Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Văn hóa dân chủ

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Ðể có một sinh hoạt chính trị lành mạnh, cần có một văn hóa chính trị lành mạnh. Ðể có một văn hóa chính trị lành mạnh, cần có một văn hóa dân chủ lành mạnh.

Image
Một em bé tại Helsinki, Phần Lan, chờ cha bỏ phiếu trong cuộc bầu cử ngày 17 Tháng 4, 2011. (Hình: Jonathan Nackstrand/AFP/Getty Images)



Văn hóa chính trị (political culture) thường được hiểu là hệ thống những niềm tin và những giá trị được một cộng đồng tin tưởng và chia sẻ chủ yếu trong các vấn đề liên quan đến quan hệ và cấu trúc quyền lực giữa các thành viên trong một nước cũng như giữa nước này và nước khác. Nói đến niềm tin là nói đến chuyện đúng/sai. Nói đến giá trị là nói đến chuyện tốt/xấu. Niềm tin chính là nền tảng để bảo đảm cho tính phổ quát và sự bền vững của các giá trị. Không có niềm tin vào Thượng đế có lẽ người ta không đi đến kết luận cho “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” như những gì được viết trong bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Mỹ vào năm 1776 và được Hồ Chí Minh dẫn lại trong bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Việt Nam vào năm 1945. Từ những niềm tin ấy, tự do, bình đẳng và quyền sống của mỗi người trở thành những giá trị cao quý trong xã hội và trong chính trị, và cũng từ đó, ý niệm dân chủ được ra đời và nảy nở.

Trung tâm của văn hóa chính trị hiện đại là văn hóa dân chủ tức hệ thống những niềm tin, giá trị, qui phạm và cách thế hành xử giữa người cai trị và những người bị trị. Trong văn hóa toàn trị, dưới mọi hình thức, từ quân chủ đến độc tài, người cai trị tự coi mình nhận sứ mệnh từ một nơi nào khác, ít nhiều có tính chất huyền bí, và quyền cai trị của mình là một cái gì có tính tuyệt đối. Quan hệ giữa họ và những người bị trị là quan hệ một chiều. Họ chỉ biết ra lệnh và đòi hỏi sự vâng phục. Ðể củng cố sự vâng phục, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn tàn độc. Văn hóa dân chủ thì khác. Trong chế độ dân chủ, người cai trị không có tư cách nào khác ngoài tư cách đại diện của dân và không có bổn phận nào khác ngoài việc thực hiện những ý nguyện của dân. Họ biết quyền lực của họ bị giới hạn không những bởi luật pháp mà còn bởi các lực lượng độc lập và đối lập, và, quan trọng nhất, tính chất nhiệm kỳ.

Văn hóa dân chủ là hệ thống những niềm tin và giá trị giúp phát huy khả năng tham dự của dân chúng vào những vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh.

Văn hóa dân chủ có nhiều nội dung, nhưng theo tôi, quan trọng nhất là sự tin cậy. Tin cậy vào Hiến Pháp và pháp luật. Tin cậy vào guồng máy chính quyền. Nhưng trước hết phải là sự tin cậy đối với những lý tưởng và những nguyên tắc của dân chủ, cụ thể là tin vào sự tự do và quyền bình đẳng của dân chúng được thể hiện một cách tập trung nhất qua quyền lựa chọn lãnh đạo, và qua đó, lựa chọn chính sách của họ, nghĩa là, nói cách khác, tin vào dân chúng.

Ví dụ: đã chấp nhận luật bầu cử, điều đầu tiên là phải chấp nhận tính nghiêm minh của bầu cử và kết quả của việc bầu cử, bất kể nó có hợp hay không hợp với quyền lợi của mình. Ở không ít nơi, thường xảy ra hai trường hợp: một là gian lận; hai là, nếu kết quả bầu cử không vừa ý thì tìm mọi cách thay đổi hay xóa bỏ. Ðó không phải là dân chủ. Ðó là phản dân chủ.

Sống ở Tây phương, một trong những điều tôi thích nhất là theo dõi các cuộc bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, hai sự kiện tôi thích nhất là: một, các cuộc tranh luận công khai trên truyền hình giữa các đối thủ; và hai, những bài phát biểu trong đêm kiểm phiếu, khi kết quả đã rõ ràng. Tranh luận bao giờ cũng gay gắt nhưng bao giờ cũng lịch sự. Còn đêm kiểm phiếu, khi kết quả đã ngã ngũ, hầu như là một quy luật: bao giờ người thất bại cũng, thứ nhất, nhìn nhận mình thất bại; và thứ hai, chúc mừng người chiến thắng. Phân tích những lý do khiến mình thất bại, người ta có thể nói thế này thế khác, nhưng tuyệt đối người ta không đổ lỗi cho dân chúng, chẳng hạn, cho dân chúng ngu hay nhẹ dạ nên đã bỏ phiếu cho cái kẻ không xứng đáng bằng mình! Trong cuộc chơi dân chủ, hầu như mọi người đều chấp nhận luật chơi: cử tri bao giờ cũng có lý. Ứng cử viên, ngay cả khi có tài năng kiệt xuất thực sự và có chính sách đúng đắn thực sự, nếu thất cử, cũng phải tự xét lại mình ít nhất ở một khía cạnh: khả năng thuyết phục quần chúng chưa đủ giỏi.

Ở các nước độc tài, ngược lại, dù người ta hay nói đến sức mạnh của quần chúng, nhưng trong thâm tâm và cả trong chính sách, bao giờ người ta cũng thiếu sự tin cậy, thậm chí, coi thường quần chúng. Một lập luận thường nghe nhất là: trình độ dân trí thấp, cho họ được tự do lựa chọn, thứ nhất, họ sẽ chọn lầm người; và thứ hai, từ đó, sẽ dẫn đến sự hỗn loạn. Người ta dùng viễn tượng hỗn loạn như một con ngáo ộp để hạn chế tự do và để tránh né nhu cầu dân chủ hóa.

Chính quyền không tin dân chúng, coi dân chúng chỉ là những kẻ khờ khạo dốt nát. Dân chúng, ngược lại, cũng không hề tin cậy chính quyền. Nhìn đâu, người ta cũng thấy giả. Phát biểu: giả. Hành động: giả. Từ đó dẫn đến thái độ hờ hững đối với chính trị cũng như đối với mọi vấn đề sinh tử của quốc gia, một thái độ được người Việt đặt tên rất hay: chủ nghĩa mặc-kệ-nó, mackeno.

Một thái độ như vậy rõ ràng không thuộc văn hóa dân chủ và tuyệt đối không có lợi cho tiến trình tranh đấu cho dân chủ. Chính quyền độc tài nào cũng biết điều đó nên họ tìm mọi cách để duy trì sự thụ động và vô cảm của mọi người. Những người tranh đấu cho dân chủ cũng nên biết điều đó để tìm cách phê phán và giảm thiểu thứ chủ nghĩa mặc-kệ-nó vốn như một thứ độc tố làm chết mòn mọi ước mơ thay đổi, trong đó có sự thay đổi theo chiều hướng dân chủ hóa.
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Hội chứng Bắc Phi: Nhục tiếm quyền và ô nhục giàu sang

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ngày Chủ Nhật, 3 tháng 4 ở tại Bắc Kinh, ông Ngải Vị Vị (Ai Weiwei) bị bắt tại sân bay khi sắp lên đường đi Hồng Kông.

Image
Ở Ðức, thành viên Ân Xá Quốc Tế biểu tình đòi tự do cho họa sĩ Ai Weiwei. (Hình: Axel Schmidt/dapd)

Ông Ngải, 53 tuổi, họa sĩ kiêm kiến trúc sư, người thiết kế kiểu sân vận động “Tổ Chim” cho đại hội thể thao Olympic 2008 tại Trung Quốc, được bằng khen của Nhà nước Trung Hoa, Ông thuộc loại “con ông cháu cha,” con của ông Ngải Thanh, nhà thơ, nhà báo, nhà tuyên huấn của triều đại Mao Trạch Ðông, từng du học ở Hoa Kỳ, nay trở nên một nhà dân chủ kiên định, tố cáo chế độ độc đảng độc đoán và tham nhũng trên đất nước mình. Ông nổi tiếng khi lên án vụ sữa nhiễm độc giết hàng vạn trẻ em, ông cũng lên án vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008 làm chết 5 ngàn em học sinh do trường lớp khi xây lên bị cắt xén do tham nhũng. Xưởng tranh của ông ở Thượng Hải bị đập phá. Bà Lộ Thanh, nghệ sĩ vợ ông bị lăng mạ và quấy rối.

Ngày hôm sau, Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011, tại Hà Nội, tòa án mang tên “Nhân dân,” dù không có bào chữa của luật sư, không có tranh biện theo luật định, ngang nhiên tuyên án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, 54 tuổi, từng du học ở Pháp, Hoa Kỳ, cũng loại “con ông cháu cha,” cũng đứng ở hàng đầu các chiến sĩ dân chủ kiên cường, cũng tố cáo không mệt mỏi chế độ độc đảng độc đoán và tham nhũng trên đất nước mình.

Hai trường hợp giống nhau, không phải ngẫu nhiên. Giống nhau vì cùng ở vào thời điểm mùa Xuân 2011, khi làn sóng dân chủ lên cao lan rộng ở Bắc Phi, xuống Tây Phi, tràn vào Trung Ðông và Cận Ðông, làm lung lay mọi chế độ độc đảng và tham nhũng, không trừ một chế độ nào.

Không phải ngẫu nhiên mà ông Fidel Castro đang dưỡng bệnh, bỗng lên tiếng thanh minh với thế giới là từ lâu ông không cầm quyền nữa, ông không có trách nhiệm gì trong việc cai trị đất nước Cuba. Ðúng sau khi 2 nhà độc tài Ben Ali của Tunisia và Hosni Mubarak của Ai Cập bị hạ bệ, tịch thu tài sản và bị truy tố về tội đàn áp nhân dân, ngược đãi các nhà dân chủ và tội ăn cắp của công trên quy mô lớn. Hai tội này làm cho ông Fidel giật mình và thanh minh. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhóm quân phiệt Miến Ðiện vội vã trút bỏ quân phục, không gọi nhau là thượng tướng, đại tướng, nguyên soái, trở về với cái vỏ dân sự hiền lành, nhưng không che giấu được thế gian trong thời đại thông tin bén nhạy.

Nếu như không có làn sóng dân chủ Bắc Phi, chưa chắc “Lão Ngải” - theo cách gọi quý mến ông Ngải Vị Vị của người Trung Quốc - và chưa chắc Luật Sư Cù Huy Hà Vũ được coi là Lương tâm Thời đại đã bị đại nạn đến mức như thế.

Vì nội dung cuộc cách mạng rung chuyển cả thế giới Ả Rập-Hồi Giáo là chống độc đoán và chống tham nhũng, trúng phắp vào 2 gót chân A-sin của mọi chế độ độc tài, lật 2 cái tẩy bẩn thỉu khổng lồ của bọn chúng, làm cho chúng ăn ngủ không yên, lo đối phó bằng mọi cách, lo giữ sinh mạng và của cải cướp bóc được của chúng.

Ở Tunisia, ở Ai Cập, cũng như ở Libya và Syria hay Yemen, chữ “ô nhục” luôn đi với “bầu cử” và “làm giàu,” là 2 cái tội lớn nhất, rõ nhất, khó thoát tội nhất của mọi tên độc tài, của mọi nhóm độc tài. Trên các truyền đơn, biểu ngữ, trên các blog, twitter, facebook, các nhóm từ liên tiếp xuất hiện, chữ Ả Rập dịch ngay ra tiếng Anh, tiếng Pháp: “Chúng tiếm quyền qua bầu cử một cách ô nhục và chúng làm giàu một cách ô nhục.”

Các báo chí, truyền đơn giải thích các cuộc bầu cử ô nhục vì chỉ có một đảng được tồn tại, không có vận động, tranh cử, lựa chọn, bầu theo lối gượng ép, áp đặt, cưỡng bức tinh vi. Chính vì vậy nên các Bộ Chính Trị cộng sản ở Bắc kinh và Hà Nội đang bị chạm nọc, 2 huyệt sinh tử có nguy cơ bị nhân dân nhè vào đó mà điểm, vì ở ta cũng y như thế, tất cả đều không được nhân dân chọn lựa để bầu; đều là dấm dúi đề cử nhau, chia chác ghế giữa các phe nhóm sau lưng cử tri, và sau khi có quyền lực thì tha hồ thu vén vơ vét, còn bảo vệ lẫn nhau, trong khi các chiến sĩ dân chủ thật lòng yêu nước, thương dân, tuân thủ và bảo vệ luật pháp thì phải ngồi tù.

Ben Ali, Mubarak, Gadhafi... từng được bầu làm tổng thống liền nhiều khóa, nhưng bọn hắn chỉ cho một đảng của bọn hắn tồn tại, những cuộc bầu như thế là hoàn toàn ô nhục; nhục cho kẻ “trúng cử,” nhục cho kẻ buộc phải đi bầu mà không được lựa chọn, nhục cho chế độ chính trị, nhục cho đất nước! Quốc Hội của các nước đó cũng được bầu một cách ô nhục, bầu mà không có ganh đua, tranh cử, lựa chọn như phần lớn các nước dân chủ văn minh. Nhục cho những ông bà nghị tay sai của đảng cầm quyền, cho các nghị gật, đóng trò hề dân chủ.

Chính do căn bệnh lo sợ, run sợ, hoảng hốt trước làn sóng dân chủ Bắc Phi, làm lung lay tận gốc mọi chế độ độc đảng độc đoán tham nhũng mà Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội ráo riết, mạnh tay dùng quyền lực thô bạo đàn áp mọi tiếng nói dân chủ. Họ biết rõ những “Lão Ngải,” Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Ðiếu Cày, Anh Ba Sài Gòn... mà tự do sẽ hăng hái truyền bá giá trị của làn sóng dân chủ kỳ diệu ở Bắc Phi và Trung-Cận Ðông để thức tỉnh toàn dân ta, chỉ mặt vạch tên những kẻ ô nhục, tiếm quyền, giành ghế, cướp đất, cướp của của nhân dân và nhà nước ta, tàn phá quê hương hàng hơn nửa thế kỷ, nay vẫn mê muội không chịu buông tha.

Họ đã tính nhầm. Lúc này muốn bịt mồm mọi người ngay thẳng thì sức đâu mà bịt, mà bắt, nhà tù đâu mà chứa cho hết. Tự họ đang đổ dầu vào lửa oán hờn đang âm ỉ lan rộng. Họ những định bóp nghẹt tư do để cho qua Ðại Hội XI, nay lại giở trò khủng bố hòng qua êm ả cuộc bầu cử Quốc Hội 20 tháng 5 này, nhưng hãy coi chừng. Hiệu ứng Bắc Phi còn đó. Bầu cử sắp tới ở Việt Nam có khác gì bầu Quốc Hội ở Tunisia, Ai Cập, Libya hay Yemen trước đây, tất cả nay đã bị quần chúng lật tẩy, phủ định, bĩu môi chê cười là ô nhục.

Báo chí lề phải đang nêu vấn đề làm sao chọn người hiểu biết rộng, đạo đức tốt, dũng cảm bảo vệ lẽ phải để bầu vào Quốc Hội. Ðây là vấn đề lỗi hệ thống. Một vấn đề nan giải, bế tắc triệt để nếu không thay thế hẳn hệ thống.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Góc Chiến Trường Xưa: Hãy gìn giữ ‘Tù Ca’

taquanghoang
(Một vài suy nghĩ về “Tù Ca’ nhân dịp tham dự buổi Hội Ngộ Cựu Tù Nam Hà+Hàm Tân Z30D, ngày 6 tháng 3, 2011 tại Nam Cali.)

Ngày Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011, vào lúc 11 giờ, khoảng 200 anh chị em cựu tù nhân chính trị trại Nam Hà và Hàm Tân Z.30D, cùng người thân và bằng hữu, đã có một cuộc họp mặt lần đầu tiên tại nhà hàng Regent West (4717 W. First Street, Santa Ana, CA 92708) sau nhiều năm được đi định cư tại Hoa Kỳ, mà phần lớn là qua diện H.O. (Bắt đầu từ năm 1990). Các anh chị nay đã mang nặng tuổi đời - đều trên dưới tuổi “Cổ lai hy,” thậm chí có anh đã 90 - tóc đã bạc và sói đi nhiều, sức khỏe cũng đã mỏi mòn theo năm tháng, song các anh chị quả thật đã có được những giờ phút bên nhau vui mừng lẫn xúc động khi được gặp lại những người bạn tù cũ với bao kỷ niệm của những năm tháng dài cùng chung trải qua trong các ngục tù khổ sai của cộng sản.

Tuy tổng số người tham dự lần đầu tiên này có phần khiêm nhường, có thể vì tin tức chưa được phổ biến rộng rãi, hoặc vì sức khỏe, hay vì một lý do bất khả kháng nào đó, nhưng lại được một sự khích lệ khác khi thấy có sự hiện diện của cả những người bạn đến từ xa, rất xa, không phải chỉ từ San Jose, Sacramento, hay San Diego cùng tiểu bang, mà còn đến từ các tiểu bang xa như Arizona, Washington, hay mãi tận miền Ðông Florida. Nhiều bạn khác ở xa không về dự được thì cũng gọi phone, gởi email, và cả yểm trợ tài chánh, từ Virginia, Illinois, Michigan,... để chào mừng ngày hội.

Ban Tổ Chức đã có suy nghĩ đúng khi quyết định không mời các giới chức có danh phận trong cộng đồng (dù có thể sẽ nhận được sự yểm trợ về tài chánh), vì đây đơn thuần chỉ là một cuộc gặp gỡ giữa những người bạn tù cũ. Ngay cả trong lời chào mừng lúc khai mạc ngày hội, cũng không có phần nhắc đến tên tuổi của người nào dù người đó trước kia đã từng giữ những cương vị lớn trong lãnh vực dân sự hay quân sự. Ban Tổ Chức và mỗi thành viên tham dự ngày hội đều trân quý từng phút giây, dành cho việc chào thăm, mừng cho nhau, hay chụp hình lưu niệm. Chính các anh cựu tướng lãnh, dân biểu, giới chức dân sự cao cấp, cũng tự hòa mình, khiêm nhường ngồi lẫn với các bạn tù ở những bàn phía sau, chuyện trò vui vẻ. Sau bao đổi thay theo dòng đời, giờ đây chỉ còn có tình bạn giữa những “bạn tù,” những người đã một thời cùng chung trải qua những năm tháng bị đày ải trong các ngục tù của cộng sản.

Buổi họp mặt đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên, nhất là khi được nghe lại những bản “Tù Ca” hay những bài “Thơ Tù” đã từng một thời lưu hành trong các trại tù từ Nam ra Bắc. “Tù Ca” được chính “tù nhân” trình bày, tuy không là ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại là người đã từng sống với chính tâm tình được gởi gắm trong mỗi lời ca, dòng nhạc đó; còn người nghe thì cũng có chung một tâm sự, một nỗi niềm - vì chính họ cũng là cựu “tù nhân” - thì quả thật cả phòng hội như im ắng, lặn chìm trong một bầu không khí lành lạnh, trong khi tiếng hát vừa xót xa vừa hào hùng của người bạn tù trên sân khấu chầm chậm len lỏi vào lòng người nghe, làm nổi da gà và mắt mờ đi vì nước mắt cứ dâng lên!

Ðã trên hai mươi năm xa hẳn các nhà tù cộng sản và đang sống trên một đất nước tự do, nay trong ngày hội gặp lại các bạn tù cũ nhân dịp đầu Xuân năm mới, lại được nghe một lúc nhiều bản “Tù Ca,” làm gợi nhớ những ngày đầu Xuân năm Canh Dần 1980 tại phân trại A Nam Hà... Mùa Xuân năm ấy, cũng những buổi tụ hội với hằng trăm anh em tham dự, hết buồng giam này sang buồng giam khác, những thân xác khô gầy trong bộ đồ tù màu xám bạc rách nát, ngồi đứng chen chúc bên những “gô” trà nhạt, với chút ít quà do người thân tình nghĩa lặn lội đường xa đem cho lúc đi thăm nuôi, anh em chia sẻ cho nhau hớp trà, chút “đường tán,” và cùng lắng nghe những bản “Tù Ca” và những bài “Thơ Tù’ được hát, được ngâm với tiếng nhạc đệm từ chiếc đàn guita “tự chế”... Những ngày đau buồn ấy đã chẳng được chôn sâu trong ký ức rồi sao mà trở về đây với anh chị em bạn tù mình hôm nay?

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây. Áo rách xác xơ vai gầy, cùng chung kiếp sống lưu đày... Chiều Suối Máu xót xa buồn nhớ con. Tình thương em vẫn đong đầy khóe mắt. Chiều Long Giao mưa rơi nhòa nước mắt. Nhớ thương vơi đầy... Anh ở đây ngày ngày bên trong rào sắt... Khúc sắn bát ngô vơi đầy. Sầu nuôi thân xác hao gầy... Chiều Sơn La sương mù đêm u uất... Chiều nao gục ngã trên đồi. Chim rủ nhau về rừng ru anh ngủ mãi. Hình hài tan theo cỏ cháy. Hỡi người kiệt sức buông tay!... Anh ở đây...Anh ở đây... Sao anh còn ở đây? (“Anh Ở Ðây” của Thục Vũ và Vũ Ðức Nghiêm)

Lời ca thấm sâu vào lòng, dẫn người nghe bước đi lần nữa theo hành trình của chính mình trên 35 năm trước từ Nam ra Bắc, và cũng đã biết bao lần chứng kiến cảnh bạn mình “kiệt sức buông tay,” “gục ngã trên đồi”!...

Ngày đầu năm lặn lội từ Nam ra Bắc, len lỏi qua bao lối mòn dọc theo đồi núi, gói ghém mang được ít quà nghĩa tình vào trại giam thăm nuôi chồng lần đầu. Ðến lúc được gặp, ngỡ ngàng nhìn người chồng yêu thương của mình ngày nào giờ đây chỉ còn là một hình hài khô gầy, lỏng lẻo trong bộ áo lam tù rách nát, và thế là nước mắt tuôn trào... “Em đến thăm anh trong trại ngục tù. Những dòng nước mắt lã chã trên bờ mi... Dòng nước mắt em tiếc thương gì đây? Tình yêu hay tình nước phôi phai!” Và rồi còn xót xa, đau thắt lòng hơn khi nghe người chồng kể cho nghe cảnh sống trong tù. “Ở đây không hoa phượng đỏ,... không mai vàng nắng,... Ở đây chỉ tường đá trắng với kẽm gai giăng. Ðêm đêm song sắt cách ngăn, thế giới bao la, tiếng cuốc xa xa...” (“Thăm Nuôi” của Nguyễn Văn Tấn)

Cảnh những người tù khổ sai càng được rõ nét hơn khi nghe lời ca “Trên đường đi của trâu bò và dê. Những bàn chân chai cứng lết lê. Trông thật đáng ê chề. Trên đồi cao đập đá nắng cháy da đầu. Dưới đầm sâu thân xác gầy kéo cày thay trâu...” (“Tù khúc số 1” của Nguyễn Văn Hồng)

Chương trình “Tù Ca” do chính các anh chị em bạn tù đóng góp đã giúp cho buổi hội ngộ giữa những người bạn tù thuộc hai trại Nam Hà và Hàm Tân Z.30D một kỷ niệm khó quên và đến lúc chia tay đã không thể không hứa nguyện hẹn gặp lại vào ngày hội năm tới hay sớm hơn nếu có cơ hội.

Nhưng cũng chính qua chương trình “Tù Ca” của anh chị em cựu tù lần này, người viết đã bâng khuâng với ý nghĩ: “Tù Ca” rồi sẽ đi về đâu khi lớp người cựu tù nhân chính trị chúng tôi qua đi? “Tù Ca” sẽ chỉ là một “nét chấm phá đau thương” riêng tư trong cuộc đời của những người tù trong chế độ cộng sản, hay “Tù Ca” phải có một chỗ đứng xứng đáng không phải chỉ trong lãnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam, mà có lẽ chính cả trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, cuối thế kỷ 20?

Ðời sống thực tế của những người tù khổ sai trong những năm tháng dài “vô vọng,” “đen tối” trong các ngục tù cộng sản, đã được chính các anh chị em bạn tù nhắc đến qua các tác phẩm hồi ký, không cần phải nhắc lại. Nhưng chính trong bối cảnh đen tối tận cùng của cuộc đời mà các anh chị em bạn tù phải chịu đựng và trải qua đó, “Tù Ca” đã xuất hiện để ghi lại những gì họ nghĩ suy và đang trải qua. Những “Tù Ca” này là những sản phẩm riêng biệt của những cựu Quân Cán Chính của chính phủ VNCH bị cộng sản giam giữ thời sau Tháng Tư Ðen 1975. Nó chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn cố định, khi mà họ còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản, tức là khoảng từ sau tháng 4, 1975 đến cuối tháng 4, 1992 (17 năm tròn), là lúc mà 20 người tù chính trị cuối cùng bước ra khỏi nhà tù Hàm Tân Z.30D (có 6 anh trong Ban Tổ Chức Ngày Hội ngộ Nam Hà-Hàm Tân 6 tháng 3, 2011), và sẽ không bao giờ tái diễn nữa.

“Tù Ca” tuy không được sáng tác ra bởi những nhạc sĩ tài ba, thậm chí có người chưa từng biết qua về nhạc lý trước đó, nhưng quả thật “Tù Ca” đã để lại một dấu ấn đầy tính văn hóa, rất riêng, và không bao giờ có chuyện “tái bản.” Chính vì cái bản sắc “rất riêng” và “không bao giờ có chuyện tái bản lại” này, “Tù Ca” sẽ là những dữ liệu vô cùng quý giá giúp soi sáng lịch sử sau này khi phê phán chế độ cộng sản Hà Nội.

Về nội dung, “Tù Ca” được hướng về 3 chủ đề chính:

“Tù Tội” (nói lên sự dã man, tàn độc của CS trong cách “trả thù” những người đã từng phục vụ trong chính quyền cũ đối nghịch với chúng. “Trên đồi cao đập đá... dưới đầm sau kéo cày...”);

“Tinh thần bất khuất” (hào hùng, bi tráng. “Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giày dũng sĩ, trở về dẫm nát tim kẻ thù...”);

“Tình cảm” (Sự nhớ thương người thân, gia đình. “Người không biết ta, em không biết ta, nhưng sao yêu ta hỡi người. Ta không biết em, ta không biết người, nhưng sao yêu người hỡi ta?”)

Ðừng vội cho rằng trong cảnh tù đày khổ sai như vậy mà còn “tình cảm ướt át” nữa sao? - Nhưng đó chính là bản sắc của người “Quốc Gia,” có tình yêu quê hương, tình yêu gia đình, khác biệt với bọn cộng sản vô thần, không có tánh người, chỉ biết yêu “chủ nghĩa cộng sản” (sic) một cách mù quáng.

Trong nhiều năm qua, đã có nhiều anh em cựu tù, và cũng là những nhà hoạt động văn học nghệ thuật có tên tuổi trong cộng đồng, nhiệt tình quan tâm đến vấn đề “Tù Ca,” như quý anh Nguyên Huy, Huy Phương, Xuân Ðiềm, Hồ Hoàng Hạ, v.v... đã có nhiều bài viết kêu gọi sự tiếp tay của tất cả những ai có cùng quan tâm, nhất là các trung tâm văn hoá, nghệ thuật, để có thể lưu giữ những “Tù Ca,” “Thơ Tù” hầu có thêm dữ liệu cho các thế hệ mai sau sử dụng khi nghiên cứu tìm hiểu về giai đoạn lịch sử cận đại của dân tộc.

Qua những dòng chữ này, người viết xin tiếp nối những người đi trước, với ước mong có ngày được nhìn thấy những giới chức làm văn hóa, nghiên cứu lịch sử, và đặc biệt là các trung tâm văn nghệ, có lòng với sự tồn vong của quê hương, Tổ Quốc VN, lưu tâm đến những “Tù Ca” này, mà sưu tầm, tìm hiểu, và tồn giữ. Vì như đã có trình bày ở trên: “Tù Ca” có một bản sắc văn hoá “rất riêng,” chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn cố định, và không có chuyện “tái bản” lại. Ðó là những dữ liệu lịch sử vô cùng quý giá sau này dùng để phê phán chế độ cộng sản Hà Nội.

Có trên 160 trại tập trung cộng sản thiết lập trên khắp hai miền Nam Bắc sau tháng 4, 1975. Chế độ tù đày được dựa trên một chính sách chung mang tính chất diệt chủng, nên tâm tình của những người tù khổ sai duới chế độ cộng sản đều giống nhau dù là đang bị giam giữ tại đâu. Ở trại nào cũng có những “Tù Ca” được sáng tác, được truyền miệng giữa các bạn tù, và mỗi bản “Tù Ca” đều có mang theo một tâm tình riêng biệt, có thực, của những người tù khổ sai mà chỉ có những “nghệ nhân bất đắc dĩ” này mới diễn đạt được trọn vẹn những nỗi thống khổ cùng cực của các bạn tù đã phải trải qua, cũng như thể hiện được tinh thần kiên cường bất khuất của anh chị em khi đối diện với những tên cai tù hung ác, v.v... vì chính bản thân họ đã trải qua những ngày tháng đó trong nhà tù cộng sản.

Mong sao có được một trung tâm văn nghệ “có lòng” đứng ra thực hiện một “Chương Trình Tù Ca,” như Trung Tâm Asia đã nhiều lần thực hiện các chương trình vinh danh những người chiến sĩ Quân Lực VNCH trước đây. Những ca khúc vinh danh Quân Lực VNCH có thể sưu tầm dễ dàng bất cứ lúc nào, nhưng “Tù Ca” của những người tù khổ sai của anh chị em bạn tù thời sau Tháng Tư Ðen 1975, sẽ thất truyền khi mà lớp người chúng tôi qua đi. Nó thất truyền vì không được lưu truyền trong dân gian khi anh chị em chúng tôi đã ra khỏi nhà tù. Nó chỉ có ý nghĩa khi còn trong nhà tù. Nhưng nó lại là những dữ liệu văn hoá vô cùng quý giá chẳng những để sau này lịch sử phê phán chế độ cộng sản, mà còn giúp cho các thế hệ con cháu chúng ta hiểu được tâm tình của các bậc trưởng thượng khi họ phải trải qua một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam cận đại, để từ đó mà cảm thông, và kính yêu các bậc trưởng thượng của mình hơn. Qua những bản “Tù Ca,” họ sẽ nhìn ra được một phần những gì các bậc cha ông của họ đã phải đối diện khi đang ở lứa tuổi thanh xuân, chứ không phải là hình ảnh của những “Cụ già HO” lụm khụm, đi đứng khó khăn, nhẫn nhịn, chịu đựng mọi sự trong im lặng, chấp nhận đứng bên lề cuộc sống,... như họ vẫn gặp, vẫn thấy mỗi ngày.

Trong vấn đề sưu tầm “Tù Ca,” hiện nay tương đối thuận lợi. Sau khi có chương trình H.O., hàng nhiều trăm ngàn anh chị em cựu tù nhân được đi định cư tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, và thường sống tập trung tại các thành phố lớn. Trong những năm đầu sau khi đi định cư, tâm tình còn nặng nhiều về quá khứ của những ngày trong các ngục tù cộng sản. Và nhờ có điều kiện và phương tiện thuận lợi nơi đất định cư, các bạn tù thường tự thực hiện các CD ghi lại những bản “Tù Ca” do chính bản thân hay bạn bè hát. Những CD này chỉ phổ biến hạn chế trong chỗ bạn hữu thân tình - thường là những người bạn tù với nhau - để kỷ niệm một thời chung khổ cực. Anh em từng ở trại tù nào, ghi lại những “Tù Ca” của trại đó, và vì chỉ nhằm mục đích lưu niệm nên thiếu phần kỹ thuật hòa âm và thâu âm, cũng như được những ca sĩ chuyên nghiệp trình bày. Nhưng nhớ người hát lại chính là “tù nhân” nên tiếng hát thường thống thiết, gây nhiều xúc cảm cho người nghe. Nhờ có những CD “Tù Ca” do chính các cựu tù thực hiện này, việc sưu tầm có thể thực hiện được nếu có một “Trung Tâm Văn Hoá” hay một “Trung Tâm Văn Nghệ” “có lòng” nào đó đứng ra kêu gọi. Dĩ nhiên những “Tù Ca” này phải là “Tù Ca” được sáng tác và phổ biến truyền miệng khi còn trong các nhà tù của cộng sản thì mới có giá trị thực sự; còn những “nhạc tù” được sáng tác về sau, khi đã ra tù rồi, thì không được kể là “Tù Ca.”

Chính vì “Tù Ca” không phải là một loại nhạc được phổ biến rộng rãi trong dân gian như những loại nhạc khác, vì nó chỉ được sáng tác (và lưu hành trong phạm vi các nhà tù cộng sản) trong một thời gian nhất định, và sẽ thất truyền khi thế hệ chúng tôi qua đi. Việc tiến hành sưu tầm và lưu giữ thật sự đã trở nên gấp rút vì nếu không thì có lẽ sẽ không còn nhiều thời gian nữa. Lịch sử Việt Nam cận đại có thể vì vậy sẽ thiếu mất những trang sử vừa đau thương vừa hào hùng của cả một lớp người đã dâng hiến trọn vẹn tuổi trẻ của mình cho công cuộc chống lại bọn cộng sản vô thần, vô Tổ Quốc, để bảo vệ quê hương, dân tộc. “Tù Ca” chính là những dữ liệu quý giá để làm sáng tỏ những trang sử ấy.

Hãy gìn giữ “Tù Ca”!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Buồn Tháng TưWednesday,

Trúc Xanh
(Nguồn: DCV Online)

Mỗi năm có một Tháng Tư,
Ngồi ôn chuyện cũ cũng dư nỗi buồn.
Ðó là ai buồn chứ tôi thì không.
Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ tại buổi lễ tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư ở thủ đô Washington, D.C., năm 2005. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Tôi đã trải qua cái ngày 30 Tháng Tư lịch sử với con mắt và trái tim của một đứa nhỏ vô tư. Gia đình tôi thất bại trong việc rời khỏi Sài Gòn. Nhưng tôi hoàn toàn không biết đến nỗi sợ hãi, lo buồn của cha mẹ, những con người từng từ bỏ quyến thuộc, cửa nhà; leo tàu “há mồm,” tản cư vào Nam. Ngày ấy tôi chỉ buồn vì không thể đem theo mớ tạp chí Thời Nay tôi mê đọc và đám đồ chơi soong nồi xinh xẻo. Dù vậy, ở góc mắt, đứa nhỏ vẫn thấy chị nó khóc, anh nó ủ rũ. Cả hai năn nỉ cha mẹ đừng đi, họ không muốn bỏ lại người yêu. Trong những ngày Tháng Tư ấy đã có biết bao nhiều người con trai, con gái quặn lòng đau xót nỗi chia xa?

Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc
Lại muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay nồng mắt người gục trên vai.

Vì chắc ôm nhau em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính cả trăm người.
Em biết dù tim ta sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.

Bí mật lui quân mà đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi.
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm ruột miền Trung đứt đoạn rồi.

Sáng mai thức dậy, em buồn lắm.
Sẽ khóc trách ta nỡ phụ người.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi.

Ngày 30 Tháng Tư đã chấm dứt một cuộc chiến. Một cuộc chiến trong đó người dân cả Nam và Bắc đều là nạn nhân, đều mang thương tích dù cầm súng hay không cầm súng.

Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân.
Khi xung trận mà không té đái.

Ta cũng có người yêu nhỏ dại
Mỏi mắt chờ song cửa quê nhà.
Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha,
Ðâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh.


Người yêu của bạn ở ngoài phương Bắc.
Giờ này đang hối hả tránh bom,
Hay thẫn thờ dõi mắt vào Nam
Ðể chờ người yêu mình trở thành liệt sĩ.

Người ta khóc, người ta chết hàng ngày, hàng giờ từ bao lâu rồi, vậy mà tôi chẳng hay chẳng biết. Rồi người ta lại chết, lại khóc trên biển, trên rừng, còn tôi thì khoác lên vai tấm khăn quàng đỏ, nắm tay các bạn học, ca vang “Bay lên nào, em bay lên nào, ngày vui toàn thắng tưng bừng pháo hoa”, hay “Có sách mới áo hoa nay là nhờ ơn đảng ta, vui tung tăng hoan ca có đảng cuộc đời nở hoa,” v.v. và v.v.

Về sau hồi tưởng lại, tôi vẫn không hiểu tại sao mình có thể vô tư đến mức khốn nạn đến như thế. Hẳn không ai nỡ trách cứ một đứa nhỏ ăn chưa no, lo chưa tới. Nó lại có cha mẹ, anh chị, cái gì cũng che hết, lo cho hết, nó chỉ phải lo mỗi một điều, ráng học cho giỏi và đừng phá phách. Tôi lớn lên như trong một tháp ngà, có mắt nhưng không thấy, có tai nhưng không nghe, có tim nhưng không biết đau đớn.

Thật ra tôi không hoàn toàn vô cảm. Tôi biết mình may mắn, tôi biết có rất nhiều người còn khổ hơn. Những đứa bạn đồng trang lứa với tôi đa số phải bươn chải để phụ giúp gia đình. Gia đình tôi cũng lao đao, nhưng vô vàn các gia đình khác còn lao đao hơn. Tôi cũng biết những chuyện đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, bắt đi học tập cải tạo... Và dù vô tâm đến mức không thể vô tâm hơn, cái ngày 30 Tháng Tư ấy đã làm sáng ra một ý niệm mà khi học lịch sử tôi luôn luôn được nghe đi nghe lại: “Nước mất - Nhà tan.”

Tháng Tư nào nắng trưa hè vụt tắt.
Tháng Tư nào dài đặc một đêm đen.
Tháng Tư nào nghe máu ứa trong tim.
Tháng Tư nào thành niềm đau muôn thuở.

Tháng Tư nào tuổi thơ em vụn vỡ.
Tháng Tư nào tình ruột thịt lìa tan.
Tháng Tư nào đất nước đổi thay tên.
Bởi vì đâu, làm sao em hiểu nổi?

Nhưng những ý thức chớp lóe trong đầu một đứa nhỏ chẳng thể sống dai, nhất là khi nó đang hướng về tương lai trước mắt; rồi háo hức với những trò chơi mới của tuổi thanh niên, với sách vở, bạn bè, hộc tốc dốc gan chạy đua cho qua lọt cổng trường đại học, và tình yêu.

Rồi khi qua tới Mỹ, tôi lại hộc tốc dốc gan làm việc vì bây giờ mình phải tự lo. Trong nước “đổi mới” cái gì, tôi không hay; ngoài nước đấu tranh cái gì, tôi không biết. Những năm tháng đó tôi thật sự không ngó ngàng gì tới Việt Nam. Không thể đổ thừa được nữa nên đành chỉ nói như người Mỹ nói “I have no excuse for what I have done!”

Rồi gặp lại bạn bè cũ, vui quá! Ðứa nào có vẻ cũng khá hết, có đứa còn lên hàng đại gia, có đứa là giảng sư đại học. Tuy cũng có vài người vắn số phải “đi xa” nhưng nếu không vì bệnh hoạn thì cũng do tại nạn. Không có ai chết vì đói. Hóa ra sống ở Việt Nam cũng đâu tệ chứ hả? Nghe tả cảnh thay da đổi thịt của quê hương, tôi thực sự vui. Vui và thở phào nhẹ nhõm vì trong lúc mình “đi vắng” mọi sự đã tiến triển tốt đẹp, vậy là đỡ mang mặc cảm tội lỗi vì đã hèn, đã trốn chạy, đã không “xin chọn nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương”.

Nhưng niềm vui tan nhanh.

Tan theo những giọt nước mắt của những cô gái đứt ruột bỏ quê đi lấy chồng Hàn, chồng Ðài Loan, những chị Dậu cắn răng xa con đi ở đợ xứ người, những nàng Kiều tủi nhục bán mình nuôi cha nuôi mẹ nuôi em.

Em đứng đó một mình ôm mặt khóc,
Như chợt nhớ ra đây không phải Sài Gòn

Mái tóc thu buồn
Mái tóc héo hon

Bay phơ phất giữa phố phường xa lạ.
Mười sáu tuổi kiếp giang hồ chung chạ,
Trôi lang thang như những bọt bèo.
Ðất nước nghèo không giữ nổi chân em
Nên xứ người em làm thân gái khách.
Tuổi của em như sao mai mới mọc.
Ðẹp vô tư như những cánh lan rừng.
Tuổi bắt đầu của một mùa xuân.
Có hoa bướm tung tăng,
Có một chút tình yêu nhẹ nhàng thơ mộng.
Lẽ ra ngày này em đang ngồi trong lớp học.
Học làm người phụ nữ Việt Nam,
Học chuyện thêu thùa may vá trông con,
Học cả chuyện yêu đương
Ðẹp như trăng khi tròn khi khuyết.

Bỗng dưng hôm nay em mất hết,
Mất cả tuổi thơ mất cả cuộc đời.
Bangkok chiều nay mưa lất phất rơi.

Ôi, nước Việt Nam Cộng Hòa mất từ Tháng Tư ấy đến nay đã hơn ba mươi năm mà sao vẫn còn những cảnh ly tan đau đớn đến vậy? Không phải đất nước đã thống nhất rồi sao? Không phải dân tộc đã độc lập rồi sao? Tôi càng ngỡ ngàng thêm khi biết có những phần đất đã bị cắt, bị dâng. Dâng tận miệng kẻ thù truyền kiếp. Số phận nước Việt sao quá cay nghiệt, sao phải quay lùi, đi trở về con đường uất hận tang thương cũ.

Hai mươi triệu, dân cùng, của hết.
Bốn mươi năm, nước mất, quyền không.
Thương ôi! Công nghiệp tổ tông,
Nước tanh máu đỏ, non chồng thịt cao.
Non nước ấy biết bao máu mủ.
Nỡ nào đem nuôi lũ Sài Lang!

Bạn bè tôi rủ nhau viết kỷ yếu. “Hãy kể cho nhau nghe những kỷ niệm thân ái ngày nào - Hãy viết để thấy mình trẻ lại tuổi hai mươi - Hãy hâm nóng tình bè bạn dù xa xôi vạn dặm,” v.v... và v.v... Ðám bạn rôm rả méo meo qua lại, nhưng tôi không được rồi. Tôi không còn lòng dạ nào viết dù những ngày tháng cũ quả thật có lúc rất dễ thương, rất tình thân, rất bè bạn. Những hình ảnh xưa ùa về, nhưng toàn là những ảnh không vui. Ðầu tôi ong ong lời sách sử “nước mất-nhà tan, nước mất-nhà tan, nước mất thì nhà tan.”

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cái nước trong đó có tôi chỉ dài từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau thôi, vậy mà khi nó mất biết bao gia đình đã tan tác. Thử hỏi cái nước bây giờ suốt từ ải Nam Quan (?)đến mũi Cà Mau mà mất thì sẽ có bao nhiêu gia đình tan nát, tan hoang? Tôi đã bỏ lỡ dịp hai lần rồi, tôi không muốn lỡ thêm lần nữa. Tôi không muốn là kẻ vô cảm. Tôi không muốn là kẻ trốn chạy. Tôi không muốn làm lỗi nữa! Ðành hẹn bạn bè khi khác. Những chuyện “tình thương mến thương” xin để dành mai mốt nói.

Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
Trạo bãi thủy văn đôi bạch tuyết,
Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.

Cô trung đối việt càn khôn lão,
Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
Ký thủ tặc nô bình đình hậu,
Trùng tầm Tân quán lữ ngư hà

Ðịnh kỳ khôi phục núi sông xưa,
Khảng khái lên thuyền cất tiếng ca.
Buồm chuyển ánh trăng vờn sóng lạnh,
Chèo khua gợn nước tuyết ngời hoa.

Niềm trung trời đất già dầu dãi,
Ðoái khắp rừng cây rậm mịt mờ.
Ghi đợi sau ngày yên giặc dữ,
Lại về Tân quán bạn tôm cua.

Ai buồn Tháng Tư? Ai không buồn Tháng Tư?

Nhưng xin đừng để có thêm một Tháng Tư khác.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Bài viết của chàng bộ đội tập kết 1954

Tác giả : Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức! 150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra

Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề ngoài biển cả mênh mông ?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

_ Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Ðông Âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa

Nam Hàn và Bắc Hàn?

_ Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa, họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt, mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lặng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…


Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy, công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia, bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng.

Tất cả điều đó đã làm cho các ÐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo. Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ÐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Ðảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình . Ðảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ

Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ? Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai ! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Thế hệ 36 tuổi

Ngô Nhân Dụng
Những em bé sinh ngày 30 tháng Tư năm 1975, hôm nay đã 36 tuổi. Ngày cậu con trai út đủ 36 tuổi, tôi nói với cháu: “Trong đầu bố mẹ vẫn nghĩ như con còn nhỏ lắm.

Nhưng nhớ lại, hồi nhà mình chạy qua Canada, thì bố cũng chỉ bằng tuổi con bây giờ thôi!”

Những bạn trẻ 36 tuổi, ở nước ngoài hay ở trong nước, gọi là họ đã trưởng thành không đủ. Ðúng ra, họ là những người lớn, mà thế hệ cha anh thường không biết. Họ lớn hơn chính các bậc cha chú hồi cũng 36 tuổi! Một “thanh niên” gốc Việt Nam sống ở Ðức, Philipp Roesler sinh trưởng ở Khánh Hòa, đã từng được cử làm bộ trưởng Kinh tế, rồi làm phó thủ tướng của Bang Saxony Thấp (Niedersachsen); rồi sau đó, lên làm Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Tất cả xảy ra trong cùng một năm, khi Dr. Philipp Roesler đúng 36 tuổi. Năm nay 38, anh lại được bầu làm lãnh tụ đảng Tự Do Dân Chủ, một đảng chính trị lớn ở Ðức, để lên làm phó thủ tướng chính phủ liên bang! Các bạn trẻ Việt Nam 36 tuổi nếu được tự do phát triển, nhiều người không thua kém gì Dr. Philipp Roesler!

Ba phần tư dân số Việt Nam, kể cả người Việt sống ở khắp thế giới bây giờ, ở tuổi từ 36 trở xuống. Họ là tương lai của nước Việt Nam. Thế hệ cha anh phải thành tâm cầu nguyện họ được mọi điều may mắn để thành công. Họ may mắn là nước Việt Nam may mắn! Họ thành công thì hy vọng nước Việt Nam thành công.

Thế hệ 36 tuổi bây giờ may mắn hơn chúng tôi vì khi sinh ra chiến tranh đã chấm dứt. Những bạn ở trong nước thiếu may mắn hơn chúng tôi hồi 20, 30 tuổi. Tuổi đó là lúc chúng tôi lăn mình vào các công tác giúp ích đồng bào. Lập hội đoàn, đi cắm trại, tổ chức học sinh, sinh viên đi làm công tác xã hội. Thời Hoàng Ðạo viết Mười Ðiều Tâm Niệm, năm 1940 ông đã hô hào giới trẻ đi “làm việc xã hội,” như chính ông đã làm. Phải giúp ích xã hội, đó là điều tâm niệm của nhiều thế hệ thanh niên sau đó. Không phải là những việc mà người lớn đã “động viên” mình làm! Phải giúp ích với tinh thần tự nguyện, tự do! Thời nay ít có cơ hội như vậy.

Nhưng hiện giờ ở trong nước vẫn có rất nhiều đoàn thể thanh niên theo đuổi các công tác xã hội. Trong khuôn khổ các chùa, nhà thờ, vẫn có các đoàn Phật tử, các Hướng đạo Công Giáo sinh hoạt. Ðó là những môi trường để rèn luyện chí khí, tập sống chung theo lối dân chủ. Khi các thanh niên họp nhau làm việc, chắc chắn họ muốn quyết định mọi việc chung theo các quy tắc dân chủ; đoàn thể nào không dân chủ thì các bạn trẻ sẽ không muốn gia nhập. Chắc chắn, trong sinh hoạt đoàn thể các bạn trẻ sẽ tập được tinh thần giúp ích, thói quen tôn trọng công ích. Ðời sống tập thể, tự nguyện và tự do, là nơi nuôi dưỡng tinh thần, chuẩn bị xây dựng một xã hội công dân, nền tảng của mọi thể chế dân chủ tự do. Tôi được tin nhiều bạn Hướng đạo ở miền Nam đang tìm cách cho phong trào Hướng đạo được chính thức hoạt động lại, sau khi bị giải tán năm 1975. Họ còn muốn phục hồi lại sinh hoạt Hướng đạo ở miền Bắc. Ðó là những tin mừng. Ước vọng của tuổi trẻ, thế nào rồi cũng thành công!

Thế hệ 36 tuổi nhìn quá khứ khác cách nhìn của thế hệ cha, anh. Cách nhìn thế giới của lớp trẻ bây giờ khác hẳn thời chúng tôi. Họ vượt lên trên biên giới quốc gia, họ thấy một thế giới mở rộng. Chuyện gì xẩy ra ở Tunisia, ở Syria, những người ở lứa tuổi 30 đều biết. Ðặc biệt là những người sống ở nước ngoài, quê hương của họ là cả thế giới. Một người bạn tôi có ba đứa con. Hôm rồi tôi nghe một người khác nói, cháu lớn nhất đang ở Canada, gần đây cháu thứ nhì sang Pháp, còn cô con út đang ở đâu đó bên Tàu! Chính anh bạn này, trước dậy Vật lý ở một đại học Canada nay đã về hưu, tình cờ đang ở Phi Châu vài năm. Anh bạn tôi có lần báo tin mừng: Ðã tìm được một tiệm phở trong thành phố Yaoundé, thủ đô Cameroun! Hai vợ chồng anh đã dậy cách nấu ăn Việt Nam, cho nhiều người bạn ngoại quốc. Cuối Tháng Năm 2011 anh sẽ dậy một lớp về Tứ Diệu Ðế, Bát Chánh đạo và Phật Giáo Việt Nam. Người Việt Nam sống khắp thế giới, địa bàn sống của giới trẻ Việt Nam bây giờ cũng là cả thế giới, không như thế hệ chúng tôi hồi xưa không bao giờ tính chuyện sống ở ngoài nước mình!

Ngay trong giới trẻ ở nước ngoài, nhiều người vẫn thấy mình dính dáng mật thiết với nước Việt Nam, một cách tự nhiên. Hồi 1975, 76, trong một buổi họp với các trưởng Hướng đạo ở Montrea1, tôi bất đồng ý kiến với một bạn trẻ về việc giáo dục trẻ. Tôi đề nghị khi huấn luyện các em lớn lên ở nước này, họ là công dân Canada, có bổn phận với nước Canada, không nên đặt kỳ vọng sẽ dậy các em những bổn phận đối với nước Việt Nam quá xa xôi. Anh bạn tôi, trẻ hơn mươi tuổi, đã kịch liệt phản đối. Anh nghĩ rằng mình phải hun đúc tinh thần yêu nước Việt Nam cho những em sinh ra và lớn lên ở nước ngoài. Vấn đề này chắc bây giờ cũng còn nhiều người tranh luận.

Nhưng anh bạn trẻ của tôi đã làm đúng điều anh tin tưởng. Bây giờ, cô con gái anh ở tuổi 30, sinh ra và lớn lên ở Montreal, đang hoạt động tích cực trong một phong trào trẻ vận động dân chủ tự do cho Việt Nam! Chính cháu đã chọn lý tưởng đó, chọn con đường phục vụ cho quê hương của cha mẹ mình! Cuống rún của cha mẹ vẫn nối liền đến đời con cái!

Con gái tôi, sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở Canada, đã về Việt Nam hồi 30 tuổi, đi thăm quê nội, quê ngoại lần đầu. Cháu kể khi đứng lễ trước ngôi mộ ông nội giữa cánh đồng làng thì cảm thấy rõ ràng mình có liên hệ thân thiết với mảnh đất quê hương và những thế hệ tổ tiên đời trước. Cháu đã tới một làng quê ở Quảng Trị thăm một ngôi trường mẫu giáo nơi mà mẹ con cháu có đóng góp để giúp cô giáo và học sinh. Cháu dậy các em bé những trò chơi và các bài hát Hướng đạo, những bài mà cháu học từ nhỏ. Lòng cháu tràn ngập một niềm vui lớn. Trở về, cháu nói cảm thấy rõ mình là người Việt. Khi dậy nhạc ở Ðại Học Mahidol bên Thái Lan, vợ chồng cháu mời các giáo sư và nhạc sinh Việt Nam sang tham dự những cuộc tập họp và thi tài giữa các nhạc sinh Ðông Nam Á; cháu rất vui mừng khi gặp các nhạc sinh Việt Nam xuất sắc so với nhạc sinh các nước khác. Cháu vẫn hãnh diện về tài năng của người cùng giống Việt như mình.

Những bạn trẻ 36 tuổi ở trong nước không có dịp đi qua những kinh nghiệm đó. Ðối với họ, trách nhiệm đối với dân tộc, với lịch sử, cha ông, là một điều tự nhiên. Họ dính liền với quê hương, nhưng đồng thời cũng coi thế giới có thể là nhà của mình. Hầu như ai cũng khao khát được ra nước ngoài học hỏi. Và những bậc phụ huynh ở thành phố cũng chỉ muốn con mình được đi du học. Thời chúng tôi còn trẻ cũng vậy. Các bạn sẽ học được gì khi ra ngoại quốc? Ðiều quan trọng nhất là tập nếp sống tự do. Cuộc sống tự do có nhiều cách thể hiện lạ lắm!

Con gái một người bạn tôi sinh ra ở Mỹ năm nay chưa 36 tuổi, cháu đã về thăm Việt Nam khi mới ngoài 20. Cháu đi một mình, nhưng về đến nơi thì được họ hàng trong Nam, ngoài Bắc đón tiếp, thương yêu. Trước khi đi Việt Nam cháu không bao giờ nói tiếng Việt, trừ khi bị bắt buộc; nhưng sau một tháng cháu đã nói tiếng Việt thông thạo. Và khi trở về Mỹ cháu nhất định chỉ nói tiếng Việt khi gặp hàng chú bác, bạn bè của cha mẹ. Cháu được “Việt Nam hóa” không phải vì nhờ một tháng “du học” trong nước, mà vì suốt hai mươi năm cha mẹ, cô chú đã làm gương cho cháu những cách ăn ở theo tình nghĩa, đạo lý của người Việt.

Khi về nước, cháu cũng hiến tặng cho bà con họ hàng những món quà mà cháu không ngờ tới. Ðó là phong cách sống rất hồn nhiên, vô tư, thành thật, thẳng thắn của một đứa trẻ lớn lên và sống ở một nước dân chủ. Ở Hà Nội mọi người trong họ đều công nhận cháu là một “con ngố”. Nó ngây thơ, tin tưởng ai cũng như mình. Nhưng họ hàng thấy là “con ngố” này đã được giáo dục y như các cụ dậy ngày xưa. Cứ sống lương thiện, chính trực, tin người và nghĩ ai cũng tin mình, kính cẩn và giản dị khi đối xử với người chung quanh. Quen sống ở nước ngoài, cháu dám bầy tỏ ý kiến riêng của mình, khi muốn nói không là nói không, không hề ngần ngại. Cháu lắng nghe học hỏi và bắt chước ngay những lời nói, cử chỉ do các chú bác, anh em chỉ cho. Cháu tôn kính với mọi người nhưng không có thói quen sợ hãi. Cháu đối xử bình đẳng với bất cứ ai trong xã hội, không phân biệt quan với dân, sang hay hèn. Con bé ngố đó tiêu biểu cho một tâm hồn tự do và trong sáng, giản dị. Một tháng cháu sống trong vòng tay âu yếm của họ hàng bà con, cháu cũng hiến tặng cho mọi người hình ảnh một thanh niên được sống không khí lành mạnh và tự do từ thủa nhỏ. Nhìn cách sống của cháu người chung quanh có thể cảm thấy một nền giáo dục tự do trong một xã hội tự do có thể đào tạo nên những con người lương hảo.

Thế hệ các thanh niên Việt Nam trên dưới 20 tuổi, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều có thể tập lối sống hiền lương chính trực. Cha mẹ các em trong thâm tâm cũng đều muốn như thế. Chính các bạn thanh niên phải chọn lối sống chính đại, quang minh, tin người và giúp đời; các bạn sẽ xây dựng một nước Việt Nam theo lối sống lương hảo. Chắc chắn đó phải là một nước tự do.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Osama bin Laden và một thập kỷ lẩn trốn

Mất hơn 10 năm huy động các nguồn lực tình báo và công nghệ vũ khí, Mỹ mới hoàn tất điệp vụ tiêu diệt trùm khủng bố Al-Qaeda Osama bin Laden,
kẻ bị cáo buộc đứng sau vụ khủng bố lịch sử ngày 11/9/2001.

Image
Tòa tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới tại thành phố New York trong vụ tấn công khủng bố bằng máy bay vào ngày 11/9/2001. Ảnh: BBC.
Mỹ buộc tội Osama bin Laden đứng sau vụ khủng bố năm 2001, khiến hơn 3.000 người thiệt mạng tại tòa tháp đôi WTC New York, trụ sở Lầu Năm góc ở Washington và chiếc máy bay rơi xuống bang Pennsylvania. Tổng thống Mỹ khi đó là George Bush tuyên bố phải tróc nã bin Laden dù “còn sống hay đã chết”. Theo Telegraph, Phó tổng thống Dick Cheney còn bày tỏ rằng ông muốn nhìn thấy thủ cấp bin Laden “đặt trên chiếc đĩa gỗ”.

Tuy nhiên, dù các lãnh đạo cao nhất của Mỹ sôi sục muốn tóm được Osama bin Laden cho bằng được, chiến dịch truy lùng trùm khủng bố này không hề đơn giản. Ông này thường được cho là ẩn náu tại khu vực các bộ tộc hẻo lánh, nằm giữa biên giới hiểm trở Afghanistan và Pakistan và đây cũng là địa bàn được các đơn vị đặc nhiệm Mỹ nhận nhiệm vụ truy sát trùm Al-Qaeda “cày xới”.

Từ thiếu gia thành chiến binh chống Mỹ

Osama bin Laden sinh năm 1957 tại Ảrập Xêút và là con thứ 17 trong đàn con 52 người của tỷ phú ngành xây dựng Mohamed bin Laden. Cha bin Laden là người phụ trách tới 80% hợp đồng xây dựng đường xá của vương quốc dầu mỏ Ảrập Xêút rộng lớn. Khi ông Mohamed qua đời trong một vụ tai nạn trực thăng năm 1968, Osama được thừa kế nhiều triệu USD, nhưng ít hơn so với ước tính 250 triệu USD.

Ngay từ khi đang học ngành kỹ sư dân dụng tại Đại học King Abdul Aziz ở Ảrập Xêút, Osama bắt đầu tìm cách liên lạc với giáo viên và sinh viên mang quan điểm Hồi giáo bảo thủ. Sinh viên con tỷ phú này ngày càng gắn chặt với quan điểm Hồi giáo chính thống và chống lại những thứ mà anh ta cho là sự suy đồi của phương Tây.

Cuộc can thiệp của Liên Xô vào Afghanistan tháng 12/1979 đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời của Osama bin Laden. Bỏ lại cuộc sống nhung lụa ở Ảrập Xêút, người này tới Afghanistan và tham gia cuộc nổi dậy của các chiến binh đạo Hồi mujahideen chống lại quân đội Liên Xô, trong suốt hàng chục năm.

Có một chi tiết ít được người Mỹ nhắc tới là theo các chuyên gia tình báo, Cục tình báo trung ương (CIA) đã đóng vai trò quan trọng trong việc trang bị vũ khí và huấn luyện cho lực lượng mujahideen ở Afghanistan, trong đó có Osama bin Laden, để chống lại quân đội Liên Xô tại đây.

Nhưng cuộc chiến Afghanistan kết thúc, quan điểm của Osama thay đổi hoàn toàn khi chuyển sự căm thù Matxcơva đưa quân sang Afghanistan thành căm ghét Washington vì 300.000 lính Mỹ gồm cả nữ giới đồn trú tại Ảrập Xêút. Mỹ hiện diện quân sự tại nơi có những thánh địa linh thiêng nhất của đạo Hồi này để tham gia cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất chống chế độ Saddam Hussein của Iraq năm 1991.

Trùm khủng bố tương lai coi đây là sự báng bổ đối với sự tinh khiết của đạo Hồi và ấp ủ sự báo thù người Mỹ. Cùng với các chiến binh Mujahideen khác, Osama đưa các kỹ năng chiến đấu và lòng tôn sùng đạo Hồi tới nhiều tổ chức chống Mỹ tại khu vực Trung Đông. Người Mỹ nhanh chóng gây sức ép với đồng minh Ảrập Xêút để tước quyền công dân của bin Laden năm 1994, buộc ông ta phải chạy sang Sudan.

Tháng 1/1996, bin Laden trở lại “chiến trường xưa” Afghanistan với sự căm ghét người Mỹ còn tăng hơn nhiều so với trước. Tình trạng hỗn loạn tại đây với sự hoành hành của các nhóm Hồi giáo như Taliban thực sự là “đất dụng võ” của bin Laden, đặc biệt là từ sau khi Taliban chiếm thủ đô Kabul cuối năm 1996.

Một yếu tố mang tính quyết định để Osama bin Laden dần trở thành chiến binh Hồi giáo có ảnh hưởng nhất thế giới chính là sự giàu có của gia đình và bản thân. Tài sản của Osama tăng không ngừng nhờ những khoản đầu tư sinh lợi trên khắp thế giới, đủ sức cho ông ta chi tiền và điều hành các liên minh chiến binh xuyên quốc gia, thông qua mạng khủng bố Al-Qaeda.

Tháng 2/1998, Osama thay mặt tổ chức Mặt trận thế giới thánh chiến chống Do thái và quân thập tự chinh, công bố chỉ dụ tôn giáo (fatwa), tuyên bố các hoạt động giết chóc người Mỹ và các đồng minh là một nhiệm vụ của tín đồ đạo Hồi. Đúng 6 tháng sau, hai vụ đánh bom nhằm vào sứ quán Mỹ tại Kenya và Tanzania làm 224 người chết và 5.000 người bị thương.

Lập tức Osama bin Laden bị coi là nghi phạm chính và thực sự trở thành cái gai cần nhổ bằng được của người Mỹ. Quân đội nước này đã bắn 75 tên lửa hành trình từ biển vào 6 trại huấn luyện của chiến binh Hồi giáo do Bin Laden chỉ huy ở miền đông Afghanistan, nhưng vẫn không thể tiêu diệt được tên này.

Ngoài hai vụ khủng bố đẫm máu ở Kenya và Tanzania, Osama còn dính líu tới vụ đánh bom tại tòa tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới (WTC) ở New York năm 1993 cùng vụ xe bom ở thủ đô Riyadh và vụ đánh bom xe tải vào các doanh trại ở Ảrập Xêút, làm chết 19 lính Mỹ, năm 1995. BBC dẫn một tuyên bố của bin Laden nhấn mạnh: “Tôi luôn muốn giết người Mỹ vì họ giết chúng tôi”.

Đỉnh điểm trong các hành động bạo lực của Osama bin Laden nhằm vào người Mỹ là vụ khủng bố 11/9/2001, với hình ảnh hai chiếc máy bay bị không tặc lần lượt lao vào tòa tháp đôi WTC ở New York và khiến chúng sập xuống sau đó. Chiếc máy bay thứ ba đâm vào một phần Lầu Năm Góc ở Washington và chiếc thứ tư lao xuống cánh đồng bang Pennsylvania, khi chưa kịp đến mục tiêu khủng bố.

Tổng cộng có hơn 3.000 người thiệt mạng trong vụ 11/9 và sự kiện đẫm máu này khiến Mỹ quyết định phát động cuộc chiến tranh vào cuối năm 2001, chống chế độ Taliban tại Afghanistan, với cáo buộc chính quyền Hồi giáo hà khắc này dung túng cho mạng khủng bố Al-Qaeda của Osama bin Laden.
Image
Một bức ảnh về Osama bin Laden. Ảnh: EPA.
Hơn một thập kỷ lẩn trốn

Một trong những mục tiêu chính để Mỹ phát động chiến tranh Afghanistan năm 2001 là tiêu diệt Osama bin Laden. Tháng 4/2002, họ đã suýt hoàn thành được sứ mệnh này tại khu hang động hiểm trở Tora Bora, nằm giữa Afghanistan và Pakistan. Nhưng Osama đã rời đi từ trước và trốn sang Pakistan, khiến chiến dịch của đặc vụ Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) và các đơn vị đặc nhiệm Mỹ khác thất bại.

Sau đó là những lần Osama bin Laden với tư cách trùm mạng khủng bố Al-Qaeda thỉnh thoảng xuất hiện qua các băng video và ghi âm, kêu gọi chiến binh đạo Hồi chống người Mỹ và các đồng minh. Tháng 2/2003, đoạn băng ghi âm được cho là Bin Laden gửi tới kênh truyền hình Al-Jazeera, trong đó nhấn mạnh: “Tất cả tín đồ đạo Hồi, đặc biệt là những người tại Iraq, cần phải phát động một cuộc thánh chiến chống lại người Mỹ”.

Chỉ có những người rất thân cận mới được nhìn thấy Osama bin Laden và hình ảnh gần đây nhất ghi lại trùm khủng bố này diễn ra vào cuối năm 2011, khi ông ta đang chuẩn bị bỏ chạy khỏi khu vực ẩn náu Tora Bora. Các nguồn tin cho rằng, ông này đã được bộ tộc người Pakistan thân Taliban và chống chính phủ Pakistan che giấu và biệt đãi.

Do đó chiến dịch truy lùng Osama bin Laden của Mỹ thường tập trung vào Pakistan. Sự kiện mang tính bước ngoặt trong chiến dịch này là việc bắt sống nghi phạm khủng bố Khalid Sheikh Mohammed ở Pakistan năm 2003. Đây là chỉ huy trực tiếp các chiến dịch khủng bố của mạng Al-Qaeda và nghi phạm chủ mưu vụ tấn công tòa tháp WTC New York năm 2001.

Việc bắt được Khalid được cho là sự kiện đánh dấu vòng vây xung quanh Osama đang khép chặt. Do đó quân đội Pakistan mở chiến dịch truy lùng quy mô lớn dọc vùng biên giới với Afghanistan từ tháng 5 đến tháng 7/2004. Nhưng một năm sau, Tổng thống Pakistan khi đó là Pervez Musharaf thừa nhận chiến dịch này đã không hoàn thành được mục tiêu là bắt bin Laden.

Trong khi đó, các đoạn băng hình ảnh và âm thanh của Osama bin Laden cùng nhân vật số hai trong Al-Qaeda là Ayman al Zawahiri vẫn thỉnh thoảng xuất hiện trên Internet hoặc truyền hình. Những lần xuất hiện này thường được tính toán gắn với một sự kiện nào đó như trước kỳ bầu cử Mỹ hay các dịp kỷ niệm ngày 11/9, nhằm chia rẽ quan điểm giữa người dân và lãnh đạo các nước phương tây.

Điệp vụ hoàn tất

Đêm 30/4/2011, Osama bin Laden và một số thành viên trong gia đình bị tiêu diệt trong một tòa nhà, nằm bên ngoài thủ đô Islamabad của Pakistan. Sau khi đã nắm trong tay xác của trùm Al-Qaeda và đưa về Afghanistan, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố từ Nhà Trắng lúc 23h New York ngày 1/5 (tức 11h Hà Nội ngày 2/5) rằng trùm khủng bố Osama bin Laden đã bị các lực lượng Mỹ tiêu diệt.

Ông chủ Nhà Trắng cho biết tin tức tình báo về tung tích của trùm Al-Qaeda đang trốn sâu trong lãnh thổ Pakistan xuất hiện từ tháng 8 năm ngoái, nhưng tới đêm 30/4 Mỹ mới xác định chính xác vị trí và hạ sát kẻ bị truy lùng gắt gao nhất trong lịch sử này. Thông tin Bin Laden bị tiêu diệt được tổng thống Mỹ xác nhận đã khiến nhiều người dân nước này vui mừng.

Tuy nhiên việc Bin Laden bị bắn hạ ngay sát thủ đô Islamabad càng làm dấy lên mối lo ngại Pakistan thực sự đã trở thành ‘thiên đường ẩn náu” của các chỉ huy mạng Al-Qaeda. Cái chết của bin Laden sẽ là cú đánh mạnh vào mạng lưới của Al-Qaeda, nhưng cũng khiến nhiều người lo lắng về làn sóng tấn công báo thù của tổ chức khủng bố quốc tế này.

Cựu tổng thống George Bush mô tả việc tiêu diệt được bin Laden là một “thành tựu trọng yếu”. “Cuộc chiến chống khủng bố vẫn đang tiếp diễn, nhưng tối nay nước Mỹ đã phát đi một thông điệp không thể nhầm lẫn rằng: Cho dù có phải kéo dài bao lâu thì công lý cũng sẽ được thực thi”, ông Bush nhấn mạnh.

Người tiền nhiệm của ông là cựu tổng thống Bill Clinton thì tuyên bố: “Đây là khoảnh khắc cực kỳ quan trọng không chỉ cho gia đình những người mất thân nhân trong vụ 11/9 và các vụ tấn công khác của Al-Qaeda, mà còn cho người dân trên toàn thế giới, những người muốn xây dựng một tương lai chung hòa bình, tự do và hợp tác cho những đứa trẻ của chúng ta”.

Đình Nguyễn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Gửi đến quý vị bài viết của một phóng viên Miền Bắc nghĩ gì về ngày 30/4/75. Đọc để suy ngẫm.

Suốt 36 năm dài, một Nhà báo ở Hà Đông đi “tìm mãi yêu thương” khi hoài niệm Ngày 30.4


PARIS, ngày 22.4.2011 (QUÊ MẸ) - Cơ sở Quê Mẹ vừa nhận được bài viết của Nhà báo Nguyễn Thượng Long gửi từ Hà Đông nói lên tâm trạng của cả một thế hệ ở miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa khi nghe tin “chiến thắng 30 tháng Tư năm 1975”. Rồi từ đó, “chiến thắng” ấy đưa dân tộc đi về đâu ? đưa nhân dân vào chốn “thiên đàng” nào ? Tác giả chỉ thấy một Pháp Trường Trắng dựng lên trên đất nước và trong lòng người. Pháp Trường Trắng, nói theo sự ví von của Nhà văn Nguyễn Tuân, là “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết”.

Lâu nay, đa số người hải ngoại thường nghe nỗi lòng người miền Nam trước mối tang thương trầm thống của Tháng Tư Đen. Nhưng ít khi dược nghe nỗi lòng người miền Bắc về bi kịch lớn của dân tộc, thì đây là một trong những tiếng nói ấy của nhà báo Nguyễn Thượng Long.

Xin giới thiệu bạn đọc toàn văn bài viết ấy sau đây :

Hoài niệm Ngày 30 tháng Tư :
TÌM MÃI YÊU THƯƠNG

“Xin kính dâng bài viết này cho Mẹ
và Quê Hương Việt Nam thân yêu”. (NTL)

…Khi những cánh cổng sắt nặng nề của dinh Độc Lập bị các chiến xa và xe tăng Quân Giải Phóng húc đổ vào trưa 30 – 4 – 1975, thì trong một căn phòng nhỏ ở đường Yết Kiêu Hà Nội, có một người đàn ông gương mặt u uẩn, tóc trắng xoá xoã vai đang trầm ngâm bên chén rượu và cây đàn piano, ngay lúc đó, trong tay ông cây đàn đã rung lên những hợp âm làm xao xuyến lòng người :

“Từ nay người biết yêu người,
Từ nay người biết thương người ”.


Người đàn ông đó là nghệ sĩ đa tài Văn Cao và những ca từ, hợp âm trên cũng là tiết tấu chính, cảm hứng chủ đạo cho ca khúc tràn đầy tính nhân bản “Mùa Xuân Đầu Tiên”, cũng là ca khúc cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác văn – thơ – nhạc – hoạ đầy trắc trở của ông.

***

Tôi nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù là người chiến thắng hay là kẻ chiến bại, dù ở đâu trên mặt đất này thì ai ai vào ngày tháng đó cũng thở phào và không ít thì nhiều đều có chung cảm hứng yêu thương nhau như vậy. Nhưng những gì đã diễn ra sau mốc lịch sử đó lại không hoàn toàn như vậy, đến nỗi hơn mười năm sau (1987), ngày ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, nhà văn NHT một lần phải thốt lên : “Vinh quang nào mà chẳng xây trên những nỗi điếm nhục !”. Tôi không biết tâm trạng của anh NHT lúc đó như thế nào mà lại phải thốt lên lời dữ dội như vậy.

Thế hệ chúng tôi và anh NHT sinh ra và lớn lên cùng với sự ra đời của nhà nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Độc lập Tự do Hạnh phúc”. Tuổi ấu thơ chúng tôi trôi đi cùng với những cuồng nộ của một thế thái nhân tình rất xa lạ với những phẩm chất truyền thống của một dân tộc bản chất là hiền hoà. Kí ức đầu đời của thế hệ chúng tôi chưa thể nhạt nhoà về những gì đã đến sau những phát triển quái gở của chủ thuyết “Đấu tranh giai cấp”, về con đường chuyên chính vô sản, về bạo lực cách mạng mà những người cộng sản đã du nhập vào đất nước chúng tôi. Vẫn còn nguyên đó những câu hỏi đầy ám ảnh :

- Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào… rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước !

- Tại sao sau CCRĐ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thay mặt Đảng thanh minh trước quốc dân đồng bào rằng : Một Đảng biết nhận ra khuyết điểm của mình, Đảng đó còn có thể tiến bộ, rồi ông lặng lẽ rút khăn tay lau nước mắt. ( !?).

- Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/4/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.

- Tại sao lại phải mở ra các “Pháp trường trắng” trong vụ đàn áp nhân văn giai phẩm và xét lại chống Đảng. Pháp trường trắng là : “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết” – (Nguyễn Tuân). Thời gian và năm tháng đã trôi qua đã đủ để minh oan cho những con người tài hoa, dũng cảm và trung thực đó. Đến nay trên thực tế không ít người trong họ đã được vinh danh trở lại thì hỡi ôi người còn, người mất, người đang sống nhưng phải sống đời sống thực vật, cỏ cây, người tha hương biệt xứ mãi mãi ôm theo những kí ức đầy ám ảnh nặng nề, tại sao lại phải làm như thế ?

Hôm nay, lại một ngày kỷ niệm 30/4 nữa đến với đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta. Cái ngày lịch sử mà cựu Thủ tướng, cựu Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt đã từng ngậm ngùi mà nói : “Có triệu người vui ! Cũng có triệu người buồn !”. Không biết có phải vì đây là tiếng nói của một lãnh tụ cao cấp mà có tình trạng người vui thì gọi ngày 30 – 4 là ngày “Quốc Khánh”, còn người buồn thì gọi ngày này là ngày “Quốc Hận !”, xin được phép hỏi :

Tại sao sau ngày 30/4/1975 ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hoà hợp, hoà giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận. Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những kí ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi, mong kiếm tìm một vận hội mới. Người chiến thắng không chỉ làm ngơ mà còn không hiếm những kẻ trục lợi dựa trên cuộc tháo chạy kinh hoàng diễn ra trong nhiều năm đã làm biết bao gia đình tan nát, bao nhiêu người phải chết trong tuyệt vọng, phải khuynh gia bại sản, phải nhơ nhuốc vì hải tặc, phải hoài thân trong bụng cá, phải bỏ xác trên đảo hoang. Người sống sót không mấy ai tránh khỏi những sang chấn tinh thần không dễ bình phục.

Sau nhiều năm tha hương biệt xứ, nay người thành đạt, người không thành đạt, nhưng mỗi khi nhớ về quê hương, xứ xở bên cạnh những bồi hồi là nỗi ngậm ngùi : “Tổ Quốc ! Một dĩ vãng cần phải quên đi”. Đến nay đã có nhiều nhân vật nổi tiếng của chế độ VNCH… quyết định tìm về cố quốc với nhiều lý do, nhưng thực ra chỉ để được gửi nắm xương tàn, đã phải nhắm mắt bước qua những thị phi của người trong nước, phải bịt tai trước những la ó, của nhiều tha nhân cùng cảnh ngộ. Đặc biệt trong đoàn người ra đi năm đó, đến nay vẫn có quá nhiều người dường như vẫn chưa ra khỏi những ám ảnh của hận thù, thậm chí nhiều người vẫn thề không đội trời chung, không đứng cùng đất với cộng sản, đó chính là nguyên nhân làm nổ ra những cuộc biểu tình phản đối các vị nguyên thủ hôm nay của Việt Nam khi họ xuất ngoại, đặc biệt khi họ công cán qua những nơi có đông người đồng bào của mình ở & thực tế đã cho hay, cũng chẳng có gì là vui vẻ dành cho các nguyên thủ cũ, các nhân vật nổi tiếng của VNCH khi họ trở về Việt Nam. Sự dè bỉu đến với họ không chỉ đến từ những người Quốc Gia đang ở hải ngoại, mà còn đến từ chính những người dân trong nước. Nhiều người trong nước đã có một thái độ hợp lý đối với họ, nhưng đâu có phải người trong nước nào cũng vui vẻ với họ. Cho đến lúc này, không chỉ ở những hãng thông tấn vỉa hè, tôi chứng kiến quá nhiều người Việt Nam ở trong nước vẫn còn vô tư ngộ nhận rằng năm 1972 chính ông Nguyễn Cao Kỳ đã chỉ huy chiến dịch giải cứu tù binh Mỹ bị giam giữ ở quê hương Sơn Tây của ông ! Hãy nghe mấy ông Nhạc Sĩ Nhân Dân, đỏ ngực là huân chương, huy chương là giải thưởng nhà nước...lườm nguýt, chê bai, dè bỉu những gì về ông Phạm Duy ngay trên những trang báo lề phải.

Sau hơn 36 năm, với những gì mà chúng ta quan sát được cho thấy, ngày 30/4 đâu có hoàn toàn chỉ là biểu tượng của sự toàn bích. Bên cạnh những giá trị tự thân, ngày đó cũng làm xuất hiện những chia rẽ mới rất đáng tiếc đối với nhiều thế hệ người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước như điều mà ông Võ Văn Kiệt đã nói : “Triệu người vui – Triệu người buồn”.

Tôi tin rằng đến nay nếu phải nhắc lại cuộc chiến tranh đó, nghĩ lại những gì đã xẩy ra trong ngày 30 / 4 / 1975, người Mỹ chỉ coi đó là một kỷ niệm buồn cùng với những toan tính thành công và cả không thành công của họ. Điều gọi là“ Hội chứng Việt Nam vẫn còn là bóng ma ám ảnh nước Mỹ” chỉ là sản phẩm của tưởng tượng.

Chưa người Việt Nam nào đã quên Tuyên Bố Thượng Hải ngày 28 /2 /1972. Đó là cuộc mặc cả trên lưng người Việt Nam ở cả 2 miền của Hoa Thịnh Đốn và Trung Nam Hải, là cú “Đi Đêm” đầy tai tiếng giữa Nixon và Mao. Đặc biệt là sau khi Hội Nghị Ba Lê được các bên ký kết, Mỹ chính thức bước ra khỏi cuộc chiến, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà, Mỹ không chỉ có lỗi với đồng minh chiến lược của mình, Mỹ có lỗi với cả dân tộc Việt Nam khi dửng dưng, ngoảnh mặt đi để Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam (1974) và từ đó cho tới ngày 30 / 4 / 1975 trong tiếng gầm thét của cỗ máy chiến tranh trong tay người Việt Nam, chỉ có người Việt Nam chúng tôi ở 2 bên là ngã xuống trong cuộc lao vào nhau, chém giết nhau, thanh toán nhau chí mạng chứ đâu có người Mỹ.

Để khai thông được con đường vào Hoa Lục, ngay từ ngày đó, người Mỹ đã tạo ra một tư thế Địa Lý Chính Trị rất bất lợi cho dân tộc chúng tôi khi chúng tôi phải tồn tại bên cạnh “Anh chàng khổng lồ” đầy tham vọng Trung Quốc đã tay trong tay với Hoa Kỳ lúc mà Liên Xô đồng minh chiến lược của Việt Nam đã quá già yếu.

Hình ảnh một Đặng Tiểu Bình, 10 h sáng 29/1/1979 tại thảm cỏ trước Nhà Trắng, xúng xính trong bộ đồ của một cao bồi miền viễn tây nước Mỹ và những gì mà ông ấy đã nói ở đó về “Mèo Trắng – Mèo Đen”, về kế hoạch sẽ dậy cho bọn tiểu bá côn đồ Việt Nam một bài học đã là quá đủ để nói : Người Mỹ đâu có trắng tay sau cuộc chiến ở Việt Nam. Nếu sau ngày 30 / 4 / 1975 người Mỹ không dang tay đón nhận làn sóng Thuyền Nhân Việt Nam bỏ xứ ra đi…thì hình ảnh Hiệp Sĩ Nhân Quyền Hoa Kỳ chắc chắn sẽ hoen ố, sẽ chẳng ra gì trong con mắt của người Việt Nam.

Về một phương diện khác, tôi nghĩ : nếu người chiến thắng vẫn cứ giữ mãi nỗi hoan hỉ ngày 30 / 4 là ngày đánh dấu sự kiện “Đánh cho Mỹ cút – Đánh cho nguỵ nhào”, chúng ta cũng sẽ rất khó giải thích những chuyển động chính trị trong xã hội Việt Nam những ngày gần đây.

Về mối quan hệ hôm nay giữa Mỹ và Việt Nam, bên cạnh xu thế nồng ấm thì lại mới có một sự cố thật khó hiểu. Chỉ vì đến thăm Linh Mục Nguyễn Văn Lý mà ngài tùy viên chính trị sứ quán Hoa Kỳ bị mấy ông an ninh Huế cho “Lên bờ xuống ruộng” mà sau đó Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng chỉ khiêm nhường bầy tỏ “Sự quan ngại...”, dường như người Mỹ thời Obama không mặn mà với quyền con người cơ bản thì phải ! Người Mỹ đang toan tính gì ? Ban lãnh đạo Việt Nam đã gửi đi thông điệp gì từ vụ ra tay này ? Không biết dân tộc chúng tôi sẽ đi về đâu trong tư thế Địa Lý - Chính Trị mới với sự xưng hùng xưng bá ngày càng công khai của Trung Quốc, sự lùi bước đã đến giới hạn cuối cùng của ban lãnh đạo Việt Nam trước Thiên Triều, sự ngày càng xa rời những mục tiêu dân chủ của nước Nga đồng minh cũ của Việt Nam, sự suy yếu trông thấy của siêu cường Nhật Bản, sự vùng lên của Bắc Phi và Trung Đông, cùng với sự hiện diện ngày càng sâu của sức mạnh Hoa Kỳ trên Biển Đông và Đông Nam Á. Đây là câu hỏi bỏ ngỏ xin dành cho tất cả mọi người Việt Nam còn quan tâm tới thời cuộc.

Chúng ta vẫn thường tự tôn về truyền thống văn hiến hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, trong khi đó nước Mỹ chỉ mới lập quốc hơn 230 năm, nhưng sau chiến tranh Nam – Bắc Mỹ (1862 – 1865), giữa bên chiến thắng và bên chiến bại … họ đã có cách hành xử hòan toàn khác chúng ta là : Lấy sự hoà hợp thay cho oán thù.

Sau ngày 30/4/1975, không làm như người Mỹ, chúng ta cũng chẳng làm như tổ tiên chúng ta đã làm trong những tình huống tương tự. Những gì đã diễn ra sau thời điểm đó được hiểu như một cuộc tính sổ không cần thiết giữa kẻ thắng và kẻ bại trận. Nhiều người thuộc thế hệ tôi đã từng đặt ra một hoán vị giả định :

Sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Nam họ sẽ sống với Đảng cộng sản. Đảng sẽ dúi vào tay họ khẩu AK47 được sản xuất từ Liên Xô. Nam vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân của miền Bắc. Họ sẽ sống với những người quốc gia. Trong tay họ là những khẩu AR15 được sản xuất ở Hoa Kỳ hay ở Tenavip. Điều gì sẽ xảy ra đây ? Lịch sử sẽ phải viết khác đi chăng ? Tôi nghĩ rằng không thể. Người miền Nam mà sống ở miền Bắc cũng sẽ biết thế nào là đấu tố trong cải cách ruộng đất, thế nào là :

“Mang bục công an đặt giữa trái tim người,
Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước”
(Lê Đạt)



sẽ phải thắt lưng buộc bụng, phải làm viêc bằng 2 để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn phải dốc sức để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” như lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh. Người miền Bắc sống ở miền Nam cũng làm sao mà tránh khỏi những ngày quân trường Thủ Đức, có học hành chút ít như trang lứa chúng tôi tránh sao khỏi những ngày võ bị Đà Lạt ! Rồi tất cả cũng phải dốc sức để “Bắc Tiến”, để “Lấp sông Bến Hải !”, dốc sức để “Kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17” như lời kêu gọi của ông Ngô Đình Diệm, phải tiếp thụ những huấn thị : “Đừng nghe những gì cộng sản nói – Hãy nhìn xem những gì cộng sản làm” của ông Nguyễn Văn Thiệu, phải cầm phấn viết tên mình lên những trái bom sẽ ném xuống đầu người dân Miền Bắc như những gì mà ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng phải làm lần ông ra sân bay Đà Nẵng.Và nếu như lịch sử lại có một kết cục ngược lại, ngày 30 /4 / 1975 lại kết thúc chiến tranh ở Hà Nội ! thì liệu người dân Miền Bắc có thoát được những cuộc tập trung cải tạo để tẩy não như ngày nào ông Diệm “Tố Cộng”, lê máy chém đi lấy đầu cộng sản theo Luật 10/ 59 ! Vậy là bi kịch vẫn đến với dân tộc chúng ta như một thứ tiền định.


Thế thì không chỉ người dân mà những kẻ buộc phải cầm súng ở cả hai bên xét cho cùng đều là những quân cờ vô tội trên bàn cờ xung đột ý thức hệ do những triết thuyết ngoại lai chi phối. Hoàn toàn đúng như những gì mà nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài thơ “Tổ quốc nhìn từ xa” :

“Xét cho cùng với mọi cuộc chiến tranh
Một bên thắng còn nhân dân đều bại !”


Nếu các “Đấng chăn dân” ở cả hai bên cùng nghĩ được như thế, thảm kịch đã không xảy ra. Kho tàng tiếng Việt đã không phải xuất hiện những cụm từ quá biểu cảm “Thuyền nhân” (Boat People để chỉ những người bỏ quê hương ra đi bằng thuyền). Sau này là cụm từ “Dân oan” ( Chỉ những người dân gặp phải oan ức trong đời sống Việt Nam đương đại). Vào những tháng năm ly loạn đó, không một ai nghĩ rằng lại đến lúc những kẻ : “Macô, đĩ điếm, lười lao động đáng nguyền rủa” lại được Đảng ta “Trìu mến” gọi là “Khúc ruột ngàn dặm !”… Không mấy ai nghĩ được lại có lúc nhiều tỉ USD hàng năm đã lăn ngược những con đường đầm đìa nước mắt của những thuyền nhân bỏ xứ lăn tìm trở về tiếp máu cho đất nước đang ngày càng tụt hậu với khu vực và quốc tế, đang loay hoay kiếm tìm “Chiếc Lá Diêu Bông” xã hội chủ nghĩa !. Điều này là một bất ngờ là một trớ trêu của lịch sử dân tộc. Nhưng lần này có thể nói đó là một trớ trêu có hậu.

Hôm nay, Đảng đã hạ mình nhận anh, nhận em với những người bỏ xứ. Ngay từ Xuân Mậu Tý, ông Nguyễn Minh Triết - Chủ Tịch nước, ông Phạm Thế Duyệt nguyên UVBCTĐCSVN, nguyên Chủ Tịch MTTQVN, ông Nguyễn Cao Kỳ - Nguyên Phó Tổng Thống, Nguyên Thủ Tướng VNCH, ông Đỗ Mậu – Nguyên Tổng Thanh Tra quân lực VNCH, ông Phạm Duy – Nguyên cán bộ văn hoá kháng chiến của chiến khu Việt Bắc, một trong ba nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc Việt Nam đương đại ( Phạm Duy – Văn Cao – Trịnh Công Sơn) đã hoà hợp dân tộc ở mức tay trong tay mà ánh mắt nhìn nhau chưa hết bẽ bàng !

Vào thời điểm tôi đang viết những dòng chữ này, các Fan hâm mộ các ca sĩ hải ngoại của cư dân nơi tôi ở đang vô cùng háo hức đón chờ thế hệ hậu duệ của những tài danh Chế Linh (Chế Phong), người hùng Biệt Động Quân Duy Khánh với quý tử Chế Phi cùng với những siêu sao cỡ Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, Elvis Phương, Trường Vũ, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên… đã “Nối vòng tay lớn” điều mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ao ước ngay từ buổi trưa 30/ 4 của 36 năm về trước ! Sao lại phải muộn màng đến như vậy ! Đây thực sự là hoà hợp hay chỉ là một thứ chính trị thớ lợ !?...Hay đây là một dẫn chứng sinh động cho điều mà ông Võ Văn Kiệt đã từng nói : “Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ Quốc Việt Nam không của riêng một ai, một Đảng, một phe phái, hay một tôn giáo nào”. Những cuộc “Nối vòng tay lớn” tương tự đã, đang và có thể sẽ còn diễn ra dồn dập hơn nữa, liệu quá trình đó có làm lu mờ đi vừng hào quang của chiến thắng 30/4/1975 ?

Câu trả lời đã quá rõ : Chúng ta đã “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của… (không) trí tuệ” ( Hà Sĩ Phu) và cái giá của cuộc tương tàn để có một xã hội như thế này…thật là thê thảm & vô nghĩa. Tôi nghĩ, nếu được làm lại thì những người Việt Nam yêu nước, thương nòi, có văn hoá, có nhân cách, có lòng tự trọng… sẽ hành xử khác những gì mà những người chiến thắng đã làm sau ngày 30 – 4 – 1975.

Thử hỏi trong lịch sử dân tộc, có giai đoạn nào, có thời kỳ nào và vì ai mà nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì chia rẽ, vì ngờ vực lẫn nhau lại dai dẳng, bi thương, sâu sắc & nghiêm trọng đến như vậy ! Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao ? Ai là người có lỗi trước tiền nhân ? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây ?

Thế mới biết : Con đường để Việt Nam đi đến dân chủ là không hề đơn giản như tên gọi của các loài hoa. Ngày mà người Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước có được một tiếng nói chung, một lộ trình chung, một đề án chung để Tổ Quốc Việt Nam hiện diện trong thế giới nhốn nháo này ở tư thế ngửng cao đầu, xứng tầm với những gì mà dân tộc lẽ ra phải được khẳng định từ lâu rồi, những gì mà Văn Cao ao ước :


“Từ nay người biết yêu người,
Từ nay người biết thương người”.



có lẽ vẫn còn xa vời lắm và lại như một định mệnh, với “BỮA TIỆC DÂN CHỦ” của nhân loại, chúng ta sẽ vẫn chỉ “MÃI MÃI LÀ NGƯỜI ĐẾN SAU”.

Lời cuối : Khi giao tiếp với cuộc đời, tôi đã phải nhân danh rất nhiều tư cách. Khi tôi chống tiêu cực trong giáo dục, khi tôi bênh vực những người là dân oan, khi tôi cầm lá phiếu đi bầu, khi tôi tự ứng cử Quốc Hội 12, khi tôi “Sống, làm việc theo Hiến Pháp và Pháp Luật”, khi tôi thực thi những gì trong các Tuyên Ngôn – Công Ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện, khi tôi thực thi quyền tự do ngôn luận , tự do báo chí, quyền được phản biện và bảo lưu chính kiến của mình…đấy là tôi sống với tư cách một “Con Người Chính Trị”, “Con Người Công Dân”. Khi tôi phải gồng mình lên trước những nghịch cảnh đến từ thiên nhiên , đến từ chính đồng loại của mình theo kiểu “Con giun xéo lắm cũng quằn”, hoặc khi tôi đi theo tiếng hú gọi từ “Nơi Hoang Dã” …ấy là tôi đã sống trong tư cách của “Con Người Bản Năng – Con Người Sinh Học” và dù phải hiện diện trong trong tư cách nào thì tất cả phải chung một mẫu số CHÂN – THIỆN – MỸ. Để viết bài này, tôi đơn giản chỉ nhân danh là “Con Người Chính Trị”, “Con Người Công Dân” khi bầy tỏ những hoài niệm của tôi về ngày 30 / 4 / 1975, mốc thời gian đã đi vào lịch sử của dân tộc với biết bao hệ luỵ chi phối tới đời sống tinh thần của toàn thể cộng đồng.

Có thể lắm, khi đọc bài viết này, sẽ có người lên án tôi, bóc mẽ tôi chỉ vì tôi không suy nghĩ như họ. Xin mời ! Tôi chủ trương không đối lời, không tranh biện. Tôi “không…” không phải là tôi không dám…tất cả cũng chỉ vì tôi là một tín đồ của ĐA NGUYÊN, là tín đồ của đa nguyên, tôi chấp nhận mọi ý kiến đối lập.

Nhân đây tôi có lời minh định về việc có một số trang báo khi khai thác bài “Cách Mạng đâu có đơn giản chỉ là hiệu ứng của đám đông” của tôi, đã có sự biên tập không chính xác so với văn bản gốc. Cụ thể, tôi viết : “Với tư cách là một con người chính trị…”, đã được biên tập lại thành : “ Với tư cách là một người hoạt động chính trị…”. Việc xuất hiện động từ “Hoạt Động” trong cụm từ “một người hoạt động chính trị” đã gây ra những ngộ nhận không đúng về tôi.

Những sai lạc này là đáng tiếc, rất cần được nhìn nhận và rút kinh nghiệm./.

Thành phố Hà Đông những ngày đầu tháng 4 năm 2011
Nhà Báo : NGUYỄN THƯỢNG LONG
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ông nông dân từng ném bom Tân Sơn Nhất

Giác ngộ cách mạng vỏn vẹn hai tuần, anh Trần Văn On là một trong năm phi công đảm nhận trận oanh tạc vào sân bay Tân Sơn Nhất cách đây 36 năm. Sau ngày giải phóng đất nước anh trở thành một nông dân thực thụ.

Một ngày cuối tháng 4-2011, chúng tôi về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, tìm gặp anh Trần Văn On, người cầm lái một trong năm chiếc máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28-4-1975.

Được chọn vào Phi đội Quyết Thắng

Cuối tháng 3-1975, ta giải phóng Đà Nẵng, ngày 16-4-1975 thì giải phóng Phan Rang. Trong những máy bay thu được ở Đà Nẵng và Phan Rang có sáu chiếc phản lực ném bom A-37 với đầy đủ đạn dược.

Với quyết tâm sớm chấm dứt chiến tranh, ngày 19-4-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân tham gia chiến dịch, mở thêm mặt trận trên không. Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định sử dụng phương án dùng số máy bay thu được của Mỹ đánh bom vào Sài Gòn để gây bất ngờ.

Tuy nhiên, nhóm phi công lúc bấy giờ chỉ có Nguyễn Thành Trung từng lái máy bay Mỹ. Các phi công từ miền Bắc chỉ quen lái máy bay MiG của Liên Xô.
Image
Trần Văn On (bìa phải) trong một lần họp mặt cùng Phi đội Quyết Thắng. Ảnh: H.LỘC (chụp lại)

Trong nhóm hàng binh tại Đà Nẵng, Trung úy Trần Văn On tỏ thái độ giác ngộ cách mạng. Đó là một phi công A-37 được đào tạo bài bản ở Mỹ. Ngay trong đêm 19-4, Trần Văn On và một số thợ lái vừa ra trình diện bắt tay ngay vào việc sửa chữa chiếc máy bay A-37 mà ta thu được ở Đà Nẵng. Đến chiều ngày 20-4, chiếc A-37 đã nổ máy và có thể cất cánh. Ngày 21-4, Quân chủng Phòng không-Không quân quyết định chọn Trần Văn On cùng Nguyễn Thành Trung huấn luyện một số phi công vừa từ Hà Nội vào lái A-37.

Bước đầu các phi công lúng túng với kiểu máy bay hoàn toàn khác lạ. Trước đây, họ chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích chiến đấu trên không để đánh chặn. Lần này nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A-37 mà trước đó còn là đối thủ của MiG trên bầu trời để làm nhiệm vụ oanh tạc mục tiêu. Những nút điều khiển bằng tiếng Anh trên chiếc A-37 được thay bằng tiếng Việt cắt dán lên. Chỉ sau hai ngày huấn luyện, các phi công lần lượt bay thử thành công.

Trận ném bom chiến lược

Trưa 27-4-1975, các phi công chuyển vào sân bay Phù Cát - Bình Định với nhiệm vụ hoàn toàn bí mật. Tại đây, phi đội chiến đấu được thành lập lấy tên “Phi đội Quyết Thắng”, gồm các phi công Nguyễn Thành Trung, Từ Để, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng và Trần Văn On. Phi đội nhận năm máy bay A-37, mỗi chiếc được lắp bốn quả bom 500 kg, hai quả bom phá 250 kg và bốn thùng dầu phụ chuẩn bị cho chuyến bay xa. Đúng 9 giờ 30 ngày 28-4-1975, cả phi đội rời sân bay Phù Cát hạ cánh xuống sân bay Thành Sơn (Phan Rang) sau 1 giờ bay để rút ngắn khoảng cách với Sài Gòn.

“Đến sân bay Thành Sơn chúng tôi mới nhận nhiệm vụ, mục tiêu tấn công là khu vực để máy bay chiến đấu, đường băng, kho bom đạn của không quân ngụy tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phải ném bom chính xác vào mục tiêu, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhân dân và hai đoàn đại biểu của ta trong ủy ban quân sự bốn bên đang ở trại David tại sân bay Tân Sơn Nhất. Nguyễn Thành Trung thay mặt phi đội hứa với Quân chủng sẽ thực hiện nghiêm mệnh lệnh, bảo đảm bí mật, bất ngờ, công kích mãnh liệt, chính xác, trở về an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó” - anh On hồi tưởng.

Cả phi đội thảo luận tác chiến, phân công vị trí bay trong đội hình, tổ chức hiệp đồng, dự kiến tình huống, cách xử trí. Đường bay được chọn là từ Thành Sơn hướng ra Vũng Tàu rồi vòng về Sài Gòn. “Trong quá trình bay, tất cả chúng tôi không được dùng bộ đàm buồng lái được trang bị sẵn trên máy bay mà phải dùng vô tuyến đối không vừa trang bị thêm để đảm bảo tuyệt đối bí mật” - anh On kể lại.
Image
Trần Văn On và kỷ vật là chiếc A-37 mô hình. Ảnh: H.LỘC
Đúng 16 giờ 30 ngày 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng xuất kích. Để tránh tiêu hao nhiên liệu, tốc độ bay khoảng 230 knot/giờ (tương đương 370 km/giờ, 1 knot = 1,6 km - PV). Đối với loại máy bay cường kích đây là tầm bay thấp để tránh rađa địch.

Chập choạng tối, cả phi đội đã đến Tân Sơn Nhất mà địch không hề hay biết. Từng dãy máy bay quân sự, dân sự, ôtô, nhà kho hiện rõ phía dưới. Nguyễn Thành Trung phát lệnh tấn công, cả phi đội lần lượt bổ nhào xuống nhằm vào khu đỗ máy bay quân sự, đường băng, kho xăng cắt bom. Hoàn thành nhiệm vụ, cả năm chiếc máy bay trở về sân bay Thành Sơn an toàn.

Phi công làm ruộng

Sau giải phóng, Trần Văn On tiếp tục tham gia chiến đấu trong chiến tranh biên giới Tây Nam. “Tôi có ba lần oanh tạc đảo Vai, mở đường cho bộ binh của ta chiếm lại đảo” - anh On kể. Sau chiến tranh biên giới, anh xin ra quân, lặng lẽ về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, trở thành một nông dân thực thụ, tỉ mẩn cần cù chăm sóc vợ con.

Cuộc sống khó khăn, vợ anh nghỉ nghề giáo viên, ở nhà cùng anh cày cấy bốn công ruộng để nuôi sáu mặt con. Những ngày nông nhàn, anh On làm thuê đủ nghề để kiếm tiền. Hôm chúng tôi đến, vợ chồng anh On đang tất bật với đàn heo nái. Anh On cho biết mảnh ruộng nhỏ xíu anh đã chia một phần cho người con trai ra riêng. Lâu nay, anh phải chăn nuôi thêm mới đủ sức lo cho các con ăn học. Ngay trận dịch cúm gia cầm đầu tiên, cả nhà anh lao đao vì toàn bộ đàn gà bị tiêu hủy. Sau bận đó, vợ chồng anh chuyển sang nuôi heo. Giá cả thị trường lên xuống thất thường nhưng người chiến binh năm nào vẫn kiên trì bám trụ.

Dẫn chúng tôi đi thăm căn nhà cấp bốn nhỏ xíu, anh On khoe, đây là thành quả lao động suốt mấy chục năm qua của vợ chồng anh, còn “tài sản” lớn nhất bây giờ là các con. Sáu người con đều rất ngoan hiền, hiếu thảo và thương yêu nhau.

Mân mê chiếc A-37 mô hình bằng nhôm nhỏ xíu mà đồng đội tặng làm kỷ niệm, anh On kể về quãng đường “đăng lính” của anh ngày xưa. Học xong tú tài, lệnh tổng động viên năm 1968 buộc anh dẹp bỏ giấc mơ kỹ sư cơ khí chế tạo để cầm súng ra trận. “Những tháng ngày quân ngũ, rồi 18 tháng đào tạo lái máy bay ở Mỹ, quay về Việt Nam trong màu áo quân lực Việt Nam Cộng hòa, tôi quá sức chán chường khi phải tham gia cuộc chiến và chỉ mong nó kết thúc!” - anh On tâm sự. Chúng tôi hỏi khi cầm lái chiếc A-37 tham gia ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong lúc Sài Gòn chưa được giải phóng, ở vị trí bay cuối, anh có thể rời bỏ đội hình, anh có ý nghĩ quay về với chế độ cũ không. Anh trả lời rất nhanh “Không! Khi quyết định ra trình diện quân cách mạng và đề đạt nguyện vọng xin được tham gia chiến đấu là mong sớm chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa!”.


Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất mà anh nhận vào đúng ngày 30-4-1975 được treo trang trọng giữa nhà, ghi: “Đồng chí Trần Văn On đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống Mỹ cứu nước”. Đây là chứng vật chứng minh anh là người lính quân giải phóng. Nhưng sau hơn 36 năm với chiến tích oai hùng, từng tham gia trận ném bom lịch sử vào sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều trận ném bom khác trên chiến trường biên giới Tây Nam, Trần Văn On vẫn chưa được công nhận là cựu chiến binh.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Mặt trái đàng sau

Lữ Giang
Tin về cái chết của Bin Laden vẫn đang được bàn tán khắp nơi ở Mỹ cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, giữa các sự kiện có thật, chúng ta thấy có nhiều thông tin được công bố hình như chỉ nhắm mục tiêu chiến tranh tâm lý hay đánh lạc hướng dư luận, nên có nhiều nghi vấn và rất khó giải thích. Chuyện Bin Laden bị giết là một thí dụ điển hình. Lúc đầu, nguồn tin nói “một phụ nữ bị đưa ra làm lá chắn sống” đã bị bắn chết. Sau đó, cơ quan an ninh Pakistan cho biết họ đang giữ người đàn bà đó, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Jay Carney lại nói “bà này nhảy xổ vào lính Mỹ và bị bắn ở chân nhưng không bị giết.”!

Tin lại nói rằng việc khám phá ra nơi ở của Bin Laden là nhờ lấy khẩu cung từ những nghi can khủng bố bị bắt từ trước, trong đó có Khalid Sheikh Mohammed và Abu Faraj al-Libi. Hai người này đã khai ra người giao liên rất được Bin Laden tin cẩn nên CIA đã theo dõi người này và tìm ra manh mối, v.v. Nhiều người coi tin này chỉ là một huyền thoại hay một loại “thông tin ảo”. Bin Laden đã từng được CIA huấn luyện về tình báo và tổ chức tình báo, chắc chắn phải hiểu rằng khi có một người thân cận trong tổ chức bị bắt là phải thay đổi toàn bộ cơ cấu hoạt động đề đề phòng người bị bắt bị khai thác, tiết lộ các sinh hoạt nội bộ, v.v. Một người bị truy nã như Bin Laden cũng không bao giờ cư trú lâu tại một chỗ. Nếu Bin Laden cư ngụ ở ngôi nhà bị bắt lâu rồi, điều này chứng tỏ ông đã ngưng hoạt động.

Dĩ nhiên, chính phủ Hoa Kỳ đã tính toán phải trình bày như thế nào để tin Bin Laden bị giết có thể gây ảnh hưởng tốt trong dư luận, nhất là ở Mỹ, vì nó có ảnh hưởng đến cuộc bầu cử sắp tới. Do đó, không thể chỉ nhìn vào những gì do hệ thống thông tin tinh xảo của cơ quan tình báo Mỹ đưa ra để tìm hiểu sự thật được. Phải đọc những bài phân tích khách quan do các nhà nghiên cứu trình bày mới có thể thấy được mặt trái đàng sau.

CON ĐƯỜNG CHỐNG MỸ

Các nhà nghiên cứu đã viết khá kỹ và khá nhiều về tiểu sử của Osama Bin Laden. Tuy nhiên, các cơ quan truyền thông Mỹ đã bỏ đi hết những điểm không có lợi khi nhắc lại tiểu sử của ông sau khi ông vừa bị bắn chết. Vì phạm vi của một bài báo, chúng tôi cũng chỉ tóm lược những điểm chính.

1.- Vài nét về buổi thiếu thời

Osama bin Laden sinh năm 1957 tại A-rập Saudi, mẹ là người Syria, cha là người Yemen. Cha ông có 10 bà vợ và 53 người con. Osama bin Laden là người con duy nhất của một trong 10 bà vợ đó. Cha ông là Mohammed Awad bin Laden đã trở thành một nhà quyền qúy ở Arập-Saudi. Năm 1970, khi Osama bin Laden mới lên 13 tuổi, cha ông qua đời và ông đã được thừa hưởng một phần gia tài khá to lớn do người cha để lại.

Năm 1981, Bin Laden tốt nghiệp khoa kinh tế và canh nông tại Phân Khoa Quốc Gia Hành Chính, trường đại học Vua Abdul-Aziz ở Jeddah, A-rập Saudi. Ông quen biết rất nhiều nhân vật quyền thế trong khối Hồi Giáo và có tinh thần đấu tranh rất cao.

2.- Con đường đi theo Mỹ

Năm 1978, Noor Taraki làm đảo chánh ở Afghanistan và thiết lập một chế độ thân cộng. Người kế vị Taraki là Babrack Karmal đã liên kết chặt chẽ với Liên Sô. Các tổ chức Hồi Giáo nổi lên chống đối, định lật đổ Karmal. Liên Sô đem quân vào bảo vệ chế độ Karmal. Chiến tranh chống ngoại xâm bắt đầu. Khoảng 7 triệu người Afghanistan (1/3 dân số) tản cư qua các nước lân cận, nhất là Pakistan.

Osama bin Laden đã đến Karachi ở Pakistan, tìm cách giúp các trại tị nạn Afghanistan ở Pakistan rồi trở lại A-rập Saudi tổ chức quyên góp tiền bạc để giúp các tín hữu Hồi Giáo Afghanistan mở cuộc thánh chiến chống Liên Sô. Năm 1982, Ông vào sâu trong lãnh thổ Afghanistan để tham gia vào các trận đánh và thành lập một trạm giao liên tại Peshawar để dưỡng quân.

Thấy Bin Laden là người có khả năng và có quyết tâm, cơ quan CIA của Hoa Kỳ đã huấn luyện Bin Laden thành một người biết tổ chức tình báo và chiến đấu có kỷ thuật cao để chống lại Liên Sô. Năm 1986, với sự giúp đỡ của CIA, Bin Laden thành lập những trại huấn luyện riêng của mình và trong 2 năm đã xây dựng được 6 trại. Hoa Kỳ đã viện trợ vũ khí và phương tiện cho Bin Laden, nhờ vậy ông đã trực tiếp điều khiển các binh sĩ mở 5 trận đánh lớn với quân Liên Sô và hàng trăm trận giao tranh lẻ tẻ, làm quân Liên Sô điêu đứng.

3.- Afghanistan bị Mỹ bỏ rơi

Tháng 4 năm 1988, Nga phải ký hiệp ước với Hoa Kỳ, Pakistan và Afghanistan chấm dứt chiến tranh, quân Nga rút khỏi Afghanistan năm 1989.

Ngay sau đó, thay vì giúp Afghanistan tái thiết và hình thành một chính quyền mạnh để ổn định tình hình, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Afghanistan. Do các cuộc tranh chấp, cảnh hổn loạn xẩy ra. Năm 1996 phe Hồi Giáo Taliban chiếm được chính quyền tại Afghanistan và áp dụng một chế độ theo luật Hồi Giáo rất nghiêm khắc dưới sự lãnh đạo của Giáo chủ Mullah Mohammad Omar, thường được gọi là Emir al-Momineen.

4.- Quay lại chống Mỹ

Khi Liên Sô rút chạy khỏi Afghanistan, Bin Laden trở về A-rập Saudi. Ngày 22.5.1990, nước Cộng Hòa Yemen được thành lập. Hai phe thân Tây phương và theo Cộng Sản tranh chấp nhau. Liên Sô yểm trợ cho nhóm theo Cộng Sản ở Nam Yemen nổi lên giành chính quyền. Bin Laden quyết định mở cuộc thánh chiến chống Liên Sô. Chính quyền A-rập Saudi sợ ông đem chiến tranh vào A-rập Saudi nên quản chế ông.

Ngày 2.8.1990 Saddam Hussein đem quân xâm lược Kuwait. Bin Laden hô hào khối A-rập giúp Kuwait đẩy lui sự xâm lược của Iraq. Ông đề nghị đưa 4.000 quân Mujahedin của ông từ Afghanistan về bảo vệ A-rập Saudi, nhưng đề nghị của ông đã bị bác bỏ.

Chỉ vài tuần sau, Mỹ tiến vào A-rập Saudi để giải phóng Kuwait khiến Bin Laden bất mãn. Ông cho rằng vấn đề của người A-rập phải để người A-rập giải quyết với nhau, Mỹ không được can thiệp vào. Từ đó, Bin Laden bắt đầu chống Mỹ.

Ông thành lập trại huấn luyện để huấn luyện kháng chiến quân, nhưng bị cảnh sát A-rập Saudi khám phá ra và bắt ông phá hủy. Ông tức giận, đem khoảng 4000 người ông chiêu mộ được chạy qua Afghanistan vào tháng 4 năm 1991. Do sự thúc đẩy của Mỹ, tình báo A-rập Saudi và Pakistan đã nhiều lần tổ chức bắt cóc hay giết Bin Laden, nhưng không thành công.

Cuối năm 1991 Bin Laden chạy qua Sudan và giúp chính phủ này. Tại đây ông bị tình báo A-rập Saudi mưu sát hụt một lần. Ông liền tổ chức nhiều cuộc khủng bố nhắm vào người Mỹ. Đầu năm 1996, Bin Laden lại quay về Afghanistan và chính thức công bố “Tuyên Ngôn Chiến Tranh” với Hoa Kỳ theo nghĩa là đuổi hết Mỹ ra khỏi bán đảo Ả Rập. Khẩu hiệu là “Kill American Everywhere” (Giết người Mỹ ở khắp nơi).

Tháng 5 năm 1998 Bin Laden thành lập tổ chức “International Islamic Front for Jihad against America and Israel” (Mặt Trận Hồi Giáo Quốc Tế ủng hộ Jihad chống Mỹ và Israel) và tổ chức Al-Qaeda theo đuổi các vụ khủng bố quốc tế. Tổng Thống Cliton đã đặt giải thưởng 5 triệu Mỹ kim cho ai bắt được Bin Laden, nhưng cho đến nay Bin Laden mới bị giết.

5.- Những tổn thất gây ra

Nhiều vụ khủng bố lớn do Al-Qaeda thực hiện đã diễn ra trên khắp thế giới như: Vụ đặt bom tại World Trade Center vào ngày 26.2.1993, có 6 người chết và hơn 1000 người bị thương. Vụ đặt bom tại căn cứ huấn luyện Vệ Binh Quốc Gia tại A-rập Saudi vào ngày 13.11.1995, làm 60 người bị thương, trong đó có 34 người Mỹ. Vụ đặt bom tại căn cứ không quân King Abdul Aziz, gần Dhahran, A-rập Saudi, vào ngày 25.6.1898, có 19 người chết, ít nhất 300 người bị thương, v.v.

Sau cuộc tấn công vào tòa tháp đôi của Mỹ ở New York ngày 11.9.2001, Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công vào Afghanistan và Iraq để tiêu diệt Bin Laden và Al-Qaeda. Cuộc chiến này đã đưa lại những thiệt hại tổng quát như sau:

- Ngân sách Mỹ đã tốn khoảng 3000 tỷ USD cho hai cuộc chiến nói trên và các chiến dịch chống khủng bố khác trên thế giới.

- 6003 binh sĩ Mỹ và 543 binh sĩ Anh đã thiệt mạng tại hai chiến trường Iraq và Afghanistan từ năm 2001 đến nay.

- 109.895 dân thường bị giết ở Iraq kể từ khi Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq.

- 30.452 người ở Pakistan bị thiệt mạng kể từ khi cuộc chiến “chống khủng bố” được khai hỏa, trong đó có 2795 binh sĩ Pakistan.

- Tại Afghanistan, tính đến ngày 25.1.2009, cuộc chiến đã gây ra cho 19.529 người bị chết và 51.924 bị thương.

Qua hai cuộc chiến, dân của các nước Mỹ, Anh, Afghnistan, Iraq và Pakistan đã bị thiệt hại quá lớn, nhưng các nhà đại tư bản khai thác dầu lửa và đấu thầu quốc phòng của Mỹ đã thu được một số lợi không nhỏ.

ẢNH HƯỞNG CÁI CHẾT CỦA BIN LADEN

Đài BBC ngày 3.5.2011 đã cho phổ biến bài “Cái chết của Bin Laden 'không đáng kể'?” tóm lược những nhận xét của nhiều người về cái chết của Bin Laden, nhất là của hai ký giả Tony Karon của tạp chí Time và Barry Lando của Huffington Post.

Mở đầu, bài báo nhắc lại các quan chức Hoa Kỳ nói “công lý” đã đến với Osama Bin Laden và cái chết của ông ta đã mang lại sự mừng rỡ ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ với những cảnh ăn mừng trên đường phố. Nhưng nhiều người đã nhận định rằng ảnh hưởng cái chết của Bin Laden không lớn như người và không có nhiều ý nghĩa ngoại trừ việc giải tỏa sự uất ức của người Mỹ sau vụ tấn công 911.

Nhà báo Tony Karon nói rằng cái chết của Osama Bin Laden không đồng nghĩa với cái chết của Al-Qaeda. Qua cuộc phỏng vấn của ban tiếng Arab của BBC, người Hồi giáo cũng có cái nhìn khác nhau trước tin Bin Laden bị bắn chết.

Ông Amro Waheed từ Ai Cập nói: "Người Arab không muốn thấy sự can thiệp của Hoa Kỳ, nếu Hoa Kỳ muốn chiến thắng Al-Qaeda, họ cần ngay lập tức rút khỏi Iraq, Afghanistan và Pakistan và để người dân tự quyết định số phận của họ." Còn ông Alaa Al-Dardour từ Jordan nói: "Cái chết của Osama Bin Laden không đồng nghĩa với cái chết của Al-Qaeda. Ý thức hệ Al-Qaeda không phải là một con người cụ thể là một trường phái tư tưởng được nhiều người theo."

Sinh viên Adam đã góp ý kiến trên báo New York Times của Mỹ: "Công lý đã được thực thi nhưng liệu đây có phải là lý do để ăn mừng không? Không. Đây không phải là sự kiện thể thao. Đây không phải là ngày chiến thắng. Nó chưa kết thúc cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ và đồng minh và hàng (chục?) ngàn người chết, cả quân đồng minh và người Arab, để tìm có một người."

Còn tác giả Barry Lando viết: "Trong nhiều góc độ, kẻ bị bắn hạ ở Pakistan đã là người không còn ý nghĩa - là biểu tượng của mối đe dọa trong quá khứ hơn là đe dọa thực sự của tương lai."

KHÓ DIỆT ĐƯỢC AL-QAEDA

Tổ chức al-Qaeda là một tổ chức vũ trang Hồi Giáo do Osama bin Laden thành lập khoảng năm 1998. Tổ chức này phát xuất từ nhóm Sunni Muslin thường được gọi là Islamic Jihad, tức nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo.

Vì là một tổ chức hoạt động bí mật, al-Qaeda đã hình thành những đơn vị tự trị, các đơn vị này có thể liên kết hay hổ trợ nhau trong các hoạt động, nhưng được lãnh đạo hoàn toàn riêng rẻ. Bin Laden đã tuyên bố:

“Không có một tổ chức bao trùm. Chúng tôi muốn thành lập một thực thể huyền thoại được gọi là al-Qaeda ở trong đầu óc chúng tôi, nhưng không phải là một thực tế mà chúng tôi quan hệ với”.

Bin Laden được gọi là lãnh tự al-Qaeda nhưng trong thực tế ông chỉ chỉ huy nhóm al-Qaeda ở Pakistan và Afghanistan mà thôi. Ông đã trao lại quyền lãnh đạo này lại cho bác sĩ Ayman al-Zawahiri từ lâu. Ông chỉ còn là cố vấn của Ủy Ban Tư Vấn (Shura Council) gồm khoảng từ 20 đến 30 thành viên cao cấp của al-Qaeda.

Ngoài al-Qaeda ở Pakistan và Afghanistan, còn có 7 tổ chức hoạt động độc lập sau đây được Hoa Kỳ theo sát:

1.- Tổ chức al-Qaeda ở bán đảo A-rập có hai tổ chức là al-Qaeda ở Saudi Arabia và Nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo ở Yemen (Islamic Jihad of Yemen).

2.- Tổ chức al-Qaeda ở Iraq

3.- Tổ chức al-Qaeda tại Islamic Maghreb (bao gồm các quốc gia mới là Tây Sahara, Algeria, Tunisia, Libya và Mauritania.

4.- Tổ chức Harakat al-Shabaab Mujahideen ở Somalia.

5.- Tổ chức Thánh Chiến Hồi Giáo Ai-cập (Egyptian Islamic Jihad)

6.- Nhóm Tranh Đấu Hồi Giáo Libya (Libyan Islamic Fighting Group)

7.- Phong Trào Hồi Giáo Đông Thổ Nhĩ Kỳ (East Turkestan Islamic Movement) ở Trung Quốc.

Trong các tổ chức nói trên, tổ chức al-Qaeda ở Iraq và Somalia là mạnh nhất.

Thủ lãnh của al-Qaeda ở Iraq hiện nay là Abu Hamza al-Muhajir, còn gọi được gọi là al-Masri. Năm 1999, al-Masri đã sang Afghanistan tham gia huấn luyện tại trại al-Farouq gần Kandahar, nơi y gặp al-Zarqawi, lãnh tụ vừa bị Hoa Kỳ giết.

Al-Qaeda ở Iraq được khối Sunni yểm trợ đã từ bỏ chiến dịch tấn công đẩm máu vào các đền thờ Hồi Giáo của phái Shiite vì bị khối Hồi Giáo lên án. Họ đang xây dựng cơ sở khắp nơi và đợi Mỹ rút để cướp chính quyền.

Tại Somalia, chính phủ Sheikh Sharif Sheikh Ahmed chỉ còn giữ được thủ đô Mogadishu nhờ quân của Ethiopia. Xung quanh thủ đô và trong cả nước đều do nhóm Hồi Giáo quá khích và al-Qaeda nắm giữ. Tại đây, al-Qaeda đã tạo ra mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng đối với các khu vực khác của Châu Phi.

Hiện nay, al-Qaeda đang hoạt động tại khoảng 120 quốc gia, đặc biệt là tại Indonesia, Mã Lai, Thái Lan và Phi Luật Tân, mặc dầu chính phủ của các nước này đã đàn áp thẳng tay.

CON ĐƯỜNG PAKISTAN CHỌN

Trong bài “Đồng Minh lại tháo chạy” phổ biến vào tháng 2 năm 2009, chúng tôi đã viết:

Hiện nay tại Pakistan có khoảng 7 triệu người thuộc sắc tộc Taliban, cộng thêm khoảng 3 triệu người Taliban tỵ nạn ở biên giới Pakistan và Afghanistan. Do đó, Taliban và Al-Qaida đã biến vùng biên giới đầy núi non hiểm trở này thành hậu cứ và khu an toàn của kháng chiến quân. Hoa Kỳ đã yiểm trợ Tướng Pervez Musharrat lên làm Tổng Thống Pakistan với hy vọng ông sẽ hợp tác với liên quân trong việc tảo thanh kháng chiến quân, nhưng Tướng Musharrat đã không thể thực hiện được điều Hoa Kỳ muốn vì ba lý do chính sau đây:

(1) Các nhóm Hồi Giáo ủng hộ kháng chiến quân Afghanistan cương quyến phản đối sự xâm nhập của liên quân vào Pakistan.

(2) Taliban và Al-Qaida dọa nếu chính quyền Pakistan để cho liên quân xâm nhập vào biên giới Pakistan, họ sẽ biến Pakistan thành biển máu như ở Iraq.

(3) Pakistan không bao giờ muốn diệt Taliban vì Taliban vốn là cánh tay mặt của Pakistan ở Afghanistan. Nếu liên quân thất bại, Pakistan sẽ lại yểm trợ Taliban lãnh đạo đất nước Afghanistan.

Bảy khu bộ tộc tự trị dọc biên giới Tây Bắc của Pakistan được coi là “thiên đường” cho al-Qaeda kể từ sau khi Taliban bị thất bại ở Afghanistan năm 2001. Đến năm 2009, lực lượng Taliban dần dần nắm quyền kiểm soát cả vùng thung lũng Swat của Pakistan sát biên giới, chỉ cách thủ đô Islamabad của Pakistan vài giờ xe. Chính phủ Pakistan đã ký một thoả thuận hoà bình với quân Taliban tại Swat hồi tháng 2/2010, cho phép áp dụng luật Sharia tại khu vực này. Hành động này đã bị Hoa Kỳ chỉ trích kịch liệt.

Trong năm qua, bị áp lực của Hoa Kỳ, Thủ tướng Pakistan Yusuf Raza Gilani đã ra lệnh mở các cuộc tấn công vào an toàn khu của Taliban. Sau đó, tổ chức khủng bố Syndicat đã liên minh với tổ chức al-Qaeda biến Pakistan thành vũng máu như họ đã dọa. Khi các cuộc tấn công giảm bớt, tình hình Pakistan trở lại yên tĩnh hơn. Vì bất đắc dĩ phải đi theo Mỹ, đã có 30.452 người Pakistan bị giết.

Trong vụ Bin Laden bị giết, chúng tôi không tin Hoa Kỳ đã hành động trên đất Pakistan mà chính phủ này không hay biết, vì nếu để Hoa Kỳ hành động theo kiểu này, còn gì là chủ quyền quốc gia?

Chúng tôi tin rằng đã có sự đồng ý giữa chính phủ Pakistan và chính phủ Hoa Kỳ, nhưng bên ngoài hai chính phủ phải giả vờ như Pakistan không biết để tránh những sự trả đủa nặng nề của al-Qaeda trên đất Pakistan.

Chúng tôi nhận thấy, mặc dầu đã nhận viện trợ khoảng 3 tỷ USD mỗi năm của Hoa Kỳ, các chính phủ Pakistan vẫn đặt quyền lợi của quốc gia Pakistan lên trên quyền lợi của Hoa Kỳ và giữ được thế tự chủ. Đó là một điều đáng khen.

Hiện nay, tranh luận bắt đầu nổi lên về vai trò của Pakistan. Chính phủ nước này bị tố cáo là đi nước đôi, tức là đã che chở cho Ben Laden. Nhưng rõ ràng chính quyền Obama muốn né tránh cuộc tranh cãi này. Không một ai trong chính quyền Washington lên tiếng chỉ trích Islamabad. Thậm chí Tổng Thống Obama và Ngoại trưởng Clinton còn ca ngợi công cuộc hợp tác tốt đẹp giữa hai quốc gia. Có người cho rằng “đó chỉ là một cuộc hợp tác ảo”, nhưng chúng tôi tin đã có một sự hợp tác thật nhưng thăng trầm tùy theo tình hình từng giai đoạn. Nên nhớ, trong cuộc chiến chống khủng bố, Washington cần Islamabad hơn là Islamabad cần Washington.

Ngày 3.5.2011
Lữ Giang
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

* Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.

* Người chuyển đã tìm lại được cuốn phim này trên Youtube.
- Mời bấm vào đây để coi toàn bộ cuốn phim gồm có 8 phần (không kể những video clips tài liệu phụ dẫn):
==> http://www.youtube.com/results?search_q ... type=&aq=5



Phim “Việt Nam, Việt Nam” được công bố sau 38 năm bị dấu kín!!!
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.

Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.
- Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
- Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.

Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?

Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẻ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.

Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lở nói xa lầy rồi... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ cs.

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan " .... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ."
Tạm dịch : ".... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau."

Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật.

Tài Liệu
(14.02.09)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Bin Laden không một nấm mồ

Ngô Nhân Dụng

Khi nghe tin ông Osama bin Laden chết, nhiều người nghĩ ngay tới Ernesto “Che” Guevara, một lãnh tụ cộng sản Cuba sinh ở Argentina. Che, cái tên gọi quen thuộc, đã là một thần tượng cho nhiều thanh niên thời 1960, đã bị quân đội Bolivia giết tháng 10 năm 1967, với sự cộng tác của cơ quan Tình Báo Trung Ương Mỹ (CIA).

Che chết, phong trào cộng sản thế giới mất một thần tượng sống, đặc biệt là khi đó Che đã chống Nga Xô, theo Mao Trạch Ðông để làm cách mạng thế giới!

Nhưng Che chết trong rừng, trong khi đang bệnh tật và thiếu thuốc men, lực lượng tan rã vì bị quân chính phủ Bolivia bao vây. Xác chết của Che và 6 đồng đội được trả cho Cuba năm 1995, và được dựng lăng, lập đài kỷ niệm. Hình ảnh Che vẫn còn được nhiều người tôn thờ, ít nhất cho đến khi đế quốc Liên Xô sụp đổ, khi ai cũng thấy chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ảo tưởng hão huyền và đã hoàn toàn thất bại.

Osama bin Laden cũng đã trở thành một thần tượng cho nhiều thanh niên Hồi Giáo trên thế giới kể từ năm 2001, khi các đệ tử của ông ta cướp máy bay đánh sập hai cao ốc ở New York và làm chết gần ba ngàn người Mỹ. Ông ta cũng trốn lánh như Che. Nhưng ông ta chết trong một tòa nhà đủ tiện nghi, với vợ nhỏ, con cái, và người hầu hạ. Hình ảnh của ông sẽ còn được dùng để khích động nhiều thanh niên Hồi Giáo trên thế giới trong nhiều năm tới. Nhưng chắc không được bao lâu sẽ chấm dứt, vì bin Laden không thể so sánh với Che Guevara.

Hình ảnh Che Guevara được cả một guồng máy tuyên truyền của các nước cộng sản sử dụng khi họ muốn xúi giục giới trẻ ở các nước nghèo nổi loạn. Trái lại, không chính phủ nào trong thế giới Hồi Giáo coi Osama bin Laden là một anh hùng. Trong khi đó, xã hội Á Rập đang thay đổi, theo một chiều hướng khác hẳn giấc mơ của Osama bin Laden. Một phong trào đòi tự do dân chủ đang bùng lên ở các quốc gia này cho thấy giới trẻ không đi tìm một xã hội Hồi Giáo lý tưởng thời trung cổ như bin Laden vẫn hô hào. Thanh niên các nước Hồi Giáo và Á Rập cũng có học, cũng dùng Internet, Twitter và Facebook, cũng ước ao được sống tự do, chứ không muốn sống dưới chế độ thần quyền như bin Laden muốn tái lập.

Osama bin Laden đã được nhiều người Á Rập chạy theo vì ông ta chống Mỹ. Nhưng người Á Rập có thể vẫn ghét Mỹ mà không cần đến bin Laden. Câu hỏi chính là bin Laden có cống hiến một lý tưởng nào khác cho giới trẻ các nước Hồi Giáo và Á Rập hay không, ngoài thái độ chống Tây phương và Mỹ? Mặt khác, khi chính phủ Mỹ ủng hộ các phong trào đòi dân chủ trong các nước Trung Ðông, Anh và Pháp giúp người dân Lybia đánh Gadhafi, thì họ đã trở thành đồng minh của các lực lượng dân chủ tại Trung Ðông. Người Á Rập có thể vẫn ghét Mỹ và Âu Châu khi họ nhớ lại thời các nước Tây phương nuôi dưỡng và bảo vệ các chính quyền thủ cựu, độc tài, bóc lột dân. Nhưng sau cùng họ có thể vẫn muốn xây dựng xã hội của họ theo một mô hình tương tự như Tây phương: Tự do, bình đẳng, tôn trọng quyền làm người, và phát triển kinh tế theo lối thị trường. Lý tưởng của bin Laden sẽ chết, như ông ta đã chết. Các nước Á Rập và Hồi Giáo sẽ tiếp tục xáo trộn trong nhiều năm tới. Nhưng đó sẽ là những cuộc tranh chấp giữa các lực lượng tiến bộ trên con đường canh tân, và những lực lượng bảo thủ. Người ta sẽ quan tâm đến việc phát triển xã hội, phát triển kinh tế, xây dựng dân chủ ngay trong nước mình, hơn là nhắm vào “những thế lực thù địch” ở bên ngoài. Họ sẽ không yêu nước Mỹ nhưng không cần phải đổ tất cả tội lỗi cho người Mỹ khi tự hỏi tại sao đất nước họ chìm đắm trong lạc hậu. Họ không nhất thiết phải coi nước Mỹ là kẻ thù phải tiêu diệt, mà quên đi nhu cầu canh tân của xã hội họ đang sống. Họ sẽ đi trên con đường khác hẳn Osama bin Laden.

Khi tường trình với dân chúng Mỹ về vụ này, Tổng Thống Barack Obama cẩn thận nhấn mạnh, “Tôi muốn nói rõ, giống như Tổng Thống Bush đã tuyên bố ngay sau ngày 11 tháng 9, rằng cuộc chiến của chúng ta không nhằm vào thế giới Hồi Giáo. Bin Laden không phải là thủ lãnh Hồi Giáo; ông ta là kẻ giết người Hồi Giáo.”

Tất nhiên, chỉ dùng lời nói không thôi, không đủ thuyết phục mọi người. Nhưng chính quyền Obama đã cho cả thế giới thấy thêm một điều nữa: Ðừng coi thường nước Mỹ. Khi ông Obama nói với dân Mỹ, ông cũng muốn cho nhiều người khác nghe, “...đêm nay, chúng ta một lần nữa nhắc nhở nhau rằng Hoa Kỳ có thể làm bất cứ điều gì khi đã quyết tâm.”

Người Mỹ cần nghe lại câu này. Có thể nói, trên thế giới ít có chính phủ nào vấp phải nhiều thất bại như chính phủ Mỹ; ít chính phủ nào bị dân chúng coi thường như chính phủ Mỹ. Vì thế họ cũng bị nhiều người khác trên thế giới coi thường. Chính phủ Mỹ đã thất bại trong kế hoạch giải cứu 52 con tin bị bắt ở Iran năm 1980. Chính phủ Mỹ đã phải rút quân ra khỏi Lebanon sau khi quân khủng bố đánh bom chết mấy trăm thủy quân lục chiến. Chính phủ Mỹ lại phải rút quân ra khỏi Somalia sau khi bị quân nổi loạn tấn công. Ông Saddam Hussein đã từng mô tả một “nước Mỹ mệt mỏi” trước khi đem quân đánh Kuwait năm 1990. Khi ông bin Laden muốn thúc đẩy các đồ đệ liều chết chống Mỹ, ông đã đưa ra thí dụ sự thất bại của Mỹ trong chiến dịch Blackhawk Down ở Somalia để chứng tỏ nước Mỹ chỉ là một “con ngựa yếu,” giống như Mao Trạch Ðông từng gọi Mỹ là Cọp Giấy.

Phần lớn người ta không biết rằng hình ảnh nước Mỹ yếu, chính phủ Mỹ thất bại, là hậu quả không thể tránh được của chế độ tự do dân chủ. Chính phủ Mỹ không bưng bít thông tin. Hàng ngày, ngay tại nước Mỹ, có hàng triệu người chăm chú theo dõi để tìm lời chỉ trích chính phủ của họ. Ít người biết rằng đó chính chế độ tự do dân chủ là sức mạnh của quốc gia trẻ trung này.

Nhiều người vẫn tin rằng nước Mỹ không có khả năng theo đuổi những cuộc chiến tranh lâu dài. Nhưng chúng ta cũng biết rằng kể từ năm 1946 đến năm 1989 nước Mỹ đã theo đuổi một cuộc chiến dai dẳng chỉ nhằm “ngăn ngừa” sự bành trướng của Liên Bang Xô Viết. Chiến lược “ngăn ngừa” (containment) đã thành công, sau hơn 40 năm.

Trước Osama bin Laden, người đã hoạch định và chỉ huy cuộc tấn công vào nước Mỹ đầu tiên là Ðô Ðốc Isoroku Yamamoto, với trận không kích quân cảng Pearl Harbor cuối năm 1941. Chính ông là người chủ trương muốn đương đầu với Mỹ thì phải đánh trước, tiêu diệt bớt lực lượng hải quân của họ. Lúc đó, Tổng Thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã ra lệnh cho Bộ Trưởng Hải Quân Frank Knox, “Tóm Yamamoto!” (Get Yamamoto). Tình báo Mỹ theo dõi các cuộc di chuyển của Yamamoto trong 16 tháng liền. Ngày 18 tháng 4 năm 1943, họ biết ông đáp máy bay đi gần đảo Bougainville. Một phi đội Mỹ được cử tới đón đầu, họ đã bắn hạ chiếc máy bay chở Ðô Ðốc Yamamoto. Tinh thần dân Mỹ và quân đội Mỹ đã bừng lên ngay sau đó.

Việc giết chết ông bin Laden có thể giúp cho chính người Mỹ lấy lại thêm niềm tự tin, giống như năm 1943. Và có thể khiến người dân các nước khác tin nước Mỹ nếu quyết tâm là có thể thành công. Các nhà lãnh đạo Mỹ nói là có thể tin được. Năm 2007, Nghị Sĩ Barack Obama đã nói rằng nếu bin Laden mà trốn ở Pakistan thì quân Mỹ cứ đến đó mà tìm bắt hoặc giết, không cần Pakistan đồng ý hay không. Lúc đó, các nhà chính trị khác (trong đó có bà Hillary Clinton) đã chỉ trích rằng ông Obama thiếu kinh nghiệm ngoại giao, đã xúc phạm một nước đồng minh. Năm nay, bà Clinton ngồi trong nhóm tham mưu và quyết định việc tấn công vào ngôi nhà ở thị xã Abbottabad. Họ không xin phép chính phủ Pakistan. Bộ tham mưu ở Tòa Bạch Ốc có thể theo dõi cuộc hành quân từng phút, nhờ máy thu hình đeo trên người các biệt kích hải quân, chuyển lên các vệ tinh nhân tạo truyền thông. Chắc từ nay sẽ không có nước nào muốn chứa chấp một kẻ tử thù của nước Mỹ nữa.

Trực thăng chở quân Mỹ từ Afghanistan đã dùng khí cụ đặc biệt vượt qua hàng rào radar của quân đội Pakistan (radar do Mỹ cung cấp), đánh gọn trong 40 phút, rồi rút về. Không ai bị thương, và không quên lấy theo các máy vi tính, hồ sơ và tài liệu mà bin Laden đang giữ, để khai thác thêm tin tức. Trong lúc rút ra một chiến hạm ngoài biển Á Rập, họ vẫn tránh không “đụng độ” với hàng rào phòng không của “nước bạn.” Trong cả chiến dịch hành quân phức tạp và nhiều rủi ro đó, họ không quên chuẩn bị trước để có một giáo sĩ Hồi Giáo trong quân đội làm lễ thủy táng ngay cho ông Osama bin Laden trong 24 giờ, sau khi tắm rửa thi hài của ông và quấn trong khăn tẩm liệm mầu trắng theo đúng nghi thức Hồi Giáo.

Chính quyền Obama giải thích rằng không quốc gia nào chịu nhận thi hài của bin Laden. Chắc họ đã hỏi ý kiến Á Rập Saudi (nơi gia đình cha mẹ ông sống) và Yemen, là quê hương gốc của gia đình này. Nhưng trước khi hỏi, họ đã biết sẵn câu trả lời rồi. Cuộc hành quân được tính toán cho đến chi tiết sau cùng: Sẽ không có một ngôi mồ của Osama bin Laden, như của Che Guevara để cho các người ngưỡng mộ đến chiêm bái. Thảm kịch 11 tháng 9, 2001 có thể coi như đã kết thúc.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tin hay không tin Pakistan?

Ngô Nhân Dụng

Trước khi rút lui đem theo thi hài ông Osama bin Laden, nhóm biệt kích Hải Quân Mỹ SEAL đã đốt và phá hủy hoàn toàn chiếc trực thăng bị bị hư trong phút đầu cuộc tấn công.

Tại sao họ không để chiếc máy bay đó, mai mốt sẽ xin chính phủ Pakistan cho đến sửa chữa, rồi bay về?

Bởi vì người ta không biết chắc số phận chiếc trực thăng đó sẽ ra sao. Chính phủ Pakistan có thể sẽ phản đối Mỹ kịch liệt về vụ xâm nhập lãnh thổ của họ, làm mất mặt cả nhà nước lẫn quân đội. Họ sẽ không cho đem chiếc máy bay đó đi nữa.

Nếu vậy tại sao không để nó cho Pakistan dùng, như hàng ngàn trực thăng khác mà Mỹ đã viện trợ cho quân đội nước này chống khủng bố? Vì người Mỹ không thể tin được chính phủ và quân đội Pakistan sẽ làm gì với những vũ khí và trang bị bí mật trên chiếc máy bay đặc biệt này. Chỉ một lớp kim loại tổng hợp tráng trên máy bay để “tàng hình,” tránh không cho máy radar của Pakistan “nhìn thấy,” cũng phải tốn hàng trăm triệu mỹ kim mới nghiên cứu và tìm ra được. Chưa kể các thiết bị tối tân khác. Người ta không lo Pakistan sẽ dùng các vũ khí mới này chống lại Mỹ. Ðiều đáng lo là sẽ có rất nhiều nước muốn mua các mảnh vụn của chiếc trực thăng này để đem về nghiên cứu lại và bắt chước. Trong số đó có Trung Quốc, một nước đồng minh với Pakistan suốt trong thời Chiến Tranh Lạnh cho đến ngày nay. Không ai quên được vụ tiết lộ năm 2004, cho thấy nhà bác học hàng đầu về bom hạt nhân Abdul Qadeer Khan của Pakistan đã từng đi bán kỹ thuật nguyên tử cho các nước khác, trong đó có Lybia của ông Gadhafi. Tất cả những người như Saddam Hussein (Iraq), Mahmoud Ahmadinejad (Iran), hay Kim Chính Nhật (Kim Jong Il, Bắc Hàn) đều không nguy hiểm cho an ninh nước Mỹ bằng nhà bác học nguyên tử này. Hiện nay ông vẫn sống ung dung ở trong nước.

Năm 1999, một máy bay F-117 của Mỹ bị rớt trong cuộc chiến Kosovo vào ngày 27 tháng 3. Ðó là chiếc “máy bay tàng hình” đầu tiên của Mỹ gặp nạn. Ngay sau đó, các chuyên gia Nga và Trung Quốc, chưa kể các nước khác, đã bay đến Serbia để mua, mỗi nước một ít mảnh. Các chuyên viên Trung Quốc đã đến tận nơi máy bay rớt, đi dạm mua với giá rất cao các mảnh vụn mà các nhà nông trong vùng đó lượm được. Vụ này liên can đến vụ Mỹ “đánh bom lầm” vào tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Beograde vào ngày 7 tháng 5 năm 1999. Năm ngoái, Không Quân Trung Quốc đã biểu diễn máy bay tàng hình của họ cho ông bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chứng kiến. Trong 12 năm qua, các kỹ thuật “tàng hình” của không lực Mỹ chắc đã tiến hơn trước rất nhiều. Có gì bảo đảm Pakistan không đem bán các dấu tích kỹ thuật mới trên chiếc trực thăng cho những nước trả giá cao nhất?

Pakistan vẫn là một đồng minh của Mỹ từ khi lập quốc năm 1947. Khi Ấn Ðộ ngả về phía Nga Xô, Mỹ với Pakistan càng thân thiết. Nhờ đứng giữa Mỹ với Trung Quốc cho nên chính phủ Pakistan đã làm môi giới đưa đến cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Nixon và Mao Trạch Ðông vào năm 1972. Nhưng trong việc ngoại giao, mỗi nước vẫn phải lo cho quyền lợi của mình, chứ không ai nhắm mắt chịu làm “đồng chí-anh em” vô điều kiện.

Vì vậy, các lãnh tụ hai nước và những nhà ngoại giao của họ luôn luôn phải đóng trò. Rất thân thiện, rất kính cẩn, nhưng vẫn ngầm đá nhau tận tình. Giám đốc CIA đã nói thẳng rằng họ không hề cho một người nào trong chính phủ Pakistan biết Mỹ đang theo dõi ngôi nhà nghi có bin Laden ở, vì sợ tin tức bị tiết lộ. Nói cách khác: Mỹ không tin Pakistan.

Tất nhiên, chính phủ Pakistan không hề biết trước cuộc đột kích, xuất phát từ Afghanistan. Vụ tấn công này đã được ông Barack Obama báo trước, trong khi đang chuẩn bị tranh cử tổng thống, năm 2007; lúc đó không ai tin chuyện sẽ thành sự thật. Sau khi đem máy bay trực thăng xâm nhập một nước đồng minh mà không báo trước, bắn, giết mấy người rồi đem 2 xác chết đi, tới nay chính phủ Mỹ vẫn chưa chính thức xin lỗi chính quyền Pakistan và dân chúng nước này. Chắc chờ đến một ngày bà Hilarry Clinton đến xứ này sẽ xin tạ lỗi. Ông Obama có thể đã xin lỗi Tổng Thống Asif Ali Zardari trong điện thoại, sau khi quân Mỹ rút đi an toàn, nhưng Pakistan đã mất mặt! Phe đối lập đã lên án chính phủ và hô hào dân biểu tình; nhưng chính phủ Pakistan vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt.”

Ngay ngày hôm sau vụ đột kích, Tổng Thống Pakistan Ali Zardari đã viết trên nhật báo Washington Post, tỏ ý hoan hỉ về việc trừ được ông bin Laden, và kể công chính quyền Pakistan đã giúp Mỹ trong việc tìm kiếm thủ lãnh al Qaeda này trong 10 năm qua. Thủ Tướng Yusuf Raza Gilani thì thanh minh rằng họ không biết nơi bin Laden ở cũng bình thường, vì tình báo cả thế giới từ lâu đã không biết! Bộ Ngoại Giao Pakistan chỉ lên tiếng cảnh cáo Mỹ một cách yếu ớt, rằng “lần sau không được làm như thế nữa!” Chắc sẽ không có lần sau, vì chỉ có một người tên là Osama bin Laden! Báo Dawn ở Pakistan đã coi biến cố vừa qua là một điều sỉ nhục, không khác gì vụ chính quyền Pakistan phải thú nhận đã để cho nhà bác học Abdul Qadeer Khan đi rao bán các kỹ thuật nguyên tử!

Chính phủ Mỹ cũng đồng thanh hát cùng một điệu như ông Ali Zardari. Từ ông Giám Ðốc CIA Leon Panetta, đến bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và các phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, đều lên tiếng công nhận Pakistan đã giúp đỡ họ trong công việc chống khủng bố và truy tầm, rồi bắt các thủ lãnh hàng thứ nhì của al Qaeda. Pakistan đã giúp CIA bắt được Ramzi bin al-Shibh trong một cao ốc ở Karachi, bắt Abu Zubaydah tại Faisalbad, và Kalid Sheikh Mohammed, người chỉ huy vụ đánh 11 tháng 9; rồi trao cho Mỹ khai thác. Chính một trong các người này, sau khi bị “nhận nước” vẫn từ chối không khai; nhưng sau khi được phỏng vấn bình thường, đã xác nhận danh tính một “người đưa thư” của bin Laden; mà nhờ đó CIA đã theo dõi anh ta, tìm đến nơi nghi rằng bin Laden trú ngụ. Chính quyền Obama công nhận Pakistan đã bắt giúp Mỹ nhiều tay khủng bố hơn tất cả các quốc gia khác.

Vậy Pakistan là bạn hay là thù? Hay chỉ là bạn với Mỹ nếu có lợi, và sẽ bỏ rơi Mỹ nếu bất lợi? Có thể nói, Pakistan đóng cả hai, hoặc ba vai trò đó. Chính quyền Pakistan cần số tiền Mỹ viện trợ mỗi năm. Họ cũng giúp Mỹ chống al-Qaeda, vì chính nhóm này đã tổ chức nhiều vụ ném bom trong nước họ. Nhưng trong chính quyền, nhất là trong quân đội, có nhiều người có cảm tình với tổ chức Taliban ở Afghanistan. Chính tình báo quân đội Pakistan, viết tắt là ISI, đã dựng lên Taliban, nuôi nhóm này để chống quân Nga trong thập niên 1980, với sự hỗ trợ tiền và vũ khí của CIA và quân đội Mỹ. Tuy nhiên, trong năm qua quân đội Pakistan cũng tấn công đánh đuổi một nhóm quân Taliban, họ từ Afghanistan chạy sang trú ẩn vùng thung lũng Swat, sau khi nhóm này đem thi hành các chính sách cực đoan về tôn giáo đối với dân chúng Pakistan ở đó.

Nhóm Taliban còn liên hệ với chính quyền và quân đội Pakistan vì lý do sắc tộc. Taliban thuộc giống dân Pashtun, chiếm đa số ở Afghanistan; nhưng số người thuộc sắc dân Pashtun ở trong nước Pakistan còn đông hơn ở Afghanistan! Chính phủ Pakistan khó thi hành một chính sách “không tình không nghĩa” với những người thuộc giống Pashtun!

Ông Husain Haqqani, đại sứ Pakistan ở Washington đã viết một cuốn sách về hai nền tảng của nước Pakistan từ ngày lập quốc. Một là quốc gia này được thành lập trên căn bản tôn giáo. Chính vì muốn giữ đạo nên những người Hồi Giáo đã tụ tập thành một quốc gia sau khi được Anh quốc trao trả độc lập. Nền tảng thứ hai là quân đội. Vì lúc nào cũng lo đề phòng với Ấn Ðộ, và muốn “giải phóng” miền Kashmir ra khỏi Liên Bang Ấn Ðộ, cho nên trong đời sống chính trị của Pakistan, quân đội và các tướng lãnh đóng một vai trò quan trọng. Mà trong quân đội thì tổ chức tình báo ISI đóng một vai trò then chốt.

Cả hai nền tảng đó khiến cho các chính quyền Pakistan, từ thời quân phiệt đến nay, luôn luôn đi dây. Một mặt họ muốn giúp Mỹ chống khủng bố, mà chính nước họ cũng chịu cùng hoạn nạn. Mặt khác, họ không muốn mất sự ủng hộ của giới lãnh đạo tôn giáo, kể cả những người quá khích, nhất là khi nhiều người trong quân đội có cảm tình với nhóm Taliban. Cuốn sách của Ðại Sứ Husain Haqqani, xuất bản năm 2005 khi ông còn là một người đối lập chống chính phủ của Tướng Musharraf, đã kết luận rằng chỉ khi nào Pakistan thực sự dân chủ hóa thì vấn đề chống khủng bố ở nước này mới giải quyết được.

Vụ hạ sát Osama bin Laden khiến nhiều người Mỹ đặt câu hỏi: Chính phủ Pakistan có chứa chấp Osama bin Laden hay không? Tại sao chính phủ Mỹ đã viện trợ cho Pakistan 2 tỷ đô la một năm để tiễu trừ khủng bố, để truy lùng thủ lãnh nhóm al-Qaeda, mà họ lại phản bội như vậy? Rồi bây giờ tại sao Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ?

Một sự thật không thể chối cãi được là nước Mỹ vẫn cần quân đội Pakistan giúp để tiêu trừ những nhóm khủng bố trong hai nước, Pakistan và Afghanistan. Muốn giảm bớt số tiền viện trợ 2 tỷ Mỹ kim một năm, câu hỏi mà nước Mỹ nên đặt ra là có nên tiếp tục cuộc chiến tranh ở Afghanistan hay không? Có người nói: Quân đội Mỹ và NATO tiến vào nước này để truy bắt bin Laden và tiêu diệt nhóm al-Qaeda. Nay mục tiêu thứ nhất đã đạt được, bin Laden đã chết. Còn mục tiêu thứ hai sẽ là một vấn đề lâu dài, mà chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất cũng như không phải là tốt nhất. Nước Mỹ đã chi tiêu 450 tỷ đô la trong 10 năm qua ở Afghanistan. Sẽ tiếp tục tiêu với một tốc độ cao hơn, vì quân số Mỹ ở đó đã tăng, từ trung bình 40,000 người lên thành 80,000, và trong năm 2011 có thể còn tăng thêm nữa.

Nước Mỹ không thể từ bỏ Pakistan nếu còn muốn giúp chính phủ Afghanistan. Cứ để yên, Pakistan sẽ làm ngơ cho quân Taliban tấn công và lật đổ chính quyền của Tổng Thống Karzai, và tái lập một chế độ thần quyền ở xứ này. Có nhà chính trị nào ở Mỹ dám đánh cá rằng dù Afghanistan lọt trở lại dưới một chính quyền Taliban thì phong trào khủng bố của những người Hồi Giáo quá khích cũng không nguy hiểm hơn hay không? Cho tới nay, chưa có ai cả. Cho nên số phận hai nước Mỹ và Pakistan vẫn còn bị ràng buộc không thể bỏ nhau được!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mỹ Quốc: Chỉ Hai Năm Nưã Thôi Sao?

Tác giả Robert Morley

Đừng làm lơ với những lời cảnh báo! Những nhà quan sát tin tường cho rằng một nước Mỹ nghiện vay nợ sẽ học được những bài học đắt giá từ những đế quốc đã sụp đổ.

Hai năm nưã thôi, đó là thời gian còn lại để nước Mỹ giải quyết những khó khăn cuả mình - hoặc bị sụp đổ bất thình lình. Đó là kết luận đáng giật mình cuả Niall Ferguson, một sử gia tại ĐH Havard. Và kết luận đó đã từ sáu tháng về trước rồi. Haỹ nhìn nước Hy Lạp - thế giới đã chứng kiến chuyện gì xảy ra khi những nhà đầu tư mất lòng tin vào việc điếu hành ngân sách cuả một quốc gia.

Thực tế là có thể nào một quốc gia giàu có nhất và mạnh nhất thế giới sẽ bất thần bị sụp đổ? Dù sao thì Mỹ không phaỉ là Hy Lạp. Nhưng chính điều đó là sự trục trặc. Nước Mỹ không phaỉ là một quốc gia nhỏ bé nào đó đã lở thâm thủng vài chục tỉ dollars. Nước Mỹ là con nợ lớn nhứt thế giới, và nó nghiện vay nợ - vay hàng ngàn tỉ dollars để duy trì một mức sống không thể duy trì nỗi.

Nó là một đế quốc rõ ràng đang xuống dốc - như Liên Bang Sô Viết cuối thập niên 1980, hay La Mã trong vaì năm trước khi sụp đổ.

Bệnh Nghiện Vay Nợ.

Bạn hãy tự hỏi: Cái gì làm nước Mỹ được gắn kết lại? Một tôn giaó chung hay một chủng tộc chung? Một mục tiêu quốc gia chung? Những niềm tin thoát thai từ những nguyên tắc do những cha già lập quốc đặt để? Nếu có điều nào trong những điều kể trên đã là chất liệu gắn chặt nền công hoà này lại thì hiên nay chúng đã tiêu ma mất rồi.

Ngaỳ nay, có lẽ caí mẫu số chung duy nhứt trong nước Mỹ đó là chủ-nghiã vật-chất, mà caí hiến chương rõ ràng nhứt cuả nó là - nợ nần!

Theo Ban Ngân Sách Quốc Hội Mỹ, trong năm 2010 nước Mỹ đã chồng thêm vào đống nợ cuả mình 1.5 ngàn tỉ dollars. Và theo kế hoạch chi tiêu của Tổng thống Obama, Nước Mỹ tiếp tục thâm thủng ngân sách hàng năm hàng ngàn tỉ dollars từ đây cho đến 2019.

Thâm thủng hàng năm hàng ngàn tỉ dollars! Và đó chỉ là khi mọi thứ sẽ diễn tiến đúng theo kế họach: Các cuộc chiến ở Iraq, Afghanistan được thu dọn tươm tất, suy thoái kinh tế không lập lại, công nhân được thu dụng trở lại, những ngân hàng quá-lớn-không-thể-để-cho-sụp-đổ-được không xin chính phủ thêm tiền, và Cục Dự Trữ Liên Bang không phaỉ ôm lấy mấy cái bảng tổng kết tài sản cuả Hiệp Hội Thế Chấp Bất Động Sản Liên Bang và Tập Đoàn Cho Vay Thế Chấp Nhà Liên Bang.

Còn nếu mọi chuyện không theo đúng kế họach thì sao? Đó là câu hỏi mà các chuyên gia cố tình lẩn tránh hoặc không muốn nghỉ đến nó.

Sự thật đơn giản là caí đất nước một thời vĩ đại này đang nghiện vay nợ và nó sẽ sụp đổ một khi nó không tiếp tục vay tiền được nưã. Căn bệnh nghiện ngập naỳ đi xa hơn loaị nợ vay thế chấp nhà cưả và mua xe cộ trên khả năng trả nợ cuả dân Mỹ. Nó khởi đầu ngay khi người ta phát hành thẻ tín dụng tống tháo cho đám sinh viên mặt búng ra sửa và các trường đại học lo kiếm lời trên từng đồng bạc đám sinh viên này tiêu xaì. Căn bệnh này phát triển qua các tập đoàn uy tín nhứt cuả Mỹ, những tập đoàn phaỉ tiếp cận với các thị trường nợ hàng tháng, hàng tuần, ngay cả hàng ngày mới duy trì hoạt động được. Nó tràn ngập các chính phủ cấp thành phố, đô thị, tiểu bang, những kẻ sẳn sàng phá sản ngân quỹ chung trong việc nhân nhượng những nghiệp đoàn tham lam, và nhồi tiền cho những quỹ hưu bổng quá khả năng duy trì cuả xã hội. Nó dồn lên đến chính phủ liên bang, một chính phủ mất khả năng cân đối ngân sách từ năm 1957.

Cuối cùng thì căn bệnh đó phát khởi và chấm dứt trên người dân Mỹ, kẻ chìm ngập trong việc thoả mãn các giác quan cuả mình đến mù lòa với tai hoạ treo lơ lững trên đầu.

Nhưng dấu hiệu cuả sự sụp đổ đâu có khó thấy.

Tiền Bạc Cuả Nước Mỹ Đến Từ Đâu?

Vaò tháng 12 (2010) Ủy Ban luỡng viện về thâm thủng ngân sách cuả Tổng Thống Obama đã công bố bản báo caó cuả họ về giải quyết vấn đề khó khăn ngân sách. Những tác giả bản báo cáo nói rằng họ nghĩ có thể cứu được nước Mỹ. Nhưng thực tế là rất ít, nếu có đề xuất nào cuả họ sẽ được áp dụng. Sự khốn đốn cuả nước Mỹ đến độ là cứ 40 cent trong một dollar ngân sách chi tiêu là tiền đi vay. Ngay hiện tại, theo bản báo cáo, chỉ riêng chi tiêu An Sinh Xã Hội, Chăm Sóc Y Tế, Trợ Cấp Y Tế đã ngốn hết tổng thu ngân sách cuả liên bang. Những khoản chi còn lại cuả chính phủ liên bang bao gồm cá chi phí cho hai cuộc chiến tranh, an ninh lãnh thổ, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật vân vân...tất cả mọi thứ còn lại trong thẩm quyền chi tiêu cuả liên bang đều phaỉ tài trợ bằng tiền đi vay.

Một đứá con nít cũng có thể thấy là tai hoạ sắp xảy ra.

Vậy đó! Nhưng trước khi baó caó được đăng tải trên các phương tiện truyền thông thì những nhà lãnh đạo cuả quốc hội đã cho nó chết trên bàn sinh. Cắt giảm ngân sách sẽ làm cho họ mất phiếu bầu. Quá nhiều quyền lợi bị xâm phạm.

Nợ nước Mỹ đã gần 90% GDP. Cuối năm 2011 nó sẽ vuợt 100%, đó là ngưỡng cưả cuả sự khủng hoảng ở các nước Châu Âu.

Vậy mà các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn làm bộ như không có chuyện gì xãy ra.

Trì Hoản Cơn Đột Tử.

Ngaỳ 30 tháng 11, 2010 Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ buộc phaỉ công bố những chi tiết bao quanh chi phí mua nợ khổng lồ cho thị trường chứng khoán Wall Street, các tập đoàn công thương nghiệp và đáng ngạc nhiên là cả các ngân hàng trung ương ngoại quốc.

Hai mươi mốt khoản mua nợ - trị giá 3.3 ngàn tỉ dollars: Đó là khoản Cục Dự Trữ cần dưới dạng nợ đi vay "cứng" để ngăn chặn sự tan rã cuả nền tài chánh Mỹ. Nhưng caí núi nợ này đã đưa nước Mỹ đến đâu? Hệ thống taì chánh Mỹ đã được cứu chữa hay chưa?

Người ta chú ý nhiều hơn vào tầm cở cuả các khoản taì trợ mua nợ, vì 3.3 ngàn tỉ dollars là một khoảng tiền khổng lồ, hơn gấp hai lần khoản thâm thủng ngân sách, nó quan trọng đáng kể đối với kinh tế Mỹ.

Do đó người ta không để ý đến sự thật là Cục Dự Trử Liên Bang ước tính khoản tiền đó từ không khí. Nhưng sự thật này mới đáng kể là phần lớn trong khoản tiền 3.3 ngàn tỉ dollars Cục Dự Trữ đã dùng để đổi lấy một đống phế thải khổng lồ được nâng giá quá giá trị thực cuả chúng. Trong đó 1.5 ngàn tỉ dollars trị giá tài sản thế chấp được xác định là "không đánh giá được". Chỉ có 1% taì sản thế chấp là trái phiếu chính phủ có giá trị cao.

Cũng có tiết lộ là không những Cục Dự Trữ Liên Bang cho một số ngân hàng trung ương ngoại quốc vay 600 tỉ dollars mà còn cho công ty sản xuất xe hơi ngoại quốc như Toyota, BMW và hàng tỉ dollars cho ngân hàng tư nhân ngoại quốc vay với lãi xuất rất thấp (đôi khi chỉ 0.15 phần trăm)

Nói cách khác, lúc cực điểm cuả cuộc khủng hoảng người ta ngaị rằng Cục Dự Trữ Liên Bang đã in tiền ra cho vay bất cứ người nào đang thoi thóp bất chấp họ là ai và caí gì họ đưa ra để thế chấp.

Cục Dự Trữ Liên Bang cũng cho các quỹ đầu tư, đầu cơ và các qũy hưu bổng vay giá rẻ - như Quỹ Hưu Bổng Các Cầu Thủ Liên Đoàn Bóng Chaỳ - để họ "đầu tư" trong cố gắng tạo lại luồng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Hệ Thống Hưu Trí Công Chức California , một trong những quỹ hưu bổng đang bị chết đuối cuả Mỹ, là một trong những tổ chức hăng hái ôm tiền cuả Cục Dự Trữ: Họ vay 5.14 tỉ để đầu cơ kéo họ ra khỏi tình trạng thiếu nguồn tài trợ.

Một trong những chương trình cho vay cuả mình, Cục Dự Trữ tạo một vòng mượn nợ, rồi bơm nợ vaò nền kinh tế một khoảng tiền lớn đến chóng mặt - 9 ngàn tỉ dollars.

Theo chương trình đó, chỉ riêng tập đoàn tài chính Citigroup đã vay một khoản khổng lồ 2.2 ngàn tỉ trong các thương vụ đa phương quay vòng giúp cho nó tồn tại. Merrill Lynch vay 2.1 ngàn tỉ trong tổng số 226 món vay. Bank of America vay khẩn cấp 1.1 ngàn tỉ để tránh bị sập tiệm. Ngân hàng naỳ đã một ngàn lần tới lui Cục Dự Trữ xin vay. Để còn có thể tiếp tục làm ăn Morgan Stanley đã phaỉ vay 212 khoản. Ngay cả Công ty Goldman & Sachs khả kính cũng vay 620 triệu qua 84 khoản vay.

Ghê gớm hơn nưã, không phaỉ Cục Dự Trữ chỉ vực dậy các ngân hàng và các quỹ đầu tư mà còn trực tiếp chống đở cho nhiều trong những tập đoàn kinh doanh khổng lồ nổi tiếng cuả Mỹ. Các công ty phá hành thẻ tín dụng, các công ty baỏ hiểm, các công ty sản xuất xe hơi hết thảy đều được vay. Tên một số các công ty này được tiết lộ, nhưng bạn có biết rằng cả công ty sản xuất máy uỉ đất Caterpillar cũng nhận tiền từ chính phủ không?

Rằng công ty truyền thông Verizon Communications đã cần 1.5 tỉ dollars? Rằng Cty sản xuất xe mô tô Harley Davison nhận tiền taì trợ 33 lần tổng cộng 2.3 tỉ? Cty General Electric nhận 12 lần tổng cộng 16 tỉ? Ngay cả tiệm bán hamburger McDonald đã phaỉ vay Cục Dự Trữ Liên Bang.

Giới kinh doanh Mỹ ngập sâu vào cơn nghiện nợ nần đến độ nó phaỉ đi vay tiền hàng ngaỳ và mỗi ngaỳ. Nó cần tín dụng để giử cho việc làm ăn được bình thường. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế sau ngaỳ 11 tháng 9 năm 2008 các thị trường cho vay ngưng lại, không ai cho vay tiền cả. Vậy là ngân hàng thất baị. Chính phủ phaỉ quốc hửu hoá các doanh nghiệp bạc tỉ. Hệ thống đó được cân bằng trên lưỡi dao cạo.

Thử tưởng tượng chuyện gì xảy ra nếu Catepillar, Verizon, McDonald đã thất bại trong việc đấu giá nợ và không vay được tiền? Sự truyền nhiễm sẽ lan ra toàn quốc, thậm chí cả quốc tế. Một hiêu ứng domino khổng lồ sẽ lan tràn thế giới kinh doanh. Cục Dụ Trữ Liên Bang phaỉ nhảy vào cung ứng tiền bạc, nếu không giới kinh doanh Mỹ sẽ hoàn toàn phaỉ đóng cưả.

Nước Mỹ nghiện nợ nần như vậy đó. Chấm dứt vay nợ là cả hệ thống sẽ đột tử. Bạn tin không? Cục Dự Trữ Liên Bang đã phải cho vay 21,000 khoản với lãi suất gần bằng không đễ kích hoạt hệ thống cho nó sống lại.


Tình Trạng Tuyệt Vọng Cuả Nước Mỹ

Làm cách naò nước Mỹ duy trì được căn bệnh nghiện nợ nần cuả mình? Chúng ta mượn nợ để mua sắm cho chúng ta được tận hưởng và tài trợ cho mức sống cuả chúng ta. Chúng ta dùng tiền vay để duy trì tình trạng sinh hoạt bình thường. Và khi nợ nần chồng chất đẩy chúng ta vào khó khăn, chúng ta vay nợ thêm để kích thích kinh tế và làm thế chân để tạm giải thoát chúng ta.

Nhưng bây giờ thì cơn nghiện vay nợ cuả nước Mỹ rõ ràng đã đến mức độ đe doạ khả năng vay thêm cuả chúng ta. Cơn nghiện lớn đến nỗi thực tế ngày nay là Cục Dự Trữ Liên Bang đang in tiền ra cho chính phủ chi tiêu.

Ben Bernanke, Chủ Tịch Cục Dự Trữ Liên Bang tuyên bố hôm tháng mười một rằng Cục Dự Trữ sẻ phát hành khống 900 tỉ dollars để mua traí phiếu liên bang. Thứ tiền tệ in khống cuả chính phủ đó trong lịch sử đã dẫn đến sự mất giá tiền tệ thê thảm.

Dể hiểu là những nước chủ nợ, do không muốn được trả nợ bằng thứ tiền mất giá, đã nổi giận với tuyên bố đó. Điều này có nghiã là càng ngày nước Mỹ càng khó kiếm nguồn cho vay từ nước ngoài.

Tình trạng đó dể dàng rơi vào tuyệt vọng khi Cục Dự Trữ bắt buộc phaỉ tiếp tục phát hành tiền thêm maĩ đễ tài trợ các chi tiêu cuả chính phủ, và càng làm như vậy càng đẩy các nhà cho vay nợ ngoại quốc ra xa. Chính phủ Mỹ chỉ có thể phát hành trái phiếu vay nợ một khi người ta còn chấp nhận chúng, nhưng khả năng nước Mỹ sẽ xù nợ làm cho sự chấp nhận đó càng ngày càng giảm đi.

Theo Li DaoKui, một ủy viên có bằng cấp trong ủy ban chính sách tiền tệ cuả ngân hàng trung ương Trung Quốc thì tính cách an toàn cuả đồng dollar Mỹ trong việc đầu tư vào nó chỉ tồn tại chừng 6 đến 12 tháng. "Hiện nay, quan ngại cuả thị trường vẫn còn đang ở Châu Âu và từ 6 đến 12 tháng tới đây nó sẽ không chuyển sang nước Mỹ." Ông ta tuyên bố vào ngaỳ 8 tháng 12 (2010) "Nhưng chúng ta phaỉ hiểu rõ rằng tình hình tài chánh cuả Mỹ tệ hơn ở Châu Âu. Trong một hay hai năm tới đây khi tình trạng nợ nần ở Châu Âu được ổn định, sự quan ngại cuả các thị trường tài chánh sẽ chuyễn sang Mỹ, và vaò lúc đó trái phiếu kho bạc cuả Mỹ sẽ gặp phaỉ sự suy thoái đáng kể."

Jim Roger, một nhà đầu tư quốc tế, ghi nhận vào ngaỳ 7 tháng 12 (2010) rằng: "Sẽ đến một lúc người ta nói: ' Tôi sẽ không cho anhh vay nưã. ' ". Khi ngaỳ đó xảy ra người ta sẽ không nhận diện được nước Mỹ nưã.

Một ngày nào đó nước Mỹ thức dậy với một tin được đưa rằng một vụ đấu giá traí phiếu chính phủ dã bị thất bại. Những nhà cho vay đã quá ngán ngẫm. Dù nhiều người có thể trong một thời gian ngắn chưa hiểu ất giáp gì, những người biết chuyện sẽ chạy ra các cưả hàng mua bất cứ thứ gì họ vớ được- tả lót, rượu, đậu, và cả đạn dược nưã. Họ sẽ là những người may mắn. Một số người xoay ra mua vàng bạc nhưng những thứ kim loại đó chỉ có ích lợi sau này. Sự khan hiếm sẽ xuất hiện khắm nơi và trở thành cơn dịch.

Đó là lúc sự phẩn nộ xuất hiện

Chủ Nghiã Vật Chất được tài trợ bởi nợ nần sẽ biến thái từ là một chất keo lỏng gắn kết hệ thống thành nhân tố tạo ra caí chết bất ngờ cho nó.

Vậy thì caí gì gắn kết xã hội

Sự Chấm Dứt Nền Cộng Hoà.

"Lịch sử cho thấy chúng ta sẽ không tồn tại được," Thượng Nghị Sỹ bang Oklahoma, Tom Coburn, nói trong diễn văn đọc tại Uỷ Ban Công Nợ cuả TT Obama hôm tháng 12 (2010) Các nền dân chủ cộng hoà chỉ tồn tai 200 năm trước khi chúng thối rưã từ cốt lõi sau đó chúng bị chinh phục bằng quân sự. Và ông ta nói thêm: "Chúng ta đang thối rưã. Chúng ta đang thối rưã ngay lúc ngồi nói chuyện tại đây, ngày hôm nay."

Tuy nhiên, Coburn đưa ra niềm hy vọng. Có một cách "đánh lưà lịch sử," ông ta nói. "Chúng ta đánh lừa lịch sử bằng cách tất cả chúng ta từ bỏ một thứ gì đó: mọi người đều phaỉ làm vậy...và rồi chúng ta nói, 'Tương lai cuả nước Mỹ là khi mỗi một người bắt đầu hy sinh để chúng ta tạo được một tương lai và tương lai đó để vinh danh những hy sinh to lớn cuả tiền nhân chúng ta.' "

Hãy nhìn chung quanh các bạn. Haỹ nhìn Quốc Hội. Nước Mỹ sẽ được điều gì khi sự hy sinh được chấp nhận trên toàn đất nước?

Thực tế đau lòng là nước Mỹ sẽ không "đánh lưà lịch sử". Đó là một điều tiên tri.

Trong một bài viết năm 1997, Tim Thompson, một nhà bỉnh bút cuả tạp chí Trumpet so sánh nước Mỹ, một xã hội phụ thuộc vào nợ nần, với caí nhà mồ được sơn phết trắng tinh trong kinh thánh chương Matthiew 23:27: "Bên ngoaì nó trông đẹp đẽ - nó có vẻ vững chắc, thịnh vượng - nhưng bên trong chưá ' đầy xương người chết và tất cả mọi thứ đều dơ bẩn' - nó là một ác mộng tài chánh được xây dựng bằng đạo đức giả và chưá đựng đầy những thứ thối rưả.

Như ông Thompson đã nói, vay nợ có thể làm cho nước Mỹ có vẻ thịnh vượng, nhưng bề ngoài không có ý nghiã gì nhiều. Nền cọng hoà Mỹ Quốc mục rỗng từ bên trong và thời gian thì không còn bao nhiêu.

Tháng Bảy năm ngoái, sử gia Niall Ferguson nói trước cử toạ gồm những nhà lãnh đạo doanh nghiệp và những nhà khoa bảng tại Lễ Hội Ý Tưởng ở Aspen rằng cưả sổ cho nước Mỹ xoay chuyễn tình thế đang dần dần khép lại. "Về lãnh vực tài chánh và một số lãnh vực khác", nước Mỹ, "đang rất gần với bờ vực cuả sự hổn loạn" Ông cảnh báo. "Tôi nghĩ đây là một tình thế thực sự sẽ xảy ra trong một thời gian rất cận kề."

"Theo ý nghiã đó" ông tiếp, "Tôi cho rằng chỉ trong vòng hai năm tới"
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Trung Quốc lo lạm phát

Ngô Nhân Dụng

Phái đoàn hai nước Mỹ, Trung Hoa mới họp với nhau hai ngày liền ở Washington trong Cuộc Ðối thoại Chiến lược và Kinh tế, một thông lệ hàng năm. Nhưng họ nói rất ít về chuyện kinh tế.

Hai bên chắc chỉ có dịp nghe những lời than phiền, trách móc về các vấn đề khác. Mỹ sẽ than tại sao Bắc Kinh tiếp tục ngăn cản không cho dân tự do thông tin, và vẫn bắt giam những người có chính kiến độc lập, như họa sĩ Ngải Vị Vị. Trung Quốc sẽ trách tại sao Mỹ cứ khuyến khích dân Tầu chống chính phủ của họ. Mỹ sẽ phản đối Trung Quốc ngăn cấm không cho các giáo sư Mỹ đến dự mấy cuộc hội thảo khoa học, chuyên môn, và bác bỏ 60 hoạt động bên ngoài của tòa Ðại Sứ Mỹ trong 3 tháng qua. Trung Quốc sẽ phản đối tại sao ông Ðại Sứ Jon M. Huntsman Jr. lại đến quán ăn McDonald vào đúng ngày 20 tháng 2, mà trên mạng đã có lời kêu gọi dân Bắc Kinh đến đó biểu tình Cách Mạng Hoa Lài đòi dân chủ?

Hai bên chắc không bàn gì đến chuyện nào quan trọng về kinh tế. Chắc Trung Quốc không muốn than phiền Mỹ để cho đồng đô la sụt giá mãi không ngừng, khiến cho số tiền 3 ngàn tỷ dự trữ của họ, trong đó hơn 2 ngàn tỷ đồng bằng đô la Mỹ cứ mất giá trị mỗi ngày mà họ không làm gì được. Giá dầu lửa cùng các thứ nguyên liệu trên thế giới tăng lên vì đô la xuống, là một mối lo khác. Nhưng Mỹ cũng đang cần giữ đồng đô la ở giá thấp để thúc đẩy xuất cảng, khi kinh tế vẫn còn trì trệ, họ sẽ xin Bắc Kinh thông cảm. Mà chính Bắc Kinh cũng đã cưỡng lại đòi hỏi tăng giá đồng nhân dân tệ với lý do tương tự. Ðể đáp lại, chắc Washington cũng không tiếp tục đòi Bắc Kinh phải giảm số hàng xuất cảng sang Mỹ; trong lúc ông Hồ Cẩm Ðào đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Phái đoàn Mỹ có thể cho phái đoàn Trung Quốc nghe bài học về cuộc suy thoái kinh tế từ năm 2007 đến nay chưa chấm dứt; nhưng kinh tế hai nước có những vấn đề cơ cấu khác hẳn nhau. Bên Mỹ, tai nạn chính xẩy ra trong thị trường địa ốc, và hệ thống ngân hàng. Bên Trung Quốc, họa lớn vẫn là các doanh nghiệp nhà nuớc.

Lạm phát là mối lo cốt tủy của Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc hiện nay. Trong tháng 4, Ủy Ban Cải Tổ Kinh Tế và Ban Vật Giá Thượng Hải đã quyết định phạt công ty Unilever 2 triệu đồng nguyên (hơn 300 ngàn đô la Mỹ) vì công ty này đã thông báo sẽ tăng giá nhiều món hàng, trong đó có bột giặt. Báo chí loan tin bốn công ty lớn nhất về hàng tiêu dùng, trong đó có Unilever và Procter & Gamble sắp tăng giá tới 15% khiến dân Thượng Hải kéo nhau đi mua trước khi giá tăng thật.

Mối lo lạm phát khiến nhà nước dùng đủ cách ngăn không cho giá cả gia tăng, ngoài những biện pháp tiền tệ do Ngân Hàng Trung Ương ban bố. Chính phủ mới ban hành một văn thư 16 điểm cấm việc mua hàng tích trữ; bỏ bớt nhiều thứ lệ phí cho xe tải chở hàng rau trái; đem dâu tươi từ trong kho dự trữ ra bán, đưa ra thêm các luật cấm các cửa hàng thông đồng làm giá, vân vân. Theo thói quen kinh tế xã hội chủ nghĩa nhà nước đã yêu cầu các công ty không được tăng giá, hay hoãn tăng giá, các món hàng như dầu nấu ăn, mì gói, rượu, bột gạo và bột mì, còn ra lệnh các mỏ than không được tăng giá khi ký hợp đồng mới với các công ty điện lực. Nhưng người dân Trung Hoa biết phương pháp vẫn vâng lệnh nhà nước nhưng theo cách của họ. Các nhà chế dầu ăn đã giảm bớt số sản xuất, nhiều siêu thị thiếu dầu, giá lại tăng lên. Các mỏ than cho pha thứ than xấu vào than tốt, và giao hàng chậm lại, khiến nhiều nơi bị cúp điện. Một công ty ngoại quốc như Unilever thì ngoan ngoãn đóng tiền phạt. Nhưng người dân Trung Hoa đã sống 60 năm dưới chế độ cộng sản nên họ biết đủ cách để “nói vậy mà không phải vậy.” Chống lạm phát theo lối cửa quyền không hiệu quả!

Lạm phát chỉ lên trên 5.4%, bằng một phần ba tốc độ tiền mất giá ở Việt Nam, nhưng vẫn gây hai mối lo chính. Một là dân nghèo càng nghèo hơn khi giá gạo, giá xăng dầu tăng mà đồng lương không đuổi kịp. Còn dân giầu thì gửi tiền trong ngân hàng chỉ được 2 hay 3%, trong khi tiền mất giá 5%, rút tiền ra đi mua vàng, mua cổ phiếu và mua nhà khiến cho thị trường chứng khoán và địa ốc đang phồng lên như những chiếc bong bóng chờ nổ và xẹp. Ngân Hàng Trung Ương đã bắt các ngân hàng thương mại tăng số dự trữ bắt buộc sáu lần trong năm 2010. Cuối năm 2009, các ngân hàng có 100 đồng thì phải giữ lại 15.5 đồng; bây giờ phải giữ đủ 20.5 đồng không được đem cho vay; nhưng vẫn không gây được hiệu quả là giảm bớt số tiền mà ngân hàng đem cho vay, đủ để ngăn bớt lạm phát. Nhưng khi nhà nước lo ngăn lạm phát thì họ cũng phải lo hậu quả của việc ngăn lạm phát, là giảm bớt các hoạt động tiêu thụ và sản xuất.

Những biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân như giảm bớt số tiền cho các xí nghiệp vay, và việc giảm bớt chi tiêu của nhà nước để kiềm chế lạm phát sẽ khiến cho tốc độ phát triển kinh tế phải chậm lại. Ðiều đáng lo là, trong cùng lúc đó, tâm lý lạm phát trong dân chúng không thuyên giảm nhanh như trong dòng tài chánh. Tức là dù nhà nước bớt số lượng tiền chảy ra rồi nhưng người dân vẫn tiếp tục đồng lo tiền sẽ mất giá. Người nghèo vẫn chạy đua đi mua hàng để tích trữ còn nhà giầu thì tiếp tục đầu tư vào bất động sản, cả hai đều khiến giá cả tiếp tục leo thang. Tình trạng kinh tế yếu đi trong khi giá cả tăng lên đang đe dọa nước Trung Hoa, như ở Mỹ trước đây 30 năm. Kinh tế học vào đầu thập niên 1980 đã phải chế ra một danh từ mới, Stagflation, để mô tả tình trạng này khi xẩy ra ở Mỹ. Từ đó ghép Stagation, là kinh tế suy yếu trì trệ, với Inflation, là lạm phát, có thể dịch tạm là Suy-Lạm. Chính nước Mỹ năm nay cũng đang lo nguy cơ bị Suy-Lạm; vì trong ba tháng đầu năm nay tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chỉ có 1.8% (so với 3.1% ba tháng cuối năm 2010) mà giá sinh hoạt thì tăng đến 3.8% (so với 1.7% ba tháng trước). Ở Âu Châu trong vùng đồng Euro, lạm phát cũng mới tăng lên tới 2.8%, nhưng hy vọng kinh tế phát triển tốt hơn năm ngoái.

Nguy cơ Suy Lạm bắt nguồn từ trong cơ cấu nền kinh tế. Kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình 10% trong những năm qua nhờ hai “bộ máy kéo” là việc xây cất ào ạt và những món tiền chi tiêu của chính phủ địa phương. Số tiền lớn đổ vào các công trình xây dựng đường sá, phi trường, nhà cửa, cơ xưởng, đã giúp bảo vệ được công việc làm cho hàng trăm triệu người đáng lẽ thất nghiệp; nhưng không có hiệu quả để đem lại lợi nhuận tối thiểu; cho nên số tiền lưu hành tăng lên nhanh con nền kinh tế thì tăng chậm hơn. Trong năm 2009, tổng sản lượng nội địa Trung Quốc tăng 8.7% trong khi khối lượng tiền tệ tăng thêm gần 28%. Có thể nói, nhà nước in tiền phát cho các chính quyền địa phương và doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu, dù lợi suất rất thấp. Ðó là lý do chính gây ra nạn lạm phát hiện nay.

Bây giờ chính phủ trung ương coi chống lạm phát là ưu tiên số một, như các ông Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo đều tuyên bố. Các nhà xây cất sẽ vay được ít tiền hơn và các chính quyền địa phương sẽ bớt chi tiêu. Hai nguồn kích động kinh tế đó bị nghẽn, hậu quả là cả nền kinh tế sẽ bị khựng, chạy chậm lại. Hậu quả đó ở Trung Quốc diễn ra rất chậm chạp so với ở các nước như Mỹ, vì các đại công ty và chính quyền ở bên Tầu có quyền thế rất lớn; họ chỉ việc tạm ngưng không trả tiền cho những xí nghiệp mà họ thiếu nợ; các xí nghiệp đó lại trì hoãn không thanh toán ngay cho các công nhân hay con nợ của họ. Không ai phải tuyên bố vỡ nợ và khai phá sản ngay. Tuy hậu quả đến chậm, nhưng cái gì phải đến vẫn sẽ có ngày đến! Ðó là nguyên nhân mối lo tình trạng “Suy-Lạm” sẽ xẩy ra.

Trong ba năm qua, Trung Quốc đã tránh được cơn khủng hoảng đang lan trên thế giới nhờ chương trình kích thích kinh tế bằng tiền của nhà nước, bắt đầu vào cuối năm 2008. Họ sử dụng hai khí cụ trên làm động lực: các chính quyền địa phương chi tiêu hào phóng và cả nước tung tiền vào các chương trình xây dựng, mà các công ty xây dựng lớn nhất cũng thuộc về nhà nước. Khi đồng tiền được đổ vào nền kinh tế, nó sẽ thúc đẩy các hoạt động sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ công việc làm, giữ tỷ lệ tăng trưởng cao. Nhưng tất nhiên khi nhiều đồng tiền được tuôn ra thì cũng gây ra cảnh vật giá leo thang.

Trung Quốc đang theo dõi bài học ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng ở Mỹ bắt đầu từ năm 2007-08 do quả bóng địa ốc phồng lên to quá bị nổ, xẹp, đưa tới hệ quả là kỹ nghệ xây cất ngưng đọng và dân chúng thấy mình nghèo đi vì tài sản xuống giá. (Từ năm 2006 đến 2010, giá nhà cửa ở Mỹ bị tụt xuống 28%, dân Mỹ mất 6,300 tỷ đô la). Khi người tiêu thụ Mỹ thấy mình nghèo đi và lo lắng tương lai, cuộc khủng hoảng tài chánh khiến các ngân hàng run giảm bớt việc cho vay, kinh tế Mỹ trì trệ cho tới bây giờ chưa thoát. Mối đe dọa này đang diễn ra ở nước Trung Hoa.

Trong khi mối lo lớn ở Mỹ là hệ thống ngân hàng thương mại chưa hồi phục, thì vấn đề chính ở Trung Quốc vẫn là các doanh nghiệp nhà nuớc, chiếm một nửa số chi tiêu trong nền kinh tế. Trong mấy năm trước, các doanh nghiệp này đóng vai chi tiêu để kích thích; bây giờ đến lúc mối lo lạm phát khiến phải kiềm hãm tốc độ chi tiêu, chính khối doanh nghiệp này sẽ trở thành gánh nặng cho cả nền kinh tế vì hiệu quả rất thấp mà số tài nguyên được sử dụng lại cao. Các ngân hàng trả lãi rất thấp cho người dân gửi tiền, thu thập tiền để dành của dân rồi chuyển phần lớn cho các doanh nghiệp nhà nuớc. Tiền nhà nước giao cho các xí nghiệp của nhà nước không mang lại năng suất cao, trung bình phải chi ra bẩy đồng mới tạo thêm được một đồng cho tổng sản lượng nội địa. Chính tình trạng họ “chi rất nhiều sản xuất chẳng bao nhiêu” là một nguyên nhân chính gây nên lạm phát.

Nhưng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Hoa không thể kìm hãm đà chi tiêu của các xí nghiệp quốc doanh một cách kiên quyết, vì đó là cơ sở nuôi những công nhân cho có việc làm để sống và các cán bộ có cơ hội làm giầu. Chính sách giảm bớt chi tiêu để ngăn lạm phát hiện đang được chính quyền trung ương công bố, nhưng không chắc các xí nghiệp nhà nước đã thi hành nghiêm chỉnh. Nếu Bộ Chính Trị ngã lòng, nới lòng việc chi tiêu, thì lạm phát phi mã sẽ không thể kìm lại được.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests