyện nhỏ, Martha đã đem đến cho mọi người ý nghiã cuả sự tương đối, trong khi tôi biết một vài người quen diện tỵ nạn, sau khi thoát khỏi cảnh nghèo ở quê hương,sang đây vẫn hay ta thán bất mãn cho rằng cuộc sống cuả họ vẫn chưa được những điều vừa ý. Đó là sự đòi hỏi một cách quá đáng,khi chính bản thân họ vẫn đang sống nhờ vào cộng đồng xã hội. Đáng lẽ thế này, đáng lẽ thế nọ, toàn những đáng lẽ để phàn nàn mà không nghĩ mình đang chịu ơn những người chả hề mắc nợ mình, họ cũng phải một nắng hai sương đi làm đóng thuế, và nhờ sự đóng góp cuả họ mà mình được san xẻ.

Trong bữa tiệc, bác Bích Huệ người Việt cao niên nhất cuả lớp học, đã làm nguyên một ổ bánh kem thật lớn, với hàng chữ Tạ Ơn viết thật nắn nót. Bác tiêu biểu cho một cụ già VN mà còn hiếu học, tinh thần Tạ Ơn và luôn nghĩ đến người khác đã được thể hiện dài dài trong đời bác. Gần 80 tuổi, bác vẫn mở lớp dạy làm bánh tại nhà, không hề nhận một đồng thù lao để dạy cho các người Việt trẻ tuổi thích trổ tài nội trợ khi có dịp họp mặt trong gia đình, hoặc cho những người cần học một nghề để làm cần câu cơm. Ai cũng ái ngại cho việc tuổi già vác ngà voi cuả bác, nhưng bác nói:

“ Tôi già rồi, không đóng góp được gì với đời. Bao nhiêu năm kể từ năm 75, dẫn cả nhà sang đây tỵ nạn, gia đình tôi đã làm lại từ đầu nhờ xứ sở này rộng rãi mở cửa cho chúng tôi vào. Nay con cháu đã thành đạt , tôi chịu ơn xứ sở này và cuả cuộc đời cũng nhiều, không biết cách gì để trả ơn, thôi thì đây cũng là một cách giúp chị em phụ nữ như tôi biết thêm nghề gì hay nghề nấy. Đó cũng là lý do làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc.”

Bác thật hạnh phúc, tôi luôn nhớ đến những gì bác làm cho mọi người và từ đó tôi nghiệm ra hai chữ tri ơn cuộc đời cuả bác. Tháng Chín năm trước, bác đã thênh thang đi về bên kia thế giới, hành trang mang theo là những gì bác đã làm cho mọi người khi còn sống. Ngày tang lễ cuả bác thật đông người đến đưa tiễn, trong tấm ảnh, khuôn mặt hiền từ, đôn hậu của một cụ già suốt đời chỉ thích làm việc thiện vẫn nở nụ cười nhân từ với những bông huệ trắng muốt.

Những người Mỹ tôi quen còn dạy cho tôi một bài học về sự tự tin và lạc quan trong cuộc sống cuả họ. Khi về già , họ không ngồi ta thán sự hẩm hiu cuả mình trong bốn bức tường, không bi quan sầu luỵ quá về bệnh tật. Viết đến đây tôi lại nhớ đến bà Naomi, một phụ nữ da trắng khuôn mặt tròn, da nhăn nheo xếp lớp với thời gian, tuổi già đã làm cho bà nhỏ bé lại nhưng toàn khuôn mặt toát lên thần sắc yêu đời tha thiết.Thế mà bà đang bị ung thư thời kỳ cuối cùng đấy, nhưng tôi không thể nào biết được người đàn bà cao niên ấy đang phải chống chỏi với căn bệnh trầm kha này như thế nào.

Bữa ăn cuối cùng với bà NaoMi cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, bác Huệ và tôi được mời khi cùng đi với nhóm bạn già cuả bà NaoMi đến thăm một nhà dưỡng lão. Viện Dưỡng Lão vào một ngày muà đông buồn ảm đạm, một cụ gìa ú ớ gọi tên hết người này đến người khác, bà đang lẫn lộn dĩ vãng với hiện tại. Một cụ ông đẩy chiếc xe lăn cho bà vợ tóc xoã rũ rượi, ông nói:
“ Mỗi ngày, tôi đi bộ 3 miles từ nhà đến đây để gần gũi vợ tôi, dù bà không nhớ tôi là ai, nhưng tôi thì nhớ bà là vợ mình.”

Một câu nói thật hay mà đâu cần phải tìm trong những lời hay ý đẹp cuả các vĩ nhân trên thế giới. Vật lộn với thần chết đến giây phút cuối cùng, lạc quan yêu đời để lướt qua những cơn đau là tính lạc quan cuả bà NaoMi. Một ngày thứ bảy cùng năm đó, tôi lại đến dự tang lễ tiễn bà NaoMi trong ngôi thánh đường êm ả, nhìn tấm ảnh nụ cười bà thật rạng rỡ.

Những người bạn cao niên này còn dạy cho tôi tinh thần tự nguyện làm công tác xã hội, không rụt rè vì khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Bà Linda gầy gò ngày ngày lái xe đến trường tiểu học để sắp xếp những cuốn sách cuả các em học sinh bừa bãi trên bàn vào các kệ sách cuả thư viện, dạy cho các em học tính ngăn nắp và biết cách giữ gìn những cuốn sách. Một hôm đang lơn tơn tìm gặp cô giáo của con tôi thì bất ngờ bị chận lại bởi một giọng trẻ con thật dễ thương:

“ Bà có cần tôi giúp gì không?”

Ôi chao! Chắc chỉ có xứ sở này trường học mới dạy cho trẻ con câu hỏi ấy, nó đơn sơ và đầy tình người, được thốt ra từ đôi môi hồng cuả một cô bé 7,8 tuổi trong ngôi trường tiểu học, khiến tôi phải suy nghĩ và cảm động rồi tự hỏi, đến khi nào tôi mới biết hỏi ai đó câu này mà giúp đỡ họ.

Đâu cần phải tìm ở đâu xa mới thấy được tình yêu thương. Trên mảnh vườn nho nhỏ của tôi, đàn chim bồ câu ở đâu bay tới vẫn cần cù nhặt hột cỏ, xen lẫn là vài chú chim sẻ nhỏ nhít nhảy xung quanh, chúng sống chung một cách hòa bình và tương trợ lẫn nhau, một con sẻ nhỏ đã giúp cho con sáo non lạc bầy mẩu bánh vụn một sớm mai sau cơn bão. Ở một trạm xe bus giờ đông người, ông già da màu đã luống tuổi đi trên đường đã ngồi thụp xuống đất cột sợi dây giày cho một anh chàng tàn tật người da trắng ngồi xe lăn, họ có quen nhau đâu. Một người khác không nề hà khi dắt một người mù lên xe rồi vội vã trở lại con đường đi bộ của ông ta. Tôi không nghe được lời “Cảm Ơn” nho nhỏ họ dành cho nhau, nhưng chắc chắn đã hiểu được sự cảm động trong đáy lòng người được giúp đỡ.

Mỗi năm khi đến mùa Tạ Ơn, tôi lại để lòng mình chìm đắm trong tưởng nhớ để nghĩ về những khuôn mặt thân quen mà tôi gặp gỡ trong dòng đời. Như một cuộn phim tình cảm ấm áp đang quay lại để tôi nhớ đến họ, loại trừ đi những đoạn phim buồn, tôi có nguyên một cuốn phim đầy tình người, mang theo biết bao nhiêu kỷ niệm.

Mùa Tạ Ơn năm nay mưa nhiều, đã hơn hai mươi năm tôi đón mùa Tạ Ơn trên đất nước Hoa Kỳ, cùng hoà nhập vào cuộc sống nơi xứ sở mà ngày xưa đối với tôi nghe như chuyện huyền thoại. Bước chân nào đã đưa gia đình tôi tới đây, cùng chia xẻ với biết bao thăng trầm của một đất nước, nơi tôi đã sống và xem như quê hương thứ hai của mình.

Nhìn tấm ảnh gia đình chụp mùa Giáng Sinh năm ngoái, từ con số vỏn vẹn 5 người khi đặt chân tới Mỹ, nay đã nhân lên thành một đại gia đình đầm ấm,có thêm những đứa cháu ngoan đem tiếng khóc tiếng cười cho không khí mùa Tạ Ơn được ấm áp hơn. Mưa vẫn rơi đều trên mảnh sân ướt át, đàn chim sẻ và bồ câu mỗi ngày về đây nhặt hạt cỏ nuôi thân, hôm nay cũng vắng bóng. Có lẽ lũ chim cũng đang ủ ấm cho nhau trên một mái hiên nào đó. Cảm ơn Trời đã cho tôi một đời sống bình lặng và êm ả qua hình ảnh tổ chim chiu chít gọi đàn. Ngoài kia, trời vẫn đang mưa và đang trở lạnh , có lẽ sau vài cơn mưa lút đầu ngọn cỏ, những cây ngò non sẽ cùng nhau vươn lên mang màu xanh hy vọng trong mảnh vườn mùa đông tàn tạ.

Nguyên Nhung
( Muà Tạ Ơn )
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

‘Bông Hồng Tạ Ơn’ của Nguyễn Ðình Toàn
Không chỉ đọc bằng mắt


Ngọc Lan
Khi đọc bằng mắt. Khi đọc bằng suy nghĩ. Khi phải vắt óc nhớ xem truyện đó nó như thế nào. Khi tự dưng thấy miệng mình mở ra, ngâm nga mấy dòng thơ. Rồi khi lại bật lên tiếng hát, hát cho đã điếu một đôi câu, có khi hát luôn cả một bài.

Ðó là những trạng thái đã diễn ra khi tôi lần đọc tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn” của nhà thơ/nhà văn/nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn.
Chính vì điều này, nên nếu có ai hỏi, “Bông Hồng Tạ Ơn” của Nguyễn Ðình Toàn là tập sách như thế nào? Thì có lẽ tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay rằng: Ðó là một tập sách đặc biệt.
Ðặc biệt, bởi nó khiến người đọc ở trong nhiều tâm trạng khi giở những trang sách, khi vui theo từng cung nhạc, khi buồn theo từng đoạn văn, khi thẫn thờ theo một khổ thơ, và lại khi tức mình kêu lên, “Trời ạ, sao viết gì có mấy dòng vậy!”

***

111 nhạc sĩ, 109 tác giả văn và thơ, 10 ca sĩ và 7 nghệ sĩ tạo hình, tổng cộng 237 tên tuổi (chứ không phải 234 như tựa sách ghi) được Nguyễn Ðình Toàn nhắc đến trong tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn.”
237 tên tuổi này không hẳn là đại diện tiêu biểu cho lãnh vực thơ nhạc, sáng tác, hội họa của nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước từ trước đến nay. Nói như tâm tình của chính tác giả, người một thời nổi tiếng với chương trình “Nhạc chủ đề Nguyễn Ðình Toàn,” thì đây là những người mà Nguyễn Ðình Toàn có “chút hiểu biết,” hay “còn nhớ về tác phẩm, tác giả.” Và ông muốn nhắc đến họ, “như một cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.”

Nhắc điều này, cũng như đọc lời “Thưa” của tác giả khi mở đầu tập sách: “Ðây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” để người đọc, giống như tôi, không phải bận lòng đặt thêm câu hỏi, “Sao lại không nói đến nhạc sĩ này?” hay “Sao không nhắc đến họa sĩ kia?” hay lầm bầm, “Người này có nổi tiếng, có mấy ai biết đâu mà cũng kể ra?”

Mỗi tác giả có một góc nhìn và một cách thể hiện khác với tất cả những người khác. Nguyễn Ðình Toàn cũng thế. Ông có lý do, có sự đắn đo, và có sự lựa chọn những điều ông muốn đưa vào tác phẩm của mình.
Vì vậy khi chọn đọc ông, thì nên đọc góc nhìn của ông, của tác giả Nguyễn Ðình Toàn, chứ không phải góc nhìn của bản thân mình.

***

Tập I của Bông Hồng Tạ Ơn gồm 2 phần, dày hơn 550 trang.
Phần I viết về 111 nhạc sĩ, từ những nhạc sĩ mà hầu như ai cũng một lần nghe nhắc tên như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Ðặng Thế Phong, Lam Phương, Cung Tiến, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Thương, Tuấn Khanh,... Ðến những nhạc sĩ “lạ hoắc lạ huơ” cả tên người lẫn bài hát, như: Bạch Bích, Lê Ðô... Văn Hạnh, Lê Vy, Lê Xuân Ái, Hồng Duyệt, Ðào Thừa Liệt, Ðức Quỳnh...

Phần 2 ông viết về 10 ca sĩ Anh Ngọc, Khánh Hà, Kim Tước, Lưu Hồng, Mai Hương, Ngọc Lan, Quỳnh Giao, Sĩ Phú, Thái Thanh và Tuấn Ngọc - những ca sĩ có thể rất quen thuộc với nhiều người nhưng cũng có thể xa lạ với nhiều người, đặc biệt là người trẻ trong nước.

Tập II của Bông Hồng Tạ Ơn cũng gồm 2 phần, dày hơn 570 trang.
Phần đầu Nguyễn Ðình Toàn viết về 109 tác giả thơ và văn, như Bùi Giáng, Cao Tần, Ðinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, Huy Cận, Huy Phương, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tường Tam, Phan Lạc Tiếp, Trần Dần, Trần Mộng Tú, Vũ Thư Hiên, Vũ Hoàng Chương, Song Thao, Lê Ðình Ðiểu,...
Phần sau của tập II, tác giả viết về 7 nghệ sĩ tạo hình: Ðằng Giao, Hồ Thành Ðức, Bé Ký, Mai Chửng, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyên Khai, Nguyễn Văn Trung và Thái Tuấn.

Bấy nhiêu tác giả, tác phẩm, và nghệ sĩ gói gọn trong tập sách gồm 2 quyển, với hơn 1,000 trang viết, kể ra, vừa thật nhiều về số lượng tên tuổi mà độc giả sẽ được biết đến qua lời nhắc nhớ một cách chọn lọc của Nguyễn Ðình Toàn. Ðồng thời cũng vừa có vẻ “kiệm lời” quá cho từng tác giả. Thành ra, sẽ chẳng trách, nếu có người “nổi đóa” vì cảm thấy không thỏa mãn được ước muốn tìm hiểu của mình về một nhạc sĩ, một nhà văn nhà nhà thơ, hay một ca sĩ, họa sĩ mà mình yêu thích.

Nhưng như tác giả Nguyễn Ðình Toàn đã nói từ đầu, “đây không là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” mà bên cạnh việc “tạ ơn” những người đã mang đến cho cuộc đời “những gì tốt đẹp nhất mà họ họ có,” thì khát vọng của tác giả, còn nhằm “để các bạn sinh trưởng ở trong, ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.”
Thì đành, biết “chút dấu vết” tên họ ở đây, biết tác phẩm họ ở đây, và đi tìm chi tiết cặn kẽ ở nơi khác vậy.

***

Ðọc “Bông Hồng Tạ Ơn,” điều tôi thích nhất nằm ở chỗ những lời nhận xét ngắn gọn, khi bàng bạc những nỗi niềm, khi lưng chừng một câu hỏi của nhà văn/nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn về từng người ông chọn đưa vào trang sách.

Bởi, bản thân Nguyễn Ðình Toàn cũng là nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nên tâm tình ông hiểu về thơ, về nhạc, về văn, về nghệ thuật hội họa là tâm tình của người trong cuộc. Dễ chia sẻ. Dễ cảm thông. Dễ đồng điệu. Và hơn hết, dễ nhìn ra những ẩn dụ, những nỗi niềm vùi sâu, chôn kín mà đôi lúc, người ngoài chưa hiểu hết đến nguồn cơn.

Cách giới thiệu 237 tác giả và nghệ sĩ Việt Nam của Nguyễn Ðình Toàn không giống nhau cho mỗi người. Có người ông giới thiệu bằng sự ảnh hưởng của độc giả, như “Có thể nói, Nguyễn Hiến Lê là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất của chúng ta” (Nguyễn Hiến Lê); có người ông giới thiệu từ một tác phẩm nổi bật nào đó, như “Quê nhà 40 năm trở lại của Phan Lạc Tiếp dày 279 trang, do nhà xuất bản Mõ Làng Văn ấn bản, đã được tái bản chỉ sau khi phát hành một thời gian ngắn” (Phan Lạc Tiếp); có người ông giới thiệu bằng phong cách của nhà thơ, như “Nói đến Trần Ðức Uyển người ta nghĩ ngay đến những bài thơ đen, đen chì của ông” (Trần Ðức Uyển)... Ðiều này khiến cho người đọc ít bị nhàm chán bởi sự lặp lại của những công thức văn chương sáo mòn.

Ở mỗi tác giả và nghệ sĩ, Nguyễn Ðình Toàn lại biết chỉ ra, tìm ra một vài điểm nhấn, điểm độc đáo, chỉ có riêng ở con người đó.
Ðọc bài tác giả viết về nhạc sĩ La Hối người nổi tiếng với ca khúc “Xuân và Tuổi Trẻ,” có đoạn:

“Sau Ðệ Nhị Thế Chiến có tin đồn rằng 'Xuân và Tuổi Trẻ' là một bản mật mã các gián điệp Trung Hoa gửi cho nhau. Không biết chính La Hối là một gián điệp, hay chỉ khi bài hát đã có rồi, người ta mới tìm cách biến nó thành những tín hiệu. Nếu đúng như vậy ai sẽ giải mã cho chúng ta biết những nốt nhạc đó chứa đựng điều gì?”

Tôi cảm thấy chi tiết đó thú vị quá. Thì ra bài hát rất hay xưa nay vẫn được người ta ngân nga mỗi dịp Xuân về, từng có thể là “một bản mật mã gián điệp”! Nhưng tôi lại cũng hơi “tức mình,” một “nghi án văn học” như vậy mở ra, không có lời giải đáp, vậy là tự mình lại phải đi tìm hiểu, cho thỏa cái trí tò mò của mình, dù Nguyễn Ðình Toàn đã “thòng” thêm câu, “Ðến chín phần mười đây chỉ là một câu chuyện thiên hạ bịa đặt cho vui.”

Tôi thích bài Nguyễn Ðình Toàn viết về nhạc sĩ Hoàng Dương và bài hát “Hướng về Hà Nội.”
“Hà Nội đẹp
Hà Nội buồn
Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù Tháng Bảy đang xóa bỏ nó.
Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội
Gọi hồn Hà Nội
Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội

Bài hát của ông có cả cái xa và cái gần Hà Hội, có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa cho người ở lại giấu nó trong lòng
Cho người ra đi hát như một lời gọi vói.”
Lời giới thiệu đọc lên nghe cứ như thơ, gợi cho người đọc được nỗi niềm của Hà Nội những ngày tháng đứng trước cuộc chia ly khi Hiệp Ðịnh Geneve chuẩn bị ký. Ðể từ những dòng văn mượt mà đó, đọc lời thơ, nghe ra ca khúc “Hà Nội ơi hướng về thành phố xa xôi/ Ánh đèn giăng mắc muôn nơi/ Áo màu tung gió chơi vơi...” mà nghe lòng rưng rức những nhớ nhung.

Ðọc phần viết về nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tôi cảm thấy cái hay trong cách nhận xét của Nguyễn Ðình Toàn:
“Người ta bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó.
Ðọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca. Dù đau lòng, xé ruột nhưng vẫn là tình ca.
Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa.”
Một đôi câu thôi, nhưng đầy đủ nét chấm phá về tình tự dân tộc mình trong nhạc, trong thơ. Một đôi câu đó sẽ giúp người ta nhớ lâu, khắc sâu hơn những diễn giải lan tràn.

***

Tôi nói “Bông Hồng Tạ Ơn” là tập sách thật đặc biệt là vậy.
Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc đang đọc, tự dưng lại buộc miệng hát lên. Chưa đủ. Lại chạy đi tìm nhạc mở lên để nghe lại một bài hát nào đó mà Nguyễn Ðình Toàn đang nhắc đến, như Vườn Thu của Văn Thủy, Con Thuyền Không Bến của Ðặng Thế Phong, Tình Lúa Duyên Trăng của Hoài An, Ðường Xưa Lối Cũ của Hoàng Thi Thơ, Sầu Ðông của Khánh Băng, Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn, Ðoàn Lữ Nhạc của Ðỗ Nhuận...

Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc phải đọc lên thành tiếng, có cất lên thành tiếng thì mới nghe ra lời thơ, chất thơ của những tác giả mà ông nhắc đến như Ðinh Hùng, Huy Cận, Trần Mộng Tú, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Vũ Hữu Ðịnh, Vương Ðức Lệ, Nguyên Sa,...

Hay khi đọc ông giới thiệu về Phan Lạc Tiếp với “Quê nhà 40 năm trở lại” cứ thấy mình muốn nhấp nhỏm chạy tìm kiếm quyển truyện đó mà đọc xem tâm trạng đi nhìn lại gặp lại những cảnh đời cũ, người cũ là như thế nào.
Hay khi đọc bài ông viết về Tô Hoài, tôi lại muốn đi tìm hồi ký “Cát Bụi Chân Ai” và “Chiều chiều” để đọc lại những chuyện thâm cung bí sử của giới văn nghệ miền Bắc là ra làm sao.

Tuy nhiên, dù đã lòng dặn lòng “phải đọc dưới góc nhìn của tác giả Nguyễn Ðình Toàn” nhưng cũng có lúc tôi hơi thất vọng trước những câu kiểu như, “Nghe nói về sau Hoài An thích nghiên cứu tử vi” hay “Nghe nói Lam Phương đã viết vì xúc động trước hoàn cảnh của Họa Mi.” Giá mà tác giả cứ hỏi ngay Hoài An hay Lam Phương cho rõ ràng những điều “nghe nói” đó thì bài viết càng có giá trị thuyết phục biết bao nhiêu!

Bỏ qua vài điều mình không như ý, bỏ qua đôi ba tác giả được giới thiệu quá vắn tắt, phải nhìn nhận rằng, từ những nét tưởng chừng có lúc như nguệch ngoạc cho ra chữ, có lúc như vắt ra từ con người của nhà thơ, nhà văn Nguyễn Ðình Toàn, mà người đọc, cũng như tôi, sẽ bất chợt nhận ra những điều cứ ngỡ mình biết lâu nay, nhưng thực ra là chẳng biết gì, qua “Bông Hồng Tạ Ơn.”
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Chiều nhạc Trần Duy Đức - Thơ lên tiếng hát
Phan Lang
Con đường nhỏ giống như một hương lộ nào đó ở quê nhà, nằm gần góc Harbor và Hazard, đi qua một đám ruộng dâu trước khi dẫn đến một lối xóm dưới tàng cây xanh. Hồi ấy nhà của Trần Duy Ðức ở đó. Lần đầu tôi đến đây theo lời nhắn của anh Phạm Công Thiện. Nhà của Ðức là nơi anh tạm dừng chân, cũng giống như không biết bao nhiêu nhà và ngôi chùa trước đó trong kiếp đời lang bạt của anh. Mới đó mà đã ba mươi năm có lẽ.

Gặp lại Ðức lần mới đây, hai đứa nhắc lại chuyện Santa Ana ngày cũ. Lúc ấy anh vừa sang Mỹ không lâu, còn tôi từ giã con đường La Fayette ở LA, và anh Thiện rời chùa của thầy Mãn Giác ở đường Berendo về đây. Trong cái lịch sử còn khá sớm của đám người Việt lưu vong, những khuôn mặt, những hàng quán cũ trộn lẫn trong ống hình vạn hoa quá khứ.
Image
Ðôi song ca Mạnh Cương và Hoàng Nhung. (Hình: Ca sĩ cung cấp)


Một đêm năm 1982, tại quán Tay Trái của Lê, một người khách ngỏ ý muốn được lên hát. Người khách hát một lúc 3 bài do mình sáng tác. Hai bài phổ thơ Du Tử Lê và một bài phổ thơ Cung Trầm Tưởng. Kể từ đó, người ta mới biết tới Trần Duy Ðức, một người viết nhạc tinh khôi từ tập thể người Việt lưu vong. Từ ngôi nhà của Ðức và Hạnh đi qua khu vườn dâu, những sáng tác hay nhất của Ðức lần lượt ra đời. Những bài thơ hay nhất của Du Tử Lê được viết vào thời kỳ này. Dĩ nhiên đêm đêm được trình bày tại quán cà phê Tay Trái. Về sau Lê Uyên Phương mở lại quán Lục Huyền Cầm như dời cả đồi sương Hàm Nghi Ðà Lạt sang cùng tiếng hát buốt lạnh của Uyên. Ôi con đường Hàm Nghi dẫn xuống đầu phố chợ có quán cà phê Domino thân yêu của lũ nam sinh viên Ðà Lạt chúng tôi bấy giờ. Suốt cả hai năm trời, sáng nào cũng có mặt Nguyễn Nguyên Phương và Thanh Tâm Tuyền.

Tiếng nói Việt nghe như tiếng chim. Người Âu Tây lần đầu đến xứ Việt, cũng giống như người Hán phương Bắc trước đó hàng ngàn năm đều thuật lại như thế. Thơ và tiếng nói Việt với âm bằng trắc cung bậc thấp cao nói nghe như hát. Âm ngữ Việt, nhạc là thơ. Nhưng thơ sẽ vẫn mãi là thơ trong trang giấy cất đâu đó, trong tủ sách hay trí nhớ sẽ mai một của con người, nếu không có một ngày thơ lên tiếng hát, được nhạc đến chở thơ đi trên trên đôi cánh giai điệu, bay qua được cả thời gian lẫn không gian. Thơ là tinh thể tâm hồn dân tộc. Trần Duy Ðức là một người yêu thơ, kẻ đi tìm nhạc cho thơ, để cùng ta nghe tiếng thơ trong nhạc, một nghệ sĩ tài hoa tiêu biểu cho thế hệ lưu vong biết gìn vàng giữ ngọc, biết trân quý thơ Việt, phần tinh thể của tâm hồn Việt Nam.

Chiều tối Thứ Bảy, ngày 7 tháng 12 tới đây, sẽ có một chiều nhạc thính phòng Trần Duy Ðức do một nhóm các bạn trẻ yêu nhạc Việt tổ chức với sự đồng ý của tác giả. Ðây là một chương trình đặc sắc gồm 20 sáng tác chọn lọc của nhạc sĩ Trần Duy Ðức. Nhiều ca khúc lần đầu tiên được trình diễn trước sân khấu, phổ thơ Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Ngô Tịnh Yên, Cẩm Vân, Hà Nguyên Du, Nguyễn Nam An, Nguyễn Dũng Tiến, Trần Thiện Hiệp. Riêng với thơ Du Tử Lê, chương trình sẽ trình diễn một số các bài hát tiêu biểu nhất phổ thơ tác giả này. Ngoài ra đây là lần đầu tiên khán thính giả sẽ được thưởng thức các bài hát phổ thơ của các tác giả nêu trên chưa hề thâu âm hay trình diễn lần nào.
Image
Nữ ca nhạc sĩ Minh Phượng. (Hình: Minh Phượng cung cấp)

Chương trình được mở màn bài hát thể điệu swing vui tươi được phổ biến nhất của Trần Duy Ðức: “Nếu Có Yêu Tôi” qua tiếng hát Nguyễn Cao Nam Trân, một giọng hát trẻ tài năng vừa cộng tác với dàn nhạc The Vietnamese - American Philharmonic. Theo lời Ngô Tịnh Yên, tác giả bài thơ này, ý thơ dựa theo danh ngôn của Lord Chesterfield: “Ðừng để đến ngày mai những gì bạn có thể làm được ngày hôm nay.”

Tiếp theo là giọng hát của Hồ Kim Hiếu, người bạn đời của nhạc sĩ Sỹ Dự, chủ nhân quán nhạc Lạc Cầm, tham gia với chương trình qua nhạc phẩm “Tan Theo Ngày Nắng Vội” phổ thơ Du Tử Lê, vì đây là một trong những bài Hiếu hát được khán giả Lạc Cầm ưa thích, và đặc biệt phần hòa âm dương cầm do Sỹ Dự đảm trách. Dòng thơ Du Tử Lê được tiếp tục giới thiệu đến khán thính giả qua các tình khúc thơ 7 chữ “Trong Tay Thánh Nữ Có Ðời Tôi”; “Chỉ Nhớ Người Thôi Ðủ Hết Ðời”; “Dòng Suối Trăm Năm”; “Em Hiểu Vì Ðâu Chim Gọi Nhau.”

Thơ Du Tử Lê độc đáo ở cách cấu tạo âm ngữ, nối kết thành hình ảnh siêu thực bất ngờ từ những con chữ hiện thực. Tiêu biểu qua bài thơ phổ nhạc “Dòng Suối Trăm Năm”:

Chẻ đôi sông núi đêm bưng mặt
Mưa quấn khăn vào sâu ấu thơ
Chẻ đôi thân thế: mù tăm tích
Ta nghĩa trang nào? chôn, cất nhau!?...
(tiếng hát Thế Khải)

Nhưng còn ở lại rất lâu trong tâm trí người đọc là những câu thơ rất hay... đến bình thường, như trong bài có nhan đề “Chỉ Nhớ Người Thôi Ðủ Hết Ðời”:

Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác với đời sau.
(tiếng hát Ái Phương)

Hay trong bài “Em Hiểu Vì Ðâu Chim Gọi Nhau”:

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
Tôi với người chung một trái tim.
(tiếng hát Hoàng Duy)

Nhà văn hàng đầu của chúng ta là Mai Thảo, cuối đời mới bắt đầu làm thơ. Thơ ông làm không nhiều nhưng được bè bạn và văn giới ngợi khen. Như nhà văn Viên Linh viết trong một bài báo trên tờ Người Việt: “Riêng tôi thì tôi thích thơ của Mai Thảo hơn là văn của ông.” “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền” là một bài thơ tiêu biểu nhất của Mai Thảo, phổ nhạc bởi Trần Duy Ðức, trong ấy ta tìm thấy triết lý Hiện Sinh tây phương gặp gỡ kinh Phật Giáo. “Ðịa ngục ngươi là kẻ khác thôi” ở đây chính là câu thời danh “L'enfer c'est l'autre” của Sartre; “Sao không hạt cát sông hồng ấy, còn chứa trong lòng cả đại dương.” Tức là trong Tiểu Ngã có cả Ðại Ngã, trong hạt sương chứa cả cái mênh mông. Trong đêm nhạc hôm nay, cái di sản nghệ thuật triết lý của thế hệ người đã nằm xuống ấy được trao lại cho thế hệ thứ hai, qua giọng hát trầm ấm sâu lắng của một người rất trẻ Hàn Phúc.
Image
Ca sĩ Nguyễn Cao Nam Trân. (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt)

Cung Trầm Tưởng (cùng với Thanh Tâm Tuyền) đi hàng đầu trong việc làm mới nền thi ca hậu chiến 1955 tại miền nam VN. Thơ mới của ông đã được Phạm Duy đưa vào nhạc mình rất sớm, vào hậu bán thập niên 50. Phạm Duy đánh bạn cùng Cung Trầm Tưởng và họa sĩ Nguyễn Cao Uyên trong lúc du học tại Paris, trở thành nhóm bộ ba nhạc thơ họa. Ðó là thời kỳ “Kiếp Sau,” của “Tiễn Em,” “Bên Ni Bên Nớ” (Bài thơ có nhan đề “Tương Phản”) với lời thơ rất sốc, lần đầu tiên thử nghiệm trong nhạc Việt: “Giai nhân nằm khoe lõa thể” và “Ăn mày xán lạn ngày mai.” Ra đời đã hơn sáu mươi năm, đến nay nghe ra vẫn còn rất... tân kỳ!

“Trong Tời Anh Xanh Vút” phổ thơ Cung Trầm Tưởng được trình bày bởi Uy Vũ, một tài năng tiêu biểu của thế hệ thứ hai. Là con trai của nhà thơ nữ Vũ Thùy Nhân, sinh ra trong một dòng họ có các dì trong ban hợp ca Thùy Dương, các cậu là các nhạc sĩ hòa âm tài ba. Vũ tốt nghiệp khoa âm nhạc Mỹ, hiện là giám đốc một trường dạy nhạc tại quận Cam. Chàng nhạc sĩ trẻ, con trai của một nhà thơ này, sẽ đại diện thế hệ mình diễn tả tâm tình và nghệ thuật của bậc cha ông, qua giọng hát và đệm dương cầm cho ca khúc phổ thơ Tô Thùy Yên, bài “Ðãng Tử”:

Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn.
Ði, đi đâu chèo chống mỏi mê?
Ðến ngã ba, đành theo một lối,
Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia...
...
Bài ca ta hát đến đâu rồi?
Xin hát nốt còn đi kẻo muộn.
Thuận tay, ta ngắt một cành sậy
Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu
Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau.

Bài thơ đẹp như tâm hồn một tráng sĩ choáng hơi men, tất cả như căng rộng cùng với tiếng hát và bầu không gian một chiều đồng bằng nam bộ, có tiếng “bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn.” Rồi hành động thuận tay ngắt một cành sậy làm cây sáo thổi cạn hồn sầu, tưa như chàng tráng sĩ ấy hóa thân ra từ một bài thơ cổ phong.

Thi sĩ là kẻ đi lạc đường. Lạc đường vào quá khứ hay vào lịch sử. Một kẻ hoài hương (nostalgia) ở thế kỷ này mà nhớ về thế kỷ trước; ở trần gian mà nhớ thiên đàng.

Thế hệ Tô Thùy Yên là một thế hệ đau khổ. Lên tiếng hỏi han những ân sủng hạnh phúc của kiếp trước. Cầu mong chúng tái sinh:

Ở đâu còn bóng chim huyền diệu
Hót gọi tiền thân ta tái sinh,
Hót gọi vô vàn mơ ước cũ
Bay lên trời lớn đọ mông mênh.
...
Ở đâu còn trận gió thênh thang
Thổi mới trần gian mùa rộn ràng
Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang.

(Tiếng hát Nguyễn Cao Nam Trân - Bài “Còn Ở Ðâu - Ở Ðâu Còn” trích đoạn trong bài thơ dài “Mùa Hạn” của Tô Thùy Yên).

Sự xuất hiện gần đây của ca nhạc sĩ Minh Phượng mà giới yêu nhạc đánh giá như một “hiện tượng” bằng những show nhạc cá nhân cô thành công mấy nơi tiểu bang California với hình ảnh một nữ ca sĩ vừa đàn piano vừa hát những nhạc phẩm nổi tiếng của tân nhạc Việt Nam. Sở hữu chất giọng sâu trầm alto, mà độc đáo ở lối nhả chữ tròn đầy, Minh Phượng được huấn luyện trường ốc âm nhạc từ thuở bé bởi thân sinh là hai vị giáo sư âm nhạc tại Nhạc Viện Huế. Nhận lời mời tham gia chương trình nhạc Trần Duy Ðức, cô chọn trình bày một bài phổ thơ Hà Nguyên Du, nhan đề “Em Có Về Như Những Cơn Mưa”; một bài phổ thơ Ngô Tịnh Yên “Lẻ Loi.” Khi chọn bài này cô tạo một phản ứng khá bất ngờ cho tác giả Trần Duy Ðức, vì chính từ lâu tác giả quên bẵng nó, như lạc mất một đứa con. Và nó ra đời từ 5 năm (1990) trước khi bài nổi tiếng “Nếu Có Yêu Tôi,” thơ cũng của Ngô Tịnh Yên ra đời (1995). Với thể điệu slow rock, trầm lắng, ca từ là lời thơ buồn và đẹp. Cũng là nói về nỗi buồn lẻ loi một con người, hay kiếp người, cũng giống nỗi buồn một con chim, một cánh bướm nở từ cái kén muộn phiền, một cụm mây, lẻ loi như một con ve khan tiếng gọi mùa.
Image
Trần Duy Ðức qua nét vẽ Phan Lang.

Cẩm Vân, một nhà thơ từ xứ lạnh Na Uy xa xôi, có ba bài thơ phổ nhạc trong chương trình hôm nay. Bài “Cũng Ðâu Gì Lạ” và bài “Giả Vờ,” được trình bày bởi đôi song ca Mạnh Cương và Hoàng Nhung, cặp Special Guests của chương trình, gợi nhắc lại hình ảnh cặp Lê Uyên Phương ngày nào. Ðây là hai bài tình ca của lứa đôi tuổi trẻ.

“Chàng Nhạc Sĩ Và Con Chim Nhỏ” là bài thơ phổ nhạc thứ ba của Cẩm Vân giới thiệu trong chiều nhạc. Ðây là bài thơ kể về chuyện tình có thật (mà cũng không có thật) giữa một chàng nhạc sĩ và cô ca sĩ. Lần đầu được trình diễn trên sân khấu bởi ca sĩ Bích Huyền, là giọng hát rất kén chọn với show nhạc đời, nhưng rất quen thuộc với các chương trình âm nhạc Thánh Lễ lớn Công Giáo ở nam California, cùng với người bạn đời là nhạc sĩ dương cầm Quốc Vũ. Như thế, khó có giọng hát nào thích hợp hơn để diễn tả một ca khúc mới của Trần Duy Ðức phổ từ thơ Cung Trầm Tưởng: “Chủ Nhật Niềm Tin Mầu Huệ Trắng.”

Ðang khi lưu đày tại núi rừng Việt Bắc, một sáng Chủ Nhật kia, bỗng chợt thấy hình dáng một người con gái nhỏ, mặc áo dài trắng đi lễ nhà thờ tại một thôn xóm hoang vu, con người Tưởng, thơ của Tưởng, và cả Sài Gòn của Tưởng, bừng sống lại:

“Sớm nay chủ nhật thơm thương quá
Vì có Sài Gòn trong dáng em.”

Lời thơ vẫn còn rất... Cung Trầm Tưởng:

“Chủ nhật niềm tin mầu huệ trắng
Hiền từ soạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Rẩy tóc đen mềm ánh sao xanh.”

Kết thúc chương trình là nhạc phẩm “Khúc Mưa Sầu,” được song ca bởi Ái Phương và Vương Lan. Ðây là một nhạc phẩm đầu tay, nổi tiếng nhất của Trần Duy Ðức, viết từ hồi rất trẻ (1972), thấm đẫm nỗi buồn mùa mưa cao nguyên. Nỗi buồn Ðông phương, rất ngũ cung, như cuồn cuộn khói sương quanh đỉnh non cao trong tranh cổ họa.

Khi mời Nguyễn Ðức Cường làm người điều dẫn cho chương trình chiều nhạc Trần Duy Ðức, ban tổ chức cho rằng khó có người nào khác thích hợp vai trò bằng anh. Ngoài nghề y, anh vốn là một nhạc sĩ, và là một thi sĩ, viết lời nhạc cho một số các tuyệt phẩm của nhạc sĩ Quốc Dũng như: Ðường Xưa, Hạt Mưa Và Nỗi Nhớ, Cõi Buồn, Chỉ Là Mùa Thu Rơi... Và người nữ MC đứng chung sân khấu với anh là Ðặng Tuyết Mai, một nhân dáng biểu tượng cho một thời đại... Và cái quý hóa còn đến hôm nay nơi tấm lòng ấy là sự say đắm với văn chương và âm nhạc.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Ngộ Đạo Đất Trời

Tràm Cà Mau

Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tỉnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông. Bà vợ nghe dặn dò cách thức làm đám tang kỳ dị, thì nói giọng buồn, với đôi mắt cầu khẩn:

- Em nghe nói ngày xưa ở Huế, người đàn bà đầu tiên đi xe đạp, bị cả thành phố phỉ nhổ, xem như là Me Tây, như kẽ phá hoại phong hóa nơi đất thần kinh. Cho đến khi chiếc xe gắn máy hiệu "Velo solex" ra đời, người đàn bà đầu tiên xữ dụng, cũng bị xem như là thứ côn đồ, cao bồi du đảng, chẵng ai dám giao du thân mật. Đến như bà Thu, vốn là một công chúa, dù là con của vị phế đế, là người đàn bà có xe hơi, và lái xe hơi dầu tiên ở Huế, cũng bị thiên hạ nghi ngờ oan ức đến cái đức hạnh của bà, mà suốt đời không kiếm được một tấm chồng. Thế mà bây giờ, anh bảo em làm đám tang khác thiên hạ, không giống ai, thì chịu sao nỗi lời tiếu đàm của bà con, họ hàng!

Ông Tư cười, nhìn vợ và nói:

- Cái gì cũng phải có khởi đầu, có người làm trước, về sau thiên hạ thấy hay mà làm theo. Không ai khởi đầu cả, thì làm sao có tiền lệ để mà bắt chước? Thời trước nếu không có cô, bà nào dám tiên phong leo lên xe đạp, thì bây giờ đàn bà đi bộ cho rã cẳng ra. Ngày nay, còn có ai xì xầm khi thấy các cô, các bà đi xe đạp, xe gắn máy và lái xe hơi đâu?

- Sao anh bắt em phải làm cái việc khác đời, cho tội cho nghiệp em. Em đâu phải là hạng người thừa gan dạ, để có thể phớt lờ dư luận, khen chê của thế gian ?

Ông Tư trả lời với giọng rất bình tĩnh:

- Chỉ là ước mong nhỏ nhoi cuối cuộc đời của anh, mà em cũng không giúp anh được sao? Ai có nói gì, thì em cứ bảo đó là ý nguyện của anh trước khi chết. Mà có lẽ, mọi người đều biết anh muốn như vậy, em khỏi cần giải thích cho ai. Em không làm theo ý nguyện, anh chết không nhắm mắt, làm sao linh hồn siêu thoát? Như thế, em không sợ anh về quấy phá em mãi sao?

Nghe đến đây, thì bà Hoa tái mặt. Bà vốn sợ ma, sợ người chết, sợ bóng tối, sợ sự thiêng liêng. Bây giờ ông chồng còn sống, bà có thể lấn áp, bắt nạt ông được, chứ sau khi ông chết rồi, thì bà phải chịu thua, phải sợ ông. Ông Tư biết tính vợ, nên đem ma quỷ ra mà dọa trước, may ra sau khi ông chết, thì bà chịu theo lời ước nguyện của ông.

Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết? Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn.

Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn. Bởi vậy, ông bình tỉnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn.

Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền.

Hai là bình tĩnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận.

Ông chọn con đường sau, nên không buồn bả, không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại. Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa.

Ban đầu, vợ con, gia đình, ai cũng ái ngại, nên cư xử tế nhị, dè dặt, gượng nhẹ với ông. Về sau, thấy thái độ bình tỉnh của ông, mọi người quên đi chuyện ông sắp xa lìa cõi đời nầy, mà cư xử với ông không khác gì người bình thường. Đôi khi bị vợ gắt gỏng, bị con giận hờn, bị bạn bè to tiếng, ông không buồn giận, mà cảm thấy tức cười, và thấy thương họ hơn.

Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:

- Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : “Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi...” Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin ? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn? Đáng ra phải cáo phó bằng câu : "Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng "khóc báo" với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì?”

Bà Hoa nhăn mặt nói:
- Anh đừng chi li bắt bẻ từng câu từng chữ . Đó là một lối nói thôi. Vì có ai biết chắc đi về đâu mà dám vui, buồn. Nhưng cứ cho là về thiên đàng, cực lạc, về với Chúa Phật, cho người sống an lòng. Không lẽ báo tin ông nội tôi được quỷ sứ rước đi rồi. Dù sống có gian ác đến đâu, khi chết cũng có quyền hy vọng về nơi lạc phúc, bình an.

Ông Tư lắc đầu nói tiếp:

- Em có thấy ông cụ Trương nằm liệt giường hai năm, không cử động được, như bị hành hình, cả nhà lao đao lận đận chăm sóc. Hai vợ chồng bác Thu con cụ, vì khổ nhọc quá, gây gỗ nhau, gia đình suýt tan vỡ.

Khi cụ mất, cả nhà thở phào sung sướng cho cụ, và cho mọi người trong gia đình. Thế mà khi cáo phó, cũng đau đớn báo tin. Bà con bạn bè đăng báo chia buồn, cũng là vô cùng thương tiếc, vô cùng đau đớn. Tang gia mừng, mà bà con lại chia buồn. Bà con muốn cụ nằm đó mãi, để khổ thân cụ, khổ con cháu cụ lâu dài hơn nữa hay sao? Hay là họ không phải khổ cực chăm sóc cụ, không phải đau lòng khi thấy cụ nằm liệt ra đó, nên cụ chết họ buồn đau? Bỡi thế, khi anh chết, anh không muốn cáo phó, không muốn ai phân ưu chia buồn. Chết cũng là một tiến trình của tự nhiên của trời đất, thì có chi mà phân ưu, chia buồn. Có ai sống mãi được?

Bà Hoa không đồng ý, nói lớn:

- Mất mát nào mà không đau buồn? Dù biết chắc rằng, ông cụ Trương chết là thoát được khổ đau đang hành hạ. Nhưng khi cụ mất, cả nhà cũng buồn vì mất cụ, mà vui vì cất đi được gánh nặng, bớt được mối thương tâm khi thấy người thân yêu của mình khổ cực nằm đó.

- Thế thì khi cụ mất, chắc chắn cả nhà vui nhiều hơn buồn, mừng nhiều hơn tiếc. Không ai dám nói mừng khi thấy thân nhân mình chết, vì sợ thiên hạ hiểu lầm, tiếu đàm. Thế thì đừng giả dối, nói là đau đớn, tiếc thương, mất mát. Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tỉnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.

Bà Hoa hỏi:

- Hay là đời sống dân họ đau khổ lầm than quá, nên chết đi là khỏe chăng? Chết là hết lo cơm áo, khỏi đói khát bệnh tật?

Bà Hoa nghĩ là ông Tư không thương bà đủ nhiều, nên cứ thản nhiên trước cái chết cận kề. Bà không biết làm sao chịu nỗi cảnh cô đơn khi sống thiếu ông trên đời.

Ông Tư thường nói với bạn bè rằng, rồi ai cũng phải chết. Không chết sớm thì chết muộn. Không chết lúc ba bốn mươi, thì bảy tám chín chục tuổi cũng phải chết. Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm. Nếu đêm nay đau răng thì cố thức làm gì, ngủ sớm đi mà quên đau.

Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bỡi vậy , khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uồng thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm. Còn gia đình, thì thời gian đầu thấy thiếu vắng, mất mát, nhưng rồi sau cũng quen dần, vì phải lo lắng nhiều công việc khác trong một cuộc sống bình thường, không còn có thì giờ mà tiếc thương, mà bi ai. Phần người chết, buông tay là xong tất cả, bình yên vĩnh viễn. Không còn phải lo công việc làm ăn, lo cơm áo gạo tiền, không còn lo làm giàu, lo tích trữ của cải, không còn ghen tuông, giận hờn, không còn phải thức khuya học hành, hoặc viết văn làm thơ mệt nhọc, không còn theo đuổi mộng lớn mộng bé, không ưu tư dằn vặt vì thời thế, vì đất nước, quê hương... Bỏ hết. Tất cả cũng chỉ là tro bụi. Thiên hạ còn ngưỡng mộ, còn khen ngợi những anh hùng liệt sĩ trong lịch sử, nhưng chính các người nầy có còn biết gì nữa đâu? Cũng là một mớ xương khô mục nát, đâu có nghe, có cảm xúc, hân hoan, vui thú gì. Có ca ngợi, nhắc nhở thì để các thế hệ con cháu về sau noi gương người đi trước mà dìn giữ quê hương, mà sống cho đàng hoàng, cho nên người, đừng làm việc xấu xa đê tiện.

Ông Tư dặn vợ làm một đám tang đơn giản, không mở nắp hòm cho bạn bè thăm viếng nhìn mặt. Hát nhạc vui trong tang lễ, không khóc lóc, mà vui cười tự nhiên. Sau khi thiêu xong thì gởi tro xương về quê nhà, đừng xây mộ, đừng đắp bia.

Bà Hoa thì chỉ muốn làm giống như tất cả mọi người. Ai làm sao mình làm vậy trong khả năng tài chánh của gia đình. Bà không muốn làm khác ai, để họ có thể nghị dị, bàn ra nói vào, thêm thắt thêu dệt. Nhưng bà cũng không nỡ từ chối ước nguyện cuối cùng của ông. Hai người con của ông bà, đứa con gái đầu thì tán thành, muốn làm theo ý kiến cũa bố, đứa con trai phản đối, vì sợ thiên hạ chê cười. Ông nói với con : “ Con nên vì bố, không nên vì thiên hạ.”

Ông Tư xin nghỉ việc, đi thăm bà con họ hàng, đến đâu ông cũng nói chuyện khôi hài, vui vẻ, nồng nàn với bạn bè bà con, thức đêm, uống rượu, hát hò, ngâm thơ, ăn uống không kiêng cữ. Theo ông, thì kiêng cũng chết, mà không kiêng cũng chết, chết sớm hơn vài tháng, vài tuần, cũng chẵng nghĩa lý gì. Còn chẵng bao lâu nữa, kiêng cử làm chi cho khổ thân, cho đời mất đi một phần ý vị. Ông cho rằng, đã sống đến trên năm mươi tuổi là quá lời, quá đủ, không có gì để nuối tiếc. Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.

Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tỉnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẽ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bỡi vậy, nên người đã trãi qua cận tử, thì không cón sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất. Ông Tư không tin chuyện cận tử, vì ông vốn con người thực tế và lý trí, cái gì chưa kiểm nghiệm được thì chưa tin. Nhưng cho rằng, nếu được như vậy thì càng tốt. Nếu không được vậy, thì cũng thôi.

Cuộc đời ông Tư đã trãi qua nhiều giai đoạn sướng khổ. Chưa xong đại học thì bị kêu đi lính, tham dự những trận chiến kinh hoàng, ngày đêm trấn đóng nơi ma thiêng nước độc, đã từng bị bắt làm tù binh, đã vượt ngục. Khi miền Nam thua trận, phải đi tù nhiều năm. Đã sống trong chế độ hà khắc kìm khớp, bữa đói bữa no. Đã đi qua biển tìm tự do. Và ước nguyện rằng, được sống thêm một ngày trong xứ tự do, thì có chết cũng không có gì tiếc nuối. Thế mà ông đã sống thêm được nhiều năm trong một xã hội có tự do, dân chủ. Con người được pháp luật bảo vệ, tôn trọng. Ông biết ơn trời đất đã cho ông cái phần thưởng vô cùng quý giá đó trong nhiều năm qua.

Ông Tư chỉ là một người bình thường, có đủ cả tốt xấu. Có chút rượu chè, nhưng không ghiền và say sưa. Khi vui bạn vui bè, thì ai đến đâu, ông đến đó. Ông hòa đồng cùng đám đông. Thỉnh thoảng ăn nhậu cùng bạn bè, nói chuyện trời đất, vui chơi. Cờ bạc ông cũng có chút chút, từ xì phé, bài cào, cờ tướng, cờ vua, đi sòng bài. Nhiều khi ông xoa mạt chược cùng bạn bè, một mạch từ sáng thứ bảy cho đến chiều chủ nhật mới thôi, ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày đi làm vào thứ hai.

Ông không mê, không lậm, biết dừng lại đúng lúc, không phải khi thua cờ bạc thì nóng mặt cố gỡ, và gỡ cho đến bán nhà. Trai gái ông cũng có, nhưng không làm hại đến ai, biết giới hạn của cuộc chơi. Không làm khổ vợ con, không gây khổ đau cho người khác phái. Thuốc lá, cà phê hàng ngày, ông không ghiền, nhưng cũng không bỏ hút thuốc. Ông Tư còn có chút máu nghệ sĩ . Ông thổi kèn hắc tiêu rất đạt, nên lâu lâu theo người bạn Mỹ gốc Phi Châu đến các hộp đêm thổi kèn chơi, không lấy thù lao. Ông có chân trong một ban nhạc tài tử, lâu lâu đi trình diễn ở các nơi công cọng. Ông Tư có sáng tác vài bản nhạc, nhưng không ai hát, và hát không ai nghe, không ai khen, nên ông không sáng tác nữa. Ông Tư cũng thích đọc truyện, đọc thơ. Ông cũng có làm thơ, nhưng bà Hoa là vợ ông, khuyên đừng để cho ai biết những bài thơ đó do ông viết, vì người sợ người ta cười lây cả bà. Ông nghe vợ chê, nãn lòng, không muốn làm thơ nữa. Tuy nhiên, có nhiều khi cao hứng, không cầm được cảm xúc, ông cũng làm thơ chơi, và dấu kín, vì sợ vợ đọc được chê bai.

Một người bạn của ông Tư cũng thích thơ phú, thường cùng ông ngâm vịnh khi nhàn tản, một hôm nghe ông nói về quan niệm cuộc đời, lẽ sống và cái chết. Ông nầy ngồi nghe mà đờ ra, và nói:

- Bác chờ chút, tôi lục tìm bài thơ của một ông bạn tôi, sao mà ý tưởng của bác với ông kia trùng nhau, như cùng học một sách. Kỳ lạ ghê. Lần đầu đọc bài thơ nầy, tôi khoái quá, phải xin ông bạn cho tôi mượn, chạy ra phố, chụp lấy một bản, còn cất giữ đây.

Ông Tư cầm lấy bài thơ dài, vừa đọc vừa gật gù, đọc xong ông vỗ đùi sung sướng, nói:

- Tuyệt. Hoàn toàn giống hệt suy nghĩ của tôi. Bác đem tôi đến giới thiệu tác giả bài thơ nầy đi. Bác xem đấy, đâu phải một mình tôi suy nghĩ khác đời đâu. Có nhiều người cùng một ý nghĩ, nhưng không dám nói ra, không dám thi hành. Đúng như cụ Nguyễn Công Trứ có viết là chỗ ta ngồi hiện tại, người xưa đã ngồi rồi. Tôi dốt chữ Hán, nhớ mang máng hình như là “Ngã kim nhật tại tọa chi địa, cổ chi nhân tằn tiện ngã tọa chi” . Mấy ông Tây cũng từng viết là dưới ánh mặt trời nầy, không có cái gì mới cả. Những suy nghĩ của tôi về cái chết, sự sống, người xưa cũng đã viết nhiều, tàng ẩn bàng bạc trong kinh Thánh, kinh Phật. Ngày xưa khi còn nhỏ, bố mẹ tôi gởi tôi vào học nội trú trường đạo Thiên Chúa, mỗi ngày mỗi đêm đều đọc kinh Thánh. Hồi đó tôi không hiểu hết ý nghĩa của kinh, tôi tưởng lầm đọc kinh là ngày đêm kêu gào sự xót thương của Chúa. Tuổi trẻ ngu muội và ngông cuồng nên tôi không có cảm tình với chuyện kinh kệ, nhưng khi lớn lên, đọc lại kinh Thánh, tôi thấy hay quá ông ạ. Lời kinh an ủi, vỗ về con người trong khổ đau, trong bước đường hoạn nạn, khi gặp cam go chìm nổi, tìm được yên bình để chịu đựng mà hy vọng qua khỏi nghịch cảnh.

Ông bạn cười, nói:
- Tôi thấy nhà bác thờ Phật, mà lại nói chuyện Chúa rành rẽ. Bác có theo đạo Cao Đài hay không?

- Không phải đạo Cao Đài, nhưng Phật Chúa gì cũng hoan nghênh. Bà xã tôi vẫn thường đi chùa. Ngày xưa khi còn trong quân đội, đóng quân giữa núi rừng, mẹ tôi gởi cho mấy bộ kinh Phật, không có sách vở, báo chí, buồn mà đọc chơi. Không có tâm tu hành, nhưng đọc mãi, nó thấm vào trong tư tưởng lúc nào không hay. Bỡi vậy, tôi có quan niệm rất rõ ràng về sự sống, cái chết, và bình tỉnh đón nhận như một lẽ thường của trời đất, tạo hóa.

Hai người đang nói chuyện, thì có bà bạn ghé chơi. Bà nầy yêu cầu ông Tư và bạn ông đóng tiền để mua đất chôn cất và xây mộ cho một người đồng hương Việt Nam nghèo mới chết. Gia đình không đủ tiền để làm ma chay và mua đất chôn ở nghĩa trang. Ông Tư móc ví, đóng ba chục đồng, và nói:

- Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu. Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẵng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao? Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.

Bạn ông Tư hỏi:

- Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bỡi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.

Ông Tư cười lớn nói:

- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mũn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những kẽ mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được?

- Nghe đâu các nghĩa trang cũng chỉ bán đất trong vòng một trăm năm thôi- Bà bạn bàn thêm - Sau một trăm năm thì không biết họ có đào lên, đem chôn ở hố tập thể, hoặc đem thiêu đốt đi chăng? Nhưng khi mua đất chôn, thân nhân, không nghe ai nói đến điều nầy. Mà dù cho chủ nghĩa trang có hứa miệng là bán đất vĩnh viễn, thì sau một trăm năm, họ đào bỏ đi, cũng chẵng ai hoài công đi kiện. Lời hứa trăm năm trước con cháu không nghe, không còn chứng cớ, cả người hứa hẹn lẫn người nghe hứa hẹn, đã chết từ lâu. Mà có lẽ con cháu cũng vì lo làm ăn, sinh kế, đi tứ tán, không ai còn đoái hoài chi đến mấy ngôi mộ của tiền nhân trong các nghĩa trang đây đó.

Bạn ông Tư nói:

- Trong phim tài liệu về Tây Tạng, ở đó đạo Phật là quốc giáo, ông Phật sống cai trị dân như vua. Khi có người chết, thì họ quàng dây kéo lê lên núi, sau đó mấy ông chuyên môn chặt xác chết ra nhiều khúc, và ném cho chim kên kên ăn. Trông khiếp lắm. Không biết họ làm như thế, có đau lòng thân nhân ? Rõ như câu nguyền rủa ở xứ mình là “ chim tha quạ rỉa”.

- Chẳng có đau lòng chi cả - Ông Tư bàn thêm – Bên đó toàn đá núi cứng. Muốn đào đá ra làm huyệt mộ cũng quá cực khổ. Thân nhân người chết, dẫu có muốn chôn cất đến mấy cũng không ai làm nỗi việc đó. Cho chim ăn là tiện nhất. Có điều, không biết làm sao chim kên kên không lây bệnh người chết, biết bao nhiêu là bệnh nan y, vi trùng, vi khuẩn. Bỡi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.

Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ. Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ? Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẵng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tỗ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom. Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. ...(bỏ 2 hàng). Bỡi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.

Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.

Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử. Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đở mệt trước khi thuyền chìm.

Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cỗng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẽ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẵng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vả xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm.

Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ “ Sau Khi Tôi Nhắm Mắt”. Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa. Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:





Sau Khi Tôi Nhắm Mắt.

Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bả
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiển đưa,

Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì .

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẽ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi .

Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bỡi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời .

Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,

Trỗi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không .

Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai

Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê

Thì cũng C, H, O, N kết lại
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri.



Khi đọc xong bài thơ, có người thì mĩm cười, có người vui hẵn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt.

Vợ con người chết cũng không tỏ vẽ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói:

- Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè. Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được. Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.

Người con gái đến bên bàn thờ, bật máy , có tiếng ông Tư cười hăng hắc vui vẻ, làm một số người không cầm được, cũng cười theo. Một vài bà yếu bóng vía sợ xanh mặt. Sau tiếng cười chào, thì có tiếng ông Tư đọc bài thơ dán trên tường, giọng đọc rất chậm rãi, rõ ràng, như đang nói chuyện thủ thỉ với bạn bè. Mọi người im lặng lắng nghe, người thì nghiêm trang, người thì mĩm cười. Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : “Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẽ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi.” Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ. Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trỗi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẫy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.

Bỗng nhiên, bà chị ông Tư nhào ra, lăn lộn trước bàn thờ mà khóc lóc gào lớn:

- Cậu Tư ơi là cậu Tư. Chúng nó đem cái chết của cậu ra mà bêu rếu họ hàng. Vợ cậu muốn đi lấy chồng sớm nên bày ra cái cảnh chướng tai gai mắt nầy. Con cậu cũng là thứ bất hiếu bất mục, cha chết mà không có một giọt nước mắt, còn cười nói lung tung. Chỉ có tôi là chị câu, thương cậu thật tình thôi, ruột đứt lòng đau, nên khóc than đây.

Ông chồng chạy đến ôm bà kéo ra, và nhỏ nhẹ giãi bày. Bà vùng vằng và càng khóc lớn hơn, xỉ vả bà Tư những câu tục tỉu nặng nề. Bà Tư ôm mặt khóc lóc. Bà chị chồng nói lớn: “Mai mốt chúng mày chết, bà đến phóng uế lên hòm chúng mầy”. Nhiều người bà con đến phụ ông chồng lôi bà chị ông Tư ra xe chạy đi.

Khách viếng tang lảng ra, và có người lẵng lặng ra về không chào hỏi ai, vì sợ gia quyến ngượng ngùng. Cô con gái ông Tư đứng ra xin lỗi mọi người vì chuyện không may, không vui vừa xẫy ra.

Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuỡ trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:

- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.

Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoan chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo. Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :

- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bỡi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẽ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.

Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiển đám tang khách.

Sau tang lễ, bà Hoa vợ ông Tư thở phào. Bà vui mừng vì đã làm được đúng lời căn dặn của chồng mà không bị tai tiếng. Bà chỉ sợ tai tiếng thôi. May mắn, đa số bà con đều tán thành nghi thức tang lễ, và nếu không tán thành, họ cũng im lặng, chỉ có bà chị ông Tư gây rắc rối thôi.

Nắm tro xương của ông Tư được vợ con gói kỹ bốn năm lớp, bỏ vào hộp bằng chất nhựa dày, để cho khỏi vỡ, rồi gởi bảo đảm về Việt Nam.

Chiếc xe chở hàng của hãng vận chuyển bị tai nạn trên đường ra phi trường. Xe rơi từ cầu xa lộ cao ba từng xuống đất, thùng xe vở nát, hàng hóa tung vung vãi, rách nát, cháy xém. Anh tài xế gảy hết tay chân và xương sống, hấp hối. Người ta đồn rằng anh tài xế buồn vì bị vợ cắm sừng, đã uống rượu say xỉn, không điều khiển được tay lái. Cái hộp tro xương của ông Tư bị rách và cháy xém mất một phần địa chỉ, được gởi lầm đi ngao du qua xứ Nambia bên Phi Châu. Cô con gái ông Tư hỏi tin tức bên nhà hàng ngày, qua liên mạng máy vi tính, về cái hộp tro xương, mãi đến hai ba tháng vẫn chưa nhận được. Bà Hoa viết nhiều thơ khiếu nại hãng chuyên chở. Họ trả lời là sẽ bồi thường cho bà hai trăm sáu mươi tám đồng. Bà Tư khóc lóc, thuê luật sư đâm đơn kiện. Sáu tháng sau, nhờ còn có địa chỉ người gởi, nên cái hộp tro xương được hoàn trả cho gia đình, với ghi chú là không có địa chỉ người nhận. Bà Hoa mừng ôm cái hộp mà khóc ròng.

Lần nầy, bà Hoa quyết định tự tay đem hộp tro xương ông chồng về tận Việt Nam. Bà sợ thất lạc thêm lần nữa, thì tấm lòng hoài vọng quê hương của chồng bà không được mãn nguyện, và bên kia cõi đời, ông Tư không yên ổn mà an giấc ngàn thu.

Tràm Cà Mau
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Những ngày tháng tù đầy không thể quên


Thanh Thương Hòang

Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh”tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH), hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa.

Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 (số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa.

Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai.

Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam”(cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà Văn Nhà báo (nguyên dân biểu)Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần.

Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên”khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được.

Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục.

Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới, Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc, Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ.

Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.

Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên:

“Đó là chính sách Nhà nước!”.

Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.

Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn:

“Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”.

Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.

Khi đi đến trước sân “nhà khách” trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam!

Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) – viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A (làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”.

Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm. Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn si măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận:

“Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”.

Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.

Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúch nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.

Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện). Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ ngoài đời lại phải gánh thêm cảnh tù đầy.

Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter – vị ân nhân vĩ đại – sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên. Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.

Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ cỏn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.

Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết).

Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản.

Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ:

“Bác đi tới phía bụi cây bên trái”.

Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói:

“Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”.

Anh bạn gắt nhẹ:

“Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”.

Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại.

Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người.

Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài Voa loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.

Còn một chuyện nhỏ nữa mà tôi cũng khó quên. Tôi vốn bị quy kết “học tập cải tạo” xấu, tư tưởng không ổn định và trây lười lao động nên thường xuyên bị ăn 13 ký một tháng (5 ký gạo, 8 ký khoai mì – nhưng bọn cai tù và bọn nhà bếp đồng lõa ăn chặn mất 2 ký gạo nên chỉ còn 3 ký).

Trong 7 năm sống ở trại Gia Trung tôi được gia đình “thăm nuôi” có 3 lần. Đáng nhớ nhất là lần 2 con tôi (còn vị thành niên: một trai 15 tuổi và một gái 13 tuổi) đi xe đò hơn ngàn cây số lên thăm Bố với gói quà khoảng 10 ký. Khi đến cây số 25 (quốc lộ 1Cool thì xuống xe, lúc đó là 2 giờ đêm. Trời rất lạnh lại ở chốn rừng thưa hoang vắng không biết đường vào trại, hai anh em phải ngồi dựa lưng vào nhau chờ sáng trong lòng vừa sợ vừa lo mọi thứ, nhất là với thú dữ và kẻ cướp.

Sáng hôm sau tôi được gọi thăm nuôi. Tôi cố làm nét mặt lạnh lùng vô cảm để tránh trận nước mắt của hai con tôi khi nhìn thấy thân thể tiều tụy mòn mỏi hết sinh lực của bố chúng. Như đã viết ở trên vì tôi học tập cải tạo xấu lao động kém nên chỉ được nhận 2 ký đồ thăm nuôi. Tôi nhìn thấy một gói bột trắng khoảng 1 ký, tôi tưởng là bột gạo hoặc bột sữa nên lấy gói này và 1 gói xả xào mắm ruốc vừa đủ 2 ký. Hai con tôi đứng trước cửa nhà thăm nuôi nhìn theo, tôi biết chúng đang khóc nhưng không đủ can đảm quay lại nhìn, tôi sợ không cầm được nước mắt và òa khóc. Tôi nghe tiếng con gái tôi nói trong nước mắt: “Bố ráng giừ gìn sức khỏe để còn sống trở về với các con”.

Vào tới buồng tôi mở ngay gói bột ra pha nước vào cái tô nhựa và ngoắng cho tan bột. Bột bị ngoắng sủi bọt lên trắng xoá. Đang đói đang khát tôi đưa lên miệng uống liền một ngụm lớn. Nhưng chất bột vừa trôi vào cổ họng, thấm vào lưỡi đắng chát và nóng rát, không có mùi vị gì có thể gọi là sữa cả, dù là sữa quá “đát”, tôi muốn nôn ọe vội nhổ ra ngay. Thì ra đó là sà bông bột (mà tôi cứ đinh ninh là bột gạo hay bột sữa). Kể lại cho anh em trong trại nghe ai cũng ôm bụng cười. Hai con tôi thật ngây thơ đem sà bông bột cho tù giặt quần áo!

Sau này tù về tôi mới biết hai con tôi cũng vô cùng khốn khổ trong chuyến về này. Vì xe đò hết chỗ chật cứng, chủ xe bảo hai con tôi muốn đi thì lên mui xe mà “nằm”. Bát đắc dĩ chúng phải làm theo. Mấy lần suýt chết khi xe chạy qua nhưng cái “cầu” thấp nhỏ bắc ngang đường, chỉ sơ sẩy một chút là bị vướng gạt ngã xuống đường chỉ có chết, nếu không thì cũng vỡ đầu gẫy chân tay.

Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói:

“Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin”.

Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.

Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng. Xe đày nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.

Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền…v…v…

Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát:

“Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”.

Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp – một thứ công dân hạng bét – ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1998 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.

Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ như tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề thê thảm khốn cùng của những năm tháng tù đầy.

Thanh Thương Hoàng
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Image

Bữa tiệc âm nhạc đặc sắc A Lifetime of Music -
Mừng thọ Giáo sư Lê Văn Khoa

Băng Huyền/Viễn Đông

Một không gian âm nhạc hoàn mỹ, khán giả được thư giãn và thưởng thức phong cách âm nhạc đa dạng, với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau qua một số tác phẩm sáng tác, hòa âm tiêu biểu của giáo sư, nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, và một vài tác phẩm qua phần hòa âm của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng, Vũ Trụ, do dàn nhạc giao hưởng 60 nhạc sĩ Việt- Mỹ biểu diễn; và sự tham gia của dương cầm thủ Nguyễn Vân Anh (đến từ Úc Châu), nghệ sĩ vĩ cầm Nguyễn Phúc Hải (đến từ tiểu bang Washington); 15 em nhỏ chơi vĩ cầm thuộc dàn nhạc thiếu nhi Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ; ban hợp xướng 65 ca sĩ, cùng phần góp mặt của lực lượng ca sĩ hùng hậu trong phần đơn ca như Quỳnh Giao, Ngọc Hà, Mộng Thủy, Bích Liên, Bích Vân, Nguyễn Cao Nam Trân, Teresa Mai, Diana Nebria- Rossignol, Anh Dũng, Quang Tuấn, Phạm Hà, Lê Hồng Quang, bé Hugo Nguyễn.

Chương trình là sự chắt chiu, tích lũy của hàng trăm con người với năng lực chuyên môn hàng đầu, cùng hợp lực để tạo nên một buổi hòa nhạc đỉnh cao, oai hùng nhưng đầy cuốn hút và mê hoặc, đây chính là những gì khán giả có thể cảm nhận được ở đêm nhạc “A Lifetime of Music” do hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức vào tối thứ Bảy 23-11-2013 tại hý viện La Mirada Theatre (thành phố La Mirada) để mừng sinh nhật 80 tuổi của giáo sư Lê Văn Khoa và tôn vinh những đóng góp tuyệt vời của ông cho âm nhạc. Trước khi buổi hòa nhạc bắt đầu, phần nghi lễ vinh danh giáo sư Lê Văn Khoa diễn ra thật ấm cúng và thân tình, lần lượt những đại diện của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, Học Khu Garden Grove, Hội Đồng Thành Phố Westminster, Thượng Nghị Sĩ Lou Correa, Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam đã trao tặng bằng tưởng lục và những món quà ý nghĩa để chúc thọ 80 đến nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Trong vòng gần 4 tiếng đồng hồ, 23 tác phẩm đã được các nghệ sĩ, ca sĩ, các em thiếu nhi trong dàn nhạc hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ đưa khán giả vào những giây phút, những khoảnh khắc của âm nhạc, của tình thương, nỗi nhớ nhà và những điều thiêng liêng khác, thoát khỏi những lo toan, nhọc nhằn, tìm được sự yên bình, thanh thản.

Tiếng vĩ cầm, viola, bộ gõ, dàn kèn đồng, tiếng sáo, tiếng piano... hòa điệu cùng nhau, với đủ sắc thái. Không còn phân biệt âm nhạc của Đông hay Tây, không còn “cách trở” không gian và thời gian, mà tất cả cùng giao hòa trong cảm xúc, cùng một nhịp đập của trái tim.

Nét đẹp của tác phẩm khí nhạc

Bằng đôi tay khéo léo, nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng đã điều khiển dàn nhạc để mở đầu chương trình với tác phẩm “Waves of the Danube” của nhà soạn nhạc Ion Ivanovici, qua phần hòa âm tuyệt đẹp của giáo sư Lê Văn Khoa, người nghe cảm đuợc phần hòa âm thật đa dạng của dàn nhạc giao hưởng, tiếng violin, piano… cảm nhận được cường độ, trường độ, nhịp độ đi kèm với giai điệu Valse, đưa người nghe mường tượng đến vẻ đẹp nước cuồn cuộn lên từng đợt, lớp sóng sau lên cao hơn lớp sóng trước rồi vỡ òa ra để chảy chậm rãi và uy nghi, rồi cuối cùng lớn dần thành sông cái với nhịp sóng nhè nhẹ và vui tươi của con sông Danube.

Tài năng của giáo sư Lê Văn Khoa không chỉ được biết đến trong phần hòa âm những tác phẩm cổ điển của thế giới, ông còn sáng tác những tác phẩm độc lập của riêng mình, như “Nocturne,” “là tiếng lòng của ông, được viết ở San Diego trong thời gian ông hay tin thân phụ của ông qua đời ở Việt Nam,” tác phẩm này từng được ông viết cho đàn violin và piano.

Trong đêm nhạc “A Lifetime of Music,” khán giả được thưởng thức tác phẩm này do giáo sư Lê Văn Khoa viết lại cho violin độc tấu do Nguyễn Phúc Hải solo với dàn nhạc. Tiếng vĩ cầm của Nguyễn Phúc Hải đã diễn đạt trọn vẹn cảm xúc của tác giả, nỗi cuồn cuộn nhung nhớ, nỗi đau quặn thắt lòng người khi nghĩ đến thân phụ vừa qua đời, khi thì dìu dặt, lúc da diết, cháy bỏng, mênh mang, sâu lắng, đã truyền đến cảm xúc lay động mọi giác quan người nghe, dẫu không có phần lời dẫn dắt, khán giả buộc phải tưởng tượng nhiều hơn, hình dung sâu hơn về cấu trúc trong âm nhạc và khoảng không gian mà nó tạo thành.

Còn với tác phẩm “Evening,” được giáo sư Lê Văn Khoa viết cho phần độc tấu piano cùng với dàn nhạc giao hưởng, những đoạn trình diễn solo điêu luyện của dương cầm thủ Nguyễn Vân Anh diễn tấu vô cùng lôi cuốn, khả năng làm chủ cây đàn thành thục và phong thái trình diễn tinh tế, sự “tác hợp” ăn ý giữa tiếng đàn piano và dàn nhạc giao hưởng dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng đã khiến khán giả Mỹ, Việt mê đắm vẻ độc đáo đầy gợi cảm của tác phẩm “Evening.”

Nét độc đáo và thăng hoa của tác phẩm thanh nhạc

Đan xen giữa các tiết mục hoà nhạc không lời, là những ca khúc đầy thanh thoát, sâu lắng của giáo sư Lê Văn Khoa viết nhạc và lời, hay phần hòa âm của giáo sư Lê Văn Khoa cho dân ca Việt Nam, những ca khúc của các nhạc sĩ tài danh Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Cung Tiến, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… cùng phần hòa âm của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng, Vũ Trụ.
Giọng hát giàu cảm xúc của ca sĩ Ngọc Hà, hiền thê của giáo sư Lê Văn Khoa, đã thể hiện trọn vẹn nỗi khắc khoải, thiết tha trong ca khúc “Memory” hay còn có tên gọi khác là “Ngày Mai Chia Tay,” được ông sáng tác vào năm 1956 khi còn trẻ, lúc ông đang bệnh lao phổi nặng, tưởng chừng sẽ phải “chia tay sự sống.” Đây có thể xem là một bản tình ca đẹp nhưng đượm buồn với giai điệu quyến luyến cùng những lời ca u hoài da diết, đã gợi mở sự “cảm nhận lưu luyến, không muốn chia rời cuộc sống” giàu rung cảm sâu sắc.

Vẫn là giọng hát trầm ấm, nhả chữ rất đẹp, quãng trầm vang, rền, từng câu từng từ đều nắn nót của ca sĩ Quang Tuấn, nhưng nét nhạc quen thuộc “Mộng Dưới Hoa” (thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương) được vang lên bởi dàn nhạc đã tạo nên những cảm xúc bâng khuâng khó tả cho người nghe.

Giọng hát của Mộng Thủy đầy kỹ thuật, nhưng cũng thật tình cảm, đã “tan” thật sự, tan trong từng nốt nhạc, tan trong từng lời ca của Phạm Duy (viết lời Việt) cho tác phẩm “Serenata” của Enrico Toselli, hòa âm Lê Văn Khoa, để một lần nữa chắp cánh cho nó thăng hoa, bay lên, bay lên cùng một tiếng hát cứ mãi vút cao. Ca sĩ Lê Hồng Quang đầy tâm trạng khi thể hiện trọn vẹn những cung bậc ẩn hiện tiếng lòng người con mong nhớ, tha thiết yêu quê mình qua “Tình Hoài Hương” (nhạc và lời Phạm Duy, hòa âm Lê Văn Khoa).

Tứ ca Ngọc Hà, Vương Lan, Vũ Anh, Bùi Quỳnh Giao thể hiện thành công giai điệu vui tươi đằm thắm như nét đặc trưng của tâm hồn người Việt của bài dân ca quan họ Bắc Ninh “Se Chỉ Luồn Kim” (hòa âm Lê Văn Khoa).
Tuy nhiên, trong chương trình vẫn có những tác phẩm chưa được các ca sĩ thể hiện xuất sắc lắm, chưa phô diễn hết tài năng mà họ đã từng thể hiện trong những chương trình khác, như ca sĩ Phạm Hà với ca khúc “Riêng một góc trời” (nhạc và lời Ngô Thụy Miên, hòa âm Vũ Trụ), Nguyễn Cao Nam Trân thể hiện “Hương Xưa” (nhạc và lời Cung Tiến, hòa âm Lê Văn Khoa), Quỳnh Giao với “Thụy Khúc” (nhạc và lời Vũ Thành, hòa âm Lê Văn Khoa), Anh Dũng hát “Kiếp Dã Tràng” (nhạc và lời Từ Công Phụng, hòa âm Lê Văn Khoa), Bích Liên với “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (Thơ Quang Dũng, nhạc Phạm Đình Chương, hòa âm Lê Văn Khoa).

Bù lại, những tiếng hát của Bích Vân, Teresa Mai, Diana Nebria Fisher-Rossignol, ban hợp xướng Little Saigon Master Choral và bé Hugo Nguyễn đã cống hiến những tiết mục xuất sắc, đem lại những tràng pháo tay cổ võ của cả ngàn khán giả nơi hí viện La Mirada Theatre.

Những tiếng hát xuất sắc, tỏa sáng trong chương trình

Giọng hát trong veo, cao vút của Teresa Mai vút lên thật lộng lẫy và làm chủ bài hát “Nessun Dorma” trong vở opera cổ điển “Turandot” của nhà soạn kịch bậc thầy Giamoco Puccini (hòa âm Nguyễn Khánh Hồng) thật mạnh mẽ, lôi cuốn, tự tin, nhưng cũng đầy chất trữ tình.
Giọng ca của Teresa Mai (trong vai Kim) với làn hơi khỏe khoắn, cách diễn đạt tinh tế, đặt tâm hồn mình vào từng nốt, từng câu, cùng giọng ca của Phạm Hà (vai Chris), cùng thể hiện trích đoạn của nhạc kịch “Miss Saigon” (bài “Sun and Moon” âm nhạc của Claude- Michel Schonberg và Alain Boublil, lời Richard Maltby, hòa âm Nguyễn Khánh Hồng) thật thiết tha, đớn đau của cuộc tình ngang trái giữa một quân nhân Mỹ và cô gái mồ côi xinh đẹp người Việt, vào những năm cuối cùng người Mỹ hiện diện tại miền Nam Việt Nam.

Kỹ thuật và cảm xúc hoàn hảo gần như tuyệt đối, phong thái trình diễn xuất thần của ca sĩ Bích Vân khi thể hiện ca khúc “Mơ Về Quê Tôi” của giáo sư Lê Văn Khoa. Quãng giọng rộng và khả năng tự tình trong từng từ, từng đoạn của”Mơ Về Quê Tôi” đã khiến khán giả lắng nghe Bích Vân hát như nuốt lấy từng lời và bỗng chốc lại rùng mình mỗi khi Bích Vân bùng nổ trong những cao trào.

Một phần trình diễn có khả năng lay động đến từng tế bào người nghe khi cô diễn tả tâm trạng xa xứ, nỗi đau hãi hùng trong bước đường đi tìm tự do, đó cũng chính là tâm trạng và hoàn cảnh của tác giả Lê Văn Khoa và của biết bao người Việt tị nạn đã phải trải qua trên đường vượt biển, vượt biên để đến được bến bờ Tự Do. Bích Vân đã hát “The Blue Danube” (Nhạc của Johan Strauss II, lời việt “Dòng Sông Xanh”của Phạm Duy, hòa âm Nguyễn Khánh Hồng) với giọng ca véo von bay bổng, rộn ràng, miêu tả thật tuyệt mỹ vẻ đẹp mênh mông xa vắng đến nao lòng của sông Danube xanh.

Giọng nữ cao của Diana Nebria Fisher-Rossignol rất giàu cảm xúc, tiết chế và đúng mực, giọng hát “đẳng cấp” của chị khiến khán giả gần như nín thở để lắng nghe “I Remember” (Nhạc và lời Lê Văn Khoa, lời tiếng Anh James Banarian, hòa âm Lê Văn Khoa) thật mãnh liệt, nó cuốn đi và bừng sáng như một ngọn lửa.

Chất giọng trong trẻo, hồn nhiên, đong đầy cảm xúc của bé Hugo Nguyễn (7 tuổi), sinh ra tại Mỹ, con trai của anh Hoài Nguyễn và chị Anh Thư Võ, khiến cả khán phòng vỡ òa cảm xúc và tự hào khi bé hát vang ca khúc thiếu nhi “Nếu có ai hỏi em” (nhạc và lời Lê Văn Khoa) đứng bên cạnh dàn nhạc thiếu nhi và dàn nhạc giao hưởng hòa tấu.

Ở giọng ca nhỏ tuổi này còn có sự tự tin và bản lĩnh làm chủ sân khấu, một “điểm cộng” mà không ít ca sĩ phải mất nhiều năm mới có được. Lần trình diễn này em chỉ được tập với dàn nhạc một lần trước khi ra diễn chính thức, trước đó, em chỉ được ba tập hát ở nhà. Đây là một giọng hát khá đẹp, chắc nhịp.

Một trong những lợi thế lớn của Hugo Nguyễn được sinh ra trong một gia đình có thẩm mỹ nghe nhạc rất cao. Anh Hoài Nguyễn biết chơi đàn guitare và thường hay hát nghêu ngao với con, tập cho bé hát, để truyền tình yêu tiếng Việt, nhạc Việt cho bé. Hugo Nguyễn từng đạt giải nhất chương trình “Tiếng Việt Mến Yêu” vào tháng 6 năm 2012, trên đài truyền hình SBTN, qua ca khúc đơn ca “Anh Là Ai” của Việt Khang, trước đó cũng trong tháng 6, bé đã thể hiện lần đầu tiên ca khúc này trong lễ bế giảng lớp tiếng Việt mà bé theo học từ Mẫu giáo tại Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam. Hugo Nguyễn đã được ba mẹ ghi danh theo học đàn piano với giáo sư Lê Văn Khoa khoảng 1 năm nay.

Anh Hoài Nguyễn chia sẻ với người viết, “Trước khi gửi Hugo theo học với thầy Khoa, tôi có theo dõi một số chương trình về giáo sư Lê Văn Khoa và tôi rất cảm phục thầy, ước muốn con mình ít nhiều bước chân theo được con đường, suy nghĩ, lập trường nghệ thuật y như thầy. Tấm gương của thầy Khoa mà tôi luôn muốn con noi theo chính là khi đến với nghệ thuật, phải bằng hết tâm sức và hết mình cống hiến để làm rạng danh cho người Việt nơi hải ngoại này, giống như thầy Khoa đã làm trong suốt cả cuộc đời.”
Vẻ đẹp của hợp xướng

Với đơn ca, người ta thường bị lôi cuốn bằng sự rung cảm đơn tính, đưa đến sự thán phục trước tài năng cùng sự thăng hoa của người ca sĩ, nhưng lại làm cho bản thân người thưởng thức thường “lùi xa” để chiêm ngưỡng. Thì đối với hợp xướng, ngoài sự rung cảm, nể phục những giọng ca đẹp, người nghe còn thấy sự ấm cúng, gần gũi, thậm chí dẫn đến trạng thái hòa mình vào cùng dàn hợp xướng, muốn trở thành một thành tố của thứ âm nhạc mà mình đang thưởng thức.

Nhạc trưởng Trần Chúc thật tài hoa khi điều khiển dàn nhạc và ban hợp xướng Little Saigon Master Choral qua tác phẩm Hòn Vọng Phu 3 (nhạc và lời Lê Thương, hòa âm Lê Văn Khoa) và “Việt Nam-Việt Nam” (Nhạc và lời Phạm Duy, hòa âm Lê Văn Khoa), đã đem lại sự thỏa mãn tuyệt đối cho người nghe.

Còn với bài hợp xướng “Ca Ngợi Tự Do” (Trích trong bản giao hưởng “Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa) do chính giáo sư Lê Văn Khoa điều khiển trong vai trò nhạc trưởng, là một kết thúc đẹp của chương trình. Bản hợp xướng đã vang lên dữ dội, khốc liệt, đầy bi thương, phẫn nộ của người dân miền Nam khi bị cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam. Kết thúc bài nhạc thật bay bổng, vút cao cho khát vọng tự do.

Chương trình hòa nhạc “A Lifetime of Music” đã kết thúc, nhưng với khán giả, vẫn còn đó những dư âm về một chương trình nghệ thuật hấp dẫn.
Với kinh phí rất cao cho một chương trình lớn, những người làm chương trình đã vượt qua nhiều khó khăn, áp lực, mang đến một bữa đại tiệc âm nhạc lay động lòng người, để lại những ấn tượng khó quên về những “hồi ức” đau thương và cả “niềm hy vọng,” tình yêu quê hương, đất nước, mà tài năng của giáo sư Lê Văn Khoa đã dành trọn cả cuộc đời để cống hiến cho âm nhạc, đem lại niềm tự hào cho người Việt nơi hải ngoại thật sống động, cùng những điều tốt đẹp, tính trữ tình, thân ái vẫn lẩn khuất trong lòng người Việt Nam nơi xứ người. (bh)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Minh họa và bìa trong sách cũ

Viên Linh


Sách cũ lại trở thành tin tức nóng hổi vào tối Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013 khi trong một cuộc đấu giá tại Sotheby, New York,
một cuốn sách nhỏ in năm 1640 đã bán được với giá 14 triệu 165 ngàn Mỹ kim, là giá cao kỷ lục từ xưa tới nay
cho một cuốn sách tiếng Anh đầu tiên được in tại một vùng đất mà nay thuộc Bắc Mỹ.

Cuốn Bay Psalm Book được in tại Cambridge, Massachusettts, và do các nhà truyền giáo Puritan xuất bản.
Tin tức nói rằng đây là bản dịch Anh ngữ trung thực nhất từ nguyên bản tiếng Hebrew.
Tuy nhiên nó không phải là cuốn sách nói chung bán với giá cao nhất, danh dự này thuộc về một cuốn sách viết tay
gồm ghi chú và hình vẽ của danh tài Leonardo da Vinci (1452-1519), năm 1994 đã được bán ra với giá 30.8 triệu Mỹ kim.

Image
Hình ảnh những cuốn sách cũ tiếng Việt với bìa sách minh họa nội dung thể hiện mỹ thuật làm sách Việt Nam trong thế kỷ trước mà nay ít thấy:
sách in ở Hà Nội trước 1954 như Yêu của Hoàng Công Khanh. In ở Sài Gòn năm 1957 như Tuyết Hồng Lệ Sử của Từ Trẩm Á.
In năm 1960 ở Sài Gòn như Nó Giết Người của Lê Văn Trương. (Sách và hình của Viên Linh do tác giả cung cấp.)


Tổ chức Sotheby cho biết người mua cuốn Bay Psalm Book là nhà tài chính kiêm mạnh thường quân David Rubenstein, tham dự cuốc đấu giá bằng điện thoại từ Australia. Ông cho biết cuốn sách sẽ được cho các thư viện mượn để trưng bày các nơi. [“Một tài sản như thế không nên để trong nhà mình!”] Chủ cũ của cuốn sách là Old South Church ở Boston, họ có hai cuốn, nay bán đi một. Hiện trên thế giới có 11 cuốn này, sót lại từ số 1700 ấn bản in năm 1640. [Old South Church ở Boston do Linh Mục Benjamin Franklin thành lập, và truyền giáo, và ở đó sau này đã bùng nổ sự kiện lịch sử gọi là Boston Tea Party - năm 1773, khi dân chúng ở Boston cải trang thành dân Da Ðỏ trèo lên một thương thuyền Anh, ném hàng trăm thùng trà xuống biển để phản đối một lệnh bán trà của London có tác hại cho ngành sản xuất ở địa phương.]

Chín cuốn Bay Psalm kia đang lưu giữ bởi các thư viện khác trên thế giới. Nữ Mục Sư Nancy Taylor của nhà thờ Old South Boston nói từ hồi mấy tháng trước rằng đây là một cuốn sách “ngoạn mục,” tuy nhiên qua những trang hiện trên màn ảnh của máy vi-tính, người ta không thấy một hình vẽ nào, chỉ thấy chữ lớn nhỏ mà thôi. Mà một trong những đặc điểm của sách xưa lại chính là các minh họa. Một là vì các tác giả sách xưa phần lớn là những vị tài cao, không hẳn là mấy ông thợ in ngày nay - mà thợ in hồi xưa thường lại chính là các nhà trí thức, các ông chủ bút các báo tự đứng ra sắp chữ và in sách báo của mình - hai là hồi xưa thật xưa chưa có máy chụp hình, cũng như chưa có các scanner của vi tính như ngày nay - nên thay vào đó, người ta minh họa, dùng bút vẽ ra các hình ảnh mà văn bản mô tả bằng chữ in, hay viết tay, ở trên trang sách.

Mỹ thuật trong sách cũ khác xa mỹ thuật trong sách ngày nay, mà “sách ngày nay” nói trong bài này, chỉ gồm một số những cuốn thơ văn tuyển tập của các cây bút văn nghệ “hôm nay” mà thôi. Nhiều sách thơ văn tiếng Việt in ấn ở Hoa Kỳ khoảng 40 năm nay như người này biết, thua xa các sách in hồi thế kỷ XIX, khoan nói tới các sách in trong thế kỷ XX hay XXI của Âu Châu hay của Mỹ. Mà kỹ thuật in ấn hiện nay lại do máy móc tinh tế sản xuất, tinh tế ngàn lần hơn máy móc hai ba thế kỷ trước. Lỗi trước hết là ở người, chứ không ở máy.

Một trong những tệ hại nhất của hầu hết những cuốn sách tiếng Việt in trong vòng vài chục năm nay ở Hoa Kỳ là nội dung và cái bìa không ăn nhập với nhau. Bìa sách chính ra là phải “minh họa” nội dung, ít nhất là một vài cảnh có nói ở bên trong, thì các “tác giả” lại đi nhờ, đi xin, các họa sĩ trình bày bìa sách cho mình. Họa sĩ là người vẽ tranh, đâu phải nhà trình bày bìa sách? Cũng như các bích chương ca nhạc dán tràn lan hiện nay trên cột đèn, trên cửa kính các cửa tiệm, nhà hàng, đó đâu phải “bích chương” (poster) đúng nghĩa? Bích là tường. Bích chương là tranh phô bày trên tường. Tấm bích chương trước hết là để cho độc giả đang di chuyển, đang đi bộ chứ không cần nói đi xe đạp, có thể đọc được. Bích chương tiếng Việt hiện nay chèn ép cả trăm cái hình và những con chữ người đang di chuyển không thể nào đọc được (trong khi bạn đang lái xe bạn vẫn có thể đọc được các bích chương, poster đúng nghĩa thực hiện bởi những người có học về trình bày các sản phẩm ấn họa cho công chúng - public). Còn kia là những bích chương dành cho những kẻ vô công rồi nghề, không có gì làm, phải đứng lại [nếu đứng lại được giữa đám đông] cả năm mười phút mới đọc hết một tờ giấy in màu mè rối loạn trước mắt.

Về những cuốn thơ văn ngoài bìa in tranh của các họa sĩ, thật sự, những cái bìa sách như thế chỉ để quảng cáo tranh cho họa sĩ, nghĩa là lẽ ra họa sĩ phải trả tiền cho tác giả để in tranh của mình lên bìa sách của người khác, thì nghe đâu các tác giả lại phải trả tiền cho các họa sĩ để họ in tranh của họ trên bìa sách của mình. Người viết bài này có khoảng hai chục cuốn sách đã xuất bản, chưa bao giờ in tranh của họa sĩ lên bìa sách của mình, mà nếu in tranh của ai, thì tranh đó phải minh họa một cảnh trong sách. Chẳng hạn khi in Mã Lộ (con đường ngựa chạy, Văn xuất bản, 1969), tác giả đã nhờ bạn, họa sĩ Nguyễn Trung, vẽ cảnh Năm Xích Long (người xà ích) đang chạy cái xe thổ mộ chở hoa cho nàng bán hoa tươi ở Chợ Bến Thành. Như người đọc có thể thấy. Chẳng hạn khi xuất bản Chiều Hôm Gió Cuốn, tôi đã nhờ họa sĩ Chóe vẽ cho cái cảnh một con đường chạy giữa rừng Ban Mê Thuột, như người ta có thể thấy, nếu có cuốn sách. Truyện Vườn Quên Lãng, 1970, cái bìa là tranh vẽ cả trăm cái lá xanh lá vàng bao quanh tên truyện và tên tác giả. Bìa sách phải minh họa cảnh trong sách, như thế họa sĩ mới có lý do để lấy họa-phí, còn nếu in tranh của mình, lại đóng khung riêng rẽ không ăn nhập gì với nhan đề cuốn sách, lẽ ra họa sĩ cần phải trả ấn phí cho tác giả, hay cho nhà xuất bản. Nhưng lỗi không ở họa sĩ đâu, mà cũng không ai có lỗi, chỉ có các nhà xuất bản đã không muốn làm gì với cái bìa sách của ông A bà B, và các tác giả A và B đã không nghĩ gì về sách và bìa sách của mình, ngoài ý muốn sao cho đẹp, dù cái đẹp này không ăn nhập gì với suy niệm hay hoàn cảnh của nhân vật trong sách hết. Thành ra lòng yêu cái đẹp khoán trắng cho người vô tâm, chỉ nghĩ vì họ, sẽ hại tới sách của mình mà thôi. Hiện có cả ngàn cuốn sách với mặt ngoài và bên trong như thế. Sự việc này nếu áp dụng câu tục ngữ “Trông mặt mà bắt hình dung,” thì sách ế là phải.

Vài cuốn sách cũ tiếng Việt có hình in trong bài này, bìa sách rõ ràng là minh họa nội dung, đẹp và ý nghĩa vô cùng, đáng cho chúng ta suy gẫm về nghệ thuật in ấn sách của người xưa, khi kỹ thuật sơ khai so với thời vi tính bây giờ, là một trời một vực.

Trở về với việc bán đấu giá sách cũ, sau đây là vài cuốn sách cũ và bản thảo đắt giá nhất hoàn vũ:

-1994, Codex Leicaster: Sách ghi chép của Leonardo da Vinci, thế kỷ XVI, đóng bìa, bán 30.8 triệu Mỹ kim.

-1999, RothschildBook of Hours: Sách cầu nguyện, viết tay, minh họa, thế kỷ XVI, bán 14.3 triệu Mỹ kim.

-2007, Magna Carta: Viết tay, chưa đóng lại, thế kỷ XIII, bán 21.3 triệu Mỹ kim.

-2010, Birds of America, vẽ tay màu sắc của họa sĩ và nhà thiên nhiên học John James Audubon, thế kỷ XIX, bán 11.5 triệu Mỹ kim.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Bản Tình Ca Của Một Người Làm Thơ

Tác giả: Phạm Hồng Ân


Tác giả là một nhà thơ quân đội. Trước 1975, ông là một sĩ quan hải quân, từng tu nghiệp tại Mỹ. Sau năm 1975, ông trở thành người tù chính trị và định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Tham dự Viết Về Nước Mỹ ngay từ những năm đầu tiên, Phạm Hồng Ân đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2012. Bài viết mới của ông được phổ biến đúng ngày đầu năm dương lịch 2014. Việt Báo Viết Về Nước Mỹ trân trọng chúc tác giả và bạn đọc, bạn viết một năm mới an lành.

* * *

Tôi trở lại làm việc cho GA-esi, sau một năm dài ngồi thở dài than vắn. GA-esi sắp tan. Hãng chuẩn bị dọn qua Mississippi, bám víu vô một đơn vị khác để ngáp ngáp. Giống như ngọn đèn leo lét, trước khi tàn lụi, chợt rực lên. Tôi đang gặp giai đoạn này. Trở lại, vì nó rực lên, mặc dù ngắn ngủi.

Công việc không nặng nhọc, nhưng nhem nhuốc quanh năm. CAP (capacitor) được hệ thống arc-spray phun chì ở hai đầu. Muốn test CAP, tôi phải cơi bỏ mảng bột chì dơ bên ngoài lớp plastic. Đó là lý do tại sao thân thể bị dị ứng và ngứa ngáy khó chịu.

Người bạn đồng nghiệp Việt Nam duy nhất bên cạnh tôi, là Vĩnh. Anh cũng nắng dãi mưa dầu, hàng ngày bó mình trong lò chì cực nóng. Tai và đầu lúc nào cũng bị tra tấn bởi hàng tỷ tiếng động quái dị, phát ra từ các cỗ máy Impregnation đua nhau xả hết tốc lực.

Thật ra, nếu chẳng vì Jessica, có thể tôi sẽ không muốn trở lại công việc. Tôi không muốn trở lại nơi chốn người ta đã mạnh dạn từ bỏ tôi, kể cả trong tình yêu, kể cả gia đình. Jessica thu hút mãnh liệt. Nàng như bóng như hình, lượn qua chao lại giữa đời tôi giống cánh hải âu chưa bao giờ rời biển. Đúng 8 giờ sáng, mỗi ngày, khi tôi vừa cầm ly cà phê ngậm ngùi ra tới parking lot, thì chiếc Jeep màu đỏ trờ tới, Jessica khoan thai bước ra, khép nhẹ cửa xe, vuốt mái tóc dài sang một bên, rồi uyển chuyển lướt vào hãng. Ngày, tuần, tháng, năm nào...cũng vậy. Cũng cái jupe ngắn khỏi gối. Cũng cặp đùi trắng muốt. Cũng mái tóc bồng bềnh xõa nhẹ bờ vai. Cũng nụ cười nửa miệng, nhếch môi khinh khỉnh. Bốn mùa trôi qua đều đặn. Xuân mát rượi. Hạ bứt rứt. Thu se sắt. Đông run rẩy. Dù nóng rát thịt hay lạnh thấu xương, nàng vẫn đằm thắm bó mình trong chiếc jupe dễ thương. Chỉ có mỗi ngày mỗi một sắc màu. Nay đỏ. Mai vàng. Mốt tím. Bữa kia xanh..v..v...

Chuyện tôi si Jessica bắt đầu thấu tai Vĩnh. Cái nhìn đắm đuối mỗi sáng cộng với sự thẩn thờ trong lúc làm việc đã tự tố cáo tôi một cách hiển nhiên. Vĩnh nhất định phản đối tình yêu cuồng dại này.

- Ông già rồi. Còn xí quách bao nhiêu mà đi yêu một cô gái khêu gợi như vậy?

Bôi đen hay xúc phạm thần tượng là điều không thể tha thứ. Tôi nhào tới Vĩnh.

- Tôi khoái ai, yêu ai...là quyền của tôi. Chẳng mắc mớ chi tới cậu?

Tôi xắn tay áo, bồi thêm.

- Cái hãng này sẽ như cái đám ma, nếu không có những cô gái "cởi mở" như Jessica.

*

Tôi thích nhìn Jessica, chẳng phải vì yêu nàng. Cũng chẳng phải vì tấm thân bốc lửa sẵn sàng phực lên thiêu cháy trái tim tôi. Tôi thích nàng vì nàng giống Lụa. Lụa của 40 năm về trước, lúc tôi còn là cậu học sinh chưa nếm mùi đời. Thượng Đế quả trớ trêu. Ngài đã tạo nên Lụa. Ngài còn đem phó bản rải khắp nơi trên trái đất. Rốt cuộc, xa Lụa một thời gian dằng dặc, qua Jessica, kỷ niệm ngày xưa chợt ùa về như dòng lũ ngược. Nếu cởi bỏ chiếc jupe cũn cỡn trên thân thể nuột nà của Jessica, thay vào đó tà áo dài trắng tha thướt học trò... thì chắc chắn phó bản sẽ trở thành chính bản. Jessica sẽ trở thành Lụa. Y hệt. Trăm phần trăm.

Nhắc Lụa, khung trời Cà Mau như ngả nghiêng trong ký ức tôi. Những con đường chụm lại. Dòng sông trôi giạt đôi bờ. Thành phố khóc mưa chiều. Mái trường trung học vắng bặt tiếng guốc nữ sinh. Chiến tranh bắt đầu tấn công tỉnh lỵ. Tuổi trẻ lội trong khói lửa như cá mắc cạn trong vũng lầy. Trước biến cố thời cuộc, Lụa vẫn vươn lên như mầm cây, mướt xanh và thắm sắc. Những bài thơ của tôi ra đời. Sầu, thương, than, khóc...cộng với khói thuốc và hơi rượu... đã làm đảo điên trái tim mềm yếu của nàng. Bài thơ đầu tiên tặng Lụa được đăng trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn. Cả xóm le lưỡi thán phục. Cả trường trung học An Xuyên đi tìm tôi, nhìn mặt. Lúc đầu Lụa mắc cỡ, lên tiếng trách móc, phàn nàn. Sau đó, nàng lén nhìn tôi bằng ánh mắt thiết tha. Và thay vào cái nhếch môi khinh khỉnh năm xưa là nụ cười thầm kín, dường như có chất chứa một hứa hẹn nào đó cho mai sau.

Thời gian êm đềm trôi qua, những bài thơ tôi tiếp tục cho Lụa, đăng khắp nơi trên các báo Sài Gòn. Đến một lúc, tình yêu dâng trào, Lụa không thể giấu kín nỗi niềm nữa, nàng bộc lộ bằng cách âu yếm dắt tay tôi về giới thiệu với ông già. Nhà Lụa kín đáo, nằm bên hông rạp chiếu bóng Huỳnh Long, dưới hàng gòn vây quanh sân, che mát mái tôle. Mùa này, cuối năm, trái nứt bụng, lòi bông trắng xóa. Bông gòn theo gió, bay tung tăng trước sân, bay dính vào tóc Lụa, bay xà xuống đôi chân vạn dặm của tôi, và trải dài như hoa tuyết khắp lối đi. Chưa kịp vào nhà, tôi đã thấy một người đàn ông lom khom nhóm lửa trong cái bếp đặt dưới lườn chiếc xe bán mì lưu động. Như hiểu được nỗi băn khoăn của tôi, Lụa nhỏ nhẹ.

- Ba em đó! Ba em đang chuẩn bị đi bán đêm.

- Ba em bán mì gõ? Hèn chi tối nào anh cũng nghe tiếng gõ lóc cóc khắp các con đường. Nhiều khi thức khuya học thi, đói bụng, anh cũng kêu mì của ba em. Vậy mà... không biết?

Lần gặp đó, tôi thất vọng. Ba Lụa cố ý muốn cắt đứt tình cảm của tôi với Lụa, khi biết tôi làm thơ, phung phí tâm hồn.

- Con kết bạn với thằng này, lâu dần...có nước xách túi đi ăn mày. Thơ với thẩn làm sao kiếm được tiền? Ba thức khuya dậy sớm bán mì nuôi con ăn học, để rồi...ngó con ôm nhau chết đói hay sao?

Tôi buồn tình, lủi thủi ra về. Bông gòn vẫn rơi trên lối đi, trắng xóa như tuyết. Tôi tưởng chừng đấy là những đám bông tang, khâm liệm mối tình tôi vào đáy sâu kỷ niệm.

*

40 năm trôi qua như giấc mơ. Kể từ lúc chia tay với Lụa, tôi không có cách nào để gặp lại nàng. Chiến tranh bùng nổ khắp nơi, tôi bị cuốn hút vào vòng binh lửa như một định mệnh an bài. Chiến tranh còn làm thất lạc tất cả. Thất lạc ngay chính tôi. Một người lính làm thơ ngơ ngáo trước trận tiền. Rồi, chiến tranh kết thúc. Kết thúc một cách vội vã, hối hả. Tôi lại thất lạc thêm lần nữa. Một tù binh làm thơ bơ vơ trong ngục tù.

Tôi nướng rụi tuổi trẻ trong khói lửa và lao lung, cho đến khi tuổi già sắp bộc phát thì mới qua được Mỹ, theo chương trình HO. Chưa kịp định cư yên ổn, tôi đã liên lạc với các đồng hương để tìm tung tích Lụa. Vài ngày sau, tôi nhận được điện thoại của Hiền, một thằng bạn chung lớp thời trung học đệ nhị cấp.

- Tau tìm ra tung tích của chú Sáu rồi.

Tôi áp ống nghe vào sát tai. Nhăn mày, ngạc nhiên:

- Chú Sáu nào?

Tiếng chửi thề vang lên, nhừa nhựa kéo dài.

- Đù má. Chú Sáu bán mì gõ ở xóm Huỳnh Long đó!

- Ô! Ông già của Lụa. Mày gặp Lụa rồi ư?

- Chưa. Chỉ mới nghe tin. Tau ở Virginia qua Little Saigon có một tuần thôi! Mày muốn gặp chú Sáu, ngày mai lên đây. Tau và mày sẽ đến tiệm mì của ông ta.

- Hả? Ổng có tiệm mì ở Little Saigon sao?

- Nghe nói ổng mang cả xe mì gõ qua, lập nên tiệm mì. Làm ăn phát đạt lắm!

Mặt tôi bỗng nóng phừng lên, hừng hực. Hình như trái tim đang đập mạnh, phình phịch trong ngực.

- Còn Lụa. Lụa thì sao?

- Tau chỉ biết tới đó thôi!. Muốn biết thêm, ngày mai lên đây sẽ biết.

*

Buổi sáng, mặt trời vừa hực nắng, tôi đã khăn gói ra xe, trực chỉ hướng Little Saigon. Hôm qua, suốt đêm, tôi không ngủ được. Lâu lâu, cứ ngóc đầu dậy nhìn đồng hồ, rồi nằm xuống lăn qua lộn lại. Tôi trông đêm qua mau, ngày tới lẹ để nhào xuống xe, phóng một mạch rước Hiền, rồi chạy thẳng đến tiệm mì.

Hôm qua, hình ảnh Lụa cứ đập vào trí tôi như khúc phim quay ngược. Tà áo dài trắng thướt tha, mái tóc dài lay bay, và đôi chân thon thả vào đời...cứ trăn trở, cứ ray rứt, cứ sống lại trong tôi thời lãng mạn học trò. San Diego cách Santa Ana không xa, khoảng một tiếng đồng hồ sau, tôi có mặt ở Phước Lộc Thọ. Hiền chọn chỗ ngồi ngay cửa trước, nơi quầy cà phê đầu tiên, với cuốn đặc san Cà Mau trước mặt, chờ tôi.

Nhận diện Hiền dễ dàng, vì có những dấu hiệu báo trước. Nhưng tôi phải lưỡng lự vài giây, mới định thần nhào tới ôm nó reo mừng. Thằng bạn trẻ trung lém lỉnh ngày xưa, giờ là lão già xuội lơ, lờ rờ như rùa mắc cạn.

- Lên xe, chạy theo tau. Cứ nhắm Garden Grove tiến tới.

*

Cánh cổng to lớn tự động mở toang, trước mũi xe chú Sáu. Sân thênh thang. Chúng tôi lần lượt đậu xe vào, vẫn còn khoảng trống dọc ngang chạy mút tới bờ tường. Những tầng lầu chồng lên nhau, tạo nên một biệt thự uy nghi, bề thế. Hàng palm vươn lên, chung quanh. Thân thẳng đứng, biểu hiện cho sự hiên ngang, bất khuất. Tôi chợt nhớ hàng gòn nhà Lụa 40 năm về trước. Trái gòn, cuối năm nứt bụng, rắc bông trắng xóa xuống lối đi. Bông gòn từng được tôi ví như bông tang, khâm liệm mối tình học trò của tôi và Lụa xuống đáy sâu kỷ niệm.

Chú Sáu mời chúng tôi vào phòng khách. Chú vừa pha cà phê vừa huyên thiên.

- Ở tiệm mì, nói chuyện với nhau không tiện. Chú muốn mời mấy cháu về nhà, nói chuyện thoải mái hơn.

Hiền ngó nét tráng lệ xung quanh căn phòng, rồi ngó chú Sáu thán phục.

- Chú chỉ đem có gánh mì sang Mỹ mà làm ăn phát đạt. Chắc chú có bí quyết chi đó? Truyền lại cho con cháu đi chú!

- Làm ăn ngon lành, đâu phải chỉ có mình chú? Người ta đã đem món ăn Hà Nội, Huế, Sài Gòn qua cả bên này. Thậm chí họ còn muốn đem cả thành phố Sài Gòn qua luôn. Không tin, mấy cháu chạy tà tà đến phố Bolsa đi! Y hệt như Sài Gòn ngày xưa. Một Sài Gòn trên đất Mỹ.

Tôi nóng lòng, đứng lên ngồi xuống. Mắt ngó dáo dác, tứ tung. Lúc ngóng lên cầu thang. Lúc nghiêng xuống lối đi. Lúc dò xét các căn phòng. Tôi thất vọng hoàn toàn. Tất cả đều chìm trong im lìm, vắng lặng. Không dấu hiệu nào báo có sự hiện diện của Lụa ở đây.

Chú Sáu chợt xoay lưng, vỗ nhẹ vào vai tôi.

- Cháu này ở hẻm Huỳnh Long phải không? Ba cháu tên gì? Coi chú có nhớ ra không?

Hiền la lên.

- Cái thằng chuyên làm thơ tán gái. Nổi tiếng khắp xóm Huỳnh Long. Bộ chú không biết sao?

Chú Sáu buông tách cà phê xuống bàn, kêu "Trời ơi!", rồi choàng tay ôm tôi vào lòng. Nước mắt chú rưng rưng, làm nước mắt tôi cũng rưng rưng.

- Chú xin lỗi cháu. Ngày xưa, dại quá, chú nói những lời xúc phạm đến cháu. Bây giờ, hối hận lắm!

Tôi lắc đầu, thân mật nắm chặt tay chú Sáu.

- Lụa. Lụa vẫn khỏe hả chú?

Chú Sáu ôm mặt, khóc rống lên.

- Chú đã mất con Lụa rồi. Mất rồi.

Mắt tôi bỗng mờ dần. Trần nhà dường như nghiêng ngửa. Tôi nghe rõ từng nhịp tim tôi đập yếu ớt trong lồng ngực.

- Lụa mất rồi? Mất hồi nào? Trong trường hợp nào vậy chú?

Chú Sáu dìu tôi ngồi xuống sofa.

- Nó vẫn còn. Cái xác vẫn còn, Nhưng cái hồn thì thất lạc ở phương nào?

*

- Lụa đấy! Cháu cứ vào, nhỏ nhẹ khơi lại kỷ niệm với nó. Coi nó có nhớ cháu không?

Tôi sửng sốt ngó người đàn bà mặc áo nâu sòng đang khiếp sợ thét lên, khi tôi tiến đến gần bà. Bà chắp hai tay trước ngực, rạp người xuống, lạy lia lịa.

- Xin ông tha cho tôi. Tội nghiệp tôi, ông ơi!

Chú Sáu lẹ làng bước tới.

- Lụa. Đây là bạn thân của con. Bạn học với con hồi thời trung học. Nhớ không?

Người đàn bà ngưng lạy, ngước mặt lên, ngó tôi đăm đăm. Một thoáng trôi qua, bà lắc đầu quầy quậy.

- Bạn hả? Nói dóc. Bạn tui còn ở dưới biển kìa. Bạn tui không về. Bạn tui làm quen với nàng tiên cá.

Trời ơi! Lụa của tôi đây sao? Lụa dấu yêu ngày nào của tôi đây sao? Một người đàn bà bạc trắng mái đầu, tóc ngắn cũn cỡn, thân xác già nua tiều tụy trong bộ nâu sòng thùng thình thúng thính... mà là Lụa của tôi đây sao? Đâu rồi mái tóc thướt tha xõa xuống bờ vai? Đâu rồi nụ cười nửa miệng, ánh mắt thiết tha gợi tình? Đâu rồi tấm thân kiều diễm, với từng bước chân thon thả đi nhẹ vào đời? Dường như tôi bật khóc. Dường như tôi đang mất đi một điều gì quý báu nhất trên đời?

Chú Sáu ở sau lưng cứ thúc tôi tiến tới.

- Cháu đến với nó đi! Dùng tình cảm, nhắc lại mối tình năm xưa của hai đứa, coi nó có hồi phục tâm trí không?

Tôi dịu dàng nắm nhẹ tay Lụa. Lụa giựt tay lại, lùi mạnh vào vách tường.

- Lụa còn nhớ bài thơ đầu tiên anh tặng cho em không? Bài thơ đăng trên tuần san Phụ Nữ Diễn Đàn. Chính em đã dẫn một bầy con gái tìm anh, đưa guốc lên xin chữ ký?

- Thơ? Thơ hả? Thơ Vân Tiên chứ gì? Thơ đó, làm sao có chữ ký. Nói dóc.

Tôi kiên nhẫn.

- Bài thơ đó, ngày xưa em thuộc nằm lòng. Bây giờ, anh đọc lại cho em nghe:

Em từ tiền kiếp về đây
Bắn anh một mũi tên ngay huyệt tình
Dù ôm thương tích vô hình
Ngẩn ngơ suốt cuộc hành trình trăm năm
Phải chăng em ngọn dao gâm
Đâm anh những nhát vô tâm trong đời...

Lụa bỗng ngã lăn ra, cười rũ rượi.

- Tui ghét vọng cổ lắm. Ông ca dở ẹt. Về nhà ca cho má ông nghe đi!

Tôi hoàn toàn thất vọng. Ký ức của Lụa, giờ đây, trống rỗng. Thần trí của nàng thất lạc phương nào? Lụa quên mất tất cả những gì trong quá khứ, kể cả mối tình đầu nồng nàn và sâu đậm nhất của chúng tôi.

Chú Sáu đưa hai tay lên cao, kêu "Trời". Và kéo tôi ra hành lang.

- Mấy chục năm nay, chú đã đưa nó đi khắp nơi trị bệnh. Từ chùa chiền, nhà thờ, bệnh viện... cho tới bùa, chú, trấn, ếm... đủ kiểu. Hết thuốc tây tới thuốc bắc, thuốc nam... kể cả thần dược, nan dược. Ai bày chi dùng nấy. Ai chỉ thầy hay... cũng tìm đến. Rốt cuộc, bệnh vẫn hoàn bệnh. Tiền mất tật mang cháu ạ!

Tôi xót xa, nắm chặt tay chú Sáu.

- Chú có biết nguyên do nào làm Lụa điên cuồng như vậy?

- Năm chú vượt biên. Tàu chú chẳng may gặp hải tặc hung dữ. Chúng cưỡng bách và hãm hiếp phụ nữ vô cùng dã man. Lụa, là đứa con gái mới lớn, nên không thể tránh khỏi cảnh thương tâm đó. Nó đau đớn ngất xỉu, và khi tỉnh dậy - nó chợt hóa điên cuồng.

*

Tôi trở về San Diego giống một cái xác không hồn. Hy vọng tìm tung tích Lụa, từ 40 năm nay, thoáng chốc tan thành mây khói. Lụa còn đó như không có. Lụa còn đó, nhưng biến dạng biến hình, chết luôn cả tâm hồn thanh cao mà suốt tháng năm tôi nâng niu, trìu mến.

Chính bản mất, tôi chỉ còn cơ hội bấu víu vào phó bản. Thượng đế quả tuyệt vời. Chính Ngài đã đem phó bản rải khắp nơi để con người không có quyền tuyệt vọng. Tôi sẽ theo chân Jessica, sẽ làm những vần thơ mượt mà cho nàng. Tôi sẽ dựng lại tình yêu, dựng lại cái đẹp trên cuộc đời đầy thương đau này. Giống như Sài Gòn mất, người ta dựng lại Saigon trên đất Mỹ.

Ngày mai, tôi vào GA-esi làm việc, tôi sẽ nói với Vĩnh đôi lời. Nếu không có những người làm thơ ca tụng vẻ đẹp trên đời... thì cái hãng này sẽ buồn như đám ma và trần gian này sẽ ảm đạm như cái bãi tha ma khổng lồ.


Phạm Hồng Ân
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Rạp Aristo Sài Gòn và đoàn Kim Chung
Friday, January 17, 2014 2:26:53 PM

Ngành Mai


Rạp Aristo là một rạp hát cải lương ở ngay trung tâm Sài Gòn mà giờ đây người ta không còn thấy nữa, có còn chăng là trong ký ức
những người hâm mộ cải lương, họ sẽ hình dung được ngay, nếu như có ai nhắc tới. Rạp Aristo, còn có tên là Trung Ương Hí Viện,
nằm trên con đường chạy dọc theo bờ tường rào nhà ga xe lửa, mà thời Pháp có tên là Colonel Grimaux (đường Lê Lai sau này).

Image
Ðào Kim Chung, tài danh sân khấu cải lương đất Bắc. Bức hình thường được treo ở hai rạp Aristo và Olympic Sài Gòn thời thập niên 1960.
(Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Thuở đầu tiên nó chỉ là một khán trường nhỏ nằm trong một nhà hàng, nhưng vào khoảng những năm thập niên 1940, do khán giả đông, chủ nhân đã xây cất, mở rộng biến thành rạp hát. Và đến 1955 thì được đoàn Kim Chung từ miền Bắc vào thuê mướn dài hạn.

Trước 1954 đoàn Kim Chung thành lập ở ngoài Bắc, cũng là một đoàn hát có bề thế, nổi tiếng, chủ nhân là ông Trần Viết Long, một công tử con nhà giàu ở Hà Nội. Ông Long từng đi du học bên Pháp, bên Ðức nhưng khi về nước đã không làm cho cơ quan nào, mà đi... làm cải lương. Do bởi ông phải lòng cô đào tài sắc Kim Chung, rồi đứng ra thành lập đoàn Kim Chung - tiếng chuông vàng Bắc Việt vào năm 1950. Kế đó cùng với ông Phạm Thọ Minh, lập đoàn Kim Chung - tiếng chuông vàng Hải Cảng (Hải Phòng).

Khi đình chiến Pháp-Việt 1954, theo làn sóng đồng bào di cư, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam. Khi mới vào Nam đoàn Kim Chung phải đi lưu diễn như các gánh trong Nam. Thế nhưng, đoàn đã thất bại ngay trong đợt đầu tiên này, bởi tuy là cải lương đó, nhưng đồng bào ở đây lại không quen với lối ca hát của đào kép đất Bắc. Lại nữa lúc mới vào cũng không thông thạo đường đi nước bước gì hết. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa cũng không kinh nghiệm như các gánh trong Nam. Hơn nữa đoàn Bích Hợp mới ra đời thời gian ngắn đã chết, làm cho Kim Chung cũng phải bối rối. Ấy thế là Bầu Long phải đánh liều, thuê rạp Aristo để nằm hát thường trực vậy chớ biết làm sao.

Từ trước tới giờ gánh hát diễn một tuần tại một nơi là chẳng còn bao nhiêu khán giả, xưa nay chưa gánh nào hát một chỗ thời gian 2 tháng. Có ngon lắm, tuồng hay lắm, thì cũng hơn một tháng mà thôi, như gánh Năm Châu hát tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” của những năm đầu thập niên 1950.

Rồi giờ đây một đoàn cải lương từ miền Bắc vào, lại thuê một rạp hát dài hạn, mà rạp đó lại là rạp Aristo, các gánh cải lương trong Nam không gánh nào muốn về rạp này, trừ trường hợp bị kẹt rạp. Bởi nếu như đem so sánh với những rạp hát khác ở Sài Gòn, thì rạp Aristo nằm ở địa điểm bất lợi, muốn đến coi hát thì chỉ có một con đường duy nhứt phía trước rạp, không có đường chạy ngang thông ra nhiều hướng như rạp Thành Xương, và còn kém xa hơn nữa nếu so với rạp Nguyễn Văn Hảo rộng rãi, lại là địa điểm thuận lợi cho khán giả từ miền Lục Tỉnh lên đậu ghe ở bến sông Cầu Ông Lãnh, vừa mua bán, vừa đi coi hát giải trí. Do vậy mà hiếm đoàn hát muốn về rạp Aristo, trừ trường hợp các rạp khác không còn trống.

Có lẽ do yếu thế, ít đoàn hát thuê mướn, nên khi được đoàn Kim Chung thuê dài hạn (hợp đồng 5 năm và trả tiền từ năm một) thì chủ rạp đồng ý ngay, dù rằng giá thuê quá rẽ. Nghe nói khoảng một phần ba giá tiền cho các gánh nếu như thuê chỉ một tuần. Ông bầu Long có cái suy nghĩ nếu như giá thuê rạp rẻ thì dù ít khán giả vẫn không lỗ lã, vì không tốn kém di chuyển như hầu hết các gánh.

Thế nhưng, cái may mắn của đoàn Kim Chung là khi ký hợp đồng rồi thì đêm nào khán giả cũng đông chật rạp, là điều không ai ngờ được.

Tuồng có sẵn ngoài Bắc mang hát lại hằng đêm, khán giả xem đông, không phải là khán giả của Sài Gòn, mà là khán giả thuộc đồng bào di cư miền Bắc, vào đây còn nằm tại Sài Gòn chưa được biết định cư đâu cả. Họ còn tiền bạc, họ đang nhớ đến quê hương miền Bắc, chợt có gánh hát ngoài Bắc vào, đương nhiên họ ủng hộ hết mình. Giai đoạn đầu của Kim Chung kiếm tiền dễ dàng, ăn bạc là vì thế.

Như vậy rạp Aristo, nơi trụ diễn của đoàn cải lương Kim Chung thuở đầu lập nghiệp tại Sài Gòn, sân khấu cải lương Sài Gòn đón nhận đoàn hát từ ngoài Bắc vào an cư lạc nghiệp. Và cũng từ đó sân khấu Aristo “nổi đình nổi đám”, rầm rộ luôn hàng đêm từ 1955 đến 1960.

Ðương thời ít có đoàn cải lương nào trụ diễn thường trực tại một rạp hát, mà thường chỉ ghé ở mỗi rạp khoảng một tuần và diễn mỗi đêm một vở khác. Thế nhưng, đoàn cải lương Kim Chung không những trụ diễn lâu dài tại rạp Aristo mà còn gây kinh ngạc cho giới cải lương qua việc diễn nhiều ngày chỉ có một vở hát “Trăng Giãi Ðêm Sương” được diễn liên tục trên 40 đêm. Có thể nói rằng, đây là vở cải lương được hát liên tục trên sân khấu lần đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn. Và từ đó, chuyện hát nhiều ngày một vở diễn bắt đầu được các đoàn cải lương khác áp dụng.

Có thể nói phần lớn tài danh sân khấu cải lương đã ở dưới trướng của Bầu Long. Các nghệ sĩ tên tuổi phục vụ cho Kim Chung người ta phải kể: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và 3 chàng Minh: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương...

Sang đến đầu thập niên 1960, một loạt rạp hát ra đời với tầm cỡ lớn hơn, tiện nghi hơn đã kéo dần khán giả của Aristo. Hơn nữa rạp Aristo lại nằm ở vị trí không thuận tiện, một bên là nhà ga xe lửa bít bùng, một bên là đường cùng. Do đó rạp Aristo gần như bỏ trống và khoảng thời gian sau đó cũng dần biến mất.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Con Gái của Người Ta

Tác giả : Trần Thiện Phi Hùng
Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.

Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.

Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:

- Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?

- Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?

- Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.

- Tùy anh.

Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.

Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!

Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:

- Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?

- Ngày thường con ngủ một mình?

- Không Con ngủ với Bà Nội.

- Ừ! nếu con muốn.

Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.

Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.

Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.

Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:

- Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?

- Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.

- Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.

Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.

Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.

Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.

20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.

- Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!

- Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.

- Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.

Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.

Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.

Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.

Một hôm con gái tôi nói:

- Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.

- Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?

- Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!

- Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.

- Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.

- Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.

- Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.

- Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.

Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:

- Con đãi ba ăn bún bò Huế.

- Ừ! ăn thì ăn.

Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.

- 2 tô bún bò Huế phải không Chú?

- Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.

Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:

- Cái nầy của Daddy.

Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:

- Cái nầy của con.

Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang

- Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!

- Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.

- Cô ta là Dâu của Anh?

- Không. Nó là con gái của tôi.

- Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”

Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.

- Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!

- Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là... “Con gái của người ta”.

Trần Thiện Phi Hùng
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest