Tạp Ghi

tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »


Image

Luật sư gốc Việt chuyên biện hộ cho 'quỷ sứ' qua đời



PARIS (AP) – Jacques Verges, luật sư sáng chói được mệnh danh là “Devil's Advocate,” tức thầy cãi của quỷ, vì ông chuyên biện hộ cho các cựu đảng viên Quốc Xã, những kẻ đặt bom khủng bố, những nhà độc tài khét tiếng, kể cả các phụ tá của họ, vừa qua đời ở tuổi 88.

Ông qua đời vì bệnh tim hôm Thứ Năm ngay tại phòng ngủ của triết gia Voltaire, vào đêm ông được mời đến chung cư này ăn tối.

Pierre-Guillaume de Roux, chủ biên cuốn hồi ký viết về ông Verges, nhan đề “Lời Tự Thú của Tôi,” nhận xét: “Ông ấy chết ngay trong căn phòng nơi Voltaire thở hơi thở cuối cùng. Đây quả là nơi lý tưởng cho hồi cuối của một người sinh ra làm diễn viên.”

Ông từng biện hộ cho Klaus Barbie, cựu đại úy mật vụ Gestapo, kẻ chỉ huy chiến dịch tra tấn và thủ tiêu ở miền Nam nước Pháp, khi ông này bị truy tố tội chống lại nhân loại vào năm 1987 ở Lyon, Pháp. Sau đó, ông cũng cãi cho ông Paul Touvier, một người Pháp phụ giúp ông Barbie trong việc xử tử. Ông này cũng bị cáo buộc cùng tội trạng.

Ông Verges có lần tuyên bố: “Tôi mất cơ hội biện hộ cho Hitler. Biện hộ không có nghĩa là xin tha tội. Công việc của một luật sư không phải xét xử, không lên án, và không tha tội. Ông chỉ cố gắng để hiểu mà thôi.”

Ông thua vụ xử Carlos the Jackal, kẻ khủng bố người Venezuela từng bắt cóc 11 bộ trưởng khối dầu hỏa OPEC vào năm 1975, và chỉ đạo một loạt các vụ nổ bom và bắn giết vào các thập niên 1970 và 1980.

Trong vụ xử vào năm 1994, tên ông được đăng trên hàng tít của các báo lớn, tố cáo ông làm gián điệp và là “đồng chí” của bị cáo Carlos. Cuối cùng ông không bị truy tố và nghề nghiệp ông cũng không bị ảnh hưởng. Sau khi ông Verges rút lui, ông Carlos bị buộc tội và lãnh án tù chung thân.

Ông Verges, có mẹ Việt và cha Pháp, ra đời tại Thái Lan vào năm 1925. Ông lớn lên ở đảo Reunion, quê quán của cha, và ngay từ thời còn trẻ đã nuôi ý tưởng chống thực dân.

Người ông cưới làm vợ lại là thân chủ đầu tiên của ông, đó là bà Djamila Bouhired, người Algeria, bị đem ra xử vào năm 1957 về tội đặt bom ở một nơi công cộng. Bà bị tuyên án tử hình, nhưng cuối cùng được tha bổng vào năm 1958, sau khi ông không ngừng nêu lên tính cách hợp pháp của tòa án và tội trạng của bà Bouhired. Lần đầu tiên ông sử dụng chiến lược “legal disruption,” tức gây rối hợp pháp, mà sau này trở thành “thương hiệu” của ông.

Ông nhập quốc tịch Algeria, theo đạo Hồi và được thăng tiến
trong Bộ Ngoại Giao.
Ông đột ngột biến mất vào năm 1970. Trong hơn tám năm không ai thấy tăm hơi ông đâu cả. Cả vợ và bạn bè ông đều kêu nài ai trông thấy ông thì hãy mời ông xuất đầu lộ diện. Thế rồi, ông tái xuất hiện ở Paris vào năm 1979 mà không chịu đưa ra một lời giải thích nào.

Những người khác được ông cãi giúp còn có Slobodan Milosevic, cựu lãnh tụ Serbia, tuy nhiên, ông này không chịu ông biện hộ mà đòi tự cãi lấy. Ông Milosevic qua đời trước khi vụ xử kết thúc. Ông Verges cũng nằm trong nhóm luật sư biện hộ cho ông Saddam Hussein và phụ tá thân cận nhất của ông này là ông Tariq Aziz.

Gần đây nhất, vào năm 2011, ông cũng cãi cho ông Khieu Samphan, cựu lãnh tụ Khmer Đỏ của Cambodia thời Polpot.

Ông George Kiejman, một luật sư Pháp thường đụng độ với ông Verges trong các phiên xử, nhận định: “Ông ấy là một trong hai hoặc ba luật sư xuất sắc nhất trong thế hệ của tôi. Tôi dành cho ông ấy tất cả sự tôn kính.” (TP)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Việt kiều...... tội nghiệp ! ...
Có một chuyện không công bằng : về VN tất cả chi phí cho gia đình như đi du lịch, ăn uống Việt kiều phải lo, khi có cơ hội người VN qua ngoại quốc thì Việt kiều cũng phải bao hết. Ở VN bạn không chỉ bao cho người nhà mà còn bao cho cả bạn bè người nhà nữa. Khi bạn mời tiệc, người nhà dắt cả làng tới tham dự rất tự nhiên như người Hà Nội, có ai thắc mắc, câu trả lời rất đau lòng “ Tiền Việt kiều mà, ngu gì mà không ăn”.

Anh Tấn gửi tiền xây nhà cho mẹ ở miền quê vùng sông Hậu. Nhà xây xong mẹ gửi thư qua xin thêm tiền gắn máy lạnh. Anh thắc mắc tại sao nhà mẹ ở ngay bờ sông quanh năm gió mát trăng thanh, tại sao phải gắn máy lạnh. Anh phôn về hỏi cho ra lẽ. Cô em gái nhanh nhẩu trả lời: Mẹ bị huyết áp cao, và thấp khớp, bác sĩ nói phải ở nhà có máy lạnh thì mới khoẻ. Thương mẹ Tấn lại phải vay mượn để gửi tiền cho mẹ mua máy lạnh. Mẹ và em gái đâu có biết Tấn đang ở ké garage với người bạn. Trời nóng như lửa Tấn chỉ dám xài quạt máy mua từ chợ trời. Cuối năm Tấn về thăm nhà thấy mẹ mình nằm trên cái giường ngay phòng khách. Còn phòng ngủ có máy lạnh trên lầu vợ chồng cô em gái đã chiếm. Thấy vậy anh hỏi tại sao không để mẹ ở trên lầu. Em gái anh trả lời : mẹ bị huyết áp cao lên xuống nguy hiểm? Tấn tức quá kêu thợ tới đem máy lạnh trên lầu xuống gắn nhà dưới cho mẹ. Khi về Úc mấy ngày em gái anh gọi qua nói : “Vợ chồng em phải lên thành phố làm ăn, nên không có người chăm sóc mẹ, em đã kiếm người chăm sóc mẹ, mình phải trả cho người ta 100.000 đồng một ngày. Anh có nhiệm vụ gửi tiền về cho mẹ. Mấy tháng sau mẹ anh chết, dĩ nhiên anh phải lo tiền gửi về lo tang lễ cho mẹ. Anh muốn về lắm nhưng không còn chỗ nào cho mượn tiền để mua vé máy bay, căn nhà anh xây cho mẹ bây giờ em gái anh lấy không.

Anh bạn tôi còn bà chị ở VN, muốn tạo công việc cho chị mình làm ăn. Sau khi tìm hiểu kỹ càng anh bạn gửi tiền cho chị mua một xe Mercedes 24 chỗ. Từ ngày có xe bà chị làm ăn khấm khá. Xe chạy có tiền bà chị giữ, chi phí cho xe như tiền bảo hiểm, tiền bảo trì, anh tiếp tục chi viện. Đối với anh, số tiền chi phí ấy coi như quà cho chị hàng năm. Rồi một hôm vận xui tới, tài xế xe của bà chị gây tai nạn chết người. Bà chị bị CA mời lên làm giấy tờ, bà chị sợ quá khai chiếc xe này của người em bên Úc bỏ tiền mua.. Công an VN nhân cơ hội ghi vào hồ sơ : “Xe Việt kiều gây tai nạn chết người”. Sau đó giữ xe và yêu cầu bà chị mời anh Việt kiều Úc về VN lên CA huyện lãnh xe ra. Bà chị gọi điện thoại qua cho em. Người em vội vã bay về VN lên gặp CA Huyện. CA Huyện niềm nở đón tiếp và cho biết tình trạng xe cộ cũng như tai nạn, CA đề nghị nộp $30.000 gồm tiền bồi thường cho nạn nhân, tiền phạt lái xe gây tai nạn và giữ xe một tháng. CA giữ passport và yêu cầu anh điện về Úc xắp xếp gửi tiền qua để lấy xe. Trong thời gian chờ đợi CA cấp cho anh một giấy đi đường thay passport và visa để anh tiện đi lại ở VN. Chuyện đến lúc này mới vỡ lẽ: Vì thương bà chị, anh bạn đã giấu vợ rút sổ băng $70.000 gửi cho chị mua xe. Nay không biết lấy đâu ra $30.000, thôi đành liều, anh gọi về vợ và nói rõ sự thật. Sau khi nghe chồng xưng tội. Bà vợ không bắt lỗi nhưng yêu cầu việc đền tội: “Tôi rút tiền gửi cho anh $30.000 để anh lấy xe ra, khi anh về Úc làm thủ tục ly dị và bán nhà”. Kết quả anh bạn tôi bây giờ “Độc thân tại chỗ” và không có tiền.

Cô Nga người RG ra đi tìm tự do bỏ lại người anh trai yêu quý. Sau 6 năm xa quê hương, nay cô về thăm lại mồ mả cha mẹ, ông bà, thăm lại người anh yêu quý. Tình cảm ông anh dành cho cô em qua nhiều lá thư thật là thống thiết. Ông kể lại cái thời còn thơ ấu chính ông là người cõng em mỗi sáng qua cây cầu khỉ tới trường. Hàng tháng cô em đều gưỉ tiền về cho anh và các cháu. Người anh trai thư qua lần nào cũng đều nói em đừng gửi tiền về cho anh, hãy lo cho bản thân vì anh không ở gần em để chăm sóc cho em. Nhưng chưa bao giờ cô em thấy tiền gửi đi mà quay lại. Cô biết tính anh mình mà.. thế rồi hôm nay cô khăn gói về VN theo lời mời của ông anh “Em sắp xếp về VN một chuyến, hôm nay nhà nước mở cửa đón Việt kiều, anh em mình lâu lắm không gặp nhau, không biết em gái anh bây giờ tròn hay méo”. Thật là tình cảm thiêng liêng, muốn biết em gái mình bây giờ tròn hay méo thì hỏi thằng em rể thì biết ngay...

Gia đình anh hai lên SG trước một ngày để hôm sau đón em gái. Ngày trở về thăm quê hương của cô em gái được tỗ chức linh đình, giống như đón tiếp một vị nữ hoàng. Cô em gái bẽn lẽn khi ông anh ôm chặt lấy mình rồi hôn má, cử chỉ tây phương không biết ông anh học được lúc nào mà tỏ ra thành thuộc. Qua bao lần ôm các em trong quán ”bia ôm” đã tạo cho ông anh lịch lãm và tự nhiên, nên khi gặp em mình ông càng tự nhiên và chứng tỏ với em gái mình cái văn minh không phải chỉ tây phương mới có. Cái bẽn lẽn vội qua đi nhường cho sự kiêu hãnh của một Việt kiều về nước khi được đón tiếp long trọng như vậy. Đâu ai biết được cô em gái cũng như bao nhiêu phụ nữ khác ở Úc ngồi may thâm cả đít để có tiền lo cho cuộc sống và giúp đỡ gia đình bên VN.

Hai tuần lễ ông anh đưa em gái đi thăm khắp nơi, giới thiệu em mình với mọi người: “Em gái tôi, bà chủ hãng may thời trang lớn bên Úc”. Cô em gái khi nghe giới thiệu ngượng ngùng muốn đính chính, nhưng ông anh hiểu ý nói đè qua chuyện khác.. Một buổi chiều ông anh nói với em “Chiều nay anh sẽ đưa em đi thăm vùng lấn biển, anh dự trù mua vài lô, chỉ cần 1 năm sau là giá gấp đôi. Thằng bạn anh năm ngoái mượn tiền mua 2 lô, năm nay nó bán một lô, tiền lời đủ chi trả cho cả hai...” ngay chiều hôm đó hai anh em đi thăm đất, và quyết định mua 4 lô. Ông anh tạm thời đứng tên dùm, khi nào nhà nước cho Việt kiều đứng tên thì sẽ sang tên cho em.

Cô em gái về Úc bàn với chồng gom hết vốn liếng gửi về cho anh trai để mua đất. Từ đó mỗi lần cô em gái gọi điện thoại về VN hỏi thăm, ông anh trai đều báo tin vui vì giá đất tăng. Một năm sau, cứ theo thông báo gía đất lên của ông anh thì anh em ông ta đã kiếm lới gấp đôi. Cô em bàn với chồng quyết định bán 3 lô để thu tiền về còn một lô thì tặng lại ông anh. Nhưng mua thì dễ, bán thì khó, nhất là người đứng tên sổ đỏ là ông anh chứ không phải cô.. Thấm thoát đã 8 năm tôi gặp lại cô Nga và hỏi thăm về vụ đất đai, được cô ta cho biết: Ông anh đã lừa chiếm đoạt hết bốn lô đất không hoàn trả lại vốn cho cô ta dù chỉ một đồng.

Chuyện cô Nga là một trong muôn vàn câu chuyện đau lòng. Hình như tất cả mọi hoạt động của người trong nước phần lớn là tìm cách làm sao cho tiền trong túi Việt kiều chạy vào túi mình. Người ta không ngại dùng mọi thủ đọan để lừa nhau, người ta không còn phân biệt cha mẹ, anh em, bà con, có cơ hội là ra tay.

Tôi còn nhớ cách đây 8 năm có một lần tôi nhân được thư của mấy cháu con bà chị gửi qua, nội dung như sau:
“ Cậu à, mẹ và tụi con suy nghĩ và quyết định sẽ mua cái nhà của anh Tư, anh Tư sẽ đi Mỹ tháng tới. Anh sẽ không mang tiền đi. Khi anh Tư qua bên đó cậu sẽ trả dùm cho tụi con. Giá nhà anh Tư hiện tại là 120.000 USD, nhưng anh để lại cho tuị con 80.000 USD. Rẻ lắm đó cậu... Cậu giúp mẹ và tụi con nhé..”

Đọc thư, tôi tá hoả tam tinh như người trúng gió. Tôi không biết chị tôi và mấy cháu nó nghĩ sao mà tỉnh bơ viết thư như vậy. Trước nhất mấy người nghĩ là tôi có nhiều tiền lắm, thứ hai tự quyết định và kêu tôi thi hành. Khi nhận được thư tôi trả lời “tụi con lo một nửa còn một nửa cậu sẽ trả góp cho anh Tư mỗi tháng 500 USD cho đến khi hết.”

Thư gửi đi nhưng không có hồi âm và coi như chuyện quyết định mua nhà chìm vào quên lãng. Sau đó cháu tôi có xin tiền mua xe Honda, tôi hỏi giá bao nhiêu, cháu tôi nói giá khoảng $4000. Tôi đã gửi cho nó đủ $4000. Nhưng lần về kế tiếp tôi khám phá ra nó đã nói dối, vì xe Honda nó mua chỉ có $2500 thôi. Bốn ngàn Úc Kim có lẽ nó tính luôn tiền xăng.

Anh bạn tôi về VN thăm gia đình, quê hương là chùm khế ngọt, anh về VN ăn bưởi ăn cam chứ không ăn khế. Lúc đầu về thăm gia đình, lần thứ hai về làm ăn, đặt hàng “sản xuất ở VN”, lần thứ ba anh về VN nhập cảng cả cô chủ trẻ, con ông giám đốc hãng đóng bàn ghế. Anh bảo lãnh cô chủ trẻ qua Úc du lịch tham quan..Dĩ nhiên hàng hoá thì anh ta trình làng với vợ, còn hàng “độc” anh cất giữ tại hotel. Xui cho anh, cái hôm anh dắt cô chủ nhỏ tham quan thành phố bị vợ anh bắt gặp. Thế là “tan hàng”. Vợ anh thâu tóm tất cả, còn anh chỉ còn lại những gì mà mẹ anh cho anh khi mới sinh anh ra. Cô chủ nhỏ cũng chia tay anh quên cả bye bye.

Tội nhất một người bạn đang làm ngành “finance”, về VN bị tiếng sét ái tình đánh quá mạnh, đến nỗi trong lúc đang ôm ấp người đẹp, thì xuất hiện một tên đàn ông xưng là chồng cô gái, hắn bắt anh phải biết điều nếu không sẽ giết chết anh. Sau khi trấn lột anh hắn xô anh xuống lầu, anh rơi trúng băng ghế xi măng lề đường bể đầu. Anh được đưa vào nhà thương VN cấp cứu. Kết quả khi anh được chuyển về Úc, anh trở thành “người gỗ” muôn đời.

Có nhiều người khoe “mình có số đào hoa”, về VN có nhiều em theo, thậm chí còn tỏ ra mình thật thà “tôi có nói cho em biết là tôi có gia đình”, nhưng em nói “không sao làm người tình của anh là đủ rồi”. Thật tôi không hiểu sao ông bạn tôi thật thà như vậy. Đàn bà ở VN cần cặp với đàn ông có vợ, chứ đàn ông không vợ, họ không cần. Lý do dễ hiểu “có vợ, ly dị vợ mấy hồi”. Khi cá đã cắn câu rồi, lúc đó mới giựt. “anh à em cần mấy ngàn,..” em cần mua xe máy.. em cần tiền sửa nhà..”, rồi anh ơi em có bầu...thế là xong... còn đàn ông không có vợ hay vợ ly dị là đàn ông có vấn đề, không có tiền, không có tài sản, đàn bà VN không cần loại đàn ông đó. Ông bạn thật thà của tôi chắc sẽ được Chúa ban cho Thánh Giá trong một ngày rất gần..

Tuấn Linh
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »

Image

Nước Mỹ số một.....?
Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ... cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

“Đi cho biết đó biết đây
Ở hoài một chỗ, biết ngày nào “khôn”

Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc đi đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người”.
Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội ( kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ... cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào.

Nhưng khi du lịch ra nước ngoài mới “thấm thía”! Cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ 1$ - 1.5$/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến”, ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới! Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra: tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Đó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại cho sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự! Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến”, “bí” quá bèn hỏi:
- Bà có chịu tốn 10 Euro để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?
- Nín hết nổi rồi, bây giờ không phải 10 Euro mà 20 Euro tôi cũng chịu luôn!
Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc” quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước châu Á như Trung quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang như... cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1- 2 miếng giấy vệ sinh nhỏ. Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Đúng là Cộng Sản, hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng. Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó. Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la..., bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ,khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn.
Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi, bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, laptop, I pad, I phone... Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất. Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều đi ra ngay luôn. Lần này chuyến bay chuyển ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với va li carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó, leo lên xe buýt chở vô phi trường. Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu x-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng, mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có, chỉ thấy toàn người là người

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được. Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi...).

Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính “ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ). Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi một ly nước nhỏ. Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn! Ôi Air France! một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I d'ont expect any thing from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Đức là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối châu Âu!

Đúng là có đi ra ngoài mới thấy nước Mỹ là số một, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ. Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự. Đúng là “sweet home” Ôi! “My beautiful America”. Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thứ 2 của tôi : Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:
“Phải chờ đến xế chiều
Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao!”

Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Coastal vừa đi. Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi điện cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer Service” để xếp hàng đi khiếu nại.Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2,5,8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:
- Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?
- Đi kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài
- Nhưng chúng ở đâu?
Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên. Chắc là dân châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền?
Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe, chị là bác sĩ hưu trí ở Đức. Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:
-Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Đã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi...
Không ngờ chị phản ứng mạnh:
- Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia , còn đòi xin lỗi...“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”...

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi. Thôi “một sự nhịn chín sự lành”, nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi! Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu châu khá mạnh (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa). Kiểu này qua các nước Trung Đông chắc bị “xơi tái” quá, nhưng tôi nhớ một lần cách đây 5,6 năm dân Mỹ qua Ai cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!

Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan. Chị trả lời:
- Chắc tại chị ấy ở Đức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Đức, không muốn nước nào qua mặt, mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người Vyết Nam! (Chị cười) Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!
Tôi chán ngán:
- À thì ra vậy! Hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu”.
Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:
“Đôi khi ta muốn thoát ly
Đi thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai” (L.H.H.)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường, cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!). Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người, quyền tự do...) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng!

Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “Một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa
Nằm trong tầm với của mọi bàn tay” (Mẹ Theresa)

Phượng Vũ
9/2013
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Xe lam thuở nào

Sang đến thời kỳ “văn minh xe máy”, ban đầu Sài Gòn xuất hiện cyclo máy với hai bánh phía trước và một bánh phía sau rồi dần dà chuyển sang loại xe ba bánh ngược lại với cyclo và cyclo máy, một bánh trước và hai bánh sau.
“Xe lam” là loại xe chuyên chở công cộng phổ biến được du nhập Sài Gòn và các tỉnh miền Nam vào thập niên 1960 để đáp ứng nhu cầu đi lại của giới bình dân.
Tại miền Nam, thuật ngữ “xe lam” có xuất xứ từ Lambretta và Lambro là nhãn hiệu xe của nhà sản xuất Innocenti do Ferdinando Innocenti sáng lập tại Ý từ năm 1920. Ngoài xe hơi, Innocenti còn sản xuất loại xe hai bánh mang nhãn hiệu Lambretta trong khoảng thời gian từ 1947 đến 1971. Năm 1996 Innocenti nhập vào hãng xe Fiat và chấm dứt các dòng sản phẩm riêng.
Ngoài xe hai bánh Lambretta, Innocenti còn sản xuất động cơ cho loại xe ba bánh như ta thấy xuất hiện trên đường phố Sài Gòn xưa. Đó là các dòng xe Lambretta FD với dung tích xy lanh 123 hoặc 150 cc và FLI cải tiến với 175 cc, sau đó là Lambro 200, Lambro 550 đều có dung tích 198 cc.
Hãng Vespa cũng sản xuất loại xe 3 bánh và Sài Gòn đã nhập một số xe Vespa ba bánh có hình dáng và cấu trúc giống Lambretta và Lambro. Với số lượng ít ỏi hơn, Vespa ba bánh cũng được gọi chung là xe lam.
Vespa là thương hiệu nổi tiếng của hãng Piaggio, Ý, được ra đời từ sau Thế chiến thứ hai với của dòng sản phẩm xe gắn máy yên thấp, bánh nhỏ còn gọi là xe scooter. Rinaldo Piaggio (1864-1938) thành lập Công ty Piaggio tại Genoa năm 1884 với chức năng ban đầu chuyên sản xuất các trang thiết bị cho tàu thuỷ, tàu hỏa và máy bay.
Đến năm 1946, những chiếc xe scooter đầu tiên mang nhãn hiệu Vespa được thiết kế bởi kỹ sư Corradino D’Ascanio, ông tạo kiểu dáng khung xe vuốt tròn và tiếng máy nổ khác biệt: “Sembra una vespa!” (Nó cứ như con ong ấy). Vespa tiếng Ý là con ong và thương hiệu Vespa ra đời từ đó.
Vespa ba bánh sử dụng động cơ của xe scooter Vespa có dung tích lớn hơn và Sài Gòn có thêm xe lam mang nhãn hiệu Vespa bên cạnh xe Lambretta và Lambro.
Các dòng xe lam lần lượt được nhập vào miền Nam để thay thế xe thổ mộ, hay còn gọi là xe ngựa. Đặc biệt loại xe lam khi nhập không ở dạng “đóng thùng”, việc đóng thùng xe được thực hiện tại Sài Gòn. Theo thống kê, trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có gần một nửa (khoảng 17.000 chiếc) được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Khoảng những năm 1966-1967, chính phủ VNCH đã tiến hành một chương trình mang tên “Hữu sản hóa” nhằm cung cấp phương tiện hành nghề chuyên chở công cộng cho những lao động cần việc làm và cũng để cải thiện đời sống giới thợ thuyền, phát triển hạ tầng cơ sở vận tải … Và đó là cơ hội để xe lam thâm nhập vào thị trường miền Nam.
Ngoài việc “hữu sản hóa” xe taxi sơn màu vàng trên mui và xanh dưới thân, một số người thuộc giới tài xế xe lam cũng là những đối tượng của chương trình hữu sản hóa, trong số đó có không ít người từ xà ích xe ngựa trở thành tài xế xe lam. Họ ký kết những hợp đồng trả góp để có thể làm chủ một chiếc xe lam ngày ngày chạy trên đường phố kiếm cơm.
Giá chiếc xe lam vào thập niên 60 khoảng 30 cây vàng nhưng vàng hồi đó còn rẻ chứ không “leo thang” như ngày nay. Có tài xế xe lam còn khoe: “Chạy một ngày, ăn cả tháng chưa hết”. Nói vậy có lẽ hơi quá, nghề nào cũng có những gian nan, khổ cực của nó, nhưng câu nói đó cho thấy nghề tài xe lam thời hoàng kim là một trong những nghề “hot”…
Đặc điểm của xe lam là tính “cơ động”, hành khách có thể lên xuống xe tại bất cứ chỗ nào dọc theo tuyến mà không cần trạm lên xuống như xe buýt. Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh leo thang, xe lam cũng là phương tiện “chạy giặc” hữu hiệu vì gọn nhẹ lại chở được nhiều đồ đạc.
Xe lam là loại xe có một cabin phía trước dành cho tài xế và một thùng xe có thể chở hành khách và hàng hóa. Khách ngồi trên băng ghế dài, dọc theo hai bên thùng xe với sức chứa trên 10 người, đó là chưa kể trường hợp đặc biệt, 2 người khách nữa có thể ngồi 2 bên tài xế trong khoang lái!
Động cơ xe nằm ngay dưới yên dành cho tài xế. Khi xe chết máy, bác tài phải nhảy xuống đường, giở yên xe lên, chùi lại bu-gi, dùng một sợi dây thừng kéo cho máy nổ hoặc dùng bàn đạp khởi động lại máy xe.
Gặp khi đông khách, bác tài cũng sẵn sàng ngồi thu gọn lại ngay giữa yên để có thêm chỗ cho hai khách ngồi ké vào hai bên. Chuyện kể một chuyến xe đang chạy ngon trớn bỗng động cơ xe ngừng hoạt động. Bác tài nói với hai bà ngồi hai bên: “Hai bà làm ơn xuống xe cho tôi đạp máy”.
Vốn là người miền Nam nên bác tài phát âm “đạp máy” nghe như “đạp mái” khiến một bà lên tiếng: “Cái ông này ‘dê đạo lộ’. Xe chết máy không lo sửa mà lại còn đòi… đạp mái. Vô duyên!”
Bên trong xe lam là cả một kho truyện tình cảm “lâm li bi đát” nhưng cũng có khi là những chuyện “trời ơi đất hỡi” đáng ghi nhớ. Những chuyến xe đông người có thể trà trộn khách thuộc loại có “bàn tay nhám” hay “diệu thủ thơ sinh” chuyên nghề móc túi. Lại còn có những “bóng hồng” hành nghề “bỏ bùa mê” để trộm cắp tài sản của khách trên xe.
Hành khách ngồi “chen vai thích cánh” trên xe cũng dễ nảy sinh tình cảm bất ngờ nhưng lại cũng dễ xảy ra.. tai họa. Có trường hợp chàng trai bị cô gái “hớp hồn” trên xe lam nhưng khi xuống xe cái bóp đã… “không cánh mà bay”.
Cũng có thể là một chuyện tình lãng mạn của đôi trai gái đi chung một chuyến xe lam như nhà thơ Trần Thanh kể lại trong bài Trên chuyến xe lam:
“Tôi vẫn nhớ mùa thu năm ấy
Tôi quen nàng trên chuyến xe lam
Nàng nhìn tôi đôi mắt mơ màng
Tôi bẽn lẽn nhìn sang không nói…
“Ông vua nhạc sến” Vinh Sử có bài Chuyến xe lam chiều với những ca từ rất bình dân kể lại một mối tình của đôi trai gái quen nhau trên một chuyến xe lam. Mối tình sau này tan vỡ không phải vì nàng bỏ đi lấy chồng mà là chàng “tham phú phụ bần” lấy con gái nhà giàu.
Sau biến cố 30/4/1975 xe lam vẫn tiếp tục tồn tại trong khi taxi phải mất nhiều năm mới khôi phục. Xe lam trong thời kỳ này được dùng làm phương tiện đi lại phổ biến, rẻ tiền và dĩ nhiên vẫn giữ được “thời vàng son” của nó…
Một thời đã qua kéo theo nhiều kỷ niệm từ các phương tiện di chuyển công cộng tại Sài Gòn xưa. Có lẽ thế hệ trẻ ngày nay không ngờ lớp cha ông đã trải qua nhiều thời kỳ lý thú đến như vậy. Biết đâu chừng cũng có con cháu lại thấy cha ông mình sao… khổ quá!

Nguyễn Ngọc Chính (Hồi ức đời người)
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Ðến Philippines, nhìn mưa, nhớ Việt Nam
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Về nhiều phương diện, Philippines rất khác Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia Ðông Nam Á khác. Philippines tiếp xúc với Tây phương rất sớm. Ngay từ thế kỷ 16, khi một số giáo sĩ Tây phương tiền phong mới dọ dẫm đặt chân lên lãnh thổ Việt Nam, Philippines đã là thuộc địa của Tây Ban Nha.

Cuối thế kỷ 19, Philippines lại trở thành thuộc địa đầu tiên và cũng là duy nhất của Mỹ, từ đó, một mặt, trong khi phần lớn dân chúng Philippines vẫn giữ kiểu đặt tên theo Tây Ban Nha, mặt khác, họ lại chọn tiếng Anh làm một trong hai ngôn ngữ chính thức của cả nước (Philippines là quốc gia nói tiếng Anh lớn thứ ba trên thế giới - chỉ sau Mỹ và Anh). Ảnh hưởng của cả Tây Ban Nha lẫn Mỹ có thể thấy ngay tên nước và tên người: Tên nước, Philippines, vốn là “Islas Filipinas”, những hòn đảo của hoàng đế Philip II, vua của Tây Ban Nha, được viết theo kiểu tiếng Anh; nhưng danh từ chỉ người (hoặc tiếng) Philippines lại được viết là Filipino, với chữ F đầu, theo kiểu Tây Ban Nha, vốn đã có từ trước. Một ảnh hưởng khác được thấy rất rõ là, trong khi các quốc gia châu Á khác đều theo hoặc Nho giáo hoặc Phật giáo hoặc Hồi giáo, khoảng trên 90% dân số Philippines là Thiên Chúa giáo (phần lớn là Công giáo).
Image
(Hình minh họa: Noel Celis/AFP/Getty Images)

Ðến một nước như thế, tôi ít chờ đợi sẽ gặp nhiều thứ có thể gợi nhớ đến Việt Nam. Vậy mà có. Ngay từ lúc tôi vừa mới bước ra khỏi phi trường Manila. Lúc ấy, trời mưa tầm tã. Chiếc xe chở tôi từ phi trường đến khách sạn ở trung tâm thành phố Taguig, thuộc Metro Manila, như trôi đi trong mưa. Nhìn ra ngoài cửa kính, tôi chỉ thấy mưa mù mịt, và ngoài mưa, lóe lên vài đốm sáng từ những chiếc đèn đường và đèn của những xe khác ngay trước mặt hay ngay bên cạnh. Mưa mù trời. Nghe nói cơn mưa đã kéo dài suốt cả ba ngày rồi. Thì ở đâu lại chả có mưa? Ở Úc, tháng này đang giữa mùa xuân, trời cũng mưa hoài. Nhưng không hiểu sao, nhìn mưa ở Philippines, tôi vẫn thấy có cái gì khang khác. Không giống mưa ở Úc. Mà lại giống mưa ở... Việt Nam. Giống như thế nào? Thú thực, tôi cũng không biết. Chỉ thấy giống.

Ngày hôm sau, tôi gặp mấy người bạn từ Mỹ sang ở nhà một người bạn khác. Chúng tôi ngồi dưới mái hiên bên cạnh nhà vừa hút thuốc vừa chuyện trò. Thật ra, chúng tôi cũng không nói chuyện gì nhiều. Có những lúc, kéo dài thật lâu, cả bọn đều im lặng. Tôi thì tôi bị hút hồn bởi những giọt mưa ngoài trời và những tiếng mưa lộp độp trên mái tôn. Sau, các bạn tôi cũng thú nhận như vậy: Họ say sưa ngắm mưa và nghe tiếng mưa gõ. Một người bạn tôi buột miệng nói: “Nhìn mưa, nhớ Việt Nam quá!”

Ở Việt Nam, mưa có nhiều loại: mưa bụi (còn gọi là mưa tro), mưa dầm, mưa dông, mưa đá, mưa luồng (hay còn gọi mưa bóng mây), mưa ngâu (vào tháng bảy âm lịch), mưa nguồn (còn gọi mưa lũ), mưa ngâu, mưa phùn (vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân), mưa rươi (ở miền Bắc trong mấy tháng cuối năm), mưa xuân hay mưa thu. Mưa cũng có nhiều mức độ: Mưa lai rai, mưa lắc rắc, mưa lâm râm, mưa lún phún, mưa lúi phúi, mưa dầm dề, mưa xổ phong long, v.v..

Tôi sợ nhất là mưa ở miền Trung, những cơn mưa kéo dài hầu như vô tận, hay nói theo cách nói của người địa phương, mưa đến “thúi đất”. Ði học, trùm áo mưa kín mít, vậy mà, đến trường, tóc tai và chân cẳng, đôi khi cả quần áo nữa, lúc nào cũng ướt nhẹp. Những ngày nghỉ học, cứ ngồi bó gối ở nhà nhìn mưa, thoạt đầu, thấy thú vị, sau, chỉ thấy buồn đến bã người. Ngày trước, có lần từ Hà Nội vào Huế, nhà thơ Nguyễn Bính từng than thở: “Trời mưa ở Huế sao buồn thế / Cứ kéo dài ra đến mấy ngày.” Mưa ở Huế thế, mưa ở Ðà Nẵng cũng thế. Cũng dầm dề. Cũng lê thê.

Nhưng tôi nhớ nhất là mưa ở Sài Gòn, nơi tôi sống từ năm 1975 đến ngày vượt biên, năm 1985. Hình như trong suốt cả mười năm ấy, tôi không hề có áo mưa. Ðang đi đường, trời đổ mưa, chạy vội vào một mái hiên nào đó nấp. Và chờ. Một lát, mưa tạnh, lại đi tiếp. Hình như hiếm lắm mới có một trận mưa kéo dài. Còn lại, trong ký ức tôi, chỉ có những cơn mưa ngắn.

Một sự khác biệt nữa: so với miền Trung và miền Bắc, mùa mưa ở miền Nam trùng với mùa nóng. Vừa mưa vừa nóng. Có lẽ đây là lý do chính khiến tôi và các bạn tôi nhìn mưa ở Philippines mà cứ nôn nao nhớ về Việt Nam, đặc biệt là Sài Gòn: Mưa thì mưa, trời vẫn hầm, không khí chung quanh vẫn oi bức. Mưa không đủ làm giạt đi hơi nóng của thời tiết, thậm chí, dường như nó làm hơi nóng bị đặc lại, quánh lại, chỉ quanh quẩn trong những vùng không có mưa, như cái mái hiên tôi đang ngồi với bạn bè, chẳng hạn.

Ngồi nhìn mưa ở Philippines, chúng tôi nói về mưa ở Việt Nam. Cũng như tôi, cả anh Phan Huy Ðạt lẫn Phạm Phú Thiện Giao, chủ nhiệm và chủ bút của báo Người Việt ở California, không ai có kiến thức gì về khí tượng học. Chúng tôi chỉ nói theo kinh nghiệm: Mưa nhiệt đới, như ở Việt Nam hay Philippines, thường có hạt. Ở những nơi khác, như ở Úc, chẳng hạn, tôi chỉ thấy mưa hoặc lay bay, lất phất hoặc tầm tã, mù mịt. Nhưng dù nhẹ hay nặng, chưa bao giờ tôi thấy mưa thành hạt. Chỉ hoặc mờ mờ như sương hoặc mù trời trắng đất, họa hoằn, mới thấy được những sợi mưa, kiểu Huy Cận tả, “mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi”. Ở Việt Nam, cũng như ở Philippines lúc này, tôi thấy rõ từng hạt mưa giữa trời. Những hạt mưa nối theo nhau rơi xuống, ràn rụa trên cành mít bên góc nhà và gõ đều đều trên mái tôn. Trong bản trường ca Ðẻ đất đẻ nước của người Mường, người ta tả những hạt mưa lớn đến độ, thoạt đầu, “bằng trái cà”, sau, bằng “quả bưởi”. Mưa ở Philippines, những ngày đầu khi tôi mới đến, không lớn đến vậy. Nhưng cũng là hạt.

Nhưng nhìn mưa không thích bằng nghe tiếng mưa rơi. Ở Tây phương, hiếm khi chúng ta nghe được tiếng mưa rơi. Ngay cả khi ở nhà trệt, mái ngói cũng thường cao, lại bị trần nhà ngăn cản, tiếng mưa thường nghe yếu hẳn đi. Ở Việt Nam và Philippines thì khác. Nhà hoặc hiên nhà thường lợp bằng tôn, tiếng mưa nghe rõ mồn một. Khi mưa lớn, nghe ầm ầm hoặc rào rào; nhẹ hơn, nghe tí tách; nhẹ và dài, nghe rả rích; tiếng mưa thanh, nghe thánh thót; tiếng mưa đục, nghe lộp độp.

Cả tuần lễ tôi ở Manila, hầu như ngày nào cũng mưa. Có khi mưa dầm dề cả ngày, có khi mưa ngừng, nắng hanh lên một lát, rồi lại mưa. “Mưa mãi mưa hoài”, nói theo một câu thơ của Lưu Trọng Lư. Có mấy ngày, đến ở trong một khu resort, tôi ngủ trong một ngôi nhà nhỏ trên núi. Nhà nhỏ, thiết kế như một cái chòi, vách đá nhưng lợp bằng lá nứa. Mưa suốt đêm. Mưa rơi trên mái nứa, tiếng rất đằm. Như những tiếng thì thầm. Tôi lại càng nhớ nhà. Suốt đêm, cứ trằn trọc. Nghe vang vang trong đầu bài thơ của Huy Cận đã lâu tôi không đọc lại:

“Ðêm mưa buồn nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ

Tai nghiêng hướng lạc phương mờ
Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe
Gió về, lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư.”

Càng nhớ nhà hơn nữa khi, cả mấy ngày ấy, hầu như lúc nào tôi cũng được ăn cơm Việt Nam. Có cá chiên. Có thịt kho. Có canh rau đay. Nhưng tôi thích nhất là trái cây. Xoài. Chuối tiêu. Chôm chôm. Măng cụt. Mít. Và bòn bon, thứ trái cây đặc sản ở Quảng Nam, quê tôi. Nhớ, cách đây mấy năm, đi Bangkok, lúc đang đi dạo trên đường, tôi thấy trên dãy trái cây bày bán dọc đường, một rổ bòn bon, tôi bỗng thấy nôn nao lạ lùng. Bao nhiêu kỷ niệm từ lúc còn nhỏ, ở Quảng Nam, nườm nượp ùa về. Tôi mua nguyên cả rổ, đến mấy ký, đem về khách sạn, ăn từ từ trong mấy ngày. Không thấy ngon như mình tưởng. Nhưng vẫn thích. Vì kỷ niệm. Bòn bon ở Philippines, trái nhỏ hơn, nhưng dường như có vị thanh hơn.

Ăn thức ăn và trái cây Việt Nam và nghe tiếng mưa rả rích, nhiều lúc tôi ngỡ mình đang sống ở Việt Nam, nơi tôi không thể trở về.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »



HÙM CHẾT ĐỂ DA; NGƯỜI CHẾT ĐỂ TIẾNG
Tướng Võ Nguyên Giáp là người vô lương tâm đối với dân Việt

Tại sao?

Dù là một vị tướng chiến thắng trận Điện Biên Phủ năm 1954 mở ra một viễn tượng Độc Lập cho quốc gia và dân tộc.

Nhưng trên thực tế 60 năm qua đi, tướng Giáp đã nhìn thấy người dân Việt Bắc Trung Nam sống nô lệ, đàn áp, đọa đầy, bởi độc đảng Cộng Sản VN,

và còn man rợ hơn dưới thời thực dân Pháp.

Đất, biển, hải đảo, tài nguyên bị kẻ thù Trung Cộng xâm chiếm.

Một vị danh tướng với hào quang chiến thắng trận Điện Biên Phủ,

đi đâu cũng mang trên vai 4 ngôi sao với tước vị Đại Tướng đã mất hết lương tri không còn biết nhục;

thay vì giữ tiết tháo rũ áo, từ quan, bỏ đảng để nêu gương trở về với chính nghĩa và cội nguồn của dân Việt.


Hùm chết để da; người chết để tiếng.

Tướng Giáp không còn dũng lược của một vị tướng để nêu gương quay về với chính nghĩa người dân Việt như một Gorbachev của Liên Bang Sô Viết.

Tại sao Gorbachev là một người Cộng Sản, là một Tổng Bí Thư, là một Tổng Thống lại thành công trong việc giải tán đảng Cộng Sản, nơi xuất phát

vì Gorbachev vẫn còn lương tâm cắn rức của một con người yêu nước thương dân; khi nhận ra chủ nghĩa Cộng Sản hoàn toàn sai lầm
từ căn bản vì chỉ biết đàn áp, đọa đầy, giam cầm, và giết hàng triệu người dân mình.

Nga Sô tưởng niệm các nạn nhân chế độ Staline hàng năm vào ngày 31 tháng 10.

(Các nhà sử học được các báo chí quốc tế trích dẫn lời cho rằng từ 20-40 triệu người đã bị Joseph Stalin (1879 - 1953)
và bộ máy thanh trừng của nhà độc tài này giết chết trong các trại tập trung và các nhà tù thời Xô-Viết trước đây.
Mà những người bị thảm sát đã được Tổng thống Nga Putin cho rằng:[1]

"Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ cao nhất và là những người can đảm nhất
của nước Nga và Liên Xô thời đó.")

Mong rằng cái chết của tướng Võ Nguyên Giáp sẽ cảnh tỉnh quay về với chính nghĩa dân Việt của những nhân vật trong Bộ Chính Trị,
đảng Cộng Sản Việt Nam.

Đặng Bảo
7/10/2013
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nên xóa đảng cộng sản đi

Ngô Nhân Dụng

Ma chê, cưới trách, các cụ dạy không sai. Sau khi ông Võ Nguyên Giáp đã mồ yên mả đẹp, dân Hà Nội bắt đầu bàn tán. Tại sao chính quyền lại ra lệnh ngưng treo cờ rủ ngay buổi trưa bữa hạ huyệt, mà không đợi đến tối? Buổi tối là lúc người ta thường làm lễ “hạ cờ.” Ðó là lúc ngưng không treo cờ rủ; sáng hôm sau sẽ kéo lên tới ngọn cột cờ, không còn dấu hiệu để tang nữa.

Tại sao lại ngưng “để tang” giữa ngày, mà không đợi thêm dăm, sáu giờ nữa, cho hợp nghi lễ? Nếu tin bói toán, có thể đổ tại các nhà chiêm tinh. Chắc có ông thầy bói nào đó gieo quẻ Mai Hoa, phán rằng nếu treo cờ để tang ông Võ Nguyên Giáp quá giờ Ngọ thì ông Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Tấn Dũng có thể bị tai nạn! Tai nạn gì? Ðồng bào ta bàn nhau: Tai nạn Lý Khắc Cường. Ông thủ tướng Trung Cộng ghé Hà Nội trên đường bay về Bắc Kinh. Ông lại đến Phú Bài vào đúng buổi trưa; trong ngày chôn cất ông Giáp. Không lẽ lại đón một vị quốc khách bằng lá cờ treo rủ, nửa chừng? Lý Khắc Cường cũng sợ bị xui xẻo y như Nguyễn Tấn Dũng vậy. Cho nên Sứ Quán Trung Quốc phải lập tức yêu cầu kéo các lá cờ lên tới ngọn. Chấm dứt cờ rủ!

Chắc ông Võ Nguyên Giáp cũng chẳng biết gì nữa, về chuyện họ ngưng để tang ông vào giờ Ngọ. Ông cũng không biết Sứ Quán Trung Cộng không hề đến viếng tang ông, dù trụ sở của họ ở rất gần nhà ông. Khi nhiều người thắc mắc, sứ quán trả lời rằng họ có viếng tang. Nhưng viếng tang ở Sài Gòn. Xác người ta quàn ở Hà Nội, cáo phó ghi địa chỉ rõ ràng. Vậy mà lại đem vòng hoa đến viếng ở Sài Gòn!

Có thể giải thích hành động này. Nếu viếng tang ở Hà Nội thì ông đại sứ phải tới. Còn ở Sài Gòn thì một viên chức thấp hơn tới cũng được. Bắc Kinh muốn chứng tỏ đối với họ ông Giáp không đáng được thăm viếng ở cấp đại sứ; cho một tổng lãnh sự hay cấp thấp hơn viếng là đủ rồi.

Bây giờ thì người ta lại nhớ: Các cố vấn quân sự Trung Cộng, như Vi Quốc Thanh, Trần Canh, đều coi thường ông Giáp.

Họ viết rõ ràng trong hồi ký của họ. Trong đám các lãnh tụ cộng sản đợt đầu, 1945, 46 ở nước ta, ông Võ Nguyên Giáp là người ít bị mang tiếng thân Trung Cộng, so với Hồ Chí Minh hay Trường Chinh. Hành động đáng nói sau cùng của ông Giáp là phản đối vụ cho Trung Cộng khai thác Bô xít. Các đồng chí Bắc Kinh không bao giờ tha thứ.

Nhiều đảng viên cộng sản ở trong nước đã bầy tỏ lòng quý mến đối với ông Võ Nguyên Giáp; chính vì họ thấy Trung Cộng ghét ông. Có lẽ cách tốt nhất để tiếp tục tỏ lòng quý mến ông là họ nên vận động xóa bỏ cái đảng cộng sản đi.

Trong đời ông, mối nhục lớn nhất của Võ Nguyên Giáp là ông hoàn toàn bất lực khi các tướng, tá đàn em bị tù đầy. Họ bị trù ếm chỉ vì họ từng thân tín đối với ông. Ngoảnh mặt làm ngơ khi các đàn em bị hành hạ, đó là một nỗi nhục. Ông Võ Nguyên Giáp còn bị các đối thủ làm nhục công khai, khi bắt ông đứng chỉ huy chiến dịch ngừa thai. Thà rằng như Ðặng Tiểu Bình, bị hạ xuống làm công nhân nhà máy; hay Lưu Thiếu Kỳ, bị bắt đi chăn cừu, còn đỡ nhục hơn.

Tại sao Võ Nguyên Giáp lại chấp nhận để người ta làm nhục như vậy?

Vì ông là một đảng viên cộng sản tốt. Một đảng viên tốt thì chấp hành, tuân phục bất cứ việc gì mà “đảng” bảo phải làm.

Ðảng cộng sản đã xóa bỏ nhân cách của các đảng viên. Họ không được phép có tư cách riêng, danh dự riêng, cũng như các tình cảm hay quyền lợi riêng. Võ Nguyên Giáp có thể tự biện minh mình đóng đúng vai trò đảng viên, không có gì hối hận.

Một điều mà ông ta, cũng như nhiều đảng viên cộng sản khác, không tự hỏi, là cái đảng cộng sản mà họ đã tuyên thệ gia nhập, có còn là một đảng cộng sản hay không? Họ không dám đặt câu hỏi này, vì mở miệng ra là sẽ mất hết các quyền lợi dành cho các đảng viên; có thể chết nữa.

Nhưng ai cũng biết, hiện nay ở Trung Quốc và ở Việt Nam không còn đảng cộng sản nào nữa. Khi thu nhận các nhà kinh doanh tư vào đảng, và công nhận quyền kinh doanh của các đảng viên cộng sản, Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng như Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không còn là “cộng sản” nữa. Các vị lãnh đạo hai đảng này cố biện minh bằng các lý luận, như “Ðảng phải là đại biểu của lực lượng sản xuất tiến bộ nhất” (lý thuyết Giang Trạch Dân;) hoặc phải “giải phóng sức sản xuất” (Dự thảo Báo cáo chính trị, đảng Cộng Sản Việt Nam). Các lý thuyết trên bao hàm một nhận xét thực tế: Trong xã hội Trung Hoa hay Việt Nam hiện nay, giai cấp tư sản đang thành hình là lực lượng sản xuất tiến bộ nhất.

Vai trị tiền phong của giai cấp tư sản cũng được Karl Marx đề cao, khi ông quan sát sự chuyển biến từ thời kỳ phong kiến sang kinh tế tư bản. Các quyết định thay đổi của hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam chỉ thể hiện diễn biến mà Marx mô tả: Chế độ phong kiến chuyển dần sang chế độ tư bản. Xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện nay vẫn còn đầy di sản của thời phong kiến do Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn lập nên, cần phải dẹp bỏ thì mới tiến bộ được.

Chúng ta vẫn phải đặt thêm một câu hỏi, là: Tại sao quý vị lãnh đạo trong các đảng Cộng Sản ở Trung Hoa và ở Việt Nam không thành thật một lần trong đời, trong đời sống cá nhân cũng như đời sống đảng viên, bằng cách tuyên bố thẳng rằng họ thôi, ngưng, stop, từ nay không theo đuổi chủ nghĩa Mác Lê nin nữa?

Khi một đảng chính trị tự đặt mình vào tình trạng phải tự mâu thuẫn với chính mình (mâu thuẫn giữa cương lĩnh, lý thuyết, với hành động thực tế), thì sẽ làm hư hỏng cả giềng mối tinh thần của cả quốc gia. Khi một ông vua hay một đảng cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo, thì chữ TÍN không còn được coi trọng nữa. Không lấy chữ TÍN làm căn bản trong các mối tương quan, trong mọi giao tế xã hội, thì sẽ không còn một hệ thống đạo đức. Hơn thế nữa, cũng không thể phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, là nền tảng của mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị trong thế giới hiện đại. Tái lập chữ TÍN trong xã hội là điều quan trọng và đáng theo đuổi hơn là thực hiện bất cứ một chủ nghĩa mơ hồ và không tưởng nào.Về mặt chính trị, ở hai nước Trung Quốc và Việt Nam, chế độ toàn trị (totalitarian) đã biến dần sang một chế độ độc tài (authoritarian) bình thường. Guồng máy của đảng và nhà nước không còn kiểm soát được tất cả đời sống xã hội nữa. Xã hội đã tách rời khỏi chế độ. Giới lãnh đạo đảng đã nhận thức được giới hạn của quyền lực mà họ đang nắm. Ðời sống mỗi cá nhân không còn hoàn toàn tùy thuộc vào đảng và nhà nước nữa.

Nhưng giới lãnh đạo đảng cộng sản không còn khả năng kìm hãm các biến chuyển, vì chính họ đang bước vào một cuộc phiêu lưu mới, không biết sẽ hướng vào đâu. Tại Ba Lan, Tiệp, Slovack, Hungary, những đảng cộng sản ở đó có góp phần chủ động thúc đẩy cuộc “cách mạng nhung” để thiết lập thể chế mới, khi đó chính họ phải rời khỏi chính quyền. Nhờ thay đổi toàn diện và nhanh chóng, sau hai mươi năm kinh tế các nước này đã tiến rất nhanh. Các đảng viên cộng sản cũ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, họ có nhiều kinh nghiệm chính trị hơn các đảng phái mới, họ có thể trở lại nắm quyền hnh dưới ngọn cờ khác. Ở Trung Quốc và Việt Nam thì không. Giới lãnh đạo cộng sản không dám rút khỏi chính quyền, tự mò mẫm con đường đổi mới từng bước một, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng đảng Cộng Sản Việt Nam thì còn dè dặt hơn, đợi Trung Quốc thí nghiệm cái gì trước rồi mới theo.

Nhưng có những vấn đề mà chính đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng không giải quyết nổi. Một vấn đề lớn là guồng máy quản lý xã hội cũ vốn được vạch ra để cai trị trong một hoàn cảnh đơn giản, có cấp bậc trên dưới rõ ràng. Guồng máy này không còn thích hợp để cai quản một xã hội phức tạp; các tương quan cũ bị đứt, bị vỡ, và các tương quan mới đã nẩy sinh. Tương quan cũ dựa trên hệ cấp quyền hành, bây giờ thêm tương quan dựa trên tiền bạc, lợi lộc. Ðảng cộng sản không dám xóa bỏ hệ cấp quyền hành, nhưng vẫn phải công nhận hệ thống duy lợi. Hệ cấp quyền hành dựa trên đảng, trên tương quan quyền lực cá nhân. Hệ thống duy lợi dựa trên tiền, nhưng không có các luật lệ ràng buộc như trong các nước tư bản lâu đời. Hai mạng lưới đó chồng chéo lên nhau, tất nhiên đẻ ra tham nhũng. Ðó là một hiện tượng làm uy tín của đảng cầm quyền bị ở Trung Quốc và Việt Nam suy sụp.

Một hiện tượng khác là hệ quả của nền kinh tế tư bản phi luật pháp là tình trạng bất công về lợi tức, thu nhập và tài sản ngày càng cao và càng hiển nhiên. Không những bất công trong thu nhập, trong tài sản, mà hệ cấp quyền hành của đảng còn tạo ra cảnh bất công trong cơ hội sống và kiếm ăn nữa. Trong khi ý thức hệ được tuyên dương vẫn đề cao một xã hội bình đẳng, trong thực tế thì chính chế độ này lại nuôi dưỡng cảnh bất bình đẳng. Niềm tin của chính các đảng viên, ngay cả giới lãnh đạo đảng, cũng hao mòn.

Hiện nay, cuộc đổi mới kinh tế thúc đẩy tinh thần duy lợi và vị kỷ. Khơi dậy những điều xấu xa đó không khó gì cả. Chỉ cần buông thả ra là lòng tham, óc vị kỷ sẽ tự phát triển. Không có đạo đức để kiềm chế, cũng thiếu cả luật pháp để ràng buộc, nền luân lý bị đổ vỡ.

Trong lịch sử loài người, óc duy lợi và tính ích kỷ luôn luôn phải kèm theo một hệ thống các quy tắc luân lý hoặc giáo lý kiềm chế. Kinh tế tư bản phát sinh trong những xã hội đã có một nền luân lý cổ truyền, và chính các truyền thống tôn giáo giúp kiềm chế óc duy lợi, ích kỷ, để lái động lực tìm lợi lộc, hướng chúng vào các giá trị tinh thần. Khi kinh tế tư bản được thả lỏng trong một xã hội mất nền tảng, đạo lý đang tan rã, thì những điều xấu xa nhất của lối làm ăn đó tha hồ nẩy nở và tung hoành. Ðó là hoàn cảnh nước ta và Trung Quốc bây giờ.

Nói một đằng làm một nẻo, tất cả ý thức hệ cộng sản đã phá sản, không còn ai tin nữa, kể cả các đảng viên. Ðó là bị kịch của cả dân tộc. Muốn lập lại chữ TÍN trong xã hội Việt Nam bây giờ, chính những người có trách nhiệm, tức là giới lãnh đạo đảng Cộng Sản, phải nói thẳng, nói thành thật với mọi người: Từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Ðiều đó không có gì xấu, không có gì phải che đậy và trì hoãn. Vì chính họ đã không còn chủ nghĩa cộng sản tin nữa!

Ông Võ Nguyên Giáp sống như một đảng viên cộng sản gương mẫu suốt đời: Luôn luôn tuân thủ, chấp hành các quyết định của đảng. Cái đảng đó đã làm ông mất tư cách, mất cả danh dự. Chỉ vì ông đã học tập và thể hiện “đạo đức cách mạng” do Hồ Chí Minh dạy: Không có thứ đạo đức nào cao bằng tinh thần kỷ luật của đảng viên. Những người còn giữ lòng quý trọng ông nên giúp ông làm một việc mà chính ông không làm được: Xóa bỏ đảng cộng sản. Nó không những tiếp tục giết chết nhân cách của các đảng viên khác, mà còn làm bại hoại của nền đạo lý của dân tộc!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những điều bình thường ở nước Mỹ

Nguyễn Thị Hậu
Bạn hỏi: sao đi Mỹ về im lặng thế, không thấy viết gì?
Cảm nghĩ của một du khách Việt Nam sau chuyến viếng thăm nước Mỹ

Thật ra từ đầu năm tới giờ hình như tôi chưa viết được gì ưng ý... Quá nhiều điều phải suy nghĩ, phải liên tưởng, phải hiểu, bạc tóc mà vẫn thấy mình ngơ ngác... Tôi đi Mỹ trong một tâm trạng nhạy cảm đến mức gần như căng thẳng. Nhờ vậy, tất cả những gì mắt thấy tai nghe tim cảm nhận đã làm rung lên trong tôi những cung bậc cảm xúc không dễ gì phai nhạt, tuy chỉ là những điều rất đỗi bình thường.

Có lẽ những gì tôi muốn kể về nước Mỹ chính là những điều bình thường!


Nước Mỹ đến với tôi đầu tiên từ những sân bay. Rộng lớn hiện đại an ninh chặt chẽ, nhưng vẫn mang lại cảm giác thân thiện, nghiêm ngắn và sự yên tâm. Chuyến bay quốc tế hay quốc nội thì thủ tục cũng như nhau, nhanh nhẹn và chu đáo; các nhân viên kiên nhẫn giải thích giải đáp những câu hỏi thắc mắc khiếu nại của hành khách với thái độ nhã nhặn và nghiêm túc mà không cần phải có “nụ cười thường trực trên môi” như phong trào văn minh công sở ở nước ta (Người Việt mình thích cười, ngay trong giao tiếp quan hệ làm việc cũng phải cười với nhau... Hình như trong giờ làm việc không thể có gương mặt bình thường nghiêm túc nhã nhặn được, khi không cười thì chỉ có sự cáu kỉnh lạnh nhạt khó ưa?). Trong chuyến bay từ DC về SF một vali hành lý của tôi bị kiểm tra mà tôi không hề biết. Hai ngày sau cần đến mới mở ra thì thấy khóa bị cắt, bên trong đồ đạc có dấu xáo trộn nhưng không mất gì cả (trong vali có iPad mini mua cho con gái, đồng hồ mua cho ông xã và một số mỹ phẩm làm quà cho bạn). Ngay trên đồ đạc là một tờ giấy in sẵn thông báo về việc kiểm tra hành lý, và cuối cùng xin lỗi đã làm phiền hành khách. Thật ra nếu bay nội địa thì chẳng ai khóa vali hành lý gửi cả, nhưng vì tôi bay về VN qua một chặng chuyển tiếp nên phải lấy của bạn một cái khóa khác để khóa vali.

Ra khỏi sân bay nước Mỹ đến với tôi bằng những con đường cao tốc 8 làn xe chạy vun vút. Quanh những thành phố bao giờ cũng có làn đường dành cho xe chở 2 hoặc 3 người, khuyến khích đi chung xe, đỡ tắc đường giảm ô nhiễm môi trường. Vậy nhưng làn đường này ngay cả giờ cao điểm cũng không nhiều xe chạy. Người Mỹ thích độc lập tự do ngay cả trong việc sử dụng phương tiện giao thông, mặc dù ở nhiều thành phố có hệ thống giao thông công cộng hoàn hảo.

Ðường tốt, xe nào chạy làn đường đó, giờ cao điểm chịu khó nhích từng chút. Có mệt mỏi thì nhìn ra hai bên đường: cây xanh, thảm cỏ, bụi hoa... đều là loại hoang dại nhưng được chăm chút cẩn thận mà trông vẫn tự nhiên. Những con đường bê tông dài hàng trăm ngàn cây số khắp nơi tôi qua gần như đều song hành với màu xanh của cây cỏ. Kể cả trên hoang mạc Nevada cũng dày đặc những bụi xương rồng trổ bông nhiều màu sắc, trên những ngọn đồi bát úp chồng lên nhau suốt vùng California đã phủ lớp cỏ đầu xuân mới nhú. Ðất đai rộng lớn, thiên nhiên hiện diện khắp nơi càng cho ta cảm giác mênh mông của trời của đất. Tầm mắt hun hút theo con đường, tầm mắt ngút ngàn hoang mạc, bờ biển, bình nguyên, trung du... Tự do phóng tầm mắt khắp nơi thấy mình to lớn hơn, tự do hơn, và tự chủ hơn.

Các thành phố Mỹ tôi đến mang lại ấn tượng về quy hoạch đô thị thật khoa học, chính vì vậy mà nó đẹp, cái đẹp của sự giản dị và hợp lý. Những con đường trong thành phố đều có bảng tên đường, bảng hướng dẫn làn đường treo ở độ cao phù hợp cho người ngồi trên xe hơi nhìn thấy, đủ lớn để từ xa đã đọc được, đủ khoảng cách để hướng dẫn xe quẹo phải trái hay quay đầu xe, ở các giao lộ đều có làn đường cho xe quẹo phải. Ðèn giao thông vẫn còn nhiều cái cổ lỗ, cột điện vẫn bằng gỗ với hàng dây điện đen chăng dọc suốt đường (ngay ở Mỹ cũng đâu đã “ngầm hóa” hết được đường điện).

Nhưng tất cả sạch sẽ gọn gàng, dù cũ kỹ nhưng vẫn được chăm nom bảo quản. Lòng đường sạch sẽ, lề đường và những bức tường phủ kín hoa lá, cây xanh, cứ vài con đường lại thấy một công viên nhỏ hay vườn hoa, bãi cỏ, ngày nắng ấm luôn có những bà mẹ đẩy xe đưa con đến chơi, trẻ em ở trường học gần đấy mỗi khi tan học cũng được bố mẹ cho ra đây chạy nhảy vui chơi trước khi về nhà. Bộ mặt đô thị mang lại cảm giác cuộc sống nơi đây quá đỗi bình yên.

Có lẽ tôi thích nhất là những ngôi nhà trong thành phố. Ngoài New York là với vô vàn tòa nhà kính nhiều màu cao chọc trời, Las Vegas cả ngày lẫn đêm rực rỡ ánh đèn và sắc màu của những trò chơi đen đỏ... Các thành phố tôi qua dường như có một quy định ngầm: Ở mỗi khu vực kiến trúc nhà cửa thường cùng một kiểu: giống nhau cả hình dáng, chất liệu xây dựng và bố trí mặt tiền. Mới nhìn cảnh quan khu phố có vẻ đơn điệu vì hầu hết các kiểu nhà hình thức và quy mô trông khiêm tốn, một trệt một lầu hoặc có thêm tầng lửng. Nhà nào cũng có vườn trồng hoa, vài cây cao, đặt ghế xích đu hoặc trồng cột chơi bóng rổ cho trẻ em. Không nhà nào bề ngoài trông nổi bật hơn so với xung quanh, dù có thể nội thất sang trọng. Nhìn những ngôi nhà này đã thấy sự bình đẳng trong cộng đồng và tôn trọng con người. Trong những ngôi nhà tôi có dịp đến, khác với cấu trúc nhà ở Việt Nam, nhà Mỹ thường nhỏ so với diện tích đất, trong nhà phòng khách lớn nhất vì còn là nơi sinh hoạt của gia đình, kế đến bếp đồng thời là phòng ăn, các phòng ngủ nhỏ, nhà vệ sinh cũng nhỏ vừa đủ dùng. Tính thực tế của người Mỹ khá rõ, không phô trương ở những nơi không cần thiết. Mỗi ngôi nhà tính theo số phòng ngủ để biết lớn hay nhỏ, có thể định giá trị ngôi nhà. Tất nhiên, những khu nhà của các triệu phú tỷ phú Mỹ thì khác, rất khác. Khác thế nào thì tôi... không thể nói được, vì chưa tận mắt nhìn thấy chưa bước vào, ngoài việc nhìn thấy trên phim ảnh, như nhiều người khác.

Boston là thành phố tôi thích nhất. Cảnh quan như một thành phố Tây Âu thời cận đại, những khối nhà vuông vắn gạch đỏ đằm thắm, những ngôi nhà 1, 2 lầu với bậc tam cấp bên cạnh những khung cửa sổ sơn trắng êm đềm. Hoa mùa xuân nở khắp nơi, sắc hồng thắm trắng tinh khôi giữa xanh ngát lá. Boston còn là một thành phố trẻ bởi hàng trăm ngàn sinh viên của nhiều quốc gia đang học ở đây. Bước chân ra đường là cảm nhận được sức sống mới mỗi ngày từ những bước chân sinh viên nối nhau trên đường, trên xe bus, trong metro... Ngày tôi đến Boston đang chuẩn bị cho dịp lễ tốt nghiệp của các trường đại học nổi tiếng ở đây. Hàng chục ngàn phụ huynh sẽ đến đây tham dự buổi lễ long trọng này.

Ở nước Mỹ có thể nhìn thấy người xếp hàng khắp nơi: đi taxi, mua hàng, lên xe bus, làm thủ tục sân bay, đi ăn trưa ăn chiều ăn tối xếp hàng chờ có chỗ trống, mua cà phê và đồ ăn nhanh“to go,” kể cả đi vệ sinh nếu quá “bức xúc” cũng đừng mong chen ngang. Ai bảo chỉ có xã hội chủ nghĩa mới Xếp Hàng Cả Ngày? Qua nước Mỹ bạn phải làm quen và “chịu đựng” việc xếp hàng trật tự thôi, vì chỉ cần bạn chen ngang là lập tức có người nhắc nhở bạn ngay. Nếu bạn không biết đọc tiếng Anh thì đã có ký hiệu chỉ dẫn rõ ràng. Bạn không tuân thủ thì ý thức bạn quá kém, và như vậy bạn không xứng đáng nhận được ánh mắt tôn trọng của mọi người. Ai cũng có công việc cần, quỹ thời gian ai cũng như ai, xếp hàng là tôn trọng mình và tôn trọng người khác, đơn giản là như vậy.

Khi tôi đến nước Mỹ vào xuân. Phía Tây đã có những ngày nắng nóng. Mọi người trút bỏ quần áo mùa đông để khoác lên mình trang phục mùa hè, giản đơn, tiện dụng. Ngoài phố các cô gái khoe chân trần vai trần phơi nắng ấm. Dép kẹp, giày thể thao là hai loại phổ biến. Trang phục đơn giản có vẻ “bụi” và thực dụng. Trong các trường đại học cũng vậy, sinh viên ăn mặc nghiêm túc có, “bụi đời” cũng có luôn. Nhưng phong thái ai cũng tự tin, thoải mái. Giống như Sài Gòn, ít ai để ý đến quần áo của bạn nhưng ngày thường đi trên phố không khéo thì mớ quần áo giày dép đắt tiền sẽ làm cho bạn mất đi sự tự tin vì sự “chỉn chu” của mình.

Các thành phố Mỹ cũng gặp vấn nạn về nơi đậu xe, tuy không quá khó khăn nhưng vào giờ cao điểm hay ở những nơi công cộng, trung tâm mua sắm vào ngày cuối tuần thì tìm được một chỗ đậu xe thật sự là một kỳ công. Nhưng không một người bình thường nào đậu xe vào chỗ dành cho người khuyết tật, dù chỗ đó để trống rất lâu, dù phải đi vòng vèo mấy tầng hầm cũng chưa tìm được chỗ. Những cách hành xử theo quy tắc chung của xã hội, của cộng đồng như vậy được duy trì như là đạo đức, vì được củng cố bằng luật pháp, quy định và xử phạt nghiêm minh. Việc bị cảnh sát phạt cũng... bình thường, không phải bình thường vì vi phạm thường xuyên mà ai cũng hiểu mình đã phạm luật thì bị phạt là đương nhiên, mất tiền, mất thời gian đi nộp phạt... để lần sau nhớ đừng tái phạm. Không thấy ai tức tối hay ấm ức vì bị phạt (Ở mình, bị phạt nhiều khi ấm ức tức tối vì sĩ diện, vì mất tiền cho người phạt, chứ không phải vì bị oan). Lại nói, ngoài đường, nơi công cộng hầu như ít thấy bóng dáng cảnh sát, nhưng có việc gì bất thường xảy ra là thấy mấy ảnh xuất hiện liền, giải quyết một cách tự tin, nhanh chóng và chuyên nghiệp. Mỗi người là một cá nhân nhưng cũng là một phần hữu cơ của xã hội. Luật pháp và những quy tắc dành cho tất cả nhưng cũng vì một con người cụ thể. Do đó mọi người đều yên tâm và tin rằng, khi cần mình sẽ nhận được giúp đỡ tận tâm của người có chức trách và sự chia sẻ của cộng đồng.

Hai tháng đã qua từ ngày tôi đặt chân xuống phi trường LAX, nước Mỹ vốn rất xa lạ với tôi trở nên gần gũi hơn chỉ sau ba tuần vội vã lướt qua. Và cái gì còn lại trong tôi nhiều nhất? Không phải là những sôi động hiện đại làm choáng ngợp của một nước Mỹ giàu có mà là cuộc sống bình yên từ tất cả những điều bình thường và giản dị. Nhưng khi đi trên đường phố Boston nơi đã xảy ra vụ đánh bom khủng khiếp một tháng trước, tôi không thể không tự hỏi, tại sao nước Mỹ vẫn xảy ra những vụ xả súng đánh bom điên cuồng vào những người vô tội?Vì sao phim Mỹ hay miêu tả những tội ác khủng khiếp, thảm họa khôn lường? Vẫn biết ở các thành phố lớn đằng sau những tòa nhà chọc trời, đằng sau sang trọng xa hoa, đằng sau cuộc sống bình thản đang diễn ra trước mắt... luôn là những khu ổ chuột, xóm“nhà lá,” những đường phố tệ nạn và tội ác diễn ra hàng ngày. Sự phân hóa xã hội như một quy luật bù trừ, khoảng cách giàu nghèo ở nước Mỹ nằm ở hai cực cách xa nhau, chúng ta chỉ mới nhìn thấy một phần nhỏ của khoảng giữa. Còn có nhiều“cuộc sống” khác nữa của nước Mỹ mà người chỉ “đi qua”như tôi khó có thể biết hết.

Tôi không biết “khen-chê” nước Mỹ như nhiều người (lần đầu đi Mỹ về) đã viết, bởi vì ở đâu chẳng có điều tốt và cái xấu. Tất cả những gì làm tôi có cái nhìn mới hơn, khác hơn về nước Mỹ là từ những điều bình dị hàng ngày. Như những ngôi nhà có hàng rào thấp sơn trắng mà tôi đã nhìn thấy khắp nơi, như góc phố hiên nhà đầy hoa lá, như con đường chạy giữa hai hàng cây xanh phía trên là bầu trời xanh thắm, giữa ruộng nho bạt ngàn lấp lánh ánh mặt trời buổi bình minh hay giữa hoang mạc trong mặt trời đỏ ối buổi chiều tà... Cuộc sống mà tôi thấy ở nước Mỹ là gương mặt bình yên trong muôn mặt đời thường ở xứ sở mà nhiều người đã ước mơ một lần được đến, được sống, như ước mơ di trú đến chốn Thiên đường sau ngày giã từ cõi tạm.

Nhưng ngay cả Thiên đường cũng luôn có Ðịa ngục song hành; nếu không, mấy ai biết giá trị của hạnh phúc nơi Thiên đường?

Sài Gòn, hai tháng sau ngày đến nước Mỹ
(7 tháng 5 - 7 tháng 7, 2013)
(Nguồn: truc phan; phantr1234@yahoo. com)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Lần đầu 'nhà quê' Bolsa lên thủ đô Washington

Ngọc Lan/Người Việt

Thì cứ coi mình như kiểu “nhà quê lên tỉnh” vậy (mà giống y chang chứ còn gì).

Lần đầu “lên tỉnh” có nhiều thứ để mình tò mò, mình khám phá, mình ngạc nhiên, từ đường sá, hàng quán, lái xe, đến đi đứng, tác phong, cảnh trí...
Tuy nhiên, ở đây chỉ nói về cảm nhận lần đầu đặt chân đến khu Eden Center, nơi được xem là trung tâm người Việt ở Washington DC,
và lần đầu học đi metro, một phương tiện giao thông phổ biến của dân thủ đô.

Image
Tháp Bút Chì (Washington Monument) nhìn từ Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Eden Center giông giống khu chợ ABC?

Từ Bolsa đang nóng hơn 80 độ bay cái vèo đến phi trường DCA (Ronald Reagan National Airport) nhiệt độ tuột xuống hơn một nửa, còn đâu 38 độ. May là có xem thời tiết trước ngày lên đường nên kịp thủ theo cái áo lạnh dày cui cùng vài cái khăn choàng làm điệu.

Vừa lạnh vừa đói, vì trên cả 2 chuyến bay dài hơn 6 tiếng, cộng thêm 2 tiếng rưỡi ngồi chờ ở sân bay Dallas, mà chỉ uống có nước trà nóng (mà nước nóng đổ vào cái ly foam nó bốc lên cái mùi rất là khó chịu, không thể nào uống được quá nửa ly). Bạn ra đón, nhìn tôi bèo nhèo như con mèo, bạn xót chở thẳng đến khu Eden Center để tìm cái ăn.

Tôi nghe tiếng Eden lâu rồi (chắc cũng kiểu như đến Calif. thì nghe tiếng Phước Lộc Thọ vậy), đặc biệt là khi nơi đây xảy ra những vụ “lộn xộn”, cứ nghe phóng viên Hà Giang gọi điện thoại đến tìm những người ở Eden Center mà phỏng vấn.
Image
Khu Eden Center ở Falls Church, Virginia. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Ấn tượng đầu tiên với Eden Center là các hàng quán với cửa hiệu bằng tiếng Việt, đậm chất Việt, như Hủ Tiếu mì Lacay, Thanh Sơn tofu, tàu hủ nóng, xôi chè, bánh cuốn tráng hơi, nhà hàng Thanh Tòng, Phượng Hoàng, Hương Việt, Phở Xe Lửa, Phở Hải Dương, Chợ Eden, Sài Gòn Xưa,… Thoạt nhìn, tôi nhắm chừng Eden Center chắc lớn cỡ chừng khu chợ ABC. Tuy nhiên sự “nhắm chừng” này của tôi bị dân thủ đô “cự” quá trời. Thì ra nhìn bên ngoài thì có cảm giác như vậy, nhưng Eden Center khác khu ABC ở chỗ nó còn có những con hẻm nhỏ với nhiều tiệm tùng nằm sâu bên trong. Thành ra, tính về số tiệm thì nó “bề thế” hơn. Nói lại như vậy để khỏi mích lòng dân thủ đô, hehehe.

Khi tôi đến, nhiều tiệm đã đóng cửa, đèn tắt tối thui. Hỏi một chàng vừa tấp xe đậu kế bên, “Anh ơi, ăn phở ở đâu thì ngon? Nghe nói ở đây có quán phở của Toàn ‘Bò’ là quán nào vậy anh?” - “Phở ở đây ăn được thôi, muốn ăn ngon phải đến phở 75 hơi xa. Còn Toàn ‘Bò’ là ai thì tui không biết.”

Hỏi thêm một chị dễ thương đang vừa đi vừa kéo cao cổ áo cho bớt lạnh, “Chị ơi có biết quán phở Toàn ‘Bò’ la quán nào không chị?” - “Tôi không rành chỗ này nên không biết.” Chị cười trả lời.

Thôi, lúc đói thì cái gì cũng ngon, trâu bò gì cũng cháp, nhưng tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để phán “Hải Dương đâu phải quê hương của phở vậy chắc phở ở đó không ngon đâu, vô phở Xe Lửa đi.”

Phở Xe Lửa lúc 8 giờ tối vắng hoe, chỉ có một bác già đang ngồi coi Paris By Night từ trên cái computer. Đẩy 2 lần cửa vào trong, nhìn các bức họa, bức tranh treo đầy tường, chợt nhận ra “quán phở Toàn ‘Bò’ mà cụ Bùi Bảo Trúc khen nức nở chính là đây chứ còn đâu.”
Image
Quán Phở Xe Lửa khá nổi tiếng ở Eden Center, Falls Church, VA. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Nếu tính ba quán phở tôi ăn qua trong những ngày ở thủ đô, thì có thể nói phở Xe Lửa là ngon hơn hết. Tuy nhiên, phở DC hình như không ngon bằng phở Bolsa. Không hiểu tại sao thịt bò tái trong những tô phở ở DC cứ “sảm sảm” làm sao á, và cảm giác thịt cứ bị cắt vụn ra, chứ không phải miếng là những lát thịt bản lớn và thật mỏng như xứ Little Saigon.

Tươi tỉnh hẳn ra sau khi “đá” hết tô phở, tôi bắt đầu lò dò ngó ngó nơi này nơi kia ở Eden. Vào một tiệm bán chè, trái cây gần bên Phở Xe Lửa, thấy có những cái bánh bao màu xanh lá dứa nhạt, trông thật ngộ. Có cả những chiếc bánh lá dừa ốm dài. Những khay nhỏ đựng thơm xắt lát, ổi xẻ, cóc gọt vỏ, bên cạnh là những khay lớn đựng xoài xanh, cóc xanh, ổi nguyên trái, xoài chính... trông vừa dễ thương vừa có cái gì đó “tội tội” khi nhớ đến những hàng trái cây đầy ắp quanh xứ Bolsa.

Lại thử đi vào tiệm Thanh Sơn Tofu. Nếu ở Bolsa, bước vào tiệm chè Hiển Khánh, Bánh mì chè Cali, Thạch chè Mỹ Linh,… mình thấy người bán hàng toàn là các chị Việt Nam, thì việc tất cả các nàng đứng múc chè xôi, tàu hủ, bánh trái trong Thanh Sơn Tofu toàn là người “Mễ” - nhưng biết nói tên các món chè bằng tiếng Việt - khiến tôi thêm một lần nữa nhận ra có điều gì đó khá thú vị. Trong tiệm chỉ có anh chàng tính tiền là Việt Nam. Anh này không gọi họ là “Mễ” như kiểu người Việt ở quận Cam gọi, mà gọi là người “Sì”. Có người giải thích gọi “Mễ” là do xuất phát từ chữ “Mễ Tây Cơ,” còn gọi “Sì” chắc từ chữ “Sì pa nít” mà ra. Đằng nào thì cũng là người Hispanic hết.

Tôi mua hộp xôi khúc, bạn tôi mua hộp tàu hủ nóng ăn với nước đường gừng. Tôi không ăn tàu hủ nên không biết ngon hay dở, nhưng xôi khúc thì ngon, ăn hai ngày mới hết hộp xôi (vì nhiều quá!)

Những giờ phút đầu tiên tôi ở thủ đô là như thế. Trở về khách sạn nghỉ ngơi, bắt đầu chuẩn bị giò cẳng cho ngày hôm sau lội bộ.

À, thêm một điều nữa là nếu bắt tôi lái xe ở DC hay các vùng lân cận đó chắc tôi khóc quá! Bởi vì đường vừa nhỏ mà cứ như mắc cửi vậy, không biết đâu là đâu hết, mà đi lên đây mới thấy còi xe người ta bấm inh ỏi hoài luôn, chắc là nhiều du khách quờ quạng với đường sá nơi đây. Một chị bạn cư dân Virginia bảo chị từng bị lạc 4 tiếng ở DC chỉ vì “lỡ 'huốc' qua một chỗ 'exit', rồi thì toàn đường một chiều, không biết làm sao để quay lại chỗ cũ, mà điện thoại thì không có để hỏi.”

Thôi, cho em xin, thà em đi bộ rồi đi metro, chứ không lái xe đâu!
Image
Một góc nghĩa trang quốc gia Arlington. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Học đi metro


Ngày hôm sau, bạn cho tôi đi “shuttle” từ khách sạn ra nhà ga Pentagon để từ đây khám phá những nơi từng nghe tên mà chưa biết mặt.

Tôi phải bắt đầu 'hành trình vào DC” bằng việc học mua vé metro và học các khái niệm về Blue line, Yellow line, Green line, Red line hoặc Orange Line.

Đứng nhìn các máy bán vé, ngó một bà mua vé phía trước xong thì tôi thì lên tiếng, “Bà chỉ tôi cách mua vé được không?” - “Được chứ.” Người phụ nữ da trắng sốt sắng trả lời. Bạn dặn mua vé đi cả ngày cho tiện, giá $14. Người phụ nữ miệng thì hỏi tôi muốn mua vé gì, trả bằng gì, trong khi tay thì bấm vào các nút liên tục để chỉ dẫn tôi, tôi dõi mắt nhìn theo mắc mỏi luôn. Đến lúc đút thẻ vào cà thì vé được in ra. Xong. Bà chúc, “Đi chơi vui vẻ!” - “Cám ơn bà.”

Cầm tấm vé, lân la hỏi tiếp, “Muốn đi đến Arlington Cemetery thì đi làm sao?” - “Đi vào lối này, rồi đi Blue line, 2 Stops thì đến.”

Rồi tôi bắt chước người ta đi đến những “check” vé tự động, thấy cái nào có mũi tên màu xanh lá cây thì biết là nó “works”, đút cái vé metro vô cho nó chạy cái rẹt thì thanh chặn mới hé cho mình bước qua. Với tay cầm lại cái vé để còn dùng ở những trạm kế tiếp.

Nhưng qua cửa rồi thì lại có 2, 3 hướng nữa. Ai cũng đi thoăn thoắt, lẹ ơi là lẹ, chân tôi thì ngắn nên phải chạy theo hỏi hai nàng da màu xinh tươi đang đi cùng nhau, “Đi đến Arlington Cemetery thì đi làm sao ạ?” - “Đi hướng này.” Tôi bước lên chiếc thang cuốn cùng hai nàng. Bước ra khỏi thang cuốn là thấy lố lố người đứng sẵn ở đó. Rất giống trong những phim mình đã xem, như “The Ghost” đó. Một trong hai nàng da màu nhìn thấy tôi ngáo quá nên nàng kéo tôi đến cái bảng và chỉ “Mình đang ở Pentagon City, trạm kế sẽ là Pentagon, và kế nữa là Arlington Cemetery. Cô xuống ở đó.”

Đến nơi xuống, trong lúc người người hối hả đi như chạy, thì tôi cứ đứng như tượng để cho thang cuốn từ từ kéo lên, giống như từ lòng đất bước lên thiên đường nắng chói, hehehe

Sau khi đi hơi mỏi mỏi trong khu Nghĩa trang quốc gia Arlington, tôi trở ra và hỏi đường đi đến đền tưởng niệm Tổng Thống Lincoln. “Nếu đi bộ thì khoảng 7 miles, còn đi metro thì từ đây đi Blue line, đến trạm thứ hai, Foggy Bottom, thì đến.”
Image
Học cách nhìn trạm đi metro. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Nhắm không đủ sức lội bộ 7 miles, tôi chọn đi metro tiếp, cũng ngay chân mình.

Lần này cảm thấy mình ngon lành hơn. Không cần hỏi gì thêm. Biết đứng nhìn lên bảng báo còn 2 phút nữa thì cái metro chớp đèn chữ BLUE sẽ đến. Nhảy lên cái độp.

Ủa, mà sao đến trạm thứ hai mà không nghe họ báo “Foggy Bottom nhỉ? Ủa mà sao đây lại là trạm Pentagon City?” Lúc nhận ra điều đó thì cái metro đã vèo vèo chạy tiếp. Hỏi một nàng ra dáng sinh viên, “Bao lâu nữa đến Foggy Bottom ạ?” Cô nàng gỡ headphone ra nghe lại và bảo “Nó nằm ngược về hướng kia!”

Má ơi, thì ra là 2 chuyến metro chạy ngược chiều nhau, thay vì phải đi chuyến kia thì mình lại ba chớp ba nháng chọn chuyến ngược lại. Thế là trạm kế tiếp phải nhanh chân nhảy xuống. Và cũng bắt chước người ta xoắn đít chạy lên cầu thang để vòng qua chiếc metro chiều ngược bên kia. Thêm một bài học.

Kỳ này cẩn thận hơn, tức là cũng mon men đến đứng nhìn cái cột chỉ trạm, chỉ hướng. Vậy là phải đến cái Stop thứ 5 thì mới tới Foggy Bottom.

Bước ra khỏi trạm Foggy Bottom, leo lên cái thang cuốn, tôi lại học được thêm một bài nữa: nên đứng nép sát vào một bên để cho những người trễ giờ hối hả chạy lên, chứ ai như mình, đi chơi mà, cứ đủng đỉnh mà đứng ngắm… mông người phía trên, vì không còn cách nào khác, nếu mình cứ ngước nhìn lên trên!

Ra đến đường ngoài, lại hỏi tiếp hướng nào đến đài tưởng niệm tổng thống Abraham Lincoln. “Lincoln Memorial cách đây 5, 6 blocks đường,” người ta chỉ. Vậy là tiếp tục lội bộ.

Đến lúc muốn băng qua đường nhưng kẹt đèn đỏ, đang đứng chờ đèn xanh để đi thì, bỗng nhiên, má ơi, đèn đỏ thì mâc đèn đỏ, không có xe thì bà con vẫn xuống đường đi ào ào! Ui trời. Đến cái đèn đỏ thứ hai, tôi cũng chết nhát đứng chờ. Và, bà con lại tỉnh rụi bước hiên ngang. Tôi chần chừ, tôi ngần ngừ, rồi chân tôi cũng dợm bước theo. Hehehe, đến lần thứ ba thì tôi cũng thành dân thủ đô “giang hồ” luôn. Người ta ùa đi, là tôi cũng ùa theo, đứng lại một mình chết sao! Rồi sao đó, không có bà con nào đi cùng nhưng nhắm nhắm không xe thì tôi chạy ào qua. Ra là học cái “tầm bậy” thì học rất nhanh!

Nhưng mà, càng gần đến nơi trung tâm như White House, Tòa Nhà Quốc Hội, Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln... thì người ta đi theo đúng đèn giao thông, chứ không có “bựa” nữa, chắc là biết có nhiều cảnh sát quanh đây.

Vài điều “lạ lạ” của lần đầu đến nơi được xem là đầu não chính trị và quân sự của Hoa Kỳ là như thế!
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Image
Paris by Night 109 "Xô" Diễn đầy màu sắc...

July 4th năm nay của tôi đặc biệt hơn những năm trước rất nhiều, vì năm nay tôi được đi xem chương trình thu hình trực tiếp của Thúy Nga Paris by Night 109 (chỉ trực tiếp thu hình, còn ca sĩ chỉ nhép miệng theo nhạc cho vui thôi).

Tôi vui lắm khi tưởng tượng ra mình sẽ được tận mắt chứng kiến một sân khấu lộng lẫy, hoành tráng trong 1 rạp hát sang trọng mà trung tâm đã phải chi trả rất nhiều tiền để thuê mướn như bác Ngạn vẫn thường nói. Nhưng tôi đã hụt hẫng hoàn toàn vì sự thật không giống trong phim ảnh, sân khấu nhỏ bé, chật hẹp, khán phòng thì rất là bình dân, vậy mới biết kỹ thuật của mấy anh Camerament cao siêu đến mức độ nào.

Giờ mở màn của chương trình trễ hơn gần 1 tiếng đồng hồ so với quảng cáo trên poster, bù lại trung tâm có cho 2 con rối ra làm trò để câu kéo thời gian, nếu không thì khán giả bỏ về hết, trung tâm phải đóng cửa thì sao?!?

Tiết mục mở màn là 1 bài hát với nhịp điệu sôi động được kết hợp với 1 bài mang âm hưởng dân ca tao thành 1 liên khúc không giống ai, xem tiết mục này giống như chúng ta đang ăn Mì Ý mà chan mắm tôm vậy đó, thật bái phục ý tưởng của nhà sản xuất.

Ca khúc trữ tình Hoa Nở Về Đêm của Mạnh Phát do Hương Lan và Giang Tử trình bày cũng chỉ coi là tàm tạm. Hương Lan đã cố tình luyến láy, uốn éo giọng hát của mình khiến cho bài hát mất đi cái chân phương, giản dị của nội dung. Riêng về ca sĩ Giang Tử, tôi cũng chúc mừng ông đến cuối đời lại được gặp may. Với giọng hát thường thường bậc trung của ông nếu "tứ trụ" vẫn còn (tứ trụ: Duy Khánh * Nhật Trường * Hùng Cường (đều qua đời) * ngoại trừ ca sĩ Chế Linh vẫn còn nhưng ít khi xuất hiện) thì ông đã không được ưu ái như ngày hôm nay. Có thể coi đôi song ca này là bản sao không hoàn chỉnh của Duy Khánh và Hoàng Oanh.

Cố ca nhạc sĩ Duy Khánh lần này đã có đồng minh là cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ khi cả hai ông đều phải khóc hận cho tác phẩm của mình khi "được" đôi song ca Ngọc Hạ và Quang Lê trình diễn. Cặp đôi này đã phá hỏng ca khúc Ai Ra Xứ Huế của cố ca nhạc sĩ Duy Khánh lúc trước thế nào thì lần này ca khúc Duyên Quê của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng bị họ bôi nhọ y như vậy, hai tiếng hát không thể hòa hợp nhưng không hiểu tại sao họ vẫn được dàn dựng để hát chung. Chỉ cần nghe họ cất lên câu hát đầu tiên là tôi đã than thầm, thương cho tác giả đã ngủ yên mà còn bị tra tấn...

Dương Triệu Vũ và Hương Giang trong Em Lụa Là của Lưu Thiên Hương thật mềm mại, nhẹ nhàng và uyển chuyển, chỉ có điều nếu Dương Triệu Vũ cũng khoác lên mình bộ áo dài trắng như Hương Giang thì sẽ phù hợp hơn với phong cách trình diễn đậm chất nữ tính của "anh"

Liên khúc Vũ Thành An do Quang Dũng và Don Hồ sẽ hay hơn và hấp dẫn hơn nếu bên cạnh Quang Dũng là 1 nữ ca sĩ (có thể là Thanh Hà hoặc Ngọc Liên) chứ không phải là Don Hồ màu sắc diêm dúa. Có lẽ do Quang Dũng quá nam tính nên Don Hồ có phần "chao đảo" nên mới có cách trình diễn "lả lơi và nhí nhảnh" như vậy.

Mai Thiên Vân và Trường Vũ trong Anh Hãy Về Đi không có gì để bàn cãi nhiều vì đây vốn là giòng nhạc sở trường của họ, vẫn ngọt ngào, lắng đọng, không nặng phần trình diễn nên tiết mục tuy giản dị nhưng lại hấp dẫn người xem.

Một Thoáng Tây Hồ và Chiều Phủ Tây Hồ của Ngọc Anh và Thu Phương cũng được coi là hay vì đây là hai giọng hát rất đẹp, rất bài bản, kỹ thuật vững vàng. Tuy nhiên, nếu hai chị tiết chế cách diễn của mình lại một chút thì ca khúc sẽ sâu lắng, mênh mang hơn.

Hạ Vi và Mạnh Quỳnh với liên khúc Trót Dại và Tình Chỉ Đẹp đã làm khán giả thất vọng không ít. Tiếng hát của Mạnh Quỳnh xuống dốc nhanh quá, không còn ngọt ngào như ngày nào mà đầy mệt mỏi, chán chường. Hạ Vi thì chưa bao giờ hát hay nên tôi không nhận xét về tiếng hát của cô mà chỉ góp ý với cô một chút rằng cô cũng thuộc vào hàng "cứng cựa" rồi, đừng nũng nịu ngây thơ nữa, nhìn trái mắt lắm. Tóm lại, khán giả đã "trót dại" ngồi xem "tình không đẹp" của 2 anh chị.

Mặc dù chỉ xuất hiện rất ngắn nhưng Ngọc Anh đã hoàn toàn áp đảo đàn chị Ý Lan trong liên khúc Em Ra Đi Mùa Thu và Lá Thu Vàng. Tiếng hát của Ngọc Anh là vấn đề không cần phải bàn vì đã quá hay, quá chuẩn cộng thêm cách trình diễn mực thước (rất khác bài hát chung với Thu Phương) nên sự múa may, ngả ngớn của Ý Lan càng trở nên lố bịch, kịch cỡm. Cô không biết rằng với cái tuổi xế chiều của cô, còn được hát là may mắn lắm rồi thì cô nên chăm chút cho tiếng hát của mình sẽ tốt hơn là nặng phần trình diễn. Giới trẻ người ta múa thì mềm mại như tơ liễu buông mành, còn nhìn cô múa giống như cây cổ thụ bị bật gốc. Lần sau rút kinh nghiệm nha cô.

Nhạc kịch Tên Sở Khanh có lẽ là tiết mục nhàm chán nhất. Để trình diễn được thể loại này, đòi hỏi người ca sĩ phải có được căn cơ vững vàng trong nhạc lý và diễn xuất. Điều này chỉ có ở Bằng Kiều, nhưng 1 mình anh không thì không tài nào vực được hai cô bạn diễn là Minh Tuyết và Kỳ Phương Uyên mà nhất là Minh Tuyết, cô đã không thể hấp dẫn được người nghe bằng giọng ca hoặc cách trình diễn thì ít ra cô cũng phải để cho khán giả mãn nhãn phần nhìn. Còn đây, nhìn cô giống như những cô gái lầu xanh lúc không trang điểm, giống 1 người dị hình dị tướng, người ta chân dài tới nách thì mới nên phô diễn ngoại hình, còn cô: nách gần tới chân mà cũng khoe chân khoe ngực thì thật là kinh hãi quá. Cái gì cũng vậy, tốt khoe xấu che, hay là quá tự tin vào khuôn miệng hô của mình mà cứ chu môi nũng nịu. Nhìn miệng cô lúc hát tôi nghĩ cô nên chọn việc "thổi kèn" thì sẽ thích hợp hơn.

Hai Người Bạn với Diễm Sương cũng không có gì để nói vì với lợi thế ngoại hình tươi trẻ, bắt mắt thì cho dù giọng ca có chưa được hay lắm cũng vẫn có thể bù đắp được đối với nhưng khán giả đa phần là dễ dãi như hiện nay. Lưu Bích với Tình Yêu Đánh Rơi thì hoàn toàn khác, cô giống một lực sĩ đô vật hay chí ít cũng là một cầu thủ đá banh hơn là một ca sĩ. Cô nhún nhảy giống như con lật đật mà chúng ta thường hay chơi khi còn bé.

Liên khúc Phạm Duy sẽ hay hơn nếu không có Thế Sơn. Thái Châu và cố ca sĩ Duy Quang dù sao cũng là những ca sĩ ngang vai ngang vế trong giọng ca, kỹ thuật xử lý bài nhạc. Thêm Thế Sơn vào khiến cho tổng thể bài hát giống như bức tranh bị mèo quào, mất giá trị.

Bướm Mơ với Lam Anh và Quỳnh Vi cũng vậy. Thứ nhất, tôi tiếc cho Lam Anh vì cô đã không được hát đúng dòng nhạc sở trường của mình. Thứ nhì, Quỳnh Vi không hiểu sao trong chương trình này cô được ưu ái một cách đặc biệt, được hát opening, được trình diễn lấn sân đồng nghiệp nhưng với giọng hát chua chát, chới với ở những note cao thì cô cũng chẳng làm được gì cho dù có được hậu thuẫn như thế nào đi nữa.

Hài kịch Tấm Cám Thời Hiện Đại ngoài Thuý Nga, Việt Hương, Chí Tài đem được tiếng cười đến khán giả (mặc dù tiếng cười đó có đôi chút miễn cưỡng hoặc đa phần đến từ cấu tạo ngoại hình đặc sắc của Thuý Nga và Việt Hương) thì Hoài Tâm và Hương Thủy phải nói là vô duyên quá. Không dám đặt câu hỏi về vấn đề giới tính của Hoài Tâm nhưng với cách diễn nửa nạc nửa mỡ, ông không ra ông, bà chẳng ra bà của anh (gọi tạm) thì sự xuất hiện của anh trên sân khấu chỉ góp thêm phần làm sỉ nhục khán giả. Hương Thủy lúc nào cũng ngây ngây ngô ngô giống như mấy em bé thiếu iod, chậm phát triển khiến khán giả thật nhàm chán.

Phần trình diễn thời trang áo dài 3 miền với hầu hết các nữ ca sĩ cũng không có gì gọi là mới mẻ. Nhưng thôi, cũng coi đây là dịp để các cô được thỏa mình khoe thân, uốn lượn...

Trần Thái Hòa và Thanh Hà đã không phụ lòng khán giả trong phần trình diễn của họ, đơn giản nhưng sang trọng, tiếng hát của cả hai hòa quyện vào nhau giúp nhau thăng hoa, đem lại cảm xúc thoải mái dễ chịu cho người nghe, một cảm giác hiếm có kể từ đầu chương trình.

Em Phải Tin Vào Điều Đó với Như Loan và Lương Tùng Quang khiến chúng ta phải tin là họ đã hết thời để làm ca sĩ rồi. Giọng ca yếu ớt, không ấn tượng của ngày xưa nhưng được bù đắp bằng ngoại hình sáng sân khấu nên có thể tạm thời chấp nhận được nhưng ngày nay thì tất cả đã chỉ còn là dĩ vãng nhạt nhòa.

Tuấn Vũ nghèo kiết xác, Khánh Lâm nghèo mạt hạng bên Duy Trường tương đối khá giả (nhờ đút $ và tự làm mv với cd sau đó ưu tiên PBN phát hành không đòi huê hồng) trong liên khúc Nghèo. Không lẽ Tuấn Vũ muốn ăn theo Giang Tử, cứ nghĩ đem thân thể ốm o gầy mòn hoặc tuổi đời chồng chất để ăn mày lòng thương hại của khán giả? Đây là lần đầu tiên tôi nghe Khánh Lâm hát mà tôi cứ ngỡ rằng trung tâm sử dụng tiếng rao bán kẹo kéo để hòa âm cho bài hát. Duy Trường không thật đặc sắc nhưng đứng cạnh hai chàng nghèo kia thì anh thật sự nổi trội.

Tiết mục đinh của chương trình này phải kể đến liên khúc Lam Phương do Elvis Phương và Họa Mi thể hiện. Dù thời gian đã phần nào bào mòn đi giọng ca của họ nhưng họ vẫn xuất thần, lột tả được trọn vẹn tâm tư tình cảm của tác giả gửi gấm qua từng lời ca, nốt nhạc. Toàn thể khán phòng chợt như rúng động khi nghe Elvis Phương cất lên "anh đã lầm đưa em sang đây...." rồi tất cả lại bàng hoàng, xao xuyến khi Hoạ Mi chua xót "em đã lầm theo anh về đây....."

Những giọt nước mắt nghẹn ngào, lăn dài trên khoé mắt đã in dấu thời gian như cuốn trôi tâm hồn về vùng kỷ niệm xa xưa, nơi đó có người con gái đành dứt áo chia tay với người chồng để đi tìm 1 tương lai sáng lạn cho cả hai người. Trong hoài niệm hư vô, cô vẫn thầm hỏi "Em đi rồi, đường xưa có nắng không anh?......" Để rồi tận sâu thẳm trong con tim, cô cay đắng "em đâu ngờ có ngày đàn đứt dây tơ, một phút tim em ơ hờ, trọn kiếp em vương sầu nhớ...." Bao nhiêu cảm xúc chợt vỡ oà trong ngày gặp lại mà tưởng chừng Như Giấc Chiêm Bao, cả hai đã chấp nhận số phận trong nghẹn ngào, tiếc nuối "bây giờ mình đã xa nhau, thương anh nước mắt tuôn tràn...." Elvis Phương và Họa Mi đã quá tuyệt vời trong việc dẫn dắt khán giả đi theo câu chuyện tình thẫm đầy nước mắt, chỉ bằng lời ca của mình mà họ đã khắc hoạ cho khán giả thấy được tất cả những cung bậc tình cảm, những suy tư, trăn trở chất chứa tận sâu nơi tâm hồn của những người đã yêu, đang yêu và sẽ yêu. Làn hơi chắc khoẻ, vang vọng như tiếng chuông ngân của Elvis Phương kết hợp với giọng ca mỏng như tơ, mênh mang như khói của Hoạ Mi trở thành tuyệt phối.

Khánh Hà và Tuấn Ngọc luôn xứng đáng là những giọng ca hàng đầu của âm nhạc Việt Nam. Bài hát cho dù cũ hay mới, hoặc họ đã hát bao nhiêu lần rồi thì vẫn thấy hay, vẫn thấy cuốn hút mà không hề nhàm chán.

Người ca sĩ có thể coi là bị chèn ép nhất trong chương trình này phải kể đến Tóc Tiên. Ngay từ bài mở màn, không biết cô đã mắc phải sai phạm gì đối với trung tâm khiến họ đối xử với cô như vậy. Cả hai bài hát trong chương trình đều không thuộc sở trường của cô, với làn hơi ngắn mà họ lại để cho cô hát những bài hát mang âm hưởng dân ca và nhẹ nhàng truyền cảm thì quả là quá ác đối với cô. Trong những show diễn trước đây, cô thường được ưu ái giao cho hát những bài rất phù hợp với khả năng không mấy gì nổi trội của cô, nên ít nhiều gì thì những màn khoe thân của cô trong những bước nhảy sôi động cũng phần nào thỏa mãn được những khán giả "xem" nhạc. Nay những vũ điệu đó đã bị lấy mất thì cô còn lại gì, đành chơi vơi lạc lõng, gượng gạo cho qua phần trình diễn của mình. Hy vọng cô sớm tìm lại được nguồn tài trợ để lại có thể tiếp tục đóng góp 1 phần nào sức mọn, chia bớt âu lo cho trung tâm để lấy lại được vị trí con cưng như hôm nào.

Như Quỳnh quả không hổ danh là một kẻ cắp khi cô liên tiếp ăn cắp ý tưởng của người khác. Bằng chứng là cách đây ít lâu, cô đã bê nguyên xi bộ trang phục của nữ diễn viên Trung Quốc Củng Lợi, kể cả trang điểm và kiểu tóc lên sân khấu trong nhạc phẩm Tan Nửa Vầng Trăng (nếu tôi nhớ không lầm) mà theo cô quảng cáo là phần lời nhạc do chính cô viết. Lần này cô lại tiếp tục copy y chang chiếc váy mang ý tưởng và họa tiết từ những tác phẩm gốm sứ do một minh tinh Trung Quốc đã mặc để trình diễn Chút Kỷ Niệm Buồn. Nguyên nhân nào khiến cô ưu ái Trung Quốc đến như vậy?. Hay là cô muốn đem "vốn" tự có của mình qua đó để buôn bán tiếp?. Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại ai mà chẳng biết đến tên cô với "trang tình sử lâm ly bi đát" mà cô đã từng có với những kẻ có danh có tiếng có chức có phận ở đây. Giờ nhan sắc đã tàn phai, nội thất cũng đã xuống cấp nên đành chuyển hướng đầu tư sang Trung Quốc để họa may kiếm được chốn nương nhờ cho ấm tấm thân.

Thiên Tôn và Đình Bảo bằng giọng hát chắc, khoẻ cộng thêm lối trình diễn sâu lắng, đậm chất nam nhi sắp đưa tiễn Bằng Kiều ngày càng nữ tính và chỉ mải mê trong việc phô trương chất giọng nam cao của mình trong ca khúc Rồi Mai Tôi Đưa Em vào dĩ vãng.

Hồ Lệ Thu có lẽ nên trở về quê buôn "bưởi" thì sẽ hợp với cô hơn. Nhìn cô trình diễn sân khấu giống như mấy con cua con còng chạy loạn xạ trên bãi biển sau từng đợt sóng. Đường nét nguệch ngoạc, quần áo tả tơi giống như cô vừa xong 1 cuộc chiến ái ân ác liệt, thật là bệ rạc quá!!!! Ca sĩ giống như cô sao mà rẻ tiền quá, tội nghiệp!!!!

Trịnh Lam cũng vẫn vậy, nhợt nhạt không chút khởi sắc. Cách trình diễn cường điệu giống như mấy đệ tử của nàng tiên nâu đang trong cơn lạc thú. Có những nhạc phẩm được giới thiệu do chính anh sáng tác nhưng thật hư ra sao thì chỉ có người trong cuộc mới biết. Giống như trường hợp của anh chàng ca sĩ nọ biết ca vài câu vọng cổ đã tự nhận những bài tân cổ giao duyên mà anh trình diễn sau này do chính anh là tác giả, nhưng sự thật là anh đã mua lại bản quyền sáng tác của một tác giả bên Việt Nam. Nhân tài của trung tâm (Hải Ngoại) là như vậy đó.

Có thể gọi Nguyễn Hưng là kẻ chung tình nhất vì suốt bao nhiêu năm qua anh chỉ có 1 kiểu nhảy duy nhất. 1 lần thì thấy hay, 2 lần thì bình thường, 3 lần thì nhàm chán còn nhiều lần thì rẻ tiền. Vậy mà cũng đã có lần anh được ngồi vào vị trí giám khảo cho cuộc thi nhảy đầm của trung tâm (bắt chước theo show truyền hình ăn khách của Mỹ nhưng tiền bản quyền thì không biết có trả hay không) anh chê bai người này, nhận xét người nọ nhưng không biết trình độ chuyên môn của anh đã đạt đến đẳng cấp nào. Có lẽ anh được ưu tiên như vậy vì cả trung tâm chỉ còn có anh có khả năng nhún nhảy.... được như vậy, còn các nam ca sĩ còn lại đều đang trên con đường nữ tính hóa nên chỉ thích nằm yên mà hưởng thụ....

Lão ngoan đồng Linda Trang Đài vẫn cố gắng quay cuồng trong những bài nhạc có tiết tấu nhanh (không thể gọi là sôi động vì đây là những bài hát xưa như trái đất của ngoại quốc). Trang phục cô mặc trên người, lông tóc giả cô gắn trên đầu sẽ rất đẹp sẽ rất phù hợp nếu cô có khả năng quay ngược thời gian trở về khoảng 25 năm về trước. Còn chồng cô, lúc nào cũng ngây ngây ngô ngô, cười cười bẻ sừng làm nghé, trông sao thiệt là lố bịch.

Có 1 ca sĩ đặc biệt mà tôi "trân trọng" đưa xuống cuối bài, không đi theo thứ tự của chương trình là ca sĩ Anh Tú trong bài Thật Hư. Vẫn biết rằng trung tâm muốn thử đưa giòng nhạc mới đến với khán giả nhưng thật sự thì giòng nhạc này kinh dị, nghe chõi tai quá. Ca sĩ thể hiện thì ngọng ngịu như đứa trẻ lên 3 bi bô tập nói trong tiếng nhạc xập xình, Tây chẳng ra Tây, Tàu chẳng ra Tàu. Ngoại hình anh cũng sáng sân khấu nhưng với khả năng hát như vậy thì anh chưa thể nào trở thành ca sĩ chuyên nghiệp được. Nếu khả năng kinh tế của anh dồi dào, có thể mua được cái hư danh ca sĩ thì tôi cũng không có gì để nói. Còn nếu anh phải đem thân xác ra để đánh đổi để kiếm lấy đồng tiền mà mua thì thật là đau lòng, tội nghiệp cho những bậc đã cho anh có được hình hài, vóc dáng như ngày nay.

Thu Phương cũng là người gây cho tôi rất nhiều bất ngờ trong chương trình này. Cô vốn không phải là ca sĩ được đều đặn xuất hiện trong mỗi show diễn của trung tâm, nhưng lần này cô được rất nhiều biệt đãi. Mỗi tiết mục có cô trình diễn thì tất cả các góc máy, ánh đèn dường như đều tập trung vào cô mà bỏ quên đi những người bạn đồng diễn. Nhất là trong tiết mục trình diễn thời trang áo dài (liên khúc 3 miền). Từ quần áo đến trang điểm, mỗi bước đi, dáng đứng cô đều lấn áp các nữ ca sĩ còn lại. Trông cô rất tự tin, đắc thắng, dường như các ca sĩ kia chỉ là phông nền cho phần biểu diễn của cô mà thôi. Không biết cô đã trao ra điều kiện gì để có được sự đãi ngộ đó? Sự ưu ái này thường được thấy ở cô ca sĩ "đít vịt" Minh Tuyết nhưng lần này hoàn toàn dành tặng cho cô. Hay là cô đã âm thầm bái Như Quỳnh làm thầy để được truyền dạy kỹ nghệ dùng chính "bản thân" để biến những điều không thể trở thành có thể... Có thể lắm chứ, chuyện đổi đò sang sông với ai còn có thể xa lạ nhưng đối với cô là chuyện đã từng. Những "SCANDAL" của cô đã qua đi nhưng chưa hẳn đã xóa nhòa, giang sơn dễ đổi bản tánh khó dời hay ngựa quen đường cũ, chẳng chóng thì chày cô cũng sẽ trở về với "bản năng" thật của mình mà thôi. Tiếc cho một giọng hát đẹp lại tồn tại trong một tâm hồn không đẹp.

Điều cuối cùng tôi muốn góp ý với trung tâm là đừng lợi dụng ca sĩ của mình than thở trên trang cá nhân về việc trung tâm có thể đóng cửa vì không đủ kinh phí. Tôi có thể làm một bài toán vô cùng đơn giản thế này: 1 chương trình được chia thành 2 show diễn, mỗi show có 7000 khán giả (theo quảng cáo là rạp 7000 chỗ và vé đã sold out) tổng cộng là 14000 khán giả. Tính rẻ mỗi vé là 100$ thì con số cũng đã lên tới 1400000, chưa tính đến việc nếu chương trình được tổ chức tại các sòng bài thì chi phí sẽ được giảm đi rất nhiều do được sòng bài tài trợ. Rồi các mạnh thường quân hám danh bỏ ra vài ngàn để mua lấy những chiếc ghế hàng đầu là chuyện bình thường. Ca sĩ trình diễn có mấy người được trả cat-xê hay đa phần ca sĩ phải trả cat-xê ngược lại cho trung tâm để có được có cơ hội biểu diễn.

Cộng thêm tiền ra DVD và tiền quảng cáo thì số tiền lợi nhuận mà trung tâm thu về sau mỗi chương trình quả là không ít. Không lẽ bác Ngạn là một nhà văn nên trình độ toán học là con số không hay do túi tham của những người điều hành trung tâm là không đáy hoặc họ quá coi thường trình độ của khán giả nên không tính ra bài toán đó mà suốt ngày ra rả kêu gọi khán giả mua băng đĩa thật để ủng hộ trung tâm. Dù là băng đĩa thật hay sao chép thì khán giả cũng đã dùng tiền thật để mua về, nhưng những sản phẩm của trung tâm đưa ra đã thật sự có chất lượng hay chưa?. Có xứng đáng với đồng tiền mà khán giả đã bỏ ra để nuôi họ hay không?. Khi nào mình đáp ứng đủ những yêu cầu cần và có của một chương trình văn nghệ thật sự thì lúc đó hãy đòi hỏi khán giả hết lòng ủng hộ...

Còn nếu cứ tiếp tục TREO ĐẦU DÊ BÁN THỊT CHÓ như vậy thì khán giả sẽ dùng TIỀN ÂM PHỦ để ủng hộ thì chuyện đóng cửa của trung tâm chắc chắn sẽ thành hiện thực...

Theo PT & PT
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Image

Chống tham nhũng, nói ra chỉ để mà nói
Lê Diễn Đức

Hội nghị lần thứ 6, quốc hội khoá 13 của CHXHCN Việt Nam lại có vẻ sôi động và nóng với chủ đề chống tham nhũng. Nhiều giải pháp được đưa ra như tập trung chiến dịch “bắt hổ”, đánh thẳng vào “tử huyệt” của tham nhũng, trao “bảo kiếm” cho cơ quan chuyên trách...

Thế nhưng chuyện bàn để mà bàn, nói để mà nói, hệ thống chính trị Việt Nam đã bất khả kháng với căn bệnh ung thư và nan giải này.

Bà Lê Thị Nga, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thừa nhận "tham nhũng là vấn nạn, là giặc nội xâm, là đe dọa đến sự tồn vong của chế độ" nhưng chống nó thì "quá nhiều kỳ vọng không thực tế".

"Chúng ta dường như quá kỳ vọng vào tự chống, tự phát hiện tự thân của mỗi cơ quan, tổ chức và còn nặng về hô hào. Các phong trào kiểu như “nói không với phong bì”, “nói không với tiêu cực” là ví dụ rất điển hình. Rồi tư duy theo cách đặt kỳ vọng vào thanh tra phát hiện tham nhũng. Thanh tra là tai mắt của thủ trưởng thì chỉ nên đặt vào nó trách nhiệm như một công cụ phục vụ quản lý nhà nước thôi. Thanh tra để thủ trưởng chấn chỉnh kỷ luật nội bộ chứ đừng hy vọng ông thủ trưởng đẩy mạnh thanh tra tìm ra khuyết điểm trong quản lý của mình để rồi công bố công khai ra ngoài. Và liệu thủ trưởng có quyết liệt chống tham nhũng nội bộ không, khi mà treo trên đó là trách nhiệm người đứng đầu?".

"Tư pháp với hành chính lại gắn với nhau, lệ thuộc với nhau như thế thì làm sao phát hiện được tham nhũng. Cứ nhìn vào các vụ tham nhũng lẽ ra thuộc thẩm quyền của công an tỉnh mà cơ quan điều tra Bộ Công an phải rút lên thụ lý là thấy rõ điều đó".

"Thiết chế chống tham nhũng bằng hệ thống tư pháp, còn phát hiện qua thanh tra thì có lẽ nên tổ chức một hệ thống cơ quan thanh tra quốc hội".

Bà Nga cho rằng, muốn đấu tranh tham nhũng chuyển biến thì phải có tính minh bạch công khai. “Thế nhưng, toàn bộ quy trình tố tụng lại được đóng dấu mật. Điều này khiến cho một lực lượng đấu tranh tham nhũng rất hiệu quả là báo chí bị hạn chế, thậm chí, “dấu mật dễ dàng đưa phóng viên vào tội làm lộ tài liệu mật”.

Ông Lê Nam, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Thanh Hóa nói:

"Phải tập trung vào chiến dịch “bắt hổ”, cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán... phải đi vào chỗ nhiều tiền, nhiều quyền lực vì chỉ vài vụ này đã bằng hàng ngàn vụ tham nhũng vặt. Cán bộ, thủ quỹ, nhân viên xã/phường chỉ có 3-5 triệu đồng thôi phải đứng vành móng ngựa, trong khi cả một tình trạng tham nhũng lớn gây nhức nhối như thế thì xử lý không được bao nhiêu. Cần tập trung vào người lắm tiền, sử dụng và quản lý ngân sách, có hưởng lạc, tư lợi không".

Nhưng làm sao có thể bắt được "hổ"? Các vụ tham nhũng ở Việt Nam thông thường chỉ tóm được"mèo" và nếu có tóm được thì bí bát lắm cũng được xử lý bằng bản án nào đó cho hợp lý nhưng sau đó ân xá giảm án.

Chính vì thế, đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị), tâm sự rằng, "nhiều người khuyên ông đừng nói về tham nhũng".


"Do sợ liên đới trách nhiệm của người đứng đầu khi có người trong cơ quan bị phát hiện tham nhũng, nên có tâm lý “muốn đóng cửa bảo nhau”, nhiều bộ, địa phương, thậm chí ra văn bản xin “xử lý nội bộ”, ông Tiến nói.

Trong khi đó đại biểu Trần Thị Hoa Sinh (Lạng Sơn) nói: “Nhất là trong xét xử, án treo cao, xử đúng thì không sao, nhưng có vụ dư luận lên án: từ huyện, tỉnh rồi đến giám đốc thẩm, phúc thẩm… thì quay lại bản án ban đầu… làm mất lòng tin của dân”. Bà Sinh dẫn chứng: qua vụ án “Vườn mít”, quay đi quay lại mà thẩm phán trước xử sai có bị xử đâu?!

Có thể nêu một ví dụ điển hình gần đây. Từ ngày 21/10 đến 1/11, Tòa án tỉnh An Giang xét xử 23 bị cáo về tội đã tự ý san lấp ruộng để thành lập 7 khu dân cư tại thành phố Long Xuyên rồi phân lô, bán nền lấy tiền chia nhau, gây thiệt hại cho công quỹ khoảng 20 tỷ đồng. Phát quyết cuối cùng là miễn trách nhiệm hình sự cho 6 bị cáo, 3 bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ (nghĩa là... tự cải tạo tại gia), 6 bị cáo được hưởng án treo, 7 bị cáo mức án vừa đúng thời hạn tạm giam để được trả tự do ngay tại tòa. Chỉ một bị cáo (Giám đốc Văn phòng Ðăng ký quyền sử dụng đất thành phố Long Xuyên) được xem như chủ mưu bị phạt... ba năm tù.

Theo báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, tình trạng tham nhũng trong năm 2013 đã gây thiệt hại khoảng 9.260 tỷ đồng cùng 51.000 lượng vàng SJC, nhưng trong số đó chỉ thu được 900 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Ủy ban Tư pháp cũng thừa nhận, nhiều vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trong lĩnh vực ngân hàng nhưng vẫn bị đình chỉ điều tra, hoặc tội phạm chỉ bị xử lý kỷ luật hành chính. Có những vụ án xảy ra từ năm 2000 nhưng đến năm 2012 mới được xét xử (vụ Hoàng Đình Dung, giám đốc Chi nhánh Centrime 3).

Theo thống kê từ tháng 10/2010 đến tháng 4/2013 Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã đình chỉ 4 vụ với 27 bị can và đình chỉ 11 bị can trong các vụ tham nhũng khác. Bản báo cáo đã cho thấy một vài con số khá nhạt nhòa như: 07 vụ, 06 bị can được đình chỉ điều tra, 09 vụ, 23 bị can tạm đình chỉ, thậm chí có đến 19 vụ, 30 bị can được đình chỉ điều tra trong giai đoạn tố tụng. Trong đó đã có 30% bị cáo chỉ bị áp dụng hình phạt nhẹ, phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, án treo, hoặc cải tạo không giam giữ. Số “người đứng đầu” bị xử lý hình sự cũng chỉ đạt tỷ lệ 4/41 người.

Như vậy tổng số tiền tham nhũng (được biết đến) trong năm 2013 là 90.000 tỷ đồng (tương đương 4,5 tỷ USD) chỉ thu hồi được 900 tỷ, tức là 0,01%!

Theo Tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International -TI) Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng, trong năm 2011 có điểm số thấp và đứng ở phía cuối bảng xếp hạng.

Năm 2013, Tố chức Minh bạch Quốc tế tại Việt Nam đã làm một cuộc khảo sát và cho biết, số người cho rằng chống tham nhũng không hiệu quả chiếm đến 60% vào năm 2013, tăng mạnh so với 35% của năm 2010.

“So với năm 2010, kết quả khảo sát năm 2013 cho thấy sự mất lòng tin đáng kể của người dân đô thị về việc chống tham nhũng. Năm 2010, cư dân đô thị thể hiện quan điểm cân bằng về những nỗ lực của Chính phủ chống tham nhũng thì năm 2013, họ lại nhìn nhận tiêu cực hơn nhiều”, Giám đốc TI tại Việt Nam, cho biết.

Khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng (Cecodes) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện, với sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc, lấy ý kiến của gần 14.000 người dân, chọn ngẫu nhiên tại 63 tỉnh thành, công bố ngày 14/5/2013, cho thấy tình trạng chạy chọt xin việc, cũng như phải đưa hối lộ để được giải quyết thủ tục giấy tờ, đã tăng gấp rưỡi năm ngoái.

Số người đồng tình với việc phải hối lộ mới được chăm sóc y tế cũng tăng từ 31% lên 42%, hay phải lót tay mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tăng từ 21% lên 32%.

Có đến 72,88% người được hỏi tin rằng tố cáo cũng không mang lại lợi ích gì, 24% cho rằng, chính quyền các tỉnh, thành phố đã không nghiêm túc trong xử lý những vụ việc tham nhũng đã phát hiện được.

Như vậy tham nhũng đã trở nên hiện tượng phổ cập, biến thành một thứ văn hoá sinh hoạt trong mọi lĩnh vực đời sống của xã hội Việt Nam.

Hệ thống chính trị độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho các phe nhóm lợi ích và tạo điều kiện cho các quan chức kiếm chác. Mọi thứ xảy ra đều chịu trách nhiệm trước đảng, còn đảng thì không chịu trách nhiệm với ai. Nếu đảng có sai lầm thì sửa, lỡ có trói chặt quá thì "cởi trói", "đổi mới". Tóm lại đảng là toàn diện. Đảng đứng trên tất cả. Hiến pháp mà đảng tạo ra đã mặc nhiên cho ĐCSVN quyền lực như thế. Khi nắm quyền lực tuyệt đối con người luôn luôn có xu hướng dẫn tới lạm quyền và lộng quyền.

Quốc gia nào cũng có tệ nạn tham nhũng, chỉ vấn đề là ít hay nhiều mà thôi, nhưng quan trọng hơn là các định chế của xã hội nằm ngăn ngừa và chống tham nhũng ra sao.

Trước hết trong một quốc hội đa đảng, các đảng đối lập là lực lượng luôn luôn kiểm soát, xem xét chính sách của đảng cầm quyền và sẵn sàng đưa ra ánh sáng các hiện tượng tham nhũng khi thấy có tín hiệu.

Thứ nhì, báo chí tự do là phương tiện hiệu quả nhất, lành mạnh hoá xã hội thông qua thông tin đa chiều, minh bạch. Trong các nước dân chủ, báo chí tự do góp phần tích cực đưa các vụ tham nhũng ra trước công luận, chứ không phải cảnh sát hay các cơ quan chức năng khác.

Điều tiên quyết cuối cùng là ngành tư pháp phải hoàn toàn độc lập, không là công cụ của đảng cầm quyền. Như thế các vụ án mới có thể được điều tra, xét xử công bằng.

Theo như phát biểu của bà Lê Thị Nga thì bà ta biết cả đấy! Tất cả ba điều cơ bản nhất cho việc chống tham nhũng đều không có trong hệ thống chính trị hiện tại của ĐCSVN. Làm sao mà chống? Nói ra chỉ cốt xoa dịu dư luận mà thôi. Có lẽ câu ngạn ngữ "vừa ăn cướp, vừa la làng" là chuẩn nhất!

© Lê Diễn Đức - RFA Blog
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Sự im lặng của biển
Trần Trung Đạo
November 19, 2013
(Để nhớ những ngày ở Palawan, Philippines)
Tôi sinh ra ở miền núi nhưng hai mươi năm qua, số phận lại đẩy về miền biển. Thành phố tôi đang sống là thành phố biển. Ngôi trường tôi học trước đây cũng nhìn ra biển và văn phòng tôi đang làm việc hiện nay được xây trên mặt vịnh Boston, bên kia là Đại Tây Dương bát ngát.

Thời gian dài trôi qua, cuộc sống tạm quen dần nhưng ngày mới về đây thật là khó chịu. Nhất là những ngày mưa bão, biển đổi thành màu đen sậm, xa xa một chiếc ghe đánh cá đang về trễ, tăng thêm phần ảm đạm. Biển vừa làm cho tôi sợ hãi khi liên tưởng đến những ngày còn lênh đênh hơn hai mươi năm trước, nhưng đồng thời cũng vừa có một sức hút vô hình khiến nhiều khi tôi đã đứng hàng giờ đăm đăm nhìn ra biển.

Các triết gia thường nói trong mỗi phút giây chúng ta đang sống đều có bóng dáng của quá khứ và dấu hiệu của tương lai. Tôi nghĩ họ nói đúng. Đối với một người Việt Nam tỵ nạn, quá khứ và tương lai không chỉ là bóng dáng và dấu hiệu thôi, hơn thế nữa, là hai cuộc đời cùng sống, cùng tồn tại, cùng níu kéo nhau, xô đẩy nhau vô cùng mãnh liệt. Một giọt mưa rơi, một chiếc lá rụng ngoài hiên, một tiếng sóng vỗ vào bờ đá cũng làm chúng ta choàng thức dậy, lắng nghe như tiếng có chân ai đang bước. Từ tâm cảm đó, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần đã viết trong bài Từ Tiếng Hát Tiếp Nối của anh:”Bàn chân đi, lòng vẫn mong về”.

Dù sao, các văn nghệ sĩ vẫn là người may mắn vì ít ra họ có cơ hội để làm vơi bớt đi nỗi u uất trong lòng qua thi ca nhạc họa, bao nhiêu đồng bào khác, không có năng khiếu văn chương, âm nhạc, phải âm thầm chịu đựng. Nếu cuộc sống ở hải ngoại không phải quần quật áo cơm, đầu tắt mặt tối, nhiều người Việt có thể đã chết vì khủng hoảng tinh thần.

Những ngày còn ở Việt Nam, khi nghe bài thơ, tôi chỉ nhớ mỗi câu đầu: “Ra biển chiều nay thấy màu máu đỏ”, được đọc trên đài VOA hay BBC gì đó, mô tả cảnh vượt biên thật hãi hùng. Hẳn nhiên tôi không nghĩ vượt biên sẽ nhẹ nhàng như ngồi trên chiếc du thuyền nhưng tôi cũng không cảm nhận được mức độ của kinh hoàng cho đến khi chính mình ngồi trên thành ghe mong manh vừa chết máy và đang bồng bền trên biển tháng 6 năm 1981.

Thời gian chầm chậm trôi qua. Một giờ rồi hai giờ. Tiếng cầu kinh đã dừng lại trên những vành môi khô. Lời niệm Phật đã ngưng trong những thân xác mệt mỏi. Đất trời đều im lặng. Không ai nói với nhau một lời nào. Trống vắng. Trống vắng ngay cả trong suy nghĩ của con người. Nhớ thương, hờn giận đều biết mất. Tất cả như đang dọn mình để bước vào một cuộc đời khác. Không ai tuyệt vọng bởi vì chẳng còn ai hy vọng. Và như thế cho đến khi tiếng máy ghe lại nổ, cuộc hải hành tiếp tục.

Biển mang tôi về lại bãi cát trắng và hàng dương liễu, nơi tôi đứng thẩn thờ nhìn chiếc trực thăng bay xa, bay xa, mang theo người thân yêu nhất của tôi. Biển mang tôi về lại phường Cổ Mân, Quận Ba, Đà Nẵng, nơi tôi sống những ngày đầu tiên không gia đình với người anh họ. Không ai biết và sẽ không bao giờ ai biết, trên những đồi cát trắng dọc bờ biển Sơn Chà, từng có một thằng bé mỗi chiều âm thầm đứng nhìn về phía biển để chờ đợi một tin vui. Tin vui đó đã không bao giờ đến với nó. Nếu mai mốt trở về tôi nhất định sẽ đi tìm thằng bé. Tôi nhớ rất rõ thân hình ốm tong teo của nó khi đứng chờ những chuyến xe Mỹ chở hàng để xin quá giang qua Đà Nẵng. Tôi nhớ rất rõ chiếc áo sờn vai thằng bé mặc trong mùa đông, chiếc chiếu rách, chiếc giường tre nơi nó ngủ. Và tôi cũng nhớ nó, một thằng bé can đảm, nửa đêm thức dậy ra đi, dù chưa biết sẽ đi đâu. Trên cồn cát trắng kia, sau ba mươi năm, vẫn còn in dấu chân của nó như đã hằn sâu trong ký ức con người.

Tôi từng được dạy rằng tôi là chủ nhân của chính mình chứ không ai khác và ý chí của tôi quyết định cho hành động của tôi chứ không từ đâu khác. Học và hiểu thường không quá khó khăn nhưng thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng như thế. Tôi đi qua cuộc đời này như một chiếc lá vàng khi chưa đủ tuổi để xanh. Tôi bay trong giông bão và bay qua nhiều biển cả mênh mông, bao nhiêu lần đã tưởng chừng rơi rụng và mục nát trong một góc chân tường nào đó.

Những chiều mưa bên Đại Tây Dương, tôi cũng bàng hoàng nhớ lại Thái Bình Dương, nhớ lại ngày trên biển, nhớ Manila, Palawan, nhớ đến những người không may mắn như tôi. Dọc bờ biển đó, nơi tôi lắng nghe tâm sự của những em bé, câu chuyện về những đồng bào bất hạnh, sự chịu đựng của những người sống sót, để rồi những tháng năm sau, tôi ghi lại trong Em bé Việt Nam và viên sỏi, Thưa mẹ chúng con đi, và những bài thơ khác.

Trong những người Việt Nam bất hạnh đó có người anh tôi đã mang ơn, người đã giúp tôi cơ hội vượt biên. Những dòng chữ này như nén hương để tưởng nhớ về anh.

Tôi vẫn nhớ ngày anh đưa chiếc ghe về, tôi hỏi anh sẽ dùng nó làm gì. Anh đáp gọn “vượt biên”. Tôi cười không tin anh nói thật, khi nhìn chiếc ghe quá nhỏ, nhưng cũng chẳng nói gì thêm. Chuyện tàu bè không phải là việc của tôi, biết hay không cũng chẳng ích gì. Anh mướn người sửa lại, cắt nửa trên của chiếc ghe và đóng thêm một lớp ván bên ngoài, sửa mũi và lái cao hơn. Anh mua một chiếc máy nhỏ ở đường Bến Chương Dương đem về gắn vào. Tháng sau tôi trở lại sông, chiếc ghe cũ đã thành chiếc tàu có chiều dài mười mét và chiều ngang chỉ một mét rưỡi. Tuy nhỏ nhưng có dáng dấp một chiếc tàu đánh cá hơn là chiếc ghe đi sông trước đây. Anh bảo tôi vì bụng của tàu vốn là một chiếc ghe nên chỉ có thể nối cao đến thế là cùng.

Tôi được mấy người thợ đóng ghe đưa đi một vòng quanh sông. Ngồi trên sàn ghe nhìn nước sông Nhà Bè màu vàng đục, một cảm giác bất an chợt dâng lên trong lòng khi nghĩ đến ngày nào đó sẽ ra biển với chiếc ghe vỏn vẹn mười mét này. Anh bảo đừng sợ, sẽ đi biển được. Anh dặn tôi xuống tàu sống với anh tài công và đóng vai thủy thủ. Tôi lại cười vì tôi không rành bơi lội và cũng chưa hề làm nghề buôn bán trên sông, trên biển bao giờ. Anh nghiêm giọng “Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra trên bờ thì chú mày cũng có thể đi thoát được.”

Tôi biết anh sắp xếp như thế vì lo cho tôi nhưng một phần khác để tôi khỏi có cơ hội kéo đám bạn bè của tôi theo. Dù đồng ý hay không, tôi cũng không có chọn lựa nào khác. Tiền bạc và công sức đều là của anh. Anh xem tôi như một đứa em nhỏ. Mỗi chiều khi anh ở ngoài sông về, chúng tôi thường hẹn nhau trong một quán rượu. Anh em chúng tôi mướn chỗ để trò chuyện hơn là nhậu nhẹt vì cả hai đều không biết uống rượu. Hoàn cảnh của anh rất giống tôi. Anh cũng lớn lên từ Đà Nẵng chiến tranh và nghèo khó. Anh vào Sài Gòn học và học chung trường đại học với tôi, khác nhau ở chỗ, khi anh lên bậc cao học tôi còn là sinh viên năm thứ nhất.

Chuyến đi khá bất ngờ. Anh chỉ cho tôi đủ thời gian để về chào mẹ tôi. Anh không cho biết chính xác ngày giờ vì ngại tôi sẽ dắt theo bè bạn. Anh biết tính tôi. Tôi hứa hẹn với nhiều người. Một phần tôi chẳng tốn kém gì, phần khác vì tánh tôi hay chìu lòng bạn. Những đứa được tôi hứa dắt theo đều bị bỏ lại. Điều này đã gây ra nhiều giận hờn đáng tiếc giữa chúng tôi cho tới tận ngày nay. Ngày đi tôi đóng vai thủy thủ thật. Anh hẹn mọi người tại một con lạch nhỏ ngoài bìa làng Chu Hải. Tôi theo ghe đến Chu Hải và ngủ đêm lại trong con lạch để chờ khách vượt biên.

Trời gần sáng nhưng không thấy ai đến cả. Chúng tôi thức dậy nhìn ra sông. Nước rút hết. Con lạch khô như một con đường làng hẹp. Chiếc ghe vượt biên của chúng tôi nằm chênh vênh bên bờ lạch. Chiếc bánh lái nhỏ như chiếc quạt để bàn đang phơi mình trên cạn. Nhìn bánh lái, tôi thầm tự hỏi, với món đồ chơi trẻ em này làm sao chẻ nổi sóng biển Đông. Mãi đến sáu giờ sáng, nước bắt đầu dâng lên và khách vượt biên không biết từ đâu cũng dần dần xuất hiện. Mọi người lo ngại nhìn chiếc ghe nhỏ nhoi trong lúc mặt trời sắp mọc. Công an và du kích có thể đến bất cứ lúc nào. Nhiều người lo sợ bỏ về. Anh tài công lẽ ra phải lái chiếc ghe cũng bỏ cuộc. Nhưng nhiều người khác, trong đó có tôi, quyết chí ra đi. Một người khách tự động nhận trách nhiệm lái chiếc tàu. Và như thế, chúng tôi đi. Chiếc ghe nhỏ trôi bồng bềnh trên biển Đông hai ngày hai đêm. Mệt mỏi nhiều hơn là đói khát. Cuối cùng sau bốn chục giờ và một lần máy chết, tưởng như sẽ chết, chúng tôi được một tàu hải quân Mỹ vớt.

Tôi nhận thư anh trong thời gian tạm trú ở đảo Palawan. Anh đang lo đóng một chiếc ghe khác, lớn hơn và chắc chắn hơn nhiều so với chiếc ghe bầu sửa lại mà tôi đã đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở đảo, nếu không kịp, hứa sẽ tìm nhau dù ở nơi nào. Trong lá thư cuối cùng, anh báo tin đang chuẩn bị ra đi.

Anh ra đi thật nhưng không bao giờ đến. Bà con anh ở Đà Nẵng và khách vượt biên gần cả trăm người cùng đi với anh cũng không bao giờ đến. Anh đã chết như hàng trăm ngàn đồng bào khác đã chết trên biển Đông. Tôi mang ơn anh nhiều lắm. Không có sự giúp đỡ của anh, hôm nay có thể tôi còn lang thang một nơi nào đó ở Việt Nam. Tôi đặt tên đứa con gái út của tôi cùng tên với con gái duy nhất của anh để kỷ niệm cho tình anh em tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến cố của chúng tôi.

Bao nhiêu người Việt đã chết trên biển khơi như anh. Theo ước lượng của nhiều cơ quan thiện nguyện quốc tế, khoảng nửa triệu người đã chết trong gió bão, trong đói khát, trong bàn tay hải tặc từ sau 1975. Thật ra, con số đó cũng chỉ là con số tượng trưng, cần đó để điền vào khoảng trống của một bảng thống kê. Tôi tin không ai biết và sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu người Việt Nam đã chết trên biển Đông từ sau mùa bão lửa 1975.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn đọc những lời kêu gọi, những giải sáng tác văn thơ, tự truyện, khuyến khích đồng hương còn sống sót, viết lại, kể lại cuộc đời tỵ nạn, kinh nghiệm vượt biên như những bài học lưu truyền cho hậu thế. Vâng, đó là những cố gắng tốt nhưng ai sẽ là người cầm bút viết ra đây.

Tôi và một số bà con khác đã kể lại vì chuyến đi của chúng tôi tuy hồi hộp nhưng không gây nhiều thiệt thòi, mất mát. Trong lúc những câu chuyện cần được nghe, những bài học cần được kể lại, sẽ không bao giờ được kể.

Làm sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá?

Làm sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị hải tặp hiếp dâm trước mắt?

Làm sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống biển sâu?

Làm sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông?

Không, những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển.

Bên trong chiếc cửa kính dày của văn phòng làm việc, vào những ngày giông bão, những ngọn sóng lớn đánh vào bờ đá, tung bọt cao đến tận chân tường, gió thổi mạnh đến nỗi xé nát những tấm bảng quảng cáo cắm dọc bến tàu. Những lần như thế, tôi ngồi tưởng tượng đến những điều kỳ lạ có thể đang xảy ra trong vùng nước phía bên kia. Tôi cảm giác như có một xác chết đang trôi, một bàn tay vừa nhô lên mặt nước, một tia máu vừa phọt ra từ miệng cá.

Tôi cố lắng tai nghe nhưng không nghe gì cả. Lớp kiếng cách âm dày đã ngăn giữa căn phòng ấm áp nơi tôi làm việc và giông bão phía bên kia như ngăn cách giữa hiện tại no đủ và quá khứ đầy thiếu thốn của tôi.

Nhưng nếu không có lớp kính dày kia liệu tôi có nghe được gì không?

Vẫn có thể là không. Cuộc sống xứ người đã cuốn tôi đi xa, xa đến mức nhiều khi không còn biết mình là ai nữa. Tôi vẫn đọc mỗi ngày bao nhiêu tin buồn về đất nước, tôi đã thấy mỗi ngày bao nhiêu cảnh bất công đè nặng lên số phận đồng bào. Nhưng, ngoài trừ những bài thơ, bài văn viết khi nhàn rỗi, tôi vẫn dững dưng nhìn bàn tay của những em bé Việt Nam năm sáu tuổi đang vẫy mời những khách mua dâm ở Campuchia và tôi vẫn lạnh lùng nhìn giọt nước mắt của những cô gái Việt Nam đang chảy trên đường phố Đài Loan.

Phải chăng con đập áo cơm đã ngăn đôi dòng sông lý tưởng thời tuổi trẻ của tôi?

Phải chăng hàng rào danh lợi đã che khuất đi khả năng để biết lắng nghe tiếng kêu gào thống thiết của quê hương và cả tiếng gọi của chính trái tim mình?

Có thể cả hai. Biển, vì thế, vẫn lặng yên, câm nín như nỗi đau của đồng bào tôi và đất nước tôi.

Trần Trung Đạo
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Phiên Bản Tình Yêu

Tác Giả Tưởng Năng Tiến

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh là kẻ mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò thì vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) dễ đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây - chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu (*). Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) thì hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc!

Hôm kia, chả may, giáp mặt người tặng sách - nhà báo Uyên Thao:

- Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

- Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài - cố nén - của người đối diện. Với đôi chút áy náy, tối hôm đó, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bảy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Có thể nói là mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay = như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí - ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cữu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn - phản đòn - đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 - hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ - hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố,… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

- Công Hàm 1958:

“... tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi... Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?

- Thảm sát Mậu Thân 1968:

“...tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình - qua lời những nhân vật của ông - cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỷ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy. Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù...

Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc ... tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga - Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh ...

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình - mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt ...

Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ “thang” để dẫn “thuốc”, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

TNT
duynga
Posts: 139
Joined: Sat Oct 13, 2012 2:40 am
Contact:

Post by duynga »

Khi người tị nạn trả ơn
Tạp ghi Huy Phương


Báo Courier Mail của nước Úc hôm 28/7 ghi nhận chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 2013 đã có 759 người Việt dùng thuyền tị nạn đến Úc, trong khi Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay tự hào cơm no áo ấm, xã hội tiên tiến, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chúng ta là những người vượt biển tìm tự do, hẳn đã biết thế nào là nỗi thống khổ, bỏ quê hương, làng mạc để ra đi, chịu đói khát, bị hải tặc cướp bóc, hiếp dâm hay chặt đầu, xô xuống biển, nên hết sức thông cảm với hoàn cảnh những người đã vượt biển này.

Tị nạn, dù là chính trị hay kinh tế cũng là điều đáng thương.

Những quốc gia độc tài, hà khắc buộc những người dân phải ra đi tị nạn, hay những chính phủ không lo đủ cơm áo cho nhân dân, để dân phải bỏ nước đi tìm miếng cơm ở xứ người cũng phải được lên án như nhau.

Dân Mễ Tây Cơ từ năm 1985 vượt biên sang Mỹ mỗi năm chết vì hơi nóng sa mạc, mất nước khoảng 200 người, nhưng từ năm 1995 trở về sau, số người chết này tăng gấp đôi, như vậy cộng với những người đi thoát đến Mỹ, đây là một quốc gia có người bỏ nước vì miếng ăn cao nhất.

Hiện nay, những người tị nạn Việt Nam đến Úc không có cơ may được nước Úc cứu xét cho định cư tại nước này, và nếu có đủ tiêu chuẩn của một người tị nạn họ sẽ được đưa sang Papua New Guinea.

Tệ hại hơn nữa là chính quyền Úc đã thỏa thuận cho phép công an từ Việt Nam, nơi mà người tị nạn đã bỏ ra đi, vào tận các trại giam người tị nạn để “làm việc”, có nghĩa là sẽ truy cập tên tuổi và chi tiết của thân nhân họ hiện ở Việt Nam.

Hành động này của chính quyền Úc, theo quy ước của người tị nạn là sai trái.

Thật sự, nếu công an thẩm vấn người tị nạn để tìm ra những đường dây buôn người thì được nhưng không thể dùng căn cước của những người tị nạn để trả thù thân nhân họ như thói quen và đường lối trả thù của các nước cộng sản.

Nhưng câu hỏi được giới truyền thông Úc đặt ra là những người gọi là “tị nạn” này muốn gì khi đặt chân đến Úc?

Đa số không phải là người tị nạn thực sự.

Nhiều người khai là vô gia đình, nhưng hồ sơ cho thấy một số trước đây đã du lịch đến Úc. Có người, sau khi du lịch đến Úc, họ hủy visa và xin ở lại đoàn tụ với gia đình vì bị đàn áp.

Courier Mail hôm 28/7 nói làn sóng thuyền nhân Việt Nam gia tăng, với 759 người đến Úc năm nay, nguyên nhân có tổ chức đưa người Việt lên thuyền sang Úc làm gái bán dâm hoặc buôn ma túy.

Ở Darwin, chính quyền cũng đã phát hiện một ổ mại dâm của người Việt ngay bên trong trung tâm giam giữ người xin tị nạn! Quả thật xấu hổ!

Những người tị nạn đến Úc trước đây, giờ đã ổn định cuộc sống, thì lại muốn “trả ơn” cho đất nước đã cưu mang mình bằng cách trở về Việt Nam và đem bạch phiến trở lại Úc để đầu độc cho thanh niên nước này.

Nhật báo The Age ngày 27/7/09 cho biết cảnh sát Úc đã xác định được hơn 100 người Việt ở Melbourne chuyên tải bạch phiến từ Việt Nam vào Úc cho 7 tổ chức tội phạm lớn ở thành phố này. Cảnh sát cho biết những người mang bạch phiến xuống phi trường Melbourne hằng tuần và đã đi nhiều chuyến như thế. Trong tháng 2 năm 2009, chỉ trên một chuyến bay mà cảnh sát đã bắt được bốn người mang bạch phiến vào Úc.

Theo ước lượng của cảnh sát thì mỗi tổ chức buôn lậu này kiếm được khoảng $2 triệu Úc kim mỗi tháng.

Một phụ nữ “tải” bạch phiến từ Việt Nam đến Úc, được cảnh sát theo dõi cho biết chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2008, bà này đã “đốt” khoảng $3,7 triệu tại sòng bạc Casino Crown, và đặt $50,000 cho mỗi ván bài…

Theo tin Việt Nam, đã có 25 người Úc gốc Việt bị tống giam ở Việt Nam vì buôn lậu bạch phiến. Sáu người trong số này đang chờ ngày xét xử trong khi 19 người đã bị kết tội và bị lãnh án khác nhau, kể cả tử hình, 20 năm tù hoặc chung thân. Tám người trong số này là cư dân Việt hiện ở tại Victoria.

Từ năm 2003 đến nay, ở Việt Nam đã có 7 người Úc gốc Việt bị tuyên án tử hình nhưng đã được giảm xuống án chung thân vì có sự can thiệp của chính phủ Úc!

Phải chăng vì luật pháp nước Úc quá dễ dãi và vì nước Úc đã bỏ án tử hình từ 1973?

Chúng ta chưa quên bản án tử hình Singapore đã dành cho một người “tị nạn” được định cư tại Úc là Nguyễn Tường Vân vào năm 2004. Nếu nói về danh nghĩa “tị nạn”, không ai hơn được con người này vì chính Nguyễn Tường Vân và người em song sinh là Nguyễn Đăng Khoa, đã chào đời tại trại tị nạn Songkhla ở Nam Thái Lan ngày 17 tháng 8-1980, sau khi gia đình đã bỏ nước ra đi, và sau đó, đã được nước Úc giang vòng tay nhân ái đón nhận cho vào định cư.

Tháng 11-2002, trên đường từ Saigon qua Singapore về Úc, Nguyễn Tường Vân đã bị cảnh sát tại phi trường Changi bắt vì đã mang theo trong mình 396,2 gram bạch phiến, nhiều gấp 25 lần số lượng phải chịu án tử hình theo luật lệ của Singapore. Y khai với cảnh sát là cần kiếm tiền để trả nợ và lo án phí cho em là Nguyễn Đăng Khoa bị ra tòa vì tội sử dụng ma túy và ẩu đả.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2004, phiên tòa Thượng Thẩm kết án tử hình Nguyễn Tường Vân và bản án đã được thi hành vào ngày 2 tháng 12- 2005, sau khi mọi can thiệp từ Thủ Tướng Úc John Howard, các cựu thủ tướng Gough Whitlam, Bob Hawke, cựu Tổng Toàn Quyền Sir Dean William, các Bộ Trưởng Ngoại Giao, Tư Pháp, dân biểu nghị sĩ Úc và cả Giáo hội Công Giáo… đến Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long đều vô hiệu. Thậm chí, cả Bộ Trưởng Tư pháp Úc Philip Ruddock.

Những người tị nạn Việt Nam đến Úc, như thanh niên Nguyễn Tường Vân, đã “trả ơn” quốc gia này bằng cách đem bạch phiến vào để đầu độc thanh niên Úc, không phải là ít, hai người khác cũng đã bị án tử hình trong số hàng trăm, bạo nhất là Nguyễn Văn Chinh với 1kg và Mai Công Thanh tới 1.7kg bạch phiến, số lượng gấp bốn lần của tử tội Nguyễn Tường Vân, cung cấp đủ 10,000 liều cho con ghiền.

Cánh cửa nhân ái tiếp đón những người tị nạn phải lìa bỏ quê hương đã đóng lại hay chính những người tị nạn đã làm cho những đất nước giang cánh tay đón họ thất vọng.

Trên con thuyền mỏng manh giữa biển cả mịt mùng, chúng ta cầu nguyện gì, ước ao gì, hứa hẹn gì, tất cả là chỉ mong được đặt chân đến đất liền. Mới ngày nào đến trại tị nạn chúng ta luôn luôn kêu gào chứng tỏ mình là kẻ bị áp bức, kỳ thị, đày ải, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, đủ cơm ăn, dư áo mặc, da trắng tóc dài… thì lại nghe chuyện trở về nơi mà mình đã nêu đủ lý do để ra đi, với những lý do xây mộ, thăm người nhà, dự tiệc cưới, về quê ăn Tết, du lịch hay hưởng thụ rong chơi.

Ngày nào người tị nạn kêu khổ, rầm rộ đổ vào nước Úc, nhận lãnh bao nhiêu thứ trợ cấp, ưu đãi, nhưng bây giờ vào ngày giáp Tết Âm Lịch Việt Nam, khu phố Caramatta ở Sydney, các cửa hiệu, hàng quán vắng vẻ vì thiên hạ bận về quê VN ăn Tết.

Ở các nước sau ngày Saigon thất thủ đã nhận cho vào bao nhiêu người tị nạn, nay có bao nhiêu người mỗi năm về Việt Nam, nơi mà chúng ta đã dùng nó như một lý do để xin tị nạn.

Chúng ta có thể nhìn thấy hàng trăm cách “trả ơn” nước Mỹ, nước Úc, nước Pháp, nước Anh, nước Gia Nã Đại…

Mỗi người tị nạn “trả ơn” quốc gia họ đến một cách khác nhau. Người trồng cần sa ở Anh và tổ chức buôn người vào cho dịch vụ này chính là những người tị nạn.

1984, 9 năm sau khi bỏ nước ra đi, một số bác sĩ người Việt tị nạn vào Mỹ, được ưu tiên nâng đỡ cho học ngắn ngày để có thể trở lại nghề cũ, đã trả ơn bằng cách đục khoét, gian lận quỹ y tế để thủ lợi riêng.

Những thanh niên người Việt được nước Mỹ cho học hành, dùng kiến thức ăn cắp ID của người khác làm thẻ tín dụng để tiêu xài.

Bằng tấm lòng chân thật, chúng ta có thể thấy nhiều sự “trả ơn” của người Việt tị nạn cho quốc gia họ đang sinh sống.

Nguyễn Tường Vân đã đền tội cho sự vô ơn của mình với bản án tử hình, nhưng cũng có nhiều kẻ khác đang sống yên ổn giàu có bằng lối xử sự phản phúc với quốc gia đã cho mình tái định cư.

Chúng ta cũng không nên trách cách xử sự của chính quyền Úc đối với 759 người Việt dùng thuyền đến Úc “tị nạn” trong năm nay.

Ngày 2 tháng 12-2005, vào giờ Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ ở Singapore, thánh đường Saint Ignatius Richmond ở Melbourne, nước Úc đã đổ 25 hồi chuông thương tiếc, tượng trưng cho 25 năm của cuộc đời người tử tội này, nhưng nước Úc chưa bao giờ có những hồi chuông cầu nguyện cho quốc gia này không còn những kẻ tị nạn vong ân như thế nữa.

Huy Phương
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Thiên đường hạ giới

Sau bao năm cầu xin, tôi đã được hưởng một phép lạ do Chúa ban tặng. Đó là lần phỏng vấn thứ ba, tòa Tổng Lạnh Sự Mỹ ở Saigon đã chấp thuận cấp visa cho tôi đi Mỹ thăm con gái và con rể. Lần thứ ba này, con rể người Mỹ đứng ra bảo lãnh và kèm theo một thư cam kết.

Hai lần bị từ chối trước làm cho tôi nản lòng, vì lý do không có tài sản, không có gì ràng buộc với Việt Nam . Nay, nhờ con rể người Mỹ bảo lãnh, việc cam kết tôi không có lý do gì lưu trú tại Mỹ có vẻ đáng tin hơn.

Nhận được visa, tôi quýnh quáng không biết sẽ đem gì, mua gì làm quà cho con, rồi ngày đi đến nhanh.

Đặt chân trên đất Mỹ vừa đúng 12 giờ đêm ngày Chúa Nhật, làm thủ tục khám xét xong xuôi, hải quan phi trường cho phép tôi ở Mỹ sáu tháng.

Đẩy hành lý ra, gặp hai vợ chồng con gái đang đứng đón, lòng bồi hồi cảm động nhớ thương đã làm tôi bật khóc như một đứa trẻ.

Từ phi trường Los Angeles chạy về Oceanside nơi con tôi ở đúng 2 tiếng lái xe. Trên đường về ban đêm, xe nối đuôi xuôi ngược, đèn sáng đỏ chạy dài trên con đường có dạ quang như dải lụa đen đính kim tuyến. Nhờ đèn nên quang cảnh ban đêm thật đẹp, bên ngoài trời về đêm không khí dễ chịu.

Hai tiếng giản dị

Nước Mỹ, nơi mà người ta thường gọi là Thiên Đường, là một đất nước tự do đã cưu mang gần hai triệu người Việt, trong đó có con gái, em gái tôi.

Thiên Đường, hai tiếng giản dị vậy mà có một sức hút lạ kỳ. Với những người phải sống trong cảnh bất công, tù ngục thì nước Mỹ đúng là một thiên đường ở ngay trên mặt đất. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa vời vợi, người dân bình thường, không họ hàng, không thân thích, không ai bảo lãnh có tiền cũng khó mà tới được.

Nhớ lại 32 năm về trước, bao triệu người ra đi bỏ lại đằng sau tất cả những gì đã có, bỏ lại họ hàng, anh em, cha mẹ, bạn bè, họ đã tìm đủ mọi cách ra đi, tìm cái sống trong cái chết. Để có thể lên đường tìm tự do, tìm thiên đường, họ đã phải đánh đổi nhiều thứ, từ làm mồi cho cá biển tới thân bị tù tội, nhà cửa bị tịch thu.

Hành trình của người Việt tìm tự do còn tiếp diễn nhiều năm sau này. Biết bao xương cốt thuyền nhân Việt vẫn nằm sâu dưới đáy biển, dưới lòng sông.

Những đồng đô la quí giá

Gần hai triệu người dân Việt giờ đây đã an cư lạc nghiệp tại xứ Mỹ. Ngay từ buổi đầu, khi tới được nước Mỹ, hầu hết họ đều nghĩ tới những thân nhân còn lầm than ở quê nhà, ai nấy phải làm lụng vất vả dè sẻn để gửi tiền về quê hương giúp cha mẹ, anh chị em. Khi ổn định họ lại tìm cách bảo lãnh cha mẹ, anh em, vợ con đến xứ sở an toàn đầy đủ nhưng không kém phần vất vả.

Còn nhớ, những ngày khốn khó ở quê nhà, khi nhận được những đồng đô la quý giá từ tay con gái tôi gởi về tôi cảm động lắm. Con gái tôi gởi tiền về cho gia đình không bao giờ than vất vả khó nhọc, nhưng tôi được nghe nhiều người kể về xứ sở xa xôi đó. Sáng sớm tinh mơ, cơm đùm cơm nắm mang theo để ăn trưa, chiều tối về ăn cơm nhà, ai cũng như ai tằn tiện chính bản thân, để rồi mỗi lúc thân nhân quê nhà cần tiền thì sẵn sàng gởi về giúp đỡ, không đắn đo, không than thở.

Đồng đô la từ Mỹ gửi về quê nhà quý giá vô cùng, vì đó là quá trình lao động mồ hôi nước mắt của thân nhân mình, nó nâng đỡ nhiều gia đình khó khăn hoặc nâng đỡ hỗ trợ nhiều cơ quan từ thiện, từ chùa chiền cho đến nhà thờ.

Nhưng cũng do đồng đô la này, lòng tham đã làm cho nhiều gia đình bất hòa. Tại Việt Nam , người nhận từng giành giựt hơn thua, kẻ ít người nhiều, đâm ra giận hờn từ bỏ nhau. Tại Mỹ cũng có nhiều cảnh ngộ, vợ chồng chia tay cũng vì gởi không đồng đều giữa hai gia đình nội ngoại.

Đồng đô la quý giá nhưng cũng gây ra lắm cảnh đau lòng, nguyên nhân chỉ là do con người ích kỷ mà ra. Người nhận được dola vui vẻ bao nhiêu thì thân nhân ở Mỹ phải nỗ lực vất vả bấy nhiêu.

Hôm nay tôi có mặt ở đất nước này thuộc diện du lịch thăm con, được con chở đi chơi nhiều nơi, nhận thấy đúng là xứ sở văn minh tiến bộ mà làm biết bao người thèm muốn, nó sạch đẹp làm sao! Ngoài đường phố không có trẻ em, thanh niên, thiếu nữ đi nghểu nghến, chỉ có nhà hàng ăn, quán bar, shop, mới thấy họ ăn uống, mua sắm ở nơi đó mới thấy mặt trẻ em, ngày thường cha mẹ tất bật, các trẻ nhỏ đều vào trường vào lớp, chúng không quấy rầy cha mẹ.

Xã hội Mỹ luôn tạo điều kiện cho con người biết tự lập, tự vươn lên không ỷ lại, không dựa dẫm. Dù cha mẹ giàu có, mười tám tuổi trở lên tự lập thân, tự tìm việc chúng có thể trở thành cô bán hàng, hay cậu thanh niên bưng bê phục vụ cho khách, làm đủ mọi nghề. Ở đây người Phi, người Mễ, người Việt rất chịu khó, không việc gì họ từ, miễn là kiếm được việc, kiếm được tiền, họ gởi về giúp thân nhân, giúp đất nước mỗi năm hàng trăm triệu dola. Đồng dola đã quý, lòng người nhân ái càng quý hơn. Nước Mỹ là đất hợp chủng, gồm đủ mọi sắc dân. Đất nước nào bị thiên tai, chính phủ Mỹ, dân Mỹ đều sẵn sàng giúp đỡ từ tiền bạc, áo quần, thực phẩm cho đến thuốc men.

Ba tháng ở thiên đường

Vùng con tôi ở là một thành phố trên đồi cao và gần biển, những con đường rộng thênh thang chia nhiều làn xe thẳng tắp chạy dài hoặc quanh co uốn lượn chẳng khác nào màng nhện nhưng có lớp lang thứ tự. Hè ở đây khí hậu nóng như Việtnam.

Hai hôm sau con tôi nghỉ phép, chở tôi đi chợ. Đến các gian hàng, các cửa hiệu, tôi như choáng ngợp, nó rộng rãi to lớn, hàng hóa nhiều vô kể, trang trí bày biện ngăn nắp hấp dẫn, mải mê ngắm nhìn chọn lựa, tôi như người dân quê ra tỉnh, sự quê mùa bộc lộ rõ nét của người mới tạm nhập cư.

Đến hôm nay tôi ở đúng 3 tháng, các con chở đi chơi nhiều nơi.

Đứng trên cao nhìn bao quát biết bao danh lam thắng cảnh, nơi nào cũng bao phủ bởi màu xanh cây cỏ, hoa lá tươi mát. Nhà cửa khắp nơi xây cất gần giống nhau màu sắc trang nhã, bên trong thiết kế tiện nghi, thuận lợi.

Hiện nay người Việt tại Mỹ cần cù chăm chỉ, ăn nên làm ra thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ khống chế tự do nhân quyền do đó họ sống thật bình yên.

Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.

Nhìn người mà ngẫm đến ta, lòng cứ quặn đau, đi chơi mà niềm vui không trọn vẹn. Biết đến bao giờ những nước lạc hậu bảo thủ, trong đó có nước tôi, thoát khỏi cảnh bất công, đói nghèo để được hưởng một chút thiên đường nơi trần thế.

Dương Quỳnh Khanh
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest