Bình Luận , Quan Điểm

tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Thời cơ không thể để mất

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Hiệp định Paris ký đã được tròn 40 năm. Lẽ ra đây phải là dịp toàn dân ta cùng nhau nhìn lại quãng đường dài vừa qua để rút ra những kinh nghiệm thiết thực quý báu nhất cho chặng đường sắp đến. Làm được như vậy chứng tỏ dân tộc ta đã trưởng thành và khôn ngoan.

Nhưng hình như chúng ta đã không cùng nhau làm như thế. Cuộc tranh luận để xác định ai thắng ai thua trong cuộc chiến tranh thực tế là huynh đệ tương tàn, là Bắc chinh Nam chiến, làm quân cờ phụ cho cuộc chiến tranh ý thức hệ vừa nóng vừa lạnh giữa hai trận tuyến thế giới Dân Chủ và Cộng Sản, cuộc tranh luận đáng buồn ấy vẫn diễn ra dai dẳng. Kẻ thắng không phát huy được thắng, còn lao đao lo sợ, bị dân khinh ghét, thì thắng cái gì? Mây mù tồn đọng của thế kỷ hỗn loạn vừa qua vẫn phủ mờ, làm lạc hướng nhận thức và tình cảm của cả một dân tộc được coi là có bản chất tinh anh, nhân bản.

Thật ra đây cần phải là dịp để nhìn lại cho minh bạch tình hình 40 năm trước để biết tiếc nuối một thời cơ hiếm có đã bị bỏ qua, từ đó không để vuột mất thời cơ hiếm có trước mắt hiện nay.

Bốn mươi năm trước đã có thời cơ lớn xuất hiện để thể hòa hợp dân tộc, thống nhất lòng dân, khôi phục và phát triển đất nước với tốc độ cao, cải thiện cuộc sống cho toàn dân, bù lại những năm tháng chiến tranh tàn khốc. Nhưng lãnh đạo duy ý chí, chủ quan, bị chiến thắng làm cho đầu óc quay cuồng, sinh ra mù quáng, đã có những chủ trương sai lầm có hệ thống: Bỏ tù không phân biệt quân nhân viên chức cũ, cải tạo vội vã công thương nghiệp, sáp nhập vội các tỉnh, quận, huyện, đổi tiền, tiến công chiếm đóng mười năm dài Campuchia, thất bại trong chống giặc nội xâm tham nhũng, lãng phí hàng trăm nghìn tỷ đồng trong quản lý các tổng công ty quốc doanh, kết quả là xã hội bị băng hoại, đảng CS thoái hóa bị khinh miệt và uy tín cầm quyền.

Nếu như lãnh đạo đảng CS hồi ấy tỏ ra thận trọng, sáng suốt, khôn ngoan, biết học tập kinh nghiệm hòa giải dân tộc ở Hoa Kỳ khi chiến tranh Bắc-Nam kết thúc, biết áp dụng bài học liên minh bền chặt giữa những kẻ thù truyền thống như Pháp-Ðức hay Mỹ-Nhật... thì tình hình nước ta hiện nay đã khác hẳn, quan hệ quốc tế sớm được mở rộng và thắt chặt với các nước dân chủ, và thế quốc tế của nước ta cũng đã khác hẳn.

Ðến những năm 1989, 1990, khi bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan vỡ, nếu như lãnh đạo đảng CS sáng suốt, tỉnh táo, biết nhận ra sai lầm về đường lối, học thuyết đã quá rõ ràng, chủ động từ bỏ ý thức hệ Mác-Lênin đã phá sản, trở về với dân tộc, thì tình hình cũng đã đổi khác hẳn. Lại một dịp tốt bị bỏ lỡ, chỉ vì tất cả Bộ Chính Trị bị nhiễm nặng bệnh giáo điều, cổ hủ, không một ai có tư duy đổi mới mạnh mẽ, dân chủ và sáng tạo. Trong hàng ngũ lãnh đạo không có một ai có tư duy độc lập, biết lùi để tiến khi cần, biết rẽ sang trái hay sang phải tùy theo chặng đường, cho nên cứ cắm đầu cắm cổ tiến lên với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dưới lá cờ Cộng Sản, trong khi không một ai hình dung được chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng Sản hình thù ra sao, bao năm nữa sẽ đạt, con đường quá độ như thế nào, cũng không ước lượng nổi là qua mấy kế hoạch năm năm, mấy chiến lược mười năm. Nghĩa là mục tiêu lờ mờ, mơ hồ, huyền ảo ở phía trước.

Ðến nay lại một thời cơ mới được mở ra, nhân việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 được đặt ra, dự định hoàn thành trong năm nay, có thể gọi là Hiến pháp 2013, Hiến pháp của thế kỷ XXI. Bản dự thảo được đưa ra có 95 điều khoản được sửa đổi viết lại, 13 điều hoàn toàn mới, chỉ giữ nguyên 18 điều. Ban dự thảo cho rằng đã làm được nhiều việc, thay đổi đến 108 điều khoản, nhưng thật ra chỉ sửa những vấn đề thứ yếu, có thể nói là lặt vặt.

Thay đổi lớn nhất là Ðiều 70 trong bản dự thảo mới nói về lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 ghi “Lực lượng vũ trang nhân dân là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc...” và “lực lượng vũ trang nhân dân trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu...” không có chỗ nào nói trung thành với đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và có nhiệm vụ bảo vệ đảng CS cả. Trong dự thảo hiện nay ghi rõ: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng CS Việt Nam, tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Những chữ không hề có trong cả 4 bản hiến pháp cũ. Vì sao vậy? Có thể hiểu là lãnh đạo đảng CSVN đang sợ quân đội và công an khi có khủng hoảng chính trị gay gắt xảy ra, như ở Rumania, Liên Xô, Tunisia, Ai Cập... quân đội và an ninh đã đứng hẳn về phía nhân dân xuống đường và nổi dậy. Trong lo sợ họ đang đặt đảng của họ lên trước tổ quốc và nhân dân.

Hiện đang có chuyện hệ trọng hơn nhiều. Ðó là nhân việc tu sửa Hiến pháp, một nhóm trí thức có uy tín xã hội cao đã đưa ra kiến nghị chuyển từ chế độ duy nhất một đảng sang chế độ đa đảng. Sáng kiến đưa ra vài ngày đã có hàng ngàn người đồng tình nhiệt liệt. Ðây là một đề nghị mạnh dạn, đúng đắn, khoa học, thiết thực, hoàn toàn trong sáng, vì dân vì nước, với những lý lẽ rất rõ ràng, rất khó bác bỏ.

Chưa có một chế độ độc đảng độc quyền đảng trị nào mang lại tự do no ấm cho nhân dân cả. Một nền “dân chủ độc đảng” là một nền dân chủ không thể có, một nền dân chủ mơ hồ, hoang tưởng. Chẳng lẽ thiên hạ ngu ngốc, điên dại cả chăng khi tất cả các nước giàu có, văn minh, phát triển cao đều theo chế độ dân chủ đa đảng? Họ lầm lẫn, mê muội dại dột cả chăng? Họ muốn tự sát cả chăng?

Ở nước ta, rõ ràng những yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế-tài chính, quản lý xã hội, trong lựa chọn nhân tài, thất bại trong chống quan liêu lãng phí tham nhũng đều có nguyên nhân thiếu vắng dân chủ, thiếu lực lượng chính trị ganh đua với đảng cầm quyền, thiếu thế lực kiểm soát làm đối trọng với đảng Cộng Sản.

Nguyên nhân cơ bản làm Liên Xô, các nước CS Ðông Âu sụp đổ là gì nếu không phải là chế độ độc tài đảng trị phi dân chủ kiểu Mác-Lênin? Nguyên nhân sụp đổ của chế độ độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Libya là gì nếu không phải là chế độ độc đoán đàn áp và tham nhũng, gây nên sự phẫn nộ, khinh ghét, căm thù của quần chúng đông đảo, tạo nên cuộc xuống đường hùng hậu do một bộ phận trí thức và thanh niên tiên phong lãnh đạo và làm lực lượng xung kích?

Nhất nguyên và đa nguyên, độc đảng và đa đảng, độc tài và dân chủ đang là hai quan điểm đối lập, hai trận tuyến lý luận và thực tiễn đối kháng nhau gay gắt, khi cần rất nên đặt ra trong một cuộc trưng cầu dân ý có quan sát của truyền thông quốc tế, của Liên Hiệp Quốc, trong không khí bình tĩnh tự tin của một dân tộc đã trưởng thành.

Ai cũng thấy lãnh đạo của đảng CS hiện nay là trở ngại chính cho việc chuyển đổi lịch sử theo hướng tiến bộ này. Họ sẽ viện ra đủ cớ, nhưng ai cũng thấy cái nguyên cớ thật sự là ở những đặc quyền đặc lợi quá lớn nhưng phi pháp mà họ đã thu được đang nuôi dưỡng lòng tham không đáy của họ. Mong rằng số người đặt tiền bạc cao hơn nhân dân ấy hãy ngẫm nghĩ về chữ “đủ”. Họ đã giàu gấp trăm ngàn lần người dân bình thường rồi. Hãy tự coi là quá đủ, để còn biết lẽ phải và trí khôn, lấy nền dân chủ đích thực, tân tiến của toàn dân làm trọng.

Về nhiệm vụ thuyết phục những đồ đệ trung kiên của học thuyết nhất nguyên độc đảng nên tự nguyện đi theo con đường cách mạng chân chính của nhân dân, không gì bằng xin để cho trong nội bộ đảng khuyên bảo, thuyết phục nhau, sẽ có hiệu quả hơn. Tôi mạn phép kể ra không ít cán bộ lãnh đạo cấp cao của đảng đã sẵn sàng chủ trương thực hiện nền dân chủ đa đảng trong trật tự theo một đạo “Luật về các chính đảng” sẽ được xây dựng. Ví dụ như ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội; ông Trần Phương và ông Vũ Khoan, nguyên phó thủ tướng; ông Nguyễn Ðình Hương, nguyên ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương; các tướng lãnh quân đội Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Quốc Thước, Ðặng Quốc Bảo; tướng anh hùng công an Nguyễn Tài; các giáo sư, tiến sĩ Phan Ðình Diệu, Hoàng Tụy, Chu Hảo,Tương Lai, Việt Phương, Nguyễn Quang A, Ngô Bảo Châu, Lê Ðăng Doanh, Trần Ðình Thiên, Ðào Công Tiến, Ðào Xuân Sâm; các nhà nghiên cứu Phạm Chi Lan, Dương Thu Hương, Nguyễn Trung; các nhà văn hóa Nguyên Ngọc, Phạm Toàn, Phạm Xuân Nguyên; các luật sư Lê Hiếu Ðằng, Trần Quốc Thuận...

Sẽ được hoan nghênh nếu như báo Nhân Dân mở một chuyên mục “Nên độc đảng hay đa đảng?” để cho cuộc tranh luận được công khai, ngay thật, sôi nổi, vừa mang tính lý luận, hàn lâm, vừa mang tính quần chúng rộng rãi.

Bất cứ ai quan tâm đến vận mệnh của Tổ Quốc, cuộc sống có nhân phẩm và nhân quyền của toàn dân không thể bỏ qua thời cơ hiếm có hiện nay để nước ta có một hiến pháp tiến bộ xứng đáng với biết bao hy sinh gian khổ đã qua.

Phương án thuận lợi nhất có thể gọi là “Sự chuyển đổi có điều khiển trong luật pháp từ độc đảng sang đa đảng”,vừa từ dưới toàn dân đồng thuận đòi hỏi bằng được quyền tự do của mình đưa lên trên, vừa từ trên chủ động thấu hiểu nguyện vọng của bên dưới để có phương án lãnh đạo cụ thể có hiệu quả cao.

Ðảng CS cùng toàn dân hợp sức chuyển đổi cả hệ thống chế độ chính trị là một cuộc cách mạng ôn hòa mà sâu sắc nhất, là thắng lợi thật sự vĩ đại mang tính chất dân chủ đầy đủ và trọn vẹn, mở ra kỷ nguyên Dân Chủ trong lịch sử nước ta. Làm như thế, đảng CS sẽ được ghi nhận có công lao và vinh dự to lớn trong sự nghiệp cao quý này.

Nếu như lãnh đạo đảng vẫn một mực nhắm mắt bịt tai trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân, từ chối phương án “Chuyển đổi có điều khiển”, cùng nhân dân làm trọn cuộc cách mạng dân chủ dân quyền, thì nhân dân quyết không cam tâm thất bại.

Lực lượng của cuộc cách mạng dân chủ sẽ đòi một cuộc trưng cầu dân ý công khai về vấn đề này. Nếu không đạt phương án này, nhiều cuộc xuống đường ôn hòa nhưng cực kỳ rộng lớn sẽ được đặt ra, hòa bình nhưng bền bỉ và quyết liệt để giành bằng được Quyền Con Người, quyền Tự do khao khát suốt mấy thế kỷ dồn nén lại. Tại sao nhân dân Liên Xô và Ðông Âu làm được, nhân dân Tunisia, Ai Cập, Libya làm được, nhân dân Miến Ðiện cũng làm được, mà nhân dân và sỹ phu Việt Nam ta lại không làm được?

Nhất định cuộc tranh đấu chính nghĩa này sẽ toàn thắng khi lòng dân đã đồng, lại đúng thời cơ, hợp thời đại.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Nhìn lại nỗ lực giành độc lập và thống nhất cho Việt Nam của cựu Hoàng Bảo Ðại

Nhân dịp Cam Bốt làm lễ Quốc Tang cho cựu Hoàng Sihanouk

Phạm Cao Dương


Bài này được viết theo lời yêu cầu của một số người trẻ trong đó nhiều người là sinh viên đại học nhằm bổ khuyết cho sự hiểu biết
của anh chị em này nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung về vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn nhân dịp 100 năm năm sinh của ông
cũng như về một giai đoạn lịch sử có quá nhiều góc tối hay góc khuất, và cũng nhân dịp đầu Xuân Quý Tỵ 2013 sắp tới.

Image
Hoàng đế Bảo Ðại.


Yêu cầu này cũng đến không lâu khi cựu Hoàng Norodom Sihanouk của nước láng giềng thân cận nhất của Việt Nam, Vương Quốc Khmer hay quen thuộc hơn, Cam Bốt, vừa mới băng hà.

Khi liên lạc với tôi, như để chắc ăn, một trong những vị này đã dùng cả điện thoại lẫn điện thư và để lại lời nhắn. Ðể đáp lễ, tôi cũng trả lời anh bằng điện thư trước rồi sau đó gọi điện thoại cho anh. Hai chúng tôi thảo luận với nhau rất lâu, không dưới một giờ đồng hồ về đề tài không mấy đơn giản nhưng vô cùng cần thiết này. Câu chuyện phải nói là vô cùng hào hứng giữa hai người không cùng thế hệ. Vì vậy thay vì viết một bài dưới hình thức khảo cứu, tìm hiểu hay bài học dùng trong lớp học như tôi thường làm, tôi xin được tóm tắt những gì chúng tôi đã chia sẻ với nhau cho bài viết bớt khô khan và nhẹ nhàng hơn hầu người bạn trẻ của tôi có thể đăng trên báo Xuân của anh và các bạn của anh.

Tôi cũng tránh không nêu tên anh và tổ chức của anh để bài viết có thể được dễ dàng phổ biến rộng rãi hơn cho những anh chị em thuộc những nhóm khác.

Nhu cầu cần được xét lại

Cựu Hoàng Bảo Ðại, như sau này người ta thường gọi ông kể từ ngày ông thoái vị, thường bị nhiều người, Việt Nam có, ngoại quốc có, tệ hơn trong đó có cả các sử gia, máy móc theo nhau gọi là vua bù nhìn, tay sai của hết Tây đến Nhật, một ông vua chỉ ham ăn chơi đàng điếm, một thứ playboy do người Pháp nặn ra và đặt lên ngôi để dễ sai bảo. Ngay cả sử gia Trần Trọng Kim, khi được học giả Hoàng Xuân Hãn khuyên là nên gặp ông để tìm hiểu, lúc đầu cũng đã từ chối, gọi ông là “thằng ngốc” - “thằng ngốc, gặp nó làm gì?” - nhưng sau khi đã gặp rồi, nhà học giả kiêm sử gia này đã phải thay đổi hoàn toàn nhận định mà ông đã có từ trước. Ở đây tôi không bàn về chuyện này mà chỉ nói tới những gì Bảo Ðại đã làm ngay từ khi vị cựu hoàng này còn là Ðương Kim Hoàng Ðế hay sau này là cựu Hoàng và là Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam.

Ðây là những đóng góp tôi nghĩ là không nhỏ, nếu không nói là vô cùng lớn lao so với những đóng góp của những lãnh tụ khác của Việt Nam, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông bằng đường lối hòa bình, phi bạo lực. Cho cá nhân ông, những nỗ lực của ông đã không mang lại được những thành quả mà ông mong muốn. Ông đã không bảo vệ được di sản mà tổ tiên ông để lại, đã không xây dựng được một chế độ quân chủ lập hiến cho đất nước và thần dân của ông, điều ông muốn làm ngay từ đầu, không giữ được sự đoàn kết dân tộc mà ông trịnh trọng ghi trong chiếu thoái vị... Cuối cùng ông đã bị mọi người trách cứ, bỏ rơi và chết ở xứ người.

Thần dân cũ của ông không mấy ai để ý tới sự qua đời của ông, trái với cái chết của một quốc vương khác trẻ hơn ông nhưng đồng thời với ông và cũng phải đối phó với vấn đề độc lập của quốc gia giống như ông sau này. Tôi muốn nói tới cựu Hoàng Norodom Sihanouk của xứ Cam Bốt. Giống nhưng khác với Bảo Ðại ở đường lối đấu tranh vì trong đời ông, Sihanouk đã có thời dùng bạo lực để đàn áp đối lập, đã cộng tác với Khmer Ðỏ, tổ chức Cộng Sản Cam Bốt chịu ảnh hưởng của Trung Cộng của các lãnh tụ Pol Pot và Ieng Sary, một thời đã mang họa diệt chủng đến cho xứ Cam Bốt khiến cho hàng triệu người dân của xứ này bị tàn sát bằng đủ mọi phương tiện với hàng núi xương được phát hiện, cho đến nay vẫn được bảo tồn coi như di tích của một thời đen tối nhất trong lịch sử của dân tộc Khmer. Còn Bảo Ðại thì tuyệt đối không, kể cả việc ông đã từ chối không chấp nhận cho người Nhật đứng ra bảo vệ lãnh thổ, hoàng cung và an ninh cho chính ngôi vị và bản thân ông, chống lại cuộc nổi dậy của Việt Minh và những người Cộng Sản hồi Tháng Tám năm 1945 theo trách nhiệm giữ gìn trật tự mà quốc tế giao cho họ. Lý do đơn giản là vì Bảo Ðại không muốn dùng người ngoại quốc để chống lại người Việt Nam, đồng bào của ông và thần dân của ông. Sihanouk đã được chính quyền và người dân Cam Bốt thương tiếc bằng những giọt nước mắt nhỏ xuống bên lề đường hay ở trên công viên trước hoàng cung ở Nam Vang hay ở nhiều nơi ở Cam Bốt. Người ta đã long trọng đón thi hài của ông từ Bắc Kinh được đưa về Nam Vang và long trọng làm quốc tang cho ông trong bốn ngày đầu Tháng Hai năm 2013, vào lúc người Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại sửa soạn mừng đón Xuân Quý Tỵ.

Nỗ lực canh tân đầu tiên với Phạm Quỳnh và Ngô Ðình Diệm

Trở về với những cuộc tranh đấu của cựu Hoàng Bảo Ðại. Nhà vua đã bắt đầu sự nghiệp này của mình từ rất sớm, ngay từ khi ông mới từ Pháp trở về nước để chính thức lên ngôi, sau hơn mười năm du học và hấp thụ được cả hai nền văn hóa Ðông-Tây qua sự rèn luyện của cựu Khâm Sứ Charles về phía người Pháp và cử nhân Lê Như Lâm với tư cách là giảng tập hồi nhà vua còn ở Việt Nam rồi phụ đạo trong suốt thời gian ông ở Pháp về phía người Việt, trong các năm các năm 1922-1932. Tranh đấu này mang tính cách của một cuộc cải cách và đã được khơi mào bởi những vận động của giới trí thức đương thời trước đó, đại diện là học giả Phạm Quỳnh của báo Nam Phong xuyên qua những bài viết của họ Phạm về một chế độ quân chủ lập hiến và về nhu cầu trả lại cho nhà vua quyền nội trị ở hai xứ Bắc kỳ và Trung kỳ và trả lại tổ quốc cho người Việt Nam. Mở đầu, ngay từ Tháng Chín năm 1932 Phạm Quỳnh đã được cử làm Ngự Tiền Tổng Lý Văn Phòng hàm Thượng Thư để trực tiếp làm việc với nhà vua. Tiếp theo, ngày 10 Tháng Mười Hai năm 1932 bằng một đạo dụ, nhà vua loan báo chính thức cầm quyền qua một chính thể quân chủ lập hiến kèm theo với nhũng dự án cải tổ guồng máy cai trị, hệ thống quan lại, tổ chức giáo dục và tư pháp, Viện Dân Biểu Trung Kỳ... Ðể thực thi những dự án này, ngày 2 Tháng Năm năm 1933, như một biến cố bất ngờ, Bảo Ðại lại ký một dụ khác loan báo tự mình chấp chánh và thay thế sáu vị thượng thư già bằng những nhân vật trẻ trong đó có Ngô Ðình Diệm giữ Bộ Lại, Phạm Quỳnh giữ Bộ Học, Bùi Bằng Ðoàn Bộ Hình...

Những việc làm đầu tiên kể trên của Bảo Ðại, mặc dầu đã đem lại những tia hy vọng cho người dân ở hai xứ Bắc và Trung kỳ về một vận hội mới cho đất nước, đã không tồn tại lâu dài, một phần vì người Pháp cản trở vì trả lại quyền nội trị ở Bắc kỳ và ở Trung kỳ là trở lại với Hòa Ước 1884 từ đó sẽ động tới các chức thống sứ Bắc kỳ và khâm sứ Trung kỳ, một phần là do mâu thuẫn nội bộ giữa phe quan lại cũ và những trí thức mới, giữa những người đi vào hoạn lộ qua ngả quan trường và những người đi vào đường này qua đường tắt cũng như giữa hai nhân vật chủ cốt là Phạm Quỳnh và Ngô Ðình Diệm mà nhà vua đặt hết tin tưởng vào coi như đôi xe bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau. Cuối cùng Ngô Ðình Diệm từ chức, lôi cuốn theo một vài nhân vật mà nhà vua tin cậy khác. Thất bại trong cố gắng đầu đời, nhà vua trở thành “cô đơn, chỉ có một mình” để đến khi Hoàng Xuân Hãn nhắc ông là phải làm gì vì giới thanh niên mong đợi, nhà vua đã hỏi lại “Làm gì? Làm với ai?” Có điều ông vẫn không hoàn toàn mất hết hy vọng như sau này ông ghi trong hồi ký của ông: “Dù sao đi nữa, sự có mặt của tôi trên ngôi vẫn làm cho giới trẻ giữ được niềm hy vọng. Những người như Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Ðệ lúc ấy sẽ lại ra giúp tôi theo chiều hướng này”. “Chắc người Pháp cho rằng tôi đã ngoan ngoãn biết nghe theo lời của họ. Dù họ có tin rằng họ đã thắng một cách dễ dàng, tôi cũng chẳng nên có lý do gì ngờ vực tôi. Tôi tin rằng nhân dân sẽ hiểu các hình thái buông thả bên ngoài của tôi, bởi cái hình thái ấy cho thấy sự thờ ơ, lơ là với nhiệm vụ của tôi...” và ông đã sống sót để chờ thời, không bị rơi vào số phận của các vua Thành Thái và Duy Tân mà ông hiểu rõ hơn ai hết cũng như bị mất tinh thần và trở thành một con người vô dụng.


Cơ hội mới: Nhật đảo chính Pháp, 9 Tháng Ba 1945 - Chính phủ Trần Trọng Kim hay là Cuộc cách mạng phi bạo lực bị bỏ lỡ


Niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Bảo Ðại kể trên đã không uổng. Mười hai năm sau, năm 1945, cơ hội lại đến với nhà vua một lần nữa. Lần này do người Nhật mang lại sau cuộc đảo chính ngày 9 Tháng Ba năm 1945 lật đổ người Pháp của họ. Không còn con đường nào khác tốt hơn và cũng không để lỡ cơ hội bước đi những bước khởi đầu, khi được người Nhật yêu cầu nhà vua đã cho công bố bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Chính phủ Trần Trọng Kim đã được thành lập với các bộ trưởng đều là những nhà tân học có khả năng, và đạo đức nổi tiếng đương thời đứng đầu bởi nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, tác giả của những bộ sách Giáo Khoa Thư và nhất là bộ Việt Nam Sử Lược cho tới khi bài này được viết vẫn còn thông dụng, với sự cộng tác của những tên tuổi quen thuộc với học giới đương thời như Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Luật Sư Vũ Văn Hiền, luật sư kiêm nhà báo Phan Anh, Luật Sư Trần Văn Chương...

Mặc dầu không tồn tại lâu dài, tất cả chỉ được hơn bốn tháng, thực tế còn ngắn hơn nhiều, hoạt động trong hoàn cảnh chiến tranh, bị Việt Minh đánh phá ngay từ đầu rồi tuyên truyền phá hoại và thiếu thốn đủ mọi phương tiện, chính phủ Trần Trọng Kim đã tạo được những thành tích đáng ca ngợi.

Cả một chương trình hành động nhằm xây dựng một nước Việt Nam mới đã được dự trù bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt từ soạn thảo hiến pháp, cải tổ thuế má, Việt Nam hóa giáo dục, thu hồi các nhượng địa, kể cả xứ Nam kỳ, cứu đói, chống nạn mù chữ... đều đã đồng thời được thực hiện. Quốc hiệu Việt Nam với danh xưng đầy đủ là Ðế Quốc Việt Nam đã được lựa chọn cùng với bài Ðăng Ðàn Cung làm quốc ca, cờ quẻ ly nền vàng ba sọc đỏ với hai sọc trên liền, sọc giữa đứt đoạn làm quốc kỳ. Danh xưng bộ trưởng để gọi những người đứng đầu các bộ được dùng để thay thế bằng danh xưng thượng thư của thời trước, các tên Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ thay thế cho các tên Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ mang nặng dấu vết của thời thuộc địa. Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt được biết dưới tên Chương Trình Hoàng Xuân Hãn đã được soạn thảo và áp dụng và đã trở thành nền tảng cho nền giáo dục sau này, rõ hơn những năm đầu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thời Quốc Gia Việt Nam và hai thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam. Bài Ðăng Ðàn Cung tuy được chọn làm quốc ca nhưng trên thực tế thì bài Tiếng Gọi Sinh Viên đã được giới thanh thiếu niên, dưới sự hướng dẫn của các thày giáo ở các trường hát mỗi ngày một nhiều, đã được phổ biến hơn không phải chỉ ở miền Bắc và miền Trung mà luôn cả ở miền Nam, miền đất cho đến khi chính phủ của thủ tướng họ Trần được thành lập vẫn chưa thực sự được trả về với lãnh thổ quốc gia, để sau này trở thành quốc ca, một hiện tương đã nằm trong ký ức của những người thuộc thế hệ trẻ đương thời tới nay vẫn chưa hề phai nhạt.

Nỗ lực lần thứ hai của Bảo Ðại tuy nhiên cũng không tồn tại được lâu dài. Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt với sự đầu hàng của Nhật Bản đã một lần nữa làm cho nhà vua phải bỏ dở. Lợi dụng cơ hội, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc và áp lực những thành phần thiên Cộng khiến cho ngày 25 Tháng Tám năm 1945 ông phải xuống chiếu thoái vị trao quyền cho Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời của ông này do Việt Minh lãnh đạo. Với Chiếu Thoái Vị, Bảo Ðại đã trở thành nổi tiếng với câu nói: “Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”


Nỗ lực lần thứ ba: Hiệp Ðịnh Élysée và sự thành Lập Quốc Gia Việt Nam - Thâu hồi xứ Nam kỳ về cho lãnh thổ của dân tộc


Bỏ qua những cố gắng của ông thời đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước và những cố gắng của ông sau khi ông tuyên bố độc lập ngày 11 Tháng Ba năm 1945 mà tôi tóm tắt như trên, những biến cố ít người được biết đến, công lao lớn nhất mà Hoàng Ðế Bảo Ðại đã thực hiện được cho những người Việt Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng Sản hay không sống nổi với chế độ Cộng Sản, đã ở lại, đã về hay dự tính về những vùng kiểm soát của người Pháp vào nửa cuối thập niên 1940 là Hiệp Ðịnh Élysée mà ông đã đạt được ngày 8 Tháng Ba năm 1949, sau một thời gian dài thương thuyết, dưới hình thức trao đổi văn kiện giữa ông và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol.

Với Hiệp Ðịnh Élysée, Quốc Gia Việt Nam hình thành để những ai không chấp nhận chính quyền Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo có chỗ trở về trong danh nghĩa của những công dân của một nước Việt Nam độc lập. Không có Bảo Ðại, không có Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều được nhìn hoặc như là theo Pháp để trở thành Việt gian làm bồi cho thực dân, đế quốc, hoặc là phải ở lại vùng Việt Minh kiểm soát để sớm muộn cũng bị loại trừ và tiêu diệt. Ðiều này đã xảy ra. Nói cách khác, Bảo Ðại và Hiệp Ðịnh Élysée đã đem lại chính nghĩa cho những người đương thời không chấp nhận chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Chưa hết, với Hiệp Ðịnh Élysée, Bảo Ðại đã thâu hồi lại xứ Nam kỳ cho tổ quốc Việt Nam một cách hòa bình, không đổ máu mà Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước đó qua những thỏa ước 6 tháng 3 rồi 14 tháng 9 năm 1946 hay hội nghị Ðà Lạt và Fontainebleau đã không làm được.

Lễ thâu hồi chính thức được cử hành vào ngày 14 tháng 6 năm 1949. Với tư cách Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam, lần đầu tiên ông đã từ Ðà Lạt, thủ đô tạm thời của ông về Saigon để long trọng đón phần đất đã từng là thuộc địa của Pháp từ năm 1862 trở về với lãnh thổ quốc gia và người dân Nam kỳ đã trở thành công dân của Quốc Gia Việt Nam để cùng tham gia xây dựng lại đất nước dù là ở miền Nam, miền Trung hay miền Bắc. Một người dân miền Nam không lâu sau đó đã được bổ nhiệm đứng đầu miền Bắc. Ðó là Ðốc Phủ Sứ Nguyễn Văn Tâm, với danh vị Thủ Hiến Bắc Việt. Ðây là một sự thực không ai có thể chối cãi được và khi nói xấu ông người ta chỉ còn cách lơ đi không nói tới mà thôi.

Quốc Gia Việt Nam thường được hiểu là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa, từ đó bị ngộ nhận là có lãnh thổ chỉ là lãnh thổ của miền Nam Việt Nam sau này tức từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Ðiều này không đúng. Bắt đầu từ thời điểm 14 Tháng Sáu năm 1949, khi Nam kỳ trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam và cho đến khi Hiệp Ðịnh Genève được thông qua và trở thành có hiệu lực, chính quyền Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Ðại đã chính thức và hợp pháp kiểm soát những miền đất phía trên vĩ tuyến này, từ Lào Kai, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cáy... cho tới Hà Tiên và mũi Cà Mau, từ đồng bằng cho tới các cao nguyên do người Pháp chiếm giữ trước đó và trao trả. Nói cách khác, Quốc Gia Việt Nam có lãnh thổ bao trùm đất đai của người Việt từ Bắc chí Nam, từ biển Ðông với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng xác nhận ở Hội Nghị San Francisco vào hai ngày 6 và 7 Tháng Chín năm 1951) tới các cao nguyên và miền núi, sau này, từ ngày 14 Tháng Sáu năm 1949, bao gồm luôn cả miền Nam hay Nam kỳ Lục Tỉnh thay vì chỉ có miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống tức lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa về sau này.

Cờ vàng ba sọc đỏ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên sau này là Tiếng Gọi Công Dân đã được tung bay hay được hát ở khắp nơi hay đối với giới trẻ đương thời, được học sinh các trường trung và tiểu học, mới được mở cửa trở lại sau những ngày đầu của chiến tranh, hát lên buổi sáng trước khi vào lớp. Quốc kỳ này và quốc ca này đã được lựa chọn cùng thời với danh xưng Quốc Gia Việt Nam đã liên tục được duy trì qua các thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam trong suốt hai mươi năm tồn tại. Sau này cả hai vẫn được bảo tồn và bảo vệ ở hải ngoại coi như hai biểu tượng vừa thiêng liêng vừa thân thiết nhất của người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Một sinh hoạt bình thường đã thực sự hồi sinh. Các cơ cấu từ chính trị, hành chánh, quân sự, văn hóa, giáo dục mang màu sắc nhân bản vừa cổ truyền, vừa tân tiến theo trào lưu mới đã từng bước một thành hình và làm nền tảng cho các sinh hoạt ở miền Nam trước khi bị những người Cộng Sản phá bỏ để thay thế bằng những tổ chức riêng của họ. Nên nhớ là với Thỏa Ước Sơ Bộ ngày 6 Tháng Ba năm 1946 Hồ Chí Minh ký với đại diện Cao Ủy Pháp ở Ðông Dương Jean Sainteny và Tạm Ước 14 Tháng Chín ký với Bộ Trướng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet vấn đề thống nhất xứ Nam kỳ chưa được giải quyết. Nói cách khác Nam kỳ cho tới ngày 14 Tháng Sáu, trước khi được Bảo Ðại thu hồi vẫn thuộc quyền cai quản của người Pháp theo các Hòa Ước 1862 và 1874. Sau ngày 14 Tháng Sáu năm 1954, xứ này mới thực sự trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam, sau này là Việt Nam Cộng Hòa và luôn luôn nằm ngoài lãnh thổ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho mãi đến sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Ðối với những người thuộc thế hệ sinh từ cuối thập niên 1920 và hai thập niên 1930, 1940, sự hình thành của Quốc Gia Việt Nam đã đem lại cho họ một nền giáo dục nhân bản và tiến bộ, vừa mang những đặc tính của thời xưa, vừa cởi mở, khai phóng để đón nhận những tinh hoa của thời đại thay vì lang thang không được đi học trong nhiều năm trong vùng “kháng chiến”. Nền giáo dục này đã cung cấp cho họ những điều kiện cơ bản để tiến xa hơn về sau này. Cũng vậy với sự thành lập Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam từ đầu thập niên 1950 mà người ta hầu như đã quên.

Ðối với những người làm văn chương, âm nhạc và nghệ thuật sự thành lập Quốc Gia Việt Nam là thời kỳ mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới vừa tiếp nối giai đoạn canh tân, trẻ trung, đầy sinh lực và lãng mạn của thời cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940 vừa tràn ngập hân hoan, hào hứng và tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất lãnh thổ và phát triển quốc gia dưới một chính quyền mới không Cộng Sản. Rõ rệt nhất trong hiện tượng này là trường hợp của các nhạc sĩ trong đó có Phạm Duy, Thẩm Oánh, Hùng Lân, Phạm Ðình Chương... chỉ kể một vài tên tuổi quen thuộc.

Nói về Hiệp Ðịnh Élysée và những thỏa thuận giữa Bảo Ðại và người Pháp trước đó, nhiều người cho rằng cựu hoàng đã vội vã và không đòi hỏi đúng mức những gì có thể đòi hỏi được. Các vị này chủ trương là phải đòi độc lập hoàn toàn. Ðiều này đúng nhưng không thực tế. Thời điểm của những năm 1948, 1949 với sự thắng thế mỗi ngày một rõ của Hồng Quân Trung Hoa ở Trung Quốc, cả hai phía người Pháp và Bảo Ðại phải cấp tốc giải quyết vấn đề. Không những thế, đuổi Pháp đi thì ngay lập tức lấy gì để chống Việt Minh và ngay lập tức điều hành toàn thể mọi sinh hoạt của đất nước? Vấn đề không đơn giản. Người ta không thể điều đình mà không tương nhượng và dự trù cho những sự hợp tác tương lai.

Ðóng góp cuối cùng: Hiệp Ước Paris 04 Tháng Sáu 1954 - một nền độc lập hoàn toàn cho Quốc Gia Việt Nam

Hiệp Ðịnh Élysée chỉ là khởi đầu. Nền độc lập do hiệp ước này mang lại chưa thực sự hoàn toàn. Nhiều bước tiến khác còn phải được thực hiện. Bảo Ðại đã tiếp tục và đã hoàn tất được công tác này với sự trợ giúp của những trí thức hiểu rõ nước Pháp và người Pháp, giỏi về chính trị và luật pháp có mặt ngay trên đất Pháp và giảng dạy ngay tại các đại học Pháp, những người có đầy đủ học vị, thực học và kinh nghiệm. Ðích thân ông, ông đã phải sang Pháp, ở tại chỗ nhằm tự mình theo dõi và đôn đốc. Sau một tiến trình đàm phán gay go và lâu dài, hai hiệp ước đã thành hình.

Với hiệp ước thứ nhất, Pháp công nhận hoàn toàn nền độc lập và chủ quyền toàn vẹn của Quốc Gia Việt Nam và qua hiệp ước thứ hai, Việt Nam thỏa thuận gia nhập Liên Hiệp Pháp. Ðại diện cho nước Pháp là Thủ Tướng Joseph Laniel và đại diện cho Việt Nam là Thủ Tướng Bửu Lộc. Ngày được ghi là 04 Tháng Sáu năm 1954 và địa điểm là Paris, thủ đô của nước Pháp. Bảo Ðại đã không có được niềm hạnh phúc mà cả đời ông ấp ủ là được chứng kiến lễ ký kết những hiệp ước này. Ngày 7 Tháng Nam, Ðiện Biên Phủ thất thủ, Hiệp Ðịnh Genève đang thành hình và cả hai văn bản đã bị vĩnh viễn xếp lại. Một lần nữa thành công của vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn đã không trọn vẹn.

Ðiều ta nên nhớ là trong nỗ lực cuối cùng này, ông đã phải dời bỏ quê hương của ông sang Pháp để đích thân gặp các nhân vật lãnh đạo Pháp, kể cả Tổng Thống Auriol, theo dõi và đôn đốc các đại diện của mình, bị báo chí Pháp công kích vì đã đòi hỏi quá nhiều, sau này lại còn bị mang tiếng là ham sống ở nước ngoài không chịu về nước.

Dù sao với hai hiệp ước đề ngày 04 Tháng Sáu này, ông đã đem lại được những gì ông mong ước cho đất nước và cho thần dân Việt Nam của ông. Thiên Mạng của ông sau đó không còn nữa. Ðiều đáng tiếc là ông đã không còn trở về quê hương của ông để làm công dân một nước độc lập như ông mong muốn được nữa. Người đời đã quên ông và thần dân của ông đã quên ông hay nếu nhớ tới ông chỉ là nhớ để trách cứ. Mà trách cứ thì luôn luôn dễ hơn là ghi nhận và nhất là ghi ơn. Người ta đã đòi hỏi ở ông quá nhiều mà quên mất một điều là dù là vua, là thiên tử, ông vẫn chỉ là con người, con người với tất cả mọi nhược điểm của con người, nhiều khi không phải do bản chất của người ấy mà do hoàn cảnh gây ra. Bảo Ðại đã lên ngôi vào lúc chế độ quân chủ ở Việt Nam đang ở tình trạng suy đồi và bị tấn công từ nhiều phía trong lúc chủ trương dân chủ mỗi ngày mỗi thêm thắng thế. Người ta không biết có bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ xuống cho ông khi ông qua đời như chúng đã được nhỏ xuống khi ông đọc chiếu thoái vị trước cửa Ngọ Môn hồi năm 1945. Phải chăng sau hơn nửa thế kỷ, hơn 52 năm sau, tất cả đều đã thay đổi? Có điều đất nước Việt Nam vẫn không hề tiến bộ hơn, lãnh thổ quốc gia mà Bảo Ðại đã thâu hồi hay xác nhận chủ quyền và để lại cho những người kế vị ông đã bị hao mòn không ít, và người dân Việt Nam bình thường vẫn chưa tìm lại được cuộc sống thanh bình, no ấm mà bất cứ một vị vua nào trong lịch sử nước nhà đều mong mỏi với một xã hội trong đó “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” như Trần Nguyên Ðán đã miêu tả xã hội Ðại Việt cuối thời Nhà Trần.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khôn nhà dại chợ
Bùi Tín

(VOA blog) - Theo báo chí Hoa Nam đây là một thành tích “lịch sử, kỳ diệu, có một không hai” của Cục tình báo Hoa Nam. Nhà tình báo thiên tài Hồ Tập Chương đã đóng trọn vẹn vai trò đội lốt Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh , kể từ khi về hang Pác Bó, rồi dự hội nghị Tân Trào tháng 8/1945, rồi về Hà Nội sau đó, làm Chủ tịch đảng, Chủ tịch Nước suốt 24 năm - từ 1945 đến 1969 - mà sự thật này không hề bị tiết lộ...

Gần đây trên một số mạng tự do ở Việt Nam có truyền đi tin tức, các đoạn trích dịch và một số bài bình luận về một cuốn sách chữ Hán nghiên cứu về cuộc đời của Hồ Chí Minh xuất bản tại Hoa Nam, Trung Quốc, có nhan đề là "Hồ Chí Minh sinh bình khảo".

Mục đích cuốn sách là chứng minh ông Nguyễn Ái Quốc, sanh vào khoảng năm 1890 ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mang tên khai sinh là Nguyễn Sinh Coong, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, xuất dương năm 1910 sang Anh, Pháp, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, sau đó sang Nga, Trung Hoa, hoạt động trong phong trào Cộng sản, đã chết vào năm 1932 vì bệnh lao phổi. Thi hài ông được chôn đâu đó ở Hoa Nam.

Về sau có người tự nhận là Nguyễn Ái Quốc rồi lấy tên là Hồ Chí Minh, xuất hiện từ sau năm 1934, thật ra là một người Trung Hoa chính cống, thuộc dân tộc Miêu ở Đài Loan, có tên là Hồ Tập Chương.

Theo báo chí Hoa Nam đây là một thành tích “lịch sử, kỳ diệu, có một không hai” của Cục tình báo Hoa Nam. Nhà tình báo thiên tài Hồ Tập Chương đã đóng trọn vẹn vai trò đội lốt Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh , kể từ khi về hang Pác Bó, rồi dự hội nghị Tân Trào tháng 8/1945, rồi về Hà Nội sau đó, làm Chủ tịch đảng, Chủ tịch Nước suốt 24 năm - từ 1945 đến 1969 - mà sự thật này không hề bị tiết lộ.

Cuốn sách cũng khẳng định trong lăng Hồ Chí Minh là xác của nhà tình báo Trung Hoa Hồ Tập Chương. Báo chí Trung Quốc khoe cuốn sách này là trước tác chân thực của học giả có tên tuổi Hồ Tuấn Hùng, cháu họ của nhà tình báo Hồ Tập Chương. Sách in đẹp, công phu, rất nhiều ảnh và tư liệu, được phát hành rộng rãi khắp Trung Quốc.

Điều rất lạ, lạ đến kỳ quặc là người Việt trong nước xôn xao về cuốn sách giật gân này hơn một năm nay, nhưng cả Bộ Chính trị im re, cả bộ máy tuyên huấn câm như hến, cả bộ máy 4T thông tin tuyên truyền ngậm tăm, bộ máy an ninh đồ sộ đang bận lo đàn áp người yêu nước, coi đây là chuyện vặt.

Mưu đồ bôi xấu chế độ nham hiểm là đây, tuyên truyền chống chế độ là đây chứ còn ở đâu nữa. Xin hỏi ai có thể xúc phạm đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền Việt Nam hơn cuốn sách nhảm nhí đến tột cùng này? Trong Bộ Chính trị có ai cảm thấy nhục không khi họ in trên giấy trắng mực đen rêu rao khắp nơi rằng người từng là lãnh tụ cao nhất của đảng Cộng sản, của chính phủ Việt Nam trong suốt 24 năm trời hóa ra chỉ là một anh Tàu vô danh tiểu tốt mang tên Hồ Tập Chương của hòn đảo nhỏ Đài Loan của họ? Và trong cái lăng đồ sộ giữa thủ đô Hà Nội là cái xác giả Hồ Chí Minh, thật ra là xác một anh Tàu, vậy mà kỳ lễ lớn nào, kỳ họp Quốc hội nào những tai to mặt lớn của Hà Nội cũng phải đến cúi rạp người, lại nuôi cả một đội quân để bảo vệ và ra oai.

Đây là sự bịa đặt khổng lồ trong quan hệ giữa cấp quốc gia với quốc gia, vậy mà người phát ngôn bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị vẫn im thin thít. Danh dự quốc gia, quốc thể là đây. Rõ thật là “khôn nhà dại chợ“.

Cũng là điều đáng tiếc khi một số mạng tự do đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền vẫn liên tiếp đăng những đọan dài kèm theo nhiều ảnh từ cuốn ‘’Hồ Chí Minh sinh bình khảo’’, với lời giới thiệu của nhà báo Huỳnh Tâm và dịch giả Thái Văn. Lẽ ra khi giới thiệu cuốn sách ban biên tập của các mạng ấy nên nói rõ quan điểm tỉnh táo của mình để hướng dẫn công luận. Vậy mà không một lời bình luận, phê phán.

Hay là vẫn có người tin rằng trong thế giới ngày nay, khoa học tiên tiến có thể tạo và luyện nên những con người tình báo siêu phàm, giả giống y như thật - còn hơn thật - đến mức chị ruột và anh ruột ông Hồ là bà Thanh và ông Cả Khiêm cũng bị lầm, và tất cả cơ quan tình báo sắc sảo của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Việt... cũng chỉ là gà mờ hết, bị cơ quan tình báo Hoa Nam cho ăn quả lừa ngoạn mục.

Bùi Tín
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Ta về cho kịp độ Xuân sang

Ngô Nhân Dụng

Có một nhà báo Mỹ đang chịu búa rìu dư luận trên mạng Internet, vì một bài ông ta viết sau chuyến đi thăm Việt Nam. Joel Brinkley mở đầu bài báo trên mạng Chicago Tribune như thế này: “Bạn không cần phải ở Việt Nam lâu ngày mới thấy một điều bất bình thường.

Không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy những con sóc leo cây hay những con chuột bới đống rác. Không thấy ai dắt chó đi ngoài đường. Sự thật là, bạn không nhìn thấy con thú nào, sống hoang hay được người nuôi. Chúng đi đâu cả? Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết tại sao: Phần lớn đã bị ăn thịt.”

Joel Brinkley kể tiếp về thú vui ẩm thực của người Việt, đặc biệt là người ta ăn cả thịt chó lẫn thịt chuột. Ðó là ông chưa thấy họ ăn cả thịt rùa, ba ba, thịt rắn, thịt kỳ đà, thịt chim cút, ăn nhộng, ăn lòng lợn, gan gà, tiết canh vịt, ăn châu chấu, ăn rươi, ăn cả những con sâu “đoong” nằm trong cuống dừa. Nhiều người nghe nói tới những món đó chắc muốn hỏi có sách nấu nướng nào dạy không. Còn chàng du khách Brinkley thì nhận xét: “Người Việt thích ăn thịt, chắc ăn nhiều quá nên tính tình hung hăng hay gây sự (aggressive).”

Joel Brinkley có vẻ thích thú đã tìm thấy một định luật về “dinh dưỡng-xã hội-tâm lý-sinh lý học,” sau chuyến du lịch ba tuần! Một nhà báo (dù đã từng được giải Pulitzer), và một giáo sư dạy môn báo chí (dù dậy ở Ðại Học Stanford) cũng không nên công bố một định luật “đa khoa” (multidisciplinary) nhanh quá như vậy! Chẳng trách, một sinh viên người Mỹ viết: “May quá, ông này không dạy tôi!” Một người Mỹ khác than: “Brinkley làm xấu mặt cả giới làm báo!” Sonny ở California dùng các con số: “Về khuynh hướng hung hăng do ăn thịt gây ra thì tôi nghĩ ông đang nói về nước CHÚNG TA (nhấn mạnh trong nguyên văn), nước ông và nước tôi. Người Mỹ mỗi năm ăn trung bình 125 ký lô thịt, đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Luxembourg (136 kilos), so với người Việt ăn mỗi năm chỉ ăn 41 ký, đứng hàng thứ 90! Mà tôi chưa nghe nói nước Luxembourg đi đánh nhau với ai bao giờ cả!” Một độc giả khác, McElwee đã sống ở Việt Nam năm năm, cũng tự hỏi: “Không hiểu sao ông ta đi từ chỗ ghét những người ăn thịt chó và thịt chuột để liên hệ tới ý tưởng là ở Việt Nam thiên nhiên hoang dã không được bảo vệ?”

Sau khi đọc bao lời bình phẩm như trên (có cả một độc giả gốc Hàn Quốc tham dự), Joel Brinkley đã viết một bài ngắn tự phân trần. Ông nhận xét: “Người Việt Nam có vẻ rất nhậy cảm khi bị phê bình. Mà dân tộc nào chẳng vậy.” Ông nói rất chí lý, nhưng tưởng điều này ai cũng biết cả rồi. Vẫn bảo vệ định lý “ăn thịt sinh hung dữ,” ông so sánh người Việt với người Lào, Campuchia. Ông thấy dân chúng hai nước này thường chỉ ăn cơm, cho nên trẻ em nhỏ con hơn và không khôn lanh bằng trẻ Việt. Ông kết luận: “Có phải như vậy thì khi lớn lên chúng không hung hăng như người Việt Nam không? Tôi (Brinkley) tin như thế.”

Lại thêm một định luật đa khoa nữa. Ðộc giả có ai tin như thế hay không? Chắc ông Brinkley phải nghiên cứu lại xem Pol Pot và các đồng chí Khờ Me đỏ họ ăn cái gì! Một độc giả nói thẳng: “Bài trả lời của ông ta còn tệ hơn bài trước. Cứ theo lối ông ta nói về người Lào và người Campuchia thì chắc mình phải bắt các dân tộc này cứ tiếp tục nghèo và đói, để họ khỏi hung dữ...”

Trong bài trả lời, Brinkley cũng cho lên mạng một bức hình ông chụp ở Việt Nam, hình một bà đang ngồi ở chợ, trước mặt là mấy cái thau ngâm xác những con chuột trắng hếu: Ðó, trông ghê chưa? Nhưng nhiều người coi hình không thấy ghê. Cô Erica J. Peters, đã viết sách về thức ăn Việt Nam, nhận xét: “Bức hình của ông cho thấy những con vật này đã được làm sạch sẽ, giống như ở bất cứ một cửa hàng bán thịt nào!” Về chuyện giết chuột, một độc giả tên Quốc Tấn so sánh: “Ở Mỹ số chuột bị giết cao hơn ở Việt Nam gấp bội, họ gọi đó là Bảo vệ Mùa màng!”

Còn nhiều người phản đối ông Brinkley nữa, nhưng đọc bấy nhiêu lời cũng đủ. Một trong những “người Việt nhậy cảm” là cô Uyên Nguyễn, một sáng lập viên OneVietnam Network. Cô nói thẳng về bài báo: “Nó sỉ nhục. Nó đánh thẳng vào văn hóa của chúng tôi.”

Chắc cũng không cần quá nhậy cảm với một bài báo về du lịch. Một ký giả trang du lịch chỉ muốn viết mua vui, kiểu những người đi xa về thì hay nói; chắc không cố ý sỉ nhục ai hết. Tiếc là trong khi kể chuyện người viết không biết tự kiềm chế, lại đưa ra những định luật tổng quát nằm ngoài phạm vi chuyên môn của mình. Có thể tin lời Brinkley phân trần, ông ấy không hề có ý định nói xấu người Việt Nam. Ðúng kiểu người Việt Nam, tôi sẽ bảo ông: Thôi, xí xóa.

Tôi kể lại câu chuyện trên vì sau bài báo trên rất nhiều độc giả Mỹ xúm lại nói người Việt Nam rất tốt. Có người viết: “Người Việt, mặc dù họ ăn mấy món không hợp khẩu vị chúng ta, nhưng họ là một dân tộc rất dễ thương.” Tất nhiên rồi! Một người khác đã du lịch Việt Nam, viết: “Mấy năm trước tôi đi Việt Nam hai tuần... và ngạc nhiên thấy ngoài đường rất nhiều chó do người ta nuôi... Tôi chưa từng thấy dân tộc nào nồng hậu và hào phóng (warm and generous) bằng người Việt Nam. Có lần tôi đi dạo bằng xe đạp, khát nước quá, một người bán xăng đã chạy vào trong lấy ra chai nước của anh ta, cho tôi, và nhất định không nhận tiền.” Tất nhiên rồi! Người nước nào gặp người ngoại quốc cũng cư xử tốt hơn với người cùng nước họ! Những giống dân tử tế thì lại càng tốt hơn!

Mà chính người Việt, họ đâu có ngần ngại không tự kể tật xấu của mình? Nhà báo Từ Thức, ở Paris viết: “Tự hào dân tộc để một bên, phải nhìn nhận cái cảnh thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng trong tiệm ăn nó ghê rợn thiệt. Nhất là cái cảnh giết chó. Ngồi hào hứng nhậu, bên cạnh cái màn giết chó, cắt cổ con vật, lấy gậy đập đầu chó kêu thảm thiết. Khó kiếm chữ nào để diễn tả hơn chữ 'man rợ.'” Và ông viết chúc Tết Quý Tỵ cho bạn bè thế này: “Chúc cho đất nước yêu quý của chúng ta đang nằm trong số 10 nước nghèo khổ nhất thế giới sẽ tiến lên, trở thành một trong 20 nước nghèo khổ nhất thế giới!”

Nhưng tại sao chúng ta thấy ghê rợn trước cảnh “thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng” mà lại không cảm thấy gì hết khi nhìn những cái đùi heo hun khói cũng treo lủng lẳng trong các tiệm ăn ở Paris (jambon) hay Madrid (jamón) nhỉ? Chắc khi nhìn những cái đùi tròn trĩnh thơm tho thì mình chỉ thèm thuồng nên quên cảnh con heo bị chọc tiết! Nhiều cái chợ, trên cái tủ lạnh đầy thịt bò đỏ tươi còn treo cái hình đầu bò đang cười toe toét. Làm như cô bò đang hân hoan “kính mời quý khách mua các món thịt đùi, món xì tếch, món sườn bò Ðại Hàn, món filet mignon,” để thưởng thức thịt chúng tôi! Mại vô! Loài người kể cũng hay thật! Không hiểu nếu những con sư tử, con cọp biết mở siêu thị thì chúng có treo thịt đùi người lủng lẳng hay không nhỉ?

Thật ra, nếu muốn tìm những cái xấu ở Việt Nam không phải chỉ có tật ăn thịt chuột đáng mang ra phê bình. Nếu như Joel Brinkley chủ tâm nói xấu, ông sẽ được nghe nhiều chuyện tệ hơn, tha hồ kể. Như chuyện một phụ nữ bị cướp mất nhà, đất, uất ức quá mà không làm gì được, bèn cởi hết quần áo để bày tỏ ý kiến. Tất nhiên, bà bị kết tội “lạm dụng quyền tự do ngôn luận,” một thứ quyền thực ra chỉ được được nhà nước cấp phát từng trường hợp, giống như “tem phiếu tự do!” Lại đến cảnh một bà mẹ phải tự đốt mình sau khi cả mẹ con bà bị đe dọa đuổi nhà, chỉ vì có một cô con gái dám “tự do ngôn luận” bằng cách đi biểu tình và làm blog phản đối... một nước láng giềng cướp mấy hòn đảo của nước mình!

Ðiều đáng xấu hổ không phải chỉ là chuyện một chế độ đàn áp người dân. Ðáng hổ thẹn nhất là phản ứng của người dân trước nỗi khổ cùng cực của hai phụ nữ trên. Họ nhìn chuyện đó là bình thường! Nếu muốn cho người Việt Nam xấu hổ, Joel Brinkley có thể kể chuyện nước ông để so sánh. Năm 1955 một phụ nữ da đen ở Montgomery, tiểu bang Alabama đã từ chối không đứng dậy nhường chỗ cho một người da trắng, theo lệnh ông tài xế xe buýt. Vụ bà bị đưa ra tòa sau đó gây ra cả một phong trào đòi dân quyền trên cả nước Mỹ trong hàng chục năm; dẫn tới những đạo luật dân quyền sau này. Khi từ trần năm 2005, bà Rosa Parks là người Mỹ thứ nhì, chỉ là dân thường mà đám tang được cử hành trong trụ sở Quốc Hội. Còn ở nước Việt Nam, bà Ðặng Thị Kim Liêng tự thiêu chết oan khốc như vậy mà báo, đài không dám loan tin, không dám bình luận. Và sau đó cô con gái bà vẫn bị tòa án bỏ tù. Chuyện mới xẩy ra năm tháng trước, mà người Việt Nam bây giờ hầu như đã quên rồi.

Nhiều người Việt đã nhận xét dân mình đánh mất cái thói quen biết hổ thẹn; cũng không còn cái khả năng biết nổi giận trước cái ác. Nhiều cá nhân vẫn nổi giận khi bị người khác đi xe lấn đường, cũng biết hổ thẹn khi mặc cái quần rách. Nhưng đối với những chuyện lớn thì không, đại đa số hoàn toàn lãnh cảm.

Chắc chúng ta phải nhìn nhau tự hỏi: Tại sao nước mình đến nỗi như vậy nhỉ? Cái gì gây ra tính lãnh cảm tập thể này? Ông bà mình ngày xưa có thờ ơ như thế hay không?

Không, nước mình vốn không tệ như thế! Tổ tiên mình đâu đến nỗi tệ như thế? Mình vẫn thường hãnh diện về lịch sử dân mình đấy chứ?

Một người từng tuyên bố hãnh diện làm dân Việt Nam là Ngô Thì Nhậm (1746-1803). Trong một chuyến đi sứ sang Trung Quốc dưới thời vua Quang Trung, lúc đang trong tỉnh Quảng Tây, Ngô Thì Nhậm viết bài thơ “Hoãn Nhĩ Ngâm” (Mỉm cười mà ngâm thơ) để chế nhạo những thành kiến sai lầm trong sách sử của người Trung Hoa. Ngô Thì Nhậm dành lời phê bình nặng nề nhất đối với thói phân biệt, coi dân Hoa Hạ hơn dân Man di. Ðể thuyết phục người Trung Hoa, và những người Việt hay sợ Trung Quốc quá, ông viện dẫn Chu Hy đời Tống, một thẩm quyền có uy tín trong Nho Giáo và văn hóa Trung Quốc. Chu Hy đã nhận xét, “Thịnh xưng tây nam phiên - Văn tự đa cao thủ - Tất hữu khai kỳ tiên - Bất độc quốc trung hữu.” (Ðáng khen các dân tộc miền Tây Nam - Có nhiều người giỏi chữ nghĩa - Tất họ đã khai hóa từ lâu - Ðâu phải chỉ Trung Quốc mới có tiến bộ). Dẫn ra những lời đó rồi, ngay câu sau, Ngô Thì Nhậm nói khi về nước ông sẽ bảo với bạn hữu rằng: “Hạnh tai sinh Nam bang!” May mắn thay, chúng ta sinh ở Nước Nam!

Bây giờ có bao nhiêu người Việt đang nghĩ như Ngô Thì Nhậm? Nếu người nào không nghĩ mình may mắn làm dân Việt là, thì chắc cũng phải ước mong con cháu sau này được thấy làm dân Việt là may mắn. Ngô Thì Nhậm đã nghĩ như thế; thì thế hệ sắp tới cũng phải có người, có lúc, sẽ cao hứng thốt lên: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!

Nghĩ đến tổ tiên, phải thấy đó là một bổn phận. Bổn phận trả lại cho nước Việt Nam niềm hãnh diện mà người xưa vẫn nói với nhau trong đám bạn bè: Hạnh tai, sinh Nam bang! Ðêm giao thừa năm nay, sẽ khấn khứa ông bà, xin nguyện sẽ cố gắng giúp các thế hệ sắp tới có thể nói như thế: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!

Năm nay chúng ta có thể bắt chước Tú Xương mà chúc cả nước ăn ở với nhau “Sao được cho ra cái giống người!” Sống làm sao cho ra con người có phẩm giá. Thực hành lời nguyện này cũng không khó lắm. Sống với nhau cho tử tế. Như vậy đã là một điều cho con cháu hãnh diện rồi. Ăn ở như thế nào thì gọi là tử tế? Sống công bằng, ngay thẳng, chắc cũng đủ. Như trong cuốn sách hướng dẫn di dân muốn nhập quốc tịch Australia, họ nhấn mạnh đến một quy tắc “a fair go!” Ở nước Úc hễ ai có khả năng và cố gắng làm việc là sẽ khá hơn, không cần phải có cha mẹ giầu hoặc quyền thế. Thực hiện quy tắc này, phải bàn chuyện cách tổ chức chính quyền, hệ thống giáo dục, tư pháp, luật lệ kinh tế, vân vân.

Nhưng cũng không phải chờ đợi thi hành các quy tắc lớn như vậy mới sống tử tế được. Cứ tử tế với nhau ngay trong đời sống hàng ngày, trong cách cư xử với xóm giềng, ngay với những người qua đường, cũng đủ. Văn hóa thuần mỹ thể hiện trong đời sống hàng ngày, không cần hô khẩu hiệu. Trong cuốn sách chỉ dẫn về nhập tịch, chính phủ Anh quốc dặn dò các công dân mới một điều: “Nhớ giữ cho cái vườn nhà mình sạch sẽ đàng hoàng (không đầy rác hoặc cỏ dại); đến ngày đổ rác thì nhớ đem thùng rác hay túi rác ra đường, chỉ để ở chỗ dành riêng cho rác, và không đem ra quá sớm trước giờ ấn định.” Những chuyện nhỏ nhặt đó tạo nên những xã hội tử tế.

Người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau, ngay bây giờ. Mỗi người cứ sống cho tử tế, rồi người khác sẽ theo. Khi người ta không tử tế, mình vẫn giữ tư cách con người tử tế. Ðó là đóng góp cho tương lai nước Việt Nam. Sẽ có ngày trẻ em Việt Nam được sống trong một đất nước an hòa, tự do, dân chủ, dù các em ăn thịt hay không ăn thịt. Trong vườn các em được nghe tiếng chim hót, như trong bài hát của Huy Tuấn: “Một ngày nắng rất hiền, nắng lung linh trong vườn, bông hoa đang cười thương thật thương!” Sẽ có ngày, nghề dạy học đủ nuôi sống gia đình nhà giáo. Các em đến trường không bao giờ quên cúi chào các thầy cô; các thầy cô đều mỉm cười. Tết đến, ra chợ lại nhớ cảnh xưa trong thơ Ðoàn Văn Cừ; cảnh trí khác nhưng niềm vui vẫn thế. Khi lớn khôn, có lúc các em sẽ thốt lên: May mắn thay, mình là người Việt Nam. Giống như Ngô Thì Nhậm hơn 200 năm trước.

Chúng ta đón mùa Xuân về với niềm tin tưởng là ngày đó không xa. Phục hồi một nếp sống thuần hậu, ngay thẳng, chánh trực; sống lại các giá trị đạo lý của Chu An, Nguyễn Ðình Chiểu; Phan Châu Trinh; chúng ta sẽ trở về trước bàn thờ, trong ngôi nhà cũ của tổ tiên. Ngày về sắp đến rồi. Cái gì tới chỗ cùng cực, sẽ phải thay đổi. Cả nước đang rạo rực chờ biến chuyển. Cả dân tộc đang trở về nhà, lòng náo nức như một thi sĩ sắp được về sau “Mười năm mặt sạm soi khe nước - Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.” Trong lòng thi sĩ vẫn tràn ngập niềm vui:

Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang

(Ta Về, Tô Thùy Yên)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Tết Ta Nói Chuyện Mình

Tác giả : Vi Anh
Tin vui sơ khởi ngày Tết của Việt Nam hải ngoại. Tin truyển hình VHN-TV, tiêu biểu như tại thủ đô tinh thần của ngưởi Việt hải ngoại, Chợ Hoa Phước Lộc Thọ khai trương tưng bừng, mưa xuân đẹp trời,mát mặt. Hơn 70 gian hàng, gồm nhiều mặt hàng, từ bánh mứt, phong bao lì xì, trái cây hoa quả, đặc biệt là hoa mai, hoa lan, đủ thứ hoa. Hoa Mai Cali có chậu ghi giá 400 mỹ kim, có chậu giá đến 2,000 mỹ kim mang dáng dấp của cành bonsai trĩu nụ. Sáng kiến hay, mua, chơi mai, sau Tết có thể gửi lại nhà vườn chăm sóc đến Tết năm sau lại mang về, với giá tiền tùy theo cây lớn nhỏ, nhưng đắt nhất là 250 mỹ kim.

Tận Miền Nam Hoa kỳ, TB Mississippi, Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Biloxi, tổ chức Hội Chợ Tết. Thứ Bảy và Chúa Nhật, mùng 02 và 03 tháng 02, năm 2013 từ 10 giờ sáng tới 10 giờ tối.

Sang bên Úc, người Việt ở thủ đô Úc, tổ chức Melbourne rất đoàn kết dần công nhau mở hội chợ Tết, cứ mỗi cuối tuần, một địa điểm. “ Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo, bánh chung xanh” truyển thống có đủ.

Tết này nữa là Tết thứ 38 của người Việt Nam Hải ngoại. Ba mươi tám năm là khoảng thời gian dài hơn một chút xã hội học gọi là thế hệ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại, đó là cả ba thế hệ chụm lại thành một cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang.

Trong lịch sử Việt chưa có một cuộc di tản, di cư nào lớn như vầy. Cuộc di tản sau 30 tháng Tư năm 1975 là một cuộc di tản, đông đảo, nguy hiễm, kéo dài, ra khỏi nước nhà, ít ai hy vọng trở lại được. Riêng phong trào dùng thuyền nan vượt đại dương đã chấn động lương tâm Nhân Loại. Theo ước lượng của Phủ Cao Ủy Người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boatpeople) đến được bến bờ tự do thì ít nhứt phân nửa chết dưới biển vì VC rượt bắn, vì sóng biển, vì hải tặc. Nếu tính gian khổ chết chóc trong khi đi và vinh quang phát triễn văn minh VN khi định cư ở hải ngoại, thì có thể so sánh với cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi Cỗ Ai Cập, ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn minh Tây Phương; Kinh Cựu Uớc của Công Giáo là túi khôn của người Do Thái.

Phàm trong cái rủi có cái may. Trong dòng lịch sử dài của người Việt, chưa bao giờ dân tộc Việt lại có cái may như cái may này. Định cư ngay trong lòng văn minh Tây Phương với khoa học kỹ thuật tiền tiến nhứt hoàn cầu. Nhờ tự do và dân chủ ở các quốc gia định cư, người Việt đã đạt được nhiều kỳ tích. Đi vào dòng chánh chánh trị. Tại Mỹ đi vào Quốc Hội tiểu bang đông dân nhứt Mỹ là Cali, đi vào Quốc Hội Liên bang sau 33 năm. Về kinh tế ăn nên làm ra, tổng sản lượng gộp cao, gởi cho bà con ở quê nhà mỗi năm cả năm bảy tỷ bạc. Về văn hoá khó mà kể hết những tác phẩm ca nhạc, văn chương đã phát hành. Truyền thông đại chúng Việt ngữ, báo chí, phát thanh, phát hình phát triễn vượt bực. Nhiều đại học Mỹ, nhiều cơ quan chánh phủ và ngoài chánh phủ đã cấp quỹ tài trợ những dự án nhân dạng về người Mỹ gốc Việt. Viện bảo tàng Tiểu bang Cali, Viện Bảo Tàng Simithsonian của Mỹ chuyên về nghệ thuật Nhân Loại đang hình thành phòng trưng bày về người Mỹ gốc Việt.

Khó khăn nhứt cho người Việt hải ngoại là bảo tồn và phát huy tiếng Việt vì như ở Mỹ tiếng Anh là chuyển ngữ bó buộc làm chìm mọi ngôn ngữ của các sắc tộc thiểu số định cư ở Mỹ. Đặc biệt tiếng Việt lại khó hơn vì đối với chuyển ngử Mỹ, tiếng Việt là độc âm trong khi tiếng Mỹ là đa âm. Khó đối với tiếng Việt của CS đang xài ở nước nhà mà CS đang thống trị. Vì tiếng Việt của ngưới Việt hải ngoại sữ dụng là tiếng Việt của người Quốc gia, tiếp nối tiếng nói liên tục theo điệu người Việt đã xài trước khi Hà nội mất, Saigon mất vào tay CS.

Nhưng với quyết tâm sắt đá, riêng tại Mỹ quốc gia người Việt định cư đông nhứt, tại các vùng người Việt quần cư đông nhứt như California, tiếng Việt được thừa nhận như một sinh ngữ thứ hai, có lớp dạy từ ở đại học nổi tiếng như Berkeley và trường trung học như Bolsa Grande. Truyền thanh, truyền hình, báo chí tiếng Việt lên vệ tinh, lên Internet nhờ vậy loan truyền khắp thế giới, liên kết cộng đồng VN ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc Châu lại với nhau trên cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging).

Chẳng những thế, người Việt hải ngoại còn nỗ lực dùng ngôn ngữ để truyền đạt văn hoá cho các thế hệ mai sau. Nhiều tờ báo, nhiều cơ sở tôn giáo, hội đoàn mở hết lớp dạy tiếng Việt này đến lớp khác. Nhưng có một đặc điểm chung, một đồng thuận mặc thị, là không chịu dùng những sách học vần, tập đọc, lịch sử do các Toà Đại sứ Việt Cộng tìm cách đưa vào. Còn trong ngôn ngữ viết và nói, người Việt hải ngoại tránh không dùng những chữ CS Hà nội du nhập vào Miền Nam. Những chữ thường dùng như chữ “đồng tình” của CS thay cho chữ đồng ý của người Việt Quốc gia, những chữ chánh trị như sơ tán (sétaner), sô vanh (chauvin) bắt chước của Pháp, hay hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, xã hội chủ nghĩa, bức xúc bắt chước của Tàu Cộng, người Việt Hải ngoại dùng để ngạo, chớ không phải để nói chuyện bình thường.

Biểu tượng người Việt hải ngoại cố gắng bảo tồn và đã thành công là quốc kỳ VN, nền vàng ba sọc đỏ. Quốc kỳ được tôn vinh trở thành thiêng liêng đến mức các nhà xã hội học coi đó như thgiêng liêng gần như thiêng liêng tôn giáo (quasi -religious). Và người Việt Hải ngoại xem quốc kỳ VN như hồn thiêng sông núi, không sống được ở VN thì mang VN theo mình như nhà văn Mỹ Dung của cuốn Ngàn Giọt Lệ Rơi nói.

Đối nội trong cộng đồng, bất cứ cuộc tập họp long trọng nào đề có chào quốc kỳ VN và hát quốc ca. Đối với quốc gia định cư, người Việt Hải ngoại, đặc biệt là ở Mỹ biết Mỹ có bang giao với VNCS và VN Cộng Hoà của mình tạm thời mất thế quốc tế công pháp, nên đã khôn khéo, linh hoạt uốn mình qua ngỏ hẹp, vận động chánh quyền sở tại thừa nhận Cờ Nên Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng Tự do, Dân Chủ của người Việt Hải ngoại. Xuất phát từ Little Saigon người Việt thân thương gọi là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS, quốc kỳ VN trở thành thành phong trào lan toả ra cả chục tiểu bang và hàng trăm thành phố quận hạt Mỹ, và bắt đầu vượt đại dương sang Úc Châu. Nhơn dân Mỹ ủng hộ đem treo lên đỉnh Everest cao nhứt của dãy núi thiêng Hymalaya, nóc nhà của thế giới. Quân đội Mỹ ủng hộ cho treo ở Chiến trường Iraq, ngày Lễ Lao động Mỹ và 30 tháng tư 2005.

Những biểu tượng kế tiếp là các phong tục, lễ lộc truyền thống VN đều được gìn giữ và kỷ niệm long trọng. Tinh thần gia đình VN, sự gắn bó của gia đình VN đã giúp cho lớp trẻ Việt ít sa vào các tội phạm xã hội, tỷ lệ ly dị thấp dù Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về ly dị. Ngành Nail được người Mỹ gốc Việt biến thành kỹ nghệ độc chiêu ở Mỹ. Món phở VN được Mỹ hoá thành “pho” của Mỹ; món chả giò VN là món ít khi thiếu trong các cuộc tiếp tân ngoại giao Mỹ.

Trong môi trường hoàn toàn tự do, tất yếu các hội đoàn, đảng phái lịch sử, và các cộng đồng non trẻ người Việt hải ngoại có khi chinh chạm, rạn nứt.. Nhưng mẫu số chung VN vẫn còn. Tết nhứt, lễ Bà Trưng, Bà Triệu, Quang Trung, Trần hưng Đạo phe này hay phái kia, dù không thuận nhau đều tổ chức, không ai nỡ nào bỏ qua. Công cuộc chống Cộng tuy có khác nhau về cách làm, nhưng cùng cứu cánh là đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào trong nước, như các tôn giáo dù khác tín lý nhưng vẫn đấu tranh cho tự do tôn giáo.

Nói tóm trong 38 năm đoạn đầu của cuộc hành trình tìm tự do, người Việt Hải ngoại đã tự tạo gần đủ điều kiện bằng việc làm tạo thành sự kiện – ngôn ngữ, biểu tượng, lối sống, kinh tế – khả dĩ có thể trở thành một Việt Nam hải ngoại, kiểu Đài Loan đối với Trung Cộng bây giờ, kiểu France dOutre mer (Pháp quốc hải ngoại) khi Đức Quốc xã tạm thời chiếm Pháp, người Pháp đoàn tụ dưới bóng cờ Pháp quốc Hải ngoại trong Thế Chiến 2 để đánh đưổi quân thù.

Nhưng hành trình của người Việt hải ngoại chưa chấm dứt vì chưa đạt mục tiêu là giúp đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước. Liệu thế hệ thứ hai, thứ ba có kề vai gánh vác như cha anh hay không?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Sử Gia và Sử Gian

Nguyễn Bá Chổi
(Danlambao) "Cháu ơi chớ lộn gia, gian
Sử gia thì học, sử gian thì đừng"

Các cháu yêu quí ,

Nhân dịp đầu năm, bác thân ái gửi đến các cháu những lời cầu chúc tốt đẹp nhất mà các cháu từng được chúc hoặc nghe người ta chúc nhau, và thêm vào đó là lời chúc đặc biệt: chúc các cháu trong năm mới này phân biệt được sử Gia với sử Gian.

Nhưng trước khi đi vào nội dung cụ thể, bác cần “làm rõ một số vấn đề”. Đó là danh xưng “bác” và “cháu” trong thư đầu năm khi không xuất hiện “giữa trời” này; “bác” là ai và “cháu” là ai .

Bác này không phải là “bác” của mọi thế hệ kể cả ông Bành Tổ nay có sống lại cũng phải gọi chàng Cu Công xứ Nghệ. Và “Cháu” đây cũng chỉ là những ai có độ tuổi cao lắm là bằng tuổi con của con bác đây tức ông già đang ngồi mổ cò “meo” này. Nếu bạn đọc nào không rơi vào trường hợp “cháu” như định nghĩa này thì xin đừng gọi tác giả bằng “bác” như người ta gọi vị thần hoàng làng gốc Kim Liên Nam Đàn.

Vấn đề cũng giản đơn thôi (đúng ra là bác viết “đơn giản”, nhưng viết... ngạo ngược như thế cho đúng “con người mới văn hóa mới xã hội chủ nghĩa” sau khi bác bị phỏng... te tua). Nó là như vầy, như vầy:

Sử gia là người viết lịch sử. Lịch sử, theo giải thích đơn giản, là những gì thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người (http://bttvhqn.blogspot.com/2012/05/lich-su-la-gi.html). Và “lịch sử là khách quan; sự kiện lịch sử là những sự thật tồn tại độc lập...” (Gs. Hà Văn Tấn).

Còn Sử gian là lịch sử tức sự thật bị bóp méo, bị đổi trắng thay đen, hay bị “sử gia” lờ đi sự thật “gây hậu quả nghiêm trọng” như “mất Sổ hưu xhcn”. Sau đây là một vài thí dụ cụ thể về sử Gian:

Vụ Mậu Thân Huế. Sự thật là hàng ngàn người dân Huế vô tội bị “Cách Mạng” chôn sống nay làm phim... tài liệu đổi thành bị “giết bởi vì Ngụy quân”

Vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu Cộng thành ra ta mất Hoàng Sa là do “Mỹ đồng lõa với TQ”.

Vụ Cáo giả Tiên. Khi đề cập đến cuốn “Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, kẻ mệnh danh mình là “sử gia” chỉ đề cập đến nội dung đã làm nên “cú hích vào nghề” cho mình mà lờ đi con Cáo già to tổ bố giả Tiên ông đang thổi ống đu đủ thọc đít mình tự sướng...

Các cháu của bác ơi, có phân biệt được sử Gia với sử Gian, các cháu mới thành người được.

"Cháu ơi chớ lộn gia, gian
Sử gia thì học, sử gian thì đừng"

Thân ái các cháu,

Nguyễn Bá Chổi
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »


Image

Đón Xuân trong nỗi ngậm ngùi

Phong Thu
(RFA) - Tết Nguyên Đán năm 2013 đang đến. Mọi người đang nô nức đón chào năm mới nhưng gia đình vợ con của bốn anh em ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sinh, Đoàn Văn Vệ vẫn không có nụ cười.

Quạnh hiu ngày Tết

Những người đàn bà nông dân hiền lành phải một mình vất vả, vật lộn với công việc mưu sinh, nuôi dạy các con và từng ngày vẫn mong ngóng tin tức của chồng. Họ không còn tha thiết gì đến ba ngày Tết. Họ đang sống trong những ngày tháng đầy lo âu, tuyệt vọng và đau buồn.

“Chưa chắc Tết đi khi mà sự việc nhà em chưa có ra làm sao thì chắc là chúng em không bao giờ có niềm vui với bất kỳ cái Tết nào cả. Từ ngày xảy ra sự việc thì chúng em đã gặp muôn vàn khó khăn rồi. Cái điều mà chúng em ở bên ngoài nuôi con đấy thì chúng em có thể chịu đựng được. Còn về vấn đề tinh thần với các anh ở trong đấy thì đến bây giờ đã hơn một năm trôi qua rồi bọn em cũng chưa được biết tình hình của các anh như thế nào. Bởi vì chúng em cũng chưa được gặp các anh ấy. Đó cũng là điều nặng nề nhất đối với chúng em. Bởi vì chúng em rất lo về tình hình sức khoẻ cho các anh ấy.

Không biết ở trong ấy họ đối xử với người nhà mình như thế nào. Bởi vì một năm qua rồi họ chưa làm một cái gì để tạo được một cái niềm tin cho chúng em cả mà chỉ là gây những cái gì mà mình thất vọng cơ quan chính quyền thành phố Hải Phòng. Đến bây giờ, chúng em khẳng định rằng với tầm cỡ của Trung Ương thì chúng em không có cái gì để hy vọng cả chị ạ. Bởi vì Thủ Tướng đã có kết luận rồi tất cả đều là sai trái từ chính quyền. Đến bây giờ, họ vẫn để nguyên như vậy. Họ vẫn chưa giải quyết được một cái việc gì mà Thủ Tướng đề ra cả. Bọn em không biết nó như thế nào và không biết tin vào đâu.”

Bà Phạm Thị Hiền, vợ anh Đoàn Văn Quý đã tâm sự những nỗi lo của bà suốt hơn một năm không được gặp mặt, không được tin tức gì của chồng. Ngày Tết đối với bà và gia đình không còn có ý nghĩa gì.

Bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn nói rằng gần đến ngày Tết nhưng bà không còn lòng dạ nào nghĩ đến. Bà tâm sự trong nỗi lo lắng:

“Nam giới là trụ cột gia đình, giờ chỉ còn hai chị em với đàn cháu nhỏ thì cũng gặp nhiều khó khăn lắm. Ăn Tết em cũng chưa có dự định gì cả.

Thôi thì dù muốn dù không cũng phải lo cho các cháu có cái Tết cổ truyền Việt Nam. Chớ nói thật với chị là em nghĩ băn khoăn. Một năm nay, gia đình chỉ tiếp tế quà vào chớ không được gặp. Gia đình cũng làm đơn bảo lãnh để người nhà gặp người thân trong gia đình nhưng mà đâu có được gặp đâu. Họ cứ bảo trong lúc điều tra thì cũng không cho gặp. Tháng trước, họ đưa cáo trạng rồi mà cũng không được gặp.”

Mỗi năm, khi tháng Chạp bắt đầu, người dân Việt Nam trong và ngoài nước đều nhớ đến vụ án cưỡng chế đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại Cống Rộc, Xã Vinh Quang, Huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng vào buổi sáng ngày 5 tháng 1 năm 2012. Vụ án ông Đoàn Văn Vươn đã trở thành vụ án lịch sử. Bởi vì lần đầu tiên, sau 65 năm đảng cộng sản Việt Nam cai trị miền Bắc, và 38 năm cai trị miền Nam, người nông dân Đoàn Văn Vươn, một hình tượng tiêu biểu, đại diện cho những người bị áp bức đã nổi dậy chống lại những cán bộ đã cướp đất, phá hoại tài sản gia đình ông, đẩy cả dòng họ, vợ con ông vào cảnh không nhà, không cửa, không đất dung thân trong những ngày đông giá rét của tháng Chạp. Ông Bùi Văn Chương, một dân oan của tỉnh Khánh Hoà, đã đánh giá ông Vươn là một tấm gương anh hùng. Ông nói:

"Chính quyền thì nó mạnh, bây giờ nó rải khắp cả cái nước Việt Nam. Nó cướp hết rồi. Chẳng ai còn tin vào chính quyền Việt Nam nữa. Ai tin vào chính quyền Việt Nam người đó bị bệnh tâm thần đó. Bằng chứng là Việt Nam không có nhân quyền, con người ở đó loạn hết rồi. Thực sự em không bằng ông Đoàn Văn Vươn đâu. Ông Đoàn Văn Vươn là dạng một anh hùng, có trình độ. Cái xã hội thì nầy nó hỏng gán cho mình cái tội nầy thì nó gán cho mình cái tội khác. Tại vì thật sự nó là tham nhũng. Vì chế độ độc tài thì cái sợi dây tham nhũng để đi liên kết với nhau. 80 chục triệu người dân nhưng chỉ có một Đoàn Văn Vươn. Em cũng khâm phục Đoàn Văn Vươn. Có trình độ đó chị. Em cũng muốn học tập theo Đoàn Văn Vươn nhưng em chưa được như vậy.”

Không còn biết tin vào đâu

Đối với gia đình bà Thương, ngày 5 tháng 1 năm 2012, đã ghi khắc thêm một kỷ niệm đau buồn đáng nhớ nhất của bà sau cái chết của đứa con ruột trong những ngày đầu gian truân, khai phá, chinh phục vùng đất Cống Rộc. Những người phụ nữ và trẻ em gia đình nhà họ Đoàn đã bàng hoàng, kinh sợ khi phải chứng kiến một buổi sáng trên một đất nước thanh bình, bỗng dưng hàng trăm công an, bộ đội có súng ống, có dùi cui, chó săn chuyên nghiệp đã bao vây, dàn trận rầm rộ tấn công ngôi nhà nhỏ bé của họ như đang đánh với kẻ xâm lược. Người nông dân Đoàn văn Vươn, đã phải tự vệ bằng cách dùng súng hoa cải chống trả và máu đã đổ. Có 7 công an và bộ đội bị thương.

Là phận dân đen, chỉ biết làm ăn lương thiện, không chức, không quyền. Dĩ nhiên, anh em gia đình ông Vươn sẽ được chính quyền chăm sóc tận tình bằng cách đem tống giam vào ngục tối. Xem như số phận của họ đã được chính quyền định đoạt.

Mặc cho dư luận lên án, mặc cho lời của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu làm rõ vụ cưỡng chế bất hợp pháp. Nhưng đã hơn một năm trôi qua, vụ án của dòng họ Đoàn vẫn dậm chân tại chỗ. Họ bị giam cầm như những tội phạm nguy hiểm dám chống lại chính quyền bằng vũ khí tự vệ. Lời nói của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng giống như nước chảy qua cầu.

Bà Hiền, bà Thương cho biết càng ngày họ càng thấy tuyệt vọng, mất niềm tin vào công lý, luật pháp để đi tìm lẽ công bằng cho chồng. Nhất là tháng Một vừa qua, Viện Kiểm Sát Nhân Nhân tỉnh Hải Phòng đã tống đạt cáo trạng kết tội 4 anh em ông Đoàn Văn Vươn vào tội “giết người”. Riêng bà Hiền và bà Thương bị truy tố về tội chống người thi hành công vụ. Ngoài ra, em trai ông Vươn là ông Đoàn Văn Thoại và ông Phạm Thái, anh ruột của bà Hiền, đang có lệnh truy nã từ hơn 1 năm qua.

Ngoài ra, bản cáo trạng còn đòi hỏi gia đình ông Vươn phải bồi thường tiền thương tật và danh dự cho những người đến tấn công nhà ông. Nhiều người cười mỉa mai rằng chuyện đời xem bộ tréo cẳng ngỗng bởi kẻ cướp mà đòi bồi thường thiệt hại và danh dự mới là chuyện lạ. Bà Hiền cho rằng hành động của gia đình bà là hành động tự vệ. Bởi gia đình bà đã chống lại hành động cướp bóc trắng trợn của nhóm người tự mệnh danh là đầy tớ của dân:

“Quyết định nầy là hoàn toàn phi lý vì giết người mà chưa có người chết. Bọn em không có giết người mà giết cướp, giết giặc. Chúng em cho đấy là giết giặc. Chính quyền Huyện Tiên Lãng, cũng như Tỉnh Hải Phòng cũng là những tên cướp những tên giặc luôn. Chúng em có giết thì là giết giặc chớ không phải giết ngưòi. Em muốn là ra trưóc tòa họ phải chứng minh rằng đây là những người đang thi hành công vụ. Họ cứ ra cáo trạng đi nhưng mà sau nầy ra toà họ sẽ giải trình cái cáo trạng đó như thế nào? Họ quy cho gia đình chúng em tội giết người nhưng người chết ở chỗ nào? Người chết ở đâu? Nhìn cái bản cáo trạng thì họ không nói đến nguyên nhân mà chỉ nói đến hậu quả thôi. Tất cả cái việc gì khi mà họ đưa ra xét xử thì cũng phải tìm cái nguyên nhân đã. Cái vụ án nhà em đặc biệt là họ không có tìm nguyên nhân mà chỉ nói cái hậu quả mà gia đình em làm. Em cho đấy là một điều hoàn toàn vô lý.

Với chị em em thì họ kết tội rằng chống người thi hành công vụ. Nó lại càng phi lý hơn nữa khi mà cưỡng chế xảy ra thì chúng em đang ở trên đê. Trước đó, họ nói là chồng của các bà làm thì các bà phải biết. Các bà phải có trách nhiệm. Sau nầy, chúng em bắt họ phải chứng minh rằng những người nầy là những người đang thi hành công vụ.”

Bà Thương không giấu được sự lo âu. Giọng bà yếu ớt như lời than thở:

“Cái cáo trạng mà nói về gia đình em giết người nhưng chưa có chết một người nào cả, mà cho là hai chị em chống lại người thi hành công vụ thì em nghĩ nó bất công quá! Nhà vất vả như thế mà dồn ép gia đình em thì cuối cùng nhà em phải đứng lên. Nó áp bức đến đường cùng chớ gia đình em cũng đâu có muốn thế.”

Mong chờ công lý

Khu nhà của vợ con ông Vươn, ông Quý. Photo courtesy of giaoduc.net

Dư luận đang theo dõi hàng ngàn vụ án xảy ra tại Việt Nam và họ đã đặt ra câu hỏi “có phải chăng đây là giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam khi tình trạng loạn xứ quân đã xuất hiện một cách công khai?” Mỗi Tỉnh có một ông vua và mỗi ông tự đặt ra cho mình một quyền hạn tối thượng, một luật pháp riêng để cai trị và làm vua một cõi? Bởi vì trên bảo dưới chẳng muốn nghe. Cảnh loạn quan, loạn quân đã khiến cho hiện tượng quan lại từ trên xuống dưới tha hồ cướp bóc, tham ô, hối lộ bất chấp lẽ công bằng, luân thường đạo lý và luật pháp. Bà Phạm Thị Hiền còn nghĩ rằng bề ngoài Thủ Tướng nói để trấn an sự phẫn nộ của công chúng. Nhưng bên trong là sự chỉ đạo ngầm cho nên việc xử án dậm chân tại chỗ. Vợ không được thăm chồng, con không được nhìn mặt cha. Bà nói:


“Em cho rằng không biết là trong đấy nó hàm một cái ý gì nữa. Nếu bình thường mà Thủ Tướng chỉ thị thì giải quyết rất là nhanh. Nhưng đến bây giờ thì em nghĩ là Thủ Tướng chỉ nói để làm yên lòng dân lúc đó thôi, Thủ Tướng không thể nói khác được. Nhưng thực ra Thủ Tướng nói ra nhưng Thủ Tướng không chỉ thị, không làm. Em cũng không hiểu là Thủ Tướng nói để làm cái gì. Hay là Thủ Tướng buộc phải nói như thế. Em hy vọng rằng Thủ Tướng tiếp tục chỉ thị không thể để như thế nầy được. Cái đấy chỉ là lời nói bên ngoài, còn trong ruột đấy thì em nghĩ rằng có thế giới ngầm, chỉ đạo ngầm mà mình không thể biết được. Nhưng trên thực tế họ nói như thế mà họ không thực hiện thì em thấy cái việc đó Thủ Tướng chưa sát sao, chưa muốn giải quyết cho nó công bằng hợp lý.”

Chỉ tội cho những người vợ, người mẹ và những trẻ thơ vô tội đã trở thành nạn nhân của những cuộc cưỡng đoạt đất đai tài sản một cách bất công, vô lý. Các em đau khổ khi nhìn thấy gia đình tan nát, cha mẹ chia ly, tù tội. Những người phụ nữ như bà Hiền, bà Thương, phải sống trong cảnh cô quạnh không ai giúp đỡ những công việc đồng áng nặng nhọc để nuôi con, nợ nần vay mượn trong những năm bắt đầu lập nghiệp vẫn chưa trả hết. Bà Thương cho biết:

“Chị ơi! Em chỉ mong muốn làm sao mà họ xử cho công lý, công bằng để những người nhà em về để gia đình đoàn tụ, làm ăn trang trải nợ nần và dạy đàn con nên người.”

Tết là ngày vui trọng đại của dân tộc Việt, ngày của sum họp, ngày của tiếng cười hân hoan trong sự đoàn viên, hạnh phúc. Nhưng giờ đây, từng ngày từng giờ họ mòn mỏi chờ đợi ngày chồng, anh, em họ bị đem ra trước vành móng ngựa. Bà Phạm Thì Hiền nghĩ rằng sự chờ đợi và niềm hy vọng của bà rất mong manh. Bà không còn tin vào công lý và luật pháp của tỉnh Hải Phòng. Bà nói:

“Ở chế độ nầy thì chị em em cũng không có nhiều hy vọng đâu chị ạ. Nhưng mà mình cũng chịu thôi. Chấp nhận làm mà chị. Bọn em không có gì ân hận cả. Bọn em vẫn tiếp tục theo dõi và chúng em biết bên cạnh mình còn rất nhiều người như các chị, còn có nhiều tập đoàn, và rất nhiều những tổ chức nhân quyền thế giới chẳng hạn, họ vẫn luôn theo dõi những vụ việc nhà em cho chúng em rất là yên tâm.”

Ai cũng mơ ước có một mùa xuân vui tươi, hạnh phúc và an bình. Nhưng tại Việt Nam còn có biết bao người mẹ, người vợ, người chị, người em và biết bao nhiêu bé thơ đang khóc thầm trong ngày Tết khi nhớ nhung, chờ đợi bóng dáng người thân trở về nhà đoàn viên trong những ngày xuân. Và ngày Tết Nguyên Đán đối với họ chỉ còn đọng lại trong tim nỗi chua xót, ngậm ngùi.

2013-02-07
Phong Thu
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Manila cảnh giác trước ngón đòn "quả địa cầu lưỡi bò" của Trung Quốc

Trọng Nghĩa

(RFI) - Trung Quốc đã ngầm ngầm tuồn vào Philippines, cũng như nhiều nước khác, các quả địa cầu bên trên có in bản đồ Biển Đông với đường 9 đoạn xác định chủ quyền của Trung Quốc. Sự việc này đã xẩy ra từ lâu, nhưng mãi đến hôm qua, 12/02/2013, Manila mới xác nhận điều này và lên tiếng cảnh báo về thủ đoạn của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền Trung Quốc tại những vùng mà Philippines cho là lãnh thổ của mình.

Phát biểu tại Manila, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez cho biết là chính phủ đã xác định được rằng: "Quả địa cầu giáo dục (dùng để dạy môn địa lý) bên trên có in hình đường 9 đoạn bao trùm Biển Đông đã được bán ra trong các cửa hiệu tại Philippines vốn hoàn toàn không biết gì về cuộc tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc".

Ông Hernandez nói thêm: "Giới quản lý các cơ sở kể trên đang chủ động chuẩn bị thảo luận với bộ Ngoại giao về các biện pháp khắc phục các thông tin sai lạc chứa đựng trong các quả địa cầu dùng để dạy học đó. Philippines khẳng định rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc dựa trên tấm bản đồ chín đường gián đoạn (tức là đường lưỡi bò) là một yêu sách quá đáng vi phạm luật pháp quốc tế ».

Theo ghi nhận của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post vào hôm nay, các cửa hiệu sách trên toàn lãnh thổ Philippines đã đồng ý ngừng bán và thu hồi loại quả địa cầu "made in China" sau khi được chính quyền báo động về những "thông tin sai lệch", biểu thị tham vọng thâu tóm gần như toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh.

Điều đáng nói là Trung Quốc đã tuồn các quả "địa cầu lưỡi bò" này vào Philippines từ nhiều năm nay, nhưng chính quyền không chú ý. Phải chờ cho đến gần đây, khi một số người dân Philippines phát hiện ra điều này và loan báo cho nhau trên mạng xã hội Facebook thì vụ đó mới được sự chú ý.

Theo ghi nhận của một người theo dõi vụ việc, trong thời gian đầu thì đường lưỡi bò còn "kín đáo", nhưng gần đây thì các đường nét rõ hơn và "rất thô tục".

Trọng Nghĩa
phaobinh
Posts: 51
Joined: Mon Mar 05, 2012 10:53 pm
Contact:

Post by phaobinh »

Sẽ Kềm Kẹp Gắt Hơn

Tác giả : Trần Khải
Chuyện nhà nước CSVN mở ra chiến dịch góp ý về sửa đổi Hiến Pháp, lúc đầu có vẻ như cho thấy sẽ cởi mở, nhưng dần dà lại hiển lộ một khuôn mặt gay gắt hơn.

Có phải nói chuyện góp ý sửa Hiến pháp chỉ là nói chơi, chẳng phải nói thiệt?

Hay chỉ giả vờ góp ý để nói rằng đại đa số dân chúng đồng tình và tái khẳng định cho Đảng CSVN giữ ngôi vua độc trị, độc tài muôn năm trường cửu?

Hay chỉ là âm mưu để làm lộ ra tất cả những vị nhân sĩ dị tâm, giới trí thức quan tâm về đa đảng và nhân quyền để dễ theo dõi sau này?

Hay chỉ đơn giản là biểu diễn một màn lên đồng tập thể để nói một lần cho minh bạch: rằng đừng bàn chuyện đa đảng và quyền con người nưa, chỉ vô ích thôi?

Dù sao đi nữa, ít nhất cơ duyên này đã cho thấy xuất hiện bản kiến Nghị Sửa Đổi Hiến Pháp với 72 nhân sĩ trí thức mở đường, và nhiều ngàn chữ ký tiếp theo.

Điều bi quan là, các dấu hiệu kềm kẹp gay gắt hơn, chứ không thấy cởi mở gì.

Trước tiên là ông Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, nói rằng năm 2013 là năm bản lề để mọi thứ lễ trái biến mất -- ông nói thẳng: “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”…

Trong khi đó, báo Quân Đội Nhân Dân lớn tiếng rằng sẽ tiếp tục khẳng định Điều 4 Hiến Pháp, có nghĩa là mọi chuyện góp ý với kiến nghị là cho “đi chỗ khác chơi.”

Độc chiêu hơn, nhà nước còn cho một anh Chí Phép trong Quốc Hội là Đaị biểu Hoàng Hữu Phước xuất quái chiêu để biến Đaị biểu Dương Trung Quốc thành bao cát, đánh tơi tả, đánh thê thảm cho cả nước nhìn vaò mà sợ. Ngắn gọn, nghị Phước giả vờ đóng vai côn đồ để đánh dẹp những người “có thể có tiếng nói khác.”

Tuyệt vời là những vở kịch của Đảng CSVN.

Báo VnEconomy có bản tin tưạ đề “Lấy cái đẹp dẹp cái xấu” -- trong này là cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, qua đó ông nói:

“...năm 2013 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XI. Ngành thông tin và truyền thông sẽ chủ động trong việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời và đầy đủ; tích cực phát triển nội dung lành mạnh trên mọi phương tiện thông tin và truyền thông theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”…”

Cụ thể, ông nói rằng báo chí chỉ là công cụ, là phương tiện của Nhà nước. Nghĩa là trí thức nghề báo không có quyền suy nghĩ độc lập hay phản biện, mà phải cần biết vâng lời.

Ông Son ca ngợi năm 2012 và nói về tương lai:

“Trong năm 2012, ngành thông tin và truyền thông có thể tự hào đã cùng cả nước vượt qua khó khăn, thách thức và đã đóng góp lớn vào kết quả chung về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Theo đó, báo chí đã thực hiện tốt nhiệm vụ là phương tiện thông tin, tuyên truyền thiết yếu, là công cụ chỉ đạo, điều hành của Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội, làm cho nhân dân tin tưởng và ủng hộ các quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ...

Hiện nay, cả nước có 812 cơ quan báo in với hơn 1.084 ấn phẩm, 59 báo điện tử, 11 tạp chí điện tử, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp, hàng trăm mạng xã hội trực tuyến đã thông tin kịp thời, đầy đủ tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; thông tin đầy đủ về bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo.

Báo chí, xuất bản điện tử phát triển cũng góp phần đưa kịp thời và đầy đủ thông tin chính thống về Việt Nam đến với thế giới, là công cụ hữu hiệu cho hoạt động đối ngoại, bảo vệ chủ quyền quốc gia....

Hoạt động đảm bảo an toàn an ninh thông tin sẽ tiếp tục là mối quan tâm của Bộ thông tin và truyền thông trong những năm tới. Trước mắt, Bộ sẽ đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự thảo Luật an toàn thông tin số để Chính phủ có thể trình Quốc hội xem xét thông qua trong năm 2014...”(hết trích)

Báo Quân Đội Nhân Dân hôm Thứ Năm 14-2-2013 có bài viết tựa đề “Diễn đạt chặt chẽ về pháp lý các nội dung về sự lãnh đạo của Đảng và quyền con người, quyền công dân,” nói minh bạch rằng Điều 4 Hiến Pháp về độc quyền lãnh đạo là nắm chặt, nghĩa là cấm đa đảng:

“...Về Điều 4, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý minh bạch, do đó cần tiếp tục khẳng định.”

Thế đấy, là vua rồi. Khỏi bàn.

Trong khi đó, CSVN biểu diễn màn cho Đạị biểu côn đồ ra chiêu quậy phá, chửi mắng một Đại biểu đã từng chất vấn ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Đaị biểu Hoàng Hữu Phước viết về ông Đại biểu Dương Trung Quốc, qua bài tưạ đề “Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu),” trích như sau:

“...Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng

Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả...

...Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự....

...Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinalines...”(hết trích)

Tuyệt chiêu, đóng vai côn đồ chữ nghĩa tới như thế, hẳn khó ai hơn. Lịch sử văn học, lịch sử về sử dụng chữ nghĩa VN... có chỗ cho ông nghị Hoàng Hữu Phước hay không?

Ai biết được. CSVN có nhiều quái chiêu khó đoán vậy.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

"]
Đứng Chàng Hảng

Huỳnh Quốc Bình

Hiện nay tại Hoa Kỳ, mấy bạn trẻ có phong trào mặc quần lưng rộng xệ thấp khỏi rốn. Để giữ cho cái quần không bị tuộc xuống, các cô cậu phải luôn dang hai chân ra dù lúc đứng hay đi. Đây là cách đi hay đứng theo kiểu "chàng hảng", trông thật buồn cười.

Mỗi lần nhìn thấy cảnh đó, tôi liên tưởng đến một số người trong xã hội chọn thái độ "đứng chàng hảng" với hy vọng được "vững" hoặc yên thân. Quý độc giả thử tưởng tượng, ngay ngày 30-4-75, một người thường tự hào không muốn “dính dấp đến chính trị” nhưng khi giặc cộng tràn vào thành phố hay thủ đô thì họ vội vả chạy xuống bến tàu. Vì không có sự dứt khoát là nên rời Việt Nam tìm tự do hay ở lại với bọn VC để “không làm chính trị”, nên đứng theo kiểu chàng hảng, một chân thì “cột chặt” trên bến tàu, một chân “đóng đinh” trên boong tàu và khi tàu rời bến thì người ấy sẽ ra sao? Nhẹ thì rơi xuống nước, nặng thì... Xin quý độc giả tưởng tượng giùm?


Đồng nghĩa với thái độ "đứng chàng hảng", người Mỹ có câu nói "If you stand in the middle of the road, you will get hit from both sides". Tạm dịch: (Nếu mầy đứng giữa đường, mầy sẽ bị đụng bởi cả hai phía.) Mà thật vậy, người khôn ngoan phải chọn đứng bên nào một phía thôi. Người dại thường hài lòng với thái độ "đứng giữa" của họ.


Cách sống theo kiểu "gió chiều nào, che chiều đó" chẳng khác nào một người cha mẹ sanh ra, dù thân mình có xương sống nhưng chỉ thích cong lưng như thể không có xương sống; hoặc chọn cách đứng chàng hảng khiến cho diện mạo của mình bị thấp xuống, dù cái đám này hay xách mé người khác không cao bằng mình. (Thành phần này chúng ta có thể hiểu theo kiểu nghĩa bóng hay nghĩa đen gì cũng trúng cả)


Đám người tự hào về thái độ “không làm chính trị” hay “trung dung”, hoặc “ở giữa”, đối với họ không có phải hay trái mà chỉ có quyền lợi thôi. Họ không có lập trường gì cả, không có quan điểm riêng gì hết, không có suy tư độc lập gì ráo, mà chỉ “đứng chàng hảng” để yên thân, hoặc hưởng lợi.


Như tôi từng đề cập trước đây, có những người từng bị VC hành hạ, làm nhục, đày ải họ trong các nhà tù khổ sai sau ngày 30-4-75, nay được tự do rồi nhưng không làm gì cả. Họ không góp phần tố cáo tội ác VC hay làm giảm thiểu tội ác, hoặc chấm dứt chế độ ác độc đó… trái lại cứ ra vào Việt Nam để hưởng thụ, để mong VC nó ban bố cho chút “ơn mưa móc”, hoặc móc ngoặc làm ăn với VC… dù trong lòng họ cũng căm thù VC… Và tôi đã khẳng định rằng nếu họ chỉ nuôi lòng “thù hận” kiểu đó, thì họ sẽ chết trước “kẻ thù”. Riêng những ai mang nhãn hiệu “Cơ Đốc Nhân”, nhưng luôn có lối suy nghĩ theo kiểu xác thịt và thường có những hành động giống như “tay sai ma quỷ” thì dù đang sống cũng như “chết” dù đang giữ những chức vụ quan trọng trong giáo hội như “linh mục”, “mục sư”, “giáo sĩ”, “giáo hạt trưởng”, “viện trưởng viện thần học.. thì cũng “rất xa Thiên Đàng”.


Một vị Giáo Sư Việt Nam đang dạy trong Trường Thần Học tại Hoa Kỳ đã viết thư ủng hộ lập trường của tôi về bài viết nêu trên, bằng một đoạn văn Anh ngữ như sau: “You write not to please them but to express your observations and feelings which many thoughtful Christians are very concerned about. Elijah was not welcomed when he criticized the Israelites for “di hang hai” (1 Kings 18:21) and he himself was against 450 false prophets of Baal!”


Tạm thoát dịch: “ông viết không phải để làm hài lòng họ nhưng để bày tỏ sự nhận xét của ông mà nhiều con dân Chúa cũng rất bận tâm. Giống như trường hợp (Ê-li thời Cựu Ước, được ghi lại trong sách 1 Các-vua 18:21). Ông ấy không được hoan nghênh khi phê bình dân Do Thái “đi hàng hai”. Một mình ông ấy đã đánh bại 450 tiên tri của thần Ba Anh…”


Như vậy thì đâu có phải chỉ thời bây giờ, mà ngàn năm trước cũng có loại “đứng chàng hảng” hay “đi hàng hai”. Kinh Thánh Cựu Ước cho biết Ê-li thẳng thắn phê bình vua đã bỏ điều răn của Ðức Giê-hô-va, để đã tin theo thần Ba-anh”. Kết quả ông bị lên án là làm “rối loạn Y-sơ-ra-ên”.


Ê-li đã công khai khuyến cáo dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Ðức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.”. Dân sự ngày xưa im lặng là vì họ đang “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng”. Đối với họ, Thiên Chúa hay thần nào cũng được. Chân lý của Chúa hay đường lối ma quỷ cũng không sao. Điều này không khác chi ngày nay có quá nhiều người áo mũ xênh xang, tư cách vào đạo đức thì quá kém nhưng lại mong hay thích người ta gọi mình là “cha” hay “sư” hoặc “thầy” và lúc nào cũng “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng” bằng luận điệu “không làm chính trị”.


Cho dù mình “không làm chính trị”, hoặc không muốn “dính dấp đến chính trị” đi nữa thì lằn ranh Quốc-cộng phải được đào cho sâu và vạch cho rõ để thế hệ con cháu chúng ta không còn nhầm lẫn. Thái độ gian manh và sự tử tế phải “hắc bạch phân minh”. Thiên Đàng và địa ngục không thể kết duyên. Không thể đồng hóa giữa tội ác tày trời của phường gian ác và khuyết điểm của người hiền lương hầu mong làm lu mờ tội lỗi của chúng. Không thể có sự thoả hiệp (compromise) giữa ma quỷ và con cái của Đức Chúa Trời.


Trước thực trạng đất nước Việt Nam ngày nay quá nghèo đói, lạc hậu, đạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán, những gì thuộc về nhân từ, đạo đức, tự trọng phải “nhường chổ” cho tàn bạo, ác độc, vô liêm sỉ lên ngôi. Người trong nước đã chua chát rằng "ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!". Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: "Căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa….”

Cho tôi kể chuyện này, nghe chơi rồi bỏ. Có mấy ông bà “thiêng liêng nửa vời” thích nói sau lưng người khác bằng cách lên án vu vơ người viết bài này, “công kích mục sư”, hoặc “quậy”. Tôi tố cáo những tên gian trá đội lốt “mục sư” để nói và làm những điều gây tổn thương danh Chúa, hoặc có lợi cho VC mà lên án rằng tôi “công kích mục sư” là sao? Tôi thẳng thắn phê bình thành phần giáo quyền bất xứng, chỉ thích bám trụ, chỉ thích “làm lãnh đạo” nhưng chẳng đếm xỉa gì đến tiếng “rên siết” của “con chiên” mà lên án rằng tôi “quậy” là thế nào?


Mấy ông bà nhận mình là “trí thức”, là “yêu nước”, là “tu sĩ”, là “đạo đức” đang sống đời tự do tải hải ngoại, có điều kiện theo dõi tình hình thế giới và đất nước Việt Nam, có thể lên tiếng bênh vực cho đồng bào mình đang bị hà hiếp, nhưng cứ “bịt mắt” để không còn nhìn thấy thực trạng tại Việt Nam ngày nay.


Tự hào làm chi về một dân tộc có “bốn ngàn năm văn hiến” mà lại có quá nhiều phụ nữ bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục? Vênh váo hào làm chi về một đất nước có quá nhiều “anh hùng” nhưng thực chất chỉ là loại quái thai của dân tộc, lớn lên để cướp của giết người, hà hiếp lương dân, nhưng vô cùng khiếp nhược với kẻ thù phương Bắc? Hảnh diện làm gì về một loại “đỉnh cao trí tuệ loài người” mà để cho đất nước như cái thùng rác của thế giới? Một đất nước đi đâu cũng nghe đảng ca tụng nhau toàn là “anh hùng” nhưng dân mình bị cai thầu ngoại quốc đập giầy vào mặt mà không có một thái độ bênh vực. Tụi Trung cộng cho dân của chúng nó nghênh ngang ra vào Việt Nam như chỗ không người, chúng chiếm đất, lấn biển, giết ngư dân Việt Nam mà đảng VC không dám lên tiếng bênh vực nhưng lại vỗ ngực nhận mình “anh hùng” là sao? Từ cổ chí kim có một đất nước nào mà thằng ăn cướp ngồi chiểm chệ xử nạn nhân kẻ cướp không? Có một đất nước nào mà bọn côn đồ được phép bỏ tù người lương thiện không? Chỉ có ở Việt Nam.


Vây thì mấy ông bà thường xuyên ra vào Việt Nam với cái “vỏ bọc” giảng đạo, làm từ thiện, xây mồ mả ông bà cha mẹ, báo hiếu gì đó… có dám mở miệng cáo trách cái đám lãnh đạo trong đảng VC không? Hay cứ hùng hồn tuyên bố tôi “không làm chính trị”, tôi “đứng giữa”, hay tôi “trung dung” nhưng thực chất chỉ là những kẻ tự bịt mắt để dễ “đi hàng hai” hoặc có cớ “đứng chàng hảng” để chờ xe hai chiều tông vào, rồi mới chịu thức tỉnh?


Kết luận: Nếu ai nhận mình là người Việt Nam còn lương tri, bắt buộc phải biết đau xót khi nhìn thấy dân tộc Việt Nam đang trên bờ vực thẳm. Nếu mình có lòng yêu nước thì chắc chắn phải biết “nổi giận” khi chứng kiến dân mình bị kẻ gian xúc phạm và không cho phép mình giữ thái độ “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng”. Vui sướng gì mà vác mặt về Việt Nam để đú đởn ăn nhậu với bọn côn đồ, hay “hồ hởi” ca hát cho bọn VC và thành phần tư bản đỏ nghe? Dân lành nào có đủ tâm trí để thưởng thức âm nhạc với cái bụng đói meo? Hoặc yêu nghệ thuật thế nào được khi tâm trí rối bời? Chỉ có những con người lương tâm chai lì mới ra vào Việt Nam quỳ lụy VC để được ca hát, vui chơi, hưởng thụ… bất chấp “máu người khác đổ xương người khác phơi” hầu cho những vòng hoa thêm đỏ thắm mà VC đã “ân cần” tròng lên cổ những kẻ thích “đứng chàng hảng” hoặc thích làm tay sai cho ma quỷ.


Huỳnh Quốc Bình
Salem, Oregon ngày 14-2-2013
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định hệ thống chính trị của chúng ta
“không dám nói lên sự thật”


“Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Lời Kinh Thánh)

Trần Mạnh Hảo

(Danlambao) - Trên báo Sài Gòn giải phóng online ngày 13-02-2013, trong bài: “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Vũ khí của chúng ta là dám nói lên sự thật” (1) có đoạn viết như sau: “Khi nghe bà Phan Thị Tươi giới thiệu chồng mình - ông Hoàng Thái Lai, đã nghỉ hưu nhiều năm nay, hiện là Bí thư Chi bộ khu phố 2, phường Thảo Điền (quận 2), Chủ tịch nước hỏi: “Đồng chí có gửi gắm gì không?”. “Tôi mong mỗi cán bộ lãnh đạo hãy làm đúng những gì đã nói”. “Đúng, làm đúng những gì đã nói đang là thách thức rất lớn đối với chúng ta hiện nay” - Chủ tịch nước chia sẻ.

“Sau khi lắng nghe những phát biểu nói lên kỳ vọng của các thành viên trong gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước nói: “Từ trước đến nay, chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật. Hôm nay nghe đồng chí bí thư chi bộ khu phố nói, tôi thấy đấy là sự thật, một sự thật ở ngay trong dân. Chắc chắn người dân đã gửi gắm rất nhiều vào đồng chí bí thư, nên hôm nay tôi mới nghe được gửi gắm của dân mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên phải làm đúng những gì đã nói. Đây là tiếng nói của lòng dân, Đảng hiểu dân nói mới là thước đo niềm tin chính xác nhất. Nhiều cán bộ không muốn nghe sự thật và không dũng cảm nói lên sự thật là vì lợi ích...” (hết trích - chữ in đậm do TMH nhấn mạnh)

Có lẽ, từ ngày đảng cộng sản Đông Dương (nay là đảng cộng sản Việt Nam) nhảy ra cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim ngày 19-8-1945, chưa từng có một vị lãnh tụ nào dũng cảm đứng ra nói với toàn thể đồng bào trong ngoài nước về CÁI BỆNH RẤT LỚN của những người cộng sản là CĂN BỆNH DỐI TRÁ (tức: “không dám nói lên sự thật”) như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong dịp tết Quý Tị này như vừa dẫn:

“CHÚNG TA CÓ “CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”

Xin xem định nghĩa đại từ CHÚNG TA trong từ điển: “Chúng ta: Bản thân mình cùng với người đối thoại: Chúng ta đi đâu bây giờ, vì tương lai con em chúng ta” (Đại từ điển tiếng Việt - NXB Văn hóa – Thông tin- 1999, trang 400)

Như vậy, hàm nghĩa từ CHÚNG TA nơi câu nói của chủ tịch nước Trương Tấn Sang bao gồm chính ông và vợ chồng người đảng viên ông đến thăm, nói rộng ra là chính chủ tịch nước và tất cả mọi người Việt Nam đọc báo đều cùng mắc cái bệnh rất lớn là bệnh dối trá này. Nhưng đa số nhân dân đâu có cơ hội để mắc bệnh này, vì họ, tức nhân dân, tức người dân thường, tức tư nhân không có quyền ngôn luận, tức không có quyền ra báo.

Chỉ có đảng cộng sản Việt Nam, người tự xưng là đày tớ của nhân dân mới có quyền phát ngôn trên 700 tờ báo nói, báo viết, báo hình mà thôi. Cho nên từ “chúng ta” trong nội hàm của câu nói trứ danh này của ông Trương Tấn Sang chính là nhằm nói rằng: hệ thống cầm quyền, hệ thống chính trị tức đảng cộng sản Việt Nam đã, đang mắc CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT. Mà không dám nói lên sự thật chính là “cái bệnh rất lớn” nói dối vậy.

Nếu câu nói này (chúng ta có cái bệnh rất lớn là không dám nói lên sự thật) phát ra từ một người bất đồng chính kiến thì chắc sẽ bị công an bắt giam vì điều 88: tuyên truyền nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi câu nói RẤT CHÍNH XÁC này phát ra từ miệng vị chủ tịch nước Trương tấn Sang lại là một vấn đề không nhỏ, không phải nói để chơi. Đó là nhận thức quan trọng nhất mà một lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam - ông Trương Tấn Sang - đã dũng cảm nói lên sự thật rất đáng buồn rằng: hệ thống cầm quyền của những người cộng sản là một hệ thống thiếu trung thực, lấy sự dối trá làm bản chất.

Ai ai trong thế kỷ thứ 21 này cũng đều biết chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của C.Marx và F. Engel bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội không tưởng của các nhà triết học tiền Mác-xít: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen... là những hệ thống xã hội không tưởng, ảo tưởng, không có thật, bịa đặt... Một xã hội xã hội chủ nghĩa tiến tới thiên đường cộng sản là một xã hội phi lý, phi nhân - nơi chỉ có cái thiện mà không có cái ác, chỉ có cái tốt mà không có cái xấu, chỉ có cái thật mà không có cái giả, tức là một xã hội phi biện chứng. Trong xã hội giả tưởng đó, người ta sống theo nguyên tắc vô cùng phi lý: làm theo năng lực (có hạn) hưởng theo nhu cầu (vô hạn). Trong xã hội bịa đặt phi biện chứng đó, nhà nước bị triệt tiêu, biên giới Việt Nam và Trung Hoa bị xóa bỏ (tất nhiên Việt Nam sẽ thành quận huyện của Tàu, đó là xã hội cộng sản hay sao?). Ở Cái xã hội bịa đặt khủng khiếp có tên là xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản ấy, quyền tư hữu bị xóa sổ, cá nhân bị xóa sổ, nhân tính bị xóa sổ, gia đình bị xóa sổ, quốc gia bị xóa sổ, tôn giáo bị xóa sổ, cái riêng bị xóa sổ, đất nước bị xòa sổ, dân tộc bị xóa sổ...

Liên Xô sau 74 năm đi tìm cái xã hội chủ nghĩa không tưởng mà tìm mãi không thấy, chỉ thấy cả đất nước rộng bằng một phần sáu địa cầu biến thành trại tập trung với máu và nước mắt, với gần 100 triệu người bị giết hại vì lý thuyết đấu tranh giai cấp duy ác Mác-Lê... Nay Liên Xô đã quay lại con đường tư bản chủ nghĩa để đi cùng đường với nhân loại...

Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội dã man từ năm 1978 để xây dựng xã hội theo mô hình tư bản, mô hình thị trường; nhưng vẫn mạo danh xã hội chủ nghĩa để đỡ bẽ mặt vì Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Mao Trạch Đông đã sai lầm vô hạn khi áp dụng chủ thuyết duy ác Mác-Lê vào Trung Quốc. Đại hội đảng cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012 đã không còn nhắc đến Mác-Lê-Mao... Đảng cộng sản Pháp trong đợt đại hội cách đây mấy ngày, đã good bye cờ búa liềm là cờ của nước Liên Xô trước đây...

Việt Nam do đảng cộng sản lãnh đạo từ năm 1986 đã chôn chủ nghĩa xã hội để xây dựng chế độ tư bản nhưng vẫn còn giữ cái đuôi dối trá rất vô nghĩa là “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”...

Mùa tết năm nay, qua lời thú nhận của chủ tịch nước Trương Tấn Sang về hệ thống xã hội cộng sản của ông và các ông vốn là một hệ thống dối trá “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT” chính là cuộc thay đổi tư duy đáng trân trọng của giới lãnh đạo Việt Nam...

Khi cả thế giới đều biết chủ nghĩa xã hội kiểu quốc tế ba của Mác-Lê là một chủ nghĩa ảo, một học thuyết bịa đặt, dối trá từng giết hại hàng trăm triệu người trên thế giới thì khi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta lại phải mang cả khối dối trá trên mình, liệu có trung thực, có đúng đắn hay không: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. Chủ nghĩa xã hội = sự không có thật, chẳng lẽ quốc hiệu của ta lại ra thế này ư: CỘNG HÒA KHÔNG CÓ THẬT VIỆT NAM”?

Từ sự nhận thức trên mang tính cách mạng của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng tôi hi vọng đảng cộng sản Việt Nam sẽ nhanh chóng từ bỏ những khái niệm dối trá, chủ nghĩa dối trá để trở về đi cùng đường với dân tộc và nhân loại.

Chúng tôi xin trích hai đoạn ngắn trong bài viết của mình năm 2010: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” (2) (là tham luận của TMH trong đại hội nhà văn Việt Nam, nhưng không được phép đọc, đã post lên mạng trước đại hội) làm phần kết của bài viết này:

“Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử….

...Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.”

Từ nhận thức rằng hệ thống chính trị của đảng cộng sản Việt Nam là một hệ thống “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi một bước cách mạng đột phá, đưa đảng cộng sản Việt Nam tiếp cận dần sự thật để dám từ bỏ cái chủ nghĩa dối trá là chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi xin chép lại lời của đại văn hào Pháp V. Hugo để tặng ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc bằng cách chôn chủ nghĩa xã hội từ năm 1976 (chủ nghĩa Marx thực chất là một chủ thuyết về kinh tế) để xây dựng kinh tế thị trường- kinh tế tư bản: “CÁCH MẠNG LÀ CUỘC TRỞ VỀ TỪ CÁI GIẢ ĐẾN CÁI THẬT”.,.

Sài Gòn 15-02-2013
Trần Mạnh Hảo
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Image

Trung Quốc tự nhận “dầu ở Biển Đông là tài sản quốc gia”

Vũ Quý
(Dân trí) - Dù lượng dầu hỏa và khí đốt tại Biển Đông chưa được xác định, nhưng chính quyền Trung Quốc lại xem toàn thể tài nguyên thiên nhiên trong khu vực này là của họ. Đây là một phần của âm mưu độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh.

Với tựa đề “Trung Quốc quyết định xem nguồn dầu ở Biển Đông là của họ” báo mạng OilPrice.com nhận định: “Vào lúc công luận phương Tây tập trung sự chú ý vào bắc Á với vụ thử nghiệm hạt nhân của Triều Tiên và cuộc tranh chấp Nhật-Trung tại Senkaku/Điếu Ngư thì xa hơn về phương nam, vùng biển Đông Nam Á cũng đang dậy sóng ngầm. Mặc dù có bản Tuyên bố ứng xử tại biển Đông, nhưng Trung Quốc vẫn khẳng định chủ quyền qua cái gọi là bản đồ cổ” với đường ranh 9 đoạn.

Chính sách biển của Trung Quốc không phải chỉ để làm bá chủ đường giao thông trên mặt biển và chiếm đoạt nguồn hải sản trong lòng biển mà còn nhằm tóm thâu toàn bộ tài nguyên dầu khí dưới đáy biển.

Vấn đề là trong những ngày gần đây, một cơ quan phương Tây có thẩm quyền về nhiên liệu dự báo biển Đông có rất ít dầu lửa. Bản báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Energy Information Agency (EIA) của chính phủ Mỹ công bố ngày 07/02/2013 nhận định: “Biển Đông là con đường huyết mạch của thương nghiệp thế giới và cũng là nơi có tiềm năng dầu khí, tạo ra những tranh chấp chủ quyền trên biển lẫn tài nguyên”. Tuy nhiên, sau khi nhận định như trên, EIA lại thông báo thẩm định trữ lượng dầu tại Biển Đông chỉ độ 11 tỷ thùng và về khí đốt thì chỉ độ 190 tỷ mét khối.

Thẩm định trữ lượng dầu khí tại Biển Đông do cơ quan EIA của Mỹ đưa ra rất thấp so với hai kết quả khảo sát từng được thông báo trước đây. Theo tính toán của cơ quan thăm dò địa chất của Mỹ US Geological Survey thì biển Đông có khoảng 28 tỷ thùng dầu.

Theo John C.K Daly thì thực sự “không ai rõ Biển Đông chứa bao nhiêu dầu, bao nhiêu khí đốt vì hải quân Trung Quốc gây sự, đuổi tất cả tàu thăm dò của nước ngoài”. Nhà phân tích Mỹ dự báo “dù ước lượng của EIA ít ỏi dù biển Đông có 11 tỷ thùng dầu hay 200 tỷ thùng thì không ai bỏ đi cả”.

Và càng đổ thêm dầu vào lửa bất ổn, EIA cho biết 3 tháng trước công ty dầu lửa quốc gia Trung Quốc CNOOC đã ước tính Biển Đông có khoảng 125 tỷ thùng dầu và 500 tỷ mét khối khí đốt. Không có nguồn tin độc lập nào công nhận số liệu của Trung Quốc nhưng sự kiện này cho thấy Bắc Kinh sẽ bám chặt Biển Đông khi mà nhu cầu dầu lửa buộc họ phải nhập khẩu trong năm 2012 đến 6 triệu thùng mỗi ngày.

Theo nhận định của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ thì các quốc gia chung quanh Biển Đông chọn giải pháp hợp tác thăm dò, khai thác tài nguyên. Malaysia và Brunei bắt tay khảo sát dầu khí ngoài khơi Brunei. Thái Lan và Việt Nam cùng thăm dò địa chất trong Vịnh Thái Lan. Trong khi đó, Trung Quốc sau khi chiếm Hoàng Sa năm 1974, tiếp tục lấn sâu về phương nam, ngang nhiên tranh giành chủ quyền tại quần đảo Trường Sa gồm 750 đảo lớn nhỏ, bãi đá ngầm và nhiều lần va chạm với Philippines, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia và Brunei.

Tuy nhiên, Bắc Kinh không thể tự do thao túng từ khi Hoa Kỳ chuyển trục chiến lược về châu Á. Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc ra tòa án biển của Liên Hiệp Quốc. Theo John CK Daly, quyết tâm của Manila được thúc đẩy bởi sự kiện Hoa Kỳ đang thương lượng để thuê trở lại căn cứ không quân Clark và quân cảng Subic Bay.

Vũ Quý
(theo Oilprice, AFP)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Viết và viết lại lịch sử

Nguyễn Hưng Quốc


Image
Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước

Cho đến nay, nói đến biến cố 30/4/1975, phần lớn chỉ đề cập đến chuyện miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, sau đó, tước đoạt tài sản không những của chính quyền cũ mà còn cả nhà cửa và tài sản của dân chúng, đặc biệt của những người đã bỏ nước ra đi và những người bị liệt vào danh sách “tư sản”. Còn một khía cạnh khác, quan trọng không kém, nhưng rất hiếm khi được đề cập: họ còn tước đoạt cả lịch sử nữa.
Suốt bao nhiêu năm, từ năm 1975 đến giữa thập niên 1980, lúc chính sách đổi mới ra đời, đảng Cộng sản độc quyền trên mọi phương diện, từ kinh tế đến chính trị, tư tưởng và thông tin. Sau phong trào đổi mới, họ nới lỏng việc độc quyền trong lãnh vực kinh tế, nhưng vẫn duy trì sự độc quyền trong các lãnh vực khác của đời sống, trong đó, hôm nay chúng ta chỉ tập trung vào một lãnh vực: lịch sử.

Toàn bộ lịch sử, cũng như toàn bộ những bài viết liên quan đến lịch sử hiện đại Việt Nam được xuất bản trong nước từ năm 1975 đến nay đều được viết bởi những người, nói theo Huy Đức, “thắng cuộc”. Nhưng không phải người thắng cuộc nào cũng được quyền tham gia vào việc viết lịch sử. Bộ hồi ký Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Ủy viên Trung ương Đảng, cũng bị thu hồi với lý do: Nó không hoàn toàn đúng theo cách nhìn “chính thống” của đảng. Tháng 9 năm 2012, Quốc hội Việt Nam thảo luận để sửa lại Bộ luật xuất bản, trong đó, có một thay đổi rất đáng chú ý: Các nhà xuất bản được quyền liên kết với tư nhân, hay “đầu nậu” để xuất bản nhiều thứ sách, trừ các cuốn sách có “nội dung về lý luận chính trị, lịch sử, tôn giáo, chủ quyền quốc gia, hồi ký”.

Quản lý gắt gao những cuốn sách về lý luận chính trị hay về chủ quyền quốc gia là điều có thể hiểu được. Thêm vào danh sách ấy những cuốn sách về tôn giáo cũng có thể hiểu được: đảng Cộng sản vốn chủ trương vô thần và thường nghi kỵ các tôn giáo. Nhưng còn lịch sử? Nói đến lịch sử, người ta thường nghĩ ngay đến những chuyện đã qua. Trong quá khứ. Chúng có liên quan gì đến chuyện chính trị? Có. Chủ trương của đảng Cộng sản rất nhất quán: Đó là lãnh vực họ muốn giành độc quyền. Đến cả các cuốn “hồi ký” của cán bộ và đảng viên của họ, họ cũng không tin: Chúng cần phải được kiểm duyệt kỹ lưỡng. Từng câu. Từng chữ.

Có thể nói, nhà cầm quyền không phải chỉ muốn giữ độc quyền trong việc quản lý hiện tại mà còn cả trong việc quản lý quá khứ. Họ muốn thực dân hóa cả ký ức của dân tộc. Chửi nhà Nguyễn, rồi sau đó, công nhận một số đóng góp của nhà Nguyễn là quyết định của họ. Phủ nhận Tự Lực văn đoàn, rồi sau đó, ca ngợi Tự Lực văn đoàn cũng là quyết định của họ. Cả việc viết và viết lại lịch sử đều nằm trong tay họ.

Hoàn toàn.

Với lịch sử xa, còn thế; với lịch sử gần, lại càng hơn thế nữa. Tất cả những gì liên quan đến chiến tranh Việt Nam và sau đó, đều do họ viết. Theo quan điểm của họ. Tuyệt đối không thể có một tiếng nói nào khác. Họ giành sự độc quyền ấy một cách dứt khoát, kiên quyết, không hề nhân nhượng. Và, cho đến nay, không hề mất cảnh giác.

Không thể nói là họ không thành công. Họ thành công ít nhất ở ba khía cạnh: Một, họ khống chế toàn bộ nội dung lịch sử được giảng dạy trong hệ thống giáo dục từ tiểu học đến trung học và đại học. Không có một tiếng nói khác nào lọt vào được để làm nhiễu những tiếng nói của họ. Hai, họ cũng kiểm soát được toàn bộ các xuất bản phẩm chính thức ở trong nước. Một vài cách nhìn khác với quan điểm chính thống của họ đều hoặc bị cấm đoán hoặc bị thu hồi hầu như ngay tức khắc. Ba, cái lịch sử được họ viết hoặc viết lại ấy có khá nhiều ảnh hưởng đến giới học giả Tây phương, những người, một phần, có khuynh hướng chỉ tin cậy vào các văn bản viết; phần khác, do cả tin hay do tính toán, thường sử dụng các văn bản viết được xuất bản trong nước để làm tài liệu tham khảo, có khi là nguồn tài liệu duy nhất. Khi ảnh hưởng lên được giới học giả Tây phương, họ cũng có thể gây ảnh hưởng đến nhiều người thuộc nhiều thành phần khác nhau trên thế giới.

Có điều, sự thành công của họ không trọn vẹn và càng lúc càng không trọn vẹn. Càng ngày càng có nhiều tiếng nói phi chính thống xuất hiện và để lại những dấu ấn lớn và sâu trong quần chúng, đặc biệt, giới trí thức. Lý do đầu tiên là nhiều người, ngay trong nội bộ đảng, không chấp nhận tham vọng độc quyền viết hoặc viết lại lịch sử của nhà cầm quyền. Họ muốn nói lên những sự thật mà họ từng nghe, thấy hoặc tham gia vào việc thực hiện. Ngày trước, có khi muốn nhưng người ta không dám bắt tay vào việc viết. Vì sợ. Sau ngày chủ nghĩa Cộng sản ở Nga và Đông Âu bị sụp đổ, người ta biết chắc những tiếng nói chính trực của mình, một lúc nào đó, sẽ được lắng nghe, bởi vậy, đâm ra tự tin và hứng khởi để làm việc hơn. Lý do thứ hai là nhờ internet. Ở Việt Nam, nhà nước có thể kiểm soát dễ dàng hệ thống báo chí và xuất bản. Bất cứ cuốn sách hay bài báo nào đi ngược lại quan điểm của họ, họ đều có thể tịch thu. Nhưng việc kiểm soát trên internet không phải dễ. Càng không dễ khi có thêm lý do thứ ba này nữa: sự liên thông giữa trong và ngoài nước. Trước, trong là trong và ngoài là ngoài. Năm 1979, để chuyển được tập thơ của mình ra với thế giới, Nguyễn Chí Thiện đã phải chấp nhận 12 năm tù (1979-1991). Năm 1982, chỉ vì cầm tập thơ chép tay Về Kinh Bắc từ Hà Nội vào Sài Gòn, nhà thơ Hoàng Hưng đã bị bắt và ở tù 39 tháng, còn Hoàng Cầm, tác giả, thì bị 16 tháng tù.

Bây giờ thì khác. Bất cứ bài viết hay cuốn sách nào bị ngăn chận ở trong nước cũng đều được tung lên mạng và truyền bá rộng rãi khắp nơi, trước hết, bởi cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, sau đó, bởi chính những người hiện đang sống trong nước.

Chính nhờ ba lý do kể trên, trong những năm vừa qua, chúng ta được đọc khá nhiều cuốn sách hay về lịch sử đương đại Việt Nam được nhìn từ nhiều góc độ và qua kinh nghiệm của nhiều người khác nhau. Trong số đó, nổi bật nhất là các cuốn Hồi ký 1940-1945 của Trần Văn Giàu, Hồi ký của một thằng hèn của nhạc sĩ Tô Hải, Hồi ký của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Hồi ký không tên của Lý Quý Chung, Ký ức và suy nghĩ của cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ, hồi ký Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao, và gần đây nhất, cuốn Bên thắng cuộc, gồm hai tập, của nhà báo Huy Đức.

Người ta thường nói: Lịch sử luôn luôn được viết bởi những người chiến thắng. Điều đó nhất định là đúng. Nhưng có lẽ chỉ đúng với hai điều kiện: Một, những kẻ chiến thắng ấy nắm quyền cai trị một quãng thời gian dài, thật dài, đủ để rửa sạch mọi ký ức của cả cộng đồng (như các triều đại phong kiến ngày xưa); và hai, dân chúng hoàn toàn cam chịu im lặng, hoặc nếu không, cũng không có bất cứ phương tiện hay cơ hội nào để lên tiếng. Với cả hai điều kiện ấy, nhà cầm quyền Việt Nam đều không có. Họ có thể đốt sạch sách vở ở miền Nam nhưng lại không thể đốt chúng ở ngoại quốc, trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng như trong các thư viện lớn của thế giới. Họ có thể kiểm soát hệ thống báo chí và xuất bản trong nước nhưng lại hoàn toàn bất lực trước sinh hoạt báo chí và xuất bản ở hải ngoại, đặc biệt các sinh hoạt truyền thông trên mạng.

Từ năm 1975, thậm chí, từ năm 1945 đến nay, đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn giành quyền viết lịch sử. Có những thời kỳ, họ là người duy nhất viết lịch sử. Bây giờ dường như đang bắt đầu xuất hiện một phong trào viết lại cái lịch sử ấy. Phong trào ấy càng phát triển bao nhiêu, sự xuyên tạc và dối trá càng sớm bị lột trần bấy nhiêu. Khi sự xuyên tạc và dối trá bị lột trần, các huyền thoại chung quanh đảng cũng như các lãnh tụ càng rơi rụng nhanh chóng bấy nhiêu. Khi các huyền thoại vốn là một trong những nền tảng xây dựng chế độ bị rơi rụng, không chừng chính chế độ cũng sẽ lung lay theo.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sửa Hiến Pháp chứ không phải xây hầm trú ẩn

Huy Ðức
Nếu tôi là trưởng ban sửa đổi Hiến Pháp 1992 tôi sẽ đề nghị ngưng lại cho đến khi trong Ðảng thực sự biết rõ mình muốn duy trì mô hình đảng chủ lập hiến như hiện nay hay muốn thiết lập ở Việt Nam một nền Cộng Hòa thật sự.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Quốc Hội Việt Nam, nơi có thẩm quyền sửa Hiến Pháp. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Các nhà nước quân chủ phải lập hiến khi nhà vua bị các tôn giáo, lãnh chúa... buộc phải chia sẻ quyền lực. Các nhà nước đảng chủ phải lập hiến vì muốn tạo ra cái vỏ bọc cộng hòa cho sự toàn trị của mình. Nếu Ðảng Cộng sản Việt Nam muốn tiếp tục chế độ chính trị như hiện nay thì cách khôn ngoan nhất là cứ giữ Hiến Pháp 1992 vì nó vẫn đang làm tốt vai trò “phông màn” cho Ðảng.

Sẽ là một sai lầm chính trị (của Ðảng) nếu sửa đổi Hiến Pháp không phải vì cải cách mà chỉ để tự trấn an. Khi lực lượng vũ trang đã khẩu hiệu “chỉ biết còn Ðảng, còn mình” mà vẫn không hết sợ hãi thì lẽ ra Ðảng phải sửa cái gốc là trao quyền lực cho dân. Bảo vệ sự cầm quyền của Ðảng mà bằng cách hiến định lòng trung cho quân đội và cố thủ trong điều 4 như một thứ lô cốt thì chỉ gây ra tranh cãi về tính hợp hiến của đảng độc tôn và khiến dân chúng nghĩ rằng Ðảng coi mục tiêu cầm quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Nếu chỉ quan tâm tới việc phân chia quyền lực thì không cần sửa Hiến Pháp. Quyền lực lâu nay vẫn được phân chia một cách bất thành văn và phe nhóm thường giải quyết tốt hơn Hiến Pháp. Vấn đề là tại hội nghị trung ương sắp tới ông Nguyễn Bá Thanh có đủ phiếu vào Bộ Chính Trị, ông Vương Ðình Huệ có trở thành bí thư trung ương Ðảng hay không? Ông Nguyễn Bá Thanh rồi sẽ chọn con đường đi vào lịch sử như một bao công, hay với không ít tỳ vết hiện nay, sẽ bắt tay với thủ tướng đương nhiệm, quay lưng với những người đã từng nuôi kỳ vọng?

Nếu nhận ra đây là cơ hội chính trị thì đừng vội vã, hãy ngồi lại với nhân dân, hình thành một bản Hiến Pháp có thể thiết lập một nền Cộng Hòa, trên nguyên tắc: một chính quyền không phải do dân thì không thể là của dân và không thể hy vọng chính quyền đó sẽ vì dân được. Với quyền lập hiến, nhân dân phải tham gia với tư cách là người quyết định chứ không phải “khách” mời “góp ý” như Ðảng đang làm.

Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp, vì thế, phải thay đổi quy trình làm việc của mình. Thay vì cắm đầu viết lách, bước một, chuẩn bị những vấn đề phải trình Quốc Hội biểu quyết đưa ra trưng cầu dân ý. Ðiều phải trưng cầu dân ý đầu tiên là Việt Nam nên chọn mô hình Cộng Hòa Ðại Nghị (nơi Quốc Hội bầu ra chính phủ và nguyên thủ quốc gia) hay Cộng Hòa Tổng Thống (nơi cử tri trực tiếp bầu ra nguyên thủ).

Cộng Hòa Ðại Nghị thường thành công hơn ở các quốc gia đi từ nền quân chủ lập hiến. Nơi hoàng gia, tuy không trực tiếp cầm quyền, vẫn còn uy tín để trị vì như một biểu tượng quốc gia. Tuy các triều vua của Việt Nam đã bị “phế từ lâu,” vẫn nên hỏi xem dân chúng muốn tìm một hoàng thân hay tự tay bầu ra tổng thống.

Ðảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn có thể đưa điều 4 ra trưng cầu dân ý và nếu nhân dân tán thành trong một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do thì việc cầm quyền của Ðảng sẽ thực sự vinh quang. Nếu dân muốn Ðảng cộng sản chỉ là một trong các đảng chính trị của người Việt Nam thì anh chỉ có thể cầm quyền khi thắng trong bầu cử.

Trong tình huống đó, Hiến Pháp nên quy định sự khác nhau giữa ứng cử viên độc lập với ứng cử viên được đề cử bởi một đảng chính trị. Ví du : một người có thể trở thành ứng cử viên tổng thống nếu được một đảng chính trị có cơ sở hoạt động ở tầm quốc gia đề cử hoặc có đủ một lượng chữ ký ủng hộ nhất định (nếu là ứng cử viên độc lập).

Với một dân tộc đang có hàng triệu người sống và làm việc ở khắp năm châu như Việt Nam, cần trưng cầu dân ý về điều kiện của các ứng cử viên: có chấp nhận người có hai quốc tịch ứng cử tổng thống, nghị sĩ Việt Nam hay không ? Có nên đòi hỏi ứng cử viên tổng thống và ứng cử viên nghị sĩ Quốc Hội phải là người sinh ở Việt Nam và sống liên tục ở trong nước 5 năm tính đến ngày bầu cử?

Chế độ kinh tế cũng cần được đưa ra hỏi dân. Tự do tư tưởng là vấn đề phải được bảo vệ trong xã hội tương lai. Hiến Pháp tôn trọng niềm tin cộng sản của một thiểu số nhân dân nhưng dân chúng không thể trả chi phí để nuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” bằng cách coi “kinh tế nhà nước là chủ đạo.” Nên trưng cầu dân ý về việc cấm nhà nước thành lập những xí nghiệp mang tính kinh doanh (trừ các doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp khai thác những loại tài nguyên đặc biệt).

Hãy trưng cầu dân ý để dân chúng chọn giữa sở hữu toàn dân và chế độ đa sở hữu đối với đất đai.

Sau khi có kết quả trưng cầu dân ý, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp mới tiến hành bước hai: thiết kế một mô hình nhà nước có khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, có thể hòa giải quốc gia, phát triển quốc gia, đảm bảo an ninh và mang lại công lý cho người dân tốt nhất. Ủy ban cũng không nên giấu dốt, cái gì biết thì hẵng làm cái gì không có kinh nghiệm thì nên học hỏi, nhất là từ những mô hình nhà nước đã được loài người áp dụng thành công. Việt Nam cần một mô hình chính trị bền vững dài lâu chứ không phải chỉ “bay 15 phút” rồi “bỏ kho” như những chiếc máy bay Vam mà Việt Nam đã từng tự chế.

Cách mà công an Hải Phòng đối xử với anh em ông Ðoàn Văn Vươn cho thấy, hệ thống tư pháp hiện hành không thể đảm bảo công lý, nhất là đối với những xung đột giữa công dân với địa phương. Ngoài việc tổ chức tòa án theo cấp xét xử (thay vì theo cấp hành chính), lực lượng điều tra hình sự và công tố nên tổ chức thống nhất ở cấp toàn quốc gia. Cảnh sát địa phương chỉ đảm bảo giao thông và trật tự, trị an; có thể bắt trộm, cướp rồi giao lại cho cơ quan công tố.

Các địa phương tùy vào ngân sách và tình hình an ninh mà quyết định số lượng cảnh sát. Không để tình trạng như TPHCM phải lấy thanh niên xung phong ra điều khiển giao thông và chống cướp bằng lực lượng từ trung ương cứu viện.

Thật là nguy hiểm nếu lực lượng công an, quân đội thay vì trung thành với quốc gia lại trung thành với đảng phái. Ðảng có thể nay tồn, mai vong nhưng Nước thì muôn đời phải giữ. Nếu quân đội không coi nhiệm vụ quan trọng nhất là giữ nước thì khi trong Ðảng có bất đồng, quân đội mất phương hướng, những kẻ có dã tâm lãnh thổ như Trung Quốc rất dễ thừa cơ chiếm nốt Trường Sa bằng một cuộc chiến tranh cục bộ.

Cũng cần tách bạch hành pháp chính trị và hành chính công vụ để khi Ðảng tan rã thì chỉ có chức năng hành pháp chính trị tạm ngưng, trộm cướp vẫn có người bắt; đèn xanh, đèn đỏ vẫn sáng ở ngã tư; người dân vẫn có thể làm passport, đăng ký xe và sang tên nhà, đất...

Bước thứ ba, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp trình những mô hình hành chánh, tư pháp tương thích này để Quốc Hội thông qua. Sau đó tới bước thứ tư mới tiến hành cho chuyên viên thảo ra Hiến Pháp. Do đã trưng cầu dân ý, Hiến Pháp chỉ cần 2/3 tổng số đại biểu thông qua chứ không cần đưa ra phúc quyết toàn dân. Chỉ phải giữ nguyên tắc cái gì dân đã quyết khi trưng cầu dân ý thì Quốc Hội không có quyền thay đổi.

Cũng có thể rút ra các bài học lập hiến từ Việt Nam. Hiến Pháp 1946 từng được viết bởi những trí thức có tinh thần pháp quyền và bác ái, tự do. Cho dù nó được quyết định bởi một Quốc Hội được bầu lên trong cuộc tổng tuyển cử do Việt Minh kiểm soát, Hiến Pháp 1946 đã được thông qua bởi những người yêu nước và khát khao độc lập, tự do.

Tuy chưa được công bố chính thức do chiến tranh nhưng Hiến Pháp 1946 đã có hiệu lực trên thực tế. Hồ Chí Minh đóng một vai trò quan trọng trong Hiến Pháp 1946, nhưng chính ông, sau khi đi dự Hội nghị 81 đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế từ Moscow trở về, đã phế bỏ bản Hiến Pháp dân chủ này để thay thế bằng Hiến Pháp 1959.

Theo Bộ Trưởng Nguyễn Ðình Lộc, Hiến Pháp 1959 được dịch ra từ Hiến Pháp Liên Xô nhưng qua bản tiếng Trung nên nhiều định chế nhà nước đã được bắt chước một cách vội vã và không chính xác. Hiến Pháp 1980 cũng bắt chước Hiến Pháp của các nước cộng sản Ðông Âu, áp dụng nguyên xi những định chế mà ngay sau đó đã bị các nước này bãi bỏ. Không nên sợ hãi trước những mô hình nhà nước đã được áp dụng thành công. “Nhập khẩu” mô hình chính trị đã là truyền thống mà Ðảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ năm 1959.

Một chế độ toàn trị thường đi đến sụp đổ hoặc tiếp tục tồn tại bằng cách siết chặt dân chủ, tự do. Quá trình này càng kéo dài bao nhiêu thì càng hủy hoại các nguồn lực và giá trị quốc gia tới đó. Sự sụp đổ hay sự ngắc ngoải của chế độ đều trút hậu quả lên đầu thường dân. Chủ động cải cách để từng bước trao mọi quyền lực cho nhân dân không chỉ là lối thoát của Việt Nam mà còn là cánh cửa để Ðảng thoát ra trong danh dự.
huynhtruong25
Posts: 142
Joined: Sun Sep 25, 2011 9:48 pm
Contact:

Post by huynhtruong25 »

CSVN Thêm Trọng Tội, Nếu...

Tác giả : Vi Anh

Thái độ nước lớn mà thiếu văn minh của Trung Cộng trên thế giới, hành động bành trướng của TC lấn biển, chiếm đảo của các nước lân cận tại Á châu Thái Bình Dương, gây bất ổn cho Á châu Thái bình dương- hành động ngang ngược đó của TC đã làm cho nhiều nhà đầu tư ngoại quốc chào TC bằng chân.

Tân Thủ Tướng Nhựt Shinzo Abe dành chuyến công du đầu tiên cho ba nước Đông Nam Á, Việt Nam, Thái Lan, và Nam Dương – đó là một dấu chỉ điễn hình, quá rõ cho khuynh hướng kinh doanh của thế giới là xa lìa TC, chuyển sang các nước khác ở Á châu. Đây là cơ hội bằng vàng cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư của các nước đang rút ra khỏi TC hay muốn đến Á châu để sản xuất kinh doanh. Về phía nhân dân và trên phương diện thuần kinh tế, VN là nơi lý tưởng để ngoại quốc đầu tư, một địa bàn kinh tế đầy tiềm năng, một thị trường lao động công xá còn thấp, môi trường sản xuất còn ổn, phân nửa dân số là trẻ. Cơ hội bằng vàng đó, lợi thế lao động của người dân và kinh tế của đất nước đó có thế mất, nếu nhà cầm quyền, Đảng Nhà Nước CSVN đảng trị toàn diện không thực sự ra tay một chút, bài trừ tham nhũng một phần nào. Nếu Đảng CS không trị tham nhũng để mất cơ hội đầu tư ngoại quốc vào VN, là Đảng CS thêm một trọng tội đối với quốc gia dân tộc VN.

Mới đầu năm 2013, nhiều dấu chỉ cho thấy đầu tư ngoại quốc đã đổ vào VN. Tin đài VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ, số vồn đầu tư ngoại quốc FDI đã đăng bộ vào VN là 280 triệu đô la, chỉ trong tháng giêng năm nay thôi. Thông tấn xã UPI ghi rõ đầu tư vào kỹ nghệ chế biến là 202 triệu, bất động sản 50 triệu, và kỹ thuật 14 triệu. Nhựt đứng đầu với hơn 157 triệu, Thái trên 54 triệu, và Pháp đứng hạng ba với 20 triệu Mỹ kim.

Tin vui không phải chỉ cho tháng đầu của năm 2013, mà trong năm rồi 2012,Việt Nam vẫn là nơi Nhựt đầu tư nhiều nhứt ở Đông Nam Á, trong các lĩnh vực như thông tin, phần mềm, mua bán sỉ-lẻ, và y tế.

ASEAN cũng cho biết VN là nước đứng hạng nhì trên danh sách các nước của hiệp hội thu hút đầu tư ngoại quốc, chỉ sau Indonesia, nhưng trước Singapore, Thái Lan, và Malaysia.

Năm 2013, với phát triển tương quan rất tốt đối với Mỹ và Nga, VN theo dự đoán của các nhà phân tích kinh tế chánh trị, sẽ là nước Mỹ và Nga đổ nguồn đầu tư FDI vào nhiều hơn.

Tư khi VN mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào, người dân VN, đặc biệt là thành phần lao động sản xuất và dịch vụ đã làm tất cả những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào, nhiều khi đành thắt lưng buộc bụng cam chịu công xá thấp, điều kiện lao động xấu, cô gắng đem con tim, khối óc, bàn tay và mồ hôi, lắm khi nước mắt nữa. Và đất nước do ông bà VN để lại đã cung ứng hào phóng tài nguyên, giang sơn gấm vóc để biến VN thành một môi trường kinh tế đầy tiềm năng.

Nhưng Đảng Nhà Nước CSVN nắm toàn quyền chánh trị, độc tài đảng trị toàn diện, trên phương diện chánh trị lại làm ung thối môi trường kinh tế VN, bởi một số lớn cán bộ, đảng viên của Đảng CSVN thành sâu dân mọt nước.

Giai đoạn hiện thời ngoại quốc từ bỏ TC dồn đầu tư vào VN, là cơ hội bằng vàng. Cơ hội quí hiếm đó sẽ bị hủy hoại nếu Đảng Nhà Nước không cố gắng một chút thôi, không thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng.

Sở dĩ nói cố gắng một chút thôi, thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng vì với độc quyền đảng trị toàn diện của Đảng Nhà Nước CSVN, việc bài trừ tham nhũng là “chuyện nhỏ”. Chỉ có cán bộ, đảng viên có quyền thế mới tham nhũng được. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt. Tổ chức Đảng cứng như đá. Nếu Đảng muốn trừng trị thì đảng viên cán bộ tham nhũng chẳng “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ” đối với Đảng CSVN. Nhưng nếu Đảng CSVN cứ ầu ơ ví dầu với tham nhũng như hồi đó tới giờ thì môi trường đầu tư đang ung thúi, sẽ bị hoại thư, chắc chắn ngoại quốc phải xa lánh. Bên cạnh VN còn nhiểu nước đang đón chờ, cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc - chớ Đông Nam Á không phải chỉ có VN.

Các nhà đầu tư ngoại quốc không dại gì bước chân vào một vũng sình tham nhũng. Các nhà đầu tư ngoại quốc sợ sẽ bị “văng miểng” khi hối lộ ở VN. Hầu hết các nước văn minh, luật trừng phạt người nhận lẫn ngươi đút hối lộ. Tội gì nhà đầu tư ngoại quốc hối lộ cho cán bộ đảng viên CSVN để về nước bị tội liên can như một số tiền lệ người Nhựt lo hối lộ ở VN, bị tòa án Nhựt điều tra, xét xử và bị tù như đã thấy.

Cơ hội bằng vàng đầu tư ngoại quốc đổ vào VN rất mong manh, có thể chợt loé lên rồi sẽ tắt rụi vì tệ trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên CS. Tệ nạn hối lộ, tham nhũng ở VN có người nói đã thành quốc nạn rồi.

Báo The National ngày 20/2 có bài báo, tựa nghe mà đau thương cho VN trong thời CS: “Tham nhũng làm ô danh môi trường đầu tư Việt Nam”. Phân nửa các doanh nghiệp thừa nhận có hối lộ cho quan chức nhà nước để giành được các hợp đồng kinh doanh. Theo nhận xét của tác giả bài viết, 5 năm trước đây Việt Nam là đối thủ cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc như một trung tâm sản xuất giá rẻ trong khu vực, ngang với Trung Quốc. Nhưng vì tham nhũng mà bây giờ Việt Nam thua các nước như Indonesia về mặt hiệu quả đầu tư và giá trị tiền tệ.

Còn Ngân hàng Thế giới trong phúc trình thường niên hồi cuối năm ngoái nói đã tới lúc Việt Nam cần quyết liệt chống tham nhũng, ít nhất 1/3 dân số Việt Nam xác định tham nhũng là một trong những vấn đề nhức nhối của Việt Nam.

Đã đến phiên Đảng CSVN phải thực tâm, thực sự bài trừ tham nhũng, nếu không sẽ mất lợi thế kinh tế của đất nước, mang trọng tội với tiền đồ dân tộc. Đảng hoàn toàn trách nhiệm, chớ không thể đổ tội cho ai nữa cả. Đảng đã giành lại quyền, đã gỡ khỏi tay Thủ tướng Nguyển tấn Dũng, lấy lại nắm chặt trong tay quyển bài trừ tham nhũng. Đảng, đích thân Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng đã lập và nắm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Đảng đã lập Ban Nội chính Trung ương làm cơ quan tham mưu, điều hành trực tiếp với trung ương Đảng. Đảng đã cử ông Nguyễn Bá Thanh và cho thêm hai phó ban và 108 nhân viên làm việc cho Ban Nội Chính. Đảng đã cho Ban ra mắt chính thức vào ngày 4/2/2013.

Từ nay việc chống tham nhũng, thành, bại là do Đảng CSVN. Đảng không thể đổ tội tham nhũng cho ai được nữa. Đảng không trị tham nhũng, để tham nhũng làm vật cản cho cơ hội ngoại quốc chào TC bằng chân, đổ nguồn đầu tư FDI vào VN là Đảng CSVN thêm một trọng tội nữa với đất nước và nhân dân VN./.( Vi Anh)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests