Cư An Tư Nguy Forum Index Portal
 FAQ  •  Search  •  Preferences  •  Usergroups  •  Register  •  Profile  •  Log in to check your private messages  •  Log in
Calendar 
View next topic
View previous topic

Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic
Author Message
bichphuong




Joined: 14 Mar 2016
Posts: 159

PostPosted: Wed Mar 22, 2017 8:08 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Cấm 5 ca khúc trước 1975 và ‘cái tát’ cho hai ‘nhà phê bình âm nhạc’
Vũ Ðình Trọng/Người Việt
March 21, 2017



HÀ NỘI (NV) – Sau khi chính quyền Việt Nam tạm ngưng lưu hành năm ca khúc sáng tác trước năm 1975 thì công chúng phản ứng khá gay gắt về quyết định này. Ngay sau đó, báo điện tử VTC News và báo điện tử VOV của đài Tiếng Nói Việt Nam mở diễn đàn bình luận với mục đích “giải độc.”

Kết quả, “độc” không giải được, mà công chúng còn nhận được những phát ngôn ngớ ngẩn của hai nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Lưu, và Nguyễn Thụy Kha cho năm ca khúc sáng tác trước năm 1975 tạm ngưng lưu hành, gồm: “Cánh Thiệp Ðầu Xuân” (Lê Dinh-Minh Kỳ), “Rừng Xưa” (Lam Phương), “Chuyện Buồn Ngày Xuân” (Lam Phương), “Ðừng Gọi Anh Bằng Chú” (Diên An), “Con Ðường Xưa Em Ði” (Châu Kỳ-Hồ Ðình Phương).


Chẳng hạn, ông Kha cho rằng: “Hàng trăm hợp xướng của tôi và các đồng nghiệp, hàng nghìn ca khúc cách mạng vĩ đại thì chẳng ai nhắc đến hay ca ngợi. Còn năm ca khúc kia mới bị tạm dừng lưu hành lại được đưa ra mổ xẻ, tranh cãi, bênh vực…”

Nguyễn Lưu và “cái tát” 11 năm trước

Ðây không phải lần đầu ông Nguyễn Lưu gay gắt với nhạc “vàng.” Cách đây 11 năm (2006), khi nhạc sĩ Phạm Duy được công chúng chào đón trong chương trình “Ngày Trở Về” do công ty Văn Hóa Phương Nam tổ chức, ông viết bài “Không Thể Tung Hô” đăng trên báo Ðầu Tư gây phản đối kịch liệt trong dư luận. Sự phản đối về bài viết của Nguyễn Lưu mạnh đến nỗi ông không thể “ngóc đầu lên để thở” suốt 11 năm qua.

Chỉ cần đánh bốn chữ “Không Thể Tung Hô,” chúng ta dễ dàng tìm đọc cả bài trên Google. Chẳng hạn, Nguyễn Lưu cho rằng: “Một người từng bỏ kháng chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Ðình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu ‘sặc mùi’ hiếu chiến. Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến như thế!”

Hay Nguyễn Lưu viết: “Ðỉnh cao sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài ‘Mùa Thu Chết.’ Ở đó, tác giả đã công khai tư tưởng chống Cộng của mình. Ông ta đã từ bỏ tình yêu với tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa Thu trong ca khúc ấy chính là cách mạng mùa Thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.”

Bài viết này của ông lập tức bị công ty Phương Nam phản bác lại nhiều điều. Công ty cho rằng đây là một show ca nhạc bình thường, ai thích thì mua vé vào xem. Họ tổ chức cho nhạc sĩ Phạm Duy, vì họ là đơn vị nắm bản quyền khai thác ca khúc Phạm Duy ở Việt Nam trong 20 năm. Mua bản quyền rồi, thì họ phải bán kiếm lời, chứ chẳng lẽ cất vô kho!


Trong lá thư phản bác, bà Phan Thị Lệ, tổng giám đốc công ty Phương Nam, cũng chỉ ra một số “lỗ hổng kiến thức” của Nguyễn Lưu: “Ðộc giả, đặc biệt là những người từng ở miền Nam trước năm 1975, ai cũng biết rằng bài ‘Mùa Thu Chết’ rất nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy là phổ thơ Guillaume Apollinaire (1880-1918), một nhà thơ Pháp. Bài thơ của Apollinaire chỉ có năm câu, mang tựa đề ‘L’Adieu,’ khi phổ nhạc vẫn giữ gần như nguyên vẹn.”

Bà Phan Thị Lệ kết luận rằng cách phê bình “cả vú lấp miệng em” của ông Nguyễn Lưu ngoài chuyện “gây ô nhiễm nặng môi trường học thuật” trong nước, mà còn “cạnh tranh không lành mạnh” trong kinh doanh nghệ thuật.

Cả hai bài viết của Nguyễn Lưu và Phan Thị Lệ tạo sự tranh luận sôi nổi, thậm chí gay gắt về nhân vật này trong năm 2006.

Ðáng chú ý là ý kiến của một người tên huynhhai, đăng lên blogger Nguyễn Ðình Chính: “Những người thuộc lớp tuổi như ông Nguyễn Lưu được sinh ra trong lòng ‘hậu phương lớn miền Bắc,’ được giáo dục ‘dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa.’ Ðặc điểm chung của lớp người này là kiến thức nửa vời, lối suy nghĩ đầy định kiến, dù họ được học hành đàng hoàng và được cho là ‘trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa.’ Thêm vào đó, họ còn một đặc điểm nữa là ‘kiêu ngạo cách mạng’ hoặc ‘kiêu ngạo Cộng Sản.’ Ðối với họ chỉ có cách mạng vô sản và người Cộng Sản mới đáng kể, mới là ‘đỉnh cao trí tuệ của loài người.’”

Qua những “cơn sóng dữ” của dư luận, người ta không ngạc nhiên khi Nguyễn Lưu “lặn không sủi tăm,” từ ngày ấy.

“Hàng nghìn ca khúc cách mạng vĩ đại chẳng ai ca ngợi”

Sau 11 năm, ông Nguyễn Lưu, bây giờ là nhà phê bình âm nhạc “trồi lên để thở” qua cuộc phỏng vấn với báo điện tử VTC News, sau khi năm ca khúc sáng tác trước năm 1975 bị tạm cấm lưu hành.

Trong lần phỏng vấn này, hầu hết từng câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Lưu đều bị dân mạng “bẻ gãy” bằng những lập luận sắc bén.

Nguyễn Lưu nói: “Nên cấm phổ biến những ca khúc viết về lính VNCH. Tôi thấy có rất nhiều về vấn đề tư tưởng. ‘Con Ðường Xưa Anh Ði’ là con đường nào?”

Facebooker Do Duy Ngoc phản biện: “Nếu bắt bẻ thì ngay mở đầu chú đã sửa ca từ của người ta rồi. Nguyên văn của nó là ‘Con Ðường Xưa Em Ði,’ chú gán thành chữ ‘anh’ để chú lôi anh lính VNCH vào để chú kết án: ‘Khi chúng ta ca ngợi những bước chân người lính, đó phải là những bước chân của người đi bảo vệ, xây dựng tổ quốc, chứ không phải của những người dại dột đi theo kẻ thù, chống lại quyền lợi của dân tộc.’ He… he chú lên gân cốt hơi quá rồi, hay là tại chú ngu không hiểu nội dung bài hát, hoặc chú giả vờ ngu để lái ý bài hát đi theo hướng của mình. Bởi thật ra đây là bài nhạc tình, một anh chàng yêu một cô nàng, gợi lại kỷ niệm trên con đường xưa. Chú là chuyên gia tào lao, cũng như trước đây chú lên án bài ‘Mùa Thu Chết’ của Phạm Duy vậy.”

Trên trang mạng VNTB, tác giả Kỳ Lâm cho rằng,“Và 11 năm sau, nhạc sĩ Nguyễn Lưu vẫn không thay đổi gì trong cách nhìn quá khắc nghiệt, đầy tính giai cấp và hận thù chiến tranh qua tác phẩm nghệ thuật.”

Tuy nhiên, ông Nguyễn Lưu không đơn độc. Ông vẫn có một “đồng chí” chia sẻ, đó là Nguyễn Thụy Kha, nhạc sĩ, kiêm nhà nghiên cứu phê bình âm nhạc.

Nói với báo điện tử VOV, ông Kha cho rằng: “Hàng trăm hợp xướng của tôi và các đồng nghiệp, hàng nghìn ca khúc cách mạng vĩ đại thì chẳng ai nhắc đến hay ca ngợi. Còn năm ca khúc kia mới bị tạm dừng lưu hành lại được đưa ra mổ xẻ, tranh cãi, bênh vực. Tôi cho rằng, thị hiếu của một bộ phận công chúng người Việt đang thực sự có vấn đề. Ðó là điều rất đáng buồn.”

Ngay lập tức, bài phỏng vấn này được mạng xã hội mổ xẻ.

Facebooker Do Duy Ngoc thẳng thắn: “Ðọc bài phân tích của chú, tui cũng thấy chú ngu chẳng khác gì chú Lưu. Thế mà hai chú cũng vỗ ngực xưng tên là nhà phê bình âm nhạc, tui cũng xấu hổ cho cái nghề phê bình […] Các chú làm ra hàng trăm, hàng nghìn ca khúc vĩ đại mà chẳng có ai nhớ, chẳng có ai vinh danh, nên chú tức, chú hận, chú cho là thị hiếu của người nghe bây giờ có vấn đề. […] Nếu sáng tác của các chú có giá trị, đi được vào trái tim con người, nó sẽ nằm đó mãi mãi, dù có ngăn cấm, dù có xóa sạch, nó vẫn hiện diện. Trái lại, những tác phẩm của một phong trào, phục vụ cho một thời kỳ sẽ có lúc bị lỗi mốt và người ta quên nó mất. Ðó là quy luật đào thải, không ai cản được.”

Nhà văn Lê Thiếu Nhơn cũng gởi gắm đôi điều: “Nguyễn Thụy Kha không phải hạng kém cỏi, nhưng quen thói đãi bôi kiếm ăn. Cứ có tiền, có rượu là Kha nhảy xổ lên uốn lưỡi đong đưa ca ngợi tít mù. Cái tâm tư lớn nhất của Kha là công chúng và ca sĩ đều ngu lâu dốt bền. Ừ nhỉ, tại sao thiên hạ không biết Kha cũng có viết nhạc? Ðể tái cấu trúc nền âm nhạc vớ vẩn và tái giáo dục đám đông mê muội, đề nghị ‘các cơ quan có thẩm quyền’ phải triển khai ngay ‘sự quản lý’ để mọi người cùng hát, cùng nghe nhạc Nguyễn Thụy Kha cho văn hóa Việt đi lên theo tốc độ phi mã!”




Last edited by bichphuong on Thu Mar 30, 2017 6:20 pm; edited 1 time in total
   OfflinePersonal Gallery of bichphuongView user's profileSend private message
bobinh




Joined: 26 Feb 2010
Posts: 162

PostPosted: Thu Mar 30, 2017 6:16 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

Nguyễn Ðức Quang, khi bài hát trở về


Image
Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang (1944-27 Tháng Ba 2011).



Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Ðức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy Mà Ði của Nguyễn Xuân Tân, Tổ Quốc Ơi Ta Ðã Nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Ðức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Ðôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ,” “xích kêu loang xoang,” “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đóa lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng Ðạo, Du Ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh Niên Công Giáo, Gia Ðình Phật Tử, từ các quân trường Ðà Lạt, Thủ Ðức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai ,ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã hóa thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do.Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái Bình Dương giông bão, hát lên ở các trại tị nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn HướngÐạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam:

“…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Tiếng Rống Ðàn Bò, Lìa Nhau, Thảm Kịch Khó Nói v.v… những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi nào đặt hàng hay một ông tổng ủy trưởng Dân Vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngã, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngã của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Ðức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc.” Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Ðiều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc. Văn hóa không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sau 30 Tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hóa đồi trụy” mà Ðảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt.

Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Ðể tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.

Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa Hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo Dục Và Thanh Niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Ðêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Ðà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm.

Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của mùa Hè đỏ lửa chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hòa bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng.

Ðêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, ThángGiêng năm 1974, bài hát ViệtNam Quêạ Hương Ngạo Nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Ðà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt. Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa Ðông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa Tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa Tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng dòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay Hải Quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Ðông Hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng Biển Ðông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, họa xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe dọa thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo “Xung Ðột Trường Sa: Ai có mặt trước?” (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến; nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Ðại Thắng,” “Dậy Mà Ði,” “Nối Vòng Tay Lớn” của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những“bất hạnh,” “nỗi đau,” “tính tự ti mặc cảm,” vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác “như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.


   OfflinePersonal Gallery of bobinhView user's profileSend private message
thienthanh



Age: 60
Joined: 07 Jun 2007
Posts: 3052

blank.gif
PostPosted: Sat Apr 08, 2017 2:16 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

"Buồn Vào Hồn Không Tên"
Tưởng Năng Tiến

Image
Nhạc sĩ Trúc Phương (1933-1995).



Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn: “Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoăc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi ‘tìm thù’ và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.”
Hơn bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:

– Tiến hả?
– Dạ…

– Vũ Đức Nghiêm đây…
– Dạ…
– Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
– Dạ …cũng được!

Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Image
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm. Ảnh:honque


Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:
“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.

Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…”

– Hình như là nhạc của Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
– Em nói nghe cái gì?
– Anh thử nghe nhạc coi…
– Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:
– Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:
– Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
– Dạ không, không có gì đâu. Never mind!
Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình.
Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!
Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này. Qua chương trình Bẩy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:

“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”

“Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ Thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều …”

Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:.
“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó,’bèo dạt hoa trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:
“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình . Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báoPháp Luật:
“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân,TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức … Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…

Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà quý vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.


Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!

Tưởng Năng Tiến


Capricorn  Monkey OfflinePersonal Gallery of thienthanhView user's profileSend private message
MatVit




Joined: 02 Sep 2011
Posts: 969

PostPosted: Tue Apr 18, 2017 6:40 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top


CÔ GIÁO THỜI 1975..

Nguyễn Thị Thanh Dương.



Kim đạp xe từ nhà đến Ngã Năm chưa đầy 10 phút nhưng để tìm ra căn nhà của đứa học trò chắc không nhanh chóng dễ dàng gì. Con đường phía sau Tổng Y Viện Cộng Hòa dẫn vào một xóm nhỏ không tên, nhà cửa hai bên đường tha hồ xập xệ nhô ra thụt vào đủ kiểu, nhà có ghi số đàng hoàng, nhà thì ghi số nhếch nhác cẩu thả khó đọc khó tìm làm như đây là cõi tạm hoặc là cái địa chỉ không bao giờ cần dùng đến.
Kim còn đang ngơ ngác dò tìm số nhà có tới mấy cái “sẹc” 112/4/95/3 thì bỗng đâu có một tiếng kêu lên :
- Cô Kim, cô đi tìm nhà thằng Huy hả?
Một đứa học trò ở xóm này đã nhận ra Kim, nó hí hửng :
- Để em đưa cô tới nhà nó nghe, ở tận cuối xóm gần nghĩa địa cô ơi
Kim vui mừng:
- Ủa, em Thế, may qúa, cám ơn em đã gặp cô đúng lúc
Kim theo đứa học trò đến nhà thằng Huy, nếu không có nó thì Kim đâu biết có những con hẻm quanh co tùm lum người và rác rưới dẫn đến bãi tha ma này.
Thằng Huy có nhà, nó bối rối mời cô giáo vào trong và gọi mẹ nó đang ở sau nhà. Qua những khe hở hớ hênh của tấm liếp che Kim ngó ra sau thấy mẹ con Huy đang vội vàng bóc giấy mấy gói đậu phộng rang đổ ra một cái đĩa nhỏ làm qùa mời khách.
Nói chuyện với mẹ Huy, Kim càng hiểu thêm cảnh nghèo khó của gia đình Huy, sau 1975 cha Huy đi “học tập cải tạo”, người vợ trẻ mang 3 đứa con đi kinh tế mới ở Lộc Ninh theo lời kêu gọi của địa phương với hi vọng chồng sẽ sớm được trở về, nhưng người chồng đã chết vì ốm đau đói khát trong tù. Không chịu được cuộc sống cực nhọc thiếu thốn cả đồ ăn thức uống đến điều kiện vệ sinh y tế nơi vùng đất hoang nước lạ lâu thêm nữa mẹ Huy mang ba đứa con thơ trở về thành phố, nhà cửa đã bán tống bán tháo ngày đi kinh tế mới nay không có chỗ nương thân họ về xóm nghèo này dựng lên một căn nhà tạm bợ để có chỗ trú ngụ nắng mưa. Cả bốn mẹ con hàng ngày đều phải ra đường kiếm sống, anh em Huy bán báo, bán đậu phộng rang, người mẹ thì bán ve chai. Những “nghề” của bốn mẹ con đã nói lên cảnh nghèo nàn cơ cực của họ..
Mấy hôm nay Huy nghỉ học, bạn cùng lớp nói mẹ Huy bị bệnh nên Kim đến để thăm hỏi và động viên học trò
Kim từ gĩa mẹ con Huy và theo chân trò Thế để ra ngoài đường lớn, đã vào được căn nhà cuối nẻo đường nhưng vẫn có thể lạc lối ra đối với những người mới đến đây lần đầu như Kim. Thằng Thế nhiều chuyện líu lo:
- Cô hên đó, bữa nay chắc anh em nó bán đậu phộng rang còn ế nên má nó mở mấy gói ra mời, không thì họ chẳng có gì mời cô giáo..
Kim vừa buồn cười vì lời nói của trò Thế vừa cảm thấy chạnh lòng gia cảnh trò Huy, ra tới đầu ngõ nàng tạm biệt đứa học trò và đạp xe về nhà mà lòng vẫn buồn rưng rưng.
Kim vừa tốt nghiệp Trung học sư phạm và đi dạy năm 1985.
Kim tốt nghiệp thủ khoa, được ưu tiên lựa chọn vài trường điểm của thành phố, trong đó nổi bật nhất hấp dẫn nhất là trường tiểu học Hoà Bình bên hông nhà thơ Đức Bà, khu vực trung tâm Sài Gòn, các bạn cùng lớp đều hào hứng khuyên Kim chọn trường này toàn con nhà giàu hoặc con nhà cách mạng chức vụ cao, cô giáo sẽ tha hồ nhận qùa từ những phụ huynh học sinh giàu có và địa vị.
Nhưng Kim làm bạn bè sững sờ khi nàng nhận dạy tại một trường nhỏ bé trong xóm nghèo vùng Ngã Năm Gò Vấp. Kim so sánh giữa những đứa học trò giàu và nghèo thì đứa nghèo đáng thương hơn thế là nàng chọn trường Kim Đồng. Gia đình Kim cũng vui mừng vì Kim chọn trường gần nhà hàng ngày đạp xe đi dạy thoải mái chứ đạp xe vào thành phố nhốn nháo xe cộ đủ loại, xe chạy đủ kiểu đến nỗi mỗi đường phố đều treo những câu bảng hiệu nhắc nhở như :” Không phóng nhanh giành đường vượt ẩu” hay “ Thà chậm vài giây còn hơn gây tai nạn” hay “ An toàn là bạn. Tai nạn là thù”.. v..v…làm gia đình Kim lo lắm cứ y như nàng còn ngây thơ bé bỏng không “đương đầu” nổi với đường phố và đường đời.
Cô giáo 19 tuổi mới lớn lên chẳng nghĩ đến chuyện hơn thua, lòng nàng chỉ phơi phới những lý tưởng đẹp cho đời.
Kim dạy lớp năm, lớp có hơn 30 đứa học trò, hầu hết là con nhà nghèo cư ngụ quanh vùng. Ngày đầu tiên Kim lên bục giảng bao nhiêu ánh mắt trẻ thơ hướng về Kim đầy vẻ thân ái và ngưỡng mộ dù hôm ấy Kim mâc aó sơ mi trắng với quần tây đen chẳng có gì lộng lẫy.
Kim mỉm cười “khoe” cái răng khểnh và giới thiệu với cả lớp:
- Cô tên Kim là cô giáo mới ra trường, các em là lớp đầu tiên trong cuộc đời của cô đó, các em học hành chăm chỉ và nghe lời cô nhé… .
Những đứa học trò nhao nhao lên và bắt chước nhau:
- Cô ơi, em hứa sẽ nghe lời cô…
- Cô ơi em hứa sẽ học chăm chỉ
- Cô ơi, cô đẹp qúa trời luôn.
- Cô ơi, em thích cô quá trời luôn
Học trò cả lớp sàn sàn bằng tuổi nhau, cao thấp như nhau chỉ có Huy là đứa “gìa” nhất 15 tuổi, vì sau khi gia đình thất bại kinh tế mới về thành phố mấy năm sau anh em Huy mới đi học lại.
Huy tên là Nguyễn Thiện Huy, cái tên đẹp, vóc dáng và gương mặt dễ thương sáng sủa của nó đã nói lên một thời được sống trong mái gia đình an vui đầy đủ. Huy ngoan ngoãn, chăm chỉ và học giỏi..
Để giúp đỡ đứa học trò giỏi con nhà nghèo Kim đã bảo Huy khi nào bán đậu phộng rang còn ế thì mang đến trường Kim và các thày cô giáo khác sẽ mua giúp, thường thì Kim mua bao trọn gói. Thế là thằng bé yên chí có nơi tiêu thụ dứt điểm món đâu phộng rang nhà nó.
Thằng Huy lớn nhất lớp nên đã giúp Kim được nhiều việc như giữ gìn trật tự lớp hay năng nổ mỗi khi trường lớp có tổ chức liên hoan, văn nghệ..v..v..
Hôm lớp Kim tổ chức liên hoan mừng lớp đoạt danh hiệu lớp giỏi . Ở nhà Kim nấu nồi chè và rang đậu phộng mang đến trường. Nồi chè hơi…bị khét và đậu phộng rang …hơi bị cháy. Nhưng thằng Huy biết điều lắm, nó ăn chè ăn đậu phộng rang của cô giáo và …khen cho cả lớp cùng nghe:
- Tuy chè và đậu phộng rang của cô có mùi …khét mà thành đặc biệt và ngon lắm.
Đám trẻ ngây thơ cùng gật gù khen ngon, ăn một lúc nồi chè và mớ đậu phộng hết bay. Có lẽ không phải vì cả nể cô giáo mà vì thời buổi vật chất thiếu thốn nên lũ học trò con nhà nghèo này chẳng chê món gì.
Ôi, Kim là cô giáo giỏi nhưng nấu ăn thì đâu có giỏi vì quen được cha mẹ và anh chị nuông chiều, nàng có vào bếp nấu nướng bao giờ.
Huy phụ cô dọn dẹp, khi không có trò khác đứng gần thằng Huy đã ra vẻ kinh nghiệm “dạy” lại cô giáo nó:
- Nè cô, lần sau cô rang đậu phộng xong là đổ ra rổ ngay nha, ai biểu cô để nướng trên chảo, chảo còn nóng làm đậu phộng cháy là vậy đó.
Kim chưa biết đáp sao thì được học trò “dạy” tiếp:
- Còn nồi chè đậu xanh nữa, ai biểu cô không quậy đều, nấu hoài nó khét là vậy đó.
Kim cười trừ:
- Ừ, tại cô…quên. Không ngờ trò Huy giỏi toán lại giỏi cả bếp núc nữa ta.
- Thì ngày nào em cũng rang đậu phộng bán mà, rang khét như cô thì mẹ em hết vốn từ khuya rồi. Trước kia mẹ em bán chè em cũng biết nấu chè luôn, sau vì chè ế qúa nên mẹ em mới chuyển sang mua bán ve chai, thứ này ế hay khi mẹ em bệnh thì hàng còn nằm đó chẳng hư hỏng gì.
Huy thua cô giáo Kim 4 tuổi mà ra vẻ chững chạc ngang hàng lắm. Một buổi chiều thứ bảy thằng Huy và thằng Thế đi bộ đến nhà Kim để mời cô giáo đi xem phim ở rạp Lạc Xuân Gò Vấp. Cô giáo mặc nguyện bộ đồ bộ tung tăng theo hai đứa học trò như ba chị em vừa đi bộ vừa nói đủ thứ chuyện từ nhà đến rạp hát Lạc Xuân để xem phim.. Dĩ nhiên Kim đòi mua vé đâu nỡ để hai đứa học trò nghèo phải bỏ tiền ra bao mình, nhưng thằng Huy đã bảo Thế dùng “vũ lực” níu tay cô giáo lại để nó ra mua vé kể cả mua vài thứ ăn vặt như xoài ngâm, ổi ngâm ( nó không mua món đậu phộng rang vì ngán món này qúa chừng, mà Kim cũng ngán luôn vì thường xuyên ăn đậu phộng ế của nhà nó).
Thế là cô giáo được hai đứa học trò nhỏ chăm sóc lịch sự. Hai thằng nhóc đã ra dáng nam nhi biết “ga lăng” với phụ nữ
Chưa có thày trò nào thân tình với nhau đến thế
Một tuần sau là ngày nhà giáo 20 tháng 11, Kim đến lớp thấy nhiều em mang theo những món quà.
Đầu tiên là con Hương mang một xấp vải lên tặng cô, Hương là con một cán bộ ở quận, có vẻ như nó hiểu địa vị của cha nó và món qùa giá trị nên nét mặt nó vui sướng hãnh diện lắm.
Thằng Tùng thì vụng về bưng lên một cái rổ cũ có chục trứng gà lót trong mớ rơm khô và nói:
- Cô ơi, gà nhà em đẻ trứng, em nói má để dành đem tặng cô…
Kim đã biết gia cảnh Tùng nghèo, chắc mẹ nó phải để dành từng qủa trứng cho đủ chục để Tùng làm qùa tặng nhân ngày nhà giáo. Kim cảm động và thương thằng Tùng qúa:
- Cô cám ơn mẹ em và em Tùng nhé, nhưng em mang trứng về nhà để ăn đi, cô hiểu tấm lòng của em rồi.
Kim nói vừa dứt lời thì thằng Tùng bỗng oà khóc như cha chết làm Kim hoảng sợ bối rối:
- Sao em khóc? Sao em khóc hả Tùng?
Thằng bé nức nở:
- Cô chê trứng gà nhà em, để em về nói má mua quà khác tặng cô.
Trời ơi, thì ra thằng Tùng hiểu lầm và “quê” với các bạn vì tưởng cô giáo chê món quà nhà nghèo cuả nó. Kim vội vàng lấy khăn tay âu yếm chùi nước mắt cho Tùng và dỗ dành:
- Cô thích ăn trứng gà lắm nhưng cô muốn để dành món ngon này cho Tùng ăn chứ cô không chê.. Em nín đi, cô sẽ nhận cả rổ trứng của em .
Thằng bé mỉm cười dù những giọt nước mắt còn long lanh trong đôi mắt ngây thơ cuả nó.
Một món quà khác làm Kim giật mình bất ngờ khi con Hạnh mang ra… cái giò heo to tướng. Nó tự giới thiệu:
- Má em bán thịt heo hợp tác xã, má chọn cái giò heo ngon nói em mang tặng cô giáo ngày 20 tháng 11. Má nói khỏi cần tặng hoa, hoa tươi không bằng giò heo tươi. Hoa đẹp nhưng không ăn được, không xài được bền lâu còn mất công cô đổ rác.
Kim đã từng nghe các đồng nghiệp kể mỗi năm ngày nhà giáo nhận hoa đến …mỏi cả tay và không biết cắm hoa vào đâu cho hết, khi hoa héo tàn thành đống rác lại phải thanh toán cho sạch nhà. Ngày nhà giáo đi ngoài đường thấy ai ôm một đống hoa là biết ngay họ là thày cô giáo, cái nghề không kiếm ra nhiều tiền để mà lãng mạn ngày thường mua hoa về chưng bày trong nhà nhưng ngày nhà giáo hoa chưng la liệt từ nhà trên cho tới nhà dưới, nhà bếp, nhà kho hay trên căn gác xép tối om om.
Kim nhận cái giò heo của đứa học trò có bà mẹ rất thực tế.vì chắc chắn chiều nay nhà Kim sẽ có món giò heo “cải thiện” bữa ăn trên mâm cơm mà không cần tốn công chen lấn giành giật nhau mua ở phản thịt hợp tác xã.
Nhiều trò khác thì tặng hoa, tặng hộp kẹo, gói bánh. Thấy thằng Huy có vẻ buồn buồn nó né không dám nhìn Kim, Kim ngạc nhiên đến bên nó:
- Kìa Huy hôm nay em làm sao thế?
- Mấy hôm nay mẹ em bệnh không đi ve chai nên không có tiền, em không có quà cũng chẳng có hoa tặng cô.
Kim mỉm cười :
- Em và Thế đã tặng cô một buổi xem phim rạp Lạc Xuân vui qúa trời rồi mà. Em đừng buồn nữa nhé.
Chiều hôm ấy Kim ra về, xe đạp của Kim chở đầy hoa, trứng, thịt và bánh kẹo.. Có hương hoa thơm cho đời thêm đẹp và có thực phẩm cho bụng thêm no. Cái gìo heo buộc sợi giây lạt treo tòn ten ở tay lái xe dù đã hơi ôi ả mà vẫn hấp dẫn làm sao, Kim đạp xe tới đâu cũng có người ngó theo, chẳng biết họ ngó cô giáo hay cái gìo heo hiếm qúy của thời buổi xã hội chủ nghĩa bao cấp này.
Học trò thương mến Kim ngày nào cũng gặp đã đành, một ngày chủ nhật chúng còn rủ nhau đến nhà thăm cô
Được ngày chủ nhật Kim tha hồ ngủ muộn cho đến khi nghe ngoài cổng có tiếng í ới và nghe trong nhà có tiếng chị của Kim gõ cửa phòng:
- Kim ơi, dậy mà tiếp học trò, ai đời học trò đến thăm mà cô giáo còn lười biếng nằm ngủ nướng trên giường thế hả…
Kim vung chăn ngồi dậy:
- Chị ơi, chúng nó đâu rồi?
- Đám đông đang ngồi ngoài sân cứ như biểu tình hay Chí Phèo ăn vạ hay chủ nợ đến canh nhà con nợ kia kìa, em ra mà xem…
Kim bật cười:
- Chị ví von ly kỳ thế. Khoan…khoan…chị đừng vội mở cửa nha, để đó cho em.
Kim nhanh chân chạy xuống nhà dưới ra sân đánh răng rửa mặt và …len lén đi bằng lối cổng sau ra ngôi chợ nhỏ trong xóm mua về một mớ khoai lang, khoai mì luộc nóng hổi rồi nàng mới ra mở cổng.
Lũ học trò hơn chục đứa chắc đợi lâu mệt mỏi đứa thì đứng tựa vào tường đứa thì ngồi chồm hổm trước sân nhà. Thấy cô giáo chúng mừng vui quýnh quáng xúm lại bên Kim như vừa gặp lại cố nhân sau bao năm xa cách:
- Cô ơi chúng em đến thăm cô
- Cô có mạnh khỏe không?
- Cô ơi, sợ ngày chủ nhật cô đi chơi nên tụi em đến từ 7 giờ sáng để canh chừng cô.
Bây giờ là 9 giờ sáng, lũ học trò đã ngồi đợi suốt 2 tiếng đồng hồ. Kim cảm động lòng yêu thương của chúng dành cho mình và cảm động cả tính kiên nhẫn của chúng.
Kim mang mớ khoai lang khoai mì luộc vừa mua ở chợ về cùng ăn với lũ học trò, chưa bao giờ củ khoai lang khoai mì ăn điểm tâm lại ngon đến thế..
Thương mến cô giáo lũ học trò còn hãnh diện khen cô giáo của chúng đẹp nữa chứ.
Hôm Kim cho đề tài luận văn “Em hãy tả cô giáo của em” có bài văn chúng tả cô giáo Kim của chúng nào mắt bồ câu, mũi dọc dừa, môi trái tim..v..v. và có đứa cả gan kết luận :” Tóm lại cô giáo Kim của em đẹp nhất trường, đẹp toàn bộ từ đầu tới tay chân giày dép, đẹp như cô Thẩm Thúy Hằng mà mẹ em có treo hình trong nhà”
Chắc là chúng nghe người ta nói xưa nay nên quen miệng bắt chước theo chứ chúng biết mắt bồ câu mũi dọc dừa là thế nào. Kim không đẹp đến thế, mắt Kim mí lót, mũi Kim, môi Kim bình thường thì.chưa bằng một góc cô minh tinh Thẩm Thúy Hằng.
Nhưng Kim biết mình cũng…dễ thương vì từ hồi học cấp hai cấp ba cho đến sư phạm đã có nhiều bạn nam sinh, bạn cùng xóm để ý thương thầm nhớ trộm. Người quen cảm mến đã đành mà người không quen cũng cảm mến. Thỉnh thoảng Kim hay lên phố chợ Hạnh Thông Tây ăn món hủ tiếu mì của tiệm Tàu, có lần Kim ăn xong ra trả tiền thì ông Tàu nói có anh kia trả tiền cho cô rồi, anh gởi lại một tờ giấy. Kim mở mẩu giấy ra với nét chữ cuả người xa lạ: “ Cô bé dễ thương ơi, anh trả tiền cho cô bé rồi, lần sau nếu gặp anh xin phép được trả tiền nữa nhé”.
Anh không ghi tên tuổi, không cần làm quen, chỉ lãng mạn thế thôi, nhưng Kim…từ bỏ luôn tiệm mì ông tàu và đổi sang ăn tiệm mì khác vì chỉ sợ có anh chàng nào đó lén nhìn nàng lúc đang xì xụp ăn tô mì thì mắc cỡ lắm..
Cô giáo Kim dạy học được 3 năm, cái nghề nàng chọn ngày từng ngày đã thêm gắn bó, nàng yêu nghề giáo dù đồng lương bé nhỏ chỉ đủ cho cô nàng độc thân như nàng tiêu xài vặt khi chuyện áo cơm đã có gia đình bảo bọc..
Bạch Diệp một bạn thân của Kim thi rớt đại học không thèm vào học trung cấp như nàng mà ở nhà phụ cha mẹ bán…cây tôn, cái nghề chẳng thích hợp cho cô thiếu nữ mới lớn chút nào nhưng là nghề hái ra tiền của nhà nó. Buổi giao thời sau khi miền Nam xụp đổ người ta gỡ mái đập tường nhà để đi kinh tế mới và không bao lâu sau người ta lại có nhu cầu xây dựng nhà, tiệm bán cây tôn phát triển thêm bán cả gạch cát, xi măng nên thời nào tiệm của nhà Bạch Diệp cũng hốt bạc dễ dàng.
Bạch Diệp luôn nhìn Kim với vẻ thương hại cô bạn nghèo, chọn nghề giáo nghèo chẳng trông mong gì mánh mung bổng lộc ngoài cái ngày nhà giáo 20 tháng 11 nhận hoa, nhận qùa vớ vẩn. .
Yêu nghề giáo Kim yêu lũ trẻ, học trò ba niên khóa đã rời trường, có bao nhiêu đứa học trò thân quen, có bao nhiêu kỷ niệm dưới mái trường nghèo đã ghi vào lòng nàng. Nhưng những đứa học trò lớp đầu tiên của đời cô giáo là Kim nhớ nhất.
Một hôm khi Kim đang rời trường để về nhà thì một anh bộ đội xuất hiện nơi cổng trường, Kim đang ngỡ ngàng chưa kịp nhận ra ai thì anh bộ đội lấy chiếc mũ cối trên đầu ra:
- Em Nguyễn Thiện Huy nè cô.
Huy đã là một chàng trai 18 tuổi, nó to lớn và rắn rỏi. nét mặt thoáng buồn Huy kể:
- Em lớn rồi, không có tiền cũng như không có thời gian để ăn học tiếp nữa. Em mới bị gọi đi bộ đội.
Kim nói như một lời than:
- Lý lịch con sĩ quan “nguỵ” mà họ cũng gọi em đi bộ đội sao !!
- Dạ, bởi đi bộ đội là chuyện sống chết và gian khổ có ai tranh giành đâu cô nên em mới được gọi, mới được “trúng tuyển” nghĩa vụ quân sự. Con cháu cán bộ hay con nhà giàu có tiền đút lót phường đội địa phương đều…rớt nghĩa vụ quân sự cả.
Kim ái ngại hỏi thăm:
- Gia đình em lúc này thế nào?
- Mẹ vẫn mua bán ve chai, các em vẫn bán hàng rong không có phép lạ nào thay đổi được. À, có em đi bộ đội nè…
Huy nói đùa mà cả Huy và cô giáo đều chẳng thấy vui. Huy buồn buồn tiếp:
- Đi bộ đội đời em không có tương lai. Em tới thăm cô và chúc cô luôn dạy tốt.
Kim cũng buồn buồn an ủi một câu vô nghĩa:
- Rồi em sẽ trở về mà..
- Khi người ta phải phục vụ cho một chế độ không yêu thích coi như cuộc đời không có tương lai. Gia đình em tan nát và nghèo khổ vì họ. Người cha chết trong tù, vợ con đi kinh tế mới, con cái không có cơ hội học hành đầy đủ thì biết lấy gì và biết đến bao giờ mới bù đắp được những mất mát này…
Kim giật mình không ngờ những ý nghĩ của thằng Huy lại giống mình đến thế. Suốt ba năm đi dạy, yêu thương lũ học trò nhưng nàng đã dần dần cảm thấy cuộc đời không có tương lai khi phải sống trong một xã hội đầy rẫy những bất công dối trá và chính nàng cũng phải sống gỉa dối giảng dạy cho học trò những điều nàng không tin và không muốn..
Thằng Huy đã lớn thật rồi, đã trưởng thành từ những nỗi đau, tuổi mộng mơ 18 của nó đã thay thế bằng những mặc cảm tủi hờn . Kim nắm lấy bàn tay nó rưng rưng:
- Cô chúc em đi bình an và …
- Và nhất định em sẽ trở về phải không cô? Em sẽ tìm gặp cô tại trường Kim Đồng này. Chúc cô ở lại bình an
Một năm sau Kim đi vượt biên, nàng đến Thái Lan. Ở trại tị nạn những ngày dài tháng rộng chờ đợi đi định cư nước thứ ba thỉnh thoảng Kim cũng nghĩ tới thằng học trò đang là bộ đội, nàng nghe tin thằng Huy đóng quân bên Campuchia.
Không biết ngày Huy trở về có đến trường cũ tìm cô giáo của nó như lời hẹn không? Kim áy náy và ray rứt tưởng tượng có môt anh bộ đội trẻ thất chí trở về sau những năm chiến đấu vô nghĩa, anh ta đến trường Kim Đồng và đứng chơ vơ ngoài cổng trường vì cô giáo của anh đã đi xa.
Huy ơi, hãy thông cảm cho cô, cô từ bỏ chế độ và xã hội của họ chứ cô đâu muốn từ bỏ quê hương trong đó có trường lớp và các em học trò nhỏ của cô.
Một hôm Kim đọc báo “Đường Sống”, một tờ báo hải ngoại, ngoài những bài viết chính từ hải ngoại còn có những đóng góp của thuyền nhân tị nạn. Báo được phân phối đến những trại tị nạn vừa để thông tin vừa giải trí.
Kim đọc bài viết của một người tị nạn ở Thái Lan, anh ta là bộ đội đã cùng một bạn bộ đội khác đào tẩu đi đường bộ từ Campuchia sang Thái Lan, nhưng chỉ một mình anh sống sót còn người bạn kia đã bị bắn chết trước khi sang biên giới Thái Lan.
Người bạn xấu số của anh tên Nguyễn Thiện Huy…
Kim bật khóc nghẹn ngào, Nguyễn Thiện Huy này có phải là đứa học trò cũ của nàng không ?
Nguyễn Thiện Huy ơi, nếu là em thì lời hứa hẹn ngày cô và em tái ngộ chỉ là ảo vọng thôi..
Cô và em là thày trò cũng là hai người bạn cùng chung tư tưởng Chúng ta không gặp nhau ở trường xưa cũng không may mắn gặp nhau nơi bến bờ tự do này.
Nguyễn Thiện Huy ơi, nếu là em thì câu em nói hôm nào như một điềm báo trước “Đi bộ đội đời em không có tương lai”
Ở thế giới bên kia em hãy phù hộ cho mẹ và các em của em để mai này họ có một tương lai tốt đẹp hơn những gì trong qúa khứ.Huy nhé

Nguyễn Thị Thanh Dương
( March, 08- 2017)


   OfflinePersonal Gallery of MatVitView user's profileSend private message
bichphuong




Joined: 14 Mar 2016
Posts: 159

PostPosted: Sat Apr 22, 2017 8:37 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top


Image

Tờ Hộ Khẩu

Mai Văn Các



‘Sự cố’ ấy là một bước ngoặt trong cuộc đời lão và nó còn đeo theo lão không biết đến bao giờ.

“Một ngày xui xẻo,” lão lẩm bẩm . Mới sáng banh mắt vừa ra mở cửa, mấy con quạ đen thù lù đậu trên cây vú sữa nhà thím Năm trông thấy lão chõ mỏ kêu “quà, quà, quà…” một hồi rồi vỗ cánh bay đi. Ðến chiều lúc lão đem giá gạo ra hè nhặt sạn nấu bữa tối có bé Hai chơi bên cạnh thì viên công an ở đâu sồng sộc đi vô:

-Kiểm tra hộ khẩu.

Lão ngơ ngác nhắc lại:

-Kiểm tra hộ khẩu, hộ khẩu là gì thầy?

-Không được kêu thầy, đừng giữ mãi cái đầu óc phong kiến bóc bột !

May quá , cái đầu óc già nua tối tăm của lão như có thần ứng mách bảo cho lão hai chữ : “đồng chí, đồng chí” . Lão nói:

-Thưa đồng chí hộ khẩu là gì đồng chí?

-Ai đồng chí với gia đình Ngụy? Kêu là cán bộ nghe chưa ! Tờ hộ khẩu đâu?

Lão vô nhà. Cán bộ theo sau. Tờ hộ khẩu mới lấy mấy bữa trước không biết ai để đâu mất . Hồi đó tờ khai gia đình cả vài năm lão không sờ tới. Hình như cách nay gần 1 năm lão kéo từ ngăn tủ phủi bụi bặm đem ra phường thêm tên con Sáu, vợ thằng Tư và con bé Hai xong lão lại đem về vất vô chỗ cũ.

May mắn sau ngày 30/4 nó vẫn nằm chình ình ở đó để lão đem trình cho Cách mạng làm tờ Hộ Khẩu mới. Lão tới lục ngăn tủ cũ không có, lão kéo ngăn bên kia ra xem cũng không , chỉ có bản sao Tờ Khai Gia Ðình hồi trước .

Lão vã mồ hôi. Cái đầu óc già nua tối tăm của lão không giúp ích gì cho lão lúc này. Mới bữa trước tổ trưởng Năm Ghi tới tận nhà giao cho lão, không biết lão để đâu. Lão đứng ngơ ngẩn bần thần.

Viên công an sẳng giọng:

-Có một tờ hộ khẩu mà cũng không biết giữ. Kiếm đi chứ !

Lão luống cuống chạy vô phòng lật đầu giường của vợ chồng thằng Tư không có , bực mình lão lật mền lật gối, tìm trong tủ quần áo cũng không.

Lão trở ra, đứng ngơ ngẩn cố suy nghĩ.

-Kiếm đi chứ, viên Công an lại giục.

Cuống quít quay tới quay lui, may mắn thấy cái bàn viết kê sát vách, lão cúi xuống lôi ngăn kéo ra lật lật đám sách vở ngổn ngang:

-A, nó đây rồi ! Lại có cả cây viết đây nữa. Cây viết Pilot nắp mạ vàng con bé Hai vẫn đòi đem ra chơi. Thế mà cái đầu óc già nua tối tăm tới lúc cùng nó cũng giúp lão, lão cười miệng méo xệch.

Viên công an giựt lấy tờ hộ khẩu ngắm nghía:

-Mới đây mà đã lem rồi. Ai bôi xóa mấy chữ này đây? Không muốn có Ðộc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc hả?

Lão tái mặt. Chắc con bé Hai rồi. Cách đây mấy bữa nó ngồi hý hoáy làm gì nơi đây. Nét bút yếu ớt vẽ loằng ngoằng làm lem mấy chữ Ðộc lập-Tự Do-Hạnh Phúc trên đầu tờ Hộ khẩu. Lão hú hồn, nếu nó xoá bỏ cả cái Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa thì chí nguy.

-Xin cán bộ bỏ qua, con bé này- lão chỉ bé Hai – nhỏ dại không biết gì.

– Nhỏ dại mà biết chống đối . Lần này tha , lần sau cho nó đi cải tạo mút mùa !

– Xin Cán bộ bỏ qua . Lão sợ hãi năn nỉ lần nữa .

Viên công an lầm lì không trả lời, hắn lật xem bên trong .

-Ngô Văn Tư là ai?

-Con trai tôi.

-Ngụy hả?

-Dạ nó đi quân dịch, không phải Ngụy.

-Ði lính cho Ngụy là Ngụy còn vòng vo gì. Nói nó Cách Mạng lúc nào cũng độ lượng khoan dung. Phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Ðảng, của nhà nước nếu không sẽ bị đưa đi cải tạo. Tên Tư tối nay ra công an phường trình diện.

Lão cúi đầu:

-Dạ, dạ!

Viên công an lật trở lại nói tiếp:

-Còn mấy chỗ lem này tẩy sạch đi. Mua giấy lon (nylon) bọc lại.

Cái bút này vẽ bậy bị tịch thu !

Bỏ cây viết Pilot nắp vàng vào sà cộp, viên công an dặn lại:

-Nhớ mua giấy lon bọc lại cho tử tế, cất kỹ đi. Thấy ông già tôi thương hại làm phúc nói cho biết tờ hộ khẩu quan trọng, rất quan trọng – hắn nhấn mạnh- mua lương thực: hộ khẩu, xin việc làm: hộ khẩu, đi học: hộ khẩu. Hộ khẩu, hộ khẩu, hộ khẩu . . . . Nó là mạch máu của gia đình . Mua gạo,nó; mua bo bo, nó; mua khoai mì, nó; mua . . .mua bắp, nó. Không có nó là chết đói nhăn răng !

Lão tái mặt , phải rồi không có gạo, không có bo bo th cết đói cả lũ, chết đói nhăn răng . Lão sợ quá tiễn cán bộ ra khỏi cổng mà vẫn còn run.

Thím Năm đứng ở sân thấy lão thương hại hỏi nhỏ:

-Gì thế anh Bảy, sao thằng công an nói lớn vậy?

-Xuỵt ! – Lão ra dấu – nó bảo phải kêu nó là cán bộ. Ðây này, con bé Hai bôi lem mất mấy chữ làm nó la lối om xòm. Làm sao gôm hết thím Năm? Lão lo lắng hỏi.

-Mực nguyên tử đây mà. Anh Bảy lấy chút bông gòn thấm cồn lau đi là hết.

Lão thở phào nhẹ nhõm chạy vội sang nhà ông Ba Chích đối diện, giơ tờ hộ khẩu cho ông Ba xem:

-Xui quá chú Ba, con bé làm lem chút mực, chú Ba cho tôi xin chút alcool tôi lau nó đi.

Ông Ba Chích yên lặng xé miếng bông gòn bằng đầu ngón tay và thấm chút alcool đưa cho lão.

-Cho tôi xin thêm chút nữa chú Ba, sợ không đủ.

-Lúc này người khôn của hiếm anh Bảy. Lau đi thiếu lấy thêm. Mai mốt sợ không có mà xài, đừng có chê !

Cuối cùng thì lão cũng lau xong tuy những vết gạch trên mấy chữ Ðộc Lập – Tự Do-Hạnh Phúc không sao sạch hết. “Tạm được rồi, mai mua giấy lon bọc nữa là xong.” Lão nghĩ.

Quay về nhà thấy con bé Hai đang úp mặt lên giường lão khóc thút thít. Chắc nó thương nội bị cán bộ la hay có điều chi đây. Con bé thương lão lắm, tuy mới hai tuổi mà cái gì nó cũng biết. Nó quấn quít bên lão, nheo nhẻo nói chuyện suốt ngày. Con nít thời nay khôn sớm, người ta nói thế. Lão vuốt nhẹ trên lưng cháu dỗ dành:

-Nội nè con, sao con khóc?

Con bé vẫn khóc thút thít làm lão phải nựng nó:

-Nói cho nội nghe, nội thương, sao con khóc?

-Cán bộ lấy cây viết của con. Nội đòi cho con đ i i i i i i i i i i i i i i . . . !


Tối hôm ấy khi thằng Tư ra phường trình diện về, cả nhà có buổi họp để giải quyết tờ Hộ Khẩu. Con Sáu muốn cất trong tủ quần áo, thằng Tư nói để trong tủ thờ khóa lại.

Cả hai cách lão nghĩ đều không ổn. Mới có hơn 1 tháng được “giải phóng” mà bán hết cái này đến cái kia từ radio đến cái quạt máy. Nếu mai mốt phải bán đến mấy cái tủ lão chỉ sợ quên không lấy tờ Hộ khẩu lại thì nguy.

Nghĩ thế nhưng lão không dám nói ra sợ xui .

-Thôi để ba lo, ba đã có cách, lão nói.

Tuy giải quyết xong việc giữ tờ hộ khẩu nhưng còn kiếm giấy lon ở đâu để bọc không ai biết, lão phải chạy sang nhà tổ trưởng Năm Ghi hỏi. Năm Ghi trước đây đi bẻ ghi cho Sở Hỏa Xa hết làm ở ga Sài Gòn thì ra Hòa Hưng, Thủ Ðức, ổng mới về hưu mấy năm nay. Nhà có miếng ăn, miếng để, nhất là sau khi vợ chết ổng lấy người vợ kế biết chao đảo làm ăn. Cách mạng vô Sài Gòn ổng theo ngay Cách Mạng. Tính ổng xuề xòa nhưng ai nói ổng là Cách Mạng 30 ổng nghe được thì chết ngay.

Từ nhà tổ trưởng Năm Ghi ra lão mới biết bọc giấy lon là bọc nylon. Lão lại tự giận mình, giận cái đầu óc già nua tối tăm của lão có thế mà không biết.

Sáng hôm sau lão dậy thật sớm ra phường chầu chực . Khi cửa văn phòng mở lão nhào vô ngay mua giấy lon và nắn nót bỏ tờ hộ khẩu vô xong hỏi nhân viên phần hành:

-Thưa cán bộ, bọc giấy lon thế này được chưa?

-Ðược, tốt lắm.

Lão mừng quá rảo bước về ngay nhà lấy đinh đục lỗ và kiếm sợi dây móc vô đeo lên cổ, ngắm đi ngắm lại.

Thế là yên trí, không bao giờ sợ mất và điều xui xẻo nếu lão có chết thì tờ Hộ Khẩu vẫn ở cổ lão . Con cháu trước khi chôn lão cứ việc lột ra giữ lại mà xài !

Từ đó ra cửa hàng mua lương thực, đi khám bệnh . . . lão cứ việc từ từ cởi nút áo phanh ngực ra trình tờ hộ khẩu , xong lão cẩn thận khép áo cài nút lại.

Không ngờ cái sáng kiến nhỏ nhen ấy lại làm cho lão nổi tiếng.

Chẳng là bữa ra phường xin chứng nhận giấy, nhân viên phụ trách yêu cầu xem hộ khẩu, lão đứng phanh ngực ra trình. Vừa lúc ấy Bí thư phường đi qua thấy hay quá vỗ vai lão khen lấy khen để. Trong buổi họp nhân dân phường tối đó lão được kéo lên cho Bí thư phát bằng khen tuyên dương “Lão gìa chấp hành nghiêm chỉnh lệnh của Ðảng và nhà nước” và lấy lão làm điển hình tiên tiến nhân rộng ra học tập làm lão rất hãnh diện với tờ Hộ khẩu đeo trước ngực.

Giá lão cao lớn như mấy ông Thượng Tướng hay Ðại Tướng gì đó trên TV bữa trước thì tờ Hộ khẩu lão đeo trước ngực có khác gì tấm huy chương chiến công ! Thật lẫy lừng .

Từ đó người ta kêu lão là Bảy Hộ Khẩu, không còn kêu cái tên Bảy Lùn của lão như trước nữa.

Mất gần tháng trời đi hết khu phố này đến khu phố khác làm điển hình tiên tiến tưởng được yên không ngờ Bí Thư Quận Uủy lại cấp giấy khen cho lão, lại mở chiến dịch học tập “nhân rộng điển hình tiên tiến” kéo lão đi làm điển hình suốt 26 phường mấy tháng mới xong làm lão mệt nhoài phát ốm.

Bây giờ thì lão chán cái tấm huy chương này lắm rồi , nhưng không đeo ở cổ lại sợ mất.

Lão nằm dán mình trên giường chán nản nhìn lên mái tôn đang tỏa nóng hừng hực.

Ngày Cách Mạng mùa Thu (2-9) cái tủ quần áo của mẹ con con Sáu ra đi, rồi Mùa Thu Cách mạng vừa chấm dứt thì cái tủ thờ cũng âm thầm đội nón bén gót theo sau !

Rồi lại từ bữa lão phát bịnh tốn kém thuốc men, cái trần nhà bằng tôn lạnh Mỹ được cẩn thận gỡ đem ra chợ tôn Lý Thường Kiệt bán !

Căn nhà nhỏ bé chật chội trước đây ra đụng vào chạm những đồ đạc dần dần lão thấy rộng thênh thang. Vợ chồng thằng Tư kéo xe ba gác ra đi từ sáng sớm đến tối mịt mới về, giá không có con bé Hai lúc nào cũng quấn lấy lão thì đời lão thật sự trống vắng quạnh hiu.

Ðang lúc lòng lão buồn rười rượi thì con bé ở đâu chạy về sà ôm lấy lão làm lão nguôi nguôi .

-Sao nội buồn thế? Con thương nội lắm, con bé nói.

-Bé Hai à, con cầu trời cầu Phật cho nội chết đi cho đỡ khổ.

-Không, con không cầu trời cho nội chết đâu.

-Nội không chết thì sống làm gì?

Con bé cười hóm hỉnh lấy tay chỉ vô tờ Hộ khẩu nói:

-Sống để nội đeo cái này ở cổ, ở ngực.

Lão cười cái miệng méo xệch như mếu . Không biết lão còn phải sống để đeo cái của nợ này đến bao giờ!

Mai-văn-Các


Ghi chú : (1) Ngoài Bắc người ta nói bị cắt hộ khẩu là bị cắt máu , chỉ có nước chết không làm ăn gì được.


   OfflinePersonal Gallery of bichphuongView user's profileSend private message
dailien



Age: 68
Joined: 03 Jun 2007
Posts: 2224

blank.gif
PostPosted: Fri May 19, 2017 5:46 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top


Image

Tháng tư đọc lại "một con gió bụi" của Trần Trọng Kim

Nguyễn Cao Quyền


- Năm 1945 Thế Chiến II kết thúc. Đầu năm này, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương. Sau cuộc đảo chánh, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam và tiếp tục cho hoàng đế Bảo Đại tại vị.

Ngày 17/4/1945 nội các Trần Trọng Kim thành lập. Đây là chính phủ dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Tuy chi tại chức có 4 tháng nhưng thủ tướng họ Trần và nội các của ông đã thực hiện được một số việc trọng đại cho đất nước.

Thành tích quan trọng nhất mà chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện được là thâu hồi độc lập cho tổ quốc: ngày 20/7/1945 toàn quyền Nhật Tsuchihachi đồng ý trả lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và ngày 8/8/1945 trao trả Nam Bộ cho chính quyền trung ương.

Thủ tướng Trần trọng Kim đã thu hồi trọn vẹn lãnh thổ của tổ quốc từ tay phát xít Nhật mà không tốn một giọt máu. Nhưng ngay sau khi được thu hồi, nền độc lập này đã bị Việt Minh phá hỏng và hậu quả là đất nước đã bị điêu linh trong chiến tranh, chết chóc, thù hận và tụt hậu, như mọi người đều đã thấy.

*

Thủ tướng Trần Trọng Kim sinh năm 1883 tại Hà Tĩnh. Năm 1905 ông sang Pháp du học tại trường sư phạm Melun. Năm 1911 ông về nước làm nghề dạy học. Năm 1942 ông giữ chức thanh tra tiểu học miền Bắc. Ngày 2/4/1945 ông được vua Bảo Đại vời ra Huế. Ngày 16/4/1945 ông chấp nhận đề nghị của vua Bảo Đại, đứng ra lập chính phủ.

Mười một ngày sau khi Nhật trao trả toàn bộ lãnh thổ do Pháp chiếm giữ cho Việt Nam thì Việt Minh đã phá hỏng nền độc lập và thống nhất ấy và thay thế vào đó bằng một cuộc chiến 30 năm “nồi da xáo thịt”.

Ngày 2/9/1945 chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh cho công chức tổ chức một cuộc biểu tình ủng hộ chính phủ. Lợi dụng cuộc biểu tình này. Việt Minh phát động một cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền. Quân đội Nhật ngỏ lời giúp đàn áp Việt Minh, nhưng thủ tướng họ Trần, vì thương dân, không đồng ý. Sau đó ông đã giải tán nội các và khuyên vua Bảo Đại thoái vị. Chính vì vậy mà Việt Minh đã thành công trong việc cướp chính quyển và đã làm cho nhân dân Việt Nam khốn khổ từ ngày đó cho đến ngày nay, khổ nạn này vẫn chưa chấm dứt.

Cho nên nếu nói về “cách mạng mùa Thu” ở Việt Nam thì phải nói đến cuộc cách mạng dân chủ ngày 8/8/1945 của chính phủ Trần trọng Kim, còn cuộc đảo chánh ngày 19/8/1945 của Việt Minh chỉ là một cuộc phá hoại.

Di huấn Trần Trọng Kim

Năm 1949 thủ tướng Trần Trọng Kim đã cho xuất bản một cuốn hồi ký mang tên “Một Cơn Gió Bụi”. Đây là một cuốn lịch sử quý giá gồm 12 chương mà tất cả chúng ta đều phải đọc và không những chỉ đọc không thôi mà cỏn phải nghiền ngẫm qua thời gian, để thấu triệt lịch sử dân tộc.

Đặc biệt chúng tôi xin giới thiệu Chương số 7 mà đã là người Việt Nam thì ai cũng nên học thuộc lòng. Chương này mang tên “Tôn Chỉ Và Sự Hành Động Của Đảng CSVN”.

Chúng tôi xin được viết bằng chữ nghiêng để quý vị dễ theo dõi trong những đoạn viết sau đây. Xin quý vị đọc tiếp.

“Cộng sản đảng theo cách tổ chức và hành động của họ là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay hoàn toàn duy vật tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa mà nhất thiết phải sùng ái những người như Karl Marx, Lenin, Stalin để thay những bậc thần thánh cũ bị truất bò.

Đã mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tà đạo. Ai không tin và phản đối những người đứng đầu đảng, tức những bậc giáo chủ, thì là những người phản đạo, tất phải nghiêm trị. Vì vậy mới có sự tàn sát những người cộng sản theo Trotsky (cộng sản Đệ Tứ Quốc Tế) là một chi cộng sản phản đối chủ nghĩa cộng sản Đệ Tam Quốc Tế.

Vậy tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng.

Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng nên họ tìm cách bỏ hết. Vì có tư tưởng như thế nên cha con anh em, bạn bè, không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa cộng sản và phục tùng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau. Hễ ai làm những việc mà có lợi cho đảng thì là người giỏi, người tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ, đều bỏ hết, bỏ đến tận cỗi rễ để hành lập xã hội mới.

Cái xã hội mới ấy không đấu tranh cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tình đầu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa thì cũng chỉ là phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào đó để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản.

Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lới cho giai cấp ấy và xóa bỏ hết cương giới giữa nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. Nước nào không theo chế độ cộng sản thì bị trục xuất ngay ra khỏi hệ thống cộng sản.

Cái phương thuật của đảng cộng sản Nga không khéo ở chỗ ấy. Tuy nói rằng bài trừ đế quốc và tiêu diệt độc tài nhưng lại áp dụng độc tài tàn ác hơn thời xưa và gây ra một thứ đế quốc theo một danh hiệu khác để tự mình thống trị hết thiên hạ. Chẳng khác gì thời xưa bên Tàu các chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử.

Thì ra thế gian này chẳng có gì mới lạ: chế độ cộng sản ở nước Nga chẳng khác gì chế độ nhà Tần bên Tàu thời Chiến Quốc. Có khác chỉ là những phương tiện khoa học và những mánh khoé hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá, cũng dùng những âm mưu quỷ quyệt để thống trị hết các nước.

Về hành động thì đảng cộng sản chuyên dùng những âm mưu xảo trá, nên tuy có thắng lợi thì cũng được ít người trí thức đi theo. Vì thế mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà trẻ con và những người lao động là những người dễ khuyến dụ, dễ lừa dối.

Người cộng sản khi đã hành động hay dùng đến hai chữ “giải phóng”. Cần phải hiểu rõ nghĩa của hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi mới để bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, đó là giải phóng theo kiểu cộng sản.

Các chế độ cộng sản giống như in các chế độ chuyên chế thời xưa. Ai nói xấu và công kích thì bị đầy bị giết. Ai không sốt sắng thì bị tình nghi phải chịu mọi điều phiền khổ. Cả nước bị chính quyền theo dõi bởi những toán trinh thám tố cáo hết người này đến người khác. Thành ra nhân dân trong xã hội không biết ai là bạn ai là thù, mất hẳn sinh thú ở đời.

Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh thấy luôn luôn nào là hạnh phúc nào là tự do nào là bình đẳng nhưng thực sự thì là trái ngược tất cả. Tất cả chỉ là nói dối và lừa bịp, giết hại. tàn phá, miễn sao làm cho người ta mắc lừa hay sợ sệt theo mình là được. Đó là cái thủ đoạn của Việt Minh. Dân tình thấy thế lấy làm ngao ngán nhưng không dám nói ra. Cho nên trong dân gian đã có câu nói như “Vẹm”. Vẹm là do hai chữ viết tắt VM đọc nhanh mà thành ra”. (hết trích).

Những đoạn văn bằng chữ nghiêng nói trên là di huấn của thủ tướng họ Trần truyền lại cho con cháu. Từ nhiều thập kỷ qua những người cộng sản đã gây ra những điều di hại lâu dài cho đất nước Việt Nam. Chẳng cần nhắc lại thì ai cũng biết là sau hơn 70 năm cầm quyền, Việt Cộng đã gây ra những điều ác độc như thế nào, những điều ác độc mà thủ tướng họ Trần đã báo động trong di chúc của người.

Tương lai của Việt Nam sẽ ra sao?

Tương lai của Việt Nam có bi quan lắm hay không? Câu trả là không.

Đất nước ta đang đứng trước một vận hội mới vì đảng cộng sản và chế độ đương quyền đang phải chịu một cơn bão lớn của lịch sử. Cơn bão đó đang xóa sạch chế độ độc tài toàn trị trên địa bàn thế giới, và do đó, đất nước ta, dân tộc ta sẽ sớm phục hồi và đi vào một tương lai tươi sáng. Đó là một thực tế đang mỗi ngày được khẳng định.

Phải nói rằng. trên thế giới hiện nay, chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung. Số phận này sẽ nhanh chóng đến với Việt Nam. Yếu tố thực tiễn này, chúng ta cần nắm bắt và tin tưởng. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian sớm hay muộn, và với tình hình chính trị quốc tế hiện nay thì có thể là rất sớm.

Sau hơn 70 năm kiên trì đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ, người Việt tự do đang buộc Việt Cộng phải sửa sai, phải từng bước mỗi ngày một tiếp cận gần hơn với phía dân chủ và trả lại cho dân tộc các nhân quyền căn bản.

Có thể nói là CSVN đang ở trên quá trình tiêu vong và đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Thật vậy, vì tham nhũng, cán bộ đảng viên cộng sản đang được tư sản hóa, nhà nước cộng sản đang được tư bản hóa, còn chế độ cộng sản thì đang phải dân chủ hóa. Đó là con đường phát triển tất yếu và không còn con đường nào khác./.

Tháng 4 năm 2017

Nguyễn Cao Quyền


Capricorn  Rat OfflinePersonal Gallery of dailienView user's profileSend private message
bobinh




Joined: 26 Feb 2010
Posts: 162

PostPosted: Thu May 25, 2017 5:45 am  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top

‘Điệp viên 007’ Roger Moore qua đời vì ung thư
May 24, 2017

Image
Roger Moore trong vai James Bond ở bộ “A View to a Kill.” (Hình: Larry Ellis/Express/Getty Images)



LONDON, Anh (NV) – Theo tin BBC, Roger Moore, diễn viên nổi tiếng qua vai Jame Bond đã qua đời ở tuổi 89 tại Thụy Sĩ, hôm 23 Tháng Năm.

Gia đình ông cũng xác nhận tin trên Twitter rằng ông đã mất sau “cuộc chiến ngắn nhưng dũng cảm với bệnh ung thư.”


Các con của ông cũng chia sẻ: “Với những trái tim đang mang nỗi đau nặng nề, chúng tôi phải đành lòng nói rằng cha chúng tôi, Sir Roger Moore, đã qua đời. Cảm ơn cha đã là chính mình, một người rất đặc biệt với chúng con, và với mọi người.”

Tang lễ sẽ được tổ chức kín đáo tại Monaco, theo ý muốn của ông, nơi ông sống những ngày tháng cuối đời cùng với bà Kristina Tholstrup, người vợ thứ tư.

Diễn viên Ewan McGregor chia sẻ: “Cảm ơn Roger vì đã bảo vệ quyền của tất cả trẻ em trong suốt 26 năm qua. Ông đã chứng minh rằng tất cả chúng ta đều có sức mạnh để thay đổi cuộc sống của những đứa trẻ dễ bị tổn thương nhất.”

Trong tất cả các diễn viên vào vai điệp viên 007, James Bond của Roger Moore để lại nhiều đáng nhớ cho khán giả hơn cả. Với vai diễn này, Roger cho rằng: “Bond phải hành xử với sự sự hài hước táo bạo. Và Bond của tôi không phải loại giết người máu lạnh.” Do đó, James Bond qua cách diễn của ông có đôi chút “nhẹ dạ đáng yêu,” mang tính hài hước kiểu Anh, trong con người đa tài và dày dạn kinh nghiệm.

Có lẽ nhờ sự hài hước, và tính cách nhẹ nhàng trong vai diễn đúng tính cách “phớt tỉnh ăng-lê,” ông là người đóng vai James Bond lâu nhất từ trước đến nay, và hình như cuộc đời của ông cũng gắn chặt với hình ảnh tài hoa của “người hùng nước Anh” này.

Một người viết trên Twitter: “Roger Moore là một người không quyến rũ, chẳng nổi bật, nhưng rất thông minh và dí dỏm. Vì thế ông có thể hóa thân thành James Bond lâu nhất.”

Bảy bộ phim Roger Moore vào vai James Bond: “Live and Let Die” (1973), “The Man with the Golden Gun” (1974), “The Spy Who Loved Me” (1977), “Moonraker” (1979), “For Your Eyes Only” (1981), “Octopussy” (1983), “A View to a Kill” (1985). (V.Đ.T.)


   OfflinePersonal Gallery of bobinhView user's profileSend private message
khieulong



Age: 69
Joined: 02 Jun 2007
Posts: 3288

blank.gif
PostPosted: Sun Jun 25, 2017 7:16 pm  Post subject:  (No subject) Reply with quoteBottom of PageBack to top


Image


Lời Ca


"Đường xưa lối cũ, có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo
Đường xưa lối cũ, có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi
Đường xưa lối cũ, có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài
Đường xưa lối cũ, có tiếng tiêu, tiếng tiêu ru lòng ai
Đường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng
Đường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng
Đường xưa lối cũ, có mẹ tôi run run trong hôn hoàng
Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con..."

Tiếng hát của chị đưa tâm tình của Hoàng Thi Thơ vào lòng người, lòng người bồi hồi xao xuyến. Nỗi nhớ miên man chợt nghe ngập kín tâm hồn, theo giòng nhạc dìu dặt, trở về với đường xưa lối cũ. Kỷ niệm xôn xao gợi nhắc.
Ký ức như lối đi quen thuộc xa xưa, âm thầm đưa dẫn mình trở về miền luyến nhớ.
Những riêng tư của chính mình hay ai đó, ngọt ngào hay đắng cay; chừng như chung một khúc phim, phim buồn; phim quay chậm, được thu hình trong khung nền đẫm nước; nước như có màu tro, một bầu trời xám mờ, mờ mịt mưa.
Mờ mịt hình dáng thương yêu trong nhóm người lom khom, lố nhố ngoài xa, ngoài lớp hàng rào kẻm gai của trại tù "cải tạo"; đang nóng lòng chờ kẻ có quyền lực "giải phóng" bất cứ sinh mạng nào, cho vào gặp người thân trong nơi bị giam cầm .
Gặp nhau, để nhìn nhau trong chốc lát, để phải nén giữ những điều muốn nói, muốn được nghe từ người thân, để phải nghe những sinh vật biết nói đang ghìm súng canh chừng,
nói những ngôn ngữ mới gọi là "cách mạng" kỳ dị, nói những câu tẻ nhạt, lập lại giáo điều khuôn mẫu, gian dối thật trơ trẽn.

Người ta chừng như cùng viết một đoạn thư, thư của Trang, viết cho cha
mình:
"Ba,Hôm qua với hôm nay con nghe qua nghe lại hai bài hát, Nỗi Lòng Người Đi với Đường Xưa Lối Cũ.
Hồi xưa Ba hay ngồi trước thềm đá nhà mình ở Vũng Tàu chiều chiều cúp điện là ba ôm cây đàn guitar ra hát ngân nga. Mấy ngườitrong xóm đi qua đi lại ghé vô thăm hỏi rồi ngồi với Ba một lúc rồi đi.
Con thường nằm trên gác gỗ nhà mình, cái gác mở rộng không có cửa chắn ngang, và có hai bụi Quỳnh hoa trỉu nặng thả dài xuống thềm nhà trước. Con nằm nghe Ba hát…gió chiều gió tối thổi lồng lộng vô nhà. Giờ nhớ lại thấy những ngày tháng đó êm đềm quá…...
Ba đi được một tuần rồi, đường xưa lối cũ Ba tìm được ngõ về lại nhà xưa chưa?"

"Chạnh lòng thương nhớ những phút xưa, phút xưa qua qua rồi
Lạnh lùng tưởng nhớ bóng dáng ai in sâu trong lòng tôi
Đường xưa còn đó, nắng vẫn lên, vẫn trăng treo ven đồi
Mà hình bóng cũ, thiếu trong tôi mỗi khi nghe chiều rơi...."

Hầu như người ta biết đến chị qua những ca khúc ngoại quốc trẻ trung, sôi
động. Sau gần 50 mươi năm, đêm nay được nghe chị hát, hát nhạc Việt Nam.

Rõ hơn, chị hát "nhạc vàng"!
Vâng, chị hát "nhạc vàng"!
Đấy là cách gọi, kiểu cách phân biệt để kiểm soát mà ngăn cấm của bọn
người mệnh danh là "cách mạng", sau khi cưỡng chiếm nửa phần quê hương tự do còn sót lại ở miền nam, Nam Việt Nam.
"Nhạc vàng" tức nhạc của miền Nam tự do, khác với cái thứ nhạc gọi là "nhạcđỏ" của cộng sản. Cộng Sản Miền Bắc chủ tâm nhuộm đỏ miền Nam tự do với "nhạc đỏ".
Vì thế "nhạc vàng" đã bị nhà nước cộng sản gồm chung trong loại "văn hoá đồi trụy - phản động".

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam bị điêu linh với lắm thứ mệnh danh "cách
mạng".
Người ta không thể quên các loại chiến dịch man rợ, trong đó có chiến dịch
"Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động".Người ta không thể quên được ngôn ngữ và thái độ hận thù sắc máu như màu băng đỏ ngạo nghễ trên cánh tay của những kẻ xông vào lùng xét, tịch thu những gì có liên hệ với văn hoá của miền Nam.
Trong thời gian ngắn, có đến hàng trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị
tịch thu đem thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-
phản động tại Sài Gòn.
Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân cũng
khó thoát, cũng bị đám quân đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc.
Tại các cửa hàng kinh doanh, vốn liếng văn hoá bị thu gom để thiêu hủy, coi
như đốt cháy trọn cơ nghiệp và cuộc đời người chủ. Tất nhiên, những người
có sách bị cướp đoạt đem đốt bỏ cũng có phản ứng rất quyết liệt. Trong hồi
ký Viết Trên Gác Bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long có ghi lại thảm cảnh trong
những vụ "Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động" trong năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên
cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong.
Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Đối với nhiều nền văn hóa, âm nhạc là một phần quan trọng trong cách sống của dân tộc. Âm nhạc là thế giới nội tâm của con người, niềm cảm xúc trong tâm hồn con người trước cuộc sống. Khi nghe một tác phẩm âm nhạc,
mỗi người cảm nhận theo sự rung động của riêng mình; giai điệu và lời ca cần thểhiện được Chân-Thiện-Mỹ.

"Nhạc đỏ" nhầm đầu độc trí óc trẻ nhỏ từ tuổi còn thơ ngây, tập tành tôn
sùng lãnh tụ như "Đêm qua em mơ gặp bác..." ;
để phục vụ cho đảng và nhà nước như “Bọn giặc Mỹ cọp beo. Cái bọn giặc Mỹ cọp beo...” hay "Thề phanh thây uống máu quân thù.
Tiến mau ra xa trường, tiến lên! Cùng thét lên, trí Trai là đây nơi ước nguyền!...";
chúng nó chẳng phù hợp với tính nhân bản chút nào, thì không quyền lực nào cưởng ép để nhồi nhét vào tâm trí con người được!

Theo Gioachino Antonio Rossini (1792-1868) nhà soạn nhạc người Ý:
“Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”
(The language of music is common to all generations and nations; it is
understood by everybody, since it is understood with the heart.)
Tiếc thay, sau khi Cộng Sản thống trị Miền Nam Việt Nam, tuy cùng một dân tộc mà kẻ thống trị như sinh vật không có trái tim con người để thông hiểu ngôn ngữ của âm nhạc. Và, từ ngày ấy, nền âm nhạc miền Nam Việt Nam cũng bị bức tử.

Đã 42 năm qua rồi, sự hận thù và đố kỵ với “nhạc vàng” vẫn còn, nên CSVN lại tìm cách ngăn cấm, qua ngôn ngữ gian xảo "tạm dừng lưu hành".

Đối với những ca khúc bị cấm lưu hành, Vũ Đông Hà nhận định:

“Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể"giải phóng" được;
cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản;
cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận;
cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ,
biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây,
biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào
mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt
Nam…

...Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những"cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh" cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được "Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi", chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những "Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!" Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát "Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai".

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát "Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành." Chúng tôi không biết "Phá" là gì, "Tam Giang" ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng "Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi..." đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những "Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành". Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là "ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm". Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết "bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà..." Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi - những người lính VNCH - thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó…

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.
Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng,
dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn... Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc - Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.
Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam...” (Vũ Đông Hà)

Ngục tù cộng sản không "cải tạo" được lòng yêu nước!
Những đứa con Bất Khuất của trường mẹ sẽ vẫn về Hội Ngộ, Hội Ngộ sau 44 năm. Hướng về Đêm Hội Ngộ, bạn bè không về được, mơ được thấy, được cùng bạn mình, kề sát vai cất cao tiếng hát, hát cho quê nhà, cho Việt Nam; hát vang vang trong nhịp hùng ca.

Không ai ngăn được lời ca*
Ngàn lời ca ta hát cho quê nhà
Cho cha mẹ già và đàn con thơ

Không ai ngăn được lời ca
Vạn lời ca ta hát cho Nhân quyền
Cho Thái bình, Dân chủ, Tự do

Đồng bào ơi, hãy cùng đứng lên!
Từ thành đô cho đến nơi thôn làng.
Đồng bào ơi, hãy cùng hát vang!
Triệu khúc ca đấu tranh cho Việt Nam….

Bùi Đức Tính

* Không ai ngăn được lời ca - Nguyệt Ánh


Scorpio Gender:Male Pig OfflinePersonal Gallery of khieulongView user's profileSend private message
Display posts from previous:      
Post new topicReply to topic View previous topicEmail to a Friend.List users that have viewed this topicSave this Topic as filePrintable versionLog in to check your private messagesView next topic

View next topic
View previous topic
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum
You cannot attach files in this forum
You cannot download files in this forum


All times are GMT

Board Security

7406 Attacks blocked
Powered by phpBB2 Plus, Artikelverzeichnis and Webkatalog based on phpBB © 2001/6 phpBB Group :: FI Theme :: Mods and Credits