Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Vụ Bạc Hy Lai ở TC

Tác giả : Vi Anh
Vụ Ô. Bạc Hy Lai ngày 15 tháng Ba bị CS Bắc Kinh cất chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, đình chỉ chức vụ ủy viên Bộ Chính trị, và vợ ông, bà Cốc Khai Lai, bị cáo buộc giết doanh nhân người Anh Neil Heywood - là vụ án kỷ luật thanh trừng làm chấn động Trung Cộng và gây nhiều dư luận trên thế giới. Có nhiều tin đồn loan truyền ở TQ, sẽ có đảo chính. Báo chí Tây Phương và dư luận trên các trang mạng tư nhân ở Trung Quốc bình luận liên tục nhiều tuần, tốn rất nhiều giấy mực, thời lượng phát thanh, phát hình, và nhiều chỗ trên các trang mạng trên Internet. Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh ra sức thắt chặt kiểm soát tin tức trên internet trong thời gian qua, đóng cửa vài chục trang web, xóa hàng trăm ngàn bài đăng trên các trang mạng xã hội, và bắt giữ hàng chục người loan truyền thông tin, nghị luận liên quan đến vụ Bạc Lai Hy và đảo chánh. Thực ra vụ Bạc Hy Lai chẳng có gì mới lạ trong sinh họat chánh trị kín hơn hội kín, trong xã hội bế tắc của Đảng Nhà Nước CS. Đó là hệ quả tất yếu của một số luật chết cứng, trước sau như một của Đảng CS dù CS ở Âu hay Á.

Thực vậy, sau khi Liên xô sụp đổ, ở Trung Quốc cũng như ở VN, Đảng CS có nhiều thay đổi. Chủ nghĩa CS có chuyển hệ tư duy về kinh tế sang kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào. Cán bộ đảng viên lên đồ lớn, đi xe sang, có người du học ngọai quốc rất cao. Thời đại CS đã đến thế hệ thư ba hay tư, nhiều hòang tử đỏ. Cán bộ đảng viên CS đã thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.

Nhưng có một điều không đổi trong đảng CS. Trời gầm Đảng CS cũng không nhả, không thay đổi; đó là luật thanh trừng nội bộ. Luật thanh trừng tàn bạo, ác nghiệt vô cùng, điều mà ông giáo làng sau lên làm vua CS Tàu là Mao trạch Đông đã thường ví von “đả lạc thủy cẩu» (khi con chó rơi xuống nước thì đó là lúc phải đánh nó).

Xã hội CS theo xã hội học là một xã hội bế tắc. Họ giải quyết mâu thuẫn, xung đột phe đảng bằng cách “thịt” nhau. Làm tiêu sinh mạng chánh trị hay mạng sống của nhau, chớ không có vấn đề tương nhượng thỏa hiệp như trong chánh trị tự do, dân chủ, cởi mở, minh bạch.

Trong vòng bố thiết, tuyệt đối không khai phóng đó của CS, hỏi phe đảng theo tư tưởng Đặng tiểu Bình, như Hồ cẩm Đào, Ôn gia Bảo và người sắp kế nghiệp là Tập cận Bình làm sao để cho một người như Bạc Hy Lai chủ trương, phát biểu và hành động làm sống lại tư tưởng Mao trạch Đông. Và tối kỵ nhứt là gây thanh thế cá nhân bằng kiểu ấy để chen vào Thường Vụ Bộ Chánh trị Đảng CS Trung Quốc.

Tuy bề ngòai phe Đặng tiểu Bình và những người kế nghiệp bằng mặt vẫn treo hình Mao Trạch Đông để giữ thế chánh thông công quyền nhưng bên trong đâu có bằng lòng thái độ và hành động của Mao trạch Đông, người đã hãm hại, ám hại bao người cụ thể như Ô. Đăng tiểu Bình.

Những người đang ở ngôi cửu ngũ, là chín người thường vụ của Bộ Chánh trị là những người từng bị Mao đày đọa, cách mạng Văn Hóa của Ô. Mao truy quét làm sao để Ô. Bạc hy Lai mới là ủy viên Bộ Chánh trị lại tự tung tự tác chủ trương trở lại thời Mao, khơi lại Cách mạng Văn hóa.

Cũng như ở VNCS, làm sao những người như Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang và một số khác ở Miển Bắc để cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy là một hòang tử đỏ nhưng dám “giỡn mặt với tử thần”, đòi kiện, đòi Quốc hội bất tín nhiệm Thủ Tường Nguyễn tấn Dũng. Bộ Chánh trị bằng nhiều cách, trong đó có cách dơ dáy là phao vu Tiến sĩ “quan hệ bất chánh” đối với phụ nữ để bước dầu bắt giam và sau đó đổi tội danh đại hình “lợi dụng tự do tuyên truyền chống phá nhà nước, lật đổ chánh quyền, và xử “tù mọt gông”. Việc quan hệ bất chánh là việc làm như cơm bữa của đảng viên cán bộ CS có chức có quyền. Ô Hồ làm đối với gái vị thành niên khăn quàng đỏ và làm rồi cho người giết để bịt miệng người mà Ông đã thòa mãn sắc dục. Ô Lê Duẫn, Ô. Lê đức Thọ cũng làm thời Việt Minh khi vào Nam chỉ đạo phong trào kháng chiến. Nhà văn Vy Thanh nói nhiều lần trên truyền hình, viết rất rõ trong tác phẩm “Lớn Lên Với Đất Nước”. Bộ Chánh trị của Đảng CSVN làm đối với Ts Vũ so vai vế và chức vụ, còn mạnh và bạo hơn TC làm đối với Bạc Hy Lai.

Bạc hy Lai tiêu diêu sinh mạng chánh trị vì là một bánh xe nhưng không vận hành theo guồng máy và đà máy chạy của Đảng CS. Ông dám tạo uy tín cá nhân bằng hành động thân dân, trừ gian, diệt bạo trong hàng ngũ mafia trong đảng nhà nước. Ông gây thanh thế cá nhân để "vận động tranh cử" vào Thường Vụ Bộ Chánh Trị, chớ không chịu “xếp hàng chờ ngày” theo “biên chế” trong chế độ CS vẫn vận hành theo kiểu đồng thuận, bí mật.

Thành ra những người theo dõi và có kinh nghiệm CS không lấy làm lạ khi thấy trong vụ Bạc hy Lai bị Đảng CS nhổ cỏ thỉ nhổ tận gốc. Chính Ô Bạc hy Lai cũng làm thế đối với cánh tay phải của Ông là ông Vương Lập Quân trong chiến dịch thanh lọc Đảng Nhà Nước ở Trùng Khánh để gây uy tín trong dân cho Ô Bạc hy Lai. Lúc bấy giơ Ông Quân là người nắm ngành công an, mật vụ, nhân vật số ba trong thường vụ tỉnh và thành ủy Đảng Trùng Khánh. Ông Quân bị chuyển qua làm Phó Chủ Tịch Ủy Ban mà cũng không yên. Ông phải chạy vào tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Thành Đô, được cho là xin tị nạn và nhưng bị bắt đưa về Đảng xét xử. Tin đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 16-4 cho biết Ô. Quân vào tòa tổng lãnh sự Mỹ rất bối rối, lo sợ, xin tỵ nạn chánh trị. Các giới chức của cơ quan đại diện Mỹ này tranh luận gay go nên hay không nên cho, và sau đó Bộ ngọai Giao Mỹ quyết định từ chối nhưng không giao Ô. Quân cho công an Trùng Khánh mà giao cho nhà cầm quyền CS Bắc Kinh. Ô Quân sợ người “thủ trưởng” chí thân của mình là Ô Bạc lai Hy “thịt” vì một lý do giản dị do chính trung ương Đảng sau này khui ra, Ô. Quân biết vợ Ông Hy dính líu với cái chết của doanh gia Anh đội lốt tình báo.

Trong chế độ CS, trong đảng CS và trong bộ máy công quyền nhà nước CS, cán bộ đảng viên chỉ là con ốc, bánh xe của guồng máy mà máy cái là Bộ Chánh trị gom lại một số ít là thường vụ Bộ chánh trị, ở TC chỉ có 9 người trong ngôi cửu ngũ như của Vua Tàu ngày xưa.

Bất cứ ai đi khác cách vận hành, chệch hướng của guồng máy, có sáng kiến, có phương pháp cá nhân vươn lên khác lối mòn của Đảng là bị guồng máy cán nát dù cá nhân đó là hòang hay thái tử đỏ..

Một sai lầm lớn của những chánh tri gia Tây Phương là coi trọng cá tính, quan niệm riêng của người lãnh đạo CS. Sai lầm kế tiếp là nghe những lời tuyên bố có tính phong trào của CS. Nhiều khi đó là những lời tuyên truyền hay khai khiếu cho trăm hoa đua nở, để cho những người bất mãn xì xú páp rồi sau đó bắn phe mạnh trong Đảng sẽ diệt ngầm. Người có kinh nghiệm CS thường nói, CS nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ hơn vậy nữa; nên đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm./.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ước chi... thời đó!

Ngô Nhân Dụng
Ðang tìm hiểu lý do tại sao, sau một ngàn năm Bắc thuộc, nước Việt Nam không thành một tỉnh của Trung Quốc, chúng tôi có dịp đọc sách sử cũ, thấy có mấy chuyện đáng kể lại trong lúc này.

Cuốn Mân Thành Tạp Thảo của Lý Văn Phức kể chuyến đi Phúc Kiến của ông năm 46 tuổi. Mân Việt là tên của tỉnh Phúc Kiến thời xửa thời xưa; trong cùng lúc người Trung Hoa gọi nước ta là Lạc Việt. Ông Lý Văn Phức đi sứ sang Tàu bốn lần, chưa kể một lần sang Phi Luật Tân (đảo Lucon) và hai lần qua Bengal. Chuyến đi năm Tân Mão (1831) có lý do nhân đạo. Cả gia đình một người Trung Hoa tên là Trần Khải đi biển gặp bão, thuyền trôi dạt vào hải phận Việt Nam. Vua Minh Mạng sai cả một phái bộ dùng đường biển đưa cả gia đình này về nguyên quán. Lý Văn Phức phụ trách việc này, nhân đó có dịp gặp gỡ và đối đáp, đã “tranh đấu ngoại giao” với viên tổng đốc họ Tôn ở đó, về những vấn đề có tính cách nghi thức thù tiếp nhưng lại đụng chạm tới thể diện quốc gia. Ngay hôm đầu tiên, được đưa kiệu đến trước cửa ngôi nhà tạm trú, Lý Văn Phức đã lùi lại, không vào. Vì trên cửa là tấm giấy ghi: “Việt Nam quốc Di sứ Công quán.” Di là chữ người Trung Hoa gọi tên các giống dân “man rợ.” Quan địa phương chịu gỡ tấm bảng đi, ông mới bước vào. Ngày hôm sau, họ phải viết một tấm bảng khác: “Việt Nam quốc Sứ quan Công quán.” Sứ quan, chứ không phải Di sứ!

Mấy ngày sau, Lý Văn Phức viết một bài “Biện Di Luận,” bàn luận về “Di.” Sau khi mô tả nước Việt Nam biển rộng sông dài, ra đến các đảo ở Ðại Hải; lại kể ra các phong tục tập quán, và nền giáo dục, thi cử ở nước ta không thua kém gì bên Tàu; ông hỏi: “Như thế mà lại gọi là Di được hay sao?” Lý Văn Phức lại lục lọi sách sử cũ Trung Hoa ra, trích dẫn nguyên văn: “Vua Thuấn vốn là người Ðông Di, Văn Vương vốn là người Tây Di; truyện sử có chép như thế.” Hai ông đế, ông vương được kính trọng nhất nước Tàu, cũng gốc người “sắc tộc thiểu số!”

Chưa hết, Lý Văn Phức còn phân tích thêm để “nói móc” cho họ phải ngượng. Bài văn viết: Có phải các ông gọi một sắc tộc là Di vì cách ăn mặc và tiếng nói của họ hay không? Nếu vậy thì trong xứ Mân Thành này, quý vị ăn mặc không giống, nói tiếng nói không giống các tỉnh khác của Trung Quốc; quý vị có phải là Di hay không?

Nói vậy là đụng tới một nỗi xấu hổ của người xứ Mân. Hai ngàn năm trước, cũng như Việt Nam, họ không hề thuộc vào nước Tàu. Triệu Ðà là ông tướng đầu tiên đánh chiếm Mân Việt. Bây giờ họ đã biến thành một tỉnh, bị đồng hóa thành người Trung Quốc! Còn chúng tôi, người Việt Nam thì vẫn là một nước độc lập!

Bài Biện Di Luận được Lý Văn Phức viết, đem treo trước công quán, thầy giáo, học trò kéo nhau đến đọc, có người chép lại đem về nhà giữ. Ông kể lại, có một viên quan lo về giáo dục (huấn đạo) tên là Lý Chấn Nhân đã tự giật mũ, ném xuống đất, nói: “Chúng ta là Di mà lại còn gọi người khác là Di làm gì!” Chi tiết “giật mũ ném xuống đất” này quan trọng. Vì một trong những thứ mà người Trung Hoa đời thượng cổ tự hào hơn các giống Di, Ðịch, là họ biết đội mũ! Hậu Hán Thư đã kể công hai ông thái thú Tích Quang và Nhâm Diên dạy dỗ dân Giao Chỉ, Cửu Chân thay đổi trang phục, với việc “chế vi quan, lý” - tức là chế tạo ra mũ đội và làm dép để đi vào chân. Người Phúc Kiến vẫn quen quấn khăn chứ không đội mũ, đó là một phong tục cũng được Lý Văn Phức nêu ra trong bài văn! Ðọc tới đó, người ta phải thấy xấu hổ, giựt mũ ném xuống đất là phải!

Lý Văn Phức xứng đáng làm một người đại diện cho nước Việt Nam ra nước ngoài, để bảo vệ thể diện dân tộc. Nếu ngày nay có người có tài trí và đảm lược như ông thì đỡ biết mấy! Mân Thành Tạp Thảo còn kể nhiều cuộc đối đầu lý thú giữa ông sứ thần nước ta với một quan tổng đốc Trung Quốc; nhưng còn một câu chuyện của một tác giả khác, sống trước Lý Văn Phức nửa thế kỷ, cũng đáng kể lại.

Mùa Xuân năm Canh Tuất (1790) Quang Trung cử Phan Huy Ích làm sứ thần đưa một vị võ tướng giả đóng vai nhà vua sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long nhà Thanh. Trước đó một năm quân ta mới đánh Tôn Sĩ Nghị tơi tả ở trận Ðống Ða. Phái đoàn gồm 150 người, có cả một đoàn văn nghệ 10 nhạc sĩ và ca sĩ, bái biệt vua ở Nghệ An ngày 29 Tháng Ba (Âm lịch), đến Tháng Bẩy mới đến Bắc Kinh. Ngày 11 Tháng Bẩy, phái bộ được vua Càn Long tiếp tại nhà nghỉ mát ở Nhiệt Hà, làm thơ xướng họa với nhau. Ba ngày sau gặp lại gặp, Càn Long tặng cho “quốc vương giả” Phạm Công Trí và nhân viên sứ bộ nhiều món quà quý giá. Ðặc biệt, ông vua nhà Thanh nhờ phái bộ chuyển một món quà gồm “hai tấm đoạn,” đem về cho một vị trưởng đồn người Việt Nam, tên là Phạm Quang Chương.

Ông Phạm Quang Chương đã làm gì mà được vua nhà Thanh tặng quà như vậy? Cuốn hồi ký Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích tường thuật chuyến đi, cho biết lý do. Trước đó ba ngày vị “đồn tướng” Phạm Quang Chương, trong lúc đi tuần trên biển, đã cứu được một chiếc thuyền của người Trung Hoa trong lúc họ đang bị cướp biển tấn công. Tin đưa về Bắc Kinh rất nhanh, Càn Long tạ ơn ngay.

Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó. Ông có thể cứu những ngư phủ Việt Nam bị cướp biển tấn công ngay trong hải phận nước mình. Mà bọn cướp đó lại là quân sĩ của những người ngồi kế vị trên ngai vàng các vua nhà Thanh ở Bắc Kinh, là đảng Cộng Sản Trung Quốc!

Nghe tin 21 đồng bào đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi đi biển bị lính tráng Tàu bắt cóc từ Tháng Ba, bị tra tấn, bỏ đói trong hơn một tháng giam cầm mới được thả về, sau khi đã bị cướp hết thuyền bè, dụng cụ đánh cá, người Việt ở nơi nào cũng phải rớt nước mắt. Mà đây không phải lần đầu tiên ngư dân mình bị trấn lột, hành hạ như vậy. Bọn “cướp biển” mặc đồng phục Trung Quốc đã tung hoành như thế từ bao nhiêu năm nay rồi. Hàng ngàn đồng bào Việt Nam đã bị họ cướp, đánh, nhiều người còn bị giết. Ông Phạm Quang Chương ơi, cứu chúng tôi với! Ông Phạm Quang Chương ơi, ông ở đâu rồi?

Tại sao những người lính Trung Cộng có thái độ và hành vi khinh thường dân Việt Nam như vậy? Phải hỏi những vị quan to trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình để nhờ các ông bà giải đáp cho dân chúng tôi nghe.

Trong mấy ngày qua, hai nước Philippines và Việt Nam đều phản đối bản “Quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc” của chính phủ Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ nói một cách giản dị là nó “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.” Và yêu cầu Trung Quốc phải hủy bỏ ngay bản quy hoạch nêu trên, không có thêm hành động nào làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông. Nói xong rồi, không có một hành động nào khác. Vẫn tụng đọc 16 chữ vàng mỏi miệng, chờ coi các “đồng chí anh em” sẽ làm gì tiếp thì lại nói thêm vài câu nữa!

Chính phủ Philippines cũng phản đối Trung Quốc như vậy; nhưng họ còn làm nhiều hơn. Họ cho phép giới quân sự lên tiếng “Quân đội Philippines sẽ không lùi bước!” Philippines còn “kêu gọi các nước phương Tây và Châu Á tỏ rõ lập trường” về tình hình Biển Ðông, để cùng đối đầu với một “mối đe dọa.” Tức là đề nghị quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông. Khi tổng thống Philippines tuyên bố nước ông sẽ “không gây chiến với Trung Quốc ở Biển Ðông” thì người ta hiểu rằng họ sẵn sàng chờ đợi nếu cần phải chống cự bất cứ một cuộc gây hấn nào, dù là chiến tranh! Trung Quốc yêu cầu Philippines rút con tàu khảo cổ đang vớt lên một con tàu đắm gần bãi đá ngầm Scarborough ở Biển Ðông, chính phủ Manila cương quyết từ chối.

Có vị tướng lãnh nào ở Việt Nam được phép lên tiếng về vấn đề Biển Ðông hay không? Hay là các ông tướng còn đang lo các biện pháp đối phó với “Cơn sóng Ðoàn Văn Vươn” đang dâng trào; khi đồng bào Hưng Yên ào ào kéo nhau biểu tình đòi đền bù đất đai bị “cưỡng chế,” lại được đồng bào từ Bắc Ninh đến hỗ trợ?

Không cần hỏi tại sao những người lính Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc ngư dân Việt Nam, khinh rẻ mạng sống, tài sản của người Việt Nam. Nhà dột từ nóc dột xuống!

Năm 1992 cả một đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam xin phép kéo nhau sang triều yết Ðặng Tiểu Bình để xin được làm “đồng chí anh em” như cũ. Ðặng Tiểu Bình không thèm tiếp, còn không cho được đến Bắc Kinh. Bắt gặp gỡ ở Thành Ðô, tuốt muốt ở Tứ Xuyên, một tỉnh ở góc nước Trung Hoa vĩ đại. Ðặng Tiểu Bình còn đòi bằng được phải đưa cả ông Phạm Văn Ðồng sang gặp, dù ông cựu thủ tướng này không còn chức vụ nào nữa. Bởi vì chính ông Phạm Văn Ðồng là người đã ký lá thư năm 1958 công nhận bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, trong đó nói họ làm chủ cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa! Cứ như vậy mà cả sứ bộ Cộng Sản Việt Nam lục tục kéo sang chầu để xin giải hòa, thề từ nay ngưng không chửi bới “Trung Quốc xâm lược” nữa! Chẳng còn chút thể diện nào cả! Làm sao người ta không khinh được?

Ước chi lúc này có được những nhà ngoại giao như Lý Văn Phức thời đó! Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó!
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Cưỡng Chế Văn Giang

Trần Khải

Rạng sáng Thứ Ba 24-4-2012, súng AK đã nổ, khi 3,000 công an dàn hàng ngang, đi kèm xe xúc và xe ủi vào để cướp đất Văn Giang cho dự án Ecopark. Khói lửa mịt trời trên cánh đồng Văn Giang trong khi dân chúng già trẻ lớn bé la khóc...
Mặt thật của nhà nước cộng sản lại lộ ra một cách minh bạch: cướp đất nông dân để xây dựng tài sản cho các nhóm lợi ích tư bản đỏ.
Sau đây là tóm gọn từ bản tin viết lúc đêm Thứ Hai của trang Nữ Vương Công Lý.

Tin nóng: Nhà cầm quyền Hưng Yên quyết sống mái với nhân dân Văn Giang – Cập nhật liên tục tại Văn Giang
23/04/12 3:22 PM .Theo tin Nữ Vương Công Lý nhận được, nhà cầm quyền Tỉnh Hưng Yên, huyện Văn Giang đã quyết định huy động khoảng 1900 quân gồm công an và quân đội quyết sống mái với nhân dân Văn Giang nhằm cướp nốt số đất còn lại của họ cho dự án Ecopark.
Tình hình hết sức nóng bỏng và khẩn trương, theo nguồn tin nhận được, việc “cưỡng chế” nhằm cướp đất của dân sẽ diễn ra vào sáng mai.
Dự án Ecopark là dự án của Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) được mệnh danh là khu đô thị sinh thái lớn nhất Miền Bắc với diện tích 500ha. Nhưng để thực hiện dự án này, nhà đầu tư và nhà cầm quyền đã toa rập cướp đất của nhân dân ở đây.
Giá cả một sào đất được đền bù cho nông dân ở đây là 48 triệu đồng/360m2, trong khi giá mặt bằng được rao bán ở đây là 60 triệu đồng /m2.
Những người dân Văn Giang ở ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan đã kiên quyết phản đối việc cướp đất của họ. Nhiều cuộc va chạm đã xảy ra giữa nông dân và nhà cầm quyền tại đây. Thậm chí đã có những cuộc đi bộ của bà con lên Hà Nội khiếu nại và đã bị đàn áp tơi bời. Sau đó, nhà cầm quyền đã cướp đi của họ một số lớn ruộng đất. Phần nhỏ còn lại hiện đang nằm trong âm mưu chiếm đoạt nốt.
Hiện nay nhà cầm quyền đang tập trung mọi nhân tài vật lực quyết sống mái với bà con Văn Giang, Hưng Yên nhằm cướp nốt số ruộng đất này.
Theo các thông tin nhận được, lần ra quân cướp đoạt này, Tỉnh Hưng Yên quyết tâm làm mẻ lớn và bất chấp lẽ phải, tình người và luật pháp.
Sáng Thứ Hai, UBND tỉnh Hưng Yên đã tổ chức họp báo. Tỉnh thông báo sẽ huy động mọi nguồn lực và sức mạnh trong đêm nay và rạng sáng mai để cưỡng chế bằng được khu vực ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan thuộc huyện Văn Giang cho dự án Ecopark. Lực lượng gồm công an viên của tất cả các xã trong huyện – trừ 3 xã bị cưỡng chế. Bộ CA đưa toàn bộ Học viên của 2 trường Cảnh sát. Tất cả mặc cảnh phục để không nhầm lẫn trong cưỡng chế. Sẽ đào một con hào ngăn cách giữa khu dân cư và đất dự án. Muộn nhất là sẽ tiến hành vào sáng mai.
Sau cuộc họp báo, toàn bộ nhà báo bỏ về … không nhận lời mời cơm trưa của UBND tỉnh Hưng Yên.
Sáng qua, 22/4 có 27 xe các loại được điều tới gần khu vực hiện trường. Vào lúc 12h15 đêm qua, có thêm hai xe xúc đi từ phía Bát Tràng xuống Văn Giang.
Theo các nguồn tin, đêm nay xe ủi sẽ vào sát khu vực cưỡng chế. Mờ sáng mai, việc cưỡng chế khởi sự và cao trào vào khoảng 08h00, với sự tham gia của cả công an và bộ đội.
Sáng Thứ Hai, bà con nông dân đã bắt đầu dựng lều bạt trên khu vực cưỡng chế. Và cũng trong sáng nay công an đưa chó nghiệp vụ vào khu vực này, có lẽ là để kiểm tra xem có thuốc nổ không?
Buổi chiều đã có 8 xe máy xúc loại nhỏ, chưa có xe máy ủi tiến đến khu vực cưỡng chế, có khả năng đêm nay xe ủi mới về....
Chiều 23/4/2012 tại cánh đồng Xuân Quan
Tối Thứ Hai, bà con Văn Giang đã chuẩn bị tinh thần cho buổi cưỡng chế, mọi ngõ xóm, đường làng tấp nập người. Nông dân xã Xuân Quan đã đổ ra đồng và những đống lửa được đốt lên. Tất cả người già, trẻ em đều tập nập đổ ra đồng. Hình ảnh lúc 22h đêm tại Xuân Quan:
Bà con nông dân cho biết, họ sẽ thay nhau canh giữ cánh đồng và đất đai, hoa màu của họ suốt đêm nay, sẵn sàng bảo vệ đất bằng bất cứ giá nào. Chiều nay, bà con các xã lân cận như Phụng Công và Cửu Cao đã đến tiếp sức cho bà con Xuân Quan đang gặp hoạn nạn.
4h 40 ngày Thứ Ba 24-4-2012: Xã Xuân Quan đã bị cắt điện. Có thể đây là tín hiệu bắt đầu cho cuộc chiến cướp đất của nông dân Xuân Quan.
5h10: Công an, côn đồ vây kín mọi ngả đường vào ra Xuân Quan, loa truyền thanh đọc lệnh cưỡng chế đất của dân.
Đoàn máy xúc, ủi đang chạy trên đê đường 195 hướng về bờ kênh Bắc Hưng Hải để tiến vào khu vực cưỡng chế. Bà con cho biết ngay tại đầu dốc xuống xóm 1 Xuân Quan có nhiều công an, đầu gấu gác ở trên đê 195 rẽ vào xóm 1.
Bọn côn đồ đã được rải ra khắp các ngả đường, đây có thể là một “trận đánh đẹp” của nhà cầm quyền Hưng Yên bằng chiến lược dùng công an, bộ đội hiệp đồng tác chiến với côn đồ nhằm thẳng nhân dân mà tấn công?
5h35: Loa phát thanh yêu cầu người không có phận sự không vào khu vực làm việc. Bà Lê Hiền Đức đã cùng với bà con nông dân đi ra hiện trường.
5h38: Công an đã đánh người dân tại xã Phụng Công. Bạo lực đã bắt đầu ra tay với nông dân.
Lực lượng công an đã mở một mũi tấn công phía người dân xã Phụng Công, bà con xã Phụng Công đã cản phá mũi này và lùi dần tập trung về phía Xuân Quan.
Những người dân không tấc sắt trong tay đang đối diện với bạo lực và vũ khí cộng sản, những đội quân này được nuôi và trang bị vũ khí từ chính những đồng tiền xương máu của nông dân để quay lại trấn áp họ.
5h43: Lửa đã nổi lên trên cánh đồng xóm 3 xã Xuân Quan. Trong khi đó, hệ thống loa truyền thanh đang ra rả gào thét để khủng bố nhân dân. Điện vẫn bị cắt, riêng loa truyền thanh vẫn có điện đầy đủ và gào thét...
Bà Lê Hiền Đức đã bị ngăn cản và đuổi ra khỏi khu vực.
Nông dân tiếp tục đổ về yểm trợ nhau.
Các ngả đường ra cánh đồng đã được chất củi kín, sẵn sàng phóng hỏa.
Theo bà con ở hiện trường cho biết: một số bà con nông dân đã bị bắt lên xe. Đã có 10 người bị bắt, khóa tay xịt hơi cay vào mặt đe dọa và thả ra. Một số người bị ngất xỉu.
5h sáng cảnh sát đã tiến vào cánh đồng Phụng Công, Xuân Quan. Bà con Phung Công đã đốt lửa chặn đường.
Lực lượng cảnh sát có trang bị lá chắn, dùi cui, súng ak. Lựu đạn hơi cay ném vào bà con dồn dập, khói kín cả cánh đồng, lưả cháy loang như chiến tranh, rồi cảnh sát dàn hàng ngang như đội ngũ quân Lã Mã đợt này tiến lên, rồi đến đợt sau xông vào bà con dùng dùi cui vụt. Một số người bị đánh ngã quỵ đã bị bắt đi.Họ tóm tay chân thô bạo lôi những người bị bắt lên xe.
Hiện nay cảnh sát đang tụ lại đợi tiếp tế thêm lựu đạn cay vì đã dùng hết. Khoảng 500 cảnh sát lá chắn dùi cui đang tụ tròn trên cánh đồng để chuẩn bị cho đợt đàn áp tiếp theo. Một lực lượng cảnh sát khác đã khóa đường về của bà con, hiện nay một số vài trăm bà con bị cô lập giữa cánh đồng. Những người dân nào đi qua chốt chặn đều bị cảnh sát dùng dùi cui chọc vào bánh xe hoặc dọa đánh.
Nhiều tiếng khóc của bà con, phụ nữ, trẻ em vang khắp cánh đồng rất ai oán.
7h12: Bà con nông dân Phụng Công đã đến yểm trợ và cùng nhập vào đoàn dân Xuân Quan.
7h19: Thêm mấy loạt súng AK vang lên, chưa rõ thương vong...
7h55: Tin mới: Đoàn nông dân Dương Nội và Bắc Ninh đã kéo đến để hiệp thông với nông dân Xuân Quan và Phụng Công, Cửu Cao. Đây là bước tiến mới của người nông dân trước sự đàn áp dã man và cướp đoạt tàn bạo của nhà cầm quền CSVN đối với nông dân khắp nơi.
Lực lượng công an vũ trang tập trung quá đông, số quân kể cả bọn côn đồ có thể đến 3.000 người. Chúng đã dùng hơi cay, dùi cui và nhiều loại vũ khí khác nhau chia cắt đội hình nhân dân, chặn đứng tất cả mọi ngả đường vào cánh đồng. Máy ủi đã vào san đất lấp ruộng của dân.

Độc giả sử dụng Internet có thể vào xem thêm ở đây:
http://www.nuvuongcongly.net/
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ðảng còn thì mình còn!

Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã dùng công an trấn áp đồng bào Văn Giang, Hưng Yên. Ðồng bào đã thua một keo. Nhưng ai thắng? Thế lực kim tiền đã thắng. Nói như nhà báo tự do Huy Ðức, các “đại gia” đã thắng.

Cung cách đối xử với những đồng bào bị bắt chứng tỏ bản chất của chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay như thế nào. Năm đồng bào được thả về. Các bà con này đều phải “ký khống” vào ba tờ giấy trắng, viết rõ “Tôi cam đoan lời khai trên là đúng,” mặc dù ký tên dưới trang giấy hoàn toàn bỏ trắng. Bắt người khác ký khống là một hành động phi pháp. Bất cứ ai buộc người khác phải ký tên đồng ý về một việc mà chưa biết mình đồng ý việc gì, dù là chịu nợ tiền hay hứa hẹn làm bất cứ việc gì, đều phạm tội trước pháp luật, bất cứ pháp luật ở nước nào. Công an Cộng Sản Việt Nam hành động bất chấp những quy tắc pháp luật cơ bản đó. Họ bất chấp các quy tắc đạo lý sơ đẳng của loài người. Ðể làm gì? Chỉ vì khẩu hiệu của công an hiện nay được nêu cao là: Ðảng còn thì mình còn!

Ðó là một khẩu hiệu làm cho tất cả những người công an phải cảm thấy nhục nhã, nếu họ dừng lại suy nghĩ một chút. Nỗi nhục nhã thứ nhất là nó đặt ra một điều kiện tồn tại cho bản thân mỗi người công an và tất cả lực lượng công an dính chặt với sinh mạng của một đảng chính trị chứ không nhân danh một nghĩa vụ nào cao hơn, lớn hơn. Mỗi đảng nào cũng chỉ là một nhóm người. Gắn bó sinh mạng của mình vào một nhóm người tức là chịu làm tay sai, làm “chó săn” cho bọn họ, chứ không phục vụ một lợi ích nào của chung quốc gia, dân tộc.

Nỗi nhục thứ hai là cái tiếng xấu “bất trung, bất nghĩa” không thể chối cãi được. Những người công an sống bằng đồng tiền do hơn 80 triệu người dân đóng góp, nếu không có người dân làm việc, tạo ra của cải, đóng thuế, thì tất cả cái đảng mà họ đang bảo vệ chỉ toàn những người chỉ tay năm ngón không thể làm gì ra của cải, tiền bạc, để trả lương cho họ nuôi vợ con. Nhưng họ lại đi lo bảo vệ một bọn ăn trên ngồi chốc đó, không cần biết đến nguyện vọng của người dân, giẫm chân trên nỗi thống khổ của người dân, tạo thêm bao nhiêu cay đắng khác cho dân. Tức là sống nhờ sức lực của dân nhưng lại phục vụ cho người khác. Cho nên gọi là bất trung, bất nghĩa. Con cháu họ sẽ lớn lên, có ngày chúng sẽ nhìn ra hình ảnh cuộc đời bất trung bất nghĩa của ông cha. Chúng sẽ cảm thấy nhục nhã, vì lương tâm con người ai cũng có, chúng sẽ xấu hổ mãi mãi.

Nỗi nhục nhã thứ ba là chính những người công an đang bị những kẻ nắm đầu họ coi họ chỉ toàn là một bọn không biết suy nghĩ; một đám ngu si. Ngu si vì chỉ biết tham lợi trước mắt mà không trông thấy mối nhục muôn đời; nhắm mắt nghe lệnh bảo vệ một chế độ mà không tự hỏi tương lai chính mình và con cháu mình sẽ ra sao.

Ðảng còn thì mình còn! Ngay trong khẩu hiệu đó đã chất chứa một nỗi sợ hãi đang cố dồn nén trong lòng. Nỗi sợ hãi của một đám người đang quyền oai chức trọng, tự tung tự tác, nhưng trong thâm tâm vẫn lo sợ, tự hỏi không biết mình sẽ được hưởng cho tới bao giờ! Nếu không sợ hãi thì người ta không bao giờ đặt vấn đề “còn” hay “không còn” cả. Chính đám người đó đang mắt trước mắt sau vơ vét cho đầy túi tham, họ đang sợ, họ không biết họ ngồi đó được bao lâu nữa. Cho nên họ mới đặt ra cái khẩu hiệu để dọa đám tay chân của chính họ. Nói “Ðảng Còn Thì Mình Còn” tức là đe dọa tất cả bọn tay sai coi chừng: “Ông mất thì chúng mày cũng mất!”

Họ lấy sự tồn vong của một đảng để kích thích người công an phải liều chết, phải chịu đựng bất cứ nỗi khó khăn, bất cứ nỗi nhục nhã nào, miễn là lo bảo vệ đảng! Một chính quyền tự tin mình có lẽ phải và được dân ủng hộ thì không bao giờ lại phải dùng thủ đoạn dọa nạt hèn hạ như thế. Hãy nhìn tất cả các nước dân chủ, văn minh trên thế giới, có nơi nào người ta phải dùng một khẩu hiệu đê tiện như thế để khích động quân đội, cảnh sát, công an hay không? Bọn người này đã bóp óc nặn ra cái khẩu hiệu như thế, ngày ngày hô to lên, để rót vào đầu đám công an họ nắm trong tay. Tức là họ khinh rẻ ngay cả đám tay sai của họ.

Không có gì làm hạ giá phẩm cách con người bằng cách khích lệ người khác với những nhu cầu hạ đẳng, là sự tồn tại của bản thân. Con người ta sinh ra ai cũng có những nhu cầu sơ đẳng như thế: Ăn, ngủ, truyền giống, hưởng lạc, miễn sao cho cái thân xác mình tồn tại. Nhưng ai cũng có những nhu cầu cao hơn sự tồn tại. Ai cũng muốn được người khác yêu thương, được kính trọng, được nâng cao khả năng, được phát huy óc sáng tạo; đó là những nhu cầu cao hơn nhu cầu tồn tại. Khi một người mẹ khích lệ con: “Nếu con vâng lời mẹ sẽ yêu con” thì câu nói đó nâng cao phẩm giá của đứa bé, làm cho nó biết tình yêu là một phần thưởng quý báu. Có bà mẹ nào lại dỗ con: “Nếu vâng lời mẹ sẽ cho ăn cơm, không thì cứ nhịn đói!” Nói như vậy là hạ thấp phẩm giá đứa con, làm mất luôn lòng tự trọng của đứa trẻ. Chỉ những người coi khinh một đứa bé thì mới dỗ dành như vậy! Ðưa ra khẩu hiệu “Ðảng Còn Thì Mình Còn” tức là coi khinh tất cả những người trong hàng ngũ công an. Ngẫm nghĩ lại, không thấy nhục sao được?

Nhưng đảng cộng sản còn tồn tại đến bao giờ? Các anh chị công an, quý vị có tin rằng chế độ này sẽ tồn tại vĩnh viễn, đến đời con cháu quý vị nó vẫn cứ như vậy hay không? Quý vị đã thừa biết chuyện gì đã xảy ra ở Liên Xô, ở Ðông Ðức chứ? Quý vị có thấy những gì mới xảy ra ở các nước Tunisie, Ai Cập, Libya hay không? Quý vị có biết bên Miến Ðiện người ta đã thay đổi hay không? Quý vị có tin rằng một chế độ ăn cướp trắng trợn công sức của những người nông dân, của Ðoàn Văn Vươn, của đồng bào Văn Giang, Ðông Anh, Dak Nông, Dương Nội, Gia Bình, trong khi phục vụ cho những thế lực kim tiền, sẽ cứ thế mà tồn tại mãi hay không? Chắc chắn những người biết suy nghĩ, hiểu cuộc đời đầy biến chuyển, đều biết rằng bất cứ chế độ nào độc đoán chuyên quyền sớm muộn cũng đến ngày phải chấm dứt. Trao sinh mạng của mình cho một chế độ như vậy, trao cả danh dự, phẩm giá ông bà cha mẹ mình cho một chế độ như vậy, là một điều quá dại dột. Chính những người đang sử dụng công an họ khinh rẻ cho nên mới đặt ra cái khẩu hiệu “Ðảng Còn Thì Mình Còn!”

Bởi vì người dân nước Việt Nam vốn không ngu. Nếu ngu thì đã không đấu tranh suốt một ngàn năm Bắc thuộc để giành quyền tự chủ. Một cơn nước lũ phẫn nộ đang trào dâng, bắt đầu từ trước, và nhất là sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn liều chết chống bọn cướp ngày, hôm 15 Tháng Giêng 2012.

Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy lòng dân đang sôi lên là những cuộc biểu tình liên tiếp nổi lên sau khi anh Ðoàn Văn Vươn liều mạng phản kháng cường quyền. Biến cố đó đã gây ra những cơn sóng, mỗi ngày lại dâng cao. Hơn một tháng sau anh Ðoàn Văn Vươn, chiều nay, 21 Tháng Hai 2012, hàng trăm nông dân Hưng Yên về thủ đô khiếu kiện đất đai, diễu hành thành từng đoàn qua các đường phố, ôn hòa, lặng lẽ, không ai nói với ai. Những ai cũng hiểu nỗi lòng của họ. Ngày 21 Tháng Ba 2012, nông dân từ các vùng Văn Giang (Hưng Yên), Ðông Anh (Hà Nôi), Gia Bình (Bắc Ninh), đã kéo về biểu tình trước số nhà 46 phố Trường Thi, Hà Nội, vì đất đai của bà con bị thu hồi một cách trái phép, giá đền bù rẻ mạt. Rồi hàng trăm dân oan mất đất từ tỉnh Dak Nông, Ðông Anh, Dương Nội (Hà Ðông, Hà Nội) và Văn Giang (Hưng Yên) tập trung tại Văn phòng Quốc Hội ở số 35 Ngô Quyền, Hà Nội. Người dân ở xã Ðại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh biểu tình phản đối việc chiếm đất nông nghiệp đem bán cho công ty Trung Quốc làm khu công nghiệp. Họ viết khẩu hiệu: “Bán đất cho doanh nghiệp nước ngoài là bán nước! Ngày 21 Tháng Ba 2012, dân xã Thiên Lộc (Can Lộc-Hà Tĩnh) bất ngờ kéo đến tấn công trụ sở công an vì phẫn nộ trước cái chết bất thường của nạn nhân Lê Quang Trọng hai hôm trước, được nói dối là một vụ tự sát.

Trước vụ anh Ðoàn Văn Vươn, đã nhiều người oan ức quá phải hành động, nhưng chưa tạo nên một phong trào. Tháng Hai 2012, kỹ sư trẻ tuổi Phạm Thành Sơn bị cướp đất, khiếu kiện nhiều lần vẫn tay không, quá uất ức đã tẩm xăng, đốt xe máy tự thiêu trước trụ sở thành phố Ðà Nẵng. Trước đó nữa, từ giữa năm 2011, mấy ngàn đồng bào thôn Vật Phụ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội đã biểu tình vì chính quyền lấy một vùng đất của dân bên quốc lộ 32 cấp cho một doanh nghiệp, mà phía sau doanh nghiệp đó là các cán bộ to nhỏ huyện và thành phố.

Một chế độ gây bao nhiêu nỗi uất ức như thế sẽ tồn tại cho đến bao giờ? Chế độ đó đã bày ra những đạo luật đất đai để tước đoạt quyền làm chủ ruộng, đất của người dân; để phục vụ quyền lợi của đám đại gia, trong đó có các đại gia ngoại quốc. Có chiếm đất của dân thì mới có những công trường xây dựng cho các doanh nghiệp khai thác rút ruột. Ðể cho những người như cô con gái của ông Tô Huy Rứa vắt giầy cao gót lên ngồi làm chủ tịch. Có việc xây cất đồ sộ thì mới tạo cơ hội để các ngân hàng cho vay tiền kiếm đồng lãi; các ngân hàng như cô con gái ông Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu. Họ làm ra luật để phục vụ các đại gia! Nhà báo Huy Ðức viết: “Luật 2003 gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như ‘lợi ích quốc gia’ ngang hàng với ‘lợi ích của các đại gia’”.

Quý vị công an, có nên gắn chặt danh dự và cuộc sống của mình vào sự tồn tại của một chế độ như vậy hay không? Huy Ðức viết: “Hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24 Tháng Tư 2012 ở Văn Giang đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử.” Chúng tôi tin rằng trong số những người công an hiện nay phần lớn là những người biết suy nghĩ. Họ cũng được cha mẹ dạy dỗ phải sống theo đạo lý, không khác gì cha mẹ chúng tôi cũng dạy con cái như vậy. Làm sao quý vị có thể chịu để cho cuộc đời mình, danh dự gia đình mình dính vào một vết nhơ muôn đời không rửa sạch như thế?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Al-Qaeda 'cơ bản bị tiêu diệt' thời hậu bin Laden

Quan chức tình báo Mỹ cho biết gần một năm sau khi tiêu diệt được bin Laden, mạng lưới Al-Qaeda ở Pakistan về cơ bản đã không còn,
tuy nhiên các chân rết của tổ chức này trên toàn thế giới vẫn là mối đe dọa.

Image
Al-Qaeda suy yếu nhiều sau cái chết của cựu thủ lĩnh Osama bin Laden. Ảnh: AP

Cái chết của Osama bin Laden hồi tháng 5 năm ngoái đã làm suy yếu tổ chức Al-Qaeda và nó dường như không còn là tổ chức khủng bố có thể tiến hành những vụ tấn công như vụ 11/9/2001 nữa, quan chức chống khủng bố của Mỹ tuyên bố.

"Al-Qaeda hiện tại rất khó để tập trung lực lượng, tiến hành huấn luyện, gom đủ tài chính để có thể thực hiện một vụ 11/9 khác. Tuy còn quá sớm để tuyên bố chiến thắng, nhưng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ tổ chức gây ra thảm họa 11/9 cho chúng ta đã cơ bản bị tiêu diệt", AFP dẫn lời quan chức Mỹ nói.

Tuy nhiên, "phong trào của tổ chức này vẫn sống sót, tư tưởng thánh chiến toàn cầu vẫn còn tồn tại, 'tư tưởng' của bin Laden vẫn còn ở một số nơi bên ngoài Pakistan". Trong số các chi nhánh của Al-Qaeda, nhóm ở Yemen là mối nguy hiểm nhất đối với Mỹ và nhóm này ngày càng lớn mạnh với chiến dịch tuyên truyền "rộng lớn và có hiệu quả".

Ngoài ra, chuyên gia khác là ông Robert Cardillo, phó giám đốc Văn phòng Chỉ huy tình báo quốc gia Mỹ, cũng có nhận xét tương tự. Ông cho rằng sự phân hóa trong Al-Qaeda cho thấynhững cuộc tấn công khủng bố trong tương lai nhiều khả năng sẽ do các chi nhánh mang tính chất quốc gia thực hiện.

Khi mạng lưới này phát triển, sẽ xảy ra những bất đồng giữa những kẻ đứng đầu về việc theo đuổi một cuộc tấn công toàn cầu hay là tập trung vào các mục tiêu địa phương, nơi có sẵn những căn cứ của các tổ chức thành viên. Ông dự đoán một cuộc tranh luận kịch liệt về phương hướng hoạt động đang xảy ra trong nội bộ Al-Qaeda.

Bằng chứng rõ nhất về của sự thiếu hụt "nhân tố hạt nhân" của Al-Qaeda là việc giảm tần suất của những vụ tấn công liên hoàn thường xuyên. Ông Cardillo cũng lặp lại lời của quan chức tình báo kể trên rằng những cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học, sinh học hoặc phóng xạ nhằm vào nước Mỹ dường như khó có thể xảy ra trong thời gian tới.

Trong khi các cuộc tấn công phức tạp với quy mô lớn đã được loại trừ thì những cuộc tấn công được gọi là "con sói đơn độc" sẽ là mối nguy hiểm. Tuy không được chỉ đạo trực tiếp từ Al-Qaeda nhưng những cuộc tấn công này vẫn là thách thức lớn với lực lượng chống khủng bố, ông Cardillo nhận xét.

Chẳng hạn, vụ xả súng tại Pháp tháng trước của tay súng Mohamed Merah và cuộc tấn công của một người bản địa ở Fort Hood, Texas năm 2009 là những vụ tấn công khó lường.

"Những người hoạt động đơn lẻ như Merah, tự trang bị vũ khí cho mình, tự quyết định thời gian và địa điểm tấn công, là những mục tiêu khó khăn nhất mà chúng tôi phải đối mặt", quan chức tình báo cho hay.

Al-Qaeda cũng đã nhận thấy sự yếu thế của mình trong những cuộc nổi dậy như Mùa xuân Arab. "Tư tưởng" của bin Laden đã bị suy yếu tại các quốc gia Arab.

Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy lật đổ chính quyền lại tạo ra những lỗ hổng của lực lượng an ninh và quân đội quốc gia. "Sự thay đổi chính quyền có thể là mối nguy hiểm vì sẽ xuất hiện thêm nhiều kẻ cực đoan trên đường phố trong khi lực lượng an ninh lại suy giảm", quan chức tình báo cho biết.

Tại Syria, Al-Qaeda hy vọng dựa vào các vụ bạo lực vẫn đang tiếp diễn để mong kiếm được một chỗ đứng, và Al-Qaeda không chỉ muốn khoa trương thanh thế khi đã thực hiện xong một cuộc tấn công mà còn rất hứng thú với việc xây dựng các kế hoạch chiến đấu.

Ngoài ra, những kẻ đứng đầu Al-Qaeda cũng muốn tránh các cuộc tấn công hàng loạt tại Iraq. Khác với Yemen, chi nhánh của Al-Qaeda tại Iraq, Somali và khu vực Sahel của châu Phi thường tập trung vào các đối thủ tại địa phương của tổ chức.

Mạng lưới Al-Qaeda tại khu vực Sahel của châu Phi đang cố gắng tạo nên tình trạng bất ổn ở Mali sau cuộc bạo loạn hồi tháng 3 và chiến đấu trong liên minh với phiến quân độc lập Tuareg.

Ở Somali, chi nhánh của Al-Qaeda, quân nổi dậy Shebab đã mất đi nhiều tiếng nói và động lực, lý do chính là bởi những nỗ lực của quân đội Somali đánh trả cũng như ngăn chặn tiếp tế lương thực cho quân nổi dậy từ bên ngoài Somali, quan chức này nhận định.

Vũ Hà (theo AFP)
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Post by MatVit »

Vết thương ngày 30 tháng 4

Nguyễn Gia Kiểng


“…Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung…”

Tôi biết X từ đầu thập niên 1960 tại trường Chu Văn An. X nổi tiếng học giỏi. Sau đó X đi du học Mỹ, tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, rồi về nước dạy đại học và làm tổng giám đốc một công ty, cưới vợ đẹp, thông minh và thuộc gia đình lớn. Nói chung là một cuộc đời hoàn toàn thành công. Không bằng X nhưng tôi cũng khá may mắn. Ngày 30 tháng 4, 1975 đã ập tới, đánh một dấu chấm hết tàn bạo lên sự nghiệp của chúng tôi và kéo chúng tôi xuống vực thẳm.

Khi tôi đi cải tạo về, tôi lại gặp X, được trả tự do cách đó ít lâu. Chúng tôi làm cùng một cơ quan và ngồi cùng một phòng. Trong hơn một năm liền, hai đứa cả ngày gặp nhau và tâm sự. Chúng tôi theo đuổi cùng một dự định là vượt biên, nhưng còn chia sẻ với nhau một dự định khác to lớn hơn nhiều là thay đổi dòng lịch sử. Quyết tâm của chúng tôi là ra đi để tìm đường cứu nước chứ không phải để mưu tìm cuộc sống tiện nghi cá nhân.

Thời thế tạo anh hùng, một thư sinh như X mà hoàn cảnh đẩy đưa tới những thành tích khó tưởng tượng. Có lần trong hai ngày X bị bắt ba lần và đều vượt ngục được. Lần áp chót, X tổ chức đánh cướp một chiếc tàu nhà nước nhưng thất bại, bị bắt và trèo tường vượt ngục ngay tại Sài Gòn. Tôi phải giúp X lẩn trốn và tìm đường cho X vượt biên thoát vòng truy nã của công an. Ðang loay hoay thì X cho hay đã tìm được một chuyến đi. Và lần này X đi lọt. Tôi nhận được thư báo tin mừng khoảng một hai tuần sau đó. Ðó là cuối năm 1980.

Tôi kể câu chuyện này dài dòng như vậy chỉ để nói lên một điều: chúng tôi rất gắn bó với nhau và những kỷ niệm của chúng tôi chỉ có thể là sống để bụng chết mang theo.

Hai năm sau tôi cũng ra được nước ngoài và không hề nghe ai nhắc đến X. Tôi vốn đã ngạc nhiên ngay từ khi còn ở Việt Nam vì thấy X bặt tăm luôn. Tôi xin được địa chỉ của X nhưng không liên lạc, chờ tìm hiểu xem tại sao có sự bỏ cuộc đó. Tôi đánh mất địa chỉ X mấy lần, xin lại được, rồi lại để đó. Cho tới gần đây tôi quyết định gọi điện thoại cho X. Ðiều tôi không thể ngờ là X hoàn toàn quên tôi, kể cả tên! Tôi cố nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, X chỉ còn nhớ mang máng. Tôi biết X không nói dối, hắn quên thực, hắn cố nhớ mà không được. Nhưng X không hề mất trí, hắn đang giữ một chức vụ quan trọng, lương cao, trong một công ty kỹ thuật hiện đại. Hắn chọn ở một thành phố không có người Việt và không tìm gặp một người Việt nào. Chắc chắn đã phải có một chấn động ghê gớm, kinh khủng đến nỗi X quyết định quên hết, kể cả tổ quốc Việt Nam mà trước khi ra đi hắn coi như là một lý tưởng để phục vụ. Ðiều cũng chắc chắn là chấn động kinh khủng đó đã không, hay ít nhất không hoàn toàn, xảy ra trong lúc vượt biên, bằng cớ là khi đến nơi X vẫn còn viết thư về cho tôi. Phải hiểu rằng chính khi đã bình tĩnh ngồi ôn lại đời mình, X đã thấy tất cả đều vô nghĩa và lấy quyết định xóa bỏ quá khứ.

Ê chề như nhau

Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được. Những loa phóng thanh đặt khắp đường phố suốt ngày phát ra những bài vừa đắc thắng vừa miệt thị. Mọi chức vụ tại các công sở, nhà thương, trường học đều bị xóa bỏ, mọi thâm niên công vụ, hưu bổng, trợ cấp phế tật cũng đều bị xóa bỏ. Các xí nghiệp tư cũng được “tiếp thu”. Thanh thiếu niên diện “ngụy quân ngụy quyền” bị đuổi khỏi trường học. Các đường phố, trường học mang tên những danh nhân miền Nam được đổi thành những đường mang tên liệt sĩ cộng sản, có khi chỉ là những tay khủng bố rất tầm thường. Sài Gòn cũng mất tên. Người chết cũng không yên, tượng tử sĩ ở nghĩa trang quân đội cũng bị giật sập. Khoai mì từ đây phải gọi là sắn, bắp là ngô, heo là lợn, nhà bảo sanh là nhà đẻ, hay xưởng đẻ. Người miền Nam mất tài sản, địa vị và vai trò. Miền Nam mất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Ðây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại.

Cho tới nay vẫn còn một số rất đông người cho là đảng cộng sản không hiểu gì về tổ chức của xã hội miền Nam khi bắt các sĩ quan biệt phái đi học tập cải tạo trong khi trên thực tế họ đã giải ngũ và chỉ là những người dân sự mà thôi. Làm sao đảng cộng sản lại không hiểu? Họ hiểu, và họ hiểu rất rõ tổ chức của miền Nam. Nhưng chính sách tập trung cải tạo nhắm một mục đích khác: đánh gục vĩnh viễn miền Nam. Những sĩ quan biệt phái không bị bắt giam vì đã bị coi lầm là sĩ quan hiện dịch, họ bị tập trung cải tạo vì họ đã được huấn luyện quân sự và có khả năng chỉ huy một đơn vị quân đội. Bắt giam họ là để tiêu diệt mọi tiềm năng chống đối. Cũng không phải chỉ có họ, tất cả viên chức từ cấp phó giám đốc trở lên, rồi đến các doanh nhân có một chút tầm vóc và các văn nghệ sĩ, nói chung là tất cả những ai có thể có một vai trò lãnh đạo trực tiếp hay gián tiếp, dù là chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa. Mục đích của chính sách cải tạo là để tiêu diệt đại bộ phận thành phần tinh nhuệ và trí tuệ của miền Nam. Không tàn sát, nhưng đập tan ý chí bằng cách đày đọa, và nhất là làm nhục.

Kế hoạch này không thể không thành công. Những năm dài tù tội đói khổ, sự thèm thuồng cục đường, trái chuối, củ khoai, miếng cơm cháy, và việc cất giấu đồ thăm nuôi, trùm chăn ăn lẻ làm con người mất sự tự trọng, hay ít nhất sự kính trọng lẫn nhau. Những đêm trằn trọc thương con, xót vợ. Những buổi “làm việc” ê chề với những câu hỏi khiêu khích (ăn hối lộ bao nhiêu? Hiếp dâm bao nhiêu lần? Bắt bao nhiêu con gà? v.v…), kèm theo những lời quát tháo, lăng mạ. Những bản tự khai phải viết đi viết lại nhiều lần vì không thành thật khai báo, không đủ ăn năn hối cải. Những bài giảng chính trị của các cán bộ giảng dạy ngớ ngẩn, hách dịch và đắc chí. Một người bình thường không thể chống cự được quá một năm mà không thành phế nhân về một khía cạnh nào đó, trong khi thời gian giam cầm trung bình của một sĩ quan, công chức, doanh nhân hay trí thức lại không phải là một năm, mà là năm năm.

Nhưng cái nhục lớn nhất không phải ở trong trại tù mà ở ngoài xã hội. Phải thụ động chứng kiến cả một công trình đập phá đất nước và đập phá chính đời mình. Phải nhìn sự ngu dốt và xảo trá ngự trị trên chính quyền, và còn phải hoan hô!

Một lần tôi đi công tác với một cán bộ đảng ủy đến làm việc với một xí nghiệp “công tư hợp doanh.” Nói là công tư hợp doanh nhưng thực ra đó là xí nghiệp của một tư nhân lập ra, sau này được nhà nước “cho hợp doanh” bằng cách cướp trắng xí nghiệp, giáng ông giám đốc chủ nhân xuống làm phó giám đốc và cử một đảng viên hoàn toàn không biết gì về nghề nghiệp cũng như về quản trị xí nghiệp làm giám đốc. Xí nghiệp lúc đó còn hoạt động cầm chừng. Anh đảng ủy, một người rất chất phác và dễ mến, nói “bây giờ còn làm việc được, nhưng vài tháng nữa sẽ phải đi vào nền nếp và lúc đó là hết sản xuất.” Anh ta nói một cách rất thản nhiên và thành thực. Hình như anh ta thấy việc phá hoại một xí nghiệp là bình thường, cũng như việc nhà nước cướp trắng một cơ nghiệp của một người dựng ra bằng mồ hôi nước mắt. Tôi liếc nhìn ông phó giám đốc cựu chủ nhân và gặp mắt ông ta cũng nhìn tôi. Tôi chắc ông ấy muốn hét lên, văng tục, đập phá nhưng vẫn phải làm ra vẻ tán thành. Người miền Nam đã mất tất cả, mất nước trên chính quê hương mình, không có cả quyền khóc và không có cả quyền buồn.

Không phải chỉ đập phá vì ngu dốt mà còn vì nhẫn tâm. Ông Võ Văn Kiệt khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn đã lấy quyết định “giải tỏa” nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Hàng đêm ông cho bọn côn đồ vào đập phá mồ mả để cho người ta đau xót mà phải tự động dời mộ thân nhân đi. Tôi vào giúp người bạn cải táng mộ mẹ anh và chứng kiến hàng ngàn ngôi mộ bị đập phá tan tành, mỗi ngôi mộ thường là của cả gia đình với hàng chục hài cốt, có những người qua đời đã trên trăm năm. Rất nhiều gia đình đang di tản hài cốt thân nhân. Nhiều phụ nữ khóc sụt sùi, nhưng nói chung mọi người đều im lặng. Ánh mắt nào cũng đầy một hận thù ghê gớm. Không ai chửi mặc dầu không có công an ở đấy, mà dù có cũng không sao vì trong hoàn cảnh ấy ai cũng thông cảm. Nhưng người ta không chửi vì hình như sợ nếu chửi sẽ bớt căm thù. Mục đích của ông Kiệt chỉ là để chiếm một khu đất rộng xấp xỉ một hecta.

Chỉ có một số ít người có phương tiện để vượt biên. Nhưng vượt biên có thể là một tủi nhục còn lớn hơn. Một người, dù mệt mỏi và say sóng đến đâu, nhưng nếu đã phải chứng kiến một phụ nữ, có khi là chính vợ con mình, bị hải tặc hãm hiếp mà không thể can thiệp sẽ không thể giữ được trọn vẹn lòng tự hào trong phần còn lại của đời mình. Sau đó là cuộc sống rẻ rúng trên các trại tị nạn, những buổi xếp hàng ghi danh xin trợ cấp xã hội, cuộc sống buồn tẻ lầm lũi với những công việc không tương xứng tại xã hội tiếp cư.

Không phải ai cũng có điều kiện để quên hết như anh bạn X của tôi. Phần đông cũng rất muốn quên mà không được. Họ vẫn phải sống trong những khu đông người Việt, vẫn phải nghe tới và nói tới Việt Nam. Họ vật vã để quên một cách khác. Họ coi những khu đông người Việt như những vùng đất Việt Nam còn giữ được, có vai trò thay thế cho đất nước Việt Nam mà họ đã rời bỏ. Tôi hiểu sự phẫn nộ của những người xuống đường biểu tình trong vụ Trần Văn Trường tháng 2 vừa rồi tại Bolsa. Sự tức giận của họ có thể tóm tắt như thế này: “Ta đã bỏ cho nó cả nước Việt Nam, ta đã mất tất cả, mà nó cũng không để ta yên.” Nếu không thì không thể giải thích được tại sao các cuộc mít-tinh biểu tình vì tự do, dân chủ và nhân quyền đã chỉ thưa thớt vài trăm người trong khi một tên khùng lại có thể làm cả chục ngàn người xuống đường.

Các bạn tôi ở Mỹ cố gắng giải thích rằng Trần Văn Trường chỉ là ngòi nổ, người Việt Nam ở Cali đã xuống đường vì một cái gì đó sâu sắc hơn. Nhưng họ không giải thích được rõ rệt cái sâu sắc hơn đó là cái gì. Lý do sâu xa đó có lẽ một cựu sĩ quan ở Paris đã diễn tả đúng. Anh nói “nếu tôi ở Cali, tôi cũng đi biểu tình vì vụ này nó nhắc lại cho tôi một quá khứ mà tôi không muốn nhớ lại nữa.” Người ta phẫn nộ vì chính mình đã phải treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh trong một thời gian dài; trong lòng nguyền rủa mà bề ngoài vẫn phải ra vẻ tự nguyện. Ðó đã là một cuộc cưỡng hiếp hàng ngày.

Các bạn bên Mỹ báo tin: các cuộc biểu tình bây giờ đã thay đổi định hướng, đã vượt lên khỏi cờ và ảnh để trở thành những cuộc biểu tình thắp nến vì dân chủ và nhân quyền, với sự nhập cuộc của tuổi trẻ. Tôi phân vân. Có thể đẹp như vậy được sao? Nhưng sau đó thì cuộc “đấu tranh” cũng mất dần khí thế. Ðộng cơ của nó chỉ là sự tức tối, khi gạt bỏ sự tức tối nó cũng mất sức mạnh. Thực chất đó vẫn chỉ là những cuộc biểu tình chống treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh ở một khu được hoang tưởng hóa thành phần đất bất khả xâm phạm của những người nghĩ rằng mình đã mất tất cả. Khu đất đó cho tới nay có vai trò là để giúp người ta khỏi phải bận tâm với đất nước Việt Nam đã bỏ lại đằng sau như một kỷ niệm đen tối.

Ðối với những người còn lại trong nước, đất nước lại càng nhức nhối hơn. Nó là một sự bất lực hàng ngày, một sự khiêu khích và thách đố thường trực, trong khi không nhìn thấy một hy vọng nào. Lại càng phải cố gắng để quên đi bằng cách tập trung mọi ưu tư vào việc mưu sinh vốn đã khó khăn, để yên phận tù đày. Như câu thơ đầu bài của Thanh Tâm Tuyền, người Việt Nam rũ bỏ ký ức và ra đi. Ði ra nước ngoài, nhưng cũng có thể “đi” ngay trên đất nước. Vẫn ở đấy mà vắng mặt.

Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miền Nam. Ðối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Ðảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát, “Con này, mày có biết tao là ai không?” thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa. Những tiếng gào thét “chống Mỹ cứu nước,” “giải phóng miền Nam” chỉ có thể là thành thực với một số nhỏ, đối với đa số nó chỉ là sự phục tùng trước bạo lực, đối với những người có ý thức nó chỉ là cuộc chạy trốn chính lương tâm mình. Ðối với đa số người miền Bắc, đặc biệt là đối với trí thức, ngày 30 tháng 4, 1975 đã là một hy vọng lớn. Biết đâu sau khi nhu cầu chiến tranh không còn nữa, đất nước đã thống nhất, đảng lại không thay đổi, lại không có tự do hạnh phúc thực sự, hòa giải dân tộc thực sự, đất nước lại chẳng khởi hành vào một kỷ nguyên mới? Thất vọng lại càng lớn, sự tủi nhục lại càng lớn, vì mình không phải chỉ là nạn nhân mà còn là đồng lõa của sự gian ác, một sự đồng lõa cực kỳ vô duyên vì nó chẳng hề đem lại một lợi ích cá nhân nào. Kết quả của chiến thắng 30 tháng 4, 1975 đối với đại đa số đảng viên kỳ cựu chỉ là thiếu tá vá xe, đại tá bán chè.

Rồi hơn hai mươi năm xã hội chủ nghĩa. Hai mươi năm nội chiến từng ngày nhường chỗ cho hai mươi bốn năm cưỡng hiếp từng ngày. Mọi người đều mất và mất hết, ê chề như nhau. Sự thất vọng và chán chường, không phải của riêng miền Nam và những người chống cộng mà của mọi người trên cả nước, đã quá to lớn và dai dẳng. Nó đã biến thành sự chán chường đối với chính đất nước. Ðại đa số người Việt không còn muốn nghĩ tới đất nước nữa.

Tại sao?

Tại sao người ta có thể có những liều lĩnh ghê gớm như bán nhà lấy tiền đem vợ con vượt biên trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho công an, hải tặc và sóng gió mà lại không dám đứng lên tranh đấu đổi đời?

Tại sao các chế độ độc tài trên thế giới, kể cả những chế độ độc tài đã khá thành công về mặt kinh tế và dân sinh, theo nhau sụp đổ trong khi chế độ cộng sản Việt Nam vẫn không gặp chống đối nào đáng kể, dù nó đã thất bại trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện?

Có phải tại chế độ quá mạnh đến nỗi người ta không thể tưởng tượng có thể chống đối lại nó hay không? Chắc chắn là không. Ai cũng biết nó phân hóa, tham nhũng, mất phẩm chất, chao đảo, mâu thuẫn nội bộ. Chính ban lãnh đạo đảng cộng sản cũng không chối cãi. Có phải nó quá hung bạo đến nỗi làm người ta khiếp sợ không? Cũng không nốt. Trong ba năm qua, kể từ 1996, chế độ cộng sản đã chỉ bắt giam một trí thức đối lập là Nguyễn Thanh Giang và đã chỉ quản chế ba người là Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự. Họ cũng đã chỉ khai trừ một mình Trần Ðộ và cắt điện thoại của khoảng mười người. Theo tiêu chuẩn quốc tế hiện nay, chế độ cộng sản Việt Nam không nằm trong danh sách những chế độ vi phạm nhân quyền hung bạo nhất.
Vấn đề là người Việt Nam không tranh đấu chứ không phải là không thể tranh đấu.

Và tại sao lại không tranh đấu? Ðó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào.

Ðảng cộng sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia, hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.

Hai nhận định giải thoát

Dân tộc nào cũng trải qua những giai đoạn tan nát mà chỉ có một trấn tĩnh tinh thần mới cho phép nhìn ra lối thoát. Chúng ta cần trước hết là một sự hiểu biết về chính mình. Ít nhất chúng ta cần hai suy tư.

Suy tư thứ nhất là dân tộc ta không hèn mà chỉ là một dân tộc bị đả thương quá nặng. Chúng ta tự giam hãm trong mặc cảm hèn nhát và bất lực, đến nỗi mất lòng tin và ý chí, vì chúng ta không nhìn rõ gánh nặng lịch sử đè lên mình.

Từ đầu thế kỷ 16 chúng ta đã tiếp xúc với phương Tây, sự tiếp xúc đó là một khúc quanh đặc biệt quan trọng. Người phương Tây đem đến cùng với hàng hóa và kỹ thuật cả một văn hóa mới. Ðặc biệt các giáo sĩ đem đến một nhân sinh quan và một vũ trụ quan mới. Cuộc va chạm này đã tác động rất mạnh lên xã hội Việt Nam. Khổng Giáo, nền tảng của chế độ quân chủ tuyệt đối, không còn giữ được vai trò độc tôn nữa, nó đã bị lung lay. Chế độ quân chủ chao đảo trong nền tảng, mất dần sự chính đáng, suy yếu đi, kéo theo loạn lạc, đói kém. Xã hội Việt Nam tan rã và sụp đổ. Trong khoảng trống toàn diện đó, một lực lượng bạo loạn – anh em Tây Sơn – đã nắm được chính quyền bằng bạo lực và cai trị bằng bạo lực, để rồi cũng bị tiêu diệt bằng bạo lực. Nhà Nguyễn làm chủ đất nước, không ý thức được sự thay đổi văn hóa xã hội đã và đang diễn ra trước mắt họ, đã thi hành chính sách mù quáng bài phương Tây và cấm đạo, làm chia rẽ trầm trọng hơn nữa một dân tộc vốn đã hoang mang và phân hóa cùng độ. Hậu quả là chúng ta đã mất nước. Riêng sự kiện một số rất nhỏ người Pháp đã có thể dùng chính người Việt Nam để thống trị Việt Nam đủ chứng tỏ dân tộc Việt Nam đã rã hàng đến mức nào rồi. Tủi nhục nhất là suốt trong Thế Chiến II, một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và đã mất nước vẫn tiếp tục thống trị được người Việt một cách hung bạo. Họ đã chỉ bị Nhật, chứ không phải người Việt Nam, đánh đổ. Ðến khi Nhật thua trận và đầu hàng thì chính quyền Việt Nam hoàn toàn bỏ ngỏ và một lực lượng hung bạo mới, đảng cộng sản, nắm được chính quyền với vài khẩu súng. Sau đó là ba mươi năm nội chiến giữa một tập đoàn cộng sản theo đuổi một triết lý chính trị tệ hại và các chính quyền quốc gia hoàn toàn không có một ý thức chính trị nào cả. Chiến tranh đã tàn phá sức sống còn lại của ta. Sau đó là một bạo quyền vận dụng mọi sáng kiến và thủ đoạn để đập tan mọi ý chí cá nhân và mọi giềng mối trong xã hội để có thể duy trì ách thống trị trên một dân tộc bất lực vì phân hóa. Không một dân tộc nào có thể chịu đựng những đập phá và chà đạp kéo dài như thế mà không bị thương tổn nặng.

Chúng ta không hèn nhát và cũng không có lý do để hổ thẹn, chúng ta đã chỉ là nạn nhân của những thảm kịch tích lũy trong gần bốn thế kỷ. Nếu chúng ta vẫn còn giữ được một chút ý chí đấu tranh và một chút ý thức dân tộc như hiện nay thì đó quả đã là một phép mầu. Một dân tộc bình thường chắc chắn đã tiêu vong lâu rồi.

Kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 1975 cũng là dịp để giải tỏa một tâm sự nặng nề cho người thuộc miền Nam và phe quốc gia cũ. Họ đã thất bại chủ yếu vì đã sáng suốt hơn đối thủ. Họ đã nhận ra sự vô lý của cuộc chiến và đã dừng tay, chẳng thà chấp nhận thất bại còn hơn tiếp tục tàn sát lẫn nhau giữa anh em ruột thịt. Ðó là một thái độ yêu nước. Thay vì cố gắng phủ nhận thất bại, đề cao sự oai hùng của quân đội miền Nam, chúng ta nên nhìn ra sự cao cả của quyết định khước từ cuộc chiến của thanh niên miền Nam. Ðó là một sự cao cả có thực, mà chắc chắn các công trình nghiên cứu mai sau sẽ phải nhìn nhận. Có lẽ trong bốn thế kỷ qua đó là phản ứng thông minh nhất của dân tộc ta.

Thay vì hổ thẹn, chúng ta hãy suy nghĩ về nguyên nhân của thảm kịch mà chúng ta đã và đang chịu đựng. Ðó là vì trong những giai đoạn chuyển hóa lớn dân tộc nào cũng cần được những nhà tư tưởng hướng dẫn, để biết mình nên nghĩ gì, đi hướng nào và làm gì. Ðiều bất hạnh cho chúng ta là trong suốt bốn thế kỷ đó chúng ta đã không có một nhà tư tưởng nào, chúng ta đã chỉ có những văn quan, võ tướng, anh hùng, liệt sĩ. Do đó chúng ta đã không có đồng thuận, đã hoang mang, bối rối, cãi cọ, xung đột và rã hàng, để rồi bị các tập đoàn hung bạo kế tiếp nhau chà đạp, dẫn đi từ thảm kịch này đến thảm kịch khác. Chúng ta đã trả giá đắt cho sự thiếu vắng một tư tưởng chính trị. Ðó chính là bài học đáng ghi nhận nhất.

Chúng ta có thể tìm kiếm một đồng thuận chính trị bằng cách học hỏi, suy nghĩ. Nhưng cũng có thể chỉ giản dị bằng thái độ, nghĩa là lắng nghe mọi ý kiến, thảo luận thành thực và tương kính với nhau. Chúng ta sẽ tìm ra được một đồng thuận dân tộc mới, sẽ kết hợp được và sẽ làm lại được đất nước.

Suy tư thứ hai là, dù muốn hay không, chúng ta bắt buộc phải tìm một giải pháp chung, chứ không thể chỉ tìm giải pháp cá nhân cho mỗi người. Sở dĩ chúng ta đã thất bại và tủi nhục là vì mọi người Việt Nam đã chỉ cố gắng tìm một giải pháp cá nhân cho mình. Vượt biên là một giải pháp cá nhân. Hối lộ là một giải pháp cá nhân. Chịu đựng và nhẫn nhục là một giải pháp cá nhân. Căm thù và nguyền rủa là giải pháp cá nhân. Tìm hãnh diện trong sự khá giả của gia đình và thành công của con cái là giải pháp cá nhân. Viết văn, làm thơ, in sách có thể cũng chỉ là giải pháp cá nhân.

Không phải giải pháp cá nhân nào cũng đáng trách, trái lại có nhiều giải pháp cá nhân rất chính đáng, cần thiết và đáng khuyến khích nhưng không thể chỉ có giải pháp cá nhân. Quay lưng lại với đất nước là một sai lầm tai hại ngay cả cho chính mình. Người trong nước không thể có giải pháp tự cứu nào ngoài một giải pháp chung cho đất nước, nhưng người ngoài nước cũng cần một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh để có một chỗ dựa, để được kính trọng và để thành công. Ý thức được rằng phải có một giải pháp chung cho dân tộc là chúng ta đã đi được quá nửa đoạn đường ra khỏi bế tắc và tủi nhục. Năm trăm người trên một con thuyền vượt biên đã bị hai mươi tên hải tặc uy hiếp vì họ chỉ là năm trăm cá nhân. Tám mươi triệu người để cho một đảng cộng sản phân hóa và chao đảo khống chế cũng vì chỉ là tám mươi triệu người cô đơn.

Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung. Thực tế nó đã chỉ là một thương tích nặng, và rất nặng, trên một cơ thể vốn đã bầm tím những vết đòn chí tử. Từ đó bệnh nhân không những không được săn sóc và chữa trị mà còn tiếp tục bị đày đọa và đả thương thêm. Không ai đo lường hết được mức độ trầm trọng của vết thương 30/4 và những tàn phá trên thể xác và tâm hồn Việt Nam.

Nhưng dầu sao cũng đã đến lúc phải đứng dậy.

Một thế kỷ và một thiên niên kỷ sắp qua. Thế kỷ 20 bắt đầu trong nô lệ và chấm dứt dưới ách độc tài, nó đã là thế kỷ của nhục nhằn, đổ vỡ, máu và nước mắt. Thế kỷ 21 phải khác, nếu không Việt Nam sẽ không còn. Mà Việt Nam vẫn phải còn, bởi vì không thể chỉ có những giải pháp cá nhân cho một khối tám mươi triệu người cùng một ngôn ngữ, cùng một quá khứ và cùng một thảm kịch.

Mở đầu thiên niên kỷ thứ hai, các vua nhà Lý đã chấm dứt một chính quyền hung bạo, mở ra kỷ nguyên tự chủ lâu dài. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta cũng phải chấm dứt vĩnh viễn chế độ độc tài và mở ra kỷ nguyên của một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên. Ðó là điều kiện để Việt Nam có thể tồn tại.

Tin và tìm một giải thoát chung trong tâm lý rã hàng hiện nay là điều rất khó, nhưng không phải là không thể làm được. Hai ngàn năm lịch sử sống chung, giữ nước và dựng nước chung vẫn còn để lại một vốn liếng đáng kể. Tôi tin rằng ở thời điểm này, khoảng một ngàn người có ý thức, đồng thuận, quyết tâm và chấp nhận kết hợp trong một tổ chức đủ để tạo ra một chuyển biến tâm lý, làm nòng cốt cho một phong trào dân chủ rộng lớn, đem lại lòng tin và biến những tức tối và tủi hờn tích lũy thành sức mạnh đổi đời.

Nguyễn Gia Kiểng
(Thông Luận số 126, tháng 5, 1999)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

"Nỗi đau mãi còn đó..."

Xin gửi đến quý anh em ít hình ảnh về tháng 3 và tháng 4.1975. Xin mời xem hình ảnh "nỗi đau mãi còn đó..."
Chắc quí vị vẫn còn nhớ đến một chút nào những nỗi kinh hoàng này phải không ?
Nhưng bây giờ, cũng có rất nhiều người vì no cơm ấm áo, nên hình như đã quên hết rồi......

1. Tại Ban Mê Thuột

Image
- 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai - 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu .

- 4 giờ chiều ngày thứ hai - 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ...

- 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và cọng sản bắc việt được coi như kết thúc.

Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) - theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuộc thất thủ
2.Tại Quảng Trị và Huế

Image
Trên đèo Hải Vân

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Ngày 18 tháng 3 năm 1975, người dân ở Huế, lũ lượt kéo vô Đà Nẵng để lánh nạn. Dòng người di tản ồ ạt chật cả đường phố.
Xe nghẹt cả đèo Hải Vân, đứng dưới đèo nhìn lên thấy một dòng xe ngoằn ngoèo

Ngày 20 tháng 3 năm 1975 hàng mấy ngàn người dân già trẻ lớn nhỏ ở HUẾ ghồng ghánh ẳm bồng con cái chạy trốn cộng sản
cã trăm cây số trên quốc lộ 1 vì họ còn ám ảnh nặng nề của năm Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, cọng sản đã cắt đứt quốc lộ 1 ở Truồi, giữa Huế & Đà Nẳng .
cọng sản đang đống chốt ở đèo Phú Gia, có nhiều người dân di tản trên đoạn đường này bị chết.

Dân chúng di tản trên quốc lộ 1 từ Huế hướng về Đà Nẵng và cọng sản đả pháo kích trúng những vào những người dân
đang di tản họ chết nằm bên lề đường, người sống bị thương nằm, ngồi la liệt .

Những người Lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa trên đường rút quân vô Đà Nẵng và đang kẹt trên đèo Hải Vân với dân chúng di tản .


Tại Quảng Trị và Huế

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị cọng sản bắn chết ở quốc lộ 1, gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản

Image
Người phụ nữ này 1 mình dẩn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang ngồi trên đèo Hải Vân với nổi lo âu

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Chiếc xà lan quân vận vùng 1, di tản Quân & Dân chuyến cuối cùng từ Thuận An

Image
Ngày 26 tháng 3 năm 1975 Quảng Trị và Huế đã thất thủ

Tại Đà Nẵng

Ngày 27-28 tháng 3 năm 1975, người Đà Nẳng chạy trốn cọng sản

Image
Ngày 27 - 3 - 1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng để đưa người di tản,
nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội. Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.

Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẩn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975

Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối . Người dân chạy trốn cọng sản được câu lên tàu SS. Pioneer Contender

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Một số người dân di tản đả được ngồi yên dưới hầm tàu

Image
Những ngày cuối tháng 3 - 1975. có 6 chiếc xà lan do các tàu kéo từ Vũng Tàu ra Đà-Nẵng để đưa người di tản


Bến tàu Đà Nẵng rất hỗn loạn, nên các chiếc tàu thả neo ngoài xa, dân dùng thuyền bè từ bờ ra tàu

Image

Image
Mỗi chiếc tàu chở được chừng 10 ngàn người thì nhổ neo về Cam Ranh

Image

Image

Image
Chiều ngày 28 - 3 - 1975, tại bãi biển Mỹ Khê. Những cảnh hổn loạn xảy ra .
Cả chục chiếc thiết vận xa M/13 làm đầu cầu nối ra biển để lên tàu.
Sau đó có nhiều chiếc bị chìm xuống biển và một số binh sĩ biết lội thì còn sống sót,
số người không biết lội đã bị chìm dần xuống đáy biển Mỹ Khê


Image
Tối 28-3-75 bọn cọng sản pháo kích vô căn cứ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, lửa cháy rực một góc trời

Image

Image

Image

Image

Image
Chiến Hạm HQ 802 nhổ neo xuôi Nam lúc 11 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975
Image

Image

Image

Image

Image
Và những số người dân khác. cố gắng dùng đủ loại phương tiện để chạy ra khỏi Đà Nẵng.
phải bằng mọi cách để trốn thoát khỏi cộng sản ngày 28 tháng 3 năm 1975

Image
Ngày 30 tháng 3 năm 1975 Dân tị nạn từ Huế , Đà Nẵng và các thành phố khác chen chúc chạy trốn cọng sản trên quốc lộ 1 hướng vô Nam.
Ngày 29 tháng 3 năm 1975 , Đà Nẵng và toàn Quân Khu 1 thất thủ

Tại Tuy Hòa , Phú Yên

Ngày 16 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột, Pleiku, KonTum, Phú Bổn nói chung là tất cã các tỉnh trên Cao Nguyên đang vào giờ hấp hối, cho nên những con đường để thoát chạy như là, 7B, 14, 19, 20, 21.

Image
Nhưng tổn thất nhất là con đường 7B có thể nói đó là CON ĐƯỜNG MÁU của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa & Dân chúng

Image

Image

Image

Image
Những người dân rút chạy khỏi cao nguyên ngày 19-3 - 1975 tại Phú Bổn-Kontum

Image
Một quân nhân VNCH trên trực thăng đả cứu bé trong cuộc di tản hổn loạn

Image
Đoàn xe nối đuôi qua cầu phao trên Sông Ba ngày 18-3-1975. Phú Yên

Image
Ngày 22-3-1975 một phụ nữ được trực thăng di tản ra khỏi Tuy Hòa, ôm chặt con vào lòng với nỗi đau khổ vì người chồng còn kẹt ở lại
phaobinh
Posts: 51
Joined: Mon Mar 05, 2012 10:53 pm
Contact:

Post by phaobinh »

37 Năm Niềm Tin, Hy Vọng

Tác giả : Vi Anh

Ba Mươi Tháng Tư này là Ba Mươi Tháng Tư thứ ba mươi bảy. Ba mươi bảy năm niềm tin và hy vọng. Hy vọng vươn lên từ cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng nhiều vinh quang.
Các cơ quan đoàn thể chánh trị, văn hóa, xã hội, và truyền thông đại chúng của người Việt Hải Ngoại ở Âu, Mỹ, Úc châu từ mấy tháng nay đã chuẩn bị tổ chức kỷ niệm rầm rộ. Ba mươi bảy năm trên ba triệu người Việt đã gạt nước mắt rời bỏ quê nhà đi tỵ nạn CS trên 60 quốc gia, trải rộng khắp năm châu, bốn biển. Tất cả đồng loạt, đồng lòng tổ chức ngày Ba Mươi Tháng Tư thật lớn.

Ba mươi bảy năm theo xã hội học là một thế hệ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn CS, đó là cả ba thế hệ - thế hệ thứ nhứt, một rưỡi, và thứ hai -- chụm lại thành một thực thể trong cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang với hy vọng đã, đang và sẽ vươn lên theo định luật của sự sống thành một thế lực lớn mạnh thấy rõ.

Gian khổ qua 6 giai đoạn của cuộc hành trình: Di tản, Vượt biên, ODP, Đi bán chánh thức HO, Con cái HO, Hồi Hương. Đó là máu, nước mắt, mồ hôi, vui buồn, vinh nhục, sướng khổ, thành bại của ba thế hệ, là sự nghiệp, là thành tích xuất sắc chung và lớn của quần chúng, là giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc Việt. Thượng Đế cũng không thể đổi thay sự kiện lịch sử này. CS không thể và không bao giờ chối bỏ được.
Chính CS Hà nội cũng phải công nhận, từ chỗ ban đầu xem người “vượt biên” là “tội phản quốc, phản động, phản cách mạng” và chỉ một hai thập niên sau phải gọi là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, Việt Kiều yêu nước”, khan cổ kêu gọi đem kiến thức, tiền bạc về “xây dựng quê hương”, giúp cho chế độ CS đã từng lên án người Việt ra đi tỵ nạn CS.

Đó là cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN và thế giới sử cho đến bây giờ. Tổng số sống trên ba triệu và chết không dưới một phần ba. Theo lượng định của Phủ Cao ủy Người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boatpeople) đến được bến bờ tự do thì độ phân nửa chết dưới biển.

Máu, nước mắt, mồ hôi, gian nguy, khó khổ, số thương vong, số người, và dặm đường đi, đông hơn, nhiều hơn, xa đa dạng hơn cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi Cỗ Ai Cập trước Chúa Ky tô giáng sinh. Một cuộc di tản sau này trở thành linh hồn của văn minh Tây Phương với cỗ sử, niềm tin, và hy vọng của người Do Thái được đúc kết trong Kinh Cựu Ước và được chấp nhận như một phần quan trọng của Thánh Kinh (Bible) của Ky Tô Giáo.

Ba mươi bảy năm cuộc di tản của người Việt đã làm lương tâm Nhân Loại chấn động, Cộng đồng thế giới bàng hoàng. Liên Hiệp Quốc xem công tác giúp người Việt vượt biên, ra đi trong vòng trật tự là một công tác lớn nhứt thế kỷ của mình. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Trong thế giới sừ, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau mấy chục năm chiến tranh chấm dứt mà còn cứu khổn phò nguy, cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế.

Nhưng ba mươi bảy năm cuộc hành trình ấy cũng đầy vinh quang, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Đông Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d'Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Quốc Hải Ngoại (France d' Outre- Mer) trong thời thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà.

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại có chánh nghĩa hơn chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, thống nhứt được non sông mà không thống nhứt được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ.

Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được chánh quyền địa phương, hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành thị Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh tri, chánh quyền, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, ba mươi bảy năm hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên bảy, tám tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5% của số tiền kiếm được. Điều đó cho thấy tổng sản lượng thuần của người Việt Hải Ngoại cao hơn của cả nước VN. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước kiếm chưa đến 500 Đô/năm.

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trương đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. Chất xám của người Việt Hải Ngoại là cái mà CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, nhưng trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của bao thời kỳ độc lập VN, Ngô,Đinh, Lê, Lý,Trần, Lê, Nguyễn, đệ nhứt, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Tiếng Việt Hải ngoại biến “từ của CS” như hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, nhứt trí, đồng tình, thành tử ngữ. Đồng thời phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975.

Kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư là cơ hội người Việt Hải Ngoại tự xét một cách nghiêm khắc, khách quan nhưng đầy tin tưởng lạc quan. Niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi.

Sau cùng, “Ra đi không phải là chết một hai phần nào” (Partir c'est mourir un peu) như một nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết. Mà ra đi là để khôi phục niềm tin, chánh nghĩa đã bị tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc Việt. với hy vọng vươn lên dù bi quan cũng thấy đã, đang, sẽ lớn mạnh.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

10 năm chót của Osama bin Laden sau vụ 9/11


Osama bin Laden sinh ngày 10 tháng 3 năm 1957 tại Riyadh, Saudi Arabia, con của một tài phiệt tỷ phú ngành xây dựng
có liên hệ mật thiết với hoàng gia Saudi Arabia. Sau khi rời trường học năm 1979, bin Laden qua Pakistan dùng tiền riêng và vũ khí
do Hoa Kỳ trợ giúp qua Pakistan tham gia quân kháng chiến Hồi Giáo Mujahideen chống quân đội Liên Xô chiếm đóng Afghanistan.

Image
Bức hình lịch sử một năm trước đây, 1 tháng 5 năm 2011, khi Tổng Thống Obama và toàn thể thành viên trong bộ tham mưu cao cấp
ngồi tại tòa Bạch Ốc, trong thái độ biểu hiện nét căng thẳng, theo dõi diễn tiến vụ đột kích ở Pakistan. (Hình: AP/Pete Souza)

Khoảng năm 1988-1990, bin Laden rời khỏi du kích Hồi Giáo ở Afghanistan và Pakistan, trở về Saudi Arabia thành lập Al Qaeda với chủ trương hoạt động khủng bố. Bị cấm ở Saudi Arabia, Al Qaeda đặt căn cứ đầu tiên tại Sudan từ 1992. Năm 1996, bin Laden qua Jalalabad, Afghanistan, liên kết với Mullah Mohamed Omar của Taliban, lập căn cứ tuyển mộ huấn luyện chiến binh và tuyên bố khai chiến với Hoa Kỳ. Những năm sau đó Al Qaeda liên tục tiến hành nhiều vụ tấn công khủng bố bao gồm nổ bom hai tòa đại sứ Mỹ ở Phi Châu, nổ bom chiến hạm USS Cole, và tới cao điểm là vụ tấn công khủng bố 9/11 tại New York và Washington.

Ngày 11 tháng 9, 2001: Từ Khost, căn cứ địa của Al Qaeda ở miền Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan, Osama bin Laden và bộ hạ ngồi nghe đài BBC phát thanh tiếng Á Rập tường trình vụ tấn công khủng bố vào Hoa Kỳ.

12 tháng 9 - 7 tháng 10, 2001: Bin Laden trở về bản doanh lúc đó đặt tại thành phố Kandahar, Tây Nam Afghanistan.

7 tháng 10 - 12 tháng 11, 2001: Khi không lực Hoa Kỳ mở cuộc oanh tạc khởi đầu chiến dịch Afghanistan, thoạt đầu bin Laden đến thủ đô Kabul, nơi tương đối an toàn vì chỉ có thường dân và ít mục tiêu quân sự của Taliban. Tại đây lần đầu tiên bin Laden thâu và phát đi cuốn băng video nói rằng vụ tấn công 9/11 nhằm trả thù cho người Hồi Giáo đã bị Tây phương làm nhục.

12 tháng 11 - 17 tháng 11, 2001: Trước khi Kabul thất thủ vào tay các lực lượng Liên Minh Phương Bắc (Afghanistan), bin Laden và thuộc hạ theo đường núi rút về Jalalabad.

17 tháng 11 - 12 tháng 12, 2001: Bin Laden cùng với quân Al Qaeda và Taliban tập trung về khu Tora Bora giáp biên thùy Pakistan, một vùng bin Laden rất am hiểu từ thời còn là căn cứ kháng chiến chống quân đội Liên Xô. Mặc dầu thoát được những trận oanh tạc dữ dội của Không Quân, nhưng biết không thể cầm cự lâu dài hơn nữa trong các hầm hố và hang núi này suốt mùa Ðông, lợi dụng đêm tối thời tiết băng giá, Laden vượt khỏi vòng vây rời bỏ Tora Bora.

Giữa tháng 12, 2001 - Ðầu năm 2002: Bin Laden và tùy tùng đi bằng ngựa về hướng Bắc đến Kunar, vùng đất vô chính phủ với những ngọn núi cao trên 12,000 feet và rừng rậm bao phủ, khó bị phát hiện từ trên không.

Năm 2002, bin Laden bí mật vượt qua biên giới vào đất Pakistan, gặp lại bà vợ Amal ở thành phố Peshawar.

Cuối năm 2002, bin Laden đưa vợ con vào sâu trên lãnh thổ Pakistan đến Shangla, một thị trấn nông thôn vùng núi, và lưu lại đây khoảng từ 8 đến 9 tháng, ở trong hai căn nhà khác nhau. Từ thời gian ấy cho đến nhiều năm sau, tin tức qua báo chí vẫn dự đoán là Osama bin Laden ẩn náu trong vùng đất tự trị của các bộ tộc ở Pakistan giáp biên giới Afghanistan. Thật ra bin Laden chưa bao giờ sống ở vùng này.

Năm 2003, bin Laden vào sâu trong đất Pakistan thêm nữa, đưa gia đình đến Haripur, thành phố nhỏ gần thủ đô Islamabad, sống hai năm trong một căn nhà thuê ở đây.

2005-2011, bin Laden và gia đình tới Abbottabad, thành phố 500,000 dân, nơi có học viện quân sự của Pakistan, ở phía Bắc Islamabad. Tại đây bin Laden đã có một căn nhà 2 tầng lầu mới xây cất riêng, có tường kín bao bọc biệt lập hẳn bên ngoài với hy vọng giữ được bí mật để có thể tồn tại an toàn lâu dài. Nhưng hơn 5 năm sau, biệt kích SEAL Hoa Kỳ đột kích bất ngờ và hạ sát Osama bin Laden đêm 1 tháng 5 năm 2011.



Giờ phút cuối cùng của Osama bin Laden



Cho tới năm 2009, nỗ lực truy lùng Osama bin Laden gần như đã nguội lạnh. Theo lời Michael Hayden, giám đốc CIA cuối cùng trong nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush: “Tôi chỉ có thể nói được một cách có thẩm quyền về bin Laden tới ngày 15 tháng 9 năm 2009.” Ông tiếp: “Nhưng lúc ấy nếu ai hỏi tôi rằng 'Lần cuối cùng ông biết rõ bin Laden ở đâu?' thì câu trả lời của tôi sẽ là 'Tora Bora năm 2001.'”

Mệnh lệnh đầu tiên Tổng Thống Barack Obama ban ra cho Leon Panetta, tân giám đốc CIA từ 2009, là “phải coi việc giết hay bắt sống Osama bin Laden là ưu tiên số một của chiến tranh chống al-Qaeda.” Từ khi còn tranh cử, Obama đã đưa ra lời hứa hẹn dễ gây nên tranh luận là, “Nếu chúng ta biết Osama ở đâu và chính quyền Pakistan không thể hoặc không muốn diệt hắn, chúng ta sẽ phải hành động và chúng ta sẽ diệt hắn. Tiêu diệt bin Laden và đập tan al-Qaeda phải là ưu tiên hàng đầu cho nền an ninh quốc gia chúng ta.”

Khẳng định như vậy, có lẽ Obama đã tin là bin Laden ẩn trốn ở Pakistan. Ðiều ấy không lạ bởi vì tất cả mọi tin tức và dự đoán cho đến lúc đó đều cho rằng bin Laden được các bộ tộc che chở trong vùng lãnh thổ tự trị trên đất Pakistan dọc biên giới Afghanistan. Nhưng ngày nay khi những tài liệu tình báo và ghi nhận thực tế đã được công bố, người ta mới biết rõ rằng bin Laden suốt gần 10 năm chưa bao giờ ở vùng đất vô chính phủ của các bộ tộc, mà lúc nào cũng đã ở ngay trong lãnh thổ của Pakistan.

Tháng 8 năm 2010, Panetta báo cho tổng thống biết là CIA đã tìm thấy tung tích của bin Laden, với tin tưởng chắc chắn từ 60% đến 80%. Tiếp theo là một giai đoạn nghiên cứu kế hoạch và lựa chọn phương cách hành động kéo dài suốt 8 tháng mặc dầu thời gian chậm trễ như vậy có rất nhiều rủi ro lộ bí mật hoặc vô tình Osama bin Laden rời đi nơi khác. Một quyết định khó khăn khác là nên mở cuộc oanh tạc Không Quân, sử dụng máy bay không người lái, hành quân hợp tác với Pakistan hay bằng biệt kích. Cuối cùng Tổng Thống Obama chọn giải pháp nhiều phức tạp là dùng biệt kích, vì chỉ như vậy mới có thể chắc chắn là tiêu diệt đúng Obama bin Laden hay không.

Sáng sớm ngày 2 tháng 5 năm 2011 (giờ địa phương ở Pakistan), những người sống trong khu nhà biệt lập được xây dựng kiên cố của bin Laden ở thành phố Abbottabad choàng tỉnh vì những tiếng nổ lớn bên ngoài. Maryam, 20 tuổi, con gái bin Laden từ dưới chạy lên lầu 2 là tầng chính với 4 phòng ngủ để hỏi xem chuyện gì đang xảy ra. Bin Laden trả lời: “Ði xuống và vào giường ngủ đi,” rồi ông ta bảo bà vợ Amal: “Ðừng mở đèn lên,” có lẽ đó là lời cuối cùng của ông ta.

Không rõ ai đã tắt điện toàn thể khu xóm lúc ấy, đây có thể là biện pháp đề phòng tính toán từ trước, khi nhận thấy có chuyện bất thường. Nhưng việc ấy vô tình lại giúp biệt kích SEAL lợi thế quan trọng trong cuộc đột kích bí mật vào một đêm không trăng.

16 giờ trước, ở nửa bên kia Trái Ðất, Tổng Thống Obama đã cho lệnh “Tiến hành đi” và toán biệt kích 24 người, trong đó có một thông dịch viên sẵn sàng đợi giờ lên trực thăng từ Afghanistan, với đầy đủ mệnh lệnh và chi tiết hành động bên trong mục tiêu.

Hai trực thăng MH-60 trang bị đặc biệt có khả năng tránh phát hiện bởi radar, cất cánh từ Jalalabad, Afghanistan, lúc 11 giờ tối bay về hướng Ðông và vượt qua biên giới vào không phận Pakistan 15 phút sau. Hai trực thăng vận tải khác chở biệt kích theo sau ít phút với nhiệm vụ tăng cường và cứu viện nếu là cần thiết.

Bay gần sát mặt đất nhưng với vận tốc rất nhanh, các trực thăng phải vòng tránh các thành phố, nhà cửa, cây cối và 1 giờ 30 phút sau mới đến mục tiêu Abbottabad cách xa khoảng 150 dặm.

Chiếc trực thăng đầu tiên định đáp hẳn xuống sân bên trong khu nhà ở Abbottabad nhưng đụng đuôi vào bờ tường và rớt, tuy nhiên không biệt kích nào bị chấn thương. Các biệt kích nhảy ra đầu tiên tiến vào dãy nhà khách bên cạnh sân, bắn chết một người Kuwait, có lẽ là người giao liên của bin Laden, và bà vợ bị thương.

Trực thăng thứ hai đáp bên ngoài vòng tường, một số biệt kích tản ra vị trí bảo vệ an ninh cho các đồng đội khác xâm nhập.

Chỉ có 3 biệt kích đột nhập căn nhà chính hai tầng lầu, bắn chết một người Kuwait khác cùng bà vợ ở tầng trệt.

Lên đến tầng trên, các biệt kích phá cửa sắt và bắn chết Khalid, người con trai đã trưởng thành của Bin Laden.

Cuối cùng tới tầng 2 họ tìm thấy bin Laden trong phòng ngủ chính, cùng với một bà vợ. Bin Laden bị hạ sát bằng những phát đạn trúng ngực và mắt trái.

Tổng cộng trong căn nhà với vòng tường kiên cố bao bọc và các dãy nhà thông nhau qua những lối đi hẹp ngoắt ngoéo, có tất cả 24 người lớn và trẻ con, 5 người bị giết, 2 bị thương.

Cuộc đột kích chỉ kéo dài trong ít phút. Gần hai giờ sau khi các trực thăng chở biệt kích đã an toàn trở về đến đất Afghanistan, Tổng Thống Obama duyệt lại lời phát biểu một lần chót và tuyên bố thành công quan trọng nhất trong hơn 10 năm của cuộc chiến tranh chống khủng bố. (HC)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn

Phạm Hồng Sơn thực hiện
(nguồn: pro&contra)

Lời giới thiệu của pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Ðà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Ðiều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước” đã thành công hoàn toàn?


-Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Ðà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Ðỏ và tham gia cướp chính quyền tại Ðà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Ðảng Cộng sản Ðông Dương (tên gọi lúc đó của ÐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Image
Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái). (Hình: Pro&contra)

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Ðó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Ðà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ÐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.

-Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?

Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Ðặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.

-Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.

-Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?

-Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi,” tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.

-Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi,” anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Ðà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.

-Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi,” hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.

-Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.

-Phạm Hồng Sơn: Sau 30 tháng 4, 1975 các ông được giữ ngay chức phó chủ tịch UBND thành phố hoặc phó giám đốc trường đảng?

-Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30 tháng 4, 1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Ðảng. Năm 1979 làm chủ tịch khu phố I thành phố Ðà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Ðảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành phó chủ tịch UBND Thành phố Ðà Lạt, là thành ủy viên.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Ðảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi.” Ngay tháng 10, 1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 3 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức phó giám đốc trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp tỉnh ủy, là tỉnh ủy viên dự khuyết.

-Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ đảng kiêm các chức vụ đó?

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ÐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như đảng thường nói.”

-Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ÐCSVN nữa.

-Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?

-Huỳnh Nhật Hải: Ðó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ÐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.

-Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ÐCSVN. Về quản lý xã hội, ÐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo,” thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Ðiều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Ðà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiêu mì mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng Hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ÐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ÐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

-Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,... những cư dân tại Ðà Lạt lúc đó chưa?

-Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30 tháng 4, 1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”

-Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?

-Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ÐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.

-Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?

-Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.

-Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?

-Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh - lãnh tụ, người sáng lập ra ÐCSVN.

-Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?

-Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30 tháng 4, 1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 - thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ÐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ÐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.

-Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.

-Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ÐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “đảng ta,” tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ÐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ÐCSVN.

-Huỳnh Nhật Hải: Ðúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ÐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ÐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

-Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?

-Huỳnh Nhật Hải: Ðúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ÐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại - cũng như ông Hồ Chí Minh.

-Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ÐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.

-Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

-Phạm Hồng Sơn: Ngày 30 tháng 4, 1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?

-Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Ðà Lạt. Tôi đã trở về Ðà Lạt từ ngày 30 tháng 4, 1975 với tư thế của người chiến thắng.

-Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Ðà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 30 tháng 4, 1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi - má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.

-Phạm Hồng Sơn: Dịp 30 tháng 4 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?

-Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

-Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30 tháng 4 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

-Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

-Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

-Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

.Cả nước đã bị lừa.

Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông ?của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…

Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.

Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !

Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?

Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?

Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai !

Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.


Châu Hiển Lý
– Bộ đội tập kết 1954
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

37 lần 30 tháng Tư

Song Chi

Viết gì cho ngày 30 tháng Tư khi đã có quá nhiều và ngày càng nhiều hơn những bài viết hay, xác đáng, tỉnh táo, dưới những góc nhìn khác nhau về biến cố lịch sử này của dân tộc?

Sau 37 năm dài, sự thật rồi cũng dần dần được sáng rõ. Dù có thể vẫn còn nhiều tư liệu, chi tiết về cuộc chiến tranh VN chưa được giải mã hết, nhưng tên gọi, ý nghĩa thật sự của cuộc chiến, vì sao lại có cái ngày 30 tháng Tư năm 1975 , ai “giải phóng” ai, thế nào thật sự là “thắng” là “thua”…thì hầu như đã được những người trong và ngoài cuộc, sinh ra ở miền Bắc hay miền Nam, trước hay sau cuộc chiến, người Việt hay người Mỹ, người nước khác…phân tích khá là đầy đủ.

Và điều quan trọng hơn cả, như câu thơ của đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe trong tác phẩm Faust “Mọi lý thuyết đều xám xịt, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”, người Việt có thể vẫn cứ tiếp tục tranh cãi bất tận về thắng, thua, chính nghĩa thuộc về ai, nhưng chính thực tế VN như thế nào sau 37 năm đảng cộng sản giành độc quyền lãnh đạo trên toàn đất nước mới là câu trả lời xác đáng nhất.

Sau 37 năm, ngoại trừ những người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao ngất ngưởng, những người gắn chặt với chế độ này vì quyền lợi, bổng lộc, và những người không có thông tin do không hiểu hoặc không biết tìm hiểu, còn ai thực sự tin rằng việc thống nhất hai miền Nam Bắc vào cái ngày 30 tháng Tư năm 1975 để đất nước thu về một mối dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản là một điều đúng đắn, may mắn cho đất nước này, dân tộc này?

Còn ai thực sự tin rằng con đường nước VN đã và đang đi bao nhiêu năm qua là đúng, rằng sau 37 năm đảng cộng sản vẫn xứng đáng lãnh đạo đất nước?

Còn ai thực sự tin rằng nhà nước này là của dân do dân vì dân, chế độ này tốt đẹp hơn, nhân bản hơn các chế độ có mô hình dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng trên thế giới, thậm chí ngay cả so với chế độ miền Nam Cộng Hòa trước kia?

Rằng ngay cả cái khái niệm ổn định mà đảng vả nhà nước cộng sản vẫn tuyên truyền như một ưu thế của chế độ có thật như vậy, hay chỉ là sự ổn định về chính trị bằng vào bàn tay sắt của nhà cầm quyền, còn lại tất cả mọi lĩnh vực khác của đời sống từ kinh tế, xã hội, văn hóa, đối nội đối ngoại… đều tiềm ẩn những mấm mống bất ổn, bất công, phi lý sâu sắc không thể sửa đổi, hóa giải?

Rằng người dân có thật sự đang được hưởng một cuộc sống tự do dân chủ với những quyền căn bản của một con người, một công dân, và sự bình yên trong tâm hồn?

v.v…và v.v…

Tôi tin rằng ngay cả trong cái thiểu số vừa nhắc đến ở trên-những người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao ngất ngưởng, những người gắn chặt với chế độ này vì quyền lợi, bổng lộc, và những người không có thông tin-trong thâm tâm cũng không còn tin những vào những điều đó nữa.

Sau 37 năm, mọi huyền thoại được tô vẽ xung quanh đảng, nhà nước, chế độ…đều vỡ vụn ra như những bọt bong bóng xà phòng. Thực tế, đảng cộng sản VN đã và đang thua cuộc nặng nề. Thua từ cái lý thuyết ngoại lai không tưởng cùng với mô hình xã hội được xây dựng từ đó mà họ sao chép về đã hoàn toàn bị thất bại. Buộc họ phải “đổi mới” thực chất là “đổi cũ”, tồn tại nhờ tiếp tục kết hợp sự cai trị hà khắc của một chế độ độc tài với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Thua từ chỗ đứng trong lòng người. Từ cuộc “bỏ phiếu bằng chân” (khái niệm foot voting từ thời Charles Tiebout, Ronald Reagan lại vừa được nhắc lại mới đây trong bài viết của tác giả Nguyễn Hưng Quốc) của hàng triệu con người bỏ nước ra đi ngay sau khi đảng và nhà nước cộng sản tưng bừng ăn mừng chiến thắng chưa lâu, và cho đến tận bây giờ người dân vẫn tiếp tục tìm cách này cách khác để ra đi. Với kẻ thù một thời là “đế quốc Mỹ” nay họ buộc phải quay lại cầu thân xin xỏ, với những người dân miền Nam trước đây họ không sao hòa hợp hòa giải hoặc thu phục được nhân tâm, còn với gần 90 triệu người dân hôm nay thì đang ngày càng mất lòng tin vào họ.

Thua từ vị trí, thế đứng, tầm mức phát triển về mọi mặt của VN so với các nước. Thua trong cái nhìn của thế giới đối với chân dung của nhà cầm quyền VN từ những hồ sơ tệ hại về nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho người dân…

Thua cả trong văn hóa nghệ thuật, giáo dục, con người….Sau 37 năm, những tác phẩm nào của một thời được tung hô là dòng văn học nghệ thuật cách mạng hiện thực xã hội chủ nghĩa nay còn tồn tại theo thời gian?

Lịch sử dù có bị bóp méo, làm sai lệch, bưng bít đến đâu, nhưng thời gian và thực tế sẽ dần dần trả lại tất cả. Đó là lý do vì sao ngày càng có nhiều người đứng về phía “triệu triệu người buồn” (từ ý câu nói của Cố Thủ tướng nước Cộng hòa XHCN VN Võ Văn Kiệt), viết lên những tâm tư trăn trở day dứt băn khoăn mỗi khi ngày 30 tháng Tư lại về.

Không chỉ là những con người đã từng sống, dính líu đến chế độ miền Nam Cộng Hòa, những người có ân oán với chế độ cộng sản hiện nay, hay những con người đã phải rời nước ra đi ở thời điểm này thời điểm khác, vì không thể chịu đựng hoặc không chấp nhận chế độ cộng sản.

Mà là những con người đã từng sinh ra và lớn lên ở miền Bắc trước 1975, từng cầm súng chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng cho một lý tưởng mà họ thực sự tin vào thời điểm đó là “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, đánh để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, để xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa công bằng và tốt đẹp”. Thậm chí họ từng ở trong hàng ngũ tướng tá, lãnh đạo cao cấp, hoặc từng là thành phần con cưng của chế độ.

Là những con người thuộc thế hệ hậu chiến, sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong lòng chế độ hôm nay, có rất ít hoặc hầu như không có chút mặc cảm nào với cuộc chiến đã qua, hàng ngày vẫn nghe những lời tuyên truyền một chiều của đảng và nhà nước cộng sản trong bao nhiêu năm…

Những con người ấy cũng đã nhận ra đúng sai, sự thật. Hãy đọc những bài viết trên báo chí ở nước ngoài, các diễn đàn độc lập, blog cá nhân…để thấy sự phong phú, đa dạng của những người vừa nhập thêm hàng ngũ “triệu triệu người buồn”, cứ mỗi 30 tháng Tư năm sau lại đông hơn, đa dạng hơn. Dù mức độ và cách thể hiện khác nhau, họ đều bày tỏ nỗi đau xót, nuối tiếc cho những bước đi sai lầm của đất nước mà đôi khi trong đó có cả sự đóng góp của chính mình và cha ông mình bởi một thời ngây thơ bị lừa, đồng thời trăn trở ưu tư trước tình hình hiện tại, lo lắng cho vận mệnh và tương lai của đất nước.

Tôi đồng ý với nhà báo Lê Diễn Đức, đồng thời đây cũng chính là câu tôi thường tự nói như an ủi khi nghĩ về đất nước không may mắn của mình, rằng con người có định mệnh của mình, mỗi đất nước cũng có vận mệnh riêng.

Vận mệnh của VN thật nghiệt ngã, cay đắng. Quá nhiều những sự chọn lựa sai, những bước đi sai lầm.

Nhưng có ích gì nếu bây giờ chúng ta lại nhắc đến những chữ “nếu”…

Tôi tin rằng nếu ý chí của một con người có thể thay đổi số phận của người đó thì điểu này lại càng đúng, với một dân tộc, một đất nước.

Sau 37 năm dài. Dù VN vẫn chưa có được một phong trào dân chủ mạnh mẽ xuất phát từ sự đoàn kết của quần chúng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ như các nước Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa cũ, các nước Trung Đông và Bắc Phi trong phong trào cách mạng hoa nhài mới đây…Dù VN vẫn chưa có những đảng phái chính trị đối lập đủ mạnh với những khuôn mặt có đủ uy tín để đương đầu với nhà cầm quyền, buộc họ phải tự thay đổi như Miến Điện…Nhưng lòng dân chán ghét chế độ, mong muốn một sự thay đổi và một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước thì đã quá đủ.

Không ai có thể cứ sống mãi trong một chế độ độc tài, một xã hội tồi tệ mà không vùng dậy tìm lối thoát cho mình, cho người khác và cho con cháu mai sau.

Và tôi tin rằng nếu một ngày nào đó chế độ này sụp đổ, và một chế độ tự do dân chủ được thiết lập trên quê hương VN, sẽ không bao giờ có hiện tượng hàng loạt tướng lĩnh cao cấp trong quân đội cộng sản sẽ tự sát cùng với chế độ như đã từng xảy ra với miền Nam Cộng Hòa, mặc dù chế độ đó vẫn có những ông tướng, tá hèn nhát bỏ lính chạy trước để bảo vệ mạng sống của mình. Sẽ không có hiện tượng hàng triệu con người sau khi đã phải rời bỏ đất nước và đã có một cuộc sống bình yên, thậm chí sung túc, đã là công dân của nước khác, nhưng vẫn mang theo lá cờ của cái chế độ đã bị bức tử đó suốt bên mình bao nhiêu năm. Sẽ không có những bài viết, những nỗi đau, tiếc cho sự sụp đổ của chế độ này như đã từng có đối với ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước do đảng cộng sản lãnh đạo trước đây ở Đông Âu. Không một ai nuối tiếc những năm tháng dưới chế độ do đảng cộng sản nắm quyền, họ thẳng tay vứt nó vào sọt rác, bước sang một trang sử mới. Và rõ ràng ở những quốc gia này đảng cộng sản không có mảy may hy vọng gì quay trở lại.

Đôi khi cũng phải an ủi trong nỗi bất hạnh có cái may. VN phải trải qua những năm tháng sống dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản để không bao giờ còn ai có bất cứ chút ảo tưởng nào vào lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản, vào đảng cộng sản cả.

Mặc dù cái giá ấy là quá đắt!

Theo Song Chi’s blog
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tuyên Bố Văn Giang

Tác giả : Trần Khải
Một bước đi mới để bênh vực quyền dân trong vấn đề sở hữu ruộng đất vừa thực hiện hôm 4/5/2012: hàng trăm trí thức trong và ngoài nước cùng ký tên trong một bản văn có tên là Tuyên Bố Về Việc Cưỡng Chế Giải Tỏa Đất Đai Văn Giang Bằng Vũ Lực.

Tuy nói về chuyện cưỡng chế đất ngày 24/4/2012 ở huyện Văn Giang, lên án hành vi đưa 3,000 lính đàn áp, đánh đập dân tàn bạo, nhưng cũng kêu gọi sửa Luật Đất đai và xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền. Đặc biệt là lời kêu gọi toàn dân tẩy chay dự án Ecopark nếu giới chủ đầu tư không chịu xin lỗi người dân Văn Giang, tạ tội vì đã caò mồ cuốc mả dân, và đền bù thiệt hại xứng đáng.

Trước đây, những tiếng nói trí thức đã bênh vực dân Văn Giang, nhưng là rời rạc, từng vị... và vây giờ hòa chung vào một bản văn, giới trí thức đã chung tay góp sức, hy vọng đẩy bánh xe lịch sử tới một bước vì quyền lợi của dân Văn Giang, nhưng cũng là quyền lợi của toàn dân trước nhu cầu sửa đổi Luật Đất đai và xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền.

Một bản tin trên RFA nhan đề “Sẽ còn nhiều vụ Văn Giang khác ở Việt Nam,” đã ghi nhận tiếng nói của một số trí thức tuần trước đã lên tiếng, đặc biệt truyền thông trong nước chỉ một tờ báo dám noí lên sự thật, một phần.

Bản tin RFA ghi nhận:

“Điểm đáng nói khác đó là, có lẽ rút kinh nghiệm từ vụ Tiên Lãng, chính quyền kiểm soát rất gắt gao những thông tin về vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Một số bài báo đưa tin tương đối khách quan đã bị gỡ bỏ chỉ sau vài giờ đăng trên mạng. Những bài báo khác thì đăng thông tin một chiều của chính quyền tỉnh Hưng Yên. Chỉ duy nhất có tờ báo Người Cao Tuổi, cơ quan ngôn luận của Hội Người cao tuổi Việt Nam, là dám lên tiếng tố cáo vụ cưỡng chế mà họ cho là “trái luật” ở Văn Giang ( Nhưng nay bài của Người Cao Tuổi về vụ Văn Giang đều đã bị gỡ bỏ ). Nhiều phóng viên cho biết họ đã bị cản trở khi đến tác nghiệp ở Văn Giang trong ngày cưỡng chế.”

Vấn đề là, thu hồi đất Văn Giang đã vi hiến và sai ngay cả luật hiện hành, theo phân tích trên các blog của nhà báo Võ Văn Tạo, nhà báo Huy Đức.

Đặc biệt, RFA ghi nhận, trong bài viết gởi trực tiếp cho trang mạng Bauxite Việt Nam, ông Nguyễn Trung (cựu Đại sứ VN tại Thái Lan, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, cựu thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS), đã bày tỏ “sự căm giận và nỗi hãi hùng” của ông. Ông căm giận “vì không thể chấp nhận Nhà nước của dân, do dân, vì dân lại hành xử với dân như vậy. Ông hãi hùng “vì thấy rằng hệ thống chính trị nước ta đã có được trong tay lực lượng vũ trang sẵn sàng thực hiện lệnh trấn áp như vậy đối với dân.”

Cũng trên RFA, cụ bà Lê Hiền Đức kể lại, “Chính công dân Lê Hiền Đức đã lăn lộn 2 ngày 2 đêm ở đó và phải nói là như chiến trường cách đây hơn nửa thế kỷ mà tôi đã chứng kiến, khói lửa ngút trời, súng đạn ầm ầm. Chính mắt tôi đứng từ trên chòi cao nhìn thấy một thanh niên bị hàng chục công an nhảy qua bờ tường vào nghĩa địa đánh tới tấp.”

Lúc đó, lời một người dân kể qua sóng phát thanh: “Người dân: Hiện tại bây giờ nó xé lẻ dân ra, đông lắm, khoảng 3000 thằng nó mặc toàn quân phục, nó mang mã táu nó đến để xé lẻ dân ra từng tí một. Nó đàn áp nó có khoảng 40 xe, vừa cẩu, vừa máy ủi, nó bắt đầu ủi của dân rồi.”

Sau khi bản Tuyên Bố được phổ biến, RFA đã phỏng vấn giáo sư Nguyễn Huệ Chi, người phụ trách trang Bauxite Việt Nam nói về lý do các nhân sĩ trí thức Việt Nam đưa ra bản tuyên bố này như sau:

“GS. Nguyễn Huệ Chi: chúng tôi làm bản tuyên bố này vì quá phẫn uất trước một hiện tượng một đội ngũ cơ quan chức năng vũ trang đến tận răng để đàn áp những người mà mình coi là gốc là lực lượng cơ bản, đã đi đầu trong cuộc cách mạng và cuộc chiến tranh kéo dài nhằm giành lại độc lập cho tổ quốc. Bây giờ họ bị bỏ rơi một cách thê thảm và có thể nói là với sự đối xử bằng tất cả những thủ đoạn như là đối với kẻ thù thì đó là tội ác trời không dung, đất không tha. Vì vậy lương tâm người trí thức, lương tâm những người dân là con người đã không thể chấp nhận được, huống chi đây là tình ruột thịt đồng bào.”

Sau đây là trích bản Tuyên Bố:

“Vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bằng vũ lực diễn ra sáng 24/4/2012 ở địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả những người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết suy tư về vận mệnh đất nước.

Cho đến hôm nay, đã có thể nhận rõ những sự thật đau lòng về bản thân vụ Văn Giang cũng như những sự thật nguy hiểm đối với đất nước đã được phơi bày từ vụ này.
Để chứng tỏ quyền lực của chính quyền trong việc “hỗ trợ” một dự án kinh doanh tư nhân được Nhà nước bảo trợ thông qua những điều luật và điều khoản dưới luật đã và đang ngày càng bị công luận đồng thanh phản bác vì bản chất vi hiến, đi ngược lại quyền lợi của đại đa số nông dân, thành phần chủ yếu của nhân dân Việt Nam, thành phần từng là chủ lực quân của cuộc cách mạng và chiến tranh do Đảng Lao Động, Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động và lãnh đạo trong nửa thế kỷ qua, chính quyền đã huy động hàng ngàn công an, cảnh sát vũ trang hùng hậu đàn áp cuộc chống đối giải tỏa của hàng trăm nông dân quyết bảo vệ mảnh đất thấm mồ hôi, nước mắt và máu, còn lưu giữ xương cốt của cha ông từ nhiều đời.

Những hình ảnh lan truyền khắp thế giới đã khiến tất cả những ai có Lương Tri Con Người phải phẫn nộ. Những kẻ vũ trang tận răng xông vào đe dọa bằng tiếng nổ và đánh đập vài người nông dân yếu ớt. Những tiếng khóc la của đàn bà, con trẻ làm đau nhói tim người. Những mảnh xương cốt cha ông bị máy ủi xới bật lên trên cánh đồng xanh tốt phút chốc tan hoang để lại một ấn tượng chua xót và tủi nhục. Đó là những tội ác Trời không dung, Đất không tha.

Những hình ảnh phơi bày trước con mắt nhân dân trong nước và thế giới sự đối đầu không khoan nhượng giữa bộ máy đàn áp của chính quyền với một bộ phận nông dân, sự bạo hành chỉ có thể áp dụng đối với kẻ thù của nhân dân. Nguy hiểm hơn nữa cho đất nước, qua vụ Văn Giang có thể thấy một đội ngũ mang danh công bộc của dân nhưng lại chống đối nhân dân với tâm lý không biết sợ, không biết thẹn, không biết đau biết nhục.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, khẩn thiết yêu cầu:

1/ Các cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hãy chính thức bày tỏ quan điểm trước toàn dân về những vấn đề sau đây:

- Việc sử dụng bạo lực để giải tỏa đất ở Văn Giang ngày 24/4/2012 có vi phạm những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam trong việc triệt để tôn trọng quyền mưu cầu hạnh phúc của cả một dân tộc được tự do sinh sống trên mảnh đất độc lập do xương máu của chính mình giành được?

- Việc giải tỏa gây chấn động tâm can hàng chục triệu người dân, trước hết là hàng chục triệu nông dân, chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng khó lường về an ninh chính trị của đất nước, để bảo vệ lợi lộc của một nhóm cá nhân chủ đầu tư, có phải việc nên làm của một nhà nước của dân, do dân, vì dân?

- Việc giải tỏa (nếu có) dựa vào những quy định luật pháp hiện hành đang là đối tượng phải sửa đổi của Luật Đất đai sắp tới có phải việc nên làm của một nhà nước thực sự có thiện chí hướng đến một Nhà Nước Pháp Quyền?

- Việc công khai đối đầu giữa lực lượng vũ trang mệnh danh “Công an nhân dân” với một cộng đồng nhân dân không chống đối chính quyền, chỉ tranh chấp quyền lợi với một nhóm lợi ích, có phá hoại nghiêm trọng khối đoàn kết dân tộc đang là vốn quý nhất của một nước nhỏ yếu trong cuộc chiến đấu lâu dài đòi lại và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trước một kẻ thù to lớn và đầy tham vọng?

2/ Các cơ quan quyền lực cao nhất hãy công bố rõ những người, những bộ phận chính quyền địa phương và trung ương chịu trách nhiệm về chủ trương và việc thực hiện vụ cưỡng chế giải tỏa trên.

3/ Xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark để điều chỉnh những bất hợp lý, bất hợp tình trong dự án theo hướng ưu tiên lợi ích thực sự của Nhà nước và người nông dân có đất bị thu hồi.

4/ Yêu cầu các cấp chính quyền và doanh nghiệp Ecopark khẩn trương khắc phục những hậu quả của vụ cưỡng chế:

- Công khai xin lỗi, bồi thường cho những người dân bị đánh đập, ngược đãi trong vụ cưỡng chế.

- Làm lễ tạ tội những hương hồn đã bị đào mồ, phơi xương trắng; xin tạ lỗi với những hậu duệ của người chết, xin khôi phục mồ mả của cha ông họ.

- Đền bù thiệt hại của những hộ nông dân bị giải tỏa đất trong vụ cưỡng chế bằng các hình thức được họ chấp nhận.

Nếu Ecopark không thực hiện nghiêm chỉnh những điều nói trên đây, xin khẩn thiết đề nghị hết thảy những ai có tiền và đang muốn mua đất thuộc Dự án khu du lịch sinh thái của Doanh nghiệp Ecopark tại Văn Giang hãy nhất tề tẩy chay Dự án này nhằm biểu lộ tình thương yêu ruột thịt với đồng bào mình là những người nông dân đang lâm vào tình thế không còn đường sống, không còn đến nấm mộ của tổ tiên để được thờ phụng đúng với đạo lý, tín ngưỡng truyền thống hàng ngàn năm nay của người Việt Nam.

5/ Không được sử dụng lực lượng trị an của Nhà nước để cưỡng chế đất đai “hỗ trợ” những dự án không phục vụ lợi ích thật sự của quốc gia, an ninh, quốc phòng.

6/ Nhanh chóng sửa đổi Luật Đất đai và những luật lệ liên quan đến việc giải phóng mặt bằng theo hướng đặt quyền lợi của người dân có đất và quyền lợi thực sự của quốc gia lên cao nhất, tuyệt đối không để các nhóm đặc quyền lợi dụng luật để cướp đất của dân với giá rẻ mạt.

Với tâm huyết bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc, trước hết là lợi ích của người dân lao động, với thiện chí xây dựng một nhà nước thực sự pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, chúng tôi kêu gọi những người có trách nhiệm cao nhất của Nhà nước Việt Nam nghiêm túc đáp ứng những yêu cầu trên. Với thiện chí xây dựng một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, lành mạnh và nhân bản cho nước Việt Nam phát triển bền vững, chúng tôi yêu cầu các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tôn trọng lợi ích chính đáng của người dân, không cấu kết với bọn tham nhũng trong chính quyền để mưu lợi lộc bất chính, bất nhân, bất nghĩa, điều sẽ xâm hại chính lợi ích lâu dài của các vị. Với thiện chí xây dựng hình ảnh người “Công an nhân dân” đúng nghĩa, chúng tôi kêu gọi các sĩ quan, chiến sĩ công an, cảnh sát bị điều động tham gia cưỡng chế đất đai của dân phải hết sức tôn trọng người dân trong mọi hành động, cử chỉ, lời nói, không mù quáng tuân theo những mệnh lệnh phi pháp, phi nhân của bọn tham nhũng nhân danh chính quyền, không để mình trở thành kẻ thù của dân, không gây nên nỗi căm hờn của dân vì đó sẽ là mối nguy khôn lường cho an ninh quốc gia.

Hà Nội, ngày Lao động quốc tế 1/5/2012
Bauxite Việt Nam”

Bản Tuyên Bố khi phổ biến đã có 125 chữ ký, trong đó từ VN có GS Nguyễn Huệ Chi, GS Phạm Toàn, nhà thơ Hoàng Hưng, các nhà văn Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn, cụ bà Lê Hiền Đức, TS Nguyễn Xuân Diện, TS Hà Sĩ Phu... từ hải ngoại có các nhà văn Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Thị Hoàng Bắc...

Hiện nay, danh sách ký tên đang dài thêm. Lời mời gọi ký tên bênh vực đồng bào từ trang Bauxite Việt Nam cũng ghi:

"Nếu đồng ý với Tuyên bố này, xin cho biết họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp và gửi đến: BauxiteVN_Petition@yahoo.com. Khi công bố, Bauxite Việt Nam chỉ ghi tỉnh (đối với người trong nước) hay nước (đối với người ở hải ngoại)."
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Rắc rối danh phận cho bạn gái tân tổng thống Pháp

Sự hiện diện của nhà báo Valerie Trierweiler, người đang chung sống với Tổng thống Pháp Francois Hollande,
trong các chuyến thăm cấp nhà nước sắp tới có thể gây ra nhiều vấn đề tế nhị về mặt nghi thức ngoại giao.

Image
Tổng thống đắc cử Francois Hollande và nhà báo Valerie Trierweiler gặp người ủng hộ ông Hollande tại quảng trường Bastille,
thành phố Paris hôm 7/5. Ảnh: AFP.

Bà Trierweiler, nhà báo 47 tuổi chuyên viết về chính trị, gặp ông Hollande lần đầu tiên trong cuộc bầu cử quốc hội Pháp năm 1988. Hai người công khai quan hệ và chung sống từ năm 2006. Trước đó ông Hollande chia tay vợ là bà Segolene Royal, một chính trị gia nổi tiếng của đảng Xã hội cũng từng tranh cử tổng thống. Ông Hollande và bà Royal có 4 con chung.

Sau khi ông Hollande đắc cử tổng thống hôm 6/5, một số người đoán rằng bà Trierweiler sẽ cưới tân tổng thống Pháp trước khi ông bước vào điện Elysee vào ngày 15/5 tới. Nếu Trierweiler không thực hiện việc này, một số quốc gia mà ông Hollande viếng thăm trong tương lai sẽ đối mặt với những vấn đề tế nhị trong nghi thức ngoại giao. Chắc chắn ban lễ tân của nhiều chính phủ sẽ phải tìm ra nghi thức phù hợp để tiếp đón một nguyên thủ quốc gia cùng một phụ nữ không phải là vợ.

Trierweiler, người từng li hôn hai lần và có 3 con, chưa tỏ rõ quan điểm đối với vấn đề kết hôn. “Đó không phải là vấn đề khiến tôi bận tâm. Suy cho cùng thì chuyện kết hôn là một phần cuộc sống riêng tư của chúng tôi”, Trierweiler nói với AFP.

Các nước theo đạo Hồi, Ấn Độ và nhiều quốc gia có tư tưởng bảo thủ khác có thể coi tình trạng không hôn thú của bà Trierweiler là một vấn đề về ngoại giao. Đạo Hồi chỉ cho phép nam và nữ chung sống nếu họ có hôn thú.

Khi Tổng thống Nicolas Sarkozy, người vừa thất bại trong nỗ lực ở lại điện Elysee thêm một nhiệm kỳ nữa, thực hiện chuyến công du đầu tiên của ông tới vùng Vịnh vào tháng 1/2008, cựu siêu mẫu Carla Bruni không đi cùng. Khi đó ông Sarkozy đã đính hôn với bà Bruni, song chưa đăng ký kết hôn.

Khi ông Sarkozy thăm Ấn Độ, ông vẫn chưa tổ chức đám cưới với bà Bruni. Các quan chức của Pháp và Ấn Độ đã phải thảo luận nhiều lần về những nghi lễ tiếp đón bà Bruni. Báo giới ở Ấn Độ - nơi kết hôn và gia đình được người dân coi là hai yếu tố quan trọng nhất trong đời - liên tục đặt câu hỏi: Tổng thống Pháp và bà Bruni sẽ ở chung phòng với nhau hay không? Liệu bà Bruni tham gia tiệc thết đãi dành cho ông Sarkozy hay không?

Cuối cùng bà Bruni không tháp tùng ông Sarkozy tới Ấn Độ. Song hai người quay lại Ấn Độ để thăm ngôi đền Taj Mahal - nơi được coi là tượng đài của tình yêu - sau khi đám cưới của họ diễn ra.

Vị thế của nhà báo Trierweiler cũng có thể gây ra một số vấn đề lễ tân giống như cựu đệ nhất phu nhân Bruni. “Thông thường chúng tôi chỉ ban hành các nghi thức ngoại giao đối với các cặp vợ chồng. Nhưng tôi không biết chi tiết về trường hợp của ông Hollande và chúng tôi chưa thể trả lời câu hỏi về nghi lễ tiếp đón ông ấy cùng bạn gái”, Syed Akbaruddin, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Ấn Độ nói.

Một quan chức thuộc Bộ Ngoại giao Pháp nói rằng phần lớn quốc gia mà các tổng thống Pháp thăm viếng đều sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của khách. Theo quan chức này, chung sống mà không kết hôn không phải là vấn đề nghiêm trọng trong thế kỷ 21.

“Nếu chúng tôi yêu cầu quan chức các nước khác đối xử với một phụ nữ như phu nhân của tổng thống, họ sẽ làm như vậy”, vị quan chức khẳng định.

Việt Linh
lengoi
Posts: 502
Joined: Sat Oct 23, 2010 7:17 pm
Contact:

Post by lengoi »

Một sự phản bội
Mời đọc bài viết của LÊ PHAN, con gái của Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát.
Bà đang là biên tập viên cho đài phát thanh BBC London.
Bài viết cô đọng thấm thía, không chỉ cho người dân Miền Nam mà là cho người dân Bắc VĂN GIANG đang mất đất, viết cho
những bộ đội Việt Cọng đã chết dưới tay giặc Tàu năm 1979, bài viết cho các nhà trí thức Miền Bắc như Trần đức Thảo, Trần Độ, Nguyễn Hộ
những kẻ bị lừa cả một đời hy sinh ...
Viết cho kẻ dự phần chiến thắng nhưng đã không được dự phần chia của cướp được.


Nếu Võ văn Kiệt còn sống chắc sẽ nói lại là :" 30 tháng 4, có 3 triệu người vui, có 84 triệu người buồn"'

Ðã mấy năm nay rồi tôi không muốn viết và không viết về ngày 30 tháng 4. Không viết bởi sau bao nhiêu năm, những điều mình muốn nói đã nói rồi. Không viết bởi càng viết chỉ càng thấm thía với lời của ông Võ Văn Kiệt, vì mình nằm trong số cả triệu người buồn.

Vả lại, ba mươi mấy năm sau, bây giờ, ở một khía cạnh nào đó, tôi không còn có cảm tưởng mình là người Việt nữa. Việt Nam của tôi là Việt Nam của quá khứ. Việt Nam đó không còn nữa.

Nhưng khổ một nỗi, ở một góc cạnh nào đó Việt Nam vẫn nằm trong tim tôi. Làm sao có thể quên được khi ngày ngày vẫn còn cầm bút viết tiếng Việt, đọc tin tức về Việt Nam và dầu muốn dầu không, vẫn bâng khuâng về đất cũ.

Hôm nọ, ngồi xem những đoạn video được đưa lên Internet về cuộc biểu tình phản đối của người dân ba xã của huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, rồi sau đó, cũng trong lúc làm tin, chợt được xem một đoạn về phản ứng của miền Nam Việt Nam, cả dân chúng lẫn chính quyền trước việc Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, tôi bỗng cảm thấy mừng mình là dân miền Nam chứ không phải là dân miền Bắc. Tôi có thể mất nước, phải bỏ xứ mà đi sống tha phương cầu thực và ngày nay nhận đất lạ làm quê hương, nhưng ít nhất tôi không phải sống trong một quốc gia, dưới một chế độ, đã đòi sự hy sinh tột đỉnh của dân mình rồi phản bội.

Ðoạn video mà tôi thấy về Văn Giang là lúc đoàn dân chúng của các xã bị cưỡng chiếm tụ tập về để bảo vệ mảnh vườn của mình. Họ từng đoàn từng lớp kéo nhau đi, tay cầm gậy, cuốc, xẻng. Ðoạn clip khá dài, người quay đứng yên một chỗ, quay đoàn người đi qua. Họ đủ cả, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà cũng có. Có khá nhiều người đội nón an toàn, một số khá đông phụ nữ khoác thêm một cái khăn ở dưới nón an toàn, trông ra có lẽ cũng có lý vì ít nhất nón an toàn bảo vệ không bị công an đánh bể đầu. Giữa đám nón an toàn hay nón baseball có lác đác một số đội nón cối. Trong số người đội nón cối, có vài người đứng tuổi. Họ đội nón cối, mặc quần áo bộ đội. Có lẽ có thiếu là họ mang quân hàm và huy chương đeo lên ngực. Một vài cái nón cối còn cả lá cờ, rõ ràng là nón của một cựu quân nhân.

Một số trông họ có lẽ là những chiến sĩ đã bị chính quyền gọi nhập ngũ để chống lại xâm lăng của đoàn quân phương Bắc, một số già hơn, có thể đã bị chính quyền gọi nhập ngũ, không phải để bảo vệ tổ quốc, mà để tham gia vào một cuộc chiến tương tàn, một cuộc nội chiến mà trong đó anh em gặp nhau trên bãi chiến trường.

Cuộc chiến tranh Bắc Nam mà ngày 30 tháng 4 là ngày kết thúc, mặc cho chính quyền có khoác cho nó cái áo tuyên truyền gì chăng nữa cũng vẫn là một cuộc nội chiến, người Việt giết người Việt. Như lời ca phản chiến hồi nào có thể “kẻ thù tôi mang áo màu chủ nghĩa” nhưng họ vẫn là người Việt. Và cũng xin đừng bảo tôi sai. Tôi có hai ông chú, một ông là sĩ quan quân đội miền Bắc, một ông là sĩ quan quân đội miền Nam. Cũng may là hai chú tôi chưa từng tham chiến trên cùng một chiến trường nào cả, chuyện đó hẳn đã xảy ra cho nhiều gia đình trên đất Việt trong những năm chiến tranh.

Ðã ba mươi mấy năm rồi, tôi không còn muốn tranh cãi cho chính nghĩa của miền Nam nữa bởi chuyện đó đã qua rồi, nhưng ngồi nhìn những cựu quân nhân miền Bắc lầm lũi vác gậy đi tranh đấu để bảo vệ mảnh đất, mảnh vườn, kế sinh nhai của mình, tôi bỗng cảm thấy tuy mất nước, xa nhà nhưng vẫn còn không xấu số bằng họ. Họ là những người đã đem hết cả tuổi thơ dâng cho chế độ. Chế độ và đảng cầm quyền đã khởi xướng cuộc chiến tranh Bắc Nam dẫn đến việc cả triệu người ở hai bên chiến tuyến cũng như dân lành gục ngã. Nếu miền Bắc không nhất quyết đòi chiếm miền Nam thì làm gì có chiến tranh.

Nhưng sau khi đòi hỏi sự hy sinh tối thượng đó của người dân dưới quyền cai trị của mình, đảng Cộng sản Việt Nam và những người lãnh đạo chính quyền ở miền Bắc đã thất hứa với nhân dân. Tôi còn nhớ một lần về Việt Nam, một bà thím sau ngày đổi mới, lương công chức không đủ sống, mở một quán bán tạp hóa bên cửa ngách của nhà mình, đã mỉa mai, “Hồi đó các ông ấy bảo ‘Ðánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng bằng mười ngày nay’! Bây giờ đã ‘Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào’, vậy mà vẫn không đủ ăn!”

Khác với những năm đó, Việt Nam trong những năm cho đến gần đây quả đã phát triển bằng năm bằng mười lúc trước. Cứ đi về thành phố Hà Nội ngày nay so với Hà Nội của những năm đầu thập niên 1990, khi lần đầu tiên tôi trở về Hà Nội thì cũng thấy rõ sự thay đổi. Có điều những phát triển to lớn đẹp đẽ đó người dân không được chia hưởng. Trong khi ruộng vườn của họ bị chiếm đoạt để xây khu “đô thị mới” EcoPark, một khu hẳn là rất sang trọng vì partner của họ là công ty địa ốc Savills ở Luân Ðôn, một trong những công ty mà nhìn quảng cáo của họ ở Luân Ðôn toàn là nhà cỡ trên một triệu bảng Anh.

Ecopark quảng cáo là “thành phố xanh tươi, cuộc đời trọn vẹn.” Họ quảng cáo “không gian phố trong vườn” và những khu như “Rừng cọ: luxury apartment; Phố Trúc là shopping mall, Vườn Tùng và Vườn Mai: biệt thự detached or semi-detached villas.” Trang quảng cáo của Ecopark mở đầu với một đoạn nhạc thật êm tai. Tiếc thay tiếng nhạc đó không làm át nổi tiếng than khóc của người dân Văn Giang.

Bây giờ tôi mới hiểu cái uất ức và thấm thía cái nỗi đau của những người như ông Trần Ðộ hay Nguyễn Hộ. Họ là những nhà trí thức, mang tuổi trẻ và lý tưởng đi để cứu nước khỏi họa ngoại xâm, rồi để thống nhất đất nước vì đảng cộng sản bảo với họ là không thể để đất nước chia đôi, là miền Nam đang quằn quại trong áp bức của Mỹ Ngụy.

Tôi cũng chưa quên những bà con vào Nam sau 30-4-1975, gom góp một ký đường, vài lon sữa làm quà, tưởng là quý hóa lắm, ai dè miền Nam đâu có thiếu thốn và khổ cực như họ bị đánh lừa. Ðã có những người, thẹn quá, giấu luôn quà, không dám đem ra cho bà con trong Nam nữa.

Tôi cũng vẫn còn chưa quên người anh họ của ông xã tôi, một cán bộ trung kiên, làm việc cho ban tuyên giáo trung ương, ban tuyên truyền của đảng cộng sản, hỏi nhỏ chú em, “Vậy chú có bao nhiêu nợ máu với nhân dân. Nhà cửa này là do Mỹ nó cho đấy à?”

Nhưng cái vỡ mộng khi vào Nam sau năm 1975 có lẽ cũng một phần nào được xoa dịu vì dầu sao cũng là kẻ thắng. Cái vỡ mộng sau đó, khi vào năm 1979, người anh em “môi hở răng lạnh” dạy cho một bài học kinh hồn. Cho đến bây giờ chính quyền Hà Nội vẫn chưa công nhận số tử vong của trận chiến biên giới, cả về quân nhân lẫn thường dân.

Và sau cùng, giọt nước làm đầy ly là khi chính quyền bỏ rơi chủ thuyết, chạy theo “định hướng thị trường” và chỉ còn muốn làm giàu. Thật là đau đớn vì sau cùng họ mới thấy là những gì họ hy sinh cả cuộc đời đã chỉ là những cái bánh vẽ.

Lê Phan
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 10 guests