Cư An Tư Nguy Forum Index Portal
 FAQ  •  Search  •  Preferences  •  Usergroups  •  Register  •  Profile  •  Log in to check your private messages  •  Log in
Calendar 
View next topic
View previous topic

Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic
Author Message
khieulong



Age: 70
Joined: 02 Jun 2007
Posts: 3344

blank.gif
PostPosted: Mon Nov 20, 2017 3:28 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Đến Lai Khê ngày 5 tháng 4, 1972, Lữ Đoàn 1 Dù nhập cuộc ngay ngày sau. Đại Tá Lê Quang Lưỡng nhìn con đường sáu-mươi cây số trước mặt với những hiểm
nghèo cao nhất đang chờ đợi. Lê Lợi di chân lên mặt đường như thể đo độ cứng của con đường, sự chịu đựng của mặt nhựa, nhưng thật ra ông đang ước tính bao
nhiêu mìn bẩy, ổ phục kích nơi những cây số phía Bắc.. Ở Bầu Bàng, Bầu Lòng, Chơn Thành, Suối Tàu Ô. Ông nói cùng Ngọc Long (Danh hiệu truyền tin của
Trung Tá Ngọc, Lữ Đoàn Phó) và Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền, Trưởng Ban Hành Quân) : Con đường dài quá, tụi nó có đủ yếu tố thuận lợi.. Địa thế, quân số,
hỏa lực để chơi mình bất cứ lúc nào, ở đâu, nếu chúng muốn. Mình có ba tiểu đoàn, nghe thì nhiều, thực tế không bao nhiêu, mình lại phải phân tán.. Nhưng nhiệm
vụ phải thi hành khẩn cấp, mình chỉ còn có được con đường khốn nầy - Vậy mình phải đi lên nó.. Đi theo kiểu chân chim: “Thằng 8” (Tiểu Đoàn 8 ) đi trước, đóng
quân lại; “Thằng 5” theo đường cũ leo cao hơn.. “Thằng 6” đi sau hết. Pháo sẽ theo thằng 5 ở bước đầu; thằng 8 ở bước sau. Giai đoạn I, mục tiêu 1 là Bầu Bàng;
mục tiêu 2 là Chơn Thành. Đến Chơn Thành, lập thêm đầu cầu phía Bắc mình sẽ qua giai đoạn II.
Các tiểu đoàn trưởng 5, 6, 8, cùng gật đầu đồng ý, vì họ cũng không thấy có biện pháp tốt hơn kế hoạch “Bước chân chim” với ý chí “Cố Gắng” như khẩu hiệu của
binh chủng. Ngày 7 tháng 4, Tiểu Đoàn 8 vượt tuyến xuất phát, lấy con đường làm chuẩn, mở rộng đội hình ra hai bên, đến hoành độ 48 thì ngừng lại. Tiểu Đoàn 5
vượt qua mặt TĐ8, bung quân tối đa để lục soát và tránh phục kích. Mấy trăm con người chìm hẳn vào vũng xanh đậm của rừng dày đan lá. Tiểu Đoàn Trưởng
Nguyễn Chí Hiếu kẹp sát ống liên hợp vào mang tai, linh cảm nguy biến hẳn sẽ tới.. Súng nổ, thoạt đầu chỉ có hướng trước mặt, đoàn quân dừng lại, lập tức hướng
cánh trái súng dồn dập đổ xuống: Tiểu đoàn cộng quân dựa thế vào giải mô đất của đường rầy xe lửa cũ (Lộ trình Sàigòn-Lộc Ninh, đã bị bỏ phế từ đầu thập niên
60) để tấn công chia cắt đội hình nhảy dù. Chỉ còn một phương cách - Phản tấn công vào thế trận đối phương. Trận chiến kéo dài nửa ngày, cuối cùng Bắc quân
rút lui về hướng tây; thương binh nằm chật vùng rừng, ngỗn ngang trên đất. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu nhìn vào bản đồ: Bàu Hót, toạ độ 78051.. Còn bao nhiêu cái
bàu nữa mới tới được An Lộc? Chiến trường mới qua được một ngày.

Từng cây số đường được nhích lên khó khăn, gần đến Chơn Thành độ căng cứng chiến trường càng hiện rõ. Lê Lợi đã nghe ra “mùi” địch - Mùi của pháo, cối mà
chắc chắn sẽ mãnh liệt không kém như kỳ ở Hạ Lào - Chỉ mới đây. Năm ngoái. Đại Tá Lưỡng cau cau chiếc trán.
..Quyền nầy, cố gắng xin mấy trực thăng, ngày mai mình “thẩy” Thằng 6 lên trên Chơn Thành, xong cho lục soát về ngược lại. Đâu ai bắt buộc mình phải đi từ dưới
nầy đi lên để rơi vô phục kích của tụi nó?! Bùi Quyền (Sĩ quan thủ khoa Khóa 16 Đà Lạt), Thiếu Tá Trưởng Ban 3 (Ban Hành Quân) nhìn người chỉ huy kính
phục.. Anh nghĩ thầm: Lê Lợi hay thật, biết cách chuyển đổi thế trận để đối thủ không thể lường được.
Ngày 9, có trực thăng, Tiểu Đoàn 6 bất thần nhẩy lên phía Bắc Chơn Thành, xong quay ngược lại để đón Tiểu Đoàn 5 từ Bầu Bàng vọt lên. Đúng hai giờ chiều, hai
tiểu đoàn “bắt tay” nhau cái rụp ở Chơn Thành. Lê Lợi gật gù tự đánh giá: Tụi nó kông biết mình làm trò gì với cú nhẩy của Thằng 6.. Đi lên hay đi xuống? Thêm
một ngày tương đối bình yên đi qua. Đại Tá Lưỡng cởi đôi giày. Toàn ban tham mưu lữ đoàn bắt chước. Mỗi chiều được cởi giày là một hạnh phúc !
Thêm hai ngày đẹp đẽ đi qua, lữ đoàn đi được ba-mươi cây số về phiá bắc. Đối với một địa thế bằng phẵng, tốc độ tiến quân hiện tại kể là quá chậm, nhưng Lê Lợi
không muốn đơn vị tăng phái, Thiết Đoàn Kỵ Binh 1/5 của Đại Tá Đức mở vào quá sâu, dễ bị lún lầy, và bộ binh nhẩy dù không bảo vệ cạnh sườn được. Ngày 12,
lại theo chiến thuật “bước chân chim”: TĐ8, pháo binh Dù, và thiết kỵ nhảy bước lớn từ cực Nam (của đoàn quân) qua mặt Chơn Thành, đến ngang TĐ5 bỏ pháo
binh lại, tiếp tục “mu” lên hướng Bắc. Lê Lợi nói lời hy vọng: Nếu “Thằng 8” tới được Suối Tàu Ô, thì hy vọng tuần sau mình “đụng” nó- Nó, tức là An Lộc với
quảng cách còn lại khoảng mười cây số.

Nhưng hy vọng của ông vỡ tung như bọt nước: Tiểu Đoàn 8 vừa chạm tới “Hoành độ 72”, cách con suối khoảng hơn một cây số thì đụng. Quân cộng sản không
cần ngụy trang, chựïc sẵn ở vị trí phục kích. Lê Lợi rung tay, ép sát ống liên hợp máy truyền tin vào tai nghe các đơn vị báo cáo dồn dập: Tụi nó gom tôi và con cái
ông Đức (Thiết Đoàn Trưởng 1/5 Chiến Xa) thành vòng tròn.. Pháo dữ quá, đề-lô tụi nó theo sát đây.. Chúng bắn không phí một quả! Đào Thiện Tuyển, Tiểu Đoàn
Phó Tiểu Đoàn 8 nói nhanh giữa tiếng đạn. Sau TĐ8 là TĐ5, Nguyễn Chí Hiếu bảo cáo đỉnh đạt, điềm tỉnh: Trình Lê Lợi, tôi chưa có vị trí, pháo binh cũng thế.
Chúng pháo từ xa, cối gần hơn, và B40, 75(Ly) Không Giật chỉ cách tôi khoảng 50 thước. Dứt.
Ngày 13 tháng 4, tình hình bế tắc nghẹt thở: Tiểu Đoàn 8 bị vây kín; 5 bị cô lập; 3 Pháo Dù chưa thiết lập xong các vị trí pháo; bộ chỉ huy lữ đoàn và TĐ6 kẹt cứng
trong vòng đai chi khu Quận Chơn Thành. Như nước tràn chiếc ly rạn nức, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Đoàn Trưởng 1/5 tăng phái hành quân với Lữ Đoàn 1
tử nạn trực thăng, và người em thân thiết của Lê Lợi: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tử trận nơi Căn Cứ Charlie, chiến trường
Kontum. Đại Tá Lưỡng có cảm giác “tê cứng” trong khoảng khắc rất rõ. Lữ Đoàn 1 trở lại Chơn Thành, giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn, Sư Đoàn 21 Bộ
Binh để nhận nhiệm vụ mới - Phải vào An Lộc bằng một đường khác. Đến nhanh hơn. Khẩn thiết hơn. Bởi lúc 7 giờ 15 sáng ngày 13 “khốn nạn” nầy, xe tăng T54
cộng sản đã vào sát hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng. Toàn bộ chỉ huy mặt trận không còn ai, không còn thời gian (tính theo từng ngày, giờ một) để giải bài
toán An Lộc ngoài LêLợi Lê Quang Lưỡng và những tiểu đoàn nhảy dù thuộc quyền của ông.

Chiếc trực thăng chỉ huy ở một cao độ rờn rợn lạnh người lượn vòng thứ năm trên An Lộc. Đại Tá Lưỡng hỏi Thiếu Tá Quyền..
- Thấy cái đồi ở phía đông-nam không?
- Thấy đại tá.
- Chỗ đó.
Vâng, mình đi thêm một vòng để thấy rõ hơn đại tá.. LêLợi gật đầu đồng ý, ra dấu cho Quyền bảo phi công quay lại đường bay. Không cẩn thận không được. Bao
tính mạng quân binh tùy thuộc vào quyết định về vị trí nầy: Bãi đáp trực thăng đổ quân. Cũng là đầu mối để thực hiện kế hoạch tăng viện, giải vây An Lộc, chứng
thực cùng cả nước và thế giới sức chiến đấu của người lính Miền Nam.
.. Mình sẽ xuống cái ấp gì đây Quyền; ấp tên nghe lạ quá? Lê Lợi chỉ xuống xóm nhỏ nằm ẩn dưới màu xanh của khói rừng mờ đục và cũng do đạn pháo liên tục..
- Dạ, ấp Srok Ton Cui, chắc là tên Miên. Quyền kiểm chứng lại trên bản đồ.
.. Ừ, cái ấp đó được dãy đồi phía tây-bắc che dấu; trực thăng khi vào vùng sẽ bay sát ngọn cây từ dưới lên, tránh được “đề-lô” tụi nó quan sát. Thả ở đó mình có
bất ngờ vì nó cứ tưởng mình không bao giờ dám đỗ quân ở hướng đông (Đông Thị Xã An Lộc); nó giữ chặt phía nam vì đó là đường về của mình.. Mình nhẩy
xuống ấp đó, xong chiếm ngay mấy cái đồi chung quanh là giữ được đầu cầu. Phải hết sức cẩn thận trong líp đầu tiên thả “Thằng 6”.
Vâng đại tá. Quyền không bàn gì thêm. Lê Lợi đã “đánh hơi” chiến trường không chút sơ hở.

Ngày 14 tháng Tư, bãi đáp là một đoạn đường nhựa ở Ấp Srok Ton Cui, Đường 245 nối từ Xa Trạch vào đồn điền Quản Lợi, tây-nam An Lộc, cách nhau bởi hệ
thống đồi với cao độ 150 thước. 14 giờ 30, chiếc trực thăng đầu tiên đỗ Đại Đội 62/Tiểu Đoàn 6 Dù do Đại Úy Ngô Xuân Vinh chỉ huy xuống vùng ruộng của Ấp
Suối Rô dưới chân đồi không tên (Cao độ 176 thước) thay vì nơi Ấp Ton Cui như đã ấn định. Vinh lúng túng không biết điều quân theo hướng nào do lộn bãi đáp;
nhưng Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh và bộ chỉ huy tiểu đoàn đã xuống kịp.. Đánh lên đồi đi! Giữ lấy nó để làm an ninh bãi đáp cho mầy thằng (đại đội) xuống sau..
Đỉnh dục Vinh gấp vì đang lúc khó khăn nhất của cuộc hành quân không vận.
Để em xin trong An Lộc bắn lên trên đó mấy trái cho ăn chắc, lên khơi khơi ngán quá! Vinh vào thẳng tầng số pháo binh An Lộc xin tác xạ yểm trợ. Pháo An Lộc
đã “tiêu” gần hết, “rỏ giọt “ cho vinh đúng ba trái! Dứt tiếng nổ, Vinh xua quân lên đồi.. Địch chỉ là một toán tiền đồn nên Đại Đội 62 thanh toán trong mấy mươi
phút chóng vánh. Đỉnh đưa bộ chỉ huy lên đồi đặt tên “Đỉnh E” (Chữ thứ Sáu-Con Số 6 của tiểu đoàn). Đại Đội 61 xuống tiếp, chiếm cao độ đông-bắc của E, đặt
tên E2. Nhưng chiến trận không chỉ lànhững thắng lợi bình yên suông xẻ nầy, phát hiện được cuộc trực thăng vận, pháo cộng sản từ phía bắc, và 75 ly không giật từ
cơ sở cao-su Tân Lợi (Ba cây số đông-bắc An Lộc) cùng dập xuống E và E2. Lính Tiểu Đoàn 6 vội vàng đào hố dưới giàn lưới đạn với chiếc ba-lô là vật che chở
chiếc đầu mong manh. Tiểu đoàn trưởng Đỉnh; Nghiêm (Sĩ quan Ban 3); Cố vấn Morgan tất cả đồng bị thương vì mảnh pháo.. Đỉnh đè tay lên miếng băng, nói
nhanh với Vinh: Mầy gắng giữ thằng E nầy, tao xuống dưới kia, có bãi tải thương, và giữ bãi cho ngày mai. Mầy thâm niên coi luôn “Thằng 1” bên E2. E cũng có
tên nguyên thủy, Đồi Gió - Gió lửa và gió bão như một tên tiền định.
Ngày 15 tháng 4, bộ chỉ huy lữ đoàn, hai Tiểu Đoàn 5, và 8 xuống bãi bình an. Lê Lợi lên Đồi E họp với hai tiểu đoàn trưởng 5 và 8 Dù..
- Mình đi liền, anh Ninh (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ8 ), đưa thằng con vào An Lộc, nhưng khoan vào hẳn, tới ngang chỗ con suối thì đợi tôi. Tôi và Hiếu (TĐ5) vào Ấp
Sóc Gòn, mình dọn đường vào thật sạch, có gì bung ra lại, hoặc để cho đơn vị khác sau nầy vào dễ dàng hơn. Đồi Gió-An Lộc chỉ cách quảng bốn cây số qua
những sườn đồi thoai thoải của rừng cao su Phú Hòa, chuyển quân bình thường chỉ mất khoảng hơn hai giờ.. Nhưng vì đây là An Lộc, Đại Tá Lưỡng hiểu rõ độ
chật của chiến trường, và đấy cũng là chiếc bẩy đang siết chặt nên ông không thể không cẩn thận khi đến với nó. Ngày 16, để Tiểu Đoàn 6 ở lại giữ Đồi Gió, Lê
Lợi sấn hai “Thằng 5 và 8” song song tiến vào An Lộc. Tiểu Đoàn 5 chia làm hai cánh vào ấp Sóc Gòn, quân đang đà di chuyển bỗng nhiên khựng lại.. Dân ùa ra
như thác lũ băng qua con đê nhỏ.. Lính mình.. lính mình.. Toàn là đàn bà, con nít, những người đàn ông già lão. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu (TĐ5) dạn dày kinh
nghiệm, dặn các đại đội trưởng: “Cẩn thận, nó lùa dân đi trước để mình bị trói tay, thế nào cũng đụng ở đây. Đợi đến sát ấp là nhào vào, không cần tiền pháo yểm.”
Bìa làng đến gần.. 100, 80, 50.. thước, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù - Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam hai lần nhảy xuống Điện Biên Phủ 1954. Tiểu đoàn đã khai sinh bốn vị
tướng lãnh cho quân lực - Và cũng là đơn vị đầu đời của Đại Tá Lê Quang Lưỡng, vị tướng tương lai của trận chiến 1972 là Người Thứ Năm - Con Số Năm định
mệnh của chính nó cũng như của Người Lính Đại Diện: Lê Lợi Lê Quang Lưỡng. Đơn vị bách thắng hôm nay đứng trước Ấp Sóc Gòn với một trạng huống kỳ dị:
Họ phải xung phong vào một mục tiêu với tư thế cá nhân chiến đấu để giữ an toàn cho người dân.. Hai lần, ba đợt.. Tiểu đoàn không sao dứt điểm mục tiêu. Cuối
cùng, khi chắc chắn những người dân còn kẹt lại đã rời ấp, Lê Lợi quyết định dội trận lửa. Hai-mươi phi tuần khu trục Việt Nam và Mỹ lần lượt thay nhau vào
vùng. Khu vực của ấp từ một dạng hình lục giác (Ấp Chiến Lược kiểu mẫu xây dựng từ đầu thập niên 60) nay không còn một hình thù nào nữa, ngỗn ngang gò
đống bốc khói điêu tàn.Nhưng so với An Lộc bên cạnh, Ấp Sóc Gòn chỉ là một lò than nhỏ.
Ngày 17, Bộ chỉ huy lữ đoàn cùng TĐ5 rời bỏ Ấp Sóc Gòn, di chuyển song song với TĐ8 theo đường Tỉnh Lộ 303 vào An Lộc. Từ suối Quản Lợi, Tiểu Đoàn 8
vào thẳng vòng đai thị xã lúc 7 giờ sáng sau khi diệt xongnhững chốt nhỏ.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Người lính Tiểu Khu Bình Long nhảy ra khỏi hố phòng thủ, anh báo
hiệu cho những ngưòi lính cùng tuyến.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Phải ở trong cảnh chết mới hiểu được độ xúc động khi nhìn thấy bạn đến tiếp cứu. Phải từ sự chết,
người dân mới thấy ra nỗi hân hoan sống lại khi nhìn ra vóc dáng anh lính cộng hòa giữa vũng lửa. Một Giờ, chiều ngày 17 tháng 4, 1972 Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng
Lữ Đoàn 1 Dù bước chân vào trong vòng đai An Lộc. An Lộc được cứu viện lần thứ nhất.
.. Không còn gì hết Quyền hả?
- Vâng. Kinh thật.
Hai người trao đổi câu nói ngắn. Đại Tá Lưỡng mượn chiếc xe jeep của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân do Quyền cầm lái chạy như bay qua gò đống, hầm hố và xác
người. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh còn hai hộp bia và chai bia lớn..
- Mời anh Lưỡng. Tốt quá. Có được anh tôi vững tâm. Ông tướng mới nhất quân lực cười tươi trên nét mặt lo âu.. Có anh, tôi mừng lắm!
Trên đường đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long của Đại Tá Trần Văn Nhật, Đại Tá Lưỡng hỏi Quyền.. Mầy biết tao vào An Lộc bằng cách nào không?
Quyền không hiểu ý câu nói, anh đưa mắt hỏi thầm.. À, tao vào bằng lưng, chân bị vọt bẻ quá, phải xoay lưng đi ngược.. Cái mặt mà sưng bằng cái lưng là không
khá. Khó lắm đó mầy. Quyền nghĩ thầm.. Lê Lợi 612 biết nói đùa quá. Cách đùa rất chính xác.

Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt, An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn... Không
còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người trên mặt đất, thành phố chìm dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng tốt như một ổ mối khổng lồ dưới lớp đất bùn
bề mặt. Một diện tích rộng chưa tới cây số vuông đã có lần nhận được 8000 viên đạn như trong đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên phá chưa kể hỏa
tiễn và cối tung hoành trên mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa Kao. Mỗi thước vuông đất phải nhận hơn 10 trái đạn. Đạn delay (công phá, nổ chậm) xuyên xuống đất
hơn một thước mới nổ. Không cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên cạnh cũng đủ xô ngã vách hầm. Dân và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục đổ từ trên trời
xuống trong hơn hai tháng. Pháo không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt, pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như gió, pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng
đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồng như ở Hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay giăng giăng che kín không gian của những ngày xuân
mưa bụi. Dưới bầu trời đầy những đóa hoa tử thần đó. An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời gió lớn.
Một hỏa tiễn nâng chiếc xe jeep bay bổng, khối sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm mặt đất lại bị thổi ngược lên cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc nhỏ bị
quay cuồng vì những viên đạn tinh nghịch chính xác trong phim cao bồi Mỹ..
Lê Lợi và Tố Quyên đứng im, nhìn kỹ thêm một lần trước An Lộc điêu tàn. Hai người lính không thể nói thêm một lời nào. Họ cúi thấp người, bước xuống chiếc
hầm của Đại Tá Trần Văn Nhật - Bộ chỉ huy Tiểu Khu Bình Long (20)

Không phải đợi đến lúc bước xuống căn hầm chỉ huy ngột ngạt của Tiểu Khu Bình Long, Đại Tá Lưỡng mới thấy ra sự chật chội thụ động của chiến trường, nhưng
từ khi cùng Quyền bay trực thăng trên các cao độ vùng đông-nam An Lộc, ông đã biết rất rõ độ ngặt nghèo thu hẹp của trận địa. Ông cần một nút thoát hơi cho
An Lộc, và đối với đơn vị của ông - Đồi Gió, cao độ “E” của Tiểu Đoàn 6 Dù là điểm thở quan yếu nầy. Vì từ cao điểm “E”, An Lộc có được một bàn đạp để
khai triển lên Bắc hay xuống Nam do được dãy cao độ 160, 175, 140 bảo vệ cạnh sườn phía Đông. Vì lý do nầy, Tiểu Đoàn 6 và pháo đội 105ly của Tiểu Đoàn 3
Pháo Dù giữù nhiệm vụ trấn đóng yết hầu mặt trận An Lộc là những đơn vị hứng chịu những mũi nhọn tiến công nặng nề nhất kể từ ngày bước xuống Đồi Gió.
Chúng ta theo dõi diễn tiến chiến trận của đơn vị nầy.. Khi Đại Đội 62 của Vinh “con” lên Đồi Gió chiều ngày 14 tháng Tư thì bộ chỉ huy cộng sản mặt trận Bình
Long cũng nhận ra cuộc đổ quân tăng viện, và dồn tất cả hỏa lực của vùng Bắc; Tây-Bắc An Lộc đồng đổ xuống vùng Đồi Gió, nơi có ba cao độ nổi rõ lên tạo
điểm chuẩn để pháo binh địch rơi xuống không trật một trái ra ngoài mục tiêu. Cũng bởi, phía chỉ huy cộng sản tại mặt trận đã xác định rõ qua một công điện gởi
về Trung ương cục R: “Một D (Tiểu Đoàn) Ngụy Dù chiếm Đồi Gió, gây khó khăn cho việc chiếm Bình Long, phải diệt gọn “D Ngụy” với tất cả phương tiện”(21)
Song song với chỉ thị của Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng qua việc để lại Đồi Gió bộ chỉ huy nhẹ của lữ đoàn với Lữ Đoàn Phó Trung Tá Lê Văn Ngọc, Đại
Đội 3 Trinh Sát, và pháo đội 105ly ND; Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Tiểu Đoàn Trưởng 6 Dù cũng không hoàn toàn thụ động đối với tình thế ngặt nghèo dưới cơn
mưa pháo. Đỉnh nhận định: “Nó phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực để bắn mình.. Tại sao mình không phân tán các “đứa con” ra ngoài để tránh pháo, cũng để
phòng thủ lưu động được toàn miền? Đỉnh phối trí các “đứa con” theo thế trận: Đại Đội 63 của Đại Úy Hoàng trấn giữ ngã Ba đường 245, Bắc của Ấp Ton Cui;
Trung Úy Cao Hoàng Tuấn chỉ huy ĐĐ64 giữ phần chính của ấp. Khi các đại đội đã vào vị trí. Đỉnh tự hỏi: “Dẫu đã có một hàng rào phía đông của “E”, nhưng
không hiểu đồi có giữ được không?” Thắc mắc của Đỉnh không kéo dài lâu, phía cộng sản cho liền đáp số. Đại Đội 63 bị tấn công trước, ngay vào lúc buổi trưa
ngày 17 với một lự c lượng quân số áp đảo, bởi phía chỉ huy cộng sản cũng đã hiểu ra rằng: Ấp Ton Cui là “bãi đáp trực thăng hữu dụng để tăng viện An Lộc”;
nhưng thêm ước tính nhầm là bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở tại ấp nên họ đã sử dụng một quân số vượt trội để quyết “diệt gọn” bộ chỉ huy tiểu đoàn. Đại Đội 63 có
được vị trí phòng thủ nên giữ tuyến chắc chắn; đến chiều tối, Đại Đội 64 được lệnh kéo lên tăng cường bởi Trung Tá Đỉnh hiểu rõ thêm ý đồ của đối phương.
Quảng cách hai đại đội khoảng chừng 600 thước, nhưng Trung Úy Tuấn phải mất năm giờ mới “bắt tay” được đại đội bạn. Hai viên đại đội trưởng nói cùng nhau:
“Một mình tao nó đánh không xong, nay hai đứa sức mấy tụi mình bị lũng.” Từ An Lộc, Đại Tá Lưỡng theo dõi diễn tiến trận đánh của Tiểu Đoàn 6, và ôn gcũng
thấy ra rằng nếu TĐ6 bị bứng khỏi khu vực Đồi Gió có nghĩa, các đơn vị của lữ đoàn hoàn toàn mất hẳn với liên lạc bên ngoài - Lần tiếp vận của Lữ Đoàn 1 hoá ra
chỉ tăng cường quân số cho đạo quân bị vây ở An Lộc thêm đông đảo. Ông trầm ngâm bảo Quyền: Hỏi bên Mỹ, rồi xin ở quân đoàn phi vụ “Daisy Cutter - Bom
BLU-82B” (22) thả xuống cho tụi “Thằng Đỉnh”.. Phải có thứ nầy mới ăn thua đủ với bọn chúng!! Trái bom từ bụng chiếc phi cơ vận tải võ trang AC130 (Phi cơ
AC130 thiết trí giàn phóng lựu 20, 40ly; đại liên 7.26ly; đại bác 105ly, chuyên trách công tác yểm trợ cận phòng, thả bom dọn bãi, phá chướng ngại vật (thiên nhiên)
lớn, thả trái sáng yểm trợ tác chiến đêm) chứa 15,000 cân Anh thuốc nổ và mãnh thép rơi bằng dù chính xác vào giữa đội hình đơn vị cộng sản chấm dứt cuộc
huyết chiến rạng sáng ngày 18 giữa tiếng reo hò của binh sĩ hai đại đội 63, 64.
Ngày 18 tương đối bình yên, Trung Tá Đỉnh đưa Đại Đội 61 xuống thay thế để hai Đại Đội 63, 64 trở lại đồi với lời khen ngợi: “Làm trưởng ấp một đêm là giỏi lắm
rồi.. Lấy được hai K54 (súng ngắn của người chỉ huy) như vậy nó đánh hai toa phải là cấp tiểu đoàn, và thằng tiểu đoàn trưởng thế nào cũng đã về với bác nó!”.
Hai-mươi bốn giờ “bình an” của ngày 18 đi qua nhanh chóng để bão lửa phục thù của Bắc quân ào xuống. Đồi Gió hay cao độ 175 dần nát vụn dưới cơn pháo
cường tập liên hồi, đồng thời phá nổ tung kho đạn dã chiến của pháo đội 105ly của pháo đội/TĐ3Pháo Dù. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh và cố vấn Peyton đồng bị
thương cùng với 32 quân binh.. Trong hầm chỉ huy của Đại Tá Nhật, Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng biết đã đến lúc địch quyết tâm dứt điểm Đồi Gió, khóa
cửa ngõ vào thị xã trước khi thanh toán mục tiêu chính: Cứ điểm trung tâm phòng thủ An Lộc. Ông mau mắn quyết định: Tiểu Đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ
pháo binh, tiểu đoàn trưởng toàn quyền điều động đơn vị để giữ thế trận. Trên Đồi Gió, Đỉnh lẫm bẩm:”Chỉ 48 giờ mất toi sáu khẩu pháo và ngàn quả đạn, thêm
một lô thương binh không tải thương.. Ở làm gì nơi cái đồi quái quỷ nầy nữa.” Dọt! Đỉnh để lại hai Đại Đội 63, 64 do Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng trấn giữ, đẩy
Vinh “con” xuống lại Ấp Ton Cui với lời dặn: “Mầy cố gắng bắt tay “Thằng 1” (ĐĐ 61) dưới kia để có bãi tản thương, tiếp tế, ở trên nầy nó pháo mờ người không
làm ăn gì được.” Từ chân đồi đến ấp chỉ khoảng 400 thước nhưng Vinh với ĐĐ62 phải mất hẳn một đêm 19 mới đi thấu. Quân binh hai bên trộn với nhau như gạo
và trấu, chỉ còn cá nhân chiến đấu qua cách sờ nón sắt để phân biệt ta hay địch! Đêm 19 chuyển qua ngày 20 với tiếng kèn thúc quân vang dội dọc Đường 245,
cùng lúc, đầu con đường, nghe rõ tiếng động cơ máy nổ của tăng T54 rầm rầm di chuyển.. Đỉnh rung tay: Bỏ mẹ, nó dứt điểm mình rồi! Tăng T54 ầm ầm tiến lên
Đồi Gió trước (ý hẳn phía cộng sản ước tính bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở trên đồi) .. Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng cùng hai đại đội trưởng Hoàng, Tuấn cùng ra
giao thông hào với khinh binh, đợi chờ những chiếc tăng lố nhố lính Bắc quân tùng thiết xông lên. Trận chiến không cân sức dần tàn vào trưa ngày 20 với kết thúc
bi thảm: Tiểu Đoàn Phó Bằng bị bắn tung một mắt; Đại Đội Trưởng Tuấn hứng ngay quả 75 ly, giã từ đời ở số tuổi 23. Bằng buông ống liên hợp máy truyền tin
thều thào bảo Hoàng khi máu chảy xuống ướt đẫm mặt: “Thay tôi, dẫn hai đại đội về Đồi 169, đem theo thương binh, chết để lại.”
Thanh toán xong Đồi Gió, quân cộng sản tập trung, điểm danh, chuyển lệnh ngay trên Đường 245 trước khi thanh toán phần còn lại của Tiểu Đoàn 6 ở Ấp Ton Cui.
Không lẽ đời mình tàn tại cái chỗ khốn nạn nầy hay sao Nghiêm? Đỉnh than nhẹ với Nghiêm, sĩ quan Ban 3 khi chờ lệnh Lê Lợi. Hơn hai-mươi bốn giờ của ngày
19 và 20 tháng Tư, Đại Tá Lưỡng không hề chợp mắt, ông ngồi cạnh máy truyền tin theo dõi và ra từng lệnh ngắn cần thiết đến Tiểu Đoàn 6 bởi ông biết rõ: Sinh
mạng đơn vị đang đụng trận ngoài kia hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi quyết định của ông. Ông cũng phải dấu đi mối đau riêng tư về tin Thiếu Tá Bằng bị thương
nặng - Bằng là một trong đại đội trưởng thân yêu của ông từ ngày mở trận Tiểu Đoàn 2 ở năm 1965 - Ông sống cùng, với bao nhiêu người đã nằm xuống, tưới máu
lên từng ngày, giờ chiến địa. Phải vô cùng khó khăn Lê Lợi mới lập lại được liên lạc với Đỉnh (do các tầng số âm thoại bị phá bởi phía Bắc quân dò được các tầng
số âm thoại đang xử dụng) qua hệ thống máy cố vấn Mỹ với trạm chuyển tiếp trên Núi Bà Đen (Tây Ninh), nơi cách An Lộc 100 cây số đường chim bay..
..Đây Lê Lợi 612.. Đỉnh chong đôi mắt mệt mỏi nghe rõ từng chữ: “Sẽ có ba line B52 đánh xuống chỗ anh, cách anh chỉ 500 thước thôi (phi cơ B52 dùng trong
công tác yểm trợ chiến thuật CAS (Close Air Support) trên lý thuyết phải có khoảng cách an toàn hai cây số), ở ba hướng, Bắc, Đông, và Nam, xong anh theo
hướng Đông-Nam đến bờ Sông Bé có trực thăng rước về.. Gắng lên, đời anh và tôi chỉ có một lần”. Ba line B52 đánh xuống như cơn địa chấn, 500 thước đối với
bom 500 cân Anh thả một loạt 24 trái (số lượng tối thiểu tùy theo cự ly bay, và giờ hoạt động trên mục tiêu) (23) quả thật không còn “khoảng cách an toàn” nào
nữa. Những chiếc B52 vừa đi qua, Đỉnh báo cáo cùng “612”: Xong rồi, xin Lê Lợi màn khói. Không có khói, thôi anh và con cái dọt đi. Tôi nghe. Đỉnh nói với hơi
thở hụt
Rừng còn nguyên độ nóng trận bom, nồng mùi lửa, khói trộn tro than bốc dày che khuất bầu trời xanh ánh trăng.. Đại úy đại đội trưởng Vinh “con” đi khi binh số 1;
Thiếu tá trưởng Ban 3, Nghiêm tiếp làm khinh binh số 2; và người thứ ba, Tiểu đoàn trưởng Đỉnh. Tiểu Đoàn 6 Dù, hậu thân của 6th B.E.P, đơn vị đầu đời của
viên sĩ quan kiệt liệt Đại Úy Đỗ Cao Trí lần đầu tiên buộc phải chấp nhận thất bại, im lìm rời khỏi chiến trường. Khởi đi từ 01 giờ 42 phút ngày 21 tháng Tư, tiểu
đoàn bị phục kích thêm hai lần nữa, bởi đi theo suối thì gặp các căn cứ cộng sản; đi trên cao độ thì bị pháo.. 5 Giờ chiều tại trãng trống để đợi trực thăng đến bốc
đi, đơn vị lại bị phục kích thêm một lần thứ ba - Lê Lợi biết rõ những điều nầy nhưng ông chấp nhận - Bởi chỉ tìm được đường sống trong ngã chết, vì hướng Đông-
Nam là an toàn khu nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của mặt trận Bình Long, nên phía cộng sản không thể nào nghĩ ra rằng: Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang lưỡng đã
chọn làm hướng lui quân cho Tiểu Đoàn 6 khi ông đã dội B52 xuống những hướng đối chiếu.

Tan hàng ngày 21 tháng Tư, nhưng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù với châm ngôn của binh chủng đã thực hiện và hoàn tất sự cố gắng qua từng người lính - Phần đông lại
là tân binh, quân phạm được ân xá cho trở về quân đội trong thời buổi nước nhà nguy biến. Với quân số 412 người vừa được bổ sung sau thiệt hại Đồi Gió mà3/4 là
tân binh.. Có cậu lính trẻ vốn là Nhân Dân Tự Vệ tập bắn XM16 cặp hông như bắn súng Thompson thời Thế chiến thứ Hai. Nhưng “tập bắn” cũng chỉ là cách nói
để tạm yên lòng vì một tháng nơi Căn Cứ Lai Khê (Bộ tư lệnh tiền phương của Quân Đoàn III), thành phần tân binh khác lạ kia của Tiểu Đoàn 6 chỉ được huấn
luyện kỹ thuật tác chiến, tác xạ bằng.. lý thuyết suông! Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Đỉnh thúc dục các đại đội trưởng..Các ông cố gắng dạy tụi nó được phút
nào hay phút đó.. Tập tháo ráp súng, tập tác xạ, nhận thủ lệnh khi giữ đội hình khi di chuyển.. Tập riết bằng miệng rồi cũng nên quen chứ bộ. Mình cố gắng dạy
đám lính mới nầy để đánh phục hận vụ Đồi Gió hôm tháng Tư. Không có gì thay đổi thì đầu tháng Sáu mình go! Trước sau gì tiểu đoàn mình cũng phải trở lại An
Lộc.
Ngày 4 tháng Sáu, 1972 như một câu chuyện thần kỳ về lần chuyển hóa những con người bình thường bỗng nhiên hóa thân nên những chiến sĩ lẫm liệt. Với đám
tân binh chưa được một lần tác xạ đạn thật, Tiểu Đoàn 6 Dù dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Đỉnh với giàn đại đội trưởng, trung đội trưởng sống sót từ trận Đồi
Gió như được thúc dục bởi một nguồn lực muốn chứng tỏ quyết tâm lập lại danh dự người lính, nên từ khi xuống bãi đáp Bàu Đồng Lô, tiểu đoàn dưới sự dẫn đầu
của Lộc, Đại Đội Trưởng Đại Đội 61 đã đi như ánh chớp qua các mục tiêu..Ấp Đức Vinh1, Đức Vinh 2, cách An Lộc đúng năm cây số đường thẳng. Để hiện
thực trong trận chiến cuối cùng ngày 6 tháng 6, 1972.. Hai Đại Đội 61, 62 rời khỏi khu đóng quân , xếp hàng hai bên ven đường. Gần hai trăm con người lẫn nhanh
vào kku rừng phía tây..Nhào vào..Nhào vào sâu hơn nữa.. Hai đại đội trưởng hét vang thúc lính tấn công theo hướng Tây-Đông. Đại đội 62 của Vinh bảo về bộ chỉ
huy tiểu đoàn bố trí qua theo mặt Bắc- Hướng An Lộc. Khi tất cả đã ở yên trên các vị trí chỉ định. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh hạ lệnh lần cuối: 63 bọc xuống phía
Nam, không cho tụi nó chạy lui; 61, 62, 64 dánh từ Tây sang Đông, bao giờ đến đường rầy thì ngừng lại đợi lệnh. Dàn hàng ngang và đánh thật nhanh. Nhanh đến
mức có gã lính mới lần đầu tiên thấy lính Miền Bắc quá gầy yếu, nhỏ bé.. Hắn ta nhào vào quên cả tác xạ! Pháo địch bắn cản đổ xuống như trút. Mặc! Đỉnh thúc
tiểu đoàn ào tới theo cách bộ đội cộng sản tránh bom “bám chặt thắt lưng kẻ thù mà đánh”. Bị thương ném lui ra đằng sau để Tiểu Đoàn Phó Tùng (đã bị thương
khi xuống bãi trực thăng ngày 4) thâu nhặt, bảo vệ.. Ào tới ! Ào tới! Đánh kiểu “Blích -kiết” của tụi Đức, bảo lính vừa đi vừa bắn.. Đừng cho tuị nó ngóc đầu!!
Chiến trận chấm dứt sau năm giờ tiến quân thần tốc với kết quả, tiểu đoàn 1 chết, 63 bị thương đổi lại 90% địch chết tại hầm. Và cuối cùng ngày 8 tháng 6.. Cứ
theo chiến thau65t như ngày hôm kia..Xung phong! Xung phong! Tiếng hét, đạn nổ.. Lựu đạn M26; phóng lựu M79; hoả tiễn M72 chêm vào với đạn súng tay như
một chuỗi pháo liền bất tận.. Những cán binh cộng sản còn sống thuộc hai đại đội C7, C8 bỏ giao thông hào, từng cặp một (bị xiềng vào nhau bởi một dây xích - để
không cho phép bỏ chạy khi tac chiến) chạy tản ra đồng trống.. Bỏ ba-lô.. Bỏ ba-lô đuổi theo.. Đuổi theo đừng cho thằng nào chạy thoát!! Lính tân binh thâm niên
công vụ 16 ngày lần đầu đụng trậân không biết sợ, cặp súng vào hông đuổi theo đám cán binh thất thế.. Hai đại đội bị “dứt nọc” sau 2giờ12 phút chiến trận với một
tù binh độc nhất sống sót còn lại: Tù binh Nguyễn Văn Tiền.
Thừa thắng xông lên, Vinh trở quân đánh vào mục tiêu hướng Bắc - Mục tiêu chính nằm ở ngã tư đường vào đồn điền Xa Cam - Cửa ngỏ An Lộc. Bộ phận cộng
sản bố trí hướng về phía Bắc (hướng của Tiểu Đoàn 8 Dù) xây lưng về hướng tiến quân của đại đội của Vinh.. Tất cả để cò vào vị trí “auto”.. Bắn! Bắn! Những
tấm lưng thịt người nẩy lên bừng bực..Đạn đi qua thịt người, găm vào đất. Đất vốn màu đỏ sậm trở nên đỏ tươi. Đỏ gắt. Đỏ ướt. Đơn vị cộng sản chạy dạt về
hướng tây. Gặp Đại Đội 63 của Thái Tường. Lính Tiểu Đoàn 8 cách nơi đụng trận khoảng 800 thước, đứng dậy khỏi hố chiến đấu hoan hô lính Tiểu Đoàn 6 dứt
điểm, diệt gọn mục tiêu.
17 giờ 45 Vinh “con” bắt tay Hồng Ni (TĐ8 ) cách tấm bảng “Đồn Điền Xa Cam” 100 thước. Trước mặt hai người bạn (cùng Khóa 20 Thủ Đức) An Lộc được
buổi chiều bình yên bốc khói bếp nấu cơm.
Trên trực thăng bay đến An Lộc, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 (Chỉ huy tổng quát cuộc hành quân giải tỏa An Lộc), Nguyên Tư Lệnh Phó
Sư Đoàn Dù, cũng là Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù có câu trả lời với Lê Lợi..
- Hoàn Mỹ (Chuẩn Tướng Hậu) xem con cái tôi đánh có đẹp không?
- Không, không thể nói chúng nó đánh đẹp, mà phải nói là quá đẹp. Cũng không được nữa, phải nói lỗi lạc và phi thường. Đại Tá Lưỡng vốn quen biết Chuẩn
Tướng Hậu từ rất lâu, ngày cùng ở Tiểu Đoàn 5.. Nhưng chưa bao giờ nghe ông Hậu nói một câu với những tỉnh từ nồng nhiệt như thế.
Nhưng theo ý của người viết đoạn ký nầy, món quà “đẹp” nhất là cảnh người lính nhảy dù đem cơm khô, trái cây hộp; bác sĩ, y tá ra trực hai bên Đường 13 để
chửa bệnh, biếu phần “cơm dằn đường” cho đồng bào. “Cơm dằn đường” - Ai sinh ra loại cơm đau đớn tội nghiệp như thế hở trời?!(24)

4. Trận chiến tàn cuộc
Suốt năm 1972, Lữ Đoàn 1 trong khuôn khổ Sư Đoàn Dù là một trong những đơn vị của toàn quân lực đã có mặt trên toàn ba vùng đất lửa: Trị-Thiên; Tân Cảnh,
KonTum, và nhất là chiến công vừa kể trên trong kỳ tích giải cứu, phá vòng vây của địch tại An Lộc. Riêng về vùng Trị Thiên, kể từ tháng 5, 1972 sau khi Tướng
Ngô Quang Trưởng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I, toàn bộ Sư Đoàn Nhảy Dù được chỉ định tăng phái hành quân dài hạn tại Vùng I, là đại đơn vị trách nhiệm
toàn vùng Tây-Bắc mặt trận Trị-Thiên với vùng hành quân bao gồm từ tây Quốc Lộ I vào Trường Sơn trấn giữ mặt núi, đối diện với những sư đoàn chính quy
cộng sản trên cao độ Động Ông Đô, đỉnh cao nhất của Trường Sơn, trấn giữ thế trận hai sườn đông- tây để những đơn vị bạn, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến,
Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị dựng nên kỳ tích lịch sử: Dựng Cờ Vàng lên Cổ Thành Quảng Trị, 14 tháng 9,
1972.

Sau Hiệp Định Paris, 1973 Sư Đoàn Nhảy Dù là lực lượng chiến lược chống giữ cả hai mặt Bắc và Nam đèo Hải Vân. Vùng trách nhiệm kéo dài qua ba tỉnh
Quảng Trị-Thừa Thiên-Quảng Nam, chịu áp lực từ phía cộng sản có thể tập trung quân dứt điểm toàn vùng theo chiến thuật Đông-Tây: Cắt Thừa Thiên (Bắc Hải
Vân) theo chiều ngang của Sông Bồ (An Lỗ, Quảng Điền, Thừa Thiên); hoặc từ Quận Thường Đức đổ xuống đồng bằng Quảng Nam (Trận Mật Khu Đỗ Xá, 1964
kể bên trên là hiện thực bước đầu của ý niệm chiến lược nầy của phía cộng sản - Không phải chỉ riêng đối với giai đoạn chiến tranh 1960-1975, mà xuyên suốt
trong diễn tiến chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) để hoàn tất sự chia cắt Vùng I Chiến Thuật theo chiều ngang Nam Hải Vân. Với tình thế chống
địch cả hai đầu, sư đoàn nay đặt dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng. Thêm một lần Tướng Quân phải tìm cách thế để đơn vị tồn tại, chiến
đấu, và vượt thắng bằng khả năng quân sự độc đáo, bản lãnh riêng. Do hạn chế bởi các điều khoản Hiệp Định Paris: Không được tăng quân số và áp dụng biện
pháp thay thế “Một Đổi Một” (Chương II-Điều 7); cùng sự cắt giảm viện trợ Mỹ (Điển hình từ 1Tỷ47 rút xuống còn 1Tỷ, xong 700 Triệu, để kết thúc với 654Triệu
cho tài khóa 1975) (25) - Tướng Lưỡng cùng ban tham mưu sư đoàn sáng tạo nên kế hoạch: Tạo dựng những “Đại Đội Đa Năng” với quân số cơ hữu của sư
đoàn bằng cách giảm thiểu đến mức tối đa các thành phần tham mưu, yểm trợ, kể cả trung tâm huấn luyện. Thế nên, cuối năm 1973, sư đoàn đã có đến 12 Đại
Đội Đa Năng làm thành phần trừ bị cho chính mình - 12 đại đội hay là 3 tiểu đoàn - Tức là một lữ đoàn trừ bị. Với cách biên chế, tổ chức mới mẻ nầy, sư đoàn
hoàn tất được một lần hai nhiệm vụ: Bảo vệ mặt Bắc Hải Vân với Lữ Đoàn II và một Tiểu Đoàn Đa Năng; thành phần còn lại của sư đoàn chiếm đóng, bảo vệ
mặt Nam Hải Vân qua cuộc tiến công từ Đại Lộc lên Cao Điểm 1062 - Chế ngự toàn vùng Thường Đức, vùng núi cực tây Quảng Nam-Đà Nẵng. Quận Thường
Đức cách Đà Nẵng 50 cây số đường chim bay, với những cao điểm 1235 và 1062 kiểm soát được toàn vùng cận sơn và đồng bằng. Nhưng không chỉ như thế -
Nếu chiếm giữ được Thường Đức, lực lượng cộng sản sẽ mở một được một đường hành lang thông suốt chạy từ Bắc Kontum (vùng Dak To, Dak Pek, Dak Nhét
đã chiếm được từ tháng 4/1972) xuống vùng bình nguyên (khỏi phải dùng đường từ Kontum, Pleiku ở phía Nam, xa xôi, với quá nhiều trở ngại); chưa hết con
đường nầy còn nối với mặt trận Trị-Thiên (Bắc Hải Vân) mà không cần băng qua đất Lào. Vùng Cao Độ 1062 do đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội Miền Bắc
trấn giữ: Sư Đoàn 304 Điện Biên, và SĐ2CS tăng cường từ Mặt Trận B3 (Tây Nguyên). Trận chiến trên các cao điểm chung quanh 1062 bắt đầu từ ngày 8 tháng
8/ 1974 chấm dứt vào cuộc phản công cuối cùng ngày 8 tháng 11 cùng năm do bảy Tiểu Đoàn Nhảy Dù 1, 2, 3, 6, 7, 8, 9 trong số chín tiểu đoàn có mặt tại vùng
hành quân đã liên tục tác chiến, đánh ngày, đêm, cận chiến, du kích, đột kích, trận địa chiến.. Có thể nói đây là chiến trận lớn nhất sau cái gọi là “Hiệp định tái lập
hòa bình tại Việt Nam”. Người lính nhảy dù trả giá cho ngọn đồi và hòa bình với sinh mạng 500 chiến sĩ; 2000 người bị thương trận.
Cuộc huyết chiến tại cao điểm 1062 tạm kết thúc đợt giao tranh thứ nhất (cuối tháng 8/ 1974) với 200 xác bộ đội cộng sản (kiểm kê sơ khởi); 40 tù binh bị bắt tại
trận địa. Trương Công Phê, Sư đoàn trưởng Sư Đoàn 304 (còn có danh hiệu “Sư Đoàn Thép”) có kết luận: “Sư Dù là một sư mạnh”. Nhưng phần thưởng lớn lao
nhất, hãnh diện là lời của đồng bào Đại Lộc: “Nhảy Dù tới bà con ơi! Nhảy Dù tới! Chúng ta không chạy nữa, quay lại làm ăn như cũ, đừng sợ gì nữa!” (26) Phải,
đồng bào đã từng nói như thế ở Huế, Mậu Thân 1968; và mới đây, năm 1972 ở An Lộc, Bình Long, và tiếp theo ở Quảng Trị chỉ trong khoảng tháng 4, tháng 5.


Ngày 1/1/1975, một lần nữa để đáp ứng tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên khốc liệt khó khăn, dưới quyền tổ chức và quyết định của Tướng Lưỡng, Sư
Đoàn Nhảy Dù thành lập Lữ Đoàn IV Nhảy Dù, và tiếp theo sẽ là Lữ Đoàn V Nhảy Dù. Lữ Đoàn IV Nhảy Dù do Trung Tá Lê Minh Ngọc giữ chức lữ đoàn
trưởng, gồm:
- Tiểu Đoàn 12ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm.
- Tiểu Đoàn 14ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu tá Nguyễn Đức Tâm.
- Tiểu Đoàn15ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Phú.
- Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Đặng Hữu Minh.
- Đại Đội 4 Trinh Sát do Trung Úy Trần Chí Mỹ giữ chức đại đội trưởng đang hình thành.
Riêng kế hoạch phát triển thêm Lữ Đoàn V Nhảy Dù đang được hoàn chỉnh, bởi chưa có lữ đoàn trưởng, chỉ thành lập được ba Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gồm có
các Tiểu Đoàn 16, 17 và 18 với dự tính: Tiểu Đoàn16ø do Trung Tá Phạm Kim Bằng làm Tiểu Đoàn Trưởng. Tiểu Đoàn 17ø, Thiếu Tá Lê Hữu Chí; Tiểu Đoàn
18ø do Thiếu Tá Hồng Thu dự trù đảm nhiệm. Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh; Đại Đội 5 Trinh Sát chưa được thành hình. (27)

Sau ngày 10, tháng 3, 1975 khi mặt trận Vùng II suy sụp trầm trọng bởi lần di tản bộ tư lệnh cùng toàn thể các đơn vị khỏi Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 17 tháng 3,
1975. Tình hình quân sự Miền Nam trở nên cầm đầu đã mất hết khả năng kiểm soát, lãnh đạo đất nước. Riêng Bộ Tổng Tham Mưu, quyền điều hành, quyết định
nằm trong tay một viên tướng chuyên ngành tiếp vận, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân - Một trong những nhân tố chính
của tổ chức siêu tài chánh-kỹ nghệ “Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội”với đồng tiền máu của mỗi người lính góp vào trong những năm 1968-1972. Trong tình huống cực kỳ
khó khăn, nguy biến kia, Sư Đoàn Nhảy Dù lại được lệnh rời bỏ Đà Nẵng, và bị xé ra từng mảnh nhỏ, dàn mỏng trên những trận địa không chiều sâu, hở cạnh
sườn, thiếu yểm trợ không quân, thậm chí đến không có pháo binh diện địa hỏa yểm tiếp cận. Cuối cùng không thành phần trừ bị, tiếp ứng (28 ).. Tất cả để thực
hiện một sách lược gọi là “Đầu bé - Đít to” của chính đương kim Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. “Đầu bé”ù là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên,
vùng đông dân cư Bình Định, Khánh Hòa; và “Đít to” tức là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ. Nhưng thực tế diễn tiến
chiến sự đã cho thấy: Không có một kế hoạch nào tồn tại được, bởi đây là một kế hoạch đặt trên sự lừa dối, và bất lực trước tình thế - Cũng như không một thân
thể nào tồn tại được khi đã bị bẻ gẩy sống lưng - Thủ phủ vùng Tây Nguyên, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thị Xã Pleiku hoàn toàn bị bỏ ngỏ, rơi vào tay
cộng sản không tiếng súng kể từ ngày 17 tháng 3, 1975. Trước tình trạng cực độ vô lý: “Chưa đánh đã có lệnh tháo chạy” đã có lúc, Tướng Quân Lê Quang
Lưỡng ngỏ ý thẳng với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Hãy để Sư Đoàn Dù về Sài Gòn (đang tăng phái hành quân tại Vùng I của Tướng Trưởng) lật đổ con
người đã không còn năng lực lãnh đạo, và càng ngày càng lộ rõ ý đồ phá vỡ sức chiến đấu của quân lực điển hình qua việc xé lẻ hai Sư Đoàn Nhảy Dù, TQLC;
Lữ Đoàn Thiết Kỵ, các Liên Đoàn Biệt Động, Biệt Kích.. Những lực lượng xung kích, tổng trừ bị quốc gia.(28Bis) Điển hình Lữ Đoàn 147/Sư Đoàn TQLC vừa bị
bức tử nơi bến phà Thuận An chưa xong việc đếm xác, đến lượt hai Lữ Đoàn 258 và 369 vô cớ rút từ Huế vào Đà Nẵng, xong từ Đà Nẵng vào Sài Gòn.. Tàu thủy
đến ngang NhaTrang lại được lệnh trở lui tái chiếm Đà Nẵng!! Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù không còn được quyền ra lệnh cho các đơn vị trực thuộc, bởi tất cả
lệnh điều động (cấp tiểu đoàn) chỉ được phát xuất từ Dinh Độc Lập.
Rời Huế (cuối tháng 3) trong hoàn cảnh hỗn loạn của cuộc rút quân vô cùng phi lý, và vô kế hoạch của người nắm giữ vận mệnh quốc gia, Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu; lại tiếp nhận lệnh điều động trực tiếp từ “Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nguyễn Văn Thiệu”, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Văn
Phát gồm các Tiểu Đoàn 2 (Thiếu Tá Trần Công Hạnh); Tiểu Đoàn 5 (Trung Tá Bùi Quyền): Tiểu Đoàn 6 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành - Khác với Nguyễn Văn
“Thành Râu”, Tiểu Đoàn Trưởng 11). Gọi là ba tiểu đoàn nhưng thực sự toàn bộ các đơn vị phải phân tán dọc trục lộ Quốc Lộ 21 thành những chốt nhỏ cấp tiểu
đội để có thể liên hoàn yểm trợ nhau trong tình huống đơn độc chiến đấu. Đối lại phía cộng sản, sau khi chiếm xong toàn bộ Ban Mê Thuộc kể từ 15 tháng 3, và
không cần phải củng cố vị trí vừa chiếm xong (rút kinh nghiệm của Mậu Thân 1968; Tổng Công Kích 1972) hai Sư Đoàn 320, và F10 đồng lần rời bỏ Ban Mê
Thuộc, bôn tập theo Quốc Lộ 21 về phía bình nguyên duyên hải. Hai Sư Đoàn F10 và 325 với một lực lượng tấn công từ Miền Bắc vào gồm: 2376 xe các loại, trong
đó có 100 xe tăng; thiết giáp; gần 185 pháo lớn từ 85 đến 155 ly; hơn 100 khẩu cao xạ.. (29) Số lượng quân trang, vũ khí nầy chỉ riêng cho mặt trận Ban Mê
Thuộc, chứ thật sự để xâm lăng Miền Nam, quân đội cộng sản Hà nội đã chuyển vào Miền Nam từ 1974 đến tháng Tư/1975 một tổng số 823,146 tấn quân dụng vũ
khí “gấp 1.6” số lượng tiếp vận trong 13 năm từ 1960 đến 1973!! Về quân số, chỉ hai năm 1973-74 đã nhập ngũ thêm 150.000 tân binh để gởi vào Nam thay thế
68,000 quân thiệt hại, với 8000 cán bộ chuyên môn các ngành (30). Tóm lại 16 sư đoàn bộ binh của miền Bắc kéo vào không thiếu một đơn vị mà đích thân
Kissinger đã phải kêu lên ngao ngán sau khi nghe báo cáo từ tướng Weyand sau lần qua lượng định tình hình Việt Nam (28/3 đến 4 tháng /4) tại buổi họp tại Phòng
Bầu Dục tòa Bạch Ốc với hầu hết quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ: “Hiện tại, toàn thể quân lực Bắc Việt Nam đã ở Miền Nam... Chỉ cần một Lữ Đoàn
Thủy Quân Lục Chiến (Mỹ) là đủ chiếm đóng hết Miền Bắc. Rõ ràng Hiệp Định (tái lập) Hòa Bình Paris đã bị vi phạm trầm trọng” (31) Phải có học vị tiến sĩ
(xuất thân ở Đại Học Harvard), với chức vụ ngoại trưởng Liên Bang Bắc Mỹ mới biết được điều đơn giản nầy thì quả tình con người được tiếng là tài giỏi, thông
minh nầy cũng không “khá” hơn bao nhiêu người tầm thường khác. Ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 không yểm trợ, không trừ bị tiếp ứng bị lực lượng hai sư đoàn cộng sản
tràn qua như một điều tất nhiên sau ngày Nha Trang bỏ ngỏ, 31 tháng 3. Cũng là ngày Huấn Khu Dục Mỹ (gồm các Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động; Pháo
Binh, Bộ Binh) tự tan rã.

Phòng tuyến của chiến lược “Đầu bé- Đít to” kia lại thêm lần điều chỉnh, củng cố với một “cái đầu” tại Phan Rang (quê nội của Nguyễn Văn Thiệu). Vùng Phan
Rang với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân không hề là vị trí phòng thủ hữu hiệu của bất cứ hình thái chiến tranh nào. Bởi đối phương có thể hành quân tiếp
cận đến Phan Rang bằng nhiều hướng: Quốc Lộ I (Hướng Bắc từ Cam Ranh, Nha Trang đánh vào); Quốc Lộ 11 từ Đà Lạt đánh xuống từ phía Tây-Bắc; từ bờ
biển đổ bộ vào (hướng Đông); hoặc đánh vòng từ hướng Nam lên theo Quốc Lộ I. Thành phần binh lính trách nhiệm phòng thủ Phan Rang vốn là những đơn vị đã
bị thiệt hại lớn ở mặt trận Vùng I (Trung Đoàn 4, 5/SĐ2BB); các Tiểu Đoàn 31, 36, 52 Biệt Động đã mất sức do đã phải tác chiến liên tục từ mặt trận Chơn Thành
(Vùng III); Về phía nhảy dù, Lữ Đoàn 2 vừa bị thiệt hại ở mặt trận Khánh Dương, nay được thay thế bởi Lữ Đoàn 3 với Đại Tá Nguyễn Thu Lương Lữ Đoàn
Trưởng; Trung Tá Trần Văn Sơn Lữ Đoàn Phó, chỉ huy ba Tiểu Đoàn 3, 7, 11. Toàn thể đạo quân nầy phải chiến đấu tự tồn, không tiếp tế, không yểm trợ đối mặt
với đại quân của Quân Đoàn 2 Bắc Việt do Trung Tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, gồm hai đơn vị chủ lực SĐ325 và SĐ3 của Tây Nguyên (vẫn tiếp tục làm thành
phần mũi nhọn tấn công mãi cho đến mặt trận Long Khánh (cuối tháng 4) sau nầy), ngoài ra còn có Đoàn 968 vừa thành lập từ Lào bôn tập về), cùng lực lượng
chủ lực, du kích địa phương. Với tương quan lực lượng quá chênh lệch như thế, nên dù người lính cộng hòa có nỗ lực chiến đấu kiên trì bao nhiêu cũng không thể
giữ vững các vị trí chiến thuật dọc Quốc Lộ I, có thể ngăn cản đà tiến quân của phía cộng sản (chưa kể đến tình trạng suy sụp, đỗ vỡ tinh thần do lo lắng về gia
đình của những đơn vị di chuyển từ Miền Trung vào). Ngày 16/4 toàn bộ cấp chỉ huy cao cấp của mặt trận gồm Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn Tướng
Phạm Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương, và nhiều liên đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng đều bị bắt.
Trong tình hình ngặt nghèo dồn dập diễn ra, “Đích Thân Lê Lợi 612” đúng danh hiệu “Đích Thân” luôn có mặt cùng mỗi người lính trong những giờ phút gay go
nhất. Tướng Quân bay ra Phan Rang, trên chiến địa Khánh Dương đầu tháng 4 để trực tiếp chỉ huy các phi vụ “móc” con cái “Thằng Quyền (Tiểu Đoàn Trưởng
Tiểu Đoàn 5); Thằng Hạnh (TĐ2); Thằng Thành (TĐ6).. Tướng Quân tiếp nặng lòng đau đớn cùng lần lui quân bi phẫn của Lữ Đoàn 2 từ phi trường Phan Rang
với kết quả, TĐ11ND mất liên lạc toàn bộ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành, cùng một số chiến sĩ trung kiên đồng lọt vào tay địch! Trong trận chiến tuyệt vọng này,
Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Đoàn Phó, và nhiều chiến hữu khác của đoàn quân nhảy dù đồng bị hy sinh với niềm uất hận không thể đền bù. Chỉ mỗi TĐ3Dù do
Trung Tá Lã Quý Trang chỉ huy còn 100 chiến sĩ được trực thăng được trực thăng bốc từ bãi bể nam Thị Xã Ninh Chữ, Phan Thiết. Riêng TĐ7ND của Trung Tá
Nguyễn Lô bảo toàn quân số do được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu rút ra khỏi Phan Rang trước khi trận đánh khai diễn.

Lữ Đoàn I ND do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Lê Hồng Lữ Đoàn Phó gồm ba Tiểu Đoàn 1, 8, 9NDø, Đại Đội 1 Trinh Sát, Tiểu Đoàn
3 Pháo Binh, Đại Đội 1 Quân Y, Đại Đội 1 Công Binh tăng phái Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn chỉ huy tổng quát, trấn giữ
Quận Lỵ Xuân Lộc, chận đứng bước tiến từ hướng bắc của quân đoàn cộng sản vào Thủ Đô Sài Gòn. Lươc lượng diện địa phòng thủ Long Khánh LĐ1ND đã làm
tròn trách nhiệm giao phó, không để cho địch quân tiến thêm được một tấc đất, buộc đoàn quân “Sinh Bắc - Tử Nam” của dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại
Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải trả một giá đắt với 6000 xác chết; 37 chiến xa bị phá hũy. Riêng đối với một đơn vị cấp lữ đoàn, với thiệt hại nghiêm trọng
phải chịu đựng sau hơn gần hai tuần chiến đấu liên tục (10/4-21/4) chống chọi nhiều đợt tấn công của Quân Đoàn 4 CS gồm ba sư đoàn bộ binh 6, 7, 431 được hai
lữ đoàn xe tăng 203, 204 tăng cường hành quân, dưới yểm trợ của đại pháo tầm xa, có các đơn vị đặc công đánh xuyên phá, mở cửa.. Cuối cùng Lữ Đoàn 1 Dù lại
phải đảm nhận thên nhiệm vụ cuối cùng: Bảo vệ tập hậu đoàn quân rút lui gồm các thành phần của Sư Đoàn 18 Bộâ Binh, Tiểu Khu Long Khánh, các thành phần
pháo binh cơ hữu và diện địa, lại thêm hàng chục ngàn dân chúng đi theo.. Nên bất chấp ngăn cản của phủ tổng thống do đích thân Tổng Thống Thiệu ra lệnh; bộ
Tổng tham mưu với Tổng Tham Mưu Trưởng Khuyên, Đại Tá Lưỡng điều động trực tiếp, xử dụng TĐ 7 Dù và hai chi đoàn chiến xa M113/ Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ
của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm thành phần tiếp cứu. Lực lượng hỗn hợp nầy xuất phát từ Phước Tuy (Bà Rịa) đi ngược lên Tỉnh Lộ 2, đón thành phần
triệt thoái của Sư Đoàn 18, Tiểu Khu Long Khánh, và Lữ Đoàn I Dù về Bà Rịa an toàn. Nhưng cuối cùng, đêm 28 rạng ngày 29/4/75, quân CSBV cường tập tấn
công vào lực lượng Nhảy Dù ở Láng Cạn, Bà Rịa, lính các Tiểu Đoàn 1, 8, 9 đánh trả quyết liệt, liên hoàn bảo vệ đơn vị đến Giờ Thứ 25 mới rút xuống Vũng Tàu
để lui về Gò Công, từ đây di tản ra hạm đội. Có thể nói Lữ Đoàn 1 ND là đơn vị có quân số đông đảo nhất đã di tản ra khỏi nước.
Được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, Lữ Đoàn 2 Dù sau khi rút khỏi Phan Rang về Sàigòn, đặt thuộc quyền điều động của Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh
QĐIII/QKIII. Tướng Toàn đã tạm thời chỉ định Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7ND kiêm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND trách nhiệm,
điều động hai Tiểu Đoàn 5 và 7, chận đứng địch trên tuyến Biên Hòa - Xa lộ Đại Hàn - Sàigòn do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ
Binh/Lực Lượng Xung Kích/QĐIII (LĐ3KB/LLXKQĐIII) chỉ huy tổng quát. Nhiệm vụ chính của LĐ2ND là tiến quân bên phải đường sắt hướng về Sàigòn; đến
ngoại ô Bắc Sàigòn, co cụm lại, bố trí dọc xa lộ Biên Hòa, chặn địch vào thủ đô. Sau 30 tháng Tư, 1975 người đi qua vùng nầy vẫn còn thấy những xác Lính Nhảy
Dù chết trong trận chiến giờ cuối cùng bảo vệ Miền Nam.

Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù do Trung Tá Trần Đăng Khôi làm Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Bùi Quyền Lữ Đoàn Phó với ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 Nhảy Dù từ Phan Rang
được rút về đóng ở trại Hoàng Hoa Thám, Tân Sơn Nhất. Đây là đơn vị đã đánh trận cuối, vô cùng ác liệt ngay trong lòng Thủ Đô Sài Gòn-Chợ Lớn, tiêu diệt
nhiều chiến xa T54, T59, và PT76 của địch từ Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trường Đua Phú Thọ, và Chợ Lớn v.v.. Tới giờ phút chót của buổi sáng
30 tháng Tư, các chiến sĩ LĐ3ND vẫn vững tay súng giữ vị trí được giao phó, đơn vị chỉ buông vũ khí sau khi Dương Văn Minh nghe lệnh đầu hàng. Tất cả cấp chỉ
huy của lữ đoàn, và các tiểu đoàn đều cùng ở lại cùng anh em binh sĩ, chịu hoàn cảnh tù tội khắc ngiệt nơi Miền Bắc, không người nào dưới mười năm đày ãi, khổ
sai: Các Trung Tá Phạm Kim Bằng, Trần Đăng Khôi, Nguyễn Lô, Bùi Quyền.. Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Đức Tâm, Ngô Xuân Vinh..
Cấp đại úy, trung úy không thể kể đủ vì quá đông. Điều đáng hãnh diện là hầu hết sĩ quan nhảy dù đồng chứng tỏ bản lĩnh kiên cường của Người Lính Mũ Đỏ trong
hoàn cảnh khắc nghiệt của trại tù làm đối phương dẫu đang ở vị thế kẻ thắng trận cũng phải kiêng dè, kính nể. Trường hợp của các Trung Tá Phạm Kim Bằng,
Nguyễn Lô; Thiếu Tá Trần Công Hạnh là những điển hình rõ nét nhất.
Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng, với ba Tiểu Đoàn 12, 14 và 15 Nhảy Dù, có đầy đủ quân số tác chiến và đã đưa
vào hoạt động thật sự ở Đà Nẵng, Quân Đoàn I/Quân Khu I. Được rút về Sài Gòn giữa tháng 2/75, biệt phái cho Biệt Khu Thủ Đô để ngăn chận CSBV ở cửa ngõ
Thủ Đô Sài Gòn qua cư xá Thanh Đa, xa lộ Biên Hòa, cầu Tân Cảng.




Last edited by khieulong on Mon Nov 20, 2017 3:30 am; edited 1 time in total
Scorpio Gender:Male Pig OfflinePersonal Gallery of khieulongView user's profileSend private message
khieulong



Age: 70
Joined: 02 Jun 2007
Posts: 3344

blank.gif
PostPosted: Mon Nov 20, 2017 3:29 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Vào thời điểm Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn, chấm dứt cuộc chiến uất hận, Người Lính Nhảy Dù cùng chiến hữu Liên Đoàn 81 Biệt Kích, Lữ Đoàn
Thiết Kỵ.. vẫn chiến đấu kiêu hùng cho đến viên đạn sau cùng, lấy chính xác thân để chận chiến xa của quân thù trên Cầu Xa Lộ, trên đường phố Sài Gòn. Trong
một cao ốc đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, hai sĩ quan và sáu binh sĩ nhảy dù tử thủ cho đến khi hết đạn, họ cho nổ hai quả lựu đạn cuối cùng để tự sát trên sân
thượng. Tại Ngã Tư Hồng Thập Tự - Lê Văn Duyệt, đồng bào chứng kiến bốn chiến sĩ nhảy dù trang bị đại liên M60, phóng lựu M79; và họ đã quyết chiến đấu tới
cùng cho đến khi hết đạn, xong bình tỉnh bước ra ngoài, nắm vai nhau, thành một vòng tròn.. Họ nổ trái lựu đạn sau lời hô quyết tử.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn
Năm! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Nhảy Dù Cố Gắng! Nhảy Dù! Nhảy Dù!
Điển hình là những vụ tự sát tập thể hoặc cá nhân của những Lính Mũ Đỏ: Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng bảy chiến sĩ tại góc đường Trần Hưng Đạo-Tổng Đốc
Phương, Chợ Lớn; Chuẩn Úy Tô Chiêu Minh Đại Đội 204/Quân Cảnh Dù chết ngay trước cổng Trường Trung Học Đắc Lộ, Tân Việt trước cổng Trại Hoàng Hoa
Thám - Ngôi nhà vĩnh cữu của Người Lính Nhảy Dù. Còn rất nhiều trường hợp lẫm liệt hy sinh với lần đất nước tiêu vong.

Cùng lúc, tiếp theo những tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Vị Quốc Vong Thân: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Hồ
Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long.. Còn có những Người Lính khác - Những Người Lính Nhảy Dù chết khắp nơi. Những cái chết không ai hay, những người chết
không ai biết tính danh đã làm màu Mũ Đỏ thêm thắm tươi sắc máu Trung Nghĩa, và Giải Băng Tang Đen dài cùng nỗi Đau Thương của toàn Dân Tộc.

Lần Chào Kính Cuối Cùng..
Lịch sử, quân đội của nhiều dân tộc thường kết liền với danh tính của những cá nhân kiệt liệt - Những người dựng nên các triều đại, chỉ huy những chiến dịch lớn,
quyết định vận mệnh của dân tộc, quân đội ấy.. Hán Cao Tổ, Lưu Bang (202 Trước CN); Minh Thái Tổ diệt Nhà Nguyên ( 1368). Đối với Nước Việt, những chiến
thắng Vân Đồn, Vạn Kiếp (1285) của đời Nhà Trần gắn liền với danh hiệu Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Và gần đây, danh tính những danh tướng
Eisenhower, Patton (Mỹ); Montgomery (Anh), Rommel (Đức); Yamamoto (Nhật).. cùng lần được nhắc nhở với những sự kiện chính trị-quân sự quan trọng của
quốc gia họ trong tiền bán Thế Kỷ 20. Sau chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) không thể không nói đến Võ Nguyên Giáp, De Lattre..v.v. Riêng với
Miền Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kỳ diệu đáng tự hào thay, suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1954-1975), từ những xung đột giáo phái ở những
năm khởi đầu nền Đệ Nhất Cộâng Hòa thành lập ở Miền Nam (1955-1963) tiếp cho đến ngày tàn cuộc 30 tháng Tư, 1975, luôn bền bỉ đứng trong hàng quân, và
kiên cường chỉ huy chiến đấu: Người Lính Nhảy Dù - Đích Thân 612 Lê Lợi Lê Quang Lưỡng - Không một năm tháng ngơi nghỉ. Không một chiến dịch vắng mặt.
Hiện diện trong cơn pháo tập. Giữa trùng vây. Đầu tuyến xung kích. Cảm động biết bao và đáng kính phục dường nào. Đích Thân luôn hứng chịu đầu ngọn cuồng
phong bão lửa. Đích Thân luôn có mặt cùng “con cái”. Đích Thân luôn có mặt với “ mấy thằng em”.

Vĩnh Biệt Lê Lợi- Đích Thân 612!!

Viết lần Nhất - Ngày 1 tháng 11, 2005
Ngày Các Thánh trên Trời
Và Người Lính dưới mặt Đất.
Viết lại lần Hai- Tháng 7
Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân -Tháng 8, 2013

quehuongngaymai.com
TVQ chuyển


Scorpio Gender:Male Pig OfflinePersonal Gallery of khieulongView user's profileSend private message
thienthanh



Age: 61
Joined: 07 Jun 2007
Posts: 3145

blank.gif
PostPosted: Tue Nov 28, 2017 4:51 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Về một đại đội cũ

Kính dâng hương hồn anh Hồ văn Hòa
Riêng tặng Anh Hà Khôi (tức Hà Quế Linh) nguyên là đại đội phó 405 TK của tôi.


Trong đêm xứ người, nói gì về những người muôn năm cũ. Hai đứa chúng tôi như rưng rưng để nhớ về những đồng đội cũ của mình. Tôi hỏi anh Hòa về những gì anh biết về đại đội 405 thám kích. Bộ quân sử không nói về 405. (Nếu có, chỉ ba giòng trong trận đánh năm Mậu Thân). Quân đội miền Nam cũng chẳng bao giờ nhắc đến một 405. Nó vô danh.


Nó đánh giặc không phi pháo dọn đường, không được yểm trợ tối đa như những lực lượng tổng trừ bị. Nó là những tổ 3 người, những toán 4 người, mang trên vai những ba lô với mười mấy ngày lương khô xâm nhập trong lòng mật khu. Thế giới của nó là những cánh rừng thâm u, những ngôi làng sâu trong rừng, những con đường mòn xâm nhập của địch. Nó không cần ai biết. Nó buồn như thế đó. Lạc loài như thế đó. Nó lầm lì như thế đó. Bao nhiêu trách nhiệm nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát, đột kích, thám kích, tiền thám hay viễn thám kể cả tăng viện và là mũi tấn công chính trong một trận đánh dữ dội, đều giao cho Đại đội Thám Kích 405. Vì vậy sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn vị nầy phải là quân nhân tình nguyện hoặc được chọn lựa trong thành phần có kinh nghiệm trận mạc, gan lì và nhất là sự bền bĩ chịu đưng gian khổ ở các đơn vị tác chiến khác của Sư Đoàn. Mặc dù Đại Đội Thám Kích không có trong Bảng Cấp Số của Sư Đoàn, nhưng do tính chất cuả nhiệm vụ khi thành lập -vì nhu cầu chiến trường- nên tính mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình. (1)

Rõ ràng, chúng ta là những kẻ may mắn nhất. May mắn bởi vì thay vì nằm xuống như một số người lính thám kích, chúng ta mang trên người những vết sẹo. Những vết sẹo mà khi sờ lại, thất lạnh cả người, mà mắt nhắm lại, để cảm tạ Đấng Quyền Năng đã phò trợ trong dòng binh lửa.

Nhưng tại sao, anh và tôi lại phải giữ gìn như giữ gìn những gì trân quí nhất?

Viên cựu đại đội trưởng 405 TK nhắc lại một Y Đao như một con sóc rừng. "...Y nhanh lẹ không thể tưởng. Người y, khi mang ba lô 17 ngày lương thực, không thấy người, chỉ thấy cái ba lô. Còn hạ sĩ Nùng Lương văn Tướng, ông ta nói tiếng Việt vẫn còn lắp bắp, mặt lúc nào cũng lầm lì.

Ông ta còn có biệt danh là ông Tướng giải phóng. Tại sao là giải phóng, Thư biết không?." "Thưa đại bàng, tôi không được biết". Tôi trả lời. "Số là hôm ấy, toán ông bị phát giác. Lính Bắc hỏi: Ai đấy? Ông Tướng lính quýnh trả lời: Biệt kích Giải phóng. Trời ơi, VC làm gì có biệt kích. Còn trung sĩ Tám, trung sĩ Khoái, trung sĩ Đặng, hạ sĩ Dự, hạ sĩ Lực, còn chuẩn úy Bùi Toàn Hảo, chuẩn úy Âu Hoàng Minh, chuẩn úy Phan Thái Gia, chuẩn úy Nguyễn Thái Lâm..."

Anh kể như thuộc lòng. Đó là điều hiếm hoi cho một người đã trải qua rất nhiều đơn vị. Nó chứng tỏ đại đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ. Nó chứng tỏ, anh đã có một nơi để tự hào trong đời binh nghiệp của anh.

Rồi anh Hòa nhắc lại hạ sĩ Y Brep và hạ sĩ Ba. VC trồi lên đánh cận chiến. Thằng Y Brep quạt Thompson bảo vệ anh, thằng Ba xô anh xuống hố. Và kết quả, Hạ sĩ Ba chết, và Y Brep bị mù một con mắt.

Tôi lắng nghe tiếng anh nghẹn lại. Vâng, tôi cũng vậy. Anh nói rằng, những người lính 405 anh hùng quá, dũng cảm quá, anh chưa bao giờ thấy đơn vị nào mà tất cả đều cùng một lượt xung phong lên đồi cỏ tranh, đứng thẳng mà tiến lên. Anh chưa bao giờ thấy một đại đội lại đánh tan tành một tiểu đoàn... Vâng, anh kể lại thời của anh từ 1963 đến 1964, và tôi kể lại thời của tôi từ 1967 đến 1971. Anh làm tôi nhớ lại hạ sĩ Đông mang máy truyền tin. Đông cũng cõng tôi mà chạy dưới bao lằn đạn. Và ông Y Suk đã cứu tôi thế nào trên đỉnh Kỳ Sơn.

Tôi cũng muốn nói về cái uy danh của đơn vị, khiến lúc đơn vị bị vây khỗn, ngỡ chừng như tuyệt vọng, nhưng địch vẫn không dám ùa ra cận chiến...

Đêm nay, quê người, và hơn 30 năm xa cách cho hai cánh diều hâu bỏ đàn bỏ tổ. Những giọt lệ bỗng nhiên lại thêm một lần chảy lạnh cả tâm hồn. Người sống nhớ về người đã chết. Người may mắn nhớ về người không may mắn. Nguồn cội từ một mái nhà được phanh ra, để cùng nhau tự hào và cũng để cùng nhau mà khóc thầm. Những con người, không bao giờ nhìn lên, mà chỉ nhìn xuống, cam phận. Có ai còn nghĩ đến họ. Nghĩ đến một người như hạ sĩ Ba chịu hứng đạn thù để cứu một đại đội trưởng, để anh còn sống, để anh được cơ hội nhận hai lần thăng cấp tại mặt trận chỉ trong vòng hai tháng từ một ông tướng khó nhất là tướng Đỗ Cao Trí.

"Thư à, lon mình không phải do tướng Đỗ Cao Trí gắn mà là do hạ sĩ Y Brep, hạ sĩ Ba gắn..."

Cám ơn anh Hoà đã nhắc lại thời kỳ đầu tiên của một đại đội. Khi tôi hỏi anh một câu mà tôi nghĩ là quá thừa: Anh nghĩ thế nào về đại đội mình. Bên đầu dây xa, giọng anh ấy trở nên phấn khích: Đó là một đơn vị chỉ biết chiến thắng. Anh kể lại những địa danh rừng núi. Những mật khu, đặc khu. Những đồi tranh, và những trận đánh ác liệt. Anh lại kể lần tướng Đỗ Cao Trí, tướng Linh Quang Viên, đáp xuống ngọn đồi mà đại đội vừa chiếm lại giữa ầm ầm tiếng pháo, và la liệt xác phe bên kia. Tôi cũng kể lại những nồi cơm mà Bắc quân bỏ chạy còn nấu lỡ dở, trong những đêm chúng tôi đột kích mật khu ở Bình Định. Tôi nói suốt hơn bốn năm, đại dội không cho phép bất cứ một trái pháo nào lọt vào Bộ Tư Lệnh. Vì sao? Vì địch là ma, ta cũng là ma. Chúng tôi cùng nhau cười ha hả. Anh lại nhắc đến công trạng của thiếu úy Đặng đức Thành, người khai sinh ra đơn vị Biệt kích Sư đoàn, tiền thân của đại đội 405 thám kích. Anh còn nói nhiều nữa. Chính cái cái khăn quàng đen mà tiểu đoàn 35 Biệt Động Quân mang là biểu tượng truyền thống của đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 BB:

"Thư à, mình phải kể cho Thư nghe, ngày về nhận tiểu đoàn 35 BĐQ, mình đã mang theo chiếc khăn quàng cổ của đại đội cho đơn vị mới."

oOo

Từ 405, anh Hòa đã mang chiếc khăn quàng cổ màu đen về 35 BĐQ. Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Con số quá đủ cho một tấm lòng đối với bạn bè đồng đội của mình. Tôi hẹn với lòng, sau Mặc Niệm Chiến tranh là bỏ viết. Tôi đã gởi gấm những gì mà tôi cần gởi gấm. Nhưng bây giờ, tôi lại ngồi trước máy. Những lời của anh Hòa chẳng khác cơn bão xoáy lốc vào tâm não. Một đằng, tôi cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi đã có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận. Có người gọi tôi là điên khùng. Có kẻ cho tôi là ái quốc lãng mạn. Vâng, quả tôi điên khùng thật. Nhưng bây giờ tôi phải cám ơn về cái điên khùng này. Nhờ nó tôi mới hiểu cái tàn bạo của con người, của chiến tranh, của hận thù, và những tay chỉ biết xúi tuổi trẻ ra chiến trường để chết thế, và nhất là một khi tuổi trẻ muốn bày tỏ những ước mơ chân thật của mình thì bị gán cho những danh từ như phản chiến, hèn nhát, trong khi chính những kẻ ấy là co rúm hơn ai hết. Chính nhờ nó, tôi mới hiểu cái câm nín chịu đựng của những người lính bộ binh trong một thời chỉ con ông cháu cha mới được sống. Chính nhờ nó tôi mới cảm nhận được thế nào là tình đồng đội cũng như nỗi kiêu hãnh của những người lính tác chiến.

oOo

Phải. Không tự kiêu sao được khi đám lính khăn choàng đen huy hiệu diều hâu vồ mồi đã làm địch Bình Định kinh hồn bạt vía. Chúng tôi đã áp dụng tối đa chiến thuật dạ kích. Anh bạn, tôi xin nhắc lại, nếu địch là ma, thì ta cũng là ma, tại sao mấy ngài chỉ huy cao cấp chỉ biết cái chiến thuật nhà giàu, ngày đánh, đêm về phố nhảy đầm hay ngủ với vợ. Tại sao các ngài không thành lập những đội quân chuyên đánh đêm, hay đổi lại chiến thuật đánh ngày sang đánh đêm. Địch lợi dụng bóng tối tại sao ta lại không lợi dụng bóng tối để đột kích mật khu, phá nát hậu cần, gây cảm giác lo âu kinh sợ cho đối phương, bắt đối phương lúc nào cũng hoang mang giao động? Tại sao cứ chơi trò đóng đồn phòng thủ, chờ chuông báo tử.

Chuông báo tử. Những hồi chuông đã kéo hối hả khắp cả miền Nam, và bóng u minh đã òa chụp xuống từng người, từng thân phận. Không phải vì ta hèn. Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lý do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của mình.

oOo

Viết về một đơn vị, để mà tự hào, nhưng riêng tôi lúc này còn để hối hận. Bởi vì, ngòi viết của tôi chưa bao giờ có một nhân vật như Y Brep trên trang giấy. Và tôi cũng chưa bao giờ mời ông Tướng giải phóng, trung đội phó của tôi một cốc rượu, một lon bia. Ông ta anh hùng như thế, dẫn toán vào mật khu, hù lính Bắc quân, thế mà mỗi ngày vẫn chào tay tôi, trình diện tôi, giúp đỡ tôi, nâng bước chân tôi lên trên những bãi chiến trường sôi bỏng. Thế mà tôi không có cả một lời. Và dù có viết, thì đám kiểm duyệt ở Sài Gòn lại bôi đen chữ Tướng viện dẫn tôi chơi xỏ một ông tướng nào đó. Vâng, tôi đã vô tình quên họ, những người lính của trung đội tôi như Y Đao, Nay Lat,Y Suk, như Nha, Vọng, Tròn, Hường, Nai, Lợi, Ký, Mễ, Ưng Luông. Tôi chỉ bận tâm đến bản thân tôi. Tôi chỉ tìm mọi cơ hội để được thăng quan tiến chức, hay để được thoát khỏi địa ngục trong lúc họ vẫn tiếp tục cùng chiếc poncho, hay lon cơm gạo sấy, coi đơn vị là mái nhà vĩnh viễn của mình mà không một lời ta thán.

(1) Trích từ Định Mệnh - tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 46 của Văn Nguyên Dưỡng (bút danh của cựu trung tá Nguyễn văn Dưỡng, cựu trưởng phòng 2 SĐ 22 BB).

Trần Hoài Thư


Capricorn  Monkey OfflinePersonal Gallery of thienthanhView user's profileSend private message
thienthanh



Age: 61
Joined: 07 Jun 2007
Posts: 3145

blank.gif
PostPosted: Thu Dec 14, 2017 7:30 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top


Image

Những người chết sau cùng trong cuộc chiến

Góp nhặt trên Net, chuyển anh chị em đọc để tri ân những người đã chết cho chúng ta được sống, những người đã hy sinh để chúng ta được an toàn.

Xin thắp một nén hương cho người Thiếu Úy Nhảy dù tử trận giây phút cuối cùng của cuộc chiến.


Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Tác giả ghi lại những gì diễn ra trước mắt mình, ngay trước nhà mình, ngay trong khu phố mình sống, những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Ngày ấy, tác giả vừa tròn 15 tuổi.

Viết cho ngày 30 Tháng Tư năm ấy.
Viết cho những người lính cấp bậc nhỏ, nhưng hy sinh lớn.
Viết cho những người lính vô danh,
Vị quốc vong thân lúc thành mất nước tan.
Ai cũng sống cả một đời, nhưng chết chỉ một lần.
Các anh, những người lính nhỏ,
Các anh, những người lính vô danh, nhưng hy sinh vĩ đại!

Suốt 40 năm qua, tôi đã đọc, đã nghe và cũng đã xem nhiều về những hy sinh của các tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa khi nước mất nhà tan vào tay Cộng Sản trong ngày 30 Tháng Tư đau buồn của năm 1975.

Lúc ấy tôi được 15 tuổi, chưa trưởng thành, chưa đủ khôn và đủ hiểu biết chuyện đời, nhất là chuyện thời cuộc. Ở tuổi này, tuy chưa đủ lớn, ký ức mình cũng đủ “già dặn” để không quên điều xảy ra. Và trong ý nghĩ đó, có một câu chuyện cho đến giây phút này vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.

Mấy mươi năm qua, tôi cho đó là “chuyện nhỏ.” Sau này, tôi chợt nhận thức, rằng chuyện nhỏ này lại có ý nghĩa vô cùng to lớn mà hôm nay tôi muốn ghi lại và chia sẻ với những ai quý tự do, yêu độc lập và chuộng hòa bình.

Lúc ấy là 09 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975!

o0o

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười, khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi…

Thời khắc ấy cách đây đúng 40 năm, trong cảnh hỗn mang của ngày tàn cuộc chiến, trong xóm tôi ở Ngã Năm Bình Hòa-Gia Ðịnh, bỗng xuất hiện bốn năm người lính Nhảy Dù. Họ chạy lúp xúp men theo vách tường nhà Dì Sáu của tôi rồi dừng lại trước nhà tôi. Tất cả đều còn rất trẻ và người họ mang đầy súng ống đạn dược. Áo quần họ bám đầy bụi đỏ. Chỉ cần nhìn thoáng qua, ai cũng biết những người lính này mấy ngày trước đây đã từng xông pha trận mạc. Họ đứng trước khoảng đất trống, ngó dáo dác một đỗi, thì người lính có mang một bông mai trên cổ áo nói, như ra lệnh:

- Anh em đào ở đây đi.

- Tuân lệnh thiếu úy!

Một người trong họ trả lời. Thế là các anh tháo gỡ trên vai xuống mấy cái xẻng cá nhân. Với thao tác nhanh lẹ, phút chốc họ đã biến chúng thành những cái cuốc và bắt đầu đào hố cá nhân.

Trong nhà, má tôi lo lắng ra mặt. Bà đang phân vân chẳng biết có nên di tản không và nếu đi thì chưa biết phải đi đâu. Bất ngờ, bây giờ thấy lính tráng chuẩn bị hầm hố chiến đấu trước cửa nhà, bà thêm hoảng sợ.

Tuổi thiếu niên đang lớn, hiếu kỳ, tôi tò mò bước ra sân, tiến gần đến khoảng đất trống ngồi chồm hổm xem mấy người lính làm việc. Lâu lâu có tiếng đại bác vọng về, tiếng súng bắn lẻ tẻ vang lên đây đó làm cho bầu không khí chết chóc thêm ngột ngạt, hình ảnh chiến tranh thêm rõ nét.

Dân trong xóm tôi nhốn nháo chạy tới chạy lui, mặt mày ai nấy đều lấm la lấm lét khi đi ngang qua nơi mấy người lính đang làm việc. Bộ mặt của thành phố Sài Gòn lúc đó như người bệnh nặng sắp mất.

Ðộ chừng nửa tiếng sau, khi hố được đào khá sâu, một người lính đứng lên, mồ hôi nhễ nhại trên mặt. Anh đưa cánh tay lên cao, quẹt lấy mớ tóc bê bết trên trán để lộ một cái sẹo thật to nơi đuôi mắt phải, đoạn nhìn tôi:

- Em trai chạy vô nhà lấy cho anh xin miếng nước uống đi em.

Tôi đứng dậy co giò phóng vào nhà. Ít phút sau tôi mang ra cho các anh một ca nước đá bự, một cái ly và một ít kẹo đậu phọng với bánh in mà má tôi đưa thêm. Họ ăn, họ uống, họ nói cười vui vẻ, cơ hồ như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có người thiếu úy là không ăn uống gì cả.

Người thiếu úy này cũng còn trẻ và đẹp trai như Tây lai nhưng dáng dấp rất phong trần, uy dũng. Tôi đoán chừng tuổi đời anh chỉ khoảng 23, 24 gì thôi. Anh có vẻ như đang lo lắng trước tình hình chiến sự lan rộng nên nét mặt luôn phủ một lớp sương mờ căng thẳng.

Nắng lên khá cao…

Bỗng một tiếng nổ lớn từ đâu dội lại rung chuyển cả mặt đất. Tôi hoảng hốt. Mấy người lính ngưng đào, ngẩng đầu nhìn quanh. Viên thiếu úy ngó về cuối xóm một thoáng rồi nói với đồng đội:

- Anh em cứ tiếp tục đi, để tôi xuống dưới này xem sao.

Người thiếu úy xốc khẩu M-16 đang mang trên vai lên cao và bỏ đi trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Bên trong, má tôi gọi tôi vào và không cho ra khỏi nhà, vì sợ đạn lạc. Xế trưa, lúc ông Dương Văn Minh ra lệnh cho binh sĩ buông vũ khí và đầu hàng vô điều kiện thì má tôi vội vã kêu tôi cầm cái radio-casette hiệu Sanyo ra cho những người lính bên ngoài nghe. Trong khi họ còn sững sờ thì viên thiếu úy từ dưới đang vội vã đi lên. Một anh lính trẻ giơ chiếc radio về viên sĩ quan, hớt hải, nghẹn ngào. Anh nói như sắp khóc:

- Thiếu úy, thiếu úy, ông Minh đầu hàng rồi. Mình thua rồi!

Viên sĩ quan khựng lại một lúc rồi chăm chú nhìn vào cái radio trong im lặng não nề. Tiếng ông Minh kêu gọi đầu hàng cứ được lập đi lập lại hoài khiến người sĩ quan trẻ nổi cáu:

- Ð.m. sao chưa đánh đấm gì đã lo đầu hàng?

Người thiếu úy giận dữ quát tháo, gương mặt đan xen nỗi đau và buồn. Sau một đỗi phân vân, cuối cùng thiếu úy hạ giọng:

- Thôi đi.

Thế là họ bỏ chiến hào đang đào dang dở và hấp tấp chạy trở ra đường. Ðộ chừng một tiếng đồng hồ sau, người ta nghe nhiều tiếng súng AK-47 nổ giòn giã rồi tiếng M-16 bắn liên thanh đáp trả. Lẫn lộn trong đó thỉnh thoảng có cả tiếng súng M-79 đệm vào. Ðứng trong sân nhà nhìn ra, tôi thấy có vài cột khói đen bốc lên cao.

Từ bên ngoài, vài người trong xóm tôi tất tả chạy về. Gặp má tôi đang đứng lấp ló nơi cửa, họ báo:

- Ðang đánh nhau ở ngoài Ngã Năm dữ lắm cô Ba.

Ngã Năm Bình Hòa là giao điểm của năm con đường từ năm hướng khác nhau. Năm Mậu Thân 1968, nhiều trận đánh đã diễn ra ở đây khi Lực Lựợng Bảo Vệ Biệt Khu Thủ Ðô của quân đội VNCH ngăn chặn các mũi tiến công của cộng quân từ bên ngoài đổ về qua mấy cửa ngỏ như Gò Vấp, Cầu Bình Lợi, Lò Vôi hay Ðồng Ông Cộ… nên nó trở thành một trọng điểm chiến lược vì là một trong những lộ chính tiến vô thủ đô Saigon.

Chiều cùng ngày, khi lịch sử đã an bài, dân chúng bắt đầu túa ra đường phố. Lớp thì đón quân “Giải Phóng,” lớp khác lại mừng đất nước “Ðộc Lập,” trong khi tôi thì tò mò theo người cậu họ ra xem tình hình ngoài ngõ. Nghe thiên hạ bàn tán xôn xao có lính chết ở chỗ Ngã Năm Bình Hòa, cậu cháu tôi lần bước tới quan sát. Một đám đông đang vây quanh trước Nhà Thuốc Tây Tiến Thành, là nhà thuốc của má thằng bạn tôi. Cố gắng chui vào đám người hiếu kỳ ấy và luồn lách một tí, tôi tới được bên trong. Giữa vòng người nọ là xác một người lính nhảy dù nằm chết cứng. Ngực thủng một lỗ lớn, chiến bào loang đầy máu và đã chuyển sang nâu sậm nhưng đôi mắt anh vẫn mở trừng trừng. Nhìn kỹ, tôi chợt giật mình: người đó chính là viên thiếu úy ban sáng!

Ðang còn ngỡ ngàng, tôi bỗng thấy có một thanh niên vẹt đám đông bước lại gần xác người thiếu úy. Anh mặc một chiếc quần tây đen ngắn củn và áo thì rộng lùng thùng như đồ của ai cho chớ không phải của anh vậy. Anh khom người xuống, giơ tay vuốt nhẹ nhàng lấy khuôn mặt lạnh vô hồn kia. Ðôi mắt từ từ nhắm lại và nơi khóe miệng một dòng máu nhỏ rỉ ra bên mép. Dường như chàng thanh niên lâm râm khấn vái điều gì đó nho nhỏ, đoạn anh đứng lên, bước ra với đôi mắt đẫm lệ. Tôi nhận ra ngay anh chính là người lính xin nước tôi lúc sáng, nhờ vết sẹo to nơi đuôi mắt.

Thiên hạ bàn tán sôi nổi khi dòng máu tươi nơi khóe miệng của thi hài đã lâu kia rỉ ra. Người miền Nam vốn duy tâm, thiên hạ tin rằng đấy là một điều linh thiêng vì vị sĩ quan này có lẽ còn có chuyện chi oan ức. Ðột nhiên, chị Bảy bán tạp hóa sau lưng tôi lên tiếng kể lể với những người xung quanh:

- Ông thiếu úy này và mấy người lính của ông ta nấp ở vách tường bên kia kìa. Ðứng trông cửa sổ nhà nhìn qua, tui thấy mấy ổng bắn xuống phía mấy ông “Việt Cộng” ở dưới Ðồng Ông Cộ quá trời. Cuối cùng chắc thấy không xong, ổng biểu mấy người lính của ổng chạy đi còn ổng thì vẫn ở lại. Rồi hình như ổng bị thương sao đó nên bò sang nấp vô Cổng Ðình Thần Bình Hòa này nè. Hai bên còn bắn nhau một lúc lâu nữa và khi không còn nghe tiếng súng thì tui dòm ra thấy ổng lết tới đây rồi chết luôn.

- Hết chiến tranh rồi mà chết, tội nghiệp quá! Không biết có gia đình vợ con gì không? Thân nhân mà hay được chắc là buồn lắm.

Ông già bên cạnh chị Bảy nói theo làm mọi người mủi lòng trước sự hy sinh oai hùng của viên thiếu úy. Chợt một bà cụ cầm tấm chăn, không biết từ đâu, tách đám đông bước vô phủ trùm lên xác người thiếu úy và mếu máo:

- Dù con không có họ hàng gì với bà nhưng bà thấy con chết thảm bà thương quá. Tội nghiệp, con cái nhà ai vậy không biết nữa. Thôi con chết rồi, con hãy thanh thản ra đi và nếu hồn con có thiêng thì phù hộ cho bà con nơi đây được nhiều an lành nha con!

Nhiều tiếng khóc sụt sùi vỡ ra bởi lời lẽ chân thành của bà già. Cảm thấy quá đau lòng trước thảm cảnh thương tâm ấy, tôi thẫn thờ bước ra, chợt trông thấy người lính trẻ còn đang đứng dựa cột nơi quán cơm tháng của Dì Mười khóc rấm rức như trẻ thơ. Ôi, còn đâu người chiến sĩ anh dũng ngày nào! Ôi, còn đâu bộ đồ trận kiêu hùng một thuở! Ðôi vai run run theo tiếng nấc của anh làm tôi bùi ngùi. Ngẩng mặt lên bắt gặp tôi đang nhìn anh trân trối, anh vụt bỏ đi. Ngó cho đến khi bóng dáng xiêu vẹo của anh khuất nơi cuối chợ, tôi thấy lòng nao nao buồn. Cảm khái trước một nỗi niềm mất mát bao la của tình đồng đội thiêng liêng cao quý lẫn tiếc nuối cuộc đời binh nghiệp nữa đường gãy đổ, tâm hồn tôi tràn ngập cả một sự chua chát to lớn.

Nhưng tôi đâu biết rằng, đó chỉ là khởi điểm của một trang sử đau thương cho dân tộc, cho hàng vạn sinh linh sau này.

Charleston, South Carolina
Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Capricorn  Monkey OfflinePersonal Gallery of thienthanhView user's profileSend private message
thienthanh



Age: 61
Joined: 07 Jun 2007
Posts: 3145

blank.gif
PostPosted: Sat Dec 16, 2017 4:46 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

Nha Trang – thời tôi mới lớn

Phạm Tín An Ninh



Nha Trang lúc nào cũng đẹp, nhưng với tôi Nha Trang đẹp nhất ở vào cái thời tôi mới lớn. Dường như lúc ấy biển xanh hơn, bầu trời trong và bao la hơn, đã cho tôi nhiều mộng mơ hơn. Lúc ấy tôi chưa biết yêu để hiểu được cái nghĩa thất tình nó ra sao, cái cảm giác “chết trong lòng một ít” nó đau đớn đến dường nào; cũng chưa bước chân lên bến đời để thấy cuộc đời này không phải chỉ toàn màu xanh của biển và bầu trời trên đầu lại có quá nhiều những đám mây đen.

Ngày ấy, cũng đã có chiến tranh (quê hương tôi thì lúc nào lại không có chiến tranh), nhưng dường như còn ở đâu đó, xa lắm. Tôi chỉ biết người lính qua mấy anh SVSQ Hải Quân, Không Quân oai phong tuấn tú trong những bộ quân phục đẹp, mới toanh, thẳng nếp, dạo phố với tình nhân vào những ngày cuối tuần. Đâu có biết người lính gian khổ, hiểm nguy và chết chóc ra sao. Khi ấy, Trịnh Công Sơn cũng chỉ mới viết được đôi ba bài tình ca, chưa có bản nhạc phản chiến nào, Những bản nhạc viết về lính lúc ấy cũng dễ thương, hiền lành và lãng mạn lắm, chưa hề nghe Kỹ Vật Cho Em. Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng, Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie…, nên cũng chưa biết tiếng khóc não nùng của những người góa phụ.

Những chuyện xảy ra trong thành phố thời ấy hấp dẫn tôi và đám bạn bè hơn. Chuyện bà (vợ ông) bác sĩ, một mệnh phụ gốc Hà thành nhan sắc mà mỗi lần trông thấy bà ngoài phố, chúng tôi đứng lại tròn mắt trầm trồ như đang được chiêm ngưỡng một pho tượng đẹp trong viện bảo tàng. Chuyện của một bà dược sĩ, có tình nhân là một ông đại úy phi công rất bô trai. Mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao “trọc mui” duy nhất ở thành phố biển này, nhưng bọn tôi thường thấy ông phi công đèo bà sau chiếc Vespa chạy lòng vòng trên đường Duy Tân, Độc Lập. Cuộc tình lãng mạn ấy rồi cũng đi vào ngõ rẽ. Bà dược sĩ trở thành phu nhân của một ông tướng nổi danh, còn chàng phi công hào hoa thì rước về dinh một cô ca sĩ chuyên hát những bản nhạc buồn… vào hồn không tên… nào đó. Và “đình đám” nhất là chuyện tình của thầy tôi và một cô học trò. Ông thầy mà bọn tôi thường gọi là “thầy của những ông thầy khác” và rất mê nghe ông đọc những bài thơ tình lãng mạn của mấy ông Alphonse de Lamartine, Charles Beaudelaire, Jacques Préver trong giờ Văn học sử Pháp. Còn cô học trò cũng rất tài ba, từng có bài luận văn dài gần 20 trang giấy được giáo sư nổi danh Thạch Trung Giã cho điểm tối đa và đọc cho cả mấy lớp cùng nghe. Không biết có phải nhờ vòng tay ông thầy của tôi mà sau này cô trở thành nhà văn nổi tiếng với tác phẩm cũng bắt đầu bằng hai chữ Vòng Tay… Một ông thầy khác mê đến si tình cô học trò “hoa khôi” Võ Tánh, đóng vai Trưng Trắc trong buổi lễ Hai Bà Trưng. Những nữ sinh được chọn đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị thời ấy đều là những mỹ nhân “vang bóng một thời”.

Thời ấy dường như chiến tranh còn ở đâu đó, chưa tới Nha Trang, nhưng Nha Trang lại là nơi có ba quân trường nổi tiếng.

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đã đào tạo hầu hết những sĩ quan Hải quân ưu tú. Trong số ấy có rất nhiều đồng môn của bọn tôi ở Trường Võ Tánh, một số đàn anh trở thành những hạm trưởng: Trần Đức Cử, Phạm Đình San, Võ Quang Thủ, Phan Hữu Niệm, Võ Văn Bảy…

Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đào tạo hầu hết những phi công tài hoa của đất nước, trong số này cũng có rất nhiều cựu học sinh Võ Tánh. Sau này có người lên đến cấp tướng.

Trường Đồng Đế, đào tạo hầu hết các hạ sĩ quan cho Quân Lực và những khóa sĩ quan hiện dịch, mà một người sĩ quan tốt nghiệp Khóa 2 đã trở thành một vị anh hùng trong lòng bao người dân Việt tha phương: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. (Xa hơn một chút là Huấn Khu Dục Mỹ, với các quân trường nổi danh không kém, được thành lập từ năm 1960. Trường Pháo Binh chuyên đào tạo cá sĩ quan có khả năng toán học, làm “đề lô” và sau này trở thành các cấp chỉ huy của binh chủng “nòng dài”, tạo sấm sét lam khiếp vía quân thù. Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, được những người lính gọi là “Lò Luyện Thép”. Có người còn gọi đùa là “Trung Tâm Tàn Phá Sắc Đẹp.” Một nơi huấn luyện cho người lính chịu đựng gian khổ nhất, có khả năng vượt qua mọi chướng ngại, để có thể chiến đấu trong những điều kiện khó khăn nguy hiểm nhất để đánh thắng quân thù. Ngoài việc đào tạo các chiến sĩ Mũ Nâu hào hùng, còn có các Khóa Rừng Núi Sình Lấy, Viễn Thám cho tất cả các quân binh chủng thiện chiến khác.)



Về văn chương, ngoài một số nhà văn kỳ cựu như Quách Tấn, Cung Giũ Nguyên, Thạch Trung Giã, Võ Hồng, lúc ấy có nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng sớm từ đám học trò: Nguyễn Xuân Hoàng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Thanh Nhung (Tôn Nữ Nha Trang), Duy Năng (Nguyễn Hữu Trí)…Nếu tính cả những người từ các tỉnh lân cận đến học ở Nha Trang thì còn có Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Cao Hoành Nhân, Từ Thế Mộng, Trần Hoài Thư, Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh sau này)…

Thời đó, Nha Trang có cô ca sĩ Thúy Vân, tuổi khoảng 14, 15, có ông bố phục vụ trong Lực lượng Bảo An Đoàn, có tay trống Minh Châu số 1 của Ban Văn Nghệ Ty Thông Tin , sau này cũng gia nhập Bảo An, làm sĩ quan Tâm Lý Chiến. Bọn tôi thường được tham dự những đêm văn nghệ do Ty Thông Tin tổ chức, nghe ca sĩ Bích Sơn hát bài Cô Gái Xuân và đóng kịch “Ông Ninh Ông Nang” với anh hề Ngọc Trai. Được xem phim Chúng Tôi Muốn Sống , mê ông Lê Quỳnh đẹp trai và bà Mai Trâm với má lúm đồng tiền và hai lọn tóc thắt “con rít” thả xuống bờ vai.

Thời ấy cũng có rất nhiều cái tên “mỹ nhân” truyền tai nhau trong đám học trò: Cẩm Vân, Bạch Yến. Như Bá, Bích Tùng, Mỵ Cơ, Xuân Thùy, Hồng Nữ, Xuân Hoa, Bích Khuê, Như Ý, Hồng Huê, Lệ Son, Mỵ Hảo… Và ngay trong lớp tôi cũng có những giai nhân đã làm khuấy động trái tim của biết bao ông thầy và cả học trò, mà đến hôm nay vẫn còn được bàn cãi rất sôi nổi mỗi lần bọn tôi có dịp gặp nhau kể lại chuyện xưa: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Túy Ngọc, Như Bá… Đám bọn tôi cũng biết danh ông Lê Bá Chẩn, không phải vì ông là phó tỉnh mà vì ông bà có mấy cô con gái đẹp, từng đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị. Và có lẽ không ai mà không biết hiệu Đông Quang nằm bên tiệm chụp ảnh Mai Ngôn trên đường phố Phan Bội Châu, bởi mỗi lần đi qua nhìn thấy chị Thuần Hậu, sắc nước hương trời, ngồi bên một cái giá dựng đủ các thứ gươm đao thời Tam Quốc (?)

Thời đó Nha Trang có khá nhiều nhà sách, nhưng bọn tôi thường lui tới Nguyễn Lê và Vĩnh An Thành, nơi nào cũng có cô con gái đẹp. Riêng Nguyễn Lê thỉnh thoảng có mấy cô bán sách cũng làm điêu đứng đám học trò mới lớn.

Nha Trang lúc ấy có khá nhiều rạp ciné. Rạp Moderne của ông Bác Ái không hiểu vì sao đóng cửa sớm. Rạp Tân Tiến thường chiếu phim Ấn Độ. Rạp Minh Châu thì thường có những đoàn hát cải lương – Dạ Lý Hương, Kim Chung, Thanh Minh Thanh Nga. Rạp Thạnh Xương thì chuyên hát bội. Chỉ có rạp Tân Tân và Tân Quang thường chiếu những phim hay: Cuốn Theo Chiều Gió, Gió Đồng Nội, Vũ Điệu Trong Bóng Mờ, Mặt Trời Vẫn Mọc, Lưới Tình Khó Thoát, Ben- Hur, The Vikings…Thời nổi danh của các cô đào Vivien Leigh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Sophia Loren, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida…

Thỉnh thoảng có các đoàn mô tô bay trình diễn trong Sân Vận Động. Tôi không còn nhớ là trong số người đẹp biểu diễn ấy có cô Bạch Yến, sau này trở thành ca sĩ, nổi tiếng với nhạc phẩm Đêm Đông, theo chồng là ông nhạc sĩ Trần Quang Hải sang Pháp, để cho ông nhạc sĩ Lam Phương sáng tác bài Phút Cuối.

Chỉ còn gần em một giây phút thôi.
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi.
Người theo cánh chim về vui với đời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi

Những giờ nghỉ học, bọn tôi đạp xe thơ thần trên con đường Duy Tân, con đường đẹp nhất của Nha Trang, ngồi dưới mấy lùm dương, ngắm biển xanh mà nói chuyện trên trời. Có một đồng bạc đủ để mua một trái cóc khía ngâm đường của mấy người đẩy xe bán dạo. Có khi trèo rào vào Viện Pasteur để hái trộm mấy trái tra. Nha Trang diễm phúc có ông bác sĩ Yersin từ Pháp đến lập các viện nghiên cứu y học, lập Viện Pasteur.Ông đã nằm lại với Nha Trang. Mộ ông ở Suối Dầu và tên ông được đặt cho một trong những con đường “thế giá” nhất Nha Trang.

Hồi ấy bọn con trai chúng tôi cũng thường nghe nói đến các “băng”: Băng thằng Liên Xóm Mới, Băng Thằng Điền, Băng thằng Quách Thanh, Băng Lò Heo…, nhưng không biết các “băng” này chọc trời khuấy nước ra sao, và những vị yên hùng này có giống Điền Khắc Kim, Dũng Đa Kao được nhà văn Duyên Anh đem vào truyện hay không? Nha trang cũng có những lò luyện võ của võ sư Trọng Đãi hay Huỳnh Tiền gì đó, và dưới bờ biển có Judo Club của anh Hàn Phong Cao, con ông chủ khách sạn Phụng Hoàng nằm trước ga xe lửa. Sau này anh là thiếu tá Kỵ Binh Thiết Giáp và làm quận trưởng ở Phan Thiết.

Bọn tôi thường ghé lại các tiệm chè bên cạnh Rạp Ciné Tân Tiến, một đồng một ly mà thấy mình sang lắm. Thỉnh thoảng được cha mẹ thưởng cho ít tiền mới dám đến “kéo ghế” ở phở Hợp Lợi, nem Mỹ Hạnh trên đường Trần Quý Cáp, mì Lợi Ký, sữa đậu nành và Pate Chaud trên đường Độc Lập.

Ngày ấy đám con trai bọn tôi rất mê đá banh. Nha Trang có đội Công Chánh với ông bầu Năm. Có vài lần thi đấu ngang ngửa với các đội Thương Cảng, AJS Sài gòn, gồm nhiều tuyển thủ quốc gia, có thủ môn Phạm Văn Rạng vang tiếng một thời. Trường Võ Tánh bọn tôi cũng có những cầu thủ nổi danh; các anh Lư Văn Thành, Nguyễn Văn Sự, Ngô Lam…tham gia trong đội bóng.

Những ngày cuối tháng chạp, bọn tôi rủ nhau dạo qua chợ Tết. Các gian hàng được bày ra ngay giữa lòng đường Phan Bội Châu, từ trước nhà sách Nguyễn Lê cho đến ngã tư cuối chợ Đầm. Bọn tôi thường đứng tán gẫu với cô bạn cùng lớp trông hàng cho mẹ. Ở tuổi ấy, chúng tôi không còn nô nức chờ đón Tết như thời tuổi thơ, lúc còn sống ở quê.

Nha Trang có chùa Hội Phật Học, nằm trên Mã Vòng đường lên Thành. Cách đó không xa, bên sườn đồi có chùa Hải Đức. Sau này trên đỉnh núi có xây tượng Phật khá lớn. Trước ngày khánh thành, mấy ông VC nằm vùng treo sau lưng tượng Phật lá cờ đỏ sao vàng thật to.Khi cảnh sát đến lấy xuống, bị nổ lựu đạn gài sẵn, hình như có người chết hay bị thương. Tôi nghiệp, chỉ có bọn người man rợ mới lợi dụng cả tượng Phật để giết người. Trước đó, tại rạp Tân Tiến, có lần VC ném lựu đạn làm chết và bị thương khá nhiều người, Đó là hai lần bọn tôi biết được, người CS đã đem chiến tranh và chết chóc đến trong lòng thành phố đẹp đẽ hiền hòa, khuấy động cuộc sống hồn nhiên yên ả của bọn tôi.

Nha Trang có nhà thờ đá, có người gọi là nhà thờ núi, vì nằm trên đỉnh đồi hướng ra Ngã Sáu, giữa góc đường Gia Long – Phước Hải. Những đêm Giáng Sinh, dù không phải người Công Giáo, bọn tôi cũng rủ nhau đến đây xem người ta đi lễ, mừng Chúa ra đời. Sau đó kéo nhau về nhà một thằng nào đó ăn réveillon.Về sau, trong đám bọn tôi có thằng mê một cô bé có đạo dòng, xinh như mộng, bọn tôi thường nghe nó hát “lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng con tin có Chúa ngự trên cao…” Cuối cùng nó cũng cưới được cô bé và hai vợ chồng sống rất hạnh phúc cho đến bây giờ.

Đi về hướng Đồng Đế, qua khỏi cầu Xóm Bóng, Tháp Bà Ponagar đứng trên đồi cao nhìn xuống dòng sông Cái chảy lững lờ. Di tích của đế chế Chiêm Thành còn lại. Giờ là nơi để nhiều người đến xin xăm, cầu nguyện một ân sủng từ bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana hiển linh nào đó. Cũng là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân vào những ngày vắng khách nhàn du.

Về hướng biển có Hòn Chồng, với dấu bàn tay in trên tảng đá đã được thêu dệt thành nhiều huyền thoại, chứng kiến lời hẹn thề của bao cặp tình nhân, và chắc chắn cũng từng thấm đẫm nhiều nước mắt của những cuộc tình không trọn.

Nhưng trong tất cả các cái tên để nhớ, bọn tôi nhớ nhất là tên của những ngôi trường; Lê Quí Đôn, Kim Yến, Tương Lai, Văn Hóa, Đăng Khoa, Bồ Đề, Bá Ninh, Võ Tánh, Nữ Trung Học, … Ở mỗi ngôi trường, tôi đều có bạn bè những năm đệ nhất cấp. Sau này hầu hết đều chuyển sang Võ Tánh. Ngôi trường công lập lớn nhất và nổi tiếng ở vùng duyên hải miền Trung. Nơi ước mơ của đám học trò, đặc biệt từ những vùng quê như bọn tôi thuở ấy.

Sau bậc trung học, đám bọn tôi tản mác khắp nơi. Một số vào Sài Gòn, ra Huế hay lên Đà Lạt tiếp tục học đại học, đa số nhập ngũ, vào các quân trường, rồi ra đi khắp bốn Vùng Chiến thuật. Chiến tranh ngày càng khốc liệt cuốn chúng tôi theo như cơn lốc xoáy. Kẻ chết, người bị thương. Những người may mắn còn sống thì miệt mài ở các chiến trường khói lửa. Năm tháng chỉ còn có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Nha Trang, thành phố đẹp đẽ với những hang động tuổi thơ một thời cũng đành bỏ lại phía sau lưng. Có còn, chỉ trong vài phút giây hồi tưởng. Rồi ước mơ trở về sống với Nha Trang sau chiến chinh, khi giã từ vũ khí, lại đến trong đớn đau tức tưởi. Cuối tháng 3/75, Cộng sản chiếm Nha Trang, phủ lên thành phố này cả một trời tóc tang buồn thảm. Nha Trang không còn đẹp, thơ mộng. Và không còn là của chúng tôi. Bọn tôi phải ra đi, đành lòng bỏ lại NhaTrang. Thành phố đẹp đẽ suốt một thời tôi mới lớn, mãi mãi chỉ còn trong ký ức.

Những người đặc biệt tôi đã nhắc tên. Một số đã mất, người còn lại thì hầu hết đang sống tha phương, nhưng có lẽ bây giờ tóc ai cũng bạc. Tôi may mắn được gặp lại vài người. Ai cũng tiếc nuối một thời đẹp đẽ, dễ thương của chính mình, của bạn bè và của cả Nha Trang, xót xa cho một quê hương bỏ lại, giờ vẫn còn khốn khổ dưới bàn tay của những người Cộng sản đang học đòi làm những tên trùm tư bản, trên máu và nước mắt của dân tôi, của những người Nha trang hiền hòa dễ thương ngày trước.

Phạm Tín An Ninh


Capricorn  Monkey OfflinePersonal Gallery of thienthanhView user's profileSend private message
vuongquan




Joined: 14 Mar 2016
Posts: 115

PostPosted: Mon Jan 15, 2018 11:37 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Image


Đại Đội 3 - Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)


Trương Văn Út (MũĐỏÚtBạchLan)


Đầu Xuân vẫn tay súng
Giầy nhà binh bết bùn
Nhìn én lượn không trung
Ngày Xuân ngàn mai nở
Thôn xóm pháo đì đùng

Chiếc xe Jeep láng coóng của Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt chở chúng tôi, ba tân Thiếu Uý khoá 22 Võ Bị Đà Lạt vừa đậu lại bên trước bậc tam cấp của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 91Biệt Cách Dù (BCH 91 BCND) thì đã có vị Sĩ Quan của đơn vị đứng chờ sẵn đón chúng tôi với tay bắt, mặt mừng thân thiện và tự giới thiệu:

- Tôi là Đại Úy Nguyễn Quang Vinh Tiểu Đoàn Phó, khóa 14 Đà Lạt, các Anh vào đây, Thiếu Tá đang chờ…!!!

Chúng Tôi bước vào văn phòng làm việc của vị Tiểu Đoàn Trưởng, văn phòng rất đơn sơ, phía sau bàn làm việc là cây cờ của Binh Chủng LLĐBVN và hiệu kỳ TĐ91BCND, với năm ba ghế sắt kê sát hai bên tường. Ba chúng tôi đồng loạt chào tay và đứng thẳng người, cằm gặp ba ngấn đúng quân cách… Ông đứng lên, tay xếp lại hồ sơ quân bạ của chúng tôi đang có sẵn trước mặt, đi vòng qua bàn làm việc nghiêm nghị chào lại chúng tôi và nói :


- Thôi, bỏ tay xuống đi, ngồi xuống đây... ngồi xuống. Các anh Khóa 22 hả ? Tên tôi là Lê Như Tú, Khóa 11Đà Lạt, còn đây là anh Vinh, Khóa 14 Đà Lạt. Chúng Tôi rất vui mừng khi nhận công điện của Bộ Tư Lệnh báo cho biết các anh sẽ được bổ nhiệm về đơn vị nầy, mặc dù đích thân tôi đã xin trước 6 người nhưng chỉ được có 3…! Thôi như vậy cũng mừng lắm rồi…!!! Hôm nay là ngày 22 Tết, đơn vị đang nghỉ dưỡng quân và tôi được biết chắc chắn là chúng ta sẽ được ăn Tết ở hậu cứ… Vì lệnh ngưng bắn sẽ có hiệu lực từ 12:00 giờ trưa ngày 30 Tết cho đến 12:00 trưa ngày mùng 3 Tết. Ông vẫn ngồi bên cạnh chúng tôi trên cái ghế sắt cũ kỹ rỉ sét, Ông nửa như tâm sự, nửa như trình bày một số vấn đề liên quan tới đơn vị, rồi dẫn chúng tôi qua các phòng bên cạnh giới thiệu các Ban của Bộ CHTĐ, đi một vòng doanh trại chỉ dẫn... đây là ĐĐ3, ĐĐ4, ĐĐ5, và ĐĐ6 đang thành lập, còn ĐĐ1, ĐĐ2 thì ở bên trại Nguyễn Văn Tân (trại Đằng Vân cũ) cùng với TTHLHQDelta…. Kết thúc hai chiếc xe jeep của ĐĐ1 và ĐĐ2 đưa 2 tân Thiếu Úy: Đặng Thiện Chẩn và Huỳnh Kim Tiễn về đơn vị, còn tôi được chỉ định theo Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu trình diện Trung Úy Trần Hoạt Thành (ĐĐT-ĐĐ3) ở doanh trại nằm sát bên cạnh Bộ CHTĐ đối diện cuối phi đạo phi trường Nha-Trang. Giữa tôi và anh Nguyễn Đăng Lâu (K/21 ĐL) chẳng xa lạ gì, khi còn ở trong trường Võ Bị Đà Lạt, anh là SVSQ Cán Bộ Ban 5 của LĐ và cũng là Trưởng Ban Phát Thanh của trường. Tôi cảm thấy hân hoan vui thích vì mới vừa ra trường, được về đơn vị có nhiều đàn anh “Niên Trưởng” chăm lo rồi…! Vì hơn ai hết, chúng tôi hiểu và biết thế nào là tình đồng môn xuất thân từ một trường mẹ (VBĐL). Sau khi trình diện TR/U Thành (Khoá 11TĐ), anh Lâu dẫn tôi xuống doanh trại, giới thiệu các Sĩ Quan Trung Đội Trưởng, ...Thiếu Úy Dương Thiện Ngô, La Lưu Ý, Nguyễn Anh Phong, Nguyễn Khóat Hải, Đinh Văn Tiến Hùng, Đặng Văn Nam,... rồi tới các Hạ Sĩ Quan mà anh Lâu kề tai nói nhỏ với tôi: “… đây là mấy ông thần nước mặn bán trời không mời thiên lôi…” Ba Bứng, Thạch Sương, Thạch Ri, Kim Sua, Kim Chơi,... Buổi chiều cùng ngày, Thượng Sĩ Mười (thường vụ) mời tôi ra nhà trại gia binh nằm phía sau BCH, ăn bữa cơm tối với những đồng đội tác chiến đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi…với những “Ông Thần” vừa kể trên “chơi” hết 2 chai Black and White và mấy dĩa lòng heo chấm mắm tôm…!!! Tôi quắc cần câu, gần như “bất tri hà sự”, Ba Bứng, Thạch Sương cõng tôi về doanh trại nửa đêm về sáng.

Ngày hôm sau, anh Lâu hỏi:

- Hôm qua có vui với tụi nó không?

- Dạ vui…!!! Nhưng suýt bỏ mạng…!

- Anh bị tụi nó thử lửa đó, nhập gia tùy tục, nhưng phải nhớ nhập giang phải tùy khúc, vì vậy cái ĐĐ nầy mang tiếng là “Quậy” nhất của TĐ và cũng mang tên là ĐĐ bị đày đó. Sáng nay Tr/U Thành và Tôi được báo cáo đầy đủ bửa tiệc lòng heo đêm hôm qua, tụi tôi vui lắm cứ cười ha hả và yên tâm với cái phong cách “giang hồ hảo hán” của anh có thể khắc phục tụi nó dễ dàng…Vì trước đây có nhiều SQ chịu không nổi phải xin thuyên chuyển đi nơi khác vì bị chê là cù lần, hách dịch mà lại nhát như thỏ, thượng đội hạ đạp…!!! À… thì ra là thế! … vô tình tôi đã có một “anhdũng bội tửu” được mấy “ông thần” lãng tử biên thuỳ khoái tỷ so cựa đàn anh “Sĩ Quan Sữa” đêm hôm qua có vẽ “ngầu” chơi được…và “tương kính như tân” nên hai “Ông” Hạ Sĩ Nhất tình nguyện đưa lưng cõng “Quan” về trại…!!!


Theo lệnh ngưng bắn, đơn vị được xả trại đón giao thừa Tết Mậu Thân, 1968. Anh Lâu rủ tôi về nhà anh ăn bữa cơm cuối năm với gia đình, Ông Bà Cụ thân sinh và cô em gái, hình như có mặt của Đinh Văn Tiến Hùng, sau bữa cơm, anh cho tôi mượn chiếc xe Vespa của anh rong chơi thành phố… Tôi chẳng có thân nhân, chẳng có bạn bè thân thích, về lại doanh trại thì chỉ loe ngoe chục binh sĩ độc thân đấu láo, tôi ghé cư xá Tổng Hành Dinh tán gẫu với mấy cô Nữ Trợ Tá Xã Hội của BTL, hầu hết họ đã được đi phép về gia đình ăn Tết vui Xuân, chỉ có Trung Sĩ Ngô Túy Lan còn ở lại đơn vị, cô yêu cầu tôi chở ra Chợ Đầm mua ít hoa quả về đón giao thừa, chợ chiều ba mươi Tết vắng tanh, nhưng lùng sục một lúc cũng kiếm được một bó hoa mẫu đơn và trái dưa hấu, vài hộp mứt cho có lệ. Hai tâm hồn cô đơn “xa quê hương nhớ Mẹ hiền”, đốt vài nén nhang, ngồi trước mái hiên chờ tiếng pháo giao thừa trong tĩnh lặng không lời…! Tôi từ giã, định trở về trại, Cô nói:


- Thiếu Úy, nghỉ ở đây đi, nằm trên giường của chị Bé Tư nè (Bé Tư là Trưởng Phòng Xã Hội-BTL), ngày mai tôi nhờ Thiếu Úy chở đi Tháp Bà xin xâm…?
Tôi ngần ngừ không trả lời, vẫn ngồi yên trên cái ghế thấp trước hiên nhà, chợt nghĩ :”…năm nay dân Nha Trang ăn Tết lớn”…!!! mãi tới 2 giờ sáng mà tiếng pháo vẫn còn đì đùng khắp nơi…!!! Ở đây tôi và Lan cảm cảnh “Xuân Nầy Con Không Về” …! Chạnh tình Lan kéo chiếc ghế xích lại gần nhè nhẹ ngã đầu vào vai Tôi, ánh mắt đen huyền nhìn lên bầu trời khuya lơ lửng ánh sáng hỏa châu chiếu rọi và rồi tiếng động cơ L19 bay lượn vòng vòng thả trái sáng với tiếng loa phóng thanh từ trên không vọng xuống :

“Tất cả các quân nhân đồn trú thuộc Quân Trấn Nha Trang, bằng mọi phương tiện phải trình diện đơn vị ngay tức khắc, và cũng ngay lúc này lệnh giới nghiêm được ban hành toàn Thị Xã Nha Trang đến khi có lệnh mới “…

-Thiếu Úy chuyện gì vậy…? . Túy Lan hỏi Tôi.

-Tôi không biết…! Lệnh phải trở về trình diện ngay tức khắc, và cũng là lệnh giới nghiêm…Mình chờ chút nữa xem sao ?

Loa phóng thanh từ chiếc L19 bay lượn quanh, vẫn lập đi lập lại nhiều lần cảnh giác… Nhưng tiếng pháo từ tứ phương đông tây nam bắc vẫn tiếp tục nổ đì đùng vang dội xen lẫn với tiếng súng Ak của VC nổ từng tràng… Thôi, như vậy là có biến rồi, từ cư xá này đến BTL chỉ khoảng chừng 500 mét...? Tôi bất chấp lệnh giới nghiêm nói với Túy Lan :

- Tôi phải đi ngay.

- Thiếu Úy chờ một chút ?

Cô vội vã thay quần áo nhà binh, nhẩy lên sau chiếc Vespa, tôi nổ máy phóng vội về BTL. Việt Cộng đã tấn công toàn thể Thị Xã Nha Trang đúng vào lúc giao thừa. Tình hình an ninh của Thị Xã đang đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp, ngay cả Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, Tư Lệnh LLĐB, kiêm Quân Trấn Trưởng cũng chưa biết chắc chắn những gì đang xảy ra trong đêm Giao Thừa loạn lạc nầy, Ông chỉ biết VC đang đột xuất tấn công Nha Trang…?! Tôi phải đợi đến 5 giờ sáng, một xe GMC đưa khoảng vài chục binh sĩ về lại TĐ91BCND, Thượng Sĩ Mười, thường vụ ĐĐ vừa nhảy xuống xe, chạy vội tới đôn đốc binh sĩ chuẩn bị tác chiến và đưa cho tôi cái áo giáp, khẩu súng Colt45 và cây Carbin M2 bá xếp với giọng nói không còn bình tĩnh như thường ngày và hốt hoảng :

-Thiếu Tá Tú TĐT, Trung Úy Tùng ĐĐT/ĐĐ4 đã tử trận, Trung Úy Thành ĐĐT của mình bị thương nặng, đã được đưa vào bệnh viện Nguyễn Huệ, Trung Úy Lâu vừa rời khỏi đây chừng nửa giờ…! Thiếu Úy lên xe cùng với mấy anh em, đường Duy Tân còn an ninh, không nguy hiểm lắm, cứ chạy thẳng đến Dinh Tỉnh Trưởng Khánh Hòa thì gặp Trung Úy Lâu ở đó… Nhớ lời Tôi dặn, tìm Ba Bứng, Thạch Sương, Kim Chơi và ở bên cạnh tụi nó… Thiếu Uý đừng nổi máu anh hùng rơm mà bỏ mạng…!

Tôi bàng hoàng và cảm động muốn rơi nước mắt ! Suy nghĩ vừa mới tốt nghiệp Võ Bị với hành trang lý tưởng nào là: Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm, Cư An – Tư Nguy , Tự Thắng để Chỉ Huy … mà hiện tại bây giờ đang đứng trước hoàn cảnh bất chợt phải “ba quân trong tay ta” xông lên tử chiến với quân thù “sinh Bắc tử Nam” với nhiều huyền thoại từ những “nhà” phóng viên, báo chí truyền thông Âu-Mỹ phản chiến, thân Cộng rêu rao thổi phồng chúng như đoàn quân thiện chiến nhất hành tinh nầy vậy …! Biết thế, nhưng tôi vẫn có nhiều bất an và hình như tôi đang quên đi hết những gì được thụ huấn trong quân trường…?! …hiện trạng tôi chỉ có vâng lời người Thượng Sĩ già lớn tuổi hơn mình, đã trải qua bao nhiêu năm chiến đấu trên khắp mặt trận, dầy dặn kinh nghiệm chiến trường … Bất chợt tôi choàng tay ôm TS Mười xiết thật chặt thân tình rồi lên xe, nhìn đồng hồ đang 6:30 giờ sáng ngày mùng một Tết, tôi dẫn quân lên đường và sau cùng cũng tìm đến được Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn, gặp anh Trung Uý Lâu ở phía sau bên cạnh bờ tường của Dinh Tỉnh Trưởng Nha Trang. Anh bảo tôi:

- Anh lách qua bên phải gặp Trung Đội 1 và 2 bên đó…hãy cẩn thận, chết và bị thương nhiều lắm rồi…! Bảo thằng HSN Bảo đưa cái máy PRC25 cho anh… Anh mang nó vào lưng và liên lạc trực tiếp với Tôi.

Tôi lom khom chạy sau bờ tường gặp ngay cái nhóm mắc dịch” lòng heo và Black and White” đang nốc rượu đế từ cái bi đông chuyền tay, Kim Chơi nhoài người đạp tôi một cái ngã nhào xuống đất, bên trái là hai chiếc thiết vận xa đang hụ máy sắp sửa ủi hàng rào tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5. Kim Chơi cười cười, Kim Sua nói :

- Cha nội, lúc này là phải bò, phải trườn, cứ tưởng đang đi dạo phố thì đi đời nhà ma đó cha nội…!!!

Hai chiếc thiết vận xa vượt hàng rào bắn phá ...Òanh, Òanh, Òanh... rồi một chiếc bị lãnh một trái B40, cài số de, ủi sập bờ tường, cán lên cả BCH/TĐ, làm cho Đại Úy Nguyễn Quang Vinh TĐP bị giập xương sống, phải tản thương khẩn cấp…! Trung Uý Lâu lòm còm bò lê, bò lết hồn phi phách tán…Oành, Oành, Oành… Tôi cảm thấy tay trái tê buốt, nhìn qua thấy máu tuôn xối xả cả cánh tay trái. Ba Bứng nóng mặt hét to: “ ĐM chơi luôn” hai tay ôm cây đại liên 30 không có càng nhào lên, “cái Bang” trại gia binh cùng nhào lên theo…. Ôi…! Nó tuyệt vời làm sao, như đang xem phim đổ bộ bờ biển Normandi: Tám chàng lính Miên, lính Nùng, lính Thượng… lom khom chạy nước rút bám được vào chân tường phía trước của Bộ Chỉ Huy TV5, Kim Chơi vói tay quăng trái lựu đạn lọt qua lỗ hổng của khung cửa sổ, trái thứ hai, trái thứ ba… Thạch Sương ngồi xuống làm điểm tựa để cho Kim Chơi nhảy đứng thẳng lên vai, Thạch Sương đứng dậy để cho Kim Chơi mượn đà nhẩy qua cửa sổ vào phòng, cứ thế 8 cảm tử quân yên hùng lao vào chiến trận cứ như “điếc không sợ súng” xem “mạng sống nhẹ tựa lông gà” khinh địch như n’est ce pas dưới quyền chỉ huy của Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thành, trong chớp nhoáng 8 “ông thần bán trời” đã xâm nhập vào “hang ổ” VC như chỗ không người, tuyệt vời hơn phim ảnh Hollywood đang trình chiếu toán Navy Seal hay Delta Force của Mỹ đang thi hành công tác đặc nhiệm…!!! Trung Sĩ Nhất Tiên (y tá) đang băng bó vết thương ở cánh tay trái của tôi, thì Tr/U Lâu cũng vừa đang “bò” tới dưới hoả lực của cây thượng liên VC đang bắn nổ dòn dã trên những cửa sổ lầu hai. Anh ra lệnh :

- Trung Sĩ Tiên, đưa Thiếu Úy Út ra phía sau và tản thương ngay.

Hai năm trong trường VBĐL, chúng tôi chỉ thực tập tác chiến trên chiến trận giả, bắn súng thật với đạn giả, chạm địch-bạn cũng giả… Nay mới về đơn vị chỉ vỏn vẹn có 5 ngày (thâm niên) chưa có chức vụ gì dù là Tiểu Đội Trưởng, ngơ… ngơ… ngáo… ngáo như Mán về thành, loay hoay không biết phải làm gì…trong khi những tay súng thiện chiến lỳ lợm cự phách, già dặn, tinh ranh trận mạc “đánh như chơi” như game of death , giỡn mặt với tử thần chung quanh mình “oánh giặc” như đang diễn tuồng xiếc…!!! Không cần đợi lệnh, những “Kinh Kha Việt” tân thời gan dạ thành thạo xông vào màn lưới đạn pháo bắn như rãi… thái độ ung dung hỗ trợ nhau, vai sát vai lìền lạc tấn bước bám từng góc nhà, bờ tường len lỏi thanh toán xoá sổ từng tổ, từng chốt … không một tiếng hô xung phong và cũng không cần phải chờ hiệu lệnh chỉ huy, họ biết tự giải quyết những tình huống sinh tử cho chính bản thân và nếu chẳng may ngã xuống tại trận tiền ví như thua một cây “phé”, lỡ một nhịp đời chịu đựng cơn đau xé trời xanh, hồn bay bổng theo tiếng súng như cợt đùa với nhân gian phùng thời khói lửa chiến chinh. Nhưng sau chiến trận nghiệt ngã vợ con, thân nhân của Tử Sĩ là cả một trời thực tế đau thương…!!!. Vâng, chính Họ là những Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thuộc Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã cùng tôi chén thù, chén tạc “nhậu” tới bến với “ông già chống gậy” Black and White chỉ mới vài ngày qua ở trại gia binh.

Thị Xã Nha Trang và các vùng lân cận đã được giải toả hoàn toàn trong khoảng thời gian hai ngày. Tôi nằm ở Bệnh Xá THD/LLĐB theo dõi tin tức hằng ngày và biết ở các Tỉnh, Thành khắp nơi cũng tình trạng tương tự như thế … và đặt đến khó hiểu là toàn bộ lực lượng Quân Đội Mỹ trong những ngày đầu Chiến Trận Mậu Thân 1968 có lệnh án binh bất động không can thiệp, không chạm súng với VC, như đã có thoả ước bí mật, nếu không nói là đã âm mưu, đồng loã hỗ trợ ngầm cho VC lợi dụng tình trạng hưu chiến để tấn kích Quân Dân miền Nam ngõ hầu chiếm đoạt và tận diệt thể chếTự Do Việt Nam Cộng Hoà…?! Tôi được xuất viện, trở về trình diện ĐĐ, Tr/U Lâu giờ là Quyền ĐĐT/ĐĐ3, Đai Úy Wòong A Si ĐĐT/ĐĐ4, Đại Úy Khánh Cao Bồi là Quyền TĐT.

Trong phòng thuyết trình hành quân, Tr/U Lâu ban lệnh:

- Bây giờ là 9 giờ, chúng ta chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa để ra phi trường, chuẩn bị 3 ngàyăn (Ration C), đi đâu và làm gì sẽ có lệnh sau, Th/u Út giữ chức vụ Trung Đội Trưởng Trung Đội súng nặng kể từ giờ phút này… Thôi các Anh về lo cho Trung Đội đi.


Vì Quân Đội Mỹ chưa có lệnh tham chiến, cho nên chúng Tôi nhẩy bằng CH34 của Phi Đoàn 215 Không Quân Việt Nam đảm trách chuyển quân thả chúng tôi thâm nhập Mật Khu Đồng Bò nằm phía Bắc thành phố Nha Trang chừng chục cây số, xa nữa là khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn… Chúng tôi bố trí hành quân thần tốc tảo thanh truy lùng cán binh Vc từng khu vực mãi cho tới 3 ngày đêm chỉ chạm súng lẻ tẻ vô sự như đi cấm trại, chẳng có gì đáng kể… Nhưng tôi có dịp chỉ huy, tiếp xúc làm thân quen biết thêm được Binh Lính của đơn vị và những biệt tài sở trường của mấy “ông thần” Black and White như : Kim Sua xử dụng súng cối bằng đầu gối, Ba Bứng, Thạch Sương xử dụng đại liên 30 không cần càng, Y Khương hai tay xử dụng Garant M1, phóng lựu một cách chính xác như thẩy lỗ (thời điểm này TĐ91BCND chưa được trang bị súng tự động M60, AR15, M16, M79)..!!!


Cuối tháng 2 (Tết Mậu Thân-1968), Trung Úy Huỳnh Văn Thanh thay thế Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu, Thiếu Tá Trần Phương Quế làm Tiểu Đoàn Trưởng. Trung Tâm Hành Quân Delta, TĐ 91BCND (chỉ có 3 ĐĐ1, ĐĐ3, ĐĐ5) được một phi đoàn trực thăng 281 không số, không cờ, không huy hiệu của Quân Đội Hoa Kỳ không vận ra Phú Bài, Huế, tham dự Hành Quân Delta 35, trong tình trạng thành phố Huế đang dần dần phục hồi sau hoang tàn đổ nát và Thành Nội, Kỳ Đài còn ghim đầy dấu đạn… Cuộc hành quân dã chiến tại Huế đã ổn định xong, 3 ĐĐ được phi đoàn 281 trực thăng vận bốc thẳng vào ngay thung lũng Ashau, A lưới thả xuống hành quân tảo thanh truy kích địch tiếp tục…Tính ra kể từ ngày ra trường cho đến hôm nay, đây mới đúng nghĩa là cuộc hành quân của TĐ91BCND/LLĐB. Ngồi trên trực thăng UH1B, truớc sau đội hình bay là một hàng dài trực thăng nối tiếp nhau với tiếng động cơ và cánh quạt phành phạch xé gió lao vào vùng hành quân, tôi nôn nao thầm đếm không biết bao nhiêu chiếc nữa, bên hông trái phải là 4 chiếc Cobra Gunship trang bị hoả lực kinh hoàng oai dũng , uy vũ như thiên thần hung tợn bay lượn tới lượn lui mở đường, hộ tống bảo vệ đội hình và sẵn sàng phóng tối đa lưới đạn, hoả tiễn vào mục tiêu đối đầu… Bỗng dưng tôi nhớ đến bài hát Biệt Kinh Kỳ “giữa đoàn hùng binh có Tôi đi hàng đầu, trở về thủ đô nắm tay ta mừng vui...” và niềm kiêu hãnh vô hình đang dâng trào lên lồng ngực, tôi vỗ vai thân thiện Ba Bứng đang ôm chặt khẩu đại liên 30 không càng. Trực thăng đổ quân trên bãi đáp là một địa điểm hình yên ngựa thoai thoải, Gunship bay lượn quanh vùng để hỗ trợ, binh lính ĐĐ3 túa ra thành thạo tự sắp xếp đội hình tác chiến, từng bước, từng bước dọ dẫm tiến lên ngọn đồi trước mặt, ĐĐ1 và ĐĐ5 được đổ xuống khoảng 15 phút sau đó. Vì là Trung Đội Trưởng súng nặng nên Tôi đi bên cạnh Tr/U ĐĐT HVThanh, ba trung đội kia, một trung quân, một tả quân, một hữu quân…Bỗng Ầm...Ầm...Ầm, Oành…Oành…Oành… cây lá cành gẫy đỗ ngã ập xuống trên đầu chúng tôi như cơn bão táp với sức cuồng phong bốc lửa…!!! Trung Úy Thanh ngã quỵ với đôi mắt trợn trừng, Y Tá Tiên nhào tới đỡ anh nằm xuống, lính quýnh mở hộp cứu thương, một viên đạn AK đã vào xé lồng ngực của anh Thanh, Kim Sua vất khẩu súng cối 60 ly nhào tới ôm tôi, cả hai ngã lăn cù trên mặt đất cùng lúc tôi nghe một tiếng nổ long trời trước mặt, tôi bị bứng văng xa, ngực trái của tôi ướt đẫm máu thấm ra ngoài cả áo giáp, Y Tá Tiên bò tới sờ ngực tôi, mắt tôi lờ đờ , anh bỗng òa khóc, tôi thiếp đi dần… dần không còn biết gì nữa…!

Thời gian qua đi không biết bao lâu…? Khi tỉnh dậy, tôi đang nằm ở Bệnh Viện 3 Dã Chiến của Hoa Kỳ Phú Bài, Huế, bác sĩ Mỹ chăm sóc cứu chữa và cho biết: Tôi lãnh trọn một trái Beta vào ngực, nhưng may nhờ cái áo giáp nên miểng không xuyên phá vào sâu được, bác sĩ đã gắp ra hết chỉ còn một mảnh nhỏ ở ngay bên ngực trái không nên mổ vì sẽ chạm hệ thống thần kinh nguy hiểm, vài ngày sau đó tôi được chuyển về bệnh viện Duy Tân, Đà Nẵng. Nhập viện, “bố khỉ” lại “hội ngộ” bạn Thiếu Úy Nguyễn Hiền nằm bên cạnh với cái chân trái treo tòn teng trên giá cuối giường…!!!

Vài ngày sau đó, phái đoàn Phòng Xã Hội BTL/LLĐB đến thăm, có Trung Sĩ Túy Lan tâm tình đêm giao thừa vừa qua đi trong phái đoàn uỷ lạo thương binh và “ngộ” cố nhân nên Cô ở lại bệnh viện hai ngày trực tiếp chăm sóc cho tôi và kể :
- Thiếu Úy biết không, khi nghe tin ĐĐT/ĐĐ3 và Thiếu Út tử trận, TĐ thiệt hại nặng, Túy Lan điếng người, gọi điện thoại lung tung, mấy ngày sau mới biết tin chính xác. Trung Úy Thanh được đưa ra Đệ Thất Hạm Đội, mổ khẩn cấp để gắp lấy viên đạn AK (vì vậy sau này mới có tên là Thanh AK) tình trạng khả quan, còn Thiếu Úy được đưa về Đà Nẵng, tổn thất của ĐĐ rất nặng với 12 chết, 27 bị thương nặng nhẹ, may là TĐ được bốc ra ngay, nếu không thì chẳng có người nào được trở về…!

Một tuần sau tôi xuất viện, được nghỉ phép 29 ngày chờ tái khám. Khi trở về đơn vị thì tân ĐĐT là Trung Úy Ngô Tùng Lam (Khóa 11TĐ), TĐ91BCD được cải danh TĐ81BCD, mấy “ông thần” Black and White đưọc bình an vô sự, chỉ có Hạ Sĩ Nhất Mang Đen còn nằm nhà thương vì câu nói bông đùa thường nhật của anh: “… cắt cổ không bằng đổ rượu” bây giờ thì anh bị đổ ruột…!

Cuối tháng 4 năm Mậu Thân, 1968, lệnh hành quân về Sài Gòn vì Việt Cộng tấn công đợt hai, chiếm vùng Cây Quéo, Cây Thị (Bình Hòa- Gia-Định), Trung Đoàn chủ lực miền Quyết Thắng của VC đã xâm nhập vào đây và bám trụ rất chặt trong từng nhà dân chúng… Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù quần thảo với chúng nó cũng đã nhừ tử rồi, nhưng chưa bứng chúng được là vì lệnh trên không cho phi pháo yểm trợ vào khu dân cư đông đảo…! Giải pháp và quyết định tối hậu sau cùng là chỉ có lực lượng Delta 81BCD với sở trường “vạc ăn đêm, mèo bắt chuột” là trừ khử con cháu “bác và đảng” giặc từ miền bắc vô đây, bàn tay vấy máu dân lành… và chỉ có Delta 81BCD đột kích từng căn nhà trong đêm mới có thể “móc” ra được loại quỉ vô thường VC ra khỏi hầm hố đào bới, bám trụ trong nhà phố cư dân… vì địch ở trong thế bối thủy sinh tử chiến: hoặc chết hết hoặc đầu hàng mà thôi …! Quả thật, các cấp chỉ huy đã có quyết định hành quân chính xác khi xử dụng Delta 81BCD trong mặt trận này. Như qui luật bất thành văn: “Biệt Kích Dù Anh Hùng Vô Danh” nên “mèo bắt chuột” thì chẳng có gì kể lể chiến công. Nhưng sau khi đã bứng và tống khứ, đưa tiễn linh hồn cán binh VC ra khỏi vùng chiếm đóng, để trả lại sự bình yên cho dân chúng sau những ngày tháng tang tóc và nỗi chết luôn chực chờ … Người chiến sĩ Delta 81BCD đã được Quân-Dân miền Nam biết đến và hâm mộ, thương yêu những “Kinh Kha Thời Đại”, với những chiến công sát cộng Bảo Quốc – An Dân từ Tết Mậu Thân Đợt I và Đợt II qua hệ thống truyền thông, truyền hình, báo chí,… Đi với tôi có phóng viên Dương Phục của Trung Tâm Điện Ảnh Quân Đội làm phóng sự, tháp tùng bên cạnh tôi là Ba Bứng với cây đại liên M60 mới toanh, Kim sua ôm khẩu phóng lựu M79 cáu cạnh vừa mới xử dụng một ngày trước đó, Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Thành, Trung Đội Phó của Tôi. Tôi nhớ lại mới mấy ngày đêm vừa qua khi tôi chỉ huy dẫn các toán Delta xâm nhập vào từng căn nhà vào lúc nửa đêm về sáng, ĐĐ2 và ĐĐ3 theo sự hướng dẫn làm mũi dùi chính chiếm mục tiêu: Kim Sua xử dụng súng phóng lựu M79 bắn chính xác rót vào mục tiêu như “thẩy lổ” Bụp...Bụp...Bụp... vừa bắn vừa nói lầm bầm : “nè…cho mày ngụp xuống hầm…rồi …trúng, tapi…cho mầy banh sàrong coi chơi…”. Địch banh xác pháo…!!! Kim Sua xử dụng cây M79 hiệu quả còn hơn súng cối 60 ly…!!! Ba Bứng vừa bắn đại liên M60 nổ dòn vừa chửi thề: “Đ…m… cho mày như con thằn lằn rớt xuống đất… dzô…dzô…dzô con…cho mầy chết nè…nè…” !!! Cho đến khi tàn “cuộc chơi” nhìn thấy những cán binh VC bị bắt với thân thể ốm đói sau nhiều ngày tử thủ, chân mang dép râu chiếc còn chiếc mất, mũ tai bèo tơi tả, mặt mày tái mét thiếu ăn, mất ngủ, ngơ ngáo, nằm bẹp xuống sàn nhà … Chẳng cần bắt trói, tôi bàn giao chúng lại cho toán sau, lại tiếp tục đột kích sang từng căn nhà khác cạnh kề và lại tiếng súng nổ, tiếng lựu đạn nổ và thây người cán binh ngã xuống, chẳng thèm thu nhặt chiến lợi phẩm súng ống, chúng tôi lại tấn kích tiếp tục sang từng căn phố, cho đến khi tất cả 167 cán binh thuộc Trung Đoàn Quyết Thắng may mắn sống xót, tháo chạy về hướng cầu Băng Ky và đầu hàng với cánh quân TQLC ở ngã năm Bình Hòa, Gia Định. Tôi được thăng cấp Trung Úy tại mặt trận và làm Đại Đội Phó từ đó. Tiếp đến Đại Đội lại được điều động qua cầu Nhị Thiên Đường, bên Phạm Thế Hiển, nơi đây xảy ra nhiều chuyện nửa khóc nửa cười: Ba Bứng say rượu vác đại liên bắn chỉ thiên, rượt Đại Úy ĐĐT Ngô Tùng Lam chạy bán sống bán chết vì bị phạt cạo đầu nhốt chuồng cọp ba ngày với cái tội nói chuyện với ĐĐT mày tao, Thạch Sương, Mang Đen hai tay với hai quả lựu đạn mở chốt tìm ĐĐT nói chuyện phải trái vì tội vô kỷ luật, Thiếu Úy La Lưu Ý với mối tình ba ngày với cô học sinh lớp đệ tam trường trung học Cần Giuộc, kết quả là cô tự vận chết, La-Lưu Ý ăn năn, cạo đầu ăn chay xin xá tội...!

ĐĐ3/81BCND của tôi đó…!!! Chỉ có bốn tháng kể từ ngày ra trường trải qua với bốn cuộc hành quân, bốn vị ĐĐT, một bị cưa chân, một bị lãnh viên AK vào ngực trái, ba vị Tiểu Đoàn Trưởng, tôi bị thương hai lần…. Một điều lạ là cái “Băng lòng heo luộc Black and White” Thượng-Miên- Nùng thuộc Đại Đội 3 TĐ81BCD bình an vô sự , không hề hấn gì. Chắc có lẽ cũng vì thế mà đúng một năm sau vào tháng 5 – 1969, tôi được bổ nhiệm làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 5 chỉ mới có 23 tuổi đời, một “ĐĐT Sữa” của Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù đơn vị ưu tú và thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà lưu danh trong dòng Chiến Sử sánh vai với tất cả Quân Binh Chủng Miền Nam Việt Nam trong suốt 21 năm Cuộc Chiến Quốc-Cộng và hiện tại ở đây, quê người bình yên đến buồn an lạc… Tôi vẫn luôn hoài niệm chiến trường xưa khi mà “Thiên Địa phong trần, du du bỉ phương” hà thời …Ôi, …nhớ sao là nhớ những binh sĩ và “Giàn” Hạ Sĩ Quan “Thần kinh Quỉ khiếp, banh sà rong coi chơi” Thượng-Miên-Nùng và những ngày xưa thân ái “Huynh Đệ Chi Binh”…Và:

Bằng Hữu ơi, mai ta về rừng lá
Chốn phiêu bồng cây cỏ cũng rong chơi
Giã từ người đêm sau cơn nguyệt hạ
Thả thơ thuyền cho trôi dạt mù khơi.

Mai đi thật xa ta đi thật xa…
Chuyến tàu đêm có đỗ bến quê nhà
Anh Em tứ tán trôi vô định
Nước mắt hay sương đêm đã nhạt nhoà!

(TGD)
Trương Văn Út (MũĐỏ ÚtBạchLan)


   OfflinePersonal Gallery of vuongquanView user's profileSend private message
vuongquan




Joined: 14 Mar 2016
Posts: 115

PostPosted: Thu Jan 25, 2018 5:55 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top



Image

Cai Tù Việt cộng
Phạm Kim Khôi



1. Như hàng ngàn nhà tù khác, Việt cộng đã dựng lên sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, ngày cuối cùng của hạn kỳ 10 ngày do chính chúng quy định cho Sĩ Quan cấp Úy đi “học tập cải tạo” đã qua tại nhà tù Long Giao. Nỗi hoài nghi về sự lừa gạt của Việt cộng càng ngày càng trở thành chính xác khi tuần thứ 10 cũng đã qua luôn.

Cái án tù vô hạn định không hề tuyên bố đang chính thức được thi hành để hủy diệt dần mòn số phận toàn thể Sĩ Quan của một quân đội thua trận vì bị Đồng Minh phản bội.

Trước khi chuyển tù từ các nơi tập trung ở Saigon về Long Giao, cán bộ Việt cộng phụ trách công tác tuyên bố:”nhờ chính sách khoan hồng đại lượng của cách mạng hôm nay các anh được đưa đến 1 địa điểm đầy đủ điều kiện thuận lợi để học tập cải tạo…”, tới nơi mới thấy địa điểm đầy đủ điều kiện thuận lợi là 1 chỗ không có lấy một cái cầu tiêu, không một miếng ván lót nằm.

Thêm chuyện lạ khó tin nhưng có thật với nhân chứng gồm hàng trăm ngàn người đi ở tù, đó là ở tù phải đóng tiền cơm! Chỉ sau khi đến Long Giao tới ngày thứ hai, toàn thể tù nhân bị bọn cai tù bắt nộp tiền cơm. Chúng biết thóp ai cũng mang theo vài ngàn để phòng thân nên vét trọn được một mẻ rất khá.

Đểu cáng là tuy đóng tiền cơm, nhưng hàng ngày nhà bếp tù chỉ được phát gạo mục rỗng ruột. Thứ gạo bỏ vào nước vo nổi nhiều hơn chìm. Kết quả sau một thời gian ngắn, rất nhiều người bị mắc bệnh phù vì thiếu sinh tố B1. Chân người bệnh sưng mọng lên gấp hai ba lần khiến cho việc đi lại thật khó khăn. Dã man hơn nữa, có khi Việt cộng còn phát ra những bao gạo trộn đầy đất cát.

Thứ gạo này khi nấu thành cơm cả trại đều nhăn mặt người nghĩ cách đổ đầy nước vào nửa chén cơm rồi lấy đũa khuấy thật mạnh cho sạn cát lắng xuống nhưng cũng không thể nào lọc được. Cơm và đất cát đã dính bết vào nhau rồi. Cả ngày hôm đó cơm tù còn nguyên. Anh em đợi bọn cai tù xuống nói rõ sự việc, nhưng bọn này nghe xong thản nhiên trả lời :

- Các anh phải khắc phục.

Bệnh tật phát sinh trong trại tù mỗi ngày một tăng. Phụ trách y tế trại là một con y tá vườn. Con này mới bò từ rừng ra sau ngày 30-4-75. Hàng ngày nó ngồi vênh váo bên trong khuôn cửa sổ căn nhà dùng làm trạm y tế để làm việc.

Tù bệnh buổi sáng đến ngồi chờ bên ngoài lần lượt tới khai. Bất cứ bệnh gì, con này cũng khủng khỉnh cho toa điều trị 1 cách quái đản. Giữa năm 1975 không ai có thể ngờ y tá Việt cộng lại có cách chữa bệnh bán khai đến như vậy :

- Bệnh gì?

- Tôi bị phù, người mỏi mệt, đau nhức toàn thân.

- Xuống nhà bếp xin nước vo gạo đun lên mà uống.

- Bệnh gì?

- Tôi bị tiêu chảy.

- Tiêu chảy ra làm sao?

- Tôi bị đi cầu nhiều lần trong ngày.

- Nhịn ăn, ra chỗ hàng rào, hái lá ổi đun lên mà uống.

- Bệnh gì?

- Chân tôi bị lưỡi cuốc văng vào làm độc có mủ nhiều ngày nay rồi.

*****

Thằng Quản giáo, cai tù trực tiếp coi mỗi buồng, sau khi nghe báo cáo thiếu hai người. Mặt nó tái đi. Tuy nhiên nó cũng vào tận nơi xem xét lại chỗ nằm của 2 người. Sau đó nó chạy về Bộ chỉ huy Trại rồi trở xuống ngay với thằng cán bộ an ninh. Hai thằng chia nhau tém gọn tất cả đồ đạc của tù trốn.

Tối hôm đó cả buồng 5 phải ngồi sinh hoạt kiểm điểm, dưới sự theo dõi và chất vấn của thằng Quản giáo. Mọi người đến phiên phát biểu ý kiến đều cả quyết xác nhận không hề hay biết gì về âm mưu của hai người trốn trại.

Thằng quản giáo cố nén tức giận thông báo phịa: “Tôi cho các anh biết 2 tên phản động trốn trại bị bắt lại rồi. Hiện nay trại đang có biện pháp xử lý 2 tên này. Các anh lấy đó làm gương. Đừng bao giờ dại dột mà trốn trại. Các anh có trốn cũng không thể nào thoát được. Vì khắp nơi nhân dân ta đều là tai mắt của Đảng và nhà nước.”

Mặc dù bọn cai tù Việt cộng hết sức dọa nạt để ngăn chặn nạn trốn trại, nhưng không bao lâu một vụ trốn trại đông hơn trước lại xẩy ra. Lần này anh em ở nhiều buồng đặt kế hoạch chung nhưng họ lại thiếu may mắn hơn 2 người lần trước.

Sau vài ngày, xảy ra vụ thứ hai. Cả trại chứng kiến cảnh ba người bị dẫn giải về. Cả 3 quần áo rách tả tơi, tay bị trói quặt về phía sau bằng dây kẽm gai, mặt mày sưng húp, bầm máu. Họ đi không còn vững, lúc nào cũng chỉ chực ngã chúi về phía trước.

Sau khi được nhá cho mọi người thấy, họ bị nhốt ngay vào những cái cũi tù mà muốn ngồi dậy phải cúi đầu thật thấp. Anh em dò hỏi mới hay toán vượt ngục thất bại gồm 7 người. Bốn người đã bị bắn chết trong rừng. Ba người còn lại không bị bắn nốt vì sau khi tra tấn họ chết đi sống lại nhiều lần, bọn cai tù thấy rồi cũng chết, nên mang về trại để dằn mặt những người khác.

Lần này các đội tù không bị bắt sinh hoạt kiểm điểm về việc trốn trại nữa. Bọn cai tù sợ phản tác dụng nếu công khai hóa liên tục những tin tức loại này.

Tuy nhiên thằng quản giáo vẫn lên giọng răn đe: “Hiện nay trong trại ta vẫn còn những kẻ ngoan cố, chúng muốn coi thường luật pháp XHCN, đang âm mưu trốn trại để tiếp tục chống phá cách mạng. Nhưng không được đâu. Kẻ nào có ý đồ làm những chuyện dại dột đó sẽ bị trừng trị đích đáng như các anh đã thấy. Bốn tên cực kỳ phản động, chống đối đến cùng đã bị chính nhân dân ta bắn hạ. Ba tên còn lại nhờ vệ binh can thiệp kịp thời đưa về trại. Nếu những tên này biết ăn năn thật tâm hối cải thì sẽ được hưởng chính sách khoan hồng. Đây là lần chót để các anh suy nghĩ học tập cho tốt.”

Khoan hồng đâu không thấy, chỉ thấy vài ngày sau hai người trong cũi đã chết tại chỗ. Còn 1 người nằm mê man, bất tỉnh không ăn không uống nổi nữa, bọn cai tù nói là cho đi viện, nhưng có lẽ là viện dưới âm ty.

Lần này bọn cai tù có vẻ yên tâm vì cả 7 người trốn trại đều bị chúng bắn hạ hoặc tra tấn đánh đập rồi cũng chết luôn trong cũi. Biện pháp đó tưởng đâu đã bóp chết được phong trào trốn trại. Trái lại vẫn có những anh em tiếp tục quyết tâm tự cứu. Trước sự gan lì này, bọn cai tù chơi trò khác.

Chúng bày ra tòa án, cố tạo không khí nghiêm trọng để xử người trốn trại. Một buổi sáng cả trại nghỉ lao động. Từng đội sắp hàng cạnh nhau trước loa phóng thanh trực tiếp truyền thanh phiên xử Đại úy Thịnh tội âm mưu trốn trại. Riêng thành phần “chức sắc” gồm các lán trưởng, tổ trưởng tù được tham dự tận mắt phiên tòa tại bộ chỉ huy trại. Nhưng xử cái gì nữa, phiên tòa chưa bắt đầu, đã có 1 chiếc xe Molotova chở cỗ quan tài đưa vào trại.

Mọi người nhìn nhau : “xong rồi!” và đúng như thế. Cuối cùng bản án được một thằng Việt cộng mặt đầy sát khí ngồi bàn chánh án tuyên ra 2 chữ vắn gọn: “Tử hình!”. Đại Úy Thịnh bị mang ra bắn trước sự chứng kiến bắt buộc của đồng đội.

*****

Thấm thoát 1 năm tù trôi qua ở trại Long Giao với tất cả 3 lần tù nhân phải làm bản tự khai. Lần nào để tù nghỉ lao động làm công việc này, tên trại trưởng cũng khoác lác phủ đầu: “Hồ sơ lý lịch của các anh, cách mạng đã có đầy đủ. Bây giờ trại chỉ muốn coi xem các anh có thực thà khai báo lại hay không. Căn cứ vào lời khai của các anh, trại sẽ đánh giá chính xác thiện chí học tập cải tạo từng người”.

Sự thực thì bọn Việt cộng chẳng biết cách nào để biết rõ lý lịch từng người trong số hàng trăm ngàn tù chúng giam giữ. Thế nhưng chúng lại rất muốn biết để có yếu tố phân loại, biên chế nhằm áp dụng đúng tiêu chuẩn những biện pháp thích đáng hơn đối với mỗi thành phần.

Hòng chắc ăn, chúng bắt tù khai đi khai lại 3 lần lý lịch của từng người với cùng các câu hỏi giống nhau để khai thác mọi kẽ hở sai biệt nếu có trong lý lịch bất cứ người nào. Sau đó căn cứ vào hồ sơ lý lịch này chúng thực hiện kế hoạch chuyển trại qui mô.

Một nửa số tù đã được chuyển khỏi trại. Những người còn lại đang hoang mang lo lắng thì có lệnh tập trung lên sân Bộ chỉ huy trại để thằng trại trưởng làm việc:

- Hôm nay tôi thông báo cho các anh biết 1 việc hết sức quan trọng để chuẩn bị. Các anh sẽ được đưa tới 1 nơi khác có đầy đủ điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc đi học tập cải tạo. Bây giờ các đội trở về lán thu xếp tư trang cho thật gọn chờ quản giáo xuống hướng dẫn di chuyển.

Hàng ngàn tù nhìn nhau hỡi ôi : Lại đến một nơi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn nữa!

Cái thuận lợi sơ khởi của lần này là tù được đi tàu thủy, con tàu có tên Sông Hương rất đẹp, nhưng đã được bọn cai tù Việt cộng biến thành 1 cái địa ngục nổi kinh hoàng.

Tù từ nhiều nơi cùng lúc được đưa tới Tân Cảng Saigon để tàu chở ra Bắc. Trên boong tàu 1 cửa cầu thang nhỏ được mở ra để tù xuống hầm. Giòng người nối đuôi nhau tụt xuống liên tục suốt từ chiều đến nửa đêm mới hết. Mới đầu người xuống trước còn duỗi chân ra được, nhưng dần dần tất cả phải co chân lại mới đủ chỗ ngồi. Phần cuối khoang chừa lại 1 khoảng nhỏ để làm nơi đại và tiểu tiện.

Chỉ sang đến ngày thứ hai là phân và nước tiểu đã bắt đầu chảy ngược lại phía người ngồi. Nắp cầu thang trổ lên boong lúc nào cũng đóng chặt. Cứ như thế hàng ngàn người đã không đủ khí trời mà thở, lại còn phải hít thêm mùi phân và nước tiểu càng lúc càng nồng nặc.

Ngày nào cũng có vài người ngất xỉu. Xỉu thì nằm đó cho đến khi tắt thở. Anh em chung quanh la hét kêu cấp cứu nhưng khoảng vài tiếng đồng hồ sau nắp thang mới mở để cho 4 người ngộp thở khiêng người hết thở lên boong tàu. Thế rồi các xác chết kia được quăng xuống biển, 1 nơi sạch sẽ mát mẻ hơn dưới hầm tàu, chỗ những cái xác sống đang chịu cực hình ngồi trên cức đái sình thối.

Cái thuận lợi kế tiếp là đi xe lửa Bắc Việt. Tàu vừa cập cảng Hải Phòng, tù được dồn thốc tháo từ địa ngục nổi sang địa ngục lăn. Mỗi toa xe địa ngục này có 2 thằng Việt cộng cầm súng kềm tù leo lên. Khi toa đã chật cứng, 2 cái lưỡi lê được dùng để bắt buộc những người ngồi gần cửa phải rướn người bật ngửa ra phía sau lòi chỗ cho người đang chờ dưới đất lên tiếp. Trong toa người nọ phải ngồi đè lên người kia mới đủ chỗ chứa hết số tù quy định cho mỗi toa. Cửa toa được kéo lại khóa chặt. Trong bóng đêm mù đặc, chuyến tàu đen đưa tù về nẻo Yên Bái. Tới ga khi cửa mỗi toa mở ra cho tù xuống, những người yếu sức quá đã chết ngộp từ bao giờ.

Cái thuận lợi sau cùng và lâu dài nhất là tù được đưa lên địa phận Hoàng Liên Sơn, 1 nơi rừng sâu nước độc vào bậc nhất miền Bắc VN. Ở đây không có người, không có nhà, không có đường đi lối lại mà chỉ có muỗi, vắt, đỉa, bọ cạp và rắn rết. Tù phải tự tay dựng lấy nhà giam chính mình. Nguyên vật liệu là gỗ, tre, giây rừng. Dụng cụ gồm vài con dao rựa với mấy cái cưa cùn. Tuyệt nhiên không hề có 1 cây đinh hay cọng kẽm nào!

Thằng trại trưởng chưa có trại luôn mồm đốc thúc : “Trách nhiệm trước mắt ta là xây dựng trại. Tất cả các anh phải phấn đấu tích cực nhanh chóng hoàn thành công tác được giao phó sớm chừng nào hay chừng nấy.”

Trong sự thiếu thốn dụng cụ vật liệu quá đáng mỗi khi tù gặp trở ngại hỏi thêm bất cứ thứ gì cũng được đáp ứng bằng mồm ngay :”Các anh phải biết lao động sáng tạo chứ. Phải biết tự tạo ra phương tiện mà dùng chứ. Phải biết khắc phục chứ”. Bài thuốc khắc phục đã được cai tù mang ra xử dụng trong mọi trường hợp cần cung ứng bất cứ thứ gì hiện đang thiếu thốn. Khắc phục không hơn không kém nghĩa là chẳng có gì ngoài sức lao động của con người, con vật lao động đúng nghĩa nhất dưới chế độ Cộng sản.

Sau khi có được những cái thuận lợi đặc biệt vừa kể, tù bắt đầu nhận bản án khổ sai biệt xứ đồng đều nhau. Ngay khi trại giam vừa hoàn tất, cai tù qui định chỉ tiêu lao động mới: “Kể từ nay hàng ngày mỗi người các anh phải mang về cho trại một cây gỗ dài ít nhất 5m, đường kính ít nhất 30 phân. Hôm nào có lệnh lấy vầu (một loại tre cực lớn), mỗi người hai cây dài 10m, đường kính ngọn không dưới 10 phân. Trại vừa nhận đủ số dao rừng để phát cho các anh đi lao động mỗi người 1 con. Buổi chiều công tác xong, anh nào trực đội, tập trung dao mang trả kho. Ai làm mất phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và sẽ được xử lý thích đáng. Đây là công tác trại giao cho các anh để học tập cải tạo. Vậy anh nào tỏ ra chây lười lao động, cố tình không hoàn tất chỉ tiêu, trại sẽ áp dụng biện pháp cắt phần ăn mỗi ngày.”

2. Thật ra với chỉ tiêu này không ai 1 mình có thể tự hoàn tất. Muốn khỏi bị cắt phần ăn ít lắm 2 người phải cùng làm đổi công cho nhau mới nổi. Tính ra từ mờ sáng xách dao vào rừng, leo lên triền núi hạ xong 1 thân cột, mặt trời cũng vừa đứng bóng. Sau đó 2 người lần lượt khiêng từng chỉ tiêu về đến trại, trời vừa sụp tối. Công việc làm đó mỗi ngày 1 người tù chỉ được ăn vài mẫu sắn có khi thối chảy nhựa vàng khè quá nửa. Thức ăn duy nhất là muối. Cai tù bắt bếp tù hoà muối hột tan trong nước rồi mỗi phần ăn múc cho 2 thìa.

Đây là 1 trong những biện pháp ngừa trốn trại mà chúng nghĩ rằng có hiệu quả vì tù không thể tích trữ muối mang đi. Sau vài tháng liên tục đốn gỗ, nhiều người chịu không nổi đã nằm liệt dù phải nhịn ăn. Nhân tiện bọn cai tù lấy những người hết khả năng đi rừng để thành lập đội rau xanh.

Hôm thành lập đội, thằng quản giáo nói như xỉa xói vào mặt mọi người: “Các anh là những người được trại chiếu cố giao cho công tác tăng gia. Vậy các anh phải thi đua lập thành tích để chứng tỏ thiện chí học tập cải tạo. Triệt để từ bỏ ngay cái lối ăn kỹ làm dối. Nếu không đạt chỉ tiêu sẽ được cho ra lao động ngoài ngay lập tức. Các anh liệu đấy.”

Đội rau xanh gồm 25 người chia ra 3 tổ. Các tổ luân phiên làm các công việc gánh phân, cuốc đất trồng cây và tưới.Muốn có phân, toán công tác hàng ngày phải vét cho bằng hết các hầm cầu nổi của toàn trại rồi mang đổ vào hố ủ phân giữa vườn rau. Nước thì từng cặp xuống tận suối ngoài hàng rào trại khiêng lên. Riêng đất ngày nào cũng phải cuốc xới nếu không sẽ cứng lại rất nhanh. Tuy được trại “chiếu cố” cho trồng rau như một việc nhẹ, nhưng nhờ vậy mà nhiều người cũng đã mắc bệnh kiết ly. và ho ra máu rồi chết nhanh đến không ngờ.

Khoảng 2 tháng một lần, cai tù bắt thu hoạch rau trồng. Xu hào, cải củ, phần củ mang lên nộp vào kho thực phẩm nhà bếp của bọn cai tù; phần lá được phép cung cấp cho bếp tù. Đậu đũa, bắp cải là thứ chỉ riêng nhà bếp cai tù mới được xử dụng. Tuyệt đối cấm tù đụng tới.

Khoai lang khi sắp đào củ, đọt nọn hái mang lên nhà bếp cai tù; lá già cho tù xử dụng. Nói chung tất cả sản phẩm của đội rau xanh làm ra là để cung cấp cho cai tù gồm quản giáo, vệ binh và bộ chỉ huy trại. Để bù vào đó, thỉnh thoảng trại cũng cho đội rau xanh vào rừng hái vài bồ rau tày bay, thứ rau dại, ăn nhiều chừng nào mất máu chừng đó, để bếp tù có đủ rau xanh ăn. Sau vài lần thu hoạch, sản phẩm của đội rau xanh càng ngày phẩm chất càng kém đi. Thằng quản giáo trước còn tập họp đội lại kết tội phá hoại nhưng sau khi theo dõi thấy các tổ vẫn làm công việc đều đặn nó đến tận chỗ tìm hiểu được nguyên nhân chính làm giảm năng xuất là phân bón không đủ tốt.

Đội rau xanh được lệnh tập họp, cứ 2 người một đòn không và 1 thùng đựng phân để đi công tác xa. Trước khi đi thằng quản giáo kiểm điểm: “Hôm nay đội ta nghỉ làm việc ở nhà 1 buổi để đi ra ngoài mua phân bắc. Các anh đã chuẩn bị tốt đòn và thùng chưa?” Anh đội trưởng tù báo cáo đã chuẩn bị xong sẵn thắc mắc hỏi luôn :

- Sao mình không dùng phân trại mà lại phải ra ngoài mua?

- Phân của các anh không có đạm!

Khi mới ra Bắc, tù được nghỉ ngày Chủ nhật. Sau thấy để tù ở không 1 ngày như vậy uổng phí quá, thằng trưởng trại ra lệnh: “Để các anh có dịp phát huy thêm tinh thần lao động XHCN, kể từ nay mỗi sáng Chủ nhật, tất cả các anh phải đi rừng lấy cho trại mỗi người 1 bó củi năm mươi cân.”

Thế là Chủ Nhật cũng như 6 ngày thường, tù tha hồ được lao động. Lao động chẳng những đạt mức XHCN mà còn có cơ tới thẳng luôn mức Cộng sản Chủ Nghĩa nữa. Nhờ lao động như vậy nên không người nào mặt còn hột máu. Họ bây giờ bước đi trong sân trại, chân không còn để lại rõ dấu.

Những hình hài tiều tụy kia đã nhẹ đến mức gần bay lên được tới Thiên Đường đỏ rồi. Đói quá phong trào “cải thiện” (chữ Việt cộng dùng để chỉ việc kiếm thêm đồ ăn ngoài khẩu phần được cấp) ngấm ngầm hoạt động.

Số là mỗi người tù đều mang theo ít nhất một cái lon Guigoz để đựng nước uống hoặc đồ ăn từ khi bắt đầu đi tù trong Nam. Nay ra ngoài Bắc, vật tùy thân này bổng dưng trở thành cái nồi cá nhân lưu động vô cùng hữu dụng. Thôi thì cóc, nhái, rắn, chuột, quả găng, củ mài, bất cứ thứ gì kiếm được trên đường đi lao động hàng ngày đều được cho vào nồi lén nấu chín lên ăn để khỏi phải gục ngã sớm vì những điều kiện “thuận lợi”!

Chẳng bao lâu việc làm này bị bọn vệ binh dẫn đội đi rừng hàng ngày phát giác. Người không may đầu tiên dang luộc sắn bên bờ suối bị thằng vệ binh theo tới nơi bắt quả tang. Nó dí súng vào lưng người tù quát :

- Thằng này, mày đang làm cái gì đây?

Người tù chưa kịp trả lời thì 1 báng súng như trời giáng đã nện xuống lưng. Người tù gục ngã, mồm hộc máu. Thằng vệ binh cười nham hiểm, nhìn người tù quằn quại hồi lâu nó quát tiếp :

- Đứng dậy. Một tay cầm ống bơ gô, 1 tay cầm mấy củ sắn này giơ khỏi đầu đi về trại. Mà cả gan dám ăn cắp sắn của nhân dân để cải thiện hả?

Người tù ngoái cổ lại :

- Tôi không ăn cắp. Tôi đào được bụi sắn hoang này ở trong rừng.

- Mày còn ngoan cố hả?

Một cái đạp tiếp theo của thằng vệ binh làm người tù bổ nhào. Anh loạng choạng lấy lại thăng bằng, giơ cao tang vật lảo đảo bước đi về phía trại. Thằng vệ binh vẫn dí sát mũi súng vào lưng người tù. Máu ở miệng người tù tiếp tục nhểu đầy ngực áo.

Đêm hôm đó cả trại được lệnh tập họp bất ngờ giữa lúc mọi người đang co quấp trong tấm mền mỏng không bao giờ đủ để chống lại cái lạnh tê cóng khắc nghiệt của mùa Đông. Một cái bàn được kê giữa sân, hai bên có hai bó đuốc nứa.

Các đội tù tập họp vừa xong thì thằng trại trưởng, 1 tay cầm cái lon Guigoz tang vật, 1 tay cầm thanh mã tấu xuất hiện. Giữa ánh sáng chập chờn trong đêm tối, nó lù lù tiến đến sát bàn như con quỷ đội mồ. Trước mặt cả ngàn người tù đang run vì lạnh con quỷ nghiến răng, trợn mắt, gào lên:

- Kể từ giờ phút này, không một người nào còn được phép giữ ống bơ gô. Cố tình vi phạm sẽ biết tay. Cho các anh biết tôi căm thù, căm thù cái ống bơ gô này vô cùng. Mở mắt ra mà coi đây!

Vừa nói tay trái nó vừa đập mạnh cái lon Guigoz xuống mặt bàn, tay phải vung mã tấu lên chặt đứt làm hai. Dưới ánh lửa bập bùng khi mờ khi tỏ hình ảnh co quỉ đỏ ghê khiếp, quái dị giơ thanh mã tấu lên cao khỏi đầu rồi chém xuống một cách đầy căm phẫn, man rợ khiến mọi người rợn tóc gáy.

Chặt xong mối thù, thằng trại trưởng ra lệnh tịch thu toàn bộ lon Guigoz ra để trước mặt. Cũ có, mới có. Người một lon, người hai lon lần lượt đều bị vệ binh và quản giáo tước đoạt nhét đầy vào bao bố xách theo. Từ đấy để có cái đựng nước uống, mỗi người tù phải cắt lấy một ống nứa thay thế cho lon Guigoz. Ít lâu sau, bọn cai tù công khai xử dụng những lon Guigoz còn tốt của tù. Tuyệt nhiên không thấy bọn chúng bày tỏ một dấu hiệu căm thù nào đối với vật vô tri nhưng hữu dụng này.

Ở Hoàng Liên Sơn được 2 năm, bọn cai tù phát động chiến dịch đi tiền phương. Thoạt đầu qua những lời quảng cáo úp mở của chúng, mọi người còn lờ mờ về danh từ tiền phương hoặc chỉ hiểu đây là một hình thức chuyển trại. Gần tới ngày biên chế cai tù, từng đội giải thích:

- Trại đã quyết định lựa chọn những đội tiến bộ để đi công tác ở tiền phương. Các đội đi tiền phương là những đội đã có thành tích lao động rất đáng được biểu dương. Những đội không được đi là những đội quá trình lao động chưa tích cực, năng xuất kém. Ngày mai các anh sẽ biết đội mình có được chiếu cố hay không. Tuy nhiên dù đi tiền phương hay lãnh trách nhiệm mới hay ở lại tiếp tục công tác trại, các anh đều phải chứng tỏ quyết tâm phấn đấu hơn nữa để đạt và vượt mọi chỉ tiêu giao phó.

Đến đấy, mọi người đã thấy khá rõ những gì sẽ đến trong những ngày sắp tới : một số anh em lại sắp sửa có thêm nhiều “điều kiện thuận lợi” mới.

Ba phần tư số đội trong các trại bị đưa đi tiền phương. Tiền phương không gì khác hơn là những vùng miền cực Bắc Việt Nam, giáp ranh biên giới Trung Hoa.

Sau khi các đội “tốt” được chiếu cố, các đội “kém” còn lại được dồn chung vào các trại giam gần nhau. Thời gian nặng nề trôi. Kẻ đi tiền phương với người ở lại tưởng đâu không có ngày tái ngộ. Nhưng xây dựng đâu chưa thấy, năm sau khi Trung Hoa đỏ bắt đầu dạy cho Việt cộng bài học thứ nhất thì tất cả số tù bị đưa lên vùng biên giới lại lục tục kéo về nơi xuất phát. Trại nào cũng tiếp nhận một số người về từ cõi chết. Không một ai đi tiền phương về mà còn lại được vóc dáng cũ, mặc dù cái vóc dáng trước đó cũng đã thảm lắm rồi. Đoàn tù di chuyển vào cổng trại không khác nào những bóng ma chơi vơi trên mặt đất. Bộ đồ tù của họ đã trở thành quá rộng. Từ bộ đồ nhem nhuốc lùng thùng đó, người ta đang có cảm tưởng đang ló ra một cái đầu lâu biết nói.

Anh em quen biết chạy lại hỏi thăm nhau được biết khi Tàu cộng bắt đầu tấn công Việt cộng thì các trại được lệnh di chuyển ngay. Họ đi bộ ròng rã từ miền biên giới Hoa Việt trở ngược lại các trại giam cũ. Tất cả đồ đoàn mang theo từ từ rơi dần trên đường về vì không ai còn đủ sức mang nổi bất cứ thứ gì ngoài tấm thân của mình. Mớ đồ tù tối thiểu đã trở thành quá nặng đối với những kẻ đang mất sức đến rụng rời. Dù sao họ cũng còn may mắn hơn non nửa số anh em đã vùi thây trước đó chưa đầy một năm. Tù bị đưa đi tiền phương chết như ra.

Có trại tù chết nhiều và nhanh đến độ cai tù phải phát minh ra một sáng kiến chôn tù rất đúng với danh xưng “đỉnh cao trí tuệ loài người” của Việt cộng. Chúng tính toán nghĩ cách đóng ra một cỗ quan tài rời, gồm 2 phần.

Phần thứ nhất là miếng ván đáy mà xác chết nằm trên đó. Phần thứ hai là cái nắp gồm những miếng ván ba dài hai ngắn. Mỗi lần hạ huyệt xong, cái nắp lại được kéo lên mang về dùng lại cho lần chôn kế tiếp. Nhờ sáng kiến mang đầy tính Đảng này, trại đã tiết kiệm cho nhà nước hàng trăm ngàn đồng về khoản tiền đóng hòm chôn tù.

Việc chuyển tù từ tiền phương về không ngừng lại ở địa phận các trại cũ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những thằng cai tù muốn ra vẻ ta đây đã cho tù biết sớm : Các anh sắp được bàn giao cho bộ Nội vụ. Cẩn thận đấy. Bên đó họ không dễ dãi như bên Bộ quốc phòng này đâu.

Theo thói quen dưới chế độ cộng sản Việt Nam, bọn bộ đội rất ghét lũ Công an. Có lẽ chúng ganh tức nhau về phương vị. Bọn cối xanh một thời sinh Bắc tử Nam toi mạng mấy trăm nghìn thằng, trong khi đó bọn cối vàng chuyên môn tà tà ở hậu phương lớn là miền Bắc để chỉ có nhiệm vụ canh chừng cái địa ngục nhân dân này.

Chính vì vậy bọn bộ đội thường gọi tụi công an chuyên mặc đồng phục kaki vàng là mấy con “bò vàng”. Trước mặt tù bọn bộ đội cũng muốn rỏ ra rằng chúng tử tế nhân đạo hơn mấy thằng công an chuyên nghiệp coi tù. Sự thật bọn chúng đều là cá mè một lứa. Tất cả lũ ngợm này có cùng bản chất, thứ bản chất man rợ làm nên những thằng cai tù Việt cộng dù nó là bộ đội hay công an.

Cuối năm 1980 tất cả tù đều được giao cho Công an quản trị. Phân nửa số trại tù ở Hoàng Liên Sơn chuyển tù về Thanh Hóa. Khi tiếp nhận tù các biện pháp dằn mặt của bọn công an ở Thanh Hóa đã chứng tỏ ngay sự không khác biệt giữa cai tù cối xanh hay cối vàng.

Mỗi sáng, sau một đêm nhốt kín, các đội tù phải ra sân tập họp điểm danh. Một hôm có người tù bệnh ra không nổi cố ngóc đầu dậy nhờ anh buồng trưởng báo cáo bệnh với quản giáo rồi gục xuống thiếp đi. Nhưng thằng cai tù lại muốn ra oai. Nó vào tận chỗ nằm của người bệnh ra lệnh :

- Anh kia đứng dậy ra điểm danh. Ai cho phép anh ở lại buồng?

- Tôi bịnh quá ngồi dậy không nổi nữa, đã nhờ anh buồng trưởng xin phép cán bộ.

- Mày nhất định không ra hả?

- Tôi dậy không nổi chứ không phải…

Người bệnh chưa kịp nói hết câu, thằng quản giáo tay cầm sẵn cái khóa cửa đã đập thẳng vào mặt người tù. Máu me phun ra lênh láng. Cả đội đứng ngoài sân nhớn nhác khi nghe tiếng người tù bị hành hạ kêu rên thảm thiết. Ngay khi đó hai thằng vệ binh vác súng chĩa lưỡi lê chạy vào tăng cường.

Sau khi đập vỡ mặt người tù, thằng quản giáo chưa hả giận. Đợi lúc cả đội đã ra ngoài bãi, nó dặn hai thằng vệ binh ở lại quan sát cho kỹ để nó trở về buồng giam tính chuyện. Thằng khát máu này rũ thêm ba thằng quản giáo khác đội cùng về với nó để lôi người tù bệnh ra một chỗ khuất trong trại bề hội đồng tiếp. Khi đội trở về buồng sau giờ lao động, tất cả mọi người sững sờ, thất kinh trước tấm thân như một đống thịt mềm nhũn của người tù vừa bị bốn thằng cai ngục làm thịt.

Cứ vài ngày trong trại lại có người bị bọn cai tù kết án chống đối, phản động. Bản án được đọc cho cả trại nghe trước khi xuất trại lao tác. Sau đó người tù bị đưa đi cùm. Dĩ nhiên, trước đó là một trận đòn mềm xương. Khi bị cùm, hai chân người tù phải xỏ vào hai lỗ cùm mà phần trên được đè xuống bằng một thanh sắt tròn. Thanh sắt này xuyên ra bức tường phía sau ngục. Phần ló được uốn thành vòng tròn để người bị cùm không thể tìm cách rút vào hòng gỡ cùm, đồng thời cũng là phần để thằng gác ngục kiểm soát.

Image


Cách kiểm soát của thằng này vô cùng dã man. Thỉnh thoảng nó giơ chân đạp mạnh xuống vòng sắt rồi nghe xem người tù bị thanh sắt nghiến xuống hai cổ chân có kêu rú lên không. Trường hợp có người vì trận đòn khai vị, ngất đi từ trước không kêu nổi nữa, lập tức thằng vệ binh múc nước cống tạt qua khe hở thông hơi của buồng cùm. Bị nước cống đổ xuống đầu, nnười tù tỉnh lại kêu ú ớ. Đó là cách và dấu hiệu để thằng vệ binh xác nhận được rằng tù còn trong ngục.

Tình hình biên giới Hoa Việt càng ngày càng nặng nề. Không khí chuẩn bị học bài học do người anh em láng giềng XHCN giảng dạy đã lan tới Thanh Hóa. Trong khi lao đông chung quanh trại có lần tù đã chứng kiến cảnh những tên công an biên phòng thất tán đơn vị lẻ tẻ vào trại tù xin tá túc tại Bộ chỉ huy. Bọn cai tù cũng không cần giấu diếm. Chúng nói thẳng vào mặt tù :

- Các anh đừng mơ tưởng quân Trung quốc sẽ đến giải phóng các anh. Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ giải quyết các anh trước một bước!

Giải quyết trước một bước là gì thật lòng, không người tù nào lại muốn tin rằng mình đã hiểu đúng nghĩa của thuật ngữ này. Nhưng khi các đội nhất loạt phải chuyển công tác đang làm sang việc đào ao thì mọi người bắt buộc hiểu.

Cai tù từng đội giải thích :

- Hôm nay trại ta phát động công tác đào ao nuôi cá. Các đội cho người đến kho lãnh cuốc xẻng rồi ra nhận phần đất của mình. Đây là một yêu cầu khẩn trương. Các anh cố gắng hoàn thành nhanh chừng nào tốt chừng nấy. Theo quy định, ao phải sâu 4 mét. Chỉ tiêu cho mỗi người là ba mét khối đất một ngày. Anh nào không đạt năng suất, trại sẽ cho thi hành kỷ luật ngay. Trong khi lao động cấm không được bàn tán, phao tin đồn nhảm.

Lúc bắt đầu xắn đất đội trưởng tù hỏi quản giáo về độ dốc bờ ao lấy cỡ nào thì được giải thích qua loa :

- Không cần tà ly lắm, min sao đất trên không đổ xuống là được rồi.

Chưa đầy một tuần l, chung quanh trại đã có cả chục cái ao sâu bốn thước với vách gần như thẳng đứng. Đây chính là những cái hố vĩ đại dự trù dùng vào việc chôn người tập thể. Ngày chấm dứt công tác đào ao, đoàn tù chẳng ai buồn nói với ai, nhưng những ánh mắt cùng ném vào lòng huyệt một cái nhìn lo âu. Không biết hôm nào đây chính những kẻ đào ao sẽ bị bọn cai tù bắn chết hàng loạt rồi vùi thây trong đó trước khi bọn chúng tháo chạy khỏi sự tràn ngập của quân Trung quốc. Có lẽ tình thế chiến tranh với Trung cộng đã không cho phép Việt cộng giam giữ tù quá đông tại miền Bắc. Tù được chia đợt chuyển ngược vào trong Nam. Cai tù lại tuyên truyền :

- Anh nào vào Nam chuyến này coi như được tha một nửa rồi đấy.

Trên thực tế hầu hết họ vẫn tiếp tục ở tù triền miên trong các nhà tù do Việt cộng dựng lên ở miền Nam. Trong số đó nổi tiếng nhốt đông là nhà tù vĩ đại Xuân Lộc gồm ba trại A, B, và C. A là trại chính, B và C là hai trại phụ. Bọn cai tù đặc trách việc tra tấn tập trung ở trại A, nơi có khu kiên giam, chổ giam kín vô hạn định. Khu này là chỗ giết người chung cho ba trại. Tất cả những người bị kỷ luật của hai trại kia đều được dồn vào đây.

Màn đón tiếp sơ khởi những người mới vào kỷ luật trại A là một trận đòn tứ phương đón đả. Bốn thằng cai tù đứng bốn góc sân. Người tù tay còng bị đẩy vào giữạ Một thằng khởi động ra đòn. Người tù ngã về phía nào thì thằng tù phía đó đấm đá, lên gối tiếp. Cứ thế bao giờ nạn nhân gục xuống bất động trên vũng máu đang hộc ra từ miệng giữa một khuôn mặt đã mất hẳn hình thù thì chúng lôi vào cùm lại. Người tù vẫn trong tư thế tay còng, chân cùm, mê man bất tỉnh cho tới ngày hôm sau.

Sáng ra bọn cai tù vào, nếu thấy chết chúng cho đem chôn sau trại; còn sống chúng lôi ra tra tấn tiếp. Lần này thì chỉ một thằng làm việc thôi vì người tù đã như cái xác không hồn. Hung thần giai đoạn này tại trại Xuân Lộc là thằng cai tù Tư Ca Rô. Mỗi khi sắp ra tay nó đều hỏi:

- Mày có biết ở đây ai là Tư Ca Rô không?

Người tù chưa kịp trả lời thì đã bị nó đá tới tấp vào mạng sườn cho đến khi khuỵu xuống. Sau đó nó bắt người tù quỳ gối ngước mặt lên nhìn thẳng vào mặt nó. Khuôn mặt bầm tím xưng húp không mở được mắt vừa nhướng lên là thằng Tư Ca Rô giơ thẳng chân đá liên tiếp vào miệng người tù. Khi những chiếc răng gãy văng ra cùng với bụm máu đỏ tươi tung tóe trên nền xi măng, thằng Tư Ca Rô mới ngừng lại chỉ vào ngực nó:

- Tư Ca Rô là tao đây mày biết chưa. Từ nay chắc mày không thể quên được Tư Ca Rô. Còn sống mà ra nhớ nói cho bạn bè mày biết ai là Tư Ca Rô nghe chưa.

Tới ngày hôm nay trên khắp đất nước Việt Nam, bọn Việt cộng chưa dẹp bỏ bất cứ một nhà tù nào do chúng dựng lên từ trước cũng như sau năm 1975. Những nhà tù này hiện vẫn đang được thực thi đúng mức chính sách học tập cải tạo của Đảng cộng sản Việt Nam bởi những thằng cai tù Việt cộng đại loại như Tư Ca Rô của nhà tù Xuân Lộc.

Jan 10, 2018
Phạm Kim Khôi


   OfflinePersonal Gallery of vuongquanView user's profileSend private message
nguyenvsau




Joined: 08 Jul 2010
Posts: 934

PostPosted: Sun Feb 04, 2018 8:16 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Ðêm Giao Thừa Của Những Người Lính Mất Nước




Năm 1981, tôi được gọi tên ra khỏi nhà tù Cộng Sản. Hơn sáu năm tù là tiêu chuẩn thấp nhất cho tù quân, cán, chính, đảng phái, tôn giáo Việt Nam Cộng Hòa

Thông thường, tù được thả về vào những dịp lễ, tết. Tôi ở tù vùng núi rừng tây bắc Việt Nam, được thả về trước tết âm lịch. Ði xe lửa Hà Nội - Sài Gòn, về đến ga Bình Triệu thì đúng vào 29 tháng chạp âm lịch. Tôi đi bộ từ ga Bình Triệu về đường Võ Duy Nghi, Phú Nhuận (Sài Gòn). Khi đi tù, tôi có gửi thư về nhà cha mẹ vợ, ở đường Võ Duy Nghi, là nơi vợ tôi và hai đứa con tá túc, nhưng không thấy trả lời cũng chẳng được thăm nuôi trong mấy năm đi tù. Nhờ sức trai, tôi chịu đựng được chứ mấy ông lớn tuổi mà không có thăm nuôi, bịnh hoạn, đói lạnh, chết gần hết. Tôi từng thấy nhiều ông tù chết, được bó bằng cái chăn rách của ông ta, bỏ lên xe cải tiến, kéo đi trong sân, ra cổng. Hai cái chân khô đét, xanh lét thò ra khỏi xe, nhịp lên nhịp xuống theo bánh xe gập ghềnh, tưởng như người chết nằm rung chân khoái trá được vĩnh viễn ra khỏi nhà tù, lên gò nằm ngủ khỏe, khỏi phải “lao động là vinh quang" .

Khi tôi đến nhà bên vợ, mới bước lên thềm, tôi đã dội ngược. Nghe giọng Bắc Kỳ 75, tôi biết gia đình cán bộ đang ở trong đó. Như vậy, gia đình bên vợ tôi đã bị đánh tư sản, tài sản bị tịch thu, cả nhà bị đưa lên kinh tế mới. Chẳng biết vợ con tôi bây giờ ra sao? Tôi ôm gói đồ tù, gồm quần đùi, khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. (Người tù, khi được thả về, tất cả áo quần, mùng màng, lương thực thăm nuôi, thuốc men... đều để lại cho bạn tù, chỉ đem theo vật dụng đi đường) đi lang thang mà chẳng biết về đâu? Anh em ruột thịt chưa chắc đã dám chứa “tù ngụy” trong nhà vì sẽ bị công an các cấp đến hạch sách, hăm dọa thường xuyên, nên tôi chẳng hi vọng gì ở từ tâm của bà con, bạn bè. Có lẽ phải sau tết, tôi đến hàng xóm của gia đình bên vợ hỏi thăm tin tức thì họa may.

Tôi cứ đi lòng vòng trên đường Võ Duy Nghi, Hai Bà Trưng, Hiền Vương với cái bụng trống rỗng, nhìn ngơ ngáo mấy chậu bông tết người ta bày bán trước nhà thờ Tân Ðịnh, chứ không dám nhìn vào mấy tiệm bánh, hủ tiếu, phở. Ðói bụng nên mũi rất thính. Mùi thơm của thức ăn từ các tiệm đó làm chảy nước miếng. Khoảng mười giờ tối, đi rả chân, tôi nằm đại vào một hiên nhà người ta, trên đường Hai Bà Trưng, bên kia đường là nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Hai bên lề đường Hai Bà Trưng, giăng đầy mùng của dân kinh tế mới. Họ là dân Sài Gòn, sau năm 1975 bị đánh tư sản. Nhà nước Cộng Sản tịch thu tài sản, đẩy lên kinh tế mới với hai bàn tay trắng, nơi rừng núi hoang vu khai phá đất đai sinh sống, nhưng bịnh và đói, chết dần, họ bỏ về Sài Gòn, ngủ lề đường cùng với dân bụi đời, vô gia cư, cầu bơ cầu bất.

Vừa thiu thiu ngủ, tôi bỗng bị đá vào người rồi có tiếng nạt “Ông nầy. Chỗ của tụi tôi, ai cho ông nằm đây?” Tôi giật mình, lồm cồm ngồi lên, ôm gói đồ tù “Xin lỗi. Tôi tưởng không có ai”. Qua ánh đèn đường, tôi thấy hai cậu trung niên, khoảng bốn mươi tuổi, tướng bậm trợn, đứng chống nạnh nhìn tôi. Khi tôi bước xuống thềm, đi được mấy bước thì bị gọi giật lại “Chú!” Tôi dừng lại, yên lặng quay nhìn “Chú có phải đi tù về không?” “Phải. Mà sao?” “Chú cứ ngủ đây đi. Tụi nầy ngủ lề đường cũng được” “Sao cũng được. Cám ơn”

Làm phật lòng mấy tay nầy chỉ thêm phiền nên tôi phải vâng lời, quay lại, nằm xuống hiên, gối đầu lên bọc tù, nhắm mắt để đó chứ không ngủ tiếp được. Hai tay giang hồ nầy, lẽ ra, có thể nằm phần còn lại của hiên nhà nhưng lại giăng mùng ngủ trên lề đường, gần nơi tôi nằm. Cách giăng mùng của họ cũng đơn giản. Mấy cái túi hay xách, bị gì đó chắn trên đầu và dưới chân, đình mùng cao độ hai gang tay, không chạm mặt người nằm bên trong, thật nhanh và thuận tiện. Hai cậu nằm trong mùng vừa chuyện trò vừa chửi thề rồi cười hắc hắc nghe thật ngang tàng. Tôi nằm nhìn thiên hạ qua lại. Xe gắn máy chạy vù vù, người đi bộ lê dép lẹp xẹp. Tôi không biết ngày mai đi đâu với cái túi trống trơn và cái bụng xẹp lép? Mấy năm tù đã làm cho đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng thèm lo nghĩ. Ðến đâu hay đó. Trong tù, sáng nghe kẻng báo thức, dậy ra ngồi trước cửa nhà tù để cán bộ coi tù đếm tù, lãnh mấy củ khoai mỳ hay trái bắp, ăn xong chờ kẻng để sắp hàng ra cổng, lao động. Chiều về, lại mấy củ khoai, trái bắp gì đó, ăn xong, ngồi cho cán bộ đếm tù rồi vô nhà tù nằm chờ giấc ngủ. Cán bộ khóa cửa nhà tù, bỏ đi. Khuya lại thường có bộ đội (vệ binh) mang súng đi tuần rỏn bên ngoài các nhà tù. Tù kiệt sức sau một ngày lao động, đói và mệt rả rời nên ngủ vùi, có thao thức mà nghĩ đến gia đình cũng vô ích. Trong tù, chẳng ai biết ngày giờ, chỉ khi nào được chén cơm trắng với chút mỡ heo hoặc miếng thịt trâu mới biết là ngày lễ lớn hoặc tết nhất. Nghỉ một ngày lao động, ăn chén cơm là biết một năm đã đi qua nhưng không bao giờ tự hỏi mình đã bao nhiêu tuổi rồi? Càng suy nghĩ càng mau chết vì mất ngủ. Nhiều ông lớn tuổi, bịnh hoạn, tối nhắm mắt để rồi sáng hôm sau không thèm mở mắt. Cứ thế mà vào cõi hư vô...

Ðang suy nghĩ linh tinh thì có hai ông xuất hiện, dừng lại trước hiên, nơi tôi nằm. Thấy mỗi ông một gói đồ tù trên tay, tôi biết ngay là bạn “đồng tù” nhưng làm thinh. Một ông thấy tôi nằm lỏ mắt nhìn, bèn hỏi “Anh ơi. Chỗ nầy còn trống, cho tụi tôi nằm đỡ. Ðược không?” “Ðây đâu phải nhà của tôi. Mấy anh cứ tự nhiên” Hai ông bèn bước lên thềm, ngồi xuống, tựa lưng vào tường, duỗi chân, ẹo mình coi bộ mệt mỏi. Họ nói chuyện rù rì nhưng tôi nghe rõ và biết họ cũng từ ngoài Bắc về chung một chuyến xe lửa cuối năm với tôi. Họ đối đáp nhát gừng nhưng vẫn đậm đà tình thân. Họ kể về các trận đánh trong đó có bạn bè, người còn, người mất. Khi nhắc đến người bạn nào đã ngã gục ngoài chiến trường, họ tặc lưỡi, thì thầm “... Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tôi cũng tốt nghiệp sĩ quan nhưng về bộ binh, nghe họ chuyện trò, tôi biết hai ông là lính dù, một ông là đại đội trưởng, ông kia là sĩ quan pháo binh tiểu đoàn dù. Hình như họ cùng tiểu đoàn nên chuyện trò rất thân mật. Trong câu chuyện, chẳng ai nhắc đến bóng hồng nào mà toàn chuyện lính tráng, đánh đấm. Tuổi trẻ miền Nam lớn lên, vừa xong trung học, buông bút là vào quân trường cầm súng. Họ, đa số chưa có người yêu. Ba lô, súng đạn như người bạn đời, sinh mạng phó mặc cho viên đạn nhỏ bằng mút đũa hay mảnh pháo có khi chỉ bằng cái móng tay quyết định... Tôi may mắn, có vợ con, nhưng bây giờ cũng như không.

Tôi yên lặng nghe hai ông bạn đồng tù trò chuyện và nghĩ vẩn vơ. Khi Cộng Sản miền bắc phát động chiến tranh, đánh chiếm miền Nam, hàng triệu thanh niên trai trẻ lên đường chiến đấu để chống xâm lăng, bảo vệ tự do, an lành cho đồng bào miền Nam với sự trợ giúp của nước Mỹ. Nước Mỹ giúp miền nam Việt Nam để “be bờ” Cộng Sản. Ðột nhiên, từ năm 1973, viện trợ Mỹ giảm dần rồi đến con số không. Một đô la cũng không có. “Nước Mỹ không có bạn, không có thù. Chỉ có quyền lợi của nước Mỹ”. Nghe nói họ bắt tay với Trung Cộng, để miền nam Viêt Nam cho Cộng Sản, đổi lấy gì đó. Thế là miền Nam bị bó tay. Súng không có đạn, máy bay, xe cộ, thiết giáp, tàu bè không có xăng, trong khi đó, cả một khối Cộng Sản quốc tế khổng lồ viện trợ tối đa cho Cộng Sản miền bắc, để họ kéo vào, thoải mái bắn giết quân dân miền nam. Người nào sống sót thì đưa đi tù cải tạo, không có ngày về... Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Ðồng ra lịnh, đại ý “Không giết tên nào cả. Ðưa hết bọn chúng lên vùng rừng thiêng nước độc, bắt làm thật nhiều, ăn thật ít, chúng sẽ chết dần, thế giới không thể biết được”. (ngay cả khi tù chết, họ cũng cho vùi xác rải rác trong rừng chứ không chôn một nơi nhất định).

Tôi nhớ, sau tháng tư năm 1975. Ngụy quân, ngụy quyền (quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa) phải trình diện ủy ban quân quản để được học tập cải tạo trong một tháng. Mấy tháng đầu chỉ lên hội trường học tập, nghe các cán bộ thuyết trình “mười bài”. Một lần, trong một buổi “lên hội trường”, cán bộ đứng trên bục chỉ tay xuống bọn tù ngồi phía dưới chửi “Các anh là rác rưởi của rác rưởi...” Chửi xong cán bộ hỏi “Có ai có ý kiến gì không?”

Một ông tù xin phát biểu “Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia riêng biệt, có lãnh thổ, có dân, có chính quyền do dân bầu lên, được quốc tế công nhận, không gây thù chuốc oán gì với miền Bắc, vì sao các ông vào bắn giết chúng tôi, bỏ tù chúng tôi còn bảo rằng chúng tôi có nợ máu với nhân dân?...”

Nghe đúng bài mình đã thuộc, cán bộ vui vẻ giảng rằng “Chúng tôi vào giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ. Các anh tiếp tay với đế quốc Mỹ, làm tay sai cho chúng để đàn áp, đánh phá sự nghiệp cách mạng, thống nhất đất nước của đảng và nhân dân ta. Các anh đáng bị xử bắn hàng trăm lần cũng chưa hết tội. Nay đảng và nhà nước khoan hồng, tập trung các anh vào đây để cách ly các anh khỏi bị nhân dân căm thù, đòi nợ máu các anh đồng thời tạo cơ hội để các anh nhận biết tội lỗi của mình mà lập công chuộc tội, ra sức lao động, học tập để tiến bộ thành công dân tốt xã hội chủ nghĩa, đuợc đảng và nhà nước khoan hồng cho về sum họp với gia đình. Các anh hiểu chưa? Có ai ý kiến gì nữa không?”

Ông tù đó lại giơ tay, đứng lên “Theo như tài liệu cán bộ cho học tập thì. Năm 1959 miền bắc đã mở đường “Trường Sơn 59”, đưa quân vào nam. Năm 1960 đã lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mãi đến năm 1964, Mỹ mới đổ quân vào Ðà Nẵng. Như vậy, trước khi Mỹ vào Việt Nam, các ông đã nhận lệnh của Nga, Tàu, nhận súng đạn của Nga, Tàu vào bắn giết, giật mìn xe đò, pháo kích vào trường học, chôn sống đồng bào vô tội miền Nam. Như thế thì ai có nợ máu với nhân dân?...”

Nghe chưa dứt câu, cán bộ giận xanh mặt rít lên “Ðem nó đi cùm!” Ông ta bị công an võ trang bao vây quanh đấy lôi đi. Tối đó ông ta bị công an thay phiên nhau đánh đến chết, vất xác trong rừng...

(Sau nầy, trước đền thờ tổng bí thư Lê Duẫn có khắc câu mà Lê Duẫn thường nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô Trung Quốc” Câu nói khiến cho quân đội nhân dân Việt Nam (Việt Cộng) ngỡ ngàng. Cựu đại tá Tư Cúc (Lê Cúc) phải kêu lên “Hóa ra quân đội nhân dân Việt Nam là lính đánh thuê cho Liên Xô, Trung Quốc


Lúc đó đã về khuya, đường phố vắng tanh, hai cậu bụi đời đã im tiếng, hình như đang nằm lắng nghe hai ông bạn tù của tôi trò chuyện. Bỗng cái mùng động đậy và hai cậu chui ra, đứng dưới thềm, trước hai ông bạn tù, người thẳng đơ, đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Một cậu nói lớn “Trung sĩ nhất Nguyễn văn..., đại đội..., trung đội..., trình diện đích thân” Cậu kia cũng đứng nghiêm xưng tên họ, cấp bậc, đơn vị nhưng lại “Trình diện thẩm quyền”. Thông thường, lính gọi sĩ quan cấp trên trực tiếp bằng cấp bậc hoặc các chức danh tùy ý “Ông thầy, đích thân hoặc thẩm quyền...” Thì ra các cậu đều là lính dù. Như một phản xạ, hai ông bạn tù cũng chào tay “Chào hai anh. Hai anh ngồi xuống!”. Hai cậu ngồi trên hiên nhà, chân thòng xuống lề đường. “Tụi em nằm nghe mấy ông thầy nói chuyện mới biết là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đi tù về”. Một cậu ngậm ngùi “Từ ngày mất nước, các cấp chỉ huy đi tù, tụi em tan hàng, bơ vơ, buồn muốn chết. Tụi em nhớ đơn vị, nhớ cấp chỉ huy, nhớ súng đạn, ba lô... nhớ đủ thứ. Lúc nãy, nằm nghe hai ông thầy nói chuyện, tụi em mừng quá, tưởng như còn đang ở đơn vị”.

“Bộ mấy cậu không bị tù cải tạo sao?”

“Có, nhưng ở địa phương, tụi em bị tập trung một thời gian để nghe chửi là tay sai đế quốc Mỹ, rồi bắt đi nông trường làm thủy lợi, sau đó được đưa sang Căm Bu Chia vác đạn cho bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế, đánh nhau với Khờ Me đỏ. Tụi em bỏ trốn về Sài Gòn”

Tôi ngồi lên “Mình nói chuyện có làm phiền chủ nhà không?”

“Ông thầy khỏi lo. Họ ngủ trên lầu. Hai ông bà chủ nhà có con là đảng viên làm lớn, được cấp nhà tịch thu của tư sản. Tụi em ngủ ở đây, giữ gìn sạch sẽ, khỏi sợ trộm cắp nên họ để yên”.

Hai cậu bụi đời thì thầm với nhau rồi cậu trung sĩ đứng lên, trịnh trọng thưa “Thưa, mấy khi thầy trò được gặp lại nhau, tụi em có ý kiến như thế nầy. Tụi em đi kiếm rượu và mồi nhắm để mấy ông thầy và tụi em lai rai đón giao thừa...”

Một ông cười khan “Nghe văn chương của cậu là hiểu ý rồi đó. Tụi nầy vô sản, mấy cậu kiếm xị đế là đủ rồi, khỏi mồi miết phiền phức, tốn kém”

“Không bao nhiêu đâu. Mấy tiệm phở sắp đóng cửa, họ bán xí oách rẻ đui. Mình không lấy họ cũng đổ bỏ”

“Khuya rồi, ai mà còn bán rượu nữa?”

“Ông thầy khỏi lo. Tụi em là mấy con ma, chỗ nào không biết!”.

Buổi “tiệc đón giao thừa” gồm hai xị đế và thau xí oách (xương bò, xương gà) với một cái ly nhỏ để trên một tờ báo được trải ra. Người nầy “dzô” xong một ly thì rót cho người kế tiếp, cứ thế xoay vòng. Nhờ hơi men, những câu nói nhát gừng đã thành rôm rả. Những người lăn lộn chiến trường thường lầm lì, ít nói, chỉ khi có tiếng súng nổ mới kích động được họ xông lên phía trước. Trong chiến trận, chính những người trực tiếp chỉ huy trung đội, đại đội mới là người quyết định chiến trường. Sống chết bên nhau, họ thương yêu nhau còn hơn ruột thịt. Giờ đây, chiến trường đã im tiếng súng, họ là kẻ chiến bại, là kẻ mất nước, bị đối phương khinh miệt, tù đày, hành hạ để trả thù. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đã biến mất, chỉ còn lại những con người sống ngoài lề xã hội, vất vưởng, bơ vơ. Nhưng trong tâm tưởng người dân miền Nam, người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những người con thân yêu của đồng bào. Lòng biết ơn không hề phai nhạc.

Buổi “tiệc” cuối năm càng về khuya càng thân mật, thỉnh thoảng có tiếng cười. Trong cái gia đình nhảy dù nhỏ đó với bốn thầy trò cùng nhắc lại những ngày chiến đấu đầy gian khổ, sát cánh bên nhau, giúp đỡ, che chở nhau trong những giây phút hiểm nguy, đối diện với kẻ thù... Tất cả đã là dĩ vãng, đã là những kỷ niệm mà họ cố quên. Cả cuộc đời với tuổi thanh xuân đẹp đẽ, sung sức nhất, họ đã dâng cho Tổ Quốc để rồi thành kẻ mất nước. Họ hỏi thăm nhau, ai còn, ai mất, những “ông thầy” trong đơn vị nầy, đơn vị kia. Cấp chỉ huy không thể nhớ hết binh sĩ dưới quyền, nhưng lính thì không bao giờ quên những “thẩm quyền” đã chỉ huy mình.

Ngoài đường đã vắng bóng người. Ðường phố như ngủ say dưới ánh đèn vàng vọt. Lúc đó đã vào khuya. Ðột nhiên, trong đêm vắng, vài tiếng pháo nổ lẻ tẻ, vang đến từø chợ Tân Ðịnh. Rồi như cùng hẹn trước, tiếng pháo đồng loạt nổ vang khắp nơi. Giờ giao thừa. Mọi người đón mừng chúa Xuân bằng những tràng pháo và lễ vật trên bàn thờ, trước cửa nhà. Bọn lính tráng chúng tôi, trước đây không bao giờ biết đến năm mới, năm cũ vì thường xuyên hành quân nơi rừng sâu, núi thẩm, họa hoằn đi ngang qua một xóm làng xơ xác nào đó, nhìn đồng bào nghèo khổ vì chiến tranh, thấy họ chẳng có gì để đón xuân mà ngậm ngùi, nay bỗng nhiên nghe tiếng pháo mà tưởng như thời còn chiến tranh, nhất là mùi thuốc súng mà người ta lấy thuốc đạn ra làm thuốc pháo. Suốt dọc hai bên đường Hiền Vương, đường Hai Bà Trưng tiếng pháo nổ liên tục chen lẫn với tiếng pháo tống, pháo đại khiến bản năng người lính bị kích động. Chúng tôi tưởng như mình đang bị bao vây bởi kẻ thù với những họng súng đang hướng về chúng tôi mà khạc đạn. Từ trên lầu, nơi chúng tôi đang ngồi, chủ nhà thòng xuống một dây pháo dài, nổ rang, những viên pháo đại rơi xuống đất, nổ chát chúa, xác pháo bắn vào chúng tôi, khói pháo mịt mù, nồng nặc mùi thuốc súng. Mùi thuốc súng khiến thần kinh những người lính chúng tôi càng thêm căng thẳng. Hai cậu cựu binh như bị đồng nhập, tay nắm lại, cằm bạnh ra, mắt trừng trừng nhìn hai ông cựu sĩ quan. Một cậu chồm tới, thét lên trong tiếng nổ hỗn loạn “Ðích thân! Ðích thân ban lệnh đi. Chả lẽ nằm đây chịu chết sao?”. Tôi quay nhìn. Hai ông cựu sĩ quan dù lắc đầu, mắt nhìn trừng trừng vào khoảng không trước mặt. Rồi nước mắt họ ứa ra, trào xuống gò má xương xẩu, long lanh ánh chớp của pháo nổ.

Bỗng, một ông (sĩ quan dù) kêu lên, giọng điềm tỉnh. - “418, đây 314, xin tác xạ, hết”

Ông ngồi bên cạnh (sĩ quan pháo binh), trả lời.
- “314, đây 418, xin tác xạ, hết”.

Thế rồi cuộc trao đổi truyền tin diễn ra.

- “Lệ Hằng, phải 1.5, lên 2.3 một khói nổ chạm. Bắn khi sẵn sàng, hết”

-“Lệ Hằng, phải 1.5 lên 2.3, một khói, hết”

- “Hướng 800, gần lại 100. Một khói, hết”.

- “Hướng 800, gần lại 100, một khói, hết”

- “Hỏa tập cận phòng. Năm tràng, bắn hiệu quả, hết.

- “Năm tràng, bắn hiệu quả, hết” ...

Giọng hai ông bạn tù của tôi vẫn mạch lạc, điều động nhịp nhàng pháo binh yểm trợ như trong một trận chiến sắp nổ ra. Tôi hình dung một đại đội dù đóng quân trên một ngọn đồi, địch quân theo dõi, bao vây và tìm cách tràn ngập. Các toán tiền đồn gọi về báo động. Toàn đơn vị đã sẵn sàng chờ địch. Hai ông cựu sĩ quan dù như đang cùng hồi tưởng lại một một kỷ niệm chiến đấu nào đó đã xảy ra và hai cậu cựu binh cũng là những người đã từng tham dự những trận đánh đẫm máu...

Cuộc trao đổi truyền tin trong tiếng pháo giao thừa vẫn tiếp tục. Hỏa tập như càng lúc càng kéo gần vị trí đóng quân trong khi tiếng pháo vẫn chát chúa, khi xa, khi gần. Rồi tiếng pháo cũng lơi dần. Người chủ nhà trên lầu đã đốt hết dây pháo, nhưng ông ta lại gắn thêm một dây pháo nữa, lần nầy ba bốn phong pháo được chập vào với nhau nên pháo nổ càng dữ dội, và như cao hứng, những căn nhà kế bên cũng đem pháo ra đốt tiếp. Tiếng nổ càng dồn dập, khói súng càng mịt mù. Ông bạn tù lại cao giọng

-“Các hỏa tập cũ đều kéo vào 50, sẵn sàng bắn, vị trí sắp bị tràn ngập, hết”

-“Hỏa tập cũ kéo vào 50, bắn, hết” ...

Cuộc trao đổi trở nên căng thẳng, gấp rúc khiến tôi nhớ lại những trận tấn công biển người của đối phương. Hỏa tập thường được kéo vào sát vị trí phòng thủ để chặn địch tràn ngập. Hai cậu cựu binh ngồi chết sửng, thỉnh thoảng cựa quậy như không chịu đựng được các bắp thịt và thần kinh đang căng lên hết mức.

Vẫn giọng bình tỉnh.
-“418, đây 314, địch tràn ngập vị trí. Hỏa tập tối đa, nổ chụp ngay trên đầu tôi, hết”

-“Xin 314 nhắc lại, hết”

-“418, đây 314, địch tràn ngập vị trí, hỏa tập tối đa ngay trên đầu tôi, hết”

Giọng ông pháo binh khàn khàn, nghẹn ngào.
- “Bắn trên đầu bạn ư?”

-“418, đây 314. Có bao nhiêu ông phang hết lên đầu tôi. Ðó là lời cuối cùng”

-“314, đây 418, xin xác nhận lại. Nghe tôi không? Xin 314 trả lời... Vâng, hỏa tập tối đa trên đầu bạn. Vĩnh biệt 314”...

Tiếng pháo giao thừa đã dứt. Cả thành phố im lặng như đang mặc niệm tử sĩ. Vẳng lại từ xa vài tiếng nổ lẻ tẻ, rời rạc rồi lịm dần, tưởng chừng như chiến trường đã bị kéo trôi đi xa, chỉ còn lại cảnh bình địa hoang tàn.

PHẠM THÀNH CHÂU


   OfflinePersonal Gallery of nguyenvsauView user's profileSend private message
bichphuong




Joined: 14 Mar 2016
Posts: 244

PostPosted: Tue Feb 13, 2018 3:27 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Image

Hồi ký của Y SĨ TRƯỞNG TIỂU ĐOÀN 2 NHẨY DÙ



50 năm, một nửa thế kỷ của cuộc đời đã trôi qua từ khi tôi về đảm nhận chức vụ Y sĩ Trưởng TĐ2ND. Trí nhớ cũng phôi pha theo thời gian. Thế nhưng một chặng đường gần 6 năm đội chiếc mũ đỏ vẫn là một dấu ấn khó quên, vì đó là một giai đoạn của tuổi thanh niên đầy nhựa sống, tích cực hăng hái đóng góp bàn tay bảo vệ Tự do cho Quê hương, vừa gian lao vừa hãnh diện.
Chiến tranh Quốc gia – Cộng sản từ năm 1965 bắt đầu sôi động dữ dội. Rối loạn chính trị miền Nam tạo cơ hội thuận tiện cho quân chính qui Bắc Việt dễ dàng xâm nhập khắp thôn ấp và các vùng ven đô thị.
Sau 7 năm dùi mài kinh sử, chúng tôi là Sinh viên Quân y hay Dân y trưng tập đều được phân phối về các đơn vị chiến đấu hay các Bệnh viện dã chiến để băng bó các vết thương của bom đạn.
Làm sao tránh khỏi lo âu và xúc động khi chỉ nội trong năm 1964 – 65 mà đã có 7 Y sĩ hy sinh tại chiến trường. BS Đoàn Mạnh Hoạch ngã gục trước lằn đạn địch ở Quãng Ngãi 1964. BS Trương Bá Hân/TQLC tử trận ở Bình Giả 1964.

Image


Các đàn anh chỉ hơn tôi có một lớp, mới ngày nào cùng nhau thực tập trong Bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, v.v.. có anh là nội trú xuất sắc, xứng đáng là bậc thầy trong Y nghiệp, hứa hẹn một tương lai sáng lạn, thế mà cũng bị hy sinh tại trận địa mấy tháng sau khi đáo nhận đơn vị.
Sinh viên Quân y vào năm cuối được liên tục luân phiên gác xác các đàn anh tử trận trong năm 1965 :
– BS Phạm Bá Lương ngã gục ở Bầu Bàng.
– BS Nguyễn Văn Nhứt tử thương khi đoàn xe di chuyển bị phục kích ở rừng cao su Dầu Tiếng.
– BS Trần Thái hy sinh tại Bà Rịa.
– BS Trần Ngọc Minh, Y sĩ Trưởng TĐ5/TQLC bị đâm vào ngực trong một trận xáp lá cà với Việt cộng tại Thăng Bình.
– BS Đỗ Vinh, Y sĩ Trưởng TĐ5ND bị mảnh pháo trúng ngay vào đầu khi đang săn sóc thương binh. Ngày đưa tang, Thiếu tá TĐT/TĐ5ND Ngô Quang Trưởng và Quân nhân các cấp, các đơn vị bạn ngậm ngùi thương tiếc tiễn anh ra mộ huyệt. Tôi vẫy tay chào anh, từ bỏ anh em quá sớm. Chiếc áo Hoa rừng và Mũ đỏ của binh chủng hào hùng thiện chiến vẫn có một mãnh lực hấp dẫn máu giang hồ, điếc không sợ súng của chúng tôi, ba thằng bạn xuất thân từ xứ Huế, học cùng lớp, ăn cùng mâm, ở cùng phòng trong trường Quân y Chợ Lớn. Lê Văn Châu, con của Tướng Lê Văn Nghiêm, tức là nhà văn Trang Châu, còn có biệt danh là “Châu cá ngựa” vì anh có mặt tại trường đua Phú Thọ hằng tuần – Đoàn Văn Bá, tục gọi là “Bá điên” còn được gọi là “I‘homme des situations difficiles”vì anh bạo ăn bạo nói, chỗ nào gặp khó khăn với cấp trên là có anh. Anh bị kẹt lại trận Mậu Thân ở Huế trong chuyến nghỉ phép về thăm nhà, được quân đội Mỹ giải cứu trong gang tấc, đưa anh về căn cứ MAC-V, giúp giải phẫu cứu mạng rất nhiều Quân nhân Mỹ bị trọng thương và được tuyên dương tưởng thưởng huy chương Bronze Star Hoa Kỳ. Còn tôi, được các bạn gán cho biệt danh “Đoàn cái bướm” vì tôi viết bài “Thằng Cu hay Cái Bướm” đăng nhiều kỳ trong Đặc san Tình Thương của Sinh viên Y Khoa thời ấy.

Bảng hiệu “BỆNH XÁ ĐỖ VINH” nền trắng chữ đỏ mới toanh, còn ướt màu sơn treo trên khu nhà bằng gạch hai tầng của Bệnh xá Nhảy dù 50 giường không làm chúng tôi sợ sệt mà còn cảm thấy một cái gì vinh quang khi trình diện thụ huấn khóa 68 Nhảy dù vào tháng 8/1965. Ba thằng bạn thân, không ai dám rủ ai vào nơi nguy hiểm, đều có mặt.

Cổng trại Hoàng Hoa Thám thẳng tắp con đường tráng nhựa rợp bóng mát của hai hàng cây đưa đến các dãy doanh trại xây bằng gạch vững chắc sơn màu vàng, ngay ngắn sạch sẽ là con đường quen thuộc, thân thương của chúng tôi từ dạo ấy.
Bóng dáng các đàn anh đeo bằng “nhảy dù điều khiển” như BS Văn Văn Của, BS Trần Tấn Phát… kích thích lòng tự ái liều lĩnh của chúng tôi trong niềm cảm phục kính nể. Chiếc Mũ Đỏ được đội lên đầu sau 3 tuần huấn luyện ướt đẫm mồ hôi, bò lết, hít đất, nhảy chuồng cu và 6 sauts nhảy dù ở Hóc Môn-Củ Chi. Cánh hoa dù T10 xẹt mở rộng lộng gió tung bay mát rượi trong bầu trời trong xanh ôm trọn một phần của vũ trụ bao la là những giây phút thần tiên ngắn ngủi của người lính Mũ Đỏ. Sau đó thì nguy hiểm bắt đầu rình rập. Saut đêm bị hủy bỏ vào phút chót vì tình hình an ninh bãi nhảy không cho phép, có người lính nhảy xuống bị mất tích không tìm ra dấu vết.. “NHẢY DÙ – CỐ GẮNG” là một khẩu hiệu có mãnh lực xô chúng tôi ra phóng ra cửa máy bay sau tiếng hét “Go” của Huấn luyện viên, và là châm ngôn giúp chúng tôi vượt qua chặng đường hành quân vất vả, cực nhọc. “Nhảy Dù – Cố Gắng” gắn bó theo giúp chúng tôi suốt cả cuộc đời, nào là khi bị hành hạ xài xể trong trại tù cộng sản, nào là khi gặp sóng gió, bão tố, ói mửa trong chiếc ghe nhỏ trên đường vượt biển tìm tự do, khi lao động chân tay để có tiền mua sách học lấy lại mảnh bằng hành nghề, khi đau ốm bệnh hoạn và cả khi tu tập chuyển hóa tâm linh.

BS Lê Trọng Tín biệt phái về làm Y sĩ Trưởng TĐ1ND – Lê Văn Châu TĐ6ND – Đoàn Văn Bá về TĐ7ND – Trần Trọng Nghị về TĐ9ND và tôi về TĐ2ND.
TĐ2ND là 1 Tiểu đoàn tân lập đóng ở Bà Quẹo, sát nách phi trường Tân Sơn Nhất, không xa cổng trại Hoàng Hoa Thám. Thế là tôi may mắn được ở ngay Sàigòn, sớm tối được về chăm sóc vợ đang mang bầu. Vợ tôi còn là sinh viên trường Dược. Lương Y sĩ Nhảy dù phải gói gém lắm mới đủ sống.

Lần xuất quân thử thách đầu tiên của tôi vào cuối năm 1965 lại là với chúc vụ Y sĩ Trưởng/TĐ3ND thay thế BS Nguyễn Đức Liên đi phép về hậu cứ. Trời Sàigòn 4 giờ sáng còn mờ sương, chiếc C123 rù máy xé tan bầu không khí tĩnh lặng, lạnh lùng cất cánh rồi đáp xuống phi trường Qui Nhơn sau hơn một giờ bay. Phi cơ há miệng đằng đuôi nhả ra hơn trăm binh sĩ súng đạn đầy mình sẵn sàng ra bổ sung cho chiến trường Tam Quan, Bồng Sơn. Phi đội Trực thăng tiếp tới gắp chúng tôi đưa thẳng vào chiến địa còn hôi tanh mùi máu và thuốc súng, bay sà sát rừng dừa xơ xác ngả nghiêng cháy xám.
Y sĩ Trưởng Thiếu tá Hoàng Cơ Lân dẫn tôi vào chào Tướng Tư Lệnh Dư Quốc Đống trong một căn lều. Ông đang ở trần, mặc quần xà lỏn, đen đui đủi, vây quanh bởi các sĩ quan của Bộ chỉ Huy, mồ hôi nhễ nhại. BS Liên đón tôi về trạm cứu thương TĐ3ND tạm trú dưới một mái nhà tôn đầy dấu đạn. Các Y tá còn bận rộn thu dọn y cụ vì công việc tản thương vừa mới được hoàn tất tối hôm qua. Thiếu tá Hưng TĐT, nước da rạm nắng có vẻ âu lo. Đại úy TĐP Trần Quốc Lịch người cao to, đầu trọc lóc trông rất “ngầu”, sau này ông lên đến cấp Tướng chỉ huy Sư đoàn. Hằng ngày tôi làm dân sự vụ, khám bệnh, phát thuốc, chăm sóc ngay cả các bà đang có bầu mà tác giả không ai khác là những du kích địa phương. Lòng nhân đạo của người Y sĩ không phân biệt bạn hay thù. Tôi thương người dân, tôi thương những trẻ em lớn lên ở vùng đất mất an ninh này, không biết đâu mà lựa chọn. Tôi thông cảm nỗi khổ của họ khi sinh sống trong vùng xôi đậu.

Đồi 10, một ngọn đồi nổi tiếng khó tiến chiếm vì Cộng quân đào hầm địa đạo từ chân đồi lên đến đỉnh đồi và đặt thượng liên nhắm bắn vào trực thăng bao vùng xạ kích yểm trợ – Một ngọn đồi đẫm máu đã được ghi vào chiến sử.
Chuẩn úy Lê Hồng, xuất thân từ Hạ sĩ quan, là Sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn sau khi thụ huấn xong khóa sĩ quan đặc biệt về. Người anh nhỏ con nhưng giọng nói Quảng Bình rõ ràng chắc nịch qua máy truyền tin vang to suốt cả ngày đêm để điều động các Đại đội đang lục soát quanh vùng. Là người lính chăm chỉ, gan dạ và khuôn phép, anh leo dần lên đến chức vụ TĐT/TĐ1ND rồi Trung tá Lữ đoàn phó khi tàn cuộc chiến. Tôi cảm phục sự nhẫn nhục của anh khi thấy anh bất chấp nặng nhọc lao động khuân vác trong một tiệm tạp hóa vùng Arlington, VA để sinh sống và nuôi ý chí cương quyết về giải phóng quê hương thoát khỏi gông cùm cộng sản. Ước nguyện không thành, anh bỏ xác tại vùng biên giới Thái-Lào trong niềm thương tiếc khôn cùng.

Trạm Y tế TĐ2ND nằm trong một gian nhà tiền chế của doanh trại, mái tôn nền đất. Y tá Trưởng, thượng sĩ “Hưng mù”, đeo kính cận dầy cộm, có nhiều kinh nghiệm từ hồi còn là Y tá trong quân đội Pháp, tháo vát và khéo xã giao, giúp tôi và đội Y tá trên dưới 20 người dọn dẹp phòng ốc, sắp đặt dụng cụ thuốc men. Vài ba anh lính trẻ khai bệnh lậu đái ra mủ vì không được hướng dẫn dùng bao cao su khi giao hợp với “chị em ta” phân trần: “Đời lính xa nhà mà bác sĩ”. Tôi làm quen dần với các sĩ quan bộ chỉ huy và các đại đội. Chuẩn úy Võ Văn Thu, nguyên là Y tá TĐ5ND vừa thụ huấn khóa sĩ quan Thủ Đức trở về nắm giữ chức vụ sĩ quan Hậu cứ, thường lui tới thăm hỏi và giúp đỡ trạm Y tế. Anh được ông TĐT, cũng xuất thân từ TĐ5ND, tin cậy thương mến và nâng đỡ vì tinh thần phục vụ đắc lực của anh. Chức vụ cuối cùng của anh là TĐT/TĐYT/SĐND với cấp bậc Trung tá. Nghe nói ngày di tản qua Mỹ, sống ở Washington State, giữa xứ lạ quê người, tinh thần anh bị suy giảm. Anh cạo gió cho con anh khi nó bị ho cảm. Mấy lằn vết đỏ sau lưng và trước ngực làm cho cô giáo nghi anh đánh đập ngược đãi trẻ con. Anh phản kháng khi cảnh sát đến còng tay anh. Vì quá uất ức, anh treo cổ tự tử trong tù.

Đại úy Lê Quang Lưỡng, vừa mới được thăng chức Thiếu tá mấy tháng trước, nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND. Ông là người chiến binh mang nhiều thương tích và chiến tích, vào sinh ra tử biết bao nhiên lần với những chiến công như An Lộc, Mậu Thân, Hạ Lào, v.v. oanh liệt vẻ vang. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gắn cấp bậc Chuẩn tướng và bổ nhiệm ông nắm chức vụ Tư Lệnh/SĐND vào năm 1973 (?).

Ngày đoàn quân xa trên 30 chiếc chở Tiểu đoàn tân lập về Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp Bà Rịa để thụ huấn, chưa kịp ra tới đầu xa lộ Biên Hòa thì xui xẻo gặp lúc cộng sản pháo kích vào thành phố Sàigòn. Vài ba quả nổ tung toé rớt ngay trên đường Phan Thanh Giản giữa lúc dân chúng tấp nập đi làm buổi sáng. Cảnh tượng hỗn độn và hoảng hốt vì mọi người hối hả chạy tìm chỗ ẩn núp sau mấy gốc cây. Đoản xe bị khựng lại, mãi hơn giờ sau mới tiếp tục lộ trình về đến nơi đến chốn an toàn.

Sau 3 tháng huấn luyện, Tiểu đoàn được chuyển về đóng quân ở vòng đai Sài Gòn, vùng Tân Quý, Hóc Môn, Bà Điểm.
Tiểu Đoàn phó, Đại úy Trần Kim Thạch, nhỏ con, bị thương ở háng nên khó khăn khi ngồi vệ sinh. Ông xuất thân từ Hạ sĩ quan của Nhảy dù Pháp, vui tính, lanh lẹ và can đảm. Một buổi chiều, trời chạng vạng tối, tôi thấy ông hối hả cười vang chạy bộ thình thịch về bộ chỉ huy với hai người lính cận vệ, trên vai mỗi người còn mang thêm một khẩu AK. Tiểu đoàn phó mà chịu chơi nằm lại phục kích bên bờ lau sậy sau khi cả Tiểu đoàn tảo thanh lùng địch đã rút trở về. Hai năm sau ông nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt cho Tiểu đoàn. TĐ2ND đã đủ lớn mạnh để chuyển vận ra vùng địa đầu giới tuyến.

Ngày quân xa chở Tiểu đoàn từ Huế ra Quảng Trị, một đoạn đường dài hơn cả cây số khi gần đến làng Mỹ Chánh, bị cày nát và còn nóng hổi vết tích bom đạn đầy mảnh vụn của xe bị cháy đen hòa với máu đỏ. Ruộng lúa hai bên xơ xác tơi bời ngả nghiêng, dấu vết của TĐ2TQLC bị phục kích mới ngày hôm qua. Thiếu tá TĐT/TĐ2 Trâu Điên Lê Hằng Minh hy sinh ngay từ phút đầu. Đoàn quân xa dè dặt, thận trọng chậm rãi di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Không khí ngột ngạt. Đến thành phố Quảng Trị, tôi bị choáng váng, ngộp thở vì ngọn gió Lào độc địa thổi về. Hôm sau, trực thăng vận thả Tiểu đoàn xuống các ngọn đồi trống vùng Cùa, những ngọn đồi mọc đầy những bụi hoa sim tím. Những cánh hoa còn ướt sương mai long lanh trong nắng sớm. Tôi ngắt hoa ép vào quyển nhật ký hành quân và thầm đọc bài thơ “Những đồi hoa sim tím” của Thi sĩ Hữu Loan, mong rằng ngày tôi về vẫn còn gặp nàng…

Toán Tiền sát báo cáo bắt được một cán binh Việt cộng đang ngơ ngác cầm bản đồ và ống nhòm quan sát trận địa. Khai thác cho biết Tiểu đoàn Cộng sản đang trên đường xâm nhập. Chiều về, Tiểu đoàn di chuyển ra khỏi làng và đóng quân trên dãy đồi cao thấp nối tiếp thoai thoải. Chập tối, Ban 3 Tiểu đoàn báo cáo mất liên lạc với Tiểu đội nằm lại phục kích trong làng. Tôi duỗi chân nằm thẳng trên cỏ, đếm sao lấp lánh trên trời và thiếp đi, rã rời chân tay. Thình lình nửa khuya, địch nổ súng ồ ạt la hét: “Hàng sống, chống chết” bò lên tấn công. Giao tranh cận chiến ác liệt. May thay cây thượng liên của chúng đặt trên đồi cao hướng về bộ chỉ huy và toán quân y kế cận chưa kịp khai hỏa thì bị binh sĩ Nhảy dù tiêu diệt. Phi cơ phản lực liên tiếp thả bom Napalm vào khu rừng dưới đồi. Xác địch banh thây cách chỗ tôi nằm không quá 50 thước. Băng bó, tản thương không ngừng tay. Ngay tối hôm đó, đài cộng sản oang oang nêu thành tích là đã giết được 15 lính ngụy Dù, một con số chính xác mà Ban 3 Tiểu đoàn vừa mới báo cáo thiệt hại về Sư Đoàn buổi sáng sớm. Phải chăng có nội tuyến nằm ngay trong trong BTL/SĐND?, tôi đắn đo suy nghĩ.

Image

Về trạm dưỡng quân ở Đông Hà, tôi gặp BS Vũ khắc Niệm, Y sĩ trưởng TĐ8ND. Hai anh em rủ nhau đi uống bia cho đỡ thèm khát dưới cái nắng nóng gay gắt của miền Trung. Một chai bia cao hiệu con cọp ướp lạnh giá 50 đồng. Tôi lục lọi mãi hết trong các túi bộ đồ trận lôi ra đếm được 49 đồng. BS Niệm cho tôi thêm 1 đồng.
Tiếng nổ của cây súng AK nghe có phần chát chúa và khiếp đảm hơn cây súng Carbine M1, M2 cổ lỗ sĩ hay bị kẹt đạn. Trung cộng và Liên sô âm thầm trang bị cho Bắc Việt vũ khí ngày càng tối tân hơn. Đến cuối năm 1966, khi đóng quân ở làng An Hòa ngoài thành phố Huế, TĐ2ND mới được Ngũ Giác Đài phê chuẩn viện trợ súng AR-15, AR-16 thay thế.

Hạnh phúc của người lính trận lội bộ dài ngày khi được về dưỡng quân vùng khá an ninh rất đơn giản là tháo được đôi giày trận và đôi vớ hâm hẩm hôi thối, chùi được các ngón chân mốc meo, rửa được bộ sinh dục bầy nhầy và lắm khi là móc được cục phân cứng như đá ra khỏi hậu môn vì ăn thiếu rau, uống thiếu nước, không có thì giờ đi đại tiện. Lính Nhảy dù bị bệnh trĩ nhiều là vì nguyên do như thế. Bộ đồ trận tanh tanh mồ hôi và dơ bẩn giặt phơi chưa kịp ráo thì có lệnh di chuyển.

Một tuần phát lương khô gạo sấy chất vào ba-lô. Tình báo cho biết địch vượt sông Bến Hải xâm nhập vào phía nam vùng phi quân sự.. Tiểu đoàn lại được trực thăng vận đổ quân xuống sát hàng rào McNamara. Xa xa về phía Tây, bụi khói bay ngút trời do B52 rải bom ầm ầm nghe ghê rợn. Cả tiểu đoàn di chuyển đội hình hàng một xuyên rừng rậm đầy gai góc theo bước chân của khinh binh đi trước phát quang. Chim chóc và côn trùng vắng tiếng hót. Cái im lặng khá rùng rợn khi dừng chân ngủ đêm.
Thằng Y tá tên Dân thân cận của tôi sửa soạn đào hầm cá nhân cho “ông thầy”. Một nhát xẻn nhấn xuống là một ánh lửa tóe lên vì chạm vào đất đầy sỏi đá. Tôi không đành thấy nó hì hục cực nhọc nên ngăn nó dừng tay, chấp nhận số mạng rủi ro. Chiếc võng treo thấp đu đưa ru tôi vào giấc ngủ đầy mộng mị chết chóc. Vào khoảng 2 giờ sáng, địch pháo kích hàng loạt súng cối, tung tóe sấm sét vào vùng đóng quân. Một quả 60ly chớp nổ cách chiếc võng khoảng 10 thước, hất tôi lăn ngã xuống đất. Tôi cảm thấy đau rát nơi hai mông, đưa tay sờ vào thì đỏ ướt máu. Tôi đã bị thương nhưng biết mình còn sống. Giọng ông TĐT vang lớn giữa những tiếng pháo kỉch còn nổ vang:
– “Bác sĩ, bác sĩ, tôi bị thương”.
Tôi do dự định chạy đến nhưng thằng Y tá cận vệ thấy nguy hiểm níu tôi lại và trả lời lớn :
– Thưa Thiếu tá, “BS cũng bị thương”.

Đại đội Trưởng Thạch Văn Thịnh xui xẻo bị một quả rơi đúng chỗ ông nằm. Doanh trại từ đó mang tên của người Đại đội Trưởng đầu tiên của TĐ2ND bị tử trận. Trung đội trưởng Trần Công Hạnh dẫn Trung đội ngang bộ chỉ huy và tiến về phía địch, nơi đặt pháo. Chiến đoàn Trưởng Đào Trọng Hùng la hét điều quân. Ông nổi tiếng là người chỉ huy can đảm không bao giờ khom lưng tránh né đạn khi lâm trận mà đạn biết tránh né ông. Chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ được xem như là bùa hộ mạng. Một bên lưng đeo khẩu súng lục chỉ huy, một bên kia đeo một bi đông rượu đế, đường đường một đấng. Bác sĩ Hà tục gọi là “Hà chảy”, người ông dong dỏng cao, Y sĩ trưởng TĐ8ND vừa đi vừa ôm bàn tay bị thương vừa chửi thề: “Địt mẹ, tao có muốn về Nhảy dù đâu mà bị thương như thế này”. BS “Hà chảy” là dân y trưng tập, học cùng lớp với tôi, chưa kịp bổ đi đơn vị nào khi ra trường thì lại miễn cưỡng bị trưng dụng tạm thời vì Nhảy dù thiếu Y sĩ. Y tá xuôi ngược chăm sóc thương binh, trực thăng liên tiếp đáp xuống tản thương.

Mỗi lần hành quân 2-3 tháng về hậu cứ là quân số Tiểu đoàn hao hụt hơn phân nữa. Tiểu đoàn Vương Mộng Hồng – Khối Bổ Sung phân phối về Tiểu đoàn nhiều tân binh chưa kịp hoàn tất xong khóa nhảy dù.
Vùng I, vùng giới tuyến sùng sục dầu sôi lửa bỏng. Hành quân bấy giờ không còn là cấp Tiểu đoàn lẻ tẻ mà là Chiến đoàn gồm 2-3 Tiểu đoàn che chở yểm trợ cho nhau. Hành quân với thiết vận xa của Việt Nam Cộng Hòa hay với chiến xa lội nước của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tăng cường thường dễ dàng hơn khi tiến chiếm mục tiêu và ít bị thiệt hại.

Cuộc hành quân “nhảy dù trận” của TĐ2ND xuống đồng bằng sông Cửu Long vào giữa năm 1966 có lẽ là saut nhảy xuống trận địa cuối cùng của binh chủng Nhảy dù vì sau đó trực thăng là phương tiện đổ quân nhanh chóng và ít nguy hiểm. Cả một rừng chiếc “nấm” úp xuống khoảng ruộng nước bao la. Tôi xếp dù an toàn gom vào một chỗ với Đại đội 20 rồi tiếp tục bì bõm tiến theo đoàn quân. Vì bất ngờ nên địch quân không kịp bắn lên trong lúc chúng tôi còn lơ lửng trên trời trong buổi sáng sớm như trong phim “The Longest Day” khi quân đồng minh nhảy dù xuống Normandie. Chạm súng lẻ tẻ với du kích, địch tránh né rút vào rừng tràm. Vũng nước nào cũng có tôm có cá giúp cho chúng tôi có thêm thực phẩm tươi phụ trội.

Tổ chức SĐ Nhảy Dù từ năm 1966 đã nâng cấp số từ Liên đoàn thành Sư đoàn. Đại đội Quân y Nhảy dù thành Tiểu đoàn Quân y Nhảy dù. Bệnh xá Đỗ Vinh 50 giường thành Bệnh viện Đỗ Vinh 100 giường. Pháo binh, Truyền tin… nâng quân số từ Đại đội lên Tiểu đoàn. Chiến đoàn đổi thành Lữ Đoàn gồm 3 tiểu đoàn khi hành quân cho kịp với chiến tranh leo thang ngày càng khốc liệt.

Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam đóng gần bộ chỉ huy TĐ2ND ở vùng Tân Quý. Các Đại đội phân chia đóng ở các thôn ấp chung quanh. Tình báo cho hay Tiểu đoàn đặc công cộng sản mò về sát vòng đai Sài Gòn, thuộc xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc. Lệnh hành quân lục soát ban ra. Trung đội tiền phong do Trung đội Trưởng Trần Công Thọ vừa ra trường khóa 20 Võ Bị Đà Lạt chạm súng. Cả Tiểu đoàn tiến lên tốc chiến tốc thắng đẩy địch bỏ chạy rút vào vùng kinh lạch Đức Hòa, Đức Huệ để lại gần 100 xác và súng ống đủ loại. Thiếu úy Trần Công Thọ bị ngay một viên đạn giữa đỉnh trán, chết ngọt lịm không kịp trăn trối, nằm cách chỗ tôi không quá 20 thước. Tôi đưa tay vuốt mắt anh, không thấy chảy máu, mặt anh còn tươi tắn như thiên thần ngủ quên. Nhạc phẩm “Tạ từ trong đêm” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết lên để riêng tặng anh. BS Bùi Thế Cầu, nguyên Thiếu tá Y sĩ trưởng TĐ5ND đang nắm giữ chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định cùng giới chức hành chánh dân sự cao cấp và báo chí tháp tùng thực thăng xuống ngay trận địa để chứng kiến tận mắt và tán dương. Danh tiếng TĐ2ND nổi như cồn trên trang đầu các tờ báo Sàigòn. Đại đội 23 tập hợp nhiều Trung đội trưởng họ “TRẦN” trẻ trung, gan dạ, thương mến nhau như anh em ruột thịt. Một Trần Công Thọ đã rơi rụng. Một Trần Duy Phước cũng rụng rơi năm sau đó, còn lại Trần Công Hạnh leo dần đến chức vụ Tiểu đoàn trưởng TĐ2ND. Đại đội trưởng Trần Công Danh rời Tiểu đoàn chuyển hoán về đơn vị khác – Đại đội trưởng Phạm Kim Bằng bị thương hư một mắt – Đại đội trưởng Trần Như Tăng bị thương gãy chân – Đại đội trưởng Nguyễn Văn Được giã từ vũ khí ở vòng đai Sàigòn. Ngày tiễn anh ra mộ huyệt có 3 bà mặc áo quần đen dài chít khăn tang trắng sụt sùi sau quan tài – Đại đội trưởng Lê Văn Mạnh Đại đội 20 lên cầm chỉ huy TĐ2ND một thời gian. Toán Y tá của tôi gần 2 năm trời không ai bị hy sinh trừ một vài bị thương nhẹ. Tôi khâm phục tinh thần gan dạ của Y tá Nhảy dù, luôn luôn xông vào tuyến đầu ngay dưới lằn đạn địch để băng bó vết thương cho đồng đội. Y tá trưởng Thượng sĩ Hưng “Mù” được Y tá trưởng Trung sĩ nhất Be về thay thế. Anh Y tá trưởng mới này cũng thuộc loại“chì” không kém.

Hành quân vùng Củ Chi – Hậu Nghĩa thường bị mìn bẫy nguy hiểm. Một chiếc Chinook chở gần cả đại đội bay sà sà sát mặt đất để tránh khỏi bị bắn tỉa khi đổ quân. Thế mà xui thay, viên Đại úy Cố vấn Mỹ mới về Tiểu đoàn, ngồi cạnh ông Tiểu đoàn trưởng là người duy nhất bị trúng một viên đạn bắn lên xuyên qua, chết ngay tại chỗ.
Vùng I chiến thuật lại khẩn điện về Bộ Tổng Tham Mưu cầu viện các binh chủng tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Dân chúng vùng Huế, Quảng Trị, Đông Hà an tâm khi có sự hiện diện của các binh chủng này. Tổng trừ bị gì mà ăn dầm ở dề tháng này qua tháng nọ giống như là Địa Phương Quân.

TĐ2ND trở lại Huế, hành quân lần này có Trung đội Thiết giáp M113 yểm trợ. Những “con cua khổng lồ” dàn hàng ngang dậm chân trước một địa thế nghi ngờ. Trung đội khinh binh tiến sát vào hàng rào tre cao vút dày đặc của làng Đông Xuyên – Mỹ Xá, quận Quảng Điền. Im lặng đến ngộp thở. Chưa thấy động tĩnh thế nào cả. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn dè dặt từng bước. Đợi đến khi thấy các cần câu của máy truyền tin PRC25 của bộ chỉ huy gần kề thì địch khai hỏa. Thiết giáp đã dàn hàng ngang rồi ầm ầm nhào tới khạc đạn đại liên xối xả vào mục tiêu. Lính Nhảy dù xung phong như sóng vỡ bờ. Lựu đạn thi nhau ném vào các hầm hố mới thanh toán được các ổ thượng liên mà xạ thủ bị còng chân tử thủ với nhau. Lựa đến khi trời tối địch nương theo kinh rạch để mà chém vè, rút sâu vào làng. Nhiều xác địch và vết máu để lại trên đường tháo chạy. Các binh sĩ mang máy theo bộ chỉ huy bị thiệt hại tính mạng khá nặng. Ông Tiểu đoàn trưởng vẫn bình tĩnh điều quân. Thiết giáp không bị hư hại chiếc nào cả. Trực thăng rọi đèn tải thương trong đêm tối. Mồ mả quanh bờ làng là nơi che chở cho chúng tôi gối đầu qua đêm.

BS Trần Lâm Cao tháp tùng các Sĩ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 theo trực thăng tản thương từ Quân Y viện Nguyễn Tri Phương đáp xuống trận địa khi chiến trường đã thu dọn xong buổi sáng. Một chiến thắng quân địch sát nách thành phố Huế làm chấn động người dân thị thành. Chiến thắng nào mà không đổi lại bằng xương máu.

Viết đến đây lòng tôi bỗng chùng vì xúc động. Những khuôn mặt người lính thân thương đó hiện rõ trong ký ức của tôi. Họ nằm xuống vì vết đạn vào đầu, vào tim, vào phổi nằm la liệt trước mặt tôi. Người Y sĩ Tiểu đoàn hoàn toàn bất lực trước những vết thương không có phương tiện cứu chữa. Tôi xin cầu nguyện cho các anh an giấc ngàn thu và không hận thù. Chúng ta đều chia sẻ một đau thương chung của vận nước nổi trôi.

Tôi bàn giao toán Y tá cho BS Trần Lâm Cao làm tân Y sĩ trưởng TĐ2ND vì đáo hạn nhiệm kỳ 2 năm phục vụ Tiểu đoàn.
Tôi được thăng cấp Đại úy và nhận nhiệm vụ mới là Y sĩ trưởng Đại đội 3/QYND, thường đóng chung với bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam khi đi hành quân. Sau này ông là Tướng Tư lệnh vùng 4 và tuẫn tiết không chịu đầu hàng địch. Danh thơm của ông ấy còn vang mãi trong hậu thế.

Tin dữ từ mặt trận đưa về. BS Nghiêm Sĩ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. BS Lê Hữu Sanh, bạn cùng khóa, người thường được chọn cầm cờ đi hàng đầu trong các cuộc diễn hành của trường Quân y vì dáng anh cao lớn, tử trận khi anh đang làm Y sĩ trưởng một Tiểu đoàn TQLC.
Cuối năm 1970, tôi giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh viện Đỗ Vinh/SĐND và được thăng cấp Thiếu tá.

Khoảng tháng 3/1971, tôi đang thụ huấn tại Bệnh viện Brooks Hospital, thành phố San Antonio, Texas thì nhận được tin nhiều Y tá/TĐ2ND hy sinh tại mặt trận Hạ Lào. Lòng tôi quặn thắt.
Tôi rời binh chủng Nhảy dù về phục vụ tại Quân Y viện Nha Trang để được gần gia đình. Chiếc Mũ đỏ và bộ hoa dù vẫn còn quyến luyến cho đến khi tôi giải ngũ vì đắc cử Nghị viên Thành phố Nha Trang năm 1974.
Viết những dòng kỷ niệm của nửa thế kỷ trước không sao tránh khỏi thiếu sót và nhầm lẫn, rất mong các bạn đọc đính chính và thông cảm.
Tôi xin nghiêng mình tưởng niệm những Quân nhân Binh chủng Nhảy dù đã nằm xuống, những người lính chỉ biết tiến không lùi dù trước hỏa lực mạnh của địch quân.

Tôi xin cảm phục và tưởng niệm người lính chiến sĩ vô danh của Nhảy dù bắn súng vào họng tự sát khi miệng còn nhai cơm sáng 30 tháng 4 tại hẻm tôi ở 147/8 Trần Quốc Toản, một hình ảnh hào hùng không thể quên.
Tiếp nối làm Y sĩ trưởng TĐ2ND là BS Vương Bình Dzương, BS Bùi Văn Đạt, BS Tôn Thất Sơn, BS Lê Minh Tâm, BS Nguyễn Đức Mạnh, BS Nguyễn Kiêm, các anh hứng pháo Cộng sản sau này còn dữ dội hơn tôi nhiều.
Trước tôi, BS Võ Đạm là một trong 3 Sĩ quan thuộc bộ chỉ huy TĐ7ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài.

Sau tôi, BS Tô Phạm Liệu, ông BS cầm súng như dân tác chiến, cũng là 1 trong 3 Sĩ quan thuộc bộ chỉ huy còn sống sót ở ngọn đồi Charlie, ngọn đôì đẫm máu chôn xác TĐT/TĐ11ND Nguyễn Đình Bảo.
BS Đường Thiện Đồng sống sót trận Hạ Lào, hốc hác lội bộ về thấu tiền trạm.
BS Vũ Văn Quynh, BS Nguyễn Văn Thường, v.v… trốn tù cải tạo bị xử bắn, và còn, còn rất nhiều nữa mà người Y sĩ nhảy dù đã chia sẻ.
Tôi xin thán phục tinh thần Nhảy dù bền bỉ của các BS Mũ đỏ Trần Văn Tính, Phạm Gia Cổn, Lê Quang Tiến… nắm giữ chức vụ Chủ tịch BCH/TƯ/GĐMĐVN Hải Ngoại để nối vòng tay lớn, tương thân, tương trợ.
Tôi không thấy ngượng ngùng khi BS Mũ xanh Trần Xuân Dũng ca tụng các Y sĩ Nhảy Dù, Y sĩ TQLC là “những Hiệp sĩ của thời đại, những Đường Sơn Đại Huynh trên tiền tuyến lửa.”

Tôi không quên cám ơn các Chi Hội trưởng GĐMĐ vùng Hoa Thịnh Đốn như anh Nguyễn Văn Mùi, Lý Thanh Phi… thường nhắc tôi tham dự buổi cơm cuối năm của Gia Đình Mũ đỏ tổ chức để góp chút tình gửi về cho Thương Phế Binh Nhảy dù còn ở quê nhà.
Tôi cũng không thể nào quên nhắc đến tên các đàn anh như Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, người anh cả nghiêm minh và vui tươi, Y sĩ Đại tá Bùi Thiều, con người tài hoa và là người điều hành xây dựng Bệnh viện địa đạo ngay trong căn cứ Khe Sanh mà báo chí Mỹ khen phục.

Bốn chữ “Giữ Đời Cho Nhau” của BS Lê Quang Tiến nhắn trong Đặc San 70 để thực hiện số báo đặc biệt về QYND/SĐND làm sống dậy trong tôi những năm tháng đùa với tử thần.

Có nếm mùi cực khổ, tù đày rồi mới thấy Độc lập – Tự Do là quý. Có lâm vào cảnh đói rách, nguy hiểm rồi mới thấy tình Huynh Đệ Chi binh là quý.
Xin nói thêm vài lời nữa là nếu không đọc quyển “Y sĩ Tiền Tuyến” của Trang Châu, không đọc bài viết của Phan Nhật Nam, của Trương Đăng Sỹ trong Đặc San Mũ Đỏ #70 thì e cũng khó ngồi mài miệt cả tuần để viết nên những trang giấy này.

Mũ Đỏ Trần Đoàn

Y sĩ Trưởng TĐ2ND


   OfflinePersonal Gallery of bichphuongView user's profileSend private message
Display posts from previous:      
Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic

View next topic
View previous topic
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum


All times are GMT

Board Security

7681 Attacks blocked
Powered by phpBB2 Plus, Artikelverzeichnis and Webkatalog based on phpBB © 2001/6 phpBB Group :: FI Theme :: Mods and Credits